Trên đường về nghe nhạc Thiền Phạm Duy
Tôi đã có album Mười Bài Thiền Ca của Phạm Duy cách đây
(2006) hơn mười năm. Lúc đó tôi đang làm báo ở Đà Nẵng nên chưa có điều kiện thời
gian để suy ngẫm về cái thế giới tâm linh trong Thiền Ca của người nhạc sĩ sống
giữa tiên và tục mà tôi đã bị ảnh hưởng suốt cả tuổi thanh xuân của mình. Sau
những lúc làm việc quá căng thẳng tôi thường mở album Thiền ca nghe để thư giãn
đầu óc với những giai điệu thanh thoát bay bổng chưa từng có trong hành trình
âm nhạc đại chúng của Phạm Duy trước đây (như giai điệu Thiền ca số 1). Thế
thôi.
Đến sau ngày tôi nghỉ việc công (7-1998), chủ động được thời
gian, tôi nghe lại nhạc Thiền Phạm Duy, đọc kỹ lời và suy ngẫm, nhiều khi tôi
có cảm giác mới lạ như trước đây tôi chưa từng nghe bao giờ. Phạm Duy đã sáng
tác nhạc tình cảm của con người với con người, nhạc xã hội của con người với xã
hội. Sáng tác Thiền ca, nhạc sĩ Phạm Duy muốn đưa con người vào cõi tâm linh,
cõi trời, cõi Phật. Đến cái tuổi “cổ lai hy” ông mới “ngộ” được con đường nầy.
Bà xã tôi vốn là một “đệ tử Thiền”, xưa nay bà rất mê nhạc Phạm
Duy, nghe xong album Mười Bài Thiền Ca bà bảo: “Trong Thiền cũng có tình
yêu nhưng là thứ “tình yêu đã diệt dục” chứ làm gì lại có những chuyện “Ta lôi
em về/ Ta kéo em đi/ Nâng em lên Trời/ Ðem xuống âm ty/ Chôn em trong lòng/
Xong lấy em ra” (Chiều, Thiền ca số 6) và “Ăn cho vừa, chơi cho thật, sống cho
thẳng, chết cho ngay, yêu cho lâu, ghét cho mau, khóc cho đầy, cười cho rõ”
(Răn, Thiền ca số 8). Không riêng gì bà xã của tôi mà nhiều Phật tử khác cũng
có cùng nhận xét như thế. Họ chưa chấp nhận nhạc Thiền của Phạm Duy.
Trước phản ứng của bà xã tôi, và “đại chúng” tôi rà lại kiến
thức về Thiền của mình và trực tiếp hỏi chuyện nhạc sĩ Phạm Duy về nhạc Thiền của
ông.
Thiền là một môn phái của đạo Phật. Trong đạo Phật cũng có
nhiều quan niệm về Thiền. Tôi đọc kỹ giáo lý về Thiền, suy ngẫm, “chứng nghiệm”
nhạc Thiền của Phạm Duy, tôi thấy quan niệm về Thiền trong nhạc Thiền Phạm Duy
không nằm trong một môn phái nào của Thiền đã có cả. Mỗi người có mỗi cách hiểu
Thiền trong nhạc Thiền Phạm Duy. Cái cách riêng đó có thể không giống như Phạm
Duy đã quan niệm, đã “đạt” được và cũng có thể không bất biến. Mỗi hoàn cảnh, mỗi
giai đoạn, mỗi lần nghe lại có một cách hiểu
riêng.
Album Mười Bài Thiền Ca có là nhạc Thiền thứ thiệt
hay không, quan niệm Thiền của Phạm Duy chính thống hay không tôi dành lại cho
các bậc cao minh, các nhà Thiền học. Theo tôi, chất “thiền” trong Mười Bài
Thiền Ca, trong khi chờ được công nhận là một thứ “đạo”, một môn phái Thiền mới,
trước hết nó là một lối sống, một cách sống, một quan niệm về cuộc đời của một
con người đã từng trải sống qua hai cực của mọi hoàn cảnh, mọi giác độ nhận biết
về mình trên các nẻo đường về: Về cuối đời, về cõi vĩnh hằng, về cuối cảm xúc,
về đỉnh nhận thức hoặc về lại với tuổi hồn nhiên .v.v.
Cho đến cái tuổi sáng tác được Nhạc Thiền ông mới nhận chân
được rằng không làm gì có thiên đường ở đâu đó để mà lên, và cũng không có địa
ngục, để rồi sẽ bị đày xuống đó. Thiên đường và địa ngục có ngay trong cuộc đời
nầy. Muốn có hạnh phúc con người phải biết chấp nhận cuộc đời nầy, sống hoà hợp,
không những hoà hợp với con người, với thiên nhiên mà còn với tất cả (ngay cả với
sỏi đá); sống hết mình, sống đến mọi cội rễ của cuộc đời.
Thiền ca Phạm Duy không phải là bài hát để đi trình diễn, để
thương mại, để tình tự mà là để cho mỗi con người trên nẽo đường về hát cho
mình. Bởi thế, muốn hiểu cho hết ý tứ ông gửi gắm trong 10 Bài Thiền Ca không
phải là chuyện dễ. Muốn hiểu phải có hoàn cảnh: Hoàn cảnh của người muốn hiểu
và hoàn cảnh của chính Phạm Duy.
Trong những ngày đầu xuân 2006 nầy, gặp lại Phạm Duy ở Thành
phố Hồ Chí Minh, tôi rất thấm thía bài Thiền ca số 2 mang tên Võng. Mở
đầu bài ca ông viết: “Tôi nằm võng, võng đưa võng đưa ”. Vâng, ở đời
có thể còn có nhiều người chưa từng nằm võng của mẹ mắc dưới mái tranh nghèo,
dưới bóng tre, bóng dừa ở làng quê. Nhưng chiếc võng cuộc đời thì không ai
tránh được. Có người bảo tôi chiếc võng cuộc đời chính là thân phận làm người.
Chiếc võng cuộc đời nó đẩy đưa con người từ đỉnh cực nầy đến đỉnh cực đối nghịch.
Đó là “Cõi tử, cõi sinh/Cõi tình, cõi hận/Núi đợi, vực chờ/Niềm vui, nỗi khổ”.
Chiếc võng cuộc đời đưa theo qui luật của trời đất (sinh, tử), theo khát vọng của
tình người (tình/ hận, vui/khổ). Nhạc sĩ Phạm Duy đã sống một cuộc đời tận cội
rễ của cuộc sống mới chứng nghiệm và rút ra được những ý tưởng đó. Ông là “vua
nhạc tình” (vui) và có lúc “xộ khám” cũng vì tình (khổ). Ông là tác giả trường
ca “Bầy chim bỏ xứ” nhưng rồi lại là người nhạc sĩ đầu tiên “hồi xứ”. Những người
bạn thân của ông cho biết trong hồi ký của ông có biết bao cặp đối xứng như thế.
Phạm Duy không cưỡng được “cái sự võng đưa” của cuộc đời, nhưng ông không buông
xuôi theo số phận. Võng đưa mặc võng, ông “… nằm đó/Nằm im mọi chỗ...”. Sự
“nằm im” nầy không có nghĩa là không làm gì. Tôi hiểu chuyện nằm im nầy là cái
phần “định”, cái phần không thay đổi bám theo cái “bị võng đưa”. Tôi liên tưởng
đến chuyện trước khi rời Việt Nam đi dự Hội nghị Fontainbleau (Pháp) năm 1946,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với cụ Huỳnh Thúc Kháng rằng “Dĩ bất biến ứng vạn
biến”. Phạm Duy mang theo cái bất biến, cái “nằm im” trôi theo cái vạn biến của
cuộc đời ông, của nước Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua. Cái “nằm im mọi chỗ” trong
tâm hồn Phạm Duy là Đất nước tôi /Tiếng nước tôi/Người Việt tôi mà
ông đã sớm thể hiện trong bài Tình Ca sáng tác cách đây hơn 50 năm. Có thể tìm
thấy cái bất biến đó ở nhiều tác phẩm nữa, ví như trong trường ca Con Đường
Cái Quan, trường ca Mẹ Việt Nam, và hàng chục bài tình ca xưng
tụng đất nước khác. Nếu có một sát-na nào đó chiếc võng đời dừng lại trong thế
thăng bằng, cái “nằm im mọi chỗ” của Phạm Duy sẽ là nơi gặp gỡ của hai chiều
lên /xuống, phải/trái, đông/tây.
Mười Bài Thiền Ca cũng còn có tên là Hát Trên Đường
Về. Khi tôi còn “dấn thân” tôi không hiểu được Thiền ca, không hiểu nên không
thích. “Khi tôi về”, không chỉ có nghĩa là về hưu, mà chính là về với chính
mình, về thấy được “cái ngã” của mình và thấy cần có một cuộc sống khác, một lối
sống mới, một cõi tâm linh, “nói vậy, thấy vậy mà không phải vậy” (Tôi là tôi,
tôi cũng là em/ Em là tôi, em cũng là anh”. (Xuân, Thiền ca số 5), tôi mới
thấy cái sâu sắc của Thiền ca Phạm Duy.
Bao giờ con người thoát ra được cái hữu hạn hiện tại, thấy được
cuộc đời như Thiền ca số 10 viết:“Tròn như trái đất yên lành/ Muôn loài như một
cõi sinh vẹn toàn”, không còn “bên ni, bên nớ”, không còn Nam hay Bắc, không
còn Đông hay Tây, thì - theo Phạm Duy - con người sẽ tìm được hạnh phúc. Muốn
thế, dù không phải là một Thiền sư, mà với tư cách là một nhạc sĩ đã “ngộ” đạo
diệt khổ, ông bảo “Muốn tới được bờ sông giác/ An nhiên hát nhỏ cùng tôi”
(Xuân, Thiền ca số 5).Bởi vì “tất cả là tôi/Mà cũng là chung” (Thinh Không, Thiền
ca số 1). Ông đã thoát được cái riêng để hoà mình vào cái chung của dân tộc. Mười
Bài Thiền Ca đã ra đời trên mười năm, không rõ nó đã giác ngộ được những
ai chưa, nhưng theo tôi nó đã có một ảnh hưởng lớn đến những năm cuối đời của
tác giả. Việc ông đưa gia đình trở lại sống ở quê nhà là một biểu hiện của con
người đã đến được “bờ sông giác”. Phạm Duy đã tự thắp đuốc rọi sáng con đường
giải thoát cho chính ông. Trong một phút giây nào đó, tôi cũng muốn có một “bờ
sông giác” của riêng tôi. Trên đường về với tuổi bảy mươi, tôi lại nghe nhạc
Thiền Phạm Duy.
Nguyễn Đắc Xuân

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét