Nhìn lại cội nguồn văn hóa
Việt
LTS: Khoahoc.net xin lần lượt trích đăng cống hiến độc giả xa gần tác phẩm
”Nhìn Lại Cội Nguồn Văn Hóa Việt” của tác giả Hà Văn Thùy. Theo tác giả, sách
được ra đời với chủ đích thống nhất hai nhận thức cơ bản: – Dân tộc Việt Nam là
ai? và – Văn hóa Việt Nam là gì? Với mục đích tạo sự thông hiểu sự kiện dân tộc
chúng ta là ai, từ đâu tới, tác giả đã giải bày rất rõ ràng và khoa học về cội
nguồn văn hóa của chúng ta. Sách được in lần thứ nhất năm 2007 và sau năm năm
tích lũy thêm tư liệu, sách đã được sửa lại thành phiên bản hoàn chỉnh năm
2011.PHẦN MỘT: VỀ NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT
CHƯƠNG I NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT THEO CÁCH NHÌN TRUYỀN THỐNG
Trước hết xin kiểm lại xem từ xa xưa cha ông ta đã nhìn về cội nguồn dân tộc ra sao?
1. ÐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ
Không phải ngẫu nhiên mà sau 1000 năm Bắc thuộc, đến khi giành được độc lập, dòng thứ nhất trong cuốn sử đầu tiên của mình, người Việt đã ghi nhận về nguồn cội. Tác giả Ðại Việt sử ký toàn thư, Triều liệt đại phu, Quốc tử giám tư nghiệp kiêm sử quan tu soạn, Ngô Sĩ Liên viết:
“Xét: thời Hoàng đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hy thị đến ở Nam Giao để định đất Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu thì Bách Việt thuộc phần đất châu Dương, Giao Chỉ thuộc về đấy. Từ đời Thành vương nhà Chu (1063-1026 TCN) mới gọi là Việt Thường thị, tên Việt bắt đầu có từ đấy.
Kỷ Hồng Bàng thị
Kinh Dương Vương
Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông.
Nhâm Tuất năm thứ nhất. Xưa, cháu ba đời của Viêm đế họ Thần Nông là Ðế Minh sinh ra Ðế Nghi, sau Ðế Minh đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên sinh ra vua. Vua là bậc thánh trí thông minh. Ðế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Ðế Minh mới lập Ðế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.
Vua lấy con gái Ðộng Ðình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân
Tên húy là Sùng Lãm. Con của Kinh Dương Vương.
Vua lấy con gái của Ðế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền là trăm trứng) là tổ của Bách Việt. Một hôm vua bảo Âu Cơ rằng: “Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó.” Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền Nam (có bản chép là về Nam Hải) phong cho con trưởng là Hùng Vương nối ngôi vua.
Hùng Vương
Con Lạc Long Quân, đóng đô ở Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc)
Hùng vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (Nước này Ðông giáp biển Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến hồ Ðộng Ðình, Nam giáp nước Hồ Tôn, tức Chiêm Thành, nay là Quảng Nam.) Chia nước ra làm 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Ðịnh, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Ðức đều là đất thần thuộc của Hùng vương; còn bộ gọi là Văn Lang là nơi vua đóng đô.
Bấy giờ dân ở rừng núi thấy ở sông ngòi khe suối đều có tôm cá, nên rủ nhau đi bắt cá để ăn, thường bị thuồng luồng làm hại, đến thưa vua, vua nói: “Người Man ở núi khắc với các loài thủy tộc, các thủy tộc ấy ưa cùng loài mà ghét khác loài, cho nên mới bị chúng làm hại. Rồi vua bảo mọi người lấy mực vẽ hình thủy quái ở mình. Từ đấy thuồng luồng trông thấy không ăn hại nữa. Tục vẽ mình của người Bách Việt có lẽ bắt đầu từ đấy.”
Ðời Thành vương nhà Chu nước Việt ta lần đầu sang thăm nhà Chu, xưng là Việt Thường thị, hiến chim trĩ trắng. Chu công nói: “Chính lệnh không ban đến thì người quân tử không coi người ta là bề tôi của mình.” Rồi sai làm xe chỉ nam đưa sứ giả về nước.(3)”
Ðể viết những dòng trên, sử gia Ngô Sĩ Liên đã lấy tài liệu từ hai nguồn là thư tịch Trung Hoa và huyền sử. Do phải dựa trên sách vở Tàu nên ông mang vào sử ta cái nhìn thiên lệch của người Hán: Hoàng đế dựng muôn nước (!) Vô hình trung, ông thừa nhận Hoàng đế là ông vua tạo lập nước Việt. Sự thực thì không hề có cái gọi là Hoàng đế dựng muôn nước bởi lẽ trước khi Hoàng đế ra đời, người Việt đã sống khắp lưu vực sông Hoàng Hà cùng Dương Tử, đã làm chủ Trung Nguyên. Bằng huyền thoại chia tay nhau giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ, giống Tiên và giống Rồng, người xưa giấu đi cuộc chiến ác liệt giữa Hoàng đế với Ðế Lai mà sử sách Trung Hoa ghi rất rõ. Tuy vậy sử gia thiên tài này đã vạch ra một sơ đồ về cương vực cũng như nguồn gốc người Việt: Giao Chỉ ở về phía Tây Nam, bên ngoài đất Bách Việt. Do linh cảm đặc biệt, ông đã xác định lịch sử của tộc người Việt từ Kinh Dương Vương vào năm Nhâm Tuất 2879 TCN đến Lạc Long Quân rồi Hùng vương. Nhiều người cho đó là hoang đường vô sở cứ không thể tin được nhưng thời gian cho thấy, Ngô Sĩ Liên đã đúng. Chính nhờ ông mà người Việt dù trong mặc cảm hoài nghi đã có cái nhìn xa hơn về cội nguồn dân tộc. Nó giúp chúng ta trong những hoàn cảnh khắc nghiệt của số phận vẫn trì chí vươn tới tương lai. Thực tế lịch sử (như sẽ chứng minh sau này) cho thấy ngô Sĩ Liên đã đúng khi đưa truyền thuyết họ Hồng Bàng vào chính sử.
2. VIỆT SỬ TIÊU ÁN
Cuốn sử thứ hai có nhắc đến nguồn gốc dân tộc Việt là Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sỹ viết năm 1775:
“Xét theo thiên Vũ cống, nước Việt ở về phía nam đất Dương Châu. Theo sách Thiên quan, từ sao Ðẩu 11 độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ 7 độ là tinh kỷ. Kể về sao thì về ngôi Sửu, cùng một phận dã tinh truyện với nước Ngô. Cõi Nam là Việt môn, có rất nhiều nước như Âu Việt, Mân Việt, Lạc Việt cho nên gọi là Bách Việt. Bởi vì miền này ở phía nam Dương Châu, nên lại gọi là Nam Việt. Vùng đất từ núi Ngũ Lĩnh xuống phía nam thuộc về Nam Việt. An Nam là miền đất phía nam nước Việt, nay là quốc hiệu thường gọi.”(4)
Bằng sự tra cứu kỹ càng, sử gia vạch rõ phận dã của nước Việt thời thái cổ: Từ sao Ðẩu 11 độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ 7 độ. Tiếc rằng các sử gia sau này không ai căn cứ vào đó để xác định địa vực của nước Việt ta, dù chỉ trên mặt lý thuyết.
3. VIỆT NAM SỬ LƯỢC
Trong Việt Nam sử lược ấn hành đầu thập niên 40 thế kỷ trước, sử gia Trần Trọng Kim viết:
“Theo ý kiến của nhà kê cứu nước Pháp, thì người Việt Nam và người Thái đều ở miền núi Tây Tạng xuống. Người Việt theo sông Hồng Hà lần xuống phía Ðông Nam, lập ra nước ta bây giờ, còn người Thái thì theo sông Mê kông xuống, lập ra nước Tiêm La và các nước Lào, Mên.
Lại có nhiều người Tàu và người Việt Nam nói rằng, nguyên khi xưa đất nước Tàu có giống Tam Miêu ở, sau giống Hán tộc (tức người Tàu bây giờ) ở Tây Bắc đến đánh đuổi người Tam Miêu đi, chiếm giữ lấy vùng sông Hoàng Hà lập ra nước Tàu, rồi dần dần xuống phía Nam. Người Tam Miêu phải lẩn núp trong rừng hay xuống miền Việt Nam ta bây giờ.
Những ý kiến ấy là theo lý mà suy ra thôi, chứ cũng chưa có gì làm chứng cho đích xác. Chỉ biết rằng người Việt Nam ta trước có hai ngón chân cái giao lại với nhau, cho nên Tàu mới gọi ta là Giao Chỉ, mà xem các loại khác, không có loài nào như vậy, thì tất là một loài riêng, chứ không phải là loài Tam Miêu.
Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời Hùng vương thứ 18 cả thảy 20 ông vua, mà tính từ năm Nhâm Tuất (2879) đến Quý Mão (257 TCN) thì vừa được 2622 năm. Cứ tính hơn bù kém, mỗi ông vua trị vì được non 150 năm! Dẫu là người đời thượng cổ nữa thì cũng khó lòng có nhiều người sống được lâu vậy. Xem thế thì đủ biết truyện Hồng Bàng không chắc là truyện xác thực.(5)”
Ðây là lần đầu tiên ý tưởng: Người Việt từ cao nguyên Tây Tạng di chuyển xuống phía đông nam được đưa vào lịch sử Việt Nam. Giả thuyết của học giả người Pháp E. Aymonier do vậy trở thành quan điểm chính thống về lịch sử Việt Nam, tồn tại suốt thế kỷ XX. Nhưng đáng tiếc quan điểm này lại là sự lầm lẫn lớn.
Tuy có nhắc đến những ý kiến về người Tam Miêu sống khắp Trung Quốc bị Hán tộc xua duổi chạy xuống phía nam nhưng do không có thái độ khoa học đúng mực, lại tận tín thư (sách Tàu và sách Tây) nên khi chưa có sự nghiên cứu cẩn trọng, sử gia Trần Trọng Kim đã vội bác bỏ ý kiến này, và hồn nhiên tin vào ý tưởng sai lầm người Giao Chỉ là giống người có hai ngón chân cái giao nhau. Ông cũng là người có tinh thần duy sử, tỏ ra hoài nghi giai đoạn họ Hồng Bàng. Như vậy sử gia Trần Trọng Kim không góp được gì soi tỏ cội nguồn dân tộc nếu không muốn nói ông đã dẫn hậu thế lạc đường.
4. VIỆT SỬ TOÀN THƯ
Trong cuốn sách đồ sộ của mình, sử gia Phạm Văn Sơn viết:
“Nhiều nhà khoa học Pháp cho rằng, người Việt Nam phát tích ở miền núi Tây Tạng cũng như người Thái, qua các triều đại di cư đến xứ Bắc Việt, lần xuống phía đông nam và lập ra nước Việt Nam ngày nay, còn người Thái lần theo sông Cửu Long tạo ra nước Tiêm La và Mên, Lào. Như vậy dân tộc Việt Nam là một trong nhiều dân tộc đã do các miền Tây Bắc Trung Hoa là nguồn gốc. Ðồng thời một vài dân tộc khác ở các quần đảo Ðông Nam di cư lên như dân Mã Lai, dân Phù Nam, Chiêm Thành cùng tập họp trên bán đảo Ðông Dương.
Có thuyết cho rằng, người Việt thuộc giống Anh-đô-nê-diêng (Indonésien) bị giống A-ri-ăng (Aryens) đánh bật ra khỏi Ấn Ðộ, phải chạy qua bán đảo Hoa Ấn. Tới đây chia ra làm hai ngành, một tụ lại bán đảo Hoa Ấn tiêu diệt đám thổ dân ở đây là người Mê-la-nê-diêng (Mélanésien), một thiên xuống Nam Dương quần đảo. Ðám ở miền bắc hòa giống với người Mông Cổ, chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc. Ở miền nam, giống Anh-đô-nê-diêng hợp thành giống Cao Mên và Chiêm Thành chịu văn hóa Ấn Ðộ. Ngay ngành ở miền bắc cũng chia ra hai chi phái: một sinh tụ ở Trung châu sông Nhị Hà và các miền duyên hải, nhờ có đất cát phì nhiêu, lại chịu nhiều cuộc biến chuyển lịch sử mà xúc tiếp được với văn hóa Trung Quốc nên tiến bộ mau lẹ. Còn chi phái kia lên các vùng cao nguyên sống với rừng núi chịu ảnh hưởng của giống Thái ở lân cận tuy vẫn giữ được nền nếp cũ là các tổ chức và thể chế phong kiến. Các người Mường hiện cư trú tại Hòa Bình và Nghệ An ngày nay là di duệ của chi phái này.
Ông Léonard Aurousseau căn cứ vào sách Tàu, cho rằng người Việt Nam thuộc dòng dõi người Việt thời Xuân Thu tức là thuộc quyền quốc vương Câu Tiễn thời đó (cuối thế kỷ thứ VI TCN), đóng kinh đô ở thành Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang ngày nay. Năm 333 TCN nước Sở đánh bại nước Việt, người Việt chạy lùi thêm xuống miền Nam chia ra làm 4 phái:
1) Ðông Âu hay Việt Ðông thuộc miều Ôn Châu phía nam tỉnh Chiết Giang.
2) Mân Việt tụ tập tại Phúc Châu, Phúc Kiến.
3) Nam Việt thuộc Quảng Ðông và phía bắc Quảng Tây.
4) Lạc Việt hay Tây Âu Lạc ở phía nam Quảng Tây và miền Bắc Việt của chúng ta bây giờ.
GIAO CHỈ VÀ VIỆT THƯỜNG
Theo sự khảo cứu của ông Ðào Duy Anh, ở đời thái cổ từ Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương trong lịch sử Trung Hoa, trong khi người Hán tộc đang quanh quẩn ở lưu vực sông Hoàng Hà và sông Vị Thủy thì miền nam trong khoảng lưu vực sông Dương Tử, sông Hán và sông Hoài có những giống người văn hóa khác hẳn với văn hóa người phương bắc. Trong thư tịch của người Trung Hoa, bọn người đó gọi là Man di, sống bên các bờ sông, bờ biển, các đầm hồ và trong rừng hoang. Họ sinh hoạt bằng nghề chài lưới, săn bắt. Họ có tục đặc biệt là xăm mình và cắt tóc ngắn. Ðể giải thích phong tục đó, người ta nói rằng người Man di hàng ngày lặn lội dưới sông biển thường bị Giao Long làm hại nên xăm mình thành hình trạng Giao Long để Giao Long tưởng là vật cùng giống mà không giết hại.
Từ đời Nghiêu, Thuấn, một dân tộc khai hóa rất sớm là người Giao Chỉ đã giao thiệp với người Hán tộc. Ðem đối chiếu những điều trong thư tịch thì Giao Chỉ ở vào miền Hồ Nam ngày nay, gần hồ Ðộng Ðình và núi Nam Lĩnh. Người Hán tộc gọi nhóm Man di đó là Giao Chỉ. Ban đầu người Giao Chỉ xăm mình để thành hình trạng Giao Long rồi dần dần chính họ phát sinh mối tin tưởng mình là đồng chủng của Giao Long. Quan niệm “tô tem” bắt nguồn từ chỗ này. Người Hán thấy họ có hình trạng Giao Long, thờ Giao Long làm tổ nên gọi là Giao Chỉ, tức là miền đất của giống người Giao Long.
Một thuyết khác, cho rằng người Giao Chỉ có tên này là do hai ngón chân cái giao nhau. Theo hai bác sĩ P. Huard và Bigot (Bulletin de la Société Medico-chirurgical de l’Indochine quyển XV số 5 tháng 5 1937 trang 489-506), dưới tiêu đề: “Les Giao Chi” thì việc người Giao Chỉ có hai ngón chân cái giao nhau không đáng coi là một điều đặc biệt, tức là nhiều dân tộc khác ở Á Ðông cũng có hình tích này (Chữ Giao Chỉ được chép trước nhất vào đời Thần Nông).
… Ngoài nghề đánh cá là nghề căn bản, người Giao Chỉ ở nơi đầm lầy hay đất bồi đã biết trồng trọt và làm ruộng. Trong lúc này, ở khoảng giữa hồ Ðộng Ðình và hồ Phiên Dương tới đời Nghiêu, Thuấn đã có giống người Tam Miêu biết nghề canh nông rồi và người Giao Chỉ đã ở trên một phần đất của người Tam Miêu. Căn cứ vào nghề đánh cá, nghề nông cùng chế độ vật tổ là đặc tính xã hội thị tộc, người ta cho rằng người Giao Chỉ bấy giờ ít nhất cũng là ở cuối đời Đá Cũ và đầu Đá Mới (đá đẽo với đá mài) tuy chưa tìm được di tích sinh hoạt gì của họ ở dưới đất. Còn về thời Nghiêu, Thuấn đã làm ruộng toàn bằng đá cũ, xét vào các di vật đào được ở Ngưỡng Thiều tỉnh Hà Nam và lưu vực sông Hoàng Hà. Họ làm nhà bằng cây tre hay nứa như nhà sàn của người thượng du ngày nay trên các đầm hồ hay khe núi (Theo thiên Vũ cống, ở đất châu Kinh có nhiều tre).
Sách xưa chép, phía nam đất Giao Chỉ, cuối đời Chu nước Việt Thường đã có phen thông sứ với Chu Thành vương và cống một con bạch trĩ. Nước Việt Thường xuất hiện có lẽ đã lâu lắm từ đầu đời nhà Chu trên địa bàn cũ của nước Tam Miêu (giữa hồ Ðộng Ðình và hồ Phiên Dương), trung tâm điểm của nước ấy là xứ Việt Chương. Vua Sở Hùng Cừ (thế kỷ IX TCN) phong cho con út là Chấp Tỳ ở đây. Nước Việt Thường bắt đầu suy từ khi có Sở thành lập ở miền Hồ Nam, Hồ Bắc sau những cuộc lấn đất về phía Tây (của Việt Thường qua đến đời Hùng Cừ. Ðất Việt Chương ở miền hồ Phiên Dương). Người Việt Thường cũng sinh hoạt bằng nghề đánh cá như người Giao Chỉ, có lẽ cũng có tục xâm mình nhưng họ thông thạo nghề nông hơn. Theo thiên Vũ cống thì miền châu Kinh và châu Dương có những sản vật như vàng, bạc, gỗ quý để làm nhà, các thứ trúc để làm nỏ, lông chim, da bò, ngà voi, da tê ngưu, vải gai v…v… Dân Việt Thường còn biết cách chế đồ đồng đỏ. Trình độ kỹ thuật đã tới trình độ Đá Mới. Họ cũng sống theo chế độ thị tộc và cũng có tín ngưỡng “tô tem” như người Giao Chỉ. Mọi quan hệ giữa người Giao Chỉ và Việt Thường thế nào cho đến nay vẫn chưa được rõ rệt chỉ biết trong khi Việt Thường xuất thì tên Giao Chỉ không còn nữa và địa bàn ức đoán của Việt Thường choán một phần đông nam của địa bàn ức đoán của người Giao Chỉ. Ngoài ra Việt Thường với người Giao Chỉ đều là người Man di thuộc về Việt tộc là giống người đã sinh tụ ở khắp lưu vực sông Dương Tử, từ miền Vạn huyện (đời Chu là nước Quý Việt) tỉnh Tứ Xuyên ra tới biển, nghĩa là suốt châu Kinh, châu Dương trong Vũ cống. Có những điều chúng ta biết về đặc tính văn hóa thì Việt tộc vào thời đó có lẽ không thuộc ảnh hưởng tộc Mông Gô Lich một phần nào như người Hán, tuy chưa thể nói thấy tục xăm mình là tục đặc biệt của các dân tộc thuộc giống Anh-đô-nê-diêng miền Nam và Tây Nam Á Châu (tộc người Miêu Từ, Lô Lô, Mán, Lái, Lê, Dao, Xá…cho đến người Dayak ở đảo Bornéo đều là di duệ của người Man di). Ðám người này theo các nhà nhân chủng học chia ra hai giống Tạng Miến (Tibéto-Birman) và Anh-đô-nê-diêng. Nhưng họ không khác biệt nhau mấy, ngay cả về đặc tính kỹ thuật. Theo các nhà bác học Leroy, Gourhan về nhân loại học, người Anh-đô-nê-diêng và giống Tạng Miến gần nhau quá, nếu có khác thì sự khác biệt đó cũng hết sức mong manh có lẽ vì pha trộn tức là lai giống. Hai đám dân tộc này phải chăng đã sống gần gũi nhau nên đã có sự trạng này hay là đã cùng thoát thai ở một gốc và chúng tôi nghĩ rằng cái gốc người ta đã đề cập đó có lẽ là Việt tộc. Các nhà tiền sử học và ngôn ngữ học phát biểu rằng, suốt từ miền A-Xam phía bắc Ấn Ðộ trải qua nam bộ Trung Hoa xuống tới Nam Dương quần đảo có một thứ văn hóa hiện nay còn di tích trong các dân tộc Anh-đô-nê-diêng. Chúng ta có thể nghĩ rằng, người Việt tộc xưa có lẽ là một nhánh của chủng tộc Anh-đô-nê-diêng. Chủng tộc này trong thời thái cổ đã có mặt hầu khắp miền Ðông Nam Á châu.
BÁCH VIỆT
Căn cứ vào các sách của Tàu trong đời nhà Chu ta thấy Bách Việt có mặt từ lưu vực sông Dương Tử rồi sau này tản mác khắp miền nam bộ Trung Hoa. Nói là Bách Việt, người ta căn cứ vào thuyết truyền kỳ về Lạc Long Quân kết duyên cùng bà Âu Cơ sinh ra trăm con trai. Sự thực về thời Thương có giống Bách Việt có nhiều nhóm nhiều bộ lạc sinh sống rải rác như các dân tộc thiểu số ngày nay tại miền thượng du. Ðến đời nhà Chu, các bộ lạc này đi dần đến chỗ thống nhất do những biến thiên của lịch sử. Các bộ lạc nhỏ dần bị các bộ lạc lớn kiêm tính và hợp lại thành năm nhóm sau đây đã đạt tới hình thức quốc gia là Ðông Việt hay Ðông Âu, Mân Việt, Nam Việt, Tây Việt hay Tây Âu và Lạc Việt. Sau này ba nhóm trên bị đồng hóa theo Hán tộc, còn lại trên lịch sử ngày nay là nhóm Tây Âu và Lạc Việt.”(6)
Tác giả Phạm Văn Sơn viết Việt sử toàn thư vào năm 1960. Nhờ thành quả của khoa khảo cổ học, nhân chủng học và những tư liệu của lịch sử thế giới, ông đưa vào sách của mình nhiều tài liệu liên quan đến nguồn gốc người Việt. Tuy vậy, do hạn chế của sử liệu cũng như khả năng phân tích tư liệu nên sử của ông mang tính “xôi đỗ” cái sai xen lẫn với cái đúng. Thêm vào đó, việc đưa vào một cuốn sử quá nhiều giả thuyết có khi trái ngược mâu thuẫn nhau khiến người đọc bị rối, không biết lấy đâu làm sở cứ. Ðiều này phản ánh sự khủng khoảng trong nhận thức về nguồn gốc dân tộc Việt của giới sử học Việt Nam và thế giới.
5. VIỆT LÝ TỐ NGUYÊN
Một sử gia khác, Giáo sư Lương Kim Ðịnh tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu cho rằng tiền sử người Việt chia làm ba thời kỳ:
a. Thời kỳ Thái Sơn
Thời kỳ này người Việt quần tụ ở vùng Thái Sơn thuộc dãy Thân Lĩnh tỉnh Sơn Ðông. Ðây là giai đoạn Tam hoàng gồm: Toại Nhân là vị vua phát minh ra lửa, gọi là Thiên hoàng. Phục Hy hay Nhân hoàng dạy cách chăn nuôi và làm ra bát quái cùng vợ là Nữ Oa coi về thời tiết. Vua cuối cùng là Thần Nông dạy dân trồng lúa nên gọi là Ðịa hoàng.
Sử Tàu ghi Thần Nông truyền được 8 đời, kéo dài 530 năm. Thời kỳ này luôn xảy ra chiến tranh với Hán tộc của Hoàng đế. Trong cuốn Kỳ môn độn giáp đại toàn thư có câu hát “Tích nhật Hoàng đế chiến Si Vưu, Trác Lộc kinh kim vị nhược hưu” (ngày xưa Hoàng đế đánh Si Vưu, cuộc chiến ở Trác Lộc đến nay còn chưa dứt). Sử Tàu ghi trận Trác Lộc nổ ra vào khoảng năm 2600 TCN. Si Vưu là tên xấu người Hán đặt cho Ðế Lai. Trong trận này Ðế Lai bị giết, Hiên Viên thắng, được tôn làm Hoàng đế.
b. Thời kỳ Ngũ Lĩnh
Ðời Viêm đế thứ ba, vì sức bành trướng của Hoa tộc, Ðế Minh truyền ngôi cho con là Ðế Nghi rồi đem một số bộ lạc Miêu và Thái đi xuống vùng năm hồ năm núi. Ðấy là cuộc Nam tiến thứ nhất lập ra nước Xích Quỷ gồm ba hệ:
Hệ Âu Việt (Thái) ở Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, Miến Ðiện.
Hệ Miêu Việt : ở giữa thuộc các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây.
Hệ Lạc Việt ở Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Ðông, Quảng Tây, Bắc Việt, Trung Việt.
c. Thời đại Phong châu lập ra nước Văn Lang.(7)
Trong Cơ cấu Việt nho, tác giả Kim Ðịnh dẫn sử gia Tàu là Vương Ðồng Linh trong cuốn Trung Quốc dân tộc học:
“Sau bốn lần băng tuyết, những người sống sót trú trên rặng núi Thiên Sơn. Sau đó nhóm người này tỏa ra phía Tây làm dân da trắng, nhóm người tỏa ra phía Ðông làm dân da vàng. Nhóm người này chia làm hai ngả: Thiên Sơn bắc lộ gồm Mãn, Mông, Hồi. Một theo Thiên Sơn Nam lộ gồm Miêu, Hoa, Tạng. Trong đó Tạng là Anhđônê, Mã Lai Á, Nam Dương, Cao Mên, Chàm. Hoa là Hán tộc sau này. Miêu là Tam Miêu, Bách Việt trong đó có Âu Việt (Miên, Thái, Lào), Miêu Việt (Mèo, Mán), Lạc Việt (Việt Nam, Mường)
Cuốn thứ hai là Trung Quốc thông sử của Chu Cốc Thành cho thấy Viêm Việt đã vào nước Tàu trước theo ngọn sông Dương Tử. Thoạt kỳ thủy chiếm 7 tỉnh Trường Giang rồi tỏa lên Bắc chiếm 6 tỉnh Hoàng Hà, cũng như tỏa xuống mạn nam chiếm 5 tỉnh Việt Giang, vị chi là 18 tỉnh. Vì thế khi người Hoa vào thì Viêm Việt đã cư ngụ rải rác khắp nước Tàu, là vì Hoa tộc tuy cũng theo Thiên Sơn Nam lộ nhưng nấn ná ở lại vùng Tân Cương thuộc Thanh Hải lúc bấy giờ còn là phúc địa, mãi sau mới theo ngọn sông Hoàng Hà vào chiếm 6 tỉnh miền bắc rồi dần dần lan tỏa xuống miền nam đẩy lui Viêm Việt.
http://khoahocnet.files.wordpress.com/2012/03/bc491-cc-kc491.jpg?w=630
Bản đồ Cửu Châu thời vua Vũ (theo Kim Định)
Ông cũng dẫn tư liệu của các học giả Âu Mỹ như Eberhard và Eickstedt trong cuốn Han chinese expansion in South China của Gs Harold Wiens Ðại học Yale Hoa Kỳ cho rằng Viêm Việt đã vào nước Tàu trước, theo ngọn sông Dương Tử miền nước Ba và Thục.(8)
Tuy vẫn theo quan điểm chính thống là người Việt phát tích từ Tây Tạng nhưng đồng thời Kim Ðịnh không loại bỏ những truyền thuyết cùng huyền sử. Ông có công giải mã truyền thuyết cùng huyền sử cho ta thấy từng bước rõ hơn về cội nguồn dân tộc. Tuy còn nhiều hạn chế nhưng công trình của Kim Ðịnh đưa ta tới gần nguồn cội hơn. 6. NGUỒN GỐC MÃ LAI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.
Năm 1971, nhà văn Bình Nguyên Lộc cho ra cuốn “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam” do Lá Bối ấn hành. Ðây là công trình khảo cứu công phu, tập hợp nhiều bằng chứng gần gũi về nhân chủng và ngôn ngữ giữa người Mã Lai và người Việt. Trên cơ sở đó tác giả cho rằng tổ tiên người Việt là người Mã Lai từ ngoài khơi Ðông Nam Á di cư lên. Giả thuyết của Bình Nguyên Lộc bên cạnh những chứng lý khá thuyết phục về sự tương đồng giữa hình thái người cùng ngôn ngữ nhưng lại không giải thích được những vấn đề mấu chốt khác như nghề đúc đồng ở Việt Nam vì sao lại sớm và tinh xảo hơn ở Mã Lai cùng nhiều di tích khảo cổ ở Việt Nam có tuổi sớm hơn ở “chính gốc”. Mặt khác, dù có đưa ra nhiều bằng chứng về sự tương đồng thì thuyết của Bình Nguyên Lộc không thuyết phục được đông đảo trí thức cùng dân chúng. Có một lẽ sâu xa trong tâm thức, người Việt thấy mình xa lạ với Mã Lai và khó lòng chấp nhận một ông tổ da ngăm tóc quăn từ phương Nam lên.
Như sẽ chứng minh sau rằng, thuyết của Bình Nguyên Lộc là sự giải thích ngược, lấy ngọn làm gốc. Tuy vậy, sự tìm tòi của ông cung cấp những bằng chứng về người Mã Lai và người Việt gần gũi nhau, giúp cho người đọc dễ nhận ra nguồn gốc chung giữa hai dân tộc.
Nhìn một cách khái quát, cho đến cuối thế kỷ XX, tuy đã tích lũy được nhiều tư liệu về khảo cổ, nhân chủng, xã hội, ngôn ngữ, lịch sử học… nhưng việc tìm hiểu cội nguồn người Á Ðông hầu như dẫm chân tại chỗ trong sự thống trị của thuyết do E. Aymonier đề xuất: người Á Ðông hiện đại trong đó có người Việt là từ Trung Ðông di cư tới theo ngả Tây Tạng. Nhiều đại học danh tiếng nước Mỹ cũng ăn theo quan niệm này. Thuyết của Aymonier nghe chừng hợp lý vì có thể giải thích được nhiều vấn đề của tiền sử Ðông Á nhưng trong đó cũng bộc lộ không ít mâu thuẫn và bất cập, nhất là khi văn hóa Hòa Bình được phát hiện, cho thấy tuổi khảo cổ của người Hòa Bình già hơn những di chỉ sớm nhất ở phương Bắc, đồng thời đấy cũng là trung tâm nông nghiệp sớm vào bậc nhất thế giới.
Nay nhìn lại những cuốn sử đã có, ta có thể nhận ra rằng, những bằng chứng tích tụ được đã đủ để đi tới một kết luận chính xác khoa học về tiền sử Á Ðông. Tuy nhiên một kết luận như vậy chưa xuất hiện chính vì việc giải mã những chứng cứ đã có không được chính xác đẫn tới mâu thuẫn rồi triệt tiêu lẫn nhau. Ðiều này nói lên sự khủng hoảng của khoa học nhân văn: những phương pháp, những công cụ hiện có trở nên bất lực trước việc giải quyết rốt ráo vấn đề mấu chốt nhất của lịch sử. Một cách hình tượng, ta có thể ví những thành quả của khảo cổ học, nhân chủng học, ngôn ngữ, xã hội học… như những mạt sắt nằm tản mạn trên trang giấy lẫn cùng vô vàn cát sỏi, cần một cây đũa thần chọn lọc sắp xếp chúng lại theo một trật tự hợp lý. Trong khoa học tự nhiên, cây đũa thần ấy là thanh nam châm. Còn trong khoa học nhân văn, cây đũa thần ở đây chính là công nghệ gene một phát minh quan trọng được áp dụng vào lĩnh vực nhân chủng học ở những năm cuối của thế kỷ trước.
CHƯƠNG II NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT THEO QUAN ÐIỂM HIỆN ÐẠI
Về mặt địa lý, Việt Nam nằm trong vùng Ðông Nam Á vì vậy có chung vận mệnh lịch
sử với các dân tộc khác trong khu vực. Hệ quả tự nhiên, nguồn gốc của người Việt
không thể không liên quan tới các tộc người láng giềng. Vì vậy, ta chỉ có thể
tìm ra cội nguồn người Việt trên con đường tìm kiếm cội nguồn những chủng người
cộng cư trên địa bàn Ðông Nam Á. Giải quyết vấn đề này, khoa học đã đi theo hai
giai đoạn khác nhau.
A. NHỮNG THÀNH TỰU CỦA NHÂN CHỦNG HỌC CỔ ÐIỂN
Nhân chủng học được khai sinh từ giữa thế kỷ XVII với những tên tuổi như học giả người Pháp Francois Bernier, tiếp đó là nhà phân loại học bậc thầy K.Linne người Thụy Ðiển rồi Buffon, Blumenbac… Cho đến cuối thế kỷ XX, hệ thống phương pháp nghiên cứu của nhân chủng học thế giới là so sánh hình thái đường vân trên bàn tay, hình thái bộ răng và phức hệ kháng nguyên trên hồng cầu ở người hiện đại và so sánh hình thái học sọ người cổ. Trong hai thế kỷ rưỡi rị mọ làm việc với những dụng cụ đơn giản là cái rìu cái cuốc cùng những thước đo, các nhà nhân chủng học cổ điển đã làm được khối lượng công việc khổng lồ: tìm kiếm nguồn gốc con người rồi phân chia thành những loại hình và chỉ ra sự chuyển hóa của chúng. Những tri thức nhân chủng học đã giúp cho con người bước đầu hiểu được mình là ai, từ đâu đến, góp phần nâng cao vị trí con người trong tự nhiên huyền bí.
Với các dân tộc Ðông Nam Á, nhân chủng học cổ điển giúp giải quyết những vấn đề rất cơ bản mà nếu thiếu những tri thức đó, chúng ta sẽ rơi vào tình trạng mông muội.
Ðể xác định cội nguồn tổ tiên người Việt, chúng tôi không có cách nào khác là tìm hiểu cội nguồn các tộc người Ðông Nam Á khác. Trong công việc này, công trình Nhân chủng học Ðông Nam Á của nhà nhân chủng học hàng đầu Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Ðình Khoa có những đóng góp quan trọng.
Ở đây chúng tôi xin giới thiệu những ý tưởng chủ yếu của người đi trước đồng thời ở những chỗ thích hợp, đưa ra ý kiến thảo luận.
Khảo sát những sọ người Homo sapiens cổ tìm được khắp Ðông Nam Á như sọ người Hang Nia ở Bắc Kalimantan, Vadjak ở Giava (Indonesia), ở Tam Hang, Tam Pông (Lào), ở Xamrôngxen, Long Prao tỉnh Kômpuông Chnăng (Camphuchia), 38 bộ xương người cổ ở Bản Kao (Thái Lan) và 38 sọ tìm thấy tại nhiều di chỉ ở Việt Nam, các nhà nhân chủng học đưa ra nhận định:
Thời đại Đá Mới, cư dân trên lãnh thổ Việt Nam và cả Ðông Nam Á thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng với các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó Indonesien và Melanesien là hai thành phần chủ yếu.(9)
Nhận định này dựa trên việc khảo sát một số nhóm dân cư cụ thể:
1. NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ MÔN-KHMER
Các tộc ngôn ngữ Môn-Khmer hiện nay tập trung chủ yếu trên bán đảo Ðông Dương và cũng có mặt ở tất cả các nước trong khu vực, đông nhất là ở Campuchia (4 triệu), Việt Nam (2 triệu gồm người Khmer Nam Bộ, Bana, Xơ Ðăng, K’ho, H’rê, S’tiêng, Bru, Vân Kiều, Kh’mú, Kháng…), Thái Lan (trên dưới 2 triệu) và các nước khác như Lào, Mã Lai… gần 1 triệu.
Về nguồn gốc cư dân ngôn ngữ Môn-Khmer có nhiều ý kiến khác nhau. Giả thuyết được nhiều người tán thành là của E. Aymonier công bố năm 1904 cho rằng: Tổ tiên những tộc người ngôn ngữ Môn-Khmer thuộc về chủng tộc Negritoid, bắt nguồn từ những sườn núi phía Nam Tây Tạng rồi chia đôi ra và di chuyển về phương Nam theo hai hướng – hướng Tây Nam sinh ra người Munda ở Ấn Ðộ, hướng Ðông Nam sinh ra tộc người Môn-Khmer ở Ðông Dương. (Aymonier E – Le Cambodge T.3 Paris 1904. Dẫn theo Nhân chủng học Ðông Nam Á, tr. 118)
S.I. Bruk, nhà nhân chủng học Liên Xô cho rằng, từ cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, đại bộ phận Ðông Dương đã có mặt người Môn-Khmer từ phía Tây Nam Trung Quốc tràn xuống (Bruk S.I. Thành phần tộc người và sự phân bố cư dân ở các nước Ðông Dương. Dân tộc học Xô Viết, số 1.1950. Dẫn theo Nguyễn Đình Khoa)
Các nhà nhân chủng học kết luận: “Phần lớn người nói ngôn ngữ Môn-Khmer đều là dân bản địa Ðông Nam Á lâu đời. Cội nguồn của họ là từ những dạng chuyển tiếp Austro-Mongoloid đang trong quá trình phân hóa với những nét “đặc trưng phương Nam”, từ đó sinh ra các loại Vedoid và Indonesien nguyên thủy – những chủ nhân của bán đảo Ðông Dương cổ đại, về sau phân bố rộng khắp Ðông Nam Á.”
Như vậy có thể kết luận khái quát: Các tộc ngôn ngữ Môn-Khmer ở Ðông Dương và Ðông Nam Á hiện nay là những cư dân bản địa.
2. NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ VIỆT- MƯỜNG
Ðại diện cho cộng đồng nói ngôn ngữ Việt-Mường là người Việt và người Mường. Người Việt có hơn 50 triệu sống tập trung ở đồng bằng châu thổ. Tộc Mường trên 600.000 người, cư trú khá tập trung ở miền thượng du và trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
Người Việt và người Mường đều có những đặc trưng tiêu biểu của nhóm loại hình Ðông Nam Á trong chủng người Mongoloid phương Nam. Người Việt và người Mường xưa vốn cùng chung một cội nguồn, nhưng đã tách ra thành hai dân tộc trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, giả thiết khoảng thế kỷ XI trở về sau này, khi nhà Lý giành được độc lập, đánh tan quân xâm lược nhà Tống.
Một nhận định khác: Ngôn ngữ Việt-Mường hiện nay và trước đây là ngôn ngữ chung của những tộc người thuộc cả hai nhóm loại hình nhân chủng Indonesien và Nam Á.
Tới đây, một vấn đề nảy sinh: rõ ràng, thành phần Nam Á xuất hiện muộn hơn (vào thời đồ đồng) trong khi thành phần Indonesien hình thành sớm (thời đại đá mới). Như vậy, ngôn ngữ Việt-Mường cũng có cội nguồn cổ xưa như những người Indonesien nguyên thủy nhất hay ngôn ngữ Việt-Mường hình thành muộn hơn trên cơ sở tiếp xúc và giao lưu giữa các cộng đồng người, có thể khác nhau về tiếng nói và nguồn gốc? Các tác giả như Hà Văn Tấn, Phạm Ðức Dương, Nguyễn Ðình Khoa cho rằng: xuất phát từ ngôn ngữ cổ Indonesien chuyển sang trung gian Việt-Mường chung và cuối cùng thành ngôn ngữ Ðông Nam Á Việt Mường.
Về bước chuyển hóa này, Giáo sư Nguyễn Ðình Khoa viết: “Người Indonesien vốn là thành phần chủ thể của bán đảo Ðông Dương từ thời đá mới, kéo dài mãi tới sau này, và từ thời đại Đồ Đồng tương ứng với xã hội các vua Hùng thì xuất hiện một hình thái nhân chủng mới – người Nam Á cổ là tổ tiên cùng của các tộc người thuộc loại hình Nam Á hiện nay, trong đó có người Việt Mường.” (Con người thời Hùng Vương. Khảo cổ học số 9-10 tháng 6-1971)
3. NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ H’MÔNG – DAO.
Cội nguồn các dân tộc Hmông-Dao vốn từ phía Nam Trung Quốc, sau này di chuyển dần xuống bắc bán đảo Ðông Dương. Ở Trung Quốc hiện nay, người Hmông tập trung đông nhất tại Quý Châu và các tỉnh giáp ranh như Vân Nam, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Quảng Tây… Người Dao phân bố dịch về phía Ðông Nam so với vùng phân bố của người H’mông, tập trung chủ yếu tại Quảng Ðông, Quảng Tây… Người H’mông, Dao có mặt ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Miến Ðiện. Ở Việt Nam đông hơn cả, khoảng trên 600.000 người.
Về thành phần nhân chủng, người Hmông-Dao thuộc nhóm loại hình Ðông Nam Á của chủng Mongoloid phương Nam.
Theo Giáo sư Nguyễn Ðình Khoa, từ những thư tịch cũ cùng tài liệu khảo cổ học, ngôn ngữ học, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, người H’mông và Dao có chung cội nguồn tổ tiên xác định khoảng ngót 3000 năm trước (cuối thiên niên kỷ thứ II TCN) mà địa bàn cư trú là vùng hồ Ðộng Ðình. Ðó là những bộ tộc Tam Miêu hay Miêu dân. Về sau do sự bành trướng của người Hán nên con cháu người Tam Miêu ly tán dần về Nam. Vào đầu Công nguyên, họ còn chiếm lĩnh một vùng rộng lớn từ bờ nam sông Dương Tử tới giáp giới hai tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây. Bằng chứng về sự tồn tại của họ, là nhiều tài liệu khảo cổ học: văn hóa đồng đã phát triển ở Tứ Xuyên và vùng lân cận, chứng tỏ chủ nhân chúng là dân cư nông nghiệp dùng cuốc, đánh cá, ở nhà sàn. Trong hiện vật tìm thấy rìu có vai, loại công cụ không có ở Hà Nam, Cam Túc… Nền văn hóa này khác hẳn văn hóa Ngưỡng Thiều, nghĩa là không phải Hán, cũng không chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán (Theo Its R.F Người Mèo. Tập thông báo về các dân tộc Ðông Nam Á. Viện Dân tộc học Liên Xô, M.1960. Dẫn theo Nhân chủng học Ðông Nam Á.)
Vào thời Nam Bắc triều (265-583) sử sách còn ghi: người H’mông-Dao tập trung đông đảo quanh Ngũ Lĩnh, tỏa ra đồng bằng Hồ Nam. Nhưng sau đó, từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ VIII, tộc Hán thôn tính miền này, các tộc người không phải Hán hoặc trở thành phụ thuộc người Hán hoặc di cư đến nơi khác.
Trong quá trình ly tán xuống phương Nam lánh nạn, để tránh khỏi diệt vong hoặc bị đồng hóa bởi Hán tộc, họ di cư theo hai con đường khác nhau. Khối H’mông (Man Miêu) di tản theo hướng Quý Châu, tương đối tập trung trong khi người Man Dao theo hướng Tây Nam đi về Nam Lĩnh Sơn, đường hiểm trở nên phân chia thành nhiều nhóm. Thời gian này ở vào khoảng thế kỷ IX.
Từ những phân tích trên, giới nhân chủng học nhận định:
a. Khối H’mông-Dao cũng như ngôn ngữ H’mông-Dao bắt nguồn từ một vùng phía nam sông Dương Tử rồi thiên di xuống phương Nam và chia thành hai tộc người H’mông và Dao từ thế kỷ VI và tách hẳn vào thế kỷ IX.
b. Người Dao đến Bắc Ðông Dương đã khoảng gần 1000 năm và còn nhiều đợt tiếp theo sau này.
4. NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ THÁI.
Các tộc ngôn ngữ Thái -Tày tập trung chủ yếu ở Ðông Dương, ngoài ra còn sống tản mác tại Đông Bắc Ấn Ðộ (Assam), Nam Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Ðông, Quảng Tây, Hải Nam), bán đảo Malacca. Tổng số dân khoảng trên 50 triệu, trong đó trên 30 triệu ở Thái Lan.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, quê hương xưa của người Thái ở khu vực tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, tiếp giáp với Ðông Dương. Họ chính là một trong cộng đồng khối Bách Việt vào nhiều thời kỳ trong thiên niên kỷ I TCN, do sự chèn ép của người Hán, đã thiên cư theo hai hướng Ðông và Nam. Dòng người sang Ðông đi tới Quảng Ðông, Quảng Tây, Bắc Bộ Việt Nam, một số tới đảo Hải Nam. Dòng theo hướng Nam men theo các thung lũng và triền sông, tỏa ra các nước Ðông Dương. Người Thái Lan hiện nay là con cháu những nhóm Thái đi xa nhất về phía nam. Các nhóm tỏa sang đông là tổ tiên người Lào và các tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam. Các nhóm tỏa sang tây là người Shan (Miến Ðiện), sau này có một nhánh sang Assam (Ðông Bắc Ấn Ðộ). Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, do người Thái làm nông nghiệp lúa nước nên phải phát sinh từ miền đất thấp gần duyên hải, có thể chính là hai tỉnh Quảng Ðông và Quảng Tây, Trung Quốc. Nhà khảo cồ học người Mỹ W.G. Solheim II cho rằng: “Có nhiều nét tương đồng và không có sự khác biệt quan trọng giữa người dân thời đồ đá mới ở Bản Kao với người Thái hiện nay.” Nói cách khác, tổ tiên dân tộc Thái ở Thái Lan đã có mặt trên đất nước cách nay 3000-4000 năm.
5. NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ TẠNG – MIANMA.
Ngôn ngữ Tạng-Mianma là một nhóm trong dòng ngôn ngữ Hán. Ở Ðông Nam Á có người Mianma đông nhất (trên 20 triệu), ngoài ra còn các sắc dân Karen, Katchin, Tchin, Kaya, Lôlô, Hà Nhì, La Hủ… Về nhân chủng học, người Mianma cũng là một loại hình trong nhóm Ðông Nam Á của chủng Mongoloid phương Nam.
Có thuyết cho rằng, người Mianma vốn nguồn gốc từ một cư dân du mục gọi là Ch’iang, xưa cư trú ở Tây Bắc nước Trung Hoa cổ đại, giữa sa mạc Gôbi và miền Ðông Bắc Tây Tạng. Như vậy ít nhiều có thể kế cận với vùng sinh tụ phía tây của người Bách Việt. Sử sách từng nói tới đồ đá mới của họ từ 3000 năm TCN. Sau đó, do sự lấn chiếm của người Hán nên họ rời quê hương tiến dần xuống phía nam, tiếp xúc với người Tây Tạng rồi tới cương vực của người Bách Việt. Tại đây, do quan hệ một thời gian dài với các tộc người ngôn ngữ Thái, họ tiếp thu văn hóa mới vào khoảng thiên niên kỷ I TCN. Họ có mặt ở Thượng Mianma vào những thế kỷ sau CN. Hình thái nhân chủng của người Mianma hiện nay là hệ quả trực tiếp của quá trình hỗn chủng lâu dài với nhiều nhóm người thuộc chủng Nam Mongoloid (Tây Tạng, Thái, bản địa Ðông Dương). Chắc là loại hình nhân chủng tổ tiên người Mianma không đồng nhất với con cháu họ bây giờ. Rất có thể trước đây, đó là những người có đặc điểm ít nhiều gần với người Mongoloid phương Bắc như tầm vóc cao lớn, hộp sọ dài trung bình, mặt dài… Nay ở người Mianma đã hình thành những đặc trưng phương Nam như người Thái và được đặt vào loại hình Ðông Nam Á.
6.NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ MÃ LAI – POLYNESIA
Vùng phân bố hiện nay của ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia tập trung tại các nước Indonesia, Philippine, một phần Malaysia. Phần còn lại tản mác ở một số nước trên bán đảo Ðông Dương như Việt Nam, Campuchia, Thái Lan…
Người nói ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia cấu thành khối dân tộc đa số ở Indonesia, (Giava, Sunda, Madura), Philippine (Vixai, Tagal) và ở Mã Lai. Ở các nước khác, họ thuộc thành phần các dân tộc ít người như dân tộc Chăm ở Việt Nam, Campuchia. Về chủng tộc, họ cũng không đồng nhất. Ðại bộ phận thuộc nhóm loại hình Nam Á. Ðó là các dân tộc đa số ở Indonesia, Philippine, Malaysia và một số thành phần dân tộc ít người ở các nước nói trên hay trên bán đảo Ðông Dương (Chăm). Còn lại là những biểu hiện đa dạng của nhóm loại hình Indonesien và Vedoid. Ðặc điểm nổi bật của cư dân ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia là sự hỗn chủng cao giữa những chủng người không cùng nguồn gốc ban đầu.
Có hai giả thuyết về nguồn gốc các dân tộc ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia:
1. Khu vực hình thành đầu tiên là miền Nam Trung Quốc, từ đó lan truyền xuống Ðông Nam Á và châu Ðại Dương.
2. Là vùng đảo Ðông Nam Á, mà trung tâm là từ miền Ðông Indonesia tới Nam Philippine rồi lan ra xung quanh tới Nhật Bản, Polynesia, vịnh Băng Gan, Madagascar.
Những tác giả theo giả thuyết 1 cho rằng : “Vùng phân bố cổ xưa nhất của ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia xác định là khoảng giữa sông Thanh Giang và sông Dương Tử, thuộc về những bộ lạc nông nghiệp định cư của người Việt trong khối Bách Việt, có mặt ở đây từ những thiên niên kỷ III-II TCN. Ðiều kiện lịch sử xã hội vào cuối thiên niên kỷ III đầu thiên niên kỷ II TCN đã kích thích sự di cư của nhiều nhóm Bách Việt. Tổ tiên các cộng đồng Mã Lai-Polynesia đã từ lục địa tới Ðài Loan và để lại di duệ (người Cao Sơn). Hiện nay ở phía Nam Trung Quốc không còn tộc người nào nói ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia nhưng dấu tích ngôn ngữ này đã phát hiện trong ngôn ngữ Thái và một số tộc người ở Bắc Việt Nam.
Giả thuyết thứ hai do G.W. Solheim II đề xuất (Solheim W.G.II Reflections on the new data of Southeast Asian Prehistory: Austronesian origin and consequence- Paper presented at the First International conference on comparative Austronesian Linguistics, January 1974; Honolulu- Hawaii):
Cái nôi ban đầu của ngôn ngữ Nam Ðảo không thể ở phía Ðông Nam Trung Quốc mà ở Ðông Nam Á, và trung tâm của nó là khu vực từ các đảo phía Đông Indonesia tới Nam Philippine. Thời kỳ hình thành của ngôn ngữ này vào khoảng 4000 năm TCN. Giai đoạn ngôn ngữ Nam Ðảo lan rộng ra xung quanh vào khoảng thiên niên kỷ II TCN, bắc tới Nam Trung Quốc, đông tới Polynesia. Cũng vào giai đoạn này tổ tiên người Chăm đến duyên hải Việt Nam và để lại dấu tích trong phức hệ gốm Sa Huỳnh.
Theo chúng tôi, có lẽ thực tế lịch sử là sự kết hợp cả hai giả thuyết: Tổ tiên người Chăm xuất hiện từ khoảng 60.000 năm trước, ở miền Trung Việt Nam, thuộc nhánh Australoid. Từ đây họ hòa huyết với người Mogoloid rồi thiên di theo hai hướng: hướng nam xuống các đảo như Indonesia, Philippine còn phía bắc tới Nam Trung Quốc (và có thể đi xa hơn trong những người chinh phục châu Mỹ). Những người tụ ở Nam Trung Quốc nhập vào đại gia đình Bách Việt và được Ðông Nam Á hóa. Cùng chịu chung số phận lịch sử với người Bách Việt. Vào thiên niên kỷ II TCN, người Chăm thuộc nhóm loại hình Ðông Nam Á cư trú tại lưu vực Trường Giang trở về nơi xuất phát là miền Trung Việt Nam cùng các đảo ngoài khơi. Trong khi đó, những người trụ lại miền Trung Việt Nam làm nên văn hóa Sa Huỳnh.
Từ bức tranh toàn cảnh nhân chủng Ðông Nam Á trên, các nhà nhân chủng học rút ra 2 kết luận:
a- Vào thời Ðá Mới, cư dân Ðông Nam Á thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng với các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó Indonesien và Melanésien là hai thành phần chủ yếu.
b- Sang thời Ðồng-sắt, trên toàn Ðông Nam Á diễn ra việc chuyển hóa mạnh từ loại hình Indonesien sang loại hình Nam Á (Mongoloid phương Nam). Thành phần Australoid thu hẹp đến tối đa trong khu vực.
Hai kết luận trên là đóng góp quan trọng cho nhận thức về nhân chủng học Ðông Nam Á.
Tuy vậy công trình của Giáo sư Nguyễn Ðình Khoa cũng còn những hạn chế:
Thứ nhất: Vẫn theo thuyết cho rằng tổ tiên người Ðông Nam Á từ Tây Tạng xuống.
Thứ hai : Không cho thấy nguyên nhân của sự chuyển hóa mạnh và đồng loạt từ loại hình Indonesien sang Ðông Nam Á vào thời đồ Ðồng.
Thứ ba: Không giải thích vì sao, các tộc người như Mon-Khmer, Thái Tày… có sự di chuyển từ phía Nam Trung Quốc xuống thì người Việt lại không có sự di cư này, trong khi các tài liệu lịch sử cho thấy người Lạc Việt là nòng cốt trong dòng Bách Việt từng sinh sống ở Trung Quốc.
Đó không chỉ là hạn chế của tác giả mà cũng là giới hạn của nhân chủng học cổ điển. Nhân chủng học cổ điển với công cụ thô sơ và phương tiện các bon đánh dấu C14 không thể cho những kết quả đủ để có thể đưa tới những kết luận thỏa đáng.
http://khoahocnet.files.wordpress.com/2012/04/bdnc.jpg?w=630
Bản đồ nhân chủng Ðông Nam Á hiện đại
(Chú thích từ trên xuống: Nam Á, Indonesien,Vedoid, Negritoid)
(Nguồn: Nhân chủng học Ðông Nam Á)
B. ÐÓNG GÓP CỦA NHÂN CHỦNG HỌC HIỆN ÐẠI
Nhân chủng học cổ điển đóng góp vô cùng lớn giúp con người tự nhận thức về mình. Nhưng với phương pháp cùng công cụ hạn chế, nhân chủng học cổ điển đành bất lực trước những câu hỏi bức xúc nhất về tổ tiên loài người và mối quan hệ giữa các tộc người.
Cuối thế kỷ XX, tại nơi mà nhân chủng học cổ điển dừng lại thì một khoa học nhân chủng mới ra đời, dùng công nghệ genes khảo sát sự hình thành và di cư của loài người. Ðây là ngành khoa học thực nghiệm đòi hỏi phương tiện nghiên cứu hiện đại và đưa đến kết quả có độ chính xác cao. Khoa học nhân chủng hiện đại dựa trên hai nguyên lý:
a/ Genes là nhân tố bền vững giúp cho nhận diện sự có mặt của từng loài hay từng chủng sinh vật theo địa bàn phân bố của chúng. Như vậy, nhân tố gene cho ta nhận biết sự phân bố của từng loài, từng chủng sinh vật theo không gian.
b/ Trong một loài, một chủng, genes tuy bền vững ổn định nhưng lại có những nhân tố biến đổi qua từng thế hệ theo xu hướng càng xa tổ gốc, càng giảm dần. Dựa vào đặc điểm này, dùng thuật toán thống kê, người ta định ra chỉ số biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) hay chỉ số đa dạng sinh học (F-value) để nhận biết sự phân bố của sinh vật theo thời gian.
Dựa vào công nghệ genes, nhiều nhà nghiên cứu đã khám phá chính xác mối quan hệ nhân chủng trong các cộng đồng dân cư và phát hiện genes di truyền những nhân tố gây bệnh.
Vào thập niên 90 thế kỷ trước, trong khi các nhà khoa học phương Tây đang đi tới hoàn tất việc khám phá bản đổ gene người thì người Trung Quốc cũng rất nhạy bén với thành tựu khoa học mới này. Bằng nguồn kinh phí của Quỹ khoa học tự nhiên, họ đầu tư cho Dự án Ða dạng di truyền người Hán (Chinese Human Genome Diversity Project) với mục đích tìm hiểu nguồn gốc của người Hán và cách chữa trị một vài bệnh di truyền. Nhiều nhà khoa học ở Ðại học Bắc Kinh và Thanh Hoa Thượng Hải hợp tác với đồng bào, đồng nghiệp của họ tại Ðại học Texas bang Huston và Ðại học Cicinnati Hoa Kỳ tham gia Dự án này.
Ngày 29/9/1998 nhóm nghiên cứu đã công bố bản báo cáo gây chấn động giới khoa học nước Mỹ.
Những nét chính của báo cáo như sau:
1. Gs Chu cùng đồng nghiệp thuộc Ðại học Texas phân tích từ 15-30 mẫu microsatellites (mt DNA) để khảo sát sự khác biệt di truyền trong 24 nhóm người Hoa, 4 nhóm người Ðông Nam Á, 2 nhóm thổ dân Mỹ, 1 nhóm thổ dân Úc, 1 nhóm thuộc New Guinea và 4 nhóm da trắng Caucase.
Kết quả phân tích cho thấy:
a. Các sắc dân Ðông Nam Á tập hợp thành một nhóm di truyền.
b. Nhóm dân có đặc tính di truyền gần gũi với dân Ðông Nam Á là thổ dân Mỹ sau đó là thổ dân Úc và New Guinea.
c. Ðặc diểm di truyền của người Hán miền Bắc không giống người Hán phương Nam.
Nhóm nghiên cứu đưa ra mô hình: Các dân tộc Bắc Á được tiến hóa từ Ðông Nam Á và đưa tới kết luận: Tổ tiên các nhóm dân Ðông Á ngày nay có nguồn gốc từ Ðông Nam Á. Kết luận này cũng cho rằng, tổ tiên của những người nói tiếng Altaic ở phía Bắc Trung Quốc cũng từ Ðông Nam Á lên chứ không phải từ ngả Trung Á sang như từ trước vẫn hiểu. (10)
Tuy nhiên, nghiên cứu của nhóm giáo sư Chu có điểm yếu là chỉ dựa vào mtDNA, một nhân tố di truyền rất mẫn cảm nên không bền vững, dễ bị đột biến, có thể dẫn tới kết quả sai lạc.
2. Khắc phục nhược điểm trên, một nhóm nghiên cứu khác dựa trên nhiễm sắc thể Y (Y-chromosome) để khảo sát những đại diện người Hoa ở 22 tỉnh Trung Quốc, 3 nhóm dân Ðông Bắc Á, 5 nhóm Ðông Nam Á (Campuchia, Thái Lan, Mã Lai, Batak, Java) và một số nhóm dân ngoài châu Á.
Kết quả nghiên cứu ghi nhận: Mức độ biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) trong nhóm Ðông Nam Á cao hơn nhóm Ðông Bắc Á.
Khi phân tích di truyền quần thể (population genetics) đã đưa đến kết luận: Con người di cư từ châu Phi sang Ðông Nam Á khoảng 60.000 năm trước và sau đó di chuyển lên Bắc Á, Siberia. Các nhóm dân Polynesian (Ða Ðảo) cũng có nguồn gốc từ Ðông Nam Á.(11)
3. Một nghiên cứu của nhóm khoa học Hàn Quốc: Kim & đồng nghiệp dùng 5 genes trong nhiễm sắc thể Y để khảo sát 2 nhóm dân Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cổ) và Nam Á (Indonesia, Philippine, Thái Lan, Việt Nam) cho thấy người Việt gần với nhóm dân Bắc Á (nhất là Hàn Quốc) hơn là các nhóm dân Nam Á. (12).
4. Trong một nghiên cứu khảo sát tần số biến thiên mtDNA của 153 mẫu vật độc lập từ 7 quần thể châu Á, Ballinger S.W nhận thấy sự đa dạng lớn nhất cũng như tần số cao nhất của mtDNA HpaI/HincII dạng 1 ở người Việt Nam, chứng tỏ nguồn gốc Mông Cổ phương Nam của người châu Á. Ðiều này cũng có nghĩa là Người Việt Nam cổ hơn cả trong các sắc dân Ðông Nam Á (13)
5. Nhà khoa học người Mỹ gốc Hoa Lý Huỳnh (Li Jin) cùng nhóm của ông ở Ðại học Tổng hợp Texas qua công trình khảo sát nhân tố microsatellites lặp lại liên tục trong chuỗi xoắn DNA của 43 nhóm người Hoa phân bố khắp châu Á đưa ra kết luận:
Homo sapiens (người khôn ngoan) từ châu Phi thiên di tới Trung Ðông. Từ Trung Ðông một nhóm men theo bờ biển Nam Á, đến Ðông Nam Á vào khoảng 60-70.000 năm trước. Họ nghỉ ngơi ở đây khoảng 10.000 năm rồi chia tay nhau: 50.000 năm trước đặt chân tới châu Úc, 40.000 năm trước tới New Guinea… Một bộ phận đi tiếp lên phía Bắc, tới Trung Hoa. Từ đây, họ đi xa hơn nữa tới Siberia, băng qua eo biển Bering tới Alasca vào châu Mỹ, thành người thổ dân châu Mỹ. (14)
6. Hai công trình của Peter Savolainen và Jenifer A. Leonard cùng đồng nghiệp, phân tích xương chó cổ tìm được ở Mexico, Perou, Bolivia… thấy rằng các loài chó được đưa vào châu Mỹ trước thời Columbus đều bắt nguồn từ giống chó Âu-Á. Khi nghiên cứu kỹ, thấy tổ tiên chó nhà là chó sói Ðông Nam Á bởi phân tích DNA cho thấy đa dạng di truyền của các loài chó Ðông Nam Á cao hơn nhiều so với loài chó châu Âu. Ðó có thể là từ con chó sói duy nhất được thuần hóa cách nay ít nhất 15.000 năm (15).
Kết luận này cũng phù hợp với phát hiện từ giữa thế kỷ XIX của C. Darwin trong cuốn Nguồn gốc các loài (The Origin of the Species ): tất cả các giống gà nuôi trên thế giới đều có nguồn gốc từ gà rừng Ðông Nam Á. Ðiều này cũng phù hợp với thông báo chúng tôi vừa nhận được từ Gs Nguyễn Văn Tuấn (Garvan Institute of Medical research nước Úc): giống gà chọi nổi tiếng Shumo của Nhật cũng có nguồn gốc Ðông Nam Á.
7. Cũng trong thời gian những thông tin trên công bố thì một cuốn sách gây xôn xao dư luận được phát hành. Ðó là cuốn Ðịa đàng ở phương Ðông của Stephen Oppenheimer. Ông là tiến sĩ khoa Nhi người Anh, từng sống 20 năm ở vùng đảo Ðông Nam Á. Từ nghiên cứu lịch sử, truyền thuyết, ngôn ngữ, xã hội và di truyền ở nhiều nước Ðông Nam Á, ông đưa ra nhiều thông tin mới về vùng đất huyền bí này.
S. Oppenheimer chứng minh rằng, 60.000 năm trước, khi người tiền sử đặt chân tới Ðông Nam Á thì Trái đất đang trong thời biển thoái: mặt nước biển thấp hơn ngày nay 130 met. Khi đó, đồng bằng sông Hồng lan ra tới tận đảo Hải Nam và được đặt tên là lục địa Nanhailand. Cũng thế, vùng Bắc Indonesia lan tới nam đảo Ðài Loan là đồng bằng Sunda, được gọi là lục địa Sundaland. Người tiền sử tới sống ở vùng đất thấp nhiều sông hồ, cây cối rậm rạp kiếm ăn dễ dàng này. Chính từ đây các chủng người gặp nhau, hòa huyết làm nên tổ tiên người Ðông Nam Á. Cũng chính tại đây, công cụ đá, đồ gốm được chế tác, cây lúa và khoai sọ ra đời cùng với những con gà con chó đầu tiên được thuần hóa. Vào khoảng 18.000 năm trước, nước biển bắt đầu dâng mỗi năm 1 cm. Một số nhóm người di cư lên khu vực cao hơn ở phía Tây và làm nên Văn hóa Hòa Bình. Khoảng 8000 năm trước, do nước dâng thật cao, lên tới Việt Trì, lục địa Nanhailand và Sundaland chìm trong nước, đẩy một bộ phận lớn dân Ðông Nam Á di chuyển lên lục địa Trung Hoa tạo nên đồ đá mới ở Trung Quốc.(16) Tổng hợp những nghiên cứu trên đưa tới nhận định sau:
1. Con người từ Ðông Phi thiên di tới Trung Ðông. Từ đây một nhánh men theo bờ biển Nam Á đến lục địa Ðông Nam Á khoảng 70 đến 60.000 năm trước. Nghỉ lại ở đây 10.000 năm sau đó hậu duệ của họ đi lên phía Bắc, tới Trung Quốc, đến Siberia rồi vượt eo Bering đặt chân sang châu Mỹ khoảng 30.000 năm trước. Cũng từ Ðông Nam Á, một nhánh đến Úc vào 50.000 năm trước và đến New Guinea 40.000 năm trước.
2. Hiện tượng người Việt gần người Bắc Á, nhất là Hàn Quốc (nghiên cứu 3) là lẽ tự nhiên vì cộng đồng Bách Việt sau khi khai phá lục địa Trung Hoa đã bị người Hán chiếm đất, buộc phải tràn ra biển, sang Nhật, Hàn Quốc. Người Nhật, người Hàn hiện đại là hậu duệ của người U Việt trong dòng Bách Việt. Với người Hàn còn có yếu tố lịch sử nữa: vào cuối thời nhà Lý, thế kỷ XIII nhiều nhóm thuyền nhân nhà Lý tỵ nạn vượt biển đến Hàn Quốc trong đó có hoàng thân Lý Long Tường dẫn một đoàn di dân hoàng tộc khoảng 500 người sang cả Bắc và Nam Hàn. Qua hơn 700 năm, những thuyền nhân này bổ sung nguồn genes Việt vào dòng máu Hàn.
3. Kết luận người châu Á có nguồn gốc Mông Cổ phía Nam của Ballinger là có cơ sở: Người tiền sử đến Ðông Nam Á gồm hai đại chủng Mongoloid da vàng và Australoid da đen. Trong thời gian dừng chân tại miền đất này, hai đại chủng đã hòa huyết tạo nên chủng Indonesien, Melanesien cùng những chủng trung gian giữa chúng (Nguyễn Ðình Khoa Sđd). Ðấy là kịch bản chung theo đoán định của các nhà nhân chủng học. Tuy nhiên rất có thể xảy ra khả năng sau: một nhóm Mongoloid vì lý do nào đó không hòa huyết với chủng Australoid, đi theo con mồi lên phía bắc Ðông Nam Á và sống biệt lập. Khi thời tiết cho phép, đoàn người này đi lên theo con đường Ba Thục rồi định cư ở tây bắc Trung Quốc thành chủng Mongoloid phương Bắc. Giả thuyết trên được củng cố nhờ công bố của Gs. Ranjan Deka Ðại học Cincinnati, một trong những người tham gia Dự án Ða dạng di truyền người Hán: “Những quần thể từ Ðông Á tới luôn luôn bắt nguồn từ một dòng riêng rẽ, điều này tạo nên nguồn gốc riêng biệt của những quần thể đó.” (Populations from East Asia always derived from a single lineage, indicating the single origins of those populations. Los Angeles Times, September. 29.1998). Do một sự ngẫu nhiên nào đó, một dòng riêng rẽ thuần Mongoloid đi lên phương Bắc rồi định cư ở tây bắc Trung Hoa đã làm nên chủng Mongoloid phương bắc. Có thể tìm thấy dẫn chứng trong khảo cổ học: ” Ðiều khó khăn nhất là rất ít sọ người được tìm ra ở đấy, dù có di chỉ đồ đá ở Mông Cổ (văn hóa Hetao) và ở bắc Trung Hoa vào hậu kỳ đá cũ. Ngoài ba sọ thuộc lớp khảo cổ trên ở trong hang Zhoukoudian xem như thuộc chủng tiền (proto) Mongoloid, người ta chỉ tìm được sọ Liujiang (Quảng Tây). Sọ này có tuổi định khá trẻ (10.000 năm trước), nhưng di vật trong Bailiandong (Bạch Liên động) gần đó lại có tuổi 30.000 năm trước. (17). Không chỉ vậy, khảo cổ học phát hiện xương người 40000 năm trước trên đất Mông Cổ là chứng cứ của việc di cư này. Dù rất hiếm hoi nhưng những dấu vết trên cho thấy: người Mongoloid từ Ðông Nam Á theo hành lang phía tây lên tây bắc Trung Quốc. Việc nghèo nàn di vật cũng nói lên một điều: nhóm người này tuy đi làm nhiều đợt nhưng vì số lượng không nhiều nên chỉ tạo được quần thể thiểu số Mongoloid phương Bắc.
Như vậy, cho dù được gọi là nhóm Mông Cổ phía bắc thì thực chất họ cũng từ Ðông Nam Á đi lên. Ðề xuất của Ballinger S.W hoàn toàn có cơ sở. Rất có thể tổ tiên người Altaic cũng từ Ðông Nam Á đi lên theo cách này?
Cùng thời gian đó, người Bách Việt thuộc chủng Indonesian, Melanesian-sản phẩm hòa huyết giữa hai đại chủng Mongoloid, Australoid và là chủ nhân của văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình đi lên khai phá lục địa Trung Hoa, sống tản mác khắp Hoa lục, từ lưu vực sông Dương Tử tới lưu vực sông Hoàng Hà. Khoảng 2600 năm TCN người Mông Cổ tràn qua sông Hoàng Hà chiếm đất của người Bách Việt. Do người Bách Việt đông mà người Mông Cổ phương Bắc ít nên trong thực tế, cuộc hòa huyết với Bách Việt khiến cho người Mông Cổ phương Bắc bị đồng hóa thành người Mông Cổ phương Nam, tự gọi là Hoa Hạ, nhân tố cầm quyền trong các vưong triều Hoàng Đế. Người thời Ðường Ngu, rồi sau đó là nhà Hạ có bộ gene như vậy. Thành Thang, ông vua đầu tiên của Trung Quốc là người mang gene châu Phi đen từ Ðông Nam Á đi lên, cả đến Lão tử cũng thế. (The Shang, for example, China’s first dynasts are described as having “black and oily skin”. The famous Chinese sage Lao-Tze was “black in complexim”. (Los Angeles Times, September. 29. 1998) (Thang, ông vua đầu tiên của Trung Hoa được mô tả là có nước da đen bóng. Triết gia nổi tiếng Lão tử cũng có màu da đen.)
4. Kết luận của nghiên cứu số 2: Biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) của người Nam Á cao hơn Bắc Á và nghiên cứu số 4: Chỉ số đa dạng sinh học (F-value) của người Việt cao nhất trong nhóm dân Ðông Nam Á . Hai kết luận này cho thấy Người Việt là cư dân lâu đời nhất Ðông Nam Á, cũng có nghĩa là lâu đời nhất ở Ðông Á.
5. Nghiên cứu 6 nói về chó cũng là nói về người bởi những vật nuôi đó không thể tự làm những cuộc hành trình vạn dặm. Chúng là tài sản của con người trong bước thiên di. Ðiều này thêm bằng chứng cho việc người Ðông Nam Á nông nghiệp thuần dưỡng chó và đã tới châu Mỹ ít nhất là 15.000 năm trước.
Như vậy là nhờ cây đũa thần công nghệ gene, khoa học đã giúp giải được bài toán vẫn là mối bận tâm của nhân loại hàng trăm năm nay. Trái ngược với những lý thuyết được cho là kinh điển trước đây, người Ðông Á không phải từ cao nguyên Tây Tạng đi xuống mà từ Ðông Nam Á đi lên. Cũng không phải nước Tàu là trung tâm của thế giới, người Trung Quốc không phải là con trời mà là cộng đồng được sinh ra muộn hơn trong những sắc dân Á Ðông. Văn minh Trung Hoa dù rực rỡ đến mấy cũng là kế thừa của nền văn minh lúa nước Việt tộc huy hoàng trong quá khứ… Cái gì của Caesa phải được trả lại Caesa! Cuốn lịch sử Ðông Á phải viết lại từ đầu.
CHƯƠNG III VỀ CỘI NGUỒN NGƯỜI VIỆT
A. NHỮNG THÀNH TỰU CỦA NHÂN CHỦNG HỌC CỔ ÐIỂN
Nhân chủng học được khai sinh từ giữa thế kỷ XVII với những tên tuổi như học giả người Pháp Francois Bernier, tiếp đó là nhà phân loại học bậc thầy K.Linne người Thụy Ðiển rồi Buffon, Blumenbac… Cho đến cuối thế kỷ XX, hệ thống phương pháp nghiên cứu của nhân chủng học thế giới là so sánh hình thái đường vân trên bàn tay, hình thái bộ răng và phức hệ kháng nguyên trên hồng cầu ở người hiện đại và so sánh hình thái học sọ người cổ. Trong hai thế kỷ rưỡi rị mọ làm việc với những dụng cụ đơn giản là cái rìu cái cuốc cùng những thước đo, các nhà nhân chủng học cổ điển đã làm được khối lượng công việc khổng lồ: tìm kiếm nguồn gốc con người rồi phân chia thành những loại hình và chỉ ra sự chuyển hóa của chúng. Những tri thức nhân chủng học đã giúp cho con người bước đầu hiểu được mình là ai, từ đâu đến, góp phần nâng cao vị trí con người trong tự nhiên huyền bí.
Với các dân tộc Ðông Nam Á, nhân chủng học cổ điển giúp giải quyết những vấn đề rất cơ bản mà nếu thiếu những tri thức đó, chúng ta sẽ rơi vào tình trạng mông muội.
Ðể xác định cội nguồn tổ tiên người Việt, chúng tôi không có cách nào khác là tìm hiểu cội nguồn các tộc người Ðông Nam Á khác. Trong công việc này, công trình Nhân chủng học Ðông Nam Á của nhà nhân chủng học hàng đầu Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Ðình Khoa có những đóng góp quan trọng.
Ở đây chúng tôi xin giới thiệu những ý tưởng chủ yếu của người đi trước đồng thời ở những chỗ thích hợp, đưa ra ý kiến thảo luận.
Khảo sát những sọ người Homo sapiens cổ tìm được khắp Ðông Nam Á như sọ người Hang Nia ở Bắc Kalimantan, Vadjak ở Giava (Indonesia), ở Tam Hang, Tam Pông (Lào), ở Xamrôngxen, Long Prao tỉnh Kômpuông Chnăng (Camphuchia), 38 bộ xương người cổ ở Bản Kao (Thái Lan) và 38 sọ tìm thấy tại nhiều di chỉ ở Việt Nam, các nhà nhân chủng học đưa ra nhận định:
Thời đại Đá Mới, cư dân trên lãnh thổ Việt Nam và cả Ðông Nam Á thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng với các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó Indonesien và Melanesien là hai thành phần chủ yếu.(9)
Nhận định này dựa trên việc khảo sát một số nhóm dân cư cụ thể:
1. NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ MÔN-KHMER
Các tộc ngôn ngữ Môn-Khmer hiện nay tập trung chủ yếu trên bán đảo Ðông Dương và cũng có mặt ở tất cả các nước trong khu vực, đông nhất là ở Campuchia (4 triệu), Việt Nam (2 triệu gồm người Khmer Nam Bộ, Bana, Xơ Ðăng, K’ho, H’rê, S’tiêng, Bru, Vân Kiều, Kh’mú, Kháng…), Thái Lan (trên dưới 2 triệu) và các nước khác như Lào, Mã Lai… gần 1 triệu.
Về nguồn gốc cư dân ngôn ngữ Môn-Khmer có nhiều ý kiến khác nhau. Giả thuyết được nhiều người tán thành là của E. Aymonier công bố năm 1904 cho rằng: Tổ tiên những tộc người ngôn ngữ Môn-Khmer thuộc về chủng tộc Negritoid, bắt nguồn từ những sườn núi phía Nam Tây Tạng rồi chia đôi ra và di chuyển về phương Nam theo hai hướng – hướng Tây Nam sinh ra người Munda ở Ấn Ðộ, hướng Ðông Nam sinh ra tộc người Môn-Khmer ở Ðông Dương. (Aymonier E – Le Cambodge T.3 Paris 1904. Dẫn theo Nhân chủng học Ðông Nam Á, tr. 118)
S.I. Bruk, nhà nhân chủng học Liên Xô cho rằng, từ cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, đại bộ phận Ðông Dương đã có mặt người Môn-Khmer từ phía Tây Nam Trung Quốc tràn xuống (Bruk S.I. Thành phần tộc người và sự phân bố cư dân ở các nước Ðông Dương. Dân tộc học Xô Viết, số 1.1950. Dẫn theo Nguyễn Đình Khoa)
Các nhà nhân chủng học kết luận: “Phần lớn người nói ngôn ngữ Môn-Khmer đều là dân bản địa Ðông Nam Á lâu đời. Cội nguồn của họ là từ những dạng chuyển tiếp Austro-Mongoloid đang trong quá trình phân hóa với những nét “đặc trưng phương Nam”, từ đó sinh ra các loại Vedoid và Indonesien nguyên thủy – những chủ nhân của bán đảo Ðông Dương cổ đại, về sau phân bố rộng khắp Ðông Nam Á.”
Như vậy có thể kết luận khái quát: Các tộc ngôn ngữ Môn-Khmer ở Ðông Dương và Ðông Nam Á hiện nay là những cư dân bản địa.
2. NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ VIỆT- MƯỜNG
Ðại diện cho cộng đồng nói ngôn ngữ Việt-Mường là người Việt và người Mường. Người Việt có hơn 50 triệu sống tập trung ở đồng bằng châu thổ. Tộc Mường trên 600.000 người, cư trú khá tập trung ở miền thượng du và trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
Người Việt và người Mường đều có những đặc trưng tiêu biểu của nhóm loại hình Ðông Nam Á trong chủng người Mongoloid phương Nam. Người Việt và người Mường xưa vốn cùng chung một cội nguồn, nhưng đã tách ra thành hai dân tộc trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, giả thiết khoảng thế kỷ XI trở về sau này, khi nhà Lý giành được độc lập, đánh tan quân xâm lược nhà Tống.
Một nhận định khác: Ngôn ngữ Việt-Mường hiện nay và trước đây là ngôn ngữ chung của những tộc người thuộc cả hai nhóm loại hình nhân chủng Indonesien và Nam Á.
Tới đây, một vấn đề nảy sinh: rõ ràng, thành phần Nam Á xuất hiện muộn hơn (vào thời đồ đồng) trong khi thành phần Indonesien hình thành sớm (thời đại đá mới). Như vậy, ngôn ngữ Việt-Mường cũng có cội nguồn cổ xưa như những người Indonesien nguyên thủy nhất hay ngôn ngữ Việt-Mường hình thành muộn hơn trên cơ sở tiếp xúc và giao lưu giữa các cộng đồng người, có thể khác nhau về tiếng nói và nguồn gốc? Các tác giả như Hà Văn Tấn, Phạm Ðức Dương, Nguyễn Ðình Khoa cho rằng: xuất phát từ ngôn ngữ cổ Indonesien chuyển sang trung gian Việt-Mường chung và cuối cùng thành ngôn ngữ Ðông Nam Á Việt Mường.
Về bước chuyển hóa này, Giáo sư Nguyễn Ðình Khoa viết: “Người Indonesien vốn là thành phần chủ thể của bán đảo Ðông Dương từ thời đá mới, kéo dài mãi tới sau này, và từ thời đại Đồ Đồng tương ứng với xã hội các vua Hùng thì xuất hiện một hình thái nhân chủng mới – người Nam Á cổ là tổ tiên cùng của các tộc người thuộc loại hình Nam Á hiện nay, trong đó có người Việt Mường.” (Con người thời Hùng Vương. Khảo cổ học số 9-10 tháng 6-1971)
3. NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ H’MÔNG – DAO.
Cội nguồn các dân tộc Hmông-Dao vốn từ phía Nam Trung Quốc, sau này di chuyển dần xuống bắc bán đảo Ðông Dương. Ở Trung Quốc hiện nay, người Hmông tập trung đông nhất tại Quý Châu và các tỉnh giáp ranh như Vân Nam, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Quảng Tây… Người Dao phân bố dịch về phía Ðông Nam so với vùng phân bố của người H’mông, tập trung chủ yếu tại Quảng Ðông, Quảng Tây… Người H’mông, Dao có mặt ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Miến Ðiện. Ở Việt Nam đông hơn cả, khoảng trên 600.000 người.
Về thành phần nhân chủng, người Hmông-Dao thuộc nhóm loại hình Ðông Nam Á của chủng Mongoloid phương Nam.
Theo Giáo sư Nguyễn Ðình Khoa, từ những thư tịch cũ cùng tài liệu khảo cổ học, ngôn ngữ học, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, người H’mông và Dao có chung cội nguồn tổ tiên xác định khoảng ngót 3000 năm trước (cuối thiên niên kỷ thứ II TCN) mà địa bàn cư trú là vùng hồ Ðộng Ðình. Ðó là những bộ tộc Tam Miêu hay Miêu dân. Về sau do sự bành trướng của người Hán nên con cháu người Tam Miêu ly tán dần về Nam. Vào đầu Công nguyên, họ còn chiếm lĩnh một vùng rộng lớn từ bờ nam sông Dương Tử tới giáp giới hai tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây. Bằng chứng về sự tồn tại của họ, là nhiều tài liệu khảo cổ học: văn hóa đồng đã phát triển ở Tứ Xuyên và vùng lân cận, chứng tỏ chủ nhân chúng là dân cư nông nghiệp dùng cuốc, đánh cá, ở nhà sàn. Trong hiện vật tìm thấy rìu có vai, loại công cụ không có ở Hà Nam, Cam Túc… Nền văn hóa này khác hẳn văn hóa Ngưỡng Thiều, nghĩa là không phải Hán, cũng không chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán (Theo Its R.F Người Mèo. Tập thông báo về các dân tộc Ðông Nam Á. Viện Dân tộc học Liên Xô, M.1960. Dẫn theo Nhân chủng học Ðông Nam Á.)
Vào thời Nam Bắc triều (265-583) sử sách còn ghi: người H’mông-Dao tập trung đông đảo quanh Ngũ Lĩnh, tỏa ra đồng bằng Hồ Nam. Nhưng sau đó, từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ VIII, tộc Hán thôn tính miền này, các tộc người không phải Hán hoặc trở thành phụ thuộc người Hán hoặc di cư đến nơi khác.
Trong quá trình ly tán xuống phương Nam lánh nạn, để tránh khỏi diệt vong hoặc bị đồng hóa bởi Hán tộc, họ di cư theo hai con đường khác nhau. Khối H’mông (Man Miêu) di tản theo hướng Quý Châu, tương đối tập trung trong khi người Man Dao theo hướng Tây Nam đi về Nam Lĩnh Sơn, đường hiểm trở nên phân chia thành nhiều nhóm. Thời gian này ở vào khoảng thế kỷ IX.
Từ những phân tích trên, giới nhân chủng học nhận định:
a. Khối H’mông-Dao cũng như ngôn ngữ H’mông-Dao bắt nguồn từ một vùng phía nam sông Dương Tử rồi thiên di xuống phương Nam và chia thành hai tộc người H’mông và Dao từ thế kỷ VI và tách hẳn vào thế kỷ IX.
b. Người Dao đến Bắc Ðông Dương đã khoảng gần 1000 năm và còn nhiều đợt tiếp theo sau này.
4. NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ THÁI.
Các tộc ngôn ngữ Thái -Tày tập trung chủ yếu ở Ðông Dương, ngoài ra còn sống tản mác tại Đông Bắc Ấn Ðộ (Assam), Nam Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Ðông, Quảng Tây, Hải Nam), bán đảo Malacca. Tổng số dân khoảng trên 50 triệu, trong đó trên 30 triệu ở Thái Lan.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, quê hương xưa của người Thái ở khu vực tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, tiếp giáp với Ðông Dương. Họ chính là một trong cộng đồng khối Bách Việt vào nhiều thời kỳ trong thiên niên kỷ I TCN, do sự chèn ép của người Hán, đã thiên cư theo hai hướng Ðông và Nam. Dòng người sang Ðông đi tới Quảng Ðông, Quảng Tây, Bắc Bộ Việt Nam, một số tới đảo Hải Nam. Dòng theo hướng Nam men theo các thung lũng và triền sông, tỏa ra các nước Ðông Dương. Người Thái Lan hiện nay là con cháu những nhóm Thái đi xa nhất về phía nam. Các nhóm tỏa sang đông là tổ tiên người Lào và các tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam. Các nhóm tỏa sang tây là người Shan (Miến Ðiện), sau này có một nhánh sang Assam (Ðông Bắc Ấn Ðộ). Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, do người Thái làm nông nghiệp lúa nước nên phải phát sinh từ miền đất thấp gần duyên hải, có thể chính là hai tỉnh Quảng Ðông và Quảng Tây, Trung Quốc. Nhà khảo cồ học người Mỹ W.G. Solheim II cho rằng: “Có nhiều nét tương đồng và không có sự khác biệt quan trọng giữa người dân thời đồ đá mới ở Bản Kao với người Thái hiện nay.” Nói cách khác, tổ tiên dân tộc Thái ở Thái Lan đã có mặt trên đất nước cách nay 3000-4000 năm.
5. NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ TẠNG – MIANMA.
Ngôn ngữ Tạng-Mianma là một nhóm trong dòng ngôn ngữ Hán. Ở Ðông Nam Á có người Mianma đông nhất (trên 20 triệu), ngoài ra còn các sắc dân Karen, Katchin, Tchin, Kaya, Lôlô, Hà Nhì, La Hủ… Về nhân chủng học, người Mianma cũng là một loại hình trong nhóm Ðông Nam Á của chủng Mongoloid phương Nam.
Có thuyết cho rằng, người Mianma vốn nguồn gốc từ một cư dân du mục gọi là Ch’iang, xưa cư trú ở Tây Bắc nước Trung Hoa cổ đại, giữa sa mạc Gôbi và miền Ðông Bắc Tây Tạng. Như vậy ít nhiều có thể kế cận với vùng sinh tụ phía tây của người Bách Việt. Sử sách từng nói tới đồ đá mới của họ từ 3000 năm TCN. Sau đó, do sự lấn chiếm của người Hán nên họ rời quê hương tiến dần xuống phía nam, tiếp xúc với người Tây Tạng rồi tới cương vực của người Bách Việt. Tại đây, do quan hệ một thời gian dài với các tộc người ngôn ngữ Thái, họ tiếp thu văn hóa mới vào khoảng thiên niên kỷ I TCN. Họ có mặt ở Thượng Mianma vào những thế kỷ sau CN. Hình thái nhân chủng của người Mianma hiện nay là hệ quả trực tiếp của quá trình hỗn chủng lâu dài với nhiều nhóm người thuộc chủng Nam Mongoloid (Tây Tạng, Thái, bản địa Ðông Dương). Chắc là loại hình nhân chủng tổ tiên người Mianma không đồng nhất với con cháu họ bây giờ. Rất có thể trước đây, đó là những người có đặc điểm ít nhiều gần với người Mongoloid phương Bắc như tầm vóc cao lớn, hộp sọ dài trung bình, mặt dài… Nay ở người Mianma đã hình thành những đặc trưng phương Nam như người Thái và được đặt vào loại hình Ðông Nam Á.
6.NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ MÃ LAI – POLYNESIA
Vùng phân bố hiện nay của ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia tập trung tại các nước Indonesia, Philippine, một phần Malaysia. Phần còn lại tản mác ở một số nước trên bán đảo Ðông Dương như Việt Nam, Campuchia, Thái Lan…
Người nói ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia cấu thành khối dân tộc đa số ở Indonesia, (Giava, Sunda, Madura), Philippine (Vixai, Tagal) và ở Mã Lai. Ở các nước khác, họ thuộc thành phần các dân tộc ít người như dân tộc Chăm ở Việt Nam, Campuchia. Về chủng tộc, họ cũng không đồng nhất. Ðại bộ phận thuộc nhóm loại hình Nam Á. Ðó là các dân tộc đa số ở Indonesia, Philippine, Malaysia và một số thành phần dân tộc ít người ở các nước nói trên hay trên bán đảo Ðông Dương (Chăm). Còn lại là những biểu hiện đa dạng của nhóm loại hình Indonesien và Vedoid. Ðặc điểm nổi bật của cư dân ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia là sự hỗn chủng cao giữa những chủng người không cùng nguồn gốc ban đầu.
Có hai giả thuyết về nguồn gốc các dân tộc ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia:
1. Khu vực hình thành đầu tiên là miền Nam Trung Quốc, từ đó lan truyền xuống Ðông Nam Á và châu Ðại Dương.
2. Là vùng đảo Ðông Nam Á, mà trung tâm là từ miền Ðông Indonesia tới Nam Philippine rồi lan ra xung quanh tới Nhật Bản, Polynesia, vịnh Băng Gan, Madagascar.
Những tác giả theo giả thuyết 1 cho rằng : “Vùng phân bố cổ xưa nhất của ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia xác định là khoảng giữa sông Thanh Giang và sông Dương Tử, thuộc về những bộ lạc nông nghiệp định cư của người Việt trong khối Bách Việt, có mặt ở đây từ những thiên niên kỷ III-II TCN. Ðiều kiện lịch sử xã hội vào cuối thiên niên kỷ III đầu thiên niên kỷ II TCN đã kích thích sự di cư của nhiều nhóm Bách Việt. Tổ tiên các cộng đồng Mã Lai-Polynesia đã từ lục địa tới Ðài Loan và để lại di duệ (người Cao Sơn). Hiện nay ở phía Nam Trung Quốc không còn tộc người nào nói ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia nhưng dấu tích ngôn ngữ này đã phát hiện trong ngôn ngữ Thái và một số tộc người ở Bắc Việt Nam.
Giả thuyết thứ hai do G.W. Solheim II đề xuất (Solheim W.G.II Reflections on the new data of Southeast Asian Prehistory: Austronesian origin and consequence- Paper presented at the First International conference on comparative Austronesian Linguistics, January 1974; Honolulu- Hawaii):
Cái nôi ban đầu của ngôn ngữ Nam Ðảo không thể ở phía Ðông Nam Trung Quốc mà ở Ðông Nam Á, và trung tâm của nó là khu vực từ các đảo phía Đông Indonesia tới Nam Philippine. Thời kỳ hình thành của ngôn ngữ này vào khoảng 4000 năm TCN. Giai đoạn ngôn ngữ Nam Ðảo lan rộng ra xung quanh vào khoảng thiên niên kỷ II TCN, bắc tới Nam Trung Quốc, đông tới Polynesia. Cũng vào giai đoạn này tổ tiên người Chăm đến duyên hải Việt Nam và để lại dấu tích trong phức hệ gốm Sa Huỳnh.
Theo chúng tôi, có lẽ thực tế lịch sử là sự kết hợp cả hai giả thuyết: Tổ tiên người Chăm xuất hiện từ khoảng 60.000 năm trước, ở miền Trung Việt Nam, thuộc nhánh Australoid. Từ đây họ hòa huyết với người Mogoloid rồi thiên di theo hai hướng: hướng nam xuống các đảo như Indonesia, Philippine còn phía bắc tới Nam Trung Quốc (và có thể đi xa hơn trong những người chinh phục châu Mỹ). Những người tụ ở Nam Trung Quốc nhập vào đại gia đình Bách Việt và được Ðông Nam Á hóa. Cùng chịu chung số phận lịch sử với người Bách Việt. Vào thiên niên kỷ II TCN, người Chăm thuộc nhóm loại hình Ðông Nam Á cư trú tại lưu vực Trường Giang trở về nơi xuất phát là miền Trung Việt Nam cùng các đảo ngoài khơi. Trong khi đó, những người trụ lại miền Trung Việt Nam làm nên văn hóa Sa Huỳnh.
Từ bức tranh toàn cảnh nhân chủng Ðông Nam Á trên, các nhà nhân chủng học rút ra 2 kết luận:
a- Vào thời Ðá Mới, cư dân Ðông Nam Á thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng với các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó Indonesien và Melanésien là hai thành phần chủ yếu.
b- Sang thời Ðồng-sắt, trên toàn Ðông Nam Á diễn ra việc chuyển hóa mạnh từ loại hình Indonesien sang loại hình Nam Á (Mongoloid phương Nam). Thành phần Australoid thu hẹp đến tối đa trong khu vực.
Hai kết luận trên là đóng góp quan trọng cho nhận thức về nhân chủng học Ðông Nam Á.
Tuy vậy công trình của Giáo sư Nguyễn Ðình Khoa cũng còn những hạn chế:
Thứ nhất: Vẫn theo thuyết cho rằng tổ tiên người Ðông Nam Á từ Tây Tạng xuống.
Thứ hai : Không cho thấy nguyên nhân của sự chuyển hóa mạnh và đồng loạt từ loại hình Indonesien sang Ðông Nam Á vào thời đồ Ðồng.
Thứ ba: Không giải thích vì sao, các tộc người như Mon-Khmer, Thái Tày… có sự di chuyển từ phía Nam Trung Quốc xuống thì người Việt lại không có sự di cư này, trong khi các tài liệu lịch sử cho thấy người Lạc Việt là nòng cốt trong dòng Bách Việt từng sinh sống ở Trung Quốc.
Đó không chỉ là hạn chế của tác giả mà cũng là giới hạn của nhân chủng học cổ điển. Nhân chủng học cổ điển với công cụ thô sơ và phương tiện các bon đánh dấu C14 không thể cho những kết quả đủ để có thể đưa tới những kết luận thỏa đáng.
http://khoahocnet.files.wordpress.com/2012/04/bdnc.jpg?w=630
Bản đồ nhân chủng Ðông Nam Á hiện đại
(Chú thích từ trên xuống: Nam Á, Indonesien,Vedoid, Negritoid)
(Nguồn: Nhân chủng học Ðông Nam Á)
B. ÐÓNG GÓP CỦA NHÂN CHỦNG HỌC HIỆN ÐẠI
Nhân chủng học cổ điển đóng góp vô cùng lớn giúp con người tự nhận thức về mình. Nhưng với phương pháp cùng công cụ hạn chế, nhân chủng học cổ điển đành bất lực trước những câu hỏi bức xúc nhất về tổ tiên loài người và mối quan hệ giữa các tộc người.
Cuối thế kỷ XX, tại nơi mà nhân chủng học cổ điển dừng lại thì một khoa học nhân chủng mới ra đời, dùng công nghệ genes khảo sát sự hình thành và di cư của loài người. Ðây là ngành khoa học thực nghiệm đòi hỏi phương tiện nghiên cứu hiện đại và đưa đến kết quả có độ chính xác cao. Khoa học nhân chủng hiện đại dựa trên hai nguyên lý:
a/ Genes là nhân tố bền vững giúp cho nhận diện sự có mặt của từng loài hay từng chủng sinh vật theo địa bàn phân bố của chúng. Như vậy, nhân tố gene cho ta nhận biết sự phân bố của từng loài, từng chủng sinh vật theo không gian.
b/ Trong một loài, một chủng, genes tuy bền vững ổn định nhưng lại có những nhân tố biến đổi qua từng thế hệ theo xu hướng càng xa tổ gốc, càng giảm dần. Dựa vào đặc điểm này, dùng thuật toán thống kê, người ta định ra chỉ số biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) hay chỉ số đa dạng sinh học (F-value) để nhận biết sự phân bố của sinh vật theo thời gian.
Dựa vào công nghệ genes, nhiều nhà nghiên cứu đã khám phá chính xác mối quan hệ nhân chủng trong các cộng đồng dân cư và phát hiện genes di truyền những nhân tố gây bệnh.
Vào thập niên 90 thế kỷ trước, trong khi các nhà khoa học phương Tây đang đi tới hoàn tất việc khám phá bản đổ gene người thì người Trung Quốc cũng rất nhạy bén với thành tựu khoa học mới này. Bằng nguồn kinh phí của Quỹ khoa học tự nhiên, họ đầu tư cho Dự án Ða dạng di truyền người Hán (Chinese Human Genome Diversity Project) với mục đích tìm hiểu nguồn gốc của người Hán và cách chữa trị một vài bệnh di truyền. Nhiều nhà khoa học ở Ðại học Bắc Kinh và Thanh Hoa Thượng Hải hợp tác với đồng bào, đồng nghiệp của họ tại Ðại học Texas bang Huston và Ðại học Cicinnati Hoa Kỳ tham gia Dự án này.
Ngày 29/9/1998 nhóm nghiên cứu đã công bố bản báo cáo gây chấn động giới khoa học nước Mỹ.
Những nét chính của báo cáo như sau:
1. Gs Chu cùng đồng nghiệp thuộc Ðại học Texas phân tích từ 15-30 mẫu microsatellites (mt DNA) để khảo sát sự khác biệt di truyền trong 24 nhóm người Hoa, 4 nhóm người Ðông Nam Á, 2 nhóm thổ dân Mỹ, 1 nhóm thổ dân Úc, 1 nhóm thuộc New Guinea và 4 nhóm da trắng Caucase.
Kết quả phân tích cho thấy:
a. Các sắc dân Ðông Nam Á tập hợp thành một nhóm di truyền.
b. Nhóm dân có đặc tính di truyền gần gũi với dân Ðông Nam Á là thổ dân Mỹ sau đó là thổ dân Úc và New Guinea.
c. Ðặc diểm di truyền của người Hán miền Bắc không giống người Hán phương Nam.
Nhóm nghiên cứu đưa ra mô hình: Các dân tộc Bắc Á được tiến hóa từ Ðông Nam Á và đưa tới kết luận: Tổ tiên các nhóm dân Ðông Á ngày nay có nguồn gốc từ Ðông Nam Á. Kết luận này cũng cho rằng, tổ tiên của những người nói tiếng Altaic ở phía Bắc Trung Quốc cũng từ Ðông Nam Á lên chứ không phải từ ngả Trung Á sang như từ trước vẫn hiểu. (10)
Tuy nhiên, nghiên cứu của nhóm giáo sư Chu có điểm yếu là chỉ dựa vào mtDNA, một nhân tố di truyền rất mẫn cảm nên không bền vững, dễ bị đột biến, có thể dẫn tới kết quả sai lạc.
2. Khắc phục nhược điểm trên, một nhóm nghiên cứu khác dựa trên nhiễm sắc thể Y (Y-chromosome) để khảo sát những đại diện người Hoa ở 22 tỉnh Trung Quốc, 3 nhóm dân Ðông Bắc Á, 5 nhóm Ðông Nam Á (Campuchia, Thái Lan, Mã Lai, Batak, Java) và một số nhóm dân ngoài châu Á.
Kết quả nghiên cứu ghi nhận: Mức độ biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) trong nhóm Ðông Nam Á cao hơn nhóm Ðông Bắc Á.
Khi phân tích di truyền quần thể (population genetics) đã đưa đến kết luận: Con người di cư từ châu Phi sang Ðông Nam Á khoảng 60.000 năm trước và sau đó di chuyển lên Bắc Á, Siberia. Các nhóm dân Polynesian (Ða Ðảo) cũng có nguồn gốc từ Ðông Nam Á.(11)
3. Một nghiên cứu của nhóm khoa học Hàn Quốc: Kim & đồng nghiệp dùng 5 genes trong nhiễm sắc thể Y để khảo sát 2 nhóm dân Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cổ) và Nam Á (Indonesia, Philippine, Thái Lan, Việt Nam) cho thấy người Việt gần với nhóm dân Bắc Á (nhất là Hàn Quốc) hơn là các nhóm dân Nam Á. (12).
4. Trong một nghiên cứu khảo sát tần số biến thiên mtDNA của 153 mẫu vật độc lập từ 7 quần thể châu Á, Ballinger S.W nhận thấy sự đa dạng lớn nhất cũng như tần số cao nhất của mtDNA HpaI/HincII dạng 1 ở người Việt Nam, chứng tỏ nguồn gốc Mông Cổ phương Nam của người châu Á. Ðiều này cũng có nghĩa là Người Việt Nam cổ hơn cả trong các sắc dân Ðông Nam Á (13)
5. Nhà khoa học người Mỹ gốc Hoa Lý Huỳnh (Li Jin) cùng nhóm của ông ở Ðại học Tổng hợp Texas qua công trình khảo sát nhân tố microsatellites lặp lại liên tục trong chuỗi xoắn DNA của 43 nhóm người Hoa phân bố khắp châu Á đưa ra kết luận:
Homo sapiens (người khôn ngoan) từ châu Phi thiên di tới Trung Ðông. Từ Trung Ðông một nhóm men theo bờ biển Nam Á, đến Ðông Nam Á vào khoảng 60-70.000 năm trước. Họ nghỉ ngơi ở đây khoảng 10.000 năm rồi chia tay nhau: 50.000 năm trước đặt chân tới châu Úc, 40.000 năm trước tới New Guinea… Một bộ phận đi tiếp lên phía Bắc, tới Trung Hoa. Từ đây, họ đi xa hơn nữa tới Siberia, băng qua eo biển Bering tới Alasca vào châu Mỹ, thành người thổ dân châu Mỹ. (14)
6. Hai công trình của Peter Savolainen và Jenifer A. Leonard cùng đồng nghiệp, phân tích xương chó cổ tìm được ở Mexico, Perou, Bolivia… thấy rằng các loài chó được đưa vào châu Mỹ trước thời Columbus đều bắt nguồn từ giống chó Âu-Á. Khi nghiên cứu kỹ, thấy tổ tiên chó nhà là chó sói Ðông Nam Á bởi phân tích DNA cho thấy đa dạng di truyền của các loài chó Ðông Nam Á cao hơn nhiều so với loài chó châu Âu. Ðó có thể là từ con chó sói duy nhất được thuần hóa cách nay ít nhất 15.000 năm (15).
Kết luận này cũng phù hợp với phát hiện từ giữa thế kỷ XIX của C. Darwin trong cuốn Nguồn gốc các loài (The Origin of the Species ): tất cả các giống gà nuôi trên thế giới đều có nguồn gốc từ gà rừng Ðông Nam Á. Ðiều này cũng phù hợp với thông báo chúng tôi vừa nhận được từ Gs Nguyễn Văn Tuấn (Garvan Institute of Medical research nước Úc): giống gà chọi nổi tiếng Shumo của Nhật cũng có nguồn gốc Ðông Nam Á.
7. Cũng trong thời gian những thông tin trên công bố thì một cuốn sách gây xôn xao dư luận được phát hành. Ðó là cuốn Ðịa đàng ở phương Ðông của Stephen Oppenheimer. Ông là tiến sĩ khoa Nhi người Anh, từng sống 20 năm ở vùng đảo Ðông Nam Á. Từ nghiên cứu lịch sử, truyền thuyết, ngôn ngữ, xã hội và di truyền ở nhiều nước Ðông Nam Á, ông đưa ra nhiều thông tin mới về vùng đất huyền bí này.
S. Oppenheimer chứng minh rằng, 60.000 năm trước, khi người tiền sử đặt chân tới Ðông Nam Á thì Trái đất đang trong thời biển thoái: mặt nước biển thấp hơn ngày nay 130 met. Khi đó, đồng bằng sông Hồng lan ra tới tận đảo Hải Nam và được đặt tên là lục địa Nanhailand. Cũng thế, vùng Bắc Indonesia lan tới nam đảo Ðài Loan là đồng bằng Sunda, được gọi là lục địa Sundaland. Người tiền sử tới sống ở vùng đất thấp nhiều sông hồ, cây cối rậm rạp kiếm ăn dễ dàng này. Chính từ đây các chủng người gặp nhau, hòa huyết làm nên tổ tiên người Ðông Nam Á. Cũng chính tại đây, công cụ đá, đồ gốm được chế tác, cây lúa và khoai sọ ra đời cùng với những con gà con chó đầu tiên được thuần hóa. Vào khoảng 18.000 năm trước, nước biển bắt đầu dâng mỗi năm 1 cm. Một số nhóm người di cư lên khu vực cao hơn ở phía Tây và làm nên Văn hóa Hòa Bình. Khoảng 8000 năm trước, do nước dâng thật cao, lên tới Việt Trì, lục địa Nanhailand và Sundaland chìm trong nước, đẩy một bộ phận lớn dân Ðông Nam Á di chuyển lên lục địa Trung Hoa tạo nên đồ đá mới ở Trung Quốc.(16) Tổng hợp những nghiên cứu trên đưa tới nhận định sau:
1. Con người từ Ðông Phi thiên di tới Trung Ðông. Từ đây một nhánh men theo bờ biển Nam Á đến lục địa Ðông Nam Á khoảng 70 đến 60.000 năm trước. Nghỉ lại ở đây 10.000 năm sau đó hậu duệ của họ đi lên phía Bắc, tới Trung Quốc, đến Siberia rồi vượt eo Bering đặt chân sang châu Mỹ khoảng 30.000 năm trước. Cũng từ Ðông Nam Á, một nhánh đến Úc vào 50.000 năm trước và đến New Guinea 40.000 năm trước.
2. Hiện tượng người Việt gần người Bắc Á, nhất là Hàn Quốc (nghiên cứu 3) là lẽ tự nhiên vì cộng đồng Bách Việt sau khi khai phá lục địa Trung Hoa đã bị người Hán chiếm đất, buộc phải tràn ra biển, sang Nhật, Hàn Quốc. Người Nhật, người Hàn hiện đại là hậu duệ của người U Việt trong dòng Bách Việt. Với người Hàn còn có yếu tố lịch sử nữa: vào cuối thời nhà Lý, thế kỷ XIII nhiều nhóm thuyền nhân nhà Lý tỵ nạn vượt biển đến Hàn Quốc trong đó có hoàng thân Lý Long Tường dẫn một đoàn di dân hoàng tộc khoảng 500 người sang cả Bắc và Nam Hàn. Qua hơn 700 năm, những thuyền nhân này bổ sung nguồn genes Việt vào dòng máu Hàn.
3. Kết luận người châu Á có nguồn gốc Mông Cổ phía Nam của Ballinger là có cơ sở: Người tiền sử đến Ðông Nam Á gồm hai đại chủng Mongoloid da vàng và Australoid da đen. Trong thời gian dừng chân tại miền đất này, hai đại chủng đã hòa huyết tạo nên chủng Indonesien, Melanesien cùng những chủng trung gian giữa chúng (Nguyễn Ðình Khoa Sđd). Ðấy là kịch bản chung theo đoán định của các nhà nhân chủng học. Tuy nhiên rất có thể xảy ra khả năng sau: một nhóm Mongoloid vì lý do nào đó không hòa huyết với chủng Australoid, đi theo con mồi lên phía bắc Ðông Nam Á và sống biệt lập. Khi thời tiết cho phép, đoàn người này đi lên theo con đường Ba Thục rồi định cư ở tây bắc Trung Quốc thành chủng Mongoloid phương Bắc. Giả thuyết trên được củng cố nhờ công bố của Gs. Ranjan Deka Ðại học Cincinnati, một trong những người tham gia Dự án Ða dạng di truyền người Hán: “Những quần thể từ Ðông Á tới luôn luôn bắt nguồn từ một dòng riêng rẽ, điều này tạo nên nguồn gốc riêng biệt của những quần thể đó.” (Populations from East Asia always derived from a single lineage, indicating the single origins of those populations. Los Angeles Times, September. 29.1998). Do một sự ngẫu nhiên nào đó, một dòng riêng rẽ thuần Mongoloid đi lên phương Bắc rồi định cư ở tây bắc Trung Hoa đã làm nên chủng Mongoloid phương bắc. Có thể tìm thấy dẫn chứng trong khảo cổ học: ” Ðiều khó khăn nhất là rất ít sọ người được tìm ra ở đấy, dù có di chỉ đồ đá ở Mông Cổ (văn hóa Hetao) và ở bắc Trung Hoa vào hậu kỳ đá cũ. Ngoài ba sọ thuộc lớp khảo cổ trên ở trong hang Zhoukoudian xem như thuộc chủng tiền (proto) Mongoloid, người ta chỉ tìm được sọ Liujiang (Quảng Tây). Sọ này có tuổi định khá trẻ (10.000 năm trước), nhưng di vật trong Bailiandong (Bạch Liên động) gần đó lại có tuổi 30.000 năm trước. (17). Không chỉ vậy, khảo cổ học phát hiện xương người 40000 năm trước trên đất Mông Cổ là chứng cứ của việc di cư này. Dù rất hiếm hoi nhưng những dấu vết trên cho thấy: người Mongoloid từ Ðông Nam Á theo hành lang phía tây lên tây bắc Trung Quốc. Việc nghèo nàn di vật cũng nói lên một điều: nhóm người này tuy đi làm nhiều đợt nhưng vì số lượng không nhiều nên chỉ tạo được quần thể thiểu số Mongoloid phương Bắc.
Như vậy, cho dù được gọi là nhóm Mông Cổ phía bắc thì thực chất họ cũng từ Ðông Nam Á đi lên. Ðề xuất của Ballinger S.W hoàn toàn có cơ sở. Rất có thể tổ tiên người Altaic cũng từ Ðông Nam Á đi lên theo cách này?
Cùng thời gian đó, người Bách Việt thuộc chủng Indonesian, Melanesian-sản phẩm hòa huyết giữa hai đại chủng Mongoloid, Australoid và là chủ nhân của văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình đi lên khai phá lục địa Trung Hoa, sống tản mác khắp Hoa lục, từ lưu vực sông Dương Tử tới lưu vực sông Hoàng Hà. Khoảng 2600 năm TCN người Mông Cổ tràn qua sông Hoàng Hà chiếm đất của người Bách Việt. Do người Bách Việt đông mà người Mông Cổ phương Bắc ít nên trong thực tế, cuộc hòa huyết với Bách Việt khiến cho người Mông Cổ phương Bắc bị đồng hóa thành người Mông Cổ phương Nam, tự gọi là Hoa Hạ, nhân tố cầm quyền trong các vưong triều Hoàng Đế. Người thời Ðường Ngu, rồi sau đó là nhà Hạ có bộ gene như vậy. Thành Thang, ông vua đầu tiên của Trung Quốc là người mang gene châu Phi đen từ Ðông Nam Á đi lên, cả đến Lão tử cũng thế. (The Shang, for example, China’s first dynasts are described as having “black and oily skin”. The famous Chinese sage Lao-Tze was “black in complexim”. (Los Angeles Times, September. 29. 1998) (Thang, ông vua đầu tiên của Trung Hoa được mô tả là có nước da đen bóng. Triết gia nổi tiếng Lão tử cũng có màu da đen.)
4. Kết luận của nghiên cứu số 2: Biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) của người Nam Á cao hơn Bắc Á và nghiên cứu số 4: Chỉ số đa dạng sinh học (F-value) của người Việt cao nhất trong nhóm dân Ðông Nam Á . Hai kết luận này cho thấy Người Việt là cư dân lâu đời nhất Ðông Nam Á, cũng có nghĩa là lâu đời nhất ở Ðông Á.
5. Nghiên cứu 6 nói về chó cũng là nói về người bởi những vật nuôi đó không thể tự làm những cuộc hành trình vạn dặm. Chúng là tài sản của con người trong bước thiên di. Ðiều này thêm bằng chứng cho việc người Ðông Nam Á nông nghiệp thuần dưỡng chó và đã tới châu Mỹ ít nhất là 15.000 năm trước.
Như vậy là nhờ cây đũa thần công nghệ gene, khoa học đã giúp giải được bài toán vẫn là mối bận tâm của nhân loại hàng trăm năm nay. Trái ngược với những lý thuyết được cho là kinh điển trước đây, người Ðông Á không phải từ cao nguyên Tây Tạng đi xuống mà từ Ðông Nam Á đi lên. Cũng không phải nước Tàu là trung tâm của thế giới, người Trung Quốc không phải là con trời mà là cộng đồng được sinh ra muộn hơn trong những sắc dân Á Ðông. Văn minh Trung Hoa dù rực rỡ đến mấy cũng là kế thừa của nền văn minh lúa nước Việt tộc huy hoàng trong quá khứ… Cái gì của Caesa phải được trả lại Caesa! Cuốn lịch sử Ðông Á phải viết lại từ đầu.
CHƯƠNG III VỀ CỘI NGUỒN NGƯỜI VIỆT
Từ những dữ kiện nêu trên,
có thể nhận định về cội nguồn người Việt như sau:
Sau khi từ Ðông Phi thiên di tới bán đảo A rập, người Homo sapiens theo bờ biển Nam Á đặt chân đến thềm Biển Đông Việt Nam khoảng 70.000 năm trước. Trong khoảng 10.000 năm dừng chân tại đây, hai đại chủng người tiền sử là Mongoloid và Australoid đã hòa huyết tạo thành bốn chủng người Việt cổ Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid thuộc nhóm loại hình Australoid đồng thời mở rộng địa bàn cư trú ra khắp lục địa Ðông Nam Á .
50.000 năm trước, một số nhóm người di chuyển xuống châu Ðại Dương thành thổ dân Úc hiện nay.
40.000 năm trước, một số nhóm di cư đến New Guinea.
Khoảng 30.000 năm trước người từ lục địa đã tới khắp các đảo lớn ngoài khơi Ðông Nam Á.
Khoảng 40.000 năm trước, khi khí hậu tốt hơn, một số nhóm người Mongoloid sống biệt lập tại phía Tây Bắc Ðông Nam Á, di cư lên phía Bắc theo con đường qua đất Ba đất Thục lên sống ở miền Tây Bắc Trung Quốc thành chủng Mongoloid phương Bắc.
Cùng thời gian đó, nhiều nhóm người Inđonesian, Melanesian di chuyển lên phía Bắc theo con đường duyên hải. Dần dần họ lan tỏa ra khắp lục địa Trung Hoa và một bộ phận lên tới Siberia rồi vượt eo Bering sang châu Mỹ. Cuộc Bắc tiến diễn ra mạnh mẽ nhất vào khoảng 8000 năm TCN khi nước biển dâng cao.
Có thể hình dung kịch bản sau: Người Ðông Nam Á di cư lên phía bắc làm nhiều đợt trong suốt thời gian dài. Những người đi sau thường tìm đến với những người đi trước thuộc dòng tộc gần gũi với mình qua tiếng nói. Họ được người tới trước giúp nơi ăn chốn ở lúc ban đầu cùng những kinh nghiệm sống nơi đất mới. Người mới đến cũng chia sẻ với đồng bào của mình những tiến bộ kỹ thuật mà họ mang theo, như công cụ, các giống cây trồng, vật nuôi từ trung tâm nông nghiệp Hòa Bình… Có một mối liên hệ chặt chẽ như vậy vẫn nối giữa hai vùng.
Tại lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử, người di cư chuyển dần từ săn bắt hái lượm lúc đầu sang trồng lúa nước và chăn nuôi gia súc. Những nhóm người gốc Ðông Nam Á này tạo thành một cộng đồng mà sử sách gọi là Bách Việt. Trong hàng vạn năm sống ở đây, người Bách Việt sáng tạo nên nền nông nghiệp lúa nước, chế tác công cụ đá, đồ gốm rồi đồ đồng, sắt. Người Lạc Việt, nhóm chủ đạo trong dòng Bách Việt lấy vùng Thái Sơn tỉnh Sơn Ðông làm trung tâm. Người Bách Việt bắt đầu hình thành quốc gia lỏng lẻo và tôn Thần Nông là ông vua dạy họ trồng ngũ cốc. Tiếp đó con cháu Thần Nông như Ðế Minh, Ðế Nghi dẫn dắt họ tổ chức cuộc sống, lập nước Xich Quỷ chuẩn bị đối đầu với dân du mục phương Bắc.
Cũng thời gian này, những người ở lại Ðông Nam Á sáng tạo tại quê hương mình nền nông nghiệp lúa nước phát triển, kỹ thuật chế tác gốm và đồ đá sau đó là đồ đồng, sắt.
Khoảng 10000 năm trước, băng hà tan, người Mông Cổ phương Bắc chuyển sang phương thức sống du mục. Mùa khô họ thường đưa dằn mục súc về bờ bắc Hoàng Hà là nơi có nguồn nước và khí hậu ấm hơn. Sự tiếp xúc tự nhiên giữa người Mông Cổ và người Việt diễn ra và những đứa con lai Mông Cổ mang dòng máu Mongoloid phương Nam xuất hiện tại vùng Hoàng thổ. Khoảng 6000 năm TCN, số lượng người Mongoloid phương Nam tăng lên, trở thành chủ nhân văn hóa trồng kê Ngưỡng Thiều,
Cũng thời gian này, một số nhóm Mongoloid trước đây từ thềm Biển Đông men theo bờ biển lên sống ở vùng của sông Dương Tử sống bằng hái lượm và đánh cá. Khi người Việt nông nghiệp mở rộng địa bàn tới vùng này, đã gặp gỡ, hòa huyết với họ, sinh ra người Mongoloid phương Nam, là chủ nhân văn hóa nông nghiệp Hà Mẫu Độ
Vào khoảng năm 2600 TCN, người Mông Cổ vượt sông Hoàng Hà xâm chiếm lãnh thổ của người Bách Việt. Trong trận quyết chiến Trác Lộc, lãnh tụ người Bách Việt Ðế Lai hy sinh. Một bộ phận người Việt trong đoàn quân dân của Lạc Long Quân dùng thuyền theo Hoàng Hà ra biển, di cư xuống phía nam, đổ bộ vào Nghệ Tĩnh. Tại đây Hùng Vương được tôn làm vua, lập nước Văn Lang. Người Hà Mục Độ trong đoàn di tản mang gene Mongoloid phương Nam hòa huyết với người Việt cổ, sinh ra những người Mogoloid phương Nam mới. Với thời gian, đại bộ phận người Việt chuyển hóa thành chủng Mongoloid phương Nam.
Cũng do sự bành trướng của người Mông Cổ, nhiều nhóm Việt khác chũg di tản khỏi Hoa lục, di cư xuống các hải đảo Đông Nam Á.
Khoảng cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, do sự truy đuổi dữ dội của người Hán, một bộ phận lớn người Bách Việt Mông Cổ phương nam di cư ồ ạt trở lại lục địa cũng như vùng hải đảo Ðông Nam Á. Người H’mông-Dao, người Thái-Tày, người Tạng-Mianma… đã trở về như vậy. Người Lạc Việt cũng không ngoài số phận này. Do mối liên hệ sẵn có, nhất là qua tiếng nói mà con cháu của những người di cư hàng vạn năm trước lại tìm về đúng nơi tổ tiên họ đã ra đi. Người Thái tìm về đất Thái gặp lại bà con xa xưa của mình. Người Việt trở về đất Việt với dòng tộc… Những người Mông Cổ phương Nam trở về tạo nên cuộc hòa huyết làm loại hình Indonesien, Melanesien bản địa chuyển nhanh sang loại hình Ðông Nam Á. Sự chuyển hóa đó diễn ra tập trung trên toàn bộ Ðông Nam Á. Chính điều này là nguyên nhân chủ yếu tạo nên bản đồ nhân chủng Ðông Nam Á hiện đại. Các nhà khảo cổ Việt Nam đã tìm ra nhiều địa điểm chứng tỏ có sự cộng cư như vậy mà tiêu biểu là di chỉ mộ táng Mán Bạc Ninh Bình vừa phát hiện đầu năm 2005. Tiến sĩ Marc Oxenham của Ðại học Quốc gia Úc, người tham gia khai quật di chỉ ghi nhận: “Người Việt từ trước thời Ðá mới đã có biểu hiện của giống người Úc châu (Nam Ðảo) hay Ða đảo Melanesian, nhưng người Việt từ thời Ðồng thau đã có biểu hiện đặc trưng của giống người Ðông Nam Á. Sự hiện diện của cả hai nhóm sắc tộc này sát cánh nhau trong khu mộ táng cho thấy đã có sự hỗn hòa giữa hai chủng ở mức độ đáng kể, có thể là đánh dấu những nguồn gốc sớm nhất về dân cư Việt Nam hiện thời, vốn đã từng ổn định khoảng 2000 năm TCN.”(18)
Tới đây, tự nhiên nảy sinh câu hỏi: Vì sao suốt trong hàng vạn năm trước đó, số dân Bách Việt tăng nhanh, phạm vi phân bố mở rộng ra mênh mông, trong khi người Mông Cổ số dân tăng không đáng kể và chỉ loanh quanh mạn Bắc sông Hoàng Hà?
Có thể lý giải điều này bằng 3 nguyên nhân: khí hậu-thổ nhưỡng, phương thức sống và di truyền:
1/ Khí hậu lạnh không tạo thuận lợi cho sinh sản. Dân số tăng chậm không đòi hỏi mở rộng vùng phân bố.
2/ Phương thức sống du mục nên người Mongoloid phương bắc sống bám vào đồng cỏ cao nguyên, không có khả năng chinh phục miền đất ẩm thấp mạn Nam sông Hoàng.
3/ Người Mông phương Bắc mang gen từ tổ tiên Mongoloid thiên di lên theo con đường biệt lập không hòa huyết với chủng người khác, trong bộ gene tương đối thuần của họ mang khả năng sinh sản thấp. Ðiều này còn thấy trong sắc dân Mongoloid phương Bắc hiện đại.
Từ đó có thể rút ra kết luận: việc xuống phía Nam hòa huyết với người Bách Việt mang dòng máu Indonesien, Melanesien và trồng lúa nước mở ra vận hội lớn đối với người Mongoloid phương Bắc, chẳng những đã cứu họ thoát khỏi tình trạng sinh sản thấp như người Mông Cổ đồng chủng mà còn cho họ hưởng nền văn minh nông nghiệp phát triển rực rỡ. Chính hai nhân tố này tạo nên dân số đông đúc cùng văn hóa ưu tú của dân tộc Trung Hoa hiện đại.
Nghiên cứu của Bowen, Hui Li, Daru Lu & đồng nghiệp cho thấy: Trong khoảng 2000 năm trở lại đây, người Hán có 3 đợt tràn xuống phía Nam và trở thành sắc dân đông nhất thế giới, đến 1,2 tỷ người vào năm 2000.(19)
http://khoahocnet.files.wordpress.com/2012/04/3-lc3a0n-sc3b3ng-di-cc6b0.jpg?w=630
Ba làn sóng di cư của người Hán
xuống phía Nam
Từ 1 đến 14: Bắc Hán; 15 đến 28: Nam Hán.
Mũi tên đậm dài: đợt 1, vào thời Tây Tấn (265-316) với khoảng 900.000 người
Mũi tên ngắn: đợt 2, vào thời Ðường ( 618-907) lớn hơn đợt 1.
Mũi tên chấm: đợt 3, đời Nam Tống (1127- 1279), khoảng 5 triệu người.
(hình của Jin Li)
Trên đây là bức tranh khái quát tiền sử Ðông Nam Á diễn ra với hai giai đoạn.
Giai đoạn đầu là cuộc Bắc tiến mang theo rìu đá, giống lúa, khoai sọ, giống gà, giống chó đi mở mang khai thác lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử. Giai đoạn này bị chìm trong bụi thời gian, không được sử sách biết đến, chỉ còn lại ít nhiều dư âm trong truyền thuyết và huyền sử.
Giai đoạn hai, mà sách sử gọi lầm là cuộc Nam tiến, thì thực chất là những dòng người Ðông Nam Á sau hàng vạn năm khai khẩn mở mang vùng đất mới, bị kẻ xâm lấn xua đuổi, trở về mái nhà xưa, trở lại quê gốc của mình.
Tuy là cuộc thua chạy nhưng lớp người Ðông Nam Á mới đã đem về vốn genes làm chuyển hóa nòi giống cùng với những kinh nghiệm và tri thức mới để xây dựng quê hương.
Ðối với người Việt, tình hình như sau:
Khoảng 40.000 năm trước, người Việt từ miền Trung và miền Bắc Việt Nam tiến lên phía Bắc, trở thành nhân tố chủ đạo trong dòng Bách Việt. Khoảng 15000 năm trước, người Việt làm nông nghiệp lúa nước, quần tụ quanh vùng Thái Sơn, sông Nguồn. Tại đây người Bách Việt hình thành quốc gia lỏng lẻo, tôn Toại Nhân, Phục Hy, Nữ Oa, những bậc á thánh làm vua, tiếp sau là Thần Nông Viêm đế. Kế tục Thần Nông là Ðế Minh, Ðế Nghi, Ðế Lai ở phía Bắc và Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân ở phía nam. Thời kỳ này người Hán Mông phía bắc liên tục xâm lấn, thường xuyên xảy ra tranh chấp. Khoảng năm 2600 TCN, trong trận Trác Lộc, Ðế Lai tử trận, người Mông Cổ chiến thắng, tôn Hoàng đế làm vua. Quân Bách Việt thua trận chạy xuống nước Xích Quỷ phía Nam sông Dương Tử. Một bộ phận theo cha Lạc Long Quân chạy ra biển trở về Việt Nam. Phải chăng, những cuộc kịch chiến trên lưu vực Hoàng Hà đã được lưu lại trong truyền thuyết Thánh Gióng? Ðọc truyện này, có một điều không sao giải thích nổi là chi tiết giặc Ân. Trên đất của các vua Hùng, cả chính sử cả huyền sử chưa bao giờ biết tới thứ giặc đó. Vậy giặc Ân là ai mà xuất hiện vào đời Hùng Vương thứ 6? Không sao giải thích nổi! Phải chăng cũng như tục xăm mình, tục ăn trầu được nói là do vua Hùng dạy cho dân, sự tích thiên vương thiên tướng cũng xuất hiện từ trước, bên bờ sông Hoàng Hà? Phải chăng là, vào thời Bàn Canh (1401-1373 TCN) nhà Thương dời đô từ đất Cảnh lầy lội sang đất Ân, lập nên nhà Ân. Nhà Ân mở rộng thêm địa bàn, lấn chiếm đất của Bách Việt với nhiều cuộc kịch chiến, huyền thoại thiên vương ra đời. Khi trở về đất châu Phong, người Việt quên đi nhiều thứ nhưng chuyện đứa trẻ vươn vai thành dũng sĩ lên ngựa đánh giặc cùng kẻ thù là giặc Ân thì hằn sâu trong tâm khảm? Ðể giữ gìn câu chuyện nhiều ý nghĩa này, huyền thoại được bản địa hóa bằng những địa danh như Phù Ðổng, những ao đầm xứ Vũ Ninh? Có lẽ ban đầu, câu chuyện chỉ như ghi trong Toàn thư: đứa trẻ xin vua cho gươm và ngựa. Nhưng sau đó, khi công cụ sắt được phát minh, nhận ra công dụng thần kỳ của sắt, người đương thời đã thêm roi sắt, ngựa sắt vào huyền thoại? Ðấy chỉ là giả thuyết nhưng thiết nghĩ không phải hoàn toàn không có cơ sở!
Ðến nửa cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, trước sức tấn công mạnh mẽ của người Hán, nhiều nhóm Bách Việt đồng loạt chạy về nam.
Theo truyền thuyết, hậu duệ của Lạc Long Quân đưa người Lạc Việt đổ bộ vào vùng Nghệ Tĩnh, tôn người con trưởng lên làm vua, gọi là Hùng Vương, lúc đầu đóng đô ở vùng Ngàn Hống Rào Rum (sông Lam núi Hồng) sau đó chuyển lên vùng Ao Việt, lập nhà nước Văn Lang.
Trở về đất Việt lập nhà nước Văn Lang là các vua Hùng trở về cội nguồn của mình. Do tiếp xúc với người phương Bắc nên có sự hòa huyết với người Hán, người Việt từ nhóm loại hình Indonesien chuyển hóa nhanh thành loại hình Ðông Nam Á. Do phải liên tục chiến đấu chống quân xâm lấn nên người Việt của các vua Hùng trở nên mạnh mẽ và khôn ngoan hơn, làm nòng cột xây dựng nhà nước tuy còn lỏng lẻo nhưng bước đầu xác lập mối quan hệ quốc gia, vượt qua tình trạng bộ lạc.
Trong thời kỳ này nhiều quốc gia khác ở Ðông Nam Á cũng hình thành.
Tới đây có lẽ chúng ta cũng cần giải quyết vấn đề vẫn băn khoăn trong tâm trí không ít người: Người Việt có bị Hán hóa không?
Không biết từ bao giờ nhiều người nghĩ và nói rằng người Việt Nam là dân tộc bị Hán hóa. Ðiều này không chỉ là niềm tin âm thầm trong lòng người dân ít học mà còn trong tín điều của các nhà khoa bảng. Xin đơn cử, trong trả lời phỏng vấn Ðài BBC vào năm 2003 và được phát lại vào tháng 7 năm 2005, nhà sử học hàng đầu của Việt Nam, Trần Quốc Vượng nói: “Tôi đã nói với ông Phạm Văn Ðồng rằng, nước ta bị một nghìn năm Bắc thuộc. Tính cách nào thì cũng một nghìn năm… Trong thời gian ấy, quan lại sang này, rồi lính tráng, vậy thì dân ta bị Hán hóa đứt đuôi!”
Tại sao vậy? Có thể vì thấy người Việt giống người Hán nên từ xa xưa ông bà ta cho rằng, mình là nước nhỏ, lại bị đô hộ hàng nghìn năm bởi một nước lớn dân đông vậy hẳn là bị Hán hóa… Không gì bằng thói quen, các thế hệ Việt cứ hồn nhiên truyền nhau thế. Ðiều mê tín đó sang thế kỷ khoa học còn được một số học giả thực dân bồi đắp. Nhưng đó là quan niệm sai lầm do chưa hiểu quá trình hình thành dân tộc Việt. Một sự ngộ nhận kéo dài không chỉ của người Việt mà cả của giới sử học nước ngoài.
Nói một cách chính xác, khoa học thì người Việt đã trải qua quá trình Ðông Nam Á hóa. Nhà nhân chủng học hàng đầu của Việt Nam Nguyễn Ðình Khoa tổng kết: “Thời đại Ðá Mới, cư dân trên lãnh thổ Việt Nam thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó có Indonesian và Melanesian là hai thành phần chủ yếu… Sang thời Ðồng-sắt, người Mongoloid đã là thành phần chủ thể trong khối cư dân Việt Nam, người Australoid mất dần đi trên đất nước này, hoặc do thiên cư hoặc do đồng hóa.”(Nhân chủng học Ðông Nam Á, sđd)
Như vậy là, vào thời đại vua Hùng, dân cư nước ta có sự chuyển hóa mạnh từ loại hình Australoid sang loại hình Mongoloid phương Nam hay còn gọi là loại hình Ðông Nam Á. Thời đại vua Hùng kết thúc vào năm 257 TCN nên chí ít thì quá trình Ðông Nam Á hóa hoàn tất trước thời An Dương Vương. Khoa nhân chủng học dựa vào so sánh hình thái sọ người Việt cổ, đã xác nhận, việc chuyển hóa sang nhóm loại hình Ðông Nam Á diễn ra vào thời Ðồng-sắt và rộng khắp Ðông Nam Á, từ lục địa tới hải đảo. Sau cuộc chuyển hóa, nhóm loại hình Ðông Nam Á trở nên thành phần chủ đạo trong dân cư Ðông Nam Á. Sự chuyển hóa này diễn ra khắp Ðông Nam Á, cả những nước chẳng hề hị người Hán chiếm đóng dù chỉ một ngày, là bằng chứng hùng hồn phủ nhận việc người Việt bị “Hán hóa”.
Tuy nhiên cho đến những năm 80 thế kỷ trước, nhân chủng học chưa xác định được nguyên nhân sự chuyển hóa này: không hiểu là do di dân hay do đồng hóa? (Nguyễn Ðình Khoa sđd) Ðấy chính là câu hỏi thách đố khoa nhân chủng học không chỉ của Việt Nam mà cả thế giới.
Tới năm 1998 thì điều này được sáng tỏ nhờ công trình của J.Y Chu và đồng nghiệp: Genetic relation of population in China cùng công trình của Bing Su, Jin Li và nhiều người khác dựa trên công nghệ gene phát hiện ra nguồn gốc người Việt. Từ những nghiên cứu này cho ta cơ sở tìm lại sự chuyển hóa về mặt nhân chủng của người Việt diễn ra như sau:
Khoảng 3-4 vạn năm trước, ngưới Bách Việt thuộc chủng Indonesian và Melanesian có mặt khắp lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử. Khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III TCN, người Mongoloid phương Bắc sống du mục ở vùng Tây Bắc vượt Hoàng Hà vào chiếm đất của người Việt. Một bộ phận dân Bách Việt chạy xuống phương Nam, còn phần lớn ở lại chung sống với quân xâm lấn. Tại đây có sự hòa huyết giữa người Mongoloid phương Bắc và người Việt bản địa, tạo ra người Hoa Hạ thuộc chủng Mongoloid phương Nam, tầng lớp cầm quyền trong các vương triều Trung Hoa. Ðến cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, do xung đột dữ dội với người Trung Hoa, một bộ phận lớn người Bách Việt (lúc này đã chuyển hóa thành loại hình Ðông Nam Á) tràn xuống lục địa cũng như hải đảo Ðông Nam Á. Những người này do số đông, đã lai giống với người Indonesian, Melanesian tại chỗ, làm chuyển hóa đại bộ phận dân cư Ðông Nam Á sang chủng Monogloid phương Nam, được khoa học gọi là loại hình Đông Nam Á. Sự kiện này đưa tới kết quả là vào thời đại Ðồng-sắt, loại hình Ðông Nam Á chiếm vị trí chủ thể trong thành phần dân cư phía Nam Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Ðông Nam Á. Chứng cứ của quá trình hóa Ðông Nam Á này ta từng bắt gặp trong những hang động thời Phùng Nguyên có xương người Australoid lẫn với xương người Mongoloid phương Nam. Di chỉ Mán Bạc, Ninh Bình phát hiện năm 2005 với khoảng 30 bộ xương cổ chôn chung trong một nghĩa địa là chứng cứ rõ ràng nhất cho thấy người Việt chủng Mogoloid phương Nam cộng cư với người Việt thuộc chủng Indonesien, ở giai đoạn cuối của sự hòa huyết.
Như vậy, có thể kết luận: việc chuyển hóa đại bộ phận dân cư nước ta sang loại hình Ðông Nam Á là do khối người Việt từ phía nam Trung Quốc di cư trở về lai giống với người Việt tại chỗ. Di truyền học cho thấy, từ trước thời Bắc thuộc, người Hoa ở phía nam Trung Quốc đã có cùng bộ gene di truyền với người Việt. Ðến thời Bắc thuộc, những người Hán sang ta-chủ yếu là người Việt Ðông, Việt Tây và Nam Việt – thực chất họ là người Trung Quốc gốc Việt. Vì vậy không hề có chuyện người Việt bị Hán hóa vào thời Bắc thuộc. Nói người Việt bị “Hán hóa” là sự ngộ nhận vì không khoa học và không đúng với sự thực lịch sử. Trong lịch sử chỉ có quá trình Ðông Nam Á hóa chung cho cả người Hán và người Việt, diễn ra từ giữa thiên niên kỷ thứ III đến cuối thiên niên kỷ thứ II Trước Công nguyên.
Thiết tưởng từ những phân tích trên, chúng ta có một khái niệm chính xác hơn về người Hán. Các sách sử trước đây cho rằng Hiên Viên là thủ lĩnh người Hán đã vượt Hoàng Hà chiến thắng thủ lĩch Bách Việt Si Vưu. Đây chính là lầm lẫn lớn của lịch sử. Thời điểm này chưa hề có “người Hán”. Bởi lẽ nhà Hán chỉ xuất hiện vào cuối thế kỷ I TCN. Những người đánh chiếm đất đai của Bách Việt là tộc Mông Cổ thuộc chủng Mongoloid phương Bắc. Kịch bản diễn ra như sau: đội quân của họ Hiên Viên tuy có mạnh nhưng không đông. Khi xuống đất của Bách Việt, họ bị người Việt Australoid đông đảo bao vây và xảy ra cuộc hoà huyết, tạo thành chủng người mới Mongoloid phương Nam. Chủng người này nhận được những phẩm chất di truyền cùng văn hóa từ gốc du mục và gốc nông nghiệp nên phát triển mạnh, tràn lan khắp Trung Nguyên, lấn chiếm tiếp đất đai của người bản địa đồng thời tăng cường việc lai giống, khiến cho đại bộ phận dân cư trên địa bàn Trung Quốc trở thành chủng Mongoloid phương Nam. Những người này tập hợp trong những quốc gia lỏng lẻo do Hoàng đế, rồi Nghiêu, Thuấn, Vũ… làm thủ lĩnh sau đó hình thành các quốc gia Thương, Chu… Những vương triều tự nhận mình là trung tâm rồi coi những người Mông Cổ nguồn cội phía Bắc là Địch, cội nguồn phía Nam là Man. Cho đến cuối thiên niên kỷ II TCN, người Hán cũng như đại bộ phận dân cư Á Đông đều thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Người Mông Cổ ở phía Bắc trở thành dị chủng. Ngày nay những người này vẫn được gọi là người Hán nhưng có bộ mã di truyền khác với người Hán sống ở trung tâm. Từ nhận thức như vậy, ta nhìn lịch sử Á Đông một cách chuẩn mực hơn.
Tóm lại, chúng tôi đã trình bày một phần về cội nguồn tổ tiên. Sở dĩ chỉ dám nói một phần vì còn một câu hỏi vô cùng bức xúc chưa được trả lời : nhà Triệu có vai trò gì trong lich sử dân tộc Việt?
Từ khi giành lại quyền tự chủ, các triều đại Việt đều đề cao vai trò lịch sử của Triệu Ðà. Nhà Trần phong ông là Khai thiên thế đạo thánh vũ thần triết hoàng đế (Ðại Việt sử ký toàn thư.) Ðại Việt sử ký toàn thư ghi: “Họ Triệu nhân lúc nhà Tần suy loạn, giết trưởng lại nhà Tần, chiếm giữ đất Lĩnh Nam xưng đế, đòi ngang với nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi 100 năm mới mất, cũng là bậc vua anh hùng.” Sử gia Lê Văn Hưu nói: “Thế mới biết, người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là “lão phu”, mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy.” Trong An Nam chí lược, Lê Tắc viết: “Triệu Ðà làm vua Nam Việt, mới lấy thi lễ giáo hóa nhân dân một ít.”(20) Ðiều này chứng tỏ Triệu Ðà là người mang sự học đến nước ta từ trước chứ không phải Sĩ Nhiếp. Ðến nhà Lê, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết: “Trải Triệu, Ðinh, Lý, Trần nối đời dựng nước.” Như vậy, Nguyễn Trãi thừa nhận Triệu Ðà là ông vua đầu tiên của nước ta từ thời có sử.
Hàng ngàn năm, chính sử Việt Nam ghi nhận vai trò lịch sử lớn lao của nhà Triệu. Ðến thế kỷ XVIII, Ngô Thì Sĩ (1726-1780) viết trong Việt sử tiêu án: “Nước ta bị nội thuộc vào nước Tàu từ đời Hán đến Ðường, truy nguyên thủ họa chả Triệu Ðà thì còn ai nữa? Huống chi Triệu Ðà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả thôi. Ðến như việc xướng ra cơ nghiệp đế vương trước tiên, tán tụng Triệu Ðà có công to, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử chép như thế, Ngô Sĩ Liên theo cách chép hẹp hòi ấy, không biết thay đổi, đến như bài Tổng luận sử của Lê Tung, thơ vịnh sử của Ðặng Minh Khiêm thay nhau mà tán tụng, cho Triệu Ðà là bậc thánh đế của nước ta. Qua hàng nghìn năm mà không ai cải chính lại vì thế mà tôi phải biện bạch kỹ càng.” (21) Cho đến nay, trong giới sử học, việc đánh giá Triệu Ðà vẫn có hai luồng ý kiến ngược nhau. Là kẻ ngoại đạo không dám lạm bàn, chúng tôi chỉ xin lục ra một số tư liệu lịch sử hầu bạn đọc tham khảo.
Trong Sử ký, Tư Mã Thiên viết: “Vua Nam Việt họ Triệu tên là Ðà, người huyện Chân Ðịnh, trước làm quan úy. Bấy giờ nhà Tần đã chiếm cả thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận để đưa những người bị đày đến ở lẫn với người Việt. Như thế đã mười ba năm. Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Ðà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương. Ðà bèn tự tôn làm “Nam Việt Vũ đế”, đem quân đánh các ấp ở biên giới quận Trường Sa. Ðà nhân đó dùng uy lực uy hiếp biên giới, đem của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc mình. Ðất đai của Ðà chiều ngang có hơn vạn đặm, Ðà bèn đi xe mui lụa màu vàng, cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là “chế”, chẳng kém gì Trung Quốc.”"Ðến thời Hiếu Cảnh, Ðà vẫn xưng thần, sai người vào chầu. Nhưng trong nước Nam Việt thì vẫn trộm xưng danh hiệu “đế” như cũ; còn khi sai sứ sang thiên tử thì xưng “vương”, triều kiến thỉnh mệnh như các chư hầu.” (22)
Triệu Ðà làm vua 70 năm (từ 207 đến 137 TCN), tiếp đó cháu chắt ông truyền 4 đời trị vì 27 năm nữa, đến năm 111 TCN nước Nam Việt vào tay nhà Hán. Nhà Triệu kéo dài được 97 năm.
Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Ðôn ghi: “Ðem số hộ khẩu chép ở sách Hán chí mà so thì nước ta được ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, hơn 20 huyện, đời Hán số hộ cộng là 143.743 nhà, số khẩu cộng là 981.827 người. Thông tính cả hai tỉnh ấy (Quảng Ðông, Quảng Tây) ở đời Hán số hộ chỉ là 71.805 nhà, khẩu chỉ là 389.672 người. Như thế nước ta ở đời Hán thì số hộ gấp đôi mà số khẩu gần gấp ba.”(23)
Như vậy, vào năm 220 TCN, nhà Tần chiếm đất của người Việt ở phía nam sông Dương Tử và đưa những tội nhân người Hán đến ở chung với người Việt để thực hiện ý đồ lấn đất. Do nhà Tần sụp đổ, thiên hạ đại loạn tạo cơ hội cho Triệu Ðà cát cứ. Tuy xưng vương ở Phiên Ngung nhưng số dân của Triệu ít. Trong khi đó ở phía Nam, nước Âu Lạc của An Dương Vương khá mạnh, số dân gần gấp 3 số dân của Triệu. Bên cạnh Âu Lạc còn có các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc luôn tranh chấp. Nước Âu Lạc tuy lớn nhất trong khu vực nhưng cũng quá nhỏ so với nhà nước phương Bắc. Nếu nhà Tần không sụp đổ đúng thời điểm đó, có nhiều khả năng tằm ăn dâu, nhà Tần sẽ thôn tính đất Nam Việt. Một khả năng khác: trong cuộc chinh phạt Nam Việt trị tội Triệu Ðà xưng đế, nếu tướng Lâm Lư hầu thắng, nhà Hán chiếm Nam Việt ngay lúc đó, có phần chắc Nam Việt cũng bị đồng hóa như các dòng Bách Việt khác. Khả năng thứ ba: nếu Triệu Ðà theo nhà Hán, sau khi thôn tính Âu Lạc, sáp nhập Nam Việt vào Hán thì có phần chắc là Nam Việt bị xóa sổ trên bản đồ!
Nhìn vào thực tế nước Âu Lạc của Thục Phán, ta thấy, Tục Pắn (tên Việt của Thục Phán) là người Ba Thục trốn chạy nhà Tần đến nương nhờ Lạc Việt, đã chiếm ngôi của vua Hùng, lập nên Âu Lạc. Ban đầu Tục Pắn bị xem là kẻ thoán đoạt cướp ngôi nên bị người Lạc Việt chống lại (sự tích xây thành Cổ Loa bị đổ). Nhưng rồi sau do chính sách cai trị khôn ngoan, nhất là sau hai lần đánh thắng Triệu Ðà, đã được nhân dân tín nhiệm. Về cuối đời do mất cảnh giác nên bị Triệu Ðà dùng mưu thôn tính. Ðúng là Triệu Ðà dùng thủ đoạn chiếm nước Âu Lạc nhưng ý nghĩa của sự kiện lịch sử này cần phải bàn. Thời đó, sự liên kết trong mỗi quốc gia còn lỏng lẻo và biên giới từng quốc gia chưa ổn định, đang trong xu hướng sáp nhập, tập trung thành những quốc gia đủ mạnh để tồn tại. Việc Triệu Ðà chiếm Âu Lạc không thể coi là cuộc xâm lược mà là hành động thống nhất những nhóm, những tiểu quốc người Việt lại thành một nước Việt lớn hơn, ngăn chặn hành động thôn tính của kẻ mạnh ở phương Bắc. Ðiều quan trọng là họ Triệu đã duy trì được nước Nam Việt thống nhất trong gần một thế kỷ, vừa xây dựng trong hòa bình vừa kiên cường chống ngoại xâm. Chính điều này đã tạo nên và củng cố tinh thần quốc gia của người Việt. Ðây là di sản quý báu nhất họ Triệu để lại cho người Việt. Chính gần một thế kỷ tồn tại của quốc gia Nam Việt giúp cho người Lạc Việt không bị người Hán đồng hóa và sau này có dịp lại vùng lên trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Năm 43 khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, nhân dân Nam Việt cũ từ miền Trung miền Bắc Việt Nam đến vùng Lưỡng Quảng sang tận Hải Nam đều hưởng ứng, trong khi Vân Nam không có động tĩnh gì… Sau này, khi qua khảo sát ở vùng đất phía Nam Trung Quốc, bác sĩ Trần Ðại Sĩ thống kê được 200 địa điểm có đền thờ Hai Bà Trưng. Không thể có việc này nếu không có thời kỳ Nam Việt.
Triệu Ðà là người Việt nước Triệu, khi Tần chiếm Triệu, ông bị sung vào đội quân Tần xuống phương Nam. Ở đây ông lấy vợ Việt, sống theo phong tục Việt, cai trị nước Việt thời gian dài ngót trăm năm: cai trị bằng tập tục, bằng luật pháp Việt Nam, bằng các quan lại người Việt trong một quốc gia độc lập không hề phụ thuộc phương Bắc. Ðiều này càng chứng tỏ ông là vị vua hợp pháp của một quốc gia độc lập. Nếu không có may mắn một trăm năm Nam Việt ấy, dám chắc người Hán sẽ diệt tiểu quốc của Triệu Ðà sau đó thôn tính Âu Lạc, tộc Lạc Việt đã bị mất hút trong lịch sử như những dòng Việt anh em khác!
Các sử gia như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên… đã nhìn nhận công bằng và Nguyễn Trãi đánh giá họ Triệu một cách chuẩn mực. Sử gia Ngô Thì Sĩ khi viết: “Triệu Ðà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả” đã tỏ ra bất cập. So với quốc gia còn trong tình trạng sơ khai với những lạc hầu lạc tướng cai quản từng bộ lạc thì một quốc gia có quận huyện, biên số thổ địa là bước nhảy vọt về tổ chức hành chính, về khoa học quản lý xã hội. Còn nói “thu thuế má cung cấp ngọc bích cho nhà Hán” cũng không đúng. Suốt 70 năm Triệu Ðà làm vua, quan hệ Việt Hán khá lỏng lẻo. Biết Triệu xưng đế mà nhà Hán đành chịu, không những thế còn phải lấy lòng bằng cách giữ gìn mồ mả tổ tiên của Triệu, cho thân nhân Triệu làm quan (Sử ký). Trong mối quan hệ như vậy, cống phẩm của Triệu Ðà chỉ có nghĩa tượng trưng để xác nhận sự thần phục trên danh nghĩa nên không thể làm đầy túi tham của Lục Giả, không thể so sánh với việc cống người vàng thời Trần-Lê. Thêm nữa, nói đầy túi tham của Lục Giả rất có thể là suy luận võ đoán. Là sứ giả của Hán Vũ đế nhưng Lục sinh là trí thức lớn, một nhân cách lớn. Không chỉ lớn trong cách ứng xử với Triệu Ðà mà sách sử còn truyền câu nói nổi tiếng của ông: “Vương giả dĩ dân vi thiên, dân dĩ thực vi thiên.”(Vua lấy dân làm trời, dân lấy ăn làm trời). Con người như vậy hoàn toàn không phải là Mã Viện với những xe “ý dĩ” tiếng để đời. Rõ ràng, chứng lý đưa ra để kết tội Triệu Ðà là không thuyết phục. Nhưng vì sao Ngô Thì Sĩ lại có cái nhìn việc thiếu chuẩn mực như vậy? Chỉ có thể là, với tinh thần tự tôn dân tộc, ông không chịu một ông vua người Hán tộc (do hiểu lầm lịch sử nước Triệu)! Vì vậy không thể phủ nhận ông là vị vua khai sáng nhà nước Việt Nam chúng ta. Họ Triệu chẳng những có công khai sáng Nam Việt mà ngày càng gắn bó bằng tâm hồn bằng máu huyết với Tổ quốc Việt Nam! Chúng tôi, thế hệ sinh cùng Cách mạng tháng Tám, những ngày sau hòa bình lập lại 1954, học sử Việt Nam, được dạy Triệu Ðà là ông vua khai sáng nước Việt. Nhưng ít năm sau, Triệu Ðà trở thành tên xâm lược, bị lên án trong sách sử. Ðường phố mang tên ông bị đổi tên, đền thờ ông ở Ðồng Xâm, ngôi đền lớn và đẹp vào loại nhất ở Bắc Bộ bị trưng dụng làm kho chứa thóc, hư hại cùng năm tháng. Gần đây lễ hội đền Ðồng Xâm được mở lại nhưng đó là lễ hội ông tổ nghề chạm bạc! Có một nỗi bất bình âm thầm trong lòng người chưa được giải tỏa.
Một câu hỏi cần phải trả lời gấp: Triệu Ðà ông là ai? Người Tàu không nhận ông là Tàu vì ông là Nam Việt hiệu úy. Còn với người Việt ông bị coi là giặc Tầu xâm lược! Vậy ông là ai?!
Ruột bỏ ra da ôm lấy từng là nỗi đau của bao người. Mồ cha không khóc lại khóc đống mối từng là bi kịch của không ít gia đình, dòng họ… Nhưng vì những lầm lẫn mà chối bỏ người khai sáng quốc gia, chối bỏ cả thời đại quan trọng trong lịch sử lại là nỗi đau, nỗi nhục của cả một dân tộc! Ðã đến lúc vụ án Triệu Ðà-Trọng Thủy phải được tính lại.
Thục Phán là ai?
Sách Toàn thư chỉ nói: “Vua họ Thục, húy là Phán, người Ba Thục.” Do quá vắn tắt nên gây thắc mắc trong hậu thế. Vì vậy khi dịch sách, người dịch Toàn thư có chú thích ở cuối trang 6 như sau: “Sách Cương mục tân biên nhận xét: “Nước Thục từ năm thứ 5 đời Thuận Tĩnh vương nhà Chu (316 TCN) đã bị nước Tần diệt rồi, làm gì có vua nữa? Huống chi từ Thục đến Văn Lang còn có đất Kiện Vi (nay thuộc Vân Nam), đất Dạ Lang, Cùng, Túc…cách nhau hàng hai ba ngàn dặm có lẽ nào Thục vượt qua được các nước ấy mà sang đánh Văn Lang?… Hoặc giả ngoài cõi Tây Bắc giáp với nước Văn Lang còn có họ Thục khác mà sử cũ (Toàn thư) nhận là Thục vương chăng? (CMTB tr.9) Hiện nay có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Thục Phán, trong đó có thuyết coi vua Thục là thủ lĩnh của người Âu Việt (hay Tây Âu) ở phía Bắc nước Văn Lang mà trung tâm là vùng Cao Bằng.”
Như vậy, nhân thân của Thục Phán vẫn mù mờ. Ðể phần nào soi tỏ vấn đề này, xin dẫn ra ở đây khảo cứu của học giả Nguyễn Ðăng Thục:
Theo “Hoa dương Quốc chí” q.3 Thục chí: “Vua Vũ nhà Chu đánh vua Trụ cùng với nước Thục. Ðất Thục phía Ðông liền với nước Ba, phía Nam giáp với nước Việt, phía Bắc phân giới với nước Tần, phía Tây gồm núi Nga và núi Phồn, đất ấy xưng là Thiên phủ. Nước Thục giao thông với bên ngoài rất phát đạt. Sự giao thông ấy lấy Ðiền (Vân nam), và đất Kiềm làm chủ yếu, mà sự mở mang đất Vân nam lại hướng vào nước Thục làm trọng tâm để buôn bán mậu dịch. Vân nam với Bắc Việt liền tiếp với nhau, từ thời cổ xưa hai miền giao thông rất thịnh, cho nên thời cổ sự giao thông giữa Tứ xuyên với Bắc Việt chắc chắn là tấp nập. Bấy giờ miền hạ lưu sông Trường giang chưa có ảnh hưởng khai hóa của Hán tộc, mãi đến thời Chiến quốc, dân mà người Hán gọi là Man di phía Tây trong vùng Tứ Xuyên-Bắc Việt, và Tây nam di ở Ðiền, Kiềm (Vân nam, Quý châu ngày nay), nước Tần, nước Sở đang đua tranh vũ lực để thôn tính, kết quả là vua nước Sở Trang Kiêu làm vua Ðiền (Vân nam) nước Tần chiếm lấy nước Ba, nước Thục, nước Kiềm tức Quý châu. Theo Hoa dương Quốc chí q.1 Ba chí viết: “Chu Thuận (Thuyến) làm vua 5 năm (316 tr.T.c) vua nước Thục đánh chúa Tư, chúa Tư chạy vào nước Ba, nước Ba xin nước Tần cứu. Vua Tần Huệ Văn sai Trương Nghi, Tư Mã Thác đi cứu nước Tư, Ba, bèn đánh nước Thục mà diệt đi. Từ Chu Thuận Tĩnh làm vua 5 năm (316 tr. Tây nguyên) nước Thục mất về nước Tần, cho đến Chu Báo làm vua 58 năm (257 tr. Tây nguyên) An Dương Vương là Thục Phán xưng vua ở Việt nam, thời gian cách nhau là 59 năm. Trong khoảng thời gian ấy, người dân nước Thục chịu sự áp bách của thế lực quân sự nhà Tần, tập đoàn chống đối quân Tần dần dần đi xuống phương Nam, đi vào Bắc bộ Việt nam, cùng với vua Hùng Vương nước Văn lang đánh nhau tranh dành. Lúc đầu vì thế lực còn yếu, luôn luôn bị thua, mãi sau mới chinh phục được Văn lang. Và việc An Dương Vương từ nước Thục đi vào nước Việt thì sách sử xưa của Tầu và Việt đều không ghi chép lịch trình tiến triển, nhưng cuộc chiến tranh giữa nước Tần và nước Thục có thể tìm thấy dấu vết ở cuộc thiên di về phương Nam của tập đoàn vương thất nước Thục chống đối với nhà Tần. Hoa dương Quốc chí q.3 mục Thục chí viết: Chu Thuận Tĩnh làm vua 5 năm, quan đại phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Ðô úy Mặc cùng theo đường Thạch ngưu đánh nước Thục. Vua nước Thục từ đất Hạ Manh chống cự, thất bại, vua chạy trốn đến đất Vũ dương bị quân Tần giết hại. Tướng phó cùng thái tử rút lui về Bàng hương chết ở dưới núi Bạch lộc, họ Khai minh mới hết, làm vua nước Thục 22 đời. Lã Sĩ Bằng trong “Bắc thuộc thời kỳ đích Việt nam” suy diễn sự kiện trên đây như sau:
“Xét việc vua Thục bị ở đất Vũ dương, ngày nay là Bái sơn, vị trí ở phía Nam Thành đô, trên bờ sông Manh khoảng giữa đến như Bàng hương núi Bạch lộc ngày nay ở đâu thì không thể tìm xét, chỉ nên hiểu là ở phía Nam núi Bành, thế nhân vì quân Tần từ phía Bắc xuống miền Nam, tập đoàn người Thục chống đối quân Tần bị thua mà hướng phương Nam để thoái lui vậy. Từ đấy về sau 59 năm có lịch sử đích thực là vua Thục Phán làm vua Việt. Chúng ta có thể suy định rằng vua Thục bị hại ở Vũ dương, quan tướng, phó, thái tử đều chết ở núi Bạch lộc, sau đấy đảng vua Thục còn lại mới suy tôn con hay cháu nhà vua lên tiếp tục chạy về phương Nam, theo hạ lưu sông Manh tiến vào khu đất tiếp giáp giữa Quý châu và Vân nam thuộc phạm vi thế lực người Sở.
Nhưng khu đất giao tiếp giữa Quý châu (Kiềm) và Vân nam (Ðiền) thời Hán là Trường kha là đất thủy lão nghèo nàn. Thục vốn là nước Thiên phủ, người Thục khó ở lâu tại đất ấy được, vả lại thế lực quân Tần đang rất mạnh, dòng dõi vua Thục hết hy vọng khôi phục lại đất cũ mới tìm phát triển về phương nam tiến vào đất bình Hùng Vương tranh chiến, nhiều phen thất bại đến đời Chu Bảo vương 518 (257 Tr. C.N) mới chinh phục được Văn lang” (24)
Những chứng cứ vừa dẫn khiến ta hiểu đúng ý của sách Toàn thư: Thục Phán chính là người nước Thục. Việc coi ông là thủ lĩnh bộ lạc người Việt cát cứ ở vùng Cao Bằng là suy đoán không sở cứ. Nhưng điều này cũng không phải không có nguyên cớ: người Thục đã tiến xuống Văn Lang từ mạn Cao Bằng. Ta hãy ghé nhìn vào lịch sử của đất nước từng oanh liệt một thời này:
Theo sử Trung Quốc thì nước Thục được thành lập vào năm 1122 tới năm 122 TCN bị Tần diệt. Năm 1986 người ta tìm được ở Ðồi Ba Sao (Sanxingdui) tỉnh Tứ Xuyên hơn 800 hiện vật trong đó có nhiều đầu người và mặt nạ tuyệt xảo bằng đồng, nổi bật là bức tượng đồng to bằng người thật, cao 1,72 m. Tượng có mắt to và xếch, mũi lớn, lông mày rậm, miệng thật rộng, không thuộc chân dung điển hình của người Hán. Trống đồng nước Thục không mang sắc thái Trung Quốc. Giới khảo cổ Trung Quốc gọi là cổ vật thuộc nhóm dân Ba Thục và xếp chúng vào thời kỳ cuối đời Thương. Tuy nhiên người ta biết rằng nước Thục có từ khoảng 4700 năm trước, sớm hơn đời Thương 1000 năm. Giới khảo cổ cũng phát hiện ở Tây Nam Thành Ðô ngôi đền thuộc cùng nền văn hóa, có tuổi từ 3000 đến 4700 năm trước. Chủ nhân nước Thục là dân cư nông nghiệp, trồng lúa, đánh cá, ở nhà sàn, sử dụng những loại rìu có vai là công cụ đặc trưng của văn hóa Hòa Bình. Có nhiều khả năng họ là nhóm Tây Âu hay Âu Việt trong cộng đồng Indonesian Bách Việt, sau này chuyển hóa thành nhóm loại hình Ðông Nam Á.
Trong 59 năm sau trận Vũ Dương thì Thục Phán là đời thứ 3, là cháu đích tôn của ông vua được quần thần dựng lên trong những ngày gian nan trốn chạy quân Tần. Cha của Thục Phán là Thục Chế nhiều phen đem quân đánh vua Hùng nhưng thất bại. Ở tuổi 20, chàng trai trẻ Âu Việt đã hoàn thành sự nghiệp của ông cha mình. Ðó quả là người anh hùng làm rạng danh tổ tiên.
Về pho tượng nàng Mỵ Châu cụt đầu
Trong khu di tích Cổ Loa có pho tượng người đàn bà cụt đầu mà người ta bảo là tượng nàng Mỵ Châu, chúng tôi không tin vì những lý do sau:
1/ Truyền thuyết Mỵ Châu-Trọng Thủy ghi : Khi nghe thần nói giặc ở sau lưng, nhà vua quay lại thì hiểu ra tất cả, ngài rút gươm chém chết con gái. Máu nàng Mỵ Châu tan vào biển, những con sò… (Ðại Việt sử ký toàn thư). Như vậy là truyện chỉ ghi nhà vua chém chết con gái mà không có nhân chứng vật chứng nào xác quyết chém đứt đầu. Vì vậy người ta không thể xuyên tạc truyền thuyết để làm ra bức tượng!
2/ Chúng tôi không tin là An Dương Vương lúc đó ở tuổi ngoài 70 lại làm một việc bất nhân là chặt đứt đầu con gái vì theo đạo lý, dù phải tội chết đến trăm lần đi nữa thì với trái tim người cha nhân từ, cũng phải cho con được chết toàn thây!
3/ Giả như việc chém đầu là có thật thì chúng tôi cũng không tin là ông cha ta vốn xưng con dân một nước văn hiến, nhân bản lại chọn một hình ảnh bi thảm, ghê rợn nhất trong câu chuyện dựng thành tượng!
Nhưng mới đây xem báo Văn nghệ số 35-36 ra tháng 9 năm 2004 thấy bức ảnh Nhà thơ Rumani Ana đến thăm đền thờ Mỵ Châu tại di tích Cổ Loa trong đó có tượng nàng Mỵ Châu bị cụt đầu tôi bỗng rùng mình kinh hãi! Sau cơn choáng váng, tĩnh trí lại chúng tôi tự hỏi: Tượng Mỵ Châu cụt đầu thể hiện những ý nghĩa gì? Bức tượng cho thấy:
1/ An Dương Vương là ông vua bất nhân bất trí. Họa mất nước chính ông gây nên nhưng lại đổ lỗi cho con gái. Cha giết con đã là vô đạo. Nhưng giết bằng cách chặt đầu thì quả là quá bất nhân!
2/ Người phương Tây có câu nói Không được đánh phụ nữ dù bằng một cành hoa! Trong khi ở ta cha chặt đầu con gái, một việc đại ác lại được tạc thành tượng thờ! Hành động tàn bạo trên đời không kể xiết nhưng chắc chắn không thể tìm thấy trên thế giới này có bức tượng thứ hai kinh dị thế! Thật buồn khi chúng ta khoe điều không tốt đẹp ấy với khách, một nữ sĩ nước ngoài! Thử hỏi khách sẽ nghĩ gì về dân tộc ta?
3/ Tượng không chỉ để thờ mà tượng còn là tác phẩm nghệ thuật. Ðặc trưng của tác phẩm nghệ thuật là đẹp và thiện. Bức tượng này không thể hiện cái đẹp, cái thiện nhưng là vật thờ linh thiêng.
Bức tượng chứng tỏ sự kém cỏi về óc thẩm mỹ cùng đức thiện của cha ông ta – những người tạc tượng và chúng ta – những người ngày nay tôn thờ chiêm ngưỡng tượng!
Ðấy là suy nghĩ ban đầu của chúng tôi. Nhưng khi tìm hiểu kỹ hơn thì thấy sự việc có khác: Cái được gọi là tượng Mỵ Châu thực ra chỉ là khối đá lớn, hình thù kỳ dị như người cụt đầu. Truyện kể rằng: “Mỵ Châu chết hóa thành hòn đá trôi ngược sông về thành Cổ Loa, báo mộng cho dân ra rước về. Rước đến gốc đa thì đá rơi xuống, dân lập am thờ ở đó.” Thật may là đã không có ai tạc pho tượng này. Người ta biến một hòn đá ngẫu nhiên thành vật thờ. Lại một môtip kiểu thần Man Nương chùa Pháp Vân! Một sự việc hoàn toàn mang tính tự phát. Việc làm này trái ngược với truyền thuyết Mỵ Châu -Trọng Thủy. Truyền thuyết nói rằng Trọng Thủy đem Mỵ Châu về chôn ở Cổ Loa. Và thực tế xác nhận: hiện ở Cổ Loa có mộ Mỵ Châu. Một người chết đã có mồ yên mả đẹp thì việc biến thành hòn đá trôi ngược sông về Cổ Loa là vô lý, bịa đặt không thuyết phục. Như vậy tượng cụt đầu được tạo ra không do một cơ sở vững chắc nào mà xuất phát từ lòng tin dị đoan vận vào một vật xuất hiện ngẫu nhiên. Có thể những người biến hòn đá thành tượng Mỵ Châu hiểu ý nghĩa của truyền thuyết Mỵ Châu -Trọng Thủy như một lời răn cảnh giác trước họa mất nước… Suy nghĩ đó tuy đúng nhưng chỉ là một mặt của truyền thuyết. Truyền thuyết có ý nghĩa rộng lớn hơn, sâu xa, minh triết hơn. Ngay cả cái ý Trái tim lầm chỗ để trên đầu nói về Mỵ Châu theo chúng tôi cũng chưa phải thấu nhân tình! Trái tim yêu muôn đời chỉ đập trong ngực. Với cái chết oan nghiệt của mình, đôi trẻ đã trả xong món nợ! Thông điệp của truyền thuyết nói rõ: Các con sò ăn phải máu Mỵ Châu hóa ngọc. Ngọc được rửa bằng nước giếng Trọng Thủy trầm mình thì sáng ra! Minh triết dân tộc đã tha thứ cho đôi trẻ, đã trả lại chất ngọc sáng trong tinh khiết của tình yêu! Ðấy mới chính là bản sắc văn hóa Âu Lạc! Do trình độ còn hạn chế, những người thờ tượng cụt đầu không hiểu được ý nghĩa nhân bản sâu xa, minh triết của truyền thuyết nên đã thờ một hòn đá ngẫu nhiên không phản ánh đúng bản chất của truyền thuyết, cũng có nghĩa là không phản ánh đúng bản sắc văn hóa dân tộc! Mỵ Châu có thể có tội trong việc làm mất ngôi vua của cha mình nhưng là người có công lớn với dân với nước Việt! Dựng một bức tượng như thế khác nào giết oan nàng thêm lần nữa! Khách đến thăm không ít người thấy bất ổn trước pho tượng nhưng vì sợ cái bóng tâm linh nên đành nhắm mắt cho qua! Phải chăng người Việt chúng ta sính tượng nên cái gì cũng muốn cụ thể hóa, vật chất hóa, tượng hóa? Nhưng rồi do bất tài lại ít tiền nên không ít bức tượng trở thành trò cuời, thành nỗi đau! Những bức tượng thô thiển làm nghèo đi, làm tầm thường đi trí tưởng tượng phong phú của con người! Tượng đàn bà cụt đầu là một trong số đó. Bức tượng tồn tại hơn trăm năm nhưng lẽ nào khi kiểm kê hiện vật trong khu di tích người ta không nhận ra? Ðiều này không lạ, vì như một bài viết trên báo Văn nghệ cách đây mấy năm, phát hiện ngay tại Ðền Ngọc Sơn giữa Thủ đô văn vật có nhiều câu đối bị viết sai hoặc đặt trái vế nhưng không được sửa!
Ðể thiết thực kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, chúng tôi xin đề nghị: Ðưa pho tượng người đàn bà cụt đầu ra khỏi đền thờ Mỵ Châu! Bức tượng xa lạ với bản chất dân tộc, phản giáo dục về thẩm mỹ và đạo lý, làm méo mó hình ảnh dân tộc trước bạn bè. Việc này không dễ vì đụng đến thói quen hàng trăm năm. Khi chưa làm được, xin rằng đừng ai đem khoe bức tượng, nhất là với bạn bè quốc tế!
PHẦN HAI: CỘI NGUỒN VĂN HÓA VIỆT NAM
Tìm nguồn gốc tổ tiên là việc vô cùng khó khăn vì thế 2000 năm nay chúng ta không làm nổi. Nhưng suy cho cùng, đó cũng chỉ là công việc của khoa học tự nhiên. Khi khoa học tiến bộ, sáng tạo những phương pháp và công cụ thích hợp, chúng ta cũng hoàn thành công việc mà hàng nghìn năm đành bất lực.
Nhưng tìm cội nguồn văn hóa của dân tộc lại là chuyện khác. Ðó không phải là sản phẩm của tự nhiên nên không thể có “công nghệ gene” thần kỳ nào giúp ta cả. Thêm vào đó, yêu cái đẹp, cái tiện ích là thuộc tính chung của con người. Trong quá trình sống gần hay xa nhau, con người luôn mượn của nhau những cái hay, cái đẹp, cái tiện ích mà mình chưa có. Vì vậy văn hóa các dân tộc hòa vào nhau như nước sông hòa vào nước biển… Tuy nhiên, chỉ duy nhất văn hóa còn lại như một gia tài cuối cùng xác nhận sự có mặt của một dân tộc giữa cộng đồng nhân loại. Vì vậy, dù khó đến mấy cũng phải tìm ra cội nguồn văn hóa của dân tộc Việt. Với dân tộc Việt, do số phận nghiệt ngã của mình, hơn một nghìn năm bị ngoại thuộc, không chỉ văn hóa vật chất bị phá, bị cướp mang đi mà văn hóa tinh thần, văn hóa phi vật thể cũng bị hủy hoại, cướp bóc hoặc bị đánh tráo… Giờ chính là lúc, từ trong gia tài bề bộn ấy cần tìm ra cái nào thực sự của mình, cái nào bị đánh cắp, cái nào người ta gán cho mình. Ðiều đó đánh dấu sự trưởng thành về văn hóa. Chỉ khi nào biết mình là ai, chúng ta mới biết mình cần đi tới đâu!
Ðó là công việc vô cùng khó khăn đòi hỏi tấm lòng, trí tuệ và công sức của cả dân tộc.
Rất may là, lúc này đây, việc tìm ra cội nguồn của tổ tiên giúp chúng ta những chỉ dẫn cần thiết để tìm ra cội nguồn văn hóa dân tộc.
Cho đến nay do bài học từ những học giả Pháp và Trung Hoa, người Việt vẫn đinh ninh rằng, cha ông ta là một đám Tàu lai, bị chính người Tàu xua đuổi từ phía Nam Trung Quốc chạy xuống xâm chiếm đất này, chèn ép thậm chí tiêu diệt người bản địa, lập nên nhà nước Văn Lang… Mặc nhiên, trong tâm tưởng người Việt, nhất là trí thức, mang mặc cảm nặng nề: chúng ta là đám thực dân chiếm đoạt của người bản địa từ lãnh thổ đến lịch sử. Khi giới khảo cổ tìm thấy dưới lòng đất những nền văn hóa xưa rực rỡ, chúng ta cũng vui mừng, cũng tự hào nhưng thế giới cũng như chúng ta biết rằng đó là niềm tự hào vay mượn…
Nay ta biết rằng, tổ tiên ta chính là những người đặt chân trước hết lên Ðông Nam Á, sau đó tiến lên mở mang miền đất mênh mông của nước Trung Hoa, có những người sang chinh phục châu Mỹ. Sau đó, do sự biến chuyển của lịch sử, tổ tiên ta lại trở về mái nhà xưa cùng những người anh em bà con đồng tộc của mình xây dựng nhà nước đầu tiên trên đất nước này. Sự hiểu biết đó cho phép chúng ta tự tin và tự hào chính đáng về tổ tiên về đất nước của mình.
CHƯƠNG IV VĂN HÓA TIỀN SỬ CỦA NGƯỜI VIỆT
Từ những khai quật khảo cổ học, chúng ta biết rằng khoảng 300.000 năm về trước, người cổ đã có mặt trên đất nước ta. Khí hậu nóng và ẩm nhiệt đới không giữ được hài cốt họ nhưng những di vật để lại nơi mái đá Núi Ðọ cho biết trình độ Người vượn Việt Nam ở vào sơ kỳ đồ Ðá cũ. Sau đó là thời kỳ dài tăm tối. Khảo cổ học cho thấy, giống Người đứng thẳng Homo erectus tứ 1,8 triệu năm trước đã từ châu Phi di cư sang châu Á và có mặt từ Indonesia (người Java) tới Việt Nam (Người Núi Đọ), Trung Quốc (người Bắc Kinh). Khoảng 250000 năm trước, họ di cư sang châu Âu và 24000 năm trước bị tuyệt chủng trên đất Israel dưới tên người Neanderthal.
Rồi trên đất cổ Phú Thọ chúng ta phát hiện văn hóa Sơn Vi với công cụ sơ kỳ Ðá Mới là những hòn cuội được ghè đẽo. Di chỉ Thẩm Khuyên có tuổi 32.000 năm thuộc nền văn hóa này. Khảo cổ học Việt Nam nhận định đó là văn hóa đá cuội sớm nhất ở Việt Nam.
Tiếp đó là văn hóa Hòa Bình xuất hiện khoảng 18.000 năm trước.
Trong những nền văn hóa từng có mặt trên đất Việt Nam, văn hóa Hòa Bình có vị trí đặc biệt, được khoa học khảo cổ thế giới xác nhận là trung tâm nông nghiệp và công nghiệp đá cổ nhất thế giới. Trước đây thế giới cho rằng trung tâm nông nghiệp cổ nhất là ở Lưỡng Hà có tuổi C14 là 7000 năm. Nhưng khi phát hiện ra 10.000 năm tuổi của động thực vật được thuần dưỡng tại Hòa Bình thì thế giới chấn động và tâm phục khẩu phục thừa nhận vai trò mở đầu của văn hóa Hòa Bình. Tháng Giêng năm 1932, Hội nghị Khảo cổ học Quốc tế về tiền sử Viễn Ðông họp tại Hà Nội xác nhận: “Văn hóa Hòa Bình là trung tâm phát minh nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp cùng chăn nuôi gia súc đầu tiên trên thế giới. Trung tâm nông nghiệp Hòa Bình có trước vùng Lưỡng Hà 3000 năm.” (Encyclopédia d’Archeologie)
Một phẩm chất nổi trội của văn hóa Hòa Bình là kỹ thuật chế tác đá cuội. Ðá cuội là loại đá cực rắn, nên việc ghè mài chúng rất khó khăn nhưng lại cần thiết cho việc chế tạo những dụng cụ khác như cầy, cuốc, thuổng… bằng đá, những thứ “máy cái” như thường nói sau này. Người Hòa Bình là cư dân dẫn đầu thế giới phát minh ra kỹ thuật này và sản phẩm của Hòa Bình được xuất khẩu đi nhiều nơi. Hòa Bình còn là nơi sớm nhất trên thế giới biết thuần dưỡng cây trồng và vật nuôi. Từ đây, lần đầu tiên trên thế giới cây lúa nước và khoai sọ ra đời.
Học giả Hoa Kỳ W.G. Solheim II, Jorhman, Trương Quang Trực (Trung Quốc) và học giả Nga N. Vavilow thừa nhận: “Ðông Nam Á mà chủ đạo là Việt Nam đã có một nền văn hóa tiền sử phát triển rất sớm, tiên tiến và nhanh chóng, sáng tạo và sống động chưa từng thấy ở nơi nào trên thế giới.”(25)
Học giả Hoa Kỳ C. Sauer viết trong cuốn Ðồng quê: “Ðúng là nông nghiệp đã tiến triển qua hai giai đoạn mà giai đoạn đầu là văn hóa Hòa Bình. Lúa nước đã được trồng cùng lúc với khoai sọ.”(26)
Dường như thấy chưa đủ, ông viết tiếp trong cuốn Cội nguồn nông nghiệp và sự phát tán: Tôi đã chứng minh Ðông Nam Á là cái nôi của nền nông nghiệp cổ nhất. Và tôi cũng chứng minh rằng văn hóa nông nghiệp có nguồn gốc gắn liền với đánh cá bằng lưới ở xứ này. Tôi cũng chứng minh rằng những động vật gia súc xưa nhất bắt nguồn từ Ðông Nam Á, và đây là trung tâm quan trọng của thế giới về kỹ thuật trồng trọt và thuần dưỡng cây trồng bằng cách tái sinh sản thực vật.” (27)
Và đây là ý kiến của ông W.G. Solheim II viết năm 1967:
“Tôi cho rằng khi chúng ta nghiên cứu lại nhiều cứ liệu ở lục địa Ðông Nam Á, chúng ta hoàn toàn có thể phát hiện ra rằng việc thuần dưỡng cây trồng đầu tiên trên thế giới đã được dân cư Hòa Bình (Việt Nam) thực hiện trong khoảng 10.000 năm TCN…”
“Rằng văn hóa Hòa Bình là văn hóa bản địa không hề chịu ảnh hưởng của bên ngoài, đưa tới văn hóa Bắc Sơn.”
“Rằng miền Bắc và miền Trung lục địa Ðông Nam Á có những nền văn hóa tiến bộ mà trong đó đã có sự phát triển của dụng cụ đá mài nhẵn đầu tiên của châu Á, nếu không nói là đầu tiên của thế giới và gốm đã được phát minh…” “Rằng không chỉ là sự thuần hóa thực vật đầu tiên như ông Sauer đã gợi ý và chứng minh mà thôi, mà còn đi xa hơn, nơi đây đã cung cấp tư tưởng về nông nghiệp cho phương Tây. Và sau này một số cây đã được truyền đến Ấn Ðộ và châu Phi. Và Ðông Nam Á còn tiếp tục là một khu vực tiên tiến ở Viễn Ðông cho đến khi Trung Quốc thay thế xung lực này vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, tức khoảng 1500 năm TCN.”(28)
Bốn năm sau, tháng 3/1971 vị giáo sư Ðại học Hawaii này từ những khảo sát ở Thái Lan lại cho in một công trình quan trọng dưới nhan đề Ánh sáng mới dọi vào vùng bị lãng quên:
“Trong mục đích tìm về thời tiền sử ở Ðông Nam Á, chúng tôi cho rằng văn minh Ðông Nam Á phải được trải rộng ra tới những khu vực có các nền văn hóa liên hệ. Từ ngữ tiền sử Ðông Nam Á mà tôi sử dụng chứa đựng hai phần. Phần thứ nhất hay là phần đất chính Ðông Nam Á được trải dài từ rặng núi Tần Lĩnh phía bắc sông Hoàng Hà của Trung Hoa cho tới Singapore và từ miền Ðông Hải tiến về phía tây tới Miến Ðiện, vào tận Assam của Ấn Ðộ. Phần khác được gọi là quần đảo Ðông Nam Á đánh một vòng cung từ quần đảo Andaman ở nam Miến Ðiện tới Ðài Loan bao gồm Indonesia và Philippine.”
“Những chứng cứ từ những địa điểm khảo cổ trong vùng Ðông bắc và Tây bắc Thái Lan, với những phụ họa từ những khai quật ở Ðài Loan, Bắc và Nam Việt Nam, Mã Lai, Philippine và ngay cả từ bắc Australia cho thấy những di tích của những dân tộc đã trồng cây, chế tạo đồ đá, đồ gốm hàng ngàn năm trước các dân tộc sống ở vùng Cận Ðông, Ấn Ðộ và Trung Quốc.”
“Trong một địa điểm khai quật ở bắc Thái Lan, các nhà khảo cổ đã tìm thấy đồng được đúc trong những khuôn đôi vào khoảng từ 2300 đến hơn 3000 năm TCN. Ðó là những chứng cứ cụ thể cho thấy việc đúc đồng ở đây đã có trước cả Trung Hoa hay Ấn Ðộ cũng như vùng Cận Ðông mà tới bây giờ các chuyên gia vẫn còn tin là nơi luyện đồng đầu tiên trên thế giới.”
“Có người hỏi rằng, nếu sự việc này quá quan trọng đến như vậy tại sao vai trò vùng Ðông Nam Á chưa từng được biết đến? Lý do rất đơn giản là rất ít cuộc khai quật khảo cổ được tiến hành trước năm 1950. Các viên chức thuộc địa ít chú ý tới chuyện này. Thêm nữa, những kết quả khảo cổ tìm được đã bị diễn dịch theo giả thuyết văn hóa được phát triển theo chiều hướng đông tiến hoặc nam tiến. Những học giả này cho rằng nền văn minh nhân loại bắt đầu từ vùng Cận Ðông lan ra Ai Cập, tiếp theo là Hy Lạp và La Mã. Nền văn minh cũng đông tiến tới Ấn Ðộ và Trung Hoa. Ðông Nam Á vì quá xa nên chỉ tiếp nhận văn minh sau các vùng trên. Khi phát hiện rằng văn hóa của các nước Ðông Nam Á giống với Trung Hoa và Ấn Ðộ, người châu Âu cho rằng văn hóa hai nước này đã ảnh hưởng đến vùng Ðông Nam Á.”
Wilhem Solheim II viết tiếp:
“Tôi nghĩ rằng những đồ đá sắc cạnh có sớm nhất tìm thấy ở miền Bắc châu Úc 20.000 năm TCN có nguồn gốc thuộc Hòa Bình.”
“Tôi đồng ý với Sauer là những người dân thuộc nền văn hóa Hòa Bình là những người đầu tiên trên thế giới đã thuần hóa cây cỏ ở một nơi nào đó trong vùng Ðông Nam Á. Việc này cũng chẳng làm tôi ngạc nhiên nếu sự thuần hóa này bắt đầu sớm nhất khoảng 15.000 năm trước Công nguyên.”
“Thuyết cho rằng tiền sử Ðông Nam Á đã di chuyển từ phương Bắc xuống, mang theo những tiến triển quan trọng về nghệ thuật. Tôi thấy rằng văn hóa Sơ kỳ Ðá mới (Proto-Neolithic) phía Bắc Trung Hoa gọi là văn minh Yangshao (Ngưỡng Thiều) đã do trình độ thấp văn hóa Hòa Bình phát triển lên từ miền Bắc Nam Á vào khoảng kỷ nguyên thứ VI hay V TCN.”
“Tôi cho rằng, văn hóa sau này được gọi là Lungshan (Long Sơn) mà người ta xưa nay vẫn cho là nó xuất phát ở Yangshao phía Bắc Trung Hoa rồi mới bành trướng sang phía Ðông và Ðông Nam, thì thực ra cả hai nền văn hóa ấy đều phát triển từ căn bản Hòa Bình.”
“Việc dùng thuyền độc mộc có lẽ đã được sử dụng trên các dòng sông nhỏ ở Ðông Nam Á từ lâu, trước kỷ nguyên thứ V TCN. Tôi tin rằng việc di chuyển bằng thuyền ra ngoài biển bắt đầu khoảng 4000 năm TCN, tình cờ đã đi đến Ðài Loan và Nhật Bản đem theo nghề trồng khoai sọ và có lẽ các hoa màu khác.”
“Dân tộc Ðông Nam Á cũng đã di chuyển sang phía tây, đạt tới Madagascar có lẽ vào khoảng 2000 năm TCN. Có lẽ họ đã cống hiến một số cây thuần dưỡng cho nền kinh tế miền Ðông châu Phi.”
“Vào khoảng thời gian ấy có sự tiếp xúc đầu tiên giữa Việt Nam và Ðịa Trung Hải có lẽ qua đường biển. Một số đồ đồng ít thông dụng xác chứng nguồn gốc Ðịa Trung Hải cũng đã tìm thấy ở địa điểm Ðông Sơn.”(29)
Ðể giúp bạn đọc một chút thư giãn, chúng tôi xin chép lại đây đoạn văn mô tả việc làm thuyền độc mộc của người xưa:
“Thoạt tiên người thợ làm thuyền chọn cây sao có kích thước lý tưởng, đường kính từ 80-100cm. Phải là cây đứng trên đất bằng vì tán lá cân đối, cấu trúc gỗ đẹp. Hạ cây đổ, người thợ cả quyết định chặt ngọn, lột vỏ. Từ hai đầu phẳng, chừa ra 50 cm mỗi đầu, đẽo hai mũi thuyền xẻ theo hình lá mây hay đuôi cá. Tiếp đó chặt và tách bỏ 4/10 đường kính thân cây, giữ lại phần sẽ làm khoang thuyền bằng cách chặt vát và tách bằng nêm. Người xưa có lẽ đã dùng loại đục nêm giống những chiếc đục đá ở Bảo tàng Côn Ðảo, giống cách tách gỗ của người da đỏ châu Mỹ.
Lăn nghiêng cây qua, úp lại, kê rồi đẽo phần mạn, phần đáy cho cân đối. Sau đó trở lại kê bằng để đẽo lòng thuyền.
Người thợ cả dùng một cây đinh mồi là cật tre già nướng qua lửa cho thật cứng, dài bằng bề ngang hai ngón tay trỏ và giữa, đóng cách đều khoảng nửa gang tay (10 cm) theo những đường ngang. Mỗi hàng đinh như vậy lại cách nhau khoảng 60-80 cm. Lưu ý là mọi mũi đinh đều hướng vào tâm thân cây. Ðóng rồi thì rút đinh ra. Sau đó đóng những chốt như đinh bằng chính gỗ sao vừa moi ra, thui qua lửa, có đường kính và chiều dài bằng nhau. Những đinh này để làm cỡ khi đẽo bên trong thuyền cho được mỏng đều. Thực chất đó là cách đo ngầm bên trong lòng thuyền.
Việc lấy gỗ từ lòng thân cây thường không dùng rìu mà dùng một công cụ giống như xẻng đào lỗ, máng hơi cong, mặt phẳng, cán tròn dài khoảng 1,2 m để đục chọt ngang và đào tung gỗ bằng loại cuốc đặc biệt giống chiếc cuốc đá Khánh Hòa, cho phép gọt từng lát mỏng đều.
Bí quyết thứ hai của người Mạ và J’ro là nong rộng lòng thuyền. Ðây là kinh nghiệm truyền thống tích lũy từ lâu đời. Những cây đường kính 1 met, người ta có thể căng rộng ra đến 1,5 m.
Công việc này đồng bào Mạ gọi là đố thuyền. Lúc này gỗ còn tươi, chứa nhiều nước nên cũng có thể hiểu như việc hấp hay luộc gỗ cho mềm để dễ kéo căng ra. Họ nâng thuyền lên dàn cao khoảng 1 met, đốt lửa bên dưới, cử hai người trông coi lửa và quan sát thuyền. Người thợ cả chịu trách nhiệm về sự cân xứng của con thuyền. Thuyền được úp xuống, từ đầu tới đuôi được chia làm 4 đoạn, đặt 3 miếng sáp ong rú lớn cỡ 4 ngón tay ở 3 vị trí trên bụng thuyền. Người giữ lửa chú ý quan sát độ nóng chảy của sáp để điều chỉnh nhiệt độ cho nóng đều và tránh ngọn lửa bắt lên cháy thuyền.
Những người khác dùng cây chuẩn bị sẵn để găng, để uốn mạn thuyền. Họ cột hai cây vào phía trong và phía ngoài mạn rồi dùng lực kéo cho mạn thuyền dãn dần ra. Người thợ cả ngắm để chỉnh mức kéo cho đều. Khi đạt yêu cầu thì dùng cây găng lại. Khi thuyền hoàn thành, người ta giữ từ 4 đến 6 cây găng vừa làm xương cho thuyền vững vừa dùng để ngồi. Bằng cách này, người ta làm được những con thuyền độc mộc dài 7-8 m rộng 1,3-1,5 m. Cũng có những chiếc rộng đến 2,5 m. Thuyền độc mộc có thể chở được 2 trâu cày, người chăn trâu và cày bừa, khối lượng tới 3 tấn qua sông. (30)”
Trước đây giới khảo cổ vẫn quan niệm là văn hóa Hòa Bình không có đồ gốm, trong khi đồ gốm nổi tiếng Lapita tìm thấy ở nhiều đảo ngoài khơi Ðông Nam Á, có 3500 tuổi. Nhưng mới đây đã chứng minh được, gốm cổ nhất tìm được ở Việt Nam là gốm Hang Ðắng, tiếp đó là gốm tìm được ở bờ biển Hạ Long, Cái Bèo, Ða Bút, Quỳnh Văn, đến Bàu Tró, Sa Huỳnh… Gốm Lapita có nguồn gốc từ gốm trong hang động ở Thường Xuân, Thanh Hóa, Quỳ Châu (Nghệ An)…là con đẻ của gốm Ða Bút, Quỳnh Văn, Bàu Tró.(31)
Tiếp theo văn hóa Hòa Bình là văn hóa Bắc Sơn mà chủ nhân thuộc về nhóm Indonesian và Melanesian có tuổi từ 8000 đến 6000 năm TCN.
Sau đó là thời đại Đồ đồng bắt đầu từ Phùng Nguyên 4000 năm TCN, trải qua Ðồng Ðậu, Gò Mun… làm nên văn hóa Ðông Sơn vào khoảng 2000 đến năm 111 TCN. Ðây là thời kỳ phát triển rực rỡ của đồ đồng mà tiêu biểu là linh khí của người Việt: trống đồng. Trống đồng tìm thấy trên địa bàn rộng lớn gồm lục địa Ðông Nam Á, từ Tứ Xuyên cho đến Malacca. Niên đại đồ đồng sớm nhất tìm được ở Phùng Nguyên là năm 1850 TCN. Còn đồ đồng tìm được ở Hải Môn Khẩu ở miền Nam Trung Hoa có tuổi 1130 TCN. Ðiều này có thể giải thích là nghề đúc đồng đã từ Ðông Sơn đi lên.
Một đặc điểm là đồ đồng Ðông Sơn rất giống với những đồ bằng đá bằng gốm của Phùng Nguyên, cả về hình dáng lẫn hoa văn: rìu đá hình chữ nhật của Phùng Nguyên trông tương tự những lưỡi rìu bằng đồng thau của văn hóa Ðông Sơn. Những mũi tên đồng Cổ Loa không khác tên bằng đá thời Phùng Nguyên. Kết cấu và hoa văn của thạp đồng Ðào Thịnh hay Hợp Minh tìm được tại vùng đất Phong Châu tuy tinh tế hơn nhưng cũng cùng kiểu dáng và hoa văn trên các thạp gốm thời kỳ Phùng Nguyên.
Khi phân tích thành phần hợp kim trên đồ đồng Phùng Nguyên, các nhà khảo cổ học Việt nam cho thấy: mẫu vật cổ nhất tìm được ở Gò Bông có niên đại 1850 TCN là đồng thau, tức đồng có pha thiếc. Tại Việt Nam cũng như di chỉ Hải Môn khẩu bên sông Dương Tử đều không tìm thấy những vật dụng bằng đồng nguyên chất, tức đồng đỏ. Ðến văn hóa Ðồng Ðậu ở di chỉ Vườn Chuối, kỹ thuật đồng, ngoài thiếc có thêm antimoine. Từ Ðông Sơn về sau, chì được pha thêm làm cho đồ đồng trở nên dai bền hơn. Văn hóa đồng thau đến giai đoạn Ðông Sơn muộn phát triển tới đỉnh cao, làm ra những vật dụng có độ thẩm mỹ tinh tế. Ngày nay, dù nhiều cố gắng nhưng những thợ lành nghề nhất cũng không làm nổi những chiếc trống tinh xảo như thế.
Giáo sư Trung Quốc Lân Thuần Thanh xác nhận: “Bắt đầu khởi đúc trống đồng là ở Trung Quốc Bách Việt mà Hoa Trung là địa khu từ xa xưa của dân Bách Việt. Trống đồng nhiều nhất ở huyện Hưng Văn tỉnh Tứ Xuyên, còn ở bán đảo Ðông Dương thì trống đồng Lạc Việt ở miền Bắc và miền Trung là có tiếng hơn cả. F. Heger gọi trống đồng Lạc Việt thuộc hạng thứ nhất.” (Nguyễn Ðăng Thục bđd). Theo học giả này thì khởi đúc trống đồng là ở Trung Quốc Bách Việt. Ðiều đó chỉ đúng một nửa: Trống đồng ở Trung Nguyên do người Việt đúc. Nhưng khởi đúc thì phải từ Ðông Sơn. Trống Ðông Sơn có trước trống Hưng Văn mà phẩm chất vượt trội.
Không phải ngẫu nhiên mà thời Ðông Sơn trùng với thời lập nước Văn Lang. Nhiều tài liệu nói rằng, vào cuối thiên niên kỷ thứ II tức khoảng sau 1500 năm TCN do sự dồn ép của người Hán, nhiều tộc người trong cư dân Bách Việt sống ở lưu vực sông Dương Tử rời bỏ vùng cư trú trở lại Ðông Nam Á. Người Mianma tìm về đất Mianma, người Thái trở về đất Thái và người Việt về với đất Việt… Từ những kinh nghiệm thu lượm được ở phía Bắc, những người trở về nói với đồng bào mình rằng: thời thế đã thay đổi. Bên cạnh chúng ta đang hình thành những nhà nước hùng mạnh và thiện chiến. Không chỉ xua đuổi chúng tôi mà được thể, họ sẽ tràn xuống chiếm đất của chúng ta. Ðể sống còn, chúng ta không thể duy trì tình trạng bộ lạc mà phải liên kết các bộ lạc lại xây dựng thành nhà nước thống nhất, phải có quân đội, phải rèn vũ khí… Có lẽ các nước Miến, Thái, Việt, Lào, Miên cổ đã được hình thành như thế. Có thể ông W.G Solheim II đúng phần nào khi nói: “Và Ðông Nam Á còn tiếp tục là một khu vực tiên tiến ở Viễn Ðông cho đến khi Trung Quốc thay thế xung lực này vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, tức khoảng 1500 năm TCN.” Nhưng sự thực là, trong khi Trung Quốc chiếm thế thượng phong tạo dựng nền văn hóa mới thì không phải văn hóa Ðông Nam Á lụi tàn. Khi xây dựng được quốc gia trên đất hương hỏa của mình, kết hợp kinh nghiệm tại chỗ cùng với sự khôn ngoan của những người trở về, các tộc người Ðông Nam Á đã đẩy văn minh Ðông Nam Á lên giai đoạn rực rỡ mới, đó là văn hóa đồng thau thời Ðông Sơn. Trống đồng Ðông Sơn lan tỏa ra các hòn đảo ngoài khơi, sang đất Thái Lan. Người Thái Lan cũng làm nên văn hóa đồng đặc sắc của mình. Tại nước Thục phương Bắc cũng có văn hóa đồng thau tinh xảo và sớm hơn cả đồng nhà Thương của người Hán.
Trong 3 cái mốc tạo nên văn minh nhân loại: phát minh ra lúa nước, kỹ thuật hàng hải và xây dựng đô thị thì tổ tiên người Ðông Nam Á, trong đó có Việt Nam chúng ta đã là người đầu tiên sáng tạo ra lúa nước. Tổ tiên ta cũng rất sớm chế ra thuyền vượt biển đi lại trong vùng và giao thương với thế giới.
Vào cuối thời Ðông Sơn, trong sự phát triển chung của khu vực, người Âu Lạc xây dựng thành quách đầu tiên tại bộ Vũ Ninh, sau gọi là thành Cổ Loa. Thành này do tướng quân Cao Lỗ theo sự chỉ đạo của An Dương Vương xây dựng. Ta biết rằng năm 257 TCN, Thục Phán được nước của vua Hùng Duệ vương. Chỉ năm sau ông chủ trương dời đô về Vũ Ninh. Phải nói đây là tư tưởng cách tân rất táo bạo của Thục Phán. Ðiều này chứng tỏ ông có tầm nhìn chiến lược rất xa. Tầm nhìn này phải chăng có được một phần nhờ ông là dòng dõi của nước Thục, một quốc gia mạnh, có nền văn hóa cao lại có nhiều kinh nghiệm trong cuộc chống chọi với nhà Tần? Vì vậy ngay khi lên nắm quyền, chàng trai mới ngoài hai mươi tuổi nhận ra kinh đô Văn Lang của các vua Hùng là sản phẩm của cuộc sống bộ lạc nông nghiệp ổn định, thanh bình, giống như một cái làng, một “chạ cả” vừa không đủ khả năng lãnh đạo đất nước lúc này đã rộng lớn, vừa không thể chống chọi trước sức tấn công của kẻ thù. Chàng nhận ra rằng dời đô là công việc đầu tiên phải làm. Vũ Ninh lúc đó là trung tâm của Âu Lạc mà vùng đông dân hơn, đô hội hơn là Kẻ Dâu nhưng không thể chọn nơi đó đóng đô vì đất hẹp, sông nhỏ không thích hợp cho một kinh đô lớn. Việc chọn Kẻ Lũ (Cổ Loa) là hoàn toàn chính xác.
Trong việc đắp thành, điều khiến ta quan tâm là chọn kiểu thức xây thành. Ở phương Bắc, người thời Chiến Quốc đã xây rất nhiều thành. Các thành của họ đều hình vuông hay hình chữ nhật. Dùng lao động đông đảo và nhiều vật liệu, họ bạt đồi lấp hồ ao để đắp những tòa thành vuông. Trong khi đó, Thục vương dựa trên thực tế mặt bằng của vị trí xây thành đã cho nối những quả đồi thấp ở gần nhau lại, không theo hình dạng nhất định, tạo ra hai vòng thành hình trái lê gần khép nhau ở phía nam. Vòng thành ngoài có chu vi 8000 m, chiều cao trung bình 3-4 m, chân thành rộng 10-12 m. Vòng thành trong chu vi 6500m, cao từ 6-12 m, mặt thành rộng 10 m, chân thành rộng 20m. Cả hai vòng thành chung một cửa Nam. Cách làm này tận dụng tối ưu địa hình nên đạt hiệu quả cao về thời gian, nhân lực cùng vật liệu. Mỗi vòng thành đều có hào sâu ở ngoài, tiếp đó là bãi cắm chông và trồng tre gai, bên trong là lũy cao. Do lũy rất cao nên người Hán gọi là thành Côn Lôn. Tận dụng lợi thế của thiên nhiên là Ðầm Cả và những nhánh của sông Hoàng, trong và ngoài thành còn có đường thủy giúp giao thông thuận tiện và thủy binh tiến lui linh hoạt. Do phải đắp thành qua những đầm hồ nên xử lý móng là vấn đề kỹ thuật quan trọng bậc nhất. Lúc đầu vì chưa đủ kinh nghiệm nên nhiều đoạn thành bị đổ, sau đó học được kỹ thuật cắm kè, dùng gạch ngói vỡ và đá làm móng nên việc xây thành được thuận lợi.
Thực tế cho thấy công hiệu của thành Cổ Loa: Nhâm Ngao nhiều lần tấn công phá thành nhưng đều thất bại. Như vậy là trong việc xây thành lũy đầu tiên của mình, người Việt đã tỏ ra sáng tạo độc đáo. Do vị trí như vậy mà một nghìn năm sau, khi chiến thắng quân Nam Hán, Ngô Quyền chọn Cổ Loa làm nơi đóng đô đầu tiên của nhà nước tự chủ.
Nhân đây xin bàn đôi lời về tòa thành này.
Hồi nhỏ chúng tôi được học: “Thành có hình xoắn ốc nên gọi là thành Cổ Loa.” Rồi quá nhiều lần đọc đâu đó: “Loa Thành là biểu hiện trí tuệ độc đáo tuyệt vời của người Việt về mặt khoa học quân sự mà không nơi nào trên thế giới có được!” Nghe vậy thì biết vậy nào dám cãi, tuy cũng hơi ớn cái giọng vỗ ngực tự phụ kiểu phường tuồng!
Nhưng rồi một lúc nào đó chúng tôi giật mình tự hỏi: Người ta đánh nhau thế nào trong cái thành hình xoắn ốc như vậy? Và nhận ra, chẳng cần hiểu biết lắm về quân sự, cũng thấy được là, chỉ cần tạo một cửa mở, quân địch sẽ như nước lũ ào theo đường xoắn ốc vào chém tướng bắt vua, vì không còn vật gì ngăn giặc! Tường thành lúc này lại trở nên vật cản không cho quân từ ngoài vào cứu! Như vậy, thành hình ốc chẳng phải sáng kiến hay ho gì về khoa học quân sự mà kỳ thực là một cái bẫy tai họa!
Nghi ngờ ưu thế quân sự của Loa Thành dẫn chúng tôi tới nghi ngờ sự tồn tại của một tòa thành hình xoắn ốc. Ðiều này buộc chúng tôi tìm hiểu về cấu trúc của Loa Thành.
Ðược biết, vào những năm 60 thế kỷ trước, Trường Ðại học Tổng hợp Hà Nội khảo sát di tích thành Cổ Loa và công bố những số liệu sau:
Trên hiện trạng di tích, thành có 3 vòng:
- Vòng ngoài hình dạng không cố định, chu vi 8000 m
- Vòng giữa hình dạng không cố định, khuôn theo vòng ngoài, chu vi 6500 m
- Vòng trong hình chữ nhật, chu vi 1650m.
Mỗi vòng thành đều có 3 lớp: hào sâu ở ngoài, lớp rào gai hay chông ở giữa và bên trong là thành đất. Vòng thành ngoài và vòng thành giữa không có hình dạng nhất định, gần như quả lê, phình to mạn bắc, thu hẹp dần về phía nam rồi nối liền nhau, chừa một khoảng trống làm cửa Nam. Vòng thành trong hình chữ nhật, trên mặt thành có 12 ụ lửa (hỏa hồi).
Căn cứ đặc điểm các vòng thành, các nhà khảo cổ kết luận:
- Vòng thành ngoài và giữa do An Dương Vương đắp.
- Vòng thành trong (Thành Nội ) được gọi là Kiển Thành do Mã Viện xây sau khi dẹp xong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
Như vậy là trong vòng 300 năm từ khi xây dựng cho đến khi khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, thành Cổ Loa do An Dương Vương đắp chỉ có hai vòng thành, mỗi vòng gồm ba lớp. Hai vòng thành này cách biệt. Không hề có việc các vòng thành cuộn hình xoắn ốc.
Sau năm 43, Mã Viện cho đắp thành nội hình chữ nhật ở vị trí trung tâm vòng thành giữa, gọi là Kiển thành (thành hình tổ kén). Thành nội cũng có 3 lớp và cũng cách biệt với hai vòng thành bên ngoài. Như vậy, thành Cổ Loa thời Mã Viện có 3 vòng thành cách biệt, thuộc loại hình thành lũy cổ điển, về nguyên lý kiến trúc không có gì khác so với những thành lũy có trước nó.
Từ phân tích trên cho thấy thành Cổ Loa thời An Dương Vương là một thành lũy bình thường không hề có hình xoắn ốc! Vì vậy không thể nói Thành có hình xoắn ốc nên gọi là thành Cổ Loa! Và lẽ đương nhiên, nếu nhìn ra vẻ có hình xoắn ốc thì chính là do Mã Viện xây Thành Nội mà có chứ không phải sáng tạo của An Dương Vương!
Vậy tên Thành Cổ Loa từ đâu ra?
Cuốn sách đầu tiên nói đến thành của An Dương Vương là Nam Việt chí của Thẩm Hoài Viễn thế kỷ thứ 5. Nhưng sách đã mất, người tra cứu chỉ gặp từng đoạn trong những sách khác, đoạn sau do sách Cựu Ðường thư dẫn lại: “An Dương Vương cai trị Giao Chỉ. Thành có 9 vòng, chu vi 9 dặm.”
Tùy thư ghi: “Lý Phật Tử đóng đô ở Việt vương cổ thành.”
An Nam chí lược của Lê Tắc thế kỷ XIV viết: “Thành Việt vương tục gọi là thành Khả Lũ.”
Tới thế kỷ XV, An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng người đời Minh viết: “Việt vương thành ở huyện Ðông Ngạn, còn gọi là Loa thành.” “Có tên Loa Thành vì thành ấy quanh co như hình con ốc.”
Phân tích những lời dẫn trên ta thấy:
1- Nam Việt chí viết không chính xác, đã gộp cả Kiển Thành của Mã Viện vào thành cũ của An Dương Vương. Từ đấy các sách khác viết sai theo.
2- An Nam chí nguyên nói: có tên Loa Thành vì thành ấy quanh co như hình con ốc. Nếu dựa vào hình dạng bên ngoài của thành thì sự ví von của An Nam chí nguyên có thể chấp nhận. Nhưng cách ví von này không có nghĩa An Nam chí nguyên bảo rằng thành có hình xoắn ốc. Cách giải thích “thành có hình xoắn ốc nên gọi là Loa Thành” là sự hiểu lầm ý của sách An Nam chí nguyên.
Thử giải thích tên Loa Thành:
Chúng tôi đoán rằng cái chạ mà An Dương Vương chọn định đô vốn có tên Việt là Kẻ Lủ (có nghĩa là Người Ốc), vì đấy là vùng nhiều ao đầm có lắm ốc. Trong thời Âu Lạc được thay bằng Thành Chủ nhưng Kẻ Lủ vẫn sống trong ký ức người dân. Khi Mã Viện tới, lấy lại tên gọi thời Tần là Thành Côn Lôn. Mỗi khi một thế lực cai trị đến đóng, thành lại được đặt tên cho phù hợp. Ðến thế kỷ XIV, vào thời Lý Phật Tử, thành được lấy theo tên nôm Kẻ Lủ nhưng chuyển sang tên chữ là Khả Lũ. Thời Lý Phật Tử quá ngắn, sau đó thành bị bỏ hoang phế, người dân lại gọi theo tên cũ Kẻ Lủ. Sang thế kỷ XV, Kẻ Lủ được chuyển sang âm Hán Việt là Cổ Loa. Những người làm sách đến thăm thành cũ, theo tên địa phương gọi là Thành Cổ Loa, rồi từ đó chuyển sang Loa Thành.
Tác giả An Nam chí lược, cũng như các tác giả trước đó thấy tòa thành cổ có 3 vòng gồm 9 lớp nhưng không biết vòng Kiển Thành do Mã Viện đắp nên gộp tất cả vào cho An Dương Vương. Nhìn hình dạng bề ngoài tòa thành và nghe tên thành là Cổ Loa rồi vì từ tố loa-ốc đã suy đoán là thành quanh co như con ốc nên gọi là Loa Thành.
Kết quả là từ cuốn sách này làm cho người sau lầm tưởng thành được kiến trúc hình xoắn ốc. Rồi nhân đó những người hoang tưởng cho là biểu hiện trí tuệ độc đáo tuyệt vời của người Việt về mặt khoa học quân sự mà không nơi nào trên thế giới có được!
Họ không biết rằng, thành của An Dương Vương chỉ có 2 vòng, 6 lớp nên không có hình xoáy ốc. Hình xoáy ốc nếu có lại là kết quả việc làm vô tình của Mã Viện!
Ðến thời Hùng Vương, xã hội Việt Nam tổ chức nhà nước dưới hình thức liên bộ lạc. Cả nước chia ra 15 bộ lạc do các lạc hầu, lạc tướng dẫn dắt mà vua Hùng ở vị thế đứng đầu liên minh các bộ lạc. Liên minh các bộ lạc của vua Hùng có luật pháp thống nhất. Tuy nay không còn văn bản nào ghi chép các điều luật đó, chỉ biết, sau khi chiếm lại được Giao Chỉ từ Hai Bà Trưng, Mã Viện tâu với vua Hán là luật Giao Chỉ có 10 điều khác luật nhà Hán cần phải bãi bỏ. Ngoài luật pháp, nhà nước của vua Hùng còn thống nhất ở tâm linh đó là tục thờ vị tổ chung là Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân. Chính vị tổ chung này đã góp phần quan trọng gắn kết các bộ lạc người Việt với nhau.
Ở dưới bộ lạc là đơn vị dân cư cuối cùng: làng chạ. Làng chạ gồm những người gần gũi về huyết thống sống quần tụ với nhau. Trong cộng đồng làng chạ dần hình thành khế ước cộng đồng, hoàn chỉnh dần và trở thành hương ước sau này. Làng chạ là một cộng đồng nông nghiệp tương đối khép kín. Ðiều này làm cho xã hội có xu hương bảo thủ kiểu dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn nhưng mặt khác, nó lại giúp cho việc bảo tồn những sắc thái văn hóa dân tộc trước sự đô hộ lâu dài của ngoại bang. Nhờ vậy, sau nghìn năm mất nước, dân tộc Việt vẫn giữ được bản sắc văn hóa của mình.
Trong văn hóa phi vật thể của người Việt có những tục lệ sau:
Tục xăm mình. Ðại Việt sử ký toàn thư viết: dân xuống sông hồ đánh cá, thường bị thuồng luồng làm hại, tâu với vua. Hùng Vương bảo: thuồng luồng là giống ưa vật giống mình, ghét vật khác mình, vậy hãy lấy mực vẽ vào người cho giống hình nó, thuồng luồng tưởng là họ hàng nên không làm hại. Tục xăm mình có từ đó.
Ðúng là người Việt có tục xăm mình nhưng quy công cho vua Hùng có lẽ không thỏa đáng. Tục này là của những người đánh cá, do sự ngẫu nhiên nào đó thấy những người có vết chàm vết bớt trên người ít bị cá sấu hại (?), người ta bắt chước vẽ hình cá sấu lên người. Dần dần cá sấu trở thành vật tổ, tôn giáo thờ “tô tem” ra đời và giao long, con cá sấu trong các sông rạch đầm lầy trở thành vật tổ của người đánh cá rồi được hình tượng hóa thành con rồng.
Tục xăm mình vì vậy không chỉ của người Việt mà là của cộng đồng cư dân Ðông Nam Á cộng cư với nhau trên vùng đất nhiều sông hồ Hainanland, Sundaland sống bằng nghề đánh cá. Khi chia tay nhau để lên Bắc hay xuống Nam, những tộc người Ðông Nam Á này mang theo đến vùng đất mới khiến cho tục xăm mình phổ biến từ lưu vực sông Hoàng Hà tới tận những hòn đảo xa ngoài khơi Thái Bình Dương, Ấn Ðộ Dương.
Tục ăn trầu cũng hình thành từ rất sớm. Trầu cay, cau chát, vôi nồng tạo sức ấm nóng cho những người mò tôm bắt cá hay cày cấy ngoài đồng xa. Cùng với tục ăn trầu là tục nhuộm răng đen, giữ cho bộ răng chắc khỏe và cũng làm nên cái đẹp của phụ nữ trong quan niệm thẩm mỹ thời đó. Cùng với tục ăn trầu, Truyện Trầu cau cũng không phải là sản phẩm riêng của người Việt mà của chung Ðông Nam Á. Tích Sơn Tinh, Thủy Tinh và Trầu Cau của ta nói về hai người cùng yêu một cô gái với nhiều khúc mắc éo le tương tự như tích Kulabob và Manup của các bộ lạc Nam Ðảo. S. Oppenheimer kể rằng, chuyện tích này rất dài, người ta kể cả ngày, thỉnh thoảng người kể phải ngừng lại để ăn trầu.
Trong cổ tích của người New Guinea, Kulabob được xem là thủy tổ của người nói tiếng Nam Ðảo. Manup là anh, còn em là Kulabob đôn hậu tài ba đã chế ra thuật xăm mình, biết đóng tàu đi biển, lái thuyền đánh cá rất giỏi giang. Một hôm đi săn, Kulabob bắn lạc một mũi tên chạm khắc tinh vi. Lúc đi tìm mũi tên, Kulabob bị chị dâu (vợ Manup) dụ. Cô này giấu mũi tên và nằn nì Kulabob xăm một hình đẹp trên chỗ kín của mình. Kulabob lúc đầu không muốn nhưng rồi cũng phải nghe theo. Hai người ân ái với nhau. Khi người anh khám phá chuyện ngoại tình, đi tìm giết em mình. Hai anh em đánh nhau dữ dội bằng mọi cách kể cả pháp thuật nhưng không phân thắng bại. Cuối cùng để tránh huynh đệ tương tàn, Kulabob làm một chiếc thuyền to bỏ đi về hướng biển cả, chở theo người, cây cối, thú vật và đồ đạc, lập thành các nhóm dân hải đảo Thái Bình Dương. Kulabob là cổ tích gốc của các sắc dân Ðông Nam Á có liên hệ huyết thống. Ði xa nữa, S. Oppenheimer cho rằng cơn đại hồng thủy 8000 năm trước đã đưa người Ðông Nam Á sang tận Trung Ðông và con thuyền Kulabob biến thành thuyền Noah trong kinh Thánh đạo Thiên chúa.
Như vậy là, vào những thế kỷ trước Công nguyên, xã hội Việt Nam đang ở trong một nền văn minh nông nghiệp phát triển. Nhiều sách cổ Trung Quốc ghi lại điều này.
Các sách như Giao Châu ký, Ngô lục địa lý chí, Nam phương thảo mộc trạng… đều ghi chép: “Dân Lạc Việt trồng lúa mà ăn, dùng lá trà làm thức uống.”… “Họ biết uống nước bằng lỗ mũi…”; “Nuôi tằm mà dệt vải…”; “Dùng đất sét đào sâu trong đất, thái mỏng, phơi khô làm thức ăn quý để đi hỏi vợ…”; “Dùng đá màu làm men gốm…”; “Dùng mu rùa mà bói việc tương lai…”; “Họ dùng một khúc tre dài chừng hơn một thước, một đầu có trụ cao làm tay cầm, có dây buộc vào trụ nối lại đàng kia làm đàn gọi là độc huyền cầm…”; “Họ đem tính tình các con vật mà so sánh với người, rồi họ truyền tụng rằng, ngày thứ nhất trời sinh con chuột, ngày thứ hai sinh con trâu, ngày thứ ba sinh con cọp (truyện thần thoại của người Dao, gốc tích của 12 con giáp). Họ biết tìm hiểu các thức ăn nóng mát (thuyết âm dương) để trị bệnh, dùng kim đâm vào da thịt lấy máu để trị bệnh, lấy đá hơ nóng áp vào da thịt để trị bệnh.” Khi một môn đệ đi đến đất Việt, xin Ðức Khổng Tử chỉ dạy, ngài nói: “Người Bách Việt miền nam có lối sống, tiếng nói, phong tục, tập quán, thức ăn uống riêng…”; “dân Bách Việt chuyên làm ruộng lúa mà ăn, không như chúng ta trồng kê và lúa mì. Họ uống nước bằng thứ lá cây hái trong rừng gọi là trà.” Sách Hậu Hán thư quyển 14 viết: “Dân Giao Chỉ biết nhiều nghề thủ công, luyện đúc đồng và sắt…” Sách Cổ kim đồ thư chép: “Mã Viện tâu vua, Giao Chỉ ép mía làm đường phèn: Giao Chỉ có cây mía ngọt. Ðem ép lấy nước rồi làm đường phèn.” “Giao chỉ làm giấy mật hương: bằng lá và vỏ cây mật hương (cây dó) trồng ở Giao Chỉ; giấy mềm, dai, thơm, ngâm nước không bở không nát.” (Nguyễn Thị Thanh. bđd)
Chúng ta biết, người Hán có gốc từ Mông Cổ du mục nên nhà làm theo hình tròn gọi là lều. Trong khi đó người Việt làm nhà sàn hình chữ nhật bằng tranh tre, có mái cong mà mô hình còn thấy trong mộ táng thuộc văn hóa Ðông Sơn 2000 năm TCN. Khi định cư ở Trung Nguyên, dân Hán đã theo mô thức nhà của người Việt.
Khi tìm thấy một số gạch có hoa văn, nhiều học giả Pháp cho đó là hàng nhập về để lát bàn thờ nhưng thực ra đó là gạch lát nền nhà của người Việt thời Lý, Trần tìm thấy tại nhà của Hưng Ðạo vương ở Vạn Kiếp và nay càng thấy nhiều trong khi khai quật Hoàng thành Thăng Long. Một thí dụ khá khôi hài là hơn 50 năm trước, khi Bảo tàng Istanbul Thổ Nhĩ Kỳ trưng bày chiếc bình gốm Hoa Lam cổ (được bảo hiểm 1.000.000 USD) người Tàu và người Nhật đến xem có phải của họ không. Nhưng khi thấy ghi trên bình Thái Hòa bát niên… Bùi Thị Hí bút (niên hiệu Lê Nhân tông, năm 1450) người Tàu bèn nói: “Của một ông thầy Tàu qua rồi làm chơi”(!) Ðến khi phát hiện ra lò gốm men lam Chu Ðậu (Hải Dương) thế kỷ XV với rất nhiều hiện vật thì các “thầy” đành chào… thua một người đàn bà Việt Nam! CHƯƠNG V VĂN HÓA VIỆT TRÊN LƯU VỰC HOÀNG HÀ, DƯƠNG TỬ
“Ban đầu Viêm tộc theo sông Dương Tử vào khai thác vùng Trường Giang là các tỉnh: Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, An Huy, Chiết Giang rồi lần theo bình nguyên Hoa Bắc lên khai thác vùng sáu tỉnh của Hoàng Hà: Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Ðông, Thiểm Tây, Cam Túc. Phía Nam thì tới Việt Giang ngũ tỉnh: Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây, Quảng Ðông, Phúc Kiến. Theo Chu Cốc Thành trong “Trung Quốc dân tộc sử” và một số sử gia khác thì “Bách Việt đã có mặt ở khắp nước Trung Hoa cổ đại trước khi các dòng tộc khác tràn vào.” (32) Những dòng trên là bức tranh quen thuộc mà các sử gia mô tả con đường người Việt vào mở mang vùng đất ngày nay có tên là Trung Quốc. Con đường đó do sử gia E. Aymonier vạch ra vào những năm đầu của thế kỷ trước và nhanh chóng trở thành kinh điển trong các sách sử không những của Việt Nam mà của cả những sử gia Trung Quốc. Các đại học danh tiếng nước Mỹ chép theo. Nhưng thời gian cho thấy sự thật lịch sử đã không diễn ra như vậy bởi lẽ người Bách Việt không phải từ ngọn nguồn sông Dương Tử đi xuống mà ngược lại, từ Ðông Nam Á đi lên.
Con đường người Bách Việt lên phương Bắc có lẽ diễn ra như sau:
Ðặt chân trước tiên lên thềm Biển Đông của Việt Nam 60.000-70.000 năm trước, hai đại chủng Mongoloid và Australoid dừng lại kiếm ăn rồi chung đụng hòa huyết với nhau sinh ra bốn chủng người Việt cổ: Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, thuộc loại hình Australoid. Khi nhân số tăng lên, những đoàn người chia tay nhau xuống phía Nam tới châu Úc và những hòn đảo ngoài khơi. Có đoàn sang phía Tây tới Mianma và Ấn Độ. Những người lên phía Bắc vượt qua địa giới Ðông Nam Á, tới Nam Trung Quốc. Không thể đi xa hơn vì trước mặt họ là bức thành băng hà đóng chặt. Một thời gian đợi chờ đằng đẵng. Phải tới 40.000 năm trước, khi khí hậu được cải thiện, những đoàn người chờ đợi từ lâu đồng hành tiến lên. Từ phía bắc Ðông Nam Á, người tiền sử theo khả năng của mình tiến vào lưu vực sông Dương Tử. Có lẽ do địa hình khá bằng phẳng và môi trường sống thuận lợi nên số người đi theo phía duyên hải đông hơn và tỏa ra: Quảng Ðông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Giang Tô, Chiết Giang. Trong khi đó những đoàn khác từ phía Tây Bắc lần ngược lên ngọn nguồn tới Vân Nam, Tứ Xuyên. Một bộ phận nhanh chân hơn thì lên tiếp miền lục tỉnh Hoàng Hà: Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Ðông, Thiểm Tây, Cam Túc. Phần đông dừng lại trên lục địa mênh mông này. Nhưng một số người không bằng lòng như vậy. Theo bản năng kiếm tìm điều mới mẻ, bản năng khám phá thiên nhiên và cũng có thể một cái gì đó như sứ mạng sai khiến, có những lớp người đi tiếp lên phía Bắc, vượt qua Siberia, qua eo biển Bering lúc này là đất liền để khám phá cho nhân loại một châu lục mới: châu Mỹ. Với thời gian, họ trở thành người da đỏ Indien, người Maya… Khác ta về màu da nhưng từ khi chưa được công nghệ genes soi tỏ, ta cũng nhận ra họ gần gũi mình qua những trang sách của Lévi Strauss: “Những quan sát xã hội học ở sắc dân Caduveo sống tại Tây Bắc Canada cho thấy ở họ có nhiều yếu tố giống người Trung Hoa cổ đại như vai trò quan trọng của phụ nữ hay là việc chú ý đến sự quân bình giữa các nguyên lý khác nhau… Cũng như dân mạn Nam Trung Quốc lại có những nét giống kỳ lạ với một vài sắc dân bên Mỹ (33). Người Trung Hoa cổ đại, dân mạn Nam Trung Quốc là ai nếu không phải người Bách Việt? Như vậy, người Bách Việt đã mang theo văn minh văn hóa Việt đến châu Mỹ!
Khi đã nhìn nhận hành trình như vậy của người Bách Việt hay người Ðông Nam Á cổ, một câu hỏi sẽ đến: Người Bách Việt đã làm được những gì trong thời gian đằng đẵng sống ở phương Bắc?
Rõ ràng là những đoàn người đầu tiên ra đi là những cư dân sống bằng săn bắt hái lượm. Họ du cư trên những con đường vạn dặm: sống trong những hang động gặp trên đường, săn bắt thú, tát cá, gặp gỡ, yêu nhau rồi sinh con đẻ cái. Khi cái ăn khó kiếm, họ lại ra đi. Nhờ trời khi đó rừng còn hoang sơ, sản vật tự nhiên còn nhiều nên con người sống được. Suốt ngày lo kiếm ăn trong cuộc đời vô định, sự sáng tạo lớn nhất của họ chỉ có thể là làm ra những cái rìu bằng đá. Rồi từ rìu làm ra cung nỏ. Một bước nữa là biết lấy dây rừng bện lại để làm lưới đánh cá… Có lẽ 30.000 năm con người đã đi từ Nam lên Bắc trong cuộc sống đơn điệu và chậm chạp như vậy. Chỉ đến khoảng 15.000 năm về trước, khi từ trung tâm Hòa Bình kỹ thuật trồng lúa nước cùng thuần dưỡng những loài gia súc như gà, chó, lợn được truyền tới. Cây lúa nước làm cuộc cách mạng vĩ đại đối với cuộc sống người tiền sử. Lần đầu tiên con người không phải tuốt lúa hoang, lúa ma đem về nghiền rồi nấu chín trong những ống tre. Lần đầu tiên con người không còn phải ngửa tay lượm những quà tặng của thiên nhiên mà tự nuôi sống bằng hạt gạo do chính tay mình trồng cấy. Lần đầu tiên con người nhận ra: hạt lúa gieo xuống đất, chỉ cần chăm sóc thì đến tháng đến ngày nó sẽ cho bông vàng hạt mẩy! Có cấy có trông, có trồng có ăn… cuộc sống ấm no thực sự trong tay mình, không phải trông chờ thiên nhiên bố thí! Con người thấy sức mạnh của mình và giác ngộ: Ta đứng cao hơn tự nhiên! Cây lúa nước, hạt gạo mang đến sự đổi đời! Do phải bỏ công chặt cây, chuyển đá, đắp bờ tạo ra những khoảnh ruộng, con người không dễ dàng bỏ đất mà đi. Cuộc sống định cư bắt đầu. Do sống định cư mà con người rời khỏi hang đá, làm những căn nhà ngày một tiện nghi hơn để ở. Cũng do rảnh rỗi hơn nên con người có thời gian, có tâm trí để mơ mộng để hát ca. Nhạc rồi thơ ca nảy sinh từ đấy. Từ khi gieo hạt giống xuống đất là lúc con người bắt đầu trông trời trông đất trông mây! Chính từ cái việc trông này của văn minh nông nghiệp mà nảy sinh những kinh nghiệm về dự báo thời tiết, về quy luật vận hành của mặt Trời, mặt Trăng cùng các ngôi sao. Những tri thức về thiên văn được tích tụ, từ đó lịch pháp ra đời. Lương thực dồi dào, gà, chó, lợn, trâu bò được nuôi, cuộc sống sung túc hơn. Phú quý sinh lễ nghĩa: con người đối xử với nhau và với thiên nhiên thân ái hơn tốt đẹp hơn!
Nói có sách, mách có chứng, xin bạn đọc vui lòng thưởng thức một đoạn văn của tác giả Nguyễn Quang Trọng, một người Việt sống ở nước ngoài nhưng rất tâm huyết với cội nguồn dân tộc:
“Số chỗ có di tích lúa tìm thấy dọc theo nam sông Dương Tử không những nhiều hơn mà còn rất xưa. Vết tích bữa cơm tiền sử nấu với gạo từ lúa mọc hoang xưa nhất thế giới cách nay 13000 năm được một nhóm khảo cổ Mỹ-Trung Hoa tìm thấy trong hang Diaotonghuan phía nam sông Dương Tử (bắc tỉnh Giang Tây). Cư dân sống trong vùng này biết thử nghiệm các giống lúa và cách trồng trong thời gian dài tiếp theo đó. Ðiều này được nhóm khảo cổ chứng minh qua sự tăng độ lớn phytolith của lúa (phần thực vật hóa thạch, tồn tại nhờ giầu chất silic) lắng trong những lớp trầm tích theo thời gian. Tin này đã được đăng trên báo khoa học hàng đầu thế giới Science năm 1998. Các nhà khoa học nghiên cứu về phytolith này đã chứng minh rằng từ 9000 năm trước dân ở vùng này đã ăn nhiều lúa trồng hơn lúa hoang. Nhóm cư dân bản địa này cũng bắt đầu làm đồ gốm thô xốp bằng đất trộn trấu. Kinh nghiệm về trồng lúa tích tụ tại đây trong mấy nghìn năm đã đưa đến nghề trồng lúa trong toàn vùng nam Dương Tử. Di tích thứ hai, 9000 năm trước là Pentou, gần hồ Ðộng Ðình. Hơn bốn mươi chỗ có di tích lúa cổ hàng ngàn năm đã được tìm thấy ở nam Trường Giang. Di tích văn hóa Hemudu cho thấy văn minh lúa nước trong vùng lên đến trình độ rất cao vào 7000 năm trước. Hemudu là một làng vài trăm người sống trên nhà sàn trong vùng đầm lầy ở cửa sông Tiền Ðường. Dân Hemudu đã trồng lúa, ăn cơm, để lại lớp rơm và trấu dày. Văn hóa Hemudu xưa 7000 năm, có nhiều điểm gần gũi với văn hóa Phùng Nguyên-Ðông Sơn vốn là văn hóa trẻ hơn nhiều (sau hơn 3000 năm). Cư dân vùng nam Trường Giang lúc ấy có lẽ gần với cư dân Bắc Việt về mặt chủng tộc và văn hóa hơn dân cư Bắc Trung Hoa. Khuôn mặt đắp từ sọ người Hemudu trưng bày ở Bảo tàng Hemudu cho thấy họ giống người thuộc chủng Nam Mongolic tức là chủng của người Việt Nam từ thời Ðông Sơn về sau. Sau văn hóa Hemudu, hàng loạt văn hóa lúa nước khác đã sinh ra dọc Trường Giang khoảng 4000 năm trước như Liangzhu, Majiabin, Quinshanyang, Qujialing, Daxi, Songze, Dadunze. (34)”
Thật lạ kỳ, những cọng rơm, những vỏ trấu, những hạt thóc thành than người xưa vô tình để lại đã nói với ta biết bao điều. Nhờ đó mà thời gian xa xôi những nghìn những vạn năm không còn là khoảng tối mênh mông thẳm sâu câm lặng vô hồn mà trở nên gần gũi ấm áp.
Sau lúa nước, người Bách Việt mang theo văn minh đồ đồng tới vùng đất mới.
Luật sư Cung Ðình Thanh trong một chuyên khảo công phu đăng trên tập san Tư tưởng (Australia) viết:
“Khảo sát văn hóa đồng cổ trên khắp đất Trung Hoa, các nhà khoa học thấy có 4 vùng khác nhau: vùng Hoa Nam, vùng Ðông Nam, vùng Tây Nam và vùng phía Bắc.
Ðồ đồng Hoa Nam tìm được ở di chỉ Hải Môn Khẩu có tuổi 1130 năm TCN, cùng thời với đồ đồng Gò Bông Việt Nam, ở Vạn Gia Bá khoảng 760 +/- 130 năm TCN. Người Trung Quốc gọi là đồ đồng cuối thời nhà Thương. Trong thành phần đồng ở đây cũng có chì nên rất gần với đồ đồng Bắc Việt Nam. Căn cứ vào nguồn gốc chủ nhân và lịch sử, chúng ta thấy chúng thuộc cùng một văn hóa Ðông Sơn.
Vùng thứ nhì thuộc trung tâm của nước Trung Quốc ngày nay ra đến bờ biển phía Ðông của các tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, phía tây tỉnh Tứ Xuyên đến Giang Nam, Phúc Kiến, Chiết Giang thuộc vùng các nước Việt, Ngô, Sở thời trước. Nước Sở là nước lớn thời Xuân Thu-Chiến Quốc. Sở không công nhận nhà Chu, lập quốc gia độc lập, có cương vực rất rộng, phía tây ăn vào tỉnh Tứ Xuyên, phía bắc chiếm phần lớn tỉnh Hồ Bắc, phía Nam chiếm trọn tỉnh Hồ Nam. Là một trong số các nước Bách Việt, Sở thôn tính nhiều tộc Bách Việt nhỏ khác nên khi bị nhà Tần chiếm, Sở đã kéo theo nhiều tộc Bách Việt vào lãnh thổ của Tần. Văn hóa đồ đồng của nước Sở rất rực rỡ. Tiêu biểu là cái đỉnh bằng đồng nặng đến 400 kg, chứng tỏ nghề đúc đồng rất tiến bộ. Năm 1963 các nhà khảo cổ Trung Quốc đào được ở Hồ Bắc rồi bên hồ Ðộng Ðình thuộc Hồ Nam nhiều hiện vật đồng gọi là thuộc đời nhà Thương. Thực ra đó là đồ đồng nước Sở thuộc dân Bách Việt. Trong một ngôi mộ ở Trường Sa tỉnh Hồ Nam năm 1974 đã đào được chiếc dao găm đồng hình người, tay chống nạnh, đeo vòng, đầu đội mũ. Loại dao này được giới khảo cổ xếp vào loại hình đồ đồng Ðông Sơn (Trịnh Sinh. Khảo cổ học 1997). Tại Chiết Giang là địa bàn nước Việt thời Câu Tiễn, người ta cũng đào được những rìu xéo mang phong cách Ðông Sơn, là loại rìu có đôi giao long quấn vào nhau, trên cán có bốn người đang chèo thuyền. Nhờ những phát hiện này, giới khảo cổ đã có thể đi đến khẳng định những dao găm tìm được ở Bắc Kinh, Hồ Nam là cùng nguồn gốc với những dao đào được ở Sơn Tây Việt Nam. Năm 1996 người ta đào được chiếc trống đồng ở khu mộ cổ Thượng Mã Sơn huyện An Cát tỉnh Chiết Giang, chiếc trống giống với trống Lãng Ngâm khai quật năm 1973 tại Gia Lương tỉnh Bắc Ninh hay nhiều trống nhỏ hơn tìm được ở Gia Lâm và các nơi khác bên sông Hồng, sông Mã.
Vùng văn hóa đồng thứ ba là khu vực Tứ Xuyên, thời Tam Quốc gọi là Ích Châu, Ba Thục. Nước Thục nằm trên ngã ba đường nối với Bắc Trung Quốc, một nhánh rẽ sang phía Tây để tiếp xúc với phương Tây, phía Nam dẫn về cái nôi văn hóa Hòa Bình (có thể từ con đường này người Mongoloid cổ đã làm cuộc thiên cư lên phương bắc thành người Mông Cổ phương Bắc. HVT). Nhưng rõ ràng, từ đây người Hòa Bình mở nhiều đợt lên phía bắc, vượt núi Ngũ Lĩnh vào lưu vực sông Hoài góp phần tạo dựng nên văn hóa Ngưỡng Thiều. Theo sử sách thì nước Thục được thành lập vào năm 1122 tới năm 122 TCN bị Tần diệt. Năm 1986 người ta tìm được ở Sanxingdui (gò Ba Sao) tỉnh Tứ Xuyên hơn 800 hiện vật trong đó có nhiều đầu người và mặt nạ tuyệt xảo bằng đồng, nổi bật là bức tượng đồng to bằng người thật, cao 1,72 m. Tượng có mắt to và xếch, mũi lớn, lông mày rậm, miệng thật rộng, không thuộc chân dung điển hình của người Hán. Trống đồng nước Thục không mang sắc thái Trung Quốc. Giới khảo cổ Trung Quốc gọi là cổ vật thuộc nhóm dân Ba Thục và xếp chúng vào thời kỳ cuối đời Thương. Tuy nhiên người ta biết rằng nước Thục có từ khoảng 4700 năm trước, sớm hơn đời Thương nhiều. Giới khảo cổ cũng phát hiện ở Tây Nam Thành Ðô ngôi đền thuộc cùng nền văn hóa, có tuổi từ 3000 đến 4700 năm trước. Chủ nhân nước Thục là dân cư nông nghiệp, trồng lúa, đánh cá ở nhà sàn, sử dụng những loại rìu có vai là công cụ đặc trưng của văn hóa Hòa Bình.
Khu vực thứ tư bao gồm vùng Anyang (An Dương) và các tỉnh Sơn Tây, Thiểm Tây. Ðồ đồng vùng này, theo học giả Anderson, có niên đại 1300 năm TCN. Niên đại này muộn nhiều so với đồ đồng Phùng Nguyên sớm (1850 năm TCN) nhưng sớm hơn đồ đồng sớm nhất tìm thấy ở miền sông Dương Tử khoảng 200 năm. Nét đặc sắc là có chì trong hợp kim đồng trong các dụng cụ tìm thấy ở Hsiao Tun, di chỉ có tuổi sớm nhất.
Ðánh giá về đồ đồng của người Hoa, các học giả trước đây cho là đã du nhập từ phương Tây sang nhưng hoàn hảo không kém đồ đồng bất cứ nơi nào trên thế giới. Nghệ nhân đời Thương đã hoàn chỉnh kỹ thuật mà họ học được.
Gần đây người ta cho rằng kỹ thuật đồng người Hoa gần với kỹ thuật Ðông Nam Á hơn là phương Tây (Noel Barnard 1978). Ðiều này phản ánh sự thật là khi chiếm đất của người Bách Việt, người Hoa đã sử dụng nghệ nhân cùng công nghệ đồng cũng như nhiều tiến bộ kỹ thuật khác của dân Viêm Việt.
Một điều kiện làm cho văn hóa đồng thau phát triển rực rỡ tại Bắc Việt Nam và vùng Hoa Nam là do ở đây có nhiều mỏ đồng, chì, thiếc. Trên phần đất của Việt Nam là các mỏ vùng Hưng Hóa, Tuyên Quang, Lào Cai, Bắc Giang, Sơn La, Cao Bằng và Thanh Hóa. Thiếc ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng. Chì ở Thái Nguyên. Mỏ đồng lớn nhất là mỏ Na Ngọ ở Tụ Long mỗi năm sản xuất khoảng 225 tấn. Phía nam Trung Hoa có nhiều mỏ ở Quảng Ðông, Quảng Tây, Vân Nam (35).”
Có một điều khiến ta không thể không suy nghĩ: văn minh sắt đến ngay sau văn minh đồng. Vậy mà trong những di chỉ Bách Việt, từ Ðông Nam Á đến Trung Quốc số lượng đồ sắt lại quá ít, chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Ngay cả ở thời Hùng Vương, khi mà kỹ thuật đồng được đẩy đến độ tuyệt vời tinh xảo thì đồ sắt cũng không được coi trọng, trong khi ai cũng biết được ưu thế hơn hẳn của đồ sắt. Khác với dân Bách Việt, người Hoa Hán phát triển mạnh loại vật liệu mới này để đến thời Triệu Ðà, trở thành vũ khi cấm vận của Lữ hậu chống lại nước Việt. Phải chăng đó là biểu hiện của tính cách Việt, sự hạn chế của văn minh nông nghiệp coi trọng tinh thần coi nhẹ vật chất, sau thời kỳ năng động sáng tạo đã chuyển sang tự mãn bảo thủ? Trong khi dụng công đưa nghệ thuật đồng lên đến tuyệt mỹ của văn hóa tinh thần, của vật thờ thì lại coi nhẹ công dụng hơn hẳn của sắt? Phải chăng đó là dấu hiệu cho thấy văn minh nông nghiệp để mất vị trí tiên phong của mình?
Trong khi người Bách Việt hình như tỏ ra thỏa mãn với nền văn minh nông nghiệp, ung dung tự tại với cuộc sống điền viên tự cấp tự túc no đủ thì biến cố lớn xảy đến: từ phía Bắc sông Hoàng, những người Mông Cổ du mục tràn xuống. Với sức mạnh vũ bão của đoàn quân được tổ chức chặt chẽ, vũ khí tốt, tinh thần chiến đấu cao và rất quen trận mạc, trận quyết chiến Trác Lộc nổ ra. Ðế Lai tử trận, người Mông Cổ chiến thắng đã nhanh chóng chiếm sáu tỉnh phía Nam sông Hà. Họ Hiên Viên phỏng theo sinh hoạt của Viêm tộc mà tổ chức đất nước: chia sáu tỉnh Hoàng Hà thành 9 châu, chọn 4 bộ lạc hùng mạnh là Tứ nhạc để làm chỗ dựa. Viêm tộc một phần bị giết, một phần làm nô lệ, phần còn lại thì sống dưới sự giám sát của Mông tộc. Người bản địa có nước da ngăm đen trong khi người Mông Cổ vốn da sáng hơn, lại sống trong xứ lạnh nên da càng trắng. Để phân biệt, kẻ xâm lăng gọi người bản địa là dân đen (lê dân). Từ này lúc đầu chỉ có ý phân biệt về màu da nhưng sau chuyển sang nghĩa kẻ dưới, thấp kém. Sau khoảng 1- 200 năm, biến cố lịch sử lớn đã chín muồi: người Mông Cổ biến mất khỏi vũ đài, nhường chỗ cho hậu duệ là những con cháu lai mang bộ genes Mogoloid phương Nam. Những nhóm được lai giống đầu tiên – con cháu trực hệ của kẻ xâm lăng – thay cha ông mình thống trị đất nước. Người bị trị chính là những đồng chủng và một phần dân đen (Việt) bản địa. Dân Viêm tộc không cam tâm chịu sự đô hộ, lâu lâu lại nổi lên như vào cuối đời Thiếu Hạo, mãi tới Chuyên Húc mới dẹp yên được. Cuối đời Ðế Cốc dân Miêu Việt lại vùng lên khiến Ðế Chí mất chín năm không thu phục nổi phải nhờ vua Nghiêu mới thắng trận ở Ðan Thủy. Khi vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn, nhiều dân Hoa tộc không phục vì Thuấn người Nam Man, Viêm tộc lại thừa cơ nổi lên trong đó ông Cổn là một trong những lãnh tụ. Vua Thuấn phải dùng giải pháp mạnh, đày số lớn Viêm Việt ra phía tây huyện Ðôn Hoàng, miền địa đầu của Trung Hoa với Tân Cương. Phần bị phân tán thành nhiều bộ lạc nhỏ, phần bị đồng hóa, từ đấy Viêm tộc không còn nổi dậy nữa. Điều này cũng có nghĩa là quá trình Mongoloid phương Nam hoá đã hoàn thành về cơ bản.
Sau chiến thắng Viêm Việt, Hiên Viên được tôn làm vua, gọi là Hoàng đế. Hậu duệ của Hoàng đế là dân lai thuộc chủng Mongoloid phương Nam, đến bây giờ có thể gọi bằng thuật ngữ quen thuộc là Hán tộc. Hán tộc nhận tất cả các phát minh của Viêm tộc làm của mình. Sử Trung Hoa gọi Hoàng đế là người phát minh ra thiên văn, âm nhạc, quần áo, nhà cửa, giao thông, hôn sự, y thuật, nuôi tằm, võ bị, chính trị..
Hoàng đế truyền bảy đời tới vua Thuấn 2697-2205 TCN
Nhà Hạ vua Ðại Vũ truyền 17 đời tới vua Kiệt 2205- 1783 TCN
Nhà Thương: Vua Thành Thang truyền 28 đời tới vua Trụ 1783-1134 TCN
Nhà Chu: truyền 37 đời tới Ðông Chu 1134-247 TCN.
Từ ngày lục tỉnh mạn nam Hoàng Hà bị chiếm, số phận các nước bị gọi là tứ hung bên ngoài luôn bị đe dọa. Sau này Ðông Di (Sơn Ðông) bị nước Tề đồng hóa. Bắc Ðịch (Sơn Tây, Hà Bắc) bị các nước Tấn, Yên kiêm tính. Riêng Tây Nhung trở lại sống du mục. Do sự tranh chấp trong khu vực, Tây Nhung đã chiếm được đất Quan Trung dựng lên nước Tần, gốc nông nghiệp Viêm tộc nhưng theo đời sống du mục đã trở nên hung hãn. Còn Nam Man ở mạn Trường Giang bị người Hoa chèn ép nên di cư lần xuống phía nam. Sang đầu công nguyên chia làm 6 bộ lạc là Lang Khung, Thi Lăng, Ðàng Ðạm, Việt Tích, Mông Tuấn, Mông Xá. Những khi Trung Hoa có biến, họ thường vào quấy phá như hồi Hán Mạt, Ngũ Hồ, Tàn Ðường… Vua Ðường Huyền Tôn phải cắt đất để mua lòng họ. Năm Khai Nguyên thứ 26 (738) phong cho Bì Lai Cap làm Vân Nam vương đóng đô ở Côn Minh. Từ đấy họ dọc ngang năm tỉnh Việt Giang, nước ta cũng chịu một phần cướp phá cho đến năm 866 Cao Biền mới dẹp yên.
Viêm tộc ở các tỉnh lưu vực sông Trường Giang mà người Hán gọi chung là Ðông Nam man thì khai thác vùng hồ Ðộng Ðình, Bành Lãi. Khoảng năm 2897 TCN tù trưởng các bộ lạc Bách Việt ở đây xưng là Kinh Dương Vương, lấy Thần Nông làm tổ. Họ Mễ là họ rất lớn của nước Việt cũng như nước Sở sau này gọi là Hùng Vương. Ở khu vực này dân Bách Việt lập ra ba nước Sở, Ngô, Việt cùng một nguồn gốc tổ tiên xưa nhưng vì ý thức quốc gia chưa đủ mạnh nên ba nước đánh nhau liên miên và tiêu diệt lẫn nhau. (36).
Qua biến động lịch sử kể trên, có thể rút ra nguyên nhân thất bại của Bách Việt:
- Sống rải rác khắp 18 tỉnh, dân cư thưa thớt, không thể chống đoàn quân du mục tập trung hùng mạnh.
- Bách Việt còn trong tình trạng bộ lạc hay thị tộc, chưa có ý thức quốc gia nên thường xung đột nhau.
- Viêm tộc làm nông nghiệp định cư sớm nên khả năng võ bị kém.
Từ những nguyên nhân dẫn đến thất bại của người Bách Việt, ta có thể nói rằng, thời thế đã đổi thay: từ phương thức sống từng bộ lạc phân tán hay những liên minh bộ lạc lỏng lẻo, nhân loại bước vào giai đoạn mới, hình thành những quốc gia. Nhiều thế lực nổi lên tranh giành nhằm thâu tóm đất đai, nhân số dựng nên những quốc gia làm tăng quyền lực của giai cấp lãnh đạo đồng thời cũng đưa lại cho dân chúng điều kiện sống mới, văn minh hơn. Trong cuộc tranh đấu này, văn minh nông nghiệp đã thua sức mạnh của văn minh du mục. Và khi thâu tóm được tiềm năng dồi dào của văn minh nông nghiệp về nhân lực, về kinh tế và văn hóa, nền văn minh du mục vốn năng động và được tổ chức tốt đã đẩy lịch sử tiến lên một bước mới. Trung Quốc trở thành động lực mới thúc đẩy nền văn minh trong vùng vào thời gian giữa thiên niên kỷ thứ II trước Công nguyên.
Hôm nay, vào những năm đầu của thiên niên kỷ thứ III, nhìn về hàng vạn năm trước, ta thử xem ngoài những chiếc rìu bằng đá cuội, cây lúa nước và văn minh đồng, người Bách Việt để lại những gì cho văn hóa nhân loại?
Cùng với những văn hóa vật thể kể trên, trong hàng vạn năm duy trì một xã hội nông nghiệp ổn định, người Bách Việt cũng sáng tạo nên nền văn hóa phi vật thể phong phú.
- Người Việt ưa hát múa, sáng tác nhiều ca dao, dân ca sau này được sưu tập cho vào kinh Thi.
- Âm nhạc phát triển với bát âm, ngũ cung. Có nhiều loại đàn độc đáo như đàn đá, khèn bầu, đàn bầu. Sau này được tập hợp thành kinh Nhạc.
- Nhiều tục thờ cúng và lễ hội dân gian: thờ trời đất, ông bà tổ tiên, thờ thần lúa, hội mùa, hội xuân.
- Người già được tôn trọng, là vốn quý tích lũy nhiều kinh nghiệm, là sự minh triết của cộng đồng.
- Tích lũy nhiều kinh nghiệm về thời tiết về cây trồng mà bà Nữ Oa là bậc thầy có tài đội đá vá trời (cách nói hình tượng của việc quan sát nắm vững thời tiết), những kinh nghiệm về đối xử với thiên nhiên, với hàng xóm láng giềng. Từ những vết chân chim in trên phù sa, cha ông ta làm ra chữ viết: chữ kết nút, chữ hình con nòng nọc (chữ Khoa đẩu), chữ hình ngọn lửa (Hỏa tự), chữ tượng hình, tiền thân của chữ vuông ngày nay bà dùng mu rùa bói toán….
Có lẽ dấu ấn văn hóa sâu sắc nhất mà cộng đồng Bách Việt để lại trên nước Trung Hoa cổ cũng như toàn bộ Ðông Á là nếp sống hài hòa giữa con người với nhau và với thiên nhiên. Người Việt cổ quan niệm thiên nhiên là vật thể sống, có linh hồn nên cần được tôn trọng: địa linh nhân kiệt. Cuộc sống là sự hài hòa, quân bình giữa những nguyên lý khác nhau: giữa sáng và tối, nóng và lạnh, giữa lý và tình vì thế những biểu hiện cực đoan bị tiết chế: không ai nắm tay đến tối gối đầu đến sáng! Không ai giầu ba họ không ai khó ba đời! Trí khôn của cộng đồng là trí khôn tập thể: khôn độc không bằng ngốc đàn. Tuy vậy vai trò cá nhân cũng được đánh giá cao: một người lo bằng kho người làm. Trong cộng đồng, vai trò quan trọng của người cha, người đàn ông được khẳng định đồng thời vai trò người đàn bà, người mẹ được coi trọng: của chồng công vợ! Mối quan hệ tuyệt đẹp: người đàn bà nhu thuận tỏ ra nhún nhường giữ vị trí thứ nhì trong khi đó thì đàn ông biết điều trân trọng đóng góp của người vợ, người đàn bà cho gia đình và xã hội. Không chỉ thế, trong xã hội nông nghiệp Việt cổ thì vai trò đàn bà còn được đề cao hơn lệnh ông không bằng cồng bà. Từ những quan hệ cụ thể trong gia đình thôn xóm mở ra tình đồng bào bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. Bản sắc của văn hóa này, học giả Kim Ðịnh gọi rất chính xác là Việt nho. Việt nho là một tinh chất văn hóa đã làm nên bản sắc văn hóa Á Ðông. Sau này thời thế đổi thay nhưng người ta vẫn tìm được dấu tích của văn hóa đó khắp Ðông Á: Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật bản, Việt Nam. Ðiều thú vị là nhiều nhà xã hội học cũng tìm ra vết tích của Việt nho ở những sắc dân bản địa châu Mỹ như trong tài liệu của Lévi Strauss mà Kim Ðịnh đã dẫn. Những đặc trưng văn hóa tinh thần của người tiền sử Ðông Nam Á được khái quát trong những điểm sau:
- Quan niệm nhân chủ: con người tồn tại trong mối tương quan giữa Thiên-Ðịa-Nhân. Trong đó Nhân là trung tâm, là chủ. Cái gì vừa lòng người cũng vừa lòng Trời. Trong quan hệ nhân chủ đó, người đàn bà được tôn trọng. Một trong những vị vua huyền thoại có nhiều công tích là Nữ Oa. Sau này còn có tục thờ đạo Mẫu.
- Quan niệm thái hòa: cuộc sống do nhiều nhân tố nhiều nguyên lý tạo nên, và chỉ tồn tại trong sự hài hòa giữa các nguyên lý đó vì vậy cuộc sống là sự thái hòa.
- Coi trọng tâm linh: Người Việt cổ cho rằng con người có linh hồn. Do sống gắn bó với thiên nhiên, nên cũng coi thiên nhiên như vật thể sống, có linh hồn. Từ đó người Việt sống cùng cuộc sống hiện thực còn có thế giới tâm linh. Tục thờ phổ biến là thờ tổ tiên ông bà cha mẹ. Người Việt có tín ngưỡng đa thần: thờ bất cứ vật gì có thể tác họa cũng như tạo phúc cho mình.
Khi kẻ xâm lấn tràn tới, thành phần quý tộc tinh hoa của các bộ tộc Việt bỏ chạy về Nam, một bộ phận bất hợp tác thì vào rừng lẩn trốn thành người thiểu số còn đại đa số dân Việt thích ứng với cuộc sống mới. Cuộc săn đuổi và trốn chạy diễn ra dài dài trong lịch sử, kể đến nhiều nghìn năm. Do số dân quá ít, khi đối mặt với kẻ chiến bại đông đảo, kẻ chiến thắng Mông Cổ đã áp dụng thái độ ứng xử khôn ngoan với tộc người Miêu này. Khác với người Arian du mục khi chinh phục Ấn Ðộ đã áp chế người bản địa Dravidians bằng chế độ nô lệ hà khắc để lại những di họa lâu dài, người du mục Mông Cổ giữ vai trò lãnh đạo và chuyển sang làm thương nghiệp, công nghiệp còn để cho người Miêu Việt làm công việc nặng nhọc là trồng trọt, chăn nuôi và đi lính. Lúc đầu choáng ngợp trước cuộc sống sung túc và văn hóa khác lạ của dân nông nghiệp, người du mục không chú ý lắm đến các vị thần, đến tín ngưỡng bản địa. Nhưng rất nhanh chóng, cộng đồng dân cư bản địa quá đông đúc đã đồng hóa kẻ xâm lăng, cả về huyết thống cả về văn hóa. Những thủ lĩnh Mông Cổ từ bỏ vật tổ truyền thống là con cọp trắng để nhận vật tổ của người Miêu Việt là con rồng làm vật tổ của mình, nhận những ông vua thời Tam hoàng, không chỉ nhân vật chính thống Hoàng đế mà cả Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông làm tổ. Người Mông Cổ và sau này hậu duệ của họ là người Hoa Hạ, đã kế thừa hầu hết nền văn hóa phi vật thể của Việt tộc.
Trước hết là tiếp thu ngôn ngữ Việt.
Trong cuốn sách Vịnh Bắc Việt, tác giả Vũ Hữu San dẫn tài liệu của nhà địa lý kiêm toán học Buckminster Fuller cho rằng, có thể tìm ra nguồn gốc các nền văn minh căn cứ vào tỷ lệ thuận giữa trình độ văn hóa, di dân và mật độ nhân số. Từ lý thuyết đó, ông lập Dymaxion World Maps (Bản đồ động thái thế giới). Từ bản đồ của mình, B. Fuller đưa ra giả thuyết: vào thiên niên kỷ IV-III TCN, duyên hải Ðông và Ðông Nam Á chỉ chiếm 5% diện tích thế giới nhưng có tới 54% nhân loại đang sống. Dựa vào sự tính toán của ông, có thể suy ra, vào thời đó, người Việt có thể chiếm 65% nhân số thế giới.(37) Trong cộng đồng Ðông Á, người Việt là cư dân có nhân số lớn nhất, giữ vai trò lãnh đạo về văn hoá và ngôn ngữ.
Những phát hiện khảo cổ gần đây cho thấy:
- Năm 1999, khai quật 24 ngôi mộ cổ làng Giả Hồ thuộc tỉnh Hà Nam, di chỉ có tuổi 6.600 đến 6200 năm TCN, tiến sĩ Garman Harbottle thuộc Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven, New York, Hoa Kỳ cùng nhóm khảo cổ Trường Đại học Khoa học và công nghệ tỉnh An Huy, Trung Quốc xác định được 11 ký hiệu đặc biệt được khắc trên mai rùa. Harbottle cho biết: Điều rất có ý nghĩa là những ký hiệu trên có sự gần gũi với chữ Trung Quốc cổ. Trong những ký hiệu đó có cả biểu tượng về “mắt’ và “cửa sổ”, số Tám và 20, tương đồng với những ký tự được sử dụng hàng nghìn năm sau vào thời nhà Thương (1700 đến 1100 TCN). Chúng sớm hơn những ký tự được phát hiện tại Mesopotamia hơn 2000 năm.
HÀ VĂN THÙY – NỖI BẤT AN CỦA LỊCH SỬ
Sau khi từ Ðông Phi thiên di tới bán đảo A rập, người Homo sapiens theo bờ biển Nam Á đặt chân đến thềm Biển Đông Việt Nam khoảng 70.000 năm trước. Trong khoảng 10.000 năm dừng chân tại đây, hai đại chủng người tiền sử là Mongoloid và Australoid đã hòa huyết tạo thành bốn chủng người Việt cổ Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid thuộc nhóm loại hình Australoid đồng thời mở rộng địa bàn cư trú ra khắp lục địa Ðông Nam Á .
50.000 năm trước, một số nhóm người di chuyển xuống châu Ðại Dương thành thổ dân Úc hiện nay.
40.000 năm trước, một số nhóm di cư đến New Guinea.
Khoảng 30.000 năm trước người từ lục địa đã tới khắp các đảo lớn ngoài khơi Ðông Nam Á.
Khoảng 40.000 năm trước, khi khí hậu tốt hơn, một số nhóm người Mongoloid sống biệt lập tại phía Tây Bắc Ðông Nam Á, di cư lên phía Bắc theo con đường qua đất Ba đất Thục lên sống ở miền Tây Bắc Trung Quốc thành chủng Mongoloid phương Bắc.
Cùng thời gian đó, nhiều nhóm người Inđonesian, Melanesian di chuyển lên phía Bắc theo con đường duyên hải. Dần dần họ lan tỏa ra khắp lục địa Trung Hoa và một bộ phận lên tới Siberia rồi vượt eo Bering sang châu Mỹ. Cuộc Bắc tiến diễn ra mạnh mẽ nhất vào khoảng 8000 năm TCN khi nước biển dâng cao.
Có thể hình dung kịch bản sau: Người Ðông Nam Á di cư lên phía bắc làm nhiều đợt trong suốt thời gian dài. Những người đi sau thường tìm đến với những người đi trước thuộc dòng tộc gần gũi với mình qua tiếng nói. Họ được người tới trước giúp nơi ăn chốn ở lúc ban đầu cùng những kinh nghiệm sống nơi đất mới. Người mới đến cũng chia sẻ với đồng bào của mình những tiến bộ kỹ thuật mà họ mang theo, như công cụ, các giống cây trồng, vật nuôi từ trung tâm nông nghiệp Hòa Bình… Có một mối liên hệ chặt chẽ như vậy vẫn nối giữa hai vùng.
Tại lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử, người di cư chuyển dần từ săn bắt hái lượm lúc đầu sang trồng lúa nước và chăn nuôi gia súc. Những nhóm người gốc Ðông Nam Á này tạo thành một cộng đồng mà sử sách gọi là Bách Việt. Trong hàng vạn năm sống ở đây, người Bách Việt sáng tạo nên nền nông nghiệp lúa nước, chế tác công cụ đá, đồ gốm rồi đồ đồng, sắt. Người Lạc Việt, nhóm chủ đạo trong dòng Bách Việt lấy vùng Thái Sơn tỉnh Sơn Ðông làm trung tâm. Người Bách Việt bắt đầu hình thành quốc gia lỏng lẻo và tôn Thần Nông là ông vua dạy họ trồng ngũ cốc. Tiếp đó con cháu Thần Nông như Ðế Minh, Ðế Nghi dẫn dắt họ tổ chức cuộc sống, lập nước Xich Quỷ chuẩn bị đối đầu với dân du mục phương Bắc.
Cũng thời gian này, những người ở lại Ðông Nam Á sáng tạo tại quê hương mình nền nông nghiệp lúa nước phát triển, kỹ thuật chế tác gốm và đồ đá sau đó là đồ đồng, sắt.
Khoảng 10000 năm trước, băng hà tan, người Mông Cổ phương Bắc chuyển sang phương thức sống du mục. Mùa khô họ thường đưa dằn mục súc về bờ bắc Hoàng Hà là nơi có nguồn nước và khí hậu ấm hơn. Sự tiếp xúc tự nhiên giữa người Mông Cổ và người Việt diễn ra và những đứa con lai Mông Cổ mang dòng máu Mongoloid phương Nam xuất hiện tại vùng Hoàng thổ. Khoảng 6000 năm TCN, số lượng người Mongoloid phương Nam tăng lên, trở thành chủ nhân văn hóa trồng kê Ngưỡng Thiều,
Cũng thời gian này, một số nhóm Mongoloid trước đây từ thềm Biển Đông men theo bờ biển lên sống ở vùng của sông Dương Tử sống bằng hái lượm và đánh cá. Khi người Việt nông nghiệp mở rộng địa bàn tới vùng này, đã gặp gỡ, hòa huyết với họ, sinh ra người Mongoloid phương Nam, là chủ nhân văn hóa nông nghiệp Hà Mẫu Độ
Vào khoảng năm 2600 TCN, người Mông Cổ vượt sông Hoàng Hà xâm chiếm lãnh thổ của người Bách Việt. Trong trận quyết chiến Trác Lộc, lãnh tụ người Bách Việt Ðế Lai hy sinh. Một bộ phận người Việt trong đoàn quân dân của Lạc Long Quân dùng thuyền theo Hoàng Hà ra biển, di cư xuống phía nam, đổ bộ vào Nghệ Tĩnh. Tại đây Hùng Vương được tôn làm vua, lập nước Văn Lang. Người Hà Mục Độ trong đoàn di tản mang gene Mongoloid phương Nam hòa huyết với người Việt cổ, sinh ra những người Mogoloid phương Nam mới. Với thời gian, đại bộ phận người Việt chuyển hóa thành chủng Mongoloid phương Nam.
Cũng do sự bành trướng của người Mông Cổ, nhiều nhóm Việt khác chũg di tản khỏi Hoa lục, di cư xuống các hải đảo Đông Nam Á.
Khoảng cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, do sự truy đuổi dữ dội của người Hán, một bộ phận lớn người Bách Việt Mông Cổ phương nam di cư ồ ạt trở lại lục địa cũng như vùng hải đảo Ðông Nam Á. Người H’mông-Dao, người Thái-Tày, người Tạng-Mianma… đã trở về như vậy. Người Lạc Việt cũng không ngoài số phận này. Do mối liên hệ sẵn có, nhất là qua tiếng nói mà con cháu của những người di cư hàng vạn năm trước lại tìm về đúng nơi tổ tiên họ đã ra đi. Người Thái tìm về đất Thái gặp lại bà con xa xưa của mình. Người Việt trở về đất Việt với dòng tộc… Những người Mông Cổ phương Nam trở về tạo nên cuộc hòa huyết làm loại hình Indonesien, Melanesien bản địa chuyển nhanh sang loại hình Ðông Nam Á. Sự chuyển hóa đó diễn ra tập trung trên toàn bộ Ðông Nam Á. Chính điều này là nguyên nhân chủ yếu tạo nên bản đồ nhân chủng Ðông Nam Á hiện đại. Các nhà khảo cổ Việt Nam đã tìm ra nhiều địa điểm chứng tỏ có sự cộng cư như vậy mà tiêu biểu là di chỉ mộ táng Mán Bạc Ninh Bình vừa phát hiện đầu năm 2005. Tiến sĩ Marc Oxenham của Ðại học Quốc gia Úc, người tham gia khai quật di chỉ ghi nhận: “Người Việt từ trước thời Ðá mới đã có biểu hiện của giống người Úc châu (Nam Ðảo) hay Ða đảo Melanesian, nhưng người Việt từ thời Ðồng thau đã có biểu hiện đặc trưng của giống người Ðông Nam Á. Sự hiện diện của cả hai nhóm sắc tộc này sát cánh nhau trong khu mộ táng cho thấy đã có sự hỗn hòa giữa hai chủng ở mức độ đáng kể, có thể là đánh dấu những nguồn gốc sớm nhất về dân cư Việt Nam hiện thời, vốn đã từng ổn định khoảng 2000 năm TCN.”(18)
Tới đây, tự nhiên nảy sinh câu hỏi: Vì sao suốt trong hàng vạn năm trước đó, số dân Bách Việt tăng nhanh, phạm vi phân bố mở rộng ra mênh mông, trong khi người Mông Cổ số dân tăng không đáng kể và chỉ loanh quanh mạn Bắc sông Hoàng Hà?
Có thể lý giải điều này bằng 3 nguyên nhân: khí hậu-thổ nhưỡng, phương thức sống và di truyền:
1/ Khí hậu lạnh không tạo thuận lợi cho sinh sản. Dân số tăng chậm không đòi hỏi mở rộng vùng phân bố.
2/ Phương thức sống du mục nên người Mongoloid phương bắc sống bám vào đồng cỏ cao nguyên, không có khả năng chinh phục miền đất ẩm thấp mạn Nam sông Hoàng.
3/ Người Mông phương Bắc mang gen từ tổ tiên Mongoloid thiên di lên theo con đường biệt lập không hòa huyết với chủng người khác, trong bộ gene tương đối thuần của họ mang khả năng sinh sản thấp. Ðiều này còn thấy trong sắc dân Mongoloid phương Bắc hiện đại.
Từ đó có thể rút ra kết luận: việc xuống phía Nam hòa huyết với người Bách Việt mang dòng máu Indonesien, Melanesien và trồng lúa nước mở ra vận hội lớn đối với người Mongoloid phương Bắc, chẳng những đã cứu họ thoát khỏi tình trạng sinh sản thấp như người Mông Cổ đồng chủng mà còn cho họ hưởng nền văn minh nông nghiệp phát triển rực rỡ. Chính hai nhân tố này tạo nên dân số đông đúc cùng văn hóa ưu tú của dân tộc Trung Hoa hiện đại.
Nghiên cứu của Bowen, Hui Li, Daru Lu & đồng nghiệp cho thấy: Trong khoảng 2000 năm trở lại đây, người Hán có 3 đợt tràn xuống phía Nam và trở thành sắc dân đông nhất thế giới, đến 1,2 tỷ người vào năm 2000.(19)
http://khoahocnet.files.wordpress.com/2012/04/3-lc3a0n-sc3b3ng-di-cc6b0.jpg?w=630
Ba làn sóng di cư của người Hán
xuống phía Nam
Từ 1 đến 14: Bắc Hán; 15 đến 28: Nam Hán.
Mũi tên đậm dài: đợt 1, vào thời Tây Tấn (265-316) với khoảng 900.000 người
Mũi tên ngắn: đợt 2, vào thời Ðường ( 618-907) lớn hơn đợt 1.
Mũi tên chấm: đợt 3, đời Nam Tống (1127- 1279), khoảng 5 triệu người.
(hình của Jin Li)
Trên đây là bức tranh khái quát tiền sử Ðông Nam Á diễn ra với hai giai đoạn.
Giai đoạn đầu là cuộc Bắc tiến mang theo rìu đá, giống lúa, khoai sọ, giống gà, giống chó đi mở mang khai thác lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử. Giai đoạn này bị chìm trong bụi thời gian, không được sử sách biết đến, chỉ còn lại ít nhiều dư âm trong truyền thuyết và huyền sử.
Giai đoạn hai, mà sách sử gọi lầm là cuộc Nam tiến, thì thực chất là những dòng người Ðông Nam Á sau hàng vạn năm khai khẩn mở mang vùng đất mới, bị kẻ xâm lấn xua đuổi, trở về mái nhà xưa, trở lại quê gốc của mình.
Tuy là cuộc thua chạy nhưng lớp người Ðông Nam Á mới đã đem về vốn genes làm chuyển hóa nòi giống cùng với những kinh nghiệm và tri thức mới để xây dựng quê hương.
Ðối với người Việt, tình hình như sau:
Khoảng 40.000 năm trước, người Việt từ miền Trung và miền Bắc Việt Nam tiến lên phía Bắc, trở thành nhân tố chủ đạo trong dòng Bách Việt. Khoảng 15000 năm trước, người Việt làm nông nghiệp lúa nước, quần tụ quanh vùng Thái Sơn, sông Nguồn. Tại đây người Bách Việt hình thành quốc gia lỏng lẻo, tôn Toại Nhân, Phục Hy, Nữ Oa, những bậc á thánh làm vua, tiếp sau là Thần Nông Viêm đế. Kế tục Thần Nông là Ðế Minh, Ðế Nghi, Ðế Lai ở phía Bắc và Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân ở phía nam. Thời kỳ này người Hán Mông phía bắc liên tục xâm lấn, thường xuyên xảy ra tranh chấp. Khoảng năm 2600 TCN, trong trận Trác Lộc, Ðế Lai tử trận, người Mông Cổ chiến thắng, tôn Hoàng đế làm vua. Quân Bách Việt thua trận chạy xuống nước Xích Quỷ phía Nam sông Dương Tử. Một bộ phận theo cha Lạc Long Quân chạy ra biển trở về Việt Nam. Phải chăng, những cuộc kịch chiến trên lưu vực Hoàng Hà đã được lưu lại trong truyền thuyết Thánh Gióng? Ðọc truyện này, có một điều không sao giải thích nổi là chi tiết giặc Ân. Trên đất của các vua Hùng, cả chính sử cả huyền sử chưa bao giờ biết tới thứ giặc đó. Vậy giặc Ân là ai mà xuất hiện vào đời Hùng Vương thứ 6? Không sao giải thích nổi! Phải chăng cũng như tục xăm mình, tục ăn trầu được nói là do vua Hùng dạy cho dân, sự tích thiên vương thiên tướng cũng xuất hiện từ trước, bên bờ sông Hoàng Hà? Phải chăng là, vào thời Bàn Canh (1401-1373 TCN) nhà Thương dời đô từ đất Cảnh lầy lội sang đất Ân, lập nên nhà Ân. Nhà Ân mở rộng thêm địa bàn, lấn chiếm đất của Bách Việt với nhiều cuộc kịch chiến, huyền thoại thiên vương ra đời. Khi trở về đất châu Phong, người Việt quên đi nhiều thứ nhưng chuyện đứa trẻ vươn vai thành dũng sĩ lên ngựa đánh giặc cùng kẻ thù là giặc Ân thì hằn sâu trong tâm khảm? Ðể giữ gìn câu chuyện nhiều ý nghĩa này, huyền thoại được bản địa hóa bằng những địa danh như Phù Ðổng, những ao đầm xứ Vũ Ninh? Có lẽ ban đầu, câu chuyện chỉ như ghi trong Toàn thư: đứa trẻ xin vua cho gươm và ngựa. Nhưng sau đó, khi công cụ sắt được phát minh, nhận ra công dụng thần kỳ của sắt, người đương thời đã thêm roi sắt, ngựa sắt vào huyền thoại? Ðấy chỉ là giả thuyết nhưng thiết nghĩ không phải hoàn toàn không có cơ sở!
Ðến nửa cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, trước sức tấn công mạnh mẽ của người Hán, nhiều nhóm Bách Việt đồng loạt chạy về nam.
Theo truyền thuyết, hậu duệ của Lạc Long Quân đưa người Lạc Việt đổ bộ vào vùng Nghệ Tĩnh, tôn người con trưởng lên làm vua, gọi là Hùng Vương, lúc đầu đóng đô ở vùng Ngàn Hống Rào Rum (sông Lam núi Hồng) sau đó chuyển lên vùng Ao Việt, lập nhà nước Văn Lang.
Trở về đất Việt lập nhà nước Văn Lang là các vua Hùng trở về cội nguồn của mình. Do tiếp xúc với người phương Bắc nên có sự hòa huyết với người Hán, người Việt từ nhóm loại hình Indonesien chuyển hóa nhanh thành loại hình Ðông Nam Á. Do phải liên tục chiến đấu chống quân xâm lấn nên người Việt của các vua Hùng trở nên mạnh mẽ và khôn ngoan hơn, làm nòng cột xây dựng nhà nước tuy còn lỏng lẻo nhưng bước đầu xác lập mối quan hệ quốc gia, vượt qua tình trạng bộ lạc.
Trong thời kỳ này nhiều quốc gia khác ở Ðông Nam Á cũng hình thành.
Tới đây có lẽ chúng ta cũng cần giải quyết vấn đề vẫn băn khoăn trong tâm trí không ít người: Người Việt có bị Hán hóa không?
Không biết từ bao giờ nhiều người nghĩ và nói rằng người Việt Nam là dân tộc bị Hán hóa. Ðiều này không chỉ là niềm tin âm thầm trong lòng người dân ít học mà còn trong tín điều của các nhà khoa bảng. Xin đơn cử, trong trả lời phỏng vấn Ðài BBC vào năm 2003 và được phát lại vào tháng 7 năm 2005, nhà sử học hàng đầu của Việt Nam, Trần Quốc Vượng nói: “Tôi đã nói với ông Phạm Văn Ðồng rằng, nước ta bị một nghìn năm Bắc thuộc. Tính cách nào thì cũng một nghìn năm… Trong thời gian ấy, quan lại sang này, rồi lính tráng, vậy thì dân ta bị Hán hóa đứt đuôi!”
Tại sao vậy? Có thể vì thấy người Việt giống người Hán nên từ xa xưa ông bà ta cho rằng, mình là nước nhỏ, lại bị đô hộ hàng nghìn năm bởi một nước lớn dân đông vậy hẳn là bị Hán hóa… Không gì bằng thói quen, các thế hệ Việt cứ hồn nhiên truyền nhau thế. Ðiều mê tín đó sang thế kỷ khoa học còn được một số học giả thực dân bồi đắp. Nhưng đó là quan niệm sai lầm do chưa hiểu quá trình hình thành dân tộc Việt. Một sự ngộ nhận kéo dài không chỉ của người Việt mà cả của giới sử học nước ngoài.
Nói một cách chính xác, khoa học thì người Việt đã trải qua quá trình Ðông Nam Á hóa. Nhà nhân chủng học hàng đầu của Việt Nam Nguyễn Ðình Khoa tổng kết: “Thời đại Ðá Mới, cư dân trên lãnh thổ Việt Nam thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó có Indonesian và Melanesian là hai thành phần chủ yếu… Sang thời Ðồng-sắt, người Mongoloid đã là thành phần chủ thể trong khối cư dân Việt Nam, người Australoid mất dần đi trên đất nước này, hoặc do thiên cư hoặc do đồng hóa.”(Nhân chủng học Ðông Nam Á, sđd)
Như vậy là, vào thời đại vua Hùng, dân cư nước ta có sự chuyển hóa mạnh từ loại hình Australoid sang loại hình Mongoloid phương Nam hay còn gọi là loại hình Ðông Nam Á. Thời đại vua Hùng kết thúc vào năm 257 TCN nên chí ít thì quá trình Ðông Nam Á hóa hoàn tất trước thời An Dương Vương. Khoa nhân chủng học dựa vào so sánh hình thái sọ người Việt cổ, đã xác nhận, việc chuyển hóa sang nhóm loại hình Ðông Nam Á diễn ra vào thời Ðồng-sắt và rộng khắp Ðông Nam Á, từ lục địa tới hải đảo. Sau cuộc chuyển hóa, nhóm loại hình Ðông Nam Á trở nên thành phần chủ đạo trong dân cư Ðông Nam Á. Sự chuyển hóa này diễn ra khắp Ðông Nam Á, cả những nước chẳng hề hị người Hán chiếm đóng dù chỉ một ngày, là bằng chứng hùng hồn phủ nhận việc người Việt bị “Hán hóa”.
Tuy nhiên cho đến những năm 80 thế kỷ trước, nhân chủng học chưa xác định được nguyên nhân sự chuyển hóa này: không hiểu là do di dân hay do đồng hóa? (Nguyễn Ðình Khoa sđd) Ðấy chính là câu hỏi thách đố khoa nhân chủng học không chỉ của Việt Nam mà cả thế giới.
Tới năm 1998 thì điều này được sáng tỏ nhờ công trình của J.Y Chu và đồng nghiệp: Genetic relation of population in China cùng công trình của Bing Su, Jin Li và nhiều người khác dựa trên công nghệ gene phát hiện ra nguồn gốc người Việt. Từ những nghiên cứu này cho ta cơ sở tìm lại sự chuyển hóa về mặt nhân chủng của người Việt diễn ra như sau:
Khoảng 3-4 vạn năm trước, ngưới Bách Việt thuộc chủng Indonesian và Melanesian có mặt khắp lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử. Khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III TCN, người Mongoloid phương Bắc sống du mục ở vùng Tây Bắc vượt Hoàng Hà vào chiếm đất của người Việt. Một bộ phận dân Bách Việt chạy xuống phương Nam, còn phần lớn ở lại chung sống với quân xâm lấn. Tại đây có sự hòa huyết giữa người Mongoloid phương Bắc và người Việt bản địa, tạo ra người Hoa Hạ thuộc chủng Mongoloid phương Nam, tầng lớp cầm quyền trong các vương triều Trung Hoa. Ðến cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, do xung đột dữ dội với người Trung Hoa, một bộ phận lớn người Bách Việt (lúc này đã chuyển hóa thành loại hình Ðông Nam Á) tràn xuống lục địa cũng như hải đảo Ðông Nam Á. Những người này do số đông, đã lai giống với người Indonesian, Melanesian tại chỗ, làm chuyển hóa đại bộ phận dân cư Ðông Nam Á sang chủng Monogloid phương Nam, được khoa học gọi là loại hình Đông Nam Á. Sự kiện này đưa tới kết quả là vào thời đại Ðồng-sắt, loại hình Ðông Nam Á chiếm vị trí chủ thể trong thành phần dân cư phía Nam Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Ðông Nam Á. Chứng cứ của quá trình hóa Ðông Nam Á này ta từng bắt gặp trong những hang động thời Phùng Nguyên có xương người Australoid lẫn với xương người Mongoloid phương Nam. Di chỉ Mán Bạc, Ninh Bình phát hiện năm 2005 với khoảng 30 bộ xương cổ chôn chung trong một nghĩa địa là chứng cứ rõ ràng nhất cho thấy người Việt chủng Mogoloid phương Nam cộng cư với người Việt thuộc chủng Indonesien, ở giai đoạn cuối của sự hòa huyết.
Như vậy, có thể kết luận: việc chuyển hóa đại bộ phận dân cư nước ta sang loại hình Ðông Nam Á là do khối người Việt từ phía nam Trung Quốc di cư trở về lai giống với người Việt tại chỗ. Di truyền học cho thấy, từ trước thời Bắc thuộc, người Hoa ở phía nam Trung Quốc đã có cùng bộ gene di truyền với người Việt. Ðến thời Bắc thuộc, những người Hán sang ta-chủ yếu là người Việt Ðông, Việt Tây và Nam Việt – thực chất họ là người Trung Quốc gốc Việt. Vì vậy không hề có chuyện người Việt bị Hán hóa vào thời Bắc thuộc. Nói người Việt bị “Hán hóa” là sự ngộ nhận vì không khoa học và không đúng với sự thực lịch sử. Trong lịch sử chỉ có quá trình Ðông Nam Á hóa chung cho cả người Hán và người Việt, diễn ra từ giữa thiên niên kỷ thứ III đến cuối thiên niên kỷ thứ II Trước Công nguyên.
Thiết tưởng từ những phân tích trên, chúng ta có một khái niệm chính xác hơn về người Hán. Các sách sử trước đây cho rằng Hiên Viên là thủ lĩnh người Hán đã vượt Hoàng Hà chiến thắng thủ lĩch Bách Việt Si Vưu. Đây chính là lầm lẫn lớn của lịch sử. Thời điểm này chưa hề có “người Hán”. Bởi lẽ nhà Hán chỉ xuất hiện vào cuối thế kỷ I TCN. Những người đánh chiếm đất đai của Bách Việt là tộc Mông Cổ thuộc chủng Mongoloid phương Bắc. Kịch bản diễn ra như sau: đội quân của họ Hiên Viên tuy có mạnh nhưng không đông. Khi xuống đất của Bách Việt, họ bị người Việt Australoid đông đảo bao vây và xảy ra cuộc hoà huyết, tạo thành chủng người mới Mongoloid phương Nam. Chủng người này nhận được những phẩm chất di truyền cùng văn hóa từ gốc du mục và gốc nông nghiệp nên phát triển mạnh, tràn lan khắp Trung Nguyên, lấn chiếm tiếp đất đai của người bản địa đồng thời tăng cường việc lai giống, khiến cho đại bộ phận dân cư trên địa bàn Trung Quốc trở thành chủng Mongoloid phương Nam. Những người này tập hợp trong những quốc gia lỏng lẻo do Hoàng đế, rồi Nghiêu, Thuấn, Vũ… làm thủ lĩnh sau đó hình thành các quốc gia Thương, Chu… Những vương triều tự nhận mình là trung tâm rồi coi những người Mông Cổ nguồn cội phía Bắc là Địch, cội nguồn phía Nam là Man. Cho đến cuối thiên niên kỷ II TCN, người Hán cũng như đại bộ phận dân cư Á Đông đều thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Người Mông Cổ ở phía Bắc trở thành dị chủng. Ngày nay những người này vẫn được gọi là người Hán nhưng có bộ mã di truyền khác với người Hán sống ở trung tâm. Từ nhận thức như vậy, ta nhìn lịch sử Á Đông một cách chuẩn mực hơn.
Tóm lại, chúng tôi đã trình bày một phần về cội nguồn tổ tiên. Sở dĩ chỉ dám nói một phần vì còn một câu hỏi vô cùng bức xúc chưa được trả lời : nhà Triệu có vai trò gì trong lich sử dân tộc Việt?
Từ khi giành lại quyền tự chủ, các triều đại Việt đều đề cao vai trò lịch sử của Triệu Ðà. Nhà Trần phong ông là Khai thiên thế đạo thánh vũ thần triết hoàng đế (Ðại Việt sử ký toàn thư.) Ðại Việt sử ký toàn thư ghi: “Họ Triệu nhân lúc nhà Tần suy loạn, giết trưởng lại nhà Tần, chiếm giữ đất Lĩnh Nam xưng đế, đòi ngang với nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi 100 năm mới mất, cũng là bậc vua anh hùng.” Sử gia Lê Văn Hưu nói: “Thế mới biết, người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là “lão phu”, mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy.” Trong An Nam chí lược, Lê Tắc viết: “Triệu Ðà làm vua Nam Việt, mới lấy thi lễ giáo hóa nhân dân một ít.”(20) Ðiều này chứng tỏ Triệu Ðà là người mang sự học đến nước ta từ trước chứ không phải Sĩ Nhiếp. Ðến nhà Lê, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết: “Trải Triệu, Ðinh, Lý, Trần nối đời dựng nước.” Như vậy, Nguyễn Trãi thừa nhận Triệu Ðà là ông vua đầu tiên của nước ta từ thời có sử.
Hàng ngàn năm, chính sử Việt Nam ghi nhận vai trò lịch sử lớn lao của nhà Triệu. Ðến thế kỷ XVIII, Ngô Thì Sĩ (1726-1780) viết trong Việt sử tiêu án: “Nước ta bị nội thuộc vào nước Tàu từ đời Hán đến Ðường, truy nguyên thủ họa chả Triệu Ðà thì còn ai nữa? Huống chi Triệu Ðà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả thôi. Ðến như việc xướng ra cơ nghiệp đế vương trước tiên, tán tụng Triệu Ðà có công to, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử chép như thế, Ngô Sĩ Liên theo cách chép hẹp hòi ấy, không biết thay đổi, đến như bài Tổng luận sử của Lê Tung, thơ vịnh sử của Ðặng Minh Khiêm thay nhau mà tán tụng, cho Triệu Ðà là bậc thánh đế của nước ta. Qua hàng nghìn năm mà không ai cải chính lại vì thế mà tôi phải biện bạch kỹ càng.” (21) Cho đến nay, trong giới sử học, việc đánh giá Triệu Ðà vẫn có hai luồng ý kiến ngược nhau. Là kẻ ngoại đạo không dám lạm bàn, chúng tôi chỉ xin lục ra một số tư liệu lịch sử hầu bạn đọc tham khảo.
Trong Sử ký, Tư Mã Thiên viết: “Vua Nam Việt họ Triệu tên là Ðà, người huyện Chân Ðịnh, trước làm quan úy. Bấy giờ nhà Tần đã chiếm cả thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận để đưa những người bị đày đến ở lẫn với người Việt. Như thế đã mười ba năm. Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Ðà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương. Ðà bèn tự tôn làm “Nam Việt Vũ đế”, đem quân đánh các ấp ở biên giới quận Trường Sa. Ðà nhân đó dùng uy lực uy hiếp biên giới, đem của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc mình. Ðất đai của Ðà chiều ngang có hơn vạn đặm, Ðà bèn đi xe mui lụa màu vàng, cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là “chế”, chẳng kém gì Trung Quốc.”"Ðến thời Hiếu Cảnh, Ðà vẫn xưng thần, sai người vào chầu. Nhưng trong nước Nam Việt thì vẫn trộm xưng danh hiệu “đế” như cũ; còn khi sai sứ sang thiên tử thì xưng “vương”, triều kiến thỉnh mệnh như các chư hầu.” (22)
Triệu Ðà làm vua 70 năm (từ 207 đến 137 TCN), tiếp đó cháu chắt ông truyền 4 đời trị vì 27 năm nữa, đến năm 111 TCN nước Nam Việt vào tay nhà Hán. Nhà Triệu kéo dài được 97 năm.
Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Ðôn ghi: “Ðem số hộ khẩu chép ở sách Hán chí mà so thì nước ta được ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, hơn 20 huyện, đời Hán số hộ cộng là 143.743 nhà, số khẩu cộng là 981.827 người. Thông tính cả hai tỉnh ấy (Quảng Ðông, Quảng Tây) ở đời Hán số hộ chỉ là 71.805 nhà, khẩu chỉ là 389.672 người. Như thế nước ta ở đời Hán thì số hộ gấp đôi mà số khẩu gần gấp ba.”(23)
Như vậy, vào năm 220 TCN, nhà Tần chiếm đất của người Việt ở phía nam sông Dương Tử và đưa những tội nhân người Hán đến ở chung với người Việt để thực hiện ý đồ lấn đất. Do nhà Tần sụp đổ, thiên hạ đại loạn tạo cơ hội cho Triệu Ðà cát cứ. Tuy xưng vương ở Phiên Ngung nhưng số dân của Triệu ít. Trong khi đó ở phía Nam, nước Âu Lạc của An Dương Vương khá mạnh, số dân gần gấp 3 số dân của Triệu. Bên cạnh Âu Lạc còn có các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc luôn tranh chấp. Nước Âu Lạc tuy lớn nhất trong khu vực nhưng cũng quá nhỏ so với nhà nước phương Bắc. Nếu nhà Tần không sụp đổ đúng thời điểm đó, có nhiều khả năng tằm ăn dâu, nhà Tần sẽ thôn tính đất Nam Việt. Một khả năng khác: trong cuộc chinh phạt Nam Việt trị tội Triệu Ðà xưng đế, nếu tướng Lâm Lư hầu thắng, nhà Hán chiếm Nam Việt ngay lúc đó, có phần chắc Nam Việt cũng bị đồng hóa như các dòng Bách Việt khác. Khả năng thứ ba: nếu Triệu Ðà theo nhà Hán, sau khi thôn tính Âu Lạc, sáp nhập Nam Việt vào Hán thì có phần chắc là Nam Việt bị xóa sổ trên bản đồ!
Nhìn vào thực tế nước Âu Lạc của Thục Phán, ta thấy, Tục Pắn (tên Việt của Thục Phán) là người Ba Thục trốn chạy nhà Tần đến nương nhờ Lạc Việt, đã chiếm ngôi của vua Hùng, lập nên Âu Lạc. Ban đầu Tục Pắn bị xem là kẻ thoán đoạt cướp ngôi nên bị người Lạc Việt chống lại (sự tích xây thành Cổ Loa bị đổ). Nhưng rồi sau do chính sách cai trị khôn ngoan, nhất là sau hai lần đánh thắng Triệu Ðà, đã được nhân dân tín nhiệm. Về cuối đời do mất cảnh giác nên bị Triệu Ðà dùng mưu thôn tính. Ðúng là Triệu Ðà dùng thủ đoạn chiếm nước Âu Lạc nhưng ý nghĩa của sự kiện lịch sử này cần phải bàn. Thời đó, sự liên kết trong mỗi quốc gia còn lỏng lẻo và biên giới từng quốc gia chưa ổn định, đang trong xu hướng sáp nhập, tập trung thành những quốc gia đủ mạnh để tồn tại. Việc Triệu Ðà chiếm Âu Lạc không thể coi là cuộc xâm lược mà là hành động thống nhất những nhóm, những tiểu quốc người Việt lại thành một nước Việt lớn hơn, ngăn chặn hành động thôn tính của kẻ mạnh ở phương Bắc. Ðiều quan trọng là họ Triệu đã duy trì được nước Nam Việt thống nhất trong gần một thế kỷ, vừa xây dựng trong hòa bình vừa kiên cường chống ngoại xâm. Chính điều này đã tạo nên và củng cố tinh thần quốc gia của người Việt. Ðây là di sản quý báu nhất họ Triệu để lại cho người Việt. Chính gần một thế kỷ tồn tại của quốc gia Nam Việt giúp cho người Lạc Việt không bị người Hán đồng hóa và sau này có dịp lại vùng lên trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Năm 43 khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, nhân dân Nam Việt cũ từ miền Trung miền Bắc Việt Nam đến vùng Lưỡng Quảng sang tận Hải Nam đều hưởng ứng, trong khi Vân Nam không có động tĩnh gì… Sau này, khi qua khảo sát ở vùng đất phía Nam Trung Quốc, bác sĩ Trần Ðại Sĩ thống kê được 200 địa điểm có đền thờ Hai Bà Trưng. Không thể có việc này nếu không có thời kỳ Nam Việt.
Triệu Ðà là người Việt nước Triệu, khi Tần chiếm Triệu, ông bị sung vào đội quân Tần xuống phương Nam. Ở đây ông lấy vợ Việt, sống theo phong tục Việt, cai trị nước Việt thời gian dài ngót trăm năm: cai trị bằng tập tục, bằng luật pháp Việt Nam, bằng các quan lại người Việt trong một quốc gia độc lập không hề phụ thuộc phương Bắc. Ðiều này càng chứng tỏ ông là vị vua hợp pháp của một quốc gia độc lập. Nếu không có may mắn một trăm năm Nam Việt ấy, dám chắc người Hán sẽ diệt tiểu quốc của Triệu Ðà sau đó thôn tính Âu Lạc, tộc Lạc Việt đã bị mất hút trong lịch sử như những dòng Việt anh em khác!
Các sử gia như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên… đã nhìn nhận công bằng và Nguyễn Trãi đánh giá họ Triệu một cách chuẩn mực. Sử gia Ngô Thì Sĩ khi viết: “Triệu Ðà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả” đã tỏ ra bất cập. So với quốc gia còn trong tình trạng sơ khai với những lạc hầu lạc tướng cai quản từng bộ lạc thì một quốc gia có quận huyện, biên số thổ địa là bước nhảy vọt về tổ chức hành chính, về khoa học quản lý xã hội. Còn nói “thu thuế má cung cấp ngọc bích cho nhà Hán” cũng không đúng. Suốt 70 năm Triệu Ðà làm vua, quan hệ Việt Hán khá lỏng lẻo. Biết Triệu xưng đế mà nhà Hán đành chịu, không những thế còn phải lấy lòng bằng cách giữ gìn mồ mả tổ tiên của Triệu, cho thân nhân Triệu làm quan (Sử ký). Trong mối quan hệ như vậy, cống phẩm của Triệu Ðà chỉ có nghĩa tượng trưng để xác nhận sự thần phục trên danh nghĩa nên không thể làm đầy túi tham của Lục Giả, không thể so sánh với việc cống người vàng thời Trần-Lê. Thêm nữa, nói đầy túi tham của Lục Giả rất có thể là suy luận võ đoán. Là sứ giả của Hán Vũ đế nhưng Lục sinh là trí thức lớn, một nhân cách lớn. Không chỉ lớn trong cách ứng xử với Triệu Ðà mà sách sử còn truyền câu nói nổi tiếng của ông: “Vương giả dĩ dân vi thiên, dân dĩ thực vi thiên.”(Vua lấy dân làm trời, dân lấy ăn làm trời). Con người như vậy hoàn toàn không phải là Mã Viện với những xe “ý dĩ” tiếng để đời. Rõ ràng, chứng lý đưa ra để kết tội Triệu Ðà là không thuyết phục. Nhưng vì sao Ngô Thì Sĩ lại có cái nhìn việc thiếu chuẩn mực như vậy? Chỉ có thể là, với tinh thần tự tôn dân tộc, ông không chịu một ông vua người Hán tộc (do hiểu lầm lịch sử nước Triệu)! Vì vậy không thể phủ nhận ông là vị vua khai sáng nhà nước Việt Nam chúng ta. Họ Triệu chẳng những có công khai sáng Nam Việt mà ngày càng gắn bó bằng tâm hồn bằng máu huyết với Tổ quốc Việt Nam! Chúng tôi, thế hệ sinh cùng Cách mạng tháng Tám, những ngày sau hòa bình lập lại 1954, học sử Việt Nam, được dạy Triệu Ðà là ông vua khai sáng nước Việt. Nhưng ít năm sau, Triệu Ðà trở thành tên xâm lược, bị lên án trong sách sử. Ðường phố mang tên ông bị đổi tên, đền thờ ông ở Ðồng Xâm, ngôi đền lớn và đẹp vào loại nhất ở Bắc Bộ bị trưng dụng làm kho chứa thóc, hư hại cùng năm tháng. Gần đây lễ hội đền Ðồng Xâm được mở lại nhưng đó là lễ hội ông tổ nghề chạm bạc! Có một nỗi bất bình âm thầm trong lòng người chưa được giải tỏa.
Một câu hỏi cần phải trả lời gấp: Triệu Ðà ông là ai? Người Tàu không nhận ông là Tàu vì ông là Nam Việt hiệu úy. Còn với người Việt ông bị coi là giặc Tầu xâm lược! Vậy ông là ai?!
Ruột bỏ ra da ôm lấy từng là nỗi đau của bao người. Mồ cha không khóc lại khóc đống mối từng là bi kịch của không ít gia đình, dòng họ… Nhưng vì những lầm lẫn mà chối bỏ người khai sáng quốc gia, chối bỏ cả thời đại quan trọng trong lịch sử lại là nỗi đau, nỗi nhục của cả một dân tộc! Ðã đến lúc vụ án Triệu Ðà-Trọng Thủy phải được tính lại.
Thục Phán là ai?
Sách Toàn thư chỉ nói: “Vua họ Thục, húy là Phán, người Ba Thục.” Do quá vắn tắt nên gây thắc mắc trong hậu thế. Vì vậy khi dịch sách, người dịch Toàn thư có chú thích ở cuối trang 6 như sau: “Sách Cương mục tân biên nhận xét: “Nước Thục từ năm thứ 5 đời Thuận Tĩnh vương nhà Chu (316 TCN) đã bị nước Tần diệt rồi, làm gì có vua nữa? Huống chi từ Thục đến Văn Lang còn có đất Kiện Vi (nay thuộc Vân Nam), đất Dạ Lang, Cùng, Túc…cách nhau hàng hai ba ngàn dặm có lẽ nào Thục vượt qua được các nước ấy mà sang đánh Văn Lang?… Hoặc giả ngoài cõi Tây Bắc giáp với nước Văn Lang còn có họ Thục khác mà sử cũ (Toàn thư) nhận là Thục vương chăng? (CMTB tr.9) Hiện nay có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Thục Phán, trong đó có thuyết coi vua Thục là thủ lĩnh của người Âu Việt (hay Tây Âu) ở phía Bắc nước Văn Lang mà trung tâm là vùng Cao Bằng.”
Như vậy, nhân thân của Thục Phán vẫn mù mờ. Ðể phần nào soi tỏ vấn đề này, xin dẫn ra ở đây khảo cứu của học giả Nguyễn Ðăng Thục:
Theo “Hoa dương Quốc chí” q.3 Thục chí: “Vua Vũ nhà Chu đánh vua Trụ cùng với nước Thục. Ðất Thục phía Ðông liền với nước Ba, phía Nam giáp với nước Việt, phía Bắc phân giới với nước Tần, phía Tây gồm núi Nga và núi Phồn, đất ấy xưng là Thiên phủ. Nước Thục giao thông với bên ngoài rất phát đạt. Sự giao thông ấy lấy Ðiền (Vân nam), và đất Kiềm làm chủ yếu, mà sự mở mang đất Vân nam lại hướng vào nước Thục làm trọng tâm để buôn bán mậu dịch. Vân nam với Bắc Việt liền tiếp với nhau, từ thời cổ xưa hai miền giao thông rất thịnh, cho nên thời cổ sự giao thông giữa Tứ xuyên với Bắc Việt chắc chắn là tấp nập. Bấy giờ miền hạ lưu sông Trường giang chưa có ảnh hưởng khai hóa của Hán tộc, mãi đến thời Chiến quốc, dân mà người Hán gọi là Man di phía Tây trong vùng Tứ Xuyên-Bắc Việt, và Tây nam di ở Ðiền, Kiềm (Vân nam, Quý châu ngày nay), nước Tần, nước Sở đang đua tranh vũ lực để thôn tính, kết quả là vua nước Sở Trang Kiêu làm vua Ðiền (Vân nam) nước Tần chiếm lấy nước Ba, nước Thục, nước Kiềm tức Quý châu. Theo Hoa dương Quốc chí q.1 Ba chí viết: “Chu Thuận (Thuyến) làm vua 5 năm (316 tr.T.c) vua nước Thục đánh chúa Tư, chúa Tư chạy vào nước Ba, nước Ba xin nước Tần cứu. Vua Tần Huệ Văn sai Trương Nghi, Tư Mã Thác đi cứu nước Tư, Ba, bèn đánh nước Thục mà diệt đi. Từ Chu Thuận Tĩnh làm vua 5 năm (316 tr. Tây nguyên) nước Thục mất về nước Tần, cho đến Chu Báo làm vua 58 năm (257 tr. Tây nguyên) An Dương Vương là Thục Phán xưng vua ở Việt nam, thời gian cách nhau là 59 năm. Trong khoảng thời gian ấy, người dân nước Thục chịu sự áp bách của thế lực quân sự nhà Tần, tập đoàn chống đối quân Tần dần dần đi xuống phương Nam, đi vào Bắc bộ Việt nam, cùng với vua Hùng Vương nước Văn lang đánh nhau tranh dành. Lúc đầu vì thế lực còn yếu, luôn luôn bị thua, mãi sau mới chinh phục được Văn lang. Và việc An Dương Vương từ nước Thục đi vào nước Việt thì sách sử xưa của Tầu và Việt đều không ghi chép lịch trình tiến triển, nhưng cuộc chiến tranh giữa nước Tần và nước Thục có thể tìm thấy dấu vết ở cuộc thiên di về phương Nam của tập đoàn vương thất nước Thục chống đối với nhà Tần. Hoa dương Quốc chí q.3 mục Thục chí viết: Chu Thuận Tĩnh làm vua 5 năm, quan đại phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Ðô úy Mặc cùng theo đường Thạch ngưu đánh nước Thục. Vua nước Thục từ đất Hạ Manh chống cự, thất bại, vua chạy trốn đến đất Vũ dương bị quân Tần giết hại. Tướng phó cùng thái tử rút lui về Bàng hương chết ở dưới núi Bạch lộc, họ Khai minh mới hết, làm vua nước Thục 22 đời. Lã Sĩ Bằng trong “Bắc thuộc thời kỳ đích Việt nam” suy diễn sự kiện trên đây như sau:
“Xét việc vua Thục bị ở đất Vũ dương, ngày nay là Bái sơn, vị trí ở phía Nam Thành đô, trên bờ sông Manh khoảng giữa đến như Bàng hương núi Bạch lộc ngày nay ở đâu thì không thể tìm xét, chỉ nên hiểu là ở phía Nam núi Bành, thế nhân vì quân Tần từ phía Bắc xuống miền Nam, tập đoàn người Thục chống đối quân Tần bị thua mà hướng phương Nam để thoái lui vậy. Từ đấy về sau 59 năm có lịch sử đích thực là vua Thục Phán làm vua Việt. Chúng ta có thể suy định rằng vua Thục bị hại ở Vũ dương, quan tướng, phó, thái tử đều chết ở núi Bạch lộc, sau đấy đảng vua Thục còn lại mới suy tôn con hay cháu nhà vua lên tiếp tục chạy về phương Nam, theo hạ lưu sông Manh tiến vào khu đất tiếp giáp giữa Quý châu và Vân nam thuộc phạm vi thế lực người Sở.
Nhưng khu đất giao tiếp giữa Quý châu (Kiềm) và Vân nam (Ðiền) thời Hán là Trường kha là đất thủy lão nghèo nàn. Thục vốn là nước Thiên phủ, người Thục khó ở lâu tại đất ấy được, vả lại thế lực quân Tần đang rất mạnh, dòng dõi vua Thục hết hy vọng khôi phục lại đất cũ mới tìm phát triển về phương nam tiến vào đất bình Hùng Vương tranh chiến, nhiều phen thất bại đến đời Chu Bảo vương 518 (257 Tr. C.N) mới chinh phục được Văn lang” (24)
Những chứng cứ vừa dẫn khiến ta hiểu đúng ý của sách Toàn thư: Thục Phán chính là người nước Thục. Việc coi ông là thủ lĩnh bộ lạc người Việt cát cứ ở vùng Cao Bằng là suy đoán không sở cứ. Nhưng điều này cũng không phải không có nguyên cớ: người Thục đã tiến xuống Văn Lang từ mạn Cao Bằng. Ta hãy ghé nhìn vào lịch sử của đất nước từng oanh liệt một thời này:
Theo sử Trung Quốc thì nước Thục được thành lập vào năm 1122 tới năm 122 TCN bị Tần diệt. Năm 1986 người ta tìm được ở Ðồi Ba Sao (Sanxingdui) tỉnh Tứ Xuyên hơn 800 hiện vật trong đó có nhiều đầu người và mặt nạ tuyệt xảo bằng đồng, nổi bật là bức tượng đồng to bằng người thật, cao 1,72 m. Tượng có mắt to và xếch, mũi lớn, lông mày rậm, miệng thật rộng, không thuộc chân dung điển hình của người Hán. Trống đồng nước Thục không mang sắc thái Trung Quốc. Giới khảo cổ Trung Quốc gọi là cổ vật thuộc nhóm dân Ba Thục và xếp chúng vào thời kỳ cuối đời Thương. Tuy nhiên người ta biết rằng nước Thục có từ khoảng 4700 năm trước, sớm hơn đời Thương 1000 năm. Giới khảo cổ cũng phát hiện ở Tây Nam Thành Ðô ngôi đền thuộc cùng nền văn hóa, có tuổi từ 3000 đến 4700 năm trước. Chủ nhân nước Thục là dân cư nông nghiệp, trồng lúa, đánh cá, ở nhà sàn, sử dụng những loại rìu có vai là công cụ đặc trưng của văn hóa Hòa Bình. Có nhiều khả năng họ là nhóm Tây Âu hay Âu Việt trong cộng đồng Indonesian Bách Việt, sau này chuyển hóa thành nhóm loại hình Ðông Nam Á.
Trong 59 năm sau trận Vũ Dương thì Thục Phán là đời thứ 3, là cháu đích tôn của ông vua được quần thần dựng lên trong những ngày gian nan trốn chạy quân Tần. Cha của Thục Phán là Thục Chế nhiều phen đem quân đánh vua Hùng nhưng thất bại. Ở tuổi 20, chàng trai trẻ Âu Việt đã hoàn thành sự nghiệp của ông cha mình. Ðó quả là người anh hùng làm rạng danh tổ tiên.
Về pho tượng nàng Mỵ Châu cụt đầu
Trong khu di tích Cổ Loa có pho tượng người đàn bà cụt đầu mà người ta bảo là tượng nàng Mỵ Châu, chúng tôi không tin vì những lý do sau:
1/ Truyền thuyết Mỵ Châu-Trọng Thủy ghi : Khi nghe thần nói giặc ở sau lưng, nhà vua quay lại thì hiểu ra tất cả, ngài rút gươm chém chết con gái. Máu nàng Mỵ Châu tan vào biển, những con sò… (Ðại Việt sử ký toàn thư). Như vậy là truyện chỉ ghi nhà vua chém chết con gái mà không có nhân chứng vật chứng nào xác quyết chém đứt đầu. Vì vậy người ta không thể xuyên tạc truyền thuyết để làm ra bức tượng!
2/ Chúng tôi không tin là An Dương Vương lúc đó ở tuổi ngoài 70 lại làm một việc bất nhân là chặt đứt đầu con gái vì theo đạo lý, dù phải tội chết đến trăm lần đi nữa thì với trái tim người cha nhân từ, cũng phải cho con được chết toàn thây!
3/ Giả như việc chém đầu là có thật thì chúng tôi cũng không tin là ông cha ta vốn xưng con dân một nước văn hiến, nhân bản lại chọn một hình ảnh bi thảm, ghê rợn nhất trong câu chuyện dựng thành tượng!
Nhưng mới đây xem báo Văn nghệ số 35-36 ra tháng 9 năm 2004 thấy bức ảnh Nhà thơ Rumani Ana đến thăm đền thờ Mỵ Châu tại di tích Cổ Loa trong đó có tượng nàng Mỵ Châu bị cụt đầu tôi bỗng rùng mình kinh hãi! Sau cơn choáng váng, tĩnh trí lại chúng tôi tự hỏi: Tượng Mỵ Châu cụt đầu thể hiện những ý nghĩa gì? Bức tượng cho thấy:
1/ An Dương Vương là ông vua bất nhân bất trí. Họa mất nước chính ông gây nên nhưng lại đổ lỗi cho con gái. Cha giết con đã là vô đạo. Nhưng giết bằng cách chặt đầu thì quả là quá bất nhân!
2/ Người phương Tây có câu nói Không được đánh phụ nữ dù bằng một cành hoa! Trong khi ở ta cha chặt đầu con gái, một việc đại ác lại được tạc thành tượng thờ! Hành động tàn bạo trên đời không kể xiết nhưng chắc chắn không thể tìm thấy trên thế giới này có bức tượng thứ hai kinh dị thế! Thật buồn khi chúng ta khoe điều không tốt đẹp ấy với khách, một nữ sĩ nước ngoài! Thử hỏi khách sẽ nghĩ gì về dân tộc ta?
3/ Tượng không chỉ để thờ mà tượng còn là tác phẩm nghệ thuật. Ðặc trưng của tác phẩm nghệ thuật là đẹp và thiện. Bức tượng này không thể hiện cái đẹp, cái thiện nhưng là vật thờ linh thiêng.
Bức tượng chứng tỏ sự kém cỏi về óc thẩm mỹ cùng đức thiện của cha ông ta – những người tạc tượng và chúng ta – những người ngày nay tôn thờ chiêm ngưỡng tượng!
Ðấy là suy nghĩ ban đầu của chúng tôi. Nhưng khi tìm hiểu kỹ hơn thì thấy sự việc có khác: Cái được gọi là tượng Mỵ Châu thực ra chỉ là khối đá lớn, hình thù kỳ dị như người cụt đầu. Truyện kể rằng: “Mỵ Châu chết hóa thành hòn đá trôi ngược sông về thành Cổ Loa, báo mộng cho dân ra rước về. Rước đến gốc đa thì đá rơi xuống, dân lập am thờ ở đó.” Thật may là đã không có ai tạc pho tượng này. Người ta biến một hòn đá ngẫu nhiên thành vật thờ. Lại một môtip kiểu thần Man Nương chùa Pháp Vân! Một sự việc hoàn toàn mang tính tự phát. Việc làm này trái ngược với truyền thuyết Mỵ Châu -Trọng Thủy. Truyền thuyết nói rằng Trọng Thủy đem Mỵ Châu về chôn ở Cổ Loa. Và thực tế xác nhận: hiện ở Cổ Loa có mộ Mỵ Châu. Một người chết đã có mồ yên mả đẹp thì việc biến thành hòn đá trôi ngược sông về Cổ Loa là vô lý, bịa đặt không thuyết phục. Như vậy tượng cụt đầu được tạo ra không do một cơ sở vững chắc nào mà xuất phát từ lòng tin dị đoan vận vào một vật xuất hiện ngẫu nhiên. Có thể những người biến hòn đá thành tượng Mỵ Châu hiểu ý nghĩa của truyền thuyết Mỵ Châu -Trọng Thủy như một lời răn cảnh giác trước họa mất nước… Suy nghĩ đó tuy đúng nhưng chỉ là một mặt của truyền thuyết. Truyền thuyết có ý nghĩa rộng lớn hơn, sâu xa, minh triết hơn. Ngay cả cái ý Trái tim lầm chỗ để trên đầu nói về Mỵ Châu theo chúng tôi cũng chưa phải thấu nhân tình! Trái tim yêu muôn đời chỉ đập trong ngực. Với cái chết oan nghiệt của mình, đôi trẻ đã trả xong món nợ! Thông điệp của truyền thuyết nói rõ: Các con sò ăn phải máu Mỵ Châu hóa ngọc. Ngọc được rửa bằng nước giếng Trọng Thủy trầm mình thì sáng ra! Minh triết dân tộc đã tha thứ cho đôi trẻ, đã trả lại chất ngọc sáng trong tinh khiết của tình yêu! Ðấy mới chính là bản sắc văn hóa Âu Lạc! Do trình độ còn hạn chế, những người thờ tượng cụt đầu không hiểu được ý nghĩa nhân bản sâu xa, minh triết của truyền thuyết nên đã thờ một hòn đá ngẫu nhiên không phản ánh đúng bản chất của truyền thuyết, cũng có nghĩa là không phản ánh đúng bản sắc văn hóa dân tộc! Mỵ Châu có thể có tội trong việc làm mất ngôi vua của cha mình nhưng là người có công lớn với dân với nước Việt! Dựng một bức tượng như thế khác nào giết oan nàng thêm lần nữa! Khách đến thăm không ít người thấy bất ổn trước pho tượng nhưng vì sợ cái bóng tâm linh nên đành nhắm mắt cho qua! Phải chăng người Việt chúng ta sính tượng nên cái gì cũng muốn cụ thể hóa, vật chất hóa, tượng hóa? Nhưng rồi do bất tài lại ít tiền nên không ít bức tượng trở thành trò cuời, thành nỗi đau! Những bức tượng thô thiển làm nghèo đi, làm tầm thường đi trí tưởng tượng phong phú của con người! Tượng đàn bà cụt đầu là một trong số đó. Bức tượng tồn tại hơn trăm năm nhưng lẽ nào khi kiểm kê hiện vật trong khu di tích người ta không nhận ra? Ðiều này không lạ, vì như một bài viết trên báo Văn nghệ cách đây mấy năm, phát hiện ngay tại Ðền Ngọc Sơn giữa Thủ đô văn vật có nhiều câu đối bị viết sai hoặc đặt trái vế nhưng không được sửa!
Ðể thiết thực kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, chúng tôi xin đề nghị: Ðưa pho tượng người đàn bà cụt đầu ra khỏi đền thờ Mỵ Châu! Bức tượng xa lạ với bản chất dân tộc, phản giáo dục về thẩm mỹ và đạo lý, làm méo mó hình ảnh dân tộc trước bạn bè. Việc này không dễ vì đụng đến thói quen hàng trăm năm. Khi chưa làm được, xin rằng đừng ai đem khoe bức tượng, nhất là với bạn bè quốc tế!
PHẦN HAI: CỘI NGUỒN VĂN HÓA VIỆT NAM
Tìm nguồn gốc tổ tiên là việc vô cùng khó khăn vì thế 2000 năm nay chúng ta không làm nổi. Nhưng suy cho cùng, đó cũng chỉ là công việc của khoa học tự nhiên. Khi khoa học tiến bộ, sáng tạo những phương pháp và công cụ thích hợp, chúng ta cũng hoàn thành công việc mà hàng nghìn năm đành bất lực.
Nhưng tìm cội nguồn văn hóa của dân tộc lại là chuyện khác. Ðó không phải là sản phẩm của tự nhiên nên không thể có “công nghệ gene” thần kỳ nào giúp ta cả. Thêm vào đó, yêu cái đẹp, cái tiện ích là thuộc tính chung của con người. Trong quá trình sống gần hay xa nhau, con người luôn mượn của nhau những cái hay, cái đẹp, cái tiện ích mà mình chưa có. Vì vậy văn hóa các dân tộc hòa vào nhau như nước sông hòa vào nước biển… Tuy nhiên, chỉ duy nhất văn hóa còn lại như một gia tài cuối cùng xác nhận sự có mặt của một dân tộc giữa cộng đồng nhân loại. Vì vậy, dù khó đến mấy cũng phải tìm ra cội nguồn văn hóa của dân tộc Việt. Với dân tộc Việt, do số phận nghiệt ngã của mình, hơn một nghìn năm bị ngoại thuộc, không chỉ văn hóa vật chất bị phá, bị cướp mang đi mà văn hóa tinh thần, văn hóa phi vật thể cũng bị hủy hoại, cướp bóc hoặc bị đánh tráo… Giờ chính là lúc, từ trong gia tài bề bộn ấy cần tìm ra cái nào thực sự của mình, cái nào bị đánh cắp, cái nào người ta gán cho mình. Ðiều đó đánh dấu sự trưởng thành về văn hóa. Chỉ khi nào biết mình là ai, chúng ta mới biết mình cần đi tới đâu!
Ðó là công việc vô cùng khó khăn đòi hỏi tấm lòng, trí tuệ và công sức của cả dân tộc.
Rất may là, lúc này đây, việc tìm ra cội nguồn của tổ tiên giúp chúng ta những chỉ dẫn cần thiết để tìm ra cội nguồn văn hóa dân tộc.
Cho đến nay do bài học từ những học giả Pháp và Trung Hoa, người Việt vẫn đinh ninh rằng, cha ông ta là một đám Tàu lai, bị chính người Tàu xua đuổi từ phía Nam Trung Quốc chạy xuống xâm chiếm đất này, chèn ép thậm chí tiêu diệt người bản địa, lập nên nhà nước Văn Lang… Mặc nhiên, trong tâm tưởng người Việt, nhất là trí thức, mang mặc cảm nặng nề: chúng ta là đám thực dân chiếm đoạt của người bản địa từ lãnh thổ đến lịch sử. Khi giới khảo cổ tìm thấy dưới lòng đất những nền văn hóa xưa rực rỡ, chúng ta cũng vui mừng, cũng tự hào nhưng thế giới cũng như chúng ta biết rằng đó là niềm tự hào vay mượn…
Nay ta biết rằng, tổ tiên ta chính là những người đặt chân trước hết lên Ðông Nam Á, sau đó tiến lên mở mang miền đất mênh mông của nước Trung Hoa, có những người sang chinh phục châu Mỹ. Sau đó, do sự biến chuyển của lịch sử, tổ tiên ta lại trở về mái nhà xưa cùng những người anh em bà con đồng tộc của mình xây dựng nhà nước đầu tiên trên đất nước này. Sự hiểu biết đó cho phép chúng ta tự tin và tự hào chính đáng về tổ tiên về đất nước của mình.
CHƯƠNG IV VĂN HÓA TIỀN SỬ CỦA NGƯỜI VIỆT
Từ những khai quật khảo cổ học, chúng ta biết rằng khoảng 300.000 năm về trước, người cổ đã có mặt trên đất nước ta. Khí hậu nóng và ẩm nhiệt đới không giữ được hài cốt họ nhưng những di vật để lại nơi mái đá Núi Ðọ cho biết trình độ Người vượn Việt Nam ở vào sơ kỳ đồ Ðá cũ. Sau đó là thời kỳ dài tăm tối. Khảo cổ học cho thấy, giống Người đứng thẳng Homo erectus tứ 1,8 triệu năm trước đã từ châu Phi di cư sang châu Á và có mặt từ Indonesia (người Java) tới Việt Nam (Người Núi Đọ), Trung Quốc (người Bắc Kinh). Khoảng 250000 năm trước, họ di cư sang châu Âu và 24000 năm trước bị tuyệt chủng trên đất Israel dưới tên người Neanderthal.
Rồi trên đất cổ Phú Thọ chúng ta phát hiện văn hóa Sơn Vi với công cụ sơ kỳ Ðá Mới là những hòn cuội được ghè đẽo. Di chỉ Thẩm Khuyên có tuổi 32.000 năm thuộc nền văn hóa này. Khảo cổ học Việt Nam nhận định đó là văn hóa đá cuội sớm nhất ở Việt Nam.
Tiếp đó là văn hóa Hòa Bình xuất hiện khoảng 18.000 năm trước.
Trong những nền văn hóa từng có mặt trên đất Việt Nam, văn hóa Hòa Bình có vị trí đặc biệt, được khoa học khảo cổ thế giới xác nhận là trung tâm nông nghiệp và công nghiệp đá cổ nhất thế giới. Trước đây thế giới cho rằng trung tâm nông nghiệp cổ nhất là ở Lưỡng Hà có tuổi C14 là 7000 năm. Nhưng khi phát hiện ra 10.000 năm tuổi của động thực vật được thuần dưỡng tại Hòa Bình thì thế giới chấn động và tâm phục khẩu phục thừa nhận vai trò mở đầu của văn hóa Hòa Bình. Tháng Giêng năm 1932, Hội nghị Khảo cổ học Quốc tế về tiền sử Viễn Ðông họp tại Hà Nội xác nhận: “Văn hóa Hòa Bình là trung tâm phát minh nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp cùng chăn nuôi gia súc đầu tiên trên thế giới. Trung tâm nông nghiệp Hòa Bình có trước vùng Lưỡng Hà 3000 năm.” (Encyclopédia d’Archeologie)
Một phẩm chất nổi trội của văn hóa Hòa Bình là kỹ thuật chế tác đá cuội. Ðá cuội là loại đá cực rắn, nên việc ghè mài chúng rất khó khăn nhưng lại cần thiết cho việc chế tạo những dụng cụ khác như cầy, cuốc, thuổng… bằng đá, những thứ “máy cái” như thường nói sau này. Người Hòa Bình là cư dân dẫn đầu thế giới phát minh ra kỹ thuật này và sản phẩm của Hòa Bình được xuất khẩu đi nhiều nơi. Hòa Bình còn là nơi sớm nhất trên thế giới biết thuần dưỡng cây trồng và vật nuôi. Từ đây, lần đầu tiên trên thế giới cây lúa nước và khoai sọ ra đời.
Học giả Hoa Kỳ W.G. Solheim II, Jorhman, Trương Quang Trực (Trung Quốc) và học giả Nga N. Vavilow thừa nhận: “Ðông Nam Á mà chủ đạo là Việt Nam đã có một nền văn hóa tiền sử phát triển rất sớm, tiên tiến và nhanh chóng, sáng tạo và sống động chưa từng thấy ở nơi nào trên thế giới.”(25)
Học giả Hoa Kỳ C. Sauer viết trong cuốn Ðồng quê: “Ðúng là nông nghiệp đã tiến triển qua hai giai đoạn mà giai đoạn đầu là văn hóa Hòa Bình. Lúa nước đã được trồng cùng lúc với khoai sọ.”(26)
Dường như thấy chưa đủ, ông viết tiếp trong cuốn Cội nguồn nông nghiệp và sự phát tán: Tôi đã chứng minh Ðông Nam Á là cái nôi của nền nông nghiệp cổ nhất. Và tôi cũng chứng minh rằng văn hóa nông nghiệp có nguồn gốc gắn liền với đánh cá bằng lưới ở xứ này. Tôi cũng chứng minh rằng những động vật gia súc xưa nhất bắt nguồn từ Ðông Nam Á, và đây là trung tâm quan trọng của thế giới về kỹ thuật trồng trọt và thuần dưỡng cây trồng bằng cách tái sinh sản thực vật.” (27)
Và đây là ý kiến của ông W.G. Solheim II viết năm 1967:
“Tôi cho rằng khi chúng ta nghiên cứu lại nhiều cứ liệu ở lục địa Ðông Nam Á, chúng ta hoàn toàn có thể phát hiện ra rằng việc thuần dưỡng cây trồng đầu tiên trên thế giới đã được dân cư Hòa Bình (Việt Nam) thực hiện trong khoảng 10.000 năm TCN…”
“Rằng văn hóa Hòa Bình là văn hóa bản địa không hề chịu ảnh hưởng của bên ngoài, đưa tới văn hóa Bắc Sơn.”
“Rằng miền Bắc và miền Trung lục địa Ðông Nam Á có những nền văn hóa tiến bộ mà trong đó đã có sự phát triển của dụng cụ đá mài nhẵn đầu tiên của châu Á, nếu không nói là đầu tiên của thế giới và gốm đã được phát minh…” “Rằng không chỉ là sự thuần hóa thực vật đầu tiên như ông Sauer đã gợi ý và chứng minh mà thôi, mà còn đi xa hơn, nơi đây đã cung cấp tư tưởng về nông nghiệp cho phương Tây. Và sau này một số cây đã được truyền đến Ấn Ðộ và châu Phi. Và Ðông Nam Á còn tiếp tục là một khu vực tiên tiến ở Viễn Ðông cho đến khi Trung Quốc thay thế xung lực này vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, tức khoảng 1500 năm TCN.”(28)
Bốn năm sau, tháng 3/1971 vị giáo sư Ðại học Hawaii này từ những khảo sát ở Thái Lan lại cho in một công trình quan trọng dưới nhan đề Ánh sáng mới dọi vào vùng bị lãng quên:
“Trong mục đích tìm về thời tiền sử ở Ðông Nam Á, chúng tôi cho rằng văn minh Ðông Nam Á phải được trải rộng ra tới những khu vực có các nền văn hóa liên hệ. Từ ngữ tiền sử Ðông Nam Á mà tôi sử dụng chứa đựng hai phần. Phần thứ nhất hay là phần đất chính Ðông Nam Á được trải dài từ rặng núi Tần Lĩnh phía bắc sông Hoàng Hà của Trung Hoa cho tới Singapore và từ miền Ðông Hải tiến về phía tây tới Miến Ðiện, vào tận Assam của Ấn Ðộ. Phần khác được gọi là quần đảo Ðông Nam Á đánh một vòng cung từ quần đảo Andaman ở nam Miến Ðiện tới Ðài Loan bao gồm Indonesia và Philippine.”
“Những chứng cứ từ những địa điểm khảo cổ trong vùng Ðông bắc và Tây bắc Thái Lan, với những phụ họa từ những khai quật ở Ðài Loan, Bắc và Nam Việt Nam, Mã Lai, Philippine và ngay cả từ bắc Australia cho thấy những di tích của những dân tộc đã trồng cây, chế tạo đồ đá, đồ gốm hàng ngàn năm trước các dân tộc sống ở vùng Cận Ðông, Ấn Ðộ và Trung Quốc.”
“Trong một địa điểm khai quật ở bắc Thái Lan, các nhà khảo cổ đã tìm thấy đồng được đúc trong những khuôn đôi vào khoảng từ 2300 đến hơn 3000 năm TCN. Ðó là những chứng cứ cụ thể cho thấy việc đúc đồng ở đây đã có trước cả Trung Hoa hay Ấn Ðộ cũng như vùng Cận Ðông mà tới bây giờ các chuyên gia vẫn còn tin là nơi luyện đồng đầu tiên trên thế giới.”
“Có người hỏi rằng, nếu sự việc này quá quan trọng đến như vậy tại sao vai trò vùng Ðông Nam Á chưa từng được biết đến? Lý do rất đơn giản là rất ít cuộc khai quật khảo cổ được tiến hành trước năm 1950. Các viên chức thuộc địa ít chú ý tới chuyện này. Thêm nữa, những kết quả khảo cổ tìm được đã bị diễn dịch theo giả thuyết văn hóa được phát triển theo chiều hướng đông tiến hoặc nam tiến. Những học giả này cho rằng nền văn minh nhân loại bắt đầu từ vùng Cận Ðông lan ra Ai Cập, tiếp theo là Hy Lạp và La Mã. Nền văn minh cũng đông tiến tới Ấn Ðộ và Trung Hoa. Ðông Nam Á vì quá xa nên chỉ tiếp nhận văn minh sau các vùng trên. Khi phát hiện rằng văn hóa của các nước Ðông Nam Á giống với Trung Hoa và Ấn Ðộ, người châu Âu cho rằng văn hóa hai nước này đã ảnh hưởng đến vùng Ðông Nam Á.”
Wilhem Solheim II viết tiếp:
“Tôi nghĩ rằng những đồ đá sắc cạnh có sớm nhất tìm thấy ở miền Bắc châu Úc 20.000 năm TCN có nguồn gốc thuộc Hòa Bình.”
“Tôi đồng ý với Sauer là những người dân thuộc nền văn hóa Hòa Bình là những người đầu tiên trên thế giới đã thuần hóa cây cỏ ở một nơi nào đó trong vùng Ðông Nam Á. Việc này cũng chẳng làm tôi ngạc nhiên nếu sự thuần hóa này bắt đầu sớm nhất khoảng 15.000 năm trước Công nguyên.”
“Thuyết cho rằng tiền sử Ðông Nam Á đã di chuyển từ phương Bắc xuống, mang theo những tiến triển quan trọng về nghệ thuật. Tôi thấy rằng văn hóa Sơ kỳ Ðá mới (Proto-Neolithic) phía Bắc Trung Hoa gọi là văn minh Yangshao (Ngưỡng Thiều) đã do trình độ thấp văn hóa Hòa Bình phát triển lên từ miền Bắc Nam Á vào khoảng kỷ nguyên thứ VI hay V TCN.”
“Tôi cho rằng, văn hóa sau này được gọi là Lungshan (Long Sơn) mà người ta xưa nay vẫn cho là nó xuất phát ở Yangshao phía Bắc Trung Hoa rồi mới bành trướng sang phía Ðông và Ðông Nam, thì thực ra cả hai nền văn hóa ấy đều phát triển từ căn bản Hòa Bình.”
“Việc dùng thuyền độc mộc có lẽ đã được sử dụng trên các dòng sông nhỏ ở Ðông Nam Á từ lâu, trước kỷ nguyên thứ V TCN. Tôi tin rằng việc di chuyển bằng thuyền ra ngoài biển bắt đầu khoảng 4000 năm TCN, tình cờ đã đi đến Ðài Loan và Nhật Bản đem theo nghề trồng khoai sọ và có lẽ các hoa màu khác.”
“Dân tộc Ðông Nam Á cũng đã di chuyển sang phía tây, đạt tới Madagascar có lẽ vào khoảng 2000 năm TCN. Có lẽ họ đã cống hiến một số cây thuần dưỡng cho nền kinh tế miền Ðông châu Phi.”
“Vào khoảng thời gian ấy có sự tiếp xúc đầu tiên giữa Việt Nam và Ðịa Trung Hải có lẽ qua đường biển. Một số đồ đồng ít thông dụng xác chứng nguồn gốc Ðịa Trung Hải cũng đã tìm thấy ở địa điểm Ðông Sơn.”(29)
Ðể giúp bạn đọc một chút thư giãn, chúng tôi xin chép lại đây đoạn văn mô tả việc làm thuyền độc mộc của người xưa:
“Thoạt tiên người thợ làm thuyền chọn cây sao có kích thước lý tưởng, đường kính từ 80-100cm. Phải là cây đứng trên đất bằng vì tán lá cân đối, cấu trúc gỗ đẹp. Hạ cây đổ, người thợ cả quyết định chặt ngọn, lột vỏ. Từ hai đầu phẳng, chừa ra 50 cm mỗi đầu, đẽo hai mũi thuyền xẻ theo hình lá mây hay đuôi cá. Tiếp đó chặt và tách bỏ 4/10 đường kính thân cây, giữ lại phần sẽ làm khoang thuyền bằng cách chặt vát và tách bằng nêm. Người xưa có lẽ đã dùng loại đục nêm giống những chiếc đục đá ở Bảo tàng Côn Ðảo, giống cách tách gỗ của người da đỏ châu Mỹ.
Lăn nghiêng cây qua, úp lại, kê rồi đẽo phần mạn, phần đáy cho cân đối. Sau đó trở lại kê bằng để đẽo lòng thuyền.
Người thợ cả dùng một cây đinh mồi là cật tre già nướng qua lửa cho thật cứng, dài bằng bề ngang hai ngón tay trỏ và giữa, đóng cách đều khoảng nửa gang tay (10 cm) theo những đường ngang. Mỗi hàng đinh như vậy lại cách nhau khoảng 60-80 cm. Lưu ý là mọi mũi đinh đều hướng vào tâm thân cây. Ðóng rồi thì rút đinh ra. Sau đó đóng những chốt như đinh bằng chính gỗ sao vừa moi ra, thui qua lửa, có đường kính và chiều dài bằng nhau. Những đinh này để làm cỡ khi đẽo bên trong thuyền cho được mỏng đều. Thực chất đó là cách đo ngầm bên trong lòng thuyền.
Việc lấy gỗ từ lòng thân cây thường không dùng rìu mà dùng một công cụ giống như xẻng đào lỗ, máng hơi cong, mặt phẳng, cán tròn dài khoảng 1,2 m để đục chọt ngang và đào tung gỗ bằng loại cuốc đặc biệt giống chiếc cuốc đá Khánh Hòa, cho phép gọt từng lát mỏng đều.
Bí quyết thứ hai của người Mạ và J’ro là nong rộng lòng thuyền. Ðây là kinh nghiệm truyền thống tích lũy từ lâu đời. Những cây đường kính 1 met, người ta có thể căng rộng ra đến 1,5 m.
Công việc này đồng bào Mạ gọi là đố thuyền. Lúc này gỗ còn tươi, chứa nhiều nước nên cũng có thể hiểu như việc hấp hay luộc gỗ cho mềm để dễ kéo căng ra. Họ nâng thuyền lên dàn cao khoảng 1 met, đốt lửa bên dưới, cử hai người trông coi lửa và quan sát thuyền. Người thợ cả chịu trách nhiệm về sự cân xứng của con thuyền. Thuyền được úp xuống, từ đầu tới đuôi được chia làm 4 đoạn, đặt 3 miếng sáp ong rú lớn cỡ 4 ngón tay ở 3 vị trí trên bụng thuyền. Người giữ lửa chú ý quan sát độ nóng chảy của sáp để điều chỉnh nhiệt độ cho nóng đều và tránh ngọn lửa bắt lên cháy thuyền.
Những người khác dùng cây chuẩn bị sẵn để găng, để uốn mạn thuyền. Họ cột hai cây vào phía trong và phía ngoài mạn rồi dùng lực kéo cho mạn thuyền dãn dần ra. Người thợ cả ngắm để chỉnh mức kéo cho đều. Khi đạt yêu cầu thì dùng cây găng lại. Khi thuyền hoàn thành, người ta giữ từ 4 đến 6 cây găng vừa làm xương cho thuyền vững vừa dùng để ngồi. Bằng cách này, người ta làm được những con thuyền độc mộc dài 7-8 m rộng 1,3-1,5 m. Cũng có những chiếc rộng đến 2,5 m. Thuyền độc mộc có thể chở được 2 trâu cày, người chăn trâu và cày bừa, khối lượng tới 3 tấn qua sông. (30)”
Trước đây giới khảo cổ vẫn quan niệm là văn hóa Hòa Bình không có đồ gốm, trong khi đồ gốm nổi tiếng Lapita tìm thấy ở nhiều đảo ngoài khơi Ðông Nam Á, có 3500 tuổi. Nhưng mới đây đã chứng minh được, gốm cổ nhất tìm được ở Việt Nam là gốm Hang Ðắng, tiếp đó là gốm tìm được ở bờ biển Hạ Long, Cái Bèo, Ða Bút, Quỳnh Văn, đến Bàu Tró, Sa Huỳnh… Gốm Lapita có nguồn gốc từ gốm trong hang động ở Thường Xuân, Thanh Hóa, Quỳ Châu (Nghệ An)…là con đẻ của gốm Ða Bút, Quỳnh Văn, Bàu Tró.(31)
Tiếp theo văn hóa Hòa Bình là văn hóa Bắc Sơn mà chủ nhân thuộc về nhóm Indonesian và Melanesian có tuổi từ 8000 đến 6000 năm TCN.
Sau đó là thời đại Đồ đồng bắt đầu từ Phùng Nguyên 4000 năm TCN, trải qua Ðồng Ðậu, Gò Mun… làm nên văn hóa Ðông Sơn vào khoảng 2000 đến năm 111 TCN. Ðây là thời kỳ phát triển rực rỡ của đồ đồng mà tiêu biểu là linh khí của người Việt: trống đồng. Trống đồng tìm thấy trên địa bàn rộng lớn gồm lục địa Ðông Nam Á, từ Tứ Xuyên cho đến Malacca. Niên đại đồ đồng sớm nhất tìm được ở Phùng Nguyên là năm 1850 TCN. Còn đồ đồng tìm được ở Hải Môn Khẩu ở miền Nam Trung Hoa có tuổi 1130 TCN. Ðiều này có thể giải thích là nghề đúc đồng đã từ Ðông Sơn đi lên.
Một đặc điểm là đồ đồng Ðông Sơn rất giống với những đồ bằng đá bằng gốm của Phùng Nguyên, cả về hình dáng lẫn hoa văn: rìu đá hình chữ nhật của Phùng Nguyên trông tương tự những lưỡi rìu bằng đồng thau của văn hóa Ðông Sơn. Những mũi tên đồng Cổ Loa không khác tên bằng đá thời Phùng Nguyên. Kết cấu và hoa văn của thạp đồng Ðào Thịnh hay Hợp Minh tìm được tại vùng đất Phong Châu tuy tinh tế hơn nhưng cũng cùng kiểu dáng và hoa văn trên các thạp gốm thời kỳ Phùng Nguyên.
Khi phân tích thành phần hợp kim trên đồ đồng Phùng Nguyên, các nhà khảo cổ học Việt nam cho thấy: mẫu vật cổ nhất tìm được ở Gò Bông có niên đại 1850 TCN là đồng thau, tức đồng có pha thiếc. Tại Việt Nam cũng như di chỉ Hải Môn khẩu bên sông Dương Tử đều không tìm thấy những vật dụng bằng đồng nguyên chất, tức đồng đỏ. Ðến văn hóa Ðồng Ðậu ở di chỉ Vườn Chuối, kỹ thuật đồng, ngoài thiếc có thêm antimoine. Từ Ðông Sơn về sau, chì được pha thêm làm cho đồ đồng trở nên dai bền hơn. Văn hóa đồng thau đến giai đoạn Ðông Sơn muộn phát triển tới đỉnh cao, làm ra những vật dụng có độ thẩm mỹ tinh tế. Ngày nay, dù nhiều cố gắng nhưng những thợ lành nghề nhất cũng không làm nổi những chiếc trống tinh xảo như thế.
Giáo sư Trung Quốc Lân Thuần Thanh xác nhận: “Bắt đầu khởi đúc trống đồng là ở Trung Quốc Bách Việt mà Hoa Trung là địa khu từ xa xưa của dân Bách Việt. Trống đồng nhiều nhất ở huyện Hưng Văn tỉnh Tứ Xuyên, còn ở bán đảo Ðông Dương thì trống đồng Lạc Việt ở miền Bắc và miền Trung là có tiếng hơn cả. F. Heger gọi trống đồng Lạc Việt thuộc hạng thứ nhất.” (Nguyễn Ðăng Thục bđd). Theo học giả này thì khởi đúc trống đồng là ở Trung Quốc Bách Việt. Ðiều đó chỉ đúng một nửa: Trống đồng ở Trung Nguyên do người Việt đúc. Nhưng khởi đúc thì phải từ Ðông Sơn. Trống Ðông Sơn có trước trống Hưng Văn mà phẩm chất vượt trội.
Không phải ngẫu nhiên mà thời Ðông Sơn trùng với thời lập nước Văn Lang. Nhiều tài liệu nói rằng, vào cuối thiên niên kỷ thứ II tức khoảng sau 1500 năm TCN do sự dồn ép của người Hán, nhiều tộc người trong cư dân Bách Việt sống ở lưu vực sông Dương Tử rời bỏ vùng cư trú trở lại Ðông Nam Á. Người Mianma tìm về đất Mianma, người Thái trở về đất Thái và người Việt về với đất Việt… Từ những kinh nghiệm thu lượm được ở phía Bắc, những người trở về nói với đồng bào mình rằng: thời thế đã thay đổi. Bên cạnh chúng ta đang hình thành những nhà nước hùng mạnh và thiện chiến. Không chỉ xua đuổi chúng tôi mà được thể, họ sẽ tràn xuống chiếm đất của chúng ta. Ðể sống còn, chúng ta không thể duy trì tình trạng bộ lạc mà phải liên kết các bộ lạc lại xây dựng thành nhà nước thống nhất, phải có quân đội, phải rèn vũ khí… Có lẽ các nước Miến, Thái, Việt, Lào, Miên cổ đã được hình thành như thế. Có thể ông W.G Solheim II đúng phần nào khi nói: “Và Ðông Nam Á còn tiếp tục là một khu vực tiên tiến ở Viễn Ðông cho đến khi Trung Quốc thay thế xung lực này vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, tức khoảng 1500 năm TCN.” Nhưng sự thực là, trong khi Trung Quốc chiếm thế thượng phong tạo dựng nền văn hóa mới thì không phải văn hóa Ðông Nam Á lụi tàn. Khi xây dựng được quốc gia trên đất hương hỏa của mình, kết hợp kinh nghiệm tại chỗ cùng với sự khôn ngoan của những người trở về, các tộc người Ðông Nam Á đã đẩy văn minh Ðông Nam Á lên giai đoạn rực rỡ mới, đó là văn hóa đồng thau thời Ðông Sơn. Trống đồng Ðông Sơn lan tỏa ra các hòn đảo ngoài khơi, sang đất Thái Lan. Người Thái Lan cũng làm nên văn hóa đồng đặc sắc của mình. Tại nước Thục phương Bắc cũng có văn hóa đồng thau tinh xảo và sớm hơn cả đồng nhà Thương của người Hán.
Trong 3 cái mốc tạo nên văn minh nhân loại: phát minh ra lúa nước, kỹ thuật hàng hải và xây dựng đô thị thì tổ tiên người Ðông Nam Á, trong đó có Việt Nam chúng ta đã là người đầu tiên sáng tạo ra lúa nước. Tổ tiên ta cũng rất sớm chế ra thuyền vượt biển đi lại trong vùng và giao thương với thế giới.
Vào cuối thời Ðông Sơn, trong sự phát triển chung của khu vực, người Âu Lạc xây dựng thành quách đầu tiên tại bộ Vũ Ninh, sau gọi là thành Cổ Loa. Thành này do tướng quân Cao Lỗ theo sự chỉ đạo của An Dương Vương xây dựng. Ta biết rằng năm 257 TCN, Thục Phán được nước của vua Hùng Duệ vương. Chỉ năm sau ông chủ trương dời đô về Vũ Ninh. Phải nói đây là tư tưởng cách tân rất táo bạo của Thục Phán. Ðiều này chứng tỏ ông có tầm nhìn chiến lược rất xa. Tầm nhìn này phải chăng có được một phần nhờ ông là dòng dõi của nước Thục, một quốc gia mạnh, có nền văn hóa cao lại có nhiều kinh nghiệm trong cuộc chống chọi với nhà Tần? Vì vậy ngay khi lên nắm quyền, chàng trai mới ngoài hai mươi tuổi nhận ra kinh đô Văn Lang của các vua Hùng là sản phẩm của cuộc sống bộ lạc nông nghiệp ổn định, thanh bình, giống như một cái làng, một “chạ cả” vừa không đủ khả năng lãnh đạo đất nước lúc này đã rộng lớn, vừa không thể chống chọi trước sức tấn công của kẻ thù. Chàng nhận ra rằng dời đô là công việc đầu tiên phải làm. Vũ Ninh lúc đó là trung tâm của Âu Lạc mà vùng đông dân hơn, đô hội hơn là Kẻ Dâu nhưng không thể chọn nơi đó đóng đô vì đất hẹp, sông nhỏ không thích hợp cho một kinh đô lớn. Việc chọn Kẻ Lũ (Cổ Loa) là hoàn toàn chính xác.
Trong việc đắp thành, điều khiến ta quan tâm là chọn kiểu thức xây thành. Ở phương Bắc, người thời Chiến Quốc đã xây rất nhiều thành. Các thành của họ đều hình vuông hay hình chữ nhật. Dùng lao động đông đảo và nhiều vật liệu, họ bạt đồi lấp hồ ao để đắp những tòa thành vuông. Trong khi đó, Thục vương dựa trên thực tế mặt bằng của vị trí xây thành đã cho nối những quả đồi thấp ở gần nhau lại, không theo hình dạng nhất định, tạo ra hai vòng thành hình trái lê gần khép nhau ở phía nam. Vòng thành ngoài có chu vi 8000 m, chiều cao trung bình 3-4 m, chân thành rộng 10-12 m. Vòng thành trong chu vi 6500m, cao từ 6-12 m, mặt thành rộng 10 m, chân thành rộng 20m. Cả hai vòng thành chung một cửa Nam. Cách làm này tận dụng tối ưu địa hình nên đạt hiệu quả cao về thời gian, nhân lực cùng vật liệu. Mỗi vòng thành đều có hào sâu ở ngoài, tiếp đó là bãi cắm chông và trồng tre gai, bên trong là lũy cao. Do lũy rất cao nên người Hán gọi là thành Côn Lôn. Tận dụng lợi thế của thiên nhiên là Ðầm Cả và những nhánh của sông Hoàng, trong và ngoài thành còn có đường thủy giúp giao thông thuận tiện và thủy binh tiến lui linh hoạt. Do phải đắp thành qua những đầm hồ nên xử lý móng là vấn đề kỹ thuật quan trọng bậc nhất. Lúc đầu vì chưa đủ kinh nghiệm nên nhiều đoạn thành bị đổ, sau đó học được kỹ thuật cắm kè, dùng gạch ngói vỡ và đá làm móng nên việc xây thành được thuận lợi.
Thực tế cho thấy công hiệu của thành Cổ Loa: Nhâm Ngao nhiều lần tấn công phá thành nhưng đều thất bại. Như vậy là trong việc xây thành lũy đầu tiên của mình, người Việt đã tỏ ra sáng tạo độc đáo. Do vị trí như vậy mà một nghìn năm sau, khi chiến thắng quân Nam Hán, Ngô Quyền chọn Cổ Loa làm nơi đóng đô đầu tiên của nhà nước tự chủ.
Nhân đây xin bàn đôi lời về tòa thành này.
Hồi nhỏ chúng tôi được học: “Thành có hình xoắn ốc nên gọi là thành Cổ Loa.” Rồi quá nhiều lần đọc đâu đó: “Loa Thành là biểu hiện trí tuệ độc đáo tuyệt vời của người Việt về mặt khoa học quân sự mà không nơi nào trên thế giới có được!” Nghe vậy thì biết vậy nào dám cãi, tuy cũng hơi ớn cái giọng vỗ ngực tự phụ kiểu phường tuồng!
Nhưng rồi một lúc nào đó chúng tôi giật mình tự hỏi: Người ta đánh nhau thế nào trong cái thành hình xoắn ốc như vậy? Và nhận ra, chẳng cần hiểu biết lắm về quân sự, cũng thấy được là, chỉ cần tạo một cửa mở, quân địch sẽ như nước lũ ào theo đường xoắn ốc vào chém tướng bắt vua, vì không còn vật gì ngăn giặc! Tường thành lúc này lại trở nên vật cản không cho quân từ ngoài vào cứu! Như vậy, thành hình ốc chẳng phải sáng kiến hay ho gì về khoa học quân sự mà kỳ thực là một cái bẫy tai họa!
Nghi ngờ ưu thế quân sự của Loa Thành dẫn chúng tôi tới nghi ngờ sự tồn tại của một tòa thành hình xoắn ốc. Ðiều này buộc chúng tôi tìm hiểu về cấu trúc của Loa Thành.
Ðược biết, vào những năm 60 thế kỷ trước, Trường Ðại học Tổng hợp Hà Nội khảo sát di tích thành Cổ Loa và công bố những số liệu sau:
Trên hiện trạng di tích, thành có 3 vòng:
- Vòng ngoài hình dạng không cố định, chu vi 8000 m
- Vòng giữa hình dạng không cố định, khuôn theo vòng ngoài, chu vi 6500 m
- Vòng trong hình chữ nhật, chu vi 1650m.
Mỗi vòng thành đều có 3 lớp: hào sâu ở ngoài, lớp rào gai hay chông ở giữa và bên trong là thành đất. Vòng thành ngoài và vòng thành giữa không có hình dạng nhất định, gần như quả lê, phình to mạn bắc, thu hẹp dần về phía nam rồi nối liền nhau, chừa một khoảng trống làm cửa Nam. Vòng thành trong hình chữ nhật, trên mặt thành có 12 ụ lửa (hỏa hồi).
Căn cứ đặc điểm các vòng thành, các nhà khảo cổ kết luận:
- Vòng thành ngoài và giữa do An Dương Vương đắp.
- Vòng thành trong (Thành Nội ) được gọi là Kiển Thành do Mã Viện xây sau khi dẹp xong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
Như vậy là trong vòng 300 năm từ khi xây dựng cho đến khi khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, thành Cổ Loa do An Dương Vương đắp chỉ có hai vòng thành, mỗi vòng gồm ba lớp. Hai vòng thành này cách biệt. Không hề có việc các vòng thành cuộn hình xoắn ốc.
Sau năm 43, Mã Viện cho đắp thành nội hình chữ nhật ở vị trí trung tâm vòng thành giữa, gọi là Kiển thành (thành hình tổ kén). Thành nội cũng có 3 lớp và cũng cách biệt với hai vòng thành bên ngoài. Như vậy, thành Cổ Loa thời Mã Viện có 3 vòng thành cách biệt, thuộc loại hình thành lũy cổ điển, về nguyên lý kiến trúc không có gì khác so với những thành lũy có trước nó.
Từ phân tích trên cho thấy thành Cổ Loa thời An Dương Vương là một thành lũy bình thường không hề có hình xoắn ốc! Vì vậy không thể nói Thành có hình xoắn ốc nên gọi là thành Cổ Loa! Và lẽ đương nhiên, nếu nhìn ra vẻ có hình xoắn ốc thì chính là do Mã Viện xây Thành Nội mà có chứ không phải sáng tạo của An Dương Vương!
Vậy tên Thành Cổ Loa từ đâu ra?
Cuốn sách đầu tiên nói đến thành của An Dương Vương là Nam Việt chí của Thẩm Hoài Viễn thế kỷ thứ 5. Nhưng sách đã mất, người tra cứu chỉ gặp từng đoạn trong những sách khác, đoạn sau do sách Cựu Ðường thư dẫn lại: “An Dương Vương cai trị Giao Chỉ. Thành có 9 vòng, chu vi 9 dặm.”
Tùy thư ghi: “Lý Phật Tử đóng đô ở Việt vương cổ thành.”
An Nam chí lược của Lê Tắc thế kỷ XIV viết: “Thành Việt vương tục gọi là thành Khả Lũ.”
Tới thế kỷ XV, An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng người đời Minh viết: “Việt vương thành ở huyện Ðông Ngạn, còn gọi là Loa thành.” “Có tên Loa Thành vì thành ấy quanh co như hình con ốc.”
Phân tích những lời dẫn trên ta thấy:
1- Nam Việt chí viết không chính xác, đã gộp cả Kiển Thành của Mã Viện vào thành cũ của An Dương Vương. Từ đấy các sách khác viết sai theo.
2- An Nam chí nguyên nói: có tên Loa Thành vì thành ấy quanh co như hình con ốc. Nếu dựa vào hình dạng bên ngoài của thành thì sự ví von của An Nam chí nguyên có thể chấp nhận. Nhưng cách ví von này không có nghĩa An Nam chí nguyên bảo rằng thành có hình xoắn ốc. Cách giải thích “thành có hình xoắn ốc nên gọi là Loa Thành” là sự hiểu lầm ý của sách An Nam chí nguyên.
Thử giải thích tên Loa Thành:
Chúng tôi đoán rằng cái chạ mà An Dương Vương chọn định đô vốn có tên Việt là Kẻ Lủ (có nghĩa là Người Ốc), vì đấy là vùng nhiều ao đầm có lắm ốc. Trong thời Âu Lạc được thay bằng Thành Chủ nhưng Kẻ Lủ vẫn sống trong ký ức người dân. Khi Mã Viện tới, lấy lại tên gọi thời Tần là Thành Côn Lôn. Mỗi khi một thế lực cai trị đến đóng, thành lại được đặt tên cho phù hợp. Ðến thế kỷ XIV, vào thời Lý Phật Tử, thành được lấy theo tên nôm Kẻ Lủ nhưng chuyển sang tên chữ là Khả Lũ. Thời Lý Phật Tử quá ngắn, sau đó thành bị bỏ hoang phế, người dân lại gọi theo tên cũ Kẻ Lủ. Sang thế kỷ XV, Kẻ Lủ được chuyển sang âm Hán Việt là Cổ Loa. Những người làm sách đến thăm thành cũ, theo tên địa phương gọi là Thành Cổ Loa, rồi từ đó chuyển sang Loa Thành.
Tác giả An Nam chí lược, cũng như các tác giả trước đó thấy tòa thành cổ có 3 vòng gồm 9 lớp nhưng không biết vòng Kiển Thành do Mã Viện đắp nên gộp tất cả vào cho An Dương Vương. Nhìn hình dạng bề ngoài tòa thành và nghe tên thành là Cổ Loa rồi vì từ tố loa-ốc đã suy đoán là thành quanh co như con ốc nên gọi là Loa Thành.
Kết quả là từ cuốn sách này làm cho người sau lầm tưởng thành được kiến trúc hình xoắn ốc. Rồi nhân đó những người hoang tưởng cho là biểu hiện trí tuệ độc đáo tuyệt vời của người Việt về mặt khoa học quân sự mà không nơi nào trên thế giới có được!
Họ không biết rằng, thành của An Dương Vương chỉ có 2 vòng, 6 lớp nên không có hình xoáy ốc. Hình xoáy ốc nếu có lại là kết quả việc làm vô tình của Mã Viện!
Ðến thời Hùng Vương, xã hội Việt Nam tổ chức nhà nước dưới hình thức liên bộ lạc. Cả nước chia ra 15 bộ lạc do các lạc hầu, lạc tướng dẫn dắt mà vua Hùng ở vị thế đứng đầu liên minh các bộ lạc. Liên minh các bộ lạc của vua Hùng có luật pháp thống nhất. Tuy nay không còn văn bản nào ghi chép các điều luật đó, chỉ biết, sau khi chiếm lại được Giao Chỉ từ Hai Bà Trưng, Mã Viện tâu với vua Hán là luật Giao Chỉ có 10 điều khác luật nhà Hán cần phải bãi bỏ. Ngoài luật pháp, nhà nước của vua Hùng còn thống nhất ở tâm linh đó là tục thờ vị tổ chung là Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân. Chính vị tổ chung này đã góp phần quan trọng gắn kết các bộ lạc người Việt với nhau.
Ở dưới bộ lạc là đơn vị dân cư cuối cùng: làng chạ. Làng chạ gồm những người gần gũi về huyết thống sống quần tụ với nhau. Trong cộng đồng làng chạ dần hình thành khế ước cộng đồng, hoàn chỉnh dần và trở thành hương ước sau này. Làng chạ là một cộng đồng nông nghiệp tương đối khép kín. Ðiều này làm cho xã hội có xu hương bảo thủ kiểu dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn nhưng mặt khác, nó lại giúp cho việc bảo tồn những sắc thái văn hóa dân tộc trước sự đô hộ lâu dài của ngoại bang. Nhờ vậy, sau nghìn năm mất nước, dân tộc Việt vẫn giữ được bản sắc văn hóa của mình.
Trong văn hóa phi vật thể của người Việt có những tục lệ sau:
Tục xăm mình. Ðại Việt sử ký toàn thư viết: dân xuống sông hồ đánh cá, thường bị thuồng luồng làm hại, tâu với vua. Hùng Vương bảo: thuồng luồng là giống ưa vật giống mình, ghét vật khác mình, vậy hãy lấy mực vẽ vào người cho giống hình nó, thuồng luồng tưởng là họ hàng nên không làm hại. Tục xăm mình có từ đó.
Ðúng là người Việt có tục xăm mình nhưng quy công cho vua Hùng có lẽ không thỏa đáng. Tục này là của những người đánh cá, do sự ngẫu nhiên nào đó thấy những người có vết chàm vết bớt trên người ít bị cá sấu hại (?), người ta bắt chước vẽ hình cá sấu lên người. Dần dần cá sấu trở thành vật tổ, tôn giáo thờ “tô tem” ra đời và giao long, con cá sấu trong các sông rạch đầm lầy trở thành vật tổ của người đánh cá rồi được hình tượng hóa thành con rồng.
Tục xăm mình vì vậy không chỉ của người Việt mà là của cộng đồng cư dân Ðông Nam Á cộng cư với nhau trên vùng đất nhiều sông hồ Hainanland, Sundaland sống bằng nghề đánh cá. Khi chia tay nhau để lên Bắc hay xuống Nam, những tộc người Ðông Nam Á này mang theo đến vùng đất mới khiến cho tục xăm mình phổ biến từ lưu vực sông Hoàng Hà tới tận những hòn đảo xa ngoài khơi Thái Bình Dương, Ấn Ðộ Dương.
Tục ăn trầu cũng hình thành từ rất sớm. Trầu cay, cau chát, vôi nồng tạo sức ấm nóng cho những người mò tôm bắt cá hay cày cấy ngoài đồng xa. Cùng với tục ăn trầu là tục nhuộm răng đen, giữ cho bộ răng chắc khỏe và cũng làm nên cái đẹp của phụ nữ trong quan niệm thẩm mỹ thời đó. Cùng với tục ăn trầu, Truyện Trầu cau cũng không phải là sản phẩm riêng của người Việt mà của chung Ðông Nam Á. Tích Sơn Tinh, Thủy Tinh và Trầu Cau của ta nói về hai người cùng yêu một cô gái với nhiều khúc mắc éo le tương tự như tích Kulabob và Manup của các bộ lạc Nam Ðảo. S. Oppenheimer kể rằng, chuyện tích này rất dài, người ta kể cả ngày, thỉnh thoảng người kể phải ngừng lại để ăn trầu.
Trong cổ tích của người New Guinea, Kulabob được xem là thủy tổ của người nói tiếng Nam Ðảo. Manup là anh, còn em là Kulabob đôn hậu tài ba đã chế ra thuật xăm mình, biết đóng tàu đi biển, lái thuyền đánh cá rất giỏi giang. Một hôm đi săn, Kulabob bắn lạc một mũi tên chạm khắc tinh vi. Lúc đi tìm mũi tên, Kulabob bị chị dâu (vợ Manup) dụ. Cô này giấu mũi tên và nằn nì Kulabob xăm một hình đẹp trên chỗ kín của mình. Kulabob lúc đầu không muốn nhưng rồi cũng phải nghe theo. Hai người ân ái với nhau. Khi người anh khám phá chuyện ngoại tình, đi tìm giết em mình. Hai anh em đánh nhau dữ dội bằng mọi cách kể cả pháp thuật nhưng không phân thắng bại. Cuối cùng để tránh huynh đệ tương tàn, Kulabob làm một chiếc thuyền to bỏ đi về hướng biển cả, chở theo người, cây cối, thú vật và đồ đạc, lập thành các nhóm dân hải đảo Thái Bình Dương. Kulabob là cổ tích gốc của các sắc dân Ðông Nam Á có liên hệ huyết thống. Ði xa nữa, S. Oppenheimer cho rằng cơn đại hồng thủy 8000 năm trước đã đưa người Ðông Nam Á sang tận Trung Ðông và con thuyền Kulabob biến thành thuyền Noah trong kinh Thánh đạo Thiên chúa.
Như vậy là, vào những thế kỷ trước Công nguyên, xã hội Việt Nam đang ở trong một nền văn minh nông nghiệp phát triển. Nhiều sách cổ Trung Quốc ghi lại điều này.
Các sách như Giao Châu ký, Ngô lục địa lý chí, Nam phương thảo mộc trạng… đều ghi chép: “Dân Lạc Việt trồng lúa mà ăn, dùng lá trà làm thức uống.”… “Họ biết uống nước bằng lỗ mũi…”; “Nuôi tằm mà dệt vải…”; “Dùng đất sét đào sâu trong đất, thái mỏng, phơi khô làm thức ăn quý để đi hỏi vợ…”; “Dùng đá màu làm men gốm…”; “Dùng mu rùa mà bói việc tương lai…”; “Họ dùng một khúc tre dài chừng hơn một thước, một đầu có trụ cao làm tay cầm, có dây buộc vào trụ nối lại đàng kia làm đàn gọi là độc huyền cầm…”; “Họ đem tính tình các con vật mà so sánh với người, rồi họ truyền tụng rằng, ngày thứ nhất trời sinh con chuột, ngày thứ hai sinh con trâu, ngày thứ ba sinh con cọp (truyện thần thoại của người Dao, gốc tích của 12 con giáp). Họ biết tìm hiểu các thức ăn nóng mát (thuyết âm dương) để trị bệnh, dùng kim đâm vào da thịt lấy máu để trị bệnh, lấy đá hơ nóng áp vào da thịt để trị bệnh.” Khi một môn đệ đi đến đất Việt, xin Ðức Khổng Tử chỉ dạy, ngài nói: “Người Bách Việt miền nam có lối sống, tiếng nói, phong tục, tập quán, thức ăn uống riêng…”; “dân Bách Việt chuyên làm ruộng lúa mà ăn, không như chúng ta trồng kê và lúa mì. Họ uống nước bằng thứ lá cây hái trong rừng gọi là trà.” Sách Hậu Hán thư quyển 14 viết: “Dân Giao Chỉ biết nhiều nghề thủ công, luyện đúc đồng và sắt…” Sách Cổ kim đồ thư chép: “Mã Viện tâu vua, Giao Chỉ ép mía làm đường phèn: Giao Chỉ có cây mía ngọt. Ðem ép lấy nước rồi làm đường phèn.” “Giao chỉ làm giấy mật hương: bằng lá và vỏ cây mật hương (cây dó) trồng ở Giao Chỉ; giấy mềm, dai, thơm, ngâm nước không bở không nát.” (Nguyễn Thị Thanh. bđd)
Chúng ta biết, người Hán có gốc từ Mông Cổ du mục nên nhà làm theo hình tròn gọi là lều. Trong khi đó người Việt làm nhà sàn hình chữ nhật bằng tranh tre, có mái cong mà mô hình còn thấy trong mộ táng thuộc văn hóa Ðông Sơn 2000 năm TCN. Khi định cư ở Trung Nguyên, dân Hán đã theo mô thức nhà của người Việt.
Khi tìm thấy một số gạch có hoa văn, nhiều học giả Pháp cho đó là hàng nhập về để lát bàn thờ nhưng thực ra đó là gạch lát nền nhà của người Việt thời Lý, Trần tìm thấy tại nhà của Hưng Ðạo vương ở Vạn Kiếp và nay càng thấy nhiều trong khi khai quật Hoàng thành Thăng Long. Một thí dụ khá khôi hài là hơn 50 năm trước, khi Bảo tàng Istanbul Thổ Nhĩ Kỳ trưng bày chiếc bình gốm Hoa Lam cổ (được bảo hiểm 1.000.000 USD) người Tàu và người Nhật đến xem có phải của họ không. Nhưng khi thấy ghi trên bình Thái Hòa bát niên… Bùi Thị Hí bút (niên hiệu Lê Nhân tông, năm 1450) người Tàu bèn nói: “Của một ông thầy Tàu qua rồi làm chơi”(!) Ðến khi phát hiện ra lò gốm men lam Chu Ðậu (Hải Dương) thế kỷ XV với rất nhiều hiện vật thì các “thầy” đành chào… thua một người đàn bà Việt Nam! CHƯƠNG V VĂN HÓA VIỆT TRÊN LƯU VỰC HOÀNG HÀ, DƯƠNG TỬ
“Ban đầu Viêm tộc theo sông Dương Tử vào khai thác vùng Trường Giang là các tỉnh: Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, An Huy, Chiết Giang rồi lần theo bình nguyên Hoa Bắc lên khai thác vùng sáu tỉnh của Hoàng Hà: Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Ðông, Thiểm Tây, Cam Túc. Phía Nam thì tới Việt Giang ngũ tỉnh: Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây, Quảng Ðông, Phúc Kiến. Theo Chu Cốc Thành trong “Trung Quốc dân tộc sử” và một số sử gia khác thì “Bách Việt đã có mặt ở khắp nước Trung Hoa cổ đại trước khi các dòng tộc khác tràn vào.” (32) Những dòng trên là bức tranh quen thuộc mà các sử gia mô tả con đường người Việt vào mở mang vùng đất ngày nay có tên là Trung Quốc. Con đường đó do sử gia E. Aymonier vạch ra vào những năm đầu của thế kỷ trước và nhanh chóng trở thành kinh điển trong các sách sử không những của Việt Nam mà của cả những sử gia Trung Quốc. Các đại học danh tiếng nước Mỹ chép theo. Nhưng thời gian cho thấy sự thật lịch sử đã không diễn ra như vậy bởi lẽ người Bách Việt không phải từ ngọn nguồn sông Dương Tử đi xuống mà ngược lại, từ Ðông Nam Á đi lên.
Con đường người Bách Việt lên phương Bắc có lẽ diễn ra như sau:
Ðặt chân trước tiên lên thềm Biển Đông của Việt Nam 60.000-70.000 năm trước, hai đại chủng Mongoloid và Australoid dừng lại kiếm ăn rồi chung đụng hòa huyết với nhau sinh ra bốn chủng người Việt cổ: Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, thuộc loại hình Australoid. Khi nhân số tăng lên, những đoàn người chia tay nhau xuống phía Nam tới châu Úc và những hòn đảo ngoài khơi. Có đoàn sang phía Tây tới Mianma và Ấn Độ. Những người lên phía Bắc vượt qua địa giới Ðông Nam Á, tới Nam Trung Quốc. Không thể đi xa hơn vì trước mặt họ là bức thành băng hà đóng chặt. Một thời gian đợi chờ đằng đẵng. Phải tới 40.000 năm trước, khi khí hậu được cải thiện, những đoàn người chờ đợi từ lâu đồng hành tiến lên. Từ phía bắc Ðông Nam Á, người tiền sử theo khả năng của mình tiến vào lưu vực sông Dương Tử. Có lẽ do địa hình khá bằng phẳng và môi trường sống thuận lợi nên số người đi theo phía duyên hải đông hơn và tỏa ra: Quảng Ðông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Giang Tô, Chiết Giang. Trong khi đó những đoàn khác từ phía Tây Bắc lần ngược lên ngọn nguồn tới Vân Nam, Tứ Xuyên. Một bộ phận nhanh chân hơn thì lên tiếp miền lục tỉnh Hoàng Hà: Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Ðông, Thiểm Tây, Cam Túc. Phần đông dừng lại trên lục địa mênh mông này. Nhưng một số người không bằng lòng như vậy. Theo bản năng kiếm tìm điều mới mẻ, bản năng khám phá thiên nhiên và cũng có thể một cái gì đó như sứ mạng sai khiến, có những lớp người đi tiếp lên phía Bắc, vượt qua Siberia, qua eo biển Bering lúc này là đất liền để khám phá cho nhân loại một châu lục mới: châu Mỹ. Với thời gian, họ trở thành người da đỏ Indien, người Maya… Khác ta về màu da nhưng từ khi chưa được công nghệ genes soi tỏ, ta cũng nhận ra họ gần gũi mình qua những trang sách của Lévi Strauss: “Những quan sát xã hội học ở sắc dân Caduveo sống tại Tây Bắc Canada cho thấy ở họ có nhiều yếu tố giống người Trung Hoa cổ đại như vai trò quan trọng của phụ nữ hay là việc chú ý đến sự quân bình giữa các nguyên lý khác nhau… Cũng như dân mạn Nam Trung Quốc lại có những nét giống kỳ lạ với một vài sắc dân bên Mỹ (33). Người Trung Hoa cổ đại, dân mạn Nam Trung Quốc là ai nếu không phải người Bách Việt? Như vậy, người Bách Việt đã mang theo văn minh văn hóa Việt đến châu Mỹ!
Khi đã nhìn nhận hành trình như vậy của người Bách Việt hay người Ðông Nam Á cổ, một câu hỏi sẽ đến: Người Bách Việt đã làm được những gì trong thời gian đằng đẵng sống ở phương Bắc?
Rõ ràng là những đoàn người đầu tiên ra đi là những cư dân sống bằng săn bắt hái lượm. Họ du cư trên những con đường vạn dặm: sống trong những hang động gặp trên đường, săn bắt thú, tát cá, gặp gỡ, yêu nhau rồi sinh con đẻ cái. Khi cái ăn khó kiếm, họ lại ra đi. Nhờ trời khi đó rừng còn hoang sơ, sản vật tự nhiên còn nhiều nên con người sống được. Suốt ngày lo kiếm ăn trong cuộc đời vô định, sự sáng tạo lớn nhất của họ chỉ có thể là làm ra những cái rìu bằng đá. Rồi từ rìu làm ra cung nỏ. Một bước nữa là biết lấy dây rừng bện lại để làm lưới đánh cá… Có lẽ 30.000 năm con người đã đi từ Nam lên Bắc trong cuộc sống đơn điệu và chậm chạp như vậy. Chỉ đến khoảng 15.000 năm về trước, khi từ trung tâm Hòa Bình kỹ thuật trồng lúa nước cùng thuần dưỡng những loài gia súc như gà, chó, lợn được truyền tới. Cây lúa nước làm cuộc cách mạng vĩ đại đối với cuộc sống người tiền sử. Lần đầu tiên con người không phải tuốt lúa hoang, lúa ma đem về nghiền rồi nấu chín trong những ống tre. Lần đầu tiên con người không còn phải ngửa tay lượm những quà tặng của thiên nhiên mà tự nuôi sống bằng hạt gạo do chính tay mình trồng cấy. Lần đầu tiên con người nhận ra: hạt lúa gieo xuống đất, chỉ cần chăm sóc thì đến tháng đến ngày nó sẽ cho bông vàng hạt mẩy! Có cấy có trông, có trồng có ăn… cuộc sống ấm no thực sự trong tay mình, không phải trông chờ thiên nhiên bố thí! Con người thấy sức mạnh của mình và giác ngộ: Ta đứng cao hơn tự nhiên! Cây lúa nước, hạt gạo mang đến sự đổi đời! Do phải bỏ công chặt cây, chuyển đá, đắp bờ tạo ra những khoảnh ruộng, con người không dễ dàng bỏ đất mà đi. Cuộc sống định cư bắt đầu. Do sống định cư mà con người rời khỏi hang đá, làm những căn nhà ngày một tiện nghi hơn để ở. Cũng do rảnh rỗi hơn nên con người có thời gian, có tâm trí để mơ mộng để hát ca. Nhạc rồi thơ ca nảy sinh từ đấy. Từ khi gieo hạt giống xuống đất là lúc con người bắt đầu trông trời trông đất trông mây! Chính từ cái việc trông này của văn minh nông nghiệp mà nảy sinh những kinh nghiệm về dự báo thời tiết, về quy luật vận hành của mặt Trời, mặt Trăng cùng các ngôi sao. Những tri thức về thiên văn được tích tụ, từ đó lịch pháp ra đời. Lương thực dồi dào, gà, chó, lợn, trâu bò được nuôi, cuộc sống sung túc hơn. Phú quý sinh lễ nghĩa: con người đối xử với nhau và với thiên nhiên thân ái hơn tốt đẹp hơn!
Nói có sách, mách có chứng, xin bạn đọc vui lòng thưởng thức một đoạn văn của tác giả Nguyễn Quang Trọng, một người Việt sống ở nước ngoài nhưng rất tâm huyết với cội nguồn dân tộc:
“Số chỗ có di tích lúa tìm thấy dọc theo nam sông Dương Tử không những nhiều hơn mà còn rất xưa. Vết tích bữa cơm tiền sử nấu với gạo từ lúa mọc hoang xưa nhất thế giới cách nay 13000 năm được một nhóm khảo cổ Mỹ-Trung Hoa tìm thấy trong hang Diaotonghuan phía nam sông Dương Tử (bắc tỉnh Giang Tây). Cư dân sống trong vùng này biết thử nghiệm các giống lúa và cách trồng trong thời gian dài tiếp theo đó. Ðiều này được nhóm khảo cổ chứng minh qua sự tăng độ lớn phytolith của lúa (phần thực vật hóa thạch, tồn tại nhờ giầu chất silic) lắng trong những lớp trầm tích theo thời gian. Tin này đã được đăng trên báo khoa học hàng đầu thế giới Science năm 1998. Các nhà khoa học nghiên cứu về phytolith này đã chứng minh rằng từ 9000 năm trước dân ở vùng này đã ăn nhiều lúa trồng hơn lúa hoang. Nhóm cư dân bản địa này cũng bắt đầu làm đồ gốm thô xốp bằng đất trộn trấu. Kinh nghiệm về trồng lúa tích tụ tại đây trong mấy nghìn năm đã đưa đến nghề trồng lúa trong toàn vùng nam Dương Tử. Di tích thứ hai, 9000 năm trước là Pentou, gần hồ Ðộng Ðình. Hơn bốn mươi chỗ có di tích lúa cổ hàng ngàn năm đã được tìm thấy ở nam Trường Giang. Di tích văn hóa Hemudu cho thấy văn minh lúa nước trong vùng lên đến trình độ rất cao vào 7000 năm trước. Hemudu là một làng vài trăm người sống trên nhà sàn trong vùng đầm lầy ở cửa sông Tiền Ðường. Dân Hemudu đã trồng lúa, ăn cơm, để lại lớp rơm và trấu dày. Văn hóa Hemudu xưa 7000 năm, có nhiều điểm gần gũi với văn hóa Phùng Nguyên-Ðông Sơn vốn là văn hóa trẻ hơn nhiều (sau hơn 3000 năm). Cư dân vùng nam Trường Giang lúc ấy có lẽ gần với cư dân Bắc Việt về mặt chủng tộc và văn hóa hơn dân cư Bắc Trung Hoa. Khuôn mặt đắp từ sọ người Hemudu trưng bày ở Bảo tàng Hemudu cho thấy họ giống người thuộc chủng Nam Mongolic tức là chủng của người Việt Nam từ thời Ðông Sơn về sau. Sau văn hóa Hemudu, hàng loạt văn hóa lúa nước khác đã sinh ra dọc Trường Giang khoảng 4000 năm trước như Liangzhu, Majiabin, Quinshanyang, Qujialing, Daxi, Songze, Dadunze. (34)”
Thật lạ kỳ, những cọng rơm, những vỏ trấu, những hạt thóc thành than người xưa vô tình để lại đã nói với ta biết bao điều. Nhờ đó mà thời gian xa xôi những nghìn những vạn năm không còn là khoảng tối mênh mông thẳm sâu câm lặng vô hồn mà trở nên gần gũi ấm áp.
Sau lúa nước, người Bách Việt mang theo văn minh đồ đồng tới vùng đất mới.
Luật sư Cung Ðình Thanh trong một chuyên khảo công phu đăng trên tập san Tư tưởng (Australia) viết:
“Khảo sát văn hóa đồng cổ trên khắp đất Trung Hoa, các nhà khoa học thấy có 4 vùng khác nhau: vùng Hoa Nam, vùng Ðông Nam, vùng Tây Nam và vùng phía Bắc.
Ðồ đồng Hoa Nam tìm được ở di chỉ Hải Môn Khẩu có tuổi 1130 năm TCN, cùng thời với đồ đồng Gò Bông Việt Nam, ở Vạn Gia Bá khoảng 760 +/- 130 năm TCN. Người Trung Quốc gọi là đồ đồng cuối thời nhà Thương. Trong thành phần đồng ở đây cũng có chì nên rất gần với đồ đồng Bắc Việt Nam. Căn cứ vào nguồn gốc chủ nhân và lịch sử, chúng ta thấy chúng thuộc cùng một văn hóa Ðông Sơn.
Vùng thứ nhì thuộc trung tâm của nước Trung Quốc ngày nay ra đến bờ biển phía Ðông của các tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, phía tây tỉnh Tứ Xuyên đến Giang Nam, Phúc Kiến, Chiết Giang thuộc vùng các nước Việt, Ngô, Sở thời trước. Nước Sở là nước lớn thời Xuân Thu-Chiến Quốc. Sở không công nhận nhà Chu, lập quốc gia độc lập, có cương vực rất rộng, phía tây ăn vào tỉnh Tứ Xuyên, phía bắc chiếm phần lớn tỉnh Hồ Bắc, phía Nam chiếm trọn tỉnh Hồ Nam. Là một trong số các nước Bách Việt, Sở thôn tính nhiều tộc Bách Việt nhỏ khác nên khi bị nhà Tần chiếm, Sở đã kéo theo nhiều tộc Bách Việt vào lãnh thổ của Tần. Văn hóa đồ đồng của nước Sở rất rực rỡ. Tiêu biểu là cái đỉnh bằng đồng nặng đến 400 kg, chứng tỏ nghề đúc đồng rất tiến bộ. Năm 1963 các nhà khảo cổ Trung Quốc đào được ở Hồ Bắc rồi bên hồ Ðộng Ðình thuộc Hồ Nam nhiều hiện vật đồng gọi là thuộc đời nhà Thương. Thực ra đó là đồ đồng nước Sở thuộc dân Bách Việt. Trong một ngôi mộ ở Trường Sa tỉnh Hồ Nam năm 1974 đã đào được chiếc dao găm đồng hình người, tay chống nạnh, đeo vòng, đầu đội mũ. Loại dao này được giới khảo cổ xếp vào loại hình đồ đồng Ðông Sơn (Trịnh Sinh. Khảo cổ học 1997). Tại Chiết Giang là địa bàn nước Việt thời Câu Tiễn, người ta cũng đào được những rìu xéo mang phong cách Ðông Sơn, là loại rìu có đôi giao long quấn vào nhau, trên cán có bốn người đang chèo thuyền. Nhờ những phát hiện này, giới khảo cổ đã có thể đi đến khẳng định những dao găm tìm được ở Bắc Kinh, Hồ Nam là cùng nguồn gốc với những dao đào được ở Sơn Tây Việt Nam. Năm 1996 người ta đào được chiếc trống đồng ở khu mộ cổ Thượng Mã Sơn huyện An Cát tỉnh Chiết Giang, chiếc trống giống với trống Lãng Ngâm khai quật năm 1973 tại Gia Lương tỉnh Bắc Ninh hay nhiều trống nhỏ hơn tìm được ở Gia Lâm và các nơi khác bên sông Hồng, sông Mã.
Vùng văn hóa đồng thứ ba là khu vực Tứ Xuyên, thời Tam Quốc gọi là Ích Châu, Ba Thục. Nước Thục nằm trên ngã ba đường nối với Bắc Trung Quốc, một nhánh rẽ sang phía Tây để tiếp xúc với phương Tây, phía Nam dẫn về cái nôi văn hóa Hòa Bình (có thể từ con đường này người Mongoloid cổ đã làm cuộc thiên cư lên phương bắc thành người Mông Cổ phương Bắc. HVT). Nhưng rõ ràng, từ đây người Hòa Bình mở nhiều đợt lên phía bắc, vượt núi Ngũ Lĩnh vào lưu vực sông Hoài góp phần tạo dựng nên văn hóa Ngưỡng Thiều. Theo sử sách thì nước Thục được thành lập vào năm 1122 tới năm 122 TCN bị Tần diệt. Năm 1986 người ta tìm được ở Sanxingdui (gò Ba Sao) tỉnh Tứ Xuyên hơn 800 hiện vật trong đó có nhiều đầu người và mặt nạ tuyệt xảo bằng đồng, nổi bật là bức tượng đồng to bằng người thật, cao 1,72 m. Tượng có mắt to và xếch, mũi lớn, lông mày rậm, miệng thật rộng, không thuộc chân dung điển hình của người Hán. Trống đồng nước Thục không mang sắc thái Trung Quốc. Giới khảo cổ Trung Quốc gọi là cổ vật thuộc nhóm dân Ba Thục và xếp chúng vào thời kỳ cuối đời Thương. Tuy nhiên người ta biết rằng nước Thục có từ khoảng 4700 năm trước, sớm hơn đời Thương nhiều. Giới khảo cổ cũng phát hiện ở Tây Nam Thành Ðô ngôi đền thuộc cùng nền văn hóa, có tuổi từ 3000 đến 4700 năm trước. Chủ nhân nước Thục là dân cư nông nghiệp, trồng lúa, đánh cá ở nhà sàn, sử dụng những loại rìu có vai là công cụ đặc trưng của văn hóa Hòa Bình.
Khu vực thứ tư bao gồm vùng Anyang (An Dương) và các tỉnh Sơn Tây, Thiểm Tây. Ðồ đồng vùng này, theo học giả Anderson, có niên đại 1300 năm TCN. Niên đại này muộn nhiều so với đồ đồng Phùng Nguyên sớm (1850 năm TCN) nhưng sớm hơn đồ đồng sớm nhất tìm thấy ở miền sông Dương Tử khoảng 200 năm. Nét đặc sắc là có chì trong hợp kim đồng trong các dụng cụ tìm thấy ở Hsiao Tun, di chỉ có tuổi sớm nhất.
Ðánh giá về đồ đồng của người Hoa, các học giả trước đây cho là đã du nhập từ phương Tây sang nhưng hoàn hảo không kém đồ đồng bất cứ nơi nào trên thế giới. Nghệ nhân đời Thương đã hoàn chỉnh kỹ thuật mà họ học được.
Gần đây người ta cho rằng kỹ thuật đồng người Hoa gần với kỹ thuật Ðông Nam Á hơn là phương Tây (Noel Barnard 1978). Ðiều này phản ánh sự thật là khi chiếm đất của người Bách Việt, người Hoa đã sử dụng nghệ nhân cùng công nghệ đồng cũng như nhiều tiến bộ kỹ thuật khác của dân Viêm Việt.
Một điều kiện làm cho văn hóa đồng thau phát triển rực rỡ tại Bắc Việt Nam và vùng Hoa Nam là do ở đây có nhiều mỏ đồng, chì, thiếc. Trên phần đất của Việt Nam là các mỏ vùng Hưng Hóa, Tuyên Quang, Lào Cai, Bắc Giang, Sơn La, Cao Bằng và Thanh Hóa. Thiếc ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng. Chì ở Thái Nguyên. Mỏ đồng lớn nhất là mỏ Na Ngọ ở Tụ Long mỗi năm sản xuất khoảng 225 tấn. Phía nam Trung Hoa có nhiều mỏ ở Quảng Ðông, Quảng Tây, Vân Nam (35).”
Có một điều khiến ta không thể không suy nghĩ: văn minh sắt đến ngay sau văn minh đồng. Vậy mà trong những di chỉ Bách Việt, từ Ðông Nam Á đến Trung Quốc số lượng đồ sắt lại quá ít, chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Ngay cả ở thời Hùng Vương, khi mà kỹ thuật đồng được đẩy đến độ tuyệt vời tinh xảo thì đồ sắt cũng không được coi trọng, trong khi ai cũng biết được ưu thế hơn hẳn của đồ sắt. Khác với dân Bách Việt, người Hoa Hán phát triển mạnh loại vật liệu mới này để đến thời Triệu Ðà, trở thành vũ khi cấm vận của Lữ hậu chống lại nước Việt. Phải chăng đó là biểu hiện của tính cách Việt, sự hạn chế của văn minh nông nghiệp coi trọng tinh thần coi nhẹ vật chất, sau thời kỳ năng động sáng tạo đã chuyển sang tự mãn bảo thủ? Trong khi dụng công đưa nghệ thuật đồng lên đến tuyệt mỹ của văn hóa tinh thần, của vật thờ thì lại coi nhẹ công dụng hơn hẳn của sắt? Phải chăng đó là dấu hiệu cho thấy văn minh nông nghiệp để mất vị trí tiên phong của mình?
Trong khi người Bách Việt hình như tỏ ra thỏa mãn với nền văn minh nông nghiệp, ung dung tự tại với cuộc sống điền viên tự cấp tự túc no đủ thì biến cố lớn xảy đến: từ phía Bắc sông Hoàng, những người Mông Cổ du mục tràn xuống. Với sức mạnh vũ bão của đoàn quân được tổ chức chặt chẽ, vũ khí tốt, tinh thần chiến đấu cao và rất quen trận mạc, trận quyết chiến Trác Lộc nổ ra. Ðế Lai tử trận, người Mông Cổ chiến thắng đã nhanh chóng chiếm sáu tỉnh phía Nam sông Hà. Họ Hiên Viên phỏng theo sinh hoạt của Viêm tộc mà tổ chức đất nước: chia sáu tỉnh Hoàng Hà thành 9 châu, chọn 4 bộ lạc hùng mạnh là Tứ nhạc để làm chỗ dựa. Viêm tộc một phần bị giết, một phần làm nô lệ, phần còn lại thì sống dưới sự giám sát của Mông tộc. Người bản địa có nước da ngăm đen trong khi người Mông Cổ vốn da sáng hơn, lại sống trong xứ lạnh nên da càng trắng. Để phân biệt, kẻ xâm lăng gọi người bản địa là dân đen (lê dân). Từ này lúc đầu chỉ có ý phân biệt về màu da nhưng sau chuyển sang nghĩa kẻ dưới, thấp kém. Sau khoảng 1- 200 năm, biến cố lịch sử lớn đã chín muồi: người Mông Cổ biến mất khỏi vũ đài, nhường chỗ cho hậu duệ là những con cháu lai mang bộ genes Mogoloid phương Nam. Những nhóm được lai giống đầu tiên – con cháu trực hệ của kẻ xâm lăng – thay cha ông mình thống trị đất nước. Người bị trị chính là những đồng chủng và một phần dân đen (Việt) bản địa. Dân Viêm tộc không cam tâm chịu sự đô hộ, lâu lâu lại nổi lên như vào cuối đời Thiếu Hạo, mãi tới Chuyên Húc mới dẹp yên được. Cuối đời Ðế Cốc dân Miêu Việt lại vùng lên khiến Ðế Chí mất chín năm không thu phục nổi phải nhờ vua Nghiêu mới thắng trận ở Ðan Thủy. Khi vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn, nhiều dân Hoa tộc không phục vì Thuấn người Nam Man, Viêm tộc lại thừa cơ nổi lên trong đó ông Cổn là một trong những lãnh tụ. Vua Thuấn phải dùng giải pháp mạnh, đày số lớn Viêm Việt ra phía tây huyện Ðôn Hoàng, miền địa đầu của Trung Hoa với Tân Cương. Phần bị phân tán thành nhiều bộ lạc nhỏ, phần bị đồng hóa, từ đấy Viêm tộc không còn nổi dậy nữa. Điều này cũng có nghĩa là quá trình Mongoloid phương Nam hoá đã hoàn thành về cơ bản.
Sau chiến thắng Viêm Việt, Hiên Viên được tôn làm vua, gọi là Hoàng đế. Hậu duệ của Hoàng đế là dân lai thuộc chủng Mongoloid phương Nam, đến bây giờ có thể gọi bằng thuật ngữ quen thuộc là Hán tộc. Hán tộc nhận tất cả các phát minh của Viêm tộc làm của mình. Sử Trung Hoa gọi Hoàng đế là người phát minh ra thiên văn, âm nhạc, quần áo, nhà cửa, giao thông, hôn sự, y thuật, nuôi tằm, võ bị, chính trị..
Hoàng đế truyền bảy đời tới vua Thuấn 2697-2205 TCN
Nhà Hạ vua Ðại Vũ truyền 17 đời tới vua Kiệt 2205- 1783 TCN
Nhà Thương: Vua Thành Thang truyền 28 đời tới vua Trụ 1783-1134 TCN
Nhà Chu: truyền 37 đời tới Ðông Chu 1134-247 TCN.
Từ ngày lục tỉnh mạn nam Hoàng Hà bị chiếm, số phận các nước bị gọi là tứ hung bên ngoài luôn bị đe dọa. Sau này Ðông Di (Sơn Ðông) bị nước Tề đồng hóa. Bắc Ðịch (Sơn Tây, Hà Bắc) bị các nước Tấn, Yên kiêm tính. Riêng Tây Nhung trở lại sống du mục. Do sự tranh chấp trong khu vực, Tây Nhung đã chiếm được đất Quan Trung dựng lên nước Tần, gốc nông nghiệp Viêm tộc nhưng theo đời sống du mục đã trở nên hung hãn. Còn Nam Man ở mạn Trường Giang bị người Hoa chèn ép nên di cư lần xuống phía nam. Sang đầu công nguyên chia làm 6 bộ lạc là Lang Khung, Thi Lăng, Ðàng Ðạm, Việt Tích, Mông Tuấn, Mông Xá. Những khi Trung Hoa có biến, họ thường vào quấy phá như hồi Hán Mạt, Ngũ Hồ, Tàn Ðường… Vua Ðường Huyền Tôn phải cắt đất để mua lòng họ. Năm Khai Nguyên thứ 26 (738) phong cho Bì Lai Cap làm Vân Nam vương đóng đô ở Côn Minh. Từ đấy họ dọc ngang năm tỉnh Việt Giang, nước ta cũng chịu một phần cướp phá cho đến năm 866 Cao Biền mới dẹp yên.
Viêm tộc ở các tỉnh lưu vực sông Trường Giang mà người Hán gọi chung là Ðông Nam man thì khai thác vùng hồ Ðộng Ðình, Bành Lãi. Khoảng năm 2897 TCN tù trưởng các bộ lạc Bách Việt ở đây xưng là Kinh Dương Vương, lấy Thần Nông làm tổ. Họ Mễ là họ rất lớn của nước Việt cũng như nước Sở sau này gọi là Hùng Vương. Ở khu vực này dân Bách Việt lập ra ba nước Sở, Ngô, Việt cùng một nguồn gốc tổ tiên xưa nhưng vì ý thức quốc gia chưa đủ mạnh nên ba nước đánh nhau liên miên và tiêu diệt lẫn nhau. (36).
Qua biến động lịch sử kể trên, có thể rút ra nguyên nhân thất bại của Bách Việt:
- Sống rải rác khắp 18 tỉnh, dân cư thưa thớt, không thể chống đoàn quân du mục tập trung hùng mạnh.
- Bách Việt còn trong tình trạng bộ lạc hay thị tộc, chưa có ý thức quốc gia nên thường xung đột nhau.
- Viêm tộc làm nông nghiệp định cư sớm nên khả năng võ bị kém.
Từ những nguyên nhân dẫn đến thất bại của người Bách Việt, ta có thể nói rằng, thời thế đã đổi thay: từ phương thức sống từng bộ lạc phân tán hay những liên minh bộ lạc lỏng lẻo, nhân loại bước vào giai đoạn mới, hình thành những quốc gia. Nhiều thế lực nổi lên tranh giành nhằm thâu tóm đất đai, nhân số dựng nên những quốc gia làm tăng quyền lực của giai cấp lãnh đạo đồng thời cũng đưa lại cho dân chúng điều kiện sống mới, văn minh hơn. Trong cuộc tranh đấu này, văn minh nông nghiệp đã thua sức mạnh của văn minh du mục. Và khi thâu tóm được tiềm năng dồi dào của văn minh nông nghiệp về nhân lực, về kinh tế và văn hóa, nền văn minh du mục vốn năng động và được tổ chức tốt đã đẩy lịch sử tiến lên một bước mới. Trung Quốc trở thành động lực mới thúc đẩy nền văn minh trong vùng vào thời gian giữa thiên niên kỷ thứ II trước Công nguyên.
Hôm nay, vào những năm đầu của thiên niên kỷ thứ III, nhìn về hàng vạn năm trước, ta thử xem ngoài những chiếc rìu bằng đá cuội, cây lúa nước và văn minh đồng, người Bách Việt để lại những gì cho văn hóa nhân loại?
Cùng với những văn hóa vật thể kể trên, trong hàng vạn năm duy trì một xã hội nông nghiệp ổn định, người Bách Việt cũng sáng tạo nên nền văn hóa phi vật thể phong phú.
- Người Việt ưa hát múa, sáng tác nhiều ca dao, dân ca sau này được sưu tập cho vào kinh Thi.
- Âm nhạc phát triển với bát âm, ngũ cung. Có nhiều loại đàn độc đáo như đàn đá, khèn bầu, đàn bầu. Sau này được tập hợp thành kinh Nhạc.
- Nhiều tục thờ cúng và lễ hội dân gian: thờ trời đất, ông bà tổ tiên, thờ thần lúa, hội mùa, hội xuân.
- Người già được tôn trọng, là vốn quý tích lũy nhiều kinh nghiệm, là sự minh triết của cộng đồng.
- Tích lũy nhiều kinh nghiệm về thời tiết về cây trồng mà bà Nữ Oa là bậc thầy có tài đội đá vá trời (cách nói hình tượng của việc quan sát nắm vững thời tiết), những kinh nghiệm về đối xử với thiên nhiên, với hàng xóm láng giềng. Từ những vết chân chim in trên phù sa, cha ông ta làm ra chữ viết: chữ kết nút, chữ hình con nòng nọc (chữ Khoa đẩu), chữ hình ngọn lửa (Hỏa tự), chữ tượng hình, tiền thân của chữ vuông ngày nay bà dùng mu rùa bói toán….
Có lẽ dấu ấn văn hóa sâu sắc nhất mà cộng đồng Bách Việt để lại trên nước Trung Hoa cổ cũng như toàn bộ Ðông Á là nếp sống hài hòa giữa con người với nhau và với thiên nhiên. Người Việt cổ quan niệm thiên nhiên là vật thể sống, có linh hồn nên cần được tôn trọng: địa linh nhân kiệt. Cuộc sống là sự hài hòa, quân bình giữa những nguyên lý khác nhau: giữa sáng và tối, nóng và lạnh, giữa lý và tình vì thế những biểu hiện cực đoan bị tiết chế: không ai nắm tay đến tối gối đầu đến sáng! Không ai giầu ba họ không ai khó ba đời! Trí khôn của cộng đồng là trí khôn tập thể: khôn độc không bằng ngốc đàn. Tuy vậy vai trò cá nhân cũng được đánh giá cao: một người lo bằng kho người làm. Trong cộng đồng, vai trò quan trọng của người cha, người đàn ông được khẳng định đồng thời vai trò người đàn bà, người mẹ được coi trọng: của chồng công vợ! Mối quan hệ tuyệt đẹp: người đàn bà nhu thuận tỏ ra nhún nhường giữ vị trí thứ nhì trong khi đó thì đàn ông biết điều trân trọng đóng góp của người vợ, người đàn bà cho gia đình và xã hội. Không chỉ thế, trong xã hội nông nghiệp Việt cổ thì vai trò đàn bà còn được đề cao hơn lệnh ông không bằng cồng bà. Từ những quan hệ cụ thể trong gia đình thôn xóm mở ra tình đồng bào bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. Bản sắc của văn hóa này, học giả Kim Ðịnh gọi rất chính xác là Việt nho. Việt nho là một tinh chất văn hóa đã làm nên bản sắc văn hóa Á Ðông. Sau này thời thế đổi thay nhưng người ta vẫn tìm được dấu tích của văn hóa đó khắp Ðông Á: Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật bản, Việt Nam. Ðiều thú vị là nhiều nhà xã hội học cũng tìm ra vết tích của Việt nho ở những sắc dân bản địa châu Mỹ như trong tài liệu của Lévi Strauss mà Kim Ðịnh đã dẫn. Những đặc trưng văn hóa tinh thần của người tiền sử Ðông Nam Á được khái quát trong những điểm sau:
- Quan niệm nhân chủ: con người tồn tại trong mối tương quan giữa Thiên-Ðịa-Nhân. Trong đó Nhân là trung tâm, là chủ. Cái gì vừa lòng người cũng vừa lòng Trời. Trong quan hệ nhân chủ đó, người đàn bà được tôn trọng. Một trong những vị vua huyền thoại có nhiều công tích là Nữ Oa. Sau này còn có tục thờ đạo Mẫu.
- Quan niệm thái hòa: cuộc sống do nhiều nhân tố nhiều nguyên lý tạo nên, và chỉ tồn tại trong sự hài hòa giữa các nguyên lý đó vì vậy cuộc sống là sự thái hòa.
- Coi trọng tâm linh: Người Việt cổ cho rằng con người có linh hồn. Do sống gắn bó với thiên nhiên, nên cũng coi thiên nhiên như vật thể sống, có linh hồn. Từ đó người Việt sống cùng cuộc sống hiện thực còn có thế giới tâm linh. Tục thờ phổ biến là thờ tổ tiên ông bà cha mẹ. Người Việt có tín ngưỡng đa thần: thờ bất cứ vật gì có thể tác họa cũng như tạo phúc cho mình.
Khi kẻ xâm lấn tràn tới, thành phần quý tộc tinh hoa của các bộ tộc Việt bỏ chạy về Nam, một bộ phận bất hợp tác thì vào rừng lẩn trốn thành người thiểu số còn đại đa số dân Việt thích ứng với cuộc sống mới. Cuộc săn đuổi và trốn chạy diễn ra dài dài trong lịch sử, kể đến nhiều nghìn năm. Do số dân quá ít, khi đối mặt với kẻ chiến bại đông đảo, kẻ chiến thắng Mông Cổ đã áp dụng thái độ ứng xử khôn ngoan với tộc người Miêu này. Khác với người Arian du mục khi chinh phục Ấn Ðộ đã áp chế người bản địa Dravidians bằng chế độ nô lệ hà khắc để lại những di họa lâu dài, người du mục Mông Cổ giữ vai trò lãnh đạo và chuyển sang làm thương nghiệp, công nghiệp còn để cho người Miêu Việt làm công việc nặng nhọc là trồng trọt, chăn nuôi và đi lính. Lúc đầu choáng ngợp trước cuộc sống sung túc và văn hóa khác lạ của dân nông nghiệp, người du mục không chú ý lắm đến các vị thần, đến tín ngưỡng bản địa. Nhưng rất nhanh chóng, cộng đồng dân cư bản địa quá đông đúc đã đồng hóa kẻ xâm lăng, cả về huyết thống cả về văn hóa. Những thủ lĩnh Mông Cổ từ bỏ vật tổ truyền thống là con cọp trắng để nhận vật tổ của người Miêu Việt là con rồng làm vật tổ của mình, nhận những ông vua thời Tam hoàng, không chỉ nhân vật chính thống Hoàng đế mà cả Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông làm tổ. Người Mông Cổ và sau này hậu duệ của họ là người Hoa Hạ, đã kế thừa hầu hết nền văn hóa phi vật thể của Việt tộc.
Trước hết là tiếp thu ngôn ngữ Việt.
Trong cuốn sách Vịnh Bắc Việt, tác giả Vũ Hữu San dẫn tài liệu của nhà địa lý kiêm toán học Buckminster Fuller cho rằng, có thể tìm ra nguồn gốc các nền văn minh căn cứ vào tỷ lệ thuận giữa trình độ văn hóa, di dân và mật độ nhân số. Từ lý thuyết đó, ông lập Dymaxion World Maps (Bản đồ động thái thế giới). Từ bản đồ của mình, B. Fuller đưa ra giả thuyết: vào thiên niên kỷ IV-III TCN, duyên hải Ðông và Ðông Nam Á chỉ chiếm 5% diện tích thế giới nhưng có tới 54% nhân loại đang sống. Dựa vào sự tính toán của ông, có thể suy ra, vào thời đó, người Việt có thể chiếm 65% nhân số thế giới.(37) Trong cộng đồng Ðông Á, người Việt là cư dân có nhân số lớn nhất, giữ vai trò lãnh đạo về văn hoá và ngôn ngữ.
Những phát hiện khảo cổ gần đây cho thấy:
- Năm 1999, khai quật 24 ngôi mộ cổ làng Giả Hồ thuộc tỉnh Hà Nam, di chỉ có tuổi 6.600 đến 6200 năm TCN, tiến sĩ Garman Harbottle thuộc Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven, New York, Hoa Kỳ cùng nhóm khảo cổ Trường Đại học Khoa học và công nghệ tỉnh An Huy, Trung Quốc xác định được 11 ký hiệu đặc biệt được khắc trên mai rùa. Harbottle cho biết: Điều rất có ý nghĩa là những ký hiệu trên có sự gần gũi với chữ Trung Quốc cổ. Trong những ký hiệu đó có cả biểu tượng về “mắt’ và “cửa sổ”, số Tám và 20, tương đồng với những ký tự được sử dụng hàng nghìn năm sau vào thời nhà Thương (1700 đến 1100 TCN). Chúng sớm hơn những ký tự được phát hiện tại Mesopotamia hơn 2000 năm.
HÀ VĂN THÙY – NỖI BẤT AN CỦA LỊCH SỬ
ĐỂ LẠI PHẢN HỒI
Những ai quan tâm tới lịch sử dân tộc Việt đều biết rằng, khi nhà Tần diệt nước Thục, giết vua và thái tử Thục ở núi Bách Lộc năm 316 TCN, Thục Chế cùng di duệ nhà Thục chạy xuống tá túc trên đất của vua Hùng. Nhiều lần Chế tấn công Hùng Duệ Vương nhưng không thành, tới đời con ông là Thục Phán đã diệt vua Hùng, lập nước Âu Lạc.
Năm 257 TCN, Triệu Đà vua nước Nam Việt diệt An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt. Quốc sử của ta, từ đời Nguyễn về trước, đều ghi nhận Âu Lạc và Nam Việt là nhà nước chính thống của người Việt. An Dương Vương và Triệu Vũ Đế đều được ghi công lớn. Không những thế, Triệu Đà còn được suy tôn là vị vua mở đầu của lịch sử đất nước. Tuy nhiên, đến thời Dân chủ công hòa, vào thập niên 1960, giới sử gia miền Bắc, dựa theo quan điểm duy vật lịch sử, phán quyết rằng Triệu Đà là ngoại xâm nên bỏ Kỷ nhà Triệu khỏi chính sử.
Từ đó tới nay, trong dư luận xã hội cũng như học giới có nhiều ý kiến không đồng tình với việc làm trên, đưa ra nhiều bằng chứng cùng luận cứ cho thấy nhà Triệu là nhà nước của người Việt. Bản thân người viết cũng hơn một lần lên tiếng về việc này*. Nay xin trình bày những di hại của việc trục xuất nhà Triệu khỏi chính sử.
Truyền thuyết cũng như chính sử Việt Nam ghi rằng, Xích Quỷ là nhà nước đầu tiên tiên của người Việt được thành lập năm 2879 TCN. Sau này, nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng hình thành trên cương vực của nước Xích Quỷ. Vào thời Chiến Quốc, nhà nước Văn Lang tan rã, một số thủ lĩnh khu vực thành lập những nhà nước của người Việt như Ngô, Việt, Sở… Tần Thủy Hoàng diệt nước Sở, sáp nhập đất đai cùng dân cư nước Văn Lang cũ vào đế chế Tần. Khi nhà Tần sụp đổ, Triệu Đà, một viên huyện lệnh người Việt đã lãnh đạo dân Việt phía nam Dương Tử lập nước Nam Việt. Việc Nam Việt diệt An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào mình, về bản chất lịch sử không khác gì việc Quang Trung diệt nhà Lê Trịnh lập Đại Việt. Dù gì đi nữa, cũng không thể bác bỏ sự thật là, trong một thế kỷ tồn tại, Nam Việt là cái cầu, là sợi dây nhau cuối cùng kết nối Việt Nam với quá khứ của đại tộc Việt.
Vì vậy, việc trục xuất nhà Triệu khỏi sử Việt đưa tới những hệ lụy nghiêm trọng sau:
1. Tước bỏ tư cách thừa kế của người Việt Nam với quá khứ của đại tộc Việt. Từ những phát hiện của di truyền học đầu thế kỷ XXI cho thấy, người Việt không chỉ sinh sống lâu đời ở Nam Dương Tử mà hàng vạn năm trước là chủ nhân của toàn bộ đất Trung Hoa. Trên đất này, đại tộc Việt đã làm nên những nền văn hóa rực rỡ. Nam Việt nhà Triệu chính là cái cuống nhau nối lịch sử xa xăm của đại tộc Việt với Việt Nam.
2. Tước bỏ vai trò chủ nhân Việt đối với ngôn ngữ gốc mà người Trung Hoa đang sử dụng hiện nay. Trong tám phương ngữ được xác định trên đất Trung Hoa thì tiếng Việt Quảng Đông được coi là ngôn ngữ gốc. Trong khi đó, nguồn cội của ngôn ngữ Quảng Đông chính là ngôn ngữ vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, trung tâm của người Việt khoảng 15.000 năm trước.
3. Tước bỏ vai trò sáng tạo chữ Giáp cốt của người Việt. Chữ Giáp cốt được phát hiện đầu tiên vào thời nhà Ân ở Hà Nam. Nhưng khảo cổ học xác định rằng tại văn hóa Giả Hồ 9000 năm trước đã có ký tự hình vẽ trên yếm rùa. Cuối năm 2011, tại di chỉ Cảm Tang tỉnh Quảng Tây phát hiện ký tự tượng hình khắc trên xẻng đá có tuổi 4000 tới 6000 năm trước. Những ký tự kiểu Giáp cốt này xuất hiện trước khi người Hoa Hạ ra đời. Do vậy nó hoàn toàn là sản phẩm sáng tạo của người Vịệt.
4. Tước bỏ mối liên hệ huyết thống và văn hóa với những bộ tộc người Việt đang sống trên đất Trung Hoa. Những khám phá lịch sử cho thấy, trước cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng thì phần lớn đất Trung Hoa do người Việt làm chủ: Thục và Ba phía tây nam; Ngô, Sở, Việt ở trung tâm và phía đông; Văn Lang phía nam. Do cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng, phần lớn đất đai và dân cư Việt bị sáp nhập vào đế chế Tần. Trong phần đất bị chiếm, đại bộ phận người Việt bị Hán hóa. Tuy nhiên, có không ít nhóm Việt không chịu đồng hóa, đã lui sâu vào cư trú trong vùng rừng núi. Lâu dần, từ người Lạc Việt – tộc đa số trong dân cư- họ bị thiểu số hóa. Những nhóm người như tộc Thủy, Bố Y ở Quý Châu vẫn giữ nhiều nét văn hóa Việt cổ, có thể nói đó là nền văn hóa Việt hóa thạch. Nếu nghiên cứu văn hóa của những tộc người bà con này, chắc chắn sẽ khám phá lại nhiều điều quý giá của văn hóa Việt cổ. Đặc biệt tộc Thủy với 340.000 người vẫn giữ được sách Thủy (Thủy thư -水书) viết bằng chữ Thủy (Thủy tự), loại chữ tượng hình gần gũi Giáp cốt văn nhưng hành văn theo cách nói xuôi của người Việt, một loại văn tự hóa thạch sống, được Trung Quốc coi là bảo vật.
5. Mất quyền thừa kế với truyền thống và văn hóa Nam Việt.
Sáp nhập đất đai và dân cư Âu Lạc, Nam Việt thành quốc gia lớn trong khu vực. Trái với quan niệm phổ biến cho đến nay là Triệu Đà dùng kế sách “nội đế ngoại vương” (bên trong xưng đế nhưng đối với nhà Hán thì xưng vương), suốt đời mình, Triệu Đà xưng danh hiệu Triệu Vũ Đế và cháu ông cũng xưng đế mà bằng chứng là chiếc ấn bằng vàng, kich thước 310 x 310 mm (lớn hơn mọi con ấn của vua Hán) khắc bốn chữ Văn Đế hành tỷ (文帝行璽) tìm thấy trong lăng mộ. Sau khi phát hiện lăng mộ Triệu Văn Đế, người Trung Hoa đã lập khu trưng bày di tích này với khoảng 2500 hiện vật đặc sắc, trong đó đại đa số là thuộc văn hóa Việt. Do coi đây là của người Trung Hoa nên giới sử học Việt chưa hề có nghiên cứu nào về di chỉ quan trọng này.
Để mất những mối liên hệ trên, không chỉ là nỗi đau của người Việt Nam, dòng cuối cùng của Bách Việt còn độc lập và giữ được cương thổ. Nguy hại hơn, nó cắt đứt mối liên hệ với quá khứ, khiến cội nguồn, lịch sử và văn hóa Việt trở nên chông chênh trên không chằng, dưới không rễ!
Từng có cuộc tranh biện giữa học giả hai nước Trung Việt về trống đồng Vạn Gia Bá và Đông Sơn, cái nào có trước? Do từ chối Nam Việt nên học giả Việt Nam bỏ mặt trận, thúc thủ lui về biên giới Việt Nam hiện tại, để rồi cố sức một cách vô vọng cho rằng trống Đông Sơn có trước! Nếu không tự từ bỏ Nam Việt, học giả Việt Nam có thể dõng dạc tuyên bố: “Với công nghệ định tuổi đồ đồng hiện nay cùng tình trạng cổ vật khi thu hồi, không thể định tuổi chính xác hai loại trống đồng trên. Tuy nhiên điều này không thật có ý nghĩa vì trống Đông Sơn cũng như Vạn Gia Bá đều là sản phẩm sáng tạo của người Lạc Việt, tổ tiên chúng tôi trên đất đai mênh mông của người Lạc Việt từ nam Dương Tử tới miền Trung Việt Nam, ở thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên!”
Tuy là chuyện của quá khứ nhưng lịch sự luôn gắn bó mật thiết với cuộc sống hiện tại. Những quyết định không thỏa đáng về lịch sử đưa tới những di họa khó lường. Hàn Dũ, nhà thơ Trung Quốc thời nhà Đường có nói: “Bất bình tắc minh”: Vì bất bình nên phải kêu lên! Việc nhận định sai về cội nguồn tổ tiên dẫn chúng ta lâm vào bi kịch của kẻ bỏ mồ cha khóc đống mối. Một dân tộc còn ngộ nhận về gốc gác chưa thể là dân tộc trưởng thành!.
Những ai quan tâm tới lịch sử dân tộc Việt đều biết rằng, khi nhà Tần diệt nước Thục, giết vua và thái tử Thục ở núi Bách Lộc năm 316 TCN, Thục Chế cùng di duệ nhà Thục chạy xuống tá túc trên đất của vua Hùng. Nhiều lần Chế tấn công Hùng Duệ Vương nhưng không thành, tới đời con ông là Thục Phán đã diệt vua Hùng, lập nước Âu Lạc.
Năm 257 TCN, Triệu Đà vua nước Nam Việt diệt An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt. Quốc sử của ta, từ đời Nguyễn về trước, đều ghi nhận Âu Lạc và Nam Việt là nhà nước chính thống của người Việt. An Dương Vương và Triệu Vũ Đế đều được ghi công lớn. Không những thế, Triệu Đà còn được suy tôn là vị vua mở đầu của lịch sử đất nước. Tuy nhiên, đến thời Dân chủ công hòa, vào thập niên 1960, giới sử gia miền Bắc, dựa theo quan điểm duy vật lịch sử, phán quyết rằng Triệu Đà là ngoại xâm nên bỏ Kỷ nhà Triệu khỏi chính sử.
Từ đó tới nay, trong dư luận xã hội cũng như học giới có nhiều ý kiến không đồng tình với việc làm trên, đưa ra nhiều bằng chứng cùng luận cứ cho thấy nhà Triệu là nhà nước của người Việt. Bản thân người viết cũng hơn một lần lên tiếng về việc này*. Nay xin trình bày những di hại của việc trục xuất nhà Triệu khỏi chính sử.
Truyền thuyết cũng như chính sử Việt Nam ghi rằng, Xích Quỷ là nhà nước đầu tiên tiên của người Việt được thành lập năm 2879 TCN. Sau này, nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng hình thành trên cương vực của nước Xích Quỷ. Vào thời Chiến Quốc, nhà nước Văn Lang tan rã, một số thủ lĩnh khu vực thành lập những nhà nước của người Việt như Ngô, Việt, Sở… Tần Thủy Hoàng diệt nước Sở, sáp nhập đất đai cùng dân cư nước Văn Lang cũ vào đế chế Tần. Khi nhà Tần sụp đổ, Triệu Đà, một viên huyện lệnh người Việt đã lãnh đạo dân Việt phía nam Dương Tử lập nước Nam Việt. Việc Nam Việt diệt An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào mình, về bản chất lịch sử không khác gì việc Quang Trung diệt nhà Lê Trịnh lập Đại Việt. Dù gì đi nữa, cũng không thể bác bỏ sự thật là, trong một thế kỷ tồn tại, Nam Việt là cái cầu, là sợi dây nhau cuối cùng kết nối Việt Nam với quá khứ của đại tộc Việt.
Vì vậy, việc trục xuất nhà Triệu khỏi sử Việt đưa tới những hệ lụy nghiêm trọng sau:
1. Tước bỏ tư cách thừa kế của người Việt Nam với quá khứ của đại tộc Việt. Từ những phát hiện của di truyền học đầu thế kỷ XXI cho thấy, người Việt không chỉ sinh sống lâu đời ở Nam Dương Tử mà hàng vạn năm trước là chủ nhân của toàn bộ đất Trung Hoa. Trên đất này, đại tộc Việt đã làm nên những nền văn hóa rực rỡ. Nam Việt nhà Triệu chính là cái cuống nhau nối lịch sử xa xăm của đại tộc Việt với Việt Nam.
2. Tước bỏ vai trò chủ nhân Việt đối với ngôn ngữ gốc mà người Trung Hoa đang sử dụng hiện nay. Trong tám phương ngữ được xác định trên đất Trung Hoa thì tiếng Việt Quảng Đông được coi là ngôn ngữ gốc. Trong khi đó, nguồn cội của ngôn ngữ Quảng Đông chính là ngôn ngữ vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, trung tâm của người Việt khoảng 15.000 năm trước.
3. Tước bỏ vai trò sáng tạo chữ Giáp cốt của người Việt. Chữ Giáp cốt được phát hiện đầu tiên vào thời nhà Ân ở Hà Nam. Nhưng khảo cổ học xác định rằng tại văn hóa Giả Hồ 9000 năm trước đã có ký tự hình vẽ trên yếm rùa. Cuối năm 2011, tại di chỉ Cảm Tang tỉnh Quảng Tây phát hiện ký tự tượng hình khắc trên xẻng đá có tuổi 4000 tới 6000 năm trước. Những ký tự kiểu Giáp cốt này xuất hiện trước khi người Hoa Hạ ra đời. Do vậy nó hoàn toàn là sản phẩm sáng tạo của người Vịệt.
4. Tước bỏ mối liên hệ huyết thống và văn hóa với những bộ tộc người Việt đang sống trên đất Trung Hoa. Những khám phá lịch sử cho thấy, trước cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng thì phần lớn đất Trung Hoa do người Việt làm chủ: Thục và Ba phía tây nam; Ngô, Sở, Việt ở trung tâm và phía đông; Văn Lang phía nam. Do cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng, phần lớn đất đai và dân cư Việt bị sáp nhập vào đế chế Tần. Trong phần đất bị chiếm, đại bộ phận người Việt bị Hán hóa. Tuy nhiên, có không ít nhóm Việt không chịu đồng hóa, đã lui sâu vào cư trú trong vùng rừng núi. Lâu dần, từ người Lạc Việt – tộc đa số trong dân cư- họ bị thiểu số hóa. Những nhóm người như tộc Thủy, Bố Y ở Quý Châu vẫn giữ nhiều nét văn hóa Việt cổ, có thể nói đó là nền văn hóa Việt hóa thạch. Nếu nghiên cứu văn hóa của những tộc người bà con này, chắc chắn sẽ khám phá lại nhiều điều quý giá của văn hóa Việt cổ. Đặc biệt tộc Thủy với 340.000 người vẫn giữ được sách Thủy (Thủy thư -水书) viết bằng chữ Thủy (Thủy tự), loại chữ tượng hình gần gũi Giáp cốt văn nhưng hành văn theo cách nói xuôi của người Việt, một loại văn tự hóa thạch sống, được Trung Quốc coi là bảo vật.
5. Mất quyền thừa kế với truyền thống và văn hóa Nam Việt.
Sáp nhập đất đai và dân cư Âu Lạc, Nam Việt thành quốc gia lớn trong khu vực. Trái với quan niệm phổ biến cho đến nay là Triệu Đà dùng kế sách “nội đế ngoại vương” (bên trong xưng đế nhưng đối với nhà Hán thì xưng vương), suốt đời mình, Triệu Đà xưng danh hiệu Triệu Vũ Đế và cháu ông cũng xưng đế mà bằng chứng là chiếc ấn bằng vàng, kich thước 310 x 310 mm (lớn hơn mọi con ấn của vua Hán) khắc bốn chữ Văn Đế hành tỷ (文帝行璽) tìm thấy trong lăng mộ. Sau khi phát hiện lăng mộ Triệu Văn Đế, người Trung Hoa đã lập khu trưng bày di tích này với khoảng 2500 hiện vật đặc sắc, trong đó đại đa số là thuộc văn hóa Việt. Do coi đây là của người Trung Hoa nên giới sử học Việt chưa hề có nghiên cứu nào về di chỉ quan trọng này.
Để mất những mối liên hệ trên, không chỉ là nỗi đau của người Việt Nam, dòng cuối cùng của Bách Việt còn độc lập và giữ được cương thổ. Nguy hại hơn, nó cắt đứt mối liên hệ với quá khứ, khiến cội nguồn, lịch sử và văn hóa Việt trở nên chông chênh trên không chằng, dưới không rễ!
Từng có cuộc tranh biện giữa học giả hai nước Trung Việt về trống đồng Vạn Gia Bá và Đông Sơn, cái nào có trước? Do từ chối Nam Việt nên học giả Việt Nam bỏ mặt trận, thúc thủ lui về biên giới Việt Nam hiện tại, để rồi cố sức một cách vô vọng cho rằng trống Đông Sơn có trước! Nếu không tự từ bỏ Nam Việt, học giả Việt Nam có thể dõng dạc tuyên bố: “Với công nghệ định tuổi đồ đồng hiện nay cùng tình trạng cổ vật khi thu hồi, không thể định tuổi chính xác hai loại trống đồng trên. Tuy nhiên điều này không thật có ý nghĩa vì trống Đông Sơn cũng như Vạn Gia Bá đều là sản phẩm sáng tạo của người Lạc Việt, tổ tiên chúng tôi trên đất đai mênh mông của người Lạc Việt từ nam Dương Tử tới miền Trung Việt Nam, ở thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên!”
Tuy là chuyện của quá khứ nhưng lịch sự luôn gắn bó mật thiết với cuộc sống hiện tại. Những quyết định không thỏa đáng về lịch sử đưa tới những di họa khó lường. Hàn Dũ, nhà thơ Trung Quốc thời nhà Đường có nói: “Bất bình tắc minh”: Vì bất bình nên phải kêu lên! Việc nhận định sai về cội nguồn tổ tiên dẫn chúng ta lâm vào bi kịch của kẻ bỏ mồ cha khóc đống mối. Một dân tộc còn ngộ nhận về gốc gác chưa thể là dân tộc trưởng thành!.























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét