Đường Lâm - Sơn tây: Một chặng
đường
huyền sử thế kỷ XX
Nguyễn Tô Lan
Chúng ta đều biết địa danh Đường Lâm tại Sơn Tây ngày nay đã đi vào tiềm thức của
hàng triệu người với tư cách là quê hương của Phùng Hưng và Ngô Quyền - hai vị
vua lừng lẫy có công đầu trong việc giành lại quyền độc lập tự chủ của người Việt
khỏi sự đô hộ của người phương Bắc. Nơi đây, còn tồn tại lăng mộ cũng như nhà
thờ hai vị.
Đường Lâm được coi là ngôi làng duy nhất được công nhận là Quần thể di tích cấp
quốc gia, được nhà nước đầu tư trọng điểm về văn hóa và du lịch. “Đất hai vua”
đã trở thành danh xưng thân thuộc, trở thành đất linh thiêng, đất tông miếu, đất
hương hỏa, mảnh đất tự hào của biết bao nhiêu người Sơn Tây nói riêng và nhân
dân Việt Nam nói chung, một ngôi làng nhưng mang vinh hiển của cả quốc gia và lịch
sử mười hai thế kỷ, chân lý ấy dường như không cần bàn cãi. Tuy nhiên, đối với
người làm công tác nghiên cứu lịch sử và nhất là nghiên cứu văn bản học chuyên
sâu, những nghi ngờ đã le lói đâu đó trong các chuyên luận hay bài viết ( có thể
kể đến công trình của GS Đào Duy Anh[2], Văn Tân[3] hay Bùi Văn Nguyên[4], Nguyễn
Huệ Chi[5] v.v…), đã để lại nhiều gợi mở cho người đi sau tiếp tục tìm hiểu và
giải mã. Dưới đây, chúng tôi xin lược thuật lại ý kiến của hai học giả Đào Duy
Anh và Văn Tân đã phát biểu trước nay nửa thế kỷ.
Trang 84, quyển Đất nước Việt-nam qua các đời, Đào Duy Anh viết: “Đại Việt sử
ký toàn thư (ngoại, q. 5) chép rằng Ngô Quyền là người Đường Lâm, con Ngô Mân
là châu mục bản châu. Sách Cương mục (Tb, q. 5) chú rằng: Đường Lâm là tên xã
xưa, theo sử cũ chú là huyện Phúc-lộc, huyện Phúc-lộc nay đổi làm huyện Phúc-thọ,
thuộc tỉnh Sơn-tây. Xét Sơn Tây tỉnh chí thì thấy nói xã Cam Lâm huyện Phúc Thọ
xưa gọi là Đường Lâm, Phùng Hưng và Ngô Quyền đều là người xã ấy, nay còn có đền
thờ ở đó. Chúng tôi rất ngờ những lời ghi chú ấy và nghĩ rằng rất có thể người
ta đã lầm Đường Lâm là tên huyện đời Đường thuộc châu Phúc-lộc (Phúc-lộc châu
có huyện Đường Lâm) thành tên xã Đường Lâm ở huyện Phúc-thọ. Huyện Đường Lâm
châu Phúc-lộc là ở miền nam Hà-tĩnh. An-nam kỷ lược thì lại chép rằng Ngô Quyền
là người Ái-châu, cũng chưa biết có đúng không”[6]. Phương pháp sử học của Đào
Duy Anh là tiến hành khảo cứu về địa danh châu Đường Lâm thông qua những tư liệu
cổ sử. Tuy nhiên, khi viết cuốn chuyên luận của mình, Đào Duy Anh cũng chưa có
điều kiện để tiếp xúc đọc đầy đủ các tư liệu cổ sử cấp một, tức những bộ sử được
biên soạn ghi đồng thời với các nhân vật lịch sử Phùng Hưng, Ngô Quyền, ví như
Thông sử, Cựu Đường thư, Tân Đường thư… Song, những nghi ngờ của Đào Duy Anh có
thể nói là rất nhạy bén và lão thực.
Năm 1966, sau sáu năm kể từ khi chuyên luận của Đào Duy Anh ra đời, Văn Tân khi
phê bình Đại Việt sử ký toàn thư, đã cho rằng “ý kiến bạn Đào-duy-Anh rất đáng
cho chúng ta để ý…Ngô Quyền là người huyện Đường Lâm thuộc Hoan-châu chứ không
phải là người huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây…Ngô Quyền là quý tộc con Ngô Mân quê ở
Hoan Châu (có chỗ nói Ái châu) đã dấy quân từ Hoan châu tiến ra bắc phá quân
Nam Hán ở cửa Bạch-đằng. Như vậy Ngô Quyền phải là người huyện Đường Lâm châu
Phúc-lộc (Hà-tĩnh) chứ không phải người xã Đường Lâm huyện Phúc-thọ (Sơn-tây).
Có thế mới phù hợp với tình hình xã hội hồi thế kỷ VIII, IX và X”[7]. Sự đồng
thuận của Văn Tân dựa trên những nhận thức và phông lịch sử sâu rộng của thế hệ
học giả này về lịch sử Việt Nam trước thế kỷ X.
Tháng 8 năm 1967, trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (số 101), Trần Quốc Vượng đã
có một bài viết rất quan trọng để khẳng định Đường Lâm thuộc Sơn Tây[8], bài viết
mang tên Về quê hương Phùng Hưng đồng thời phủ định ý kiến của Đào Duy Anh và
Văn Tân. Ngay sau khi đăng tải, bài viết của Trần Quốc Vượng lập tức trở thành
quan điểm được nhiều người ủng hộ bởi Trần Quốc Vượng đã kết hợp khai thác các
tài liệu bi ký cũng như các khảo sát điền dã tại di tích, địa phương cũng như
các sử liệu hữu quan. Có thể coi đây là tiếng nói quan trọng nhất lúc bấy giờ để
ra phán quyết cuối cùng về vấn đề này. Cứ liệu quan trọng nhất mà Trần Quốc Vượng
đưa ra là tấm bia mà ông gọi nôm na là “Bia Đường Lâm” có niên đại 1390 thuộc
niên hiệu Quang Thái 光泰đời
Trần[9]. Văn bia này có những thông tin được Trần Quốc Vượng khai thác như sau:
“Nguyên bản xã đất nhiều rừng rậm, xưa gọi là Đường Lâm, đời đời sản sinh nhiều
vị anh hùng hào kiệt…Theo bia Đường Lâm thì khi Ngô Quyền lên ngôi vua (939),
ông đã lấy bản xã làm “thang mộc ấp”. Ngô vương Quyền ở ngôi sáu năm thì mất…Tự
vương (vua nối dõi- có lẽ là chỉ Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn, hoặc cũng có
thể chỉ Dương Tam Kha, người đã tự lập làm vương sau khi Ngô Quyền chết- TQV) lập
miếu đình để làm nơi cho bản ấp phụng thờ tế lễ [Ngô vương Quyền]… Bia đó do những
người họ Phùng họ Ngô…là con cháu của Phùng Hưng Ngô Quyền lập ra, văn bia nói
là ‘trích gia phả của hai họ, tóm thuật những điều cốt yếu ghi vào bia để truyền
lại lâu dài’”[10] Đây có thể coi là cứ liệu quan trọng nhất của bài viết để chốt
lại vấn đề. Bia có niên đại rất sớm, thuộc vào cuối đời Trần; lại là bia bản
xã, bia do con cháu của hai dòng họ lập nên để tiến hành cúng tế thờ phụng hai
vua. Các cứ liệu đã hội đủ, bảng vàng bia đá là cứ liệu xác tín đanh thép nhất,
để khẳng định: Đường Lâm- Sơn Tây là đất của hai vua Phùng Hưng và Ngô Quyền,
hai vị anh hùng bậc nhất trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân
tộc. Cho nên, sự đồng thuận của toàn bộ giới sử học từ đó cho đến nay là điều dễ
hiểu.
Trải qua gần 50 năm, kết luận của Trần Quốc Vượng đến nay đã trở thành chân lý.
Đường Lâm - Sơn Tây, được nêu lên như là một địa chỉ của văn hóa, lịch sử với
các hệ thống nhà cổ, các danh nhân và các truyền thuyết đẹp đẽ về hai nhân vật
lịch sử này. Đường Lâm - Sơn Tây đã trở thành đối tượng thú vị của hàng loạt
các công trình nghiên cứu, các hội thảo trong và ngoài nước. Đường Lâm Sơn Tây
đã chính thức được đưa vào trong chính sử, được viết vào sách giáo khoa và giảng
dạy trong các trường học từ cấp cơ sở cho đến cấp cử nhân, thạc sỹ và tiến sĩ.
Hệ thống truyền thông, báo chí truyền hình, các trang mạng cộng đồng,...tất cả
đều tập trung miêu tả, ca ngợi, bình thán,…về một vùng quê mang sự hiển hách của
ngàn năm lịch sử và bề dày văn hiến. Năm mươi năm qua là năm mươi lớp người được
hiểu về lịch sử theo quan điểm chính thống ấy.
Những băn khoăn, trăn trở thuở
nào của các bậc cựu học như Đào Duy Anh, Văn Tân đã không còn mấy ai còn biết đến
nữa. Lịch sử đã xuôi theo một chiều đẹp đẽ làm thỏa mãn sự tự hào của bao nhiêu
lớp người yêu văn hóa lịch sử Việt Nam.
[12], … đều tin vào tính xác thực của văn bia này, trừ Vũ Duy Mền[13] và Nguyễn
Tùng - một nhà lịch sử nhân loại học Việt Nam cư trú tại nước ngoài[14]. Cơ sở
để chúng tôi khẳng định văn bia này là ngụy tạo[15] như sau:
Một cơ duyên đã đưa đẩy
chúng tôi khi đi nghiên cứu bản quán Khuông Việt Ngô Chân Lưu phải giám định lại
văn bia này. Kết quả giám định cho thấy, cứ liệu cốt tử nhất mà Trần Quốc Vượng
đã dựa vào đáng tiếc có lẽ lại là một bia ngụy tạo[11] vào đời sau. Hàng loạt
các nhà sử học, khởi từ Trần Quốc Vượng cho đến Nguyễn Minh Tường
Về mặt thư pháp và văn tự học, chữ khắc trên văn bia đều là lối chữ chân nhỏ nhắn, quy củ và chuộng kỹ của triều Nguyễn, khác hẳn với thư pháp đời Trần như thư pháp của Trương Hán Siêu[16]. Nét khắc của bia rất sắc nét, gần như không có chữ nào mờ. Lòng nét khắc vẫn theo đao bút hình chữ “v” khá sâu, chứng tỏ văn bản mới chỉ khắc trong vòng 200 năm trở lại đây.
Về địa danh học, văn bia này dù cố gắng ngụy tạo, nhưng vẫn vô tình để lại tên địa danh thời Nguyễn. Dòng đầu của bia ghi: 國威府福祿縣甘泉社“Quốc Oai phủ Phúc Lộc huyện Cam Tuyền xã”[17], dòng trên đồng thời cũng được khắc trên bia Phụng tự bi ký 奉祀碑記được khắc năm Tự Đức thứ 4 (1851)[18]. Qua khảo chứng về diên cách địa danh hành chính của Đào Duy Anh[19] thì đây có khả năng là bia ngụy tạo vào đời Gia Long hoặc Minh Mệnh, vì đến năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) Phúc Lộc đã đổi làm Phúc Thọ[20].
Về mỹ thuật, bia có cùng một phong cách với nhiều bia hậu đời Nguyễn: không có trang trí diềm, trán gần như để trơn, hoa văn chỉ có mặt nhật nét mảnh và tia lửa yếu ớt.
Về quy mô, văn bia này được dựng ở cấp độ thôn xóm, cho nên rất khiêm tốn về mặt kinh phí, điều này thể hiện qua dáng vóc xinh xắn và khiêm nhường của bia: chiều cao 54cm, rộng ngang 35 cm, tức là không bằng một tờ báo Nhân dân trải rộng. Cho thấy, bia được dựng nằm ngoài điển lệ của triều đình. Điểm này làm rõ hơn động cơ của dòng niên đại “Quang Thái thứ 3” trong văn bia[21].
Về trật tự chữ, chữ viết trên ngạch bi đều ngang từ trái sang phải, trong khi ngạch bia đời Trần thường là sắp chữ dọc.
Tất cả các dấu hiệu trên cho thấy văn bia đang xét được dựng vào đầu đời Nguyễn.
Đến đây, chúng ta có thể xâu chuỗi các sự kiện như sau: [1] Bia ngụy tạo vào quãng 1802 đến 1821; [2] Dựa vào bia này Nguyễn Văn Siêu đã khẳng định Cam Lâm vốn là Đường Lâm, quê của hai vua Phùng Hưng và Ngô Quyền; [3] Vua Tự Đức đã sai bộ Lễ công nhận đây là di tích cấp “quốc gia” và ban “sắc kiến” vào năm 1874; [4] Sau đó, “đất hai vua” chính thức được đưa vào chính sử vào năm 1882; [5] Đặng Xuân Bảng cẩn thận hơn nữa đã chú Đường Lâm thuộc về Phong Châu[22]. Nhầm lẫn của triều đình và các sử gia trong thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là có thể chấp nhận được, khi các quan biên tu triều Nguyễn không có quá nhiều thời gian và điều kiện để trực tiếp khảo sát địa phương, mà phần lớn các tư liệu đều do hệ thống nha lại các cấp ở dưới đưa lên. Tuy nhiên, ở hai thế kỷ sau đó, việc vô tình hay hữu ý, bất cập ở chuyên môn hay sự khéo léo trong câu chữ của các nhà làm sử đã viết tiếp trang huyền sử thời hiện đại cho mảnh đất này.
Trở lại với phương pháp của Trần Quốc Vượng, nếu như bia Phụng tự bi đúng là bia Quang Thái đời Trần, thì ông đã dùng sử liệu cấp hai để phủ định các sử liệu cấp một được viết vào đời Đường (như trên đã nêu). Mặc dù ông biết rất rõ rằng: “Theo các sử cũ, quả thật ở thời thuộc Đường (thế kỷ VII-X) miền đất nước ta có huyện Đường-lâm (đầu đời Đường là châu Đường-lâm rồi đổi thành quận Đường-lâm) thuộc châu Phúc-lộc (có cả huyện Phúc-lộc) thuộc phía nam tỉnh Hà-tĩnh ngày nay.”[23] Trong trường hợp văn bia đó là văn bia ngụy tạo vào đầu đời Nguyễn như chúng tôi đã chứng minh ở trên thì Trần Quốc Vượng đã dùng một sử liệu có khả năng là ngụy tạo để phủ định các sử liệu cấp một. Trong bài Đường Lâm dưới góc nhìn địa - văn hóa - lịch sử, Trần Quốc Vượng viết: “Có một chuyện, thật như bịa, bây giờ nghe ra thì khá buồn cười: Một số nhà nghiên cứu căn cứ vào cái tên Phúc Lộc bảo ở Hà Tĩnh xưa có huyện Phúc Lộc, có lẽ quê hương Ngô Quyền ở đó. Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, kẻ ngu hèn này mới ở độ tuổi hai mươi đã phải viết một bài được cụ Trần Huy Liệu cho đăng trên Nghiên cứu Lịch sử, đầu đề là Về quê hương Ngô Quyền có hai trang để cải chính là quê hương Ngô Quyền ở Sơn Tây, nơi đó còn đền và lăng Ngô Quyền. Ý kiến này được tiếp thu ngay.”[24] Trên thực tế, lăng Ngô Quyền còn ở một số địa phương khác như Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Tây cũ, Thanh Hóa; còn đền thờ các vị Phùng Hưng, Ngô Quyền thì có ở khắp nơi, hiện chưa có con số thống kê cụ thể. Mặt khác, các lăng mộ, đền thờ các nhân vật lịch sử này ở Đường Lâm có niên đại khá muộn. Sự công nhận của chính sử nhà Nguyễn cộng với tín niệm dân gian trải qua gần 200 năm, đã khiến cho bao nhiêu huyền tích đẹp đẽ cho mảnh đất hai vua được thêu dệt nên. Có vẻ như các nhà sử học Việt Nam thế kỷ XX-XXI, khởi từ Trần Quốc Vượng, đã coi di tích, huyền tích, sử liệu đời Nguyễn, cũng như niềm tin dân gian là bốn cứ liệu quan trọng nhất để đưa ra quyết định cuối cùng. Đặt dấu chấm hết cho những tranh luận trên phương diện cổ sử là việc cải tên xã Cam Lâm thành Đường Lâm khiến địa danh này trùng khít hoàn toàn với quá khứ 1000 năm trước về mặt danh xưng.
Vậy tại địa bàn hiện nay được coi như là đất phát tích của hai vua - Đường Lâm (Sơn Tây), sự cải danh đã diễn ra như thế nào trong thế kỷ XX. Vấn đề này đã được tác giả Nguyễn Tùng (Paris)[25] bàn xét khá toàn diện trong bài Bàn thêm về quần thể làng cổ Đường Lâm đăng tải trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online ngày 23 tháng 01 năm 2009. Có thể giản lược như sau: xã Đường Lâm (với tư cách là một đơn vị hành chính, dưới cấp huyện) là một tên mới đặt, bao gồm chín thôn (làng) trong đó có năm thôn cổ là Cam Thịnh, Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Lâm và Đoài Giáp là đã được lập ra cách đây hơn 500 năm. Bốn thôn còn lại (Phụ Khang, Hà Tân, Hưng Thịnh và Văn Miếu) thì đều tách ra từ vài làng nói trên hoặc được lập ra cách đây chưa đến hai trăm năm. Đáng chú ý là ở thôn Cam Lâm từ mấy thế kỉ nay đã có đình thờ đình Phùng Hưng cũng như nhà thờ và lăng Ngô Quyền. Do vậy, chính quyền xã này cũng đã dựa vào các bằng chứng đó để xin Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đổi tên từ Cam Lâm thành Đường Lâm vào ngày 21-11-1964[26].
Tóm lại, tổng hợp sự khảo cứu về diên cách Đường Lâm- Sơn Tây của chúng tôi[27] với kết quả nghiên cứu thực địa của Nguyễn Tùng, tạm thời có thể đi đến nhận định rằng: trong suốt chiều dài lịch sử hai ngàn năm từ đời Hán cho đến năm 1964, xã Đường Lâm dường như chưa bao giờ có tên là Đường Lâm.
Mấy lời để ngỏ: Bài viết thông qua việc giám định văn bản học, (bằng các phương pháp của văn tự - thư pháp học, lịch sử diên cách địa danh, sử liệu học…) nhận định rằng: “bia Đường Lâm” nổi tiếng kia có khả năng rất cao là một văn bia ngụy tạo, chứ không phải là bia đời Trần. Chứng cứ này khiến cho kết luận “Đường Lâm ở Sơn Tây” của Trần Quốc Vượng bấy lâu nay được coi là chân lý chỉ tồn tại như một giả thuyết. Vấn đề tiếp theo là phải nghiên cứu như thế nào. Phương pháp chúng tôi đề nghị là: Tiến hành khảo lại toàn bộ diên cách của xã Đường Lâm (Sơn Tây) trong lịch sử; Nghiên cứu thực địa, điền dã tại tất cả các di tích ở địa phương có thờ Phùng Hưng và Ngô Quyền, như Thanh Hóa, Hà Nội, Hà Tây cũ, Hưng Yên, Hải Phòng,… để từ đó tiếp tục sưu tầm các tư liệu hữu quan về hai vua cũng như tục thờ các vị này trong đời sống tín ngưỡng dân gian. Tiếp theo và quan trọng nhất, khảo về hệ thống sử liệu cấp một và các tư liệu cổ sử viết trực tiếp về Phùng Hưng, Ngô Quyền, về châu Đường Lâm cũng như các nhân vật có liên quan khác như Dương Đình Nghệ, Dương Tam Kha, Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn, Ngô Chân Lưu, Lê Hoàn, Đinh Bộ Lĩnh v.v… đó là các tư liệu: Về phía tư liệu Việt nam có An Nam chí lược 安南志略của Lê Tắc 黎崱soạn năm 1335, Việt Điện u linh tập 粵甸幽靈集do Lý Tế Xuyên 李濟川 soạn năm 1329; Về tư liệu Trung Quốc có: Thông điển 通典 do Đỗ Hữu杜佑 (735 - 812) đời Đường soạn xong năm 801, Cựu Đường thư 舊唐書 do người thời Hậu Tấn là Lưu Húc劉 昫(887- 946)khởi soạn vào năm 945, Thái Bình hoàn vũ kí 太平寰宇記 (quyển 171) soạn vào đời Tống Thái Tông 宋太宗trong những năm Thái Bình Hưng Quốc 太平興國(976 - 983, Tân Đường thư 新唐書 do Âu Dương Tu 歐陽修 và Tống Kì 宋祁 biên soạn năm 1060, Dư địa quảng kí 輿地廣記 do Âu Dương Văn 歐陽忞 soạn vào đời Tống Huy Tông 宋徽宗trong những năm Chính Hòa 政和(1111-1117), Đại sự ký 大事記do Lã Tổ Khiêm 吕祖謙 (1137-1181) đời Tống soạn v.v... Trên đây là mấy ý kiến nhỏ của chúng tôi, rất mong được các nhà nghiên cứu quan tâm chỉ chính.
Bản sửa chữa ngày 03/04/2011
Về mặt thư pháp và văn tự học, chữ khắc trên văn bia đều là lối chữ chân nhỏ nhắn, quy củ và chuộng kỹ của triều Nguyễn, khác hẳn với thư pháp đời Trần như thư pháp của Trương Hán Siêu[16]. Nét khắc của bia rất sắc nét, gần như không có chữ nào mờ. Lòng nét khắc vẫn theo đao bút hình chữ “v” khá sâu, chứng tỏ văn bản mới chỉ khắc trong vòng 200 năm trở lại đây.
Về địa danh học, văn bia này dù cố gắng ngụy tạo, nhưng vẫn vô tình để lại tên địa danh thời Nguyễn. Dòng đầu của bia ghi: 國威府福祿縣甘泉社“Quốc Oai phủ Phúc Lộc huyện Cam Tuyền xã”[17], dòng trên đồng thời cũng được khắc trên bia Phụng tự bi ký 奉祀碑記được khắc năm Tự Đức thứ 4 (1851)[18]. Qua khảo chứng về diên cách địa danh hành chính của Đào Duy Anh[19] thì đây có khả năng là bia ngụy tạo vào đời Gia Long hoặc Minh Mệnh, vì đến năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) Phúc Lộc đã đổi làm Phúc Thọ[20].
Về mỹ thuật, bia có cùng một phong cách với nhiều bia hậu đời Nguyễn: không có trang trí diềm, trán gần như để trơn, hoa văn chỉ có mặt nhật nét mảnh và tia lửa yếu ớt.
Về quy mô, văn bia này được dựng ở cấp độ thôn xóm, cho nên rất khiêm tốn về mặt kinh phí, điều này thể hiện qua dáng vóc xinh xắn và khiêm nhường của bia: chiều cao 54cm, rộng ngang 35 cm, tức là không bằng một tờ báo Nhân dân trải rộng. Cho thấy, bia được dựng nằm ngoài điển lệ của triều đình. Điểm này làm rõ hơn động cơ của dòng niên đại “Quang Thái thứ 3” trong văn bia[21].
Về trật tự chữ, chữ viết trên ngạch bi đều ngang từ trái sang phải, trong khi ngạch bia đời Trần thường là sắp chữ dọc.
Tất cả các dấu hiệu trên cho thấy văn bia đang xét được dựng vào đầu đời Nguyễn.
Đến đây, chúng ta có thể xâu chuỗi các sự kiện như sau: [1] Bia ngụy tạo vào quãng 1802 đến 1821; [2] Dựa vào bia này Nguyễn Văn Siêu đã khẳng định Cam Lâm vốn là Đường Lâm, quê của hai vua Phùng Hưng và Ngô Quyền; [3] Vua Tự Đức đã sai bộ Lễ công nhận đây là di tích cấp “quốc gia” và ban “sắc kiến” vào năm 1874; [4] Sau đó, “đất hai vua” chính thức được đưa vào chính sử vào năm 1882; [5] Đặng Xuân Bảng cẩn thận hơn nữa đã chú Đường Lâm thuộc về Phong Châu[22]. Nhầm lẫn của triều đình và các sử gia trong thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là có thể chấp nhận được, khi các quan biên tu triều Nguyễn không có quá nhiều thời gian và điều kiện để trực tiếp khảo sát địa phương, mà phần lớn các tư liệu đều do hệ thống nha lại các cấp ở dưới đưa lên. Tuy nhiên, ở hai thế kỷ sau đó, việc vô tình hay hữu ý, bất cập ở chuyên môn hay sự khéo léo trong câu chữ của các nhà làm sử đã viết tiếp trang huyền sử thời hiện đại cho mảnh đất này.
Trở lại với phương pháp của Trần Quốc Vượng, nếu như bia Phụng tự bi đúng là bia Quang Thái đời Trần, thì ông đã dùng sử liệu cấp hai để phủ định các sử liệu cấp một được viết vào đời Đường (như trên đã nêu). Mặc dù ông biết rất rõ rằng: “Theo các sử cũ, quả thật ở thời thuộc Đường (thế kỷ VII-X) miền đất nước ta có huyện Đường-lâm (đầu đời Đường là châu Đường-lâm rồi đổi thành quận Đường-lâm) thuộc châu Phúc-lộc (có cả huyện Phúc-lộc) thuộc phía nam tỉnh Hà-tĩnh ngày nay.”[23] Trong trường hợp văn bia đó là văn bia ngụy tạo vào đầu đời Nguyễn như chúng tôi đã chứng minh ở trên thì Trần Quốc Vượng đã dùng một sử liệu có khả năng là ngụy tạo để phủ định các sử liệu cấp một. Trong bài Đường Lâm dưới góc nhìn địa - văn hóa - lịch sử, Trần Quốc Vượng viết: “Có một chuyện, thật như bịa, bây giờ nghe ra thì khá buồn cười: Một số nhà nghiên cứu căn cứ vào cái tên Phúc Lộc bảo ở Hà Tĩnh xưa có huyện Phúc Lộc, có lẽ quê hương Ngô Quyền ở đó. Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, kẻ ngu hèn này mới ở độ tuổi hai mươi đã phải viết một bài được cụ Trần Huy Liệu cho đăng trên Nghiên cứu Lịch sử, đầu đề là Về quê hương Ngô Quyền có hai trang để cải chính là quê hương Ngô Quyền ở Sơn Tây, nơi đó còn đền và lăng Ngô Quyền. Ý kiến này được tiếp thu ngay.”[24] Trên thực tế, lăng Ngô Quyền còn ở một số địa phương khác như Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Tây cũ, Thanh Hóa; còn đền thờ các vị Phùng Hưng, Ngô Quyền thì có ở khắp nơi, hiện chưa có con số thống kê cụ thể. Mặt khác, các lăng mộ, đền thờ các nhân vật lịch sử này ở Đường Lâm có niên đại khá muộn. Sự công nhận của chính sử nhà Nguyễn cộng với tín niệm dân gian trải qua gần 200 năm, đã khiến cho bao nhiêu huyền tích đẹp đẽ cho mảnh đất hai vua được thêu dệt nên. Có vẻ như các nhà sử học Việt Nam thế kỷ XX-XXI, khởi từ Trần Quốc Vượng, đã coi di tích, huyền tích, sử liệu đời Nguyễn, cũng như niềm tin dân gian là bốn cứ liệu quan trọng nhất để đưa ra quyết định cuối cùng. Đặt dấu chấm hết cho những tranh luận trên phương diện cổ sử là việc cải tên xã Cam Lâm thành Đường Lâm khiến địa danh này trùng khít hoàn toàn với quá khứ 1000 năm trước về mặt danh xưng.
Vậy tại địa bàn hiện nay được coi như là đất phát tích của hai vua - Đường Lâm (Sơn Tây), sự cải danh đã diễn ra như thế nào trong thế kỷ XX. Vấn đề này đã được tác giả Nguyễn Tùng (Paris)[25] bàn xét khá toàn diện trong bài Bàn thêm về quần thể làng cổ Đường Lâm đăng tải trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online ngày 23 tháng 01 năm 2009. Có thể giản lược như sau: xã Đường Lâm (với tư cách là một đơn vị hành chính, dưới cấp huyện) là một tên mới đặt, bao gồm chín thôn (làng) trong đó có năm thôn cổ là Cam Thịnh, Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Lâm và Đoài Giáp là đã được lập ra cách đây hơn 500 năm. Bốn thôn còn lại (Phụ Khang, Hà Tân, Hưng Thịnh và Văn Miếu) thì đều tách ra từ vài làng nói trên hoặc được lập ra cách đây chưa đến hai trăm năm. Đáng chú ý là ở thôn Cam Lâm từ mấy thế kỉ nay đã có đình thờ đình Phùng Hưng cũng như nhà thờ và lăng Ngô Quyền. Do vậy, chính quyền xã này cũng đã dựa vào các bằng chứng đó để xin Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đổi tên từ Cam Lâm thành Đường Lâm vào ngày 21-11-1964[26].
Tóm lại, tổng hợp sự khảo cứu về diên cách Đường Lâm- Sơn Tây của chúng tôi[27] với kết quả nghiên cứu thực địa của Nguyễn Tùng, tạm thời có thể đi đến nhận định rằng: trong suốt chiều dài lịch sử hai ngàn năm từ đời Hán cho đến năm 1964, xã Đường Lâm dường như chưa bao giờ có tên là Đường Lâm.
Mấy lời để ngỏ: Bài viết thông qua việc giám định văn bản học, (bằng các phương pháp của văn tự - thư pháp học, lịch sử diên cách địa danh, sử liệu học…) nhận định rằng: “bia Đường Lâm” nổi tiếng kia có khả năng rất cao là một văn bia ngụy tạo, chứ không phải là bia đời Trần. Chứng cứ này khiến cho kết luận “Đường Lâm ở Sơn Tây” của Trần Quốc Vượng bấy lâu nay được coi là chân lý chỉ tồn tại như một giả thuyết. Vấn đề tiếp theo là phải nghiên cứu như thế nào. Phương pháp chúng tôi đề nghị là: Tiến hành khảo lại toàn bộ diên cách của xã Đường Lâm (Sơn Tây) trong lịch sử; Nghiên cứu thực địa, điền dã tại tất cả các di tích ở địa phương có thờ Phùng Hưng và Ngô Quyền, như Thanh Hóa, Hà Nội, Hà Tây cũ, Hưng Yên, Hải Phòng,… để từ đó tiếp tục sưu tầm các tư liệu hữu quan về hai vua cũng như tục thờ các vị này trong đời sống tín ngưỡng dân gian. Tiếp theo và quan trọng nhất, khảo về hệ thống sử liệu cấp một và các tư liệu cổ sử viết trực tiếp về Phùng Hưng, Ngô Quyền, về châu Đường Lâm cũng như các nhân vật có liên quan khác như Dương Đình Nghệ, Dương Tam Kha, Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn, Ngô Chân Lưu, Lê Hoàn, Đinh Bộ Lĩnh v.v… đó là các tư liệu: Về phía tư liệu Việt nam có An Nam chí lược 安南志略của Lê Tắc 黎崱soạn năm 1335, Việt Điện u linh tập 粵甸幽靈集do Lý Tế Xuyên 李濟川 soạn năm 1329; Về tư liệu Trung Quốc có: Thông điển 通典 do Đỗ Hữu杜佑 (735 - 812) đời Đường soạn xong năm 801, Cựu Đường thư 舊唐書 do người thời Hậu Tấn là Lưu Húc劉 昫(887- 946)khởi soạn vào năm 945, Thái Bình hoàn vũ kí 太平寰宇記 (quyển 171) soạn vào đời Tống Thái Tông 宋太宗trong những năm Thái Bình Hưng Quốc 太平興國(976 - 983, Tân Đường thư 新唐書 do Âu Dương Tu 歐陽修 và Tống Kì 宋祁 biên soạn năm 1060, Dư địa quảng kí 輿地廣記 do Âu Dương Văn 歐陽忞 soạn vào đời Tống Huy Tông 宋徽宗trong những năm Chính Hòa 政和(1111-1117), Đại sự ký 大事記do Lã Tổ Khiêm 吕祖謙 (1137-1181) đời Tống soạn v.v... Trên đây là mấy ý kiến nhỏ của chúng tôi, rất mong được các nhà nghiên cứu quan tâm chỉ chính.
Bản sửa chữa ngày 03/04/2011
[1] Cán bộ Nghiên cứu Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
[2] Đào Duy Anh, Đất nước Việt-nam qua các đời, Nxb. KHXH, H., 1964.
[3] Văn Tân, Vài sai lầm về tài liệu của bộ “Đại Việt sử ký toàn thư”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 93 (tháng 12), 1966, tr.31-32.
[4] Giáo sư Bùi Văn Nguyên, chưa rõ căn cứ vào tài liệu nào, đã khẳng định rằng: “Tăng Thống Ngô Chân Lưu, họ Ngô, người Chân Định, Nam Chân”. Chuyển dẫn theo Hoàng Văn Lâu, Đi tìm địa chỉ Ngô Chân Lưu, Tạp chí Hán Nôm, số 1 (26), 1996, tr. 53 - 54.
[5] Nguyễn Huệ Chi, Từ điển Văn học (bộ mới), Nxb. Thế giới, H., 2004.
[6] Đào Duy Anh, sđd, Nxb Văn hóa Thông tin (tái bản), H., 2005, tr. 110.
[7] Văn Tân, bđd.
[8] Trần Quốc Vượng, Về quê hương Ngô Quyền, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 101 (8/1967), tr. 60 - 62.
[9] Theo tra cứu của chúng tôi, bia ấy tên là Phụng tự bi 奉祀碑ký hiệu 36002 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Bia được đặt tại đền thờ Phùng Hưng (Sơn Tây).
[10] Trần Quốc Vượng, bdd. tr. 31-32.
[11] Cảnh Huệ Linh 耿慧玲 trong mục Phùng Hưng khảo馮興考, Việt Nam sử luận - Kim thạch tư liệu chi lịch sử văn hóa tỷ giảo 金石資料之歷史文化比較, Tân Văn Phong Xuất bản công ty, Đài Loan, 2004, tr. 201-224 tuy nhận ra rằng văn bia này không thể là văn bia đời Trần nhưng lại cho rằng văn bia Phụng tự bi ký là bia Hồng Đức. Hiện tượng nhiều học giả nước ngoài thường không sâu sát tư liệu bản địa nên những lầm lẫn như trên không phải là không có. (Tài liệu do Phạm Văn Tuấn cung cấp).
[12] Nguyễn Minh Tường, Hai tấm bia ở xã Đường Lâm- thị xã Sơn Tây viết về Phùng Hưng và Ngô Quyền, Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử văn hóa Đường Lâm, Nxb. KHXH, H., 2005, tr. 30 - 43. Tại tr. 42, tác giả viết: “Tấm bia Quang Thái thứ 3 (1390) này được khắc vào cuối đời Trần (1225- 1400), tức là sau thời gian xuất hiện của bộ sách Việt điện u linh (1329) khoảng trên 50 năm. Có thể đó là những văn bản đầu tiên ghi chép về sự tích của hai vị anh hùng dân tộc cùng quê ở Đường Lâm là Phùng Hưng và Ngô Quyền”.
[13] Vũ Duy Mền, Tấm bia Quang Thái (1390) đời Trần tại đình Phùng Hưng, làng Cam Lâm, xã Đường Lâm, Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử văn hóa Đường Lâm, Nxb.KHXH, H., 2005, tr. 44- 47. Bài viết có xu hướng khẳng định bia này là một bia đời Nguyễn, rất tiếc vì lý do tế nhị tác giả đặt tên bài viết trái ngược hoàn toàn với kết quả nghiên cứu của ông, và tránh sử dụng đến từ “ngụy tạo”.
[14] Nguyễn Tùng (chủ biên), Mông Phụ một làng đồng bằng sông Hồng, Nxb. Văn hóa Thông tin., H., 2003, tr. 31.
[15] Ngụy tạo văn bia là hiện tượng phổ biến trong thực tế lịch sử. Về vấn đề này xin xem Nguyễn Văn Nguyên,Khảo sát giám định niên đại thác bản văn bia, Nxb. Văn hóa thông tin, H., 2007.
[16] Những tri thức này chúng tôi có được từ một số năm được làm việc cùng các anh Lê Quốc Việt, Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Đức Dũng, Phạm Văn Tuấn trong nhóm thư pháp Tiền vệ Zenei Gang of Five. Lê Quốc Việt từng đưa ra nhận định như sau về lịch sử thư pháp Việt Nam: “Kiểu sức là đặc điểm của thư pháp thời Nguyễn đồng thời là dấu son đẹp đẽ chấm dứt nghệ thuật thư pháp nước nhà trước khi Việt Nam chuyển đổi văn tự. Đinh chuộng ý 意 , Lý chuộng vận 運 , Trần chuộng luật 律 , Lê chuộng pháp 法 , Mạc chuộng biến 變 , Nguyễn chuộng kỹ 技 là tổng quan về lịch sử thư pháp Việt Nam.” Xin xem Zenei Gang of Five, Script- Chữ- Thư pháp tiền vệ (catalogue), Thọ Studio, H., 2007. Phương pháp giám định này hiện gần như bị các nhà sử học bỏ qua. Đối với các chuyên gia bi ký và Hán học của Viện Nghiên cứu Hán Nôm tuy phương pháp này chưa được định thành văn, nhưng lại được sử dụng thường xuyên trong nghiên cứu thực địa nhiều năm qua. Hi vọng, trong một tương lai gần, phương pháp này sẽ được coi là một trong những cứ liệu tin cậy giúp xác định niên đại văn bia. Tạm thời, chúng tôi tiến hành một cuộc điều tra xã hội học nho nhỏ, tất cả cả ý kiến của các chuyên gia đều trùng khít nhau, cho rằng bia này là bia ngụy tạo đời Nguyễn
[17] Phụng tự bi奉祀碑. Ký hiệu 36002 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
[18] Nguyễn Minh Tường, Cảnh Huệ Linh xác định bia này khắc năm 1473. (Nguyễn Minh Tường, bđd, tr.42; Cảnh Huệ Linh, sdd. Tr.205). Xin xem thác bản ký hiệu số 36003 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Tuy nhiên, đây cũng lại là một bia ngụy tạo nữa. tuy nhiên, kết quả giám định bia này, chúng tôi xin được trình bày trong một bài viết khác
[19] Xin xem thêm Đào Duy Anh, sđd, tr. 180 - 181.
[20] Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, lời cẩn án có ghi rằng đời Lê sơ, phủ Quốc Oai vẫn có huyện Phúc Lộc. (Xem Viện Sử học, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb. KHXH, H., tr. 220). Cảnh Huệ Linh có lẽ cũng dựa vào chi tiết này để xác định tấm bia thuộc về thời Lê sơ. Nay xin cải chính.
Xin bàn thêm: về mặt lý thuyết thì đúng là có hai khả năng để giải thích cho địa danh Phúc Lộc. Một là Phúc Lộc đời Lê; hai là Phúc Lộc đời Gia Long- Minh Mệnh. Tuy nhiên, phong cách thư pháp, văn tự, kiểu dáng văn bia không cho phép nghĩ đây là bia đời Lê.
[21] Ngoài hai bia ấy, xã Đường Lâm hiện còn bia Sắc kiến Tiền Ngô Vương lăng 敕建前吳王陵, niên đại của bia này là Tự Đức thứ 27 (1874), phong cách chữ viết cứng cáp và tú lệ hơn hai bia kia rất nhiều. Ký hiệu bia 36004 Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
[22] Đặng Xuân Bảng (1828 - 1910) trong Việt sử cương mục tiết yếu 越史綱目節要ghi: “Tân mùi, [791] (Đường Đức Tông, Trinh Nguyên năm thứ bảy). Mùa hạ, Phùng Hưng ở Đường Lâm, Phong Châu (Đường Lâm là tên xã; nay là xã Cam Lâm, huyện Phúc Thọ, Sơn Tây, không phải là huyện Đường Lâm, châu Phúc Lộc [chú của dịch giả: nay là xã Cam Lâm, huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây] ). Đặng Xuân Bảng, Việt sử cương mục tiết yếu 越史綱目節要, Hoàng Văn Lâu dịch chú giới thiệu, Nxb. KHXH, H. 2000. tr. 48.
[23] Trần Quốc Vượng. bdd. tr. 60.
[24] Trần Quốc Vượng. Đường Lâm dưới góc nhìn địa- văn hóa- lịch sử. Trong “Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử văn hóa Đường Lâm”. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội. 2005. tr.150- 151.
[25] Nguyễn Tùng, nhà lịch sử nhân loại học xuất sắc người Việt hiện đang làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS). Trong khuôn khổ chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học về các biến đổi của làng xã ở đồng bằng Bắc bộ giữa CNRS và Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam), ông cùng các đồng nghiệp đã tiến hành hai cuộc điền dã ở Đường Lâm (5-6-1990 và 10-11-1991). Kết quả được trình bày trong cuốn Mông Phụ, un village du delta du fleuve Rouge, được dịch sang tiếng Việt với tựa đề Mông Phụ, một làng ở đồng bằng sông Hồng, do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội xuất bản năm 2003.
[26] Khi viết bài này, chúng tôi chưa có điều kiện để tìm được văn bản chính thức của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tạm thời, chúng tôi dựa vào cứ liệu do tác giả Nguyễn Tùng đưa ra.
[27] Trần Ngọc Vương, Nguyễn Tô Lan, Trần Trọng Dương. Đường Lâm là Đường Lâm nào? Trong Kỷ yếu “Quốc sư Khuông Việt và Phật giáo Việt Nam đầu kỷ nguyên độc lập” do Giáo Hội Phật giáo Việt Nam và ĐH KHXH & NV, ĐH QG HN tổ chức, tháng 3 năm 2011.
[2] Đào Duy Anh, Đất nước Việt-nam qua các đời, Nxb. KHXH, H., 1964.
[3] Văn Tân, Vài sai lầm về tài liệu của bộ “Đại Việt sử ký toàn thư”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 93 (tháng 12), 1966, tr.31-32.
[4] Giáo sư Bùi Văn Nguyên, chưa rõ căn cứ vào tài liệu nào, đã khẳng định rằng: “Tăng Thống Ngô Chân Lưu, họ Ngô, người Chân Định, Nam Chân”. Chuyển dẫn theo Hoàng Văn Lâu, Đi tìm địa chỉ Ngô Chân Lưu, Tạp chí Hán Nôm, số 1 (26), 1996, tr. 53 - 54.
[5] Nguyễn Huệ Chi, Từ điển Văn học (bộ mới), Nxb. Thế giới, H., 2004.
[6] Đào Duy Anh, sđd, Nxb Văn hóa Thông tin (tái bản), H., 2005, tr. 110.
[7] Văn Tân, bđd.
[8] Trần Quốc Vượng, Về quê hương Ngô Quyền, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 101 (8/1967), tr. 60 - 62.
[9] Theo tra cứu của chúng tôi, bia ấy tên là Phụng tự bi 奉祀碑ký hiệu 36002 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Bia được đặt tại đền thờ Phùng Hưng (Sơn Tây).
[10] Trần Quốc Vượng, bdd. tr. 31-32.
[11] Cảnh Huệ Linh 耿慧玲 trong mục Phùng Hưng khảo馮興考, Việt Nam sử luận - Kim thạch tư liệu chi lịch sử văn hóa tỷ giảo 金石資料之歷史文化比較, Tân Văn Phong Xuất bản công ty, Đài Loan, 2004, tr. 201-224 tuy nhận ra rằng văn bia này không thể là văn bia đời Trần nhưng lại cho rằng văn bia Phụng tự bi ký là bia Hồng Đức. Hiện tượng nhiều học giả nước ngoài thường không sâu sát tư liệu bản địa nên những lầm lẫn như trên không phải là không có. (Tài liệu do Phạm Văn Tuấn cung cấp).
[12] Nguyễn Minh Tường, Hai tấm bia ở xã Đường Lâm- thị xã Sơn Tây viết về Phùng Hưng và Ngô Quyền, Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử văn hóa Đường Lâm, Nxb. KHXH, H., 2005, tr. 30 - 43. Tại tr. 42, tác giả viết: “Tấm bia Quang Thái thứ 3 (1390) này được khắc vào cuối đời Trần (1225- 1400), tức là sau thời gian xuất hiện của bộ sách Việt điện u linh (1329) khoảng trên 50 năm. Có thể đó là những văn bản đầu tiên ghi chép về sự tích của hai vị anh hùng dân tộc cùng quê ở Đường Lâm là Phùng Hưng và Ngô Quyền”.
[13] Vũ Duy Mền, Tấm bia Quang Thái (1390) đời Trần tại đình Phùng Hưng, làng Cam Lâm, xã Đường Lâm, Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử văn hóa Đường Lâm, Nxb.KHXH, H., 2005, tr. 44- 47. Bài viết có xu hướng khẳng định bia này là một bia đời Nguyễn, rất tiếc vì lý do tế nhị tác giả đặt tên bài viết trái ngược hoàn toàn với kết quả nghiên cứu của ông, và tránh sử dụng đến từ “ngụy tạo”.
[14] Nguyễn Tùng (chủ biên), Mông Phụ một làng đồng bằng sông Hồng, Nxb. Văn hóa Thông tin., H., 2003, tr. 31.
[15] Ngụy tạo văn bia là hiện tượng phổ biến trong thực tế lịch sử. Về vấn đề này xin xem Nguyễn Văn Nguyên,Khảo sát giám định niên đại thác bản văn bia, Nxb. Văn hóa thông tin, H., 2007.
[16] Những tri thức này chúng tôi có được từ một số năm được làm việc cùng các anh Lê Quốc Việt, Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Đức Dũng, Phạm Văn Tuấn trong nhóm thư pháp Tiền vệ Zenei Gang of Five. Lê Quốc Việt từng đưa ra nhận định như sau về lịch sử thư pháp Việt Nam: “Kiểu sức là đặc điểm của thư pháp thời Nguyễn đồng thời là dấu son đẹp đẽ chấm dứt nghệ thuật thư pháp nước nhà trước khi Việt Nam chuyển đổi văn tự. Đinh chuộng ý 意 , Lý chuộng vận 運 , Trần chuộng luật 律 , Lê chuộng pháp 法 , Mạc chuộng biến 變 , Nguyễn chuộng kỹ 技 là tổng quan về lịch sử thư pháp Việt Nam.” Xin xem Zenei Gang of Five, Script- Chữ- Thư pháp tiền vệ (catalogue), Thọ Studio, H., 2007. Phương pháp giám định này hiện gần như bị các nhà sử học bỏ qua. Đối với các chuyên gia bi ký và Hán học của Viện Nghiên cứu Hán Nôm tuy phương pháp này chưa được định thành văn, nhưng lại được sử dụng thường xuyên trong nghiên cứu thực địa nhiều năm qua. Hi vọng, trong một tương lai gần, phương pháp này sẽ được coi là một trong những cứ liệu tin cậy giúp xác định niên đại văn bia. Tạm thời, chúng tôi tiến hành một cuộc điều tra xã hội học nho nhỏ, tất cả cả ý kiến của các chuyên gia đều trùng khít nhau, cho rằng bia này là bia ngụy tạo đời Nguyễn
[17] Phụng tự bi奉祀碑. Ký hiệu 36002 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
[18] Nguyễn Minh Tường, Cảnh Huệ Linh xác định bia này khắc năm 1473. (Nguyễn Minh Tường, bđd, tr.42; Cảnh Huệ Linh, sdd. Tr.205). Xin xem thác bản ký hiệu số 36003 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Tuy nhiên, đây cũng lại là một bia ngụy tạo nữa. tuy nhiên, kết quả giám định bia này, chúng tôi xin được trình bày trong một bài viết khác
[19] Xin xem thêm Đào Duy Anh, sđd, tr. 180 - 181.
[20] Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, lời cẩn án có ghi rằng đời Lê sơ, phủ Quốc Oai vẫn có huyện Phúc Lộc. (Xem Viện Sử học, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb. KHXH, H., tr. 220). Cảnh Huệ Linh có lẽ cũng dựa vào chi tiết này để xác định tấm bia thuộc về thời Lê sơ. Nay xin cải chính.
Xin bàn thêm: về mặt lý thuyết thì đúng là có hai khả năng để giải thích cho địa danh Phúc Lộc. Một là Phúc Lộc đời Lê; hai là Phúc Lộc đời Gia Long- Minh Mệnh. Tuy nhiên, phong cách thư pháp, văn tự, kiểu dáng văn bia không cho phép nghĩ đây là bia đời Lê.
[21] Ngoài hai bia ấy, xã Đường Lâm hiện còn bia Sắc kiến Tiền Ngô Vương lăng 敕建前吳王陵, niên đại của bia này là Tự Đức thứ 27 (1874), phong cách chữ viết cứng cáp và tú lệ hơn hai bia kia rất nhiều. Ký hiệu bia 36004 Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
[22] Đặng Xuân Bảng (1828 - 1910) trong Việt sử cương mục tiết yếu 越史綱目節要ghi: “Tân mùi, [791] (Đường Đức Tông, Trinh Nguyên năm thứ bảy). Mùa hạ, Phùng Hưng ở Đường Lâm, Phong Châu (Đường Lâm là tên xã; nay là xã Cam Lâm, huyện Phúc Thọ, Sơn Tây, không phải là huyện Đường Lâm, châu Phúc Lộc [chú của dịch giả: nay là xã Cam Lâm, huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây] ). Đặng Xuân Bảng, Việt sử cương mục tiết yếu 越史綱目節要, Hoàng Văn Lâu dịch chú giới thiệu, Nxb. KHXH, H. 2000. tr. 48.
[23] Trần Quốc Vượng. bdd. tr. 60.
[24] Trần Quốc Vượng. Đường Lâm dưới góc nhìn địa- văn hóa- lịch sử. Trong “Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử văn hóa Đường Lâm”. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội. 2005. tr.150- 151.
[25] Nguyễn Tùng, nhà lịch sử nhân loại học xuất sắc người Việt hiện đang làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS). Trong khuôn khổ chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học về các biến đổi của làng xã ở đồng bằng Bắc bộ giữa CNRS và Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam), ông cùng các đồng nghiệp đã tiến hành hai cuộc điền dã ở Đường Lâm (5-6-1990 và 10-11-1991). Kết quả được trình bày trong cuốn Mông Phụ, un village du delta du fleuve Rouge, được dịch sang tiếng Việt với tựa đề Mông Phụ, một làng ở đồng bằng sông Hồng, do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội xuất bản năm 2003.
[26] Khi viết bài này, chúng tôi chưa có điều kiện để tìm được văn bản chính thức của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tạm thời, chúng tôi dựa vào cứ liệu do tác giả Nguyễn Tùng đưa ra.
[27] Trần Ngọc Vương, Nguyễn Tô Lan, Trần Trọng Dương. Đường Lâm là Đường Lâm nào? Trong Kỷ yếu “Quốc sư Khuông Việt và Phật giáo Việt Nam đầu kỷ nguyên độc lập” do Giáo Hội Phật giáo Việt Nam và ĐH KHXH & NV, ĐH QG HN tổ chức, tháng 3 năm 2011.
Nguồn: Văn hóa Nghệ An
TRẦN QUỐC VƯỢNG
Về quê hương của Ngô Quyền,
người anh hùng dân tộc, sử sách của ta xưa nay vẫn cho rằng ông là người cùng
quê với Phùng Hưng (Bố cái đại vương), ở xã Đường-lâm, thuộc huyện Phúc-thọ tỉnh
Sơn-tây (nay {1967} thuộc huyện Tùng-thiện, tỉnh Hà-tây. {2011: thuộc thị xã
Sơn Tây, Hà Nội}). Thế nhưng gần đây, ông Đào-duy-Anh đã tỏ ý nghi ngờ về việc
chỉ định đó. Trong quyển Đất nước Việt-nam qua các đời[i], ông viết: “Đại Việt
sử ký toàn thư (ngoại, q. 5) chép rằng Ngô Quyền là người Đường-lâm, con Ngô
Mân là châu mục bản châu. Sách Cương mục (Tb, q. 5) chú rằng: Đường-lâm là tên xã
xưa, theo sử cũ chú là huyện Phúc-lộc, huyện Phúc-lộc nay đổi làm huyện Phúc-thọ,
thuộc tỉnh Sơn-tây. Xét Sơn-tây tỉnh chí thì thấy nói xã Cam-lâm huyện Phúc-thọ
xưa gọi là Đường-lâm, Phùng Hưng và Ngô Quyền đều là người xã ấy, nay còn có đền
thờ ở đó. Chúng tôi rất ngờ những lời ghi chú ấy và nghĩ rằng rất có thể người
ta đã lầm Đường-lâm là tên huyện đời Đường thuộc châu Phúc-lộc (Phúc-lộc châu
có huyện Đường-lâm) thành tên xã Đường-lâm ở huyện Phúc-thọ. Huyện Đường-lâm
châu Phúc-lộc là ở miền nam Hà-tĩnh. An-nam kỷ lược thì lại chép rằng Ngô Quyền
là người Ái-châu, cũng chưa biết có đúng không”. Ở hai trang sau (tr. 86), ông
khẳng định: “Ngô-nhật-Khánh, gọi Ngô Lãng-công (cùng họ với Ngô Quyền - TQV),
giữ miền Đường-lâm (huyện Đường-lâm thuộc châu Phúc-lộc, miền Hà-tĩnh ngày
nay)”. Gần đây, khi phê bình Đại Việt sử ký toàn thư, đồng chí Văn Tân cho rằng
“ý kiến bạn Đào-duy-Anh rất đáng cho chúng ta để ý” “Ngô Quyền là người huyện
Đường-lâm thuộc Hoan-châu chứ không phải là người huyện Phúc-thọ tỉnh Hà-tây”
“Ngô Quyền là quý tộc con Ngô Mân quê ở Hoan-châu (có chỗ nói Ái-châu) đã dấy
quân từ Hoan-châu tiến ra bắc phá quân Nam Hán ở cửa Bạch-đằng. Như vậy Ngô Quyền
phải là người huyện Đường-lâm châu Phúc-lộc (Hà-tĩnh) chứ không phải người xã
Đường-lâm huyện Phúc-thọ (Sơn-tây). Có thế mới phù hợp với tình hình xã hội hồi
thế kỷ VIII, IX và X”[ii].
Với những tài liệu lịch sử hiện nay tôi được biết và sẽ dẫn sau đây, tôi cho rằng quê hương của Ngô Quyền (và Phùng Hưng) đúng là ở xã Đường-lâm, huyện Tùng-thiện tỉnh Hà-tây ngày nay (trước là làng Cam-lâm, huyện Phúc-thọ) như sử cũ đã ghi chép.
1. Điều cần chú ý trước tiên – và khi nêu ra thì mọi người đều dễ dàng đồng ý – là tình trạng cùng một xứ, cùng một thời có hai địa danh trùng nhau hoặc là cùng một xứ nhưng ở thời trước thì địa danh ấy chỉ một miền này mà ở thời sau cũng địa danh ấy lại chỉ một miền khác – vốn xưa (và cả ngày nay nữa) là một điều thường có.
Theo các sử cũ, quả thật ở thời thuộc Đường (thế kỷ VII-X) miền đất nước ta có huyện Đường-lâm (đầu đời Đường là châu Đường-lâm rồi đổi thành quận Đường-lâm) thuộc châu Phúc-lộc (có cả huyện Phúc-lộc) thuộc phía nam tỉnh Hà-tĩnh ngày nay. Nhưng cũng theo một bài văn bia đề ngày 18 tháng Hai năm thứ ba niên hiệu Quang-thái đời Trần Thuận-tông (1390) – bia hiện để ở trong đền thờ Phùng Hưng tại xã Đường-lâm, huyện Tùng-thiện tỉnh Hà-tây – thì ở thời Trần nước ta có xã Cam-tuyền thuộc huyện Phúc- lộc, phủ Quốc-oai[iii]. Văn bia ghi rõ: “Nguyên bản xã đất nhiều rừng rậm xưa gọi là Đường-lâm, đời đời sản sinh nhiều vị anh hùng hào kiệt”. Theo cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì ở thời Lê, phủ Quốc-oai vẫn có huyện Phúc-lộc[iv]. Thời Nguyễn Gia-long mới đổi tên huyện Phúc-lộc thành huyện Phúc-thọ[v]. Sách Việt điện u linh của Lý-tế-Xuyên đời Trần (1329) chép truyện Phùng Hưng đã dẫn sách Giao châu ký ở thời Đường: “Vương họ Phùng, tên là Hưng, ông cha đời đời là tù trưởng châu Đường-lâm, gọi là quan lang”[vi]. Vậy rõ ràng ở thời thuộc Đường, ngoài Đường-lâm thuộc châu Phúc-lộc còn có Đường-lâm là một châu ky-mi trực thuộc châu Giao (đồng bằng Bắc-bộ) và đất Đường-lâm đó sau là một xã thuộc huyện Phúc-lộc, phủ Quốc-oai. Sử cũ đã không lầm tên huyện Đường-lâm thuộc châu Phúc-lộc thành tên xã Đường-lâm thuộc huyện Phúc-thọ như tác giả Đất nước Việt-nam qua các đời đã nói.
2. Theo bia xã Đường-lâm thì khi Ngô Quyền lên ngôi vua (939), ông đã lấy bản xã làm “thang mộc ấp”. Sau khi Ngô Quyền mất (944), nước ta xảy ra cuộc nội chiến giữa các chúa phong kiến cát cứ ở các địa phương – sử cũ gọi là loạn Thập nhị sứ quân. Một trong số mười hai sứ quân đó là Ngô-nhật-Khánh thuộc dòng họ Ngô Quyền đã cát cứ ở Đường-lâm, quê hương nhà Ngô.
Theo Việt sử lược và Toàn thư thì năm 950 Dương-tam-Kha sai Ngô-xương-Văn (con thứ hai của Ngô Quyền) và hai tướng Dương-cát-Lợi, Đỗ-cảnh-Thạc đi đánh 2 thôn Đường, Nguyễn ở Thái-bình và bị chết[vii]. Thái-bình là tên một huyện của Giao châu thời thuộc Đường. Theo Trinh-nguyên thập đạo lục của Giả Đam – người đời Đường – thì con đường “từ An-nam (từ tự sở An-nam đô hộ phủ là Tống-bình – tức Hà-nội ngày nay – TQV) đi qua (huyện) Giao-chỉ (Từ-liêm - TQV), (huyện) Thái-bình hơn 100 dặm thì đến Phong-châu”[viii]. Sau khi nghiên cứu các sách địa lý cổ, ông Đào-duy-Anh đã chỉ định huyện Thái-bình là ở khoảng huyện Quốc-oai ngày nay[ix]. Chúng tôi đoán rằng thôn Đường thuộc Thái-bình là đất Đường-lâm, nơi sứ quân Ngô-nhật-Khánh cát cứ, còn thôn Nguyễn thuộc Thái-bình là Nguyễn-gia hay Nguyễn-gia-Loan nơi sứ quân Nguyễn Khoan cát cứ. Việt sử lược chép danh sách 12 sứ quân đã gọi Nguyễn Khoan là Nguyễn Thái-bình[x]. Cứ như vậy thì rõ ràng Đường-lâm, nơi Ngô-nhật-Khánh giữ quê hương và thang mộc ấp của nhà Ngô mà cát cứ phải thuộc đất Sơn-tây, chứ không thể thuộc đất Hà-tĩnh như ông Đào-duy-Anh chỉ định được.
3. Về điểm đó, chúng ta còn có những chứng cứ khác. Việt điện u linh (tác phẩm đời Trần) dựa vào Sử ký của Đỗ Thiện (có lẽ là tác phẩm đời Lý hay đầu đời Trần) chép truyện Lý-phục-Man nói Lý-phục-Man là tướng của Lý Nam-đế (Lý Bôn), được Lý Nam-đế “giao cho đóng giữ hai đất Đỗ-động và Đường-lâm” và khi chết còn được thờ ở đó[xi]. Đền thờ Lý-phục-Man nay hiện còn ở xã Yên-sở thuộc huyện Hoài-đức tỉnh Hà-tây. Đỗ-động hay Đỗ-động giang, khu vực cát cứ của sứ quân Đỗ-cảnh-Thạc nay cũng thuộc tỉnh Hà-tây: Hiện còn di tích hai cái thành của sứ quân Đỗ-cảnh-Thạc: một là thành Quèn thuộc thôn Cổ-hiền, xã Tuyết-nghĩa, huyện Quốc-oai (ở giữa thành còn có đền thờ Đỗ-cảnh-Thạc), một thành khác nay còn di tích ở xã Bình-đà thuộc huyện Thanh-oai[xii]. Vậy rõ ràng đất Đường-lâm ở cạnh Đỗ-động cũng phải thuộc vùng Sơn-tây cũ. Theo Toàn thưthì ở thời Thập nhị sứ quân “hơn 500 con em Ngô tiên chúa (tức Ngô Quyền – TQV) ở Đỗ-động giang đã đem quân tới đánh Đinh Bộ-lĩnh”[xiii]. Đấy lại thêm một chứng cớ nữa tỏ rằng quê hương, con cháu nhà Ngô đều ở đất Sơn-tây cũ.
4. Hai ông Đào-duy-Anh và Văn Tân cho quê hương Phùng Hưng và Ngô Quyền là ở Hà-tĩnh, song hiện nay ở Hà-tĩnh không có một di tích lịch sử nào khả dĩ chứng minh được cho điều đó cả. Trong khi ấy, ở xã Đường-lâm, huyện Tùng-thiện tỉnh Hà-tây còn có đền thờ Phùng Hưng, có lăng Ngô Quyền là những di tích vật chất chứng tỏ quê hương hai người anh hùng dân tộc này là ở đó. Đền đó lập ra từ đời nào và do ai lập ? Tấm bia Đường-lâm dựng đời Trần (1390) mà chúng tôi đã nêu ở trên nói rõ: Ngô vương Quyền “ở ngôi 6 năm thì mất. Tự vương (vua nối dõi – có lẽ chỉ Ngô-xương-Ngập, hoặc cũng có thể chỉ Dương-tam-Kha, người đã tự lập làm vương sau khi Ngô Quyền chết – TQV) lập miếu đình để làm nơi cho bản ấp phụng thờ, tế lễ [Ngô vương Quyền]”.
5. Bia Đường-lâm có đáng tin cậy hay không ? Rất đáng tin cậy. Bia đó dựng cuối đời Trần (1390), chưa xa Ngô Quyền lắm, ít nhất là chưa xa thời Ngô Quyền bằng thời đại các nhà sử học của chúng ta ngày nay. Bia đó do những người họ Phùng, họ Ngô… là con cháu của Phùng Hưng, Ngô Quyền lập ra, văn bia nói là “trích gia phả của hai họ, tóm thuật những điều cốt yếu ghi vào bia để truyền lại lâu dài”. Nhờ vậy văn bia cho ta biết một số điều mà sử sách xưa nay chưa ghi chép. Tỉ dụ, văn bia cho biết Ngô Quyền làm tướng coi Ái-châu năm 35 tuổi, làm vua năm 41 tuổi, lấy Đường-lâm làm “thang mộc ấp”, ở ngôi 6 năm thì mất. Sử cho ta biết: Ngô Quyền lên ngôi năm 939, mất năm 944, đúng 6 năm như văn bia đã ghi. Vậy Ngô Quyền làm tướng giữ Ái-châu năm 933. Theo sử thì đầu năm 931, Dương-đình-Nghệ đã đánh tan được quân xâm lược Nam Hán, khôi phục được nền độc lập dân tộc. Ngô Quyền được Dương-đình-Nghệ tin yêu, gả con gái cho và cho trấn thủ Ái-châu là khu vực trọng yếu trong nước và là quê hương của họ Dương.Nếu theo cách tính tuổi ta thì Ngô Quyền sinh năm 899, mất năm 944, thọ 46 tuổi. Cũng nhờ tấm bia đó, ta biết chắc chắn quê hương Phùng Hưng và Ngô Quyền là ở Đường-lâm nay thuộc huyện Tùng-thiện tỉnh Hà-tây. Theo Giao châu ký thì ông cha Phùng Hưng đời đời làm quan lang. Điều đó cung cấp cho ta một sử liệu để nghiên cứu mối quan hệ giữa tộc Mường và tộc Việt và hiểu rõ hơn chế độ xã hội của nước ta vào khoảng những thế kỷ VII-VIII. Điều đáng chú ý là hiện nay người Mường còn cư trú ở vùng chân núi Ba-vì, trong huyện Tùng-thiện, cách quê hương của Phùng Hưng và Ngô Quyền không xa lắm.
Với những tài liệu lịch sử hiện nay tôi được biết và sẽ dẫn sau đây, tôi cho rằng quê hương của Ngô Quyền (và Phùng Hưng) đúng là ở xã Đường-lâm, huyện Tùng-thiện tỉnh Hà-tây ngày nay (trước là làng Cam-lâm, huyện Phúc-thọ) như sử cũ đã ghi chép.
1. Điều cần chú ý trước tiên – và khi nêu ra thì mọi người đều dễ dàng đồng ý – là tình trạng cùng một xứ, cùng một thời có hai địa danh trùng nhau hoặc là cùng một xứ nhưng ở thời trước thì địa danh ấy chỉ một miền này mà ở thời sau cũng địa danh ấy lại chỉ một miền khác – vốn xưa (và cả ngày nay nữa) là một điều thường có.
Theo các sử cũ, quả thật ở thời thuộc Đường (thế kỷ VII-X) miền đất nước ta có huyện Đường-lâm (đầu đời Đường là châu Đường-lâm rồi đổi thành quận Đường-lâm) thuộc châu Phúc-lộc (có cả huyện Phúc-lộc) thuộc phía nam tỉnh Hà-tĩnh ngày nay. Nhưng cũng theo một bài văn bia đề ngày 18 tháng Hai năm thứ ba niên hiệu Quang-thái đời Trần Thuận-tông (1390) – bia hiện để ở trong đền thờ Phùng Hưng tại xã Đường-lâm, huyện Tùng-thiện tỉnh Hà-tây – thì ở thời Trần nước ta có xã Cam-tuyền thuộc huyện Phúc- lộc, phủ Quốc-oai[iii]. Văn bia ghi rõ: “Nguyên bản xã đất nhiều rừng rậm xưa gọi là Đường-lâm, đời đời sản sinh nhiều vị anh hùng hào kiệt”. Theo cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì ở thời Lê, phủ Quốc-oai vẫn có huyện Phúc-lộc[iv]. Thời Nguyễn Gia-long mới đổi tên huyện Phúc-lộc thành huyện Phúc-thọ[v]. Sách Việt điện u linh của Lý-tế-Xuyên đời Trần (1329) chép truyện Phùng Hưng đã dẫn sách Giao châu ký ở thời Đường: “Vương họ Phùng, tên là Hưng, ông cha đời đời là tù trưởng châu Đường-lâm, gọi là quan lang”[vi]. Vậy rõ ràng ở thời thuộc Đường, ngoài Đường-lâm thuộc châu Phúc-lộc còn có Đường-lâm là một châu ky-mi trực thuộc châu Giao (đồng bằng Bắc-bộ) và đất Đường-lâm đó sau là một xã thuộc huyện Phúc-lộc, phủ Quốc-oai. Sử cũ đã không lầm tên huyện Đường-lâm thuộc châu Phúc-lộc thành tên xã Đường-lâm thuộc huyện Phúc-thọ như tác giả Đất nước Việt-nam qua các đời đã nói.
2. Theo bia xã Đường-lâm thì khi Ngô Quyền lên ngôi vua (939), ông đã lấy bản xã làm “thang mộc ấp”. Sau khi Ngô Quyền mất (944), nước ta xảy ra cuộc nội chiến giữa các chúa phong kiến cát cứ ở các địa phương – sử cũ gọi là loạn Thập nhị sứ quân. Một trong số mười hai sứ quân đó là Ngô-nhật-Khánh thuộc dòng họ Ngô Quyền đã cát cứ ở Đường-lâm, quê hương nhà Ngô.
Theo Việt sử lược và Toàn thư thì năm 950 Dương-tam-Kha sai Ngô-xương-Văn (con thứ hai của Ngô Quyền) và hai tướng Dương-cát-Lợi, Đỗ-cảnh-Thạc đi đánh 2 thôn Đường, Nguyễn ở Thái-bình và bị chết[vii]. Thái-bình là tên một huyện của Giao châu thời thuộc Đường. Theo Trinh-nguyên thập đạo lục của Giả Đam – người đời Đường – thì con đường “từ An-nam (từ tự sở An-nam đô hộ phủ là Tống-bình – tức Hà-nội ngày nay – TQV) đi qua (huyện) Giao-chỉ (Từ-liêm - TQV), (huyện) Thái-bình hơn 100 dặm thì đến Phong-châu”[viii]. Sau khi nghiên cứu các sách địa lý cổ, ông Đào-duy-Anh đã chỉ định huyện Thái-bình là ở khoảng huyện Quốc-oai ngày nay[ix]. Chúng tôi đoán rằng thôn Đường thuộc Thái-bình là đất Đường-lâm, nơi sứ quân Ngô-nhật-Khánh cát cứ, còn thôn Nguyễn thuộc Thái-bình là Nguyễn-gia hay Nguyễn-gia-Loan nơi sứ quân Nguyễn Khoan cát cứ. Việt sử lược chép danh sách 12 sứ quân đã gọi Nguyễn Khoan là Nguyễn Thái-bình[x]. Cứ như vậy thì rõ ràng Đường-lâm, nơi Ngô-nhật-Khánh giữ quê hương và thang mộc ấp của nhà Ngô mà cát cứ phải thuộc đất Sơn-tây, chứ không thể thuộc đất Hà-tĩnh như ông Đào-duy-Anh chỉ định được.
3. Về điểm đó, chúng ta còn có những chứng cứ khác. Việt điện u linh (tác phẩm đời Trần) dựa vào Sử ký của Đỗ Thiện (có lẽ là tác phẩm đời Lý hay đầu đời Trần) chép truyện Lý-phục-Man nói Lý-phục-Man là tướng của Lý Nam-đế (Lý Bôn), được Lý Nam-đế “giao cho đóng giữ hai đất Đỗ-động và Đường-lâm” và khi chết còn được thờ ở đó[xi]. Đền thờ Lý-phục-Man nay hiện còn ở xã Yên-sở thuộc huyện Hoài-đức tỉnh Hà-tây. Đỗ-động hay Đỗ-động giang, khu vực cát cứ của sứ quân Đỗ-cảnh-Thạc nay cũng thuộc tỉnh Hà-tây: Hiện còn di tích hai cái thành của sứ quân Đỗ-cảnh-Thạc: một là thành Quèn thuộc thôn Cổ-hiền, xã Tuyết-nghĩa, huyện Quốc-oai (ở giữa thành còn có đền thờ Đỗ-cảnh-Thạc), một thành khác nay còn di tích ở xã Bình-đà thuộc huyện Thanh-oai[xii]. Vậy rõ ràng đất Đường-lâm ở cạnh Đỗ-động cũng phải thuộc vùng Sơn-tây cũ. Theo Toàn thưthì ở thời Thập nhị sứ quân “hơn 500 con em Ngô tiên chúa (tức Ngô Quyền – TQV) ở Đỗ-động giang đã đem quân tới đánh Đinh Bộ-lĩnh”[xiii]. Đấy lại thêm một chứng cớ nữa tỏ rằng quê hương, con cháu nhà Ngô đều ở đất Sơn-tây cũ.
4. Hai ông Đào-duy-Anh và Văn Tân cho quê hương Phùng Hưng và Ngô Quyền là ở Hà-tĩnh, song hiện nay ở Hà-tĩnh không có một di tích lịch sử nào khả dĩ chứng minh được cho điều đó cả. Trong khi ấy, ở xã Đường-lâm, huyện Tùng-thiện tỉnh Hà-tây còn có đền thờ Phùng Hưng, có lăng Ngô Quyền là những di tích vật chất chứng tỏ quê hương hai người anh hùng dân tộc này là ở đó. Đền đó lập ra từ đời nào và do ai lập ? Tấm bia Đường-lâm dựng đời Trần (1390) mà chúng tôi đã nêu ở trên nói rõ: Ngô vương Quyền “ở ngôi 6 năm thì mất. Tự vương (vua nối dõi – có lẽ chỉ Ngô-xương-Ngập, hoặc cũng có thể chỉ Dương-tam-Kha, người đã tự lập làm vương sau khi Ngô Quyền chết – TQV) lập miếu đình để làm nơi cho bản ấp phụng thờ, tế lễ [Ngô vương Quyền]”.
5. Bia Đường-lâm có đáng tin cậy hay không ? Rất đáng tin cậy. Bia đó dựng cuối đời Trần (1390), chưa xa Ngô Quyền lắm, ít nhất là chưa xa thời Ngô Quyền bằng thời đại các nhà sử học của chúng ta ngày nay. Bia đó do những người họ Phùng, họ Ngô… là con cháu của Phùng Hưng, Ngô Quyền lập ra, văn bia nói là “trích gia phả của hai họ, tóm thuật những điều cốt yếu ghi vào bia để truyền lại lâu dài”. Nhờ vậy văn bia cho ta biết một số điều mà sử sách xưa nay chưa ghi chép. Tỉ dụ, văn bia cho biết Ngô Quyền làm tướng coi Ái-châu năm 35 tuổi, làm vua năm 41 tuổi, lấy Đường-lâm làm “thang mộc ấp”, ở ngôi 6 năm thì mất. Sử cho ta biết: Ngô Quyền lên ngôi năm 939, mất năm 944, đúng 6 năm như văn bia đã ghi. Vậy Ngô Quyền làm tướng giữ Ái-châu năm 933. Theo sử thì đầu năm 931, Dương-đình-Nghệ đã đánh tan được quân xâm lược Nam Hán, khôi phục được nền độc lập dân tộc. Ngô Quyền được Dương-đình-Nghệ tin yêu, gả con gái cho và cho trấn thủ Ái-châu là khu vực trọng yếu trong nước và là quê hương của họ Dương.Nếu theo cách tính tuổi ta thì Ngô Quyền sinh năm 899, mất năm 944, thọ 46 tuổi. Cũng nhờ tấm bia đó, ta biết chắc chắn quê hương Phùng Hưng và Ngô Quyền là ở Đường-lâm nay thuộc huyện Tùng-thiện tỉnh Hà-tây. Theo Giao châu ký thì ông cha Phùng Hưng đời đời làm quan lang. Điều đó cung cấp cho ta một sử liệu để nghiên cứu mối quan hệ giữa tộc Mường và tộc Việt và hiểu rõ hơn chế độ xã hội của nước ta vào khoảng những thế kỷ VII-VIII. Điều đáng chú ý là hiện nay người Mường còn cư trú ở vùng chân núi Ba-vì, trong huyện Tùng-thiện, cách quê hương của Phùng Hưng và Ngô Quyền không xa lắm.
Lời dẫn:
- Những phần trong {} là của người biên tập.
- Những phần trong {} là của người biên tập.
[i] Đào-duy-Anh – Đất nước Việt-nam qua các đời. Nhà XB Khoa học, Hà-nội –
1964, tr. 84.
[ii] Văn Tân Vài sai lầm về tài liệu của bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 93 tháng 12-1966, tr. 31-32.
[iii] Trong cuốn Đất nước Việt-nam qua các đời, phần nghiên cứu về phủ huyện ở nước ta thời Trần, ông Đào-duy-Anh không chép đến huyện Phúc-lộc và phủ Quốc-oai.
[iv] Dư địa chí (bản dịch) nhà xuất bản Sử học, Hà-nội, 1960, tr. 28.
[v] Đại nam nhất thống chí, Sơn-tây tỉnh.
[vi] Việt điện u linh (bản dịch) nhà xuất bản Văn hóa, Hà-nội, 1960, tr. 15.
[vii] Việt sử lược q. 1, tờ 14, 15 – Toàn thư ngoại kỷ q. 5, tờ 21, 24.
[viii] Dẫn ở Tân Đường thư q. 43, hạ.
[ix] Đất nước Việt-nam qua các đời, tr. 75.
[x] Việt sử lược q. 1, tờ 15.
[xi] Việt điện u linh, tr. 40.
[xii] Chúng tôi đã đến khảo sát tại chỗ hai thành này năm 1958 và 1967.
[xiii] Toàn thư ngoại kỷ q. 5, {tờ} 26a.
[ii] Văn Tân Vài sai lầm về tài liệu của bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 93 tháng 12-1966, tr. 31-32.
[iii] Trong cuốn Đất nước Việt-nam qua các đời, phần nghiên cứu về phủ huyện ở nước ta thời Trần, ông Đào-duy-Anh không chép đến huyện Phúc-lộc và phủ Quốc-oai.
[iv] Dư địa chí (bản dịch) nhà xuất bản Sử học, Hà-nội, 1960, tr. 28.
[v] Đại nam nhất thống chí, Sơn-tây tỉnh.
[vi] Việt điện u linh (bản dịch) nhà xuất bản Văn hóa, Hà-nội, 1960, tr. 15.
[vii] Việt sử lược q. 1, tờ 14, 15 – Toàn thư ngoại kỷ q. 5, tờ 21, 24.
[viii] Dẫn ở Tân Đường thư q. 43, hạ.
[ix] Đất nước Việt-nam qua các đời, tr. 75.
[x] Việt sử lược q. 1, tờ 15.
[xi] Việt điện u linh, tr. 40.
[xii] Chúng tôi đã đến khảo sát tại chỗ hai thành này năm 1958 và 1967.
[xiii] Toàn thư ngoại kỷ q. 5, {tờ} 26a.







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét