Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2015

Đi tìm gốc tích vua Lý Thái Tổ

Đi tìm gốc tích vua Lý Thái Tổ
Phật giáo nuôi dưỡng Lý Công Uẩn (*)
Giác Ngộ - Sự nghiệp của Lý Thái Tổ vô cùng vĩ đại, ông không chỉ sáng lập ra vương triều Lý, mà đã thiết kế tạo nên một kinh đô Thăng Long bền vững suốt nghìn năm. Đồng thời thông qua các chính sách đối nội, đối ngoại của mình, ông đã đặt cơ sở nền tảng cho toàn bộ quá trình phát triển vượt bậc của quốc gia Đại Việt, trở thành quốc gia thịnh đạt nhất ở Đông Nam Á thời bấy giờ.
Chúng tôi tìm đến Tiêu Sơn tự (còn có tên chùa Lục Tổ), tọa lạc trên núi Tiêu, thuộc xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Sử cũ ghi: "Chùa là một thiền viện, đào tạo các bậc cao tăng và cung cấp kinh sách cho nhiều chùa trong nước". Có thể nói không ngoa rằng: đây là nơi đã khai sinh ra triều đại nhà Lý, bởi Lý Công Uẩn được nuôi dưỡng và hun đúc tài năng tại đây, nhờ trí tuệ và tâm huyết của Thiền sư Vạn Hạnh. Trên cột nhà bia còn lưu câu đối chữ Hán: "Lý gia linh tích tồn bi kỷ/Tiêu lĩnh danh kha đắc sử truyền" (Dấu thiêng nhà Lý còn bia tạc/Danh thắng non tiên có sử truyền). Ngày nay, chùa còn lưu giữ nhiều tư liệu, di vật quý giá: Tượng Lý Vạn Hạnh bằng đồng thờ trong nhà Tổ, bia đá "Lý Gia Linh Thạch" cung cấp tư liệu về lịch sử triều lý, nhiều hoành phi, câu đối, chuông đồng… Chùa Tiêu xưa từng là nơi lưu giữ ván in sách Thiền uyển tập anh, tác phẩm văn học giá trị nhiều mặt: văn học; sử học; triết học ghi chép các vị danh sư Việt Nam.
Ngôi chùa trên đỉnh Tiêu Sơn đóng vai trò "vọng sơn đài", từ đây nhìn bao quát một vùng đất rộng lớn của miền quan họ, từng được nhà Hán đặt làm thủ phủ Long Biên. Thiền sư Vạn Hạnh sinh ra trong một đại thế tộc ở làng Đình Bảng, cách núi Tiêu 3km. Từ nhỏ Ngài đã thông minh xuất chúng, thông hiểu "bách gia chư tử", "tam giáo" (đạo Phật, đạo Lão, đạo Nho). Năm 21 tuổi, Ngài xuất gia, trở thành học trò xuất sắc nhất của dòng thiền Vinitaruchi (Tỳ Ni Đa Lưu Chi), được vua Lê Đại Hành vô cùng tôn kính, sử dụng làm cố vấn chính trị của vương triều Tiền Lê. Với kiến thức sâu rộng, đặc biệt thông hiểu kinh Bảo Vương Tam Muội (Tổng tri Tam ma địa), nên mỗi lời Ngài nói ra đều được nhân dân coi là sấm truyền, luôn được vua Lê Đại Hành nghe theo.
Lý Công Uẩn được sư Lý Khánh Văn ở chùa Dận (nay thuộc Đình Bảng) nhận làm con nuôi từ năm lên 3 tuổi. Sau đó, ông được gửi vào chùa Lục Tổ (tức chùa Tiêu) theo học Thiền sư Vạn Hạnh. Lý Công Uẩn thông minh, nhưng ít lo việc kinh sử mà chỉ thích làm những việc lớn. Thiền sư Vạn Hạnh khen: "Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ". Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Vạn Hạnh bảo Lý Công Uẩn rằng: Mới rồi tôi trông thấy lời sấm kỳ dị, biết rằng họ Lý cường thịnh, tất dấy lên cơ nghiệp. Nay xem trong thiên hạ người họ Lý rất nhiều, nhưng không ai bằng ông là người khoan từ nhân thứ, lại được lòng dân chúng mà nắm binh quyền trong tay, người đứng đầu muôn dân, chẳng phải ông thì còn ai đương nổi nữa!". Vạn Hạnh đã giới thiệu Lý Công Uẩn lên vua Lê, được Lê Đại Hành tin dùng, đưa lên những chức vụ quan trọng trong triều đình Hoa Lư. Năm 1005, Công Uẩn được giữ chức Điện tiền quân thời Lê Trung Tông và sau được thăng lên Tứ Sương quân Phó chỉ huy sứ, rồi lên chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ đời Lê Ngọa Triều (1005-1009). Ngày 2 tháng 11 năm Kỷ Dậu (21-11-1009) tại kinh đô Hoa Lư, Lý Công Uẩn được triều thần suy tôn lên ngôi vua, lập nên vương triều Lý, mở ra thời kỳ phục hưng toàn diện đất nước.
Không chỉ là người có công kiến tạo triều Lý, Thiền sư Vạn Hạnh còn là người đã khai sinh ra nền văn học viết của nước ta, với 3 thể loại văn học đầu tiên: sấm ký, khuyến, kệ. Ngay sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi vua vào năm 1010, đã tôn vinh Vạn Hạnh làm Quốc sư.
Mặc dù công nghiệp của Lý Công Uẩn rất vĩ đại, nhưng sử sách lại chép không rõ ràng về lai lịch của ông. Tất cả các bộ sử cũ của nước ta, thường không chép, hoặc không xác định được ai là cha của Lý Thái Tổ. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư: "Vua họ Lý, húy là người châu Cổ Pháp, Bắc Giang, mẹ là họ Phạm, đi chơi ở chùa Tiêu Sơn cùng với người thần giao cấu rồi có chửa, sinh ra vua vào ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình nhà Đinh năm thứ 5 (8-3-974)". Có tài liệu cho rằng Lý Thái Tổ là con của Thần Khỉ, con của Lão Sa Môn, Thánh Tổ Hiển Tông, thậm chí có tài liệu nói rằng ông là con của Thiền sư Vạn Hạnh. Sở dĩ ông mang họ Lý là vì Vạn Hạnh đã "bố trí" cho em ruột của mình là sư Lý Khánh Văn nhận làm con nuôi để hợp thức hóa tên người họ Lý cho người con trai đích thực của mình. Tuy nhiên, tất cả những thông tin trên chỉ là truyền thuyết, do sự suy diễn hoặc sáng tác của dân gian, chứ chưa có chứng lý rõ ràng. Cách đây 200 năm, các sử gia biên soạn Quốc sử quán triều Nguyễn cũng phải ghi rằng: "Gốc tích họ Lý lờ mờ không khảo được…" và đành khuất phục "xin hãy chép lại để khảo về sau".
Tất cả các bộ sử sách cũ đều chép thống nhất rằng Lý Công Uẩn là người châu Cổ Pháp. Tuy nhiên, châu Cổ Pháp xưa rất rộng, bao gồm các huyện Tiên Du, Từ Sơn (Bắc Ninh); Gia Lâm, Đông Anh (Hà Nội) ngày nay. Đã có một thời, mỗi khi nói đến quê hương nhà Lý là người ta nghĩ ngay đến làng Đình Bảng ở thị xã Từ Sơn (Bắc Ninh), chỉ vì tại đây có đền Đô (đền Lý Bát Đế) thờ 8 vị vua triều Lý, mặc dù ai cũng biết châu Cổ Pháp xưa không phải chỉ có một làng Đình Bảng. Cố Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng cho đến giữa thập kỷ 90 của thế kỷ 20 đã thừa nhận trong cuốn sách Làng Dương Lôi với vương triều Lý: "Sai lầm lớn nhất của tôi trước năm 1994 là khi bàn về quê hương nhà Lý đã quá chú trọng đến làng Đình Bảng-và cũng ngây thơ khi chuyển Dịch Bảng thành Đình Bảng". Thực ra, những quan niệm sơ suất có phần chủ quan này đâu phải chỉ có ở riêng vị GS trong nhóm Tứ trụ của nền khoa học lịch sử Việt Nam hiện đại, mà là của cả thế hệ ông. Vào những năm cuối đời, GS. Trần Quốc Vượng đã khẳng định một bước tiến rất xa trong quá trình nghiên cứu, nhận diện quê hương nhà Lý. Những công trình nghiên cứu của GS đã phát hiện ra rằng, Dương Lôi mới là nơi hội tụ nhiều nhất những di tích liên quan đến Lý Công Uẩn, cùng với truyền thuyết dân gian về bà Phạm Thị và Lý Công Uẩn lúc chào đời. GS phát hiện ra rằng, tại làng Đình Bảng, mặc dù đã được nghiên cứu nhiều, khảo sát nhiều nhưng hầu như không thấy di tích đáng kể nào về gia đình (cha, mẹ), dòng họ hay tuổi thơ của Lý Công Uẩn. Đình Bảng cũng chưa bao giờ thờ các vị vua nhà Lý làm thành hoàng. Đền Đô thờ 8 vị vua nhà Lý là di tích quốc gia, lấy người địa phương phụng sự theo quy định Nhà nước, do triều đình các thời đại trước xây dựng chứ nguyên ủy không phải là đền hay miếu của làng Đình Bảng. Nhưng Dương Lôi là làng thờ Minh Đức Thái Hậu và thờ 8 vị vua nhà Lý làm thành hoàng làng. Đền Lý triều Thánh Mẫu ở Dương Lôi tuy mới chỉ được dựng lại từ năm 1997, nhưng được dựng trên nền ngôi đền cổ bị đổ nát từ thời kháng chiến chống Pháp. Trong đền ngày nay vẫn còn giữ được bức đại tự "Cổ Pháp triệu cơ" và trước cửa đền có "Thiên đài thạch trụ" dựng năm Vĩnh Thịnh nguyên niên (1705) xác nhận: "…Cổ tích Lý triều Thiên thánh là Dương Lôi đất báu tối thiêng…".
Lối lên chùa Tiêu
Ngày nay, đền thờ Lý triều Thánh Mẫu vẫn còn giữ được 9 đạo sắc phong của các triều vua xưa "giao cho dân Dương Lôi tòng tiền phụng sự Lý triều Hoàng đế bát vị". Trong các cuốn sách Làng Dương Lôi với vương triều Lý xuất bản năm 2000 và sách Lý Công Uẩn với vương triều Lý xuất bản năm 2001, GS Trần Quốc Vượng đã đưa ra kết luận rằng Đình Bảng là quê cha, còn Dương Lôi là quê mẹ của Lý Công Uẩn. l
(*) Mặc dù công nghiệp của Lý Thái Tổ vĩ đại, nhưng sử sách lại chép không rõ ràng về lai lịch và quê hương của ông. Những năm gần đây, nhiều nhà khoa học lịch sử đã khai quật nghiên cứu tại làng Mai Lâm (xưa tên Hoa Lâm) và đã tìm thấy nhiều chứng tích cho thấy đây chính là quê ngoại của vua Lý Công Uẩn. Vào năm 2005, ngay sau khi một số di vật quý được phát hiện tại nền chùa Phúc Lâm, tôi đã đến tìm hiểu và viết bài đăng trên báo Giác Ngộ. Mới đây, trở lại thăm chùa Phúc Lâm, cũng như xã Mai Lâm, tôi được Đại đức Thích Thanh Trung cung cấp cho rất nhiều tư liệu mới, bao gồm tư liệu do các nhà khảo cổ, lịch sử để lại cho nhà chùa, tư liệu của các hậu duệ nhà Lý. Thời gian gần đây, nhiều người hậu duệ nhà Lý từ khắp mọi miền Tổ quốc và nước ngoài đã tìm về chùa Phúc Lâm, thăm lại quê cha đất tổ. Trao cho tôi mượn một cuốn sách dày hơn 1.000 trang để tham khảo, ĐĐ.Thanh Trung chia sẻ: "Tôi vừa mới nhận được cuốn sách này do những người họ Nguyễn gốc Lý viết, tác giả Vân Lộc Foundation là con cháu cụ Nguyễn Tư Giản hiện đang định cư tại Mỹ. Cuốn sách với rất nhiều thông tin quý giá về nguồn gốc nhà Lý, và phả hệ của con cháu thuộc gia tộc nhà Lý, mới chỉ được in và phát hành tại Mỹ, đây là tư liệu rất quý vì lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Cách đây vài tháng, tác giả về nước thăm chùa Phúc Lâm, và giờ đây gửi tặng sách cho tôi qua đường bưu điện. Tôi vừa nhận được sách 2 ngày, thì anh đến. Cứ như cơ duyên xui anh đến đây vậy, nên tôi cho anh mượn để đọc trước". Qua đây, tôi xin cảm ơn ĐĐ.Thanh Trung đã giúp tôi có được tư liệu nhận diện rõ hơn về quê hương nhà Lý.

Truyền thuyết nhà Lý ở Dương Lôi
Giác Ngộ - Làng Dương Lôi thuộc xã Tân Hồng (nay đã thành phường Tân Hồng), thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh chỉ cách Đền Đô (ở Đình Bảng) khoảng 1km, nơi đây ngày nay vẫn còn hệ thống quần thể di tích đồ sộ liên quan đến triều đại nhà Lý, đặc biệt lưu giữ những truyền thuyết về bà Phạm Thị và sự ra đời của Thái Tổ Lý Công Uẩn.
Thời Bắc thuộc, Dương Lôi thuộc hương Diễn Uẩn, châu Cổ Pháp, quận Giao Chỉ. Sở dĩ có tên Dương Lôi là bởi vào thời Tiền Lê, trong làng xảy ra sự kiện sét đánh vào cây gạo (vị trí ngày nay thuộc Đình Sấm) khiến trên thân cây hiện ra bài sấm ngữ: "Thụ căn diểu diểu/mộc biểu thanh thanh/hòa đao mộc lạc/thập bát tử thành/đông a nhập địa/dị mộc tái sinh/chấn cung kiến nhật/đoài cung ẩn tinh/lục thất niên gian/thiên hạ thái bình". (Gốc cây thăm thẳm/ngọn cây xanh xanh/cây hòa đao rụng/mười tám hạt cành/cành đông xuống đất/cây khác lại sinh/Đông mặt trời mọc/Tây sao náu hình/khoảng sáu, bảy năm/thiên hạ thái bình). Theo Đại Việt sử ký toàn thư, nhà sư Vạn Hạnh giải mã lời sấm rằng: Câu "mộc căn diểu diểu", chữ "căn" nghĩa là gốc-tức là vua; câu "mộc biểu thanh thanh", chữ " biểu" đồng nghĩa với chữ ngọn, tức là bề tôi. "Hòa đao mộc" ghép lại thành chữ Lê; "Thập bát tử" ghép lại thành chữ Lý; "Đông A" ghép lại thành chữ Trần. Bài sấm ngữ này có nghĩa là: "Vua thì non yểu/tôi thì cường thịnh/họ Lê mất thì họ Lý nổi lên/thiên tử (mặt trời) ở phương Đông mọc ra thì thứ nhân ở phương Tây lặn mất, trải qua 6-7 năm thì thiên hạ thái bình".
Chùa Dận
Làng Dương Lôi hiện còn rất nhiều di tích quý giá: Đình Sấm, chùa Cha Lư, chùa Càn Nguyên, đền thờ Lý Thánh Mẫu…Đình Sấm ngày nay còn bảo lưu được nhiều câu đối cổ, trong đó có câu: "Thập bát tử thành mạc trạng Bắc Giang công đức thủy/Nhất Dương Lôi động tự thành Nam quốc đế vương cơ". Nghĩa là: "Mười tám hạt (nhà Lý) thành khó lột tả được bát (tám) nước công đức/Một tiếng sấm động (chỉ Dương Lôi) xuất hiện cơ nghiệp đế vương".
Chùa Minh Châu là di tích vô cùng quan trọng ở Dương Lôi, ra đời cùng thời với các ngôi chùa Cổ Pháp (chùa Dận), chùa Ứng Thiên Tâm (chùa Tiêu), chùa Kiến Sơ (chùa Phù Đổng). Tiếc thay ngôi chùa đã bị phá hủy trước ngày hòa bình lập lại. Sách Thiền uyển tập anh chép: "Năm Bính Thân, niên hiệu Thanh Thái thứ 3 thời thuộc Đường (936), khi trồng cây gạo ở chùa Minh Châu, Trưởng lão Đinh La Quý An có đọc bài kệ:
Đại Sơn long đầu khởi
Cù Vĩ ẩn Minh Châu
Thập bát tử định thành
Miên thụ hiện long hình
Thỏ kê thử nguyệt nội
Định kiến nhật xuất thanh".

Tương truyền, cố GS sử học Trần Quốc Vượng sinh thời từng dịch bài kệ như sau: "Đầu rồng hiện ở núi lớn/đuôi rồng giấu sự thịnh vượng/Họ Lý nhất định thành/ khi cây gạo hiện hình rồng/ chỉ trong mấy tháng thỏ, gà, chuột/ chắc chắn sẽ thấy mặt trời (vua) anh minh". Ông Nguyễn Đình Phúc, Bí thư Đảng ủy xã Tân Hồng kể: Năm 1992, GS Trần Quốc Vượng điền dã về khảo sát những di tích ở làng Dương Lôi. Khi tận mắt chứng kiến nền chùa Minh Châu và tìm hiểu địa danh trong vùng, biết có ngọn núi Đại Sơn ở cách chùa Minh Châu 1km, GS đã thốt lên: "Tôi đã nhầm khi dịch bài kệ của Trưởng lão họ Đinh!". Sau đó, GS đã chỉnh lại bản dịch 2 câu đầu là: "Đầu rồng hiện ở Đại Sơn/đuôi rồng giấu ở chùa Minh Châu".
Theo Thiền uyển tập anh:
"… Trước khi viên tịch, Trưởng lão Đinh La Quý An gọi đệ tử là Thiền Ông đến dặn rằng, Trước đây Cao Biền đắp thành Đại La ở sông Tô Lịch, biết đất Cổ Pháp ta có khí tượng vương giả bèn đào sông Điền Giang, đầm Phù Chẩn để cắt yểm long mạch, tất cả 19 nơi. Nay ta đã khuyên Khúc Lãm đắp lại như cũ. Ta lại trồng một cây gạo ở cách chùa Minh Châu hơn 1 dặm, đúng chỗ bị cắt long mạch, đời sau nơi này ắt có bậc đế vương xuất hiện để vun trồng Chánh pháp…". Nhiều năm sau khi sư Đinh La Quý An qua đời, cây gạo mà Ngài đã trồng bỗng nhiên bị sét đánh, rồi hiện lên bài sấm ngữ kỳ dị. Như vậy, trước khi Lý Công Uẩn ra đời 38 năm (từ năm 936 đến năm 974), Dương Lôi đã được các bậc cao tăng chọn là nơi ra đời bài sấm cây gạo, báo hiệu sự ra đời của triều Lý. Nằm sát ngay sau Đình Sấm, ngày nay còn có ngôi chùa Cha Lư, thờ Phật và thờ bà Phạm Thị Ngà, mẹ của Lý Công Uẩn. Qua văn bia khắc năm Vĩnh Tộ thứ 6 (1624) và văn chuông còn được lưu giữ tại chùa cho biết chùa Cha Lư có từ thời Lý.

Bài minh khắc trên chuông Cha Lư tự chung khắc vào năm Minh Mệnh thứ 9 (1828) khẳng định Dương Lôi là quê hương Thánh mẫu Phạm Thị: "Từ Sơn phủ, Dương Lôi xã. Lý triều Thánh mẫu chi thang mộc ấp dã…". Bài minh này do cử nhân Trần Lai Phủ soạn, còn có đoạn: "Tương giang (sông Tiêu Tương) nhiễu bạch/Hoàn lĩnh (núi hoàn, tức Đại Sơn) châu thanh/Dương Lôi thắng địa/Tú dựng Lý kinh/Tự viết Cha Lư/Nhất hồ Phạn Vũ…".
Ông Nguyễn Đình Phúc cho biết, từ xa xưa đến nay, người dân Dương Lôi vẫn lưu truyền truyền thuyết về bà Phạm Thị Ngà sinh ra Lý Công Uẩn, tuổi thơ của Lý Thái Tổ gắn liền với mảnh đất nơi đây. Vào thời Đinh-Tiền Lê, trong làng có một gia đình nghèo họ Phạm gồm hai ông bà và cô con gái tên là Ngà, nết na xinh đẹp. Một ngày kia, bệnh tật đã cướp đi người cha, ít lâu sau, hai mẹ con rời bỏ xóm làng ra dựng tạm túp lều trước cổng chùa Minh Châu, bán nước cho người đi qua đường và bán hương, cau cho người vào lễ chùa. Minh Châu tự vốn là ngôi chùa nổi tiếng trong vùng, một hôm có 2 vị Thiền sư đến chùa Minh Châu giảng kinh Phật, một vị là Lý Vạn Hạnh trụ trì chùa Tiêu, một vị là Lý Khánh Văn trụ trì chùa Cổ Pháp. Thấy hai mẹ con cô gái bán nước ở cổng chùa Minh Châu là người phúc đức nhân hậu, nên 2 vị sư rất quý mến. Ít lâu sau, người mẹ không may qua đời, cô gái được sự dẫn mạch của 2 vị sư bèn dời mộ cha và thi hài mẹ an táng cùng mộ chỗ gò đất có hình rồng ấp ven rừng Miễu. Từ đấy, cô gái Phạm Thị Ngà về làm thủ hộ, giúp việc cho sư Vạn Hạnh ở chùa Tiêu. Một đêm, cô gái ngả lưng thiếp đi trước cửa chùa, cô mơ thấy một vị thần nhân bước qua người mình. Tỉnh dậy, cô thấy người khác lạ, mang thai từ đấy. Không dám ở lại chùa Tiêu, cô gái lại trở về chùa Minh Châu, sư thương tình cho cô nương náu. Sắp đến ngày mãn nguyệt khai hoa, cô xin phép nhà chùa trở lại xóm cũ Đường Sau nơi có túp lều xiêu vẹo của cha mẹ và sống với cuộc đời thầm lặng. Trong một đêm mưa rét đầu xuân vào tháng Hai năm Giáp Tuất (974), những người hàng xóm bỗng thấy sự lạ lùng, túp lều của cô gái bỗng sáng rực hào quang, và tiếng trẻ sơ sinh cất lên lanh lảnh. Trong cơn đau, cô gái mơ màng thấy 3 bà mụ như từ trên trời hiện xuống đỡ đẻ cho cô. Đứa trẻ sinh ra khôi ngô tuấn tú, dưới hai bàn chân đều có chữ "vương". Biết bao đời nay, dân gian vùng Kinh Bắc còn truyền nhau câu: "Nở Đường Sau/đau chùa Dận", vì xóm Đường Sau ở Dương Lôi là nơi Lý Công Uẩn chào đời, còn chùa Dận ở Đình Bảng là nơi nhận nuôi dưỡng Lý Công Uẩn từ lúc 3 tuổi.
Đền Đô
Trải qua 3 năm vất vả nuôi con, người mẹ Phạm Thị Ngà sinh bệnh nặng. Một tối, người mẹ ôm con đến chùa Cổ Pháp (chùa Dận), ngôi chùa nổi tiếng trong vùng do sư Lý Khánh Văn trụ trì. Trước đó, sư Lý Khánh Văn đã thấy nhiều chuyện lạ: con chó trong chùa đẻ một con chó con lông trắng khoang đen có hình chữ "Tuất Thiên tử"; rồi đến việc trên chiếc cổng lớn của chùa tự dưng xuất hiện bốn chữ "Hưng quốc chi niên". Tối đó, trong giấc ngủ, sư Lý Khánh Văn chiêm bao thấy thần hiện lên báo mộng, cho biết giờ Tý đêm nay có đế vương đến ngự. Vị sư choàng tỉnh dậy, sai tiểu quét dọn chùa, còn ông thắp hương tụng niệm. Đúng giờ Tý, bỗng nhiên con "Tuất Thiên tử" sủa vang và vẫy đuôi mừng rỡ chạy ra cổng chùa. Sư bèn chạy ra, thấy một người đàn bà rách rưới, đội chiếc nón mê, tay ôm đứa trẻ. Sư ông nhận ra người đàn bà chính là cô gái ở chùa Minh Châu trước kia, bèn đưa vào hỏi han sự tình. Nhà sư biết đứa trẻ này tuổi Tuất, khôi ngô tuấn tú, dưới chân lại có chữ Đế Vương thì vui mừng khôn xiết. Ngài bèn bảo Phạm Thị để đứa trẻ lại cho nhà chùa nuôi dạy nên người giúp nước giúp dân. Nghĩ đến tương lai của con sau này, Phạm Thị đành gạt nước mắt nghẹn ngào nhìn con, rồi một mình quay về xóm cũ. Rời gót khỏi cổng chùa Cổ Pháp, đến gò đất ven rừng, tự nhiên thấy hoa mắt, Phạm Thị gục xuống, qua đời trên đường. Thổ thần bản địa thấy vậy bèn sai họ hàng nhà mối đùn lên thành ngôi mộ rất lớn, tương truyền nơi người mẹ nằm xuống chính là một nơi liên hoa khai bát điệp-một trong những huyệt mộ đế vương.
Theo ông Nguyễn Văn Quyết, trưởng thôn Dương Lôi cho chúng tôi biết, cây gạo cổ thụ nơi xuất hiện bài sấm nổi tiếng-bức thông điệp báo hiệu nhà Lý ra đời, mới cách đây 20 năm còn là một cây đại thụ, hơn chục người ôm mới xuể đứng sừng sững ở đầu làng. Do quá già cỗi, nên cây gạo đã bị đổ trong một trận bão lớn. Ông Nguyễn Trọng Lịnh, thủ từ đền Lý triều Thánh mẫu kể: "Vào năm cuối đời, cố GS Trần Quốc Vượng có về thăm lại đền. GS nói, trong đời tôi có 2 sai lầm lớn nhất, đó là nhận rằng Nguyên phi Ỷ Lan ở Dương Xá và nơi sinh Lý Công Uẩn ở Đình Bảng". Ông Nguyễn Đình Phúc khẳng định: Dương Lôi đích thực là quê mẹ của Lý Công Uẩn. Đối với dân làng, bà Phạm Thị Ngà - người con của làng vừa là người bình dị thân thương, vừa là bậc thánh nhân thiêng liêng sùng kính. Cũng bởi vậy, từ xa xưa đến nay, trong làng không có ai dám đặt tên con cháu trùng với tên của bà và Đức vua nhà Lý. Cuộc đời bà, việc bà sinh nở, tuổi ấu thơ của Lý Thái Tổ và công lao của cả một vương triều được tái hiện bằng các di tích, di vật cũng như các phong tục tập quán và lễ hội hàng năm nơi đây. Song quan trọng hơn, điều này được ghi sâu đậm trong tiềm thức, tâm khảm người dân Dương Lôi và nhân dân quanh vùng
Những dòng hậu duệ của Nhà Lý
Giác Ngộ - Sách Đại Việt sử ký toàn thư có ghi chép việc Trần Thủ Độ sau khi bức tử vua Lý Huệ Tông, đã tàn sát những người trong tôn thất nhà Lý, với mong muốn tiêu diệt tận gốc họ Lý để tập hợp nhân tâm hướng vào họ Trần.
Tuy nhiên, vẫn có một số người trong tôn thất nhà Lý may mắn thoát chết, đã đành trốn đi, rời bỏ quê hương, mang theo phổ hệ lánh sang nước khác, hy vọng có dịp hồi hương phục quốc. Đó là trường hợp như Lý Long Tường, từ quê tổ Hoa Lâm đi sang nước Hàn Quốc, ban đầu mang theo tên Hoa Lâm, sau đổi sang tên Hoa Sơn cho hợp cảnh ngộ. Hiện nay, những người hậu duệ nhà Lý đang cố truy tìm văn bản Hoa Lâm Lý thị tộc phả - mà tương truyền tài liệu này được Lý Long Tường đem theo trong khi buộc phải xuất dương. Một số người trong gia tộc họ Lý buộc phải đổi sang họ khác nhằm trốn sự truy lùng của nhà Trần. Đại đức Thích Thanh Trung (trụ trì chùa Phúc Lâm-Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội) cho biết, bản Phả điệp của dòng họ Nguyễn ở Hoa Lâm (xã Mai Lâm) có ghi rằng: "Hoa Lâm xưa kia có mộ Lý Công Uẩn và một số mộ các vua nhà Lý. Trần Thủ Độ chỉ cho phá nhà thờ gốc họ Lý ở Hoa Lâm, mà không dám phá hủy những lăng mộ người đã khuất. Từ khi nhà thờ gốc họ Lý ở Thái Đường Hoa Lâm bị nhà Trần phá hủy để dòng tộc họ Trần nắm quyền trị vì đất nước, thì con cháu họ Lý phải đổi sang họ Nguyễn. Hiện nay, số gia đình gốc họ Lý ở làng Hoa Lâm và các xã lân cận cũng còn nhiều, đều đã bị Trần Thủ Độ buộc phải đổi sang họ Nguyễn để cho họ Lý mất gốc, trừ Lý Chiêu Hoàng là con dâu họ Trần thì vẫn được cùng chồng tôn thờ ở Thái Đường Hoa Lâm".
Tháp thiền sư Lý Khánh Văn tại Đình Bảng
Ông Nguyễn Hạc Đạm Thư - hậu duệ đời thứ 32 của họ Nguyễn gốc Lý ở Mai Lâm cho biết: Tính đến thời điểm hiện tại (tháng 12-2009), số hậu duệ nhà Lý trụ lại ở thôn Du Lâm (tức Hoa Lâm) có 19 hộ gia đình, với tổng cộng 78 người. Trong ký ức những người trên 70 tuổi hiện sống ở Du Lâm, làng cổ Hoa Lâm ở ven sông Đuống vào những năm đầu thế kỷ XX tuy không trù phú nhưng có vẻ đẹp hữu tình, với nhiều di tích lịch sử của nhà Lý. Tiếc thay, do sự thay dòng đổi hướng của sông Đuống, khiến ngôi làng cổ xưa kia với nhiều di tích quan trọng của nhà Lý đã bị thời gian biến cải. Sau trận vỡ đê Mai Lâm năm 1957, một phần diện tích của làng đã bị nhấn chìm xuống sông Đuống, nhiều di tích quan trọng bị nước cuốn trôi. Đến năm 1980, sông Đuống tiếp tục bị sạt lở, toàn bộ làng Hoa Lâm phải chuyển vào trong đê. Đại đức Thích Thanh Trung cũng là hậu duệ nhà Lý, chỉ tay ra giữa lòng sông Đuống, chua xót: "Chỉ cách đây chừng hơn 30 năm, Du Lâm vẫn còn khu lăng mộ Bất kỳ nhi nhiên của nhà Lý, nay đã nằm ở giữa lòng sông Đuống. Tương truyền, Trần Thủ Độ vì bức tử vua Lý Huệ Tông, khiến tôn thất nhà Lý vô cùng uất ức. Đến lúc người nhà họ Lý làm lễ tế tổ ở Thái Đường, Thủ Độ sai người ngầm đào hố sâu dựng nhà lên trên, rồi giật máy cho nhà đổ chôn sống hết tất họ Lý, vì vậy hình thành nên khu lăng mộ Bất kỳ nhi nhiên. Chùa Phúc Lâm trước kia cũng ở ngoài đê kia. Nửa cuối thế kỷ XX do vỡ đê, nước lụt tràn bờ nên dân làng phải di chuyển chùa sâu vào phía trong làng về vị trí ngày nay".
Ông Nguyễn Triệu Bản - một người họ Nguyễn gốc Lý ở Du Lâm hồi tưởng: Trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, rừng nhà Lý ở Hoa Lâm rất rộng, có nhiều cây cổ thụ, trong đó có những cây gáo có gốc to hàng mấy người ôm. Giữa rừng gáo là lăng Nhà Lý có cổng chính rộng 2m và 2 cổng phụ, trước cổng có 2 con sấu đá. Trong đền, có bệ thờ bằng gạch Bát Tràng cao 1,5m, dài 4m, rộng 3m; phía trong có bức bình phong hình chữ nhật đắp 2 con rồng chầu vào nhau. Trước sân lăng có một bia đá hình khối bốn mặt khắc chữ Hán. Bãi Sập ở phía sau bệ thờ, được truyền huấn là nơi các tôn thất nhà Lý bị chôn sống vào năm 1232, có rất nhiều đá chồng lên nhau lẫn đất. Giờ đây nhắc lại những kỷ niệm cũ, ai nấy đều bùi ngùi xót xa vì toàn bộ rừng và lăng nhà Lý đã bị phá hủy không còn dấu tích. Lăng nhà Lý ở trên một gò cao đã bị phá hủy để công trường thủy lợi lấy đá hàn đê Mai Lâm vào năm 1958. Trận sạt lở sông Đuống năm 1980 khiến lăng nhà Lý bị cuốn trôi hoàn toàn. Sau khi dân làng phải di chuyển vào phía trong, Nhà máy gạch Cầu Đuống mua đất ở đó làm gạch, họ đào thấy rất nhiều mảnh bát đĩa, chum chĩnh rải rác khắp nơi.
Thiên đài thạch trụ tại Đền thờ Lý Thánh Mẫu, niên đại 1705, được khẳng định đây là đền thờ bà Phạm Thị Ngà, mẹ của Lý Công Uẩn
Trong cuốn sách Ngược đường trường thi của tác giả Nguyễn Triệu Luật (một người họ Nguyễn gốc Lý) được xuất bản tại Sài Gòn vào năm 1939, có kể về quá trình rời bỏ Du Lâm và trở về Du Lâm của hậu duệ nhà Lý sau hơn 550 năm. Sau thảm họa kinh hoàng bảy mươi người tôn thất nhà Lý bị chôn vùi vào năm 1232, một số người đã phải chạy lên biên giới lánh nạn và đổi thành họ Nguyễn, nhờ vậy đã tránh được tai vạ. Dù ở đâu, người gốc Lý vẫn luôn có ý thức lưu truyền phả hệ, không bao giờ quên chua chữ gốc Lý bên cạnh tên họ Nguyễn trong gia phả. Đến thế kỷ XVIII, ông Nguyễn Đường đã tìm về sinh sống tại quê cha đất tổ ở Du Lâm. Con trai duy nhất của Nguyễn Đường là Nguyễn Án (1770-1815) là danh nhân văn hóa đất Thăng Long, có cuốn sách Tang thương ngẫu lục viết chung với Phạm Đình Hổ. Nguyễn Tư Giản (1820-1890) - cháu nội của Nguyễn Án, là người đa tài đa năng, đỗ hoàng giáp năm 21 tuổi, từng làm quan hơn 40 năm dưới triều đình nhà Nguyễn. Nguyễn Tư Giản từng làm đến chức Thượng thư Bộ Lại, ông còn là nhà thơ nổi tiếng để lại nhiều tác phẩm giá trị, riêng bộ Thạch Nông toàn tập của ông đã dày 2.508 trang. Trong 2 năm đi sứ nhà Thanh (1868-1869), Nguyễn Tư Giản đã có 3 tác phẩm với hàng trăm bài thơ tặng và đối đáp với danh sĩ Trung Hoa và các sứ thần Triều Tiên.
Tài ngoại giao văn chương của ông được triều đình nhà Thanh mến mộ, tặng ông một bức vẽ truyền thần, một bộ đồ thờ cúng hiện còn lưu giữ ở nhà thờ Nguyễn Tư tại TP.Hồ Chí Minh. Cháu nội của Nguyễn Tư Giản là nhà văn chuyên viết lịch sử, tiểu thuyết Nguyễn Triệu Luật, là đời thứ 31 nhà Lý, ông thạo cả chữ Hán và tiếng Pháp, tên tuổi được khẳng định trong Từ điển văn hóa Việt Nam và Lược truyện các tác gia Việt Nam.
Theo tài liệu dài hơn 1.000 trang do ông Vân Lộc Foundation-hậu duệ của Nguyễn Tư Giản hiện đang định cư ở Mỹ soạn với tựa đề Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Tư Giản, có đoạn: "Một buổi chiều, Nguyễn Tư Giản cầm sách dạo quanh Lý Gia Lăng bùi ngùi xúc động, bèn cảm tác: Thâm dạ nguyệt minh Thiên Đức Thủy/Tịch dương phong vấn Lý Gia Lăng. Dịch nghĩa là: Đêm đã khuya, một vầng trăng soi sông Thiên Đức/Nắng về chiều chỉ còn gió hỏi mộ Lý gia". Vân Lộc Foundation cũng cho biết: "Khoảng đầu thời Trần, Trần Thủ Độ phá hủy nhà thờ họ Lý ở đất Hoa Lâm, bắt họ Lý đổi sang họ Nguyễn, và phải chuyển cơ đồ thờ phụng họ Lý từ đất Hoa Lâm sang thờ ở đất Đình Bảng. Gia tộc họ Lý hốt hoảng lo sợ, phần nhiều phải bỏ đất mà đi, cũng có một số người đổi họ nhưng vẫn lén lút ở lại, đó chính là tổ tiên của cụ Nguyễn Tư Giản".
Tác giả bên giếng đá cổ  hơn 600 năm tuổi ở chùa Phúc Lâm
Trong số những người bỏ đi nơi khác lập nghiệp, về sau con cháu vẫn thương cành nhớ cội, nhiều người đã tìm về mảnh đất cổ xưa ở Hoa Lâm để tưởng vọng các vị tiền nhân. Một trong những hậu duệ họ Nguyễn gốc Lý là Nguyễn Phi Khanh, đã từng tìm đến Lý Gia Lăng ở đất Hoa Lâm, mảnh đất cội nguồn của họ Lý. Ông bùi ngùi xúc động ứng tác bài thơ Bạc Lý gia lăng:
Biển chu Thiên Đức hệ tà huy
Vọng Lý hoang khâu dĩ tích thì
Túc túc di linh tàng trạch thụ
Thanh thanh cổ sắc chẩm giang tì
Đồng quan vô phục thành long khí
Hoa biểu di tồn thúc hạc chi
Ngưng chử bách niên thành nhất khái
Hoàng hôn tiểu lập tự nga thi.
Ở làng Vân Điềm (xã Vân Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội) cũng còn một dòng họ Nguyễn gốc Lý. TS Nguyễn Văn Sơn, một người trong họ này hiện là Giám đốc Trung tâm Cổ Loa và Thành Cổ Hà Nội cho biết, theo truyền ngôn của những người trong họ, bất cứ ai trước khi qua đời cũng phải dặn dò con cháu về gốc gác của gia tộc là họ Lý. Phả tộc còn ghi, dòng họ Nguyễn này là hậu duệ của Lý Hùng Tích - em vua Lý Nhân Tông. Sau sự biến nhà Trần kế ngôi nhà Lý, hậu duệ đời thứ 8 của Lý Hùng Tích là Lý Quang Bật đã tụ hợp dân binh chống lại nhà Trần, nhưng thất bại bị nhà Trần đày lên Ba Điểm ở huyện Lũng Hữu tỉnh Lạng Sơn. Đến đời thứ 15, hậu duệ của dòng họ là cụ Nguyễn Thiện Tính đã trở về làng Vân Điềm ngày nay sinh sống. 
Hoa Lâm quê mẹ của Lý Công Uẩn?
Đền thờ Lý Thánh Mẫu Phạm Thị Ngà ở Dương Lôi
Giác Ngộ - Vào những năm gần đây, công cuộc nghiên cứu khảo sát để nhận diện lại quê hương Lý Công Uẩn đã tiến những bước khá xa. Trong đó, nhiều nhà khoa học đã đưa ra luận điểm mới mẻ, khác hẳn với cố GS Trần Quốc Vượng rằng Du Lâm (tức Hoa Lâm) ở Đông Anh là quê ngoại của Lý Công Uẩn, còn Dương Lôi là quê nội của ông.
PGS Trịnh Bỉnh Dy đưa ra 2 chứng tích để minh chứng rằng Hoa Lâm là quê mẹ của Lý Thái Tổ. Một là, tại chùa Tiêu vẫn còn tấm bia Lý gia linh thạch khắc vào năm 1793, có đoạn: "…Đông Ngạn, Hoa Lâm nhân Phạm mẫu, tiêu dao kỳ tự, thường kiến nhất thần hầu, bất giác hữu thần…". Đoạn văn này đã khẳng định mẹ Lý Công Uẩn họ Phạm, người trang Hoa Lâm huyện Đông Ngàn. Đình thôn Thái Đường ở xã Mai Lâm ngày nay vẫn còn bảo lưu được đôi câu đối cổ: "Mạch tụ quân vương truyền thắng địa/Tích lưu Lý mẫu quán danh phương" (Đất có mạch tụ sinh ra vua/Mẹ vua Lý quê tại làng này). Khi Lý Thái Tổ dựng nhà Thái Đường ở quê mẹ, ngài cũng đặt tên mới cho xã này là Hoa Lâm vào năm 1010 và lập Ly cung ngự uyển ngay tại đó. Nhà vua còn tuyển chọn trai tráng giỏi trồng hoa về Hoa Lâm gọi là "viên đinh". Tương truyền, viên đinh và người phục dịch Ly cung đều phải sống tại nơi mà ngày nay mang tên thôn Lê Xá. Xã Mai Lâm (Hoa Lâm) có 4 thôn: Thái Đường có nhà thờ mẹ vua; Du Lâm là nơi vua về nghỉ ngơi du ngoạn; Đông Trù (bếp ngự) là nơi nấu cỗ cúng; thôn Lộc Hà là nơi phát lộc sau khi cúng.
Theo PGS.TS khoa học lịch sử Trần Bá Chí (Trường ĐH Quốc gia HN): Xét về tầm cỡ và bề thế của địa danh, thì trang Hoa Lâm ở Mai Lâm đã xuất hiện sớm và đã tồn tại lâu dài trong sử sách thời Lý Trần. Trong Đại Việt sử ký toàn thư, sử gia Ngô Sĩ Liên từng chép địa danh Hoa Lâm: "Khi ấy Thủ Độ chuyên chính lâu ngày, đã giết Huệ Tôn, tôn thất nhà Lý đều bùi ngùi thất vọng. Mùa Đông năm ấy, nhân người họ Lý làm lễ cúng các vua Lý đời trước ở Thái Đường xã Hoa Lâm, Thủ Độ ngầm đào hố sâu làm nhà lên trên, đợi khi người ta uống rượu say, giật máy chôn sống chết hết". Trong khi đó, chưa từng có thư tịch cổ nào đề cập đến tên Hoa Lâm liên quan đến làng Dương Lôi. Mặt khác, Dương Lôi và Đình Bảng từ thời Trần đến đầu thời Nguyễn thuộc về huyện Tiên Du, chứ không thuộc về huyện Đông Ngàn. Như vậy, xã Hoa Lâm mà bia Lý gia linh thạch ghi phải là địa danh Hoa Lâm ở Mai Lâm. Ở xã Mai Lâm, phế tích hành cung do Lý Công Uẩn lập ra, nay vẫn còn nhận rõ vị trí. Ngôi đền thờ Lý triều quốc mẫu Phạm Thị Tiên, nay nhân dân dựa theo dấu nền cũ, chuẩn bị khôi phục tôn tạo lại. Khu Lý gia lăng bị bào mòn nhiều, nay vẫn còn nhận rõ. Miếu oan hồn thờ các tôn thất nhà Lý bị giết oan năm 1232 nay còn nguyên, nhưng đã xuống cấp.
Theo TS Nguyễn Quang Ngọc (Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển): "Khu Sơn Lăng cấm địa của nhà Lý được xây dựng trên cánh đồng của các làng Dương Lôi, Đình Bảng, Đại Đình và chỉ mới thành đất riêng của làng Đình Bảng hơn trăm năm nay, chứ không phải vì là quê nội của nhà Lý nên Lý Thái Tổ mới lấy đất riêng của làng Đình Bảng để xây dựng Thọ Lăng. Dù vai trò và vị trí của làng Đình Bảng trong hương Cổ Pháp có quan trọng đến thế nào, chúng ta vẫn không có cơ sở khẳng định Đình Bảng là quê nội hay là nơi sinh thành Lý Thái Tổ. Dương Lôi dù gần đây đã được nhiều người ra sức chứng minh là quê mẹ hay quê ngoại của Lý Thái Tổ, thậm chí đã từng có cuốn sách viết về Quê mẹ đức vua Lý Thái Tổ (tác giả PGS.TS Đặng Văn Lung, NXB ĐH Quốc Gia TP.HCM, 2006). Nhưng với những nguồn tư liệu phong phú và độc đáo, thì dường như lại gợi ra cho người đọc hình ảnh hợp lý và rõ ràng hơn về một làng quê nội chứ không phải là quê ngoại của Lý Công Uẩn".
Nếu chỉ căn cứ vào sự có mặt của ngôi đền thờ bà Phạm Thị Ngà ở Dương Lôi để khẳng định rằng đây là quê mẹ của Lý Thái Tổ thì chưa đủ sức thuyết phục. Bởi vì, khắp vùng Kinh Bắc hiện có rất nhiều ngôi làng (trong đó có Du Lâm) cũng có đền thờ Phạm Thị. Vì bà là quốc mẫu, nên triều đình nhà Lý sức cho dân nhiều nơi làm đền thờ. Tuy nhiên, việc bà Phạm Thị sinh ra Lý Công Uẩn ở làng Dương Lôi thì không ai dám chối cãi, nhưng vẫn có 2 khả năng xảy ra: hoặc bà Phạm Thị là người Dương Lôi (lấy chồng cùng làng) hoặc bà là người nơi khác đến lấy chồng ở Dương Lôi. Nếu chấp nhận luận điểm rằng Đình Bảng là quê nội, Dương Lôi là quê mẹ của Lý Thái Tổ như kết luận của các nhà nghiên cứu lịch sử vào cuối thế kỷ XX, thì như vậy vô hình trung coi Vạn Hạnh chính là cha đẻ của Lý Công Uẩn.
Nhân dân vùng Kinh Bắc truyền tụng: đương thời không ít người cho rằng Vạn Hạnh là cha đẻ của Lý Công Uẩn. Vạn Hạnh bày tỏ nỗi oan bằng cách chỉ tay vào con hổ đất bên bàn thờ mà thề: "Thân này, tâm này đã tu hành không vọng tưởng gì nữa, nhược bằng không thanh tịnh, mắc tội tà dâm thì xin trời trừng phạt và con hổ kia vẫn là con hổ đất, còn vẫn giữ phép giới siêu thoát thì hổ đất sẽ biến thành hổ thật". Kỳ lạ, con hổ đất bỗng rùng mình biến thành hổ thật để Vạn Hạnh cưỡi. Người đời sau đã dựa vào tích đó để tạc tượng Ngài. Pho tượng cổ tạc Ngài được đặt trong một khám thờ ở chùa Tiêu, bài vị khắc: "Lý triều nhập nội, Quốc công tể tướng Thiền sư Vạn Hạnh". Tượng cao 50cm, chân dung Ngài sinh động, ngồi uy nghiêm trên con hổ màu xám, một tay ôm lấy đầu hổ, bàn tay kia đặt lên đầu gối, mặt ngẩng cao, đôi mắt dõi vào cõi xa xăm. Những năm gần đây, nhân dân Tiêu Sơn đã xây dựng phiên bản pho tượng Vạn Hạnh cưỡi hổ, kích thước lớn gấp hàng chục lần, đặt trên đỉnh Tiêu Sơn để du khách thập phương chiêm bái.
Theo GS.TS lịch sử Nguyễn Quang Ngọc, một sự thật mà không ai có thể phủ nhận được là ngay sau lễ đăng quang vào ngày 21-11-1009, Lý Thái Tổ đã "truy tôn cha là Hiển Khánh vương, mẹ là Minh Đức Thái Hậu" (Việt sử lược). Ông còn phong cho chú làm Vũ Đạo vương, anh ruột làm Vũ Uy vương, em ruột là Dực Thánh vương. Năm 1018, ông tiếp tục truy phong bà nội làm hậu và đặt tên thụy. Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi nhận các sự kiện này, nhưng sử gia Ngô Sĩ Liên đã chê "Vua đến lúc này mới truy phong cho bà nội, đó là lỗi chậm trễ". Sách Thiền uyển tập anh có nhắc đến việc Thiền sư Vạn Hạnh trực tiếp bàn bạc với người chú và người bác ruột của Lý Công Uẩn về tình hình chính sự ở kinh thành Hoa Lư, rồi "chú và bác Lý Công Uẩn nghe xong lấy làm lo sợ, sai người ruổi gấp về Hoa Lư nghe ngóng thì quả đúng như lời sư nói". Sách còn cho biết khá tường tận về sự tích ngôi mộ của Hiển Khánh Vương ở hương Cổ Pháp với các mốc chuẩn về vị trí. Về sau, cố GS Trần Quốc Vượng đã giải mã và xác định vị trí khá chính xác của ngôi mộ nằm ở cánh đồng làng Dương Lôi. Thiền uyển tập anhcòn kể về câu chuyện, lúc Lý Công Uẩn chưa lên ngôi vua, sư Vạn Hạnh nửa đêm ra thăm mộ Hiển Khánh vương đã gặp Hiển Khánh vương hiển linh báo cho biết về sự ra đời của triều Lý. Như vậy, Vạn Hạnh không phải là cha đẻ của Lý Công Uẩn. Những thông tin trên đã giúp xác nhận một cách rõ ràng danh nghĩa người cha đẻ và dòng họ nội của Lý Thái Tổ. Rõ ràng, Lý Công Uẩn có cha, mẹ, chú, bác ở làng Dương Lôi. Ông có anh và em ruột, chứng tỏ ông không thể là con hoang, nhưng việc người cha sớm qua đời, đã để lại cho mẹ ông nhiều điều dị nghị, muôn nỗi gian truân. TS Nguyễn Quang Ngọc đưa ra kết luận rằng, quê nội của Lý Thái Tổ là làng Đình Sấm (nay thuộc thôn Dương Lôi, phường Tân Hồng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Quê ngoại của Lý Công Uẩn là Hoa Lâm, huyện Đông Ngàn, nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh Hà Nội. Bà Phạm Thị từ Hoa Lâm đến lấy chồng ở Dương Lôi, sinh ra Lý Công Uẩn.
Hoa Lâm là quê ngoại của vua Lý Thái Tổ, lại án ngữ trên đường từ kinh đô Thăng Long về Đình Bảng nên mảnh đất này gánh trên vai bao chứng tích thăng trầm của triều Lý. Như vẫn còn đây dấu tích ngự trị nơi vua ngồi câu cá, cùng những phủ đền, hành cung của vua và các vương tôn nhà Lý, đông đúc xóm thôn, trên bến dưới thuyền. Đây cũng là nơi các quan đi sứ về đợi vào triều kiến, nơi bá quan văn võ đương triều họp bàn quyết định các việc trọng yếu của đất nước, vui chơi săn bắn, thao diễn quân binh. Thế kỷ XX, nơi đây sinh ra nhà văn, nhà báo, danh nhân văn hóa Ngô Tất Tố. Thật không hổ danh lời truyền tụng "Chín xóm Cổ Loa không bằng ba xóm Ao Dài". Trong những năm 2004-2009, các nhà khảo cổ học và khoa học lịch sử nước ta đã tiến hành nghiên cứu khai quật, khảo cổ trên nền đất Hoa Lâm, đã phát hiện số lượng đồ sộ các di vật minh chứng cho sự hiện diện của gia tộc nhà Lý trên mảnh đất này. Năm 2004 đã phát hiện thành bậc tam cấp điêu khắc con sấu đá thời Lý (niên đại thế kỷ XII) và giếng đá cổ thời Lý, cả 2 di vật này hiện được lưu giữ tại chùa Phúc Lâm. Đồng thời phát hiện nhiều mảnh gốm, sành, sứ và vật liệu kiến trúc có niên đại thời Lý- Trần tại khu vực thôn Du Nội cũ. Theo PGS.TS Khảo cổ học Hán Văn Khẩn, khai quật Hoa Lâm vào năm 2007, đã phát hiện 107 mảnh gốm sứ có niên đại từ thế kỷ IX trở về trước; 925 mảnh đồ sứ có niên đại thời Lý; 1.313 mảnh gốm sứ thời Trần; 495 mảnh gốm sứ thời Hậu Lê…Về vật liệu kiến trúc, phát hiện tại đây hàng trăm mảnh gạch và hàng ngàn mảnh ngói niên đại từ thế kỷ VII đến thế kỷ X, trong đó có cả gạch ngói khắc chữ Giang Tây Quân. Gạch ngói thời Lý chiếm số lượng áp đảo nhất, với các loại ngói phẳng mũi lá, ngói cong úp nắp và ngói âm dương.
Chùa Phúc Lâm ngự trên đất thôn Du Nội, trung tâm của Hoa Lâm xưa, là nơi tụ hội những di tích vật thể và phi vật thể của triều Lý. Chùa được xây dựng từ năm 1224, giữa rừng hoa, vườn quan họ của các phủ Tôn Thất. Trải qua gần 800 năm dâu bể, gồng gánh sức tàn phá của binh đao đạn lửa, lũ lụt, sự thay dòng đổi hướng của sông nước, nên bóng dáng kiến trúc xưa lộng lẫy uy nghi đã bị thời gian biến cải. Nửa cuối thế kỷ XX do vỡ đê, nước lụt tràn bờ nên dân làng phải di chuyển chùa sâu vào phía trong làng. Tuy nhiên chùa vẫn còn bảo lưu được nhiều báu vật của ngôi chùa cổ xưa: một số pho tượng cổ, bia đá, những tảng đá kê chân cột, đặc biệt vô cùng quý giá là một giếng đá cổ và phù điêu lan can con sấu đá thời Lý. Vào năm 2004, trong quá trình khai quật nghiên cứu tại nền chùa Phúc Lâm xưa, đã phát hiện một lan can thành bậc trang trí hình con sấu chế tác từ đá cát màu nâu xám. Sấu là loài vật mình thú, đuôi rồng, kết tinh từ trí tưởng tượng dân gian (cũng như long, lân, phụng). Phần đầu của lan can con sấu đã bị vỡ. Mặt bên trái chỉ còn dấu vết của hai chân. Mặt bên phải còn khá nguyên vẹn, với những vân mây, mỗi chân có 3 vuốt. Đuôi dài uốn lượn tinh xảo. Lan can hình con sấu được tạc liền khối với bệ trang trí hoa văn cúc dây hình chữ S xen kẽ với những bông cúc mãn khai. Theo đánh giá của các nhà khảo cổ học, lan can sấu đá ở chùa Phúc Lâm mang phong cách nghệ thuật thời Lý, đường nét chạm khắc tương đồng với những mảnh thân rồng trên lan can thành bậc đá thời Lý tìm thấy trong cuộc khai quật Hoàng thành. Hiện ở Việt Nam, mới chỉ tìm thấy 2 di vật sấu đá thời Lý, đó là sấu đá chùa Phúc Lâm và sấu đá Hoàng Thành hiện lưu ở Bảo tàng lịch sử.
Giếng đá trong khuôn viên chùa Phúc Lâm được làm từ những tảng đá nguyên khối. Phần cổ giếng được tạo bởi hai khối đá cao 30cm, được khoét rỗng hình tròn ở giữa, với đường kính 80cm, tạo nên miệng giếng. Miệng giếng tròn xoay toàn bích khiến bất cứ ai tới chiêm ngưỡng cũng phải thán phục bàn tay khéo léo, tài tình của những người thợ xưa. Vết tích biết bao đời người dùng dây kéo nước tạo nên những rãnh đá mòn lõm sâu hằn lên miệng giếng, có thể đặt vừa cả ngón tay. Các nhà khảo cổ học đã xác định tuổi của giếng đá trên 600 năm.
Khi chúng tôi đề cập về Hoa Lâm, ông Nguyễn Văn Quyết, trưởng thôn Dương Lôi ở Bắc Ninh lại đưa ra quan điểm rất khác với những người ở Hoa Lâm. Theo ông Quyết, ở Dương Lôi vẫn còn dòng họ Phạm nhận là dòng họ của bà Phạm Thị Ngà. Trong khi, ở Hoa Lâm lại có dòng họ Nguyễn nhận là hậu duệ của tôn thất nhà Lý, như vậy chưa đủ khẳng định Hoa Lâm là quê hương bà Phạm Thị Ngà. Bởi Hoa Lâm nằm kề kinh đô Thăng Long, lại ở ngay ngã 3 hợp lưu của sông Hồng và sông Đuống, nên được các vương tôn nhà Lý chọn làm nơi xây cung thất nghỉ ngơi, giải trí, săn bắn. Hoa Lâm chỉ hình thành sau khi nhà Lý đã lên ngôi, như vậy việc tại Hoa Lâm có dòng hậu duệ của các vương tôn nhà Lý còn truyền đến ngày nay là hoàn toàn có thể lý giải được.
Chu Minh Khôi

LÝ GIẢI CÁC NGUỒN THƯ TỊCH HÁN NÔM ĐỂ TÌM HIỂU

NGUỒN GỐC NHÀ LÝ
PGS. CHU QUANG TRỨ
Viện Mỹ thuật
Một loạt thư tịch Hán Nôm cổ gồm cả quốc sử, dã sử, địa lý và Phật giáo như Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí, Thiên Nam ngữ lục, Thiền uyển tập anh và một số bia đá, chuông đồng, bằng sắc, hoành phi, câu đối... viết về nguồn gốc nhà Lý đều thống nhất cho biết: Vua Lý Thái Tổ người châu Cổ Pháp, mẹ là Phạm Thị đi chùa Tiêu ngủ với thần rồi sinh ra vua, cho làm con nuôi Lý Khánh Văn, sau theo học sư chù Lục Tổ. Thuở ấy hương Diên Uẩn có cây gạo bị sét đánh để lại bài sấm thi: "Thụ căn diểu diểu..." được Thiền sư Vạn Hạnh giải thích là sự báo hiệu nhà Lý sắp thay nhà Lê, và sau đấy thiền sư tìm mọi cách vun vén để Lý Công Uẩn lên ngôi thật thuận lợi.
Nhưng về chi tiết, giữa các tài liệu có xuất nhập, chúng rải ra tản mạn, nếu khéo lần mối nối mạng sẽ cho mảng gấm đẹp, ngược lại sẽ làm cho lịch sử bị phủ hỏa mù dày hơn. Dưới góc độ tư liệu Hán Nôm về chủ đề này, tôi xin góp bàn mấy vấn đề:
- Châu Cổ Pháp, hương Cổ Pháp và chùa Cổ Pháp.
- Chùa Minh Châu với cây gạo và bài kệ của La Quý An.
- Hương Diên Uẩn với cây gạo bị sét đánh.
- Bia Lý gia linh thạch chùa Tiêu và quê bà Phạm Thị.
- Quan hệ của Thiền sư Vạn Hạnh với Lý Công Uẩn.
1 - Châu Cổ Pháp, hương Cổ Pháp và chùa Cổ Pháp
Người dịch sách Đại Việt sử ký toàn thư đã chú giải: "Cổ Pháp: Tên châu, từ đời Đinh về trước gọi là châu Cổ Lãm; Triều Lê Đại Hành cho đến năm 994 vẫn còn gọi tên ấy (BK1, tờ 21a), sau đổi gọi là Cổ Pháp, Lý Thái Tổ lên ngôi đổi làm phủ Thiên Đức. Nay là đất huyện Tiên Sơn tỉnh Hà Bắc". (Bản in năm 1983, tập I, trang 240). Nội dung lời chú trên, từ thế kỷ XIX các tác giả sáchViệt sử thông giám cương mục đã viết ở Lời chua rồi, còn nói rõ hơn: "Nhà Trần đổi làm huyện Đông Ngàn. Về sau nhà Lê vẫn theo tên cũ. Bấy giờ là huyện Đông Ngàn tỉnh Bắc Ninh" (Bản in năm 1967, tập III, trang 39).
Nếu dựa vào chuyện Thiền sư Vạn Hạnh ban đêm nghe từ mộ Hiển Khánh vương ở châu Cổ Pháp có tiếng ngâm thơ cho biết: Phía nam có đất Phù Ninh, phía bắc có đất Phú Cầm, phía đông có núi Khánh Vạn, phía tây nhìn thấy núi cao như cột chống trời, thì có thể xác định một vùng đất rộng từ Nành (Phù Ninh) đến bến Gấm (Phù Cẩm) mà nay vẫn còn mang tên cũ - theo chiều Nam - Bắc, và phía đông là dãy núi Bát Vạn, nhìn về phía tây thấy núi Sóc Sơn, nơi Thánh Gióng về trời, hay dãy Tam Đảo cao nhất.
Nếu sự khảo hứu của Quốc sử quán nhà Nguyễn là đúng, thì đất huyện Đông Ngàn sang đầu thế kỷ XX cơ bản trở thành huyện Từ Sơn, năm 1962 phải thêm huyện Tiên Du nữa mới thành đất huyện Tiên Sơn tỉnh Hà Bắc. Vì thế không thể đồng nhất huyện Đông Ngàn xưa với huyện Tiên Sơn nay.
Còn về hưong Cổ Pháp, chính sử không nói tới. Theo truyện Thiền sư Định Không (? - 808) trong sách Thiền uyển tập anh thì nguyên tên xưa là hương Diên Uẩn, nhân chuyện đào đất xây chùa tìm được 10 chiếc khánh nhưng khi mang ra sông rửa bị rơi 1 chiếc xuống đáy sông, mới đổi ra là hương Cổ Pháp: Tuy thế, gần 200 năm sau, chính sử vẫn ghi nhận tên hương Diên Uẩn là nơi có cây gạo bị sét đánh để lại bài thơ sấm.
Chính sử không nói tới hương Cổ Pháp, nhưng trong sách Thiền uyển tập anh, ở nhiều truyện có nhắc đến. Chẳng hạn Thiền sư Định Không người hương Cổ Pháp nhưng tu ở chùa Thiện Chúng hương Dịch Bảng. Như vậy Cổ Pháp và Dịch Bảng là hai hương khác nhau. Nếu xác địh được chùa Lục Tổ thì biết hương Dịch Bảng ở đâu, xác định được chùa Lục Tổ thì biết hương Dịch Bảng ở đâu, xác định được cây gạo bị sét đánh thì biết hương Diên Uẩn tức hương Cổ Pháp ở đâu. Ngày nay không ít người lầm tưởng Cổ Pháp = Dịch Bảng = Đình Bảng, không hề chứng minh gì cả.
Điều nhầm lẫn này, có lẽ bắt đầu từ các tác giả sách Đại Nam nhất thông chí, và Việt sử thông giám cương mục ở thời Nguyễn. Lúc đầu còn ít, sau này những người dịch thư tịch Hán Nôm đã chú giải tùy tiện càng làm cái sai lan rộng.
Chính sử thời Trần và thời Lê chẳng những không nói đến hương Cổ Pháp mà cũng không nói đến chùa Cổ Pháp. Tài liệu thuộc loại sớm nhất nói về Lý Khánh Văn gắn với "Cổ Pháp sơn" hay với "Ngàn Cổ Pháp" là Thiên Nam ngữ lục diễn ca lịch sử ở thế kỷ XVII, có thể ngầm chỉ đó là chùa Cổ Pháp. Phải đến thời Nguyễn, chùa Cổ Pháp mới vào chính sử. Sách Việt sử thông giám cương mục viết: "sư chùa Cổ Pháp là Lý Khánh Văn" và chùa"Chùa Cổ Pháp ở xã Đình Bảng huyện Đông Ngàn tỉnh Bắc Ninh" (Bản in năm 1975, tập III, trang 37). Sách Đại Nam nhất thống chí (phần tỉnh Bắc Ninh) cũng ghi tương tự: "Chùa Cổ Pháp ở xã Đình Bảng huyện Đông Ngàn..." (Bản in 1971, tập IV, trang 107). Trên thực địa, xã Đình Bảng không hề có chùa Cổ Pháp. Trong khi đó, thôn Đại Đình thuộc xã Tân Hồng liền kề vẫn còn nền chùa Cổ Pháp với bia đá "Cổ Pháp tự bi trùng tu di tích" và chuông đồng "Cổ Pháp tự chung" ghi rõ đây lầ ngôi chùa danh tiếng. Thôn Đại Đình từ nhiều thế kỷ trước Cách mạng vẫn được ghi trong danh mục hành chính là xã Đại Đình, ngang cấp với xã Đình Bảng cùng thuộc tổng Phù Lưu. Bia Hậu Thần của làng dựng năm Chính Hòa 21 (1700) đã ghi rõ điều này. Vậy mà gần 200 năm sau các sử quan nhà Nguyễn vẫn nhầm.
Về chùa Lục Tổ thì Đại Nam nhất thống chíviết đúng:"Chùa Lục Tổ: tức chùa Trường Liêu. Sử chép sư Vạn Hạnh trụ trì ở chùa này" (Bản in 1971, tập IV, trang 108). Đọan ngay trước, sách cũng ghi đúng:"Chùa Thiên Tâm:ở trên núi thuộc xã Tiên Sơn thuyên Yên Phong. Theo Sử ký thì chùa này là chỗ sinh Lý Thái Tổ, bên cạnh chùa có viện Cảm Tuyền, lại có chùa Trăng Liêu, sư Vạn Hạnh từng trụ trì ở đây". Đấy là một nhóm chùa cạnh nhau ở trên núi Tiêu nên được gọi chung là chua Tiêu: Lục Tổ = Trường (hay Tràng) Liêu= Thiên Tâm = Cảm Tuyền, nơi Vạn Hạnh trụ trì.
Người dịch sách Đại Viết sử ký toàn thư, có 2 chú thích liền nhau, chú thích trên đúng: "Chùa Tiêu Sơn: tức chùa Trường Liêu trên núi Tiêu ở xã Tương Giang huyện Tiên Sơn, Hà Bắc", thì chú thích dưới lại sai: "Chùa Lục Tổ, cũng gọi là chùa Cổ Pháp, ở xã Đình Bảng huyện Tiên Sơn, Hà Bắc" (Bản in 1983, tập I, trang 240). Điều sai này lại được lặp lại vào năm 1990 các dịch giả sách Thiền uyển tập anh thấy người xưa viết "chùa Lục Tổ ở hương Dịch Bảng" liền chú thích: "Cũng gọi là chùa Cổ Pháp ở xã Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, thỉnh Hà Bắc ngày nay" (Bản in 1990, trang 148). Có thể người chú thích sách Hán Nôm ngày nay đã nhầm lẫn chùa Lục Tổ có ít nhất từ thế kỷ X với miếu Lục Tổ ở Đình Bảng có sớm nhất cũng từ giữa thế kỷ XV thờ 6 vị Tổ sư đã dẫn con cháu về đây lập lại làng.
Hương Diên Uẩn xưa với cây gạo bị sét đánh thì ký ức người dân xã Tân Hồng (xã có chùa Cổ Pháp) mách có lý: Do cây gạo bị sét đánh để lại bài sấm thi mà trở nên thiêng, và để ghi nhớ sự kiện này, làng đổi là Dương Lôi, là Đình Sấm cả 2 tên này vẫn song tồn; còncây gạo mới bị chết cỗi mười năm nay mà cả vùng trước đây đều nhìn thấy, nay mới trồng lại cây gạo con.
Vậy thì thôn Dương Lôi - Đình Sấm ngày nay chính là xóm hạt nhân của hương Diên Uẩn - Cổ Pháp xưa. Cái sai của chúng ta là lâu nay thường dịch hương ra làng. Làng nay nhỏ thôi, dù có làng cũng là xã (như làng/ xã Đình Bảng) thì vẫn nhỏ nhiều so với hương xưa. Hương Cổ Pháp phải là một vùng rộng, trong đó có xã Tân Hồng và xã Đình Bảng, Tân Hồng còn nhiều di tích về sự ra đời huyền kỳ của Lý Công Uẩn, Đình Bảng có lăng tẩm gắn với sự "ra đi" của các vua nhà Lý.
2 - Chùa Minh Châu với cây gạo và bài kệ của La Quý An.
Truyện Thiền sư La Quý An trong sách Thiền uyển tập anh ngữ lục chép truyện trước khi tịch, sư dặn đệ tử rằng: "Trước đây, Cao Biền ... biết đất Cổ Pháp ta có khí tượng vương giả, bèn... cắt yểm long mạch tất cả 19 nơi. Ta đã ... lấp như cũ, lại trồng một cây gạo ở chùa Minh Châu để trấn chỗ đất bị cắt long mạch.. khi trồng cây gạo, sư có đọc bài kệ như sau:
Đại Sơn long đầu khởi
Cù vĩ ẩn Chu Minh
Thập bát tử định thành
Miên thụ hiện long hình
Thố, kê, thử nguyệt nội
Đinh kiến nhật xuất thanh.
(Bản in 1990, trang 178). Ở đây có 2 điểm cần bàn: Chùa Minh Châu và bài kệ.
Theo giáo sư Trần Quốc Vượng trong tiểu luận Nhà Lý và văn minh Đại Việt thì câu thứ 2 của bài kệ là xà vĩ ẩn minh châu. Châu hay Chu là một thôi, song đảo từ sẽ dẫn đến những cách hiểu khác nhau. Cù vĩ ẩn Chu Minh được Thơ văn Lý - Trần dịch là "Đuôi rồng giất sự thịnh vượng" chưa ổn lắm, Thiền uyển tập anh dịch là "Đuôi dài náu chu minh" thì không rõ nghĩa, song cả phiên âm và dịch nghĩa, dịch giả Thiền uyển tập anh đều viết hoa cả 2 chữ đã ngầm mách đấy là danh từ riêng. Xà vĩ ẩn minh châu được giáo sư Trần Quốc Vượng dịch là "Đuôi rắn ẩn minh châu", có ý chỉ viên ngọc sáng chăng? Nếu đã có ý cho Chu Minh là danh từ riêng, lại đảo thành Minh Châu thì đó chính là tên ngôi chùa đã trồng cây gạo.
Chùa Minh châu này gợi chúng ta nhớ đến "chùa kẻ Gia Châu" trong sách Thiên Nam ngữ lụclà nơi Phạm Thị sinh ra vua Lý Thái Tổ. Đây là "địa linh" tất sinh "nhân kiệt". Nhân dân ở Dương Lôi - Đình Sấm vẫn chỉ ra nền chùa Minh Châu ở dìa làng, sau chuyển vào trong làng gọi làchùa Cha Lư. Giáo sư Trần Quốc Vượng mách "Cha Lư " là phiên âm tiếng Chàm có nghĩa là Thần Sấm, vậy nó gợi chúng ta nghĩ đến Thiên Lôi đánh sét vào cây gạo và do đó đổi hương Diên Uẩn ra Dương Lôi - Đình Sấm. Còn về ngữ nghĩa và ngữ âm học lịch sử, việc chuyển dịch Minh Châu - Gia Châu - Cha lư cũng đáng tin.
Cây gạo ở chùa Minh Châu gắn với bài kệ của La Quý An cũng là cây gạo ở trước chùa Cha lư có bài sấm thi do sét đánh tạo nên.
Trở lại bài kệ, câu đầu Đại sơn long đầu khởi các tác giả Thơ văn Lý - Trần dịch là " Đầu rồng khởi lên ở núi lớn " có vẻ chung chung, không rõ ý, dịch giả Thiền uyển tập anh dịch là " Đại sơn đầu rồng ngước " như có ý nói " Đại sơn " là danh từ riêng nhưng lại khôngviết hoa. Trồng cây gạo để phá phéptrấnyểm của Cao Biền bài kệ phải gắnvới thuyết phong thủy. Minh Châu đã là danh từ riêng, thì Đại Sơn cũng phải là danh từ riêng, chính là tên quả núi trong dãy Vạn Sơn, thuộc xã Việt Đoàn nay cùng huyện Tiên Sơn.
Biết Đại Sơn là tên núi trong vùng và Minh Châu là tên chùa trồng cây gạo thì bài kệ dễ hiểu hơn. Câu thứ 4 Miên thu hiện long hình đều được mọi người dịch chung ý và chúng ta hiểu hai câu 3+4 là " khi nào thân cay gạo có vết sét đánh như hình rồng leo thì nhà Lý sẽ thành lập được vương triều của mình".
Riêng câu 5 Thố kê thử nguyệt nội, điều mọi người thống nhất hiểu " Thố - kê - thử " là chỉ thời gian gắn với 3 con vật: Thỏ - gà - chuột, ngưng giáo sư Trần Quốc Vượng dịch là " Trong tháng chuột - ngày gà - giờ thỏ", dịch giả Thiền uyển tập anhdịch là " Thỏ - gà trong tháng chuột " và chúthích là " ngày thỏ - tháng chuột - năm gà" thì liệu cóthuận thứ tự từ trong câu ?Cả câu chỉ có một từ chỉ thời gian là tháng đứng sau 3 từ chỉ thời gian gắn với 3 con vật, có lẽ vì thế Thơ văn Lý - Trần dịch là: " Trong tháng thỏ, tháng gà, tháng chuột" để nói một sự dự báo với 3 khả năng vào các tháng 11- 2 - 8 sẽ thấy vua mới chăng?
Đối chiếu với sự thật lịch sử đã xảy ra thì ngày Tân Hợi tháng 10 năm Kỷ Dậu vua Lê Ngọa Triều băng, cách một hôm sang ngày Sửu thì Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế. Phó giáo sư Lê Thành lân đã tính ra ngày ấy là mồng 2 tháng 11 năm Kỷ Dậu ( ứng với dương lịch là 21 - 11 - 1009 ).
Năm Kỷ Dậu là năm Gà, tháng 11 là tháng Chuột rất khớp với dự báo. Riêng ngày mồng 2 ấy là ngày Quý Sửu (con trâu), song nếu không tính theo hội (chu kỳ 60) mà chỉ tính theo giáp (chu kỳ 12) thì 2 lại ứng cới con Thỏ (là tháng Mão). Vậy "Thỏ - Gà - Chuột" trong bài kệ có thể em là ứng nghiệm của sự dự báo tuyệt đối chính xác.
Chùa Minh Châu ở làng Diên Uẩn, cây gạo được Thiền sư La Quý An trồng và đọc bài kệ trên cũng là cây gạo ở thời Tiền Lê bị sét đánh để lại bài sấm thi. Cả hai bài kệ và bài sấm thi đều có câu "Thập - bát - tử (định ) thành" khẳng định nhà Lý ( thập + bát + tử = Lý) sẽ thành nghiệp lớn.
Như vậy, vấn đề hương Diên Uẩn với cây gọ bi sét đánh cũng đã được giải quyết.
3 - Bia "Lý gia linh thạch" ở chùa Tiêu và quê bà Phạm Thị.
Chùa Tiêu như trên đã nói, là chùa Thiên Tâm (tức Ứng Đại Thiên Tâm, cũng là chùa Lục Tổ, chùa Tràng Liêu) ở lưng chừng núi Tiêu, ngay ở sâ chùa có bia nhỏ trong có tấm bia Lý gia linh thạch dựng năm đầu đời cảnh Thịnh. Chữ Cảnh bị mờ nhiều, một số bài viết về tấm bia này đều ỏ trống, song phí tiến sĩ Cung Khắc Lược đã đọc được - và toi đã xem lại kỹ hoàn toàn nhất trí.
Năm 1990 nhà Hán học Hoàng Lê đi cùng với một nhà báo và 2 cán bộ người ở Thái Đường (xã Mai Lâm - Đông Anh - Hà Nội) đã đến chùa Tiêu đọc tấm bia này, trong đó có đoạn: Chùa Thiên Tâm do thiền sư Vạn Hạnh người hương Cổ Pháp trụ trì. Đặc biệt có bà Phạm Mẫu người ở Hoa Lâm thuộc phía đông, trên tả ngạn chùa, khi lên chùa đèn nhang, thường thấy một vị thần đứng cạnh cột chùa. Người này bảo bà vào hang núi lấy của... Bà thường ngồi trên hòn đá thiêng ngẫm sự việc, ngẫu nhiên có thai, sinh ra ngường con họ Lý..."
Do Thái Đường vốn tên là Hoa Lâmnên đoàn nghiên cứu trên đã cho quê bà Phạm Mẫu là Thái Đường. Năm 1992 ông Hoàng Lê về Dương Lôi, biết nơi đây xưa cũng có khu đất Hoa Lâm, lại đúng là ở phía đông và tả ngận chùa Tiêu (trong khi đó, Thái Đường ở phía Nam và phía trước mặt chùa Tiêu), mới vỡ nhẽ năm trước mình nhầm. Điều này, đầu năm 1994, tại Hội thảo khoa học Dương Lôi và Vương Triều Lý, ông Hoàng Lê đã chính thức cải chính rồi.
Bà Phạm Mẫu người Dương Lôi còn được khẳng định bằng nhiều tư liệu khác: Cạnh chùa Cha Lư ở Dương Lôi vốn có đền thờ bà, nay rước bà vào thờ trong chùa. Bài văn chuông chùa cũng xác nhận: "Dương Lôi là ấp thang mộc của Thánh Mẫu triều Lý". Đình Dương Lôi thờ bà Thánh Mẫu Tuyên Bảo thái hậu làm thành hoàng cùng với vua nhà Lý có đủ bằng sắc được các Nhà nước xưa giao trách nhiệm "tòng tiền phụng sự". Đình Dương Lôi mang tính chất đền thờ các vua nhà Lý, ngoài bài vị và ngai cũ còn đầy đủ, từ Nghi nóm cho đến trước cung thờ có cả một hệ thống các câu đối tập trung ca ngợi vương triều Lý với cá ý Dương Lôi là đất thiêng sẽ mở nghiệp Đế, thế đất phát 8 đời vua làm cho nước vững dân yên, đây là nơi ngự của các vua Lý để cả nước hướng về và nước ngoài triều cống... lại thêm nhều hành phi khẳng định nơi đây ánh sáng tỏa chiếu khắp toàn dân, là chỗ có đủ 4 điều mẫu mực.
4 - Quan hệ của thiền sư Vạn Hạnh với Lý Công Uẩn
Sách Thiền uyển tập anh cho biết thiền sư Vạn Hạnh họ Nguyễn, người hương Cổ Pháp, gia đình nhiều đời thờ Phật, trụ trì ở nhóm chùa quanh núi Tiêu nên gọi chung là chùa Tiêu. Như thế chúng ta có thể hiểu thền sư vốn họ Lý. Một số tài liệu cho hay thiền sư Vạn Hạnh và thiền sư Lý Khánh Văn ở chùa Cổ Pháp là hai anh em.
Chính sử chỉ cho biết Vạn Hạnh ra sức nuôi dạy Lý Công Uẩn thành tai, đưa dần vào chính thường hoạt động, tạo mọi dư luận điềm trời bái trước nhà Lý sẽ thay nhà Lê và thúc đẩy việc Lý Công Uẩn khẩn trương lên ngôi hoàng đế.
Đông cơ nào thôi thúc Vạn Hạnh làm những điều trên? Đúng là Vạn Hạnh thông hiểu thời thế, nắm được cơ trời vận nước, ên mọi việc làm đều thuận lợi và thành công tốt đẹp. Nhưng để hăng hái làm việc tầy đình ấy, có thể còn một nguyên nhân về quan hệ cá nhân.
Các tài liệu chính sử, dã sử và bia ký đều thống nhất cho biết bà Phạm Thị đi ở chùa Tiêu, ngủ với người thần rồi có mang. Vậy người thần ở chùa Tiêu là ai? Điều này, dã sử không cần tô son điểm phấn, nói thẳng đó là nhà sư trụ trì chùa Tiêu (Ứng Đại = Ứng Thiên với tên đầy dủ là Ứng Đại Thiên Tâm, nói tắt là Thiên Tâm, tức chùa Lục Tổ, chùa Trường Liêu). Thiên Nam ngữ lục diễn ca lịch sử, khẳng định không chỉ một lần nội dung này. Doạn trước tả (theo bản AB.315) rất cụ thể:
4375
Tháng tư năm Giáp Tuất này,
Gữa ngày mồng Tám là ngày Bụt sinh
Đêm khuya Thày dạy tụng kinh,
Nàng dạy một mình ngồi bếp thổi xôi.
Ngùi ngùi nhớ sự khúc nhôi,
4380
Lim dim ngủ mát nằm ngoài táo môn.
Thấy lâu Thày mới hỏi dồn,
Tắt đèn vạc lửa, thày liền bước qua.
Tự nhiên mới giấc hồn hoa,
Ngỡ ai đã đến giao hòa cùng ai.
4385
Âm dương thăng giáng một hôi,
Thủy liêm mở động ngọc lơi dề dề.
Máy trời co nhiệm ai hay,
Thác lấy khí Thày cho nàng thụ thai.
Đoạn dau là lời bà Phạm Thị trả lời Thiền sư trụ trì chùa này:
4395
"Sáng ngày mồng Chín ấy rày,
Tôi nằm ngủ mát, tối Thày chạm chân.
Thấy nên chuyển động tâm thần,
Có phân ngây ngất, có phân kinh lòng.
Tôi ngỡ mà quỷ hãi hùng,
4400
Chẳng ngờ một tháng hay lòng có thai".
Thày tức Thiền sư trụ trì chùa này là Vạn Hạnh rồi.
Nhưng nói thẳng thì không thiêng, nên phải núp danh "Người Thần", mà như thế đứa trẻ sẽ không có họ và quê nội. Vậy phải dàn dựng lớp kịch tiếp theo: Đưa đứa trẻ đến làm con nuôi thiền sư Lý Khánh Văn ở chùa Cổ Pháp thuộc hương Cổ Pháp tức hương Diên Uẩn cũng là quê bà Phạm Thị, và khi dứa trẻ được mang tên Lý Công Uẩn thì đã khẳng định với lịch sử người này thuộc dòng huyết tộc họ Lý ở hương Diên Uẩn của mình, rõ ràng mà vẫn kín đáo.
Câu chuyện thụ thai này giống hệt chuyện khi phật giáo mới vào Việt Nam, nàng Man Nương ở chùa Dâu nằm ngủ, sư Khâu Đà La bước qua rồi có thai sinh đứa trẻ sau thành Thạch Quang, thành Tứ Pháp. Phải chăng đấy là một mô típ văn hóa về sự giao tiếp của văn hóa dân gian với văn hóa Phật giáo, của văn hóa bản địa với văn hóa bên ngoài, nó hồn nhiên, nhuần nhuyễn để dẫn đến một cấu trúc mới cao sang, thánh thiện, đẹp đẽ.
Thư tịch Hán Nôm là những tư liệu lịch sử rất quý. Song lịch sử có chính sử và dã sử, có tư liệu của sử quán ở tàng thư và tư liệu của dân gian ở các di tích. Coi trọng tất cả các nguồn thư tịch Hán Nôm, khai thác kết hợp nó có thể phá nhiễu để tiếp cận chân lý. Trên hướng này, tôi muốn tìm hiểu nguồn gốc nhà Lý, mong được các chuyên gia Hán Nôm hợp lực.
Thông báo Hán Nôm học 1995 (tr.414-426).

Chu Quang Trứ
Theo http://tritanplus7.webnode.vn/




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thềm xưa - Chốn hồng thiêng của thơ lục bát Nguyễn Nho Khiêm

Thềm xưa - Chốn hồng thiêng của thơ lục bát Nguyễn Nho Khiêm Nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm (Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật thành...