Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2016

Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954-1958

Con tim và lý trí của thi sĩ 
Xuân Diệu: giai đoạn 1954-1958 
Viết cùng ALEC HOLCOMBE
Đông Hiến dịch từ bản tiếng Anh: The Heart and Mind of the Poet Xuân Diệu: 1954-1958, đăng trong tạp chí Journal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010.
Trong giai đoạn 1954 - 1958, Đảng Lao động Việt Nam, sau nhiều đợt giằng co tiến thoái, đã áp đặt được sự kiểm soát trên tất cả các lĩnh vực của hoạt động thông tin văn hóa và học thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đối với nhiều nhà trí thức cách mạng, tình trạng mất tự chủ về chuyên môn là một điều thất vọng đến bất ngờ. Họ từng nghĩ rằng những cống hiến trong kháng chiến chống Pháp (Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất – 1946-1954) và kết quả thắng lợi của cuộc kháng chiến là đủ chứng minh cho sự trung thành của mình với cách mạng. Họ cảm thấy như vậy là đương nhiên sẽ có thêm không gian riêng trong lĩnh vực chuyên môn, vốn nằm trong tầm kiểm soát chặt chẽ của đảng suốt tám năm kháng chiến.[1] Nhưng giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam lại nghĩ khác. Giai đoạn bốn năm sau khi chiến tranh kết thúc là thời gian giải quyết những khác biệt về quan điểm nói trên, đồng thời đặt ra những quy định thiết yếu cho đời sống trí thức của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đa phần vẫn còn được bảo lưu cho đến tận hôm nay. Chính ở giai đoạn ngắn ngủi này, tầng lớp trí thức của chế độ đã chứng kiến những đổi thay bất ngờ, những lật lọng khó đoán, và không ít người trong số họ đã tự mình trải nghiệm những xử lý khiến số phận họ hoàn toàn thay đổi.
Câu chuyện về những người trong hàng ngũ trí thức đã phản kháng quyết liệt nhất trước sự áp đặt và kiểm soát của giới lãnh đạo đảng – gồm những nhà văn, nhà thơ, họa sĩ và học giả gắn liền với phong trào Nhân văn-Giai phẩm – là một trong những lĩnh vực được để ý nhiều nhất trong lịch sử Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[2] Phong trào được đặt tên theo hai ấn phẩm do các nhà trí thức cách mạng bất mãn xuất bản vào năm 1956 – báo Nhân văn và các tuyển tập mang tên Giai phẩm, đã thu hút được sự chú ý của giới học giả trong nhiều thập kỷ chủ yếu vì nó được đánh giá là một trong những khoảng mở hiếm hoi để tìm hiểu về mức độ đắc nhân tâm của chủ nghĩa cộng sản ở miền Bắc Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu thấy bất ngờ về mức độ đa dạng và thẳng thắn của những ý kiến và yêu cầu của năm mươi bảy nhà trí thức từng tham gia trực tiếp vào Nhân văn-Giai phẩm đã bày tỏ với chế độ Mác-xít-Lê-nin-nít và đã thu hút được sự đồng tình của số đông quần chúng.[3] Gộp chung những đề tài nghiên cứu hiện có về phong trào này, ta sẽ có được một bộ chân dung rất phong phú về những nhân vật trụ cột. Điều này được thực hiện một phần là nhờ những học giả phương Tây đã phỏng vấn được những thành viên của Nhân văn-Giai phẩm đang còn sống, sau khi các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam thi hành chính sách Đổi mới vào năm 1986.[4] Một yếu tố khác nữa là, cùng với thời gian, các học giả nghiên cứu về phong trào đã cân bằng trở lại, thoát khỏi ảnh hưởng của chính trị cực đoan thời Chiến tranh Lạnh, cũng như tư tưởng lạc quan tếu thời Đổi mới gần đây.
Tuy vậy, chân dung những trí thức nòng cốt, những người đã trợ giúp lãnh đạo đảng đàn áp, thanh lọc và trừng phạt những thành phần tham gia Nhân văn-Giai phẩm vẫn gần như giữ nguyên hình dạng đơn sắc, đơn tuyến và thậm xưng theo kiểu biếm họa so với những nghiên cứu của thời kỳ trước. Trong thực tế, nhiều nhà trí thức nòng cốt này tiếp tục có một sự nghiệp gây ảnh hưởng lớn trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thậm chí sau khi nhà nước này được hóa thân thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.[5] Thực ra, dấu ấn của những người này trên đời sống trí thức của Việt Nam còn sâu đậm hơn rất nhiều so với những nhân vật cải cách kém may mắn của phong trào Nhân văn-Giai phẩm. Bài luận này là một cố gắng giải quyết sự thiếu hụt thông tin nói trên, và chuyển hướng tiêu điểm của sự chú ý từ những ngôi sao của phong trào Nhân văn-Giai phẩm sang một trong những người bảo vệ quan điểm chính thống của đảng, đó là nhà thơ nổi tiếng, người đã cải hóa thành nhà thơ cách mạng theo chủ nghĩa Mác-Lê nin từ một quá khứ từng là thi sĩ lãng mạn vĩ đại, Xuân Diệu (1916-1985). Bản chất mối quan hệ của nhà thơ với Đảng Lao động Việt Nam là gì, và vì sao ông lại quyết định đả kích trực diện những nhà trí thức đã lên tiếng yêu cầu lãnh đạo đảng thực thi cải cách vào cuối năm 1956?
Vào những năm cuối thập niên 1950 và đầu 1960, học giả Sài Gòn Hoàng Văn Chí, một người gốc Bắc di cư và cựu thành viên của Việt Minh, lập luận rằng Xuân Diệu chỉ đơn thuần là một công chức làm việc cho Đảng Lao động Việt Nam như ông đã từng làm (nhân viên hải quan) cho Pháp thời thuộc địa.[6] Chịu ảnh hưởng của tác phẩm Giai cấp mới: Phân tích về Thế giới Cộng sản của Milovan Djilas xuất bản năm 1957, Hoàng Văn Chí cho rằng những trí thức nòng cốt như Xuân Diệu không phải là những tín đồ thật sự của chủ nghĩa Mác-Lê mà chỉ là những kẻ cơ hội chủ nghĩa có tham vọng chính trị, đàn áp Nhân văn-Giai phẩm để bảo vệ quyền lợi giai cấp của mình. Theo cách diễn giải này, Nhân văn-Giai phẩm là một phong trào yêu nước gồm những nhà trí thức đủ mọi tầng lớp đấu tranh chống lại sự “áp bức trí thức” mà giới tinh hoa văn hóa được chế độ sủng ái đang áp đặt lên họ. Hoàng Văn Chí nhìn nhận giới tinh hoa văn hóa này như một “giai cấp mới”, chung một bản chất ích kỷ và là những tay sai tận tụy của lãnh đạo đảng.[7]
Năm 1990, một học giả người Pháp, cựu đảng viên cộng sản tên là Georges Boudarel, người đã từng tham gia Việt Minh trong cuộc Chiến tranh Đông dương lần thứ nhất và sống tại Hà Nội từ năm 1954 đến tận năm 1964, xuất bản cuốn sách mở đầu cho dòng nghiên cứu về các trí thức đối kháng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhan đề Trăm Hoa Vẫn Nở Giữa Đêm Việt Nam: Chủ nghĩa Cộng sản và Bất đồng Chính kiến, 1954-1964 (Cent fleurs ecloses dán la nuit du Vietnam: communism et dissidence 1954-1964). Nếu như lập luận của Hoàng Văn Chí gần giống với của Djilas trong Giai cấp mới, thì tác phẩm của Boudarel có thể được coi như phiên bản Việt Nam của tác phẩm Cuộc Cách mạng bị phản bội của Leon Trotsky.[8] Học giả người Pháp này cho rằng các trí thức của phong trào Nhân văn-Giai phẩm chia sẻ sự tương đồng quan điểm ở chỗ cùng ghét cay ghét đắng một quan chức Văn nghệ kiểu Stalin: Tố Hữu, cùng phản đối chủ nghĩa Mao-ít, và cùng mong muốn chế độ mà họ đang phục vụ thực hiện những cam kết chính trị mang tính nhân văn (nhất là tự do ngôn luận).[9] Tuy nhiên, những vấn đề cốt lõi này, cũng như những điểm tương đồng khác như sự bất bình vì chứng kiến sự suy đồi văn hóa chính trị đang diễn ra xung quanh, và lòng căm ghét thường trực đối với chế độ Sài Gòn được Mỹ bảo trợ đã không đưa họ đến một sự thống nhất về một chương trình chính trị chung.[10] Về động cơ của Xuân Diệu khi tham gia đàn áp Nhân văn-Giai phẩm, Boudarel chỉ nêu ra một lý do là nhà thơ “thân cận với giới lãnh đạo đảng”.[11]
Ba năm sau, vào năm 1993, nhà lịch sử văn hóa Neil Jameison cũng đưa ra quan điểm riêng về vấn đề này, và lập luận trong cuốn sách Tìm hiểu Việt Nam rằng Xuân Diệu cũng như những trí thức cực tả khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có động cơ là niềm tin trung kiên vào chủ nghĩa Mác-Lê:
“Có lẽ Xuân Diệu là người nhiệt tình nhất trong số các nhà văn, nhà thơ tham gia Kháng chiến. Ông không còn bấu víu lấy cuộc đời bằng những móng tay và đối mặt với biên giới băng giá của chủ nghĩa hư vô nữa. Dưới ảnh hưởng của người bạn thân Huy Cận, Xuân Diệu đã trở thành một cảm tình viên nhiệt thành và được kết nạp Đảng vào năm 1947.[12] Sự nổi tiếng và tài thơ của ông là một đóng góp giá trị đối với Việt Minh. Để bù lại cho thành phần gia đình tư sản và quá khứ là thi sĩ lãng mạn nhất, Âu hóa nhất và riêng tư nhất trong văn giới Việt Nam, Xuân Diệu trở thành người cực đoan nhất trong giới văn nghệ cộng sản mới. Ông là người ca ngợi “Bác Hồ” và “Đảng” nhiệt tình hơn ai hết:
Mỗi lần tranh đấu gay go
Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm
Nghe lời Bác dạy khuyên răn
Chúng con ước muốn theo chân của người…
Chúng con thề nguyện một lời
Quyết tâm thành khẩn lột người từ đây.
Qua cụm từ “lột người từ đây”, Xuân Diệu muốn thể hiện chính xác, không thừa không thiếu, sự tái sinh dưới một diện mạo mới. Đây là sự thể hiện nguyện ước được “tái sinh” dưới chủ nghĩa cộng sản… Đây là lời thỉnh cầu được thay đổi bản ngã tương tự như việc cải đạo, một trải nghiệm tôn giáo, một sự lột xác hoàn toàn. Cả Lưu Trọng Lư và Xuân Diệu đã tìm được ý nghĩa mới và mục đích mới của cuộc đời, cùng thay đổi cá tính cũ của mình.[13]
Trong phần sau của cuốn sách, Jamieson lập luận rằng đối với Xuân Diệu cũng như các nhà thơ cách mạng khác, “kỷ luật của đảng cộng với tư cách thành viên trong một nhóm xã hội khép kín, có tính tổ chức cao đã khiến họ trút bỏ được gánh nặng của chủ nghĩa cá nhân và cho họ một diện mạo mới đắc ý hơn.”[14] Chính vì lý do đó, Jamieson cho rằng quyết định của Xuân Diệu tham gia ném đá Nhân văn-Giai phẩm xuất phát từ lòng tin cuồng nhiệt vào lý tưởng chung theo thuyết giáo của Đảng Lao động Việt Nam. Trong số các nghiên cứu về Xuân Diệu, ý kiến của Jamieson gần nhất với quan điểm chính thống, hiện vẫn được phổ biến ở trong nước khi đánh giá về nhà thơ.
Nghiên cứu mới nhất về Nhân văn-Giai phẩm của Kim Ninh (2002) và Heinz Schutte (2003) cũng có vẻ đồng điệu với quan điểm của Jamieson, coi Xuân Diệu như một tín đồ thực thụ của chủ nghĩa Mác-Lê trong khi các thành viên của Nhân văn-Giai phẩm có tính cách phức tạp, xuất phát từ sự đa dạng về cá tính, nghề nghiệp và lập trường chính trị. Schutte, trong bài nghiên cứu quan trọng về Nhân văn-Giai phẩm dưới lăng kính của Đại Sứ quán Đông Đức tại Hà Nội, đã viết như sau:
“Những đại diện của (phong trào) Thơ mới của những năm đầu thập kỷ 40 như Huy Cận (sinh năm 1920) và Xuân Diệu (1916-1985) – bị mất cảm hứng lãng mạn, phải chịu đựng sự đau khổ khi phải rời bỏ chủ nghĩa cá nhân, đã được Đảng, Việt Minh và cách mạng tái sinh, nên đã hòa nhập hoàn toàn vào tập thể cách mạng. Nhưng không phải trí thức Việt Namnào cũng vậy. [Những thành viên phong trào Nhân văn-Giai phẩm như] nhà thơ Hoàng Cầm (sinh 1922), Trần Dần (1924-1927), và Lê Đạt (sinh 1929) và các học giả như Phan Khôi (1887-1959), Đào Duy Anh (1904-1988) và Trần Đức Thảo (1917-1993) chưa từng biến mình thành “những cái máy chỉ biết phục tùng” của đảng, được nhồi sọ, và tiếp thu một chiều, không phản biện với những khẩu hiệu thích hợp.”[15]
Như vậy, theo Schutte, Xuân Diệu đã “hòa nhập hoàn toàn” vào phong trào cách mạng, để trở thành (chúng ta có thể suy luận) một “cái máy chỉ biết phục tùng của đảng”, không phản biện suy tư về tư tưởng Mác-Lê của Đảng Lao động Việt Nam.
Chúng tôi cố gắng nêu ra qua bài luận này rằng Xuân Diệu, khi được nghiên cứu với phương pháp từng chỉ được dành riêng cho các thành viên của Nhân văn-Giai phẩm, sẽ không còn là hình ảnh một chiều, đơn tuyến như giới học giả thường mô tả ông. Thực chất, ông cũng có nhiều điểm giống với các thành viên của phong trào Nhân văn-Giai phẩm mà ông từng giúp đảng đàn áp. Trước hết, cũng như các tác giả nổi tiếng nhất của Nhân văn-Giai phẩm như Trần Dần, Lê Đạt và Hoàng Cầm, ông cũng gặp rắc rối với giới lãnh đạo đảng về các vấn đề liên quan đến đời sống tình cảm của mình.[16] Tuy nhiên, trong trường hợp của Xuân Diệu, vấn đề không phải là thành phần giai cấp của người bạn tình mình chọn, mà ở chỗ ông có nhiều bạn tình, tất cả đều là đàn ông. Điểm thứ hai, và cũng là một trong những điều trớ trêu đáng ghi nhớ nhất của giai đoạn này, Xuân Diệu chính là người, với vai trò thư ký toàn soạn của ấn phẩm văn hóa quan trọng nhất của đảng, báo Văn nghệ, đã xuất bản những bài viết đầu tiên của Hoàng Cầm và Lê Đạt trong nỗ lực xoay chuyển nền văn chương của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[17] Vào tháng Năm năm 1955, những nhà văn trẻ có can đảm phê bình ngay cả nhân vật quyền lực nhất trong văn giới, Tố Hữu, có thể đã coi Xuân Diệu như một đồng minh. Điểm thứ ba là, đối với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa luôn gây tranh cãi, Xuân Diệu công khai ca ngợi dòng văn học này và lớn tiếng chê bai những tác phẩm lãng mạn cũ của mình, những sáng tác đã làm cho ông trở nên nổi tiếng. Nhưng chỉ cần nghiên cứu sơ qua về những sáng tác cách mạng của Xuân Diệu, ta cũng có thể nhận thấy những động thái cố gắng khai thác lại những đề tài và tiểu tiết từ các tác phẩm lãng mạn của ông. Trên thực tế, ta có thể thấy Xuân Diệu lưỡng lự không kém gì những thành viên của Nhân văn-Giai phẩm khi cân nhắc giá trị nghệ thuật của các tác phẩm trước và sau cách mạng.
Để đánh giá lại quan điểm chung đã được đa số tán thành, coi Xuân Diệu như một kẻ cuồng tín về tư tưởng cách mạng, có thể xem những lời bàn khá căng thẳng về sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu xuất hiện trong các tờ báo nhà nước và tư nhân hồi năm 1956, qua đó ta thấy nhiều đồng nghiệp đương thời đánh giá những lập ngôn lạc quan của nhà thơ, tuyên ngôn rằng mình đã chuyển hóa hoàn toàn từ chủ nghĩa lãng mạn cá nhân sang chủ nghĩa tập thể Mác-Lê, là thiếu thuyết phục. Một nhà trí thức phê bình Xuân Diệu có “bệnh khoái cảm” – khoái cảm bệnh hoạn khi tả về bạo lực chiến tranh trong thơ cách mạng, ngầm ám chỉ rằng cảm hứng sáng tác của Xuân Diệu không phải bắt nguồn từ lý tưởng cách mạng của chế độ.[18] Ba nhà trí thức khác viết bài bật mí những thông tin tai tiếng về âm mưu lũng đoạn tổ chức đảng từ hậu trường để mưu lợi riêng của nhà thơ, có ý chê Xuân Diệu là một cán bộ thoái hóa, vẫn giữ nguyên thói ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa như mọi người vẫn đánh giá trước khi nhà thơ tham gia cách mạng.[19] 
Vì sao sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu lại gây nhiều tranh cãi đến vậy trong giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và rốt cuộc, thái độ thực của nhà thơ đối với hệ tư tưởng của chế độ là như thế nào?
Giai đoạn tiền cách mạng của Xuân Diệu
Một yếu tố quan trọng quyết định vị thế tương quan giữa cá nhân Xuân Diệu và Đảng Lao động Việt Nam là sự nghiệp sáng tác trước cách mạng của nhà thơ. Sinh năm 1916, ông sống với mẹ đẻ (là vợ hai của cha ông) suốt những năm tháng thơ ấu ngay tại làng quê của bà gần kề thành phố cảng Quy Nhơn. Năm ông 11 tuổi, cha ông (lúc đó đang dạy học) và người vợ cả của ông quyết định đã đến lúc cậu bé Xuân Diệu phải xa người mẹ đẻ, đến sống chung với họ tại thành phố Quy Nhơn để bắt đầu theo học ở một trường tiểu học gần nhà. Sau đó, ông học tiếp lên các cấp cao hơn và giành được văn bằng của hai trường thuộc địa danh tiếng nhất, là trường Lyceé du Protectorat (thường gọi là trường Bưởi) và trường Quốc học Huế.[20] Năm ông 19 tuổi, tức là vào năm 1936, Xuân Diệu bắt đầu có thơ đăng trên các tờ báo có liên quan mật thiết với nhóm Tự lực Văn đoàn và Phong trào Thơ mới – cả hai đều chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn Pháp và chủ nghĩa cá nhân Tây Âu. Sự nghiệp của ông lên nhanh, và chẳng mấy chốc Xuân Diệu trở thành một trong những tác giả quan trọng (nếu không muốn nói là quan trọng nhất) của Phong trào Thơ mới. Tiếng tăm của Xuân Diệu cũng nổi nhanh như sức lan tỏa của Thơ mới trong công chúng. Năm 1942, nhà phê bình văn học giai đoạn tiền chiến nổi tiếng Hoài Thanh đã mô tả về nhà thơ trẻ Xuân Diệu trong tác phẩm có nhiều ảnh hưởng của mình về các nhà thơ hiện đại Việt Nam, Thi nhân Việt Nam: 1932-1941 như sau:
“Bây giờ khó mà nói dược cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa chúng ta một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta cũng quen dần, vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng. Ngày một ngày hai cơ hồ ta không còn để ý đến những lối dùng chữ đặt câu quá Tây của Xuân Diệu, ta quên cả những ý tứ người đã mượn trong thơ Pháp. Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam, đã quyến rũ ta.”[21]
Hai tập thơ đầu tay của Xuân Diệu, Thơ thơ (1938) và Gửi hương cho gió (1945) được người đương thời cho là kiệt tác. Các nhà phê bình nhận thấy trong thơ ông sự cảm nhận sâu sắc về tính phù du của thời gian và sự mong manh của cuộc sống, và cả hai điều này đều làm gia tăng lòng khát khao tuổi trẻ, mùa xuân và tình yêu toát ra từ những câu thơ của Xuân Diệu.[22] Danh tiếng của Xuân Diệu khiến ông trở thành một đối tượng vô giá đối với các lãnh đạo cộng sản, những người sau này sẽ thường xuyên yêu cầu ông trấn an dư luận về chính sách văn hóa.
Ở Việt Nam, các nhà phê bình văn chương đã phong Xuân Diệu là ông hoàng thơ tình, và trong những năm gần đây, họ còn bắt đầu công khai thừa nhận rằng các bài thơ tình của ông được lấy cảm hứng chủ yếu từ các mối tình đồng tính của nhà thơ.[23] Ngoại trừ bài báo của Nguyễn Quốc Vinh về biến thái trong văn chương Việt Nam thời thuộc địa, cho tới nay các học giả phương Tây thường tránh đề cập trực tiếp về xu hướng luyến ái đồng tính của Xuân Diệu.[24]Hiển nhiên là họ không muốn khai thác khía cạnh đời tư này của nhà thơ, nhưng mặt khác lại muốn thể hiện là mình có biết về điều đó, nhất là với các độc giả có kiến thức, nên các nhà nghiên cứu thường chọn cách giải quyết vấn đề như Kim Ninh đã áp dụng trong cuốn sách xuất bản năm 2002 về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của mình, Một thế giới đã hoán cải. Bà viết, “Xuân Diệu, một ngôi sao sáng trong Phong trào Thơ mới, có thể dẫn Verlaine và Rimbaud một cách thoải mái, cảm thấy gần gũi với những nhà thơ Pháp hiện đại này không kém gì các nhà thơ trẻ cùng thời ở Paris”.[25] Những người quen thuộc với văn thơ lãng mạn Việt Nam có thể nhận ra ngay lập tức rằng tác giả đang muốn liên hệ đến một bài thơ của Xuân Diệu trong đó đồng tính luyến ái được thể hiện trực tiếp nhất, bài “Tình trai”, ca ngợi mối tình cháy bỏng giữa hai nhà thơ thuộc trường phái Tượng trưng Pháp, Paul Verlain và Arthur Rimbaud:
Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine,
Hai chàng thi sĩ choáng hơi men,
Say thơ xa lạ, mê tình bạn,
Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen.
Những bước song song xéo dặm trường
Đôi hồn tươi đậm ngát hoa hương,
Họ đi, tay yếu trong tay mạnh,
Nghe hát ân tình giữa gió sương.
Kể chi chuyện trước với ngày sau;
Quên ngó môi son với áo màu;
Thây kệ thiên đường và địa ngục!
Không hề mặc cả, họ yêu nhau.
Khi các lãnh đạo đảng kết nạp Xuân Diệu vào tổ chức công khai Việt Minh, họ đã tiếp nhận một thanh niên đầy tài năng và sức thu hút, đồng thời có lẽ cũng là nhân vật nổi tiếng có biểu hiện đồng tính lộ nhất ở Việt Nam tính đến thời điểm đó. Dù so ra vẫn là quá kín đáo theo tiêu chuẩn hiện tại, những bài thơ tiền chiến của Xuân Diệu có hàm chứa đề tài đồng tính, và rõ ràng là xu hướng đồng tính luyến ái của Xuân Diệu không những là một nguồn cảm hứng quan trọng đối với thơ ông, mà còn là một phần bản ngã của nhà thơ. Nhưng đương nhiên Đảng Lao động Việt Namkhông hề khuyến khích tự do luyến ái, đừng nói tới chuyện luyến ái đồng tính. Để hai bên có thể hợp tác với nhau được, cần phải có một số điều nhân nhượng.
Giai đoạn mới tham gia cách mạng
Thời điểm đầu tiên Xuân Diệu va chạm với chủ nghĩa cộng sản có thể tính vào tháng Sáu năm 1942, khi tổng thư ký Đảng Cộng sản Đông Dương, Trường Chinh sáng tác bài thơ “Là thi sĩ” đề tặng tất cả các nhà thơ Việt Nam, có những dòng như sau:
Nếu “thi sĩ là ru với gió,
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”
Nếu thi sĩ nghĩa là đem gấm vóc
Phủ lên trên xã hội đã điêu tàn,
Véo von ca cho át tiếng kêu than
Của nhân loại cần lao đang giãy giụa
Thì bạn hỡi, một nhà thơ như rứa
Là tai ương chướng họa của nhân quần,[26]
Được sáng tác trong lòng thành phố Hà Nội đang bị Nhật tạm chiếm, bài thơ của Trường Chinh kêu gọi các văn nghệ sĩ, bất kể theo hệ tư tưởng hay trường phái nào, hãy trút bỏ những mối quan tâm cá nhân và tiếp nhận sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đúng ra, Trường Chinh đã dẫn hai câu đầu tiên từ bài thơ “Cảm xúc” của Xuân Diệu viết năm 1938 để làm lời mở đầu cho bài “Là thi sĩ” của mình, dường như chính nhà thơ lãng mạn nổi tiếng đã tạo cảm hứng chủ đạo cho sáng tác của ông tổng bí thư.[27] Hai năm sau, vào năm 1944, Xuân Diệu bắt đầu mang văn tài của mình ra phục vụ cho Việt Minh – tổ chức công khai của Đảng Cộng sản Đông dương.[28]  Đối với nhà thơ, cũng như một số trí thức khác đã nổi tiếng từ thời trước cách mạng, điều đó có nghĩa là làm việc trong Hội Văn hóa Cứu quốc và tờ báo văn hóa cách mạng Tiên Phong, được xuất bản ở Hà Nội trong thời kỳ Việt Minh nắm chính quyền, từ năm 1945 đến 1946. Với uy tín khá cao của Xuân Diệu, vừa là thi sĩ lãng mạn vừa có kinh nghiệm làm việc với tờ báo được coi là hàng đầu trong giai đoạn tiền cách mạng của nhóm Tự lực Văn đoàn, tờ Ngày Nay, việc ông được chọn làm thư ký tòa soạn (tên gọi cũ cho vị trí tổng biên tập) không làm ai ngạc nhiên. Tới cuối năm 1945, ông còn được chọn lựa để ra tranh cử vị trí đại biểu tỉnh Hải Dương trong kỳ bầu cử sắp tới của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng năm 1946). Đương nhiên, ông – cũng như những ứng cử viên được đảng chọn khác, đã đắc cử trong kỳ bầu cử tại tỉnh và trở thành thành viên Quốc hội mới của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[29] Vào tháng Năm năm đó, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng mời Xuân Diệu và một vài đại biểu Quốc hội khác cùng đi trong đoàn ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tới Fontainebleau để hội đàm với Pháp
Khi những đoàn quân và xe tăng Pháp trở lại Hà Nội vào cuối năm 1946 để tái thiết chế độ thực dân ở Đông Dương, các thành viên Việt Minh đang làm việc ở thành phố phải tản cư ra vùng nông thôn. Đa số cán bộ Việt Minh tản ra ba hướng Bắc, Tây và Nam của đồng bằng sông Hồng để tránh hướng tấn công của Pháp từ Hải Phòng vào phía Đông Hà Nội. Đợt tiến công sau đó của quân Pháp cắt ngang Hà Nội, tiến về hướng Tây đã khiến Xuân Diệu và các trí thức khác (một số cùng đi với cả gia đình) phải liên tục di chuyển trong sáu tháng đầu của cuộc chiến. Tới giữa năm 1947, cuối cùng Xuân Diệu và văn hữu đã tìm được nơi sơ tán ở một ngôi làng nhỏ có tên là Gia Điền ở cực bắc tỉnh Phú Thọ. Ẩn giữa những dãy đồi có nhiều cây cối rậm rạp, làng Gia Điền là nơi trú ẩn lý tưởng và không bao lâu sau được chọn làm trụ sở cơ quan văn học kháng chiến.[30]
Tháng Ba năm 1948, Xuân Diệu cùng với các nhà văn khác ở Gia Điền bắt đầu xuất bản tạp chí văn hóa mới lấy tên là Văn Nghệ. Thực chất tạp chí này chỉ là sự tiếp nối, cộng với sự thể hiện tư tưởng Mác-Lê công khai hơn so với tờ Tiên Phong đang xuất bản ở Hà Nội trước khi Pháp quay lại. Bốn tháng sau, tức là tháng Bảy năm 1948, Xuân Diệu cùng với vài chục nhà trí thức cách mạng khác tham dự hai hội nghị quan trọng tổ chức tại Phú Thọ. Hội nghị thứ nhất là Hội nghị Văn hóa Toàn quốc lần thứ hai (từ ngày 16 đến ngày 20 tháng Bảy năm 1948), với việc thành lập Hội Văn hóa Việt Nam, nhưng sự kiện nổi tiếng nhất phải là bài diễn văn tại hội nghị này của Trường Chinh với nhan đề “Chủ nghĩa Mác và vấn đề Văn hóa Việt Nam”. Trong suốt bốn thập niên sau đó, lãnh đạo đảng luôn đề cao tác dụng của bài diễn văn này như một định hướng lý thuyết cho tất cả những người làm văn hóa. Ngày 23 tháng Bảy năm 1948, ba ngày sau khi kết thúc Đại hội Văn hóa Toàn quốc lần II, một hội nghị nhỏ hơn – Hội nghị Văn nghệ Toàn quốc, được tổ chức, dẫn đến sự ra đời của Hội Văn nghệ Việt Nam. Nhà thơ trẻ Xuân Diệu, lúc đó mới 32 tuổi, chắc rất hài lòng khi được chọn vào cơ quan điều hành quyền lực nhất của Hội, giữ ghế thành viên Ban thường vụ chỉ gồm năm người.[31]
Năm sau, tức là năm 1949, lãnh đạo đảng quyết định dời trụ sở cơ quan văn hóa về huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ngay gần an toàn khu của Trung ương Đảng đang đóng tại Định Hóa. Huyện Đại Từ – chỉ cách chỗ ở của các nhà lãnh đạo như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp vài cây số về phía Nam, là nơi Xuân Diệu sinh sống trong suốt 5 năm cuối của cuộc kháng chiến. Ngày 5 tháng Mười một năm 1949, Hồ Chí Minh ký văn bản thông báo rằng tình hình mới – nhất là thắng lợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc – cho phép thành lập một đơn vị hành chính mới, trải rộng từ các tỉnh phía Bắc Hà Nội lên tới biên giới Trung Quốc. Vùng này sẽ được gọi là “Liên khu Việt Bắc”. Với trụ sở trung ương đảng đóng tại Thái Nguyên, đảm bảo đường kết nối với Trung Quốc – nguồn tiếp liệu chiến tranh chủ yếu của Việt Minh, Việt Bắc thực sự là đầu não của cuộc kháng chiến.[32]
Xuân Diệu được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam năm 1949, khi ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến của Việt Minh đang tăng cao.[33] Mối quan hệ này, cộng với sự kiện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức công nhận về ngoại giao có vẻ đã khiến Hồ Chí Minh và các lãnh đạo cao nhất của Đảng Lao động Việt Nam mạnh dạn hơn và công khai thừa nhận tư tưởng Mác-Lê là nền tảng của đường lối lãnh đạo cách mạng. Kết quả của sự chuyển hướng này là việc áp dụng biện pháp chỉnh huấn của Liên Xô và Mao, một kỹ thuật cải tạo tư tưởng sử dụng “phê bình và tự phê bình” để chuẩn bị tinh thần cho cán bộ chính trị và chiến sĩ trước những nhiệm vụ cách mạng khó khăn.
Chính trong hai tối chỉnh huấn vào năm 1952, Xuân Diệu đã phải trả giá cho thói lang chạ đồng tính của mình và mất chiếc ghế ủy viên Ban Thường vụ Hội Văn nghệ. Nhà văn cách mạng Tô Hoài, một người tình của Xuân Diệu trong nhiều năm, hồi tưởng lại những buổi tối đó như sau:
“Xuân Diệu chỉ ngồi khóc. Chẳng biết Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Trọng Hứa, Nguyễn Văn Mãi, cả lão Hiến, thằng Nghiêm Bình, những thằng Đại, thằng Đắc, Tô Sang và mấy thằng nữa, có ai ngủ với Xuân Diệu không, tất nhiên không ai nói ra. Tôi cũng câm như hến. Lúc rồ lên, trong đêm tối quyết rũ, mình cũng điên kia mà, chứ có phải một mình Xuân Diệu đâu. Không nói cụ thể việc ấy, nhưng ai cũng to tiếng, to tiếng gay gắt, nghiêm trang phê phán “tư tưởng tư sản, tư tưởng tư sản xấu xa phải chừa đi.” Xuân Diệu nức nở nói đấy là tình trai của tôi… tình trai…” rồi nghẹn lời, nước mắt ứa ra, không hứa hẹn sửa chữa gì cả.”[34]
Theo Tô Hoài, sau khi Xuân Diệu bị truất ghế ủy viên Ban Thường vụ Hội Văn nghệ, “bỗng dưng, Xuân Diệu thành một người có thì giờ chỉ chuyên đi và viết.[35]
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng Năm năm 1954, tiếp theo là Hiệp định Geneva được ký kết hai tháng sau đó, chính xác là ngày 21 tháng Bảy năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc. Đối với Xuân Diệu và các văn nghệ sĩ Việt Minh khác, cùng với hầu hết các nhà lãnh đạo cách mạng ở Liên khu Việt Bắc, đã đến lúc rời chiến khu để trở về Hà Nội trong vai người chiến thắng, – nhưng phải xuất bản nốt số cuối của tờ Văn nghệ đã. Trong số tháng Mười này, Xuân Diệu đăng một lá thư gửi tất cả những nhà văn đã quyết định ở lại Hà Nội trong thời gian Pháp tạm chiếm. Lá thư thể hiện phong cách bút chiến đại ngôn lên gân mà Xuân Diệu thường sử dụng (phong cách này rõ ràng đã góp phần tạo cho Xuân Diệu được tiếng là người có lập trường tư tưởng vững vàng):
“Có những người vì hoàn cảnh nào đó mà làm cho địch, tiếng hát đã bán cho đài phát thanh địch, mà tâm hồn chảy máu không thôi. Muốn vùi đầu quên thân trong son phấn trăng hoa rượu tiệc, mà khuya về, tiếng nói của lương tâm, tiếng nói của văn nghệ chân chính không để cho mình nhắm mắt. Ta có phải là ta nữa không? Sao cổ họng, ngòi bút, tài năng của ta lại làm đồ dùng cho chiến tranh và xâm lược? Những người đau khổ ấy vẫn là bạn, vì tâm hồn văn nghệ vẫn sống dưới đáy lòng.”[36]
Dù văn nghệ sĩ Việt Nam bị chia cách bởi chiến tranh, và trong nhiều trường hợp, bởi quan điểm chính trị trái ngược, nhưng tình cảm đồng nghiệp giữa họ với nhau, có vẻ vẫn được duy trì, tuy có bị phai mòn. Nói cách khác, những người đã từng làm việc cho Pháp hay chỉ đơn thuần đã không làm gì để ủng hộ Việt Minh trong cuộc chiến cũng có thể tìm được cuộc sống mới dưới chế độ cộng sản. Tuy nhiên, đi cùng với vòng nguyệt quế mừng chiến thắng là những yêu cầu và điều kiện, mà Xuân Diệu đã giải thích với giọng thuyết giảng hùng biện đặc trưng:
“Văn nghệ đã căm thù quyết liệt cái thòng lọng đế quốc hung tàn. Quyết không một nét vẽ, một câu thơ, một bài văn, một tiếng đàn, một giọng hát, một màn kịch, một điệu múa nào cho địch! Quyết không bao giờ đem bông hoa sáng tạo vứt xuống bùn nhơ! Quyết không để cho cái tinh anh của con người mập mờ với xâm lăng và ngu tối! Mà trái lại, từ đây hơn bao giờ hết rạch ròi ranh giới, vạch rõ trắng đen giữa tà và chính, giữa giả và chân, giữa địch và TA! Đó là vấn đề sống chết của những con người văn nghệ.”[37]
Để ghi nhận những cống hiến của Xuân Diệu với cách mạng trong tám năm kháng chiến, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam đã cấp cho ông và người bạn suốt đời của ông, Huy Cận, một nhà thơ nổi tiếng đồng thời là quan chức văn hóa cao cấp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một căn biệt thự Pháp rộng rãi trên phố Cột Cờ (nay là đường Điện Biên Phủ). Bất động sản cao cấp này có thể được coi như một tín hiệu của giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam rằng mọi nhu cầu vật chất của Xuân Diệu sẽ được quan tâm thỏa đáng nếu ông tiếp tục phục vụ sự nghiệp của họ một cách trung thành. Về nhu cầu tình cảm và sinh lý của nhà thơ, lãnh đạo đảng cũng cố gắng tạo điều kiện. Dù có quan điểm khắt khe và bảo thủ về hôn nhân và tình dục, họ cũng sẵn lòng làm ngơ cho trường hợp của Xuân Diệu, cho phép ông được sống chung một nhà với Huy Cận. Nhưng có lẽ đáng ghi nhận hơn là việc cả hai nhà thơ đều sống chung nhà với bà Ngô Xuân Như, người em gái cùng cha khác mẹ với Xuân Diệu và là vợ của Huy Cận. Cuộc hôn nhân của họ cho ra đời một người con trai vào năm 1957 và chỉ kéo dài thêm vài năm sau đó, rồi hai người chia tay. Huy Cận tái hôn năm 1964 và có thêm ba người con.[38]
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp sắp kết thúc, Xuân Diệu cũng đã thu xếp cho mẹ đẻ mình, lúc này đã già yếu, từ Quy Nhơn ra Hà Nội để tiện chăm sóc. Em trai nhà thơ, ông Ngô Xuân Huy, quyết định ở lại miền Nam, nơi ông hưởng một cuộc sống lặng lẽ với nghề viết văn độc lập dưới bút danh Tịnh Hà không mấy nổi tiếng.[39]
Trong kế hoạch tiếp quản Hà Nội, lãnh đạo đảng quyết định chuyển đổi tờ Văn Nghệ từ một nguyệt san có phần thô sơ về hình thức phát hành ở chiến khu, thành một tờ bán nguyệt san quy mô hơn – có thể sánh với các ấn bản văn hóa, trí thức của Hà Nội thời Pháp tạm chiếm. Một thay đổi nữa là ban điều hành tờ báo. Sau bốn năm để trống chức vụ thư ký toàn soạn chính thức của tờ báo, các lãnh đạo văn hóa của chế độ mới quyết định phục hồi vị trí này. Tương tự như trường hợp của tạp chí cách mạng xuất bản tại Hà Nội trước đây, tờ Tiên Phong (1945-1946), chức vụ này rơi vào tay Xuân Diệu. Có thể họ đã tính toán rằng, những nhà trí thức không theo cách mạng, nhiều người trong số đó đang cân nhắc xem có nên di cư vào Nam không, sẽ thấy yên tâm hơn khi tên tuổi nhà thơ lãng mạn nổi tiếng xuất hiện trên bìa ấn phẩm văn hóa quan trọng nhất của chế độ mới. (Trên thực tế, tên Xuân Diệu được in với cỡ chữ to gấp đôi tên các thành viên khác trong ban biên tập). Dù với lý do gì đi nữa, việc được bổ nhiệm vào vị trí thư ký tòa soạn tờ Văn Nghệ vào thời điểm bản lề hẳn có tác dụng như một thông điệp bảo đảm với nhà thơ rằng, dù gặp rắc rối vì quan hệ đồng tính luyến ái hai năm trước đó, tài năng và uy tín của ông trong lĩnh vực văn hóa vẫn được đánh giá cao trong chế độ mới mà nhà thơ đang phụng sự.
[1] Đảng Cộng sản Đông Dương (1931-1945) là tiền thân của Đảng Lao động Việt Nam (1951-1975) và Đảng Cộng sản Việt Nam (1976-nay).
[2] Mạc Đình, Tâm trạng của giới Văn nghệ ở miền Bắc (Sài gòn, 1956 – không rõ tên nhà xuất bản); P.J. Honey “The Revolt of the Intellectuals in North Vietnam” (Cuộc nổi dậy của các trí thức miền Bắc), The World Today 13, No.6 (June 1957): 250-260; Hoa Mai, biên tập, The “Nhân Văn” Affair [Vụ Nhân Văn] (Sài Gòn: The Vietnam Chapter of the Asian People’s Anti-Communist League, 1958); Hoàng Văn Chí, The New Class in North Vietnam [Giai cấp mới ở miền Bắc Việt Nam] (Sài Gòn: Công Dân, 1958); Trăm hoa đua nở trên đất Bắc (Sài Gòn: Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn hóa, 1959); Như Phong “Intellectuals, Writers, and Artists,” (Trí thức, Văn sĩ và Nghệ sĩ) China Quarterly, no.9 (Jan-March 1962): 47-69; Hoàng Văn Chí, From Colonialism to Communism [Từ thực dân đến cộng sản] (London, Pall Mall Press, 1964; Hirohide Kurihara, “Changes in the Literary Policy of the Vietnamese Workers Party, 1956-1958” (Những thay đổi trong chính sách văn học của Đảng Lao động Việt Nam, 1956-1958) trongIndochina in the 1940s and 1950s, eds. Takashi Shiraishi and Motoo Furata (Ithaca, NY: Sotheast Asia Program Cornell University, 1992), (Nguyên bản tiếng Nhật của bài luận của Kurihara được đăng trên Journal of Asian and African Studies, 1988); Georges Boudarel, Cent fleurs ecloses dans la nuit du Vietnam: Communism et dissidence 1954-1956 [Trăm hoa vẫn nở trong đêm Việt Nam: Chủ nghĩa cộng sản và bất đồng chính kiến 1954-1956] (Paris: Editions Jacques Bertoin, 1991); Georges Boudarel “Intellectual Dissidence in the 1950s: The Nhan van-Giai pham Affair” [Trí thức bất đồng chính kiến trong thập niên 1950: Vụ Nhân văn-Giai phẩm], Phi Linh Baneth lược dịch từ tiếng Pháp, Vietnam Forum 13 (1990): 154-174; Kim Ninh, A World Transformed: The Politics of Culture in Revolutionary Vietnam [Một thế giới đã hoán cải:
Chính trị hóa văn hóa và cách mạng Việt Nam] (Ann Arbor: University of Michigan Press, 2002), chương 4 (Trí thức bất đồng chính kiến: Thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm); Nguyễn Ngọc Tuấn, “Socialist Realism in Vietnamese Literature: An Analysis of the Relationship between Literature and Politics” [Phương pháp Hiện thực xã hội chủ nghĩa trong Văn học Việt Nam: Phân tích mối quan hệ giữa Văn học và Chính trị] (luận án tiến sĩ, Trường Đại Học Victoria, 2004) chương 6 (Vụ Nhân Văn Giai Phẩm: Khủng hoảng giữa thời bình); Shawn McHale, “Vietnamese Maxism, Dissent, and the Politics of Postcolonial Memory: Tran Duc Thao, 1946-2003” (Chủ nghĩa Mác, Bất đồng chính kiến và Chính trị của Ký ức hậu thuộc địa ở Việt Nam: Trần Đức Thảo, 1946-2003), Journal of Asian Studies 61, no.1 (Feb, 2002): 7-31; Heinz Schutte, “Hundred Flowers in Vietnam, 1955-1957” (Trăm Hoa trên đất Việt, 1955-1957), bài trình bày tại hội thảo thường niên Hội Nghiên cứu Châu Á, New York, 28/3/2003; Nguyễn Võ Thu Hương, The Ironies of Freedom: Sex, Culture and Neoliberal Governance in Vietnam [Nghịch lý của tự do: Tình dục, văn hóa và cách quản lý tân tự do ở Việt Nam] (Seattle: University of Washington Press, 2008), chương 7 (Từ tinh thần bất phục đến người đàn bà quỳ).
[3] Boudarel, “Intellectual Dissidence”, 172.
[4] Bà Thụy Khuê, trí thức người Pháp gốc Việt đáng được ghi nhận đặc biệt vì đã thực hiện rất nhiều cuộc phỏng vấn với các nhân vật Nhân văn-Giai phẩm trong chương trình Văn học Nghệ thuật của đài RFI.
[5] Xuân Diệu, Huy Cận, Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi, Như Phong, Nguyễn Công Hoan, Hoài Thanh, Tú Mỡ, Hồng Chương, và những người khác.
[6] Hoàng Văn Chí, Trăm Hoa, 148.
[7] Mạc Đình, Trăm Hoa, 12-13. Hoàng Văn Chí, From Colonialism to Communism, 230-231.
[8] Tất nhiên là sự so sánh này cũng có chỗ khập khiễng. Vào năm 1990, khi Boudarel viết cuốn sách này, ông đã có thành kiến với chủ nghĩa cộng sản trong khi Trotsky vào năm 1936 viết ở góc độ một tín đồ chân thực.
[9] Về thái độ cùng căm ghét Tố Hữu, xem Boudarel, Cent fleurs, 245. Về thái độ thù nghịch chủ nghĩa Mao-ít và sự mong muốn chế độ thực hiện những cam kết đã hứa, xem Boudarel “Intellectual Dissidence in the 1950s”, lần lượt ở các trang 154 và 164.
[10] Boudarel, Cent fleurs, 245.
[11] Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s”, 164-165. Trong Cent fleurs tác giả viết: “Xuân Diệu, cùng với người bạn chí thiết Huy Cận, có quan hệ rất tốt với Tố Hữu và những người phụ trách văn hóa của đảng – chỉ trích một người là động đến tất cả những người khác (trong bọn họ)”: 235.
[12] Hồ sơ về Xuân Diệu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III ghi ông gia nhập đảng năm 1949.
[13] Neil Jamieson, Understanding Vietnam (Berkeley and Los Angeles: University of California Press, 1993), 208-209.
[14] Sđd., 269.
[15] Schutte, “Hundred Flowers in Vietnam”, 6.
[16] Cả Trần Dần và Hoàng Cầm đều yêu những người phụ nữ Hà Nội mà theo quan điểm của đảng là xuất thân từ giai cấp bóc lột. Xem Kim Ninh, A World Transformed, 123-133. Chuyện tình của Lê Đạt được ít người biết đến hơn. Khi tham gia cải cách ruộng đất năm 1953, ông cưới một phụ nữ thuộc tầng lớp bần nông, rồi chẳng bao lâu sau bỏ bà để lấy một nữ diễn viên trẻ, việc này ảnh hưởng rất lớn đến uy tín chính trị của ông.
[17] Trong tiếng Việt, văn nghệ là từ được ghép từ hai từ “văn học” và “nghệ thuật”. Nhưng cụm từ “văn nghệ” cũng có thể được hiểu theo nghĩa “văn hóa” – ví dụ như sáng tạo (hoặc quản lý) văn hóa/văn nghệ.
[18] Huy Phương, “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu”, Văn nghệ, số 126, 21-28/6/1956.
[19] Phan Khôi, “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, Giai phẩm Mùa thu tập 1, tháng 8/1956; Trần Công, “Chống bè phái trong văn nghệ”, Nhân Văn, sối 1, 20/9/1956; Nguyễn Bính, “Về giải thưởng văn học 1954-1955”, Trăm Hoa, số 1, tháng 10/1956.
[20] Dưới chính quyền Trần Trọng Kim năm 1945, tên Trường Bưởi Hà nội chính thức được đổi thành Trường Chu Văn An, và được giữ nguyên đến nay. Trường Quốc học Huế đã qua vài lần đổi tên. Khi người Pháp thành lập trường vào năm 1896, tên chính thức của trường là École primaire superieur, nhưng người Việt thường gọi là Trường Quốc học. Năm 1936, trường đổi tên thành Trường Trung học Khải Định. Năm 1955, lại đổi thành Trường Trung học Ngô Đình Diệm. Năm 1957, trường được trả lại tên cũ Quốc học, và được giữ nguyên đến nay. Như rất nhiều người đã biết, nhiều nhân vật chính trị quan trọng đã học qua hai trường này. Điểm qua danh sách cựu học sinh trường Bưởi có Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Cơ Thạch, Trần Đức Thảo, Dương Trung Quốc, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đình Thi, Đặng Thùy Trâm, Hoàng Ngọc Phách, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Khắc Viện, và nhiều người khác. Ở trường Quốc học Huế, có Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Lưu Trọng Lư, Huy Cận và Xuân Diệu. Chính trường Quốc học Huế là nơi Xuân Diệu gặp người tình suốt đời Huy Cận.
[21] Hoài Thanh và Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam: 1932-1941 (Hà Nội: Nxb. Văn Học, 2005. Theo lời nhà xuất bản, đây là bản in lại nguyên tác do Nxb. Nguyễn Đức Phiên in năm 1942).
[22] Xuân Diệu, Thơ thơ và Gửi hương cho gió (Hà Nội, Nxb. Hội Nhà văn, 1995). Những ý kiến phê bình thơ Xuân Diệu có thể đọc được từ: Thanh Lãng, 13 năm tranh luận văn học, 1932-1945 (TP HCM: Hội nghiên cứu giảng dạy văn học TP HCM, 1995).
[23] Đọc các bài viết, ví dụ như của Hà Minh Đức, Xuân Diệu: Ông hoàng của thơ tình yêu (Hà Nội: NXB Giáo dục, 2004).
[24] Nguyễn Quốc Vinh, “Deviant Bodies and Dynamics of Displacement of Homoerotic Desire in Vietnamese Literature from and about the French Colonial Period (1858-1954)” [Biến thái hình thể và những mâu thuẫn xung quanh chủ đề khát khao tình dục đồng tính trong và sau giai đoạn Pháp thuộc, 1858-1954], Hợp Lưu số 42, tháng 8-9, 41-53. Trong luận án tiến sĩ đang viết, Richard Trần dành một chương để bàn về tình yêu đồng giới của Xuân Diệu trong những năm tiền cách mạng.
[25] Kim Ninh, A World Transformed, 59.
[26] Sóng Hồng (Trường Chinh), Thơ (Hà Nội: Văn Học, 1966) 25-28.
[27] Một bài trên báo Công an Nhân dân ngày 7/2/2007 nhan đề “‘Là thi sĩ’ của Sóng Hồng phê phán ‘Cảm xúc’ của Xuân Diệu?” cho rằng Trường Chinh viết bài thơ ban đầu là để vận động một thư ký doanh trại lính Pháp rất yêu thơ tham gia cách mạng.
[28] Từ điển Văn học (Hà Nội: NXB Khoa Học Xã Hội, 1984), 604.
[29] Sau khi giành chính quyền tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương dành ra mấy tháng sau đó để truy tầm và xử tử vài ngàn người bị coi là phần tử chính trị nguy hiểm (nhất là đảng viên các đảng đối lập). Vì vậy, khó có thể tưởng tượng được rằng lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương nghiêm túc thực hiện “dân chủ đại diện” trong cuộc tổng tuyển cử tháng Giêng năm 1946. Không rõ Xuân Diệu, gốc Quy Nhơn quê Hà Tĩnh, có liên hệ cụ thể gì với tỉnh Hải Dương.
[30] “Đỗ Ngọc Dũng, “Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Hội Văn nghệ ViệtNam:25/7/1948-25/7/2008, 16/7/2008”. http://dodungart.vnweblogs.com/post/3574/80401 (truy cập ngày 5/5/2010)
[31] Sđd. Xuân Diệu phụ trách “tổ chức kiểm tra”. Trong bốn người còn lại, Nguyễn Tuân là Tổng thư ký, Tố Hữu Phó Tổng thư ký, Võ Đức Diên phụ trách kinh tế và Ngô Quang Châu làm quản trị.
[32] “Nghị quyết Hội Nghị Thống Nhất Hai Khu 1 và Khu 10: 5/11/49, Văn Kiện Đảng Toàn Tập (Hà Nội: Chính trị Quốc Gia, 2001), 10:427. Cần phân biệt “Việt Bắc” khác với “miền Bắc”, là khái niệm rộng hơn, dùng để chỉ 1 trong 3 kỳ thời Pháp thuộc, và sau Hiệp định Geneva 1954, chỉ một nửa đất nước tính từ phía bắc vĩ tuyến 17.
[33] Tịnh Hà, Xuân Diệu: Con người và Tác phẩm (Hà Nội: Văn Học, 1987), 11.
[34] Tô Hoài, Cát bụi chân ai (Hà Nội: Hội Nhà Văn, 1992), 198.
[35] Sđd, 199.
[36] Xuân Diệu, “Thư gửi các bạn văn nghệ ở Hà Nội”, Văn nghệ, số 56, tháng 10/1954.
[37] Sđd.
[38] Sau đó, Huy Cận lấy người vợ thứ hai, và cũng là cuối cùng, bà Trần Lệ Thu, giảng viên tiếng Nga, Đại học Ngoại ngữ vào năm 1964, khi bà 28 tuổi. Họ có với nhau ba người con.
[39] Sau năm 1975, hai anh em được đoàn tụ và cùng cộng tác trong một số dự án văn học
Ngày 14/12/1956, Chủ tịch nước VNDCCH ban hành sắc lệnh về chế độ báo chí; văn kiện này đã đề ra những nội dung mà sau này người ta sẽ gọi là “vùng cấm” trong hoạt động thông tin ngôn luận của báo chí:
“a/ Không được tuyên truyền chống pháp luật của nhà nước. Không được cổ động nhân dân không thi hành hoặc chống lại những luật lệ và những đường lối, chính sách của nhà nước. Không được viết bài có tính chất chống lại chế độ dân chủ nhân dân, chia rẽ nhân dân và chính quyền, nhân dân và bộ đội. Không được gây ra những dư luận hoặc những hành động có hại cho an ninh trật tự của xã hội.
b/ Không được tuyên truyền phá hoại sự nghiệp củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ của nước Việt Nam, làm giảm sút tinh thần đoàn kết, ý chí phấn đấu của nhân dân và bộ đội.
c/ Không được tuyên truyền chia rẽ dân tộc, gây thù hằn giữa nhân dân các nước, làm tổn hại tình hữu nghị giữa nhân dân nước ta với nhân dân các nước bạn, không được tuyên truyền cho chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, không được tuyên truyền cho chủ nghĩa đế quốc, không được tuyên truyền cho chiến tranh.
d/ Không được tiết lộ bí mật quốc gia như: những bí mật quốc phòng, những hội nghị cơ mật chưa có công bố chính thức của cơ quan có trách nhiệm, những vụ án đang điều tra chưa xét xử, những bản án mà tòa án không cho phép công bố, những tài liệu, số liệu và những cơ sở kiến thiết về kinh tế tài chính mà ủy ban kế hoạch nhà nước hoặc các cơ quan có thẩm quyền chưa công bố.
e/ Không được tuyên truyền dâm ô, trụy lạc, đồi bại.”
(Sắc lệnh về chế độ báo chí // Nhân dân, 15/12/1956, tr. 1)  
Giữa tháng 12/1956, Trung ương Đảng triệu tập hội nghị đảng viên văn nghệ, thống nhất nhận thức tư tưởng trước khi bước vào đại hội văn nghệ, tại đó hiện tượng Nhân văn – Giai phẩm đã bị lên án.
Tại kỳ họp lần thứ 6 của Quốc hội (khoá I), ngày 18/1/1957, dân biểu Nguyễn Đình Thi đã chính thức phát biểu trước Quốc hội: “Trong khi chúng ta phê bình những sai lầm khuyết điểm, đã có một vài khuynh hướng xấu len vào vu khống chế độ của ta, đả kích sự lãnh đạo của đảng và chính phủ, đối với những người trí thức, tìm cách gây hoang mang chia rẽ. Những khuynh hướng xấu đó gần đây đã được vạch ra, cuộc đấu tranh tư tưởng chung quanh vấn đề văn nghệ hiện nay đang làm cho những người trí thức nước ta trưởng thành lớn thêm một bước nữa”…(7)     
Ngày 20/2/1957, Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai khai mạc và tiếp diễn trong 8 ngày; đại hội này đã quyết định chấm dứt Hội Văn nghệ Việt Nam để thành lập Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, khuyến khích các ngành văn nghệ thành lập Hội của ngành mình, đặt trong khuôn khổ Hội Liên hiệp VHNTVN. Trong thời gian đại hội, với tư cách đại diện Đảng Lao động Việt Nam, ông Trường Chinh, được Ban chấp hành hội Văn nghệ giới thiệu như “người bạn thân mến của văn nghệ sĩ Việt Nam” và mời đến nói chuyện tại Nhà hát Lớn trong ngày nghỉ của đại hội (chủ nhật 24/2/1957), với đầu đề: “Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội”; trong bài nói chuyện này có những đoạn nhận định và lên án Nhân văn – Giai phẩm rất gay gắt; văn bản bài nói chuyện này của Trường Chinh, khoảng 4-5 tháng sau mới được công bố (trên 2 kỳ đầu Tạp chí Văn nghệ, cơ quan của Hội LHVHNTVN, xuất bản từ tháng 6/1957). (8)  
3b. Suốt thời gian kể trên, từ 1/8/1956 đến đại hội văn nghệ toàn quốc lần 2, Xuân Diệu hầu như ít đăng đàn; ông rất ít đăng thơ, hình như chỉ một lần, với bài Gieo mùa ở báo Văn nghệ số Tết Đinh Dậu (số kép 156&157, ra ngày 18/1/1957); loại ông viết nhiều hơn ở thời gian này là một số bút ký hoặc giới thiệu, điểm sách, chẳng hạn, bút ký Những tâm hồn đổi mới(báo Độc lập, s. 152, ngày 14/1/1956) viết về trường đại học nhân dân, mở cho giới trí thức từng sống và làm việc dưới chế độ cũ trong thành Hà Nội thời tạm chiếm; bút ký Thăm một làng miền bắc Hung-ga-ri (Nhân dân, 30/3/1956), bút ký Một thành phố xã hội chủ nghĩa ở Hung (tạp chíTổ quốc, s. 32, ngày 5/4/1956), bút ký Cảm tưởng Mat-scơ-va (Nhân dân, 10/11/1956), bút ký Mùa xuân thắng (Nhân dân, 3/2/1957), giới thiệu Vài hình ảnh văn học Hung-ga-ry (Văn nghệ số 115, ngày 5/4/1956), đọc sáchNhững mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (Văn nghệ số 121, ngày 17/5/1956), giới thiệu và dịch thơ Nazim Hitmet (Văn nghệ số 150, ngày 7/12/1956), đưa tin về hội nghị các nhà văn châu Á (Văn nghệ số 153, ngày 27/12/1956). Đáng kể nhất có lẽ là lần Xuân Diệu xuất hiện trên diễn đàn Đại hội Văn nghệ ở ngày họp thứ sáu, 26/2/1957, với tham luận về bệnh sơ lược trong văn nghệ (trích đăng Văn nghệ số 162, ngày 1/3/1957). Tại đại hội này, Xuân Diệu là một trong số 15 nhà văn (Nguyễn Văn Bổng, Hồ Dzếnh, Vân Đài, Bảo Định Giang, Nguyễn Công Hoan, Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Tú Mỡ, Hoàng Ngọc Phách, Võ Huy Tâm, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân,  Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Trần Hữu Thung), cùng với nhiều văn nghệ sĩ thuộc các ngành khác, được bầu vào BCH Hội Liên hiệp VHNTVN.
Xin dừng lại đôi chút ở bài tham luận của Xuân Diệu; đây là lần duy nhất ông bộc lộ ý kiến trong suốt thời gian trên dưới nửa năm (tháng 8/1956 – tháng 2/1957), giữa một đời sống văn nghệ sôi động, đầy những va chạm về tư tưởng và quan niệm văn nghệ.
Về căn bệnh trong sáng tác đang được nêu ra và phân tích, Xuân Diệu cho rằng:
“Những tác phẩm mắc bệnh sơ lược gây tai hại là làm cho người ta hiểu sai thực tế, tưởng cách mạng là toàn hồng, gây bệnh chủ quan và thiếu lý tưởng”.
Song, theo Xuân Diệu:
“bệnh sơ lược không ở trong bản chất nền văn học mới chúng ta”,
… “chúng ta không độc quyền về bệnh sơ lược. Văn dở thì cổ kim đông tây, đời nào và ở đâu cũng có”.
… “Số người quy bệnh sơ lược cho Đảng và cho chế độ cũng thường trách Đảng và chế độ sinh ra bệnh công thức. Họ nói đến những con người máy, những con người rập khuôn do chế độ ta sinh ra. Theo tôi nhớ, thì luận điệu này, bọn tư bản và đế quốc đưa ra đã lâu lắm rồi…”
Xuân Diệu nói đến những cái mà nhiều người gọi là “khuôn” trong đời sống mới:
“Những con người máy đã phá kho bom Tân Sơn Nhất chăng?(9)Bế Văn Đàn đã hy sinh rập khuôn với Phan Đình Giót chăng? Hay là trong phe XHCN, liệt sĩ Việt Nam Phan Đình Giót đã rập khuôn với anh hùng Liên Xô Matrosov, cũng lấy mình lấp lỗ châu mai một cách công thức chăng? Vâng, chúng ta rất giống nhau, chúng ta người nào cũng được Đảng giáo dục yêu nước yêu dân, cũng được Đảng dặn dò: khi cần thiết thì hy sinh quyền lợi cá nhân cho cho quyền lợi dân tộc, […..] Vâng! Nếu có một cái khuôn nào, thì đó là một cái khuôn cao cả vĩ đại, phong phú, cái khuôn con người mới biết tự cường, chiến đấu, hy sinh!”
Đối với những cái “sáo” hình thành trong văn nghệ cách mạng, thái độ của Xuân Diệu là bảo vệ:
“Bệnh công thức của ta rất đáng ghét, nhưng động cơ của nó là muốn nói cái mới cái hay, chỉ vì thiếu nghiên cứu, thiếu sáng tạo mà rơi vào chỗ sáo, ít nhất là nó có hảo ý; chứ còn cái công thức cuả tư sản phản động, của văn hoá Mỹ thì ác ý và ghê tởm vô cùng…”
“Chúng ta chống và chữa những bệnh ấu trĩ của nền văn nghệ non trẻ của chúng ta, nhưng chúng ta cũng khẳng định rằng: không có chân trời mới nào hết ngoài cái văn nghệ xã hội chủ nghĩa của phe ta và cái văn nghệ tiến bộ của thế giới; chúng ta không đi tìm hang sâu vực thẳm nào khác!”   
Về cách chữa bệnh sơ lược, Xuân Diệu cho là có “cách chữa chân chính” và  “cách chữa giả tạo”, cách thứ hai này, ông chống kịch liệt:
“Cách chữa giả tạo là dựa vào hình thức, vào kỹ thuật, tránh sự tẻ nhạt bằng cách bịa ra những trò chơi quái ác, bằng cách bẻ quặt thực tế khách quan [….] Chữa giả tạo bằng cách quá đề cao cá tính siêu nhân của người văn nghệ; bằng cách đem “tiếng sáo tiền kiếp” ra thổi giữa những bản đàn của thời đại mà mình cho là chán. Bằng cách phục hồi nguyên xi những ý tình cũ kỹ đã bị cách mạng thải ra. Chữa giả tạo trên hình thức  bằng cách làm thơ leo thang hay xuống dốc, cắt nát câu thơ ra và xuống dòng nhiều quá sự cần thiết…”
Cách chữa chân chính, theo Xuân Diệu, là “nghiên cứu sâu thực tế cách mạng”, vì “cái mới căn bản nằm trong đời sống cách mạng”, “ta phải nói được cái mới căn bản đó, chứ không phải rơi vào một thứ ‘mới chủ nghĩa’, đi tìm những cá tính lập dị nào”. 
“Tôi tưởng tượng rằng: nếu bà Thị Điểm mà sống lại và viết một bản Chinh phụ ngâm mới về phong trào hoà bình thế giới hiện nay, thì Hồng Hà nữ sĩ cũng phải nghiên cứu đời sống quần chúng đau khổ gây ra bởi chiến tranh đế quốc. Nếu Nguyễn Du còn sống và muốn viết về cuộc đấu tranh và lao động hiện tại của nhân dân ta, Nguyễn Du cũng tự nguyện đặt mình dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, và cũng phải thâm nhập vào quần chúng hiện tại!”
Đọc lại những lời lẽ trên đây, không khó để thấy thành phần nghị luận chủ yếu trong đó là ngụy biện, tuy được phát ngôn một cách không kém nồng nhiệt nhưng vẫn là kết quả những suy tính kỹ lưỡng, − không nhiều suy tư về chân lý, nhưng chắc chắn là ngầm chứa rất nhiều suy tính về cách ứng xử, cách “diễn ngôn” (discours, như cách gọi sau này) ra sao để tồn tại; đối với tác giả Thơ thơ  đến lúc này thì vấn đề không chỉ là cần sống sót mà là cần được sống tốt, bất kể thời thế ra sao.
4a. Chúng ta tiếp tục dõi theo những nét chính trong đời sống văn nghệ từ đầu năm 1957, sau Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai. Đối với giới nhà văn, đây là một năm đáng nhớ với sự ra đời lần đầu tiên ở Việt Nammột hội mang tên Hội Nhà Văn Việt Nam với những cơ sở trực thuộc nó sẽ dần dần hình thành: câu lạc bộ, tờ tuần báo, nhà xuất bản, quỹ văn học …
Việc thành lập các hội chuyên ngành cho các giới: nhà văn, hoạ sĩ và nhà điêu khắc, nhạc sĩ, kiến trúc sư, nghệ sĩ sân khấu, nghệ sĩ điện ảnh, − là chủ trương được thông qua tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần II. Hội nhà văn được xúc tiến sớm nhất.
Tất nhiên đặt trong đời sống tinh thần ở miền Bắc đương thời, Hội liên hiệp văn học nghệ thuật VN hoặc Hội nhà văn VN và các hội chuyên ngành cùng loại, đều là những tổ chức được thành lập theo chủ trương của Đảng cầm quyền, đều là những hội được hưởng quy chế tương đương cơ quan nhà nước (biên chế và lương cán bộ nhân viên đều do nhà nước đảm bảo), − nói bằng ngôn ngữ của thời “hậu bao cấp” thì đó là những hội “quốc doanh”, hội “độc quyền”, hội “bao cấp”…   
Hội nghị thành lập Hội Nhà Văn Việt Nam họp từ ngày 1 đến ngày 4/4/1957, có 278 đại biểu tham dự, thảo luận và thông qua bản điều lệ trong đó nói rõ: “Trên cơ sở Cương lĩnh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam đoàn kết mọi nhà văn yêu nước và tiến bộ, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, xu hướng chính trị, xu hướng nghệ thuật” (điều III).(10) Đại hội bầu ra ban chấp hành khoá đầu gồm 25 nhà văn, và nhất trí coi 25 nhà văn trong ban chấp hành này là những hội viên sáng lập và sau đấy sẽ bắt tay vào việc kết nạp hội viên vào Hội.(11)  25 nhà văn đó gồm: Nông Quốc Chấn, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đình Thi, Tú Mỡ, Anh Thơ, Mộng Sơn, Cầm Biêu, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Huy Tưởng, Hoàng Cầm, Sao Mai, Tố Hữu, Hoàng Tích Linh, Nguyên Hồng, Bửu Tiến, Xuân Diệu, Đoàn Giỏi, Phạm Huy Thông, Tế Hanh, Nam Trân, Vũ Tú Nam, Hoàng Trung Thông, Xuân Miễn, Tô Hoài, Nguyễn Tuân.
Ngày 10/4/1957, hội nghị BCH lần 1 cử ra ban thường vụ gồm: chủ tịch Hội: Nguyễn Công Hoan, phó chủ tịch: Tú Mỡ, tổng thư ký: Tô Hoài, phó tổng thư ký: Nguyễn Xuân Sanh, và 3 uỷ viên: Nguyên Hồng, Tế Hanh, Đoàn Giỏi.
Ngày 25 và 26/4/1957, hội nghị BCH lần 2 thông qua đề án xuất bản báoVăn và lập Nhà xuất bản Hội Nhà Văn. Tuần báo Văn  với Chủ nhiệm Nguyễn Công Hoan, Thư ký toà soạn Nguyên Hồng và 2 uỷ viên ban biên tập là Tú Mỡ và Tế Hanh. Nhà xuất bản Hội Nhà Văn với Giám đốc Tô Hoài và 3 uỷ viên ban biên tập: Hoàng Cầm, Đoàn Giỏi, Nguyễn Văn Mãi. Hội nghị này cũng quyết định lập ra ban kết nạp hội viên (trưởng: Tú Mỡ, phó: Nguyên Hồng, có một tiểu ban giúp việc), ban chế độ công tác sáng tác (trưởng: Nguyễn Công Hoan, phó: Nguyễn Xuân Sanh, có một số uỷ viên), ban nghiên cứu sáng tác (trưởng: Tô Hoài), ban văn học nước ngoài (trưởng: Nguyễn Xuân Sanh, uỷ viên: Nguyễn Tuân, Phạm Huy Thông). Ban thường vụ Hội quyết định lập cơ quan Hội, quy định biên chế cơ quan gồm một số nhà văn và một số cán bộ hành chính.
Tuần báo Văn xuất bản vào ngày thứ sáu hằng tuần, số 1 ra ngày 10/5/1957, và, − ngoài mong muốn và dự liệu của giới lãnh đạo văn nghệ hay chăng (hay vẫn nằm trong số những dự liệu ấy?), − chính tờ báo này đã làm nên một đoạn phiêu lưu nữa, như giọt nước không mấy to hoặc nặng, nhưng lại là giọt nước làm tràn ly: với nó và sau nó, sự đấu tranh giữa những khác biệt trong nội bộ nền “văn nghệ cách mạng” này được công nhiên chuyển thành đấu tranh giữa “ta” với “địch”, một số “đồng chí” trong hàng ngũ được chuyển thành những “kẻ thù” và bị trừng phạt, bị trục xuất khỏi hàng ngũ, bị làm cho ô nhục bằng ngôn từ và bằng áp đặt sự phân biệt đối xử.
Ta hãy quan sát kỹ hơn những gì xảy ra với tuần báo Văn.
Văn là tuần báo ra ngày thứ sáu, chuyên về “sáng tác, phê bình, giới thiệu, sinh hoạt văn học, tin văn thơ”. Thành phần bài vở chính trong mỗi số là đăng sáng tác thơ văn, phê bình tiểu luận, chuyện nghề văn, thời sự văn hóa văn nghệ; một phương diện phục vụ chính trị không thể thiếu của báo là mảng hoạt kê và châm biếm chính trị: tranh đả kích, thơ trào phúng trong các mục “mũi nhọn”, “bia miệng”, đối tượng luôn luôn là “đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm”.
Văn có nét thông thường ở hầu hết các tờ báo của giới nhà văn: phần trang nhiều nhất dành đăng sáng tác thơ văn, dư luận văn nghệ. Có lẽ nét mới thấy rõ ở nó so với tuần báo Văn nghệ  trước đấy là việc phản ánh sinh hoạt câu lạc bộ Hội nhà văn, hoặc những thông tin khá hồ hởi xung quanh những ngày đầu hoạt động của Hội nhà văn, nhất là những động thái triển khai việc xét kết nạp hội viên đợt đầu tiên…
Tuy nhiên, vào lúc đã ra được 10 số đầu, tờ tuần báo của Hội Nhà văn như bị dội nước lạnh khi trên tạp chí Học tập, cơ quan lý luận chính trị của trung ương Đảng Lao động VN, số 7/1957, xuất hiện bài Tuần báo Văn và con người thời đại  của tác giả Thế Toàn (Trịnh Xuân An), theo đó, những sáng tác đăng tải trên 10 số Văn đầu tiên được đánh giá khá tiêu cực: chủ đề của nhiều văn, thơ đăng ở đây “toàn là những thứ lượm lặt ngoài rìa cuộc sống”, “không ăn nhập gì với cuộc sống, không dính dáng gì đến những con người vĩ đại và dũng cảm của thời đại chúng ta”; tóm lại, theo Thế Toàn, “Tờ báo hầu như xa rời thực tế, xa rời cuộc sống, tách rời những nhiệm vụ trung tâm của cách mạng”.   
Trước sự phê bình của tạp chí Học tập, ban biên tập tuần báo Văn  và không ít nhà văn đã có phản ứng khá gay gắt. Lần lượt, các ý kiến của thư ký tòa soạn Nguyên Hồng (Tuần báo Văn và một số bài của báo cần được nhận định như thế nào? // Văn số 15, ngày 16/8/1957), của Nguyễn Văn Bổng (Nhận lại phương hướng qua việc phê bình tuần báo Văn// Vănsố 20, ngày 20/9/1957), Lê Minh (Xây dựng con người thời đại// Văn số 21, ngày 27/9/1957), Tô Hoài (Góp thêm vài ý kiến về con người thời đại// Văn số 22, ngày 4/10/1957), Nguyễn Tuân (Phê bình nhất định là khó// Văn số 23, ngày 11/10/1957), Tế Hanh (Cùng đặt một số vấn đề// Văn số 26, ngày 1/11/1957), ở những mức độ khác nhau, hầu hết (đúng ra, trừ một số ý trong bài của Nguyễn Văn Bổng) đều bộc lộ thái độ không tán đồng sự phê bình của tạp chí Học tập.
Việc những người chủ trì báo Văn coi sự góp ý của tạp chí Học tập chỉ như sự phê bình của tờ “báo bạn”, của “đồng nghiệp” − có lẽ đặc biệt gây tự ái nơi tâm lý những người nhân danh báo chí của Đảng cầm quyền. Dưới dạng một bài đọc sách, − đây là bài nói chuyện của Trường Chinh tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần II được in thành sách riêng, − hai nhà báo của tạp chí Học tập, Hồng Chương và Trịnh Xuân An, lên tiếng nhắc nhở các nhà văn và Ban biên tập tuần báo Văn; nhan đề bài viết (Học tập, số 8, tháng 8/1957) được hai ông này đặt bằng mệnh lệnh thức: Phải thấu suốt đường lối văn nghệ của Đảng. Bút ký sau khi đọc cuốn “Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc phong phú dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội” của đồng chí Trường Chinh, trong đó đặc biệt nhấn mạnh việc cần phê phán ảnh hưởng của tư tưởng tư sản trong sáng tác văn nghệ. Ý nghĩa cảnh cáo lộ rõ trong đoạn kết:
“Chúng ta cần kiên quyết đấu tranh chống những thiên hướng lệch lạc đi trệch ra ngoài đường lối văn nghệ của Đảng. Chúng ta cũng kiên quyết phản đối thái độ của một số cán bộ đảng viên phụ trách văn nghệ phạm khuyết điểm sai lầm được báo chí Đảng giúp đỡ phát hiện khuyết điểm sai lầm mà không chịu khiêm tốn kiểm điểm và thành tâm sửa chữa, trái lại, lại đả kích và mạt sát báo chí Đảng. Thái độ đó rõ ràng là không lợi cho việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận văn nghệ.”
Nhận xét về cách phê bình của hai ký giả trên tạp chí Học tập, Nguyễn Tuân (báo Văn số 23) nhắc lại mấy câu hỏi của Nguyên Hồng (thư ký tòa soạn báo “Văn” ): “Có phải vì giáo điều, sơ lược, công thức, nên mới có sự nhận thức và phê phán như thế? Có phải vì tác phong quan liêu, trịch thượng và cái lối đao to búa lớn nên mới có sự nhận xét như thế?”, và Nguyễn Tuân tỏ rõ ý kiến mình:
“Trong việc đánh giá, đặc biệt nhất là ba ông Thế Toàn, Hồng Chương và Trịnh Xuân An đã có những “thái độ trịch thượng và cái lối nói đao to búa lớn”. Tôi cũng đồng ý với ông thư ký tòa soạn báo Văn về cái nhận xét này. Thêm nữa, cá nhân tôi lại còn cảm thấy mấy ông đó đã làm cho người đọc phải hiểu rằng các ông đang lấy Đảng ra để “dọa” anh em viết bài báo”.
Đáp lại sự nhận xét trịch thượng cho rằng giới nhà văn chưa biểu hiện được “con người thời đại”, Nguyễn Tuân lên tiếng như là tiếng nói chung của giới mình:
“Theo chỗ tôi biết thì đã có một số hiện tượng hách dịch đối với văn nghệ phẩm, xuất phát từ một số người phê bình cũng như từ một số cán bộ chính trị. Tôi rất đồng ý là văn nghệ sĩ, mà nhất là văn nghệ sĩ có tài, càng cần phải khiêm tốn. Nhưng chung quanh, nhất là những người có trách nhiệm về phán đoán cái này cái kia, đề nghị cũng làm như vậy cho. Tôi tán thành cái ý kiến là những “sĩ” của các ngành văn nghệ chúng ta chưa có gì là ghê gớm lắm đâu, về trình độ tư tưởng trình độ văn hóa trình độ nghề nghiệp còn phải học cho nát xương lòi da ra, học cho đến chết mà chắc gì đã nắm hết được quy luật của sự sống. Nhưng cũng không nên vì nó chỉ là “sĩ” của Việt Nam mà đánh giá nó quá thấp quá tồi về khả năng nhạy cảm đối với thực tế khách quan, cho nó là mít là xoài tất trong mọi cảm xúc phiền toái và vĩ đại của thời đại vừa gieo neo vừa lớn lao hiện nay của chúng ta. Trong mọi thực tiễn Việt Nam nói chung các mặt, nếu đã có những tác giả còn non nớt, nếu đã có những tác phẩm yếu xoàng, thì cũng đã có một số cán bộ thực hiện chính trị một cách cũng không được cao tay gì lắm. Đối với nghệ phẩm, anh đến với nó (nhất là thứ tạo ra ở bản xứ) mà anh tham lam quá đáng hoặc hung hăng một cách không cần thiết, thì nó biến mất….”
Lúc này, đến lượt Tạp chí Văn nghệ vào cuộc. Tạp chí này, chủ nhiệm là Đặng Thai Mai, thư ký tòa soạn là Nguyễn Đình Thi, đã tái xuất hiện từ tháng 6/1957 với tư cách cơ quan của Hội Liên hiêp Văn học nghệ thuật Việt Nam, ra hàng tháng, đánh số từ số 1 nhưng ghi rõ trên manchette là tờ tạp chí “xuất bản từ 1948 trong kháng chiến”. Chính trên tạp chí này, dù chỉ vừa mới xuất hiện trở lại, cũng đã kịp có những bài phê phán những sáng tác bị coi là có những lệch lạc về tư tưởng, ví dụ Thao thứccủa Đoàn Giỏi (bài phê bình của Nguyễn Văn Bổng, TCVN s. 5, th. 10/1957), Một ngày chủ nhật của Nguyễn Huy Tưởng (bài phê bình của Vũ Đức Phúc, TCVN s. 7, th. 12/1957).
Bài báo dài Tuần báo Văn với phương hướng sáng tác và phê bình hiện nay (Tạp chí Văn nghệ số 5, tháng 10/1957, tr. 113-136) của nhà phê bình Nguyễn Đình Thi, thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ, tất nhiên là không tách rời tư cách Tổng thư ký Hội LHVHNTVN của ông khi đó (cũng như Nguyễn Tuân khi lên tiếng ủng hộ Nguyên Hồng thì ông Tuân vẫn đang là Phó chủ tịch Hội LHVHNTVN).
Có phần tán thành nhận định của Thế Toàn và Nguyễn Văn Bổng, đề cập đến các sáng tác đăng 10 số đầu báo Văn, Nguyễn Đình Thi cho rằng “Chúng ta chưa nhìn rõ cái thực tế tiến dần lên chủ nghĩa xã hội của đời sống chung quanh ta được báo Văn phản ánh lên thế nào” … “Tình hình đó không thể coi là bình thường được”.  Nguyễn Đình Thi còn phân tích đánh giá về một số bài đăng trên các số Văn, trong đó đặc biệt tỏ rõ dị ứng với các bài thơ Một giọng đàn, một dòng sông (Hoàng Yến, s. 5), In dấu chân (Hoàng Cầm, s. 15), Lời mẹ dặn (Phùng Quán, s. 21), hoặc ý kiến của Trần Dần Nhìn lướt qua thơ văn gần đây (s. 12). Tuy vậy, cũng có phần chia sẻ với Nguyên Hồng trong phản ứng trước sự phê bình đầy công thức và máy móc của tạp chí “Học tập”; Nguyễn Đình Thi viết:
(7) Nguyễn Đình Thi: Mấy việc làm để xây dựng nền văn hoá văn nghệ của nhân dân ta (phát biểu trong phiên họp Quốc hội khoá thứ 6 ngày 18/1/1957)// Văn nghệ,  s. 158 (1/2/1957), tr. 1, 2. Lưu ý: báo chí đương thời gọi đây là “khoá họp” (QH) thứ 6”; theo cách gọi ngày nay, phải là “kỳ họp thứ 6” mới đúng; vì khi đó QH vẫn đang trong nhiệm kỳ I (nay cũng gọi là khoá I), được bầu cử từ 1946.
(8) Theo các bài tường thuật của Huyền Kiêu (VN. s. 161) và Bàng Sĩ Nguyên (VN. s. 162), có thể tóm tắt tiến trình Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội từ 20/2/1957 đến 28/2/1957 như sau:
Chiều 19/2/1957: Họp trù bị, bầu Chủ tịch đoàn Đại hội, 25 người: Đặng Thai Mai, Hoàng Ngọc Phách, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Tú Mỡ, Hoài Thanh, Nguyễn Xuân Khoát, Lương Xuân Nhị, Phan Thao, Thế Lữ, Nguyễn Phương Danh (Tám Danh), Nông Quốc Chấn, Lưu Quý Kỳ, Nguyễn Cao Luyện, Văn Cao, Ái Liên, Thái Thị Liên, Nguyễn Thị Kim, Nguyễn Văn Tỵ, Y Dơn, Nguyễn Tuân, Nguyễn Nho Tuý (Đội Tảo), Trần Văn Lắm, Lưu Hữu Phước, Trần Huyền Trân
20/2/1957: phiên khai mạc; ngày họp thứ nhất
- Chủ tịch đoàn giới thiệu Đặng Thai Mai chủ toạ phiên họp đầu tiên. Chủ tịch đoàn giới thiệu bổ sung nhạc sĩ quân đội Đỗ Nhuận vào chủ tịch đoàn, đại hội biểu quyết bằng vỗ tay thông qua.
- Tổng thư ký Hội Văn nghệ VN Nguyễn Tuân giới thiệu thành phần đại hội và khách của đại hội: Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Trường Chinh đại diện Đảng Lao động VN; trên 600 văn nghệ sĩ; các vị khách Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận tổ quốc, Quân đội nhân dân, đảng xã hội, đảng dân chủ, bộ văn hoá, các sứ quán, các phóng viên…
- Tổng thư ký Nguyễn Tuân đọc diễn văn khai mạc.
- Lời chào mừng của Mặt trận tổ quốc, của anh em văn nghệ sĩ đang công tác ở giới tuyến, nhà văn và trí thức Ru-ma-ni.
- Nguyễn Đình Thi thay mặt Ban chấp hành Hội đọc báo cáo chính: Văn học và nghệ thuật Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám.
- Chiều: Nguyễn Đình Thi đọc tiếp báo cáo
- Ô. Trường Chinh đọc Thư của BCH TƯ ĐLĐ VN gửi đại hội.
21/2/1957: ngày họp thứ hai
- Lưu Quý Kỳ đọc báo cáo bổ sung về: Phong trào văn nghệ miền Namtrong chín năm qua và nhiệm vụ đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.
- Nông Quốc Chấn đọc báo cáo bổ sung về: Phong trào văn nghệ các dân tộc miền núi.
- Nguyễn Xuân Sanh đọc báo cáo bổ sung về: Dự thảo điều lệ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.
22/2/1957: ngày họp thứ ba
các đại biểu thảo luận theo ngành tại Nhà hát Lớn, CLB Đoàn Kết, CLB Thống Nhất; tối: đoàn bình kịch Cáp-nhĩ-tân (Trung Quốc) biểu diễn chào mừng đại hội với vở Đào hoa nhân diện.
23/2/1957: ngày họp thứ tư
- họp chung tại Nhà hát Lớn nghe các tham luận
- Chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND VN Nguyễn Chí Thanh phát biểu, mời văn nghệ sĩ sáng tác về các đề tài quân đội.
- Đại diện Ban liên lạc nông dân toàn quốc phát biểu hoan nghênh những sáng tác về nông thôn.
- Tham luận: Vũ Ngọc Phan về dân ca VN; Cầm Biêu về thơ dân tộc Thái; Tú Mỡ về trào phúng; Tô Vũ về vốn nhạc cổ; Cù Huy Cận về học tập vốn cũ dân tộc; Đào Duy Anh về vốn cũ dân tộc; Nguyễn Văn Tỵ về phổ biến tranh dân tộc; ngoài ra còn tham luận của Hoàng Châu Ký, Lã Văn Lô, Nhật Lai, Chi Lăng…
24/2/1957: chủ nhật, đại hội nghỉ,
Ban chấp hành hội Văn nghệ VN “mời đồng chí Trường Chinh, người bạn thân mến của văn nghệ sĩ VN” nói chuyện tại Nhà hát Lớn, với đầu đề: “Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội” .
25/2/1957: ngày họp thứ năm
- đại diện Tổng Liên đoàn lao động VN Nguyễn Duy Tính, đại diện Hội LH Phụ nữ VN Đinh Thị Cẩn, đại diện Hội LH Thanh niên VN Hồ Trúc phát biểu những ước mong của giới mình với văn nghệ.   
- đại hội thảo luận về kinh nghiệm sáng tác và biểu diễn. Phạm Văn Đôn: về kết quả triển lãm hội hoạ VN tại Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên; Đào Duy Kỳ: Khai thác vốn dân tộc; Nguyễn Công Hoan: kinh nghiệm viết tiểu thuyết; Nguyên Hồng: ý thức nhà văn; Bàn Tài Đoàn: tôi học làm thơ như thế nào; Hồ Dzếnh: một ý nghĩ về sáng tác; Y Dơn: tôi làm văn nghệ; Đội Tảo: Người diễn tuồng cổ; hoạ sĩ Nguyễn Hiêm: đi vào quần chúng; Nông Quốc Chấn: thơ và đời sống; Thuý Ngần: tâm sự diễn viên…
26/2/1957: ngày họp thứ sáu
- Thứ trưởng bộ văn hoá Đỗ Đức Dục nói về trách nhiệm văn nghệ sĩ với việc nâng cao đời sống văn hoá của nhân dân; Nguyễn Khánh Toàn (bộ giáo dục) nói về mối quan hệ của ngành giáo dục và văn nghệ sĩ.
- Các tham luận: Nguyễn Xuân Khoát: những khuyết điểm trong phê bình và tự phê bình; Lưu Công Nhân: chống lối phê bình thiếu nâng đỡ đối với hoạ sĩ trẻ; Nguyễn Đình Phúc: sáng tác lâu dài; Phùng Quán: nhận biết “mùi” trăm hoa là khó; Đỗ Nhuận bác lại ý Phùng Quán: “trăm hoa đua nở” không có nghĩa người trồng hoa có thể không có chủ định gì cả…; Xuân Diệu: về bệnh sơ lược trong văn nghệ; Lưu Trọng Lư: về con người mới; Bửu Tiến: tư tưởng tính trong sáng tác; Nguyễn Thành Long: vấn đề phê bình; Lan Sơn: tâm trạng người văn nghệ sĩ tiểu tư sản; Trần Thanh Mại: Đảng, sự thật  và văn học.
27/2/1957: ngày họp thứ bảy
- Tham luận và thảo luận về các nhiệm vụ. Phan Thị Nga: văn nghệ với phụ nữ; Phạm Hổ: văn nghệ với thiếu nhi; Trần Hoàn: lực lượng văn nghệ trẻ; Thái Thị Liên và Bích Được: hoàn cảnh khó khăn của diễn viên…
- Buổi chiều, đại biểu các ngành nghệ thuật trẻ: điện ảnh, nhiếp ảnh, múa rối, xiếc…đọc tham luận; Phan Thao: bàn về đâu tranh cho thống nhất nươc nhà.
28/2/1957: ngày họp thứ tám
- điện mừng đại hội của nhà văn Pháp André Still và Pierre Courtade
- Các tiểu ban báo cáo: Hoàng Như Tiếp báo cáo công việc của tiểu ban điều lệ; Đặng Thai Mai: công việc của tiểu ban nghị quyết; Nguyễn Đình Thi: nghị quyết của đại hội; Tú Mỡ (tiểu ban hiệu triệu): thư đại hội gửi các nhà văn nghệ miền Nam, thư đại hội gửi nhà văn trong nước và ngoài nước, thư gửi Trung ương Đảng LĐVN.
- Thông qua nghị quyết của đại hội. Nguyễn Tuân tuyên bố Hội Văn nghệ VN hết nhiệm kỳ. Đại hội bầu cử (bằng bỏ phiếu kín) Ban Chấp hành chính thức của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Chiều, công bố kết quả: có 45 văn nghệ sĩ trúng cử. BCH ra mắt.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đến mừng thành công của đại hội và nói chuyện với văn nghệ sĩ. 
- Tố Hữu trong đoàn chủ tịch đại hội đọc diễn văn bế mạc.
Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam
(do đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai bầu ra)
ngành văn: Nguyễn Văn Bổng, Hồ Dzếnh, (bà) Vân Đài, Bảo Định Giang, Nguyễn Công Hoan, Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Tú Mỡ, Hoàng Ngọc Phách, Võ Huy Tâm, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân,  Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Trần Hữu Thung
ngành mỹ thuật: Trần Văn Cẩn, (bà) Nguyễn Thị Kim, Trần Văn Lắm, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Văn Tỵ, Huỳnh Văn Thuận
ngành kiến trúc: Nguyễn Cao Luyện
ngành nhạc: Văn Cao, Lưu Quang Duyệt, Vũ Tuấn Đức, (bà) Thương Huyền, Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước
ngành múa: Hoàng Châu
ngành sân khấu: Nguyễn Phương Danh (Tám Danh), (bà) Ái Liên, Thế Lữ, Tống Văn Ngũ (Năm Ngũ), Nguyễn Thị Lan (bà Cả Tam), Nguyễn Nho Tuý (bác Tảo), Sĩ Tiến
ngành múa rối: Huỳnh Văn Cát
ngành xiếc: Phạm Xuân Thư
ngành điện ảnh: Phạm Văn Khoa, Mai Lộc
ngành nhiếp ảnh: Nguyễn Văn Phú
văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số: Cầm Biêu, Nông Quốc Chấn, Y Dơn
(ngoài ra còn 10 ghế dành cho anh chị em văn nghệ hiện ở miền Nam).
 Phiên họp đầu tiên của Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, ngày 1/3/1957 tại trụ sở Hội số 51 Trần Hưng Đạo Hà Nội, dưới sự chủ toạ của nguyên Tổng thư ký Hội Văn nghệ VN Nguyễn Tuân, có mặt 39 uỷ viên chấp hành, đã bầu:
- Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật VN: Đặng Thai Mai
- 8 Phó chủ tịch: Nguyễn Tuân, Tú Mỡ, Nguyễn Xuân Khoát, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Cao Luyện, Nông Quốc Chấn, Nguyễn Phương Danh (Tám Danh), Thế Lữ
- Tổng thư ký: Nguyễn Đình Thi
- 3 phó tổng thư ký: Văn Cao, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Văn Bổng
- 13 vị trên đây họp thành Ban Thường vụ của Hội.
(9) “người phá kho bom Tân Sơn Nhất” ở đây ý nói nhân vật thiếu niên họ tên Lê Văn Tám, theo báo chí từ 1946 và nhiều năm về sau, là người đã tẩm xăng vào mình xông vào đốt kho bom ở địa điểm trên; do đây đã có một số truyện ký và kịch viết về đề tài này, trong số đó có kịch “Lửa cháy lên rồi” của Phan Vũ, được giải nhì về kịch trong giải thưởng văn học của Hội Văn nghệ VN 1954-55. Sau này đã xác minh đây không phải là sự kiện và con người có thực, nhưng điều này cũng chưa hề được thông tin chính thức.
(10) Nội dung điều III trong Điều lệ Hội Nhà văn 1957 nói trên là dẫn theo tường thuật của Đào Vũ, Hội nghị thành lập Hội nhà văn Việt Nam, đăng Tạp chí Văn nghệ, số 1, tháng 6/1957, tr. 109-118.
(11) Về các chi tiết liên quan đến Đại hội I Hội nhà văn VN và những người được coi là “hội viên sáng lập”, tôi căn cứ vào tường thuật của báo Văn và Tạp chí Văn nghệ  đương thời, theo đó số người tham dự đại hội I là 278; còn chuyện tư cách hội viên thì tại đại hội đã được bàn thảo và đi tới nhất trí: chỉ 25 nhà văn được bầu vào ban chấp hành khoá I được coi là “hội viên sáng lập” mà thôi. Sau đại hội, ban chấp hành đã tiến hành xét kết nạp hội viên trong một thời gian dài; một tiểu ban được lập ra để giúp việc này; phiên họp BCH từ 15 đến 18/8/1957 đã xét (bằng bỏ phiếu kín, lấy các trường hợp 50% + 1phiếu) được 127 người, sau đó xét kết nạp thêm 6 trường hợp là nhà văn các dân tộc thiểu số, cộng với 25 nhà văn là uỷ viên chấp hành; như vậy có 158 hội viên dự định được kết nạp. Phiên họp thứ 3 trong tháng 7/1957, Ban thường vụ xét kết nạp thêm 14 tác giả kịch bản cải lương tuồng chèo, đưa tổng số hội viên được kết nạp lần thứ nhất lên con số 172 người (“Văn” s. 22, ngày 4/10/1957, tr. 7).
Trong khi đó, một số tài liệu do cơ quan Hội Nhà văn biên soạn sau này (cuốn sách mang tên Nhà văn Việt Nam hiện đại, biên soạn và in 1992; và 2 cuốn cũng mang tên ấy, soạn lại và in vào các năm 1997, 2007) thường nêu thông tin: có 165 đại biểu dự đại hội I và tất cả số người đó đều là “hội viên sáng lập”. Điều này không phù hợp với các thông tin từ báo chí đương thời. Chưa rõ con số 165 hội viên đợt I (những người được ghi bằng ký hiệu A từ A 1 đến A 165 trong cuốn sách trên, bản in 1992) có xuất xứ từ đâu?
Hóa giải ảnh hưởng của Stalin ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Những lời lên án mạnh mẽ đến mức gây sốc về tội ác của Stalin do Khrushchev phát biểu khiến những phần tử bất mãn trong đội ngũ trí thức ở Việt Nam phấn khởi. Nhiều người còn đang giận dữ về cách xử lý của lãnh đạo văn hóa đối với các giải thưởng văn học giai đoạn 1954-1955, mới công bố kết quả trên báo Văn Nghệ số ra ngày 15 tháng Ba năm 1956. Gần như đúng tròn một năm sau vụ tranh luận về Việt Bắc, Xuân Diệu lại rơi vào vị trí trung tâm của rắc rối. Vì chính quyết định trao giải nhì cho tập thơ cách mạng Ngôi Sao của ông đã làm dấy lên làn sóng phản ứng mạnh mẽ nhất, với sự xuất hiện của ba bài phê bình trên tờ báo văn học tư nhânTrăm Hoa.[1]
Khi mọi chuyện đã qua, bây giờ nhìn lại mới thấy ba bài này quả thực là phát súng mở màn cho một trận chiến về công tác cách mạng của Xuân Diệu. Vấn đề cốt yếu vẫn là chất lượng những bài thơ cách mạng của ông. Liệu Ngôi Sao, tập trung tất cả những sáng tác của nhà thơ trong mười năm dưới sự dẫn dắt của đảng có so được với Thơ thơ và Gửi hương cho gió không? NếuNgôi Sao quả là ưu việt hơn, điều đó có nghĩa là chính sách văn hóa của đảng và sự chỉ đạo của các quan chức văn hóa là hợp lý. Nếu không, có thể đã đến lúc phải cân nhắc những thay đổi lớn về chính sách và nhân sự. Trong hoàn cảnh bình thường, ba bài phê bình trên Trăm Hoa và tiếp theo là việc tờ báo phải đóng cửa vì phá sản sẽ đặt dấu chấm hết cho vụ việc này, và các trí thức bất mãn sẽ hướng mối quan tâm của mình sang những thứ khác.
Nhưng lời kêu gọi của Khrushchev đã mang lại những thay đổi lớn lao cho bầu không khí trí thức ở Hà Nội. Đối với những người đang bất mãn, nhà lãnh đạo Liên Xô này đã tạo cho họ ấn tượng rằng, nếu kiên trì bày tỏ những nỗi bất bình và đấu tranh cho những yêu cầu của mình, có thể mang lại những thay đổi. Đối với lãnh đạo đảng, yêu cầu phải hòa nhịp với những biến động thời sự về tư tưởng ở Moscow có thể buộc họ thấy rằng cần phải áp dụng một thái độ dung hòa hơn đối với những yêu cầu của đội ngũ trí thức, nhất là khi họ đang trong tầm quan sát của các đại sứ quán của khối xã hội chủ nghĩa đặt tại Hà Nội.
Bên cạnh đó, với một động thái chắc là có chủ ý đánh lạc hướng sự quan tâm dư luận khỏi vầng hào quang sùng bái cá nhân đã và đang tồn tại quanh Hồ Chí Minh, lãnh đạo đảng thận trọng đưa ra thuật ngữ “sùng bái cá nhân” sao cho nghe có vẻ như một cấp độ hơi nặng hơn của các căn bệnh cũ như “cá nhân chủ nghĩa”, “quan liêu”, “cửa quyền”. Đây là những thuật ngữ lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam thường dùng trong suốt mấy thập kỷ trước để phê bình những đảng viên không làm tốt công tác được giao.[2] Trên thực tế, Hồ Chí Minh đã giải thích rõ về các lỗi lầm và căn bệnh (chính ông gọi như vậy) thường mắc này cho đội ngũ đảng viên trong cuốn sách Sửa đổi lề lối làm việc ông viết năm 1948.[3] Các lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hẳn thấy nhẹ người khi biết rằng các trí thức bất mãn ban đầu chỉ dừng ở mức áp dụng thuật ngữ “sùng bái cá nhân” đối với lãnh đạo cấp trên trực tiếp của mình trong lĩnh vực văn hóa. Chừng nào mà sự chỉ trích chỉ dừng lại trong giới hạn an toàn với những mối ưu tư nhỏ hẹp về công tác văn hóa, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam tỏ ra sẵn lòng để cho đội ngũ trí thức cạo gáy các lãnh đạo chuyên môn của mình.
Tất cả những điều đó là dấu hiệu xấu báo trước một thời kỳ sóng gió sắp đến với Xuân Diệu, khi những lời bàn sôi nổi về quá trình tham gia cách mạng của ông lan sang tới các trang báo Văn Nghệ. Trên tờ báo này, quan chức văn hóa cao cấp Hoài Thanh, người đã tham gia ban giám khảo, buộc phải bảo vệ quyết định trao giải nhì cho Ngôi Sao với những lời khẳng định công khai về tác phẩm của Xuân Diệu:
“Cách mạng càng tiến lên, Xuân Diệu càng thêm gắn bó với quần chúng, nhất là với quần chúng nông dân, nhờ đó thơ Xuân Diệu càng thêm chắc về nội dung tình cảm, thêm giản dị về điệu về lời. Và đã có lúc chúng ta tưởng như gặp một Xuân Diệu hoàn toàn mới. Nhưng cuộc đấu tranh giữa cái mới và cũ trong thơ Xuân Diệu cũng như trong con người của mỗi chúng ta là một cuộc đấu tranh gay go. Trong cái mới sao cho khỏi rơi rớt lại những cái cũ. Cái phần cũ tôi muốn nói cái phần sống sượng, lệch lạc, giả tạo trong thơ Xuân Diệu cũng còn nhiều. Nhưng hôm nay tôi không định nói về phần ấy. Tôi muốn nói về cái phần đứng đắn, chân thành trong thơ Xuân Diệu.”[4]
Tuy dành phần lớn bài viết để khen ngợi những phần đúng đường lối của Ngôi Sao, chính Hoài Thanh đã công nhận những nhược điểm của tập thơ này. Tuy vậy, ông ta quy nguyên nhân cho quá khứ tiểu tư sản của Xuân Diệu, chứ không phải vì những giá trị và sự dẫn dắt tác giả mới tiếp nhận trong mười năm phục vụ cách mạng.[5]
Dù được sự tiếp ứng nói trên, tình hình vẫn ngày càng xấu đi cho Xuân Diệu. Một tuần sau bài viết của Hoài Thanh, Văn Nghệ đăng một bài ngắn của nhà thơ lãng mạn nổi tiếng Nguyễn Bính, lớn tiếng phản đối sự thiên vị của ban giám khảo dành cho Ngôi Sao và phủ nhận những lời bào chữa của Hoài Thanh, cho rằng đó chỉ là nỗ lực xoa dịu dư luận một cách vụng về:
“Thắc mắc chung quanh tập Ngôi Sao thực là nhiều và sôi nổi. Có những thắc mắc đã nói ra trên báo chí, có những thắc mắc chỉ trao đổi trong những cuộc mạn đàm. Có những thắc mắc trong anh em văn nghệ, có những thắc mắc của bạn đọc. Của những người ở vùng tự do cũ, cũng như ở vùng mới giải phóng, ở nhiều tầng lớp khác nhau, trong những cương vị công tác, hoạt động khác nhau. Nói chung, phần tán thành ít mà phần thắc mắc thì hầu như phổ biến. Tập thơ Ngôi Sao lại đã xuất bản trước khi công bố giải thưởng. Ngay khi chưa biết nó được giải cũng đã nhiều anh em phàn nàn về những mặt hỏng của nó. Sao không có một cuộc thăm dò dư luận từ trước? Quả là ban giám khảo chưa thực mở rộng dân chủ, chưa tha thiết lắng nghe ý kiến nguyện vọng của quần chúng? Sự định đoạt giá trị và thứ bậc tác phẩm hầu như chỉ thu hẹp trong phạm vi ban giám khảo, trong sự bàn cãi phân tách của một số nhỏ người.
[…] Đối với những phản ứng trong quần chúng, Ban chấm giải không tự kiểm điểm, không trưng cầu ý kiến của quần chúng, khơi cho hết thắc mắc của mọi người, mà chỉ tìm cách xoa dịu bằng một bài báo nặng tính cách bào chữa của Hoài Thanh trong Văn Nghệ số 122. Một vài anh em không bằng lòng ra mặt những bài phê bình tập Ngôi Sao trên báo Trăm Hoa, cho đó là lối “đập” thiên lệch và ác. Trong khi ấy trên tờ báo của Hội vẫn có những bài phê bình có tính cách “đập” thiên lệch và ác như bài của Nguyễn Đình Thi phê bình Giai phẩm. Phải chăng đó là lưu tệ của cái thói “lỗi người để túi trước, lỗi mình để túi sau?”[6]
Ngày 21 tháng Sáu năm 1956, Văn Nghệ đăng tiếp bài viết thứ ba về Ngôi Sao, của một nhà văn khác tên là Huy Phương.[7] Tác giả lập luận rằng, mặc dù thơ cách mạng của Xuân Diệu nói chung có biểu hiện một lòng thiết tha với dân tộc, nhân dân và cách mạng, nhưng tình cảm cao quý ấy chỉ hiện lên rất “yếu đuối” trong tập Ngôi Sao. Huy Phương viết, “Nhưng những lúc nào Xuân Diệu bạo dạn đi sâu vào thực tế, được chất chiến đấu của thực tế tác động mạnh mẽ vào tâm hồn, thì ta thấy anh cũng đã viết được những bài thơ thành công”. Tuy nhiên, Huy Phương viết tiếp, “nhưng những khi Xuân Diệu trở về với ‘hồn thơ’ của mình thì thơ anh chỉ là tiếng nói yếu đuối của con người còn vướng mắc trong cái “tôi” riêng lẻ bé nhỏ.” Do vậy, tác giả kết luận trong bài, những vần thơ cách mạng hay nhất của Xuân Diệu là nhờ cảm hứng trong quá trình Xuân Diệu tham gia cải cách ruộng đất.[8]
Phần còn lại của bài viết là sự khai triển lập luận trên, khi tác giả cố chứng minh những điểm mạnh của thơ cách mạng Xuân Diệu là kết quả của quá trình học hỏi theo chỉ dẫn của đảng (nhất là những phần lấy cảm hứng từ cuộc đấu tranh thực sự của quần chúng lao động). Trái lại, tất cả những điểm yếu là kết quả của sự chệch hướng khi tác giả không theo sự dẫn dắt của đảng, để cái tôi cá nhân của quá khứ tư sản xen vào gây tác hại. Ngay cả những vần thơ tuyệt đẹp tả thiên nhiên đã góp phần mang lại sự nổi tiếng cho thơ lãng mạn Xuân Diệu (và Hoài Thanh đã gồng mình thuyết phục mọi người rằng trong Ngôi Sao vẫn có những vần thơ như vậy) cũng không làm Huy Phương hài lòng: “…Xuân Diệu nhìn quanh mình chỉ thấy những màu sắc lung linh, óng ả của núi sông, mây gió, cờ sao… Anh ngợp đi trong những lạc thú về thị giác và vị giác, cuộc đời biến diễn trước mắt, anh thấy như một bữa tiệc ngon của mắt và mồm.”
Một trong những nội dung thú vị nhất của bài viết là những lời bàn của Huy Phương về cách Xuân Diệu tả chiến tranh. Hiển nhiên đây là phần khó đổi lỗi cho quá khứ tư sản của nhà thơ nhất trong cả tập Ngôi Sao, vì đương nhiên những tập thơ lãng mạn nổi tiếng của Xuân Diệu Thơ Thơ và Gửi Hương Cho Gió không hề có chỗ cho bạo lực. Vậy phải giải thích những câu thơ sau thế nào đây? Tả quân địch, Xuân Diệu viết:
Rượu mồi hôi, bánh xương tủy tim gan,
Thịt nhân quần chúng mày vẫn uống ăn.
Óc đã vỡ máu lộn cùng xương tủy
Tay lìa chân, đầu rụng tiệc đau thương.
Tả người lính Việt Minh, Xuân Diệu viết:
Giữa xuân nay muôn chiến sĩ say mê
Lấy máu tủy đổ ra đời bát ngát
Ngừng tay lại thấy sức xuân còn nhạt
Đổ máu thêm cho đến lúc toàn hồng.[9]
Điều khiến Huy Phương thấy khó chịu vì những dòng thơ “nhễ nhại những máu huyết” này là “bệnh khoái cảm” (khoái cảm bệnh hoạn) mà Huy Phương tin là Xuân Diệu đã mắc phải khi viết những dòng thơ đó. “Những câu như vậy, cái lối nhìn như vậy không phải là những trường hợp ngẫu nhiên trong thơ Xuân Diệu. Nó là biểu hiện của cả một thái độ sống bắt nguồn từ cả một hệ thống ý thức và tình cảm của tác giả”. Tình cảm, theo Huy Phương, là “một cạnh khía quan trọng của khả năng cảm thông của tác giả với thực tế” và vì thế phải có một vị trí quan trọng trong thơ. “Nhưng khi cảm giác của nghệ sĩ thiên về tính chất hình thức và hưởng thụ thậm chí trở thành một động cơ sáng tác thì đó là biểu hiện của bản chất hưởng lạc cá nhân của chủ nghĩa lãng mạn tư sản”.[10] Huy Phương lập luận rằng, trong những vũng máu huyết, “bánh tim gan”, tay chân đứt lìa, óc vỡ này, thông điệp cách mạng không thể đến được với người đọc. Cùng với những nhược điểm khác mà nhà phê bình trẻ này cho là Ngôi Sao mắc phải, Huy Phương nhận xét rằng Xuân Diệu có khoái cảm trước cảnh bạo lực rùng rợn và quy kết nguyên nhân tại quá khứ tư sản của nhà thơ.
Thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm: tháng Tám đến tháng Chạp năm 1956
Suốt bốn tháng liền từ tháng Tám đến tháng Chạp năm 1956, thời kỳ của phong trào Nhân văn – Giai phẩm, công tác kiểm soát báo chí của đảng trở nên dễ dãi hơn bao giờ hết trong suốt lịch sử của chế độ. Vì sao, mới ra lệnh tịch thu Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 vào tháng Hai, lãnh đạo đảng lại đột ngột chuyển hướng và cho phép tự do báo chí vào những tháng cuối năm 1956? Trước hết, vì nhu cầu viện trợ từ Liên Xô và Trung Quốc là rất cấp bách, khiến giới lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thấy buộc phải hòa nhịp với những diễn biến chính trị tư tưởng ở hai nước đồng minh này. Ở Moscow, đó là phong trào hóa giải ảnh hưởng của Stalin, ở Bắc Kinh, đó là chính sách Trăm Hoa. Một yếu tố bên ngoài nữa là cuộc nổi dậy Poznan ở Ba Lan vào tháng Sáu. Một chỉ thị của ban bí thư đảng ban hành tháng Tám nhận định: “Bọn tay sai của Mỹ – Diệm còn lại ở miền Bắc có thể lợi dụng những sai lầm và khó khăn tạm thời của ta để phá hoại ta. Vụ lộn xộn xảy ra ở Pôdơnan (Poznan) thuộc Ba Lan gần đây là một bài học cảnh giác lớn cho ta”.[11] Một yếu tố quan trọng của hoàn cảnh trong nước có tác động đến quyết định nhân nhượng đột ngột của đảng là dư chấn còn nóng hổi của chiến dịch cải cách ruộng đất đầy bạo lực, mới kết thúc vào tháng Sáu năm 1956. Những người được tiếp cận bản báo cáo bí mật của Khrushchev không thể không nhận thấy sự tương đồng giữa những sự kiện tiêu cực được nêu trong văn bản đó với những cái gọi là “sai lầm” trong chiến dịch cải cách ruộng đất ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (giết người không cần xét xử, tra tấn để cưỡng bức nhận tội hoặc tố cáo người khác, cùng với hàng loạt biểu hiện bất chấp nhân quyền trong chiến dịch).
Một biểu hiện của cảm giác lo lắng của giới lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn này có thể thấy qua Chỉ thị 45 của ban bí thư Đảng Lao động Việt Nam, ban hành ngày 23 tháng Tám năm 1956: “Về tăng cường vận động quần chúng để đề phòng bọn phản động gây ra tình trạng cưỡng bức di cư vào Nam hay kích động gây hấn hoặc phá hoại.” Lúc đó đã hơn một năm sau ngày biên giới Nam Bắc khép lại, lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn e ngại nguy cơ di dân hàng loạt. Một phần khác của chỉ thị, chủ yếu nói về các cộng đồng Công giáo, viết rằng “trong số người có tư tưởng muốn đi Nam thì phần lớn là nông dân lao động, nhiều người được chia quả thực trong cải cách ruộng đất[12], có nơi cả cốt cán và cán bộ xóm cũng muốn đi”.[13] Nhà văn cách mạng Nguyễn Huy Tưởng ghi trong nhật ký ngày 21 tháng Tám năm 1956 về tình hình lúc bấy giờ như sau: “Nông dân sau cải cách ruộng đất, đánh nhau vì tranh tháo nước, để cứu úng thủy. Có hiện tượng Diệm nó phát động một phong trào di cư mới. Mà lần này có thể cả quần chúng cơ bản đi”.[14]
Giai đoạn đầu của thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm có thể được đánh dấu bằng hội nghị do lãnh đạo Hội Văn nghệ triệu tập từ ngày mồng một đến ngày mười tám tháng Tám năm 1956. Hơn ba trăm trí thức đủ mọi thành phần đang làm việc ở Hà Nội đã tới dự hội nghị, nhiều người đã tận dụng ngọn gió “dân chủ” do Đại hội 20 Đảng Cộng sản Liên Xô đưa đến (đến lúc đó đã được thể hiện trong Nghị quyết 9 Đảng Lao động Việt Nam) để bày tỏ những bức xúc bị dồn nén lại trong một thời gian dài.[15] Trong thời gian diễn ra hội nghị, cả Văn Nghệ và Nhân Dân cùng đăng trích đoạn bài báo viết bằng tiếng Trung của Lục Định Nhất “Trăm Hoa Đua Nở, Trăm Nhà Đua Tiếng”, mở đường cho luồng gió dân chủ thứ hai đến từ Bắc Kinh.[16] Như chúng ta đều biết, trong vòng ba tháng sau hội nghị học tập nói trên, những trí thức cách mạng bất mãn ở Hà Nội rủ nhau lần lượt xuất bản bốn ấn phẩm mới: báo Nhân Văn và ba tạp chí văn hóa Đất Mới,Sáng Tạo và Nói Thật, đồng thời tái bản hai tờ báo Giai Phẩm và Trăm Hoa.[17]
Những bài vở trong các ấn phẩm này đề cập đến hàng loạt vấn đề và không dừng lại ở lĩnh vực văn nghệ: tự do, dân chủ, tham nhũng, bạo lực cách mạng, hóa giải ảnh hưởng của Stalin, cải cách tư pháp, chủ nghĩa Mác, nhân quyền, giá trị truyền thống và nhiều chủ đề bức thiết khác. Chung quy, phần lớn các chủ đề trên, bằng cách này hay cách khác, đều quy về vấn đề cơ bản nhất: tự do. Trên thực tế, hai từ “tự do” và “dân chủ” xuất hiện ít nhất 360 lần trong ba mươi trang của năm số báo Nhân Văn. Các báo chí tư nhân thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm kêu gọi lãnh đạo đảng tiến hành cải tổ nhiều lĩnh vực, tuân thủ các tiêu chuẩn mà đảng áp dụng cho mọi người khác, và công nhận rằng việc lý tưởng hóa Liên Xô như một thiên đường xã hội chủ nghĩa không một tỳ vết là không còn hợp thời nữa. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, dù các thành viên phong trào Nhân văn-Giai phẩm yêu cầu phải đánh giá lại hình ảnh của Liên Xô và của chính Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho phù hợp thực tế hơn, điều này không hề dẫn tới yêu cầu tương tự về việc xem xét lại nhận định tiêu cực của chế độ miền Bắc đối với Cộng Hòa miền Nam Việt Nam hay đồng minh Hoa Kỳ.[18]
Trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, có bảy bài báo về Xuân Diệu gây nhiều chú ý (ba bài trên báo chí của nhà nước và bốn bài trên báo tư nhân). Cả bảy bài báo đều tập trung vào quá trình tuyển tập thơ cách mạng của Xuân Diệu Ngôi Sao được xét trao giải nhì của giải thưởng văn học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1954-1955, và chất lượng chung của tuyển tập này có xứng đáng hay không.
Phan Khôi
Có lẽ để bộc lộ rằng sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu đã trở thành một đề tài căng thẳng đến thế nào, bài báo đầu tiên trên ấn phẩm đầu tiên của thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, Giai Phẩm Mùa Thu tập 1 dành hẳn một đoạn nói về nhà thơ. Bài báo của Phan Khôi nhan đề “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” có thể coi là bài luận nổi tiếng nhất trong suốt bốn tháng sôi động với rất nhiều tranh luận học thuật.[19] Khi Phan Khôi viết bài này năm 1956, ông đã 69 tuổi (hơn Hồ Chí Minh ba tuổi). Nhà trí thức lão thành khó tính và bộc trực này có uy tín cao trong văn giới, và đã tham gia nhiều công tác yêu nước, từng viết báo, dạy học và viết văn. Đã sống và làm báo ở tất cả ba trung tâm văn hóa lớn của Việt Nam: Hà Nội, Huế và Sài Gòn, ông hiểu biết về đất nước và con người Việt Nam không kém gì ai. Về quan hệ của ông với Xuân Diệu, Phan Khôi là người đã phát động và ủng hộ Phong trào Thơ mới từ đầu thập kỷ 1930. Ngoài những thành tích đáng nể về chuyên môn, Phan Khôi còn xuất thân từ một dòng họ hoàn hảo, có truyền thống ái quốc. Ông ngoại Phan Khôi là vị tướng huyền thoại Hoàng Diệu, người được giao trọng trách trấn thủ thành Hà Nội trước đợt tấn công của Pháp năm 1882. Khi tất cả mọi kế sách đều thất bại, theo lời kể lại, Hoàng Diệu đã tự vẫn để tỏ rõ trách nhiệm của bản thân với tư cách một viên tướng đã không thể làm tròn trọng trách giữ thành vốn đã hứa với đức vua và triều đình.[20]
Bài báo của Phan Khôi dài mười trang và gồm bốn phần. Trong phần mở đầu, nhà báo lão thành tuyên bố ông sẽ nói sự thật, với ngôn ngữ không úp mở để tất cả mọi người đều hiểu. (Việc tác giả thấy có nhu cầu tuyên bố điều này có thể gợi cho ta thấy, vào thời điểm đó ngôn ngữ Bôn-sê-vích đã trở nên rối rắm khó hiểu đến thế nào). Ông cũng thông báo rằng có một phe “đối lập” trong lĩnh vực văn nghệ, gồm nhiều trí thức ở gần như tất cả mọi cấp, mọi lĩnh vực, là những người không bằng lòng với các lãnh đạo văn hóa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[21] Phan Khôi dành phần hai của bài báo để nói về vấn đề tự do sáng tác, lập luận rằng thái độ nghi ngờ của lãnh đạo đảng đối với các văn nghệ sĩ cách mạng trẻ là không hợp tình hợp lý. Theo ước tính của Phan Khôi, những trí thức cách mạng đã làm vượt yêu cầu để chứng tỏ được lòng trung thành trong suốt tám năm kháng chiến. Phần thứ ba của bài báo ông phê phán sự thái quá trong cách xử lý của các lãnh đạo văn hóa đối với Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 và tác giả Trần Dần trong tháng Hai vừa qua.
Phần bốn và cũng là phần cuối cùng của bài báo là nơi bắt đầu có những rắc rối cho Xuân Diệu. Trong phần này, Phan Khôi kể lại kinh nghiệm bản thân trong thời gian làm thành viên ban giám khảo xét giải thưởng văn học 1954-1955, xoáy sâu vào những lời bàn của ban giám khảo về tập thơ Ngôi Sao của Xuân Diệu:
“Hôm bình định về thơ, tôi phản đối tập Ngôi Sao đứng giải nhì, tôi nói: có vớt vát lắm thì cũng chỉ nên để nó đứng giải ba. Tôi cử ra những câu bí hiểm không thể hiểu nghĩa được, thì ông Huy Cận (một trong Ban chung khảo) bảo rằng đó là tại tôi “muốn” không hiểu thì không hiểu. Quái, tôi “muốn” làm sao được? Theo lẽ, ông Huy Cận nếu binh vực cho Ngôi Sao thì phải cắt nghĩa rạch ròi những câu ấy ra, chứ sao lại bảo rằng tôi “muốn” không hiểu?”[22]
Sau đó, Phan Khôi tả lại lúc ông chỉ ra một vài câu thơ không hẳn khó hiểu, nhưng “không đáng gọi là thơ”, ý muốn nói thơ cách mạng của Xuân Diệu kém hơn thơ lãng mạn. Ông kể rằng, đáp lại lời ông, “một ông trong ban (quên là ai) cãi rằng nếu thế thì bao lâu nay Đảng giáo dục Xuân Diệu không có hiệu quả gì sao?” Hình ảnh Xuân Diệu được tả trong bài báo của Phan Khôi là một người ích kỷ và cá nhân không khác gì ấn tượng chung về tính cách cũ nhà thơ trước khi tham gia cách mạng, điều này đã phủ nhận mạnh mẽ diễn ngôn chính thống rằng cách mạng đã hoán cải Xuân Diệu. Theo những thông tin Phan Khôi được biết, Xuân Diệu đã dùng quyền lực và ảnh hưởng từ nội bộ đảng để để cao tập thơ của mình: “Ban Chung khảo theo đề nghị của ông Xuân Diệu, sau khi tuyên bố giải thưởng, phải làm nhiều cách tuyên truyền cổ động rầm rộ cho các tác phẩm được giải, và đã cắt cử người nào viết bài phê bình cho tác phẩm nào.”
Nhưng điều mà Phan Khôi thấy “quái đản” nhất về giải thưởng văn học nói trên là việc ba người trong ban giám khảo lại nộp tác phẩm dự giải:
“Về vụ này, có một điều, người ngoài không phải là tôi, không biết đến, thì không lấy làm quái. Ấy là điều, ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong Ban Chung khảo. Nếu chỉ ở trong Ban Chung khảo mà thôi, còn khá; thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở trong Ban Sơ khảo nữa. Sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến thuở xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn giữ sạch tiếng: Một người nào có con em đi thi, thì người ấy có được cắt cử cũng phải ‘hồi tị’, không được đi chấm trường. Bây giờ cả đến chính mình đi thi mà cũng không ‘hồi tị’: một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã “liêm chính” cả rồi; một lẽ là trắng trợn vì thấy mọi cái ‘miệng’ đã bị ‘vú lấp’”.[23]
Để giải thích ý “vú lấp miệng” của mình, Phan Khôi tả lại một vụ rõ ràng là cố tình che giấu thông tin trong một cuộc họp đột xuất của ban giám khảo giải thưởng văn học 1954-1955 vào ngày 8 tháng Tám năn 1956. Trong buổi họp đó, ông được đọc biên bản thảo luận của ban giám khảo: “Tất cả những ý phản đối tập thơ Ngôi Sao của tôi đều không được ghi vào biên bản. Tôi lập tức viết thư cho ông (Trường Chinh) tổng bí thư Đảng Lao động Việt Nam để kể rõ sự việc.”
Vì chính quyền đã không làm gì tiếp để giải quyết thắc mắc của ông Phan Khôi, giờ đây khi mọi việc sáng tỏ trên mặt báo, mọi người có thể suy luận là Trường Chinh và lãnh đạo đảng đã phớt lờ ý kiến của ông Phan Khôi. Có ba cách lựa chọn cho các nhà lãnh đạo Đảng Lao động ViệtNam để giải quyết vấn đề này, tất cả đều không dễ dàng trong hoàn cảnh đương thời. Một là, họ có thể tiếp tục làm ngơ trước lời yêu cầu xóa bỏ tham nhũng trong lĩnh vực văn hóa của Phan Khôi. Nhưng điều này có nguy cơ khiến họ bị đánh giá là không quan tâm đến tình trạng tham nhũng, và không theo đường lối của Khrushchev mới đưa ra về tăng cường dân chủ trong đảng và lãnh đạo tập thể (có nghĩa là phải lắng nghe ý kiến từ bên dưới). Hai là, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam có thể nghe theo đề nghị của Phan Khôi là tiến hành một số biện pháp kỷ luật đối với các lãnh đạo văn hóa. Nhưng làm như thế chẳng khác gì gửi một thông điệp cho các trí thức rằng họ có thể giữ vai trò cảnh sát đạo đức ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có chức năng giám sát chính quyền và buộc lãnh đạo đảng phải giải quyết những bất công mà trí thức phát hiện. Lựa chọn thứ ba là tránh phải giải quyết những yêu cầu của Phan Khôi là bằng cách làm thế nào đó để hạ uy tín của ông. Nhưng vì đảng đang cho phép tự do báo chí trở lại, chắc chắn một chiến dịch bôi nhọ nhà báo lão thành và nhiều uy tín này trên các cơ quan ngôn luận của đảng sẽ kéo theo những phản hồi từ những người ủng hộ Phan Khôi trên báo chí tư nhân. Điều này sẽ thu hút sự quan tâm rộng rãi hơn của quần chúng đối với Phan Khôi và các ấn phẩm tự do trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm.
Yến Lan
Khi đã xác định rằng không thể phớt lờ những yêu cầu công khai của Phan Khôi, lãnh đạo đảng thử nghiệm một giải pháp kết hợp cả hai lựa chọn còn lại, một mặt buộc ba quan chức văn hóa (Hoài Thanh, Nguyễn Tuân và Nguyễn Đình Thi) công bố bài tự phê bình, mặt khác bật đèn xanh cho đăng những bài viết hạ uy tín Phan Khôi. Bài đầu tiên của dạng này xuất hiện trên Văn Nghệ số ra ngày 20 tháng Chín năm 1956, tập trung đả kích bài của Phan Khôi ở khía cạnh phê phán sai rằng lãnh đạo đảng đã phớt lờ một vụ gian lận hiển nhiên. Tác giả của nó là nhà thơ, nhà biên kịch 40 tuổi, Yến Lan, người đã ghi biên bản cuộc họp của ban giám khảo. Ông nhận rằng đó là quyết định cá nhân của một mình ông khi loại bỏ ý kiến của Phan Khôi về tập Ngôi Sao của Xuân Diệu, chứ không phải là âm mưu chung của Ban như nhà báo Phan Khôi đã áp đặt: “Biên bản là để ghi lại những ý chính của cuộc họp. Những nhận xét đó (của ông Phan Khôi) đều lạc khỏi đề tài đang thảo luận, hoặc đưa ra trong lúc giải lao, giữa hai ba người với nhau (nhiều lúc tranh luận rất sôi nổi, đôi khi gay gắt nữa) và không được đưa vào biên bản vì thư ký lúc đó đang nghỉ giải lao”.
Tiếp theo, Yến Lan trả lời thắc mắc của Phan Khôi đối với việc ba người trong ban giám khảo (trong đó có Xuân Diệu) gửi tác phẩm và được trao giải:
“Ông [Phan Khôi] đã vạch ra ba ông Hoài Thanh, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu có tác phẩm dự thi mà cùng đều ở trong ban chấm thi từ lúc sơ khảo đến chung khảo. Cũng như những người khác, ông Phan Khôi có quyền nghi như thế sẽ có điều ám muộn, nhưng trên thế giới việc đó không có gì là quái, miễn là người ta phải làm việc đúng với nguyên tắc: những người ở ban chấm thi mà có tác phẩm dự giải thì không có quyền biểu quyết tác phẩm của mình. Nguyên tắc ấy ở đây xin chứng thực là luôn luôn được nhắt đến và làm đúng, còn ra có vị nể hay không thì không thuộc phạm vi bài này.”[24]
Trần Công
Ngày 20 tháng Chín năm 1956 – ngày bài viết của Yến Lan được đăng trên Văn Nghệ, cũng tình cờ là ngày mà nhà trí thức cách mạng bất mãn Nguyễn Hữu Đang, với sự cộng tác chủ yếu của Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Duy và Phan Khôi, khai trương số đầu tiên của báo Nhân Văn. Cũng như số đầu tiên của tập Giai Phẩm Mùa Thu xuất bản trước đó mấy tuần, tờ báo gai góc này ngay lập tức khai thác chủ đề giải thưởng văn học 1954-1955. Trong bài báo “Chống bè phái trong văn nghệ”, nhà văn trẻ Trần Công viết:
“Hoài Thanh, Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, đại diện cho ban Chấp hành Hội, đều có trách nhiệm lớn đối với phong trào. Thế mà tác phẩm còn non kém của ba ông lại được giải. Nếu không phải tự mình bỏ phiếu cho mình thì cũng là bè cánh ta lại bỏ phiếu cho tác phẩm tồi của bè cánh ta (cũng nên chú ý đến Huy Cận có chân trong ban chấm giải, mà ai cũng biết Huy Cận và Xuân Diệu chỉ là một).”[25]
Trần Công còn lục lại việc cũ trong quá khứ, đưa ra một vấn đề hóc búa khác cho Xuân Diệu:
“Tập thơ Việt Bắc cũng là một tập thơ như muôn ngàn tập thơ khác, dù có hay chăng nữa thì cũng chỉ là một tập thơ. Nhưng nó có cái đặc biệt. Đặc biệt không phải ở thơ mà ở tác giả. Giá tập thơ Việt Bắc là của người khác thì phê bình cũng chẳng sao đâu, nhưng Việt Bắc lại là của Tố Hữu. Một loạt bài của Hoàng Yến, Hoàng Cầm, Lê Đạt làm một số cán bộ lãnh đạo [Hội] Văn nghệ ngạc nhiên, tức giận thậm chí có người nói ‘Địch nó không mong gì hơn chúng ta chê thơ Tố Hữu.’”[26]
Nguyễn Tuân
Một tuần sau đó, vào ngày 27 tháng Chín năm 1956, một bài báo khác xuất hiện trên tờ Văn Nghệ với chủ ý đáp lại những thông tin mà Phan Khôi tiết lộ xung quanh việc chấm giải nhì cho tập thơ Ngôi Sao đang gây tranh cãi. Bài báo là một bản tự phê bình công khai của nhà văn nổi tiếng thời Pháp thuộc, đương kim tổng thư ký Hội Văn nghệ, Nguyễn Tuân. Ông cũng tham gia ban giám khảo, cùng với Phan Khôi, Xuân Diệu, Huy Cận, Hoài Thanh và năm trí thức có uy tín khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[27] Trong bản tự phê, dưới nhan đề “Những suy nghĩ về giải thưởng văn học 1954-1955”, Nguyễn Tuân thừa nhận rằng ông không đồng tình với đề xuất trao giải nhì cho tập thơ Ngôi Sao (theo ông, trao giải ba thì xứng đáng hơn).[28] Tuy nhiên, theo Nguyễn Tuân, vấn đề liên quan đến việc trao giải cho tập thơ Ngôi Sao không phải chỉ ở chỗ tác phẩm đáng được giải nào: “Riêng tôi muốn tác giả Ngôi Sao tự nhìn mình nghiêm khắc nhiều hơn nữa, và tôi nghĩ rằng các anh Hoài Thanh, Huy Cận đã tích cực bênh vực thơ Ngôi Sao, có thể giúp đỡ nhiều cho tác giả thấy rõ vấn đề. Riêng phần tôi, trong việc Ngôi Sao, tôi cũng thấy mình nể nang trước những ý kiến của Hoài Thanh đối với thơ Ngôi Sao.”[29]
Ban thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam
Trong số tiếp theo, ra một tuần sau đó (ngày mồng 4 tháng Mười năm 1956), báo Văn Nghệ đăng tiếp một một bài tự phê thứ hai, liên quan đến vụ Ngôi Sao của Xuân Diệu: “Thông báo của Ban Thường vụ Hội Văn nghệ.”[30] Trong bài, hội thừa nhận đã sai lầm trong việc xử lý vụ việc Trần Dần và bài thơ “Nhất định thắng”, cũng như thiếu sót trong việc tuyển chọn giải thưởng văn học 1954-1955:
“Lề lối làm việc luộm thuộm, thiếu dân chủ, ít chú ý liên hệ với quần chúng. Như trong khi chấm giải, đã có nhiều ý kiến về tập thơ Ngôi Sao, nhưng đa số ủy viên chưa thật chú ý lắng nghe.
…Cũng trong phiên họp trên của Ban chấm giải, đa số ủy viên nhận rằng tập thơ Ngôi Sao của Xuân Diệu xếp giải nhì là quá cao, một số cho rằng xếp Ngôi Sao vào giải ba thì đúng hơn.”[31]
Nguyễn Bính
Bài báo thứ sáu trong số bảy bài liên quan tới Xuân Diệu trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, “Phải xem xét lại tất cả các giải thưởng văn học” do Nguyễn Bính chấp bút và đăng trên hai số liền của tờ Trăm Hoa (ra ngày 20 và 28 tháng Mười năm 1956).[32] Nguyễn Bính là nhà thơ lãng mạn nổi tiếng, và cũng đã viết bài trên báo Văn Nghệ bốn tháng trước đó, yêu cầu các lãnh đạo văn nghệ phải “nghiêm túc tự phê” vì đã trao giải nhì cho Ngôi Sao trong đợt xét giải thưởng văn học 1954-1955. Khi đó, ông đang là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Trăm Hoa, tờ báo đã đăng ba bài phê phán tập Ngôi sao sau ngày công bố giải thưởng văn học 1954-1955, ngày 15 tháng Ba năm 1956. Không lâu sau đó, tờ báo sập tiệm vì hết tiền.[33] Bản thân Nguyễn Bính cũng là một ngôi sao (tuy không rực rỡ bằng Xuân Diệu) của Phong trào Thơ mới.[34] Về hoạt động cách mạng, ông đã từng rời Hà Nội vào Nam từ năm 1944 để du ngoạn và kiếm sống, ở đó khi cuộc cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp tái xâm lược Việt Nam nổ ra, ông tiếp tục làm việc trên mặt trận văn chương cho Việt Minh. Khi chiến tranh sắp kết thúc năm 1954, ông tập kết ra Bắc cùng với hàng ngàn cán bộ Việt Minh khác và bắt đầu làm việc tại Nhà Xuất bản Văn nghệ. Chính vì ở cương vị này mà ông nắm vững được thông tin chi tiết về quá trình xuất bản tập thơ Ngôi Sao.[35]
Bên cạnh các nội dung khác, Nguyễn Bính khai triển một vấn đề do Trần Công nêu ra trong bài viết trên báo Nhân Văn cách đó một tháng, về việc lạm dụng “yêu cầu cách mạng” làm mục tiêu biện minh cho mọi hành động, thực chất là để che giấu động cơ mưu lợi cá nhân. Theo hướng này, Nguyễn Bính lật lại câu nhận xét, lúc bấy giờ đã bị nhiều người chê bai, về cuộc tranh luậnViệt Bắc: “Địch nó không mong gì hơn là ta chê thơ Tố Hữu”. Nguyễn Bính kết luận, thật là hổ thẹn khi “Ông Hoài Thanh đã đem cả địch ra mà bảo vệ cho thơ Tố Hữu”. Theo Nguyễn Bính, nguyên nhân thực sự khiến Hoài Thanh bênh vực tập thơ Việt Bắc là quan hệ công tác giữa ông ta và tác giả tập thơ – Tố Hữu là thủ trưởng của Hoài Thanh. “Cái lối nịnh trên nạt dưới ấy tất nhiên ông Hoài Thanh phải đem sử dụng vào việc chấm giải. Vì ông Tố Hữu ai cũng biết là Trung ủy, là lãnh đạo văn nghệ, là Thứ trưởng…”[36]
Những lời phê của Nguyễn Bính còn trở nên trực tiếp hơn, cá nhân hơn khi ông bàn tới mối liên hệ giữa giải thưởng văn học và tiền bản quyền khi xuất bản. Ông tiết lộ rằng trong tất cả các thi sĩ có sách in ở nhà xuất bản của Hội Văn nghệ, chỉ duy nhất có thơ Tố Hữu là được sắp vào loại A, “nghĩa là thuộc cái loại giá trị nhất và được tính tiền bản quyền tác giả cao nhất. (Không biết các ông lãnh đạo Hội có kiểm tra đôn đốc việc này hay không?)”. Ở đây cần phải lưu ý rằng cụm từ “kiểm tra đôn đốc” được sử dụng rất nhiều trong các văn kiện đảng. Cũng tương tự như lời bàn của ông về việc Hoài Thanh viện tới “địch” để bênh vực tập thơ của Tố Hữu, Nguyễn Bính nhại cụm từ “tủ” này một cách mỉa mai để đánh động sự chú ý của mọi người rằng các quan chức cao cấp có thể dễ dàng lợi dụng những thuật ngữ cách mạng rất văn hoa để đánh bóng và hợp lý hóa những hành động, thực ra, có thể đơn thuần chỉ là vụ lợi cá nhân.
Nguyễn Bính cũng bật mí những chi tiết xung quanh quá trình xuất bản tập thơ Ngôi Sao. Theo ông, tất cả đội ngũ cán bộ của Nhà Xuất bản Văn nghệ, nơi ông làm việc, đã đánh giá là tập thơ rất tệ, vì vậy, nó bị bỏ xó ở một góc văn phòng suốt mấy tháng, mãi đến khi “cấp trên” liên tục nhắc nhở, buộc Nguyễn Bính và đồng nghiệp phải triệu tập một cuộc họp, chọn ra những bài “đỡ tệ” nhất trong bản thảo để gửi đến Nhà in Quốc gia. “Vì lẽ Thơ Xuân Diệu không có độc giả, Xuân Diệu lại vận động mãi với cấp trên, sau bất đắc dĩ nhà in Quốc gia nể quá mới in cho 1500 quyển”. Khi các thành viên của giới văn nghệ biết được tin Ngôi Sao được giải nhì, “anh em không thể tưởng tượng được rằng lại có một cuộc xâm phạm trắng trợn văn nghệ như thế. Anh em lạ quá là vì anh em không thể ngờ rằng ban giáo khảo lại có thể khinh thường văn nghệ, khinh thường anh em và quần chúng đến mức ấy”. Để kết thúc bài viết, Nguyễn Bính bày tỏ những suy nghĩ như sau:
“Hai ông Huy Cận và Hoài Thanh trong ban chung khảo tại sao lại “tích cực bênh vực cho tập thơ Ngôi Sao” (lời ông Nguyễn Tuân)? Ông Hoài Thanh trước cách mạng đã biết chọn lọc các bài thơ hay của các thi sĩ để soạn thành quyển Thi nhân Việt Nam, có phê phán. Ông Huy Cận, tuy bây giờ là Thứ trưởng bộ Văn hóa, nhưng trước kia đã từng là một nhà thơ có tiếng tăm. Thế thì đối với một tập thơ dở như tập Ngôi Sao, tại sao hai ông lại tích cực bênh vực? Có phải tại ông Huy Cận và Xuân Diệu chỉ là một, còn ông Hoài Thanh vụ trưởng vụ Nghệ thuật thì lại là cấp dưới của ông Huy Cận hay không?”[37]
Phạm Tường Hạnh
Bài báo cuối cùng trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm liên quan đến Xuân Diệu xuất hiện trên trang bìa của tờ Trăm Hoa số ba (ra ngày mồng 4 tháng Mười một năm 1956). Tác giả là Phạm Tường Hạnh, một nhà văn cách mạng trẻ từ miền Nam ra Bắc tập kết sau kháng chiến chống Pháp, đang làm việc cho chương trình Phát thanh Thanh niên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tác giả phản đối ý kiến của Nguyễn Tuân trong bài tự phê, cho rằng đa số những nhận xét tiêu cực về tập thơ Ngôi Sao xuất phát từ ác cảm với Xuân Diệu ở một số thành phần trong đội ngũ trí thức. Ông viết: “Tôi tưởng vấn đề không phải thế. Có thể có số người nào đó không ưa tác giả Ngôi Sao. Nhưng không đến nỗi họ “giận cá chém thớt” để tẩy chay tác phẩm của Xuân Diệu. Vả lại còn có nhiều người xưa nay chưa biết mặt mũi Xuân Diệu ra sao như anh em miền Nam tập kết chẳng hạn, cũng nhiều người không thích tập thơ Ngôi Sao chút nào”.[38]
[1] Tiêu đề của tập thơ Ngôi sao gợi hình ảnh Đảng Lao động Việt Nam, với đảng kỳ có ngôi sao vàng trên nền đỏ. Nhưng cũng có thể tác giả muốn chuyển tải cảm nghĩ về đảng như một ngôi sao dẫn đường. Chúng tôi vẫn chưa tìm lại được tư liệu những số Trăm Hoa có đăng bài phê phán tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu. Hình như tác giả của các bài phê bình đó là nhà thơ Trần Lê Văn.
[2] Xã luận, “Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên-Xô đã thành công rực rỡ”, Nhân Dân, số 726, 28/2/1956. Xem thêm bài “Đồng chí Trường Chinh trả lời phỏng vấn của phóng viên đài phát thanh Mạc-Tư-Khoa”, Nhân Dân số 733, 6/3/1956.
[3] X.Y.Z., Sửa Đổi Lề Lối Làm Việc (Hà Nội, Sự Thật, 1950).
[4] Hoài Thanh, “Một vài ý kiến về tập thơ ‘Ngôi sao’ của Xuân Diệu”, Văn nghệ, số 122, 24/5/1956.
[5] Sđd. So sánh những ý kiến đánh giá thơ lãng mạn Xuân Diệu trong bài này với tác phẩm Thi nhân Việt Nam: 1932-1941 để thấy giọng văn Hoài Thanh đã thay đổi như thế nào.
[6] Nguyễn Bính, “Hội cần phải mạnh dạn tự phê bình”, Văn nghệ, số 125, 14/6/1956.
[7] Huy Phương, “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu”, Văn nghệ, số 126, 21/6/1956.
[8] Một chi tiết thú vị đáng lưu ý là, đến tận tháng 6/1956, Huy Phương – một người sắp tham gia phong trào Nhân văn – Giai phẩm vẫn có nhận xét tích cực về cải cách ruộng đất.
[9] Huy Phương, trong “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao”, dẫn bài “Xuân Việt Nam” và “Đêm Mười Chín” của Xuân Diệu.
[10] Sđd.
[11] Chỉ thị của Ban Bí thư, số 39/CT-TW, 3/8/56, “Về việc sửa chữa một số sai lầm khuyết điểm trong các công tác nhằm ổn định tình hình và ngăn ngừa âm mưu khiêu khích của bọn phá hoại”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 17:374.
[12] “Quả thực” là thuật ngữ của đảng dùng để chỉ những tài sản tịch thu từ những người bị coi là kẻ thù giai cấp trong chiến dịch cải cách ruộng đất, đem chia cho những người nghèo để chứng tỏ rằng đảng quan tâm đến lợi ích của họ.
[13] “Chỉ thị của Ban Bí thư, số 39/CT-TW, 3/8/56, “Về việc sửa chữa một số sai lầm khuyết điểm trong các công tác nhằm ổn định tình hình và ngăn ngừa âm mưu khiêu khích của bọn phá hoại”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 17:374.
[14] Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng: Tập 3, Nghệ sĩ và công dân (Hà Nội: Thanh Niên, 2006), 127.
[15] Chúng tôi dùng từ “dân chủ” theo nghĩa các lãnh đạo đảng thường gán cho từ này, tức là khi cấp trên lắng nghe ý kiến phê bình của cấp dưới. Một ví dụ cụ thể, xem “Chỉ thị của thường vụ liên khu ủy IV, 1/10/1952” trong Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 13: 440-443.
[16] Báo Nhân Dân đưa tin về bài viết trong “Thư Bắc Kinh” của Lê Hao (Nhân Dân, số 884, 5/8/1956) nhưng mãi đến số ngày 30/9/1956 mới đăng bài dịch.
[17] Theo nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng và hồi ký của Tô Hoài, tổng biên tập báo Trăm Hoa, Nguyễn Bính cho rằng tờ báo của mình độc lập với Nhân Văn và Giai Phẩm, khách quan và trung lập hơn. Dù ý định của ông là gì chăng nữa, tờ báo Trăm Hoa cũng chia sẻ rất nhiều suy tư mang tính nhân văn được nêu trong Nhân Văn và Giai Phẩm.
[18] Một ngoại lệ là ý kiến của Nguyễn Hữu Đang kêu gọi mọi người tôn trọng pháp chế tư bản hơn: “Chúng ta quá căm ghét pháp chế tư bản chủ nghĩa đến mức, ở nhiều người, nó đã biến thành nỗi căm ghét pháp chế nói chung”. Nguyễn Hữu Đang, “Cần phải chính quy hơn nữa”,Nhân Văn, số 4, 11/11/1956.
[19] Phan Khôi, “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, Giai phẩm Mùa thu tập 1 (Hà Nội; NXB Minh Đức, tháng 8/1956).
[20] Hoàng Diệu được chế độ mới tôn trọng đến mức tên ông được chọn đặt cho một trong số ít những con đường ở khu có nhiều biệt thự của lãnh đạo đảng tại thủ đô Hà Nội.
[21] Trong nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, nhà văn cách mạng này ghi nhận Phan Khôi có lần đã nói với lãnh đạo đảng rằng họ là “mensheviks” (phe nhược tiểu, ngược với bolshevik), Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký tập 3: Nghệ sĩ và công dân (Hà Nội, Thanh Niên, 2006), 128.
[22] Phan Khôi, “Phê bình lãnh đạo”.
[23] Sđd. Ở Việt Nam, câu ngạn ngữ này được dùng để tả trường hợp một người ở thế mạnh hơn dùng quyền thế để ép người dưới dưới im tiếng.
[24] Yến Lan, “Một vài sự thật chung quanh ‘vụ giải thưởng văn học 1954-1955’”, Văn nghệ, số 139. 20/9/1956.
[25] Trần Công, “Chống bè phái trong văn nghệ”, Nhân Văn, số 1, 20/9/1956.
[26] Trần Công, “Chống bè phái”.
[27] Năm thành viên còn lại của ban giám khảo là Đặng Thai Mai, Thế Lữ, Trương Tửu, Hoàng Xuân Nhị và Nguyễn Huy Tưởng.
[28] Nguyễn Tuân, “Về giải thưởng Văn Học 1954-1955”, Văn nghệ, số 140, 27/9/1956.
[29] Sđd.
[30] “Thông cáo của Ban Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam”, Văn nghệ, số 141, 4/10/1956.
[31] Sđd.
[32] Nguyễn Bính, “Cần phải xét lại toàn bộ giải thưởng văn học”, Trăm Hoa, số 1 & 2, 20 và 28/10/1956.
[33] Nguyễn Bính đã miêu tả cách chế độ làm khó dễ cho báo chí tư nhân trong bài báo thú vị “Hoa lại nở”, Trăm Hoa, số 1, 20/10/1956.
[34] Không giống như Xuân Diệu và đa số các nhà thơ khác trong phong trào, Nguyễn Bính đã khai thác cảm hứng cho thơ mình từ ca dao, dân ca Việt Nam. Thơ của ông có xu hướng miêu tả những cảnh bình dị ở thôn quê Việt Nam theo phong cách lãng mạn.
[35] Nguyễn Bính, “Cần phải xem xét lại toàn bộ giải thưởng văn học”.
[36] Sđd.
[37] Sđd.
[38] Phạm Tường Hạnh, “Một vài ý kiến của bạn đọc về bài ‘Về vụ giải thưởng 1954-1955’ của Nguyễn Tuân”, Trăm Hoa, số 3, 4/11/1956.
Xâu chuỗi lại những nhận xét về Xuân Diệu trong thời kỳ Nhân văn Giai phẩm
Những tài liệu về báo chí thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm cho phép chúng ta tổng kết lại những nét chính của dư luận đa chiều xung quanh quá trình phục vụ cách mạng của Xuân Diệu. Trước hết, có vẻ nhà thơ đã lợi dụng uy tín cá nhân của mình và khai thác những mối quan hệ có quyền lực trong đảng để gây sức ép với NXB Văn nghệ vốn đang lưỡng lự, phải sớm in tập thơ Ngôi Sao. Thứ nhì, đại đa số đội ngũ trí thức văn nghệ cho rằng chất lượng của tập thơ kém, khiến quyết định trao giải nhì càng có vẻ bất công hơn. Ba là, Xuân Diệu đã tham gia ban giám khảo xét giải thưởng văn học 1954-1955 mà vẫn nộp tác phẩm dự giải, tạo cho mình lợi thế có thể bỏ phiếu, hoặc ít nhất là vận động sự ủng hộ, cho tác phẩm của chính mình.[1] Bốn là, trong ban giám khảo, Huy Cận, bạn đời của Xuân Diệu, là người vận động tích cực nhất cho tập thơ Ngôi Sao. Năm là, khi Phan Khôi nhận xét thơ cách mạng của Xuân Diệu kém hơn thơ lãng mạn, một thành viên không rõ tên của ban giám khảo đã gần như gợi ý rằng cần phải trao giải cho thơ cách mạng Xuân Diệu để đảng khỏi mất uy tín. Sáu là, sau khi Huy Cận đinh ninh rằng Ngôi Sao sẽ được giải, Xuân Diệu đã tự giúp mình thêm bằng cách yêu cầu tất cả các tác phẩm được giải (trong đó, đương nhiên có Ngôi Sao) phải được quảng bá rộng rãi trên báo chí của đảng (sử dụng ngân sách công) để khuyến khích quần chúng mua tác phẩm (và tiền sẽ vào túi Xuân Diệu). Điểm cuối cùng là, cả Trần Công và Nguyễn Bính đều công khai khẳng định rằng Xuân Diệu và Huy Cận là một đôi, đầy quyền lực trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ.
Việc Xuân Diệu nghĩ như thế nào về những ý kiến tranh luận rất nóng liên quan đến sự nghiệp cách mạng của mình vẫn còn là điều bí ẩn, vì ông không viết một bài nào phản ứng lại những vấn đề do những người phê bình ông đưa ra. Một manh mối cho thấy trạng thái tâm lý của Xuân Diệu là ông không đăng bất cứ một bài vở gì trong suốt năm tháng liền, từ ngày 17 tháng Năm năm 1956 – ông có bài nhận xét về cuốn sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch cho đến ngày mồng 9 tháng Mười một năm 1956, bài “Về con người cũ và con người mới”.[2] Bài viết sau là bản dịch các ghi chép của Maksim Gorky về sự chuyển hóa cách mạng. Trong thời gian đó, các rạp ở Hà Nội đang chiếu bộ phim Liên Xô dựa theo tác phẩm nổi tiếng của Gorky “Người mẹ”.[3] Bản dịch các ghi chép của Gorky là một bước đi hết sức thận trọng của Xuân Diệu nhằm tiếp cận lại diễn đàn trí thức sau một thời gian dài im hơi lặng tiếng.[4]
Những sự kiện trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm làm xáo trộn đời sống chính trị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn. Phản ứng của chính quyền với phong trào được bắt đầu bằng bài viết “Mấy điểm  sai lầm chủ yếu trong báo Nhân Văn và tập Giai Phẩm Mùa Thu” của Nguyễn Chương, một nhân vật bảo thủ, đăng trên báo Nhân Dân, cơ quan của Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, số ra ngày 25 tháng Chín năm 1956.[5] Bốn nhân vật bảo thủ khác trong đảng, Xuân Trường, Hoàng Xuân Nhị, Hồng Chương và Quang Đạm, tất cả đều gắn với hai ấn phẩm nhiều quyền lực nhất của chế độ đương thời, báoNhân Dân và tạp chí lý luận Học Tập, tiếp sức liền.[6]  Ngoài bài viết của những vị nêu trên, báo Nhân Dân còn đăng khoảng ba mươi bài khác, trong thời gian từ tháng Mười năm 1956 đến tháng Giêng năm 1957, phản hồi về những vấn đề cốt lõi được nêu trong các ấn phẩm của Nhân văn-Giai phẩm, như tự do dân chủ, pháp chế xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa nhân văn, và quan hệ giữa chính trị và văn hóa.
Là tờ báo chuyên ngành văn hóa của chính quyền, Văn Nghệ – lúc đó Xuân Diệu vẫn có tên trong ban biên tập, chỉ đăng có sáu bài phê phán phong trào Nhân văn-Giai phẩm trong mười hai số xuất bản trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, tức là trung bình hai số mới có một bài.[7] Có lẽ điều quan trọng hơn là, chỉ trừ bài cuối cùng do một quan chức văn nghệ gốc Nghệ An tên là Hoàng Trung Thông (bút danh Hồng Vân) viết, tác giả của tất cả các bài còn lại đều là những nhân vật tương đối ít tên tuổi trong đội ngũ trí thức văn nghệ. Đó thực là một phản ứng yếu ớt, nếu so sánh với những đòn tấn công mãnh liệt hồi tháng Ba và tháng Tư tờ báo này đã dành cho tập Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 – một ấn phẩm vô hại hơn nhiều so với những ấn phẩm sau này của phong trào Nhân văn-Giai phẩm. Hồi đó, ba nhà trí thức quyền lực nhất nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Hoài Thanh, Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi cùng tiên phong chỉ đạo đợt tấn công.
Trong con mắt của các lãnh đạo đảng cao cấp, giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tờ báo Văn Nghệ lúc bấy giờ hẳn là một đám hỗn loạn. Một vấn đề nhức nhối là ba thành viên quan trọng trong phong trào Nhân văn-Giai phẩm: Văn Cao, Sĩ Ngọc và Chu Ngọc đều có chân trong ban biên tập chín người của báo Văn Nghệ. Điều này đồng nghĩa với việc không thể sử dụng tờ báo này làm vũ khí hữu hiệu để tấn công Nhân văn-Giai phẩm. Trên thực tế, nhiều thành viên quan trọng của phong trào cải cách này còn đăng bài trên báo Văn Nghệ trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm. Hình như họ không gặp trở ngại nào với cả hai mảng báo chí nhà nước (Văn Nghệ) và tư nhân (Nhân văn, Giai phẩm), và tự do qua lại cả hai bên.[8]
Có ba yếu tố giúp giải thích vì sao báo Văn Nghệ giữ thái độ khá trung lập và không thấy nhiều sự phụ họa của giới trí thức trong chiến dịch tấn công Nhân văn-Giai phẩm. Trước hết, đa số thành viên trong đội ngũ trí thức có vẻ ngầm đồng tình với nhiều đề xuất nhân văn được thể hiện trong các ấn phẩm của phong trào Nhân văn-Giai phẩm. Hai là, dưới góc độ kinh tế đơn thuần, tình trạng lạm phát, thiếu lương thực, và không có chính sách lương chuẩn hóa, ổn định cho các trí thức ở Hà Nội lúc bấy giờ đồng nghĩa với tình trạng các nhà văn phải chật vật mới đủ ăn. Môi trường tự do báo chí sẽ là mang lại nhiều cơ hội kiếm tiền nhuận bút, điều mà các trí thức trong chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang rất khát khao. Và ba là, lãnh đạo đảng ban đầu đã chủ trương xoa dịu các trí thức bất mãn bằng cách để cho họ xả những nỗi tức giận lên đầu những người lãnh đạo chuyên môn trực tiếp. Những quan chức văn hóa này (như Xuân Diệu, Huy Cận, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, thậm chí ngay cả Tố Hữu) đã bị đồng nghiệp trí thức hạ uy tín và tạm thời bị chính quyền thả nổi. Đến lúc thấy nhất định phải loại bỏ Nhân văn-Giai phẩm, lãnh đạo đảng buộc phải trông cậy vào các nhà lý luận Mác-Lê của hai tờ Nhân Dân và Học Tập chứ không phải các quan chức văn hóa, những người đã phải trả giá đắt vì đã đánh tập Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 vào đầu năm. Tình thế đó giúp giải thích vì sao Xuân Diệu, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi và các lãnh đạo văn hóa khác phải ngồi im lặng ngoài đường biên gần như suốt thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, không hề tham gia viết bài đánh phong trào này ngay trong chiến dịch.
Khoảng giữa tháng Chạp năm 1956, lãnh đạo đảng bắt đầu ra lệnh đóng cửa các ấn phẩm Nhân văn, Giai phẩm, đầu tiên với tờ báo Nhân Văn. Một bài báo của nhà lý luận cứng rắn Xuân Trường đăng trên Nhân Dân số ra ngày 10 tháng Chạp năm 1956 đã tổng kết quan điểm của chính quyền về tờ báo nói trên: Nhân Văn tuyên bố là đi theo sự lãnh đạo của đảng, nhưng trên thực tế thì không. Tờ báo nói xấu chế độ bằng cách công khai kết tội lãnh đạo đảng tìm cách phá hoại tờ báo, nó “gieo mầm nghi ngờ trong quần chúng về bản chất tự do dân chủ của chế độ ta”; và các bài báo “xuyên tạc, nói xấu, bịa đặt”. Về những suy tư của Nhân Văn đối với Ba Lan và Hungary, Xuân Trường viết:
“[Nguyễn Hữu Đang] lại đặt vấn đề ‘nguyên nhân sâu xa của những biến cố ở Ba-lan và Hung-ga-ri là vì thiếu dân chủ, tại sao lại hiểu ra là vì thiếu chuyên chính?’ Chế độ ta là chuyên chính dân chủ nhân dân, nghĩa là dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ thù của nhân dân, của Tổ quốc, của chế độ. Dân chủ và chuyên chính là hai mặt của một vấn đề. …Những biến cố vừa rồi ở Ba-lan và Hung-ga-ri có nguyên nhân khách quan và chủ quan của nó. Kẻ chủ mưu những vụ phiến loạn ở Hung-ga-ri là bọn phản cách mạng gồm những phần tử phong kiến tư sản phản động tay sai của đế quốc. Chúng lợi dụng sự bất mãn của quần chúng mà làm điều phi pháp. Cách hiểu và đặt vấn đề của bạn Nguyễn Hữu Đang về thực tế đã gieo một tâm lý hoài nghi cho một số người chưa thật hiểu ở đường lối và chính sách của Đảng và Chính phủ.”[9]
Đến tháng Chạp, Trung ương đảng tổ chức gặp gỡ các trí thức và phê bình nghiêm khắc những người đã tham gia phong trào Nhân văn-Giai phẩm. Dù những nhà cải cách này vẫn tiếp tục được làm việc cho chế độ, nhưng cuộc sống của tất cả các thành viên từng tham gia phong trào vẫn không thể trở lại bình thường. Bị công an theo dõi là chuyện thường ngày, và đương nhiên khiến cho những người khác trong giới trí thức (bất kể ý kiến riêng của họ về Nhân văn-Giai phẩm như thế nào) ngại bị người khác phát hiện có tiếp xúc với các thành phần Nhân văn-Giai phẩm.[10] Tuy nhiên, bịt miệng phong trào Nhân văn-Giai phẩm đã là một việc làm đau đầu các lãnh đạo đảng, nhưng việc khó hơn (và đòi hỏi những biện pháp mạnh hơn) là phải phá vỡ sự thống nhất của giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với xu hướng coi tranh luận thả cửa và sự tồn tại của nhiều luồng ý kiến không đồng thuận là chuyện thường ngày trong giới. Xu hướng dung hòa các quan điểm bất đồng này buộc Đảng Lao động Việt Nam phải siết chặt sự kiểm soát đối với các hoạt động sáng tác. Lãnh đạo đảng cần các trí thức kiểm soát lẫn nhau, chứ không phải dung hòa với nhau.
Giữa Nhân văn-Giai phẩm và Văn: Hai bài phát biểu của Xuân Diệu về Văn học Cách mạng
Sang đến năm 1957, tình hình của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tương đối ổn định so với những năm đầy xáo trộn trước đó, từ cải cách ruộng đất, hóa giải ảnh hưởng Stalin, phong trào Trăm Hoa, những biến động chính trị trong khối xã hội chủ nghĩa (Ba Lan và Hungary) và Nhân văn-Giai phẩm. Tuy nhiên, một văn kiện chính thức của đảng năm 1957 cho người đọc một cảm tưởng rằng chế độ vẫn vững vàng trên đôi chân của mình, dù phải liên tiếp đối mặt với hết sự cố này đến rắc rối khác, cố gắng kiểm soát một xã hội đang rời rạc và thiếu hiệu quả. Vụ đàn áp Nhân văn-Giai phẩm vào tháng Chạp năm 1956 đánh dấu bước đi đầu tiên trong kế hoạch đảo ngược lại chính sách hóa giải ảnh hưởng của Stalin, sẽ được thực hiện trong suốt năm 1957. Đối với vấn đề cải cách ruộng đất – một chiến dịch gây tác động sâu rộng đến đông đảo dân chúng nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lãnh đạo đảng tỏ ra ngày càng hờ hững với việc “sửa sai” – dù trước đó đã hứa sẽ thực hiện triệt để, trong lúc cao điểm của phong trào hóa giải ảnh hưởng của Stalin vào tháng Mười năm 1956. Những bước sửa sai gồm có: phục hồi công tác cho các đảng viên bị đấu tố, bồi thường thích đáng về vật chất cho nông dân lao động có tài sản bị tịch thu, giảm thuế nông nghiệp – vì trong chiến dịch đã bị nâng mức đồng loạt.[11] Về mặt tư tưởng, chính quyền chưa bao giờ thấy dễ chịu với chính sách hóa giải ảnh hưởng Stalin.[12] Về kinh tế, bất kể xu hướng chính sách của lãnh đạo đảng có như thế nào chăng nữa, tình hình kinh tế ngày càng xuống dốc của đất nước không cho phép thực thi chính sách bồi thường toàn diện cho các nạn nhân cải cách ruộng đất. Vào giữa năm 1957, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam nhận xét tình hình kinh tế như sau:
“Hội nghị (Bộ Chính trị tổ chức ngày mồng 6 tháng Tư năm 1957) nhận định từ đầu năm đến nay, tình hình thị trường ngày một gay go: vật giá tiếp tục lên mạnh, thất thu về thuế đang nặng nề, nạn đầu cơ tích trữ trầm trọng hơn, thị trường tự do đang mở rộng và đấu tranh mạnh chống lại sự kiểm soát, quản lý của Nhà nước và sự lãnh đạo của kinh tế quốc doanh.
Tình hình đó làm cho đời sống của nhân dân lao động nhất là những người sống bằng tiền lương bị sút kém, việc thực hiện kế hoạch Nhà nước 1957 bị khó khăn, và gây ảnh hưởng chính trị không tốt.”[13]
Để đối phó với tình hình đang xấu đi này, Bộ chính trị chỉ thị đảng phải huy động các nguồn lực và thực thi một số biện pháp, dù việc này chắc sẽ không gây được cảm tình của quần chúng.[14] (Trên thực tế, các biện pháp đó có nét giống với một số tội “bóc lột” mà đảng đã quy cho địa chủ trong hai thập kỷ qua). Những biện pháp đó gồm có “hăng hái đấu tranh chống” thất thu thuế nông nghiệp và công nghiệp, hạn chế số lượng tiền mặt lưu hành trên thị trường, hạn chế cho vay vốn nông nghiệp. Trong một nỗ lực nhằm giảm thiểu nhu cầu vật chất của nhân dân, Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào hãy ghi nhớ những gian khổ hy sinh mà nhân dân Liên Xô đã chịu đựng trong suốt mười bốn năm cách mạng. Trình bày viễn kiến của mình về thời gian sắp tới trước một cử tọa gồm các “đại biểu nhân dân” ở Hải Phòng, lãnh tụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ôn nghèo kể khổ về quãng thời gian ông chứng kiến tại Liên Xô: “Đàn ông không cần  cổ cồn, cravát, đàn bà không cần lòe loẹt; ô tô chỉ cần chạy chuyên chở được, tất cả là cốt để xây dựng đã. Và mua cái gì cũng có vé hết, bất kỳ bánh, thịt, vải, giày. Vì tinh thần hy sinh chịu khó, chịu khổ, thắt lưng buộc bụng và cách tổ chức mua bán như thế là hết đầu cơ tích trữ”.[15]
Trong hoàn cảnh kinh tế căng thẳng này, vào tháng Hai năm 1957, ngay sau kỳ nghỉ Tết, Đại hội Văn nghệ Toàn quốc lần thứ hai diễn ra trong tám ngày (từ ngày 20 đến ngày 27 tháng Hai) tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Trong ngày khai mạc, nhà lý luận văn hóa gạo cội của đảng, Trường Chinh đã đọc bức thư dài của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi Hội nghị. Bức thư khẳng định “nền văn nghệ mới lấy hiện thực xã hội chủ nghĩa làm phương pháp sáng tác tốt nhất.” nhưng vẫn đinh ninh “để phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật cách mạng, cần phát huy tự do sáng tác”.[16] Đại hội chứng kiến việc giải thể Hội Văn nghệ và thành lập một đoàn thể văn hóa mới, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Lãnh đạo đảng chỉ thị cho mỗi ngành văn hóa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải thành lập một hội riêng trong khuôn khổ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật. Xuân Diệu ở trong số mười lăm nhà văn và một vài nghệ sĩ từ các ngành nghệ thuật khác được “bầu” vào ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật. Vậy là sau hàng loạt các bài viết phanh phui những thủ đoạn vận động hậu trường để nâng đỡ tập thơ Ngôi Sao xuất hiện trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, dường như lãnh đạo đảng thấy cần phải vun xới lại uy tín cho Xuân Diệu và các lãnh đạo văn hóa cánh hữu khác từng chịu búa rìu phê phán của những trí thức bất mãn trong giai đoạn cuối năm 1956.
Bài diễn thuyết thứ nhất: “Bệnh sơ lược trong văn học” (ngày 26 tháng Hai năm 1957)
Bài tham luận của Xuân Diệu về “bệnh sơ lược trong văn học” tại Đại hội Văn nghệ Toàn quốc lần thứ hai đáng được lưu ý vì đây là lần đầu tiên ông đăng đàn phát biểu về những vấn đề văn học gây tranh cãi trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm. Theo ý kiến đa số, Xuân Diệu có tài phát biểu trước công chúng, là một người thích đứng trước micro và biết vận dụng thuật hùng biện, như làm điệu bộ, ngắt nhịp, lên xuống giọng để gây hiệu ứng kịch tính.[17] Thử tưởng tượng xem các thành viên của Nhân văn-Giai phẩm, những người từng cộng tác hoặc chủ trương những ấn phẩm vừa bị đóng cửa ba tháng trước sẽ nghĩ như thế nào về Xuân Diệu khi họ ngồi ở trong Nhà hát Lớn nghe ông diễn thuyết: “Những tác phẩm mắc bệnh sơ lược gây tai hại là làm cho người ta hiểu sai thực tế, tưởng cách mạng là toàn hồng, gây bệnh chủ quan và thiếu lý tưởng”.[18]
Về nguyên nhân của căn bệnh sơ lược trong văn học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Xuân Diệu vạch ra rằng “Nhưng có một số nhỏ người cho rằng bệnh sơ lược là do ở bản chất nền văn học mới của chúng ta, cũng như có người nói tệ sùng bái cá nhân là ở bản chất của chế độ Xô-viết. Gián tiếp họ muốn nói rằng: tại vì Đảng lãnh đạo nhúng tay vào văn học, nên văn học mới bị bệnh sơ lược, công thức như thế này; nếu cứ để Văn nghệ sĩ hoàn toàn tự do, thì Văn nghệ đã vô cùng phong phú”.
Thay vì tiếp tục phân tích giả thuyết trên xem đúng sai ra sao, Xuân Diệu giải thích:
“…bệnh sơ lược không ở bản chất nền văn học mới chúng ta… chúng ta không độc quyền về bệnh sơ lược. Văn dở thì cổ kim đông tây, đời nào và ở đâu cũng có… Số người quy bệnh sơ lược ở Đảng và chế độ cũng thường trách Đảng và chế độ sinh ra bệnh công thức. Họ nói đến những con người máy, những người rập khuôn do chế độ ta sinh ra. Theo tôi nhớ, thì luận điệu này, bọn tư bản về đế quốc đưa ra đã lâu lắm rồi…”
Xuân Diệu cũng nói về cái mà mọi người thường gọi là văn hóa “rập khuôn” trong môi trường xã hội mới của cuộc cách mạng:
“Những con người máy đã phá kho bom Tân Sơn Nhất chăng? Bế Văn Đàn đã hy sinh rập khuôn với Phan Đình Giót chăng? Hay là trong phe xã hội chủ nghĩa, liệt sĩ Việt Nam Phan Đình Giót đã rập khuôn với anh hùng Liên Xô Matrosov, cũng lấy mình lấp lỗ châu mai một cách công thức chăng? Vâng, chúng ta rất giống nhau, chúng ta người nào cũng được Đảng giáo dục yêu nước yêu dân, cũng được Đảng dặn dò: khi cần thiết thì hy sinh quyền lợi cá nhân cho quyền lợi dân tộc, […]. Vâng! Nếu có một cái khuôn nào, thì đó là một cái khuôn cao cả vĩ đại, phong phú, cái khuôn con người mới biết tự cường, chiến đấu, hy sinh!”
Ngoài ra, Xuân Diệu còn biện minh cho bệnh sáo mòn rất phổ biến trong văn học và nghệ thuật cách mạng: “Bệnh công thức của ta rất đáng ghét, nhưng động cơ của nó là muốn nói cái mới cái hay, chỉ vì thiếu nghiên cứu, thiếu sáng tạo mà rơi vào chỗ sáo, ít nhất là nó hảo ý; chứ còn cái công thức của tư sản phản động, của văn hóa Mỹ thì ác ý và ghê tởm vô cùng.”
Về cách chữa trị khả dĩ cho căn bệnh sơ lược, Xuân Diệu cảnh báo về sự tồn tại song hành của cả hai cách chữa chân chính và giả tạo, và khuyên thính giả phải cảnh giác với loại giả tạo: “Cách chữa giả tạo là dựa vào hình thức, vào kỹ thuật, tránh sự tẻ nhạt bằng cách bịa ra những trò chơi quái ác, bằng cách bẻ quặt thực tế khách quan […] Chữa giả tạo bằng cách quá đề cao cá tính siêu nhân của người Văn nghệ; bằng cách đem “tiếng sáo tiền kiếp” ra thổi giữa những bản đàn của thời đại mà mình cho là chán. Bằng cách phục hồi nguyên xi những ý tình cũ kỹ đã bị cách mạng thải ra. Chữa giả tạo trên hình thức bằng cách làm thơ leo thang hay xuống dốc, cắt nát câu thơ ra và xuống dòng nhiều quá sự cần thiết…”[19]
Trái lại, cách chữa “chân chính” là “nghiên cứu sâu thực tế cách mạng” vì “cái mới căn bản nằm trong đời sống cách mạng”. Xuân Diệu giảng tiếp “ta phải nói được cái mới căn bản đó, chứ không phải rơi vào một thứ ‘mới chủ nghĩa’, đi tìm những cái tính lập dị nào… Tôi tưởng tượng rằng: nếu bà Thị Điểm mà sống lại và viết một bản Chinh phụ ngâm mới về phong trào hoà bình thế giới hiện nay, thì Hồng Hà nữ sĩ cũng phải nghiên cứu đời sống quần chúng đau khổ gây ra bởi chiến tranh đế quốc. Nếu Nguyễn Du còn sống và muốn viết về cuộc đấu tranh và lao động hiện tại của nhân dân ta, Nguyễn Du cũng tự nguyện đặt mình dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, và cũng phải thâm nhập vào quần chúng hiện tại!”[20] Ba tháng sau khi phong trào Nhân văn – Giai phẩm bị dập tắt, giọng văn bút chiến của Xuân Diệu đã phục hồi.
Bài thứ hai: “Viết sự thật” (tháng Tư năm 1957)
Chỉ một tháng sau, Xuân Diệu có bài diễn thuyết thứ hai tại hội nghị ra mắt Hội Nhà văn Việt Nam ngày mồng 1 tháng Tư năm 1957. Đối với các nhà văn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hội nhà văn là tổ chức thay thế cho Ban Văn thuộc Hội Văn nghệ vừa mới giải thể để chuyển thành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Hội riêng này của giới văn học cũng có tổ chức hội viên riêng, tờ báo riêng, nhà xuất bản riêng và ngân sách riêng. Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, không có gì lạ khi Hội Nhà văn, cũng như các chi hội khác của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật được thành lập và cơ cấu như một công cụ chính trị của đảng và nhà nước. Hội được giao độc quyền kiểm soát lĩnh vực chuyên môn, một đội ngũ văn phòng được trả lương và được nhà nước tài trợ để phát triển hoạt động trong toàn quốc. Điều ba trong Điều lệ Hội Nhà văn quy định mục đích của Hội như sau: “Trên cơ sở Cương lĩnh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam đoàn kết mọi nhà văn yêu nước và tiến bộ, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, xu hướng chính trị, xu hướng nghệ thuật”.
Bài diễn văn Xuân Diệu đọc tại hội nghị Hội Nhà văn vào tháng Tư, “Một vài ý kiến về viết sự thật”, được đăng lại trên báo Nhân Dân số ra ngày 21 tháng Tư năm 1957. Trong trích đoạn dưới đây, ta có thể tìm thấy cách lập luận biện hộ cho việc kiểm duyệt mà đảng vẫn tiếp tục áp dụng ở Việt Nam cho đến tận hôm nay:
“Chúng ta nói những sự thật là có một mục đích, mục đích làm công tác tư tưởng bằng văn học, nên ta không phải là một người cầm cái máy ảnh tốt rồi bạ cái gì cũng chụp ảnh, cũng in ra. Chúng ta không hoàn toàn đi theo cái chủ nghĩa thành thật, vì chủ nghĩa đó chỉ đúng có một nửa. Nhất định những thơ văn nào chúng ta viết ra đều là huyết của ta, đều là thiết tha, thành thật, mà có thiết tha thành thật thì mới hay được. Nhưng không phải những tình cảm nào thiết tha thành thật đều nên đưa vào thơ văn.”[21]
Tại sao phải như vậy? Theo Xuân Diệu, nhà văn vừa là “kỹ sư tâm hồn” vừa là “bác sĩ tâm hồn”. Vì vậy, họ phải đấu tranh không để cho những nỗi khổ tâm riêng của mình ảnh hưởng đến người khác, đồng thời phải tạo cảm hứng và dìu dắt (mọi người) theo các mục tiêu của đảng và nhà nước:
“Nhà văn hiện nên phát hiện nhiều vấn đề mới; nhưng nêu vấn đề ra, nếu chưa giải quyết dứt khoát được, thì ít nhất cũng bao hàm một hướng giải quyết, một thái độ giải quyết. Nếu chỉ nêu vấn đề rồi vứt giữa xã hội thì chỉ tổ gây hoang mang. Vào trong xã hội mà chỉ tin ở sự thành thật theo cảm tính của mình, thậm chí cố tình không mang theo những thứ mà mình cho là tầm thường, như lập trường, nhưđảng tính, v.v…, thì càng tưởng rằng viết theo sự thật lại càng sai lạc.”[22]
Trong đoạn này, Xuân Diệu thể hiện quan điểm về chức năng và tác dụng của văn học rập khuôn theo lý luận của lãnh đạo đảng đã đề ra trước đó. Trong phần sau của bài diễn văn, ông kết hợp lý luận này với những ý kiến phê bình gay gắt Nguyễn Tuân vì viết văn như “bác sĩ gọi ra bệnh của bệnh nhân” nhưng không “kê đơn bốc thuốc”. Xuân Diệu cũng lên án một số tác phẩm của Nhân văn-Giai phẩm mang đậm nét nhân văn của phong trào cùng tên, cụ thể như “Tiếng sáo tiền kiếp” của Trần Duy, “Nhân câu chuyện mấy người tự tử” của Lê Đạt và “Một trò chơi nguy hiểm” của Nguyễn Thành Long.[23]
[1] Điều thú vị là, hiện tượng đó đã xảy ra với giải thưởng năm 1951-1952, khi Tú Mỡ, Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi đều tham gia tự trao giải cho mình. Xem “Kết quả giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam1951-1952”, Văn nghệ, số 39, tháng 2/1953.
[2] Xem Xuân Diệu, “Đọc Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”,Văn nghệ, số 121, 17/5/1956. Maksim Gorky, “Nói về con người cũ và con người mới”, Xuân Diệu dịch và biên tập, Văn nghệ, số 146, 9/11/1956.
[3] Trong cùng số báo Văn nghệ đó, Trần Công, người đã phê phán Xuân Diệu, cũng viết một bài khen cuốn phim Liên Xô chuyển thể từ tiểu thuyết “Người mẹ” của Gorky.
[4] Về thời điểm Xuân Diệu chọn để đăng bài trở lại, ta không thể không ghi nhận sự ăn khớp giữa thời điểm tái xuất giang hồ của nhà thơ và văn bản cảnh cáo báoNhân Văn vì đã vi phạm quy định báo chí. Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ban hành văn bản cảnh cáo nói trên vào ngày 8/11/1956 – bài của Xuân Diệu được đăng ngày 9/11/1956. Qua các mối quan hệ cấp cao của mình, có thể Xuân Diệu đã biết trước lãnh đạo đảng chuẩn bị ra văn bản cảnh cáo, một dấu hiệu khá chắc chắn báo trước số phận của Nhân Văn chỉ còn tính từng ngày.
[5] Nguyễn Chương, “Một vài điểm sai lầm chủ yếu trong báo Nhân Văn và tập Giai phẩm Mùa thu”, Nhân Dân, số 934, 25/9/1956.
[6] Trên báo Nhân Dân: Xuân Trường “Một thái độ phê bình không đúng, một quan niệm sai lầm về nghệ thuật”, số 935, 26/9/1956; xã luận “Dân chủ và chuyên chính”, số 979, 9/11/1956; Hoàng Xuân Nhị “Chủ nghĩa nhân văn của chúng ta”, số 955, 16/10/1956; Quang Đạm, “Củng cố và phát triển chế độ dân chủ của chúng ta”, số 989, 19/11/1956. Trên tạp chí Học Tập: Hồng Chương, “Chính trị và văn nghệ”, số 10, tháng 10/1956; Hồng Chương, “Thử bàn về tự do sáng tác”, số 11 & 12, tháng 12/1956. Phương Sơn, “Cần tiếp tục đấu tranh chống những tư tưởng lạc hậu và tiêu cực trong văn nghệ”, số 2, tháng 2/2957.
[7] Chu Thiên, “Phê bình Giai phẩm Mùa thu” và Lê Quang, “Đọc Nhân Văn số 1”,Văn nghệ, số 141, 4/10/1956; Lê Văn Hải, “Đọc bài ‘Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ’”, Văn nghệ, số 142, 11/10/1956; Lê Trung Thực, “Phê bình bài ‘Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ’của ông Trương Tửu”, Văn nghệ, số 144, 25/10/1956; Hồng Văn “Xung quanh nhóm Pơ-rô-lê-cun và các Nghị quyết về Văn Học của đảng”, Văn nghệ, số 149, 30/11/1956.
[8] Trong số đó, có thể kể Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Trần Lê Văn, Hữu Loan, Trần Duy, Trương Tửu, Bùi Quang Đoài, Tử Phác, Trần Công, Huy Phương, Lê Đại Thanh, Nguyễn Viết Lãm, Hoàng Huế, Nguyễn Văn Tị, Nguyễn Bính, Thụy An, Nguyễn Sáng, Chu Ngọc, Sỹ Ngọc và Văn Cao.
[9] Xuân Trường, “Chống vu khống và xuyên tạc”, Nhân Dân, số 1010, 10/12/1956.
[10] Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký Tập 3. Xem những đoạn, ví dụ như, ngày 14/2/1957, bàn về nhạc sĩ Văn Cao bị ám ảnh luôn có người theo dõi. Trong một đoạn khác, ghi ngày 23/3/1957 (tr.233), Nguyễn Huy Tưởng kể hai họa sĩ Sỹ Ngọc và Nguyễn Sáng bị từ chối khi đi xin việc, vì có tham gia Nhân văn – Giai phẩm.
[11] Hồ Chí Minh, “Thư gửi đồng bào nông thôn và cán bộ nhân dịp cải cách ruộng đất ở miền Bắc căn bản hoàn thành”, Nhân Dân, số 896, 27/8/1956; “Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mở rộng”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 17: 562.
[12] So sánh, ví dụ như phong thái chậm chạp, lờ đờ và lưỡng lự khi chế độ triển khai phong trào hóa giải ảnh hưởng Stalin ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với tinh thần khẩn trương, quyết liệt và bạo tay khi thực hiện “chống chủ nghĩa xét lại” được tuyên bố vào cuối Hội nghị tháng 11/1957 ở Moscow. Chế độ cũng chưa từng cho phép một sự thảo luận công khai hướng đến bản chất tội ác của Stalin.
[13] “Nghị quyết của Bộ Chính trị: Số 17-NQ/TW, 4/6/1957 về việc đẩy mạnh công tác tiền tệ, tài chính và quản lý thị trường”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 18: 453.
[14] Trong bài viết ngày 3/2/1957 về tình hình chung ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Xuân Diệu tuyên bố rằng “củi, vải, thức ăn và hạnh phúc đang dần nhiều thêm”. Xem “Mùa xuân thắng”, Nhân Dân, số 1062, 3/2/1957.
[15] Hồ Chí Minh, “Nói chuyện với đại biểu nhân dân thành phố Hải Phòng”, Hồ Chí Minh Toàn Tập số 8, 1955-1957 (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2009), 372.
[16] “Thư của ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai”, Nhân Dân, số 1081, 21/2/1957.
[17] Tô Hoài, Cát bụi chân ai, 199. Tô Hoài, người đi cùng Xuân Diệu nhiều lần trong các dịp nói chuyện, tả về phong cách diễn thuyết của nhà thơ như sau: “Xuân Diệu hay đi nói chuyện văn thơ. Xuân Diệu có kế hoạch chăm chút bảy, tám bài nói, nói khắp nước cũng chuyên tám cái tủ ấy. Đã trau dồi đến thuộc làu, chỗ nào giơ tay, chỗ nào nghiêng phải, nghiêng trái, lên giọng và nhất mạnh, chỗ nào đợi vỗ tay, đợi cười và mình mỉm cười”.
[18] Xuân Diệu “Vài ý kiến về bệnh sơ lược”, Văn nghệ, số 162, 1/3/1957.
[19] Ngụ ý lối bắt chước cấu trúc thơ “xuống thang” theo phong cách nhà thơ Liên Xô nổi tiếng Vladimir Mayakovsky thường dùng.
[20] Xuân Diệu, “Vài ý kiến về bệnh sơ lược”.
[21] Xuân Diệu, “Vài ý kiến về vấn đề viết sự thật”, Nhân Dân, số 1140, 21/4/1957.
[22] Xuân Diệu, bài đã dẫn.
[23] Trần Duy, “Tiếng sáo tiền kiếp”, Giai phẩm Mùa thu tập 1 (tháng 8/1956):54-63; Lê Đạt, “Nhân câu chuyện mấy người tự tử”, Nhân Văn, số 1, 20/8/1956, Nguyễn Thành Long, “Một trò chơi nguy hiểm”, in trong Xuân 1957 (Hà Nội, Văn nghệ, 1957).
Lại Nguyên Ân
Theo http://www.vanchuongviet.org/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của  Anatole France, "Tôi đi học"  của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...