1. Sau giải phóng năm năm, tôi nhận chăm sóc, phụng dưỡng ông ngoại - ông Trần
Đăng - Sáu Đăng - bộ đội thời chống Pháp đã nghỉ mất sức cách nay khá lâu. Bắt
đầu công việc vừa kể chỉ đơn giản một buổi chiều má tôi đi thăm cậu mợ Út từ
chợ Cà Mau trở về, chưa rớt chiếc giỏ xách khỏi người đã lên tiếng gọi tôi giật
giọng: “Xiếu đâu? Xiếu ơi! Ra má nói này nghe...” Không đợi tôi bước tới cửa,
má tôi nói một thôi một hồi: “Chuyện là vầy: từ nay con thay thế thằng Bằng
nuôi ông ngoại. Thằng Bằng được cậu mợ Út xếp về chợ học rồi. Nhà mình ngang
sông, không ai nuôi ông ngoại tiện hơn. Với lại khi con cưới vợ, cậu mợ hứa với
má sẽ cắt cho mình mượn vài công đất để kiếm đủ lúa ăn giáp hạt...” Nghe má
nói, tôi lờ đi việc cưới vợ, cưới nợ, nhưng với ông ngoại, tôi mau mắn đáp để
má yên tâm: “Con đoán trúng thôi, số con phải bảo vệ Thiếu tướng!” “Thiếu tướng” do tôi phong tặng quân hàm cho ông. Là vì nhiều
người biết ông đi suốt chín năm kháng Pháp, và nếu không nghỉ mất
sức sớm, ông có mặt thêm hết chặng đường chống Mỹ thì ắt hẳn ông sẽ được công
thành danh toại cũng nên!
Thế là từ buổi chiều hôm đó tôi thay thế công việc thường
nhật của thằng Bằng. Bằng do dự, buồn bã mấy hôm vì phải xa ông nội, xa tôi,
xa con rạch Đường Tắt có màu nước đỏ bầm từ U Minh Hạ đổ ra đã gắn bó với nó
từ tấm bé. Nhưng rốt cùng, Bằng phải tuân theo sự sắp xếp của cậu mợ Út, đặc
biệt cậu Út người có công lao trong kháng chiến nay ngấp nghé trưởng đầu
ngành tỉnh. Tôi biết cậu Út đắn đo không ít về cuộc sống của ông
ngoại khi tuổi về già. Nếu cậu hạ cánh ngay lập tức để về phụng dưỡng cha già
ở quê coi như gãy đổ nhiều thứ : Con đường thăng tiến của cậu. Đời sống xa
hoa của mợ. Việc học hành của ba đứa con... Phương án tối ưu, ban đầu, cậu cắt
thằng con trai đầu lòng - thằng Bằng - để lại trong ruộng với ý định “hy
sinh” một để cứu cánh nhiều thứ khác. Nhưng không hiểu sao gần đây cậu quyết
đưa thằng Bằng ra chợ học cấp ba hệ bổ túc văn hóa. Khi ông ngoại được sang tay nuôi dưỡng, đặc biệt được má
tôi lui tới chăm sóc, ông tỏ ra hài lòng, ông vui. Nhưng vì tuổi già sức yếu,
cộng với mỗi tháng đáo bịnh một lần, người ông như tàu lá héo. Dáng liêu
xiêu. Đầu bạc trắng. Lưng còng. Hai hàm răng vẫn còn nguyên vẹn, trắng nhởn mỗi
lần nhìn tôi cười. Thú thực, tôi may mắn hơn thằng Bằng vì được học hết cấp ba
phổ thông cộng với mấy năm đi nghĩa vụ quân sự đánh nhau với giặc diệt chủng
Pôn Pốt ở mặt trận phía Tây Nam nhưng nhiều lúc tôi hơi sờ sợ trước cái cười
vô hồn của ông ngoại. Còn con gái của cậu Út - con Thùy em kế thằng Bằng - có
lần từ ngoài chợ về thăm quê lý lắc rủ rê tôi xúm nhau bẻ răng ông ngoại! Con
bé lấy cớ người già răng còn chắc, khi chết không rụng răng, đám con cháu sẽ
bị nghèo chí chết. Dĩ nhiên có người lớn mách bảo, nhưng tôi nghĩ con Thùy
nói có lý vì điểm lại anh em của má tôi đều nghèo, trừ cậu Út, nhưng thực ra
cậu Út coi ngành giấy tờ chẳng có bổng lộc gì cho cam! Con Thùy về thăm ông nội hai lần rồi viện cớ phải học thêm Anh
văn, học ngoài giờ... mất biến. Riêng thằng Bằng thỉnh thoảng vài tuần lễ về
Đường Tắt một lần, mang theo cho ông nội lỉnh kỉnh thức ăn, vật dùng: Mì ăn
liền, bánh ngọt, bột giặt, bột ngọt, đá lửa, thuốc hút, có cả chiếc ra- đi-ô
nhỏ xíu phải kè hai cục pin nhất phía ngoài... Thời dùng tem phiếu cậu mợ phải
cắc ca cắc củm mới có được những thứ quý hiếm gởi về cho ông ngoại tôi trước
nhiều cặp mắt tò mò của người Đường Tắt lúc bấy giờ. Đáp lại sự lo lắng của cậu mợ Út, lúc người khỏe ra, ông
ngoại tôi thường cặm cụi ngoài vườn đắp mô trồng cây, chăm chút toàn những
cây ăn trái lâu năm – những xoài, mít, mận, dừa, tre, trúc... Thấy ông ngoại
dầm mưa dang nắng, sốt ruột, má tôi qùng quằng: “Ba ơi là ba ơi! Ba già rồi
trồng chi mấy thứ đó cho cực. Ba vào nhà nghỉ cho con cháu nó nhờ!” Nghe má
tôi nói, ông dừng tay vẻ không vui. Ông nói: “Con này mới lảng không? Em Út
mày hết quan, hoàn dân, về hưu phải có của ăn của để. Mày im đi, đừng bàn!” Tính ông bộc trực, nóng nảy đến khô khan. Má tôi can ngăn
không được bèn bỏ vào nhà quét dọn, sửa sang từ phía sau ra tới cửa trước. Có
một lần má tôi lục soạn lôi từ trong ngăn tủ ra mấy trái đu đủ chín cây màu mỏ
vịt. Má hỏi: “Ông ơi là ông ơi! Trái chín hết đây nè không ăn kẻo nó thúi, uổng
lắm!” Lần này trông ông cười hiền nheo cả hai mắt: “Quên!... Tiên tổ mày!
Tao để dành cho thằng Bằng với con Thùy khi về có sẵn để ăn. Quên cái nỗi
gì!” Má tôi đứng lặng yên nhìn ông tôi. Mái tóc điểm sương ngả trắng bềnh bồng
của má gần giống tóc ông ngoại. Rồi sau đó không lâu, thói quen san sẻ, lo lắng bao đồng của
người già trải tới chỗ đặt chiếc giường ngủ của má tôi bị mưa tạt ướt. Nhân
lúc mẹ con tôi đi vắng, ông tôi đứng ngắm nghía lên mấy giọt sáng trắng do
ánh nắng từ ngoài chiếu thẳng vào nhà qua những kẽ vách bị sút sổ ra. Mảnh
vách lá bị thũng dột cao vượt khỏi tầm tay ông. Phải dùng tới một chiếc ghế đẩu,
và phải đi vòng ra phía đầu song nhà mới vá víu được mảng vách bị rách. Buộc
xong mấy nuộc lạt kết dính vài tàu lá khô, chiếc ghế không còn chỗ trụ vững
khiến ông bị đổ nhào xuống đất. Khi mẹ con tôi về đến nơi, ông tôi được người
nhà bên cạnh kịp lúc đưa ông vào nhà và đặt nằm sóng soài trên vạc. Khác hẳn
lúc lôi ra từ trong ngăn tủ mấy trái đu đủ chín cây màu mỏ vịt, má tôi vừa quạt
cho ông vừa lắc đầu. Má chịu thua. Năm năm trôi qua. Ông tôi tròn tám mươi tuổi. Cậu Út tôi vẫn
chưa nghỉ hưu. Thằng Bằng do học đắp vá hệ bổ túc nên thi trượt Đại học khiến
ông tôi buồn lắm mặc dù những cây lâu năm do một tay ông trồng nay đã đơm hoa
kết trái đợt đầu. Nhà vắng. Vườn vắng. Thêm nữa, ông không hút thuốc lá,
không ghiền rượu ghiền trà nên có rất ít bạn già đến chơi. Trước tình cảnh
đó, quen thói trò khỉ, tôi đứng nghiêm trước mặt ông và trình với ông một
sáng kiến: “Thưa Thiếu tướng! Tới nay cậu Út chưa nghỉ hưu nên có lịnh trên
rước bà Ba Thợ về đây ở hủ hỉ với Thiếu tướng. Thiếu tướng đồng ý?” Tôi vẫn đứng
nghiêm trước mặt ông. Ông tôi ngồi thẫn thờ một lúc, gương mặt ngơ ngác, dài
dại hướng về phía tôi hỏi gạn: “Bà Ba Thợ nào vậy? Bà Chín Đào đó à?...” Tôi
giật mình nhưng cố tự nhiên đáp: “Không! Ở Đường Tắt không ai tên Chín Đào,
chỉ có một bà Ba Thợ!” Ông tôi khẽ lắc đầu. Còn tôi cố gán ghép bà Ba Thợ cho
ông. Bởi lẽ bà Ba góa chồng, người từ miệt trên cùng chồng đổ xuống tới xóm
Đường Tắt hành nghề thợ mộc. Thời trẻ bà nổi tiếng có nhan sắc, và cho tới
nay trên bảy mươi, gương mặt bà vẫn còn thẳng thốn, người phốp pháp, đẫy đà.
Bà có tình cảm với ông ngoại tôi. Vì vậy, tôi không bỏ qua trò khỉ, hỏi tiếp:
“Thiếu tướng thấy thế nào? Đồng ý?” Ông tôi vểnh một bên tai về phía tôi vừa
cười đến nhăn nheo cả khuôn mặt. “Cái con khỉ mày!” Ông thốt lên rồi bỗng sa
sầm nét mặt, hai mắt lừ lừ nhìn tôi và nói như quát: “Ai gán bà Ba Thợ cho
ông vậy? Cấp trên là má mày? Ừa, đưa với rước... Tao đốt nhà!” Tôi bị cụt hứng
bèn ngồi xuống nắn bóp hai bàn chân ông. Vẫn chưa hết ngạc nhiên vì lần đầu
tiên tôi được nghe ông nhắc tới tên một người rất xa lạ - Chín Đào! Tôi ngồi
cố moi ra trong trí nhớ nhiều chuyện kể của má về ông ngoại. Trước khi trở thành anh bộ đội Việt Minh, ông ngoại tôi đã
dứt bỏ một quãng đời trai trẻ ăn chơi trác táng, ngang ngạnh nổi tiếng ở đất
Tam Bình. Ông bà cố tôi vốn chiều con, đặc biệt với đứa con trai độc nhất, cộng
với gia đình thuộc loại khá giả có ruộng có vườn ở làng Tường Lộc, có trại mộc
tại chợ Tam Bình đã góp phần làm vung vinh thói hay đấm ngực để hù dọa hoặc
vòi vĩnh, đèo bồng của Trần Đăng. Mười sáu tuổi, Trần Đăng bỏ học, từ thị xã
Vĩnh Long trốn theo gánh hát Nhựt Hồng vì mê già Bảy Hương làm diễn viên có
tài phóng lao. Đích thân ông cố tôi đi tìm gặp ông Bầu gánh hát, gặp già Bảy
Hương để bắt con về. Rời gánh hát, Trần Đăng day vào sòng cờ bạc, mỗi lần
thua phỏng tay, Đăng về nhà đấm ngực đòi tiền. Ông cố tôi chắc dạ, vờ đi. Trần
Đăng liền xoay qua bà, vẫn tật đấm ngực thình thịch để moi tiền bà cho bằng
được mới thôi. Hăm sáu tuổi, Trần Đăng trải qua ba đời vợ. Đó là những người
vợ chính thức được ông bà cố tôi mướn ghe bầu hai chèo mũi, hai chèo lái, chiếu
trải sạp bày lỉnh kỉnh khay trầu rượu, mâm bàn đi kết nghĩa thông gia. Chưa kể
những đối tượng “trăng hoa” dạo Trần Đăng làm tài xế kiêm lơ xe khách đường lục
tỉnh... Mãi cho tới trận Rạch Gòi, Tầm Vu trên quốc lộ 4 nổ ra khiến
Tây tà ở Ô Môn, Trà Ôn, Tam Bình khiếp sợ, và chính sự kiện đó đã thu hút được
nhiều người, trong đó có ông Bầu gánh hát Nhựt Hồng, già Bảy Hương, Trần
Đăng...
Ông Bầu gánh hát, già Bảy Hương lui vào Bưng Sen, Bưng Vông
đầu quân đánh Tây. Còn Trần Đăng lặng lẽ cùng bè bạn theo đường Trà Mòn vượt
qua quốc lộ 4 tới mặt trận Tầm vu. Thoạt đầu, Đăng làm dân công hỏa tuyến
theo những chiếc xe trâu tiếp tế lương thực cho bộ đội Việt Minh, và sau một
thời gian khá dài được thử thách tại chiến trường Ô Môn, Tam Bình, Trần Đăng
được tuyển vào đơn vị bộ đội trực tiếp cầm súng chiến đấu. Được tin, ông bà cố
tôi vô cùng mãn nguyện. Hai năm sống trong quân ngũ, được giao tiếp với nhiều người
cùng trận tuyến, Trần Đăng phải lòng phải dạ một phụ nữ đang là thành viên
Ban phụ vận huyện Tam Bình. Đo là cô Hai Lành người Rạch Voi, làng Thiện Mỹ
được tính được nết. Bắt nguồn từ nhiều dịp gặp gỡ tại cơ quan Phụ vận huyện,
sang Tỉnh đội Việt Minh hai tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, dọc đường hỏa tuyến, nhiều
lần về Rạch Voi làm khách được cô Hai Lành thếch đãi cơn canh thêm món lá chiết
chấm với cá cơm kho lạt, đặc biệt được sự chấp thuận của ông bà cố tôi, dẫn đến
lễ thành hôn cho hai người... Ông bà cố tôi càng yên tâm và mãn nguyện, tự cắt một phần đất
ruộng ở Tường Lộc hiến cho Việt Minh để trang trải cho người thiếu đất cày cấy.
Vợ chồng Trần Đăng thăng tiến, ăn nên làm ra. Nhưng sự đời không bằng phẳng,
suông sẻ như ông bà cố tôi tưởng. Sau khi thành vợ thành chồng, được hai mặt
con (đó là má tôi và cậu Út tôi) Hai Lành từ trần đột ngột qua một cơn đau
tim nặng. Chôn cất người xấu số xong, Trần Đăng mới về tới nhà đứng khóc ngon
khóc ngọt bên cạnh cầu ao nơi Hai Lành thường ngồi rửa chén. Từ một người đàn
ông vạm vỡ, nhanh nhẹn bỗng biến thành một ông già hay ngồi trầm tư trước bữa
cơm bày ra lá chiết với món cá cơm kho lạt... Chuyện đại để là như vậy. Dứt khoát không có tên Chín Đào
xen vào đời tư ông ngoại tôi. Tôi tò mò muốn day vào chuyện nóng hổi - một
cái tên rất xa lạ - nhưng thấy ông ngồi im thinh giờ lâu, mặt cứ nhìn ra bóng
nắng trước sân, đành thôi vậy. Tính ông vui đó, buồn đó; giận dỗi, nóng nảy chốc lát lại
dịu đi, rất dễ làm lành. Thấy ông trở lại trạng thái bình thường tôi nói khẽ: “Thưa Thiếu tướng! Mời Thiếu tướng dùng cơm!”. Nói xong, tôi đỡ ông đứng dậy,
nâng một cánh tay ông choàng qua vai tôi, dìu ông xuống xuồng. Cứ như thế, mỗi ngày bốn bận tôi đưa rước ông sang sông.
Càng về sau này, mỗi lần ăn uống xong, ông thúc tôi mau mau đưa ông trở lại
nhà. Ông thường bị lẫn và hay quên. Sức khỏe ông có lúc báo động. Chẳng những
một mình tôi mang vác mùng mền sang nhà ngủ canh chừng ông ngoại mà có thêm
má tôi ngồi chầu chực bên ông. Có một đêm ông nằm lăn trở trên vạc, lúc nghiêng người ra
phía vách mùng, lúc nằm ngửa bất động, hai chân duỗi thẳng và hai bàn tay ắp
lên bụng khiến tôi không rời cây đèn bão soi ngoài vách mùng, còn má
tôi áp sát chỗ ông nằm hơn. “Con Hai đây mà! Còn thằng Xiếu?...” Ông nói giọng
thều thào. Tôi lên tiếng và áp sát bên ông. Đôi môi ông khô cứng, mấp máy:
“Có mặt con Hai! Có mặt thằng Xiếu! Có đủ hai mẹ con! Còn thằng Bằng? Còn bà
Chín Đào đâu không thấy về?” Má tôi ngẩng người về phía tôi, ngơ ngác như thầm
hỏi: Việc gì xảy ra với ông ngoại? Má tôi trong trạng thái bối rối, lo lắng... Sau một cơn mê sảng giữa đêm của ông ngoại trước mặt má tôi
thành mối quan tâm lớn trong gia đình tôi. Má tôi hay phóng to lên nhiều việc
nan giải trong đời bà do quá nhiều lo lắng, khắc khoải của một người đàn bà
góa bụa kể từ khi ba tôi qua đời vì một cơn cảm lạnh đột ngột trên chiếc ghe
cui chuyến về thăm nguyên quán Tam Bình; kế tiếp chị Hai tôi hy sinh trên đường
giao liên do bom B52 rải thảm ở Hương Mai, Khánh Lâm. Lập tức, má tôi kéo
tôi, kéo thằng Bằng, kể cả cậu mợ Út (dĩ nhiên mợ Út là người dưng nước lã vô
tích sự) đều vào cuộc truy tìm tên Chín Đào trong nhiều mối quan hệ bạn bè đồng
chí của ông ngoại tôi. Má tôi lập đường dây liên hệ về nguyên quán bắt đầu từ
làng Tường Lộc đến chợ Tam Bình, ra rạch Ô Trư, Bưng Sen, Bưng Vông thuộc
làng Bình Ninh; sang Rạch Voi, Rạch Cống của làng Thiện Mỹ... Có
không biết bao nhiêu địa danh ở Nam Bộ nổi lên trong trí nhớ của má, của cậu
mợ Út tôi... Và rồi rốt cùng, má tôi vẫn tìm ra nguyên quán một bà Chín Đào
mà ông tôi đến cuối cuộc đời mới nhắc tới. 2. Đó là một con rạch nhỏ - rạch Ô Rô - với nhiều chặng gãy
khúc khiến xóm ngắn, xóm vắng. Xóm có trên dưới ba mươi ngôi nhà lá ẩn náu dưới
những vòm cây tạp, giữa bốn bề thiên nhiên hoang sơ, thanh khiết vừa đủ cho một
Trung đội đóng quân. Nhờ có thêm bờ xáng Phụng Hiệp dài thoai thoải gối đầu với
nhiều kinh rạch chằng chịt trên đất An Xuyên tạo điều kiện thuận lợi cho đơn
vị vũ trang cả hai phương diện: vừa giấu quân, vừa tiến công đánh trả kẻ địch
trong nhiều tình huống. Tổ đội súng máy của Trần Đăng được đơn vị bố trí ăn ở trong
ngôi nhà cuối xóm - nhà ông Bảy Bá - nơi tiếp giáp với cánh đồng hoang mênh
mông. Rất dễ nhận ra vị trí của Tổ đội súng máy vì từ phía cánh đồng nhìn
vào, khu vườn tạp của ông Bảy Bá vượt trội lên, và đặc biệt có cây dừa cổ thụ
cành lá xanh rì lừng lững trên nền trời. Ông Bảy Bá có chẵn mười đứa con. Vợ mất sớm khi thằng Út
còn ẵm ngửa. Các con lớn lập gia đình ra riêng. Nhà chỉ còn ba đứa: Chín Đào
- Con gái lớn - Hai đứa em trai kế sinh đôi, đều là Út - Út Lớn, Út Nhỏ - Do
siêng năng tập tành “cùng ăn, cùng ở, cùng làm”, không lâu, Trần Đăng biến
thành người thân trong gia đình. Với ông Bảy Bá thích chơi đàn kìm, Trần Đăng cố moi ra một
ít vốn liếng dạo theo gánh hát Nhựt Hồng chỉ dẫn thêm ngón đàn cho Bảy Bá và
chịu khó ngồi đàn vừa nhấp nháp món rượu nếp với ông đến khuya. Riêng với Út
Lớn, Út Nhỏ, ban đêm Trần Đăng dạy cho chúng học, ban ngày lấy lại
của chúng nghề bẫy chim, giăng câu, đặt trúm... Đăng làm quần quật, kể cả những
công việc nặng nhọc như giúp Chín Đào xay lúa chẳng hạn. “Dừng ngay đi anh! Dừng!...” Chín đứng xập xựng bên cối xay
lúa tự nhiên xẵng giọng. Trần Đăng dừng ngay lập tức, người ngẩng lên nhìn cô
chủ. Chín tự nhiên bước tới xô nhẹ Trần Đăng đứng sang một bên, đôi tay trần
nần nẫn, săn chắc ghì chặt càng giằng xay rồi bắt đầu thao tác trước mặt
khách. “Phải làm như vầy! Phải cho thớt cối quay ngược chiều kim đồng hồ, anh
thấy có khỏe hơn không?” Giọng Chín ân cần, thủ thỉ. Mái tóc phủ dài tới thắt
lưng đen mượt. Đôi mắt tròn xoe chiếu thẳng về phía khách. Trần Đăng như bị
ai hút hồn và càng chăm chú mọi cử động thao tác của cô chủ. Rồi Chín bắt đầu
thao tác lần thứ hai. Chín rướn người về phía trước. Khuôn ngực tròn trĩnh
căng ra. Tiếng cối xay rào rào, râm ran như tiếng máy nổ. Tiếng răng gỗ nghiến
ngấu nhả ra những bã trấu trộn lẫn gạo tuôn xối xả xuống nền đất. Chín dừng tay. Trần Đăng thay vào. Tưởng việc gì khó, đằng này...
Đăng nghĩ. Bằng sức vóc, sự chịu đựng của một người lính từng trải, Trần Đăng
kéo một hơi hết sạch cối lúa. Rồi hai, ba cối liên tiếp... Mặc dù nhiều lúc
người mệt lã, nhưng Đăng thích vì biết thêm một công việc nặng nhọc giúp dân,
vừa được quẩn quanh bên cô chủ. Ngược lại, mỗi lần Tổ đội súng máy được đơn vị
điều đi công tác dài ngày, Chín Đào nao nao, phập phồng đứng ngồi không yên.
Đôi mắt to đen đau đáu buồn. Còn Trần Đăng không khác gì cô chủ. Đăng đang
yêu nhưng cố nén qua hơn sáu tháng Tổ đội súng máy tá túc nhà ông Bảy Bá, dẫn
đến một ngày hai người biến ra khỏi nhà... Hôm ấy mưa rát mặt, mưa dầm dề. Hai thằng Út như những con
cá mắc cạn vẫy vùng ngoi lên tìm vũng nước, chạy giỡn, phá phách nhiều hơn
giăng lưới, thả câu, lấy ổ chim, phụ trợ nhổ bồn bồn giúp chị. Nhát mưa, không
lâu, hai đứa biến mất vào nhà. Chín Đào gánh phần hai em hì hà hì hục bên những vũng cạn,
men theo mé bàu cá và nhiều chặng lung trời sinh. Chín lội sầm sập trong lùm
bụi, trên sình bùn lõng bõng. Nhiều lúc Chín ngâm mình dưới nước. Bộ đồ vải
xiêm đen trơn láng ướt sũng càng bó sát sạt cơ thể săn chắc, căng căng của cô
chủ. Trần Đăng lẽo đẽo theo sau thu gom từng gộp bồn bồn, dùng dao chém sả
hơn nửa thân cây, vứt ngọn về một chỗ. Đống ngọn ngày càng chất chồng cao lên
như cái gò nổi giữa bốn bề cây lá. Một thảm xanh trải dài mút mắt với những chiếc lá bồn bồn hình
lưỡi giáo lắt lay, tua tủa, dờn dợn thành những lượn sóng xanh rập rờn. Vài
bông bồn bồn sớm sủa nhú ra như những nén nhang trần thắp lên giữa đồng không
mông quạnh. Trần Đăng cởi trần phơi tấm lưng thớt hứng mưa. Người Đăng nóng hầm
hập như hơ lửa khi ngồi trên đống lá hướng mắt về phía cô chủ. Một lần nữa,
Đăng bị cô chủ hút hồn...
Chín đứng sờ sờ ra gần đống lá. Hai bàn chân dụm lại nhón thật sâu xuống tận
rễ cây. Người gập xuống, run rẩy, hai bàn tay Chín gộp đến ba bốn cọng bồn bồn
đứng dụm một chỗ. Lại một cái ngả người về phía sau, lập tức, từ trong gốc rễ
trộn lẫn sình bùn bật ra những chiếc ngó trắng muốt. Bỗng Chín nhắm nghiền mắt
lại vì có đôi tay to cộm áp tới ghì chặt lấy cô. Chín cả quyết không có ai
khác ngoài ông khách Trần Đăng giữa chốn này! “Đừng anh! Đừng mà! Người ta
dòm thấy, em chết!” Giọng Chín yếu ớt, người mềm nhũn và từ từ khuỵu xuống. Đống
lá xanh giữa bốn bề cây lá đậm đặc bỗng chốc xẹp xuống khỏa bằng với mặt đồng...
Từ phía cuối xóm Ô Rô được gió đưa đẩy ra đồng tiếng đàn kìm ngắc ngứ, đứt
quãng nghe xa văng vẳng...
Nhưng thật ngắn ngủi làm sao! Mưa đã tạnh. Trời quang mây.
Mặt trời xuống ngang đọt dừa cổ thụ. Và thêm một ngày, hai ngày, một tháng,
hai tháng... Tổ đội súng máy và cánh quân chủ lực Việt Minh được lịnh đột ngột
rời khỏi chốn này. Quân trang, quân dụng, cành lá ngụy trang được cài hết lên
người. Hành quân... Một bài báo của ông Đào Công Khanh người An Xuyên thời ấy
viết: “Ngày 13, tháng 3, năm 1953, từ sáng sớm người địa phương vừa ngơ ngác
vừa khấp khởi trông thấy tận mắt quân đội Việt Minh len lỏi dưới tàn cây tạp,
trong vườn dừa, trên bờ xóm, thậm chí phơi ra giữa cánh đồng nứt nẻ đầy gốc rạ
và dấu chân trâu... Phía địch có hai Tiểu đoàn lính Lê Dương, lính khoác áo đạo
Cao Đài từ thị trấn Cà Mau lò dò theo đường liên huyện Cà Mau - Thới Bình vào
xóm Ba Tiệm. Thình lình quân ta và quân địch chạm trán nhau tại Bàu Thúi. Và
từ Bàu Thúi, những trận đấu súng bùng lên dữ dội. Cánh quân chân không áo vải
của ta bỗng chốc oai phong lẫm liệt câu bám và đánh thọc sườn xé nát đội hình
đối phương rồi “nở hoa” trong lòng địch. Trên bốn chục tên lính Lê Dương,
lính áo khoác đạo phơi xác trên đất An Xuyên. Đám tàn quân có cả Thiếu tá Nhã
một tên chỉ huy khét tiếng gian ác vượt kinh xáng Phụng Hiệp bằng những thân
tre kết bè, bằng lu mái chứa nước ngọt... chạy thụt mạng về phía quốc lộ
1...” Sau khi giáng một đòn đau điếng vào giặc Pháp ở vùng phụ cận
thị trấn Cà Mau, cánh quân Việt Minh nổi tiếng bách chiến bách thắng được điều
lên mạn Chắc Băng, Cạnh Đền... Không ai biết, và chính Trần Đăng cũng chưa hề
thố lộ mình có trở lại xóm Ô Rô lần nào nữa không?
3. Vẫn chưa hết. Ông ngoại tôi mỗi lần thấy người khỏe ra đều
đặt điều kiện với má tôi cho ông ra thị xã một chuyến, vừa đi rong rổi trị bịnh
vừa gặp ba đứa cháu nội ở xa. Ông nhớ nhất là thằng Bằng. Ông nằn nì mãi, má tôi chấp thuận. Thế là tôi liên hệ ngay với thằng Bằng đón ông cháu tôi tại
bến đò thị xã. Liên hệ xong hôm trước, sáng sớm hôm sau tôi dìu ông ngoại xuống
đò. Tự tay má tôi sửa soạn cho ông: Áo sơ mi trắng tinh, bâu áo ủi thẳng cứng.
Ông còn khoác ngoài chiếc áo vét-tông hồi năm nẳm ngả màu xám xỉn. Gậy cầm
tay. Nón nỉ đen đội đầu. Ông mang theo lỉnh kỉnh đồ đạc nhờ tôi xách hộ : Chục
trái ổi chua, vài trái đu đủ chín cây lên màu mỏ vịt, vài trái mít, trái dừa
do ông gom góp ngoài vườn mang cho cháu nội. Đò ghé bến. Thay vì cậu Út cho xe xuống đón, hoặc đi một cuốc
xe lôi, ông tôi gọi đò dọc vào chợ. Thấy tôi đứng tần ngần trên bến và thằng
Bằng ngơ ngác nhìn tôi, ông giục hai đứa tôi xuống đò. Chờ đò ra khỏi bến,
ông xếp gậy xuôi trên sạp rồi gí một ngón tay vào lưng tôi. Ông nói: “Quen với
sông nước, ta đi sông tiện hơn!” Bằng cười chúm chím, vừa gật đầu đồng ý với
ông. Tôi ngồi lau dép cho ông vừa chưa hết ngạc nhiên vì ông chọn đường sông
về nhà cậu mợ Út ở tréo ngoe trên chợ. Khi đó trông ông rất an tâm, ông vui.
Ngồi ép sát vào thành đò, ông vừa nheo nheo đôi mắt nhìn dãy nhà sàn chồm chồm
ra mé nước dọc đường sông vào chợ.
Đò đang vượt con nước ngược đổ về Tắc Thủ. Qua chặng nước
ngược, gặp ngã ba sông, đò xuôi băng băng về phía chiếc cầu đen to tướng nằm
vắt ngang trước mặt. Bỗng vang lên tiếng động ầm ào nghe đinh tai nhức óc khi
đò chui qua gầm cầu. Ông tôi giật thót người, gương mặt nhăn nheo, dài dại
trước những thanh sét gỉ, vẻ sợ hãi. Tôi liền chồm tới ngồi sát bên ông. Chốc
sau ông ngả người qua mé nước, một cánh tay trái ra hiệu cho đò dừng. Bằng tự
nhiên bước lên bến nắm níu mũi đò khác hơn tôi đang tâm trạng ngạc nhiên, lo
lắng. Bằng xách hai giỏ đồ, còn tôi dìu ông lên con hẻm nhỏ trổ ra đường cái.
Vẫn tiện thôi. Tôi nghĩ là vì bất cứ chỗ nào cũng có xe đón đưa. Nhưng không
phải thế. Ông tôi đứng giờ lâu nơi đầu hẻm, ngơ ngác nhìn ngắm dãy phố bên
kia đường – một dãy phố cũ kỹ với những ki-ốt, mái che lấn ra tới lề đường.
Theo đề nghị của ông ngoại, tôi và Bằng đưa ông sang lề đường bên kia. Vẫn
chiếc gậy cầm tay dò dẫm mặt đường, ông bước tha thẩn, chậm rãi như đếm từng
bước, mắt không rời dãy phố ông cháu tôi đang đi ngang qua. Bằng vẻ sốt ruột,
mặt ghé sát vào tai ông nội: “Nội ơi, nội! Ba má con đang chờ nội ở nhà kìa!”
Bằng nói khẽ. Ông ngoại tôi vùng nhẹ ra: “Đợi với chờ! Có gì phải gấp? Mày để
tao được yên!” Nghe vậy, tôi im thin thít chiều theo ý ông. Tính khí nóng vội
muốn đặng muốn được của ông không lạ gì với tôi. Tôi thả nổi, bụng bảo dạ:
“Tướng” đang tìm nhà quen nào đó cũng nên! Ở Đường Tắt ông thường ngồi nhắc
ra với tôi hằng mấy chục tên bạn bè, thân hữu của ông trong tỉnh, ngoài tỉnh. Tôi đoán đúng. Đang thả bộ dọc phố, ông tôi dừng lại trước
một ngôi nhà trệt có khoảng sân khá rộng treo toòng teng mấy chục giò phong
lan. Trông ngôi nhà sang sang, cách biệt với những gian phố chật hẹp bằng khoảng
sân khá rộng, dàn phong lan chỏng chơ chưa trổ một bông hoa nào và cánh cổng
trống hoác vừa làm lối đi vào một ki-ốt đeo bám một bên mép rào. Bằng khéo đứng
giả vờ mua hàng tại ki-ốt. Tôi bị cuốn theo ông ngoại vào tới thềm nhà bên
trong. Ông khựng lại rồi thụt lùi mấy bước liền lên tiếng hỏi: “Có ai ở nhà
đó không vậy? Cho tôi hỏi thăm...” Tôi đứng lặng người phía sau lưng ông. Im
lặng. Đôi vai ông bỗng rung lên khe khẽ khi trông thấy một bé gái từ phía sau
tất tả chạy ra đứng thập thò nơi ngạch cửa chính. Con bé mở tròn xoe hai mắt
nhìn ông. Ông hỏi: “Đây có phải là nhà bà Chín Đào không vậy cháu? Người làng
An Xuyên!...” Đứa bé hơi nghiêng một bên tai, đôi mắt vẫn mở thao láo nhìn
ông. Tiếng đứa bé hỏi khẽ : “Thưa... Ông hỏi gì ạ?...” Ông tôi liền lập lại
câu vừa hỏi, giọng khấp khởi, thân thiết hơn. Khi đó con bé vẫn đứng tựa lưng
vào cánh cửa, khe khẽ lắc đầu. Ông tôi đứng ngay người tỏ vẻ thất vọng nhưng
vẫn lên tiếng hỏi tiếp : “Nhà Chín Đào! Người Ô Rô, An Xuyên!” Con bé chưa kịp
đáp, thật may mắn cho ông, kể cả tôi và thằng Bằng, từ trong cánh gà bằng những
sợi ni-lông nhiều màu buông thõng xuống, một bà lão lụm cụm bước ra đến chỗ
con bé đang đứng. Được khoác chiếc áo rộng quá cỡ, khăn bàn trùm kín đầu kéo
sụp xuống mí trán in dấu chân chim trông bà hom hem, yếu đuối như người mới vừa
trải qua một cơn bịnh nặng. Bà nghiêng tai về phía đứa bé. “Ai hỏi ai vậy
Cúc?” Bà lên tiếng. Con bé tên Cúc lập lại nguyên văn lời ông tôi. Bà vẫn
nghiêng nghiêng một bên tai về phía con bé Cúc rồi ngẩng lên ngơ ngác nhìn
quanh...
Ông tôi đang đứng tần ngần trước mặt bà, người đứng không
được vững và đôi môi mấp máy nhưng không nói tiếng nào. Bỗng dưng ông vội vội
vàng vàng quay quắt người lại phía sau rồi bước lẩn thẩn ra đường mà không một
lần dòm ngoái lại. Thấy thế, con bé Cúc chạy ùa ra sân gọi lớn: “Ông ơi...
Ông ơi... Phải rồi! Đúng rồi!” Tôi không rõ ông có nghe tiếng con bé Cúc vang
lên sau lưng? Ông lẳng lặng, ung dung cắm cúi bước như không hề có chuyện gì
xảy ra với ông!. |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét