Phương ngữ Nam Bộ - Nét đặc
sắc của
văn học Đồng bằng sông Cửu Long
Về mặt địa lý, Nam Bộ được tính từ các tỉnh Bình Phước, Tây Ninh đến Cà Mau. Phương ngữ Nam Bộ có những nét khu biệt với phương ngữ Bắc Bộ hay Trung Bộ, mà những phương ngữ khác khó xâm nhập. Nếu ở miền Bắc tiếng Hà Nội khác tiếng Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình… thì ở Nam Bộ tiếng Sài Gòn và tiếng 13 tỉnh, thành khu vực ĐBSCL nói chung không khác nhau mấy. Nghĩa là chúng có sự thống nhất tương đối cao…
1- “Ngôn ngữ là thứ của cải
vô cùng quý báu và lâu đời của dân tộc” (Bác Hồ). Vì thế việc bảo vệ sự trong
sáng của tiếng Việt là rất quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên, trong quá trình
giao thoa văn hóa giữa các vùng, các miền, các nước… một bộ phận ngôn ngữ cũng
bị “cải cách” theo, hoặc bị biến dạng, biến thể theo chiều hướng có lợi, hoặc
có hại. Nó sẽ làm rối thêm, làm mất đi bản sắc dân tộc của từng vùng, từng miền
trên một đất nước từ lâu đã có sự thống nhất về chữ viết và ngôn ngữ.
Trong thời kì hội nhập quốc
tế hiện nay, nhiều thứ có thể “hòa tan”, “hòa hợp”, “biến màu”, “biến chất”,
thì ngôn ngữ liệu có thoát khỏi guồng quay đó? Song, chúng ta cũng không đáng
lo ngại lắm về sự “xâm thực” của ngôn ngữ ngoại lai, nhất là thứ ngôn ngữ
“chát” trên mạng của thế hệ 8x, 9x… Bởi dân tộc ta từ lâu đã có quá trình giữ
gìn và phát triển vốn ngôn ngữ của toàn dân. Bằng chứng rõ nhất là chữ Hán của
Trung Hoa một thời gian dài mấy thế kỷ được dùng làm văn tự, nhưng sau đó ông
cha ta cũng chỉ “mượn” để sáng tạo ra chữ Nôm. Một số từ tiếng Pháp, tiếng Anh,
tiếng Nga… khi vào Việt Nam cũng bị “biến đổi” cho phù hợp với cách cảm, cách
nghĩ của người Việt. Những người có công trong việc “Việt hóa” một số từ ngữ
đó, phần lớn là tầng lớp trí thức có trình độ cao. Và chúng ta không thể không
kể đến vai trò của các nhà văn, nhà thơ, những người đã dùng ngôn ngữ toàn dân,
ngôn ngữ bác học để đưa vào tác phẩm văn chương, phản ánh cuộc sống muôn màu
muôn vẻ của con người và xã hội. Riêng ở Nam Bộ, phương ngữ thể hiện khá rõ
trong các tác phẩm văn học, trên các phương diện ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa và
phong cách diễn đạt.
2- Về mặt địa lý, Nam Bộ
được tính từ các tỉnh Bình Phước, Tây Ninh đến Cà Mau. Phương ngữ Nam Bộ có những
nét khu biệt với phương ngữ Bắc Bộ hay Trung Bộ, mà những phương ngữ khác khó
xâm nhập. Nếu ở miền Bắc tiếng Hà Nội khác tiếng Hưng Yên, Hải Dương, Thái
Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình… thì ở Nam Bộ tiếng Sài Gòn và tiếng 13 tỉnh,
thành khu vực ĐBSCL nói chung không khác nhau mấy. Nghĩa là chúng có sự thống
nhất tương đối cao. Nếu phần lớn các tỉnh phía Bắc gọi cái bát, Nghệ
An, Hà Tĩnh gọi là cái đọi, thì ở Nam Bộ gọi là cái chén.
Nếu ở các tỉnh phía Bắc nơi thì gọi cha- mẹ, bố- mẹ, thầy- u, nơi
gọi là cậu -mợ, bố- bầm, thầy- bu, ải- êm (người Thái)… thì ở
Nam Bộ gọi là ba- má, tía- dú. Ngược lại, có một số từ
ngữ ở miền Bắc, miền Trung gọi bằng một tên, như: thuyền hay đò thì
ở Nam Bộ lại có nhiều tên gọi khác nhau để chỉ rõ đặc trưng, công dụng, kích cỡ
của mỗi loại khi tham gia giao thông thủy, như: tàu, ghe. Riêng loại
“ghe” có tới hơn chục tên gọi: ghe chài, ghe be, ghe bầu, ghe cui, ghe
cửa, ghe giàn, ghe lồng, ghe lườn, ghe ngo, ghe tam bản, rồi xuồng
ba lá, vỏ lãi, tắc ráng, trẹt… Chỉ ghe thương hồ của người Gia Định, ca dao
có câu:
Ghe ai đỏ mũi xanh lườn
Phải ghe Gia Định xuống
vườn thăm em.
Gọi nước lên hay xuống,
ở Nam Bộ có tới mấy chục từ ngữ để diễn tả, như: nước lớn, nước ròng,
nước rong, nước kém, nước đứng, nước nhửng, nước ương, nước đổ, nước ngập, nước
nổi, nước quay, nước lụt, nước giựt, nước rút, nước chảy, nước trôi, nước nhảy,
nước bò… Riêng nước ròng còn được phân biệt: nước
ròng cạn, nước ròng sát, nước ròng rặc, nước ròng kiệt, hay còn gọi tắt là nước
cạn, nước sát, nước rặc, nước kiệt.
Trong quá trình giao lưu
giữa các vùng, miền, các dân tộc trong và ngoài nước thì một số phương ngữ Nam
Bộ đã có sự vay mượn làm phong phú thêm vốn từ ngữ của cộng đồng cư dân ở xen lẫn
nhau, như: nói “sáng say, chiều xỉn, tối xà quần”
thì đều chỉ người say rượu ở những mức độ khác nhau (người Kinh gọi là say,
người Hoa gọi là xỉn, người Khmer gọi là xà quần).
Trong các tác phẩm văn học
của Nam Bộ, ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lịch sử, từ ngữ dùng cũng khác nhau. Một
số từ ngữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh những năm đầu thế kỷ XX nay ít
dùng.
Ví dụ: Ông miêu tả cảnh
ngoài đồng ruộng chỉ bằng vài nét đơn sơ mà gây ấn tượng: Một bữa nọ nhằm tiết
tháng bảy, trời mưa lu ầm, lu ỳ. Ngoài đồng nông phu làm lăng
xăng, người thì phát cỏ, kẻ thì lo trục đất. Mấy đám mạ gió thổi
dợn sóng vàng vàng, trong hào ấu trái già cuống đỏ đỏ (Phụ nữ Tân văn – số 32,
trang 31). Và đây là cảnh ngoài đồng với bao màu sắc âm thanh ở một vùng quê
Nam Bộ cách ta gần thế kỷ: Mặt trời chen lặn, ếch uệch oạc kêu vang mé
hào, trâu no nần đi lần về xóm. Lúa cấy đã giáp đông hết rồi, đám nào chưa bén
thì coi vàng khè, đám nào đã nở thì coi xanh mướt. (Phụ nữ Tân văn số
35, trang 30).
Trong các câu hò, điệu lý
Nam Bộ thì phương ngữ khi chân chất, mộc mạc, khi gồ ghề, gai góc. Hãy nghe lời
một chàng trai Nam Bộ chọc ghẹo cô gái: Con cò nó mổ con lươn/ Bớ chị
ghe lườn muốn tía tôi hôn? Hay: Anh thương em từ đầu tới
đít/ Đêm anh muốn nằm khít bên em. Hoặc: Gío đưa
buồn ngủ lên bờ/ Mùng em có rộng cho qua ngủ nhờ một đêm? Hay: Xắn
quần em lội qua lung/ Quần em lỡ tụt anh hun chỗ nào?/ Anh hun thì hun má đào/
Quần em lỡ tụt cắm sào ngủ luôn.
Sau Hồ Biểu Chánh, nhiều
nhà văn Nam Bộ là bậc thầy sử dụng phương ngữ, như: Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng,
Lê Văn Thảo, Anh Đức, Trang Thế Hy, Anh Động… Lớp kế tiếp có: Lương Hiệu
Vui, Nguyễn Thanh, Võ Đắc Danh, Nguyễn Lập Em, Hồ Tĩnh Tâm, Phan Trung Nghĩa,
Ngô Khắc Tài, Phạm Thị Ngọc Điệp, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Thị Diệp Mai, Anh Đào,
Trầm Nguyên Ý Anh…
Nhưng sử dụng phương ngữ
Nam Bộ hiện đại thì nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư thành công hơn cả. Cũng tả
cảnh, tả người và sự việc nhưng ngôn ngữ của Nguyễn Ngọc Tư trong các truyện ngắn
đã khác xa thời Hồ Biểu Chánh và các anh chị trước mình. Nhiều từ ngữ Nam Bộ được
chị đưa vào đúng lúc đúng chỗ, khắc họa chiều sâu tâm lý nhân vật và cảnh sắc
thiên nhiên vùng sông nước. Ví dụ: Ai đó vãi từng chùm chim én lên cao,
chúng cố chao liệng để khỏi phải rơi như lá… Ngôn ngữ trong các truyện ngắn,
ký, tản văn của Nguyễn Ngọc Tư vừa dân dã, mộc mạc vừa gần gũi, tươi tắn.
Đến với văn của chị, độc
giả có thể hình dung rất rõ về vùng đất Nam Bộ. Từ những mé đìa lục
bình, đám trâm bầu, chòm quao, trái giác nấu canh chua bông súng đến
cách gọi tên nhân vật: anh Hai Nhớ, dì út Thu Lý, dì Tư, út Thà, Sáu
Tâm… hay lời ăn tiếng nói thường ngày: trời đất, chèn ơi, đúng chóc
hà, nói gì lãng xẹt vậy ta, nói chơi hoài, như vầy, chút đỉnh, mình ên… đều
gợi lên dáng hình thiên nhiên, con người xứ sở miền Nam. Có lần chị đã tự bộc bạch
về văn mình một cách rất thật thà trước các đối tượng độc giả Đôi lúc
ví văn của mình như quả sầu riêng, người thích thì nói nó thơm, người không
thích thì chê rằng thúi.
Văn của Nguyễn Ngọc tư có
nhiều so sánh, miêu tả độc đáo: Những trái dưa hấu bóng mẩy thẳm xanh
chất tầng tầng trên chợ (Giao thừa). Tả dòng sông như một người bạn
tâm tình với nhiều từ láy: Đêm sông trăng, ngồi trên nhà có thể nhìn thấy
một dòng chảy líu ríu, sáng loáng. Ban đêm, con sông trước nhà tôi không ngủ,
nó thức theo những chiếc tàu rầm rì chảy qua, theo tiếng mái chèo quẩy chách bụp
rất đều. Có những câu văn kể xen tả thật ấn tương, gợi cảm: Bây
giờ, gió chướng non xập xòe trên khắp cánh đồng bất tận. Ven các bờ ruộng, bông
cỏ mực như những đường viền nhỏ liu riu làm dịu lại mảng rực vàng của lúa.
Chất giọng đặc sệt của miệt
vườn Nam Bộ không lẫn vào đâu được: Buổi chiều đi làm mướn về, họ tụt
xuống ao tắm táp thứ nước chua lét vì phèn, rồi xối lại đúng hai gàu. Nước vo
cơm dùng để rửa rau, rửa rau xong dành rửa cá. Cảnh sắc Nam Bộ tràn vào
trong tác phẩm cứ gần gũi, tự nhiên như chính vùng đất ấy: Cù lao Mút
Cà Tha nằm gần cuối sông Dài, trên nó một chút có một nhánh sông khác rẽ về
phía mặt trời, rộn rịp được đoạn đó rồi thôi.
Còn đây là miêu tả tâm lý
nhân vật có số phận hẩm hiu, éo le:: Bữa kia mới ác, thấy Bi lon
ton chơi một mình ngoài sân, bỗng không kìm được, Xuyến xốc Bi lên chạy một đoạn
rồi thất thần dừng sững lại, kêu lên hai tiếng, trời ơi, mình làm khổ nó rồi,
mình nghèo như vầy… (Duyên phận so le).
Chị luôn khám phá những
suy tư, trăn trở, dằn vặt trong tâm hồn nhân vật: Đâu có. Có mà, nước mắt
anh rớt lên con tướng này nè, đó, nó ướt nhẹp đó thấy chưa. Hết cười lớn, nói lớn,
ừ, tại tao thương con chốt. Qua sông là không mong về… Nhiều câu văn
giàu cảm xúc, chứa chất hoài niệm: Ra tới lu nước bà tựa người vào đó,
mặt soi xuống nước, bật khóc. Ước gì nước đừng trong như vậy để khỏi phát hiện
một nhan sắc tàn phai. Với những lời độc thoại nội tâm sâu sắc
có sức cuốn hút: Ông Sáu ngừng lại, lấy tay quệt nước mắt, cái con bìm
bịp quỷ nầy nó cũng bỏ qua mấy lần nhưng ngủ một đêm trên đọt dừa nó lại quay về.
Sao cổ không quay lại? (Biển người mênh mông).
Ở “Cánh đồng bất tận”
giọng văn thật day dứt, trăn trở: Sau giấc ngủ dài, bản năng nó không
trở dậy. Trái tim nó chỉ là hòn than nhỏ, không thể hâm nóng lại cơ thể đã ngã
màu tro. Sợi dây xúc cảm như lối đi lâu lắm không người lui tới, cỏ dại mọc bít
mất, đường đứt, cầu gẫy. Ở đó luôn ẩn chứa những trăn trở, suy
tư và nỗi niềm yêu thương: Đàn bà, với cha, càng trải nghiệm càng chán
chường. Càng gieo rắc càng đau. Vết thương cũ mở miệng toang hoác, không da thịt
nào có thể lấp đầy…Với ký ức trống trơn, họ phơi phới ra đi, còn mình thì nhớ
hoài, đau hoài… Hàng loạt câu hỏi tu từ buông ra như tiếng kêu thống
thiết trước cuộc đời đa đoan: Có ai chờ chúng tôi trên những cánh đồng
khơi, Đêm nay tôi sao thế này? Vì nhìn thấy niềm hy vọng ư? Và tôi ngủ trong nỗi
xốn xang… Mà, đã ngấm, đã xé toang lòng với nỗi đau chia cắt rồi chưa sợ sao?.
Nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận
xét về văn Nguyễn Ngọc Tư: Mấy năm nay chúng ta đều rất thích Nguyễn Ngọc
Tư. Cô ấy như một cái cây tự nhiên mọc lên giữa rừng tràm hay rừng đước Nam Bộ
vậy, tươi tắn lạ thường, đem đến cho văn học một luồng gió mát rợi, tinh tế mà
chân chất, chân chất mà tinh tế, đặc biệt “Nam Bộ” một cách như không, chẳng cần
chút cố gắng nào như các tác giả Nam Bộ đi trước…
Nói đến phương ngữ Nam Bộ
ta không thể không nhắc đến tác giả viết ký xuất sắc Võ Đắc Danh trong những
năm gần đây. Hãy chầm chậm đọc một đoạn văn trong bài ký “Mẹ tôi” của anh để
thưởng thức chất Nam Bộ ấy: Mẹ tôi phải ra đồng từ lúc hừng đông
cho đến khi hàng xóm lên đèn, tấm thân gầy lần mò trên bờ mẩu giữa tiếng nhái bầu
đồng thanh một khúc nhạc buồn trên đồng nước bao la khi trời chạng vạng. Đêm
đêm, tôi ngủ bằng điệu ru của tiếng ống bả chấp chân trong căn nhà dột nát, mẹ
phải che cho tôi bằng những tấm lá chầm.
Hay trong bài ký
“Rơm rạ dại khờ”, văn của Võ Đắc Danh như “thơ văn xuôi”, rất giàu so sánh liên
tưởng, nhịp điệu: Chị mặc bộ bà ba màu đen, cái dáng cao cao,… từng
cơn gió lùa qua, chị nghiêng vành thúng, lúa hột tuôn xuống, lúa lép bay bay, bụi
rơm bay bay, tà áo chị cũng bay bay,… ngược theo chiều gió là…, những đường nét
cong của vòng eo, vòng ngực căng tròn. Tôi cứ nhìn ngẩn ngơ… và, tôi không ngờ
khi mình không còn “dại khờ” như chị nghĩ thì đó lại là mùa lúa cuối cùng tôi
được gần gũi chị… khi tôi biết được tình yêu thì hình ảnh người con gái trong
tôi là chị. Là chị với những giấc ngủ trưa trong chòi rạ giữa đồng, là chị với
đôi thùng nước, chiếc đòn gách oằn vai đi giữa đồng rạ khô trong bóng chiều thấp
thoáng, quần áo ướt mem bó sát thân gầy, là chị ngồi dưới cây rơm quấn từng con
cúi làm bếp um trâu, là chị ngồi đốt rơm sáng bừng cả một khúc sông,… là chị…,
ngực căng tròn đứng trên giàn giê lúa…
Còn thơ thì nhiều tác giả
đưa phương ngữ Nam Bộ vào khá thành công. Trong đó phải kể đến các nhà thơ: Lê
Chí, Nguyễn Bá, Kim Ba, Vũ Hồng, Trịnh Bửu Hoài, Phù Sa Lộc, Đinh Thị Thu
Vân, Song Hảo, Thu Nguyệt, Thai Sắc, Hữu Nhân, Trương Trọng Nghĩa, Lê Ái Siêm,
Võ Tấn Cường, Huỳnh Thúy Kiều… Xin dẫn đôi câu thơ Vũ Hồng trong bài “Người
phương Nam” để bạn đọc rõ hơn một nét tính cách của người Nam Bộ – những người
mang trong mình dòng máu của Đồ Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị… rất hào
phóng, hào hiệp, điệu nghệ, bao dung:
Người phương Nam khá sắc
Người phương Nam ngày xưa
áo tơi
Dòng Hàm giang cuộn sóng
không lời
Đêm sâu đối ẩm tràn chung
rượu
Rượu say tim bốc đến tận
trời
… Người phương
Nam say thì say trọn
Người phương Nam buồn thì
buồn sâu.
Và đây là những câu thơ đầy
ám ảnh của nhà thơ trẻ Huỳnh Thúy Kiều ở Cà Mau:
Cá lìm kìm rượt nhau xé
dòng vọng tưởng
Châu thổ buồn thèm vực khúc đỗ quyên.
(Theo em về vùng cổ
tích)
Đồng ngửa cổ
Ào ào cơn ngực sấm
Dẫm cuồng phong
Vác cuốc bửa màu chiều.
Con dế nhủi khóc đêm
thanh vắng
Lẻ bạn tình nước mắt chảy trăng non.
(Nói với
quê hương)
Nghiêng vạt gió hứng ánh
trăng từ đỉnh trời rơi xuống
Chuông thời gian gõ vỡ đêm thượng tuần
Anh đã gặt xong mùa bão táp
Thu vào mây bóng kinh thành buốt nụ sao hoa.
(Cổ
tích cho em)
Mùa hạ run nỗi niềm
giáp hạt
Cỏ ngậm đầy nụ đắng cánh đồng xưa …
(Thiên đường cây xanh
lá)
3- Tuy nhiên, khi lạm dụng
phương ngữ Nam Bộ quá nhiều thì sẽ làm cho câu văn, câu thơ thêm rối rắm, khó
hiểu đối với nhiều người ở những vùng, miền khác, làm giảm sự trong sáng
của tiếng Việt. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong phương ngữ Nam Bộ nói
riêng và ngôn ngữ nói chung là một điều cần thiết trước sự xâm thực của ngôn ngữ
ngoại lai trong thời hội nhập quốc tế. Ngày nay, trước sự bùng nổ về thông tin
trên các phương tiện truyền thông như báo nói, báo hình, báo viết, báo điện tử
trên internet… nhiều người dùng “ngôn ngữ lóng” để buôn bán, hay “ngôn ngữ
chát” của giới trẻ để giao lưu, và sáng tác trên các website, blog làm mất đi bản
sắc của ngôn ngữ tiếng Việt. Đó là điều đáng báo động! Để kết thúc bài viết nhỏ
này, tôi xin dẫn một đoạn trong bài thơ vui Tình yêu tin học của
tác giả Văn Thông đăng trên báo QĐND với những từ ngữ của giới Tin học đã bước
vào văn chương:
Miền domain anh
vẫn mãi đi tìm
Lạc chốn nào trong hàng
triệu website
Đến thăm em bằng địa chỉ email
Niềm thương nhớ trải dài
trên keyboard.
Chân tình em chẳng thể nào download…
Tài liệu tham
khảo:
1- Trần Ngọc Lang: Phương
Ngữ Nam Bộ – NXB KHXH, Hà Nội, 1995.
2- Sơn Nam: Nói về miền
Nam, cá tính miền Nam, thuần phong mỹ tục Việt Nam – Biên khảo – NXB Trẻ,
2007.
3- Sơn Nam: Lịch sử khẩn
hoang miền Nam- NXB Sài Gòn, 1973.
4- Lưu Văn Nam: Người
Khmer Nam Bộ xưa và nay – NXB TP Hồ Chí Minh, 1999
5- Vương Hồng Sển: Từ vị
Tiếng Việt miền Nam – NXB Văn học, 1993.
6- Huỳnh Công Tín: Từ điển
Từ ngữ Nam Bộ – NXB Chính trị Quốc gia – Hà Nội, 2009
7- Huỳnh Công Tín: Cảm nhận
bản sắc Nam Bộ – NXB Văn hóa – Thông tin, 2006
8- Ngô Đức Thịnh: Người
Khmer ĐBSCL là thành viên của cộng đồng dân tộc Việt Nam - Tạp chí nghiên
cứu Lịch sử số 3 (216)/ 1984.
9- Vương Hồng Sển: Từ vị
Tiếng Việt miền Nam – NXB Văn học, 1993.
10- Một số bài trên
Tạp chí: Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ và Đời sống, Tạp chí Văn học, Tạp
chi Xưa và Nay, Tạp chí Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Tạp chí Hồn Việt, Tạp
chi Kiến thức ngày nay, Tạp chí Tài hoa trẻ, Tạp chí văn nghệ của 13 tỉnh,
thành khu vực ĐBSCL…
16/9/2021
Lê Xuân
Theo https://vanhocsaigon.com/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét