Thứ Tư, 11 tháng 11, 2015

Chuyện tình và thơ tình xứ Huế: Bích Khê với mối tình cuối cùng



Chuyện tình và thơ tình xứ Huế: 
Bích Khê với mối tình cuối cùng
   Hồi học Đại học Văn khoa Huế (1961-1966) tôi có một bài nghiên cứu về Bích Khê. Người cung cấp tài liệu và hướng dẫn cho tôi là nhà thơ Quách Tấn. Qua hoạ sĩ Đinh Cường tôi làm quen với chị Thu An và gia đình ông bà Lạc Nhân Nguyễn Quý Hương -Lê Thị Ngọc Sương (chị ruột của Bích Khê). Nhờ thế tôi biết thêm được một số chuyện về đời tư của nhà thơ núi Ấn sông Trà Bích Khê (1916-1946). Trong bài viết nầy tôi giới hạn đề tài vào mối tình cuối cùng của Bích Khê diễn ra tại Huế.
Bích Khê - người Quảng Ngãi, ông học Trung học tại trường Pellerin Huế (1929-1932), sau đó ông ra Hà Nội học ban Tú Tài rồi đi dạy học ở Phan Thiết (1934). Sau mấy năm vừa dạy học, vừa làm thơ và yêu, không may Bích Khê bị bịnh phổi phải ra nằm điều trị ở Bệnh viện Trung ương Huế (1937). Chữa bệnh xong ông trở lại Phan Thiết dạy tại trường Quảng Thuận của ông bà Lạc Nhân Nguyễn Quý Hương. Không lâu sau bà Ngọc Sương bị Pháp bắt vì tình nghi hoạt động yêu nước, trường Quảng Thuận đóng cửa. Năm 1941 Bích Khê ra Huế dạy tại trường Phú Xuân của cụ Hồ Đắc Hàm. Dạy được một năm, bệnh phổi của ông tái phát phải vào bệnh viện mang tên Pasquier ở Huế điều trị. Nhưng bệnh quá nặng, mọi cố gắng của thầy thuốc đều vô hiệu. Ông từ trần vào lúc 12g30 phút ngày 17.1.1946, ở tuổi 30. Thầy giáo làm thơ Bích Khê  đã để lại một sự nghiệp văn học gồm có Tinh Huyết (thơ) do Trọng Miên xuất bản (1939), các di cảo chưa xuất bản:Tinh Hoa  (thơ), Đẹp (Thơ), Ngũ hành Sơn, Mấy Vần Thơ  Cũ, Trở về Từ Liên Bang Xô Viết(dịch của André Gide). Và ông cũng đã để lại trong cuộc đời và trong thơ ông ba mối tình:Mối tình đầu với cô học trò 14 tuổi Song Châu ở Phan Thiết (1936-1939), mối tình  không bước ra khỏi ngưỡng thơ với cô Thanh Thủy ở Mũi Né (Bình Thuận) và khúc sông Sa Kỳ Thu Xà ( Quảng Ngãi), mối tình dữ dội sâu đậm với một cô học trò học  lớp đêm-Ngọc Kiều tại trường Quảng Thuận Phan Thiết (1938) . 
Ba mối tình ấy còn ghi dấu ấn khá đậm đà trong thơ ông và gia đình ông, bạn bè đều hiểu rất rõ. Thế nhưng . . . .
Lúc ấy bệnh của Khê quá nặng (cuối năm 1945), biết không thể sống được, anh gọi người chị thứ tám đến bên cạnh rồi lần tay dưới nệm lấy ra một gói giấy tờ phong kín trao cho chị. Với giọng run run, ngập ngừng Khê nói với một sự xúc động:
- Thưa chị, đây là chút lòng của em đã gói ghém từ lâu.
Trong ba người yêu, Ngọc Kiều là người được Bích Khê nhắc đến nhiều nhất. Vì thế lúc ấy, chị đã nghĩ ngay đến Ngọc Kiều và bảo Khê:
- Em muốn gởi cho Ngọc Kiều ?
Đôi mắt lặng lờ, Khê nhìn chị âu yếm. Người chị đang chờ cái gật đầu của đứa em trai thì không ngờ, Khê lại bảo:
- Không ! Đây là một mối tình câm, không tiếng vang, không tiếng dội, một mối tình em chôn chặt trong đáy lòng, ngoài em ra, không có một người thứ hai nào biết được, cho cả đến người em yêu: Minh Sim !
Nhắc đến hai chữ “Minh Sim”, người chị hết sức ngạc nhiên. Sao lại có chuyện bất ngờ, lạ lùng đến thế ?  Xưa nay không có một điều gì của nỗi lòng mà Khê không thổ lộ với chị. Thế mà, mối tình của Khê với Minh Sim chị không hề biết một mảy may.
Minh Sim là ai?.
Minh Sim người Đồng Hới, đã có chồng và hai đứa con, nhưng không may cả ba người đều đã qua đời để lại một mình cô với hai lá phổi nhuốm bệnh. Năm 1937 cô vào bệnh viện Trung ương Huế chữa trị thì gặp hai chị em người đồng bệnh Bích Khê. Năm 1938, Bích Khê ra viện và vào dạy học cho trường Quảng Thuận tại Bình Thuận, Minh Sim đi theo chị em Bích Khê và được giữ một chân giáo viên của ngôi trường tư thục mới mở nầy. Năm ấy Minh Sim mới vừa qua hết tuổi hai mươi, nhan sắc đến độ chín muồi. Nhiều trang thanh niên ở Phan Thiết muốn xây dựng cuộc đời với cô, nhưng thấy cô giáo đoan trang, đức hạnh quá nên không ai dám đến ngỏ lời.
Sống chung với chị em Bích Khê ngót hai năm trời, tình bạn, tình đồng nghiệp hết sức đậm đà thắm thiết. Minh Sim xem Bích Khê như một người bạn trai thân yêu nhưng luôn luôn giữ khuôn phép. Minh Sim nhỏ hơn Khê nên Khê không xem Minh Sim là chị và cũng không thể xem là em vì cô đã có gia đình và từng có hai con. Đối với Khê, Minh Sim là một người bạn thân thiết nhưng không hiểu sao đứng trước Minh Sim, Khê luôn luôn phải giữ thận trọng. Sau khi trường Quảng Thuận bị đóng cửa, Minh Sim chia tay Bích Khê trở lại quê nhà Đồng Hới. Năm 1943, bệnh phổi của cô tái phát, cô vào Huế chữa. Sau đó Minh Sim có tìm đến thăm chị em Khê trước khi trở lại “biệt tích” ở Đồng Hới.
Từ khi hai người quen nhau ở Bệnh viện Huế (1937) cho đến lúc “biệt tích” (1943) gia đình và bạn bè của Khê không hề thấy có một biểu hiện gì chứng tỏ Khê yêu Minh Sim cả. Thế mà . . . !
Thấy chị có vẻ sửng sốt, Khê kéo tay chị siết mạnh:
- Em yêu Minh Sim từ lâu, yêu thầm lặng nhưng thấm thía. Minh Sim chưa hề nhận biết. Đáng lẽ em nên lặng lẽ ôm mối tình thầm kín nầy xuống tuyền đài, nhưng nghĩ rằng muốn mang hình ảnh ai theo thì cần phải xin phép. Em lại muốn cho tình bè bạn của minh Sim đối với em đổi ra tình thương yêu muôn thuở để sau lúc nhắm mắt em được thoả chút lòng nhớ thương.
Ngừng giây lâu cho đỡ mệt rồi Khê nói tiếp:
- Gói thư nầy là những mảnh chân thành rơi rụng trong những lúc cõi lòng em xao xuyến. Em chết rồi thế nào chị và Minh Trai [1]  cũng phải tìm cho gặp Minh Sim. Em chắc nàng không nỡ phũ phàng.
Người chị không cầm được nước mắt.
Đầu năm 1946, sau ngày Bích Khê qua đời được mấy tháng thì thình lình Minh Sim hiện vào nhà anh chị của Bích Khê tại Huế. Minh Sim cho biết bệnh phổi của cô càng ngày càng trở nên nặng, thỉnh thoảng cô phải vào Bệnh viện Huế để bơm hơi. Nhờ thế mà cô biết được tin Bích Khê đã mất và cô tìm đến nhà anh chị của Khê để hỏi thăm. Chưa tìm mà đã gặp thật may mắn quá. Gia đình người chị của Khê cầm Minh Sim ở lại và nhân thể  ‘thổ lộ tâm tình cho Khê”. Chị của Khê mời thêm hai người bạn của Khê và cũng là bạn của Minh Sim là Minh Trai và Nguyễn Khắc Khoan cùng đến. Chuyện thổ lộ tâm tình nầy thật khó. Cả hai người bạn của Khê cũng thấy quá khó vì Minh Sim xưa nay ai cũng biết là một phụ nữ nghiêm trang, đoan chính một lòng một dạ thờ chồng thờ con, nhỡ ra cô phản đối thì tội nghiệp cho Khê ở suối vàng. Nhưng cũng không thể không thực hiện những lời trối trăng của Khê trước khi mất. Cuối cùng họ đã dựng lên một cảnh để khơi tình.
Bàn thờ của Khê trong nhà bà chị tối hôm đó được chuẩn bị rất  tươm tất. Chung quanh tấm ảnh lồng trong kính của Bích Khê có một lọ hoa tươi, một cặp đèn sáp cắm trên hai chân đồng, một lư hương chất đầy trầm.
Cơm tối xong, người chị Khê thắp hương và đốt trầm. Hương trầm toả ngát trong khói hương bay chập chờn  bên ánh đèn xanh. Người chị kính cẩn thắp ba cây hương rồi đứng khấn vái trước bàn thờ Khê. Sau đó đến lượt Minh Trai và Nguyễn Khắc Khoan. Minh Sim thấy thế cũng thắp ba cây hương cắm lên bàn thờ và vái bốn vái. Lễ xong, người chị đứng bên bàn thờ có ảnh Khê cùng với Minh Sim, chị nói:
- Đêm nay, chúng mình thức khuya một chút để nói chuyện tâm tình.
Minh Sim gật đầu.
Nhưng đến lúc nghe chị  của Khê và hai người bạn bàn tán việc gì đó bên bàn thờ Khê thì Minh Sim hơi nghi. Vì thế khi chị của Khê mời Minh Sim vào phòng thì cô có ý muốn tránh. Nhưng rồi Minh Sim cũng phải vào và ngồi cúi mặt. Chị của Khê kể chuyện bệnh trạng của Khê sau lần Minh Sim đến thăm năm 1943 rồi đi dần dần đến chuyện Khê gởi gắm lại. Minh Sim cảm động ôm mặt khóc. Người chi lần tay lấy gói thư để sẵn dưới gối trao cho Minh Sim và nói tiếp:
- Minh Sim có biết? Một mối tình đã chôn sâu nơi đáy huyệt, và đây là chút hương lòng gởi lại tạ cố nhân.
Như cơn xúc động đã lên đến cực độ, Minh Sim cầm tay người chị Bích Khê nói như van nài:
-Thôi, xin chị đừng nói nữa.
Nói đến đó, cô ôm gói thư nằm vật xuống giường, úp mặt vào gối.  Bốn bề không một tiếng động. Người chị rón rén bước ra nhà ngoài, cắm thêm ba cây hương lên bàn thờ Khê. Mùi hương thơm dịu dàng trong đêm thâu.
Sau đó chiến tranh mỗi người đi mỗi ngả. Mãi sau mới được tin Minh Sim cũng đã qua đời vì bệnh phổi ở tuổi ba mươi như Bích Khê. 
                 Tiếng đàn mưa
            Mưa hoa rụng, mưa hoa xuân rụng
            Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan
            Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn
            Nước non rả rích, giọng đàn mưa xuân
            Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống
            Cùng nước non mưa rụng hoa xuân
            Mưa rơi ngoài nội trên ngàn
            Nghe trong ý khách giọt đàn mưa rơi 
            Đầm mưa xuống, nẻo đồi mưa xuống
            Bóng dương tà... rụng bóng tà dương
            Hoa xuân rơi với bóng dương
            Mưa trong ý khách, mưa cùng nước non  
            Rơi hoa hết, mưa còn rả rích
            Càng mưa rơi, càng tịch bóng dương
            Bóng dương với khách tha hương
            Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi.

                                Tỳ Bà
            Nàng ơi! Tay đêm đương giăng mềm
            Trăng đan qua cành muôn tơ êm
            Mây nhung pha màu thu trên trời
            Sương lam phơi màu thu muôn nơi 
            Vàng sao nằm im trên hoa gầy
            Tương tư người xưa thôi qua đây
            Ôi! nàng năm xưa quên lời thề
            Hoa vừa đưa hương gây đê mê
            Cây đàn yêu đương làm bằng thơ
            Dây đàn yêu thương run trong mơ
            Hồn về trên môi kêu: em ơi
            Thuyền hồn không đi, lên chơi vơi 
            Tôi qua tìm nàng vay du dương
            Tôi mang lên lầu lên cung thường
            Ôi tôi bao giờ thôi yêu nàng
            Tình tang tôi se như tình lang
            Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
            Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
            Đâu tìm đào nguyên cho xa xôi
            Đào nguyên trong lòng nàng đây thôi
            Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
            Sao tôi không màng kêu: em yêu
            Trăng nay không màng như trăng thiu
            Đêm nay không màng như đêm hiu
            Buồn hiu cây đào xin hơi xuân
            Buồn sang cây tùng thắm đông quân
            Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
            Vàng rơi! vàng rơi! thu mênh mông.
(Bài thơ thôn Vĩ, thơ viết về Huế trước 1945, Sông Hương, Huế 1987 tr.27 và tr. 29).
[1] Người bạn tâm tình của Bích Khê.
                                          Nguyễn Đắc Xuân
                                    Theo http://gactholoc.net/



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Những bài thơ mang đậm sắc màu tình tự của Chế Lan Viên

Những bài thơ mang đậm sắc màu tình tự của Chế Lan Viên Chế Lan Viên có nhiều bài thơ được đưa vào giảng dạy các bậc học như Người đi tìm ...