Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2015

Nhạc - Thơ - Văn: Tiếng Tỳ bà

Nhạc - Thơ - Văn: Tiếng Tỳ bà
Làn điệu Việt: Giới thiệu cây đàn tỳ bà
 Nam Nhân Vô Lệ - 琵琶版/ Tỳ Bà Bản
TỲ BÀ                                                                                      
Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm
Trăng đan qua cành muôn tay êm
Mây nhung pha màu thu trên trời 
Sương lam phơi màu thu muôn nơi 
Vàng sao nằm im trên hoa gầy
Tương tư người xưa thôi qua đây
Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đưa hương gây đê mê 
Cây đàn yêu đương làm bằng thơ
Cây đàn yêu đương run trong mơ
Hồn về trên môi kêu: em ơi
Thuyền hồn không đi lên chơi vơi 
Tôi qua tìm nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu 
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
BÍCH KHÊ 
                                              Thúc giục  
                                     Tỳ bà thúc giục vang vang,
   Tay nâng chung rượu hiên ngang lên đường...!
   Thân dù ngã giữa chiến trường,
   Hỏi ai chiến đấu kiên cường hơn ta ?!
   NM   
      
TIẾNG TỲ BÀ TRONG KHÚC HÁT LƯƠNG CHÂU
Bửu Châu mến,
Đất nước mình đã từng trải qua những tháng năm ngập ngụa mùi súng đạn. Lứa tuổi của chúng mình ngày ấy từng chứng kiến cảnh người chung quanh sống nay mà không biết ngày mai có còn hiện diện ở trên đời. Đêm không chỉ xa nghe tiếng súng vọng về mà còn nghe chính tiếng gầm của đại bác ngay giữa lòng phố thị. Từng ấy năm kề cận với lằn ranh giữa sống và chết, hầu hết ai cũng thấy và thông cảm hình ảnh “say nằm” của người chiến binh trong Khúc Hát Lương Châu của Vương Hàn hơn ngàn năm trước:
LƯƠNG CHÂU TỪ
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
Bản chép mà Bửu Châu gởi cho mình, ghi lại khúc ngâm của người bạn, có lẽ đó là bản dịch của cụ Trần Trọng San
Rượu bồ đào, chén dạ quang
Muốn say, đàn đã rền vang giục rồi
Sa trường say ngủ ai cười
Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu
Ngày xưa Cụ Bùi Khánh Đản cũng có bản dịch, dịch sát từng chữ:
Bồ đào, rượu rót chén lưu ly
Muốn uống, tỳ bà giục ngựa đi
Bãi cát say nằm, chê cũng mặc
Xưa nay chinh chiến mấy ai về
Trong Khúc Hát Lương Châu của Vương Hàn – Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi. Khi đọc bản chuyển ngữ của mình (1), Bửu Châu đã đặt vấn đề cho mình phải giải thích: căn cứ vào đâu mà mình xác định tiếng tỳ bà đó là của giặc Hồ !?
Chắc Bửu Châu cũng đồng ý với mình: Mã thượng của Hán ngữ nghĩa là trên lưng ngựa, vì vậy mới có thành ngữ Tinh thần mã thượng, lâu nay nó là hình tượng của người không cạn tàu ráo máng với kẻ đã sa cơ dưới chân ngựa. Nhiều bản dịch Lương Châu Từ đều toát lên ý nghĩa tiếng tỳ bà thúc giục người chiến binh lên ngựa ra trận. Cũng đúng là như vậy, nhưng xem ra có vẻ khập khiễng vì thượng mã mới là lên ngựa, người chiến binh đang muốn uống mà phải lên ngựa ra trận liền thì hình ảnh say nằm ở dưới kia nó sao sao ấy. Các bản dịch cũng đều mơ hồ, không cho thấy tiếng tỳ bà đó là của ai. Đi tìm chủ nhân của nó, trước tiên chúng mình cùng thử hình dung lại hình ảnh của người chiến binh uống rượu ngoài biên địa:
Đó có thể nào là cảnh đàn đúm, rượu chè be bét khi đã ca khúc khải hoàn, hoặc kiểu như Trương Phi nát rượu say nhè, chưa đụng trận đã để mất Từ Châu (!?). Đó có thể nào là cảnh được mời chén rượu khích lệ trước khi lên ngựa đề thương… kiểu như Quan Vân Trường trong trận chiến Lạc Dương, ra chém đầu Hoa Hùng mang về mà chén rượu được mời chưa uống vẫn còn ấm (!?). Hình ảnh ủy lạo, uống rượu để nâng cao sĩ khí trước khi ra trận là hình ảnh phổ biến. Nhưng vẫn còn có một hình ảnh khác là cảnh giặc đã đến bên chiến hào, người chiến binh vẫn còn đủ hào khí đối ẩm… kiểu như Hạng Vũ giữa trùng vây, uống rượu xuất quân đánh một trận đánh cuối cùng cho ra đánh ở Cai Hạ (!?)
Người chiến binh ở Lương Châu, đất biên địa tứ bề là giặc, chén rượu khích lệ đâu đủ để say mèm giữa chiến trường. Hào khí và bi thương của Lương Châu Từ là nằm ở chén rượu uống để quyết chiến. Để từ đó mới buông ra câu ta thán để đời: Từ xưa nay ra trận, có mấy ai đã được trở về, vậy thì có gì đâu mà giễu cười cảnh say nằm nơi chiến địa !? Nó vừa có bi thương của hình ảnh trận Cai Hạ. Nó vừa có hình bóng hào hùng của cảnh ba anh em Tiêu Phong, Hư Trúc, Đoàn Dự cùng rót cho nhau chén rượu trước khi huyết chiến với quần hùng trên chùa Thiếu Lâm trong Lục Mạch Thần Kiếm của Kim Dung.
Tác động để người chiến binh dục ẩm – muốn uống, phải nâng chén rượu lên, chính là tiếng đàn tỳ bà trên lưng ngựa kia đang thôi thúc – tỳ bà mã thượng thôi, giặc đã – đang ở sát bên chiến hào …
Về nhạc khí cổ, về đàn tỳ bà, về “cầm trăng” của nàng Kiều, mình có đọc được bài viết của Gs. Trần Văn Khê – Mạn Đàm Âm Nhạc Trong Truyện Kiều (2) :
Thông thường chữ hồ cầm – nghĩa là đàn của rợ Hồ – dùng để chỉ cây đàn nhị. Nhưng xem trong sách Thích Danh và tự điển Từ Nguyên – Từ Hải của Trung Hoa thì hồ cầm không chỉ là tên gọi đàn nhị mà cả đàn tỳ bà nữa. Truy tìm “tỳ bà loại” trong các sách cổ Trung Hoa mới biết nước này có đến ba loại là Tứ huyền tỳ bà (Việt Nam sử dụng loại này, có bốn dây và thân đàn hình bầu dục), Ngũ huyền tỳ bà (tỳ bà có năm dây) và Nguyễn tỳ bà hay còn gọi là Nguyễn cầm (lấy theo họ của người sáng chế ra nó là Nguyễn Hàm sống vào đời Tấn). Đàn Nguyễn cầm có thùng tròn với bốn dây, hiện nay gần như đã thất truyền bên Trung Quốc (bản thân tôi may mắn được tận mắt chiêm ngưỡng một cây Nguyễn cầm đang được tàng trữ tại Bảo tàng viện Shosoin ở Nara của Nhật Bản).
Như vậy hình ảnh người chiến binh tay kiếm tay đàn, hình ảnh cây cầm trăng (Nguyễn tỳ bà) Bốn dây to nhỏ nên vần cung thương của nàng Kiều, hình ảnh cây đàn Tỳ bà trên bến nước Tầm Dương đã từng làm đẫm cả chéo áo của Tư Mã Giang Châu, chúng thảy đều có thể được gọi là Hồ cầm – một loại đàn của người Hồ.
Trên diễn đàn Viện Việt Học (3) mình cũng có thấy một thông tin về cây đàn Tỳ bà (Pipa):
“Tỳ bà” cũng gọi là “phê bả”, xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử vào đời Hán: Lưu Hy trong tác phẩm “giải thích danh từ, nhạc khí” ghi: “phê bả” xuất phát từ các dân tộc Hồ, dùng gảy trên lưng ngựa. Tay đưa về đằng trước gọi là “phê”, tay gảy về phía sau gọi là “bả”, sau người ta dưạ vào cách gảy mà đặt tên … dân du mục đương thời thích đánh đàn tỳ bà trên lưng ngựa, vì thế mới nói là “mã thượng sở cổ dã”. Đại khái từ thời Ngụy Tấn được gọi chính thức là “tỳ bà”.
Đàn tỳ bà có âm vực rộng, âm sắc cao, âm thanh nó vang vang cùng với gió cát sa mạc. Có lẽ từ điều nầy mà không loại trừ khả năng ngày xưa người Hồ đã dùng nó để ra hiệu lệnh nơi chiến trường sa mạc. Giống như người Hán nơi Trung thổ đã dùng chiêng trống để điều khiển ba quân tiến hay thoái. Giống như hình ảnh Cổ bề thanh động Trường thành nguyệt – Tiếng trống ở Trường thành làm bóng nguyệt lung lay, lung lay cả nỗi lòng của người chinh phụ đang mong ngóng người chồng chiến binh nơi quan ải trong Chinh Phụ Ngâm của Việt Nam.
Đất Lương Châu những năm đời nhà Đường, người Hồ đang vùng vẫy vì những tấc đất của họ đang bị thôn tính dần dần trước tham vọng của một vương triều hết Tảo Bắc, Chinh Đông, rồi lại Chinh Tây. Một loại tỳ bà nào đó có xuất xứ từ người Hồ, có thể ngày ấy nó là tiếng nói của họ. Nghe vang tiếng tỳ bà ấy là biết người Hồ đã đến bên chiến lũy. Từa tựa như ngày xưa khi nghe tiếng tắc cù, mấy đứa mình đã biết ngay đó là tiếng súng của ai. Bà cô của mẹ mình – em gái của Ông Ngoại, là người đã cùng với người chị lập nên cái quán nghỉ chân hồi đầu thế kỷ trước bên giòng sông Côn ở dưới núi Bút sơn – Mả mẹ chàng Lía, đến bây giờ nơi nầy vẫn còn mang tên là đất Quán Nổng. Mình còn nhớ hồi ấy mỗi lần nghe tiếng tắc cù giữa trăm ngàn tiếng súng, mắt của bà lại xa xăm: mấy ổng về …
Nghe vang tiếng tỳ bà là biết người Hồ đã đến bên thành, chính điều nầy mới phù hợp với hình tượng người chiến binh uống rượu trong Khúc Hát Lương Châu. Uống! uống để quyết chiến. Uống! uống cho say mèm để quên đi câu hỏi là ta đang chiến đấu cho tham vọng nào. Say vùi giữa trận ư !? Từ xưa đến nay người chiến binh nào mà thân không gởi chốn sa trường! Tiếng tỳ bà ở bến nước Tầm Dương đầm đìa nước mắt. Còn Tiếng tỳ bà trong Khúc Hát Lương Châu, nó bi thương lại thấm đẫm máu của chiến binh.
Bửu Châu mến, Đường Thi lâu nay đã để lại cho người đời biết bao là thi ảnh huyền ảo. Ninh Giang Thu Cúc – một người chị văn thơ của mình có nhận xét về những thi ảnh ấy: “nửa như sờ nắm chúng dễ dàng, nửa lại thấy chúng trừu tượng mênh mông vô hình vô tướng” … Khi gắng dùng lục bát, một loại hình độc đáo của thơ Việt để chuyển ngữ Đường Thi, mình thấy thật không dễ dàng. Vì đã dễ dàng gì sống cả tâm hồn với những khoảng trống trong thơ, những mênh mông vô hình vô tướng của Đường Thi. Việc làm ấy của chúng mình !? Chỉ mới là những bước chập chững của cuộc chơi văn chương. Ấy chỉ là những bước đi tìm chính mình có hiện hữu không cùng với những khúc ngâm của Đường Thi:
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
Rượu bồ đào sóng sánh ánh dạ quang trong chén
Tỳ bà giặc Hồ đã thúc quân vậy cứ hãy uống đi
Có say nằm giữa sa trường ai nỡ giễu cười ta
Vì xưa nay nơi trận chiến đã mấy ai được trở về
Bồ đào chén ánh dạ quang
Cứ nâng dù giặc thúc vang tỳ bà
Vùi say mặc kẻ cười ta
Mấy khi chinh chiến ai sa trường về
Trường Nghị

 Cao thủ độc tấu đàn Tỳ Bà
 Giải thoát
Chuông vàng thánh thót ngân nga,
Hoà cùng giai điệu tỳ bà sớm hôm
Ngờ đâu người động lòng tham,
Trộm đôi vật báu giam cầm xót xa...
Minh quân từ ái vị tha,
Quyết tâm giải cứu thoát ra kiếp nàn !
Đàn xưa nay tích tình tang,
Cùng chuông thoả chí hoà vang tơ đồng !?
Giờ đôi báu vật song song,
Trở về đoàn tụ một lòng sắt son !!
 NM
Bài ký một giấc mộng
Nhân Tông gặp loạn Nghi Dân. Ta mới lên ngôi, nghĩ đến việc trước mà luôn luôn phải phòng ngừạ Thường dàn sáu quân thân hành đi kiểm soát. Một hôm gặp mưa to, đóng lại trên bờ hồ Trúc Bạch ở mỏ phượng. Trong cơn mưa u ám, phảng phất có tiếng khóc than thảm thiết. Khi ta truyền mọi người lắng nghe thì không thấy gì, nhưng đến khi gió lớn mưa to thì lại nghe thấy tiếng như trước. Ta ngờ vực, rót chén rượu, hắt ra phía có tiếng khóc, khấn thầm rằng:
    - Trẫm trên nhờ oai linh của tổ tông, dưới dựa vào bầy tôi giúp sức, sinh, sát, thưởng, phạt đều nắm trong taỵ Ai uất ức, đau khổ, ta có thể giải đi được. Ai có công đức ngầm kín, ta có thể nêu lên được. Khấn với các thần ở địa phương, nếu có u hồn nào còn uất ức thì bảo chúng cứ thực tâu bàỵ Cớ sao gió mưa thì nghe thấy tiếng, lờ mờ không rõ, như khóc như than, nửa ẩn, nửa hiện, trong tình u oán có ý thẹn thùng, làm cho ta sinh lòng nghi hoặc, muốn nêu lên không rõ công đâu mà nêu, muốn giải cho không biết oan đâu mà giảị Trẫm không nói lại lần nữa, bảo cho các thần biết.
    Khấn xong, ta xem hoa cỏ phía ấy tựa hồ có ý cảm động, khiến ta cũng sinh lòng thương xót. Ta liền sắc cho các tướng truyền quân sĩ chỉnh tề hàng ngũ về cung.
    Các tướng hộ giá đều phục đằng trước tâu rằng:
    - Từ khi thánh thượng chính ngôi đến nay, dân chúng thảy đều thần phục, há đâu có sự bất ngờ. Nay trời rét như cắt, lại thêm mưa gió lạnh lùng, dù ơn vua rộng khắp, ba quân đều có lòng cắp bông báo ơn chúa (xưa có câu truyện: nước Sở đánh nước Tiêu, trời rét, vua Sở đi khắp ba quân phủ dụ khuyến khích, quân sĩ đều thấy hăng hái, trong mình ấp áp như cắp bông vậy), nhưng đội mưa ra về, dân chúng sẽ nghi là có việc khẩn cấp. Cúi xin đóng tạm ở hành tại, đợi khi mưa tạnh trời quang, truyền mở cửa Tây, chỉ trăm bước là về tới chính cung thôị
    Ta gượng theo ý chư tướng, hạ lệnh ngủ qua đêm ở đó. Ðêm khuya mộng thấy hai người con gái rất đẹp đội một phong thư, phục xuống trước mặt tâu rằng:
    - Chị em thiếp trước thờ vua Lý Cao Tông, rất được nhà vua quý mến. Không may phận rủi thời suy, bị kẻ gian là Trần Lục bắt trộm, đem đi trốn, định bán chị em thiếp cho người ta bằng một giá đắt, nhưng bị người láng giềng trông thấy, nó sợ tội nặng, nên đem chị em thiếp giam ở địa phương nàỵ Tới nay đã hơn hai trăm năm. May nhà vua đi tuần qua đi, có lòng thương xót mọi người, nên chị em thiếp đều liều chết dâng thư, mong đội đức thánh minh soi xét chọ Chị em thiếp nghĩ lúc này chính là lúc được ra ngoài hang tối, thấy bóng mặt trờị
    Hai cô nói xong, rồi đặt thư lên án, vừa khóc vừa lạy mà lui rạ
    Ta tỉnh giấc, trông lên án, quả có một phong thư. Trong lòng nghi hoặc, vội mở ra xem thì thấy một tờ giấy trắng ngang dọc đều độ một thước, trên có bảy mươi mốt chữ, lối chữ ngoằn ngoèo như hình giun dế, không thể hiểu được. Được cũng có hai bài thơ:

    Bài thứ nhất rằng:
    Cổ nguyệt lạc hàn thủy,
    Ðiền ôi vị bán âm.
    Dạ dạ quân kim trọng,
    Thê thê thiên lý lâm. 

    Tạm dịch là:
    Mặt trăng xưa, rơi xuống nước lạnh,
    Góc ruộng vì thế mà tối mất một nửạ
    Ðêm đêm cân vàng nặng,
    Ðau xót lòng ngàn dặm. 

    Bài thứ hai:
    Xuất tự ba sơn sự nhị vương,
    Tị lân đầu thượng lưỡng tương phương
    Hậu lai giá đắc kim đồng tử,
    Không đới đào chi vĩnh tự thương. 

    Tạm dịch là:
    Ra tự núi Ba Sơn thờ hai vua,
    Trên đầu liền xóm hai người sánh đôị
    Ðến sau gả cho chàng kim đồng,
    Uổng công đội cành đào, cảm thấy đau xót mãị 

   Ta nghĩ đi nghĩ lại hai ba lần, nhưng vẫn chưa hiểu ý. Sáng hôm sau ta vào triều, vời học thần nội các đến, thuật rõ việc ấy và đưa hai bài thơ cho mọi người xem để giải nghĩạ
    Các họa sĩ đều nói:
    - Lời nói của quỷ thần rất huyền bí, không thể giải đoán ngay được. Xin bệ hạ cho phép chúng tôi nghĩ kỹ xem thế nào rồi sẽ xin tâu lạị
    Trải qua ba năm, không ai biết hai bài thơ ý nói gì.
    Một hôm ta ngủ trưa, mộng thấy người Tiên thổi địch gặp ở hồ Tây khi trước. Ta mừng lắm, mời gã cùng ngồi, cầm tay nói chuyện vui vẻ. Trong mộng lại nhớ đến hai bài thơ kia, đem ra hỏi:
    Tiên thổi địch nói:
    - Tiên triết ta có câu: “Không thể biết được mới gọi là thần”. Ðem lòng trần dò lòng thần, dò thế nào được? Vậy nên ba năm nay muốn thân oan cho người mà vẫn chưa được.
    Tiên thổi địch mới giải nghĩa rằng:
    - Hai người con gái ấy là yêu thần của chuông vàng và đàn tỳ bà đó. Khi xưa Lý Cao Tông chế nhạc, đặt tên chuông là Kim Chung, trên đàn là Ngọc tỳ bà. Là chuông, mà có tiếng tơ trúc, là tơ, mà có âm hưởng của kim thạch, cho nên mỗi lần được thấy ở ngự tiền, vẫn được ban thưởng. Nhà vua rất quý, đem cất vào nhạc phủ cẩn thận. Ðến đời Huệ Tông, trễ nải chính trị, ruồng bỏ nhạc công, hàng ngày say sưa hát hỏng, múa giáo tự xưng là tướng nhà trời, ủy cả chính quyền cho nhà Trần. Lúc ấy, một người tôn thất nhà Trần, tên là Lục, thừa cơ lấy trộm hai nhạc cụ ấỵ Không ngờ nhạc công là Nguyễn Trực trông thấy, toan đem phát giác. Lục sợ mắc tội, liền đem chôn tại bờ hồ Trúc Bạch, bên trên trồng một cây anh đào cho mất dấu tích đị Khí vàng và ngọc lâu này thành yêu, nay chúng muốn kêu với vua đào lên để chúng được trổ tài cho nhà vua dùng đó. Trong bài thơ nói: “Cổ nguyệt lạc hàn thủy”, là: bên tả chấm thủy, giữa có chữ “cổ”, bên hữu có chữ “nguyệt” ghép lại thành chữ “bạn”. Cho nên nói: “Ðiền ôi vị bán âm”. Kim, đồng ghép lại là chữ “chung”. Thiên lý ghép lại là chữ “mai”, vì chữ “thổ” ngược lại là chữ “thiên”. Bốn câu này đọc thành bốn chữ là “Hồ bạn chung mai” (nghĩa là Chuông chôn bờ hồ). Còn các chữ khác chẳng qua chắp nhặt cho thành câu thôị Hai chữ “vương” trên chữ “bà”. Trên đầu chữ “tỷ” với trên đầu chữ “ba” so sánh như nhau, nghĩa là cùng đặt hai chữ “vương” lên trên thì thành chữ “tỳ”. Hai chữ tuy đảo ngược, nhưng cũng hiểu là chữ “tỳ bà”. Gả cho chàng kim đồng: Kim đồng là chữ “chung”. Chắc là “tỳ bà” và “kim chung” cùng đựng vào một vật gì đem chôn đó. Còn câu: “Không đới đào chi vĩnh tự thương”, thì xem bờ hồ nào có cây anh đào, tức là hai thứ ấy chôn ở dưới gốc đó.
    Ta lại hỏi âm và nghĩ của 71 chữ ở đầu trang.
    Tiên thổi địch nói:
    - Những chữ ấy tức là lời tâu của hai con yêụ Lối chữ ấy là lối chữ cổ sơ của Việt Nam. Nay Mường Mán ở các sơn động cũng có người còn đọc được. Nhà vua triệu họ đến, bắt họ đọc thì khắc biết.

   Tiên thổi địch nói xong, ta còn muốn nói chuyện nữạ Chợt có cơn gió thoảng qua làm ta tỉnh giấc. Bèn truyền thị vệ theo lời dặn của Tiên thổi địch đi tìm. Quả nhiên đào được một quả chuông vàng và một cây đàn tỳ bà ở bên hồ. 
Lê Thánh Tông
Đàn tỳ bà TQ - TP "Thập diện mai phục"
 Vén Rèm Châu (Lời Việt) - Quang Phước
            Khúc biệt ly             
Tiếng đàn đưa ta đến với nhau,
Hôm nay lại gảy khúc ly sầu...!
Vầng trăng năm đó tròn trong sáng,
Giặc đến xua tan giấc mộng vàng!
Lần cuối nâng đàn em tiễn anh,
Tiễn giấc mộng vàng thuở xuân xanh...!
Chỉ tiếc sao mình không đến sớm?
Được chết cùng anh ước nguyện thành!!
NM
Theo http://nammainguyenthi.blogspot.com/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tính nhân văn trong tác phẩm của Taras Shevchenko và Nguyễn Du

Tính nhân văn trong tác phẩm của Taras Shevchenko và Nguyễn Du Taras Shevchenko và Nguyễn Du – hai nhà thơ lớn ở hai đất nước xa nhau về đ...