Con tim và lý trí của thi sĩ
Xuân Diệu: giai đoạn 1954-1958
Đông Hiến dịch từ bản tiếng Anh: The
Heart and Mind of the Poet Xuân Diệu: 1954-1958, đăng trong tạp chí Journal of Vietnamese
Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010.
Trong giai đoạn 1954 - 1958,
Đảng Lao động Việt Nam, sau nhiều đợt giằng co tiến thoái, đã áp đặt được sự kiểm
soát trên tất cả các lĩnh vực của hoạt động thông tin văn hóa và học thức của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đối với nhiều nhà trí thức cách mạng, tình trạng
mất tự chủ về chuyên môn là một điều thất vọng đến bất ngờ. Họ từng nghĩ rằng
những cống hiến trong kháng chiến chống Pháp (Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
– 1946-1954) và kết quả thắng lợi của cuộc kháng chiến là đủ chứng minh cho sự
trung thành của mình với cách mạng. Họ cảm thấy như vậy là đương nhiên sẽ có
thêm không gian riêng trong lĩnh vực chuyên môn, vốn nằm trong tầm kiểm soát chặt
chẽ của đảng suốt tám năm kháng chiến.[1] Nhưng
giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam lại nghĩ khác. Giai đoạn bốn năm
sau khi chiến tranh kết thúc là thời gian giải quyết những khác biệt về quan điểm
nói trên, đồng thời đặt ra những quy định thiết yếu cho đời sống trí thức của
nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đa phần vẫn còn được bảo lưu cho đến tận
hôm nay. Chính ở giai đoạn ngắn ngủi này, tầng lớp trí thức của chế độ đã chứng
kiến những đổi thay bất ngờ, những lật lọng khó đoán, và không ít người trong số
họ đã tự mình trải nghiệm những xử lý khiến số phận họ hoàn toàn thay đổi.
Câu chuyện về những người
trong hàng ngũ trí thức đã phản kháng quyết liệt nhất trước sự áp đặt và kiểm
soát của giới lãnh đạo đảng – gồm những nhà văn, nhà thơ, họa sĩ và học giả gắn
liền với phong trào Nhân văn-Giai phẩm – là một trong những lĩnh vực được để ý
nhiều nhất trong lịch sử Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[2] Phong
trào được đặt tên theo hai ấn phẩm do các nhà trí thức cách mạng bất mãn xuất bản
vào năm 1956 – báo Nhân văn và các tuyển tập mang tên Giai phẩm,
đã thu hút được sự chú ý của giới học giả trong nhiều thập kỷ chủ yếu vì nó được
đánh giá là một trong những khoảng mở hiếm hoi để tìm hiểu về mức độ đắc nhân
tâm của chủ nghĩa cộng sản ở miền Bắc Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu thấy bất
ngờ về mức độ đa dạng và thẳng thắn của những ý kiến và yêu cầu của năm mươi bảy
nhà trí thức từng tham gia trực tiếp vào Nhân văn-Giai phẩm đã bày tỏ với chế độ
Mác-xít-Lê-nin-nít và đã thu hút được sự đồng tình của số đông quần chúng.[3] Gộp
chung những đề tài nghiên cứu hiện có về phong trào này, ta sẽ có được một bộ
chân dung rất phong phú về những nhân vật trụ cột. Điều này được thực hiện một
phần là nhờ những học giả phương Tây đã phỏng vấn được những thành viên của
Nhân văn-Giai phẩm đang còn sống, sau khi các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam
thi hành chính sách Đổi mới vào năm 1986.[4] Một yếu
tố khác nữa là, cùng với thời gian, các học giả nghiên cứu về phong trào đã cân
bằng trở lại, thoát khỏi ảnh hưởng của chính trị cực đoan thời Chiến tranh Lạnh,
cũng như tư tưởng lạc quan tếu thời Đổi mới gần đây.
Tuy vậy, chân dung những trí
thức nòng cốt, những người đã trợ giúp lãnh đạo đảng đàn áp, thanh lọc và trừng
phạt những thành phần tham gia Nhân văn-Giai phẩm vẫn gần như giữ nguyên hình dạng
đơn sắc, đơn tuyến và thậm xưng theo kiểu biếm họa so với những nghiên cứu của
thời kỳ trước. Trong thực tế, nhiều nhà trí thức nòng cốt này tiếp tục có một sự
nghiệp gây ảnh hưởng lớn trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thậm chí sau khi
nhà nước này được hóa thân thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.[5] Thực
ra, dấu ấn của những người này trên đời sống trí thức của Việt Nam còn
sâu đậm hơn rất nhiều so với những nhân vật cải cách kém may mắn của phong trào
Nhân văn-Giai phẩm. Bài luận này là một cố gắng giải quyết sự thiếu hụt thông
tin nói trên, và chuyển hướng tiêu điểm của sự chú ý từ những ngôi sao của
phong trào Nhân văn-Giai phẩm sang một trong những người bảo vệ quan điểm chính
thống của đảng, đó là nhà thơ nổi tiếng, người đã cải hóa thành nhà thơ cách mạng
theo chủ nghĩa Mác-Lê nin từ một quá khứ từng là thi sĩ lãng mạn vĩ đại, Xuân
Diệu (1916-1985). Bản chất mối quan hệ của nhà thơ với Đảng Lao động Việt Nam là
gì, và vì sao ông lại quyết định đả kích trực diện những nhà trí thức đã
lên tiếng yêu cầu lãnh đạo đảng thực thi cải cách vào cuối năm 1956?
Vào những năm cuối thập niên
1950 và đầu 1960, học giả Sài Gòn Hoàng Văn Chí, một người gốc Bắc di cư và cựu
thành viên của Việt Minh, lập luận rằng Xuân Diệu chỉ đơn thuần là một công chức
làm việc cho Đảng Lao động Việt Nam như ông đã từng làm (nhân viên hải quan)
cho Pháp thời thuộc địa.[6] Chịu ảnh hưởng của tác phẩm Giai cấp mới: Phân tích về Thế giới Cộng sản của
Milovan Djilas xuất bản năm 1957, Hoàng Văn Chí cho rằng những trí thức nòng cốt
như Xuân Diệu không phải là những tín đồ thật sự của chủ nghĩa Mác-Lê mà chỉ là
những kẻ cơ hội chủ nghĩa có tham vọng chính trị, đàn áp Nhân văn-Giai phẩm để
bảo vệ quyền lợi giai cấp của mình. Theo cách diễn giải này, Nhân văn-Giai phẩm
là một phong trào yêu nước gồm những nhà trí thức đủ mọi tầng lớp đấu tranh chống
lại sự “áp bức trí thức” mà giới tinh hoa văn hóa được chế độ sủng ái đang áp đặt
lên họ. Hoàng Văn Chí nhìn nhận giới tinh hoa văn hóa này như một “giai cấp mới”,
chung một bản chất ích kỷ và là những tay sai tận tụy của lãnh đạo đảng.[7]
Năm 1990, một học giả người
Pháp, cựu đảng viên cộng sản tên là Georges Boudarel, người đã từng tham gia Việt
Minh trong cuộc Chiến tranh Đông dương lần thứ nhất và sống tại Hà Nội từ năm
1954 đến tận năm 1964, xuất bản cuốn sách mở đầu cho dòng nghiên cứu về các trí
thức đối kháng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhan đề Trăm Hoa Vẫn Nở Giữa
Đêm Việt Nam: Chủ nghĩa Cộng sản và Bất đồng Chính kiến, 1954-1964 (Cent
fleurs ecloses dán la nuit du Vietnam: communism et dissidence 1954-1964). Nếu
như lập luận của Hoàng Văn Chí gần giống với của Djilas trong Giai cấp mới,
thì tác phẩm của Boudarel có thể được coi như phiên bản Việt Nam của
tác phẩm Cuộc Cách mạng bị phản bội của Leon Trotsky.[8] Học
giả người Pháp này cho rằng các trí thức của phong trào Nhân văn-Giai phẩm chia
sẻ sự tương đồng quan điểm ở chỗ cùng ghét cay ghét đắng một quan chức Văn nghệ
kiểu Stalin: Tố Hữu, cùng phản đối chủ nghĩa Mao-ít, và cùng mong muốn chế độ
mà họ đang phục vụ thực hiện những cam kết chính trị mang tính nhân văn (nhất
là tự do ngôn luận).[9] Tuy nhiên, những vấn đề cốt lõi này, cũng như những
điểm tương đồng khác như sự bất bình vì chứng kiến sự suy đồi văn hóa chính trị
đang diễn ra xung quanh, và lòng căm ghét thường trực đối với chế độ Sài Gòn được
Mỹ bảo trợ đã không đưa họ đến một sự thống nhất về một chương trình chính trị
chung.[10] Về
động cơ của Xuân Diệu khi tham gia đàn áp Nhân văn-Giai phẩm, Boudarel chỉ nêu
ra một lý do là nhà thơ “thân cận với giới lãnh đạo đảng”.[11]
Ba năm sau, vào năm 1993,
nhà lịch sử văn hóa Neil Jameison cũng đưa ra quan điểm riêng về vấn đề này, và
lập luận trong cuốn sách Tìm hiểu Việt Nam rằng Xuân Diệu cũng như những
trí thức cực tả khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có động cơ là niềm tin trung
kiên vào chủ nghĩa Mác-Lê:
“Có lẽ Xuân Diệu là người
nhiệt tình nhất trong số các nhà văn, nhà thơ tham gia Kháng chiến. Ông không
còn bấu víu lấy cuộc đời bằng những móng tay và đối mặt với biên giới băng giá
của chủ nghĩa hư vô nữa. Dưới ảnh hưởng của người bạn thân Huy Cận, Xuân Diệu
đã trở thành một cảm tình viên nhiệt thành và được kết nạp Đảng vào năm 1947.[12] Sự
nổi tiếng và tài thơ của ông là một đóng góp giá trị đối với Việt Minh. Để bù lại
cho thành phần gia đình tư sản và quá khứ là thi sĩ lãng mạn nhất, Âu hóa nhất
và riêng tư nhất trong văn giới Việt Nam, Xuân Diệu trở thành người cực
đoan nhất trong giới văn nghệ cộng sản mới. Ông là người ca ngợi “Bác Hồ” và “Đảng”
nhiệt tình hơn ai hết:
Mỗi lần tranh đấu gay go
Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm
Nghe lời Bác dạy khuyên răn
Chúng con ước muốn theo chân của người…
Chúng con thề nguyện một lời
Quyết tâm thành khẩn lột người từ đây.
Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm
Nghe lời Bác dạy khuyên răn
Chúng con ước muốn theo chân của người…
Chúng con thề nguyện một lời
Quyết tâm thành khẩn lột người từ đây.
Qua cụm từ “lột người từ
đây”, Xuân Diệu muốn thể hiện chính xác, không thừa không thiếu, sự tái sinh dưới
một diện mạo mới. Đây là sự thể hiện nguyện ước được “tái sinh” dưới chủ nghĩa
cộng sản… Đây là lời thỉnh cầu được thay đổi bản ngã tương tự như việc cải đạo,
một trải nghiệm tôn giáo, một sự lột xác hoàn toàn. Cả Lưu Trọng Lư và Xuân Diệu
đã tìm được ý nghĩa mới và mục đích mới của cuộc đời, cùng thay đổi cá tính cũ
của mình.[13]
Trong phần sau của cuốn
sách, Jamieson lập luận rằng đối với Xuân Diệu cũng như các nhà thơ cách mạng
khác, “kỷ luật của đảng cộng với tư cách thành viên trong một nhóm xã hội khép
kín, có tính tổ chức cao đã khiến họ trút bỏ được gánh nặng của chủ nghĩa cá
nhân và cho họ một diện mạo mới đắc ý hơn.”[14] Chính
vì lý do đó, Jamieson cho rằng quyết định của Xuân Diệu tham gia ném đá Nhân
văn-Giai phẩm xuất phát từ lòng tin cuồng nhiệt vào lý tưởng chung theo thuyết
giáo của Đảng Lao động Việt Nam. Trong số các nghiên cứu về Xuân Diệu, ý kiến của
Jamieson gần nhất với quan điểm chính thống, hiện vẫn được phổ biến ở trong nước
khi đánh giá về nhà thơ.
Nghiên cứu mới nhất về Nhân
văn-Giai phẩm của Kim Ninh (2002) và Heinz Schutte (2003) cũng có vẻ đồng điệu
với quan điểm của Jamieson, coi Xuân Diệu như một tín đồ thực thụ của chủ nghĩa
Mác-Lê trong khi các thành viên của Nhân văn-Giai phẩm có tính cách phức tạp,
xuất phát từ sự đa dạng về cá tính, nghề nghiệp và lập trường chính trị.
Schutte, trong bài nghiên cứu quan trọng về Nhân văn-Giai phẩm dưới lăng kính của
Đại Sứ quán Đông Đức tại Hà Nội, đã viết như sau:
“Những đại diện của (phong
trào) Thơ mới của những năm đầu thập kỷ 40 như Huy Cận (sinh năm 1920) và Xuân
Diệu (1916-1985) – bị mất cảm hứng lãng mạn, phải chịu đựng sự đau khổ khi phải
rời bỏ chủ nghĩa cá nhân, đã được Đảng, Việt Minh và cách mạng tái sinh, nên đã
hòa nhập hoàn toàn vào tập thể cách mạng. Nhưng không phải trí thức Việt Namnào
cũng vậy. [Những thành viên phong trào Nhân văn-Giai phẩm như] nhà thơ Hoàng Cầm
(sinh 1922), Trần Dần (1924-1927), và Lê Đạt (sinh 1929) và các học giả như
Phan Khôi (1887-1959), Đào Duy Anh (1904-1988) và Trần Đức Thảo (1917-1993)
chưa từng biến mình thành “những cái máy chỉ biết phục tùng” của đảng, được nhồi
sọ, và tiếp thu một chiều, không phản biện với những khẩu hiệu thích hợp.”[15]
Như vậy, theo Schutte, Xuân
Diệu đã “hòa nhập hoàn toàn” vào phong trào cách mạng, để trở thành (chúng ta
có thể suy luận) một “cái máy chỉ biết phục tùng của đảng”, không phản biện suy
tư về tư tưởng Mác-Lê của Đảng Lao động Việt Nam.
Chúng tôi cố gắng nêu ra qua
bài luận này rằng Xuân Diệu, khi được nghiên cứu với phương pháp từng chỉ được
dành riêng cho các thành viên của Nhân văn-Giai phẩm, sẽ không còn là hình ảnh
một chiều, đơn tuyến như giới học giả thường mô tả ông. Thực chất, ông cũng có
nhiều điểm giống với các thành viên của phong trào Nhân văn-Giai phẩm mà ông từng
giúp đảng đàn áp. Trước hết, cũng như các tác giả nổi tiếng nhất của Nhân
văn-Giai phẩm như Trần Dần, Lê Đạt và Hoàng Cầm, ông cũng gặp rắc rối với giới
lãnh đạo đảng về các vấn đề liên quan đến đời sống tình cảm của mình.[16] Tuy
nhiên, trong trường hợp của Xuân Diệu, vấn đề không phải là thành phần giai cấp
của người bạn tình mình chọn, mà ở chỗ ông có nhiều bạn tình, tất cả
đều là đàn ông. Điểm thứ hai, và cũng là một trong những điều trớ trêu đáng ghi
nhớ nhất của giai đoạn này, Xuân Diệu chính là người, với vai trò thư ký toàn
soạn của ấn phẩm văn hóa quan trọng nhất của đảng, báo Văn nghệ, đã xuất bản
những bài viết đầu tiên của Hoàng Cầm và Lê Đạt trong nỗ lực xoay chuyển nền
văn chương của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[17] Vào
tháng Năm năm 1955, những nhà văn trẻ có can đảm phê bình ngay cả nhân vật quyền
lực nhất trong văn giới, Tố Hữu, có thể đã coi Xuân Diệu như một đồng minh. Điểm
thứ ba là, đối với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa luôn gây
tranh cãi, Xuân Diệu công khai ca ngợi dòng văn học này và lớn tiếng chê bai những
tác phẩm lãng mạn cũ của mình, những sáng tác đã làm cho ông trở nên nổi tiếng.
Nhưng chỉ cần nghiên cứu sơ qua về những sáng tác cách mạng của Xuân Diệu, ta
cũng có thể nhận thấy những động thái cố gắng khai thác lại những đề tài và tiểu
tiết từ các tác phẩm lãng mạn của ông. Trên thực tế, ta có thể thấy Xuân Diệu
lưỡng lự không kém gì những thành viên của Nhân văn-Giai phẩm khi cân nhắc giá
trị nghệ thuật của các tác phẩm trước và sau cách mạng.
Để đánh giá lại quan điểm
chung đã được đa số tán thành, coi Xuân Diệu như một kẻ cuồng tín về tư tưởng
cách mạng, có thể xem những lời bàn khá căng thẳng về sự nghiệp cách mạng của
Xuân Diệu xuất hiện trong các tờ báo nhà nước và tư nhân hồi năm 1956, qua đó
ta thấy nhiều đồng nghiệp đương thời đánh giá những lập ngôn lạc quan của nhà
thơ, tuyên ngôn rằng mình đã chuyển hóa hoàn toàn từ chủ nghĩa lãng mạn cá nhân
sang chủ nghĩa tập thể Mác-Lê, là thiếu thuyết phục. Một nhà trí thức phê bình
Xuân Diệu có “bệnh khoái cảm” – khoái cảm bệnh hoạn khi tả về bạo lực chiến
tranh trong thơ cách mạng, ngầm ám chỉ rằng cảm hứng sáng tác của Xuân Diệu
không phải bắt nguồn từ lý tưởng cách mạng của chế độ.[18] Ba
nhà trí thức khác viết bài bật mí những thông tin tai tiếng về âm mưu lũng đoạn
tổ chức đảng từ hậu trường để mưu lợi riêng của nhà thơ, có ý chê Xuân Diệu là
một cán bộ thoái hóa, vẫn giữ nguyên thói ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa như mọi người
vẫn đánh giá trước khi nhà thơ tham gia cách mạng.[19]
Vì sao sự nghiệp cách mạng của
Xuân Diệu lại gây nhiều tranh cãi đến vậy trong giới trí thức Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, và rốt cuộc, thái độ thực của nhà thơ đối với hệ tư tưởng của chế độ
là như thế nào?
Giai đoạn tiền cách mạng của
Xuân Diệu
Một yếu tố quan trọng quyết
định vị thế tương quan giữa cá nhân Xuân Diệu và Đảng Lao động Việt Nam là
sự nghiệp sáng tác trước cách mạng của nhà thơ. Sinh năm 1916, ông sống với mẹ
đẻ (là vợ hai của cha ông) suốt những năm tháng thơ ấu ngay tại làng quê của bà
gần kề thành phố cảng Quy Nhơn. Năm ông 11 tuổi, cha ông (lúc đó đang dạy học)
và người vợ cả của ông quyết định đã đến lúc cậu bé Xuân Diệu phải xa người mẹ
đẻ, đến sống chung với họ tại thành phố Quy Nhơn để bắt đầu theo học ở một trường
tiểu học gần nhà. Sau đó, ông học tiếp lên các cấp cao hơn và giành được văn bằng
của hai trường thuộc địa danh tiếng nhất, là trường Lyceé du Protectorat (thường
gọi là trường Bưởi) và trường Quốc học Huế.[20] Năm
ông 19 tuổi, tức là vào năm 1936, Xuân Diệu bắt đầu có thơ đăng trên các tờ báo
có liên quan mật thiết với nhóm Tự lực Văn đoàn và Phong trào Thơ mới – cả hai
đều chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn Pháp và chủ nghĩa cá nhân Tây
Âu. Sự nghiệp của ông lên nhanh, và chẳng mấy chốc Xuân Diệu trở thành một
trong những tác giả quan trọng (nếu không muốn nói là quan trọng nhất) của
Phong trào Thơ mới. Tiếng tăm của Xuân Diệu cũng nổi nhanh như sức lan tỏa của
Thơ mới trong công chúng. Năm 1942, nhà phê bình văn học giai đoạn tiền chiến nổi
tiếng Hoài Thanh đã mô tả về nhà thơ trẻ Xuân Diệu trong tác phẩm có nhiều ảnh
hưởng của mình về các nhà thơ hiện đại Việt Nam, Thi nhân Việt Nam:
1932-1941 như sau:
“Bây giờ khó mà nói dược cái
ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa
chúng ta một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con
người có hình thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta cũng quen dần, vì ta thấy người
cùng ta tình đồng hương vẫn nặng. Ngày một ngày hai cơ hồ ta không còn để ý đến
những lối dùng chữ đặt câu quá Tây của Xuân Diệu, ta quên cả những ý tứ người
đã mượn trong thơ Pháp. Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu
thơ, một cái gì rất Việt Nam, đã quyến rũ ta.”[21]
Hai tập thơ đầu tay của Xuân
Diệu, Thơ thơ (1938) và Gửi hương cho gió (1945) được người
đương thời cho là kiệt tác. Các nhà phê bình nhận thấy trong thơ ông sự cảm nhận
sâu sắc về tính phù du của thời gian và sự mong manh của cuộc sống, và cả hai
điều này đều làm gia tăng lòng khát khao tuổi trẻ, mùa xuân và tình yêu toát ra
từ những câu thơ của Xuân Diệu.[22] Danh tiếng của Xuân Diệu khiến ông trở thành một
đối tượng vô giá đối với các lãnh đạo cộng sản, những người sau này sẽ thường
xuyên yêu cầu ông trấn an dư luận về chính sách văn hóa.
Ở Việt Nam, các nhà phê
bình văn chương đã phong Xuân Diệu là ông hoàng thơ tình, và trong những năm gần
đây, họ còn bắt đầu công khai thừa nhận rằng các bài thơ tình của ông được lấy
cảm hứng chủ yếu từ các mối tình đồng tính của nhà thơ.[23] Ngoại
trừ bài báo của Nguyễn Quốc Vinh về biến thái trong văn chương Việt Nam thời
thuộc địa, cho tới nay các học giả phương Tây thường tránh đề cập trực tiếp về
xu hướng luyến ái đồng tính của Xuân Diệu.[24]Hiển
nhiên là họ không muốn khai thác khía cạnh đời tư này của nhà thơ, nhưng mặt
khác lại muốn thể hiện là mình có biết về điều đó, nhất là với các độc giả có
kiến thức, nên các nhà nghiên cứu thường chọn cách giải quyết vấn đề như Kim
Ninh đã áp dụng trong cuốn sách xuất bản năm 2002 về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
của mình, Một thế giới đã hoán cải. Bà viết, “Xuân Diệu, một ngôi sao sáng
trong Phong trào Thơ mới, có thể dẫn Verlaine và Rimbaud một cách thoải mái, cảm
thấy gần gũi với những nhà thơ Pháp hiện đại này không kém gì các nhà thơ trẻ
cùng thời ở Paris”.[25] Những người quen thuộc với văn thơ lãng mạn Việt
Nam có thể nhận ra ngay lập tức rằng tác giả đang muốn liên hệ đến một bài thơ
của Xuân Diệu trong đó đồng tính luyến ái được thể hiện trực tiếp nhất, bài
“Tình trai”, ca ngợi mối tình cháy bỏng giữa hai nhà thơ thuộc trường phái Tượng
trưng Pháp, Paul Verlain và Arthur Rimbaud:
Tôi nhớ Rimbaud với
Verlaine,
Hai chàng thi sĩ choáng hơi
men,
Say thơ xa lạ, mê tình bạn,
Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối
quen.
Những bước song song xéo dặm
trường
Đôi hồn tươi đậm ngát hoa
hương,
Họ đi, tay yếu trong tay mạnh,
Nghe hát ân tình giữa gió
sương.
Kể chi chuyện trước với ngày
sau;
Quên ngó môi son với áo màu;
Thây kệ thiên đường và địa
ngục!
Không hề mặc cả, họ yêu nhau.
Khi các lãnh đạo đảng kết nạp
Xuân Diệu vào tổ chức công khai Việt Minh, họ đã tiếp nhận một thanh niên đầy
tài năng và sức thu hút, đồng thời có lẽ cũng là nhân vật nổi tiếng có biểu hiện
đồng tính lộ nhất ở Việt Nam tính đến thời điểm đó. Dù so ra vẫn là quá kín đáo
theo tiêu chuẩn hiện tại, những bài thơ tiền chiến của Xuân Diệu có hàm chứa đề
tài đồng tính, và rõ ràng là xu hướng đồng tính luyến ái của Xuân Diệu không những
là một nguồn cảm hứng quan trọng đối với thơ ông, mà còn là một phần bản ngã của
nhà thơ. Nhưng đương nhiên Đảng Lao động Việt Namkhông hề khuyến khích tự
do luyến ái, đừng nói tới chuyện luyến ái đồng tính. Để hai bên có thể hợp tác
với nhau được, cần phải có một số điều nhân nhượng.
Giai đoạn mới tham gia cách
mạng
Thời điểm đầu tiên Xuân Diệu
va chạm với chủ nghĩa cộng sản có thể tính vào tháng Sáu năm 1942, khi tổng thư
ký Đảng Cộng sản Đông Dương, Trường Chinh sáng tác bài thơ “Là thi sĩ” đề tặng
tất cả các nhà thơ Việt Nam, có những dòng như sau:
Nếu “thi sĩ là ru với gió,
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng
mây”…
Nếu thi sĩ nghĩa là đem gấm
vóc
Phủ lên trên xã hội đã điêu
tàn,
Véo von ca cho át tiếng kêu
than
Của nhân loại cần lao đang
giãy giụa
Thì bạn hỡi, một nhà thơ như
rứa
Là tai ương chướng họa của
nhân quần,[26]
Được sáng tác trong lòng
thành phố Hà Nội đang bị Nhật tạm chiếm, bài thơ của Trường Chinh kêu gọi các
văn nghệ sĩ, bất kể theo hệ tư tưởng hay trường phái nào, hãy trút bỏ những mối
quan tâm cá nhân và tiếp nhận sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đúng ra, Trường
Chinh đã dẫn hai câu đầu tiên từ bài thơ “Cảm xúc” của Xuân Diệu viết năm 1938
để làm lời mở đầu cho bài “Là thi sĩ” của mình, dường như chính nhà thơ lãng mạn
nổi tiếng đã tạo cảm hứng chủ đạo cho sáng tác của ông tổng bí thư.[27] Hai
năm sau, vào năm 1944, Xuân Diệu bắt đầu mang văn tài của mình ra phục vụ cho
Việt Minh – tổ chức công khai của Đảng Cộng sản Đông dương.[28] Đối
với nhà thơ, cũng như một số trí thức khác đã nổi tiếng từ thời trước cách mạng,
điều đó có nghĩa là làm việc trong Hội Văn hóa Cứu quốc và tờ báo văn hóa cách
mạng Tiên Phong, được xuất bản ở Hà Nội trong thời kỳ Việt Minh nắm chính
quyền, từ năm 1945 đến 1946. Với uy tín khá cao của Xuân Diệu, vừa là thi sĩ
lãng mạn vừa có kinh nghiệm làm việc với tờ báo được coi là hàng đầu trong giai
đoạn tiền cách mạng của nhóm Tự lực Văn đoàn, tờ Ngày Nay, việc ông được
chọn làm thư ký tòa soạn (tên gọi cũ cho vị trí tổng biên tập) không làm ai ngạc
nhiên. Tới cuối năm 1945, ông còn được chọn lựa để ra tranh cử vị trí đại biểu
tỉnh Hải Dương trong kỳ bầu cử sắp tới của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tổ chức
vào ngày 6 tháng Giêng năm 1946). Đương nhiên, ông – cũng như những ứng cử viên
được đảng chọn khác, đã đắc cử trong kỳ bầu cử tại tỉnh và trở thành thành viên
Quốc hội mới của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[29] Vào
tháng Năm năm đó, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng mời Xuân Diệu và một vài đại biểu
Quốc hội khác cùng đi trong đoàn ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tới
Fontainebleau để hội đàm với Pháp
Khi những đoàn quân và xe
tăng Pháp trở lại Hà Nội vào cuối năm 1946 để tái thiết chế độ thực dân ở Đông
Dương, các thành viên Việt Minh đang làm việc ở thành phố phải tản cư ra vùng
nông thôn. Đa số cán bộ Việt Minh tản ra ba hướng Bắc, Tây và Nam của
đồng bằng sông Hồng để tránh hướng tấn công của Pháp từ Hải Phòng vào phía Đông
Hà Nội. Đợt tiến công sau đó của quân Pháp cắt ngang Hà Nội, tiến về hướng Tây
đã khiến Xuân Diệu và các trí thức khác (một số cùng đi với cả gia đình) phải
liên tục di chuyển trong sáu tháng đầu của cuộc chiến. Tới giữa năm 1947, cuối
cùng Xuân Diệu và văn hữu đã tìm được nơi sơ tán ở một ngôi làng nhỏ có tên là
Gia Điền ở cực bắc tỉnh Phú Thọ. Ẩn giữa những dãy đồi có nhiều cây cối rậm rạp,
làng Gia Điền là nơi trú ẩn lý tưởng và không bao lâu sau được chọn làm trụ sở
cơ quan văn học kháng chiến.[30]
Tháng Ba năm 1948, Xuân Diệu
cùng với các nhà văn khác ở Gia Điền bắt đầu xuất bản tạp chí văn hóa mới lấy
tên là Văn Nghệ. Thực chất tạp chí này chỉ là sự tiếp nối, cộng với sự thể
hiện tư tưởng Mác-Lê công khai hơn so với tờ Tiên Phong đang xuất bản
ở Hà Nội trước khi Pháp quay lại. Bốn tháng sau, tức là tháng Bảy năm 1948,
Xuân Diệu cùng với vài chục nhà trí thức cách mạng khác tham dự hai hội nghị
quan trọng tổ chức tại Phú Thọ. Hội nghị thứ nhất là Hội nghị Văn hóa Toàn quốc
lần thứ hai (từ ngày 16 đến ngày 20 tháng Bảy năm 1948), với việc thành lập Hội
Văn hóa Việt Nam, nhưng sự kiện nổi tiếng nhất phải là bài diễn văn tại hội nghị
này của Trường Chinh với nhan đề “Chủ nghĩa Mác và vấn đề Văn hóa Việt
Nam”. Trong suốt bốn thập niên sau đó, lãnh đạo đảng luôn đề cao tác dụng
của bài diễn văn này như một định hướng lý thuyết cho tất cả những người làm
văn hóa. Ngày 23 tháng Bảy năm 1948, ba ngày sau khi kết thúc Đại hội Văn hóa
Toàn quốc lần II, một hội nghị nhỏ hơn – Hội nghị Văn nghệ Toàn quốc, được tổ
chức, dẫn đến sự ra đời của Hội Văn nghệ Việt Nam. Nhà thơ trẻ Xuân Diệu, lúc
đó mới 32 tuổi, chắc rất hài lòng khi được chọn vào cơ quan điều hành quyền lực
nhất của Hội, giữ ghế thành viên Ban thường vụ chỉ gồm năm người.[31]
Năm sau, tức là năm 1949,
lãnh đạo đảng quyết định dời trụ sở cơ quan văn hóa về huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên ngay gần an toàn khu của Trung ương Đảng đang đóng tại Định Hóa. Huyện Đại
Từ – chỉ cách chỗ ở của các nhà lãnh đạo như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm
Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp vài cây số về phía Nam, là nơi Xuân Diệu sinh sống
trong suốt 5 năm cuối của cuộc kháng chiến. Ngày 5 tháng Mười một năm 1949, Hồ
Chí Minh ký văn bản thông báo rằng tình hình mới – nhất là thắng lợi của Đảng Cộng
sản Trung Quốc – cho phép thành lập một đơn vị hành chính mới, trải rộng từ các
tỉnh phía Bắc Hà Nội lên tới biên giới Trung Quốc. Vùng này sẽ được gọi là
“Liên khu Việt Bắc”. Với trụ sở trung ương đảng đóng tại Thái Nguyên, đảm bảo
đường kết nối với Trung Quốc – nguồn tiếp liệu chiến tranh chủ yếu của Việt
Minh, Việt Bắc thực sự là đầu não của cuộc kháng chiến.[32]
Xuân Diệu được kết nạp vào Đảng
Lao động Việt Nam năm 1949, khi ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với
cuộc kháng chiến của Việt Minh đang tăng cao.[33] Mối
quan hệ này, cộng với sự kiện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Liên Xô và Cộng
hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức công nhận về ngoại giao có vẻ đã khiến Hồ Chí
Minh và các lãnh đạo cao nhất của Đảng Lao động Việt Nam mạnh dạn hơn và công
khai thừa nhận tư tưởng Mác-Lê là nền tảng của đường lối lãnh đạo cách mạng. Kết
quả của sự chuyển hướng này là việc áp dụng biện pháp chỉnh huấn của Liên Xô và
Mao, một kỹ thuật cải tạo tư tưởng sử dụng “phê bình và tự phê bình” để chuẩn bị
tinh thần cho cán bộ chính trị và chiến sĩ trước những nhiệm vụ cách mạng khó
khăn.
Chính trong hai tối chỉnh huấn
vào năm 1952, Xuân Diệu đã phải trả giá cho thói lang chạ đồng tính của mình và
mất chiếc ghế ủy viên Ban Thường vụ Hội Văn nghệ. Nhà văn cách mạng Tô Hoài, một
người tình của Xuân Diệu trong nhiều năm, hồi tưởng lại những buổi tối đó như
sau:
“Xuân Diệu chỉ ngồi khóc. Chẳng
biết Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Trọng Hứa, Nguyễn Văn Mãi, cả lão Hiến, thằng
Nghiêm Bình, những thằng Đại, thằng Đắc, Tô Sang và mấy thằng nữa, có ai ngủ với
Xuân Diệu không, tất nhiên không ai nói ra. Tôi cũng câm như hến. Lúc rồ lên,
trong đêm tối quyết rũ, mình cũng điên kia mà, chứ có phải một mình Xuân Diệu
đâu. Không nói cụ thể việc ấy, nhưng ai cũng to tiếng, to tiếng gay gắt, nghiêm
trang phê phán “tư tưởng tư sản, tư tưởng tư sản xấu xa phải chừa đi.” Xuân Diệu
nức nở nói đấy là tình trai của tôi… tình trai…” rồi nghẹn lời, nước mắt ứa
ra, không hứa hẹn sửa chữa gì cả.”[34]
Theo Tô Hoài, sau khi Xuân
Diệu bị truất ghế ủy viên Ban Thường vụ Hội Văn nghệ, “bỗng dưng, Xuân Diệu
thành một người có thì giờ chỉ chuyên đi và viết.[35]
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ
ngày 7 tháng Năm năm 1954, tiếp theo là Hiệp định Geneva được ký kết hai tháng
sau đó, chính xác là ngày 21 tháng Bảy năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp kết
thúc. Đối với Xuân Diệu và các văn nghệ sĩ Việt Minh khác, cùng với hầu hết các
nhà lãnh đạo cách mạng ở Liên khu Việt Bắc, đã đến lúc rời chiến khu để trở về
Hà Nội trong vai người chiến thắng, – nhưng phải xuất bản nốt số cuối của tờ Văn
nghệ đã. Trong số tháng Mười này, Xuân Diệu đăng một lá thư gửi tất cả những
nhà văn đã quyết định ở lại Hà Nội trong thời gian Pháp tạm chiếm. Lá thư thể
hiện phong cách bút chiến đại ngôn lên gân mà Xuân Diệu thường sử dụng (phong
cách này rõ ràng đã góp phần tạo cho Xuân Diệu được tiếng là người có lập trường
tư tưởng vững vàng):
“Có những người vì hoàn cảnh
nào đó mà làm cho địch, tiếng hát đã bán cho đài phát thanh địch, mà tâm hồn chảy
máu không thôi. Muốn vùi đầu quên thân trong son phấn trăng hoa rượu tiệc, mà
khuya về, tiếng nói của lương tâm, tiếng nói của văn nghệ chân chính không để
cho mình nhắm mắt. Ta có phải là ta nữa không? Sao cổ họng, ngòi bút, tài năng
của ta lại làm đồ dùng cho chiến tranh và xâm lược? Những người đau khổ ấy vẫn
là bạn, vì tâm hồn văn nghệ vẫn sống dưới đáy lòng.”[36]
Dù văn nghệ sĩ Việt Nam bị
chia cách bởi chiến tranh, và trong nhiều trường hợp, bởi quan điểm chính trị
trái ngược, nhưng tình cảm đồng nghiệp giữa họ với nhau, có vẻ vẫn được duy
trì, tuy có bị phai mòn. Nói cách khác, những người đã từng làm việc cho Pháp
hay chỉ đơn thuần đã không làm gì để ủng hộ Việt Minh trong cuộc chiến cũng có
thể tìm được cuộc sống mới dưới chế độ cộng sản. Tuy nhiên, đi cùng với vòng
nguyệt quế mừng chiến thắng là những yêu cầu và điều kiện, mà Xuân Diệu đã giải
thích với giọng thuyết giảng hùng biện đặc trưng:
“Văn nghệ đã căm thù quyết
liệt cái thòng lọng đế quốc hung tàn. Quyết không một nét vẽ, một câu thơ, một
bài văn, một tiếng đàn, một giọng hát, một màn kịch, một điệu múa nào cho địch!
Quyết không bao giờ đem bông hoa sáng tạo vứt xuống bùn nhơ! Quyết không để cho
cái tinh anh của con người mập mờ với xâm lăng và ngu tối! Mà trái lại, từ đây
hơn bao giờ hết rạch ròi ranh giới, vạch rõ trắng đen giữa tà và chính, giữa giả
và chân, giữa địch và TA! Đó là vấn đề sống chết của những con người văn nghệ.”[37]
Để ghi nhận những cống hiến
của Xuân Diệu với cách mạng trong tám năm kháng chiến, lãnh đạo Đảng Lao động
Việt Nam đã cấp cho ông và người bạn suốt đời của ông, Huy Cận, một nhà thơ nổi
tiếng đồng thời là quan chức văn hóa cao cấp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một
căn biệt thự Pháp rộng rãi trên phố Cột Cờ (nay là đường Điện Biên Phủ). Bất động
sản cao cấp này có thể được coi như một tín hiệu của giới lãnh đạo Đảng Lao động
Việt Nam rằng mọi nhu cầu vật chất của Xuân Diệu sẽ được quan tâm thỏa đáng nếu ông
tiếp tục phục vụ sự nghiệp của họ một cách trung thành. Về nhu cầu tình cảm và
sinh lý của nhà thơ, lãnh đạo đảng cũng cố gắng tạo điều kiện. Dù có quan điểm
khắt khe và bảo thủ về hôn nhân và tình dục, họ cũng sẵn lòng làm ngơ cho trường
hợp của Xuân Diệu, cho phép ông được sống chung một nhà với Huy Cận. Nhưng có lẽ
đáng ghi nhận hơn là việc cả hai nhà thơ đều sống chung nhà với bà Ngô Xuân
Như, người em gái cùng cha khác mẹ với Xuân Diệu và là vợ của Huy Cận. Cuộc hôn
nhân của họ cho ra đời một người con trai vào năm 1957 và chỉ kéo dài thêm vài
năm sau đó, rồi hai người chia tay. Huy Cận tái hôn năm 1964 và có thêm ba người
con.[38]
Khi cuộc kháng chiến chống
Pháp sắp kết thúc, Xuân Diệu cũng đã thu xếp cho mẹ đẻ mình, lúc này đã già yếu,
từ Quy Nhơn ra Hà Nội để tiện chăm sóc. Em trai nhà thơ, ông Ngô Xuân Huy, quyết
định ở lại miền Nam, nơi ông hưởng một cuộc sống lặng lẽ với nghề viết văn độc
lập dưới bút danh Tịnh Hà không mấy nổi tiếng.[39]
Trong kế hoạch tiếp quản Hà
Nội, lãnh đạo đảng quyết định chuyển đổi tờ Văn Nghệ từ một nguyệt
san có phần thô sơ về hình thức phát hành ở chiến khu, thành một tờ bán nguyệt
san quy mô hơn – có thể sánh với các ấn bản văn hóa, trí thức của Hà Nội thời
Pháp tạm chiếm. Một thay đổi nữa là ban điều hành tờ báo. Sau bốn năm để trống
chức vụ thư ký toàn soạn chính thức của tờ báo, các lãnh đạo văn hóa của chế độ
mới quyết định phục hồi vị trí này. Tương tự như trường hợp của tạp chí cách mạng
xuất bản tại Hà Nội trước đây, tờ Tiên Phong (1945-1946), chức vụ này
rơi vào tay Xuân Diệu. Có thể họ đã tính toán rằng, những nhà trí thức không
theo cách mạng, nhiều người trong số đó đang cân nhắc xem có nên di cư vào Nam
không, sẽ thấy yên tâm hơn khi tên tuổi nhà thơ lãng mạn nổi tiếng xuất hiện
trên bìa ấn phẩm văn hóa quan trọng nhất của chế độ mới. (Trên thực tế, tên
Xuân Diệu được in với cỡ chữ to gấp đôi tên các thành viên khác trong ban biên
tập). Dù với lý do gì đi nữa, việc được bổ nhiệm vào vị trí thư ký tòa soạn tờ Văn
Nghệ vào thời điểm bản lề hẳn có tác dụng như một thông điệp bảo đảm với
nhà thơ rằng, dù gặp rắc rối vì quan hệ đồng tính luyến ái hai năm trước đó,
tài năng và uy tín của ông trong lĩnh vực văn hóa vẫn được đánh giá cao trong
chế độ mới mà nhà thơ đang phụng sự.
[1] Đảng
Cộng sản Đông Dương (1931-1945) là tiền thân của Đảng Lao động Việt Nam (1951-1975)
và Đảng Cộng sản Việt Nam (1976-nay).
[2] Mạc
Đình, Tâm trạng của giới Văn nghệ ở miền Bắc (Sài gòn, 1956 – không
rõ tên nhà xuất bản); P.J. Honey “The Revolt of the Intellectuals in North
Vietnam” (Cuộc nổi dậy của các trí thức miền Bắc), The World Today 13,
No.6 (June 1957): 250-260; Hoa Mai, biên tập, The “Nhân Văn” Affair [Vụ
Nhân Văn] (Sài Gòn: The Vietnam Chapter of the Asian People’s Anti-Communist
League, 1958); Hoàng Văn Chí, The New Class in North Vietnam [Giai cấp
mới ở miền Bắc Việt Nam] (Sài Gòn: Công Dân, 1958); Trăm hoa đua nở trên đất Bắc (Sài Gòn: Mặt Trận Bảo
Vệ Tự Do Văn hóa, 1959); Như Phong “Intellectuals, Writers, and Artists,” (Trí
thức, Văn sĩ và Nghệ sĩ) China Quarterly, no.9 (Jan-March 1962): 47-69;
Hoàng Văn Chí, From Colonialism to Communism [Từ thực dân đến cộng sản] (London, Pall Mall Press, 1964;
Hirohide Kurihara, “Changes in the Literary Policy of the Vietnamese Workers
Party, 1956-1958” (Những thay đổi trong chính sách văn học của Đảng Lao động Việt
Nam, 1956-1958) trongIndochina in the 1940s and 1950s, eds. Takashi Shiraishi
and Motoo Furata (Ithaca, NY: Sotheast Asia Program Cornell University, 1992),
(Nguyên bản tiếng Nhật của bài luận của Kurihara được đăng trên Journal of
Asian and African Studies, 1988); Georges Boudarel, Cent fleurs ecloses
dans la nuit du Vietnam: Communism et dissidence 1954-1956 [Trăm hoa vẫn nở
trong đêm Việt Nam: Chủ nghĩa cộng sản và bất đồng chính kiến 1954-1956]
(Paris: Editions Jacques Bertoin, 1991); Georges Boudarel “Intellectual
Dissidence in the 1950s: The Nhan van-Giai pham Affair” [Trí thức bất đồng
chính kiến trong thập niên 1950: Vụ Nhân văn-Giai phẩm], Phi Linh Baneth lược dịch
từ tiếng Pháp, Vietnam Forum 13 (1990): 154-174; Kim Ninh, A
World Transformed: The Politics of Culture in Revolutionary Vietnam [Một
thế giới đã hoán cải:
Chính trị hóa văn hóa và cách mạng Việt Nam] (Ann Arbor: University of Michigan Press, 2002), chương 4 (Trí thức bất đồng chính kiến: Thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm); Nguyễn Ngọc Tuấn, “Socialist Realism in Vietnamese Literature: An Analysis of the Relationship between Literature and Politics” [Phương pháp Hiện thực xã hội chủ nghĩa trong Văn học Việt Nam: Phân tích mối quan hệ giữa Văn học và Chính trị] (luận án tiến sĩ, Trường Đại Học Victoria, 2004) chương 6 (Vụ Nhân Văn Giai Phẩm: Khủng hoảng giữa thời bình); Shawn McHale, “Vietnamese Maxism, Dissent, and the Politics of Postcolonial Memory: Tran Duc Thao, 1946-2003” (Chủ nghĩa Mác, Bất đồng chính kiến và Chính trị của Ký ức hậu thuộc địa ở Việt Nam: Trần Đức Thảo, 1946-2003), Journal of Asian Studies 61, no.1 (Feb, 2002): 7-31; Heinz Schutte, “Hundred Flowers in Vietnam, 1955-1957” (Trăm Hoa trên đất Việt, 1955-1957), bài trình bày tại hội thảo thường niên Hội Nghiên cứu Châu Á, New York, 28/3/2003; Nguyễn Võ Thu Hương, The Ironies of Freedom: Sex, Culture and Neoliberal Governance in Vietnam [Nghịch lý của tự do: Tình dục, văn hóa và cách quản lý tân tự do ở Việt Nam] (Seattle: University of Washington Press, 2008), chương 7 (Từ tinh thần bất phục đến người đàn bà quỳ).
Chính trị hóa văn hóa và cách mạng Việt Nam] (Ann Arbor: University of Michigan Press, 2002), chương 4 (Trí thức bất đồng chính kiến: Thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm); Nguyễn Ngọc Tuấn, “Socialist Realism in Vietnamese Literature: An Analysis of the Relationship between Literature and Politics” [Phương pháp Hiện thực xã hội chủ nghĩa trong Văn học Việt Nam: Phân tích mối quan hệ giữa Văn học và Chính trị] (luận án tiến sĩ, Trường Đại Học Victoria, 2004) chương 6 (Vụ Nhân Văn Giai Phẩm: Khủng hoảng giữa thời bình); Shawn McHale, “Vietnamese Maxism, Dissent, and the Politics of Postcolonial Memory: Tran Duc Thao, 1946-2003” (Chủ nghĩa Mác, Bất đồng chính kiến và Chính trị của Ký ức hậu thuộc địa ở Việt Nam: Trần Đức Thảo, 1946-2003), Journal of Asian Studies 61, no.1 (Feb, 2002): 7-31; Heinz Schutte, “Hundred Flowers in Vietnam, 1955-1957” (Trăm Hoa trên đất Việt, 1955-1957), bài trình bày tại hội thảo thường niên Hội Nghiên cứu Châu Á, New York, 28/3/2003; Nguyễn Võ Thu Hương, The Ironies of Freedom: Sex, Culture and Neoliberal Governance in Vietnam [Nghịch lý của tự do: Tình dục, văn hóa và cách quản lý tân tự do ở Việt Nam] (Seattle: University of Washington Press, 2008), chương 7 (Từ tinh thần bất phục đến người đàn bà quỳ).
[3] Boudarel,
“Intellectual Dissidence”, 172.
[4] Bà
Thụy Khuê, trí thức người Pháp gốc Việt đáng được ghi nhận đặc biệt vì đã thực
hiện rất nhiều cuộc phỏng vấn với các nhân vật Nhân văn-Giai phẩm trong chương
trình Văn học Nghệ thuật của đài RFI.
[5] Xuân
Diệu, Huy Cận, Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi, Như Phong, Nguyễn Công Hoan,
Hoài Thanh, Tú Mỡ, Hồng Chương, và những người khác.
[6] Hoàng
Văn Chí, Trăm Hoa, 148.
[7] Mạc
Đình, Trăm Hoa, 12-13. Hoàng Văn Chí, From Colonialism to Communism,
230-231.
[8] Tất
nhiên là sự so sánh này cũng có chỗ khập khiễng. Vào năm 1990, khi Boudarel viết
cuốn sách này, ông đã có thành kiến với chủ nghĩa cộng sản trong khi Trotsky
vào năm 1936 viết ở góc độ một tín đồ chân thực.
[9] Về
thái độ cùng căm ghét Tố Hữu, xem Boudarel, Cent fleurs, 245. Về thái độ
thù nghịch chủ nghĩa Mao-ít và sự mong muốn chế độ thực hiện những cam kết đã hứa,
xem Boudarel “Intellectual Dissidence in the 1950s”, lần lượt ở các trang 154
và 164.
[10] Boudarel, Cent
fleurs, 245.
[11] Boudarel,
“Intellectual Dissidence in the 1950s”, 164-165. Trong Cent fleurs tác
giả viết: “Xuân Diệu, cùng với người bạn chí thiết Huy Cận, có quan hệ rất tốt
với Tố Hữu và những người phụ trách văn hóa của đảng – chỉ trích một người là động
đến tất cả những người khác (trong bọn họ)”: 235.
[12] Hồ
sơ về Xuân Diệu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III ghi ông gia nhập đảng năm
1949.
[13] Neil
Jamieson, Understanding Vietnam (Berkeley and Los Angeles:
University of California Press, 1993), 208-209.
[14] Sđd.,
269.
[15] Schutte,
“Hundred Flowers in Vietnam”, 6.
[16] Cả
Trần Dần và Hoàng Cầm đều yêu những người phụ nữ Hà Nội mà theo quan điểm của đảng
là xuất thân từ giai cấp bóc lột. Xem Kim Ninh, A World Transformed,
123-133. Chuyện tình của Lê Đạt được ít người biết đến hơn. Khi tham gia cải
cách ruộng đất năm 1953, ông cưới một phụ nữ thuộc tầng lớp bần nông, rồi chẳng
bao lâu sau bỏ bà để lấy một nữ diễn viên trẻ, việc này ảnh hưởng rất lớn đến
uy tín chính trị của ông.
[17] Trong
tiếng Việt, văn nghệ là từ được ghép từ hai từ “văn học” và “nghệ thuật”. Nhưng
cụm từ “văn nghệ” cũng có thể được hiểu theo nghĩa “văn hóa” – ví dụ như sáng tạo
(hoặc quản lý) văn hóa/văn nghệ.
[18] Huy
Phương, “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu”, Văn nghệ,
số 126, 21-28/6/1956.
[19] Phan
Khôi, “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, Giai phẩm Mùa thu tập 1, tháng 8/1956;
Trần Công, “Chống bè phái trong văn nghệ”, Nhân Văn, sối 1, 20/9/1956;
Nguyễn Bính, “Về giải thưởng văn học 1954-1955”, Trăm Hoa, số 1, tháng
10/1956.
[20] Dưới
chính quyền Trần Trọng Kim năm 1945, tên Trường Bưởi Hà nội chính thức được đổi
thành Trường Chu Văn An, và được giữ nguyên đến nay. Trường Quốc học
Huế đã qua vài lần đổi tên. Khi người Pháp thành lập trường vào năm 1896, tên
chính thức của trường là École primaire superieur, nhưng người Việt thường gọi
là Trường Quốc học. Năm 1936, trường đổi tên thành Trường Trung học Khải Định.
Năm 1955, lại đổi thành Trường Trung học Ngô Đình Diệm. Năm 1957, trường được
trả lại tên cũ Quốc học, và được giữ nguyên đến nay. Như rất nhiều người đã biết,
nhiều nhân vật chính trị quan trọng đã học qua hai trường này. Điểm qua danh
sách cựu học sinh trường Bưởi có Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Xuân Hãn,
Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn
Cơ Thạch, Trần Đức Thảo, Dương Trung Quốc, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đình Thi, Đặng
Thùy Trâm, Hoàng Ngọc Phách, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Khắc Viện, và nhiều người
khác. Ở trường Quốc học Huế, có Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm, Võ Nguyên Giáp, Phạm
Văn Đồng, Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Lưu Trọng Lư, Huy Cận và Xuân Diệu. Chính trường
Quốc học Huế là nơi Xuân Diệu gặp người tình suốt đời Huy Cận.
[21] Hoài
Thanh và Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam: 1932-1941 (Hà Nội: Nxb.
Văn Học, 2005. Theo lời nhà xuất bản, đây là bản in lại nguyên tác do Nxb. Nguyễn
Đức Phiên in năm 1942).
[22] Xuân
Diệu, Thơ thơ và Gửi hương cho gió (Hà Nội, Nxb. Hội Nhà
văn, 1995). Những ý kiến phê bình thơ Xuân Diệu có thể đọc được từ: Thanh Lãng, 13
năm tranh luận văn học, 1932-1945 (TP HCM: Hội nghiên cứu giảng dạy văn học
TP HCM, 1995).
[23] Đọc
các bài viết, ví dụ như của Hà Minh Đức, Xuân Diệu: Ông hoàng của thơ tình
yêu (Hà Nội: NXB Giáo dục, 2004).
[24] Nguyễn
Quốc Vinh, “Deviant Bodies and Dynamics of Displacement of Homoerotic Desire in
Vietnamese Literature from and about the French Colonial Period (1858-1954)”
[Biến thái hình thể và những mâu thuẫn xung quanh chủ đề khát khao tình dục đồng
tính trong và sau giai đoạn Pháp thuộc, 1858-1954], Hợp Lưu số 42,
tháng 8-9, 41-53. Trong luận án tiến sĩ đang viết, Richard Trần dành một chương
để bàn về tình yêu đồng giới của Xuân Diệu trong những năm tiền cách mạng.
[25] Kim
Ninh, A World Transformed, 59.
[26] Sóng
Hồng (Trường Chinh), Thơ (Hà Nội: Văn Học, 1966) 25-28.
[27] Một
bài trên báo Công an Nhân dân ngày 7/2/2007 nhan đề “‘Là thi sĩ’ của
Sóng Hồng phê phán ‘Cảm xúc’ của Xuân Diệu?” cho rằng Trường Chinh viết bài thơ
ban đầu là để vận động một thư ký doanh trại lính Pháp rất yêu thơ tham gia
cách mạng.
[28] Từ
điển Văn học (Hà Nội: NXB Khoa Học Xã Hội, 1984), 604.
[29] Sau
khi giành chính quyền tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương dành ra mấy
tháng sau đó để truy tầm và xử tử vài ngàn người bị coi là phần tử chính trị
nguy hiểm (nhất là đảng viên các đảng đối lập). Vì vậy, khó có thể tưởng tượng
được rằng lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương nghiêm túc thực hiện “dân chủ đại
diện” trong cuộc tổng tuyển cử tháng Giêng năm 1946. Không rõ Xuân Diệu, gốc
Quy Nhơn quê Hà Tĩnh, có liên hệ cụ thể gì với tỉnh Hải Dương.
[30] “Đỗ
Ngọc Dũng, “Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Hội Văn nghệ ViệtNam:25/7/1948-25/7/2008,
16/7/2008”. http://dodungart.vnweblogs.com/post/3574/80401 (truy cập
ngày 5/5/2010)
[31] Sđd.
Xuân Diệu phụ trách “tổ chức kiểm tra”. Trong bốn người còn lại, Nguyễn Tuân là
Tổng thư ký, Tố Hữu Phó Tổng thư ký, Võ Đức Diên phụ trách kinh tế và Ngô Quang
Châu làm quản trị.
[32] “Nghị
quyết Hội Nghị Thống Nhất Hai Khu 1 và Khu 10: 5/11/49, Văn Kiện Đảng Toàn
Tập (Hà Nội: Chính trị Quốc Gia, 2001), 10:427. Cần phân biệt “Việt Bắc”
khác với “miền Bắc”, là khái niệm rộng hơn, dùng để chỉ 1 trong 3 kỳ thời Pháp
thuộc, và sau Hiệp định Geneva 1954, chỉ một nửa đất nước tính từ phía bắc vĩ
tuyến 17.
[33] Tịnh
Hà, Xuân Diệu: Con người và Tác phẩm (Hà Nội: Văn Học, 1987), 11.
[34] Tô
Hoài, Cát bụi chân ai (Hà Nội: Hội Nhà Văn, 1992), 198.
[35] Sđd,
199.
[36] Xuân
Diệu, “Thư gửi các bạn văn nghệ ở Hà Nội”, Văn nghệ, số 56, tháng 10/1954.
[37] Sđd.
[38] Sau
đó, Huy Cận lấy người vợ thứ hai, và cũng là cuối cùng, bà Trần Lệ Thu, giảng
viên tiếng Nga, Đại học Ngoại ngữ vào năm 1964, khi bà 28 tuổi. Họ có với nhau
ba người con.
[39] Sau
năm 1975, hai anh em được đoàn tụ và cùng cộng tác trong một số dự án văn học
Ngày 14/12/1956, Chủ tịch nước
VNDCCH ban hành sắc lệnh về chế độ báo chí; văn kiện này đã đề ra những nội
dung mà sau này người ta sẽ gọi là “vùng cấm” trong hoạt động thông tin ngôn luận
của báo chí:
“a/ Không được tuyên truyền
chống pháp luật của nhà nước. Không được cổ động nhân dân không thi hành hoặc
chống lại những luật lệ và những đường lối, chính sách của nhà nước. Không được
viết bài có tính chất chống lại chế độ dân chủ nhân dân, chia rẽ nhân dân và
chính quyền, nhân dân và bộ đội. Không được gây ra những dư luận hoặc những
hành động có hại cho an ninh trật tự của xã hội.
b/ Không được tuyên truyền
phá hoại sự nghiệp củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập
và dân chủ của nước Việt Nam, làm giảm sút tinh thần đoàn kết, ý chí phấn đấu của
nhân dân và bộ đội.
c/ Không được tuyên truyền
chia rẽ dân tộc, gây thù hằn giữa nhân dân các nước, làm tổn hại tình hữu nghị
giữa nhân dân nước ta với nhân dân các nước bạn, không được tuyên truyền cho chủ
nghĩa dân tộc hẹp hòi, không được tuyên truyền cho chủ nghĩa đế quốc, không được
tuyên truyền cho chiến tranh.
d/ Không được tiết lộ bí mật
quốc gia như: những bí mật quốc phòng, những hội nghị cơ mật chưa có công bố
chính thức của cơ quan có trách nhiệm, những vụ án đang điều tra chưa xét xử,
những bản án mà tòa án không cho phép công bố, những tài liệu, số liệu và những
cơ sở kiến thiết về kinh tế tài chính mà ủy ban kế hoạch nhà nước hoặc các cơ
quan có thẩm quyền chưa công bố.
e/ Không được tuyên truyền
dâm ô, trụy lạc, đồi bại.”
(Sắc lệnh về chế độ báo chí
// Nhân dân, 15/12/1956, tr. 1)
Giữa tháng 12/1956, Trung
ương Đảng triệu tập hội nghị đảng viên văn nghệ, thống nhất nhận thức tư tưởng
trước khi bước vào đại hội văn nghệ, tại đó hiện tượng Nhân văn – Giai phẩm đã
bị lên án.
Tại kỳ họp lần thứ 6 của Quốc
hội (khoá I), ngày 18/1/1957, dân biểu Nguyễn Đình Thi đã chính thức phát biểu
trước Quốc hội: “Trong khi chúng ta phê bình những sai lầm khuyết điểm, đã có một
vài khuynh hướng xấu len vào vu khống chế độ của ta, đả kích sự lãnh đạo của đảng
và chính phủ, đối với những người trí thức, tìm cách gây hoang mang chia rẽ. Những
khuynh hướng xấu đó gần đây đã được vạch ra, cuộc đấu tranh tư tưởng chung
quanh vấn đề văn nghệ hiện nay đang làm cho những người trí thức nước ta trưởng
thành lớn thêm một bước nữa”…(7)
Ngày 20/2/1957, Đại hội Văn
nghệ toàn quốc lần thứ hai khai mạc và tiếp diễn trong 8 ngày; đại hội này đã
quyết định chấm dứt Hội Văn nghệ Việt Nam để thành lập Hội Liên hiệp Văn học
nghệ thuật Việt Nam, khuyến khích các ngành văn nghệ thành lập Hội của ngành
mình, đặt trong khuôn khổ Hội Liên hiệp VHNTVN. Trong thời gian đại hội, với
tư cách đại diện Đảng Lao động Việt Nam, ông Trường Chinh, được Ban chấp hành hội
Văn nghệ giới thiệu như “người bạn thân mến của văn nghệ sĩ Việt Nam” và mời đến
nói chuyện tại Nhà hát Lớn trong ngày nghỉ của đại hội (chủ nhật 24/2/1957), với
đầu đề: “Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu
nước và chủ nghĩa xã hội”; trong bài nói chuyện này có những đoạn nhận định và
lên án Nhân văn – Giai phẩm rất gay gắt; văn bản bài nói chuyện này của
Trường Chinh, khoảng 4-5 tháng sau mới được công bố (trên 2 kỳ đầu Tạp chí
Văn nghệ, cơ quan của Hội LHVHNTVN, xuất bản từ tháng 6/1957). (8)
3b. Suốt thời gian
kể trên, từ 1/8/1956 đến đại hội văn nghệ toàn quốc lần 2, Xuân Diệu hầu
như ít đăng đàn; ông rất ít đăng thơ, hình như chỉ một lần, với bài Gieo
mùa ở báo Văn nghệ số Tết Đinh Dậu (số kép 156&157, ra ngày
18/1/1957); loại ông viết nhiều hơn ở thời gian này là một số bút ký hoặc giới
thiệu, điểm sách, chẳng hạn, bút ký Những tâm hồn đổi mới(báo Độc lập,
s. 152, ngày 14/1/1956) viết về trường đại học nhân dân, mở cho giới trí thức từng
sống và làm việc dưới chế độ cũ trong thành Hà Nội thời tạm chiếm; bút ký Thăm
một làng miền bắc Hung-ga-ri (Nhân dân, 30/3/1956), bút ký Một thành
phố xã hội chủ nghĩa ở Hung (tạp chíTổ quốc, s. 32, ngày 5/4/1956),
bút ký Cảm tưởng Mat-scơ-va (Nhân dân, 10/11/1956), bút ký Mùa
xuân thắng (Nhân dân, 3/2/1957), giới thiệu Vài hình ảnh văn học
Hung-ga-ry (Văn nghệ số 115, ngày 5/4/1956), đọc sáchNhững mẩu chuyện về đời
hoạt động của Hồ Chủ tịch (Văn nghệ số 121, ngày 17/5/1956), giới thiệu và
dịch thơ Nazim Hitmet (Văn nghệ số 150, ngày 7/12/1956), đưa tin về hội
nghị các nhà văn châu Á (Văn nghệ số 153, ngày 27/12/1956). Đáng kể nhất
có lẽ là lần Xuân Diệu xuất hiện trên diễn đàn Đại hội Văn nghệ ở ngày họp thứ
sáu, 26/2/1957, với tham luận về bệnh sơ lược trong văn nghệ (trích đăng Văn
nghệ số 162, ngày 1/3/1957). Tại đại hội này, Xuân Diệu là một trong số 15
nhà văn (Nguyễn Văn Bổng, Hồ Dzếnh, Vân Đài, Bảo Định Giang, Nguyễn Công Hoan,
Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Tú Mỡ, Hoàng Ngọc Phách, Võ Huy Tâm, Thanh Tịnh, Nguyễn
Tuân, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Trần Hữu Thung), cùng với nhiều văn
nghệ sĩ thuộc các ngành khác, được bầu vào BCH Hội Liên hiệp VHNTVN.
Xin dừng lại đôi chút ở bài
tham luận của Xuân Diệu; đây là lần duy nhất ông bộc lộ ý kiến trong suốt thời
gian trên dưới nửa năm (tháng 8/1956 – tháng 2/1957), giữa một đời sống văn nghệ
sôi động, đầy những va chạm về tư tưởng và quan niệm văn nghệ.
Về căn bệnh trong sáng tác
đang được nêu ra và phân tích, Xuân Diệu cho rằng:
“Những tác phẩm mắc bệnh sơ
lược gây tai hại là làm cho người ta hiểu sai thực tế, tưởng cách mạng là toàn
hồng, gây bệnh chủ quan và thiếu lý tưởng”.
Song, theo Xuân Diệu:
“bệnh sơ lược không ở trong
bản chất nền văn học mới chúng ta”,
… “chúng ta không độc quyền
về bệnh sơ lược. Văn dở thì cổ kim đông tây, đời nào và ở đâu cũng có”.
… “Số người quy bệnh sơ lược
cho Đảng và cho chế độ cũng thường trách Đảng và chế độ sinh ra bệnh công thức.
Họ nói đến những con người máy, những con người rập khuôn do chế độ ta sinh ra.
Theo tôi nhớ, thì luận điệu này, bọn tư bản và đế quốc đưa ra đã lâu lắm rồi…”
Xuân Diệu nói đến những cái
mà nhiều người gọi là “khuôn” trong đời sống mới:
“Những con người máy đã phá
kho bom Tân Sơn Nhất chăng?(9)Bế Văn Đàn đã hy sinh rập khuôn với Phan
Đình Giót chăng? Hay là trong phe XHCN, liệt sĩ Việt Nam Phan Đình Giót đã rập
khuôn với anh hùng Liên Xô Matrosov, cũng lấy mình lấp lỗ châu mai một cách
công thức chăng? Vâng, chúng ta rất giống nhau, chúng ta người nào cũng được Đảng
giáo dục yêu nước yêu dân, cũng được Đảng dặn dò: khi cần thiết thì hy sinh quyền
lợi cá nhân cho cho quyền lợi dân tộc, […..] Vâng! Nếu có một cái khuôn nào,
thì đó là một cái khuôn cao cả vĩ đại, phong phú, cái khuôn con người mới biết
tự cường, chiến đấu, hy sinh!”
Đối với những cái “sáo” hình
thành trong văn nghệ cách mạng, thái độ của Xuân Diệu là bảo vệ:
“Bệnh công thức của ta rất
đáng ghét, nhưng động cơ của nó là muốn nói cái mới cái hay, chỉ vì thiếu
nghiên cứu, thiếu sáng tạo mà rơi vào chỗ sáo, ít nhất là nó có hảo ý; chứ còn
cái công thức cuả tư sản phản động, của văn hoá Mỹ thì ác ý và ghê tởm vô
cùng…”
“Chúng ta chống và chữa những
bệnh ấu trĩ của nền văn nghệ non trẻ của chúng ta, nhưng chúng ta cũng khẳng định
rằng: không có chân trời mới nào hết ngoài cái văn nghệ xã hội chủ nghĩa của
phe ta và cái văn nghệ tiến bộ của thế giới; chúng ta không đi tìm hang sâu vực
thẳm nào khác!”
Về cách chữa bệnh sơ lược,
Xuân Diệu cho là có “cách chữa chân chính” và “cách chữa giả tạo”,
cách thứ hai này, ông chống kịch liệt:
“Cách chữa giả tạo là dựa
vào hình thức, vào kỹ thuật, tránh sự tẻ nhạt bằng cách bịa ra những trò chơi
quái ác, bằng cách bẻ quặt thực tế khách quan [….] Chữa giả tạo bằng cách quá đề
cao cá tính siêu nhân của người văn nghệ; bằng cách đem “tiếng sáo tiền kiếp”
ra thổi giữa những bản đàn của thời đại mà mình cho là chán. Bằng cách phục hồi
nguyên xi những ý tình cũ kỹ đã bị cách mạng thải ra. Chữa giả tạo trên hình thức bằng
cách làm thơ leo thang hay xuống dốc, cắt nát câu thơ ra và xuống dòng nhiều
quá sự cần thiết…”
Cách chữa chân chính, theo
Xuân Diệu, là “nghiên cứu sâu thực tế cách mạng”, vì “cái mới căn bản nằm trong
đời sống cách mạng”, “ta phải nói được cái mới căn bản đó, chứ không phải rơi
vào một thứ ‘mới chủ nghĩa’, đi tìm những cá tính lập dị nào”.
“Tôi tưởng tượng rằng: nếu
bà Thị Điểm mà sống lại và viết một bản Chinh phụ ngâm mới về phong
trào hoà bình thế giới hiện nay, thì Hồng Hà nữ sĩ cũng phải nghiên cứu đời sống
quần chúng đau khổ gây ra bởi chiến tranh đế quốc. Nếu Nguyễn Du còn sống và muốn
viết về cuộc đấu tranh và lao động hiện tại của nhân dân ta, Nguyễn Du cũng tự
nguyện đặt mình dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, và cũng phải
thâm nhập vào quần chúng hiện tại!”
Đọc lại những lời lẽ trên
đây, không khó để thấy thành phần nghị luận chủ yếu trong đó là ngụy biện, tuy
được phát ngôn một cách không kém nồng nhiệt nhưng vẫn là kết quả những suy
tính kỹ lưỡng, − không nhiều suy tư về chân lý, nhưng chắc chắn là ngầm chứa rất
nhiều suy tính về cách ứng xử, cách “diễn ngôn” (discours, như cách gọi sau
này) ra sao để tồn tại; đối với tác giả Thơ thơ đến lúc này thì
vấn đề không chỉ là cần sống sót mà là cần được sống tốt, bất kể
thời thế ra sao.
4a. Chúng ta tiếp tục
dõi theo những nét chính trong đời sống văn nghệ từ đầu năm 1957, sau Đại hội
Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai. Đối với giới nhà văn, đây là một năm đáng nhớ với
sự ra đời lần đầu tiên ở Việt Nammột hội mang tên Hội Nhà Văn Việt Nam với
những cơ sở trực thuộc nó sẽ dần dần hình thành: câu lạc bộ, tờ tuần báo, nhà
xuất bản, quỹ văn học …
Việc thành lập các hội
chuyên ngành cho các giới: nhà văn, hoạ sĩ và nhà điêu khắc, nhạc sĩ, kiến trúc
sư, nghệ sĩ sân khấu, nghệ sĩ điện ảnh, − là chủ trương được thông qua tại Đại
hội Văn nghệ toàn quốc lần II. Hội nhà văn được xúc tiến sớm nhất.
Tất nhiên đặt trong đời sống
tinh thần ở miền Bắc đương thời, Hội liên hiệp văn học nghệ thuật VN hoặc Hội
nhà văn VN và các hội chuyên ngành cùng loại, đều là những tổ chức được thành lập
theo chủ trương của Đảng cầm quyền, đều là những hội được hưởng quy chế tương
đương cơ quan nhà nước (biên chế và lương cán bộ nhân viên đều do nhà nước đảm
bảo), − nói bằng ngôn ngữ của thời “hậu bao cấp” thì đó là những hội “quốc
doanh”, hội “độc quyền”, hội “bao cấp”…
Hội nghị thành lập Hội Nhà
Văn Việt Nam họp từ ngày 1 đến ngày 4/4/1957, có 278 đại biểu tham dự, thảo luận
và thông qua bản điều lệ trong đó nói rõ: “Trên cơ sở Cương lĩnh Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam đoàn kết mọi nhà văn yêu nước và tiến bộ,
không phân biệt dân tộc, tôn giáo, xu hướng chính trị, xu hướng nghệ thuật” (điều
III).(10) Đại hội bầu ra ban chấp hành khoá
đầu gồm 25 nhà văn, và nhất trí coi 25 nhà văn trong ban chấp hành này là những
hội viên sáng lập và sau đấy sẽ bắt tay vào việc kết nạp hội viên vào Hội.(11) 25 nhà văn đó gồm: Nông Quốc
Chấn, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đình Thi, Tú Mỡ, Anh Thơ, Mộng Sơn, Cầm Biêu,
Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Huy Tưởng, Hoàng Cầm, Sao Mai, Tố Hữu, Hoàng Tích
Linh, Nguyên Hồng, Bửu Tiến, Xuân Diệu, Đoàn Giỏi, Phạm Huy Thông, Tế Hanh, Nam
Trân, Vũ Tú Nam, Hoàng Trung Thông, Xuân Miễn, Tô Hoài, Nguyễn Tuân.
Ngày 10/4/1957, hội nghị BCH
lần 1 cử ra ban thường vụ gồm: chủ tịch Hội: Nguyễn Công Hoan, phó chủ tịch: Tú
Mỡ, tổng thư ký: Tô Hoài, phó tổng thư ký: Nguyễn Xuân Sanh, và 3 uỷ viên:
Nguyên Hồng, Tế Hanh, Đoàn Giỏi.
Ngày 25 và 26/4/1957, hội
nghị BCH lần 2 thông qua đề án xuất bản báoVăn và lập Nhà xuất bản Hội
Nhà Văn. Tuần báo Văn với Chủ nhiệm Nguyễn Công Hoan, Thư ký
toà soạn Nguyên Hồng và 2 uỷ viên ban biên tập là Tú Mỡ và Tế Hanh. Nhà xuất
bản Hội Nhà Văn với Giám đốc Tô Hoài và 3 uỷ viên ban biên tập: Hoàng Cầm,
Đoàn Giỏi, Nguyễn Văn Mãi. Hội nghị này cũng quyết định lập ra ban kết nạp hội
viên (trưởng: Tú Mỡ, phó: Nguyên Hồng, có một tiểu ban giúp việc), ban chế độ
công tác sáng tác (trưởng: Nguyễn Công Hoan, phó: Nguyễn Xuân Sanh, có một số uỷ
viên), ban nghiên cứu sáng tác (trưởng: Tô Hoài), ban văn học nước ngoài (trưởng:
Nguyễn Xuân Sanh, uỷ viên: Nguyễn Tuân, Phạm Huy Thông). Ban thường vụ Hội quyết
định lập cơ quan Hội, quy định biên chế cơ quan gồm một số nhà văn và một số
cán bộ hành chính.
Tuần báo Văn xuất
bản vào ngày thứ sáu hằng tuần, số 1 ra ngày 10/5/1957, và, − ngoài mong muốn
và dự liệu của giới lãnh đạo văn nghệ hay chăng (hay vẫn nằm trong số những dự
liệu ấy?), − chính tờ báo này đã làm nên một đoạn phiêu lưu nữa, như giọt nước
không mấy to hoặc nặng, nhưng lại là giọt nước làm tràn ly: với nó và sau nó, sự
đấu tranh giữa những khác biệt trong nội bộ nền “văn nghệ cách mạng” này được
công nhiên chuyển thành đấu tranh giữa “ta” với “địch”, một số “đồng chí” trong
hàng ngũ được chuyển thành những “kẻ thù” và bị trừng phạt, bị trục xuất khỏi
hàng ngũ, bị làm cho ô nhục bằng ngôn từ và bằng áp đặt sự phân biệt đối xử.
Ta hãy quan sát kỹ hơn những
gì xảy ra với tuần báo Văn.
Văn là tuần báo ra ngày
thứ sáu, chuyên về “sáng tác, phê bình, giới thiệu, sinh hoạt văn học, tin văn
thơ”. Thành phần bài vở chính trong mỗi số là đăng sáng tác thơ văn, phê bình
tiểu luận, chuyện nghề văn, thời sự văn hóa văn nghệ; một phương diện phục vụ
chính trị không thể thiếu của báo là mảng hoạt kê và châm biếm chính trị: tranh
đả kích, thơ trào phúng trong các mục “mũi nhọn”, “bia miệng”, đối tượng luôn
luôn là “đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm”.
Văn có nét thông thường
ở hầu hết các tờ báo của giới nhà văn: phần trang nhiều nhất dành đăng sáng tác
thơ văn, dư luận văn nghệ. Có lẽ nét mới thấy rõ ở nó so với tuần báo Văn
nghệ trước đấy là việc phản ánh sinh hoạt câu lạc bộ Hội nhà văn, hoặc
những thông tin khá hồ hởi xung quanh những ngày đầu hoạt động của Hội nhà văn,
nhất là những động thái triển khai việc xét kết nạp hội viên đợt đầu tiên…
Tuy nhiên, vào lúc đã ra được
10 số đầu, tờ tuần báo của Hội Nhà văn như bị dội nước lạnh khi trên tạp chí Học
tập, cơ quan lý luận chính trị của trung ương Đảng Lao động VN, số 7/1957, xuất
hiện bài Tuần báo Văn và con người thời đại của tác giả Thế
Toàn (Trịnh Xuân An), theo đó, những sáng tác đăng tải trên 10 số Văn đầu
tiên được đánh giá khá tiêu cực: chủ đề của nhiều văn, thơ đăng ở đây “toàn là
những thứ lượm lặt ngoài rìa cuộc sống”, “không ăn nhập gì với cuộc sống, không
dính dáng gì đến những con người vĩ đại và dũng cảm của thời đại chúng ta”; tóm
lại, theo Thế Toàn, “Tờ báo hầu như xa rời thực tế, xa rời cuộc sống, tách rời
những nhiệm vụ trung tâm của cách mạng”.
Trước sự phê bình của tạp
chí Học tập, ban biên tập tuần báo Văn và không
ít nhà văn đã có phản ứng khá gay gắt. Lần lượt, các ý kiến của thư ký tòa soạn
Nguyên Hồng (Tuần báo Văn và một số bài của báo cần được nhận định như thế nào?
// Văn số 15, ngày 16/8/1957), của Nguyễn Văn Bổng (Nhận lại phương hướng
qua việc phê bình tuần báo Văn// Vănsố 20, ngày 20/9/1957), Lê Minh (Xây dựng
con người thời đại// Văn số 21, ngày 27/9/1957), Tô Hoài (Góp thêm vài ý
kiến về con người thời đại// Văn số 22, ngày 4/10/1957), Nguyễn Tuân (Phê
bình nhất định là khó// Văn số 23, ngày 11/10/1957), Tế Hanh (Cùng đặt một
số vấn đề// Văn số 26, ngày 1/11/1957), ở những mức độ khác nhau, hầu hết
(đúng ra, trừ một số ý trong bài của Nguyễn Văn Bổng) đều bộc lộ thái độ không
tán đồng sự phê bình của tạp chí Học tập.
Việc những người chủ trì báo Văn coi
sự góp ý của tạp chí Học tập chỉ như sự phê bình của tờ “báo bạn”, của
“đồng nghiệp” − có lẽ đặc biệt gây tự ái nơi tâm lý những người nhân danh báo
chí của Đảng cầm quyền. Dưới dạng một bài đọc sách, − đây là bài nói chuyện của
Trường Chinh tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần II được in thành sách riêng, −
hai nhà báo của tạp chí Học tập, Hồng Chương và Trịnh Xuân An, lên tiếng
nhắc nhở các nhà văn và Ban biên tập tuần báo Văn; nhan đề bài viết (Học
tập, số 8, tháng 8/1957) được hai ông này đặt bằng mệnh lệnh thức: Phải thấu
suốt đường lối văn nghệ của Đảng. Bút ký sau khi đọc cuốn “Phấn đấu cho một nền
văn nghệ dân tộc phong phú dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã
hội” của đồng chí Trường Chinh, trong đó đặc biệt nhấn mạnh việc cần phê
phán ảnh hưởng của tư tưởng tư sản trong sáng tác văn nghệ. Ý nghĩa cảnh cáo lộ
rõ trong đoạn kết:
“Chúng ta cần kiên quyết đấu
tranh chống những thiên hướng lệch lạc đi trệch ra ngoài đường lối văn nghệ của
Đảng. Chúng ta cũng kiên quyết phản đối thái độ của một số cán bộ đảng viên phụ
trách văn nghệ phạm khuyết điểm sai lầm được báo chí Đảng giúp đỡ phát hiện
khuyết điểm sai lầm mà không chịu khiêm tốn kiểm điểm và thành tâm sửa chữa,
trái lại, lại đả kích và mạt sát báo chí Đảng. Thái độ đó rõ ràng là không lợi
cho việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận văn nghệ.”
Nhận xét về cách phê bình của
hai ký giả trên tạp chí Học tập, Nguyễn Tuân (báo Văn số 23) nhắc
lại mấy câu hỏi của Nguyên Hồng (thư ký tòa soạn báo “Văn” ): “Có phải
vì giáo điều, sơ lược, công thức, nên mới có sự nhận thức và phê phán như thế?
Có phải vì tác phong quan liêu, trịch thượng và cái lối đao to búa lớn nên mới
có sự nhận xét như thế?”, và Nguyễn Tuân tỏ rõ ý kiến mình:
“Trong việc đánh giá, đặc biệt
nhất là ba ông Thế Toàn, Hồng Chương và Trịnh Xuân An đã có những “thái độ trịch
thượng và cái lối nói đao to búa lớn”. Tôi cũng đồng ý với ông thư ký tòa soạn
báo Văn về cái nhận xét này. Thêm nữa, cá nhân tôi lại còn cảm thấy mấy
ông đó đã làm cho người đọc phải hiểu rằng các ông đang lấy Đảng ra để “dọa”
anh em viết bài báo”.
Đáp lại sự nhận xét trịch
thượng cho rằng giới nhà văn chưa biểu hiện được “con người thời đại”, Nguyễn
Tuân lên tiếng như là tiếng nói chung của giới mình:
“Theo chỗ tôi biết thì đã có
một số hiện tượng hách dịch đối với văn nghệ phẩm, xuất phát từ một số người
phê bình cũng như từ một số cán bộ chính trị. Tôi rất đồng ý là văn nghệ sĩ, mà
nhất là văn nghệ sĩ có tài, càng cần phải khiêm tốn. Nhưng chung quanh, nhất là
những người có trách nhiệm về phán đoán cái này cái kia, đề nghị cũng làm như vậy
cho. Tôi tán thành cái ý kiến là những “sĩ” của các ngành văn nghệ chúng ta
chưa có gì là ghê gớm lắm đâu, về trình độ tư tưởng trình độ văn hóa trình độ
nghề nghiệp còn phải học cho nát xương lòi da ra, học cho đến chết mà chắc gì
đã nắm hết được quy luật của sự sống. Nhưng cũng không nên vì nó chỉ là “sĩ” của
Việt Nam mà đánh giá nó quá thấp quá tồi về khả năng nhạy cảm đối với thực tế
khách quan, cho nó là mít là xoài tất trong mọi cảm xúc phiền toái và vĩ đại của
thời đại vừa gieo neo vừa lớn lao hiện nay của chúng ta. Trong mọi thực tiễn Việt Nam nói
chung các mặt, nếu đã có những tác giả còn non nớt, nếu đã có những tác phẩm yếu
xoàng, thì cũng đã có một số cán bộ thực hiện chính trị một cách cũng không được
cao tay gì lắm. Đối với nghệ phẩm, anh đến với nó (nhất là thứ tạo ra ở bản xứ)
mà anh tham lam quá đáng hoặc hung hăng một cách không cần thiết, thì nó biến mất….”
Lúc này, đến lượt Tạp
chí Văn nghệ vào cuộc. Tạp chí này, chủ nhiệm là Đặng Thai Mai, thư ký tòa
soạn là Nguyễn Đình Thi, đã tái xuất hiện từ tháng 6/1957 với tư cách cơ quan của
Hội Liên hiêp Văn học nghệ thuật Việt Nam, ra hàng tháng, đánh số từ số 1 nhưng
ghi rõ trên manchette là tờ tạp chí “xuất bản từ 1948 trong kháng chiến”. Chính
trên tạp chí này, dù chỉ vừa mới xuất hiện trở lại, cũng đã kịp có những bài
phê phán những sáng tác bị coi là có những lệch lạc về tư tưởng, ví dụ Thao
thứccủa Đoàn Giỏi (bài phê bình của Nguyễn Văn Bổng, TCVN s. 5, th.
10/1957), Một ngày chủ nhật của Nguyễn Huy Tưởng (bài phê bình của Vũ
Đức Phúc, TCVN s. 7, th. 12/1957).
Bài báo dài Tuần báo
Văn với phương hướng sáng tác và phê bình hiện nay (Tạp chí Văn nghệ số 5,
tháng 10/1957, tr. 113-136) của nhà phê bình Nguyễn Đình Thi, thư ký tòa soạn tạp
chí Văn nghệ, tất nhiên là không tách rời tư cách Tổng thư ký Hội LHVHNTVN
của ông khi đó (cũng như Nguyễn Tuân khi lên tiếng ủng hộ Nguyên Hồng thì ông
Tuân vẫn đang là Phó chủ tịch Hội LHVHNTVN).
Có phần tán thành nhận định
của Thế Toàn và Nguyễn Văn Bổng, đề cập đến các sáng tác đăng 10 số đầu báo Văn,
Nguyễn Đình Thi cho rằng “Chúng ta chưa nhìn rõ cái thực tế tiến dần lên chủ
nghĩa xã hội của đời sống chung quanh ta được báo Văn phản ánh lên thế
nào” … “Tình hình đó không thể coi là bình thường được”. Nguyễn Đình
Thi còn phân tích đánh giá về một số bài đăng trên các số Văn, trong đó đặc
biệt tỏ rõ dị ứng với các bài thơ Một giọng đàn, một dòng sông (Hoàng
Yến, s. 5), In dấu chân (Hoàng Cầm, s. 15), Lời mẹ dặn (Phùng
Quán, s. 21), hoặc ý kiến của Trần Dần Nhìn lướt qua thơ văn gần đây (s.
12). Tuy vậy, cũng có phần chia sẻ với Nguyên Hồng trong phản ứng trước sự phê
bình đầy công thức và máy móc của tạp chí “Học tập”; Nguyễn Đình Thi
viết:
(7) Nguyễn
Đình Thi: Mấy việc làm để xây dựng nền văn hoá văn nghệ của nhân dân ta
(phát biểu trong phiên họp Quốc hội khoá thứ 6 ngày 18/1/1957)// Văn nghệ, s.
158 (1/2/1957), tr. 1, 2. Lưu ý: báo chí đương thời gọi đây là “khoá họp” (QH)
thứ 6”; theo cách gọi ngày nay, phải là “kỳ họp thứ 6” mới đúng; vì khi đó QH vẫn
đang trong nhiệm kỳ I (nay cũng gọi là khoá I), được bầu cử từ 1946.
(8) Theo các bài tường
thuật của Huyền Kiêu (VN. s. 161) và Bàng Sĩ Nguyên (VN. s. 162), có thể tóm tắt
tiến trình Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội từ
20/2/1957 đến 28/2/1957 như sau:
Chiều 19/2/1957: Họp
trù bị, bầu Chủ tịch đoàn Đại hội, 25 người: Đặng Thai Mai, Hoàng Ngọc Phách, Tố
Hữu, Nguyễn Đình Thi, Tú Mỡ, Hoài Thanh, Nguyễn Xuân Khoát, Lương Xuân Nhị,
Phan Thao, Thế Lữ, Nguyễn Phương Danh (Tám Danh), Nông Quốc Chấn, Lưu Quý Kỳ,
Nguyễn Cao Luyện, Văn Cao, Ái Liên, Thái Thị Liên, Nguyễn Thị Kim, Nguyễn Văn Tỵ,
Y Dơn, Nguyễn Tuân, Nguyễn Nho Tuý (Đội Tảo), Trần Văn Lắm, Lưu Hữu Phước, Trần
Huyền Trân
20/2/1957: phiên khai mạc;
ngày họp thứ nhất
- Chủ tịch đoàn giới thiệu Đặng
Thai Mai chủ toạ phiên họp đầu tiên. Chủ tịch đoàn giới thiệu bổ sung nhạc sĩ
quân đội Đỗ Nhuận vào chủ tịch đoàn, đại hội biểu quyết bằng vỗ tay thông qua.
- Tổng thư ký Hội Văn nghệ
VN Nguyễn Tuân giới thiệu thành phần đại hội và khách của đại hội: Thủ tướng Phạm
Văn Đồng, đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Trường Chinh đại diện Đảng Lao động VN;
trên 600 văn nghệ sĩ; các vị khách Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận tổ quốc,
Quân đội nhân dân, đảng xã hội, đảng dân chủ, bộ văn hoá, các sứ quán, các
phóng viên…
- Tổng thư ký Nguyễn Tuân đọc
diễn văn khai mạc.
- Lời chào mừng của Mặt trận
tổ quốc, của anh em văn nghệ sĩ đang công tác ở giới tuyến, nhà văn và trí thức
Ru-ma-ni.
- Nguyễn Đình Thi thay mặt
Ban chấp hành Hội đọc báo cáo chính: Văn học và nghệ thuật Việt Nam sau
Cách mạng tháng Tám.
- Chiều: Nguyễn Đình Thi đọc
tiếp báo cáo
- Ô. Trường Chinh đọc Thư của
BCH TƯ ĐLĐ VN gửi đại hội.
21/2/1957: ngày họp thứ hai
- Lưu Quý Kỳ đọc báo cáo bổ
sung về: Phong trào văn nghệ miền Namtrong chín năm qua và nhiệm vụ đấu tranh
thực hiện thống nhất nước nhà.
- Nông Quốc Chấn đọc báo cáo
bổ sung về: Phong trào văn nghệ các dân tộc miền núi.
- Nguyễn Xuân Sanh đọc báo
cáo bổ sung về: Dự thảo điều lệ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.
22/2/1957: ngày họp thứ ba
các đại biểu thảo luận theo
ngành tại Nhà hát Lớn, CLB Đoàn Kết, CLB Thống Nhất; tối: đoàn bình kịch
Cáp-nhĩ-tân (Trung Quốc) biểu diễn chào mừng đại hội với vở Đào hoa nhân
diện.
23/2/1957: ngày họp thứ tư
- họp chung tại Nhà hát Lớn
nghe các tham luận
- Chủ nhiệm Tổng cục chính
trị QĐND VN Nguyễn Chí Thanh phát biểu, mời văn nghệ sĩ sáng tác về các đề tài
quân đội.
- Đại diện Ban liên lạc nông
dân toàn quốc phát biểu hoan nghênh những sáng tác về nông thôn.
- Tham luận: Vũ Ngọc Phan về
dân ca VN; Cầm Biêu về thơ dân tộc Thái; Tú Mỡ về trào phúng; Tô Vũ về vốn nhạc
cổ; Cù Huy Cận về học tập vốn cũ dân tộc; Đào Duy Anh về vốn cũ dân tộc; Nguyễn
Văn Tỵ về phổ biến tranh dân tộc; ngoài ra còn tham luận của Hoàng Châu Ký, Lã
Văn Lô, Nhật Lai, Chi Lăng…
24/2/1957: chủ nhật, đại
hội nghỉ,
Ban chấp hành hội Văn nghệ
VN “mời đồng chí Trường Chinh, người bạn thân mến của văn nghệ sĩ VN” nói chuyện
tại Nhà hát Lớn, với đầu đề: “Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc dưới ngọn cờ
của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội” .
- đại diện Tổng Liên đoàn
lao động VN Nguyễn Duy Tính, đại diện Hội LH Phụ nữ VN Đinh Thị Cẩn, đại diện Hội
LH Thanh niên VN Hồ Trúc phát biểu những ước mong của giới mình với văn nghệ.
- đại hội thảo luận về kinh
nghiệm sáng tác và biểu diễn. Phạm Văn Đôn: về kết quả triển lãm hội hoạ VN tại
Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên; Đào Duy Kỳ: Khai thác vốn dân tộc; Nguyễn Công
Hoan: kinh nghiệm viết tiểu thuyết; Nguyên Hồng: ý thức nhà văn; Bàn Tài Đoàn:
tôi học làm thơ như thế nào; Hồ Dzếnh: một ý nghĩ về sáng tác; Y Dơn: tôi làm
văn nghệ; Đội Tảo: Người diễn tuồng cổ; hoạ sĩ Nguyễn Hiêm: đi vào quần chúng;
Nông Quốc Chấn: thơ và đời sống; Thuý Ngần: tâm sự diễn viên…
26/2/1957: ngày họp thứ
sáu
- Thứ trưởng bộ văn hoá Đỗ Đức
Dục nói về trách nhiệm văn nghệ sĩ với việc nâng cao đời sống văn hoá của nhân
dân; Nguyễn Khánh Toàn (bộ giáo dục) nói về mối quan hệ của ngành giáo dục và
văn nghệ sĩ.
- Các tham luận: Nguyễn Xuân
Khoát: những khuyết điểm trong phê bình và tự phê bình; Lưu Công Nhân: chống lối
phê bình thiếu nâng đỡ đối với hoạ sĩ trẻ; Nguyễn Đình Phúc: sáng tác lâu dài;
Phùng Quán: nhận biết “mùi” trăm hoa là khó; Đỗ Nhuận bác lại ý Phùng Quán:
“trăm hoa đua nở” không có nghĩa người trồng hoa có thể không có chủ định gì cả…;
Xuân Diệu: về bệnh sơ lược trong văn nghệ; Lưu Trọng Lư: về con người mới; Bửu
Tiến: tư tưởng tính trong sáng tác; Nguyễn Thành Long: vấn đề phê bình; Lan
Sơn: tâm trạng người văn nghệ sĩ tiểu tư sản; Trần Thanh Mại: Đảng, sự thật và
văn học.
27/2/1957: ngày họp thứ
bảy
- Tham luận và thảo luận về
các nhiệm vụ. Phan Thị Nga: văn nghệ với phụ nữ; Phạm Hổ: văn nghệ với thiếu
nhi; Trần Hoàn: lực lượng văn nghệ trẻ; Thái Thị Liên và Bích Được: hoàn cảnh
khó khăn của diễn viên…
- Buổi chiều, đại biểu các
ngành nghệ thuật trẻ: điện ảnh, nhiếp ảnh, múa rối, xiếc…đọc tham luận; Phan
Thao: bàn về đâu tranh cho thống nhất nươc nhà.
28/2/1957: ngày họp thứ
tám
- điện mừng đại hội của nhà
văn Pháp André Still và Pierre Courtade
- Các tiểu ban báo cáo:
Hoàng Như Tiếp báo cáo công việc của tiểu ban điều lệ; Đặng Thai Mai: công việc
của tiểu ban nghị quyết; Nguyễn Đình Thi: nghị quyết của đại hội; Tú Mỡ (tiểu
ban hiệu triệu): thư đại hội gửi các nhà văn nghệ miền Nam, thư đại hội gửi nhà
văn trong nước và ngoài nước, thư gửi Trung ương Đảng LĐVN.
- Thông qua nghị quyết của đại
hội. Nguyễn Tuân tuyên bố Hội Văn nghệ VN hết nhiệm kỳ. Đại hội bầu cử (bằng bỏ
phiếu kín) Ban Chấp hành chính thức của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.
Chiều, công bố kết quả: có 45 văn nghệ sĩ trúng cử. BCH ra mắt.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đến mừng
thành công của đại hội và nói chuyện với văn nghệ sĩ.
- Tố Hữu trong đoàn chủ tịch
đại hội đọc diễn văn bế mạc.
Ban Chấp hành Hội Liên hiệp
Văn học Nghệ thuật Việt Nam
(do đại hội Văn nghệ toàn quốc
lần thứ hai bầu ra)
ngành văn: Nguyễn Văn Bổng,
Hồ Dzếnh, (bà) Vân Đài, Bảo Định Giang, Nguyễn Công Hoan, Tố Hữu, Đặng Thai
Mai, Tú Mỡ, Hoàng Ngọc Phách, Võ Huy Tâm, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân, Hoài
Thanh, Nguyễn Đình Thi, Trần Hữu Thung
ngành mỹ thuật: Trần
Văn Cẩn, (bà) Nguyễn Thị Kim, Trần Văn Lắm, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Văn Tỵ, Huỳnh
Văn Thuận
ngành kiến trúc: Nguyễn
Cao Luyện
ngành nhạc: Văn Cao,
Lưu Quang Duyệt, Vũ Tuấn Đức, (bà) Thương Huyền, Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận,
Lưu Hữu Phước
ngành múa: Hoàng Châu
ngành sân khấu: Nguyễn
Phương Danh (Tám Danh), (bà) Ái Liên, Thế Lữ, Tống Văn Ngũ (Năm Ngũ), Nguyễn Thị
Lan (bà Cả Tam), Nguyễn Nho Tuý (bác Tảo), Sĩ Tiến
ngành múa rối: Huỳnh
Văn Cát
ngành xiếc: Phạm Xuân
Thư
ngành điện ảnh: Phạm
Văn Khoa, Mai Lộc
ngành nhiếp ảnh: Nguyễn
Văn Phú
văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số: Cầm
Biêu, Nông Quốc Chấn, Y Dơn
(ngoài ra còn 10 ghế dành
cho anh chị em văn nghệ hiện ở miền Nam).
Phiên họp đầu tiên của
Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, ngày 1/3/1957 tại trụ
sở Hội số 51 Trần Hưng Đạo Hà Nội, dưới sự chủ toạ của nguyên Tổng thư ký Hội
Văn nghệ VN Nguyễn Tuân, có mặt 39 uỷ viên chấp hành, đã bầu:
- Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn
học Nghệ thuật VN: Đặng Thai Mai
- 8 Phó chủ tịch: Nguyễn
Tuân, Tú Mỡ, Nguyễn Xuân Khoát, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Cao Luyện, Nông Quốc Chấn,
Nguyễn Phương Danh (Tám Danh), Thế Lữ
- Tổng thư ký: Nguyễn
Đình Thi
- 3 phó tổng thư ký: Văn
Cao, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Văn Bổng
- 13 vị trên đây họp thành
Ban Thường vụ của Hội.
(9) “người
phá kho bom Tân Sơn Nhất” ở đây ý nói nhân vật thiếu niên họ tên Lê Văn Tám,
theo báo chí từ 1946 và nhiều năm về sau, là người đã tẩm xăng vào mình xông
vào đốt kho bom ở địa điểm trên; do đây đã có một số truyện ký và kịch viết về
đề tài này, trong số đó có kịch “Lửa cháy lên rồi” của Phan Vũ, được
giải nhì về kịch trong giải thưởng văn học của Hội Văn nghệ VN 1954-55. Sau này
đã xác minh đây không phải là sự kiện và con người có thực, nhưng điều này cũng
chưa hề được thông tin chính thức.
(10) Nội
dung điều III trong Điều lệ Hội Nhà văn 1957 nói trên là dẫn theo tường thuật của
Đào Vũ, Hội nghị thành lập Hội nhà văn Việt Nam, đăng Tạp chí
Văn nghệ, số 1, tháng 6/1957, tr. 109-118.
(11) Về
các chi tiết liên quan đến Đại hội I Hội nhà văn VN và những người được coi là
“hội viên sáng lập”, tôi căn cứ vào tường thuật của báo Văn và Tạp
chí Văn nghệ đương thời, theo đó số người tham dự đại hội I là 278;
còn chuyện tư cách hội viên thì tại đại hội đã được bàn thảo và đi tới nhất
trí: chỉ 25 nhà văn được bầu vào ban chấp hành khoá I được coi là “hội viên
sáng lập” mà thôi. Sau đại hội, ban chấp hành đã tiến hành xét kết nạp hội viên
trong một thời gian dài; một tiểu ban được lập ra để giúp việc này; phiên họp
BCH từ 15 đến 18/8/1957 đã xét (bằng bỏ phiếu kín, lấy các trường hợp 50% +
1phiếu) được 127 người, sau đó xét kết nạp thêm 6 trường hợp là nhà văn các dân
tộc thiểu số, cộng với 25 nhà văn là uỷ viên chấp hành; như vậy có 158 hội viên
dự định được kết nạp. Phiên họp thứ 3 trong tháng 7/1957, Ban thường vụ xét kết
nạp thêm 14 tác giả kịch bản cải lương tuồng chèo, đưa tổng số hội viên được kết
nạp lần thứ nhất lên con số 172 người (“Văn” s. 22, ngày 4/10/1957, tr.
7).
Trong khi đó, một số tài liệu do cơ quan Hội Nhà văn biên soạn sau này (cuốn sách mang tên Nhà văn Việt Nam hiện đại, biên soạn và in 1992; và 2 cuốn cũng mang tên ấy, soạn lại và in vào các năm 1997, 2007) thường nêu thông tin: có 165 đại biểu dự đại hội I và tất cả số người đó đều là “hội viên sáng lập”. Điều này không phù hợp với các thông tin từ báo chí đương thời. Chưa rõ con số 165 hội viên đợt I (những người được ghi bằng ký hiệu A từ A 1 đến A 165 trong cuốn sách trên, bản in 1992) có xuất xứ từ đâu?
Trong khi đó, một số tài liệu do cơ quan Hội Nhà văn biên soạn sau này (cuốn sách mang tên Nhà văn Việt Nam hiện đại, biên soạn và in 1992; và 2 cuốn cũng mang tên ấy, soạn lại và in vào các năm 1997, 2007) thường nêu thông tin: có 165 đại biểu dự đại hội I và tất cả số người đó đều là “hội viên sáng lập”. Điều này không phù hợp với các thông tin từ báo chí đương thời. Chưa rõ con số 165 hội viên đợt I (những người được ghi bằng ký hiệu A từ A 1 đến A 165 trong cuốn sách trên, bản in 1992) có xuất xứ từ đâu?
Hóa giải ảnh hưởng của
Stalin ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Những lời lên án mạnh mẽ đến
mức gây sốc về tội ác của Stalin do Khrushchev phát biểu khiến những phần tử bất
mãn trong đội ngũ trí thức ở Việt Nam phấn khởi. Nhiều người còn đang giận dữ về
cách xử lý của lãnh đạo văn hóa đối với các giải thưởng văn học giai đoạn
1954-1955, mới công bố kết quả trên báo Văn Nghệ số ra ngày 15 tháng
Ba năm 1956. Gần như đúng tròn một năm sau vụ tranh luận về Việt Bắc, Xuân
Diệu lại rơi vào vị trí trung tâm của rắc rối. Vì chính quyết định trao giải
nhì cho tập thơ cách mạng Ngôi Sao của ông đã làm dấy lên làn sóng phản
ứng mạnh mẽ nhất, với sự xuất hiện của ba bài phê bình trên tờ báo văn học tư
nhânTrăm Hoa.[1]
Khi mọi chuyện đã qua, bây
giờ nhìn lại mới thấy ba bài này quả thực là phát súng mở màn cho một trận chiến
về công tác cách mạng của Xuân Diệu. Vấn đề cốt yếu vẫn là chất lượng những bài
thơ cách mạng của ông. Liệu Ngôi Sao, tập trung tất cả những sáng tác của
nhà thơ trong mười năm dưới sự dẫn dắt của đảng có so được với Thơ thơ và Gửi
hương cho gió không? NếuNgôi Sao quả là ưu việt hơn, điều đó có nghĩa
là chính sách văn hóa của đảng và sự chỉ đạo của các quan chức văn hóa là hợp
lý. Nếu không, có thể đã đến lúc phải cân nhắc những thay đổi lớn về chính sách
và nhân sự. Trong hoàn cảnh bình thường, ba bài phê bình trên Trăm Hoa và
tiếp theo là việc tờ báo phải đóng cửa vì phá sản sẽ đặt dấu chấm hết cho vụ việc
này, và các trí thức bất mãn sẽ hướng mối quan tâm của mình sang những thứ
khác.
Nhưng lời kêu gọi của
Khrushchev đã mang lại những thay đổi lớn lao cho bầu không khí trí thức ở Hà Nội.
Đối với những người đang bất mãn, nhà lãnh đạo Liên Xô này đã tạo cho họ ấn tượng
rằng, nếu kiên trì bày tỏ những nỗi bất bình và đấu tranh cho những yêu cầu của
mình, có thể mang lại những thay đổi. Đối với lãnh đạo đảng, yêu cầu phải hòa
nhịp với những biến động thời sự về tư tưởng ở Moscow có thể buộc họ thấy rằng
cần phải áp dụng một thái độ dung hòa hơn đối với những yêu cầu của đội ngũ trí
thức, nhất là khi họ đang trong tầm quan sát của các đại sứ quán của khối xã hội
chủ nghĩa đặt tại Hà Nội.
Bên cạnh đó, với một động
thái chắc là có chủ ý đánh lạc hướng sự quan tâm dư luận khỏi vầng hào quang
sùng bái cá nhân đã và đang tồn tại quanh Hồ Chí Minh, lãnh đạo đảng thận trọng
đưa ra thuật ngữ “sùng bái cá nhân” sao cho nghe có vẻ như một cấp độ hơi nặng
hơn của các căn bệnh cũ như “cá nhân chủ nghĩa”, “quan liêu”, “cửa quyền”. Đây
là những thuật ngữ lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam thường dùng trong
suốt mấy thập kỷ trước để phê bình những đảng viên không làm tốt công tác được
giao.[2] Trên
thực tế, Hồ Chí Minh đã giải thích rõ về các lỗi lầm và căn bệnh (chính ông gọi
như vậy) thường mắc này cho đội ngũ đảng viên trong cuốn sách Sửa đổi lề lối
làm việc ông viết năm 1948.[3] Các lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hẳn thấy nhẹ
người khi biết rằng các trí thức bất mãn ban đầu chỉ dừng ở mức áp dụng thuật
ngữ “sùng bái cá nhân” đối với lãnh đạo cấp trên trực tiếp của mình trong lĩnh
vực văn hóa. Chừng nào mà sự chỉ trích chỉ dừng lại trong giới hạn an toàn với
những mối ưu tư nhỏ hẹp về công tác văn hóa, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam tỏ
ra sẵn lòng để cho đội ngũ trí thức cạo gáy các lãnh đạo chuyên môn của mình.
Tất cả những điều đó là dấu
hiệu xấu báo trước một thời kỳ sóng gió sắp đến với Xuân Diệu, khi những lời
bàn sôi nổi về quá trình tham gia cách mạng của ông lan sang tới các trang báo Văn
Nghệ. Trên tờ báo này, quan chức văn hóa cao cấp Hoài Thanh, người đã tham gia
ban giám khảo, buộc phải bảo vệ quyết định trao giải nhì cho Ngôi Sao với
những lời khẳng định công khai về tác phẩm của Xuân Diệu:
“Cách mạng càng tiến lên,
Xuân Diệu càng thêm gắn bó với quần chúng, nhất là với quần chúng nông dân, nhờ
đó thơ Xuân Diệu càng thêm chắc về nội dung tình cảm, thêm giản dị về điệu về lời.
Và đã có lúc chúng ta tưởng như gặp một Xuân Diệu hoàn toàn mới. Nhưng cuộc đấu
tranh giữa cái mới và cũ trong thơ Xuân Diệu cũng như trong con người của mỗi
chúng ta là một cuộc đấu tranh gay go. Trong cái mới sao cho khỏi rơi rớt lại
những cái cũ. Cái phần cũ tôi muốn nói cái phần sống sượng, lệch lạc, giả tạo
trong thơ Xuân Diệu cũng còn nhiều. Nhưng hôm nay tôi không định nói về phần ấy.
Tôi muốn nói về cái phần đứng đắn, chân thành trong thơ Xuân Diệu.”[4]
Tuy dành phần lớn bài viết để
khen ngợi những phần đúng đường lối của Ngôi Sao, chính Hoài Thanh đã công
nhận những nhược điểm của tập thơ này. Tuy vậy, ông ta quy nguyên nhân cho quá
khứ tiểu tư sản của Xuân Diệu, chứ không phải vì những giá trị và sự dẫn dắt
tác giả mới tiếp nhận trong mười năm phục vụ cách mạng.[5]
Dù được sự tiếp ứng nói
trên, tình hình vẫn ngày càng xấu đi cho Xuân Diệu. Một tuần sau bài viết của
Hoài Thanh, Văn Nghệ đăng một bài ngắn của nhà thơ lãng mạn nổi tiếng
Nguyễn Bính, lớn tiếng phản đối sự thiên vị của ban giám khảo dành cho Ngôi
Sao và phủ nhận những lời bào chữa của Hoài Thanh, cho rằng đó chỉ là nỗ lực
xoa dịu dư luận một cách vụng về:
“Thắc mắc chung quanh tập Ngôi
Sao thực là nhiều và sôi nổi. Có những thắc mắc đã nói ra trên báo chí, có
những thắc mắc chỉ trao đổi trong những cuộc mạn đàm. Có những thắc mắc trong
anh em văn nghệ, có những thắc mắc của bạn đọc. Của những người ở
vùng tự do cũ, cũng như ở vùng mới giải phóng, ở nhiều tầng lớp khác nhau,
trong những cương vị công tác, hoạt động khác nhau. Nói chung, phần tán thành
ít mà phần thắc mắc thì hầu như phổ biến. Tập thơ Ngôi Sao lại đã xuất
bản trước khi công bố giải thưởng. Ngay khi chưa biết nó được giải cũng đã nhiều
anh em phàn nàn về những mặt hỏng của nó. Sao không có một cuộc thăm dò dư luận
từ trước? Quả là ban giám khảo chưa thực mở rộng dân chủ, chưa tha thiết lắng nghe
ý kiến nguyện vọng của quần chúng? Sự định đoạt giá trị và thứ bậc tác phẩm hầu
như chỉ thu hẹp trong phạm vi ban giám khảo, trong sự bàn cãi phân tách của một
số nhỏ người.
[…] Đối với những phản ứng
trong quần chúng, Ban chấm giải không tự kiểm điểm, không trưng cầu ý kiến của
quần chúng, khơi cho hết thắc mắc của mọi người, mà chỉ tìm cách xoa dịu bằng một
bài báo nặng tính cách bào chữa của Hoài Thanh trong Văn Nghệ số 122.
Một vài anh em không bằng lòng ra mặt những bài phê bình tập Ngôi Sao trên
báo Trăm Hoa, cho đó là lối “đập” thiên lệch và ác. Trong khi ấy trên
tờ báo của Hội vẫn có những bài phê bình có tính cách “đập” thiên lệch và ác
như bài của Nguyễn Đình Thi phê bình Giai phẩm. Phải chăng đó là lưu tệ của
cái thói “lỗi người để túi trước, lỗi mình để túi sau?”[6]
Ngày 21 tháng Sáu năm 1956, Văn
Nghệ đăng tiếp bài viết thứ ba về Ngôi Sao, của một nhà văn khác tên
là Huy Phương.[7] Tác
giả lập luận rằng, mặc dù thơ cách mạng của Xuân Diệu nói chung có biểu hiện một
lòng thiết tha với dân tộc, nhân dân và cách mạng, nhưng tình cảm cao quý ấy chỉ
hiện lên rất “yếu đuối” trong tập Ngôi Sao. Huy Phương viết, “Nhưng những
lúc nào Xuân Diệu bạo dạn đi sâu vào thực tế, được chất chiến đấu của thực tế
tác động mạnh mẽ vào tâm hồn, thì ta thấy anh cũng đã viết được những bài thơ
thành công”. Tuy nhiên, Huy Phương viết tiếp, “nhưng những khi Xuân Diệu trở về
với ‘hồn thơ’ của mình thì thơ anh chỉ là tiếng nói yếu đuối của con người còn
vướng mắc trong cái “tôi” riêng lẻ bé nhỏ.” Do vậy, tác giả kết luận trong bài,
những vần thơ cách mạng hay nhất của Xuân Diệu là nhờ cảm hứng trong quá trình
Xuân Diệu tham gia cải cách ruộng đất.[8]
Phần còn lại của bài viết là
sự khai triển lập luận trên, khi tác giả cố chứng minh những điểm mạnh của thơ
cách mạng Xuân Diệu là kết quả của quá trình học hỏi theo chỉ dẫn của đảng (nhất
là những phần lấy cảm hứng từ cuộc đấu tranh thực sự của quần chúng lao động).
Trái lại, tất cả những điểm yếu là kết quả của sự chệch hướng khi tác giả không
theo sự dẫn dắt của đảng, để cái tôi cá nhân của quá khứ tư sản xen vào gây tác
hại. Ngay cả những vần thơ tuyệt đẹp tả thiên nhiên đã góp phần mang lại sự nổi
tiếng cho thơ lãng mạn Xuân Diệu (và Hoài Thanh đã gồng mình thuyết phục mọi
người rằng trong Ngôi Sao vẫn có những vần thơ như vậy) cũng không
làm Huy Phương hài lòng: “…Xuân Diệu nhìn quanh mình chỉ thấy những màu sắc
lung linh, óng ả của núi sông, mây gió, cờ sao… Anh ngợp đi trong những lạc thú
về thị giác và vị giác, cuộc đời biến diễn trước mắt, anh thấy như một bữa tiệc
ngon của mắt và mồm.”
Một trong những nội dung thú
vị nhất của bài viết là những lời bàn của Huy Phương về cách Xuân Diệu tả chiến
tranh. Hiển nhiên đây là phần khó đổi lỗi cho quá khứ tư sản của nhà thơ nhất
trong cả tập Ngôi Sao, vì đương nhiên những tập thơ lãng mạn nổi tiếng của
Xuân Diệu Thơ Thơ và Gửi Hương Cho Gió không hề có chỗ cho
bạo lực. Vậy phải giải thích những câu thơ sau thế nào đây? Tả quân địch, Xuân
Diệu viết:
Rượu mồi hôi, bánh xương tủy
tim gan,
Thịt nhân quần chúng mày vẫn
uống ăn.
Và
Óc đã vỡ máu lộn cùng xương
tủy
Tay lìa chân, đầu rụng tiệc
đau thương.
Tả người lính Việt Minh,
Xuân Diệu viết:
Giữa xuân nay muôn chiến sĩ
say mê
Lấy máu tủy đổ ra đời bát
ngát
Ngừng tay lại thấy sức xuân
còn nhạt
Đổ máu thêm cho đến lúc toàn
hồng.[9]
Điều khiến Huy Phương thấy
khó chịu vì những dòng thơ “nhễ nhại những máu huyết” này là “bệnh khoái cảm”
(khoái cảm bệnh hoạn) mà Huy Phương tin là Xuân Diệu đã mắc phải khi viết những
dòng thơ đó. “Những câu như vậy, cái lối nhìn như vậy không phải là những trường
hợp ngẫu nhiên trong thơ Xuân Diệu. Nó là biểu hiện của cả một thái độ sống bắt
nguồn từ cả một hệ thống ý thức và tình cảm của tác giả”. Tình cảm, theo Huy
Phương, là “một cạnh khía quan trọng của khả năng cảm thông của tác giả với thực
tế” và vì thế phải có một vị trí quan trọng trong thơ. “Nhưng khi cảm giác của
nghệ sĩ thiên về tính chất hình thức và hưởng thụ thậm chí trở thành một động
cơ sáng tác thì đó là biểu hiện của bản chất hưởng lạc cá nhân của chủ nghĩa
lãng mạn tư sản”.[10] Huy Phương lập luận rằng, trong những vũng máu
huyết, “bánh tim gan”, tay chân đứt lìa, óc vỡ này, thông điệp cách mạng không
thể đến được với người đọc. Cùng với những nhược điểm khác mà nhà phê bình trẻ
này cho là Ngôi Sao mắc phải, Huy Phương nhận xét rằng Xuân Diệu có
khoái cảm trước cảnh bạo lực rùng rợn và quy kết nguyên nhân tại quá khứ tư sản
của nhà thơ.
Thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm:
tháng Tám đến tháng Chạp năm 1956
Suốt bốn tháng liền từ tháng
Tám đến tháng Chạp năm 1956, thời kỳ của phong trào Nhân văn – Giai phẩm, công
tác kiểm soát báo chí của đảng trở nên dễ dãi hơn bao giờ hết trong suốt lịch sử
của chế độ. Vì sao, mới ra lệnh tịch thu Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 vào
tháng Hai, lãnh đạo đảng lại đột ngột chuyển hướng và cho phép tự do báo chí
vào những tháng cuối năm 1956? Trước hết, vì nhu cầu viện trợ từ Liên Xô và
Trung Quốc là rất cấp bách, khiến giới lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thấy
buộc phải hòa nhịp với những diễn biến chính trị tư tưởng ở hai nước đồng minh
này. Ở Moscow, đó là phong trào hóa giải ảnh hưởng của Stalin, ở Bắc Kinh,
đó là chính sách Trăm Hoa. Một yếu tố bên ngoài nữa là cuộc nổi dậy Poznan ở
Ba Lan vào tháng Sáu. Một chỉ thị của ban bí thư đảng ban hành tháng Tám nhận định:
“Bọn tay sai của Mỹ – Diệm còn lại ở miền Bắc có thể lợi dụng những sai lầm và
khó khăn tạm thời của ta để phá hoại ta. Vụ lộn xộn xảy ra ở Pôdơnan (Poznan)
thuộc Ba Lan gần đây là một bài học cảnh giác lớn cho ta”.[11] Một
yếu tố quan trọng của hoàn cảnh trong nước có tác động đến quyết định nhân nhượng
đột ngột của đảng là dư chấn còn nóng hổi của chiến dịch cải cách ruộng đất đầy
bạo lực, mới kết thúc vào tháng Sáu năm 1956. Những người được tiếp cận bản báo
cáo bí mật của Khrushchev không thể không nhận thấy sự tương đồng giữa những sự
kiện tiêu cực được nêu trong văn bản đó với những cái gọi là “sai lầm” trong
chiến dịch cải cách ruộng đất ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (giết người không cần
xét xử, tra tấn để cưỡng bức nhận tội hoặc tố cáo người khác, cùng với hàng loạt
biểu hiện bất chấp nhân quyền trong chiến dịch).
Một biểu hiện của cảm giác
lo lắng của giới lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn này có thể
thấy qua Chỉ thị 45 của ban bí thư Đảng Lao động Việt Nam, ban hành ngày 23
tháng Tám năm 1956: “Về tăng cường vận động quần chúng để đề phòng bọn phản động
gây ra tình trạng cưỡng bức di cư vào Nam hay kích động gây hấn hoặc phá hoại.”
Lúc đó đã hơn một năm sau ngày biên giới Nam Bắc khép lại, lãnh đạo Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa vẫn e ngại nguy cơ di dân hàng loạt. Một phần khác của chỉ thị,
chủ yếu nói về các cộng đồng Công giáo, viết rằng “trong số người có tư tưởng
muốn đi Nam thì phần lớn là nông dân lao động, nhiều người được chia quả thực
trong cải cách ruộng đất[12], có nơi cả cốt cán và cán bộ xóm cũng muốn đi”.[13] Nhà
văn cách mạng Nguyễn Huy Tưởng ghi trong nhật ký ngày 21 tháng Tám năm 1956 về
tình hình lúc bấy giờ như sau: “Nông dân sau cải cách ruộng đất, đánh nhau vì
tranh tháo nước, để cứu úng thủy. Có hiện tượng Diệm nó phát động một phong
trào di cư mới. Mà lần này có thể cả quần chúng cơ bản đi”.[14]
Giai đoạn đầu của thời kỳ
Nhân văn-Giai phẩm có thể được đánh dấu bằng hội nghị do lãnh đạo Hội Văn nghệ
triệu tập từ ngày mồng một đến ngày mười tám tháng Tám năm 1956. Hơn ba trăm
trí thức đủ mọi thành phần đang làm việc ở Hà Nội đã tới dự hội nghị, nhiều người
đã tận dụng ngọn gió “dân chủ” do Đại hội 20 Đảng Cộng sản Liên Xô đưa đến (đến
lúc đó đã được thể hiện trong Nghị quyết 9 Đảng Lao động Việt Nam) để bày tỏ những
bức xúc bị dồn nén lại trong một thời gian dài.[15] Trong
thời gian diễn ra hội nghị, cả Văn Nghệ và Nhân Dân cùng
đăng trích đoạn bài báo viết bằng tiếng Trung của Lục Định Nhất “Trăm Hoa Đua Nở,
Trăm Nhà Đua Tiếng”, mở đường cho luồng gió dân chủ thứ hai đến từ Bắc Kinh.[16] Như
chúng ta đều biết, trong vòng ba tháng sau hội nghị học tập nói trên, những trí
thức cách mạng bất mãn ở Hà Nội rủ nhau lần lượt xuất bản bốn ấn phẩm mới: báo Nhân
Văn và ba tạp chí văn hóa Đất Mới,Sáng Tạo và Nói Thật, đồng
thời tái bản hai tờ báo Giai Phẩm và Trăm Hoa.[17]
Những bài vở trong các ấn phẩm
này đề cập đến hàng loạt vấn đề và không dừng lại ở lĩnh vực văn nghệ: tự do,
dân chủ, tham nhũng, bạo lực cách mạng, hóa giải ảnh hưởng của Stalin, cải cách
tư pháp, chủ nghĩa Mác, nhân quyền, giá trị truyền thống và nhiều chủ đề bức
thiết khác. Chung quy, phần lớn các chủ đề trên, bằng cách này hay cách khác, đều
quy về vấn đề cơ bản nhất: tự do. Trên thực tế, hai từ “tự do” và “dân chủ” xuất
hiện ít nhất 360 lần trong ba mươi trang của năm số báo Nhân Văn. Các báo
chí tư nhân thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm kêu gọi lãnh đạo đảng tiến hành cải tổ
nhiều lĩnh vực, tuân thủ các tiêu chuẩn mà đảng áp dụng cho mọi người khác, và
công nhận rằng việc lý tưởng hóa Liên Xô như một thiên đường xã hội chủ nghĩa
không một tỳ vết là không còn hợp thời nữa. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, dù
các thành viên phong trào Nhân văn-Giai phẩm yêu cầu phải đánh giá lại hình ảnh
của Liên Xô và của chính Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho phù hợp thực tế hơn, điều
này không hề dẫn tới yêu cầu tương tự về việc xem xét lại nhận định tiêu cực của
chế độ miền Bắc đối với Cộng Hòa miền Nam Việt Nam hay đồng minh Hoa Kỳ.[18]
Trong thời kỳ Nhân văn-Giai
phẩm, có bảy bài báo về Xuân Diệu gây nhiều chú ý (ba bài trên báo chí của nhà
nước và bốn bài trên báo tư nhân). Cả bảy bài báo đều tập trung vào quá trình tuyển
tập thơ cách mạng của Xuân Diệu Ngôi Sao được xét trao giải nhì của
giải thưởng văn học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1954-1955, và chất lượng chung của
tuyển tập này có xứng đáng hay không.
Phan Khôi
Có lẽ để bộc lộ rằng sự nghiệp
cách mạng của Xuân Diệu đã trở thành một đề tài căng thẳng đến thế nào, bài báo
đầu tiên trên ấn phẩm đầu tiên của thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, Giai Phẩm
Mùa Thu tập 1 dành hẳn một đoạn nói về nhà thơ. Bài báo của Phan Khôi nhan
đề “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” có thể coi là bài luận nổi tiếng nhất trong suốt
bốn tháng sôi động với rất nhiều tranh luận học thuật.[19] Khi
Phan Khôi viết bài này năm 1956, ông đã 69 tuổi (hơn Hồ Chí Minh ba tuổi). Nhà
trí thức lão thành khó tính và bộc trực này có uy tín cao trong văn giới, và đã
tham gia nhiều công tác yêu nước, từng viết báo, dạy học và viết văn. Đã sống
và làm báo ở tất cả ba trung tâm văn hóa lớn của Việt Nam: Hà Nội, Huế và
Sài Gòn, ông hiểu biết về đất nước và con người Việt Nam không kém gì
ai. Về quan hệ của ông với Xuân Diệu, Phan Khôi là người đã phát động và ủng hộ
Phong trào Thơ mới từ đầu thập kỷ 1930. Ngoài những thành tích đáng nể về
chuyên môn, Phan Khôi còn xuất thân từ một dòng họ hoàn hảo, có truyền thống ái
quốc. Ông ngoại Phan Khôi là vị tướng huyền thoại Hoàng Diệu, người được giao
trọng trách trấn thủ thành Hà Nội trước đợt tấn công của Pháp năm 1882. Khi tất
cả mọi kế sách đều thất bại, theo lời kể lại, Hoàng Diệu đã tự vẫn để tỏ rõ
trách nhiệm của bản thân với tư cách một viên tướng đã không thể làm tròn trọng
trách giữ thành vốn đã hứa với đức vua và triều đình.[20]
Bài báo của Phan Khôi dài mười
trang và gồm bốn phần. Trong phần mở đầu, nhà báo lão thành tuyên bố ông sẽ nói
sự thật, với ngôn ngữ không úp mở để tất cả mọi người đều hiểu. (Việc tác giả
thấy có nhu cầu tuyên bố điều này có thể gợi cho ta thấy, vào thời điểm đó ngôn
ngữ Bôn-sê-vích đã trở nên rối rắm khó hiểu đến thế nào). Ông cũng thông báo rằng
có một phe “đối lập” trong lĩnh vực văn nghệ, gồm nhiều trí thức ở gần như tất
cả mọi cấp, mọi lĩnh vực, là những người không bằng lòng với các lãnh đạo văn
hóa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[21] Phan
Khôi dành phần hai của bài báo để nói về vấn đề tự do sáng tác, lập luận rằng
thái độ nghi ngờ của lãnh đạo đảng đối với các văn nghệ sĩ cách mạng trẻ là
không hợp tình hợp lý. Theo ước tính của Phan Khôi, những trí thức cách mạng đã
làm vượt yêu cầu để chứng tỏ được lòng trung thành trong suốt tám năm kháng chiến.
Phần thứ ba của bài báo ông phê phán sự thái quá trong cách xử lý của các lãnh
đạo văn hóa đối với Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 và tác giả Trần Dần trong
tháng Hai vừa qua.
Phần bốn và cũng là phần cuối
cùng của bài báo là nơi bắt đầu có những rắc rối cho Xuân Diệu. Trong phần này,
Phan Khôi kể lại kinh nghiệm bản thân trong thời gian làm thành viên ban giám
khảo xét giải thưởng văn học 1954-1955, xoáy sâu vào những lời bàn của ban giám
khảo về tập thơ Ngôi Sao của Xuân Diệu:
“Hôm bình định về thơ, tôi
phản đối tập Ngôi Sao đứng giải nhì, tôi nói: có vớt vát lắm thì cũng
chỉ nên để nó đứng giải ba. Tôi cử ra những câu bí hiểm không thể hiểu nghĩa được,
thì ông Huy Cận (một trong Ban chung khảo) bảo rằng đó là tại tôi “muốn” không
hiểu thì không hiểu. Quái, tôi “muốn” làm sao được? Theo lẽ, ông Huy Cận nếu
binh vực cho Ngôi Sao thì phải cắt nghĩa rạch ròi những câu ấy ra, chứ
sao lại bảo rằng tôi “muốn” không hiểu?”[22]
Sau đó, Phan Khôi tả lại lúc
ông chỉ ra một vài câu thơ không hẳn khó hiểu, nhưng “không đáng gọi là thơ”, ý
muốn nói thơ cách mạng của Xuân Diệu kém hơn thơ lãng mạn. Ông kể rằng, đáp lại
lời ông, “một ông trong ban (quên là ai) cãi rằng nếu thế thì bao lâu nay Đảng
giáo dục Xuân Diệu không có hiệu quả gì sao?” Hình ảnh Xuân Diệu được tả trong
bài báo của Phan Khôi là một người ích kỷ và cá nhân không khác gì ấn tượng
chung về tính cách cũ nhà thơ trước khi tham gia cách mạng, điều này đã phủ nhận
mạnh mẽ diễn ngôn chính thống rằng cách mạng đã hoán cải Xuân Diệu. Theo những
thông tin Phan Khôi được biết, Xuân Diệu đã dùng quyền lực và ảnh hưởng từ nội
bộ đảng để để cao tập thơ của mình: “Ban Chung khảo theo đề nghị của ông Xuân
Diệu, sau khi tuyên bố giải thưởng, phải làm nhiều cách tuyên truyền cổ động rầm
rộ cho các tác phẩm được giải, và đã cắt cử người nào viết bài phê bình cho tác
phẩm nào.”
Nhưng điều mà Phan Khôi thấy
“quái đản” nhất về giải thưởng văn học nói trên là việc ba người trong ban giám
khảo lại nộp tác phẩm dự giải:
“Về vụ này, có một điều, người
ngoài không phải là tôi, không biết đến, thì không lấy làm quái. Ấy là điều, ba
ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở
trong Ban Chung khảo. Nếu chỉ ở trong Ban Chung khảo mà thôi, còn khá; thử điều
tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở trong Ban Sơ khảo nữa. Sao lại có thể như thế?
Trường thi phong kiến thuở xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn
giữ sạch tiếng: Một người nào có con em đi thi, thì người ấy có được cắt cử
cũng phải ‘hồi tị’, không được đi chấm trường. Bây giờ cả đến chính mình đi thi
mà cũng không ‘hồi tị’: một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới,
đã “liêm chính” cả rồi; một lẽ là trắng trợn vì thấy mọi cái ‘miệng’ đã bị ‘vú
lấp’”.[23]
Để giải thích ý “vú lấp miệng”
của mình, Phan Khôi tả lại một vụ rõ ràng là cố tình che giấu thông tin trong một
cuộc họp đột xuất của ban giám khảo giải thưởng văn học 1954-1955 vào ngày 8
tháng Tám năn 1956. Trong buổi họp đó, ông được đọc biên bản thảo luận của ban
giám khảo: “Tất cả những ý phản đối tập thơ Ngôi Sao của tôi đều
không được ghi vào biên bản. Tôi lập tức viết thư cho ông (Trường Chinh) tổng
bí thư Đảng Lao động Việt Nam để kể rõ sự việc.”
Vì chính quyền đã không làm
gì tiếp để giải quyết thắc mắc của ông Phan Khôi, giờ đây khi mọi việc sáng tỏ
trên mặt báo, mọi người có thể suy luận là Trường Chinh và lãnh đạo đảng đã phớt
lờ ý kiến của ông Phan Khôi. Có ba cách lựa chọn cho các nhà lãnh đạo Đảng Lao
động ViệtNam để giải quyết vấn đề này, tất cả đều không dễ dàng trong hoàn
cảnh đương thời. Một là, họ có thể tiếp tục làm ngơ trước lời yêu cầu xóa bỏ
tham nhũng trong lĩnh vực văn hóa của Phan Khôi. Nhưng điều này có nguy cơ khiến
họ bị đánh giá là không quan tâm đến tình trạng tham nhũng, và không theo đường
lối của Khrushchev mới đưa ra về tăng cường dân chủ trong đảng và lãnh đạo tập
thể (có nghĩa là phải lắng nghe ý kiến từ bên dưới). Hai là, lãnh đạo Đảng Lao
động Việt Nam có thể nghe theo đề nghị của Phan Khôi là tiến hành một
số biện pháp kỷ luật đối với các lãnh đạo văn hóa. Nhưng làm như thế chẳng khác
gì gửi một thông điệp cho các trí thức rằng họ có thể giữ vai trò cảnh sát đạo
đức ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có chức năng giám sát chính quyền và buộc
lãnh đạo đảng phải giải quyết những bất công mà trí thức phát hiện. Lựa chọn thứ
ba là tránh phải giải quyết những yêu cầu của Phan Khôi là bằng cách làm thế
nào đó để hạ uy tín của ông. Nhưng vì đảng đang cho phép tự do báo chí trở lại,
chắc chắn một chiến dịch bôi nhọ nhà báo lão thành và nhiều uy tín này trên các
cơ quan ngôn luận của đảng sẽ kéo theo những phản hồi từ những người ủng hộ
Phan Khôi trên báo chí tư nhân. Điều này sẽ thu hút sự quan tâm rộng rãi hơn của
quần chúng đối với Phan Khôi và các ấn phẩm tự do trong thời kỳ Nhân văn-Giai
phẩm.
Yến Lan
Khi đã xác định rằng không
thể phớt lờ những yêu cầu công khai của Phan Khôi, lãnh đạo đảng thử nghiệm một
giải pháp kết hợp cả hai lựa chọn còn lại, một mặt buộc ba quan chức văn hóa
(Hoài Thanh, Nguyễn Tuân và Nguyễn Đình Thi) công bố bài tự phê bình, mặt khác
bật đèn xanh cho đăng những bài viết hạ uy tín Phan Khôi. Bài đầu tiên của dạng
này xuất hiện trên Văn Nghệ số ra ngày 20 tháng Chín năm 1956, tập
trung đả kích bài của Phan Khôi ở khía cạnh phê phán sai rằng lãnh đạo đảng đã
phớt lờ một vụ gian lận hiển nhiên. Tác giả của nó là nhà thơ, nhà biên kịch 40
tuổi, Yến Lan, người đã ghi biên bản cuộc họp của ban giám khảo. Ông nhận rằng
đó là quyết định cá nhân của một mình ông khi loại bỏ ý kiến của Phan Khôi về tập Ngôi
Sao của Xuân Diệu, chứ không phải là âm mưu chung của Ban như nhà báo Phan
Khôi đã áp đặt: “Biên bản là để ghi lại những ý chính của cuộc họp.
Những nhận xét đó (của ông Phan Khôi) đều lạc khỏi đề tài đang thảo luận, hoặc
đưa ra trong lúc giải lao, giữa hai ba người với nhau (nhiều lúc tranh luận rất
sôi nổi, đôi khi gay gắt nữa) và không được đưa vào biên bản vì thư ký lúc đó
đang nghỉ giải lao”.
Tiếp theo, Yến Lan trả lời
thắc mắc của Phan Khôi đối với việc ba người trong ban giám khảo (trong đó có
Xuân Diệu) gửi tác phẩm và được trao giải:
“Ông [Phan Khôi] đã vạch ra
ba ông Hoài Thanh, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu có tác phẩm dự thi mà cùng đều ở
trong ban chấm thi từ lúc sơ khảo đến chung khảo. Cũng như những người khác,
ông Phan Khôi có quyền nghi như thế sẽ có điều ám muộn, nhưng trên thế giới việc
đó không có gì là quái, miễn là người ta phải làm việc đúng với nguyên tắc: những
người ở ban chấm thi mà có tác phẩm dự giải thì không có quyền biểu quyết tác
phẩm của mình. Nguyên tắc ấy ở đây xin chứng thực là luôn luôn được nhắt đến và
làm đúng, còn ra có vị nể hay không thì không thuộc phạm vi bài này.”[24]
Trần Công
Ngày 20 tháng Chín năm 1956
– ngày bài viết của Yến Lan được đăng trên Văn Nghệ, cũng tình cờ là ngày
mà nhà trí thức cách mạng bất mãn Nguyễn Hữu Đang, với sự cộng tác chủ yếu của
Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Duy và Phan Khôi, khai trương số đầu tiên của báo Nhân
Văn. Cũng như số đầu tiên của tập Giai Phẩm Mùa Thu xuất bản trước đó
mấy tuần, tờ báo gai góc này ngay lập tức khai thác chủ đề giải thưởng văn học
1954-1955. Trong bài báo “Chống bè phái trong văn nghệ”, nhà văn trẻ Trần Công
viết:
“Hoài Thanh, Xuân Diệu, Nguyễn
Huy Tưởng, đại diện cho ban Chấp hành Hội, đều có trách nhiệm lớn đối với phong
trào. Thế mà tác phẩm còn non kém của ba ông lại được giải. Nếu không phải tự
mình bỏ phiếu cho mình thì cũng là bè cánh ta lại bỏ phiếu cho tác phẩm tồi của
bè cánh ta (cũng nên chú ý đến Huy Cận có chân trong ban chấm giải, mà ai cũng
biết Huy Cận và Xuân Diệu chỉ là một).”[25]
Trần Công còn lục lại việc
cũ trong quá khứ, đưa ra một vấn đề hóc búa khác cho Xuân Diệu:
“Tập thơ Việt Bắc cũng
là một tập thơ như muôn ngàn tập thơ khác, dù có hay chăng nữa thì cũng chỉ là
một tập thơ. Nhưng nó có cái đặc biệt. Đặc biệt không phải ở thơ mà ở tác giả.
Giá tập thơ Việt Bắc là của người khác thì phê bình cũng chẳng sao
đâu, nhưng Việt Bắc lại là của Tố Hữu. Một loạt bài của Hoàng Yến,
Hoàng Cầm, Lê Đạt làm một số cán bộ lãnh đạo [Hội] Văn nghệ ngạc nhiên, tức giận
thậm chí có người nói ‘Địch nó không mong gì hơn chúng ta chê thơ Tố Hữu.’”[26]
Nguyễn Tuân
Một tuần sau đó, vào ngày 27
tháng Chín năm 1956, một bài báo khác xuất hiện trên tờ Văn Nghệ với
chủ ý đáp lại những thông tin mà Phan Khôi tiết lộ xung quanh việc chấm giải
nhì cho tập thơ Ngôi Sao đang gây tranh cãi. Bài báo là một bản tự
phê bình công khai của nhà văn nổi tiếng thời Pháp thuộc, đương kim tổng thư ký
Hội Văn nghệ, Nguyễn Tuân. Ông cũng tham gia ban giám khảo, cùng với Phan Khôi,
Xuân Diệu, Huy Cận, Hoài Thanh và năm trí thức có uy tín khác của Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa.[27] Trong
bản tự phê, dưới nhan đề “Những suy nghĩ về giải thưởng văn học 1954-1955”,
Nguyễn Tuân thừa nhận rằng ông không đồng tình với đề xuất trao giải nhì cho tập
thơ Ngôi Sao (theo ông, trao giải ba thì xứng đáng hơn).[28] Tuy
nhiên, theo Nguyễn Tuân, vấn đề liên quan đến việc trao giải cho tập thơ Ngôi
Sao không phải chỉ ở chỗ tác phẩm đáng được giải nào: “Riêng tôi muốn tác
giả Ngôi Sao tự nhìn mình nghiêm khắc nhiều hơn nữa, và tôi nghĩ rằng
các anh Hoài Thanh, Huy Cận đã tích cực bênh vực thơ Ngôi Sao, có thể giúp
đỡ nhiều cho tác giả thấy rõ vấn đề. Riêng phần tôi, trong việc Ngôi Sao,
tôi cũng thấy mình nể nang trước những ý kiến của Hoài Thanh đối với thơ Ngôi
Sao.”[29]
Ban thường vụ Hội Văn nghệ
Việt Nam
Trong số tiếp theo, ra một
tuần sau đó (ngày mồng 4 tháng Mười năm 1956), báo Văn Nghệ đăng tiếp
một một bài tự phê thứ hai, liên quan đến vụ Ngôi Sao của Xuân Diệu:
“Thông báo của Ban Thường vụ Hội Văn nghệ.”[30] Trong
bài, hội thừa nhận đã sai lầm trong việc xử lý vụ việc Trần Dần và bài thơ “Nhất
định thắng”, cũng như thiếu sót trong việc tuyển chọn giải thưởng văn học 1954-1955:
“Lề lối làm việc luộm thuộm,
thiếu dân chủ, ít chú ý liên hệ với quần chúng. Như trong khi chấm giải, đã có
nhiều ý kiến về tập thơ Ngôi Sao, nhưng đa số ủy viên chưa thật chú ý lắng
nghe.
…Cũng trong phiên họp trên của
Ban chấm giải, đa số ủy viên nhận rằng tập thơ Ngôi Sao của Xuân Diệu
xếp giải nhì là quá cao, một số cho rằng xếp Ngôi Sao vào giải ba thì
đúng hơn.”[31]
Nguyễn Bính
Bài báo thứ sáu trong số bảy
bài liên quan tới Xuân Diệu trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, “Phải xem xét lại
tất cả các giải thưởng văn học” do Nguyễn Bính chấp bút và đăng trên hai số liền
của tờ Trăm Hoa (ra ngày 20 và 28 tháng Mười năm 1956).[32] Nguyễn
Bính là nhà thơ lãng mạn nổi tiếng, và cũng đã viết bài trên báo Văn Nghệ bốn
tháng trước đó, yêu cầu các lãnh đạo văn nghệ phải “nghiêm túc tự phê” vì đã
trao giải nhì cho Ngôi Sao trong đợt xét giải thưởng văn học
1954-1955. Khi đó, ông đang là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Trăm Hoa, tờ báo
đã đăng ba bài phê phán tập Ngôi sao sau ngày công bố giải thưởng văn
học 1954-1955, ngày 15 tháng Ba năm 1956. Không lâu sau đó, tờ báo sập tiệm vì
hết tiền.[33] Bản
thân Nguyễn Bính cũng là một ngôi sao (tuy không rực rỡ bằng Xuân Diệu) của
Phong trào Thơ mới.[34] Về hoạt động cách mạng, ông đã từng rời Hà Nội
vào Nam từ năm 1944 để du ngoạn và kiếm sống, ở đó khi cuộc cách mạng tháng Tám
và kháng chiến chống Pháp tái xâm lược Việt Nam nổ ra, ông tiếp tục làm việc
trên mặt trận văn chương cho Việt Minh. Khi chiến tranh sắp kết thúc năm 1954,
ông tập kết ra Bắc cùng với hàng ngàn cán bộ Việt Minh khác và bắt đầu làm việc
tại Nhà Xuất bản Văn nghệ. Chính vì ở cương vị này mà ông nắm vững được thông
tin chi tiết về quá trình xuất bản tập thơ Ngôi Sao.[35]
Bên cạnh các nội dung khác,
Nguyễn Bính khai triển một vấn đề do Trần Công nêu ra trong bài viết trên báo Nhân
Văn cách đó một tháng, về việc lạm dụng “yêu cầu cách mạng” làm mục tiêu
biện minh cho mọi hành động, thực chất là để che giấu động cơ mưu lợi cá nhân.
Theo hướng này, Nguyễn Bính lật lại câu nhận xét, lúc bấy giờ đã bị nhiều người
chê bai, về cuộc tranh luậnViệt Bắc: “Địch nó không mong gì hơn là ta chê thơ Tố
Hữu”. Nguyễn Bính kết luận, thật là hổ thẹn khi “Ông Hoài Thanh đã đem cả địch
ra mà bảo vệ cho thơ Tố Hữu”. Theo Nguyễn Bính, nguyên nhân thực sự khiến Hoài
Thanh bênh vực tập thơ Việt Bắc là quan hệ công tác giữa ông ta và
tác giả tập thơ – Tố Hữu là thủ trưởng của Hoài Thanh. “Cái lối nịnh trên nạt
dưới ấy tất nhiên ông Hoài Thanh phải đem sử dụng vào việc chấm giải. Vì ông Tố
Hữu ai cũng biết là Trung ủy, là lãnh đạo văn nghệ, là Thứ trưởng…”[36]
Những lời phê của Nguyễn
Bính còn trở nên trực tiếp hơn, cá nhân hơn khi ông bàn tới mối liên hệ giữa giải
thưởng văn học và tiền bản quyền khi xuất bản. Ông tiết lộ rằng trong tất cả
các thi sĩ có sách in ở nhà xuất bản của Hội Văn nghệ, chỉ duy nhất có thơ Tố Hữu
là được sắp vào loại A, “nghĩa là thuộc cái loại giá trị nhất và được tính tiền
bản quyền tác giả cao nhất. (Không biết các ông lãnh đạo Hội có kiểm tra đôn đốc
việc này hay không?)”. Ở đây cần phải lưu ý rằng cụm từ “kiểm tra đôn đốc” được
sử dụng rất nhiều trong các văn kiện đảng. Cũng tương tự như lời bàn của ông về
việc Hoài Thanh viện tới “địch” để bênh vực tập thơ của Tố Hữu, Nguyễn Bính nhại
cụm từ “tủ” này một cách mỉa mai để đánh động sự chú ý của mọi người rằng các
quan chức cao cấp có thể dễ dàng lợi dụng những thuật ngữ cách mạng rất văn hoa
để đánh bóng và hợp lý hóa những hành động, thực ra, có thể đơn thuần chỉ là vụ
lợi cá nhân.
Nguyễn Bính cũng bật mí những
chi tiết xung quanh quá trình xuất bản tập thơ Ngôi Sao. Theo ông, tất cả
đội ngũ cán bộ của Nhà Xuất bản Văn nghệ, nơi ông làm việc, đã đánh giá là tập
thơ rất tệ, vì vậy, nó bị bỏ xó ở một góc văn phòng suốt mấy tháng, mãi đến khi
“cấp trên” liên tục nhắc nhở, buộc Nguyễn Bính và đồng nghiệp phải triệu tập một
cuộc họp, chọn ra những bài “đỡ tệ” nhất trong bản thảo để gửi đến Nhà in Quốc
gia. “Vì lẽ Thơ Xuân Diệu không có độc giả, Xuân Diệu lại vận động mãi với cấp
trên, sau bất đắc dĩ nhà in Quốc gia nể quá mới in cho 1500 quyển”. Khi các
thành viên của giới văn nghệ biết được tin Ngôi Sao được giải nhì,
“anh em không thể tưởng tượng được rằng lại có một cuộc xâm phạm trắng trợn văn
nghệ như thế. Anh em lạ quá là vì anh em không thể ngờ rằng ban giáo khảo lại
có thể khinh thường văn nghệ, khinh thường anh em và quần chúng đến mức ấy”. Để
kết thúc bài viết, Nguyễn Bính bày tỏ những suy nghĩ như sau:
“Hai ông Huy Cận và Hoài
Thanh trong ban chung khảo tại sao lại “tích cực bênh vực cho tập thơ Ngôi
Sao” (lời ông Nguyễn Tuân)? Ông Hoài Thanh trước cách mạng đã biết chọn lọc các
bài thơ hay của các thi sĩ để soạn thành quyển Thi nhân Việt Nam, có
phê phán. Ông Huy Cận, tuy bây giờ là Thứ trưởng bộ Văn hóa, nhưng trước kia đã
từng là một nhà thơ có tiếng tăm. Thế thì đối với một tập thơ dở như tập Ngôi
Sao, tại sao hai ông lại tích cực bênh vực? Có phải tại ông Huy Cận và Xuân Diệu
chỉ là một, còn ông Hoài Thanh vụ trưởng vụ Nghệ thuật thì lại là cấp dưới của
ông Huy Cận hay không?”[37]
Phạm Tường Hạnh
Bài báo cuối cùng trong thời
kỳ Nhân văn-Giai phẩm liên quan đến Xuân Diệu xuất hiện trên trang bìa của tờ Trăm
Hoa số ba (ra ngày mồng 4 tháng Mười một năm 1956). Tác giả là Phạm Tường
Hạnh, một nhà văn cách mạng trẻ từ miền Nam ra Bắc tập kết sau kháng
chiến chống Pháp, đang làm việc cho chương trình Phát thanh Thanh niên của Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa. Tác giả phản đối ý kiến của Nguyễn Tuân trong bài tự phê,
cho rằng đa số những nhận xét tiêu cực về tập thơ Ngôi Sao xuất phát
từ ác cảm với Xuân Diệu ở một số thành phần trong đội ngũ trí thức. Ông viết:
“Tôi tưởng vấn đề không phải thế. Có thể có số người nào đó không ưa tác giả Ngôi
Sao. Nhưng không đến nỗi họ “giận cá chém thớt” để tẩy chay tác phẩm của Xuân
Diệu. Vả lại còn có nhiều người xưa nay chưa biết mặt mũi Xuân Diệu ra sao như
anh em miền Nam tập kết chẳng hạn, cũng nhiều người không thích tập
thơ Ngôi Sao chút nào”.[38]
[1] Tiêu
đề của tập thơ Ngôi sao gợi hình ảnh Đảng Lao động Việt Nam, với
đảng kỳ có ngôi sao vàng trên nền đỏ. Nhưng cũng có thể tác giả muốn chuyển tải
cảm nghĩ về đảng như một ngôi sao dẫn đường. Chúng tôi vẫn chưa tìm lại được tư
liệu những số Trăm Hoa có đăng bài phê phán tập thơ Ngôi sao của
Xuân Diệu. Hình như tác giả của các bài phê bình đó là nhà thơ Trần Lê Văn.
[2] Xã
luận, “Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên-Xô đã thành công rực rỡ”, Nhân
Dân, số 726, 28/2/1956. Xem thêm bài “Đồng chí Trường Chinh trả lời phỏng vấn của
phóng viên đài phát thanh Mạc-Tư-Khoa”, Nhân Dân số 733, 6/3/1956.
[3] X.Y.Z., Sửa
Đổi Lề Lối Làm Việc (Hà Nội, Sự Thật, 1950).
[4] Hoài
Thanh, “Một vài ý kiến về tập thơ ‘Ngôi sao’ của Xuân Diệu”, Văn nghệ, số
122, 24/5/1956.
[5] Sđd.
So sánh những ý kiến đánh giá thơ lãng mạn Xuân Diệu trong bài này với tác phẩm Thi
nhân Việt Nam: 1932-1941 để thấy giọng văn Hoài Thanh đã thay đổi như
thế nào.
[6] Nguyễn
Bính, “Hội cần phải mạnh dạn tự phê bình”, Văn nghệ, số 125, 14/6/1956.
[7] Huy
Phương, “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu”, Văn nghệ,
số 126, 21/6/1956.
[8] Một
chi tiết thú vị đáng lưu ý là, đến tận tháng 6/1956, Huy Phương – một người sắp
tham gia phong trào Nhân văn – Giai phẩm vẫn có nhận xét tích cực về cải cách
ruộng đất.
[9] Huy
Phương, trong “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao”, dẫn bài “Xuân Việt Nam”
và “Đêm Mười Chín” của Xuân Diệu.
[10] Sđd.
[11] Chỉ
thị của Ban Bí thư, số 39/CT-TW, 3/8/56, “Về việc sửa chữa một số sai lầm khuyết
điểm trong các công tác nhằm ổn định tình hình và ngăn ngừa âm mưu khiêu khích
của bọn phá hoại”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 17:374.
[12] “Quả
thực” là thuật ngữ của đảng dùng để chỉ những tài sản tịch thu từ những người bị
coi là kẻ thù giai cấp trong chiến dịch cải cách ruộng đất, đem chia cho những
người nghèo để chứng tỏ rằng đảng quan tâm đến lợi ích của họ.
[13] “Chỉ
thị của Ban Bí thư, số 39/CT-TW, 3/8/56, “Về việc sửa chữa một số sai lầm khuyết
điểm trong các công tác nhằm ổn định tình hình và ngăn ngừa âm mưu khiêu khích
của bọn phá hoại”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 17:374.
[14] Nguyễn
Huy Tưởng, Nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng: Tập 3, Nghệ sĩ và công dân (Hà
Nội: Thanh Niên, 2006), 127.
[15] Chúng
tôi dùng từ “dân chủ” theo nghĩa các lãnh đạo đảng thường gán cho từ này, tức
là khi cấp trên lắng nghe ý kiến phê bình của cấp dưới. Một ví dụ cụ thể, xem
“Chỉ thị của thường vụ liên khu ủy IV, 1/10/1952” trong Văn Kiện Đảng Toàn
Tập, 13: 440-443.
[16] Báo Nhân
Dân đưa tin về bài viết trong “Thư Bắc Kinh” của Lê Hao (Nhân Dân, số 884,
5/8/1956) nhưng mãi đến số ngày 30/9/1956 mới đăng bài dịch.
[17] Theo
nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng và hồi ký của Tô Hoài, tổng biên tập báo Trăm
Hoa, Nguyễn Bính cho rằng tờ báo của mình độc lập với Nhân Văn và Giai
Phẩm, khách quan và trung lập hơn. Dù ý định của ông là gì chăng nữa, tờ báo Trăm
Hoa cũng chia sẻ rất nhiều suy tư mang tính nhân văn được nêu trong Nhân
Văn và Giai Phẩm.
[18] Một
ngoại lệ là ý kiến của Nguyễn Hữu Đang kêu gọi mọi người tôn trọng pháp chế tư
bản hơn: “Chúng ta quá căm ghét pháp chế tư bản chủ nghĩa đến mức, ở nhiều người,
nó đã biến thành nỗi căm ghét pháp chế nói chung”. Nguyễn Hữu Đang, “Cần phải
chính quy hơn nữa”,Nhân Văn, số 4, 11/11/1956.
[19] Phan
Khôi, “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, Giai phẩm Mùa thu tập 1 (Hà Nội;
NXB Minh Đức, tháng 8/1956).
[20] Hoàng
Diệu được chế độ mới tôn trọng đến mức tên ông được chọn đặt cho một trong số
ít những con đường ở khu có nhiều biệt thự của lãnh đạo đảng tại thủ đô Hà Nội.
[21] Trong
nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, nhà văn cách mạng này ghi nhận Phan Khôi có lần đã
nói với lãnh đạo đảng rằng họ là “mensheviks” (phe nhược tiểu, ngược với bolshevik),
Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký tập 3: Nghệ sĩ và công dân (Hà Nội, Thanh
Niên, 2006), 128.
[22] Phan
Khôi, “Phê bình lãnh đạo”.
[23] Sđd.
Ở Việt Nam, câu ngạn ngữ này được dùng để tả trường hợp một người ở thế mạnh
hơn dùng quyền thế để ép người dưới dưới im tiếng.
[24] Yến
Lan, “Một vài sự thật chung quanh ‘vụ giải thưởng văn học 1954-1955’”, Văn
nghệ, số 139. 20/9/1956.
[25] Trần
Công, “Chống bè phái trong văn nghệ”, Nhân Văn, số 1, 20/9/1956.
[26] Trần
Công, “Chống bè phái”.
[27] Năm
thành viên còn lại của ban giám khảo là Đặng Thai Mai, Thế Lữ, Trương Tửu,
Hoàng Xuân Nhị và Nguyễn Huy Tưởng.
[28] Nguyễn
Tuân, “Về giải thưởng Văn Học 1954-1955”, Văn nghệ, số 140, 27/9/1956.
[29] Sđd.
[30] “Thông
cáo của Ban Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam”, Văn nghệ, số 141,
4/10/1956.
[31] Sđd.
[32] Nguyễn
Bính, “Cần phải xét lại toàn bộ giải thưởng văn học”, Trăm Hoa, số 1 &
2, 20 và 28/10/1956.
[33] Nguyễn
Bính đã miêu tả cách chế độ làm khó dễ cho báo chí tư nhân trong bài báo thú vị
“Hoa lại nở”, Trăm Hoa, số 1, 20/10/1956.
[34] Không
giống như Xuân Diệu và đa số các nhà thơ khác trong phong trào, Nguyễn Bính đã
khai thác cảm hứng cho thơ mình từ ca dao, dân ca Việt Nam. Thơ của ông có
xu hướng miêu tả những cảnh bình dị ở thôn quê Việt Nam theo phong
cách lãng mạn.
[35] Nguyễn
Bính, “Cần phải xem xét lại toàn bộ giải thưởng văn học”.
[36] Sđd.
[37] Sđd.
[38] Phạm
Tường Hạnh, “Một vài ý kiến của bạn đọc về bài ‘Về vụ giải thưởng 1954-1955’ của
Nguyễn Tuân”, Trăm Hoa, số 3, 4/11/1956.
Xâu chuỗi lại những nhận
xét về Xuân Diệu trong thời kỳ Nhân văn Giai phẩm
Những tài liệu về báo chí
thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm cho phép chúng ta tổng kết lại những nét chính của
dư luận đa chiều xung quanh quá trình phục vụ cách mạng của Xuân Diệu. Trước
hết, có vẻ nhà thơ đã lợi dụng uy tín cá nhân của mình và khai thác những mối
quan hệ có quyền lực trong đảng để gây sức ép với NXB Văn nghệ vốn đang lưỡng
lự, phải sớm in tập thơ Ngôi Sao. Thứ nhì, đại đa số đội ngũ trí thức
văn nghệ cho rằng chất lượng của tập thơ kém, khiến quyết định trao giải nhì
càng có vẻ bất công hơn. Ba là, Xuân Diệu đã tham gia ban giám khảo xét giải
thưởng văn học 1954-1955 mà vẫn nộp tác phẩm dự giải, tạo cho mình lợi thế có
thể bỏ phiếu, hoặc ít nhất là vận động sự ủng hộ, cho tác phẩm của chính
mình.[1] Bốn
là, trong ban giám khảo, Huy Cận, bạn đời của Xuân Diệu, là người vận động
tích cực nhất cho tập thơ Ngôi Sao. Năm là, khi Phan Khôi nhận xét thơ
cách mạng của Xuân Diệu kém hơn thơ lãng mạn, một thành viên không rõ tên của
ban giám khảo đã gần như gợi ý rằng cần phải trao giải cho thơ cách mạng Xuân
Diệu để đảng khỏi mất uy tín. Sáu là, sau khi Huy Cận đinh ninh rằng Ngôi
Sao sẽ được giải, Xuân Diệu đã tự giúp mình thêm bằng cách yêu cầu tất cả
các tác phẩm được giải (trong đó, đương nhiên có Ngôi Sao) phải được quảng
bá rộng rãi trên báo chí của đảng (sử dụng ngân sách công) để khuyến khích quần
chúng mua tác phẩm (và tiền sẽ vào túi Xuân Diệu). Điểm cuối cùng là, cả Trần
Công và Nguyễn Bính đều công khai khẳng định rằng Xuân Diệu và Huy Cận là một
đôi, đầy quyền lực trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ.
Việc Xuân Diệu nghĩ như thế
nào về những ý kiến tranh luận rất nóng liên quan đến sự nghiệp cách mạng của
mình vẫn còn là điều bí ẩn, vì ông không viết một bài nào phản ứng lại những
vấn đề do những người phê bình ông đưa ra. Một manh mối cho thấy trạng thái
tâm lý của Xuân Diệu là ông không đăng bất cứ một bài vở gì trong suốt năm
tháng liền, từ ngày 17 tháng Năm năm 1956 – ông có bài nhận xét về cuốn
sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch cho đến ngày
mồng 9 tháng Mười một năm 1956, bài “Về con người cũ và con người mới”.[2] Bài
viết sau là bản dịch các ghi chép của Maksim Gorky về sự chuyển hóa cách mạng.
Trong thời gian đó, các rạp ở Hà Nội đang chiếu bộ phim Liên Xô dựa theo tác
phẩm nổi tiếng của Gorky “Người mẹ”.[3] Bản
dịch các ghi chép của Gorky là một bước đi hết sức thận trọng của
Xuân Diệu nhằm tiếp cận lại diễn đàn trí thức sau một thời gian dài im hơi lặng
tiếng.[4]
Những sự kiện trong thời kỳ
Nhân văn-Giai phẩm làm xáo trộn đời sống chính trị của Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn. Phản ứng của chính quyền với phong
trào được bắt đầu bằng bài viết “Mấy điểm sai lầm chủ yếu trong
báo Nhân Văn và tập Giai Phẩm Mùa Thu” của Nguyễn Chương, một
nhân vật bảo thủ, đăng trên báo Nhân Dân, cơ quan của Ủy ban Trung ương
Đảng Lao động Việt Nam, số ra ngày 25 tháng Chín năm 1956.[5] Bốn
nhân vật bảo thủ khác trong đảng, Xuân Trường, Hoàng Xuân Nhị, Hồng Chương và
Quang Đạm, tất cả đều gắn với hai ấn phẩm nhiều quyền lực nhất của chế độ
đương thời, báoNhân Dân và tạp chí lý luận Học Tập, tiếp sức liền.[6] Ngoài
bài viết của những vị nêu trên, báo Nhân Dân còn đăng khoảng ba
mươi bài khác, trong thời gian từ tháng Mười năm 1956 đến tháng Giêng năm
1957, phản hồi về những vấn đề cốt lõi được nêu trong các ấn phẩm của Nhân
văn-Giai phẩm, như tự do dân chủ, pháp chế xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa nhân
văn, và quan hệ giữa chính trị và văn hóa.
Là tờ báo chuyên ngành văn
hóa của chính quyền, Văn Nghệ – lúc đó Xuân Diệu vẫn có tên trong
ban biên tập, chỉ đăng có sáu bài phê phán phong trào Nhân văn-Giai phẩm
trong mười hai số xuất bản trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, tức là trung
bình hai số mới có một bài.[7] Có lẽ điều quan trọng hơn là, chỉ trừ bài cuối
cùng do một quan chức văn nghệ gốc Nghệ An tên là Hoàng Trung Thông (bút danh
Hồng Vân) viết, tác giả của tất cả các bài còn lại đều là những nhân vật
tương đối ít tên tuổi trong đội ngũ trí thức văn nghệ. Đó thực là một phản ứng
yếu ớt, nếu so sánh với những đòn tấn công mãnh liệt hồi tháng Ba và tháng Tư
tờ báo này đã dành cho tập Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 – một ấn phẩm vô
hại hơn nhiều so với những ấn phẩm sau này của phong trào Nhân văn-Giai phẩm.
Hồi đó, ba nhà trí thức quyền lực nhất nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Hoài
Thanh, Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi cùng tiên phong chỉ đạo đợt tấn công.
Trong con mắt của các lãnh
đạo đảng cao cấp, giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tờ báo Văn
Nghệ lúc bấy giờ hẳn là một đám hỗn loạn. Một vấn đề nhức nhối là ba
thành viên quan trọng trong phong trào Nhân văn-Giai phẩm: Văn Cao, Sĩ Ngọc
và Chu Ngọc đều có chân trong ban biên tập chín người của báo Văn Nghệ.
Điều này đồng nghĩa với việc không thể sử dụng tờ báo này làm vũ khí hữu hiệu
để tấn công Nhân văn-Giai phẩm. Trên thực tế, nhiều thành viên quan trọng của
phong trào cải cách này còn đăng bài trên báo Văn Nghệ trong thời kỳ
Nhân văn-Giai phẩm. Hình như họ không gặp trở ngại nào với cả hai mảng báo
chí nhà nước (Văn Nghệ) và tư nhân (Nhân văn, Giai phẩm), và tự do qua lại
cả hai bên.[8]
Có ba yếu tố giúp giải
thích vì sao báo Văn Nghệ giữ thái độ khá trung lập và không thấy
nhiều sự phụ họa của giới trí thức trong chiến dịch tấn công Nhân văn-Giai phẩm.
Trước hết, đa số thành viên trong đội ngũ trí thức có vẻ ngầm đồng tình với
nhiều đề xuất nhân văn được thể hiện trong các ấn phẩm của phong trào Nhân
văn-Giai phẩm. Hai là, dưới góc độ kinh tế đơn thuần, tình trạng lạm phát,
thiếu lương thực, và không có chính sách lương chuẩn hóa, ổn định cho các trí
thức ở Hà Nội lúc bấy giờ đồng nghĩa với tình trạng các nhà văn phải chật vật
mới đủ ăn. Môi trường tự do báo chí sẽ là mang lại nhiều cơ hội kiếm tiền nhuận
bút, điều mà các trí thức trong chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang rất
khát khao. Và ba là, lãnh đạo đảng ban đầu đã chủ trương xoa dịu các trí thức
bất mãn bằng cách để cho họ xả những nỗi tức giận lên đầu những người lãnh đạo
chuyên môn trực tiếp. Những quan chức văn hóa này (như Xuân Diệu, Huy Cận,
Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, thậm chí ngay cả Tố Hữu) đã bị đồng
nghiệp trí thức hạ uy tín và tạm thời bị chính quyền thả nổi. Đến lúc thấy nhất
định phải loại bỏ Nhân văn-Giai phẩm, lãnh đạo đảng buộc phải trông cậy vào
các nhà lý luận Mác-Lê của hai tờ Nhân Dân và Học Tập chứ
không phải các quan chức văn hóa, những người đã phải trả giá đắt vì đã đánh
tập Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 vào đầu năm. Tình thế đó giúp giải
thích vì sao Xuân Diệu, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi và các lãnh đạo văn hóa
khác phải ngồi im lặng ngoài đường biên gần như suốt thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm,
không hề tham gia viết bài đánh phong trào này ngay trong chiến dịch.
Khoảng giữa tháng Chạp năm
1956, lãnh đạo đảng bắt đầu ra lệnh đóng cửa các ấn phẩm Nhân văn, Giai
phẩm, đầu tiên với tờ báo Nhân Văn. Một bài báo của nhà lý luận cứng
rắn Xuân Trường đăng trên Nhân Dân số ra ngày 10 tháng Chạp năm
1956 đã tổng kết quan điểm của chính quyền về tờ báo nói trên: Nhân Văn tuyên
bố là đi theo sự lãnh đạo của đảng, nhưng trên thực tế thì không. Tờ báo nói
xấu chế độ bằng cách công khai kết tội lãnh đạo đảng tìm cách phá hoại tờ
báo, nó “gieo mầm nghi ngờ trong quần chúng về bản chất tự do dân chủ của chế
độ ta”; và các bài báo “xuyên tạc, nói xấu, bịa đặt”. Về những suy tư của Nhân
Văn đối với Ba Lan và Hungary, Xuân Trường viết:
“[Nguyễn Hữu Đang] lại đặt
vấn đề ‘nguyên nhân sâu xa của những biến cố ở Ba-lan và Hung-ga-ri là vì thiếu
dân chủ, tại sao lại hiểu ra là vì thiếu chuyên chính?’ Chế độ ta là chuyên
chính dân chủ nhân dân, nghĩa là dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ
thù của nhân dân, của Tổ quốc, của chế độ. Dân chủ và chuyên chính là hai mặt
của một vấn đề. …Những biến cố vừa rồi ở Ba-lan và Hung-ga-ri có nguyên nhân
khách quan và chủ quan của nó. Kẻ chủ mưu những vụ phiến loạn ở Hung-ga-ri là
bọn phản cách mạng gồm những phần tử phong kiến tư sản phản động tay sai của
đế quốc. Chúng lợi dụng sự bất mãn của quần chúng mà làm điều phi pháp. Cách
hiểu và đặt vấn đề của bạn Nguyễn Hữu Đang về thực tế đã gieo một tâm lý hoài
nghi cho một số người chưa thật hiểu ở đường lối và chính sách của Đảng và
Chính phủ.”[9]
Đến tháng Chạp, Trung ương
đảng tổ chức gặp gỡ các trí thức và phê bình nghiêm khắc những người đã tham
gia phong trào Nhân văn-Giai phẩm. Dù những nhà cải cách này vẫn tiếp tục được
làm việc cho chế độ, nhưng cuộc sống của tất cả các thành viên từng tham gia
phong trào vẫn không thể trở lại bình thường. Bị công an theo dõi là chuyện
thường ngày, và đương nhiên khiến cho những người khác trong giới trí thức (bất
kể ý kiến riêng của họ về Nhân văn-Giai phẩm như thế nào) ngại bị người khác
phát hiện có tiếp xúc với các thành phần Nhân văn-Giai phẩm.[10] Tuy
nhiên, bịt miệng phong trào Nhân văn-Giai phẩm đã là một việc làm đau đầu các
lãnh đạo đảng, nhưng việc khó hơn (và đòi hỏi những biện pháp mạnh hơn) là phải
phá vỡ sự thống nhất của giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với xu hướng
coi tranh luận thả cửa và sự tồn tại của nhiều luồng ý kiến không đồng thuận
là chuyện thường ngày trong giới. Xu hướng dung hòa các quan điểm bất đồng
này buộc Đảng Lao động Việt Nam phải siết chặt sự kiểm soát đối với
các hoạt động sáng tác. Lãnh đạo đảng cần các trí thức kiểm soát lẫn nhau, chứ
không phải dung hòa với nhau.
Giữa Nhân văn-Giai phẩm
và Văn: Hai bài phát biểu của Xuân Diệu về Văn học Cách mạng
Sang đến năm 1957, tình
hình của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tương đối ổn định so với những năm đầy
xáo trộn trước đó, từ cải cách ruộng đất, hóa giải ảnh hưởng Stalin, phong
trào Trăm Hoa, những biến động chính trị trong khối xã hội chủ nghĩa (Ba Lan
và Hungary) và Nhân văn-Giai phẩm. Tuy nhiên, một văn kiện chính thức của đảng
năm 1957 cho người đọc một cảm tưởng rằng chế độ vẫn vững vàng trên đôi chân
của mình, dù phải liên tiếp đối mặt với hết sự cố này đến rắc rối khác, cố gắng
kiểm soát một xã hội đang rời rạc và thiếu hiệu quả. Vụ đàn áp Nhân văn-Giai
phẩm vào tháng Chạp năm 1956 đánh dấu bước đi đầu tiên trong kế hoạch đảo ngược
lại chính sách hóa giải ảnh hưởng của Stalin, sẽ được thực hiện trong suốt
năm 1957. Đối với vấn đề cải cách ruộng đất – một chiến dịch gây tác động sâu
rộng đến đông đảo dân chúng nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lãnh đạo đảng
tỏ ra ngày càng hờ hững với việc “sửa sai” – dù trước đó đã hứa sẽ thực hiện
triệt để, trong lúc cao điểm của phong trào hóa giải ảnh hưởng của Stalin vào
tháng Mười năm 1956. Những bước sửa sai gồm có: phục hồi công tác cho các đảng
viên bị đấu tố, bồi thường thích đáng về vật chất cho nông dân lao động có
tài sản bị tịch thu, giảm thuế nông nghiệp – vì trong chiến dịch đã bị nâng mức
đồng loạt.[11] Về
mặt tư tưởng, chính quyền chưa bao giờ thấy dễ chịu với chính sách hóa giải ảnh
hưởng Stalin.[12] Về
kinh tế, bất kể xu hướng chính sách của lãnh đạo đảng có như thế nào chăng nữa,
tình hình kinh tế ngày càng xuống dốc của đất nước không cho phép thực thi
chính sách bồi thường toàn diện cho các nạn nhân cải cách ruộng đất. Vào giữa
năm 1957, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam nhận xét tình hình
kinh tế như sau:
“Hội nghị (Bộ Chính trị tổ
chức ngày mồng 6 tháng Tư năm 1957) nhận định từ đầu năm đến nay, tình hình
thị trường ngày một gay go: vật giá tiếp tục lên mạnh, thất thu về thuế đang
nặng nề, nạn đầu cơ tích trữ trầm trọng hơn, thị trường tự do đang mở rộng và
đấu tranh mạnh chống lại sự kiểm soát, quản lý của Nhà nước và sự lãnh đạo của
kinh tế quốc doanh.
Tình hình đó làm cho đời sống
của nhân dân lao động nhất là những người sống bằng tiền lương bị sút kém, việc
thực hiện kế hoạch Nhà nước 1957 bị khó khăn, và gây ảnh hưởng chính trị
không tốt.”[13]
Để đối phó với tình hình
đang xấu đi này, Bộ chính trị chỉ thị đảng phải huy động các nguồn lực và thực
thi một số biện pháp, dù việc này chắc sẽ không gây được cảm tình của quần
chúng.[14] (Trên
thực tế, các biện pháp đó có nét giống với một số tội “bóc lột” mà đảng đã
quy cho địa chủ trong hai thập kỷ qua). Những biện pháp đó gồm có “hăng hái đấu
tranh chống” thất thu thuế nông nghiệp và công nghiệp, hạn chế số lượng tiền
mặt lưu hành trên thị trường, hạn chế cho vay vốn nông nghiệp. Trong một nỗ lực
nhằm giảm thiểu nhu cầu vật chất của nhân dân, Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào
hãy ghi nhớ những gian khổ hy sinh mà nhân dân Liên Xô đã chịu đựng trong suốt
mười bốn năm cách mạng. Trình bày viễn kiến của mình về thời gian sắp tới trước
một cử tọa gồm các “đại biểu nhân dân” ở Hải Phòng, lãnh tụ nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa ôn nghèo kể khổ về quãng thời gian ông chứng kiến tại Liên Xô:
“Đàn ông không cần cổ cồn, cravát, đàn bà không cần lòe loẹt; ô tô chỉ
cần chạy chuyên chở được, tất cả là cốt để xây dựng đã. Và mua cái gì cũng có
vé hết, bất kỳ bánh, thịt, vải, giày. Vì tinh thần hy sinh chịu khó, chịu khổ,
thắt lưng buộc bụng và cách tổ chức mua bán như thế là hết đầu cơ tích trữ”.[15]
Trong hoàn cảnh kinh tế
căng thẳng này, vào tháng Hai năm 1957, ngay sau kỳ nghỉ Tết, Đại hội Văn nghệ
Toàn quốc lần thứ hai diễn ra trong tám ngày (từ ngày 20 đến ngày 27 tháng
Hai) tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Trong ngày khai mạc, nhà lý luận văn hóa gạo cội
của đảng, Trường Chinh đã đọc bức thư dài của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Lao động Việt Nam gửi Hội nghị. Bức thư khẳng định “nền văn nghệ mới lấy
hiện thực xã hội chủ nghĩa làm phương pháp sáng tác tốt nhất.” nhưng vẫn đinh
ninh “để phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật cách mạng, cần phát huy tự
do sáng tác”.[16] Đại
hội chứng kiến việc giải thể Hội Văn nghệ và thành lập một đoàn thể văn hóa mới,
Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Lãnh đạo đảng chỉ thị cho mỗi
ngành văn hóa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải thành lập một hội riêng
trong khuôn khổ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật. Xuân Diệu ở trong số mười
lăm nhà văn và một vài nghệ sĩ từ các ngành nghệ thuật khác được “bầu” vào
ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật. Vậy là sau hàng loạt các bài
viết phanh phui những thủ đoạn vận động hậu trường để nâng đỡ tập thơ Ngôi
Sao xuất hiện trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, dường như lãnh đạo đảng
thấy cần phải vun xới lại uy tín cho Xuân Diệu và các lãnh đạo văn hóa cánh hữu
khác từng chịu búa rìu phê phán của những trí thức bất mãn trong giai đoạn cuối
năm 1956.
Bài diễn thuyết thứ nhất:
“Bệnh sơ lược trong văn học” (ngày 26 tháng Hai năm 1957)
Bài tham luận của Xuân Diệu
về “bệnh sơ lược trong văn học” tại Đại hội Văn nghệ Toàn quốc lần thứ hai
đáng được lưu ý vì đây là lần đầu tiên ông đăng đàn phát biểu về những vấn đề
văn học gây tranh cãi trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm. Theo ý kiến đa số,
Xuân Diệu có tài phát biểu trước công chúng, là một người thích đứng trước
micro và biết vận dụng thuật hùng biện, như làm điệu bộ, ngắt nhịp, lên xuống
giọng để gây hiệu ứng kịch tính.[17] Thử
tưởng tượng xem các thành viên của Nhân văn-Giai phẩm, những người từng cộng
tác hoặc chủ trương những ấn phẩm vừa bị đóng cửa ba tháng trước sẽ nghĩ như
thế nào về Xuân Diệu khi họ ngồi ở trong Nhà hát Lớn nghe ông diễn thuyết:
“Những tác phẩm mắc bệnh sơ lược gây tai hại là làm cho người ta hiểu sai thực
tế, tưởng cách mạng là toàn hồng, gây bệnh chủ quan và thiếu lý tưởng”.[18]
Về nguyên nhân của căn bệnh
sơ lược trong văn học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Xuân Diệu vạch ra rằng
“Nhưng có một số nhỏ người cho rằng bệnh sơ lược là do ở bản chất nền văn học
mới của chúng ta, cũng như có người nói tệ sùng bái cá nhân là ở bản chất của
chế độ Xô-viết. Gián tiếp họ muốn nói rằng: tại vì Đảng lãnh đạo nhúng tay
vào văn học, nên văn học mới bị bệnh sơ lược, công thức như thế này; nếu cứ để
Văn nghệ sĩ hoàn toàn tự do, thì Văn nghệ đã vô cùng phong phú”.
Thay vì tiếp tục phân tích
giả thuyết trên xem đúng sai ra sao, Xuân Diệu giải thích:
“…bệnh sơ lược không ở bản
chất nền văn học mới chúng ta… chúng ta không độc quyền về bệnh sơ lược. Văn
dở thì cổ kim đông tây, đời nào và ở đâu cũng có… Số người quy bệnh sơ lược ở
Đảng và chế độ cũng thường trách Đảng và chế độ sinh ra bệnh công thức. Họ
nói đến những con người máy, những người rập khuôn do chế độ ta sinh ra. Theo
tôi nhớ, thì luận điệu này, bọn tư bản về đế quốc đưa ra đã lâu lắm rồi…”
Xuân Diệu cũng nói về cái
mà mọi người thường gọi là văn hóa “rập khuôn” trong môi trường xã hội mới của
cuộc cách mạng:
“Những con người máy đã
phá kho bom Tân Sơn Nhất chăng? Bế Văn Đàn đã hy sinh rập khuôn với Phan Đình
Giót chăng? Hay là trong phe xã hội chủ nghĩa, liệt sĩ Việt Nam Phan Đình
Giót đã rập khuôn với anh hùng Liên Xô Matrosov, cũng lấy mình lấp lỗ châu
mai một cách công thức chăng? Vâng, chúng ta rất giống nhau, chúng ta người
nào cũng được Đảng giáo dục yêu nước yêu dân, cũng được Đảng dặn dò: khi cần
thiết thì hy sinh quyền lợi cá nhân cho quyền lợi dân tộc, […]. Vâng! Nếu có
một cái khuôn nào, thì đó là một cái khuôn cao cả vĩ đại, phong phú, cái
khuôn con người mới biết tự cường, chiến đấu, hy sinh!”
Ngoài ra, Xuân Diệu còn biện
minh cho bệnh sáo mòn rất phổ biến trong văn học và nghệ thuật cách mạng: “Bệnh
công thức của ta rất đáng ghét, nhưng động cơ của nó là muốn nói cái mới cái
hay, chỉ vì thiếu nghiên cứu, thiếu sáng tạo mà rơi vào chỗ sáo, ít nhất là
nó hảo ý; chứ còn cái công thức của tư sản phản động, của văn hóa Mỹ thì ác ý
và ghê tởm vô cùng.”
Về cách chữa trị khả dĩ
cho căn bệnh sơ lược, Xuân Diệu cảnh báo về sự tồn tại song hành của cả hai
cách chữa chân chính và giả tạo, và khuyên thính giả phải cảnh giác với loại
giả tạo: “Cách chữa giả tạo là dựa vào hình thức, vào kỹ thuật, tránh sự tẻ
nhạt bằng cách bịa ra những trò chơi quái ác, bằng cách bẻ quặt thực tế khách
quan […] Chữa giả tạo bằng cách quá đề cao cá tính siêu nhân của người Văn
nghệ; bằng cách đem “tiếng sáo tiền kiếp” ra thổi giữa những bản đàn của thời
đại mà mình cho là chán. Bằng cách phục hồi nguyên xi những ý tình cũ kỹ đã bị
cách mạng thải ra. Chữa giả tạo trên hình thức bằng cách làm thơ leo thang
hay xuống dốc, cắt nát câu thơ ra và xuống dòng nhiều quá sự cần thiết…”[19]
Trái lại, cách chữa “chân
chính” là “nghiên cứu sâu thực tế cách mạng” vì “cái mới căn bản nằm trong đời
sống cách mạng”. Xuân Diệu giảng tiếp “ta phải nói được cái mới căn bản đó,
chứ không phải rơi vào một thứ ‘mới chủ nghĩa’, đi tìm những cái tính lập dị
nào… Tôi tưởng tượng rằng: nếu bà Thị Điểm mà sống lại và viết một bản Chinh
phụ ngâm mới về phong trào hoà bình thế giới hiện nay, thì Hồng Hà nữ sĩ
cũng phải nghiên cứu đời sống quần chúng đau khổ gây ra bởi chiến tranh
đế quốc. Nếu Nguyễn Du còn sống và muốn viết về cuộc đấu tranh và lao động hiện
tại của nhân dân ta, Nguyễn Du cũng tự nguyện đặt mình dưới sự lãnh đạo của Đảng
Lao động Việt Nam, và cũng phải thâm nhập vào quần chúng hiện tại!”[20] Ba
tháng sau khi phong trào Nhân văn – Giai phẩm bị dập tắt, giọng văn bút chiến
của Xuân Diệu đã phục hồi.
Bài thứ hai: “Viết sự thật”
(tháng Tư năm 1957)
Chỉ một tháng sau, Xuân Diệu
có bài diễn thuyết thứ hai tại hội nghị ra mắt Hội Nhà văn Việt Nam ngày
mồng 1 tháng Tư năm 1957. Đối với các nhà văn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hội
nhà văn là tổ chức thay thế cho Ban Văn thuộc Hội Văn nghệ vừa mới giải thể để
chuyển thành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Hội riêng này của
giới văn học cũng có tổ chức hội viên riêng, tờ báo riêng, nhà xuất bản riêng
và ngân sách riêng. Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
không có gì lạ khi Hội Nhà văn, cũng như các chi hội khác của Hội Liên hiệp
Văn học Nghệ thuật được thành lập và cơ cấu như một công cụ chính trị của đảng
và nhà nước. Hội được giao độc quyền kiểm soát lĩnh vực chuyên môn, một đội
ngũ văn phòng được trả lương và được nhà nước tài trợ để phát triển hoạt động
trong toàn quốc. Điều ba trong Điều lệ Hội Nhà văn quy định mục đích của Hội
như sau: “Trên cơ sở Cương lĩnh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nhà văn Việt
Nam đoàn kết mọi nhà văn yêu nước và tiến bộ, không phân biệt dân tộc, tôn giáo,
xu hướng chính trị, xu hướng nghệ thuật”.
Bài diễn văn Xuân Diệu đọc
tại hội nghị Hội Nhà văn vào tháng Tư, “Một vài ý kiến về viết sự thật”, được
đăng lại trên báo Nhân Dân số ra ngày 21 tháng Tư năm 1957. Trong
trích đoạn dưới đây, ta có thể tìm thấy cách lập luận biện hộ cho việc kiểm
duyệt mà đảng vẫn tiếp tục áp dụng ở Việt Nam cho đến tận hôm nay:
“Chúng ta nói những sự thật
là có một mục đích, mục đích làm công tác tư tưởng bằng văn học, nên ta không
phải là một người cầm cái máy ảnh tốt rồi bạ cái gì cũng chụp ảnh, cũng in
ra. Chúng ta không hoàn toàn đi theo cái chủ nghĩa thành thật, vì chủ nghĩa
đó chỉ đúng có một nửa. Nhất định những thơ văn nào chúng ta viết ra đều là
huyết của ta, đều là thiết tha, thành thật, mà có thiết tha thành thật thì mới
hay được. Nhưng không phải những tình cảm nào thiết tha thành thật đều nên
đưa vào thơ văn.”[21]
Tại sao phải như vậy? Theo
Xuân Diệu, nhà văn vừa là “kỹ sư tâm hồn” vừa là “bác sĩ tâm hồn”. Vì vậy, họ
phải đấu tranh không để cho những nỗi khổ tâm riêng của mình ảnh hưởng đến
người khác, đồng thời phải tạo cảm hứng và dìu dắt (mọi người) theo các mục
tiêu của đảng và nhà nước:
“Nhà văn hiện nên phát hiện
nhiều vấn đề mới; nhưng nêu vấn đề ra, nếu chưa giải quyết dứt khoát được,
thì ít nhất cũng bao hàm một hướng giải quyết, một thái độ giải quyết. Nếu chỉ
nêu vấn đề rồi vứt giữa xã hội thì chỉ tổ gây hoang mang. Vào trong xã hội mà
chỉ tin ở sự thành thật theo cảm tính của mình, thậm chí cố tình không mang
theo những thứ mà mình cho là tầm thường, như lập trường, nhưđảng tính,
v.v…, thì càng tưởng rằng viết theo sự thật lại càng sai lạc.”[22]
Trong đoạn này, Xuân Diệu
thể hiện quan điểm về chức năng và tác dụng của văn học rập khuôn theo lý luận
của lãnh đạo đảng đã đề ra trước đó. Trong phần sau của bài diễn văn, ông kết
hợp lý luận này với những ý kiến phê bình gay gắt Nguyễn Tuân vì viết văn như
“bác sĩ gọi ra bệnh của bệnh nhân” nhưng không “kê đơn bốc thuốc”. Xuân Diệu
cũng lên án một số tác phẩm của Nhân văn-Giai phẩm mang đậm nét nhân văn của
phong trào cùng tên, cụ thể như “Tiếng sáo tiền kiếp” của Trần Duy, “Nhân câu
chuyện mấy người tự tử” của Lê Đạt và “Một trò chơi nguy hiểm” của Nguyễn
Thành Long.[23]
[1] Điều
thú vị là, hiện tượng đó đã xảy ra với giải thưởng năm 1951-1952, khi Tú Mỡ,
Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi đều tham gia tự trao giải cho mình. Xem
“Kết quả giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam1951-1952”, Văn nghệ, số
39, tháng 2/1953.
[2] Xem
Xuân Diệu, “Đọc Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”,Văn
nghệ, số 121, 17/5/1956. Maksim Gorky, “Nói về con người cũ và con người mới”,
Xuân Diệu dịch và biên tập, Văn nghệ, số 146, 9/11/1956.
[3] Trong
cùng số báo Văn nghệ đó, Trần Công, người đã phê phán Xuân Diệu,
cũng viết một bài khen cuốn phim Liên Xô chuyển thể từ tiểu thuyết “Người mẹ”
của Gorky.
[4] Về
thời điểm Xuân Diệu chọn để đăng bài trở lại, ta không thể không ghi nhận sự
ăn khớp giữa thời điểm tái xuất giang hồ của nhà thơ và văn bản cảnh cáo báoNhân
Văn vì đã vi phạm quy định báo chí. Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ban
hành văn bản cảnh cáo nói trên vào ngày 8/11/1956 – bài của Xuân Diệu được
đăng ngày 9/11/1956. Qua các mối quan hệ cấp cao của mình, có thể Xuân Diệu
đã biết trước lãnh đạo đảng chuẩn bị ra văn bản cảnh cáo, một dấu hiệu khá chắc
chắn báo trước số phận của Nhân Văn chỉ còn tính từng ngày.
[5] Nguyễn
Chương, “Một vài điểm sai lầm chủ yếu trong báo Nhân Văn và tập Giai
phẩm Mùa thu”, Nhân Dân, số 934, 25/9/1956.
[6] Trên
báo Nhân Dân: Xuân Trường “Một thái độ phê bình không đúng, một quan niệm
sai lầm về nghệ thuật”, số 935, 26/9/1956; xã luận “Dân chủ và chuyên chính”,
số 979, 9/11/1956; Hoàng Xuân Nhị “Chủ nghĩa nhân văn của chúng ta”, số 955,
16/10/1956; Quang Đạm, “Củng cố và phát triển chế độ dân chủ của chúng ta”, số
989, 19/11/1956. Trên tạp chí Học Tập: Hồng Chương, “Chính trị và văn
nghệ”, số 10, tháng 10/1956; Hồng Chương, “Thử bàn về tự do sáng tác”, số 11
& 12, tháng 12/1956. Phương Sơn, “Cần tiếp tục đấu tranh chống những tư
tưởng lạc hậu và tiêu cực trong văn nghệ”, số 2, tháng 2/2957.
[7] Chu
Thiên, “Phê bình Giai phẩm Mùa thu” và Lê Quang, “Đọc Nhân Văn số
1”,Văn nghệ, số 141, 4/10/1956; Lê Văn Hải, “Đọc bài ‘Bệnh sùng bái cá nhân
trong giới lãnh đạo văn nghệ’”, Văn nghệ, số 142, 11/10/1956; Lê Trung Thực,
“Phê bình bài ‘Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ’của ông
Trương Tửu”, Văn nghệ, số 144, 25/10/1956; Hồng Văn “Xung quanh nhóm
Pơ-rô-lê-cun và các Nghị quyết về Văn Học của đảng”, Văn nghệ, số 149,
30/11/1956.
[8] Trong
số đó, có thể kể Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Trần
Lê Văn, Hữu Loan, Trần Duy, Trương Tửu, Bùi Quang Đoài, Tử Phác, Trần Công,
Huy Phương, Lê Đại Thanh, Nguyễn Viết Lãm, Hoàng Huế, Nguyễn Văn Tị, Nguyễn
Bính, Thụy An, Nguyễn Sáng, Chu Ngọc, Sỹ Ngọc và Văn Cao.
[9] Xuân
Trường, “Chống vu khống và xuyên tạc”, Nhân Dân, số 1010, 10/12/1956.
[10] Nguyễn
Huy Tưởng, Nhật ký Tập 3. Xem những đoạn, ví dụ như, ngày 14/2/1957, bàn
về nhạc sĩ Văn Cao bị ám ảnh luôn có người theo dõi. Trong một đoạn khác, ghi
ngày 23/3/1957 (tr.233), Nguyễn Huy Tưởng kể hai họa sĩ Sỹ Ngọc và Nguyễn
Sáng bị từ chối khi đi xin việc, vì có tham gia Nhân văn – Giai phẩm.
[11] Hồ
Chí Minh, “Thư gửi đồng bào nông thôn và cán bộ nhân dịp cải cách ruộng đất ở
miền Bắc căn bản hoàn thành”, Nhân Dân, số 896, 27/8/1956; “Nghị quyết của
Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mở rộng”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 17:
562.
[12] So
sánh, ví dụ như phong thái chậm chạp, lờ đờ và lưỡng lự khi chế độ triển khai
phong trào hóa giải ảnh hưởng Stalin ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với tinh thần
khẩn trương, quyết liệt và bạo tay khi thực hiện “chống chủ nghĩa xét lại” được
tuyên bố vào cuối Hội nghị tháng 11/1957 ở Moscow. Chế độ cũng chưa từng cho
phép một sự thảo luận công khai hướng đến bản chất tội ác của Stalin.
[13] “Nghị
quyết của Bộ Chính trị: Số 17-NQ/TW, 4/6/1957 về việc đẩy mạnh công tác tiền
tệ, tài chính và quản lý thị trường”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 18: 453.
[14] Trong
bài viết ngày 3/2/1957 về tình hình chung ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Xuân
Diệu tuyên bố rằng “củi, vải, thức ăn và hạnh phúc đang dần nhiều thêm”. Xem
“Mùa xuân thắng”, Nhân Dân, số 1062, 3/2/1957.
[15] Hồ
Chí Minh, “Nói chuyện với đại biểu nhân dân thành phố Hải Phòng”, Hồ Chí
Minh Toàn Tập số 8, 1955-1957 (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2009), 372.
[16] “Thư
của ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi Đại hội Văn
nghệ toàn quốc lần thứ hai”, Nhân Dân, số 1081, 21/2/1957.
[17] Tô
Hoài, Cát bụi chân ai, 199. Tô Hoài, người đi cùng Xuân Diệu nhiều lần
trong các dịp nói chuyện, tả về phong cách diễn thuyết của nhà thơ như sau:
“Xuân Diệu hay đi nói chuyện văn thơ. Xuân Diệu có kế hoạch chăm chút bảy,
tám bài nói, nói khắp nước cũng chuyên tám cái tủ ấy. Đã trau dồi đến thuộc
làu, chỗ nào giơ tay, chỗ nào nghiêng phải, nghiêng trái, lên giọng và nhất mạnh,
chỗ nào đợi vỗ tay, đợi cười và mình mỉm cười”.
[18] Xuân
Diệu “Vài ý kiến về bệnh sơ lược”, Văn nghệ, số 162, 1/3/1957.
[19] Ngụ
ý lối bắt chước cấu trúc thơ “xuống thang” theo phong cách nhà thơ Liên Xô nổi
tiếng Vladimir Mayakovsky thường dùng.
[20] Xuân
Diệu, “Vài ý kiến về bệnh sơ lược”.
[21] Xuân
Diệu, “Vài ý kiến về vấn đề viết sự thật”, Nhân Dân, số 1140, 21/4/1957.
[22] Xuân
Diệu, bài đã dẫn.
[23] Trần
Duy, “Tiếng sáo tiền kiếp”, Giai phẩm Mùa thu tập 1 (tháng
8/1956):54-63; Lê Đạt, “Nhân câu chuyện mấy người tự tử”, Nhân Văn, số
1, 20/8/1956, Nguyễn Thành Long, “Một trò chơi nguy hiểm”, in trong Xuân
1957 (Hà Nội, Văn nghệ, 1957).
|














Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét