Phạm Ngọc Thái bình thơ Tiền chiến
Về thi pháp để tạo nên những bài thơ hay
của Hàn Mặc Tử không giống như Xuân Diệu, Huy Cận và các nhà thơ khác trong
phong trào "thơ mới" thời tiền chiến? Hầu hết đều theo khuynh hướng
thơ lãng mạn thuần túy. Với Hàn Mặc Tử, nếu kể các bài thơ hay của ông như: Mùa
xuân chín, Bẽn lẽn và Đây thôn Vỹ Dạ... là bài thơ điển hình, thi nhân đã sử dụng
hài hoà thi pháp của dòng thơ tượng trưng hiện đại Pháp. Theo thuyết
"tương ứng cảm quan" do Charles Baudelaire (1821-1867), nhà thơ bậc
thầy của trường phái thơ tượng trưng châu Âu lúc đó chủ xướng. Nghĩa là: những
hình ảnh, biểu tượng để tượng trưng đều dựa vào cảm thụ của các giác quan, hay
từ trong tâm linh - gọi là cảm quan. Cho nên thỉnh thoảng vẫn xen những ngôn ngữ
mơ hồ và... ảo. Như Chế Lan Viên đã viết:
Anh phải
đi từ bờ bên này sang bờ bên kia đấy
Bờ bên kia hư ảo - bờ thơ
(trích Di cảo)
Tuy nhiên, trong thơ ca không phải bài
thơ hay nào ngày một, ngày hai cũng đánh giá ngay được. Như bài "Đây thôn
Vỹ Dạ" của Hàn Mặc Tử , thuộc trong ít bài thơ hay nhất thế kỷ XX, thế mà
phải gần năm mươi năm sau kể từ khi nó ra đời, mới được thi đàn ngợi ca để trở
thành bài thơ nổi tiếng. Thậm chí cả trong Thi Nhân Việt Nam của nhà nghiên cứu
bình luận thi ca danh giá Hoài Thanh, khi trích đăng một số bài thơ tiêu biểu của
Hàn Mặc Tử, ông lại chưa phát hiện ra được... nên để sót không đăng bài thơ
tình hay nhất đó của thi nhân.
Theo tôi, Hàn Mặc Tử là nhà thơ lớn nhất
thời tiền chiến với ba bài thơ hay nổi tiếng như đã nói trên. Nhưng với tuyển
thơ trên trăm bài thi nhân đã để lại cho nền văn học nước nhà, nhất là những tập
"Mật đắng - Máu cuồng và hồn điên" - Thiên tài Hàn Mặc Tử thăng hoa để
sáng tác ra những vần thơ, trang thơ kiệt xuất. Hoài Thanh từng có nhận định
trong Thi Nhân Việt Nam, rằng:
"Hàn Mặc Tử đi trong trăng, há miệng cho
máu tung ra làm biển cả, cho hồn văng ra và rú lên những tiếng ghê người... Một
tác phẩm như thế, ta không có thể nói hay hay dở; nó đã ra ngoài vòng nhân
gian; nhân gian không có quyền phê phán. Ta chỉ biết trong văn thơ cổ kim không
có gì kinh dị hơn ".
Lại nói về giai đoạn phong trào "thơ
mới" thời tiền chiến - Đã được văn đàn nhận định như là thời kỳ phục hưng
của thi ca Việt. Xuất hiện hàng loạt các nhà thơ lớn: Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu,
Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính... cùng nhiều bậc thi nhân xuất sắc khác như
Bích Khê, Yến Lan, Vũ Hoàng Chương, Quách Tấn, Nguyễn Nhược Pháp v.v... Những
thi nhân ấy đã để lại cho nền văn hiến Thăng Long cả một kho tàng thi ca viết
vào giai đoạn trước cách mạng, muôn màu và đầy hương sắc.
BÀN VỀ XUÂN DIỆU:Tuyển tập thơ Xuân Diệu cũng tới vài ba trăm bài, gồm hai mảng thơ: Mảng thơ tình trước cách mạng, như tập Thơ thơ, Gửi hương cho gió, khoảng trên dưới 70 bài. Tất cả còn lại là mảng thơ thi nhân đã sáng tác vào thời kỳ sau cách mạng. Nhưng sở dĩ Xuân Diệu được xác định là một thi nhân lớn, chủ yếu lại chính nhờ vào mấy chục bài thơ tình mà ông đã sáng tác từ trước cách mạng ấy. Chỉ với hai tập Thơ thơ, Gửi hương cho gió... viết trước cách mạng đó thôi, đã có thể nói rằng: Chúng ta đã có một nhà thơ chiếm một vị trí đặc biệt trong thơ tình của Việt Nam. Như Thế Lữ trước kia đã từng nói về ông rằng: Chúng ta đã có một Xuân Diệu!
Mấy trăm bài thơ Xuân Diệu viết sau cách mạng, có bài thơ "biển" là đứng được với thời gian. Hầu hết thơ viết sau cách mạng của ông thuộc loại thơ của một thời. Có lẽ vào giây phút chót cuộc đời, Xuân Diệu cũng đã nhận ra điều đó, cho nên trong bài "Giã từ" cuối cùng ông đã viết để lại rằng:
Nếu để cho tôi được giã từ
Kính chào cõi thực để vào hư
Trong hơi thở chót dâng trời đất
Xuống đến suối vàng vẫn ngất ngư.
Hai tập Thơ thơ, Gửi hương cho gió ấy,
là thơ tồn tại!
BÀN VỀ HUY CẬN:
Cũng như Xuân Diệu - Huy Cận được
xác định vào hàng các nhà thơ lớn của nền văn học, chủ yếu nhờ tập "Lửa
thiêng" mà thi nhân đã sáng tác trước cách mạng. Ông nổi tiếng với tràng
Giang, một bài thơ tuyệt hay!... và bài Ngậm ngùi được xem là mẫu mực của thể
thơ lục bát. Mặc dù sau cách mạng Huy Cận cũng đã viết hàng trăm các bài thơ
khác... cũng chỉ là thơ của một thời. Bài thơ đáng nói nhất của Huy Cận viết
vào giai đoạn sau cách mạng, là bài "các vị La hán chùa Tây Phương".
Bài thơ khá dài, 15 đoạn 60 câu. Nó nói về kiếp khổ hạnh thời xưa cũ, thông qua
gương mặt các vị La Hán ấy. Hình tượng thơ sinh động, sâu sắc và tương đối khúc
triết. Giọng thơ nhuần nhụy, dễ nghe. Có sức thuyết phục bởi ý tưởng thơ thấm đẫm
được nỗi đau đời. Cái đoạn kiếp luân hồi chốn trần gian. Bài thơ có khả năng đứng
được với thời gian. Chỉ tiếc là... tuy thơ nói về nỗi khổ hạnh nơi trần thế,
nhưng đến cuối bài, tác giả có phần nắn theo khuynh hướng chính trị. Nó mang
tính khẩu hiệu: cái mới tất cả là "hảo hảo", tốt tốt hết? Chủ nghĩa
nhân văn của tình thơ vì thế giảm đi phần nào. Sự sung mãn của bài thơ cũng yếu
đi. Như hai đoạn thơ kết này chẳng hạn:
Các vị La Hán chùa Tây Phương
Hôm nay xã hội đã lên đường
Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại
Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương.
Cha ông yêu mến thời xưa cũ
Trần trụi đau thương bỗng hoá gần
Những bước mất đi trong thớ gỗ
Về đây tươi lại dặm đường xuân.
Theo tôi, giá như thi nhân
không dùng hai đoạn kết ấy, bài thơ Các Vị La Hán Chùa Tây Phương vẫn đủ sự
viên mãn mà lại còn hay hơn.
Tóm lại, Thơ viết trước cách mạng
của Huy Cận với tập Lửa thiêng thuộc loại thơ tồn tại!
Nếu tôi có dẫn giải thêm về Chế Lan Viên và Nguyễn Bính thì cũng tương tự như vậy.
BÀN VỀ CHẾ LAN VIÊN:Nói tới Chế Lan Viên người ta nghĩ ngay đến Điêu tàn, thơ viết trước cách mạng. Là tập thơ đầu tay được sáng tác khi thi nhân mới chỉ ở vào tuổi thiếu niên. Hoài Thanh đã từng nhận xét trong Thi Nhân Việt Nam:
"Quyển Điêu tàn đã đột ngột xuất hiện ra giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị... Nó dựng lên một thế giới... cái thế giới lạ lùng và rùng rợn ấy, ai có ngờ ở trong tâm trí một cậu bé mười lăm mười sáu tuổi. Cậu bé ấy đã khiến bao người ngạc nhiên. Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mươi, nó đứng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật".
Đồng thời - tầm vóc Chế Lan Viên cao lên còn nhờ vào cả một khối Di cảo thơ đồ sộ tới năm sáu trăm bài viết tự do. không theo một yêu cầu nào về mặt chính trị, cũng không để cổ động cho một phong trào văn hoá, văn nghệ nào. Nghĩa là, những bài trong Di cảo đó thi nhân sáng tác theo nhu cầu cảm xúc tự thân. Không ít bài còn ở dạng dang dở trong bản thảo, được xuất bản sau khi thi nhân đã qua đời.
Như đã nói, thơ Chế Lan Viên là loại thơ triết lý. Những trang Di cảo thơ đó Người hoàn toàn sáng tác tự do, tự do tung phá... sâu sắc tính nhân văn. Thậm chí kể cả những bài mang tính phản biện về mặt chính trị cũng rất quí. Nhiều bài đặc sắc. Nhờ có khối Di cảo thơ đồ sộ này, tầm vóc chân dung thi nhân lớn của Chế Lan Viên cao lên nhiều.
Như thế có thể nói: Trong tuyển thơ Chế
Lan Viên có hai mảng viết hoàn toàn tự do - Hai mảng tự do đó đã được thăng
hoa, phát tiết... tạo nên một tầm vóc thi nhân lớn, sừng sững - Chính là Điêu
tàn và Di cảo thơ! Hai loại tác phẩm thi ca ấy sẽ còn sống mãi với non sông và
nền văn học nước nhà. Đó là "thơ tồn tại"!
Tuy nhiên, riêng về Chế Lan Viên - Vì thơ
có tính triết lý cao, nên trong mảng thơ sáng tác sau cách mạng, với những áng
thi ca thấm đẫm màu sắc triết học, nhất là những bài về chủ đề Tổ quốc - Nhân
dân... vẫn được đời ngưỡng mộ.
BÀN VỀ NGUYỄN BÍNH:
Nói đến Nguyễn Bính người ta nhớ nhiều
những bài thơ trong tập: Lỡ bước sang ngang (1940), Tâm hồn tôi (1940), Hương cố
nhân (1941), Mười hai bến nước (1942)... với các bài như: Mưa xuân, Lỡ bước
sang ngang, Cô hái mơ, cô lái đò, Viếng hồn trinh nữ, Chân quê, Những bóng người
trên sân ga, v.v... Và một số bài thơ lẻ, thi nhân đã viết trước cách mạng
- Thí dụ bài Một trời quan tái:
Chiều lại buồn rồi, em vẫn xa
Lá rừng thu đổ, nắng sông tà
Chênh vênh quán rượu mờ sương khói
Váng vất thôn sâu quạnh tiếng gà....
Chiều nay thương nhớ nhất chiều nay
Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy
Tôi uống cả em và uống cả
Một trời quan tái, mấy cho say!
Hay là Đường rừng chiều:
... Chim nào kêu mỏi ngàn cây
Ngẩn ngơ đôi chiếc ngựa gầy dong xe
Đồi sim dan díu nương chè
Trắng phau khói núi, xanh lè áo ai...
Những bài thơ ấy, những trang thơ ấy
đời sẽ còn nhớ mãi. Thơ sau cách mạng Nguyễn Bính viết cũng nhiều, nhưng người
ta cũng đã quên nhiều.
BÀN VỀ BÍCH KHÊ:
Tuy chưa phải là nhà thơ lớn nhưng Bích
Khê đã thuộc vào bậc tài danh thời tiền chiến. Cùng với tập "Tinh
hoa" - "Tinh huyết" của thi nhân được nhiều người biết đến. Hoài
Thanh đã từng khen trong Thi Nhân Việt Nam:
"Tôi đã gặp trong Tinh huyết những câu thơ
hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam:
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông ".
Đặc biệt với bài Tranh lõa thể nổi tiếng,
Hàn Mặc Tử ca ngợi hết lời: " Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ,
rất mộng, rất ảo. Nhìn vào thực tế thì sự thực sẽ thành chiêm bao, nhìn vào
chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu... ".
Cũng giống Hàn Mặc Tử, thơ Bích Khê đậm màu sắc của dòng thơ tượng trưng Pháp như Baudelaire, Verlaine. Thi ca của ông huyền ảo đến mức mà chính Hoài Thanh đã nói: "Thơ Bích Khê mới đọc đôi ba lần thì cũng như chưa đọc". Người các thời gọi ông là "Thi sĩ của thần linh ".
Cũng giống Hàn Mặc Tử, thơ Bích Khê đậm màu sắc của dòng thơ tượng trưng Pháp như Baudelaire, Verlaine. Thi ca của ông huyền ảo đến mức mà chính Hoài Thanh đã nói: "Thơ Bích Khê mới đọc đôi ba lần thì cũng như chưa đọc". Người các thời gọi ông là "Thi sĩ của thần linh ".
Mỗi khi nhắc về thời tiền chiến, các nhà
lý luận phê bình văn học vẫn tìm tòi, nghiên cứu thế giới tâm linh cũng như
ngôn ngữ nghệ thuật thơ ông.
Phạm Ngọc Hiền


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét