Có những sự kiện nhỏ bé xẩy ra trong khoảng thời gian lặng lẽ
của đời sống bình thường, thuộc về một người nào đó - Nhưng chúng luôn được nhớ
lại - Bởi cảnh sống nhân sinh thật ra thì đâu cũng chừng ấy sự việc, với những
con người, và tất cả đều có chung một mẫu số: Ai cũng một lần thấm đau. Người Mẹ
nào cũng thấm đủ Cơn Đau. Thánh Mẫu Maria, Phật Quán Thế Âm là những Người Mẹ
Khổ Đau Nhất.
Cuối năm Âm lịch là thời điểm làm Người Việt thường sống lại, nhớ lại rất đầy đủ.
Với tận cùng
Để nhớ lần của Bà Ngoại với Nh. H 1960 Căn gác gỗ được xử dụng làm nhà kho chứa những đồ dùng
đã hư hỏng, cũ kỷ của một giòng họ; thay vì vất đi như quá khứ suy tàn, đã được
giữ lại để nên chứng tích về một thời phú quý. Những đồ đạc tồi tàn phải miễn
cưỡng coi trọng, vừa xem thường tội nghiệp. Sự tàn tạ suy sụp không thể che dấu
nơi chiếc bàn thờ long chân mất cánh cửa tủ, khung xe kéo bánh gỗ nẹp vành cao
su, lớp sơn then màu đen tróc những miếng loang lỗ trông như da người già trổ đồi
mồi, bộ ghế trường kỷ phải dựa vào hai cây cột chính. Và cây cột cũng chỉ là khối
tròn mỏng manh yếu ớt, lớp sơn son bên ngoài đã bị mối ăn suốt từng mảng lớn;
thớ gỗ nứt dòn lốp xốp nếu bị đụng chạm, khẽ bóp hay dùng ngón tay, vật cứng ấn
mạnh vào. Lõng chỏng trong đống đồ vật hỗn độn có hình khối vừa kể là những bộ
phận không biết xuất phát từ những chủng loại, vật chất gì... Vài hộp gỗ sơn
son thiếp vàng, khung của một chiếc lọng hay tán dù, những chân đèn, giá gỗ,
bao áo gối vải xa-tanh hay một loại gấm đoạn bị rách tung toé, lỗ chỗ bông gòn
vàng xỉn đen xám bày ra ngổn ngang. Và từng gói đồ dùng của những người từ lâu
vắng mặt hay đã chết. Những người đã bỏ nơi nầy ra đi từ hằng hai, ba chục năm
nay. Từ trong bộ ghế mây, đống đồ vật tối tăm chết chóc, dưới chân bàn thờ,
trong chiếc quan tài để dành cho một người sắp chết luôn luôn có tiếng rì rì,
kĩu kịt âm âm cuả loài mối, dán. Âm động của thời gian, quá khứ đang lụi tàn.
Căn phòng luôn mờ mờ như có bó hương lớn đang cháy đỏ tỏa khói, do chỉ được nguồn
ánh sáng chiếu qua những khe cửa lá sách và lớp kính từ bao lâu bụi đóng dầy.
Có con người nằm im trên nắp chiếc quan tài. Gã thiêm thiếp ngủ cùng căn phòng
yên lặng như khối nhà mồ. Gã nằm như thế từ bao lâu không chuyển mình, bàn tay
vói qua ghế tràng kỷ đè lên cuốn sách lật ngữa, nửa phần sách bật khỏi mặt ghế
thỏng xuống sàn gác. Ý hẳn gã đã giữ cuốn sách ở vị trí lưng chừng nầy suốt giấc
ngủ. Không nghe tiếng thở của người, chỉ âm ỉ rì rào của lũ mối tham lam thâm
hiểm. Căn phòng tối rất nhanh theo bóng dâm từ ngoài hàng hiên đậm lại với buổi
chiều. Người ngủ vẫn giữ nguyên vị thế nằm sấp bực bội, khó chịu, hai chân gấp
lại chổng lên. Hóa ra gã đã thức tự bao giờ...
Con người ngồi dậy. Đấy là gã tuổi trẻ chưa đến hai mươi, tóc bồng lên phía trước
rũ xuống trán, phía sau dài quá gáy lấp lên cổ áo lạnh. Và dù chiếc áo được may
bởi hai lớp nỉ dày cũng không che đậy được phần cơ thể gầy gò tuy đang ở độ tuổi
phát triển; vẻ gầy yếu do suy dinh dưỡng, không hoạt động cơ bắp nơi khoáng đạt,
với chiếc cổ cao khẳng khiu lộ liễu, thêm bởi đầu tóc dài rậm. Tất cả làm nét
khốn khổ điêu tàn càng đậm phần thảm hại. Tuy nhiên gã vẫn duy trì được vẻ láu
lỉnh đùa cợt do nụ cười bất chợt trẻ thơ. Cách thế, phản ứng của loại người
không muốn bị nhận chìm bởi hoàn cảnh.
Gã đi rón rén đến dãy cửa kính ngăn căn gác và lan can mặt tiền. Bước chân dù
nhẹ cũng đủ làm sàn gác rung rinh, răng rắc chuyển động. Gã dò bàn chân cẩn thận
tránh những lỗ nứt lộ liễu do mối ăn thủng, hai tay choàng chiếc chăn vàng nâu
sát quanh thân người, đi đến khung cửa, tì trán vào ô kính nhìn xuống lòng đường...
Hơi nhích đầu lui, gã dùng ngón tay di di bụi trên mặt kính, kéo một góc chăn
chùi phần trán, xong áp mặt vào lớp kính sát hơn. Cặp mắt nâu đen nhìn chăm
chăm xuống lòng đường loáng nước như thể gã đang tìm kiếm một điều gì tuy quen
thuộc nhưng luôn mới mẻ. Mưa xứ Huế gây gây ẩm, khí lạnh thấm qua lớp kính mờ bụi
căm căm.
Người thanh niên nhìn từ cực phải con đường, phía đầu con hẻm trải đá lồi lõm
luôn đầy rác bẩn do những gia đình từ trong sâu đem ra đổ, nơi nầy là mặt sau của
ngôi nhà lớn, hướng cửa chính mở ra phía Đường Gia Hội. Mình lại lẫn thẩn rồi,
phải gọi là Đường Chi Lăng chứ. Thì lúc ấy còn bé nên quen gọi thế, mười năm
hơn chứ ít gì.. Lúc đó mình đâu đã được mười tuổi, còn nhỏ chút xíu. Gã lẫm bẩm
về những điều chợt nghĩ ra, cũng như muốn bào chữa khuyết điểm đã không nhớ
chính xác về một điều gì có giá trị của quá khứ mà hiện tại tồi tàn nầy như một
cách xúc phạm. Hắn ta tiếp tục dõi mắt từ chân đống rác đến nóc nhà. Trước khi
mở tiệm bán xe đạp hiệu Rồng Vàng, nhà nầy là cơ sở gì, hẳn phải giàu lắm mới
xây nhà lớn như thế kia? Khi nghĩ đến chữ "giàu", gã xây mặt nhìn lui
căn gác. Quái thật! Có tiền sắm những thứ quỷ nầy làm gì nhỉ. Khối tiền đấy chẳng
chơi. Gã xoay hẳn người lại đưa chân lên mép tay dựa chiếc ghế trường kỷ, đạp
lay lay. Coi chừng đấy ông ạ, sập lầu hết chỗ ngủ bây giờ. Gã nhìn quanh đống đồ
cũ khinh miệt diễu cợt. Thế mà ông cũng nhờ nó mà qua mùa Đông đấy, đừng giở
trò bạc. Gã lại đưa mắt nhìn lên nóc ngôi nhà lớn. Khoảng tường TAM GIÁC dưới đầu
hồi.. Hình con Cò với hàng chữ số màu ĐEN 1922. Như thế căn nhà nầy có cùng năm
mẹ mình sinh. Tại sao lại vẽ hình con cò, phải hình con chó mới đúng với năm ấy.
Mà cũng phải thôi, ai lại đi vẽ hình con chó trên nóc nhà bao giờ. Và hình vẽ
cũng đẹp đấy chứ, gần bốn mươi năm nét còn sắc. À còn chuyện nầy nữa. Không hiểu
tại sao mẹ lại hay tự trào, "Con cò mà đi ăn đêm". Có thể lúc trẻ bà
cũng đã nhìn hình vẽ nầy và thắc mắc như mình chăng. Không phải thế đâu, thuở
còn nhỏ mẹ mình đâu ở xóm nầy, nhà ông ngoại đâu trên Nam Giao cơ mà. Cũng
không hẳn như vậy, anh không nhớ bà hay kể chuyện "Con ma cây khế"
sao. Con ma cây khế ngồi ru con. Như thế nhà phải ở đâu đầu vườn bông, nơi con
hẻm nhỏ. Vậy là có ma thật sao.. Mẹ mình đâu phải là người lắm lời nhiều chuyện,
có thấy mẹ lớn tiếng và cãi cọ cùng ai đâu.. Hình ảnh con cò những kỷ niệm ngày
nhỏ gây lòng vui vui, gã có cảm giác như đang chứng kiến, nghe đối thoại giữa
hai mẹ con, sinh hoạt đầm ấm gã từng sống cùng, thực hiện, nay mất đi, xa xôi
như nỗi bất hạnh, bất ngờ phải nhận ra nơi căn gác tồi tàn lạnh lẽo nầy. Có mẹ ở
cùng vẫn hơn.. Không biết gã đã nói nên lời hay chỉ thoáng ý nghĩ. Chỉ biết gã
lại rơi vào cảnh thực tế hiu quạnh buồn thiu. Mẹ mình bây giờ ở đâu?.. Chỗ làm
việc lại đuổi mẹ, họ không chịu cho mẹ làm nhân viên, dù nhân viên phù động
công nhật vì lý lịch chính trị. Như trường hợp ở Ty X Nha Trang vậy. Mấy hôm
nay mẹ cứ lang thang suốt ngày trong sở thú, chẳng lẽ cứ ở hoài trong nhà người
ta. Ngồi ở chỗ chuồng khỉ nhìn mẹ con khỉ đùa giỡn với nhau mà tủi thân. Gần bốn
mươi tuổi vẫn không kiếm được miếng ăn nuôi các con, bỏ hai con ngoài ấy thật
đau lòng cho mẹ lắm.. Mẹ biết làm sao bây giờ? Ai mua máu mình mẹ cũng bán
ngay, làm sao cho hai con được bữa ăn qua ngày. Mẹ nói như thế là nói thật vì
cũng đã đi đến chỗ mua máu, nhưng người ta cũng không nhận. Họ thấy mẹ quá gầy
yếu, sợ lấy máu xong mẹ chịu không nổi mà ngất đi tại chỗ thì phiền cho họ.. Gã
không nghĩ tiếp nữa, như có cái gì nghèn nghẹt ở cổ. Gã thở hắt ra từng hơi mạnh
như muốn đẩy ra cục, khối vướng vít cay cay kia. Gã chặt chặt lưỡi như thể đang
bị đứt tay hoặc phải chứng kiến cảnh tượng một người già đang đứng nép bên đường
bị tên đi xe đạp bất cẩn tông phải. Sở dĩ gã nghĩ đến cảnh tượng kia vì dưới đường
đang có hai, ba người đàn bà gánh gồng chạy lướt thướt. Thân người lấp kín dưới
đôi quang gánh và tấm ni-lông, chỉ thấy dạng chiếc nón trắng đục trong màn mưa
chiều tối. Hóa ra, ngày nhỏ mình thường thấy khó khăn nôn nao khi nhìn thấy những
người đàn bà gánh hàng chạy trong mưa chỉ là do biết trước tình cảnh của chính
mẹ mình. Nhưng, những người kia chỉ một lát nữa, họ sẽ về đến nhà, vặn to ngọn
đèn dầu, đi xuống bếp, ngồi bên lò lửa với những đứa con quanh quẩn. Mẹ bây giờ
ở đâu? Gã liếc về phía trái, lên trên tàng cây xanh đậm của hàng bông gòn, tượng
Đức Bà in sậm trên nền trời và sau lưng, trên cao hình Thánh Giá. Gã chỉ nghĩ
thế thôi, chứ thật ra không thể thấy hình tượng Thập Giá được. Phải cúi người
xuống, nhìn chếch lên từ mép hiên nhà. Nhưng cũng phải vào buổi ban ngày, lúc
trời nắng. Bây giờ, giữa cảnh mờ xám đất trời, với nỗi u uẩn trong lòng gã thấy
Thánh Giá như một cách cầu viện. Thật sự gã cũng không thấy được tượng Đức Bà.
Gã chỉ Biết nỗi buồn đau có thật.. Người Mẹ nào cũng đau khổ. Người Mẹ nào cũng
thấm Đau. Chẳng biết mẹ mình bây giờ ở đâu?
Người đi xe đạp với chiếc cặp da vắt ở thanh ngang đằng trước dừng lại ở ngay
mái hiên dưới đường, ông nhìn lướt qua từ nhà số 3 đến nhà số 7.. Gã thanh niên
mở nhanh khung cửa, bước ra hiên lầu. Đây, đây.. Nhà số 5 có thư phải không?
Khi người phát thư tỏ ý xác nhận thì gã đã leo qua thành lan can gỗ, hơi ngần
ngại một thoáng ngắn trước khi đu thẳng người xuống đất.
- Có ai tên là Thái, Nguyễn Văn Thái?
Người đưa thư kéo tờ giấy màu xanh nhạt nơi cuốn sổ; để ra xa tầm mắt, đọc chậm
rãi,
- Nguyễn Thái à.. Làm gì có ai tên ấy ở đây. Bác đưa thư cho em bao nhiêu lần,
không nhớ tên em sao...
- Bởi thế mới hỏi, tên nầy lạ quá. Cậu tên Hải chứ gì. Đoàn.. gì Hải phải
không?
- Vâng, Đoàn Trọng Hải.
- Đó, tôi nhớ đâu sai. Tại sao lại gởi cho ai tên Thái ở nhà nầy?
- Bác xem người gởi là ai, ở đâu..
- Không ghi địa chỉ người gởi, chỉ đề bệnh viện Nha Trang, người gởi tên.. Nguyễn
văn Hai. Ông đưa thư kiểm chứng từ cuốn sổ cái.
- Em đâu quen ai ở bệnh viện Nha Trang, cũng không biết người nào tên như thế.
Gã thanh niên trả lời nhanh tỏ ý không muốn nhận tờ điện tín. Có đe dọa ghê ghê
đâu từ trong tờ giấy nhỏ màu xanh nầy.
- Hay là cậu cứ ký nhận đi, xong mở ra xem trong đó có gì. Nếu đúng là của mình
thì nhận, không thì trả lại.
- Có bao giờ bưu điện chuyển tin sai không? Gã tuổi trẻ cố nài nỉ, tránh xa.
- Sai sao được, ghi-sê khi nhận đã kiểm soát một lần, người đánh điện tín coi lại
lần thứ hai, sai là cả tổng đài chịu trách nhiệm. Có gì người ta mới gửi điện
tín, tụi tui phải đi phát ngay, mưa gió gì cũng phải đến tay người nhận. Cậu ký
đi, tôi chịu trách nhiệm mà.
Người thanh niên đưa tay nhận tờ điện tín như gánh chịu một phận cùng đành.
Bây giờ quả thật không thể chịu đựng nổi nữa. Gã đã ngồi bẹp xuống bậc thềm hồi
nào không hay, tay vò vò tờ giấy, mắt di chuyển vô tình từ rặng cây, cột điện,
đến dưới mái ngôi nhà lớn, chỗ hình vẽ con cò.. Có phải vậy không? Tại sao lại
như thế.. Hình như gã đang lẫm bẩm những câu vô nghĩa, hoặc một nội dung mơ hồ,
không nắm vững cách phát âm.
Gã xoay người vào trong, bò lê trên mặt đất, mồm ngậm tờ giấy. Gã bò đến cửa,
thân hình lắc lư, run rẩy như con chó bị trấn nước. Gã cố đưa bàn tay qua ô cửa
kính vỡ để kéo cây móc bên trong, nhưng bàn tay không còn điều khiển được cứ lần
mò trên những ô mắt cáo. Giữ vị thế quỳ, đầu tì vào khung cửa, gã dùng bàn tay
trái đỡ cùi chỏ cánh tay mặt, nâng lên từ từ.. Nhưng ngón tay vẫn rờ rẫm bạc
nhược, không thể nào tìm ra ô thủng lỗ.. Cuối cùng, gã phải bám cả hai tay, chậm
chạp đứng lên, xoay xoay chiếc tay cầm, lay lay cánh cửa. Tiếng khô nỏ chiếc
thanh ngang rơi xuống, gã túm chiếc áo ở bụng như đang phải bị chấn thương mạnh,
cong người lại, đi vào phòng, ngã xuống chiếc đi-văng gỗ, nằm cong queo như con
tôm khô luộc. Anh đã THẤY hình dạng, đã cảm được, nhận ra ngây ngây hơi lạnh Sự
CHẾT ở đây, trên chiếc đi-văng gỗ nầy.. Thằng Q, em mình nằm chết như thế nầy;
có đâu mấy tháng.. Mười năm trước, 1950.
Lạnh! Cái lạnh từ trong cơ thể, nơi đường ruột rung rung sôi, nơi hoành cách mô
bị ép cứng, trong dạ dày bị khuấy trộn, bàng quang muốn nứt đôi như đang đầy ứ
nước tiểu. Mình có ăn uống gì đâu mà đau bụng và muốn tiểu thế nầy. Gã chỉ
loáng thoáng nghĩ được câu ngắn ngủi, xong trở lại đối phó với cái lạnh kỳ quái
càng ngày càng tăng. Đâu có tấm chăn, cái đắp.. Tấm chăn màu Đỏ quấn tròn xác đứa
bé em, thò chiếc đầu lơ thơ những sợi tóc nâu nhạt.. Gã liếc xuống nền nhà, trước
bàn thờ có chiếc chiếu dùng cho người ngồi quỳ lạy trong dịp cúng giỗ. Gã hơi
ngần ngại vì bản tánh sạch sẽ, nhưng phản ứng nầy không kéo dài được lâu. Cơn
giá lạnh chụp riết, thấm sâu. Gã đánh bò cạp, rên hừ hừ, bò xuống đất đến chỗ tấm
chiếu. Khi đã đắp được thân hình, gã mới nhận ra được điều nghịch lý: Chiếc đầu
nóng sôi như đang bị hắc ín chảy nhão rót theo hai giây thần kinh từ đỉnh đầu nối
xuống gáy. Gã nằm mê mê, tờ điện tín đắp lên mặt.
...Sóng người đẩy dạt gã từ phòng đợi ra sân ga, ở đây đang đầy ắp những người
mặc y phục quê xứ Bắc; y phục của ngày di cư năm 1954, vào Đà nẵng. Tất cả đều ở
vị thế NẰM với những bao bị lớn màu cứt NGỰA. Cho dù vùng vằng chống cự, gã
cũng phải bước qua đống hành lý hỗn độn và khối đông với cảm giác e dè.. Có những
gai, đinh lẫn trong bao gói ngổn ngang kia. Những người đàn bà thoạt tiên nhìn
gã với ý chế diễu, sau buông lời chưởi mắng, mỗi lúc một tồi tệ. Gã cố chạy trốn
nhưng chân dính cứng xuống sân xi-măng bởi một loại dầu nhớt ĐEN. Gã thử rút một
CHÂN.. Đôi giày há mõm trơ những cái đinh SẮT (Vừa bực bội vừa buồn cười như
tình cảnh của phim Charlot coi ngày nhỏ) Nhưng bây giờ gã không thể há miệng cười
được vì trong mồm đang đầy những HẠT trơn, tròn, trắng, nhạt nhạt. Những hạt nầy
đóng ở vòm miệng, thành lưỡi nhưng không thể nuốt xuống hoặc nhổ ra, bởi nùi
bông gòn chật cứng khô khan đầy miệng. Dầu dính chặt chân, đế giày thủng, những
đinh gai, những bàn tay bấu víu, cào cấu trên cổ chân, tia nhìn khinh miệt, lời
xĩ nhục. Tất cả trạng thái, tình cảnh kỳ cục khó khăn nầy hình như kéo dài bất
tận. Mặc cho lời chưởi mắng, ta hãy cứ gắng đến cửa phụ lên được tàu đi Nha
Trang với mẹ là xong. Gã tự nhủ khi lách người qua khe hàng rào gồm những cây cột
màu trắng bê-tông cốt sắt, nhưng chỉ lọt được cánh tay, thân kẹt lại vẫy vùng,
lúng túng. Làm sao bây giờ; tàu đã đến kia rồi.. Tiếng người cãi cọ, giọng Quảng
Nam khắc khoải, đau đớn, tuyệt vọng... Những người đàn bà Bắc đồng loạt đứng
lên. Tất cả chạy vào hẻm núi đá ĐEN, những bàn CHÂN trần xô đẩy, đạp lên nhau,
ngàn vạn tròng MẮT hốt hoảng trợn trừng. Cảnh tượng càng trở nên hỗn loạn khi
đoàn tàu rầm rập tới, còi hú dài rền vang. Tàu tiến vào sân ga, không một bóng
hành khách, các toa dài thậm thượt chỉ chất đầy vòng cườm TANG và than đá ĐEN.
Gã thanh niên bứt được qua khe hàng rào, chạy theo đám đông đàn bà, hướng mũi
tên Đỏ trên tấm bảng mầu trắng có ghi rõ hàng chữ “ĐI HÀ NỘI". Thế là
không đi Nha Trang, phải ra Hà Nội, KHÔNG tìm được mẹ. Làm thế nào bây giờ?! Gã
thanh niên bị đám đông kéo theo vào hẻm núi tương tự như lần đầu bị kéo ra khỏi
phòng đợi. Và lần nầy cũng không phải cảnh khó khăn như khi bước qua đám đàn bà
nằm nơi nhà ga mà đã là một tình trạng thực khốn khổ với những GAI nhọn đâm lút
bàn CHÂN và DẦU ngập đến GỐI. Ô kìa, mẹ đang đứng trên núi cao, đỉnh núi ĐEN thẫm,
tay mẹ cầm cuốn sách lớn bìa màu Đỏ.. Mẹ đưa con cầm hộ.. Gã muốn kêu lớn,
nhưng không thể nào phát âm dù đã vùng vằng, cào cấu, thử đến lần thứ HAI, lần
thứ BA. Gã cuống cuồng trèo lên sườn núi, cũng là cách thoát thân bởi hai sườn
núi đang dần siết chặt lại. Từ vị thế chông chênh trên sườn núi gã nhìn lui..
Đám đàn bà đang trong cơn cuồng khấu tuyệt vọng, đạp lên đầu nhau tìm đường
thoát thân. Người mẹ vẫn lặng yên nhìn gã xót thương, ánh mắt buồn thảm đau đớn
và thân người bà nâng CAO dần với vị thế bất động.. Bà đưa cho gã cuốn sách.
Nhưng khi gã chạm đến bìa thì cuốn sách biến thành cái KHUNG VÀNG: Từ trong rơi
ra những hạt cườm như những hạt trơn trơn gã đang ngậm phải. Người thanh niên cố
gắng trèo nhanh, tay bám vùn vụt lên những lằn đá núi. Đá cắt tay gã những đường
máu Đỏ tươi. Hốt hoảng, gã di động tay qua những phiến đá khác. Chết rồi! Gã
kêu lớn.. Mẹ ơi.. Nhưng người mẹ đã lẫn vào trong mây. Và tay gã ướt đẫm máu những
vết cắt mới. Máu chảy đỏ trên sườn đá thành giòng. Gã dẫy dụa, cào cấu, lăn lộn
trên sườn núi loang loáng máu. Người thanh niên vụt tỉnh giấc.. Nước mắt đầy
tròng, chảy tràn xuống cổ, sau vành tai. Chưa bao giờ trong đời gã khóc dữ dội
đến như thế.
...Anh Rô, anh Rô.. sao Rô khóc dữ rứa? Giọng đứa em sũng ướt lo âu. Nỗi tội
nghiệp của con chó nhỏ sắp bị bán, cho đi hoặc bị giết. Con bé cầm tờ điện tín
e dè.. Nó đọc những giòng chữ mã hóa khó khăn. Nước mắt dần chảy dài, tờ giấy
hóa ẩm ẩm ươn ướt.
Bây giờ gã sống trong tình trạng tuyệt vọng của giấc mơ, hiện thực nơi toa tầu
bẩn thỉu, ẩm ướt nhớp nháp và đứa em ngồi co ro bên cạnh. Con bé ngồi im do tiết
lạnh, phần lo sợ chuyến đi bất chợt hiểm nghèo. Gió đùa mưa rây rây bay vào toa
qua cửa sổ, đám hành khách nhốn nháo lên xuống, những gánh quà rong chao đảo đi
lại ồn ào. Cảnh tượng ngoài trời nhòa nhạt trong vùng hơi nước xám đục, qua màn
khói tàu kéo lướt thướt từ từ kết đọng trước khi tan. Gã trẻ tuổi chỉ phân biệt
được loạt âm động đều đều nhịp bánh xe, tiếng máy tàu hừng hực, va chạm ngúc ngắc
từ những tấm kim loại nối kết hai đầu của mỗi toa, hệ thống thắng siết, nhả dưới
lườn xe.. Chen trong chuỗi âm thanh xao xác, tiếng khóc rấm rứt, nấc nấc tội
nghiệp của đứa em. Hai anh em đến ga Nha Trang vào nửa đêm. Trên lối đi chìm
bóng tối dẫn đến bệnh viện, người thanh niên có lúc nhận ra.. Biển đang gầm gừ
chuyển động ở một nơi nào đó rất gần. Gần như sát bên cạnh, trong thân. Cơn lạnh
từ chiều hôm qua hình như càng lúc càng siết chặt. Gã choàng tay ôm em. Hai chiếc
bóng xao động chập chờn trên mặt đường theo tàng lá cây bị gió quật ngã
nghiêng.
Người mẹ nằm sát mặt nệm như cành cây mục bị lấp xuống đất đã lâu. Dấu hiệu sự
sống chỉ còn nơi tròng mắt, nhưng ánh mắt cũng đã lạc thần, thỉnh thoảng lóe lên
tia nhìn kinh hãi van xin...
- Mẹ em bị “cancer vert”, ung thư gan. Chúng tôi không thể làm gì hơn được. Đây
là triệu chứng của giai đoạn cuối cùng. Tiếc rằng không phát hiện từ trước và nền
y tế nước ta không có phương tiện. Người bác sĩ diễn đạt, tóm tắt bệnh lý với
cách thức khác thường lệ, vượt qua khỏi lạnh lùng khách quan nghề nghiệp.
- Dạ.. Hai anh em con cám ơn bác sĩ, cám ơn các chú, các cô y-tá ở đây... Chúng
cháu chỉ hai anh em, không biết gì hơn, không có gì cả. Hai anh em thôi à. Một
người nào đấy hỏi nhỏ. Vâng, cháu mười bảy và em cháu mười hai. Người bác sĩ và
đám y tá bước ra, ông nói khẽ với nhân viên phụ trách trực tiếp giường bệnh..
C'est trop tard... Plus de morphine pour ell. Ông cố làm vẻ dửng dưng sau khi vỗ
nhẹ nhẹ vai gã thanh niên.
Sự chết đã hiện nên cụ thể từ ngón chân lên đầu gối. Hai ống chân, đúng hơn hai
ống xương chân phủ lớp da khô tái lạnh tanh, xuôi im tê liệt bất động. Tất cả
phần thịt từ đùi bụng đã hoàn toàn teo khô, tiêu biến. Ánh mắt xiêu lệch, leo
lét, trống vốc.. Lâu lâu người mẹ đão tròng mắt qua lại như tìm tòi, cố nhớ một
điều gì hoặc lẫn trốn một sợ hãi đe dọa. Hình như bà muốn đưa tay lên nắm, sờ
con, nhưng cơn đau đớn từ trong cơ thể lôi kéo, đẩy bàn tay vào một chuyển động
rời rạc lẫn lộn. Những ngón tay run run đưa trước mặt, lay lắt khe khẽ như muốn
hất bỏ, tách ra lớp da thịt, bộ phận nào trong cơ thể đang bị lỡ loét, nhức nhối,
đau đớn.. Những ngón tay bất chợt thả xuống, bấu vào mép chăn, sờ sò lên ngực,
gạt nhè nhẹ ở bụng. Động tác tuy yếu ớt nhưng tia nhìn bỗng loé lên ánh quyết
liệt. Lần quyết định cuối cùng để bức thoát khỏi nỗi đau quá sức chịu đựng.
..Mạ.. mạ.. đau..quá.. Chiếc lưỡi cử động khó khăn.. Mỏi chân lắm.. mạ bỏ hai đứa..
Tội lắm. Người mẹ không nói được hết câu, đưa hai cánh tay lên che mắt. Con
chim heo bay qua kêu thét tiếng ngắn. Âm rờn rợn ác độc xẻ bóng tối chập chùng,
đêm mùa đông sũng ướt, miền biển lộng gió chướng.
Người thanh niên gỡ cánh tay bà mẹ xuống. Anh mở mí mắt sụp cứng, nhìn vào
tròng mắt đứng sững. Mẹ chết thật rồi em ạ.. Gã nói tiếng nhỏ. Thật sự chỉ mấp
máy môi. Đứa em cắn chặt những ngón tay giữa kẽ răng, vùng vằng đầu tóc ngắn..
Em không biết.. Em không biết.
Bên ngoài, phía biển hình như gió thổi mạnh hơn. Người tuổi trẻ đột nhiên nghe
tiếng sóng dập dồn mạnh mẽ rồi bất chợt lặng thinh. Ngày chưa đến, bóng tối nhờ
nhờ qua khung cửa sổ dưới tàng cây đục màu chì.
Gã nhìn xuống ngôi mộ vừa mới đắp, mưa nhỏ rây ướt thấm mềm lớp đất nâu đỏ như
cặn máu. Vậy là kết thúc đời của mẹ. Một đời người. Gã đã đến đây từ Huế, người
mẹ đi ra từ Sài Gòn.. Hai mẹ con gặp nhau ở đây, một nơi chốn không hề định trước.
Trên sườn núi lưng Đèo Rù Rì, gã trẻ tuổi nhìn theo con đường nhựa đen, Quốc Lộ
I chạy thấp thoáng uốn lượn, lẫn khuất giữa đá núi, đồng ruộng và bờ biển. Quay
lại hướng thành phố Nha Trang, những khối nhà hỗn độn, cầu xóm Bóng, hàng dừa
xanh màu lục đậm cùng màu mặt biển nằm im. Đèo Rù Rì. Tên nghe lạ quá. Mẹ chưa
tới bốn mươi. Mẹ chưa hề trọn một buổi ngày vui vợ chồng, hạnh phúc gia đình đầm
ấm. Động tác thoải mái, nét mặt thư thả, bình yên nhất là những khi mẹ đã chùi
xong nền nhà, ngồi chống tay trên mép giường, nhìn chiếc sàn loang loáng nước..
Nắng hanh chiều cuối năm dọi vàng ô chữ nhật đổ chéo từ ngoài hiên hắt bóng
vào. Những giờ khắc quá ngắn như màu nắng chiều cuối năm hiu hắt. Niềm vui của
mẹ cũng mau chóng thoáng qua như buổi giao hòa đất-trời, cũ-mới, của ngày tận
cùng, đêm trừ tịch. Mẹ thắp hương, nhỏ bé mong manh đứng trước bàn thờ, nét mặt
phảng phất khói nhang, đôi ngươi loáng sáng ánh nến. Và mẹ hình như mĩm cười.
Đang hoan lạc lung linh. Mẹ mình chỉ có những phút vui quá ngắn và KHÔNG THẬT.
Và từ một tế bào nào đó tận sâu trong cơ thể đã gây nên một cơn ĐAU có THẬT làm
run cánh môi, làm ánh mắt lo sợ lạc thần, đẩy đẩy những ngón tay tuyệt vọng co
quắp. Và có thật sự mất mát tưởng như không thật nầy. Nơi nấm mộ nằm im không kẽ
nứt, giữa núi đá trùng trùng vây kín và biển im lặng ngoài xa.
Đột nhiên, gã nhớ ra sáng hôm nay, ngày Ba-mươi Âm lịch. Chiều nay, chiều cuối
năm, và sẽ là đêm Giao Thừa. Như thế, Tết nầy Mẹ không ở với mình. Mẹ sẽ mãi
không có.
Nhớ một lần cuối năm ở Nha Trang.
Tết Năm Tân Sửu, 1960-1961
& 6 tháng 11, 2003 ở Huntington Beach, California. Phan Nhật Nam Theo https://vietmessenger.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét