Chuyện tình và thơ tình xứ Huế:
Bích Khê với mối tình cuối cùng
Hồi học Đại học Văn khoa Huế (1961-1966) tôi có một bài
nghiên cứu về Bích Khê. Người cung cấp tài liệu và hướng dẫn cho tôi là nhà
thơ Quách Tấn. Qua hoạ sĩ Đinh Cường tôi làm quen với chị Thu An và gia đình
ông bà Lạc Nhân Nguyễn Quý Hương -Lê Thị Ngọc Sương (chị ruột của Bích Khê).
Nhờ thế tôi biết thêm được một số chuyện về đời tư của nhà thơ núi Ấn sông
Trà Bích Khê (1916-1946). Trong bài viết nầy tôi giới hạn đề tài vào mối tình
cuối cùng của Bích Khê diễn ra tại Huế.
Bích Khê - người Quảng Ngãi, ông học Trung học tại trường
Pellerin Huế (1929-1932), sau đó ông ra Hà Nội học ban Tú Tài rồi đi dạy học ở
Phan Thiết (1934). Sau mấy năm vừa dạy học, vừa làm thơ và yêu, không may
Bích Khê bị bịnh phổi phải ra nằm điều trị ở Bệnh viện Trung ương Huế (1937).
Chữa bệnh xong ông trở lại Phan Thiết dạy tại trường Quảng Thuận của ông bà Lạc
Nhân Nguyễn Quý Hương. Không lâu sau bà Ngọc Sương bị Pháp bắt vì tình nghi
hoạt động yêu nước, trường Quảng Thuận đóng cửa. Năm 1941 Bích Khê ra Huế dạy
tại trường Phú Xuân của cụ Hồ Đắc Hàm. Dạy được một năm, bệnh phổi của ông
tái phát phải vào bệnh viện mang tên Pasquier ở Huế điều trị. Nhưng bệnh quá
nặng, mọi cố gắng của thầy thuốc đều vô hiệu. Ông từ trần vào lúc 12g30 phút
ngày 17.1.1946, ở tuổi 30. Thầy giáo làm thơ Bích Khê đã để lại một sự
nghiệp văn học gồm có Tinh Huyết (thơ) do Trọng Miên xuất bản
(1939), các di cảo chưa xuất bản:Tinh Hoa (thơ), Đẹp (Thơ), Ngũ
hành Sơn, Mấy Vần Thơ Cũ, Trở về Từ Liên Bang Xô Viết(dịch
của André Gide). Và ông cũng đã để lại trong cuộc đời và trong thơ ông ba mối
tình:Mối tình đầu với cô học trò 14 tuổi Song Châu ở Phan Thiết (1936-1939),
mối tình không bước ra khỏi ngưỡng thơ với cô Thanh Thủy ở Mũi Né (Bình
Thuận) và khúc sông Sa Kỳ Thu Xà ( Quảng Ngãi), mối tình dữ dội sâu đậm với một
cô học trò học lớp đêm-Ngọc Kiều tại trường Quảng Thuận Phan Thiết
(1938) .
|
Ba mối tình ấy còn ghi dấu ấn khá đậm đà trong thơ ông và gia đình ông, bạn bè đều hiểu rất rõ. Thế nhưng . . . .
Lúc ấy bệnh của Khê quá nặng (cuối năm 1945), biết không thể
sống được, anh gọi người chị thứ tám đến bên cạnh rồi lần tay dưới nệm lấy ra một
gói giấy tờ phong kín trao cho chị. Với giọng run run, ngập ngừng Khê nói với một
sự xúc động:
- Thưa chị, đây là chút lòng của em đã gói ghém từ lâu.
Trong ba người yêu, Ngọc Kiều là người được Bích Khê nhắc đến
nhiều nhất. Vì thế lúc ấy, chị đã nghĩ ngay đến Ngọc Kiều và bảo Khê:
- Em muốn gởi cho Ngọc Kiều ?
Đôi mắt lặng lờ, Khê nhìn chị âu yếm. Người chị đang chờ cái
gật đầu của đứa em trai thì không ngờ, Khê lại bảo:
- Không ! Đây là một mối tình câm, không tiếng vang, không tiếng
dội, một mối tình em chôn chặt trong đáy lòng, ngoài em ra, không có một người
thứ hai nào biết được, cho cả đến người em yêu: Minh Sim !
Nhắc đến hai chữ “Minh Sim”, người chị hết sức ngạc nhiên.
Sao lại có chuyện bất ngờ, lạ lùng đến thế ? Xưa nay không có một điều gì
của nỗi lòng mà Khê không thổ lộ với chị. Thế mà, mối tình của Khê với Minh Sim
chị không hề biết một mảy may.
Minh Sim người Đồng Hới, đã có chồng và hai đứa con, nhưng
không may cả ba người đều đã qua đời để lại một mình cô với hai lá phổi nhuốm bệnh.
Năm 1937 cô vào bệnh viện Trung ương Huế chữa trị thì gặp hai chị em người đồng
bệnh Bích Khê. Năm 1938, Bích Khê ra viện và vào dạy học cho trường Quảng Thuận
tại Bình Thuận, Minh Sim đi theo chị em Bích Khê và được giữ một chân giáo viên
của ngôi trường tư thục mới mở nầy. Năm ấy Minh Sim mới vừa qua hết tuổi hai
mươi, nhan sắc đến độ chín muồi. Nhiều trang thanh niên ở Phan Thiết muốn xây dựng
cuộc đời với cô, nhưng thấy cô giáo đoan trang, đức hạnh quá nên không ai dám đến
ngỏ lời.
Sống chung với chị em Bích Khê ngót hai năm trời, tình bạn,
tình đồng nghiệp hết sức đậm đà thắm thiết. Minh Sim xem Bích Khê như một người
bạn trai thân yêu nhưng luôn luôn giữ khuôn phép. Minh Sim nhỏ hơn Khê nên Khê
không xem Minh Sim là chị và cũng không thể xem là em vì cô đã có gia đình và từng
có hai con. Đối với Khê, Minh Sim là một người bạn thân thiết nhưng không hiểu
sao đứng trước Minh Sim, Khê luôn luôn phải giữ thận trọng. Sau khi trường Quảng
Thuận bị đóng cửa, Minh Sim chia tay Bích Khê trở lại quê nhà Đồng Hới. Năm
1943, bệnh phổi của cô tái phát, cô vào Huế chữa. Sau đó Minh Sim có tìm đến
thăm chị em Khê trước khi trở lại “biệt tích” ở Đồng Hới.
Từ khi hai người quen nhau ở Bệnh viện Huế (1937) cho đến lúc
“biệt tích” (1943) gia đình và bạn bè của Khê không hề thấy có một biểu hiện gì
chứng tỏ Khê yêu Minh Sim cả. Thế mà . . . !
Thấy chị có vẻ sửng sốt, Khê kéo tay chị siết mạnh:
- Em yêu Minh Sim từ lâu, yêu thầm lặng nhưng thấm thía. Minh
Sim chưa hề nhận biết. Đáng lẽ em nên lặng lẽ ôm mối tình thầm kín nầy xuống
tuyền đài, nhưng nghĩ rằng muốn mang hình ảnh ai theo thì cần phải xin phép. Em
lại muốn cho tình bè bạn của minh Sim đối với em đổi ra tình thương yêu muôn
thuở để sau lúc nhắm mắt em được thoả chút lòng nhớ thương.
Ngừng giây lâu cho đỡ mệt rồi Khê nói tiếp:
- Gói thư nầy là những mảnh chân thành rơi rụng trong những
lúc cõi lòng em xao xuyến. Em chết rồi thế nào chị và Minh Trai [1] cũng phải
tìm cho gặp Minh Sim. Em chắc nàng không nỡ phũ phàng.
Người chị không cầm được nước mắt.
Đầu năm 1946, sau ngày Bích Khê qua đời được mấy tháng thì
thình lình Minh Sim hiện vào nhà anh chị của Bích Khê tại Huế. Minh Sim cho biết
bệnh phổi của cô càng ngày càng trở nên nặng, thỉnh thoảng cô phải vào Bệnh viện
Huế để bơm hơi. Nhờ thế mà cô biết được tin Bích Khê đã mất và cô tìm đến nhà
anh chị của Khê để hỏi thăm. Chưa tìm mà đã gặp thật may mắn quá. Gia đình người
chị của Khê cầm Minh Sim ở lại và nhân thể ‘thổ lộ tâm tình cho Khê”. Chị
của Khê mời thêm hai người bạn của Khê và cũng là bạn của Minh Sim là Minh Trai
và Nguyễn Khắc Khoan cùng đến. Chuyện thổ lộ tâm tình nầy thật khó. Cả hai người
bạn của Khê cũng thấy quá khó vì Minh Sim xưa nay ai cũng biết là một phụ nữ
nghiêm trang, đoan chính một lòng một dạ thờ chồng thờ con, nhỡ ra cô phản đối
thì tội nghiệp cho Khê ở suối vàng. Nhưng cũng không thể không thực hiện những
lời trối trăng của Khê trước khi mất. Cuối cùng họ đã dựng lên một cảnh để khơi
tình.
Bàn thờ của Khê trong nhà bà chị tối hôm đó được chuẩn bị rất
tươm tất. Chung quanh tấm ảnh lồng trong kính của Bích Khê có một lọ hoa tươi,
một cặp đèn sáp cắm trên hai chân đồng, một lư hương chất đầy trầm.
Cơm tối xong, người chị Khê thắp hương và đốt trầm. Hương trầm
toả ngát trong khói hương bay chập chờn bên ánh đèn xanh. Người chị kính
cẩn thắp ba cây hương rồi đứng khấn vái trước bàn thờ Khê. Sau đó đến lượt Minh
Trai và Nguyễn Khắc Khoan. Minh Sim thấy thế cũng thắp ba cây hương cắm lên bàn
thờ và vái bốn vái. Lễ xong, người chị đứng bên bàn thờ có ảnh Khê cùng với
Minh Sim, chị nói:
- Đêm nay, chúng mình thức khuya một chút để nói chuyện tâm
tình.
Minh Sim gật đầu.
Nhưng đến lúc nghe chị của
Khê và hai người bạn bàn tán việc gì đó bên bàn
thờ Khê thì Minh Sim hơi nghi. Vì thế khi chị của Khê mời Minh Sim vào phòng
thì cô có ý muốn tránh. Nhưng rồi Minh Sim cũng phải vào và ngồi cúi mặt. Chị của
Khê kể chuyện bệnh trạng của Khê sau lần Minh Sim đến thăm năm 1943 rồi đi dần
dần đến chuyện Khê gởi gắm lại. Minh Sim cảm động ôm mặt khóc. Người chi lần
tay lấy gói thư để sẵn dưới gối trao cho Minh Sim và nói tiếp:
- Minh Sim có biết? Một mối tình đã chôn sâu nơi đáy huyệt,
và đây là chút hương lòng gởi lại tạ cố nhân.
Như cơn xúc động đã lên đến cực độ, Minh Sim cầm tay người chị
Bích Khê nói như van nài:
-Thôi, xin chị đừng nói nữa.
Nói đến đó, cô ôm gói thư nằm vật xuống giường, úp mặt vào gối.
Bốn bề không một tiếng động. Người chị rón rén bước ra nhà ngoài, cắm thêm ba
cây hương lên bàn thờ Khê. Mùi hương thơm dịu dàng trong đêm thâu.
Sau đó chiến tranh mỗi người đi mỗi ngả. Mãi sau mới được tin
Minh Sim cũng đã qua đời vì bệnh phổi ở tuổi ba mươi như Bích Khê.
Tiếng đàn mưa
Mưa hoa rụng, mưa
hoa xuân rụng
Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan
Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn
Nước non rả rích, giọng đàn mưa xuân
Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống
Cùng nước non mưa rụng hoa xuân
Mưa rơi ngoài nội trên ngàn
Nghe trong ý khách giọt đàn mưa rơi
Đầm mưa xuống, nẻo đồi mưa xuống
Bóng dương tà... rụng bóng tà dương
Hoa xuân rơi với bóng dương
Mưa trong ý khách, mưa cùng nước non
Rơi hoa hết, mưa còn rả rích
Càng mưa rơi, càng tịch bóng dương
Bóng dương với khách tha hương
Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi.
Nàng ơi! Tay đêm
đương giăng mềm
Trăng đan qua cành muôn tơ êm
Mây nhung pha màu thu trên trời
Sương lam phơi màu thu muôn nơi
Vàng sao nằm im trên hoa gầy
Tương tư người xưa thôi qua đây
Ôi! nàng năm xưa
quên lời thề
Hoa vừa đưa hương
gây đê mê
Cây đàn yêu đương
làm bằng thơ
Dây đàn yêu thương run
trong mơ
Hồn về trên môi kêu: em ơi
Thuyền hồn không đi,
lên chơi vơi
Tôi qua tìm
nàng vay du dương
Tôi mang lên
lầu lên cung thường
Ôi tôi bao giờ thôi
yêu nàng
Tình tang tôi se như
tình lang
Yêu nàng bao nhiêu
trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu
trên đôi môi
Đâu tìm đào nguyên cho xa
xôi
Đào nguyên trong lòng nàng
đây thôi
Thu ôm muôn hồn
chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng
kêu: em yêu
Trăng nay không
màng như trăng thiu
Đêm nay không màng
như đêm hiu
Buồn hiu cây đào xin hơi
xuân
Buồn sang cây tùng thắm
đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi! thu
mênh mông.
(Bài thơ thôn Vĩ, thơ viết về Huế trước 1945, Sông Hương, Huế 1987 tr.27 và tr. 29).
Nguyễn Đắc Xuân






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét