Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2025
Tôi phải sống 1
Bút ký
Xuống tới bờ sông, vì chiếc ghe nhỏ đã có sẵn mấy người, chỉ có thể chở thêm
vài người nữa, không còn chỗ cho xe gắn máy của tôi. Tôi dựng xe xuống để đưa
em bé lên thuyền máy với mẹ em. Nhưng đất mềm quá không dựng chân xe được. Sau
một vài lần không dựng được xe, tôi phải nhờ một người đàn ông giữ xe giùm, rồi
ẵm cháu gái xuống ghe đặt ngồi bên mẹ em. Người đàn bà nở nụ cười thật
tươi:“Con cám ơn cha!”. Tôi không đáp lại và cũng không đính chánh. Tôi đưa tay
vuốt tóc cô bé và nói: “Con đi cho ngoan, đừng khóc nữa”. Vừa nói tôi vừa lùi
trở lên bờ trong khi cô bé nhìn tôi, gật đầu, giống như lúc nãy khi tôi hỏi em
“con có lạnh không?”.
Tới gần sáng, chiếc mền của cha bị rơi xuống đất, tôi nhặt lên và nhẹ nhàng đắp
cho cha, nhưng cha tôi giật mình thức giấc và hỏi tôi về hồi nào. Rồi trong một
lúc rất tỉnh táo như người khỏe mạnh, cha bảo tôi đỡ cho ngồi dậy tựa lưng vào
thành giường. Tôi vô cùng mừng rỡ vì tưởng là cha tôi đã hồi phục lại sau cơn bệnh
nặng. Sau đó cha tôi hỏi tôi về các việc bên họ đạo và dạy bảo tôi:” Con Làm
linh mục thì phải biết thương bổn đạo của mình và lo lắng cho họ. Con hãy nhớ,
đừng bao giờ chúc dữ cho ai, nhưng luôn luôn phải chúc lành cho mọi người.” Tôi
vâng dạ và hứa tuân giữ lời cha dạy. Sau đó cha muốn ăn một ít cháo, mà lâu lắm
rồi cha tôi không ăn được.
Thạnh nghe qua biết là câu chuyện nghiêm trọng lắm. Anh trầm ngâm không nói
năng gì. Trong lúc suy tư, Thạnh lần túi móc bao thuốc lá “Sài Gòn Giải Phóng”
ra, rút hờ cho tôi một điếu, anh gắn một điếu vào môi và bật lửa bao diêm. Lúc
đang mồi thuốc cho tôi Thạnh hỏi:
Khi tới ngã ba Trung Lương thì trời đã xế chiều. Ngã ba Trung
Lương với nhiều hàng quán, nơi tôi vừa đi qua mấy ngày trước, là nơi quốc lộ 4
rẽ vào hai tỉnh Mỹ Tho và Bến Tre. Chúng tôi vào một quán nước ngồi nói chuyện
một lúc. Sau khi rời quán và cùng đứng chờ xe trước giờ chia tay, gương mặt Thạnh
lộ vẻ u buồn và cả hai không ai nói với ai một lời. Khi có chiếc xe lô từ
xa chạy tới, Thạnh một tay giơ lên đón xe, trong lúc tay kia cho vào túi quần
vơ số tiền giấy, có tờ đã nhàu nát, ấn tất cả vào tay tôi và nói bằng giọng đứt
quãng xúc động: “Mầy cầm lấy, tao biết mầy sẽ cần. Đi bình yên gặp nhiều may mắn,
khi nào có dịp nhớ liên lạc về tao. Thôi mầy đi!”. Sau câu nói, Thạnh quay
nhanh và đi lại chiếc xe gắn máy đang dựng trước cửa quán, quên cả bắt tay từ
giã tôi và cũng chẳng cần nghe tôi nói. Tôi hiểu Thạnh quay đi để che giấu sự
xúc động. Tôi nhét mớ tiền vào túi quần, bước vội lên xe vừa thắng gấp bên lề,
tôi nhìn Thạnh nói lời từ giã: “Mầy ở lại mạnh giỏi, cầu nguyện cho tao. Nếu
còn sống, sẽ có ngày gặp lại.” Tôi bước lên xe như một người máy!
Chị Hai tôi là người quán xuyến việc nhà cửa và lo cho các em, nhất là cho tôi.
Sau này lớn lên tôi biết là má tôi bị đau tim nặng nên không làm được việc nhà
vì thế vai trò của chị Hai càng nặng nề hơn. Lúc nhỏ tôi hay bị ăn đòn và chị
Hai là người đánh tôi nhiều nhất, nhưng chị đánh không đau, chỉ giơ thẳng bàn
tay ra vả tôi nhẹ như đuổi muỗi. Dù vậy tôi cũng giả vờ kêu lên để chị vui và
tưởng là cú đòn có hiệu quả. Tôi bị chị đánh nhiều nhất là tội ở dơ và thường tắm
lội dưới ao bên hè nhà, chị gọi không chịu lên, hoặc lên mà lên trễ. Chị có
thói quen vừa nắm cánh tay tôi vừa mắng: “Coi mặt mày mầy nè, mầy ở dơ như tù!”
Miệng nói tay kia giơ lên cao và vảnh bàn tay lên dọa nạt. Thấy thế tôi lấy hai
tay che mặt và cúi rụt người xuống né tránh. Trong mười lần dọa thì chín lần chị
dừng tay. Trừ ra trường hợp nghiêm trọng thì chị vả cho mấy cái, nhưng toàn
trúng vào hai bàn tay của tôi nên những cú đòn đó cũng chẳng có ép-phê gì! Thỉnh
thoảng má cũng đánh đòn tôi, phần nhiều là đánh bằng roi. Má bắt nằm sấp cúi mặt
xuống bộ ván ngựa. Và mỗi lần má đánh đòn đều có thủ tục khá lâu. Má cầm roi bằng
một que tre nhỏ, nhịp nhịp hàng chục lần vào mông thằng bé và bắt đầu kể đủ mọi
thứ tội của tôi ra, kể từ tội “tổ tông” trở xuống. Sau khi xong thủ tục, má tôi
hỏi:
Hôm đó má tôi đi vắng và tôi ngồi cạnh nồi hấp chờ đợi và thèm thuồng. Nếu má
tôi có ở nhà, chắc chắn bà chẳng đời nào cho tôi ngồi chực như vậy. Tôi vẫn
nghĩ giống như những lần má tôi làm bánh, trước sau gì tôi cũng được ăn! Khi
bánh chín, bà chủ nhà mở nắp vung ra, hơi bánh bốc lên thơm ngào ngạt, làm nước
miếng tôi tuôn ra cuồn cuộn. Cặp mắt bé thơ của tôi nhìn gần như muốn thủng lỗ
và làm thành “rễ tre” trên mặt mỗi cái bánh bò. Nhưng! Ôi chữ ‘nhưng’ thật quái
ác. Bà chủ nhà vô tình chậm rãi lấy từng chiếc bánh ra khỏi nồi hấp, để cho nguội,
xếp vào mẹt, đậy lại và... mang đi bán! Tôi ngẩn người tiếc rẻ vì chẳng được một
chiếc bánh nào. Mấy chục năm sau, tôi vẫn còn nhớ kỷ niệm đau thương của tuổi
thơ nghèo đói trong lúc tản cư này.
Chiều tối hôm đó tôi hỏi má vừa đi thăm Dì Tư về coi bệnh tình Dì ra sao. Má
đâu có biết là tôi hỏi thăm không phải vì quan tâm tới sức khỏe của Dì Tư mà vì
một ý đồ không lương thiện. Tôi gần như muốn nhảy cỡn lên khi nghe má nói Dì Tư
đau khá nặng, người nóng ran đang nằm trùm mền sau khi uống thuốc bắc và cạo
gió đỏ cả cổ và hai bên thái dương. Má tôi cũng nói có nhiều bà con trong làng
tới thăm và cho nhiều cam và hột gà, vì trong vùng ai cũng thương quý các Dì
phước.
Cô Tư có chồng và 3 con, đứa con gái nhỏ nhất tên Huệ, bằng tuổi tôi. Khi tản
cư xuống Cầu Đá thì Chú Sáu tôi đi lính cho Pháp. Còn Dượng Tư, chồng của Cô Tư
ít khi thấy có mặt ở nhà. Lúc đó tôi còn nhỏ quá nên cũng chẳng biết là Dượng
Tư tôi ở đâu và làm gì. Một ngày kia Chú Sáu đi trong toán tuần phòng và một
người Việt Minh bị sa vào ổ phục kích. Khi bị động, người đó chạy thoát thân
nhưng Chú Sáu và đám lính rượt theo bắn anh ta té xuống. Chú chạy tới định bắn
tiếp theo thì bất thần nghe người đó gọi tên mình “Cậu Sáu Vinh”! Chú tôi kịp
thời nhận ra đó là tiếng người anh rể của mình, Dượng Tư Bình, chồng của Cô Tư
tôi. Chú tôi kinh hoàng chạy lại bồng người anh lên, nhưng vết thương quá nặng
và Dượng Tư chết trên tay chú tôi sau khi trối lại: “Cậu Sáu! Anh không sống được,
cậu hãy giúp chị Tư lo nuôi 3 cháu!” Không phải nói, ai cũng có thể đoán biết
tâm trạng Chú Sáu tôi lúc bấy giờ như thế nào.
Khi đưa xác Dượng Tư về, bà con và hàng xóm tới đầy nhà tràn ra cả ngoài sân.
Nhà tôi kế bên nên chạy qua trước tiên. Người lớn vào nhà trước, trẻ con chúng
tôi đứng đầy ngoài sân. Tôi thấy mọi người đều khóc, riêng Cô Tư lúc đó khóc té
lên té xuống và có mấy bà kè hai bên tay cô tôi. Bất ngờ trong tiếng than khóc
rầm rĩ đó, tôi nghe một tiếng khóc rống lên thật to: “Anh Tư ơi! Chính em đã giết
anh! Tha thứ cho em anh Tư ơi!” Tôi chen vào nhà thì thấy Chú Sáu tôi đang ôm
xác Dượng Tư còn ướt đẫm máu và dính đầy bùn đất mà khóc lóc kêu gào! Nghe tiếng
khóc rống của Chú Sáu, mọi người khóc lóc thảm thiết. Lúc đó có lẽ tôi đã đổ tới
giọt nước mắt cuối cùng!
Về nhà, tôi lo xếp đồ đạc vào cái cặp da tôi dùng đi học. Việc đầu tiên là xếp bộ quần áo “ăn nói” gồm có một áo sơ mi trắng dài tay và một quần tây dài màu xanh, một cái khăn rằn, bàn chải răng và thuốc đánh răng là cục tròn như đá vôi, khi dùng thì thắm nước và mài bàn chải vào. Khi mua săn-đan ve,à tôi cũng nhét vào cặp đợi sáng mai lên xe mới mang vì ở nhà quê này có ai mang giày bao giờ. Quãng 5 giờ chiều, má dọn cơm cho tôi ăn để anh Sáu còn chở tôi xuống nhà thầy Quý. Tôi lên ngồi nhưng có ăn được gì đâu, chừng chị Hai nói không ăn cơm thì: "Không đi đâu hết”, buộc lòng tôi phải cố nuốt một chén cơm cho xong chuyện.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Đôi bàn tay mẹ - Hình ảnh người phụ nữ như hoa xương rồng trước thử thách
Đôi bàn tay mẹ - Hình ảnh người phụ nữ như hoa xương rồng trước thử thách Tình yêu trong tập truyện của Hồ Xuân Đà làm tôi suy nghĩ rất nh...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hồ Xuân Hương - Bà chúa thơ Nôm Thơ Xuân Hương lớn tiếng đả kích tất cả những nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến, từ đám sĩ tử, n...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét