Bà tư Bèo lại hét toáng lên. Tiếng người và tiếng chó
quyện vào nhau, xé nát màn đêm yên tĩnh trong con xóm nhỏ. Thỉnh thoảng cả xóm Rạch Chanh lại được một phen giật bắn
mình như thế. Hơn bốn chục năm trời, không đếm xuể đã bao nhiêu lần, riết cũng
chẳng còn ai lấy làm lạ, chắc cũng không có mấy người lấy đó làm phiền. Có
chăng là những ai chưa biết chuyện bà tư Bèo, chứ biết rồi thì thương còn không
hết! Tối nay cũng vậy. Cả cái xóm ven con rạch nhỏ xíu nghe tên đã
thấy chua lèm chua lét này lại được một phen hú vía. Một hai lần đầu thì cả xóm
còn kéo sang coi có phụ họa gì cho thằng Trọng được không, tội nghiệp, một thân
một mình nó lo cho bà ngoại. Nhưng dần dà thì ai cũng quen tai, người thì mặc kệ,
ngủ tiếp, người thì chui ra khỏi mùng, ngó về hướng nhà bà tư Bèo, lắc đầu, tặc
lưỡi, chạnh lòng. Đêm hôm khuya lơ khuya lắc, tối lửa tắt đèn thì ai cũng biết,
nhưng lại không biết phải giúp bà tư Bèo bằng cách nào. Có ai kiếm “thằng hai”
về cho bả được đâu? “Hai ơi! Thằng hai. Đừng bỏ má đi nữa mày ơi!” Bao giờ cũng thế, tiếng gọi thất thanh ấy của bà tư Bèo vừa dứt
một nhịp thì người ta đã nghe giọng thằng Trọng sang sảng chen vào. Cái thằng,
trời sinh đã có chất giọng to vang dõng dạc như trời gầm, nói lớn miệng riết
thành cái tật, má nó la hoài mà cũng có bỏ được đâu. Lúc nào thấy ngoại nói mớ
là Trọng lại dùng cái âm thanh trời phú đó vừa gọi vừa lay bà ngoại, “Ngoại,
ngoại! Ngoại ơi!” Ngoại nó tỉnh, người ta không còn nghe thêm chút dư âm nào nữa.
Cả xóm lại chìm trong vẻ yên ắng vốn có, rồi ai cũng tranh thủ chợp mắt lại, kẻo
hừng đông dậy không nổi để ra đồng. Còn bà tư Bèo, mỗi lần như vậy thì chỉ có
nước thâu đêm. Bà không dám nhắm mắt, kẻo những bước chân không một giây ngơi
nghỉ trên hành trình tìm cửa sống lại ùa về, rồi thấp thoáng bóng dáng những
con người lạc mất nhau để chưa bao giờ tương ngộ. Nơi ấy, ngày ấy, sống và chết
tưởng chừng chỉ cách nhau một đường ranh, mỏng tanh như chân tơ kẽ tóc. Bà tư lúi húi giở mùng chầm chậm chui ra ngoài. Bà cụ lom
khom, thò bàn tay run run chi chít những vết nhăn nheo khắc khổ nhặt cây gậy
tre được đặt ngay ngắn dưới gầm chõng. Thằng Trọng cũng dứt luôn cơn buồn ngủ,
dụi mắt vài ba cái rồi nó cũng nhanh nhảu chui ra khỏi mùng theo sau bà ngoại.
Dạo này mắt ngoại mờ nhòe, đi đứng liêu xiêu, sẩy chân một phát thì lại khổ. Thằng
Trọng lại trước bàn thờ, nhón gót, mò mẫm hồi lâu mới lấy được ống quẹt, rồi nó
mồi một ít lửa vào cây đèn hột vịt được đặt ngay ngắn kế bên lư hương. Ánh đèn
nhàn nhạt chiếu vào tấm trần đỏ trên trang thờ, hắt vào khuôn mặt ông ngoại thằng
Trọng trong di ảnh một màu đỏ thẫm, loang ra mờ mờ như vết máu. Quen miệng gọi đấy là di ảnh, chứ chẳng qua là một bức chân
dung được vẽ bằng bút chì, nhưng sống động như thật. Bức tranh thật theo lời
miêu tả của một người đàn bà ngoài đôi mươi, hoảng loạn ẵm con nhỏ trên tay, chạy
thục mạng từ một nơi đầy máu, nước mắt, tiếng la, và tiếng súng. Có lần thằng Trọng thắc mắc hỏi bà ngoại, sao ông nó không có
hình thờ như người ta mà chỉ có tranh vẽ thôi? Bà chăm chăm vào ánh mắt trong
veo hiện rõ sự tò mò của thằng cháu, bỗng cười nhẹ. Mấy vết nhăn của một cuộc đời
ngoài thất thập cũng không che được hai cái lúm đồng tiền của bà khi cười. Thằng
Trọng cái miệng dẻo đeo, lần nào má nó về thăm ít hôm nó cũng đeo theo khen
hoài, “má cười có hai đồng tiền đẹp y chang như bà ngoại…” Lần đó nó hỏi, không biết là bà ngoại cười thiệt hay là gượng
cười để giấu đi một nỗi niềm gì đó. Nó cảm nhận và biết chắc ăn rằng là ngoại
đang đau, đau đến mức con người ta chẳng còn nước mắt đâu để khóc, chỉ biết bặm
chặt môi như dồn nén sự căm hận cái phận đời. Bà lặng thinh nhìn nó hồi lâu,
không trả lời, đôi môi khép chặt, run run như muốn thốt lên một điều gì đó, uất
ức và khổ tâm. Những lúc đó, nó dòm vào cổ của bà khi nuốt nước miếng cứ gường
gượng như người ta hóc xương cá. Nó cũng không hỏi dai, bởi nó biết rành ráo trọi,
chẳng qua là nó muốn nghe chính miệng bà kể mà thôi. Ngặt một nỗi, có bao giờ hỏi về ông, về cậu hai, về cái quá
khứ ngày xửa ngày xưa mà ngoại nói ra được đâu? Lần nào ngoại cũng cười nhẹ, cười
thành tiếng, ừ ờ rồi se thắt lại. À mà có! Những lần bà ngoại nói mớ, ngoại gọi
cậu hai. “Hai ơi! Thằng hai. Đừng bỏ má đi nữa mạy ơi!” Thằng Trọng nghe má nó kể nhiều về “chuyện hồi đó” của bà ngoại
mỗi khi má về mấy ngày Tết ta. Nhưng cũng không nhiều bằng ông út kế bên nhà,
có chiều nào mà nó không qua nhà ông út học lỏm cái nghề gia truyền. Ông út tên
Họa, cả xóm đọc trại ra hay do nghe nhầm mà toàn gọi ông là út “Quạ”, riết
thành quen. Ông kể cho thằng Trọng nghe chuyện hồi đó bốc thôi nôi, hai tay ông
vớ cây bút chì với tờ giấy, ngồi cười toe toét. Ba má ông không một chút bất ngờ,
con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Tên Họa là do cha ông đặt, tính
luôn ông là đã bốn đời sống bằng nghề này. Họa nghĩa là tranh, là vẽ, là hội họa.
Bức chân dung ông ngoại thằng Trọng trên bàn thờ là do ông út vẽ chứ ai. Lần đó, khi kể cho nó nghe “chuyện hồi xưa” của bà ngoại. Ông
cũng nghèn nghẹn, hớp miếng rượu chuối cay sè, rồi khà ra một hơi dài dằng dặc
như níu kéo lại chút dư âm quá khứ… “Bà cha! Rượu nó cay y chang như cuộc đời
bà ngoại mày vậy!” Ông trầm ngâm, mải miết ngó ra bờ sông hồi lâu, mấy giề lục
bình vào mùa trổ bông tím biếc, lênh đênh. Nó đến từ đâu, đi về đâu, không ai
biết, nhưng may ra nó vẫn còn vẹn nguyên là nó, vẫn tím, vẫn xanh, vẫn sống. “Hồi đó, lúc ngoại bây ẵm theo má bây mới chạy dìa đây chẳng
khác nào như cái xác không hồn, điên điên dại dại. Quần áo rách bươm như mới bị
cọp vồ. Tay bòng theo má bây, chưa biết nói. Trên đầu thì dính đầy trái ké. Cả
mấy trăm cây số đường, hổng ai biết bằng sức lực kiểu gì mà ngoại bây trôi dạt
tới được đây…” Vừa nói, ông út Quạ vừa dán mắt lom lom ra cái sàn lãng nhuộm
màu nhàn nhạt của mấy vệt nắng chiều mỏng mảnh. – Hồi đó ngoại con có nói gì không thầy? Thằng Trọng lanh miệng
hỏi. – Hồi nào? – Thì hồi mới chạy dìa đây. – Nói đúng mấy chữ “Miên, Miên…” Vừa nói vừa run cầm cập, đói
meo, rồi ôi thôi là nước mắt, nước mũi… Cả tháng trời, bả mới bình tâm chút đỉnh,
nói được tên, được tuổi. Mà ngặt nỗi, tâm thần thì như bây thấy đó… Từ dạo đó tới
nay, lúc thì khóc, lúc thì cười… Năm đó dân Ba Chúc, núi Tượng, Vĩnh Gia chạy Miên về xứ này
cũng bộn, nên chuyện Khơme Đỏ giết chóc bất nhơn thì già trẻ ai cũng biết ráo
trọi. Cả xóm Rạch Chanh hùn hạp lại cho bà tư Bèo cái nhà nhỏ nhỏ bằng tre nứa ở
tạm. Mới giải phóng được vài ba năm, cảnh ai cũng khó như ai. Thiếu tiền hụt gạo,
nhưng cái nghĩa cái tình thì cứ đầy ăm ắp. Nói theo mấy ông nhà Nho của xứ này,
“Kiến ngãi bất vi vô dõng giả, lâm nguy bất cứu mạt anh hùng”. Thằng Trọng ngồi im bặt, ôm gối cúi đầu như muốn che lại đôi
mắt đỏ kè, chắc nó đang biết ơn và thấy thương cái xứ này dữ lắm. Trọng hướng mắt
về đường chân trời chiều tà. Ranh giới giữa ngày và đêm mỗi lúc một thu hẹp
trong tầm mắt, đến lúc mất dần, đêm tràn xuống, phủ kính cánh đồng. Thằng Trọng
lại hình dung về những điều ông út kể… Đã lâu lắm rồi, người ta không còn thấy hình ảnh bà tư Bèo chạy
hớt ha hớt hải trên con đường xóm nhỏ, vừa chạy vừa la, vừa gọi con đến khàn cả
giọng. Hơn bốn mươi mùa gió bấc kể từ cái ngày định mệnh, bà tư giờ đây trầm lặng
hơn, chỉ khi thoảng có những giấc chiêm bao gặp cậu hai dìa thăm mới làm bà la
toáng lên, gọi và níu kéo trong vô thức, nhưng rồi vô vọng lại bao trùm. Bà tư Bèo lọ mọ cả buổi mới cắm được ba cây nhang vào bát. Thằng
cháu ngoại đòi để nó cắm cho, già cả, leo gì nổi. Nhưng bà cụ đâu
có chịu, nhìn nó bằng cặp mắt ngây ngây dại dại, “tao cắm, xích ra, tro phỏng
à!”. Thằng Trọng cũng chỉ biết dạ dạ chiều theo bà. Nó đứng sát bên hông, nhìn
bà ngoại thắp nhang, không dám chớp mắt, kẻo bà ngã một phát thì lại khổ, má nó
hay được chắc sấp ngửa chạy về quánh nó nát mông. Dạo gần đây sức khỏe bà xuống
dốc trông thấy rõ. Trận tụt huyết áp vừa rồi như báo hiệu rằng chuối đã chín muồi.
Bà tư Bèo cũng cảm ứng được điều đó. Ngày nào mà bà không ngồi bệt trên cái sàn
lãng cũ kĩ bắc bằng bạch đàn dưới bến sông nhà ông út mà lẩm bẩm cái tâm nguyện
chưa thành. “Thằng hai, mày ở đâu hả con? Chừng nào mới cho má ôm đây hả?” Thằng Trọng học lỏm nghề vẽ của ông út cũng gần giáp năm nay,
tay nghề nó lên trông thấy rõ. Nhớ mấy tháng đầu tiên, ông út chê nó hoài “vẽ
gì mà cái tay cứng ngắc cứng còng”. Cái thằng cũng chịu khó, chắc cũng nhờ lời
động viên quen thuộc của thầy út “cần cù bù tư chất mày ơi!”. Cứ đến chạng vạng,
khi mà thằng Trọng giăng mùng cho bà vừa xong, chốt cửa cẩn thận, nó lại nhanh
nhảu xách vài ba tờ giấy a tư, cây bút chì, cục gôm sang nhà ông út, chưa tới cửa
đã nghe giọng nó dõng dạc, thưa thầy con mới qua! Ông út không kiếm sống bằng
mười cái hoa tay của mình, có ai nhờ thì ông cũng toàn vẽ giùm, vẽ tặng. Nhưng
đặc biệt một điều, ông họa sĩ này không nhận vẽ người còn sống. Ông bảo chỉ có
vẽ từ thiện cho người quá cố mới làm ngòi bút ông toàn tâm toàn ý, không bị vật
chất tiền tài chi phối, khắc họa cái vô thường làm cho tâm hồn người ta cảm nhận
sâu sắc hơn cái lẽ vô thường. Thằng Trọng nghe vậy thì biết vậy, chứ nó cũng chẳng
thông hiểu được bao nhiêu cái lời thầy dạy. Ông út bỗng trầm ngâm hồi lâu. Thời bây giờ dân chúng có điều
kiện, người ta đi chụp ảnh hết cả, ai đâu còn nhờ vẽ tranh để thờ nữa! Trừ khi
họ không có ảnh chụp để phóng lên mà thờ, chỉ nhờ vào bóng hình người thân
trong tiềm thức để mong được tái hiện lại qua giấy trắng, ngòi chì. Giống như
ông ngoại mày hồi đó! Bà ngoại mày diễn tả mà thầy vẽ đi vẽ lại cả chục lần bả
mới gật gù hô giống. Thấy mặt nhau, biết mặt nhau mà đôi khi vẽ lại cũng đã kỳ
công. Huống hồ hơn bốn chục năm trước, ông út vẽ theo lời miêu tả của một người
đàn bà bước về từ cõi tử, hồn vía hết ba bốn phần vướng lại mấy bụi ngưu ma
vương dưới chân núi Tượng. Lần đó, bà ngoại dòm bức tranh mới phác thảo xong mà nhảy cẩng
lên “Ông ơi, ông à ông…”, vừa kêu, bà vừa khóc nấc, rồi đột ngột ngửa đầu cười
lớn với ông trời như tống hết sự u uất trong tâm can ra ngoài, bà ngoại lại
khóc tiếp. Nơi khóe mắt của một cô gái ngoài đôi mươi đầm đìa như mấy con kênh
nhỏ giữa đồng, thẳm sâu trong đấy là tràn lan cái màu của máu, cái vị mằn mặn của
nước mắt. Ông út Họa vừa vui vì vẽ giống, vừa thở dài một hơi rõ to, rõ ảm đạm
như quẹt lên không trung một gam màu tối tăm, ảm đạm trùm lên và ép chặt đến ngột
ngạt mảnh đất và con người Ba Chúc năm đó. – Mà thầy! Bộ bà ngoại con biết được là cậu hai còn sống hả
thầy? – Ai biết đâu! – Tới thờ cũng chỉ thờ mỗi ông ngoại, không thờ cậu hai. Hỏi
má thì má hô bà ngoại nghĩ cậu hai còn sống, nên không thờ, không thắp nhang. – Ừ! Lắm khi mẫu tử liền tâm. Hồi đó bả kể trong nhà còn thằng
hai, lúc chạy giặc thì ông ngoại bây ẵm nó. Chạy ít lâu thì ngoái lại thấy khói
lửa phủ mịt mùng lên hai cha con. Vậy mà bả cứ khăng khăng là thằng nhỏ còn… Đứt
ruột! Cả xóm cũng tin là con trai duy nhất của bà tư Bèo còn sống,
nói đúng ra là hùa theo cho bà cụ vui, không ai dám nói ngược ý bà, mỗi khi
kích động là bà cắm đầu cắm cổ chạy ra đường, “Tụi bây nói tầm bậy tầm bạ. Thằng
hai tao còn sống. Nó mới dìa thăm tao hồi khuya đây nè! Để tao dìa trỏng kiếm
nó”. Người ta lao ra ôm bà lại, có ai lại cho bà đi. Biển người mênh mông, chẳng
biết người xưa có còn ở nơi chốn cũ? Còn tại nhân gian hay đã ra người thiên cổ?
Hay cũng giống như bà tư Bèo, lạc trôi xứ người mà không một phút giây nào thôi
day dứt cho những điều xa xôi dĩ vãng. Ngày ấy tụi nó càn sâu, quét hiểm, người
với rơm rạ trên đồng có khác biệt gì nhau? Biết bao sợi rơm không còn vàng ươm
sáng màu, mà loang loáng những vệt đỏ thẫm, nặng nề cái nỗi căm hờn bọn lốt người
dạ quỷ. Chiều nay, cũng trên sàn lãng thân quen dưới bến sông nhà ông
út. Bà tư Bèo một chân thả lỏng ngoáy ngoáy dưới con nước đang lên, rồi thì thầm
khẽ khàng như người say đang hát. Mắt bà vô hồn, dõi qua bên kia sông, cánh đồng
vừa đốt còn nực mùi khói rạ, những sợi tro mỏng te bị gió cuốn bay tứ tung, bám
đầy trên tóc, trên mặt, trên những vết chân chim của ngoại. Mặc kệ, bà vẫn gọi,
“Thằng hai!”. Tro bay vào miệng, dính trên đầu lưỡi mặn chát như vị đời. Bà
quay qua phun phèo xuống sông, lại gọi “Thằng hai!”. Trọng ngồi kế bên bà, trên tay là quyển sách, nó vừa coi chừng
bà ngoại, vừa học bài. Những rơm rạ vừa được lửa hóa kiếp thành tro bay đầy
theo gió, dính trên trang sách sử mới tinh, nhuộm đen thui mấy dòng ghi chép về
những ngày cuối cùng của mùa khô năm bảy mươi tám. Chiều về, như mọi chiều. Tiếng cô phát thanh viên quen thuộc
vang vang ngoài ngõ, bình dị, thân thương. Hôm nay chẳng hiểu sao cô lên muộn mất
mười lăm phút. Đã lên muộn, hôm nay cô còn làm bà ngoại khóc nức khóc nở. Cô
đang nói về chủ đề mà thằng Trọng quan tâm, bởi nó vừa được nghe cô giáo giảng ở
trường hồi tảng sáng, còn bà ngoại thì không bao giờ muốn nghe lại, dù chỉ một
lần trong đời. Bà đã cố quên bẵng nó đi. Vậy mà hôm nay… Ngoại khóc thì cũng không có gì lạ lẫm. Thỉnh thoảng ngoại
cũng hay ngồi khóc một mình, ai hỏi gì thì hỏi, ngoại vẫn thản nhiên mà khóc.
Nhưng chiều nay, mọi thứ đều lạ! “Tao muốn dìa thăm Ba Chúc một lần chót trong đời, Trọng ơi,
Trọng!” Nó ngơ ngác nhìn vào đôi mắt đỏ ngầu của bà ngoại. Bà lặp lại câu nói bốn
lần, rồi năm, rồi sáu lần như khẩn thiết. Lần đầu tiên trong đời nó nghe ngoại
nhắc đến Ba Chúc, chắc ai trong xóm nghe được cũng chưng hửng như thằng Trọng.
Đó giờ toàn nghe bà tư Bèo gọi “thằng hai”, chẳng nói ở phương trời nào rõ
ràng, cụ thể. Mà chiều nay, Ba Chúc bất ngờ chảy tràn ra trong cái giọng khàn
khàn và hụt hơi của ngoại. Thằng Trọng thấy mắt bà cụ sáng rực lên hệt như người
ta nghe được tung tích của kho báu. Phải chăng cái tên của nơi chôn nhau cắt rốn
làm lòng bà khác lạ? “Ngoại! Ngoại chưa bớt bịnh, còn yếu. Đi xa sao nổi mà đi?”,
thằng Trọng vừa nói vừa cười hề hề. Bà tư im bặt, vẻ mặt chốc tối sầm lại. Bà ngồi bệt xuống,
giãy nảy đùng đùng trên sàn lãng “Mày chở tao dìa Ba Chúc đi mà Trọng. Nghen!
Thằng hai tao ở trễn mình ên nó buồn đó!” Thằng Trọng ôm chầm lấy dáng người gầy
còm của ngoại, chợt nó không còn cười nổi, rồi hai bà cháu rưng rức với nhau.
Thằng Trọng cũng không biết tại sao nó khóc, chắc nó khóc lây bà ngoại. Nó nhanh chóng cố nén nước mắt, dõng dạc từng chữ nghe chắc nịch.
“Đợi vài bữa nữa bà ngoại thiệt mạnh, con thi xong cái bằng lái xe rồi con mượn
xe củathầy út chở ngoại dìa Ba Chúc kiếm cậu hai nghen ngoại!”. Bà tư Bèo nghe
thằng cháu ngoại hứa xong bỗng đứng phụt lên, kéo vạt áo bà ba lọng cọng lau sạch
nước mắt nước mũi, cười toe toét, rồi bà nhanh nhảu cúi xuống ôm đầu thằng Trọng,
hôn chụt chụt vô trán nó mấy cái. Bà đâu biết rằng thằng cháu ngoại hứa lèo cho
bà vui. Một thằng đó giờ mải miết quẩn quanh ở cái “hóc bà tó” này thì làm sao
biết đường đưa ngoại hồi hương tìm khúc ruột đã lạc mất nhau cả mấy chục năm trời
đằng đẵng. Nhưng nó cũng tò mò lắm! Quê ngoại, quê mẹ, quê cậu, cái nơi
mà nó chưa một lần ghé thăm, chỉ nghe kể và đọc được nhiều trên các trang sách
báo. Nghe đâu bây giờ, trên đó đã là thị trấn sầm uất, nhà cửa náo nhiệt, xe cộ
tấp nập… Nhưng nếu có về thì chắc hẳn trong đầu bà tư Bèo cũng chỉ hình dung ra
những cánh đồng chết, những con đường đầy xác người, những mảnh xương nằm vương
vãi trong lùm cây, bụi cỏ, bờ mương… Nhưng biết đâu ngày ngoại về đấy, ngoại sẽ
gặp lại và ôm chầm lấy cậu hai, khóc nức nở, hôn chụt chụt vào trán cậu mấy cái
rõ to như hôn thằng Trọng. Khung cảnh ấy chắc chắn là mỹ mãn nhất đời bà ngoại, bà tư
Bèo, hơn nửa đời người lênh đênh vô định trong miền ký ức đỏ thẫm. Giây phút
đó, thằng Trọng sẽ dùng hết tay nghề học được từ thầy út, vẽ một bức tranh tổ
chảng cho bà ngoại. Bức tranh có núi Tượng xa xa mờ ảo trong sương mù ban mai,
có cánh đồng Vĩnh Gia đang vào vụ gặt, có hàng thốt nốt xanh um sai buồng nặng
trĩu, và có cảnh tương phùng của máu mủ tình thân. 21/2/2025 Lê Văn Nhân
Theo https://vanvn.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét