Thứ Hai, 7 tháng 7, 2025

Âm thanh

Âm thanh

Lê Kiên Thành và các nhân vật trong truyện ngắn Âm thanh là lớp thanh niên sinh ra cuối chiến tranh chống Pháp và lớn lên trong chiến tranh chống Mỹ. Chuỗi truyện ngắn Lê Kiên Thành thực hiện kể về họ, lớp lứa thanh niên một thời có một đời sống trong sáng lãng mạn.
Như nhà văn Nguyễn Khắc Phê nhận xét, Âm thanh chỉ như một truyện tình thơ mộng nếu tác giả non tay. Những chi tiết càng gần về cuối truyện đẩy Âm thanh gửi gắm thông điệp không thường không chỉ của thanh niên Việt một thời mà nó mang tầm nhân loại, đấy là sự yêu yêu thương cần mất mát hy sinh – chi tiết Thu quay về bản, dạy dỗ giúp đỡ các trẻ em với cái vòng tay huyền bí nâng tầm truyện lên một tầng nấc mới.
Lê Kiên Thành nguyên là phi công bay thử, sau khi hết tuổi bay anh là một doanh nhân ít nhiều thành đạt. Lê Kiên Thành chưa khi nào định trở thành nhà văn, thậm chí anh viết chỉ để vui với bè bạn một thời, cũng như nhắc nhớ một thời thuộc thế hệ anh, nhưng nghệ thuật cấu trúc xây dựng truyện ngắn của anh tỏ ra khá có nghề. Lối kể nhẹ nhàng, ngôn ngữ đời thường nhưng vô tình phản ánh được một thời của những thế hệ thanh niên mà chính họ nối bước cha anh làm những điều có ích cho đất nước.
NHÀ VĂN NGUYỄN VĂN THỌ giới thiệu
1. Hồi mới bước chân vào lớp 8A, người tôi để ý đầu tiên là Thu. Bạn ấy có khuôn mặt bầu bĩnh, mắt to tròn luôn ánh lên vẻ tinh nghịch, khiêu khích như muốn nói rằng, này, bạn chẳng thể biết tớ là ai đâu!
Tôi là trai phố cổ. Dẫu năm tháng dài sơ tán xa Hà Nội cũng không làm phai nhạt phong thái tự tin, đĩnh đạc rất riêng mà cái không gian cổ kính, thiêng liêng đã ngấm sâu vào từng con người nơi ấy. Thế mà đứng trước Thu, tôi cứ lúng túng, không tự chủ và luôn cúi xuống khi hai con mắt to đẹp ấy nhìn thẳng vào mình. Đó là điều khiến tôi bứt rứt, hổ thẹn vô cùng.
Ngoài học giỏi, chơi bóng bàn tuyệt hay, Thu còn có giọng hát kỳ lạ. Trong và truyền cảm. Sinh hoạt ở Nhà văn hóa thiếu nhi, Thu đã có vài bài hát được thu và phát trên Đài tiếng nói Việt Nam và, đó cũng là niềm tự hào của trường chúng tôi.
Cùng một nhóm bạn, chúng tôi hay đi cùng nhau trên con đường tới trường và về nhà rợp bóng mát của hàng sấu cổ thụ. Cứ bắt đầu bước vào đầu con phố ấy là Thu lại cười rất tươi: “Ê, Nam, cầm hộ tao cái cặp!”.
Cả trăm lần tôi muốn nói không để giữ giá thì cả trăm lần tôi ngoan ngoãn đưa tay ra, rồi khệ nệ xách hai chiếc cặp, chẳng biết nhét gì bên trong mà nặng khủng khiếp.
Bù lại, dù giả vờ như không để ý, nhưng tôi lại có được sự thích thú ngọt ngào khi ngắm Thu vừa nhảy chân sáo trên vỉa hè và vừa nói chuyện như bắn liên thanh với các bạn, rồi bất chợt lại im lặng, mắt lim dim, vừa đi vừa phập phồng cánh mũi hít hà mùi hoa sấu, trông thật ngộ.
Bố của Thu là cán bộ chắc cũng khá nên Thu ở trong một căn biệt thự gần cuối con đường đó. Ở chung với một gia đình nữa, bạn nói vậy. Đến trước cổng nhà, lấy cái cặp trên tay tôi, mắt nhìn đi chỗ khác, Thu chỉ nói: “Mai nhé!”.
Chẳng biết là mai gặp hay mai lại cầm hộ cặp.
Các bạn biết không, trong quãng đời đi học của mình, chưa bao giờ tôi lại cứ mong trời mau sáng để tới trường, chưa bao giờ lại khó chịu vì quãng đường đi học lại ngắn đến thế, như lúc đó.
Mẹ tôi có hôm cau mày nhìn tôi đang ngồi học, hỏi:
– Bài khó hay sao mặt cứ ngẩn ngơ thế?
– Vâng ạ!
– Thế sao lại tủm tỉm?
– À, là con nghĩ… chắc cả lớp cũng chẳng ai làm được!
Quay sang bố tôi, bà cười:
– Ông có hiểu trẻ con bây giờ không?
Bố tôi nói ý nhị: “Chúng nó là chúng mình hồi xưa thôi!”.
Tôi học cũng khá, nhất là môn văn, nhưng ngoại hình thì bình thường hơn cả bình thường. Cao ngỏng và gầy nên ở lớp bọn con trai gọi là “Nam sào”. Chỉ có một tài mà ít ai biết là tôi vẽ rất giỏi và rất thích vẽ. Nhà của bố mẹ tôi thì thật buồn cười: cửa thì ở Hàng Cân, đi sâu vào một ngõ tối và hẹp, qua bao nhiêu nhà khác, leo lên một tầng và cửa sổ lại mở ra Hàng Ngang! Trong nhà, tôi treo đầy tranh của mình, nhưng cuối năm lớp 8 tôi tháo hết, chỉ giữ lại bức đầu tiên tôi vẽ lúc 5 tuổi và bức cuối cùng tôi vẽ đôi mắt của Thu.
Không biết có phải tại tôi vẽ giỏi không mà từ khi có bức tranh “Đôi mắt” đó tôi như thấy mình chia sẻ được nhiều điều vui buồn trong cuộc sống của đứa con trai một mà đôi khi cũng rất cô đơn, buồn tẻ. Ánh mắt ấy cười mỗi khi tôi làm một việc tốt, nghiêm khắc mỗi khi tôi mắc lỗi, thật là lạ!
Hôm đấy là sinh nhật Thu, mấy đứa hay đi cùng đường được mời “tối đến nhà tao đi, ông bô, bà bô đi ăn cơm khách tới khuya cơ, tha hồ phá!”.
Cả bọn phân công nhau: con gái mua hoa, con trai mua bánh ga tô!
Khác hẳn với hình dáng đồ sộ bên ngoài của một ngôi biệt thự Pháp, hai căn buồng của nhà Thu thật giản dị. Trên tường treo hình hai ông bà lúc là bộ đội, ảnh hai chị em Thu khi còn nhỏ và cũng như nhiều nhà lúc đó, có hình Cụ Hồ ở vị trí trang trọng.
Đó là một buổi chiều cuối thu, trời đã se se.
Ăn uống, trêu đùa nhau chán chê, tự nhiên không khí bỗng chùng xuống. Thu với tay lấy cây đàn ghi ta và quay sang tôi: “Mày chạy ra tắt đèn hộ tao đi!”. Khi chỉ còn ánh sáng của hai ngọn nến, Thu dạo đàn và cất tiếng hát: “Nắng tỏa chiều nay, chiều tỏa nắng đôi bờ anh ơi…”, chúng tôi nhìn nhau thảng thốt! Ngay sau câu đầu tiên, căn phòng bỗng ấm lên như có ánh nắng mùa hè chiếu vào, điều gì lạ vậy?
Khi Thu hát đến đoạn: “… ôi mênh mông sóng xô khiến thuyền ta xa bờ…” chúng tôi cảm tưởng mình đang ngồi trên con thuyền đó, và hương vị mặn mòi của biển cả tràn ngập cả căn phòng.
Rồi khi bạn hát tiếp bài “Làng lúa, làng hoa” thì không gian lại đầy hương lúa chín, có cả gió và thoang thoảng mùi sen hồ Tây nữa!
Bài hát kết thúc, nhìn năm cái mồm mở hết cỡ mà không ngậm lại được, Thu bật cười: “Ê, tỉnh đi, tao đây!”. Chúng tôi chợt nhận ra năm đứa đang nắm chặt tay nhau nửa như sợ rơi xuống biển, nửa như sợ bị lạc vào cõi hư vô nào đó mà không tìm được lối về.
“Tao sẽ kể cho chúng mày nghe chuyện của tao với một điều kiện là không đứa nào được kể lại cho người khác, được không?”. Chúng tôi không ai nói được nên lời, mắt chỉ chớp chớp ra hiệu đồng ý và nắm tay nhau chặt hơn để nghe Thu kể chuyện.
2. Thu kể:
“Hồi chống Pháp, bố mẹ tao sống và hoạt động trên Cao Bằng. Có lần tình cờ bố tao cứu sống một cậu bé bị nước cuốn trôi và gia đình người dân tộc đó cứ bắt bố phải mang thêm họ Vàng vì đó là đứa con trai duy nhất của dòng họ, những người khác bị bệnh tật, tai nạn mà chết cả. Lúc Mỹ ném bom, gia đình gửi hai chị em lên đó và được mọi người quý như vàng. Cái gì ngon nhất, bổ nhất, chỗ nào ấm nhất, êm nhất cũng là để cho Thu và Xuân (em gái Thu). Đường sá xa xôi, thỉnh thoảng chỉ bố lên thăm, lần nào gia đình cũng mổ lợn, giết gà thết đãi. Một lần tao còn nghe trộm trưởng bản nói nhỏ: “Bác phải đẻ con trai đi chứ, cần, chúng tôi kiếm cho một hay hai cô thật đẹp, thật ngoan”. May mà bố giãy như đỉa phải vôi, không thì cũng chết với tao, chứ ở đấy mà trai với gái! Học bài xong, tao hay ngồi xem mẹ bác chủ nhà dệt vải, hứng thì bi bô hát. Bà nghe, rồi thỉnh thoảng ngừng tay, nhìn tao lạ lắm. Đến một hôm, hai bà cháu ngồi trên thềm nhà, bà thủ thỉ:
– Thu à, có biết tại sao chim hót, gà gáy thì trời sáng không?
– Lúc đấy chúng nó ngủ dậy phải không bà?
– Không phải, chúng nó nói tiếng nói của Giàng (ông Trời) gọi ánh sáng về đấy cháu ạ.
Rồi bà im lặng, đôi mắt nhìn xa xăm về dãy núi phía bên kia.
– Bố con đã giúp chúng ta duy trì được dòng họ thì có lẽ Giàng thưởng cho con một giọng hát mà sau này con sẽ dùng để giúp người đấy. Khi nào 20 tuổi cố gắng lên đây, ta mong lúc đó vẫn còn sống để đưa con đến một nơi…
Tao nghe mà chẳng hiểu và cũng chẳng để ý. Khi bố mẹ đón về Hà Nội, chia tay, bà chảy nước mắt, ôm tao và nói nhỏ: “Hai mươi tuổi lên thăm bà nhé!”.”
Bọn chúng tôi ngồi gần như nín thở để nghe Thu kể. Bên ngoài, gió thổi dường như mạnh hơn, khí trời như lạnh hơn, hai cây nến lung lay ánh lửa như ai đang muốn tắt, làm câu chuyện thêm kỳ bí.
Thu lại kể tiếp: “Tao cũng quên câu chuyện đó cho đến cách đây vài tháng, ngoài trời khi ấy đang mưa nên tao vác cây đàn ra hát. Tự nhiên thấy giọng mình vang hơn, ấm hơn, như đang hát qua micro vậy. Tao nghĩ, chắc mình đã lớn. Nhưng lạ là trong phòng cứ thoang thoảng mùi hoa và ngạc nhiên khi mẹ đi qua và nói:
– Con mới mua hoa trong chậu đấy à? Mẹ chưa kịp vứt hoa héo, định chủ nhật đi chợ mua luôn thể.
Bụi hoa đã héo sao tươi trở lại, còn tỏa hương thơm như có cả vườn vậy. Và lời căn dặn của bà lại làm tao bừng tỉnh, lạ thế đấy chúng mày ạ.”
Thu ngừng kể, nhìn chúng tôi, còn chúng tôi nhìn nhau. Tôi liếc thấy thằng Sơn đang lén tự cấu cấu vào đùi xem có phải ngủ mê không, chắc thế.
– Chúng mày là những người duy nhất tao kể chuyện này, hãy giữ cho tao như đã hứa. Hãy đến nghe tao hát vì tao rất cần có người nghe, nhỡ mai sau có điều gì tốt thì là công chung của cả bọn, được không?
Sau ngày hôm đó, chúng tôi tự nhiên ít nói cười hẳn, nhưng lại cảm thấy thân thiết với nhau hơn lúc nào hết, vì chúng tôi có chung một điều bí mật vĩ đại, có chung một người bạn kỳ diệu vĩ đại. Thực ra tôi có đọc trong một cuốn sách nói về một nhà sư ở Tây Tạng cũng làm được điều gần như thế khi vuốt tay qua một khóm hoa thì hương thơm tỏa ra. Nhưng đây là bạn tôi, ngay cạnh tôi, làm được điều đó bằng tiếng hát, bằng âm thanh. Quả là vi diệu!
Tôi thức ba đêm để vẽ thêm hai bức tranh nữa: mũi và miệng của Thu. Mũi thì tôi nhớ lúc Thu phập phồng hít hương hoa sấu. Miệng là lúc bạn đang vừa ngân, vừa hơi cười và nắng thì tuôn trào, ấm áp.
Ba bức treo gần nhau trên ba tông màu xanh, hồng, nâu đẹp đến mức mẹ tôi ngắm và bảo: “Đừng nói đây là bạn gái của con nhé! Sao không vẽ nguyên cả khuôn mặt mà lại…”.
Tôi thì đắng lòng: “Đấy là đứa toàn gọi con bằng thằng Nam, mẹ ơi!”.
3. Chủ nhiệm lớp tôi là cô Hiền, dạy văn. Một hôm, cô gọi tôi ra hành lang, hỏi:
– Ở nhà có chuyện gì phải không em?
– Dạ không ạ.
– Tại cô thấy em có gì hơi khác, chẳng còn hăng hái giơ tay phát biểu, trong lớp hình như cũng không tập trung. Nếu không có gì thì tốt, bọn em chuẩn bị đi thi văn cấp thành phố, cố gắng nhé!
Không phải hơi khác đâu cô ơi, mà đã vô cùng khác mới đúng, tôi nghĩ.
Cái buổi tối kỳ lạ ấy, không biết mấy đứa kia thế nào, đã thay đổi hoàn toàn cách nhìn về cuộc sống hiện tại của tôi. Còn cái gì mà chúng ta chưa biết với những người quanh ta vậy? Chắc là nhiều vô kể! Một cô bé, dẫu có học giỏi, đánh bóng bàn giỏi, thật khó có thể là thiên thần. Thế mà…! Tự nhiên, tôi hòa nhã, tốt bụng với tất cả bạn, kể cả thân lẫn sơ, biết đâu đấy, có ai bỗng nhiên lại…
Tan học, ra khỏi cổng trường tôi đã chủ động lấy cặp từ tay Thu trước cái nhướn mắt ngạc nhiên của bạn. Thỉnh thoảng lại dúi một thanh kẹo lạc rồi quay ngoắt đi để khỏi nghe lời từ chối (hay cám ơn). Những hôm bố mẹ Thu vắng nhà, chúng tôi lại đến nghe bạn hát. Không có người nghe hát không hứng, bạn đã bảo thế. Và chúng tôi chứng kiến biết bao điều kỳ lạ của âm thanh.
Có hôm, bạn cất tiếng: “Hò ơi, ơ… ới thuyền ơi…” thì cái “ơi” như một quả bóng bay, bay từ người này đậu sang người khác trong căn phòng ấy, gần đến mức tôi nghĩ mình có thể nắm nó vào trong bàn tay. Hôm thì bạn bảo, khi vui, âm thanh sẽ có màu hồng, và hát xong bài dân ca Ý thì cả căn phòng ánh lên như đang có ngọn đèn hồng rọi vào vậy.
Chúng tôi cứ chết lên chết xuống vì đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Riêng Thu, bạn chẳng có gì thay đổi, như đó chỉ là một trò chơi mà ai rồi cũng sẽ chơi được, nếu cố gắng, thật lạ!
Có lần, đi thăm cô dạy lý bị ốm về, Thu đố xem ai đi xe đạp trên đường xe điện lâu hơn, đứa nào thắng, muốn gì cũng được. Tôi “ok” luôn. Đường xe điện có chỗ lõm sâu và có chỗ phẳng chỉ vừa cái lốp xe thôi, đi trên đó là trò tôi chơi từ lâu lắm. Đứa trước đứa sau, hai ba cùng cho bánh xe vào đường xe điện. Thật không ngờ, Thu đi như trên đường phẳng, vừa bon bon, vừa hát vang! Tôi chỉ chạy được một quãng là chịu thua. Thật nhục! Về đến trước cổng nhà, Thu hất hàm hỏi: “Bây giờ sao?”. Tôi ngượng ngùng: “Thì bây giờ sao?”. Thu bật cười, nheo mắt: “Tao hỏi thật, nếu thắng, mày muốn gì?”. Tôi im lặng một giây, nhìn đi chỗ khác: “Tao muốn mày gọi tao bằng tên thôi, như thế có được không?”. Tôi ngượng chín người khi Thu phá lên cười ngặt nghẽo. Lau vội nước mắt, vừa dắt xe qua cửa, vừa quay lại, Thu nói trong tiếng cười: “Đến năm 40 tuổi nhé!”.
Hôm sau, giờ ra chơi, Thu đi ngang qua bàn, vứt cho tôi mẩu giấy trong đó ghi: “Ê, thua cuộc, khi nào cần, đi với tao lên Cao Bằng nhé!”. Thu biến nhanh sau cánh cửa lớp, chỉ còn tôi với mẩu giấy từ cuốn vở học trò và một niềm hạnh phúc ấm áp vô bờ bến.
4. Sơn cũng là người phố cổ, nhà ở phố Thuốc Bắc. Không biết có phải vì gia đình làm thuốc bắc không mà trong các môn, Sơn khá nhất môn hóa. Nhà thuộc diện khá giả. Trong khi bố mẹ tôi chung nhau chiếc xe đạp Thống Nhất cũ thì mẹ và chị của Sơn đi hai chiếc Pơ-giô cáu cạnh, chỉ nghe tiếng tách tách giòn tan khi đạp ngược pê-đan cũng lịm người.
Sơn hơi nhỏ người nhưng đá bóng lại cực “xuya”. Học làm gì cho lắm, đằng nào tao cũng vào Thể Công, Sơn bảo tôi thế.
Chúng tôi ngồi gần nhau. Như đã thành lệ, kiểm tra toán, lý, tôi xích bài sang phía Sơn cho nó dễ cóp, còn hóa thì ngược lại. Tôi học đều các môn nên thường đứng thứ ba, thứ tư trong lớp, lại là học sinh giỏi văn của trường nên cũng nhiều thầy, cô biết. Và thế là trớ trêu đã đến.
Hôm trả bài kiểm tra hóa 15’, một bài rất khó, tôi được 5/10 với lời phê: “Cần cố gắng hơn”. Bài của Sơn được 3/10 với lời phê lạnh lùng hơn: “Sao lại sai giống Nam???”.
Nó nhìn sang tôi tuyệt vọng, còn tôi nhìn thầy Thủy dạy hóa xem có đủ can đảm lên xin sửa lại điểm, hoặc cho tôi, hoặc cho Sơn không. Như hiểu nỗi băn khoăn của tôi, nó khoát tay: “Tao cá với mày Pele cũng chẳng giỏi hóa hơn tao đâu”, rồi vỗ vỗ vào lưng tôi như người ta hay chữa nghẹn cho trẻ em vậy.
Thời gian trôi thật nhanh, thấm thoát bọn tôi đã chuẩn bị thi tốt nghiệp lớp 10. Trong người chúng tôi lúc đó luôn có cảm giác lo lo xen lẫn buồn và tiếc nuối cái gì đó mơ hồ.
Hôm đó là chủ nhật, tôi đang ngồi vẽ lăng nhăng thì nghe tiếng Sơn gọi cửa (cả lớp có mình nó biết nhà tôi).
Tôi hét: “Vào đi!” và cúi xuống vẽ nốt thì nghe tiếng nó và Thu chào mẹ tôi!
Rơi chiếc bút chì xuống đất đã thấy hai đứa đứng trước mặt, mẹ tôi thì nhìn Thu rồi liếc qua mấy bức tranh tủm tỉm.
– Tình cờ gặp ngoài đường, thấy bảo sang nhà mày hỏi bài tập, nó đòi theo tao.
Sơn nói nửa như phân bua, nửa như kể công rồi quay sang mẹ tôi: “Ôi, bác nấu gì mà thơm thế ạ, thế bác trai đâu ạ, lâu quá cháu không sang nhà thăm hai bác!”.
Mẹ tôi không kịp trả lời câu nào, chỉ đợi nó lấy hơi hỏi tiếp thì chen vào:
– Hai cháu ở lại ăn cơm với Nam nhé, chủ nhật bác làm bún chả ấy mà.
Vừa xoa hai tay vào nhau, vừa giả vờ nuốt nước bọt, Sơn xuýt xoa:
– Cháu cả năm chưa được ăn bún chả ạ. À, để cháu chạy ra ngay đây mua thêm bún và rau sống nhé, cháu ăn khỏe lắm, sợ thiếu đấy bác.
Rồi nó lại biến nhanh như nó xuất hiện.
Thu nhẹ nhàng:
– Dạ, bác có cần cháu giúp gì không ạ?
Mẹ tôi lắc đầu: “Cháu ngồi chơi với Nam đi, xong cả rồi, đợi bác trai và cậu Sơn về là ăn thôi!”.
Từ lúc Thu vào đến bây giờ, tôi đứng như trời trồng, tự nhiên thấy nghẹt thở như mỗi lần bị thầy cô gọi lên bảng trả bài. Khi Thu lại gần bàn xem tôi vẽ gì, tôi tranh thủ đứng che mấy bức hình trên tường.
– Ồi, không ngờ lớp mình có người vẽ giỏi thế! Thu vừa nói vừa lật mấy bức tôi đã vẽ xong. Rồi bất ngờ gạt tôi sang bên, Thu ngắm mấy bức treo trên tường.
Tôi lạnh toát người mà mồ hôi lại rịn rịn ở lưng, chỉ mong bố và thằng của nợ Sơn về để ăn chiều và thoát cảnh tra tấn tinh thần này.
Thu nhíu lông mày chăm chú xem từng bức rồi buông thõng: “Chả giống!”. Ở trong kia, tôi thấy mẹ bụm miệng cười, sao bà không tội nghiệp con mình nhỉ, thật lạ.
Bữa ăn thật vui. Nói nhiều nhất là Sơn. Bố mẹ tôi thì hỏi thăm gia đình Thu, cuộc sống gia đình có vất vả không, (úi giời ơi, tôi nghĩ thầm), sắp tới thi vào trường nào…
Tôi cả bữa chỉ nhìn thằng Sơn ăn hì hục và nghĩ: “Có khi nào ăn xong nó đau bụng và xin về sớm không nhỉ?”.
Nó ăn xong, không đau bụng, nhưng xin về sớm: “Cháu đi mà không xin phép bố mẹ ạ!”. Ôi, tao cám ơn mày nhiều, con chó chạy nhông suốt ngày ngoài đường chợt nhớ đến xin phép ai đó! Rồi bố tôi lại chủ động nói: “Con lấy xe của bố đưa bạn về nhé”.
– Dạ thôi, chúng cháu đi bộ được ạ, Thu nhẹ nhàng, cháu cám ơn hai bác, ngon và vui quá ạ!
Đường đã vắng người đi. Trời cuối xuân nên mát dễ chịu.
Khác với mọi ngày, Thu ít nói còn tôi thì bô lô, ba la một hồi rồi chẳng hiểu mình nói gì nữa. Vô duyên, tôi tự xỉ vả. Im lặng môt lúc, Thu hỏi trống không:
– Sắp tới mỗi đứa mỗi ngả, có nhớ… trường không?
Nhìn lá rơi xuống con đường mà chúng tôi vẫn hằng ngày đi học, tôi nói khẽ:
– Nhiều hơn cả một nỗi nhớ là gì nhỉ?
– Thì nhà văn tự nghĩ đi!
Không gian vẫn thoang thoảng mùi thơm của hoa ngọc lan hay hoàng lan từ nhà ai đó, còn đi bên tôi là một thiên thần sẽ làm được nhiều điều kỳ diệu mà mãi sau này tôi mới biết, nhưng bây giờ tôi đã gần như ngất vì hạnh phúc.
Đẩy cửa vào nhà, Thu quay lại cười:
– Mấy hình treo trên tường không giống vì vẽ đẹp quá.
Tôi quay đi nhanh để Thu không nhìn thấy nụ cười sung sướng của đứa trẻ được người lớn cho kẹo trên miệng tôi, nó toe toét và vô duyên kinh khủng!
5. Rồi cũng tới ngày phải chia tay nhau để mỗi người mỗi ngả. Thu hẹn sẽ quây quần lần cuối ở nhà bạn ấy. Chúng tôi mua nhiều hoa quả, bánh kẹo và thằng Sơn còn vác một can bia hơi chẳng biết cho ai uống. Mọi người nói chuyện nhiều, cố cười, cố pha trò nhưng ai cũng thấy là rời rạc, nhạt nhẽo, không khí cứ giả tạo, buồn buồn làm sao. Được một lúc thì Thu đứng phắt lên:
– Không được rồi! Thế này đi, mỗi đứa yêu cầu một bài, tao sẽ hát tặng, được không?
Sơn yêu cầu bài “Hà Nội niềm tin và hy vọng“, Hằng sắp đi Nga – “Chiều Matxcơva“, Phượng thì muốn “Bài ca hy vọng“, Lan nghĩ một lúc rồi rụt rè: “Peng Peng của Pháp được không mày?”. Thu cười tươi: “Sao không được!”, quay sang tôi: “Còn Nam, (ôi, lần đầu tiên được gọi tên), mày thích bài gì?”.
Tôi để cơn choáng khi tiếng “mày” bổ vào đầu qua đi, nói nhỏ: “Những ánh sao đêm nhé?” (tôi đỗ trường Kiến trúc mà).
Chúng tôi lại lần nữa mê mẩn, đắm chìm trong những giai điệu và âm thanh thần kỳ. Thu đưa bọn tôi qua những con đường Hà Nội thân thương, rồi bay vút lên trời cao với những ước mơ và bao niềm hy vọng xanh ngắt, rồi nghe thấy tiếng xào xạc của rừng bạch dương trong buổi chiều ngoại ô thành Matxcơva… Và cuối cùng, khi bạn cất tiếng: “Làn gió thơm hương đêm về quanh khu nhà tôi mới cất xong chiều qua…” thì tôi rùng mình bởi cơn gió ấy! Không biết gió đến từ phương nào, chỉ biết tóc chúng tôi lay động, làn da được vuốt ve nhè nhẹ và mùi những căn nhà mới cứ ngào ngạt ngây ngất.
“Anh ơi, em còn đi xây nhiều nhà khắp nơi, (bạn đổi như thế cho hợp với người hát là nữ),
Nhiều tổ ấm sống vui tình lứa đôi
Lòng em những thấy càng thương nhớ anh
Dù xa nhau trọn ngày đêm
Em càng yêu anh càng hăng say
Xây cho nhà cao cao mãi…”
Không hiểu sao khi hát đoạn ấy, Thu nhìn thẳng vào mắt tôi, không chớp. Thật lạ, lần đầu tiên tôi không nhìn xuống mà giữ yên ánh mắt của mình, và lần đầu tiên, tự trong sâu thẳm, tôi nghe thấy tiếng lòng mình thổn thức: “Thu ơi, mình rất mến bạn. Không, xin lỗi, mình rất yêu bạn, yêu vô cùng, vô tận! Có lúc nào bạn hiểu được điều ấy không?”.
Tôi nhìn vào mắt Thu cho đến khi bài hát kết thúc và vô tình, một giọt nước mắt lăn xuống môi, mặn chát. May là căn phòng chỉ có ánh sáng nến như hôm sinh nhật bạn và mọi người cũng đang ngây ngất nghe hát nên không ai thấy giây phút xúc động của tôi lúc đó.
Chúng tôi chia tay nhau, ngoài Hằng đi Nga và tôi học kiến trúc thì Thu đỗ thủ khoa trường đại học Y Dược, Phương đại học Sư phạm và Lan vào trường Ngoại ngữ. Sơn rất vui được Thể Công gọi, xúng xính bộ quân phục ngay sau đó. Thế rồi chúng tôi không có cách nào thường xuyên gặp nhau như hồi ở phổ thông nữa. Chỉ có điều bí mật diệu kỳ dường như là sợi dây của số phận buộc chúng tôi vào nhau mãi mãi.
Riêng tôi, trong khoảng thời gian ấy, không biết bao nhiêu lần đã đạp xe trên con đường đó để cho ký ức thuở học trò ùa về cùng với mùi hoa man mác, không biết bao lần nhìn vào cái cổng xanh cũ kỹ mà nhớ lại câu “tranh không giống vì vẽ đẹp quá”, và rồi lại tự cười một mình…
Một hôm, vừa nghỉ hè, Thu đột nhiên xuất hiện trước cửa nhà, nói luôn khi vừa thấy tôi:
– Đến đòi nợ đây, mai đi Cao Bằng nhé, tao mua vé cho hai đứa rồi. Mai bọn mình đi nhờ xe bố ra bến xe, 7 giờ tao đón.
Nói rồi Thu quay đi ngay không để tôi kịp hỏi lại một câu.
Biết chuyện, bố mẹ ủng hộ ngay, trên đó nhiều cảnh đẹp lắm, ông bà xuýt xoa, cả năm học mệt rồi, đi chơi đi. Chẳng phải đợi bố mẹ giục, tôi xếp nhanh quần áo và đồ dùng cần thiết, rồi cả đêm trằn trọc vì hồi hộp và sung sướng.
Đấy là năm Thu 20 tuổi. Chúng tôi xong năm thứ hai đại học.
Bố Thu chỉ dặn khi chúng tôi lên xe khách: “Đi đường cẩn thận, cho bố gửi lời thăm mọi người nhé!”.
Chặng đường đi thật xa và quanh co, khúc khuỷu, nhưng hai đứa chẳng cảm thấy mệt tẹo nào vì cùng tranh nhau kể những chuyện buồn cười ở trường, những trò bậy bạ trêu thầy cô, và thật giống nhau, chuyện hai chúng tôi trốn những tình yêu “không yêu” thế nào.
Tôi quên không kể, hai năm ở đại học tôi đã thành một chàng trai thật sự, vạm vỡ và cao gần một mét tám. Nam “sào” biến mất, sau lưng, tôi nghe mấy bạn gái thì thầm: “Như Đianov”, một nhân vật trong phim truyền hình Bulgari đang được ưa thích, sợ thế!
Thu thì không thay đổi nhiều lắm, vì cũng như nhiều bạn gái khác, bạn đã thành thiếu nữ từ lớp 10. Nhưng không để tóc đuôi sam mà búi lại, hơi trang điểm nhẹ, bạn giống hệt bức tranh “Người con gái Hà Nội xưa” mà tôi đưa đi thi và được giải, trở thành người con gái đẹp với nét gì rất gợi cảm, quyến rũ.
Đến huyện, chúng tôi nhờ hai thanh niên người dân tộc chở về bản trên hai chiếc minsk, và ở đây, chúng tôi bị chìm nghỉm trong yêu thương và kính trọng. Cả bản đợi, cả bản hỏi thăm và sau đó, cả bản chuốc rượu.
Tôi không biết các vị lãnh đạo được đón tiếp ra sao, nhưng ở đây, họ đón con gái của người đã giữ gìn sự tồn vong của cả một dòng tộc thì không một lời nào tả xiết.
Lúc đầu Thu được đưa đến chào Mế. Mế già lắm, nhưng vẫn tinh tường, ôm Thu và nói trong nước mắt: “Ta chờ con mãi và tin là con sẽ lại về, ta cầu xin, và Giàng đã nghe thấy!”. Rồi Mế kéo Thu lại gần: “Mai, thằng Páo, (người được bố Thu cứu), sẽ đưa con lên hang Noọng, nếu Giàng chấp nhận, về đây ta sẽ lại trao cho con một vật để con có thể cứu giúp nhiều người!”.
Chắc mình lại sắp bước vào một câu chuyện cổ tích nữa, tôi nghĩ.
Rồi cả tối hôm ấy mọi người quây quần, ăn uống, nhảy múa như ngày hội. Tôi bị các cô gái dân tộc chuốc cho say mềm, chỉ nhớ mang máng Thu và mọi người múa quanh đóng lửa, còn đống lửa, hình như cứ to lên, to lên mãi cho đến khi tôi không biết gì nữa. Sáng hôm sau, tôi tỉnh dậy thì mọi người đã sẵn sàng. Thu lườm: “Hình như rượu mà các cô rót nó dễ say hơn nhỉ?”. Ơ, thế có phải là ghen không nhỉ, có thật không hả Giàng ơi, tôi nghĩ và mừng tỉnh cả rượu!
Thu phăm phăm đi trước với chú Páo. Tôi và hai thanh niên bản khệ nệ khiêng đồ lễ. Tới lưng chừng đèo, chú Páo hô: “Nghỉ tí!”. Tôi mệt không nói được nên lời, thả bịch túi đồ lễ, nằm vật ra phiến đá. Hình như thấy tội nghiệp vì đã mát mẻ lúc sáng, Thu ngồi xuống bên cạnh và quạt cho tôi. Tôi nhắm nghiền mắt. Mùi hương thoang thoảng từ cơ thể bạn làm tôi đã tỉnh lại say ngất ngây lần nữa. Lần này là tâm hồn bị say… Thật lạ, đứng dậy đi tiếp tôi không còn thấy mệt một chút nào, cảm tưởng có đi xa gấp đôi quãng đường nữa cũng được.
Tới hang, chú Páo sắp lễ rất cẩn thận. Một cái đầu con trâu với đuôi và bốn cái móng. Rồi vải vóc, khèn, cồng, chiêng. Hèn gì hai thanh niên gánh khệ nệ. Bác bảo hai thanh niên đi về, chỉ có cái Thu và người thân thôi (nghe thế Thu cười tủm tỉm, chả hiểu sao).
– Nếu lễ xong mà mưa là Giàng đồng ý đấy nhé.
Tôi nhìn bầu trời xanh ngắt, nắng chói chang và chỉ thầm nghĩ: “Nếu Thu không hợp để làm cái gì lớn lao, xin Giàng cho Thu hiểu lòng con, nếu trời cứ nắng là Giàng đồng ý nhé!”. Người Hà Nội đôi khi phải khôn vặt tí chứ, tôi nghĩ và cười tủm tỉm.
Chúng tôi quỳ sau lưng chú Páo nghe chú khấn bằng tiếng dân tộc. Cứ chú lạy, chúng tôi lạy, chú quỳ chúng tôi quỳ, chú nằm dang chân dang tay chúng tôi cứ y vậy. Gần một tiếng đồng hồ mà chú Páo không hề mệt. Thế rồi, trời bỗng dưng tối sầm, mây đen kéo đến dày đặc. Chú run rẩy: “Giàng về!”. Giọng chú khấn to hơn, nhanh hơn, khẩn thiết hơn.
Tôi nhìn xuống tay mình thấy da nổi từng hột to như da gà luộc!
Khi nghe một tiếng sét chói tai, chú Páo bật cười khanh khách: “Giàng đồng ý rồi, Giàng đồng ý rồi! Chúng con xin đa tạ!”.
Ngoài trời mưa như thác đổ. Gió gào thét như muốn quật đổ hết cây rừng. Tôi và Thu nhìn nhau đầy sợ hãi. Chú Páo lại có vẻ phấn khởi tột độ: “Ở lại đồn biên phòng ngủ, mai ta hãy về nghe!”.
Cách hang không xa lắm là đồn biên phòng 525. Thấy chú Páo và chúng tôi, các anh bộ đội reo lên mừng rỡ! Hóa ra chú như người cha của cả đồn vậy. Lấy quần áo khô cho chúng tôi mặc, các anh tất bật chuẩn bị bữa chiều đãi khách. Khi mọi người đông đủ, Thu trong bộ đồ bộ đội thùng thình bước vào. Tất cả bỗng im bặt. Mọi người, trong đó cả tôi, lần đầu trong đời được thấy tiên! Thu không đi mà lướt nhẹ, Thu không cười mà tỏa nắng ấm và bạn không nói mà đó là cả đàn chim đang hót, tôi nghĩ vậy.
Ăn xong, mọi người quây quần bên ngọn đèn măng xông, anh trưởng đồn, người duy nhất còn sống sau chiến tranh biên giới năm 79, giới thiệu: “Đây là một đồn nhỏ, chỉ có 15 anh em, nhưng chúng tôi phụ trách cả vài chục cây số biên giới. Anh em đa phần trẻ và quê dưới xuôi”.
Thu cười rất tươi, nói đáp lễ trôi chảy hệt chính ủy:
– Cám ơn các anh đã mời cơm, cho nghỉ nhờ. Nhưng cái em muốn nói là cám ơn các anh đã ngày đêm canh giữ và bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc. Lúc nãy em thấy có cây đàn ghi ta, cho em mượn và xin gửi tặng các anh vài bài hát được không ạ?
Mọi người reo lên và vỗ tay rần rần.
Các ngón tay đẹp như búp măng lướt trên phím đàn, Thu hát:
“Anh ở biên cương, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt
Ở trên anh mùa này con nước lắng phù sa in bóng đôi bờ
Anh ở biên cương biết rằng em năm ngóng tháng chờ
Cứ chiều chiều ra sông mà gánh nước
Nên ngày ngày cùng bạn bè trên chốt anh
Lại xuống sông Hồng cho thỏa lòng em mong…”
Bạn hát bằng giọng trầm ấm một cách lạ kỳ, như đúng giọng của một anh chiến sĩ nam 18 tuổi vậy. Mới hai câu đầu các chiến sĩ đã vỗ tay dào dạt. Anh chỉ huy khoát tay ra hiệu im lặng. Và chúng tôi nghe thấy tiếng dòng sông chảy, ở đâu ngoài kia và ở ngay trong trái tim mình.
Bất ngờ, bạn lên hai tông và giọng cao vút:
“Em ở phương xa, nghe đài báo gió mùa đông bắc
Em thương anh nơi chiến hào gặp rét
Mà em thương anh
Chiều nay đang đứng gác lo canh giữ đất trời áo ấm có lành không
Hỡi anh yêu người chiến sĩ biên thùy”
Bài hát cứ như một cuốn phim, lúc thì hình ảnh người chiến sĩ nơi biên cương, lúc thì cảnh người con gái hậu phương, và họ cùng ngắm một con sông, cùng gửi vào đó một niềm thương và nỗi nhớ… Chắc suốt đời tôi không bao giờ quên được gương mặt các anh lính biên phòng hôm đó, từ người đồn trưởng kiên nghị đến những binh nhì như mới nhập ngũ hôm qua, hôm kia khi họ cùng chảy nước mắt vì một tình yêu chung, vì một nỗi đau chung.
Nghe hát tới khuya, các anh dẫn tôi và Thu đi nghỉ ở hai phòng nhỏ vẫn dành cho khách là gia đình chiến sĩ từ dưới xuôi lên. Chú Páo ngủ chung với trưởng đồn, bao giờ cũng thế, chú bảo.
Mệt quá tôi lăn ra ngủ ngay. Nửa đêm trời trở mưa to hơn, sấm sét dồn dập. Bất ngờ, cánh cửa phòng tôi bật mở, Thu lao vào như tên bắn, ôm chặt lấy tôi, hổn hển: “Nam ơi, Thu sợ!”. Tôi lấy chăn đắp cho bạn: “Nam đây, đừng sợ, đừng sợ!”. Thu run rẩy ôm tôi chặt cứng. Chừng năm phút sau bạn thở nhè nhẹ, chìm vào giấc ngủ.
Bây giờ đến lượt tôi run rẩy vì sung sướng. Sơn ơi, Hằng, Phương, Lan ơi, tôi đang ôm Thu để cho bạn ấy ngủ đây này, có tưởng tượng được không. Con cám ơn Giàng ngàn lần không nghe lời con mà vẫn làm ra mưa to và sấm sét. Để cho người con yêu sợ chết khiếp. Để cho con được ôm cô ấy, vuốt tóc cô ấy. Có thể ngày mai cô ấy lại sẽ gọi “thằng Nam”. Cũng không sao. Hôm nay, bây giờ, cô ấy đang nằm trong vòng tay con.
Mỗi lần sét, Thu lại ôm tôi chặt hơn, còn tôi lại mải ngắm khuôn mặt tuyệt vời của bạn chưa bao giờ lại gần đến thế và nghĩ: “Mưa của vùng cao liệu có kéo dài cả tháng không nhỉ?”.
Trời sáng dần. Mưa cũng đã tạnh. Tôi nhẹ nhàng gỡ tay Thu và ra khỏi phòng. Nhỡ ai thấy có khi họ hiểu sai về Thu mà tôi biết bây giờ đã là cái gì rất thiêng liêng với những con người ở đây.
Mọi người lại đón chúng tôi tưng bừng ở bản. Ai cũng chứng kiến trận mưa của Giàng. Trẻ con, người lớn xúm xít quanh Thu để sờ, để chạm vào con Giàng, như thế sẽ được nhiều sức khỏe, chú Páo giải thích.
Vui nhất là Mế. Đuổi hết mọi người ra ngoài, bà lấy trong rương được giấu kỹ một vòng đá màu rất lạ và dặn dò:
– Đã bao đời nay bây giờ mới có người được đeo nó. Khi con lại gần ai, nếu nó sáng xanh là con có thể giúp họ. Nếu sáng đỏ, hãy cẩn thận nguy hiểm. Hãy nhớ điều này, càng giúp được nhiều người, dòng họ Vàng càng phát triển, càng no ấm, con ạ. Hãy giữ và dùng nó con nhé.
6. Lúc về khác hẳn lúc đi, chúng tôi hầu như không nói với nhau một lời nào. Mỗi người một ý nghĩ, mỗi người một cảm xúc. Cuộc chia tay ở bản thật cảm động với những cái ôm, những nụ cười, những hứa hẹn và thật nhiều nước mắt.
Chuyến xe về xuôi đông kinh khủng. Chúng tôi bị ép ngạt thở, may mà có chỗ gần cửa sổ. Mọi người kêu la oai oái, còn tôi, nhìn ra bầu trời và nghĩ: “Con cám ơn Giàng, đông nữa cũng được ạ!”. Tôi giơ cánh tay lên cao một lúc rồi đặt nhẹ vào vai Thu, nói bâng quơ: “Người đâu ra mà lắm thế…!”. Thu quay nhìn ra cửa nhưng tôi vẫn kịp nhìn thấy nụ cười trên khóe môi của bạn và cũng mỉm cười theo.
Xuống xe, Thu vươn vai, duỗi tay duỗi chân, lẩm bẩm: “Ôi, sướng quá!”. Tôi thì giấu vẻ buồn rầu, nghĩ: “Ôi, hết sướng rồi!”.
Đi cạnh Thu, người treo đủ thứ mà mọi người ở bản “quý lắm mới tặng”, mặc cái áo chàm xanh, đầu đội mũ phớt chú Páo tặng, tôi chẳng khác gì một ông buôn chuyến. Được dăm bước bỗng Thu ôm bụng, ngồi thụp xuống cười ngặt nghẽo. Tôi cũng phá lên cười theo trước con mắt ngạc nhiên của nhiều người đi đường. Thế rồi bạn tự nhiên khoác tay tôi, vừa đi vừa hát nho nhỏ bài gì đó. Còn tôi, tuy xách nặng thế nhưng tôi không đi mà bay, bay trong tiếng hát ấy, bay trong mùi hương như mùi trẻ con của thân thể Thu, bay trong niềm hạnh phúc vô bờ của chính mình.
Đứng trước cánh cổng xanh cũ kỹ quen thuộc, Thu nói trống không: “Cám ơn nhiều! Về nhé!”. Tôi nhìn bạn, cười không nói gì, nghĩ: “Mình sẽ đợi đến năm 40 tuổi, có tin không?”. Bất ngờ, Thu hôn nhẹ vào khóe môi tôi và biến nhanh sau cánh cổng. Sững mất mấy giây, tôi đưa tay đụng nhẹ vào chỗ đôi môi nóng hổi kia vừa chạm vào, quay đi và thất thểu bước. Rồi bất thần phóng như bay, tôi hét to chưa từng thấy: “Giàng ơi, con cám ơn, Giàng ơi!”. Mấy người già ngồi hóng mát bên hè nhìn tôi lắc đầu, chắc đang thương cảm: “Trông thế kia mà bị khùng!”.
Về nhà, tôi nói luôn mồm, hỏi bố mẹ luôn mồm: “Ôi, mẹ có cái áo mới ở đâu ra mà đẹp thế? Con Miu Miu ăn cái gì mà núc ních dễ thương thế hả bố?”. Cơn nói cười đến bữa ăn mới chấm dứt khi mẹ nhắc: “Con gắp đến ba miếng thịt vào bát mà vẫn chưa ăn kìa!”. Tôi ngạc nhiên nhìn bát cơm, bật cười, thẹn thùng, nói: “Sao con yêu bố mẹ thế không biết”, và đỏ mặt. Mẹ nhìn bố cười, khẽ nói: “Hình như có lúc, lâu lắm rồi, ông cũng như thế này, đúng không?”.
Buổi tối, tôi nằm và loay hoay với ý nghĩ: “Mình sẽ vẽ Giàng và treo ở một chỗ trang trọng trong nhà!”. Khổ nỗi, ngoại trừ tiếng sét, tôi chưa được gặp Người, các bạn ạ!
Như đã hứa với Thu, tôi ghé thăm mộ Dũng gần sân bay ĐP. Thắp nén hương và đặt bó hoa trắng lên mộ, tôi chợt nghĩ: “Nếu theo nghiệp bay tới cùng thì tôi sẽ ra sao nhỉ, vinh quang, thăng tiến như anh Phu Thai Pham, như đứa em Võ Văn Tuấn hay bây giờ đã thành sếu trắng như các bạn cùng phòng Deo, Ân, Ký ở trường học lái đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, sải cánh bay về cuối hoàng hôn và gửi tiếng chim trời tới những ai ở lại, như lời một bài hát Nga mà chúng tôi yêu thích?”…
7. Từ hôm đi Cao Bằng về, bốn tháng liền Thu không liên lạc lại. Tôi nghĩ chắc bạn đi nghỉ hè với gia đình, xong lại vào năm học mới bận rộn. Còn tôi, những ngày sau đó tôi vẽ như điên, và quả thật, chưa bao giờ tôi có được nhiều những bức vẽ đẹp như thế!
Đầu tiên là bức vẽ thung lũng hoa tam giác mạch, sặc sỡ nhưng rất có chiều sâu và ẩn một niềm vui gì đó không tả được bằng lời. Tiếp đến là chân dung một thiếu nữ dân tộc, mỉm cười trong bộ trang phục nhiều màu sắc. Giống đến nỗi mẹ tôi bảo: “Mấy lần mẹ giật mình tưởng thấy cô ấy vừa chớp mắt!”. Ôi, với tôi, đó là lời khen quý hơn mọi lời khen!
Bức thứ ba tôi vẽ xong cất đi là tả về một cơn giông trên núi, sấm chớp, gió giật điên cuồng và một doanh trại bộ đội bé tí trên lưng đèo, leo lét một ánh đèn, nhỏ thôi, nhưng dường như không gió mưa nào che lấp được. Cứ mỗi lần lôi bức tranh ra ngắm là cái đêm huyền diệu ấy lại hiện về, với gió mưa, với run rẩy và cả với mùi hương của Thu thật ngọt ngào, mê hoặc!
Đang thắc mắc Thu làm gì với chiếc vòng thì một hôm đi học về, có mảnh giấy cài ở cửa: “Mai 7h tối lại nhà nhé, cần nói chuyện. Thu.”. Ôi, bạn cứ làm thế này đến lúc nào đó chắc tôi vỡ tim mất thôi, tôi thì thào trong hạnh phúc.
Chúng tôi ngồi cạnh cửa sổ phòng khách. Bố mẹ Thu về chơi quê nội ở Hà Đông, tối muộn mới về, Thu bảo thế. Uống nước và nói chuyên bâng quơ một lúc, đột nhiên Thu nói:
– Mế nói là Thu có thể chữa bệnh cho nhiều người khi đeo chiếc vòng. Bằng giọng hát của mình, Nam ạ.
Tôi nín thở chờ bạn nói tiếp.
– Không phải mọi bệnh và mọi người. Chỉ khi cái vòng phát ánh sáng xanh thôi. Bọn mình thử cùng nhau kiếm một hai người, nếu có kết quả thì tính tiếp, được không?
Tôi nhìn gương mặt trầm ngâm của Thu bỗng trào lên một niềm yêu thương vô hạn. Ôi, Thu của tôi, nỗi đau và niềm hạnh phúc của tôi! Mắt nhìn ra cửa sổ, ngập ngừng một lát, bạn nói:
– Còn điều này, Nam có thể hứa là sẽ không nói với ai được không, hứa chắc chắn được không?
Ơ thế không đợi đến 40 tuổi à, gọi tên không sớm thế, tôi nghĩ thầm, sướng rơn nhưng nét mặt thì vẫn ra vẻ nghiêm nghị:
– Mình thề…
– Không cần, mình tin mà!
Thu vẫn nhìn ra cửa sổ, như đắn đo điều gì ghê lắm.
– Mế còn nói thêm, nhưng điều đó cũng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của mình. Và, mình phải trong trắng thì điều đó mới linh nghiệm, Nam hiểu không?
Tôi bị sặc ngụm nước đang uống dở và ho sù sụ. Trông tôi chắc thảm lắm nhưng Thu chẳng còn tâm trí đâu mà để ý, bạn nói tiếp:
– Thế mà hôm kia, anh Dũng 10i, trên bọn mình hai khóa í, về phép, sang nhà mình chơi và đặt vấn đề yêu mình, Nam ạ. Thật rối bời!
Tôi nhìn trân trân vào khoảng không, chẳng nghĩ được gì trong đầu mặc dù rất muốn. Không để ý đến sắc mặt người đối thoại, Thu nhìn sâu vào đáy cốc nước như đang tìm gì:
– Mình thật ra có tình cảm với anh từ hôm tặng hoa cho đội tuyển bóng đá của trường. Sau đó, anh ấy trúng tuyển phi công, bọn mình cũng thư từ qua lại… Nói chung chuyện dài, Nam cầm quyển nhật ký của mình đi, đọc những trang có vẽ hình trái tim í, rồi góp ý cho mình.
Thu nói xong cầm tay tôi tin tưởng. Tôi từ từ rút tay lại, nói: “Mình hiểu bạn mà, có gì sẽ giúp hết mình, mọi chuyện.”
Con đường từ nhà Thu về nhà tôi chưa bao giờ dài và lạnh lẽo đến vậy. Gió mùa chưa về mà sao buốt đến tận tim. Tôi lập cập lên thang gác, rón rén chui vào chăn và trùm kín lại. Tại sao, tại sao lại là anh ấy? Nếu là người khác, tôi chấp tất, nhưng anh Dũng thì… Anh là phó bí thư đoàn trường, học rất giỏi và đá bóng thì như một nghệ sĩ.
Hồi đó, cách hai lớp là xa vời lắm, chúng tôi nhìn các anh như một tầng lớp khác, hiểu biết hơn, khỏe mạnh hơn, ngang tàng hơn! Riêng anh Dũng thì đặc biệt, mới lớp 10 mà (khác hẳn tôi) đã có vẻ đẹp của người đàn ông thực thụ và tôi nghĩ tất cả con gái trong trường đều mê, trừ Thu (thật ngốc nghếch). Bố anh là cán bộ rất to, đến khi anh là một trong hai người của trường trúng tuyển phi công thì tôi lại nghĩ, tất cả con gái Hà Nội nào biết anh đều mê, trừ Thu (đại ngốc nghếch!).
Bật ngọn đèn ngủ, tôi run run mở cuốn nhật ký. Và mỗi dòng Thu viết như một mũi dao cùn đâm vào tim tôi. Vâng, chỉ có dao cùn mới có thể làm trái tim đau đến thế.
8. Tôi giở quyển nhật ký.
Ngày… tháng… 19…: Hôm nay là ngày đặc biệt. Trường mình thắng liên quân các trường BĐ và NT 3-1, thật tuyệt vời. Khi thầy S phụ trách đoàn đưa bó hoa cho mình và bảo tặng đội bóng, mình run quá. Anh D nhận và nói: “Cám ơn!”. Sao mà con trai lại có giọng nhẹ thế nhỉ. Lần đầu tiên thấy tim bị lạc nhịp, Thu ơi là Thu.
Ngày… tháng… 19…: Đi sớm trực nhật. 5h30, trường vắng tanh, chỉ có đám trực nhật các lớp. Quét xong, đứng tựa hành lang, anh D ở đâu xuất hiện: “Em gì ơi, có chổi cho anh mượn với”. Đưa cái chổi mà tay run lập cập. Dừng lại một giây, anh hỏi: “Có phải hôm trước em tặng hoa?”. Mình dạ mà không nhận ra giọng mình nữa. Anh cám ơn, đi vài bước ngoái lại: “Xin lỗi, em tên gì? Ơ, anh rất thích cái tên ấy”.
Ngày… tháng… 19…: Đang đi ở sân trường và nghĩ vẩn vơ, bỗng có ai nắm tay và dúi vào một vật, “tặng em”. Đó là móc khóa xe đạp bằng nilon đan hình con cá vàng. Là anh. Sao con trai cùng tuổi không như thế nhỉ, đến nhìn thẳng chẳng dám nữa là…
Ngày… tháng… 19…: Cứ tự hỏi, sao bao nhiêu cái hay ho, tài giỏi lại có ở một con người nhỉ. Như thế có công bằng không? Người ta vẫn bảo “được cái này mất cái kia cơ mà”. Nhưng cái đáng sợ nhất là bố làm to đến thế, người ta sẽ bảo “yêu gì, yêu bố thì có!”. Ước gì bố mẹ anh ấy là người bình thường, như bố mẹ Sơn hay Nam ấy!
Ngày… tháng… 19…: Hôm nay, lần đầu tiên anh hẹn ra cuối sân bóng nói chuyện. Thì ra anh trúng tuyển phi công. Thì cũng phải thôi, người như anh có bay vào vũ trụ mình cũng không ngạc nhiên. Anh dặn cố gắng học và thỉnh thoảng, nếu rỗi, viết cho anh vài dòng. Mình giả vờ đùa: “Dạ, vài dòng thì được ạ”, và cười mà lòng thì tan nát…
Ngày… tháng… 19…:
Ngày… tháng… 19…:
Ngày… tháng… 19…: Lần đầu tiên nhìn thấy anh trong bộ đồ bay. Mồ hôi nhễ nhại nhưng anh cười rất tươi. Ánh mắt hơi ngước nhìn bầu trời như còn lưu luyến gì nơi ấy. Trái tim mình tan chảy. Anh ơi, dưới đất, nơi quê nhà xa xôi này có đứa nhớ anh, chờ anh.
Tôi không đọc thêm được nữa. Người ta hay nói con trai lớp lớn hay để ý đến con gái dưới một hay hai lớp, có lẽ đúng thế thật. Tôi chắc nằm trong số ít. Trong hẻm nhà tôi có mấy nhỏ cũng xinh mà chỉ được hai câu là tôi bỏ đi chỗ khác. Còn người tôi yêu quý cũng vậy, bỏ đi với người già dặn hơn, có điều kiện hơn. Không, cái này chắc là do buồn tủi thôi, Thu không phải người như vậy.
Sáng hôm sau mẹ tôi ngạc nhiên thấy các tranh trên tường bị dẹp đi hết, tôi treo bức “Đêm mưa” và cứ tần ngần đứng ngắm mãi. Bà đứng cạnh tôi, nhìn bức tranh và nói:
– Mẹ thích nhất ở đây là trong mưa gió thế vẫn có ánh đèn, vẫn có niềm hy vọng.
Bà nhìn tôi âu yếm, vuốt nhẹ bờ vai và mỉm cười nhân hậu. Tôi ôm lấy mẹ, giấu giọt nước mắt như hôm ở nhà Thu. Hôm đó là hạnh phúc. Hôm nay là đau khổ.
9. Thật hồi hộp khi lần đầu tiên Thu thử chữa bệnh với chiếc vòng thần bí. Đó là ba đứa bé bị câm.
Khi mang trả cuốn nhật ký, tôi kèm vào đó lá thư của mình, chỉ có mấy chữ nhưng tôi đã viết trọn ba đêm không ngủ. “Thu à, từ đáy lòng, mình biết ơn bạn vì tất cả: bí mật về giọng hát, Cao Bằng hùng vĩ, Mế và chú Páo kính mến, những điều thầm kín trong cuốn nhật ký và cuối cùng là những phút giây ấm áp khi được ở bên bạn. Bạn phải tự chọn con đường tiếp theo của mình thôi. Nhưng tôi sẽ luôn cạnh bạn như những lúc đi học về trên con đường ấy, như cái đêm sấm sét kinh hoàng ấy, chắc chắn tôi luôn bên cạnh, dẫu bạn quyết định thế nào. Tôi tin là anh Dũng cũng vậy. Giữ gìn sức khỏe nhé.”
Những ngày sau đó Thu cùng tôi, đôi khi có thêm Lan và Phương cùng nhau đi kiếm “đối tượng” để thử nghiệm. Thu bảo: “Đầu tiên, những gì mà y học dân tộc có thể chữa bằng châm cứu hay thuốc nam, mình nghĩ có thể thử.”
Tưởng sẽ dễ, bệnh nhân thiếu gì, nhưng không phải. Có những người chiếc vòng không sáng. Có những người nghe xong thì len lén đi báo công an có nhóm lừa đảo, thật khốn khổ cho chúng tôi sau đó.
Chỉ khi chúng tôi đến trại nuôi trẻ em câm, điếc mà giám đốc là một người rất nhân hậu, bà đồng ý với điều kiện phải có sự chứng kiến của gia đình.
Tôi nhớ hôm đó là vừa qua một năm chúng tôi lên Cao Bằng, cái ngày mà tôi suốt đời không bao giờ quên được, ba em nhỏ và gia đình được đưa vào một lớp học của trung tâm. Hồi hộp, lo lắng, tò mò. Tất cả trộn vào nhau rồi nhân lên ba lần là tâm trạng của chúng tôi. Riêng Thu bình thản đến lạ kỳ. Ghé sát tai tôi, bạn thì thầm: “Khi thấy vòng sáng lên như Mế nói, Thu biết sẽ thành công.”
Ba em nhỏ, bị câm nhưng không điếc, tò mò nhìn chúng tôi. Sau khi giám đốc giới thiệu, Thu nhẹ nhàng xoa đầu từng bé:
– Chị sẽ hát tặng các em nhé, khi nghe, các em chỉ nhắm mắt để cảm nhận bài hát thôi, được không?
Ba đứa trẻ ngoan ngoãn gật đầu, và Thu cất giọng hát:
“A á ru hời ơ hời ru mẹ thương con có hay chăng
Thương từ khi thai nghén trong lòng
Mấy nắng sớm chiều mưa ròng
Chín tháng so chín năm, gian khó tính khôn cùng
A á ru hời ơ hời ru
Kháng chiến đã giành đất nước về cho đời
Bóng đất nước hình như bóng dáng con tôi
Ôm con ra mái hiên nhìn đàn chim rộn ràng hót
Giữa mùa xuân mừng con sẽ góp phần
Tương lai con đẹp lắm
Mẹ ngắm con cười.”
Tiếng hát mới mượt mà, da diết, ấm áp làm sao! Mọi người trong phòng như bị mê hoặc bởi âm thanh mà chắc chưa ai được một lần thưởng thức.
Mấy đứa nhỏ lúc đầu cựa quậy, sau ngồi ngay đơ, chỉ có bộ ngực phập phồng, mắt nháy nháy như đang mơ.
Thu lại lên thêm hai tông nữa để hát lời 2:
“A á ru hời ơ hời ru
Miệng con chúm chím xinh xinh
Như đài hoa đang hé trên cành
Khát nắng sớm và sương lành
Lá thắm rung cánh tay ôm ấp lấy hòa bình
A á ru hời ơi hời ru…”
Thu hát ba lần như vậy. Rồi căn phòng im lặng như tờ.
Mọi người chăm chú nhìn tụi trẻ.
Tôi, Lan, Phương thì nắm chặt tay nhau như lần đầu tiên ở nhà Thu.
Một đứa mở mắt, nhìn quanh ngạc nhiên khi thấy nhiều người lạ, rồi đột nhiên nhận ra và chạy về phía mẹ:
– Mẹ…!
– Mẹ, mẹ…
Mấy đứa cùng kêu lên những tiếng thiêng liêng nhất của đời người.
Chúng tôi vỡ òa trong hạnh phúc. Nước mắt, nụ cười, tiếng hò reo. Một mình Thu lặng lẽ ngồi xuống ghế, lau nước mắt.
Chỉ một giây sau, tất cả phụ huynh, thầy cô giáo quây lấy bạn, ôm, níu kéo trong những tiếng nức nở: “Cám ơn cháu, ngàn lần cám ơn cháu”. Rồi: “Gia đình tôi mắc nợ cô đời đời, cô ơi…”.
Một người đàn ông, tóc đã bạc, gạt mọi người ra và quỳ thụp trước mặt Thu vừa lạy vừa khóc:
– Xin Thánh hãy nhận nơi chúng con ngàn lạy!
Thu vội vàng đỡ ông dậy: “Bác ơi đừng quỳ thế, cháu cũng không phải là Thánh đâu ạ!”. Vừa đứng lên hai giây ông lại quỳ thụp xuống: “Xin cám ơn Thánh đã cứu thằng cháu đích tôn của con, con lạy Thánh!”.
Chỉ có ai có người thân bị bệnh hiểm nghèo mới hiểu và quý những giây phút ấy.
Chỉ có ai là bạn của những người như Thu mới biết thế nào là niềm tự hào vô bờ bến.
Thu dường như cũng hạnh phúc ngây ngất. Nhưng tôi thoáng thấy một vệt máu nhỏ nơi cánh mũi của bạn và trái tim tự nhiên thắt lại.
10. Một hôm, có vẻ rất vui sau một buổi chữa bệnh, Thu cười và hỏi:
– Sắp sinh nhật Thu đấy, Nam có nghĩ tặng gì không?
Kể từ khi biết chuyện của Thu và anh Dũng, không hiểu sao, tôi chỉ thích Thu gọi “mày, tao” như hồi phổ thông thôi, lạ thế. Tôi hỏi: “Thế Thu thích gì?”.
Gần như không nghĩ ngợi, Thu bảo:
– Tặng mình bức tranh “Đôi mắt” được không Nam?
Hôm tôi lau chùi và gói bức tranh, mẹ đang ngồi đơm cúc áo cho bố, hỏi:
– Con tặng Thu à?
Người mẹ, khi thương con hết mực thì sẽ đau khổ biết nhường nào khi thấy con mình phải từ bỏ thứ mà nó yêu quý nâng niu bao ngày. Tôi ngồi xuống, ôm lấy đôi vai gầy của bà: “Con ổn, con sẽ ổn thôi mẹ!”. Bà sửa lại giấy gói bức tranh cho thẳng thớm như thể cho ai đó chứ không phải cho người con gái đã “chê” con trai mình. Còn tôi hình như đã quen với cuộc sống mà Thu không có, hay không được có, trong tim, mà chỉ ở đâu đó xa hơn, trong trí não chẳng hạn.
Khi Thu ngắm bức tranh, tôi buột miệng hỏi: “Bạn đã nói thế nào với anh ấy?”.
– Đôi mắt thật sống động! Tôi đặt ở chỗ này nhé, Nam thấy có hợp không?
Chẳng liên quan gì tới câu hỏi, tôi nghĩ. Rồi Thu “à” một tiếng như sực nhớ ra:
– Mình nói còn đang học và còn nhiều việc phải làm sau khi học, anh ấy hỏi “có lâu không”, mình bảo chắc hơi lâu và anh ấy ra về, thế thôi!
Rót cho tôi cốc nước, giọng Thu trầm xuống:
– Hôm nọ nhận được thư, anh Dũng bảo sang năm tốt nghiệp, còn đùa: “Em thì lưỡng lự mà bao nhiêu cô lại cứ lao vào, buồn cười thật.”. Mình chẳng thấy có gì đáng hãnh diện hay buồn cười, chỉ buồn khi đọc những dòng ấy.
Im lặng một lúc, Thu tiếp:
– Nói thật nhé, khi người kia hơn mình về mọi mặt, không hiểu sao cứ có cảm giác như không phải của mình, cảm giác xa lạ thế nào ấy, khó tả.
Bạn nhầm rồi, người không ai có thể sánh nổi chính là bạn, là Thu đấy, tôi nghĩ và tự tức giận với điều phi lý đó.
– Nam này, đừng giận nếu Thu nói thế này nhé, hay Nam để ý đến Xuân nhà mình đi, nó ngoan, hiền và xinh nữa. Mà nó cũng thỉnh thoảng hỏi bạn đấy, mình khen bạn hết lời, nó nghe và cứ tủm tỉm, trông buồn cười lắm. Năm nay lớp 10 rồi, phổng phao như thiếu nữ ấy.
Nhìn và nghe Thu nói mà nỗi buồn tưởng chừng đã qua đi lại xâm chiếm tâm hồn tôi, bóp nghẹt trái tim đau khổ của tôi. Giả vờ đùa, tôi hỏi:
– Bạn khen tôi gì vậy?
– Thì tài hoa, giỏi giang, đẹp trai và đặc biệt là chân tình. Nam là người đàn ông lý tưởng nhưng lại gần gũi, không xa vời, không phải “với” như ai đó.
Nếu như trước đây mà nghe Thu nói thế chắc tôi về mất ngủ cả tuần, nhưng bây giờ, thật lạ, tôi nghe như bạn đang nói về ai đó hoàn toàn không phải mình.
Sau hôm sinh nhật, Thu còn chữa cho nhiều người nữa, lần nào cũng ngoạn mục, lần nào cũng tràn đầy tình cảm và bao điều xúc động. Nếu có tài, và có tiền nữa, tất nhiên, tôi sẽ làm một bộ phim về câu chuyện này và sẽ gửi đi tranh giải Oscar!
Nhưng sức khỏe của bạn yếu đi trông thấy, đó là điều tôi lo vô cùng. Nói với Thu thì bạn bảo: “Thế Nam không thấy chúng mình mang lại hạnh phúc cho bao nhiêu người à? Thu không sao đâu, yên tâm đi.”.
Một hôm tôi đang ngồi nghĩ vẩn vơ, bỗng nhiên như có ai nói vào tai mình: “Đi gặp Mế đi Nam, đi ngay đi!”. Tôi như bừng tỉnh, đúng rồi, phải nhờ Mế trước khi quá muộn.
11. Tôi xin trường nghỉ mấy ngày để đi Cao Bằng.
Khi tôi xếp đồ, mẹ nhìn thương cảm, hỏi:
– Con chắc đi một mình?
Sau này nếu có con không hiểu tôi có yêu và thấu hiểu như mẹ đối với mình không nhỉ, tôi tự hỏi. Khi chào mẹ, tôi bước vội xuống cầu thang nhỏ hẹp, tối tăm, và biết chắc, sau cánh cửa, bà vừa gạt đi những giọt nước mắt cay đắng trên gò má nhăn nheo của mình.
Con đường lên Cao Bằng không có Thu sao nó dài và lạnh lẽo đến thế. Xe vẫn đầy người mà tôi lại cảm thấy cô đơn, vắng lặng như chỉ một mình một xe vậy.
Khác với niềm vui của chú Páo và mọi người, Mế không cười, không vui khi gặp tôi, chỉ nói khẽ: “Nam đấy à. Ăn chiều xong vào Mế nói chuyện nhé!”.
Buổi tối, bước vào buồng của Mế không hiểu sao người cứ run bắn, một nỗi sợ vô hình bao phủ con người tôi, bao phủ căn buồng của Mế.
– Thu không khỏe lắm đúng không con, thấy con lên là ta hiểu.
Rót cho tôi một ly nước lá rừng có mùi thơm là lạ, nóng hổi, Mế chầm chậm kể: “Ngày xưa, lâu lắm rồi, khi mà ông bà Mế còn bé cơ, ở bản có một người con gái tên Lìm vô cùng xinh đẹp và có giọng hát mà mọi chim rừng đều nín lặng để nghe. Cô có thể dùng giọng hát của mình chữa bệnh cho người nào mà vòng đeo trên cổ tay phát sáng xanh khi đến gần. Cái vòng đó tại sao cô có, không ai biết được.
Rồi một năm ở đây đại hạn hán. Cây cỏ, thú rừng chết gần hết. Lìm đã lên mỏm đá gần hang cất tiếng hát gọi Giàng. Ba ngày liên tục cô hát không nghỉ và đến khi giọng khản đặc thì mưa giông kéo tới. Muôn loài sống lại nhưng Lìm từ đó bị câm, không nói được nữa. Người ta thấy cô hay lên núi một mình, ngồi dưới gốc cây tùng cổ thụ nhìn về phía xa như chờ đợi điều gì. Rồi một hôm, mọi người thấy cô nằm trên phiến đá ở cửa hang và không còn thở nữa. Từ đó dân bản gọi đấy là hang Noọng, và chiếc vòng được gìn giữ cẩn thận để tìm người chủ thật sự của nó!”.
Mế im lặng hồi lâu. Rồi nói tiếp: “Khi hát để chữa bệnh thì sức khỏe bị rút đi nhiều lắm, cần biết giữ gìn và cẩn trọng thì mới lâu dài được, Mế có dặn Thu rồi. Nhưng thấy con lên mà không có nó, ta hiểu. Con hãy về và nói lại, không thì Mế sợ… Cứu người là việc tốt, nhưng cứu được nhiều người càng tốt hơn.”. Nói đến đây Mế nhìn chăm chăm vào ngọn đèn dầu đang leo lét.
Tôi rụt rè hỏi:
– Thế Thu cứ phải sống một mình mãi vậy à?
– Nó như bông hoa con ạ. Rồi có lúc sẽ tàn để còn ra quả.
Thế là thế nào nhỉ, tôi không hiểu. Mế lặng lẽ lấy trong rương một viên đá nhỏ, trong như cẩm thạch, đưa cho tôi: “Con giữ kỹ nhé, khi nào viên đá này trở nên đục là sức khỏe Thu yếu, mang nó lên đây, được không?”. Tôi “dạ” mà thấy mình như sắp tắt thở.
Quay về Hà Nội, lòng tôi nặng trĩu. Làm sao giúp được Thu đây?
Tần suất chữa bệnh của Thu ngày một dày đặc hơn, đã bao lần tôi năn nỉ, nhưng nụ cười thánh thiện của bạn, những giọt nước mắt của bệnh nhân, nhất là những em nhỏ, làm lòng tôi tan chảy, không đành ngăn cản.
Nhưng tai họa lại đến bằng con đường khác.
Trên đường đi học về gặp một đứa cùng trường, nó nói ngay: “Mày biết tin gì chưa, anh Dũng 10i mà đi phi công í, bị tai nạn mất rồi!”.
Tôi tự nhiên thấy trời đất tối sầm, đạp xe như bay đến nhà Thu. Gặp bố Thu ở ngoài hành lang, ông nói khẽ:
– Cháu vào với nó tí đi.
Thu đang ngồi gục mặt ở bàn, chiếc áo sơ mi đen làm bạn trở nên mong manh, nhỏ bé đến tội nghiệp. Khi tôi đặt nhẹ tay lên cái vai đang run bần bật, bạn không ngước lên mà nắm chặt lấy, tiếng nức nở cứ như muốn xé nát lòng tôi vậy.
Lúc sau,Thu nghẹn ngào:
– Sao làm được bao nhiêu việc tốt mà mình lại không cứu được anh ấy hả Nam?
Thu nhìn tôi bằng ánh mắt đau khổ đến tuyệt vọng.
Sau này, anh Hoàng, người cùng trúng tuyển một đợt với anh Dũng kể: “Về nước được mấy tháng, trong chuyến bay huấn luyện, máy bay của anh Dũng va chạm với máy bay biên đội trưởng khi cất cánh, chỉ mình anh ấy hy sinh. Cả đơn vị thương xót vì Dũng là một phi công có tài, tốt nghiệp bằng đỏ ở trường học lái.”.
Người ra đi thì đã ra đi, chỉ xót xa cho người ở lại. Thu cứ vật vã với ý nghĩ mình chính là nguyên nhân gây ra sự việc đau lòng ấy.
Tôi không ngờ là mình cũng đau khổ như Thu, mặc dù trước đấy không ít lần nghĩ tới anh Dũng là lẩm bẩm: “Chỉ được cái cậy…!”.
Nhìn bức ảnh anh Thu để trên bàn, tôi ứa nước mắt: “Em xin lỗi!”.
Gặp lại Thu sau đó chừng một tháng, tôi giật mình, đó là con người khác! Thu ít cười, ánh mắt đanh lại, nói gì cũng cộc lốc. Có lần Thu quát:
– Tại sao chỉ có vài ca này thôi, không biết thương người à?
Lan, Phương và tôi nhìn nhau.
Thu phăm phăm ra gốc cây xà cừ đứng, rồi bất thần úp mặt khóc nức nở.
Hai bạn gái đẩy tôi ra phía Thu và lỉnh đi chỗ khác.
Lại sát bên bạn, tôi nói nhỏ: “Thu này…”.
Bất chợt quay lại và ôm chặt lấy tôi, Thu khóc to hơn: “Sao Thu lại khổ thế hả Nam, mình có làm điều gì sai để Giàng bắt tội không, Nam nói cho mình biết đi, phải làm gì để anh Dũng sống?”.
Nước mắt bạn ướt hết bờ vai của tôi, chẳng biết an ủi thế nào, tôi cuống quýt: “Đừng khóc nữa Thu ơi, đau buồn quá sẽ ảnh hưởng sức khỏe, sẽ không chữa bệnh được và anh Dũng cũng sẽ không vui đâu.”.
Thực ra, mấy hôm rồi, tôi hoảng sợ khi nhìn viên đá Mế đưa, nó đã ngả màu đục đục. Tôi nói cho Lan, Phương nghe sự nghi ngại của mình và cả bọn đã thống nhất bằng mọi cách giữ sức khỏe cho Thu, không để bạn lao vào chữa bệnh như điên chỉ vì đau khổ.
Hôm đấy là bắt đầu nghỉ hè năm thứ tư, Thu gọi bọn tôi đến và bảo:
– Cô giám đốc Trung tâm nuôi dạy trẻ em câm điếc gọi điện đến bảo, (chỉ nhà Thu khi ấy có điện thoại riêng): “Em ơi, cứu chị với. Họ đồn là chỗ chị chữa được bệnh câm, cả trăm người kéo đến van nài, vì em dặn không nói nên chị không biết làm thế nào. Họ ăn ngủ tại đây, ngày nào cũng chen lấn xin gặp chị. Em có thể giúp chị lần này không?”. Mai mọi người đến đấy với Thu, đánh dấu những đứa trẻ mà cái vòng phát sáng, rồi chúng mình tính tiếp.
Chúng tôi chọn được 23 em. Cô giám đốc cực kỳ vất vả giải thích với những người còn lại, nào là chỉ có những em không bị điếc, chỉ có những em thích hợp phương pháp chữa, nào là đây chỉ mới thử nghiệm…
Còn tôi thì vô cùng lo lắng khi các em nhiều đến như vậy. Viên đá đã sáng hơn lúc có chuyện anh Dũng nhưng không hề trong như lúc Mế mới đưa tôi. Trước hôm chữa, Thu nói: “Xong đợt này mình muốn lên Cao Bằng thăm Mế và nghỉ ngơi, Nam có còn muốn đi với mình không?”.
Tội nghiệp Thu, hình như bạn thấy có lỗi vì đã không thích tôi. Giấu cảm xúc của mình, tôi trả lời nước đôi: “Để xem mình có thu xếp được không, đang có triển lãm tranh mà mình muốn dự”. Thu buồn bã quay đi còn tôi thì chỉ muốn hét lên: “Còn chỗ nào xa hơn không, nơi mà người ta vẫn gọi là chân trời cuối bể ấy, mời tôi đi!”.
Buổi sáng hôm đấy thật đặc biệt, khi chúng tôi đến, các em đã ngồi trong lớp, còn phụ huynh thì vòng trong vòng ngoài, nét mặt ai cũng căng thẳng cực độ. Cô giám đốc dặn: “Đề nghị mọi người tuyệt đối im lặng, tuyệt đối, nếu không sẽ thất bại!”.
Thu bước lên bục, nhìn một lượt và trìu mến nói:
– Chị chỉ muốn hát tặng các em, hãy nhắm mắt nghe bài hát và tưởng tượng là đang nghe cùng bố mẹ nhé.
Không gian im lặng như tờ và Thu cất tiếng hát, lần này bạn hát bài “Trở về Surianto“, dân ca Ý:
“Biển hiền hòa lớp sóng đẹp bao la
Lòng ta như rộn vang ngàn câu ca
Ôi đất nước xinh tươi như mộng đời
Lưu luyến trong tâm hồn bao người…”
Thật bất ngờ, đã nghe bạn hát bao nhiêu lần, nhưng chưa bao giờ thấy giọng bạn trong, rung động, tình cảm đến thế. Tôi nhắm mắt và thấy biển xanh xa tít tắp, sóng, gió và hải âu tạo một thứ âm thanh kỳ diệu, vừa sống động, vừa êm đềm, vừa bao la, vừa gần gũi.
“Khắp trên đồi cây cối mọc xanh tươi
Khắp trong vườn ánh sáng tràn nơi nơi
Tình quê hương ngát trong lòng hương say
Lòng ta khó quên được chốn này.
Nếu ta từ biệt chốn này đi xa
Khác chi từ biệt với người yêu ta
Phải xa chốn quê hương đã nặng thề
Ai lẽ đâu không quay trở về.
Xin hãy về người ơi
Tình quê mến yêu đang đợi chờ
Trở về Surianto, hãy về người ơi…”
Bạn lại lên thêm tông nữa khiến âm thanh cao vút như tận từ trời xanh vọng về. Tôi nhìn ra xung quanh và giật mình, hàng trăm con người đều chắp tay, quỳ xuống, mắt nhắm nghiền chờ đợi và hy vọng. Thu vẫn hát, vẫn hát, say sưa và nồng cháy như đây là lần cuối cùng vậy. Rồi không gian im bặt. Mấy đứa trẻ vẫn ngồi yên trên ghế không cử động.
Tôi thấy ruột gan như thắt lại.
Lục tục một, hai, ba đứa tụt xuống đi ra ngoài tìm người thân. Bỗng một tiếng thét: “Mẹ ơi…!”, rồi bao nhiêu tiếng thất thanh như vậy cùng lúc: “Bố ơi, bà ơi, mẹ ơi…”.
Cả rừng người cùng ôm nhau, cùng khóc cùng cười trong niềm vui bất tận.
Thu mỉm cười ngồi xuống ghế. Tôi bước lại gần và hỏi:
– Có mệt nhiều không?
Bạn lắc đầu, nhướn nhẹ lông mày, nói:
– Sao đang vui mà mọi người lại tắt hết đèn thế hả Nam?
Hai khóe mắt của Thu chảy ra hai dòng máu, viên đá trong tay tôi vỡ làm đôi.
Tôi ôm lấy bạn kinh hãi thét lên:
– Thu ơi….!!!
Tiếng của tôi chìm trong bao âm thanh vui vẻ, náo loạn ngoài kia, không ai để ý Thu gục xuống.
Tôi, người ghi chép lại câu chuyện này, ngồi với Nam trong một quán cà phê yên tĩnh, ở một thị trấn nhỏ trên vùng cao. Nam từ tốn: “Từ đây đến bản của Mế cũng không xa lắm anh ạ. Chúng em lên đây cũng được năm năm rồi, không đầy đủ như dưới xuôi nhưng êm đềm và đầm ấm. Hàng ngày em đèo Thu đến trường cấp 1 dạy hát, học trò thương cô giáo mù lắm, bắt bố mẹ mang đủ thứ tới nhà, có khi là cả một con lợn con cơ, buồn cười lắm! Anh đừng viết lại chuyện của chúng em, đã lên đây, em không muốn nhiều người biết, anh ạ.”.
Rồi Nam dẫn tôi về căn nhà nhỏ bé mà vô cùng ấm cúng của hai vợ chồng. Tôi nhận ra bức tranh “Đôi mắt” và tấm hình người phi công tên Dũng. Bất ngờ một cô bé chạy ra: “Bố về!”. Đôi mắt cô bé tuyệt đẹp, hệt như bức tranh thu nhỏ. Rồi Thu, con người kỳ lạ bước ra, trên tay là bé trai mới một tuổi, xinh như một búp bê. Thu cười một nụ cười mà tôi tin rằng chỉ có ở thiên thần: “Em chào anh. Anh mới ở dưới lên ạ.”.
Tôi cứ nhìn Thu chăm chăm, phần vì câu chuyện, phần vì vẻ đẹp mà không lời nào tả được. Rồi mẹ của Nam bước ra:
– Cháu thích ăn gì cô mời, lâu mới có người Hà Nội đến chơi, thật quý quá.
Tự nhiên tôi buột miệng:
– Bún chả được không cô, hình như cô làm món đó ngon lắm.
Khi Thu bế thằng cu đi ngủ, Nam nói khẽ: “Hôm rồi con bé con nghịch cái vòng, khi cầm đến gần mẹ nó vòng bỗng sáng lên anh ạ. Em nghĩ và hy vọng cháu sẽ là người chữa cho Thu nhìn lại được ánh sáng.”. Một lời cầu nguyện chợt lóe lên trong đầu tôi: “Con cầu xin Giàng, hãy mang ánh sáng về cho con của Người lần nữa!”.
Bữa cơm chiều thật ấm cúng. Tôi cứ bâng khuâng mãi về tình yêu, tình bạn, tình mẹ con của những con người ấy.
Như đã hứa với Thu, tôi ghé thăm mộ Dũng gần sân bay ĐP. Thắp nén hương và đặt bó hoa trắng lên mộ, tôi chợt nghĩ: “Nếu theo nghiệp bay tới cùng thì tôi sẽ ra sao nhỉ, vinh quang, thăng tiến như anh Phu Thai Pham, như đứa em Võ Văn Tuấn hay bây giờ đã thành sếu trắng như các bạn cùng phòng Deo, Ân, Ký ở trường học lái đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, sải cánh bay về cuối hoàng hôn và gửi tiếng chim trời tới những ai ở lại, như lời một bài hát Nga mà chúng tôi yêu thích?”…
12/3/2022
Lê Kiên Thành
Nguồn: Tạp chí Nhà Văn và Cuộc sống số 6 bộ mới
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Lý luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới Trong quá trình hình thành và phát triển c...