Thềm xưa - Chốn hồng
thiêng của
thơ lục bát Nguyễn Nho Khiêm
Nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm
(Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng) vừa ấn hành tập
thơ thứ bảy – tập Thềm xưa – với thuần một thể thơ: thơ lục
bát.
Tập thơ là sự trở về với thể thơ dân tộc trong một tâm thế nhẹ nhàng như một cuộc chơi với thi ca, với chữ nghĩa. Nhưng chính sự tự nhiên, nhẹ nhàng ấy đã đạt hiệu quả lớn lao, sâu sắc. Ấy chính là sự hoà hợp tuyệt diệu giữa nội dung và hình thức tác phẩm. Đề tài, chủ đề của tập thơ đã thể hiện ngay trong thi đề: Thềm xưa. Thềm nhà xưa chính là gia đình, quê hương, nguồn cội. Vậy thì lục bát, thể thơ xa xưa, thể thơ thể hiện bản sắc của dân tộc, tỏ ra hợp điệu, hợp giọng với cảm hứng hoài niệm, yêu thương của tác phẩm.
Hồn quê xưa và cảm thức
nay
Dễ nhận thấy, đối tượng
trữ tình của Thềm xưa là quê cũ gắn với ngôi nhà cũ. Ngôi nhà ấy,
thềm nhà ấy giờ không còn, bỗng lúng túng cả đứng ngồi:
Nhà ta vừa giải tỏa
xong/ Ngổn ngang giả hạ, bòng bong vui buồn/ Bao nhiêu kỷ niệm thoát
hồn/ Bay lên lơ lửng phố ồn ào qua./ Nửa đời gắn với ngôi
nhà/ Thương mưa dồn dột, nắng lòa xòa rơi/ Tường rêu, giường ván quen
rồi/ Mai về chỗ mới đứng ngồi nơi đâu? – (Nhà
xưa)
Trở về vườn xưa, nhớ ngôi
nhà xưa, nhớ bậc thềm xưa và những ký ức lúc hiển hiện lúc nhạt nhoà, nghe lòng
dậy sóng:
Bây giờ ngồi nhớ cố
hương/ Nhớ đĩa cà tím dầm tương mấy mùa/ Sau vườn, nhớ gốc khế
chua/ Trước sân, nhớ chậu hồng chưa xanh cành/ Đất bằng sóng dậy lênh
đênh/ Đưa ta tới cõi mông mênh đời người – (Bây
giờ)
Trong nỗi hoài niệm về những
hình bóng xưa, hình tượng “bóng” xuất hiện nhiều lần, với nhiều đối tượng. Quê
hương là “bóng non”, “bóng rừng”, “bóng lá”, “bóng mây”… Đứng giữa quê nhà, mà
mọi hồi tưởng xa xăm như chiêm bao, cả “bóng em” cũng chập choạng, chới với:
Cúi đầu/ trước bóng
non phơi/ Đỉnh lòng/ còn một góc trời/ hồn quê – (Huyền
thoại đỉnh núi quê)
Hôm qua chợt thấy bóng rừng/ Ngủ
trên bóng lá xanh từng bóng mây/ Chiêm bao nắng vỗ cánh bay/ Và em
nõn trắng một ngày bóng xa – (Bóng xa)
Em xưa bóng nhớ còn
đây/ Ủ đêm thành mộng, ủ ngày thành mơ – (Bóng
xuân)
Nhưng đó là bóng của
khách thể, còn ngay cả tôi (chủ thể) cũng thành ảo ảnh:
Phiêu bồng con mắt rất
xa/ Nhìn tôi và thấy như là bóng tôi – (Con
mắt phiêu bồng)
Không mải miết chìm đắm
trong quá vãng, nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm chọn cách nhìn đời bằng tuệ nhãn với
tâm hướng thiền. Trong tư thế Đứng một chân (yoga), thi cảm
thiền tính thể hiện trong cách nhìn thiên địa mênh mông, dòng dịch hoá miên viễn,
nhân sinh như giấc mộng:
Nhắm mắt tập đứng một chân/ Hai mươi giây đã mấy lần nghiêng chao […]
Co chân tôi đứng, thở
ra/ Hai mươi giây mốt, như là chiêm bao/ Đất vẫn rộng, trời vẫn
cao/ Và mây trắng vẫn bay vào hư không
Rất nhiều lần, nhà thơ dựng
hình tượng đôi mắt thấu thị sắc sắc không không, nên cần buông là buông để giữ
tâm bình, như: Con mắt phiêu bồng, Đôi mắt khác, Bây giờ, Nhìn cha, Ra
vườn,… Trong Đôi mắt khác, nhà thơ tự thuật:
Một trăm con mắt trong
tôi/ Nhìn hoa thấy quả và chồi xưa sau/ Nhìn mây – biển hoá bể
dâu/ Thấy khung cửi dệt vết đau nhân tình
Có lẽ, thi sĩ Nguyễn Nho
Khiêm yêu mến thi sĩ Bùi Giáng và thích đọc thơ Bùi Giáng (trong Thềm
xưa, nhà thơ có đề thơ trên ảnh thi sĩ Bùi Giáng hôn tay nghệ sĩ Kim Cương
qua bài Thơ đề ảnh kèm lời đề từ “Cảm mối tình Bùi Giáng và
Kim Cương”). Đọc Đôi mắt khác của Nguyễn Nho Khiêm, bạn đọc dường
như liên tưởng đến hai câu thơ nổi tiếng của Bùi Giáng: “Bây giờ tôi đối diện
tôi / Còn hai con mắt khóc người một con”. Nhưng nếu thi sĩ “điên rực rỡ” (từ của
Bùi Giáng) khóc tình nhân thì thi sĩ Đôi mắt khác lại đau nỗi
đau nhân tình, quán chiếu lẽ vô thường của tạo hoá:
Một đôi mắt khóc ngày xưa
Một đôi mắt biếc khép vừa
hôm nay
Ngoái nhìn xa tít đổi
thay
Thấy trong một cõi quần xoay tang tình.
Lời thơ truyền thống và
cách tân
Nhà văn Nga Leonis Leonov
đã nói: “Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội
dung”. Đó là yêu cầu sáng tạo trong văn học nghệ thuật. Bất cứ nhà thơ, nhà văn
nào cũng nằm lòng chân lý đó. Vậy thì, với thơ lục bát, các nhà thơ hiện đại sẽ
tiếp nối truyền thống và cách tân như thế nào?
Nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm
gây dựng Thềm xưa theo một cấu trúc ba đoạn (phần): Lời
đọng trong sương, Giấc mơ bay, Khúc chiều xanh. Có lẽ, Lời đọng
trong sương chủ yếu là thao tác hồi cố, trở về quá vãng qua những hoài
niệm. Vì thế, những từ “xưa”, “xa” là con mắt thơ. Phần Giấc mơ bay chủ
yếu là thơ tình, những tình yêu mơ mộng nhưng trắc trở, thường được hoá giải bằng
việc chôn giấu trong tim hoặc bằng buông bỏ. Còn phần cuối – Khúc chiều
xanh – là những chiêm nghiệm sau những chuyến đi, đi là để trở về. Cho
nên, dẫu có đi muôn phương (vườn An Hiên, động Thiên Đường, cửa Tùng, phá Tam
Giang…) thì vẫn không quên Vũng Thùng, phố Hội, núi Sơn Trà, biển Mỹ Khê, đặc
biệt là làng Giáng La, cánh đồng làng, bếp của mẹ… Cấu trúc như thế, có lẽ, làm
cho thơ giàu yếu tố tự sự hơn, tự sự mạch lạc mà lại không tự sự, trái lại, vẫn
là những đoản khúc trữ tình da diết.
Trong Thềm xưa, không
hiếm những câu, những bài mang phong vị lục bát dân gian (ca dao) với nhịp dàn
đều, nhịp nhàng (nhịp 2/2 hoặc 4/4), với lời thơ, hình ảnh thơ hồn nhiên, mộc mạc,
dân dã:
Hoa vườn nở rộ mùa
xuân/ Xóm làng bánh tét, bánh chưng, lửa hồng/ Hương trầm khói toả
thinh không/ Hồn xưa đỉnh núi ngọn sông tìm về. – (Mùa
xuân)
Nhớ ngày xưa ấy, chưa
xa/ Quê nghèo khoai sắn xoá nhoà tuổi thơm/ Cánh đồng toàn rạ với
rơm/ Cha đi gánh nặng đường rơm, chiều tà…(Xem
ảnh cũ)
Bên cạnh đó, Thềm
xưa cũng có nhiều bài viết theo phong cách cổ điển mà đăng đối (phép đối)
là biểu hiện rõ nhất:
Trăng thanh nhớ rạ, nhớ
rơm/ Củ khoai chấm muối, chén cơm chan gừng – (Mẹ
quê, 1)
Bàn chân không dám bước
nhanh/ Một con đường ngắn loanh quanh cõi người/ Tay run, dè dặt nụ
cười/ Ước mơ chiu chắt, niềm vui dụm dành.- (Mẹ
quê, 2)
Hải Vân vân hải đợi chờ/ Em
trong vô thuỷ bất ngờ vô chung.- (Trên đỉnh đèo Hải Vân
nhìn về Đà Nẵng)
Song, với những nhà thơ lục
bát đương đại, cách tân tiết tấu qua nhịp thơ, cách tân hình thể câu thơ (mỗi
dòng lục hoặc dòng bát được chia thành nhiều dòng), cách tân cấu trúc câu thơ…
được các nhà thơ vận dụng khá nhiều. Trong Thềm xưa, chúng ta có thể thường
xuyên bắt gặp những phương thức cách tân như thế:
Xem ảnh cũ: nhớ. buồn.
mong…/ Ngồi thiền cũng rối bòng bong chuyện nào – (Xem
ảnh cũ)
bây giờ/ ngồi nhớ
thương nhau/ chiêm bao buốt trái tim đau/ một mình/ em chồng
con/ em vô tình/ để tôi nằm chết lặng thinh/ cõi này/ môi
tôi/ uống nước mắt say/ năm năm, tháng tháng, ngày ngày/ nhớ
em.- (Ngồi nhớ thương nhau)
Em về rộng một ngày thường/ Từ bi cá chợ rẽ đường về sông/ Em về gọi giữa mênh mông/ Lặng im. Thiên sứ tịnh không nói gì.- (Thả cá về sông)
Nhìn tổng thể, Thềm
xưa cất lên một giọng điệu khá nhất quán – yêu thương, thiết tha – giọng
điệu của lục bát ngàn xưa, điệu tâm hồn Việt qua bao đời. Bởi thế, Thềm
xưa có sức đồng cảm và rung động, ít nhiều nhập hoà vào kho tàng lục
bát rộng lớn của dân tộc.
Có khi nào chúng ta tự hỏi
vì sao có những nhà thơ quyết định ra mắt những tập thơ thuần tuý thể lục bát –
một thể thơ đã có từ xa xưa, đôi khi bị đánh giá là đơn giản hoặc gò bó thi luật
(âm luật, vần luật). Nhất là, trước đó, thành tựu thơ ca dân tộc đã có quá nhiều
đỉnh cao, nhiều “thi bá” trong thể lục bát: Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Huy Cận,
Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ…
Điều gì đã đưa họ đến với
quyết định có vẻ táo bạo ấy? Tự tin chăng? Chắc là không, không ai tự tin rằng
mình là “vua lục bát”. Vậy thì chỉ còn vì yêu. Phải! Yêu nên cứ viết, cứ ra mắt
thơ lục bát. Một cuộc chơi nhẹ nhàng, thanh tao, được sống với cảm xúc chân thật
của “người nhà quê” trong con người mình, được nói “lời quê chấp nhặt dông
dài”, được sống với hồn vía “hương hoả cha ông”. Thế là được, được nhất. Còn lại
mọi chuyện, tuỳ vào sự tiếp nhận của bạn đọc.
Tôi tin rằng, nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm đã tâm niệm như thế khi trao vào tay bạn đọc chúng ta tập thơ lục bát Thềm xưa – nơi dung chứa “chốn hồng thiêng” (từ của Nguyễn Nho Khiêm) trong cảm thức của tác giả – rất tâm huyết đầy trân trọng như thế!.
27/10/2025
Chế Diễm Trâm
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét