Bà Mẫn lưỡng lự bước qua bực cửa bức bàn. Hình như ở ngoài thềm
có cái việc gì đấy đang hối thúc bà phải xem xét. Nhưng sân xướng, ao chuôm, vườn
tược, chả có chuyện gì xảy ra cả. Cái thềm gạch rộng rênh rang ba thứ đồ vật cố
hữu: Vại cà nén, cái giành mắt cáo có 3 chân để úp bát đũa và cái chậu sắt
tráng men để rửa mặt. Bà Mẫn lẩn thẩn nhướng mắt nhìn ba thứ vật dụng quen thuộc
ấy rồi lại lưỡng lự bước qua bực cửa vào nhà. Một tiếng thở dài bị nén lại và
nhả ra rất từ từ, rất khẽ. Bà sợ ông Sạn trong nhà nghe thấy.
Chuông đồng hồ treo tường nhả ra mười tiếng cổ lỗ, hơi chói gắt. Bà Mẫn chép miệng,
ngồi xuống góc chiếc sập gụ bóng: "Đang đông chợ rồi đấy". Ông Sạn ngồi
bó gối trong góc sập, gác chiếc cằm dài ngoẵng lên cánh tay, bất động từ sáng tới
giờ mới nói một câu: "Hay ông trông nhà hộ tôi nhá? Tôi chạy ù đi một tí rồi
về ngay ấy mà!". Bà Mẫn te tái xuống bếp, ra cầu ao. Ông Sạn thong thả kéo
điếu, véo thuốc vê vê mãi rồi mới nạp vào nõ. Bà Mẫn vội buông chiếc giỏ tre
ngang hông, bước thấp bước cao, lắp tắp như sợ ông Sạn đổi ý gọi bà về.
Nắng đồng bãi quánh đặc tưởng có thể xắn ra thành từng khối. Bà Mẫn lui cui đi
mò một mình, dở dang giữa buổi, không chị không em. Làm ăn bất kể thứ gì mà một
thân một mình đều là khổ cả. Các cụ ngày trước bảo "Ăn một mình đau tức,
làm một mình cực thân" thật chẳng sai. Gái làng Yên xưa nay, đã đi mò tôm,
mò cá ở bãi ngoài thì phải gọi nhau đi hàng đoàn và từ lúc chưa mọc mặt trời.
"Tôm toá sáng, cá rạng đông", cho đến lúc mặt trời nhô lên trên cánh
bãi thì những người "sát cá" cũng đã kiếm hẳn được một mớ cá tươi
rói. Họ chạy uỳnh uỵch, quáng quàng về bán cá chợ sớm để rồi lại quáng quàng ra
bãi mò vét lần hai. Lần hai là khoảng hơn chín giờ sáng cho đến trưa, là lần mò
phụ, được sao hay vậy, tạp nham cả tôm, cáy, cá bống cơm... Nếu thành tấm thành
món thì bán luôn dưới chợ trưa, còn không thì lại tất cả đem về cho ở nhà kịp
kho kho, nấu nấu. Từ dạo tham gia làm công tác phụ nữ xã, thi thoảng bà Mẫn mới
có dịp tranh thủ đi mò giữa buổi như vậy. Đi mò cua bắt cá ì oạp nơi đồng bãi
cũng là một nghề của gái làng Yên này. Cả tổng, cả huyện chỉ có riêng làng Yên
là có cái nghề độc đó - nghe nói là từ thời Mai An Tiêm để lại ấy. Người thì bảo
đấy là nghề "sang", người lại bảo "dân cùng đinh, thiếu ruộng,
thiếu nghề" mới phải mò cua, bắt bớp. Nghe những chuyện cãi vã ấy, bà Mẫn
vừa bỏm bẻm nhai trầu vừa cười trừ. Sang hèn gì thì đời bà coi như đã nếm đủ.
Thời cuộc nó cứ chuyển vận ầm ầm, thì giờ đâu mà ngồi cãi nhau hèn hay sang. Kể
ra mỗi bên đều có cái lý của mình. Bà Mẫn như vụt nhớ lại thời xuân sắc với những
ngày đẹp đẽ của những cô Tấm thuở mò cua bắt bống ngoài bãi.
Thuở ấy, dân nội đồng nể cô Mẫn một vành. Người mò cua đồng bãi, suốt ngày úp mặt
xuống đầm lầy, nắng và gió chao chát thế mà da dẻ vẫn trắng như ngó cần thì thật
là lạ. Đã thế, Mẫn lại có biệt tài bắt cá lác hoa giỏi đến mức có người đi kè
kè bên cạnh, cố học lấy ngón nghề mà vẫn không học được. Mẫn đâu có giấu nghề.
"Người ta bắt cá lác bằng mắt em ạ. Cố mà nhìn xem cái vệt vây cá nó vật
trên bùn, in đậm ngả nào thì đích thị con cá đang ẩn dưới bùn cạnh đó". Thế
nhưng cả làng, ai cần cá lác hoa kho với ngọn rau dừa và lá gừng cho bà đẻ ăn cứ
phải đến cầu cạnh cô Mẫn. Đàn ông làng Yên để tỏ lòng thơm thảo với vợ lúc sinh
đẻ ốm đau đều so bì nhau bằng nồi đất kho cá lác. Muốn có nồi cá lác hoa kho
khô phải dặn trước cô Mẫn vài ba ngày. Đám phó cối, thợ ngoã, thợ xắn đất vượt
thổ, thợ cày thuê... không ai lại có thu nhập cao bằng Mẫn, mặc dù mỗi mớ cá
lác, Mẫn chỉ lấy nhỉnh hơn mớ cá thường có hai hào bạc.
Làng Yên có một lệ bất thành văn ngay từ thời cụ Nguyễn Công Trứ gọi dân đi
khai phá bãi phù sa để lập ấp, ấy là việc chỉ có những chàng trai thật tài giỏi
hoặc học hành đỗ đạt cao mới được sánh duyên cùng những cô gái giỏi nghề mò xới
cá lác hoa. Mẫn là bậc thầy của những cô gái ấy. Vì thế cho nên anh Vượng từ mặt
trận đường số 6 về phép, trình giấy Uỷ ban kháng chiến xã ngày trước thì ngày
sau, mai mối gia đình đôi bên cũng đã hòm hòm. Ngày cưới Vượng - Mẫn, khắp cả
làng, ở chỗ nào cũng thấy râm ran câu hát vít vổng: "... Gái thôn Đoài là
em gái thôn Đoài/ Trai thôn Thượng là anh trai thôn Thượng/ Đánh giặc cừ mà làm
ruộng cũng hăng...". Ở với vợ được ba ngày hai đêm, anh Vượng xốc ba lô ra
đi, đi mãi đến nay. Mộ chí trên Mường Thanh chỉ là một nấm đất tượng trưng. Có
người bảo anh ở bộ đội bí mật đặc biệt.
Ngày vui ngắn chẳng tày gang. Vượng đi rồi, nhà chỉ còn có Mẫn vừa xới xáo vườn
tược vừa chăm nuôi bà mẹ chồng goá bụa mắc bệnh nghễnh ngãng, mấy năm nay lại
thêm chứng quáng gà. Bà đổ bệnh từ khi nghe tin chồng - ông Vưởng làm phu vác
đá ngoài mỏ Tràng Kênh bị chết mất xác vì là người đầu tiên vận động thợ mỏ biểu
tình đòi tăng lương và ủng hộ phong trào đấu tranh của công nhân nhà đền Bến
Thuỷ. Người hàng tổng đồn đãi, ông Vưởng làm cộng sản, chả biết thật hư ra sao,
chỉ biết làng có thêm một người phụ nữ goá bụa và Vượng có thêm một tên gọi mới:
cu Côi! Những đứa trẻ làng Yên bị mất cha, không hiểu sao ngày càng nhiều. Lớn
tồng ngồng như cây sào, cưới vợ đến nơi mà vẫn cứ bị gọi là cu Côi như thường.
Mẫn có nghén. Vui mà lo, nỗi lo mơ hồ mà dường như hiện hữu. Lạy giời, mai kia,
đứa trẻ lớn lên, là gái thì có nghề bắt cá lác hoa giỏi, là trai thì không phải
kèm theo tên tục cu Côi. Thật là cơ khổ, đời con người ta có phận nên chạy trời
mà không khỏi nắng. Đàn bà con gái trong làng đến kỳ sinh nở, kiêng cữ, ít nhiều
gì cũng có đôi ba nồi cá lác om với gừng, với khế, với rau dừa nước. Thế mà đến
lượt mình sinh nở thì Mẫn lại chỉ có mỗi một mớ cá bống cơm mua vội mua vàng dưới
chợ chiều. Cái chuyện thua thiệt ấy thôi thì cũng coi như là chuyện vặt vãnh.
Cá bống cơm nhỏ như đầu đũa, cũng gừng, cũng khế, cũng nồi đất om trấu vàng cườm
như ai. Cái chuyện lớn lao, chuyện đau lòng là thằng cu Vương sinh ra, nồi cá bống
kho cho người ở cữ chưa vẹt hết một phần thì ngày nó nhận tên là cu Vương đồng
thời cũng là ngày nó nhận thêm một cái tên chẳng ai muốn: cu Côi! Mẫn choáng
váng, bậm môi đến bật máu, nghiến răng kìm nén trước thân phận mình để chăm sóc
mẹ chồng và nuôi thằng Vương khôn lớn. Chị luôn giật mìnhh mỗi khi nghe ai đó gọi
con: Ơi cu Côi! Sạn cùng tuổi với Vượng nhưng ở khác xóm. Nhà Sạn đông anh em
nên quanh năm đói vàng con mắt. Sạn phải theo thuyền buôn phân bắc từ ngày mười
một, mười hai tuổi đầu. Thật cơ cực, khốn nạn là cái nghề theo thuyền buôn phân
bắc. Mua, hốt và tha được một thùng phân bắc từ phố xá đến bến thuyền cũng đã đủ
hộc cơm, chưa nói cái việc phải sống, phải ăn, ngủ và chuyên chở nó từ đấy đi tận
Hải Phòng. Đông cũng như hè, cái ám khí nồng nặc và hầm hập của phân bắc nó chườm
ướp làm cho anh chàng Sạn tã tướp ra như thể hình nhân. Sạn bỏ của chạy lấy người.
Về đến nhà, ốm lay ốm lắt không ra bãi được một buổi.
Người làng đi làm vắng tanh lối ngõ. Sạn đang tha thẩn bên bờ dậu xóm Nam thì bỗng
thấy thằng cu Vương lộn cổ xuống ao, nghe đánh "uỗm" một cái. Sạn lẩy
bẩy vớt được cu Vương thì sau đấy trùm chăn, ôm ngực rên ư ử tới nửa tháng trời.
Nhưng cũng từ đấy, Sạn có cớ đi lại, thăm nom bà cháu, mẹ con nhà Mẫn. Đến nhà
Mẫn, cả ngày Sạn không nói một câu. Gặp mái bếp dột thì đánh rạ dặm dọi. Gặp mạch
vữa ở sân gạch bị mủn thì kiếm xi măng, trộn cát rồi trét lấy trét để, càng
trét càng lôi thôi, lem nhem. Mẫn ôm bụng nín cười mà chẳng dám nói một câu. Phải
lúc lên cơn cò cử thì Sạn leo lên góc sập gụ ở giữa nhà, hai tay ôm lấy đầu gối
chân nhô lên cao quá mang tai, cọ cọ chiếc cằm nhọn tua tủa râu, cứ thế bất động
như một pho tượng. Dễ có đến cả chục năm trời, Sạn vẫn thế mà người làng lại cứ
đồn đãi là Sạn có tình ý với Mẫn. Nghe chuyện, Mẫn cười: "Bác ấy thương hại
nhà em toàn đàn bà, mẹ goá con côi nên bác ấy đến ngồi chơi cho khuây khoả ấy
mà".
Mẫn đã bắt đầu làm quen với cuộc sống đơn giản. Mẫn đã nghiến răng vượt qua những
đêm trăng thanh gió mát bên ngoài mà trong lòng cuống cuồng, bấn loạn, rối bời
chăn chiếu, tóc tai. Và ở nhà ngoài là bà mẹ chồng nghễnh ngãng với chiếc quạt
mo sột soạt khi quạt, khi đuổi muỗi. Thằng cu Vương nghịch ngợm ban ngày, ban
đêm lăn ra ngủ, giang chân giang tay choán hết cả chỗ mẹ. Mẫn muốn nhận một
phen trâu cho cu Vương chăn dắt nửa buổi để kiếm thêm vài điểm nhưng lại sợ máy
bay bò ra ngoài bãi. Đêm nằm nắn chân nắn tay cho con, Mẫn thấy vui vì chân tay
cu Vương bắt đầu vóng dài ra. Dấy lên trong lòng Mẫn một niềm hy vọng về một
ngày mai thanh bình hết giặc dã, lo âu. Thằng cu Vương là hòn máu cuối cùng còn
sót lại của dòng họ mà Mẫn là người có trách nhiệm to lớn là phải nâng niu, phải
giữ gìn, phải bảo vệ. Đã lâu lắm rồi, ngôi nhà ngói ba gian, cửa bức bàn từ thời bố
mẹ ông Vưởng để lại, đến nay mới lại thấy tiếng cười, tiếng nói đàn ông ồ ồ vỡ
giọng vừa ấm vừa vang. Mẫn nhận ra tín hiệu đầy ấm cúng và tin cậy ấy vào một
buổi trưa khi Mẫn vừa bán mớ cá ở chợ về. Chị vội vã chân năm tay mười nhóm bếp
nấu cơm thì thằng Vương nhảy ba bước từ ngoài ngõ vào nhà, miệng gào lên ồ ồ:
"Bu ơi, con đói lắm rồi! Bu đâu rồi...". "Bu đây, cái gì mà rối
lên thế. - Mẫn nở một nụ cười thoả mãn - Người ta lội ngoài bãi chưa kêu đói mà
mày chỉ có ngồi học đã kêu oai oái lên thế?". "Ứ, thế bu tưởng học là
nhàn lắm đấy hả?". "À, không bu biết, bu làm ồ cái xong ngay đây. Gớm,
cha bố anh. Giọng cứ ồ ồ như ngan đực ấy. Lớn rồi, đừng có hòng mà nhõng nhẽo uốn
mẹ. Tuổi ấy ngày trước, bố mày đã là bộ đội Điện Biên rồi cơ đấy!".
"Dào ơi, bu chẳng phải ước. Mấy bữa nữa, con cũng là bộ đội như ai!".
"Hả, mày nói nhảm nhí cái gì vậy Vương?". Mẫn đổ sụm xuống bên thềm cửa.
Ba, bốn chiếc bát ăn cơm vỡ tan tành. Cu Vương lập cập lao ra ôm lấy mẹ. Cho
mãi đến về sau, nó vẫn cứ tưởng rằng mẹ nó bị say nắng. Người ta ở ngoài bãi về
giữa trưa thường hay có người say nắng như vậy. Chỉ có Mẫn biết tại sao mình
ngã sụm xuống nơi bậu cửa. Thế là cái điều canh cánh lâu nay trong lòng Mẫn bỗng
trở thành sự thực. Thằng cu Vương nghỉ học và bứt ra khỏi cánh tay mẹ một cách
dứt khoát, mạnh bạo. Mẫn biết mình không còn cách nào giữ được con và Mẫn biết
cái gì đang cuốn hút nó vượt trên mọi trở lực. Làng này ối đứa mười bảy tuổi rưỡi
đã lên đường nhập ngũ huống hồ cu Vương.
Dùng dằng mãi, cuối cùng Mẫn quyết định nói chuyện nghiêm túc với cu Vương, câu
chuyện mà lần đầu tiên trước mặt đứa con mình rút ruột đẻ ra, Mẫn cảm thấy khó
nói lời mở đầu. Bên kia giường, bà mẹ chồng vẫn tư lự phe phẩy quạt mo cạnh cửa
sổ. Góc sập gụ gian giữa lại là ông Sạn ngồi thu lu đầu gối quá tai cả ngày chẳng
nói một câu. Mẫn rút chiếc khăn đen chấm nước mắt. Thằng Vương ngồi di di ngón
chân.
- Thôi thế này Vương, có muốn bu cũng chẳng giữ nổi con. Mong cho con đi bằng
anh bằng em. Nhưng tình cảnh nhà họ Lê Văn, con biết rồi đấy. Vì vậy, bu quyết
định, con phải lấy vợ trước khi nhập ngũ. Lấy vợ sớm thì được đi sớm, không đi
đợt này thì đi đợt sau. Bây giờ thì tuỳ anh, nhưng chẳng còn dài ngày đâu đấy.
Thế là Vương cưới vợ giữa lúc cầm quyết định nhập ngũ trong tay. Thế là Thảo,
cô bạn học cùng lớp bỏ học về làm vợ Vương, suốt ngày theo mẹ chồng lội bãi
ngoài học nghề bắt cá lác hoa. Căn nhà gỗ lim bức bàn lại trở lại trống vắng, lạnh
lẽo từ buổi Vương đi. Rồi những đêm trằn trọc, khắc khoải, cô con dâu ôm chặt lấy
mẹ chồng mà thút thít, rấm rứt: "Bu ơi, sao đời con khổ thế này? Con
thương bu, bu ạ". "Ừ, ừ, bu biết rồi. Thôi ngủ đi. Sớm mai cái Thảo
có đi ra bắt cá lác với bu nữa không?". "Ối, bu, con đi chứ ạ!".
"Ừ, thế thì ngủ đi". Mẫn vỗ vỗ, xoa xoa vào lưng cô con dâu như thể
Thảo còn bé lắm. Ở giường ngoài, bà Vưởng vẫn sột soạt, lục cục với chiếc quạt
mo. Bà không ngủ như vậy từ mấy chục năm nay rồi.
Không phải chuyện cả lo, cả nghĩ, nhưng những điều mà Mẫn áy náy, ngẫm ngợi trong
lòng, không hiểu sao nó lại thường hay trở thành sự thực. Khi những điều vô
hình vô ảnh ấy trở thành nỗi lo thường trực trong đầu Mẫn thì nói bỗng nhiên
bùng phát nhanh chóng. Lo thế, nghĩ thế mà nhiều lúc cập rập trở tay không kịp.
Cứ đêm đêm, nghe bầu ngực con bé Thảo phập phồng, tức tưởi, Mẫn bỗng nghiệm ra
rằng, cái Thảo lấy chồng, ngủ với chồng cũng không được tới ba đêm. Nghĩ đến
chuyện ấy làm Mẫn giật mình và lo lắng mãi không thôi. Lạy giời thương lấy con
bé mảnh mai tội nghiệp, đừng đày nó vào kiếp sớm goá bụa, cảnh mẹ goá con côi
như Mẫn! Thằng Vương mà rủi ro có mệnh hệ thế nào thì quả thật, ngôi nhà này hiện
hữu tam tứ đại goá chồng! Mẫn rùng mình, mồ hôi chảy nhồn nhộn sống lưng. Chưa
bao giờ Mẫn thấm thía nỗi cô cút, goá bụa, cô quạnh như đêm nay. Tay Mẫn rờ rẫm
lập cập. Chị ôm chặt con bé Thảo như sợ ai dằng ra, cướp đi mất. Lần đầu tiên
chị xụt xịt khóc thầm. Nước mắt bết hết một mảng tóc nàng dâu, nóng hôi hổi.
Ngoài sân, trăng vẫn sáng ròng ròng.
Thảo lấy chồng chưa bén hơi thì Vương đã xa biền biệt. Nhưng bù lại, cả làng
phát ghen vì Thảo có bà mẹ chồng nhất mực thương yêu. Bu Mẫn chi chút, quấn tóm
Thảo không khác gì với Vương, có khi còn hơn thế. Hai tháng trước ngày sinh, Thảo
cũng đã kịp trở thành cô gái bắt cá lác hoa thiện nghệ. Bu Mẫn thi thoảng đi họp,
đi vận động "ba sẵn sàng, ba đảm đang", còn lại phần lớn thì giờ đều
lo toan cho Thảo chuẩn bị "nằm ổ". Thảo thấy mẹ chồng chăm bẵm mình
thì cảm động, chỉ biết khóc và đôi khi vô tâm nói điều gì đấy như xoáy vào lòng
bu Mẫn những vệt xoáy quặn ruột gan. "Bu ơi, em bé đạp mạnh ghê. Giá giờ
này anh Vương ở nhà nhỉ". Bu Mẫn lẳng lặng vào buồng kéo khăn vuông đen chấm
nước mắt. Một tuần sau đấy Thảo sinh một bé gái lúc hai giờ sáng ngoài trạm xá
xã. Bu Mẫn trực cả đêm, lúc ấy lại lật đật lấy đèn pin trở ngược về nhà
"kiếm thêm hành khô để đón sữa non cho nó thơm". Bu Mẫn còn hồi hộp
phấp phỏng và mong mỏi hơn cả Thảo nữa là khác. Điều ấy Thảo chưa thể biết được.
Bà hy vọng, khát cháy một ước muốn: Đứa bé là con trai! Nhưng ác thay, một lần
nữa, trời đất lại phụ bà. Quay trở lại trạm xá, bà Mẫn ôm lấy bọc chăn quấn đứa
bé mà khóc nức nở. Dường như ít ai hiểu được lòng bà Mẫn lúc ấy khóc nỗi gì.
Ba gian nhà ngói gỗ lim khoáng đãng bắt đầu có thêm tiếng cười, tiếng nói hoà lẫn
với giọng ru con vừa trẻ trung ngô nghê của Thảo. Bà Mẫn tự tay đi ra bãi ngài
bắt cá lác hoa và úm trấu cho Thảo ăn dần - những nồi cá lác hoa kiểu mẫu dành
cho sản phụ mà cả làng phải ghen tị. Bà cụ Vưởng cứ xán đến, một hai đòi bế chắt
nội mà chẳng ai cho, cuối cùng thì bà cụ ngồi quạt cho con Thảo với nét mặt hờn
lẫy của người già, trông thật tội. Ông Sạn dạo này cũng chăm đến hơn. Hình như
ông cũng khoẻ ra thì phải. Ông trở thế ngồi trên sập gụ, thi thoảng gõ điếu bát
lách cách làm con bé bỏ vú mẹ, quay ra nhìn ông chằm chằm.
"Bu ơi, cho con dành phần đặt tên cháu, bu nhớ!". "Ờ thì chị đặt
tên gì nào? Nói bu nghe thử xem đã chứ?". Thảo cười lém lỉnh: "Con đặt
tên theo vần bà nội, vậy tên cháu bà là Mận, Lê Thị Mận tức là ba loại quả mà
phụ nữ ưa thích ấy bu ạ?". Như chợt nghĩ đến điều gì, bà Mẫn bỗng tái mặt
đi, còn miệng thì nở một nụ cười gượng gạo: "Ờ, ờ... tên Mận... được đấy".
Có cái gì vời vợi như đang hô nhau chà xát lòng bà. Giả sử nó là con trai thì mẹ
Thảo định đặt tên gì nhỉ. Và bà nữa, ông nó là Vượng, bố nó là Vương, vậy chí
ít nó cũng có chữ đầu là V. Chứ hỉ? Ôi thôi, thật là chuyện vớ vẩn. Mình lẩn thẩn
thật rồi. Bà Mẫn lại kéo chiếc khăn vuông đen cố hữu vào buồng.
Một năm. Mười năm. Mười lăm năm. Đêm nay lại gió mát trăng thanh. Trăng lênh
láng khắp bãi bờ, đồng đất vùng cửa sông. Nhà bà Mẫn quen lệ đi ngủ sớm. Trăng
vàng ròng trên cái sân gạch rộng rinh. Con bé Mận đi chơi với bạn mãi cuối xóm.
Căn nhà gỗ im ắng. Thi thoảng mới có tiếng chắt lưỡi của con thạch sùng và chiếc
quạt mo sột soạt của bà cụ Vưởng. Có một tiếng thở dài được nén lại, rất khẽ.
Cánh cửa lim bỗng nghiến lên ghê tai. Những người đàn bà trong nhà nhổm cả dậy.
Con bé Mận hay ai về mà mở cửa mạnh thế?!. Văn Thảnh Theo https://vietmessenger.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét