Thứ Tư, 26 tháng 11, 2025

Lược sử văn nghệ Việt Nam 1

Lược sử văn nghệ Việt Nam 1

KỲ THỨ I.
THAY LỜI DẪN
Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam của nhà văn Thế Phong gồm 4 tập, đã được in 2 tập: Tập 1 NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930-1945, bản in ronéo đầu tiên ở Sài Gòn gồm 100 cuốn vào năm 1959. Bản tái bàn cuả NXB Vàng Son in 3000 cuốn ở SàiGòn vào năm 1974. Bià cuả họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi được chụp in lại trên đây , do một trong những NXB vô danh ở Mỹ in lậu ở California sau 1975 và Tập 4 : Tổng Luận đã chuyển ngữ A BRIEF GLIMPSE AT THE VIETNAMESE SCENE (from 1900 to 1956) và 2 tập 2 & 3 nói về văn nghệ kháng chiến, nhà văn hậu chiến 1900 - 1956 (văn nghệ quốc gia hay văn nghệ của VNCH) chưa bao giờ công bố trên văn đàn, mặc dù đã được lưu trữ tại một số thư viện TRONG NƯỚC (Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. HCM, Thư viện Khoa học Xã hội Tp.HCM) và NGOÀI NƯỚC như ở Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Boston, Ithaca-New York, SIU, IOWA v.v... hoặc ở Pháp, Đức, Úc..
Việt Văn Mới xin đăng tải lại một vài nhận định báo chí, văn giới về Lược Sử Văn Nghệ khi xuất bản lần đầu vào 1959 :

a) Tạp chí Bách Khoa:" ..Ông TPhong vừa cho ra một loạt phê bình văn học. Đó là ai nấy đều mong đợi, bởi vì sau một thời gian khá lâu chưa ai tiếp tay Vũ Ngọc Phan, chốc đà mười mấy năm trời' đúng một thời gian luân lạc cuả cô Kiều...."( số 56, năm 1959, TRIỀU ĐẨU)
b) Ông TP một văn nghệ sĩ thủ đô vừa viết xong và cho phát hành cuốn" Lược sử Văn Nghệ VN", trong đó tác giả phân tích các tác phẩm của văn nghệ sĩ ra đời từ 1930 đến 1945. Cuốn này được quay ronéo có bầy bán tại các hiệu sách. Sách này tác giả đã tốn nhiều công phu và sưu tầm khá nhiều tài liệu để biên soạn (nhật báo Ngôn Luận ngày 8/9/1959- Saigon).
c) ..." Điều thứ ba, sự phán đoán của anh hợp với ý tôi, phần nhiều các tác phẩm anh khen, thì tôi cũng nhận là có giá trị; những tác phẩm anh chê, thì tôi cũng không thích. các nhận xét cuả anh về Triều Sơn, Hoàng Thu Đông đều đúng cả. Đó là nhận xét của tôi; tôi phải phục sức đọc, sức viết, sức nhớ cuả anh. Cảm ơn anh một lần nữa.." (Nguyễn Hiến Lê, 12/3c Kỳ Đồng, Saigon 3- ngày 17/4/1959)
d) Nguyệt san Sinh Lực (1959, Chủ nhiệm: Võ văn Trưng- Saigon) :"...Hôm nay Thế Phong còn có thể ít nhiều nhầm lẫn-nhưng với khả năng rạt rào của tuổi trẻ, với lòng yêu văn nghệ đến đam mê, anh còn nhiều bước đi ngạc nhiên trên lãnh vực nà để đào xới lại mảnh đất hoang phê bình cảo luận bị bỏ quên trong nhiều năm. Sự cố gắng của Thế Phong là sự cố gắng hoàn toàn văn nghệ, cuả một người văn nghệ biết mỉm cười trong sự nghèo túng bản thân mình để hiến chiều dài cho văn học sử. Cũng có đôi khi ta thấy Thê Phong phê phán có vẻ độc tài và tàn nhẫn nữa; nhưng ta vẫn thấy rằng: đó là sự độc tài và tàn nhẫn không có tính cách tự cao, tự đại; hoặc dao to búa lớn; (trái lại) nhiều tinh thần thẩm mỹ, dĩ nhiên là có chủ quan. Ta quí sự nhận thức ấy- vì anh dám nói- cũng như người khác có dám cãi lại hay không là quyền của họ.." (Lê Công Tâm - Thanh Hữu, nhà văn).
e) Le Journal d'Extrême Orient (Saigon, 3 Décembre 1959)" Lược sử văn nghệ Việt nam-Hisotire de la littérature vietnamienne". Histoire sommaire de la littérature vietnamienne, òu l'auteur passe en revue les écrivains d'avant guerre 1930-1945. Cette oeuvre est tirée sur ronéo avec une tirage limitée. Fruit de minuitieuses recherches et d'une riche documentation donnée une vue d'ensemble des diverses époques et tendances des écrivains, des poètes du Vietnam, de leurs oeuvres, d'une littérature riche de plusieurs millénaires suivant le cours de l'Histoire. C'est une synthèse remarquablement coordonné annotée parle critique éminent qu'est ThếPhong qui l'achevée dans les derniers jours de Juin 1956
(đã in ở cuối sách "LSVNVN-Nhà văn tiền chiến 1930-1945 của ThếPhong, NXB Vàng Son Saigon 1974)...
Từ Vũ và Việt Văn Mới chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã ưu ái cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ,một bộ tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu
Từ Vũ
VvietartNewvietart 2004-2018
ViệtVănMới 25.6.2020 Troyes-France.
VÀI DÒNG TÂM SỰ NGƯỜI VIẾT SÁCH
Trước hết cảm ơn bậc đàn anh bước trước: Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh – Hoài Chân ... (chẳng là gần với tài liệu văn học tham khảo, cũng như so sánh).
Viết sách biên khảo hay phê bình, giá trị nhiều hay kém có thể nằm trong vài ý kiến dưới đây: Lập trường người viết phải có trước khi tìm kiếm tài liệu. Ấy là đã phải kể tới kiến thức, học và đọc; khả năng và tâm hồn văn nghệ nhạy cảm của người viết phê bình.
Lại cần kinh nghiệm, nhỡn quan nhìn, phải được chế biến theo lập luận người viết càng nhuyễn, sách càng phong phú. Không thể coi sách tương tự như cours nhà trường, làm thành gọi là biên khảo, phê bình văn học. Cũng như étude, non-fiction, fascicule, étude critique sur critique phân minh rõ ràng.
Tài liệu dồi dào, nhưng tài liệu nào chưa đọc, không nên bao biện. Người viết không định ý, lập luận; hẳn tài liệu phong phú dồi dào đi nữa; cuối cùng người viết chết theo với tài liệu sưu khảo được. Nhớ tới Nguyễn Hiến Lê trong một sách biên khảo bàn về tài liệu, nhất là tìm tài liệu văn học, sử học Việt Nam khó gấp bội phần khi sưu tập tài liệu tương tự ở nước ngoài. Ý kiến thật xác đáng. Nước ta triền miên khói lửa, và tầm mức thẩm định giá trị tài liệu văn học chưa được sử dụng đúng mức, công bằng.
Cộng đời sống thấp kém, ít thời giờ đọc sách, mua sách, bảo tồn sách, nên tủ sách văn học Việt Nam cần cho người viết sử dụng còn ở tình trạng rất thiếu thốn.
Khi viết bộ sách này, khích lệ tôi nhiều nhất phải kể tới một người: đó là anh Nguyễn Đức Quỳnh. Ông nhắn nhủ tôi rằng: “tài liệu nhiều chưa chắc đã là một yếu tố thành công, còn phải dám làm, dám nhận trách nhiệm”.
Đôi khi, chính kẻ dám làm lại liều lĩnh và dám biết mình ngu. Như vậy, chắc chắn tôi biết trách nhiệm khi viết sách. Cảm ơn một lần nữa nhà văn lão thành Nguyễn Đức Quỳnh, ông bạn văn tiền chiến vong niên. Nữa, cho tôi xin cảm ơn thêm vài tấm áo vải lao động: như anh chị Hai Nụ ở Xóm Chùa (Tân Định) làm nghề thợ thêu. Anh chị nuôi sống tôi hai năm trời: cơm và nhà ở. Nhà thuê vào năm viết bộ sách là một trăm năm mươi đồng. Tiền cơm bốn trăm đồng. Chưa hết, ông già Lịch bán thuốc lá, cũng ở đây; cho tôi chịu khoảng hai ngàn đồng tiền thuốc lá. Thuốc lá Ruby khoảng sáu đồng một bao. Sáu tháng liền, tôi chỉ đi ra tới ngõ; xa hơn là 147B Trần Quang Khải (Sàigòn 1) tới tiệm cho thuê sách Đức Hưng. Nơi này đủ gần hết tác phẩm tiền chiến, giấy dó Hàn Thuyên, mướn đem về đọc để làm tài liệu viết. Một người bạn nữa anh Lung cũng ở Xóm Chùa ngập nước, có một tủ sách khá lớn. Anh cho mượn và tôi sử dụng một cách sở hữu chủ. Anh từ miền Bắc vào Nam lâu, có viết báo tài tử, một người thật chân tình. Phải chăng chân tình này làm tôi cảm động, khi nghe kể đoạn đời anh tham gia kháng chiến ở Nam Bộ bị Pháp cầm tù. Đời tù đầy thêm kinh nghiệm sống, đời quất ngọn roi phũ phàng bao nhiêu, nạn nhân chịu nổi hờn đau sẽ sống lâu hơn; sau thì người ấy sẽ được liệt vào bậc tốt nhất xã hội trên mọi phương diện.Và một bạn học cũ Hà Nội : Tạ Văn Tài đạp xe đạp thăm tôi để khích lệ - trước khi anh đậu hai thủ khoa Văn chương và Luật khoa Sài Gòn rồi sang Mỹ du học.
THẾ PHONG
BỘ LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM 1900-1956
gồm 4 tập:
1). NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930 -1945
2). NHÀ VĂN KHÁNG CHIẾN 1945 -1950 gồm hai phần:
a). NHÀ VĂN KHÁNG CHIẾN CHỦ LỰC 1945-1950 viết theo lối tuyển tập thơ văn kháng chiến, viết về: Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Tố Hữu, Quang Dũng, Văn Cao, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Trần Hữu Thung, Hoàng Lộc, Yên Thao, Nguyễn Đình Thi vv... Các chiến sĩ văn nghệ như: Vô Danh, Hà Minh Tuân, Lê Minh, Vũ Linh, Nguyễn Trinh Cơ, Đình Quang, An Bá Đảm, Quốc Chính, Nguyễn Xuân Hòe, An, Lưu Hương, Chính Hữu, Minh Tiệp, Phùng, Hà Khang, Kim Lân, Siêu Hải, Nguyễn Công Mỹ vv... b). Nhà văn miền Nam 1945 –1950: Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà, Vũ Anh Khanh, Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc, Hoàng Tấn, Bình Nguyên Lộc, Hoàng Tố Nguyên, Quốc Ấn, Sơn Khanh, Vũ Xuân Tự, Hợp Phố (nữ), Phi Vân, Nguyễn Bảo Hóa(78) v.v...
3). NHÀ VĂN HẬU CHIẾN 1950 - 1956.
Bùi Xuân Uyên, Tạ Tỵ, Xuân Nhã (nữ), Hoàng Chu Ngạc, Triều Đẩu, Trúc Sĩ, Phan Phong Linh, Bạch Diện, Mai-Lâm-Nguyễn-Đắc-Lộc, Nguyễn Tố, Văn Thuật, Mặc Thu, Nguyễn Ái Lữ, Kỳ Văn Nguyên, Nhị Lang, Thanh Nam, Huy Quang, Nguyễn Thiệu Giang, Thi Thi Tống Ngọc, Nguyễn Hoàng Quân, Hiệp Nhân, Thùy Linh, Thanh Bình, Vĩnh Lộc, Nguyễn Thạch Kiên, Hà Bỉnh Trung, Hoàng-Lan, Quốc Ân, Hoài Linh, (1 và 2) Kim Dung, Hiền Nhân, Đoàn Thu, Hoàng Công Khanh, Sao Mai, Nguyễn Minh Lang, Văn An, Thanh Hữu, Huy Sơn, Đinh Hùng, Nguyễn Quốc Trinh, Song Nhất Nữ, Hoàng Phụng Tỵ, Hoàng Song Liêm, Hoài Việt, Trần Nhân Cư, Huyền Giang, Băng Sơn, Vân Long, Song Hồ, Lê Đình Chân, Mặc Đỗ, Phạm Việt Tuyền (Thanh Tuyền), Lê Văn Hòe, Phạm Văn Sơn, Hoàng Như Mai, Huyền Chi, Hoài Minh, Thanh Thuyền, Hồ Đình Phương, Tạ Ký, Xuân Huyền, Thanh Thanh, Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ), Thiếu Mai - Vũ Bá Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm Minh, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân, Nguyễn Hoài Văn, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Nguyên Sa, Mai Thảo, Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo,(nữ) Triều Lương Chế, Phạm-Thái –Nguyễn-Ngọc-Tân, Vũ Khắc Khoan, Chấn Phong, Hư Chu, Hồ Hán Sơn, Phan Lạc Tuyên, Đỗ Tấn, Hoàng Trúc Ly, Nguyễn Văn Cổn, Hoàng-Nguyên-Bùi-Khải-Nguyên, Cung Trầm Tưởng, Hà Liên Tử, Kiên Giang - Hà Huy Hà, Chế Vũ, Thế Viên, Diên Nghị, Huyền Viêm, Phan Minh Hồng, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Năng An, Hoàng - Thu - Đông (Hoàng Trọng Miên), Diên Hương, Thanh Nghị, Kiêm Đạt, Hồ Nam– Vương-Tân, Nghiêm Xuân Hồng.
4) TỔNG LUẬN 60 NĂM VĂN NGHỆ VIỆT NAM 1900 -1956 (NAM VIỆT NAM)
Tổng luận văn nghệ Việt Nam từ đầu thế kỷ đến 1960. Người viết bộ sách cô đọng tóm tắt bốn tập dẫn giải ở trên. Người đọc không có thời giờ hoặc cần có quan niệm tổng thể chỉ cần đọc tập này thôi. Bản Anh ngữ của Đàm Xuân Cận: A brief glimpse at the Vietnamese literary scene 1990 - 1956 (Đại Nam Van Hien Books) Phụ lục bộ sách in thêm một cuốn nữa .Hiện tình văn nghệ Nam Việt Nam 1957 -1961(79) , để độc giả theo dõi được tổng quát bình diện văn nghệ Nam Việt Nam, diễn biến qua nét chính yếu sinh hoạt văn nghệ qua các nhóm: Đại Học và Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Nam Châu, Lê Tuyên, Lê Thanh Châu, nhóm Văn Hóa Á Châu, Chủ tịch giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Lê Xuân Khoa,v.v…. Văn Hóa Vụ (Cơ quan văn nghệ chính phủ Ngô Đình Diệm với Nguyễn Mạnh Côn, Hoàng Trọng Miên, Phan Du,v.v… Nhóm Sáng Tạo, Trung tâm văn bút Việt Nam V.N. (PEN) với Nguyễn Thị Vinh, Thanh Lãng, Tường Hùng, Duy Lam, Nguyễn Hoạt; nhóm Văn Hóa Ngày Nay do Nhất Linh chủ trương với Nhật Tiến, Duy Lam, Thu Vân,v.v… và cuối cùng Khép với bức thư người viết trình bày lý do viết bộ sách. Khi viết tôi mới 24 tuổi. Tự nhận rằng nhầm lẫn sơ sót không thể không có. Chủ quan có, nhưng nhớ rằng chủ quan nào mà anh diễn dịch trong tác phẩm? Chủ quan viễn kiến hoặc chủ quan hẹp hòi, ao tù, bè nhóm? Khi sách xuất đầu lộ diện, tôi không muốn nhìn thấy cảnh này, như Vũ Ngọc Phan ra mắt Nhà văn hiện đại; thì một L.H.V. viết bài phê bình trên báo Thanh Nghị rất hay, xác đáng lại không dám ký tên thật. Nhưng điều đau đớn, sau hai chục năm, tôi đây đến sau vẫn biết rằng, người viết ký tên tắt kia chính là Lê Huy Vân. (Bạn học cùng lớp với Nguyễn Hiến Lê). Tôi cho đó đê hèn đáng yêu nhưng không nên có. Một lối phê bình câm nín yên lặng nữa, đểu cáng đáng yêu hơn: mưu mô im lìm – Pháp gọi là: le critique très impitoyable c’est taire. Như vậy không được, một tác phẩm phê bình văn học ra mắt; hay thì khen hay; dở phải chê dở! Sự khen và chê ấy quan thiết ở chỗ đúng cảm quan người viết ở mức độ đúng nhất, không ngụy trang, mưu mô. Tôi cúi đầu trước cử chỉ đó và trong đời chỉ đón nhận thái độ đó. Khi tôi dự định làm văn sĩ, tôi cần đọc nhiều tác phẩm đàn anh, bạn văn trong nước, cả đến quốc tế. Để làm gì? Xin thưa, để xem tác phẩm nào hay hoặc dở, những gì người ta đã và chưa nói tới. Học hỏi và quyền chê khen theo quan niệm đúng nhất của tôi lúc đó. Hoặc như V.Biélinsky(80) , tác giả phê bình văn triết luận nổi tiếng số một của Nga đã chẳng nói: “...Làm sao nghi ngờ hả? Các anh quay lưng không thèm nhìn hả, lại bịt tai không thèm nghe sao? Kệ xác các anh! Không quan tâm tới. Các anh đọc hay không, với tôi không cần thiết. Tại sao à, cuối cùng ai cũng có tự do. Ngoài ra, làm sao tôi phải mặc cả với anh kia chứ? Vậy thì anh bạn ơi, đừng giận nhé! Bằng lòng hay không bằng lòng, các anh vẫn phải đọc. Không đọc, vậy thì anh đọc cái gì mới được chứ? Anh bạn ơi, nếu cho phép tôi, thì tôi bắt đầu nói đây này"…. Sự thật! Sự Thật! Chẳng có gì hơn là sự thật”
Nói theo đàn anh V.Biélinsky, thì xin thưa với các Ngài, sự thật tôi nghĩ, tôi trình bày như thế đó.
Sài gòn, 20 tháng 6 năm 1956.
THẾ PHONG
Ý KIẾN NHỎ VỀ NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930 - 1945
Tiếng Việt hôm nay coi như một ngôn ngữ chính thức trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đó là mảnh đất có ngót năm nghìn năm lịch sử tiền nhân bồi đắp dành lại cho con cháu đã có thành tích chống lại một nghìn năm bị thống trị Tàu, tiếp đến trăm năm lại bị đô hộ Tây. Cứ mỗi lần phong trào cách mạng đột biến là sau đó một lần bình diện văn nghệ bứt thêm được một độ tiến bộ.
Cuộc cách mạng Nguyễn Thái Học tuy không thành công, nhưng thành nhân cũng góp phần tạo thành một Tự Lực văn đoàn thức tỉnh sau cơn mê lãng mạn thuần triết của Từ-Trẫm-Á, Tuyết Hồng Lệ Sử; Song-An Hoàng-Ngọc-Phách Tố Tâm sau đến Đôi Bạn Nhất Linh, một Khái Hưng Tiêu Sơn Tráng Sĩ, Hạnh, Đẹp, một Xuân Diệu, một Thế Lữ, nhất là một Nguyên Hồng với Những Ngày Thơ Ấu... Rồi tiếp đến sự nhục nhã càng dồn nén của thống trị Pháp chà đạp nhân bản; để rồi có một Vũ Trọng Phụng với Giống Tố, Số Đỏ chống đối mãnh liệt, chứng tỏ sự muốn vươn lên của nhược tiểu dân tộc và một Lan Khai mượn quá vãng để lên án hiện tại trong Lầm Than.
Năm 1940, một đợt cải biến nữa, Nhật bắt đầu sang thay thế cho Pháp tạo thành một Hàn Thuyên với Nguyễn Tuân Vang Bóng Một Thời, Chùa Đàn; một Nguyễn Đình Lạp với Ngoại Ô, Ngõ Hẻm; một Nguyễn Đức Quỳnh với Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình, một Trương-Tửu (Nguyễn Bách Khoa) với Kiếp Đọa Đày; hoặc các nhà văn độc lập điển hình cho mọi xu hướng khác nhau, như Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Thụy-An-Hoàng-Dân, Ngọc Giao, Hồ Hữu Tường, Lê Văn Trương, và những nhà phê bình uyên bác như Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Hoài Chân, Trương Chính vv...
Một Nhà văn hiện đại Vũ Ngọc Phan, một Thi Nhân Việt Nam Hoài Thanh là đánh giá, phân tích sắp xếp diễn tiến lịch sử văn nghệ trong giai đoạn cực thịnh từ đầu thế kỷ hai mươi đến năm Nhật đặt chân lên đất nước Việt Nam. Tuy nhiên, hai bộ sách trên không phải không thiếu sót. Có dư luận cho rằng Vũ Ngọc Phan đã không biết phê bình, nghĩa là lột trần tư tưởng thầm kín của sự vươn lên trong tác phẩm chống đối guồng máy chính quyền hồi ấy. Như Giông Tố, Số Đỏ, Đôi Bạn, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giăng Thề, Lầm Than (1) hoặc Nhớ Rừng của Thế Lữ. Xét lại thì giữa một khung cảnh chính trị nô lệ, dưới quyền đàn áp bằng lưỡi lê, nhà tù của Pháp; đặt các cơ cấu bóp chẹt sự thật, thì sự thật đành câm nín trong sự thật muốn diễn đạt, phê bình.
Thế nên, một Đôi Bạn, Thằng Kình, Ngoại Ô, Vang Bóng Một Thời, Vũ Ngọc Phan đành câm lặng ngoảnh mặt đi, không dám nhắc nhở một Dũng đã sang Tàu, sang Nga một Kình nhược tiểu quốc muốn giải phóng dân tộc qua ý chí nung nấu cơ giới hóa, qua hình ảnh tượng trưng của một lớp học Nhì A. Và bao nhiêu nữa; cho đến hôm nay lịch sử cách mạng hoàn thành nền độc lập; trên đà tiến triển trên đường xây dựng chế độ mới. Còn là chúng tôi có điều kiện nhắc lại sự việc mà các bậc đàn anh đã miễn cưỡng bỏ qua.
SƠ LƯỢC KHÁI QUÁT LỊCH TRÌNH
DIỄN TIẾN VĂN NGHỆ TỪ 1865-1950
Trước khi phân tích lịch trình diễn tiến trình diện văn nghệ Việt Nam, chúng ta nhìn lại khởi điểm của lịch sử văn nghệ, từ ngày có chữ quốc ngữ. Chúng tôi xếp loại theo tài liệu của đa số nhà văn hóa, học giả và theo quan niệm riêng của chúng tôi. Có thể chia ra làm 04 giai đoạn:
. Giai đoạn I: Giai đoạn khởi thủy: 1865-1913.
. Giai đoạn II: Giai đoạn nền móng: 1913-1930.
. Giai đoạn III: Giai đoạn cực thịnh: 1930-1945
. Giai đoạn IV: Giai đoạn phân hóa: 1945-1954.
I. – GIAI ĐOẠN KHỞI THỦY:
Từ năm 1865 đến 1913, các nhà văn, học giả như Trương Vĩnh Ký, Paulus Của, Phan Bội Châu cùng phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, Hoàng Cao Khải với Tuồng, Chèo cổ, Hát đúm, Quan họ, Cò lả, Trống quân, Truyện Tàu, Bài ca Á tế Á, Cô đầu. Tất nhiên phải kể đến một ông Tổ có công sáng tác quốc ngữ là linh mục Alexandre de Rhodes (A Lịch Sơn Đắc Lộ).
II. – GIAI ĐOẠN NỀN MÓNG:
Từ năm 1913 đến 1930 hai nhóm Đông Dương Tạp Chí của Nguyễn Văn Vĩnh (1892-1930), Nam Phong Tạp chí của Phạm Quỳnh với các nhà văn Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học (1857-1921), Hải Triều, Phan Khôi, Dương Bá Trạc, Á-Nam-Trần-Tuấn-Khải, Nhượng Tống, Vũ Đình Long, Trần Huy Liệu, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939), Hồ Biểu Chánh, Phạm Tất Đắc, Nguyễn Quang Oánh, Đào Duy Anh, Phan Kế Bính (1875-1921). Hoàng Thúc Trâm, Nguyễn Văn Tố, Phong trào cải lương Nam kỳ, Song-An-Hoàng-Ngọc-Phách. Những nhà văn này góp rất nhiều công lao tu bổ nền móng giai đoạn xây dựng chữ Quốc ngữ.
III. – GIAI ĐOẠN CỰC THỊNH:
Nhóm Tự Lực văn đoàn hình thành, sau Việt Nam Quốc Dân Đảng thất bại năm 1930. Gồm những nhà văn chịu ảnh hưởng Tây học sâu xa như: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Thế Lữ, Mạnh Phú Tư, Anh Thơ (nữ), Bùi Hiển, Đỗ Tốn, Đỗ Đức Thu... Về tiểu thuyết tâm tình, các tác giả lồng khung cảnh cách mạng tiểu thuyết có lối viết kỹ thuật Tây Phương lôi cuốn được nhiều độc giả Tân học, nhất là thanh niên thiếu nữ mới. Ngoài ra, Xuân Diệu, Thế Lữ khai thác lối thơ mới chịu ảnh hưởng Verlaine, Rimbaud, Lamartine... tạo cho thi ca Việt Nam một sắc thái mới là Thơ Mới. Còn Tú Mỡ với lối đi riêng thơ trào phúng. Về tả chân tiểu thuyết, chúng ta thấy có Nguyên Hồng và Thạch Lam...
Các nhà văn độc lập khác như Lê Văn Trương với lối tiểu thuyết trường giang như Balzac, tuy không thành công cả nội dung và hình thức hoặc Nguyễn Công Hoan tả chân phong kiến; Lan Khai mở rộng tầm mắt cho độc giả hiểu biết về tâm tình, phong tục tập quán người Việt miền núi; Phan Trần Chúc điển hình cho tiểu thuyết dã sử. Cách diễn tả tâm lý sâu sắc, bố cục gọn gàng, hành văn sáng sủa, hấp dẫn. Bên cạnh Lan Khai còn có Tchya, nhà văn, thơ viết loại truyện truyền kỳ, tuy không giá trị bằng Lan Khai, Phan Trần Chúc; nhưng là món ăn tinh thần giá trị giải trí lành mạnh.
Nhóm Hàn Thuyên vào giai đoạn cuối cực thịnh tiền chiến. Nhà văn hoài dĩ vãng Nguyễn Tuân; xã hội Nguyễn Đình Lạp, Trương-Tửu-Nguyễn-Bách-Khoa; hoạt kê Đồ Phồn, tiểu thuyết phóng sự trường thi Chu Thiên, giáo dục tranh đấu Nguyễn Đức Quỳnh, với lối nhìn phân-tâm-học. Đối tượng của nhóm này tạo cho con người hiểu biết quốc tế qua lý luận triết học đệ tứ.
Công lao đóng góp cho văn học thời bấy giờ, về khảo luận văn học đáng kể như Đặng Thái Mai với Văn Học Khái Luận, Trương-Tửu-Nguyễn-Bách-Khoa với những cuốn khảo về Truyện Kiều và Nguyễn Du, Kinh Thi Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi Việt Nam Văn Học Cổ Sử, Lương Đức Thiệp xã hội, Nguyễn Tế Mỹ, Nguyễn Hải Âu kinh tế, hoặc Hồ Hữu Tường với lối viết tiểu thuyết phóng thích chính trị và sau cùng là bác sĩ Nguyễn Trần Huân. Riêng Nguyễn Trần Huân về sau này đóng góp cho văn học qua dịch phẩm giới thiệu văn chương cổ V.N. như Truyền kỳ mạn lục hoặc tác phẩm viết chung với M.Maurice Durand qua cuốn Introduction à la littérature Viêtnamienne (Văn học Việt Nam)do Unesco tài trợ và xuất bản ở Paris vào 1969.
Ảnh hưởng của nhóm này tạo cho nhóm cộng sản đệ tam sau này không nhỏ.
Sau 1945, nhóm Hàn Thuyên chia ra làm hai phe, một ở lại với đệ tam như: Đặng Thai Mai, Đỗ Phồn, Trương Tửu (Nguyễn Bách Khoa), một số chết trong cao trào cách mạng 1945-46, như: Nguyễn Hải Âu, Nguyễn Tế Mỹ, Lương Đức Thiệp v.v... Sau cùng một số vào Nam như: Nguyễn Đức Quỳnh, Lê Văn Siêu, Hồ Hữu Tường và Nguyễn Trần Huân sống ở Paris từ trước thế chiến hai.
Vũ Trọng Phụng là nhà văn xã hội hoạt kê điển hình bậc nhất trong văn học phóng sự. Ông là đại diện cho cả một khuynh hướng như: Tam Lang, Vũ Bằng, Trọng Lang. Vũ Trọng Phụng ghi lại một thực trạng xã hội bị thống trị, sự đảo lộn trật tự gia đình, tất cả những gì ảnh hưởng Tây Phương đôi khi trở thành lố bịch với chúng ta. Dưới mắt ông, tất cả đáng châm biến, chỉ trích, căm thù (Giông Tố, Số Đỏ).
Về trào lộng xã hội sau tiền chiến, Hồ Hữu Tường viết tiểu thuyết thật độc đáo: Ngàn năm một thuở, Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc náo Hoa Kỳ, Phi Lạc bỡn Nga vv...
IV. – GIAI ĐOẠN PHÂN HÓA:
- Cách mạng kháng chiến bùng nổ, Việt-Nam độc lập, giai đoạn này tất cả hàng ngũ nhất tề đồng tâm chống lại xâm lăng, không phân biệt đoàn thể nào. (Giai đoạn Pháp tái chiếm V.N. 19-12-1946). Tuy nhiên, do tình hình chính trị hiệp định Genève ra đời vào 1954, một số nhà văn thơ vùng kháng chiến trở về Hà Nội và một số rời Hà Nội vào Sài Gòn (Quốc Gia).
Tiết 1
KHÁI QUÁT VỀ VĂN NGHỆ TIỂU TƯ SẢN
Từ Văn Nghệ Thuộc Địa Nửa Phong Kiến, Lãng Mạn Đến Tiểu Tư Sản.
Sau phong trào văn nghệ phôi thai nửa thuộc địa phong kiến lãng mạn Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh là thời kỳ chuyển tiếp văn nghệ tiểu tư sản của Tự Lực văn đoàn. Bắt nguồn ở cuộc cách mạng Nguyễn Thái Học; Việt Nam Quốc Dân Đảng thất bại, Nhất Linh, Hoàng Đạo đứng lên tổ chức Tự Lực văn đoàn. Theo lập luận của Trương-Tửu-Nguyễn-Bách-Khoa nhóm Hàn Thuyên; thì Tự Lực văn đoàn là sản phẩm xì hơi cách mạng bằng phương tiện văn chương do linh mục Cras (2) đỡ đầu. Linh mục này sau làm bí thư cho toàn quyền Decoux. Trương Tửu đả kích lối văn chương cách mệnh xa lông (lên án Lạnh Lùng của Nhất Linh: “Lạnh Lùng" đáng ném ra khỏi tủ sách gia đình vì lối văn khiêu dâm”. Về sự xúi giục của lối văn chiều đời ấy, ông cắt nghĩa cho độc giả hiểu thế nào là hình-động-lực. Ông kết luận: “Chỉ có những người nào có tư tưởng nhất định tính nết độc lập mới tránh được sức thôi miên của những hình ảnh xấu sa và quyến rũ tả trong một cuốn văn bằng một ngọn bút tài hoa”.
Hoàn Cảnh Lịch Sử
Năm 1930, Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Nguyễn Khắc Nhu... với cuộc cách mạng chống thực dân Pháp thống trị khiến các ngành bảo vệ an ninh thực dân, công an chà đạp nhân bản nhược tiểu dân tộc. Cũng vì thế, có biết bao thứ lính: lính khố đỏ, khố xanh, mật thám của Sở Liêm phóng khủng bố bất cứ một người dân Việt nào yêu nước chống lại. Nhất là sau khi VNQDĐ thất bại, ngành kiểm duyệt sách báo đối với tình hình văn nghệ thời ấy vô cùng chặt chẽ.
Nhóm Tự Lực văn đoàn khai sinh từ dạo ấy, những vị lãnh tụ nhóm trên là VNQDĐ sau này. Một Nguyễn Tường Tam chính khách, một Khái Hưng-Trần-Khánh Giư bị phe đối lập thủ tiêu vào năm 1947. Đường lối của nhóm ban đầu đến chặng cuối không phải chỉ để phát huy văn nghệ thuần túy, mà chính để phổ biến tư tưởng cách mạng. Năm 1941, Tự Lực văn đoàn bị khủng bố, Nguyễn Tường Tam sang Tàu, còn Khái Hưng và Hoàng Đạo bị vây bắt ráo riết. Sự cảnh giác tư tưởng độc giả của nhóm Tự Lực văn đoàn là một thái độ rất văn hóa.
Tiết 2
KHÁI HƯNG
Trần Khánh Giư (1896 – 1947)
Tiểu Sử.Khái Hưng tên thật Trần Khánh Giư. Sinh năm 1896 ở Cổ Am (Hải Dương) và mất năm 1947. Gặp Nhất Linh vào năm 1931. Là nhà văn chủ lực trong Tự Lực văn đoàn viết cho báo Phong Hóa, Ngày Nay, cơ quan chính yếu của nhóm. Sau năm 1945, ông là một trong những người chủ trương tuần báo Chính Nghĩa và nhật báo Việt Nam, cơ quan của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ngày 27 tháng 12 năm 1946, Khái Hưng bị kháng chiến bắt và đưa đi an trí ở Lạc Quần (Chinê, Phủ Lý) rồi từ đó mất tích.
Tác Phẩm.
Tác phẩm đầu tay của Khái Hưng, cuốn Hồn Bướm Mơ Tiên và cũng là cuốn đầu tiên của nhà xuất bản Đời Nay (cơ quan ấn loát của Tự Lực văn đoàn) in vào năm 1933. Rồi tiếp đến Nửa Chừng Xuân (1934), Gánh Hàng Hoa (viết chung với Nhất Linh, 1936), Trống Mái (1936), Dọc đường gió bụi (1936), Anh phải sống (viết chung với Nhất Linh, 1937), Tiếng suối reo (1937), Tục lụy (1937), Đợi chờ (1939), Thừa tự (1940), Tiêu sơn Tráng sĩ (1946), Hạnh (1940), Những ngày vui (1941), Đẹp (1941), Đội mũ lệch (1941), Đồng bệnh (1942), Gia đình, Thoát ly, Băn khoăn, Đời mưa gió (với Nhất Linh) do nhà Phượng Giang tái bản sau tiền chiến. Năm 1945, ông viết truyện ngắn với luận đề cách mạng chống phong kiến, tứ đổ tường đăng trên tuần báo Chính Nghĩa như truyện ngắn Lời nguyền, Khói hương...
Phân Loại Tiểu Thuyết.
Khái Hưng viết hai loại: truyện ngắn, truyện dài, dịch thơ, kịch. Thơ dịch của ông đến hôm nay còn được nhắc lại là bài Sonnet d’Arvers. Truyện dài chia ra làm nhiều loại, lãng mạn như Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Trống mái. Về phong tục tập quán như Thừa Tự, Gia đình… Về phân tích tâm lý như: Hạnh, Đẹp, Băn khoăn… Truyện ngắn như Dọc đường gió bụi, Anh phải sống, Đội mũ lệch, Lời nguyền, Nhung… Về kịch như Đồng bệnh, Tục luỵ…
Về tiểu thuyết lãng mạn như Hồn bướm mơ tiên và Nửa chừng xuân, tác giả quá say mê với đề tài của mình, nên tâm lý nhân vật cũng như cách giải quyết bị lệch. Về truyện ngắn, Khái Hưng thành công trong Đợi chờ, Anh phải sống và nhất là sau này trong Lời nguyền, Nhung, cũng như truyện dài phân tích tâm lý, thảm kịch gia đình, thành công rực rỡ vào năm 1941 là cuốn Hạnh ra đời, tiếp theo là Băn khoăn, Đẹp.
Nghệ Thuật Viết.
Khái Hưng cũng như Nhất Linh, Thạch Lam, Hoàng Đạo có tài viết truyện. Thiên bẩm viết truyện làm say mê hấp dẫn người đọc rất truyền cảm, diễn tả thái độ lồng trong tư tưởng luận đề thực tiễn, khiến người đọc cho rằng truyện đã có người thể hiện rồi, mà tác giả là người đã sống hay mục kích sống. Độc giả không thể nào rời được cuốn truyện đang xem (tất nhiên, tôi nói đối tượng của độc giả Tự Lực văn đoàn hồi ấy). Có đôi khi lại ngưng đôi ba phút, hoặc giả xem gần hết cuốn truyện, mà vẫn còn thấy tiếc rẻ là chóng đi tới kết thúc. Khái Hưng làm say mê người đọc nhất là truyện ngắn. Trong Đợi chờ, kết thúc của cuốn truyện bắt người đọc sững sờ. Hoặc giả trong Tương tri (trong tập Hạnh) chúng ta đọc xong, buồn man mác như đã gặp thiên thần qua cơn ác mộng tuyệt đẹp. Tính chất mơ mộng của tiểu tư sản đã bộc lộ tuyệt đích ở đây. Cốt truyện tác giả kể việc quen cụ Tú Trường Lệ, mỗi lần qua đó, cụ mời tác giả đánh cờ cho bằng được mới thôi. Nhà cụ đẹp như động tiên, mỗi khi cụ rẽ vào dặng phi lao là mất bóng. Rồi quen lệ, năm sau tác giả chờ mong cụ lại để hầu cờ thì vắng bóng. Không biết cụ đi đâu, nhà cửa chuyển từ bao giờ không ai hay và không để lại vết tích nào. Tác giả nhớ lại và diễn tả nỗi nhớ ấy qua những dòng văn bóng bẩy, đẹp vô cùng:
“… Năm ngoái, chờ mong mãi mà không thấy cụ Tú ra đánh cờ… Tôi mò mẫm về tận trái núi bình phong nhưng cũng không tìm được di tích cụ Tú kỳ dị ấy…”
Thật bay bướm, đẹp như giấc mộng thần tiên hay người trần gian đã về tiên giới. Cảm giác buồn đẹp xâm chiếm lòng người, cảm giác xao động bắt nguồn từ đó, thì chính sự tạo được một thái độ ở người đọc là thành công tác giả. Phê bình lối truyện ngắn Khái Hưng, Vũ Ngọc Phan cho rằng tác giả có lập ý cao như Anatole France hay Hofmann, Edgar Poë, chủ trương thuyết hoài nghi.
Đến Đợi chờ, nghệ thuật lịch lãm của truyện ngắn lai càng bọc lộ rõ nét. Nhất là thanh niên thiếu nữ đã mấy ai không yêu ở tuổi hoa niên, mà đã dễ mấy ai yêu rồi không vương vấn: Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, gặp người đẹp giữa đường trong cuộc du lịch, nàng hết xăng cho vào xe hơi đành vay mượn chàng thanh niên ấy. Người đẹp hứa hẹn mai mốt gặp gỡ thì dễ gì mà không hẹn ngày tái ngộ. Ngưng người thanh niên đã chờ đợi mấy mùa thu vẫn bặt âm tín. Diễn tả thái độ nhớ nhung buồn sầu ấy, Khái Hưng viết:
“...Và bên bờ sông cao, khóm cây vẫn yên lặng nghiêng mình soi bóng xuống mặt nước rêu xanh khô đọng, những bụi lau lá sắt và nhọn vẫn đứng thẳng hàng, bông trắng loáng thoáng lẩn trong không. Trên ngọn đồi xa, làn mây bạc vẫn ngập ngừng dừng lại… cùng chàng mong ngóng người năm ấy, vạn vật trầm ngâm mong ngóng xuân về…”
Nghệ thuật viết truyện dài của Khái Hưng, nhất là những cuốn về sau như Băn khoăn chẳng hạn, tiểu thuyết lãng mạn như Hồn bướm mơ tiên, hoặc Nửa chừng xuân bắt nguồn rất nhanh đến loại truyện phân tích tâm lý, mổ xẻ tinh vi hình tượng con người sống trong cùng khoảng thời gian, không gian với tác giả, khiến người đọc xếp ông vào loại bất tử. Từ Hạnh đến Đẹp, Băn khoăn đi sâu vào tâm lý với kỹ thuật viết trưởng thành. Chúng ta nhớ đến văn hào quốc tế thời nay Constantin Virgil Gheorghiu, vì họ đều có một nguồn (souche) viết tiểu thuyết hấp dẫn, nội dung vẫn mang vết tích đời sống cá nhân, bối cảnh xã hội, triết lý được tả lại bằng hình tượng, thái độ, cảm giác. Độc giả nào cũng có thể say sưa với Hạnh, Băn khoăn, Đẹp; cũng như Giờ thứ 25, May mắn thứ hai, Người Lữ hành cô đơn. Tình tiết sắp đặt thật mới, không cần dùng khung cảnh lãng mạn câu khách (lãng mạn tầm thường không dính líu, hay cần thiết cho cốt chuyện) mà nghệ thuật diễn đạt được lồng vào hơi văn đặc biệt của tác giả. Cũng là một loại tiểu thuyết chính trị của Khái Hung như Lời nguyền, Nhung hoặc của Gheorghiu, Ehrenbourg, nhưng họ đều khác nhau ở điểm lập trường chính trị. Tiểu thuyết của Khái Hưng nói lên sự hòa đồng cách mạng của nhược tiểu quốc cùng với hoàn cảnh chính trị năm 1945, Gheorghiu lên án tư bản, phát xít độc tài, dân Do Thái là nạn nhân của mọi chế độ, nhưng ông đề cao nhà thờ và ông cho rằng chỉ có nhà thờ và thi sĩ có thể cứu nhân độ thế ở thời tao loạn mà thôi (cõi thức của tôn giáo và lương tâm của thi sĩ). Ehrenbourg viết tiểu thuyết với nghệ thuật tham lam chủ nghĩa; nên đôi khi ông bất chấp cả diễn tiến của tâm lý, tình cảm hình tượng, giác quan con người hôm nay, tự tạo một mẫu người anh hùng, rồi đề cao nhân vật ấy, bắt buộc con người cùng thời thể hiện. Chính vì thế, tiểu thuyết cảo luận của Ehrenbourg là bản án quá thiên về một chủ nghĩa để giải quyết và kết thúc; khiến cho người đọc không còn khách quan theo dõi. Những cuốn Cơn bão, Paris thất thủ đã khác hẳn các tiểu thuyết căn bản của Nga, của Dostoevskð, Léon Tolstoï…Nghệ thuật viết tiểu thuyết, thiết tưởng rằng không thể nhà văn nào có thể khuyên nhà văn nào, nên viết theo đường lối này hay đường lối kia. Mỗi nhà văn có một hoàn cảnh và hoàn cảnh ấy tạo cho mỗi nhà văn một thế giới riêng. Nếu chỉ theo một con đường để khai thác, thì văn nghệ bị trói chặt theo một đường lối; như thế có hại cho sự khai thác mọi chiều trong xã hội. Người ta không thể khuyên Khái Hưng nên viết như Vũ Trọng Phụng hay trái lại. Cũng không nên như André Maurois khuyên rằng: "nếu viết tiểu thuyết thì không nên bày tỏ chủ nghĩa chính trị hay triết học". Và ông cho rằng chủ nghĩa chính trị hay triết học ấy nên sắp vào một ngành: văn nghị luận. Nói thế là lầm, là lý luận của bọn người (nghệ thuật vị nghệ thuật, art pour art) không hợp với trình độ đòi hỏi con người hôm nay. Phê bình một tác phẩm chỉ nên nhận định tác phẩm ấy có nghệ thuật cao so với loại truyện ấy không, vì viết được truyện có hình tượng thời thế có nghệ thuật là trình độ cao, là thái độ biết đem đời sống vào văn chương, như Bertrand Russell quan niệm: ghi chép đời sống dẫn vào triết lý nhân sinh.
Trở về Khái Hưng, với Băn khoăn, Đẹp và nữa, Hạnh, chúng ta thấy rằng ở Đẹp và Băn khoăn rất khó tóm tắt cốt truyện, nghĩa là khó tóm tắt đầy đủ tình tiết. George Duhamel, nhà văn hiện đại của Pháp rất thích loại này. Vì ông cho rằng cuộc sống thực tiễn cũng như trong truyện rất khó mà tóm tắt, như vậy có nghĩa là đã có khung một cuốn tiểu thuyết hay.
Chịu Ảnh Hưởng Tây Phương.
Khái Hưng là nhà văn thấm nhuần tư tưởng Âu Phương, cách hành văn trong tiểu thuyết đã chứng tỏ điều ấy. Không phải lối văn dài giòng, khúc trắc, khó hiểu, lôi thôi, kể lể; như tiểu thuyết phôi thai Hồ Biểu Chánh hay "Tố Tâm" Hoàng Ngọc Phách. Cách hành văn sáng sủa, kết thúc truyện đột ngột, hợp với giác quan và tâm lý chuyển biến của lớp người đương thời. Đọc văn ông, nhất là truyện ngắn như chúng ta vừa nói ở trên, hương vị buồn man mác, nói riêng. Truyền cảm, nói chung, thoảng như hoa thơm trong truyện tình Mối tình đầu của Tourguenieff, đôi khi đài điếm cao sang như Anna Karénine của Léon Tolstoï. Nhà văn Khái Hưng sinh trưởng trong một gia đình trưởng giả, nên trong tiểu thuyết của ông không thể bình dân, hoặc đi vào từng lớp người đang sống ở hang cùng ngõ hẻm. Vì thế, đôi khi ông tả hình ảnh nông thôn thì cảnh ấy không thoát được hình tượng của một chiếc máy ảnh chỉ chụp được những gì khách quan hoặc dưới con mắt của người xa lạ nông thôn. Tuy nhiên, lối tả cảnh nông thôn rất đẹp. Nhờ thiên bẩm tiểu thuyết, giầu tường tượng, nghệ thuật trình bày, cho nên những gì viết thành truyện đều có chiều sâu (nói về cuộc sống trưởng giả, thị thành) Nhân vật trong Băn khoăn chứng tỏ: ông sống trong lòng trưởng giả rất nhiều. Tâm tình của Nghị Hách trong Giông tố của Vũ Trọng Phụng, thì chỉ có Vũ Trọng Phụng mới diễn tả nổi – vì ông sống trong lòng bọn cuồng loạn. Và Nam trong Đẹp, thì chỉ có một Khái Hưng mới làm trọn được phận sự mình.
Cách Mạng Tư Tưởng.
Văn Khái Hưng đều đều, ít bộc lộ cách mạng tư tưởng trong tác phẩm như Nhất Linh ở điểm, giữa lúc Pháp còn hống hách, bọn tay sai thư lại, phong kiến thực dân chà đạp, a tòng, thì Nhất Linh lại dám lên án chúng trong Đôi bạn. Còn Khái Hưng đi vào chiều sâu con người hơn là vận mệnh. Nhưng không thể trách Khái Hưng tại sao lại không như Nhất Linh. Tư tưởng con người, nhất là nhà văn không dễ gì bó buộc vào khuynh hướng nào, một khi tác giả không đam mê thích thú. Ở Nhất Linh là người nuôi chí anh hùng tạo thời thế và Khái Hưng nhờ thời thế thay đổi.
Phân Tích Loại Tác Phẩm Chính Của Khái Hưng:
Ở phần trên, chúng ta đã phân tích: Nhất Linh là người nuôi chí anh hùng tạo thời thế và Khái Hưng nhờ thời thế thay đổi. Như vậy có bạn cho rằng chúng ta quên mất tác phẩm Tiêu Sơn tráng sĩ của ông xuất bản vào năm 1940: một tác phẩm nuôi dưỡng cách mạng trước giờ khởi điểm. Xét tác phẩm trên, chúng ta không thể phủ nhận giá trị nuôi dưỡng cách mạng của ông, nhưng thực không có thái độ và ý chí như Đôi bạn. Vì thế cuốn Tiêu Sơn tráng sĩ chỉ có giá trị tư tưởng thúc đẩy gián tiếp (pensée réactionnaire épileptique). Phân tích sự nghiệp Khái Hưng, chúng tôi nhận chân ông qua những tác phẩm sở trường, gọi là loại truyện phân tích tâm lý. Điển hình cho loại này, phải kể đến Hạnh, Băn khoăn, Đẹp...
Phê bình Đẹp là phê bình chung cho loại truyện trên. Trước khi phân tích, chúng ta cùng điểm qua tiểu thuyết lý tưởng của ông sai và phần lý tưởng ở chỗ nào? Sau Dương Quảng Hàm đến Vũ Ngọc Phan, mới đây là Tam Ích với cuốn Văn Nghệ và Phê Bình (Nam Việt xuất bản, 1949). Phê bình Khái Hưng, Tam Ích viết:
“… Khái Hưng có thể viết một vạn bài báo để bênh vực thái độ khách quan của mình, Khái Hưng cũng không thể chối từ được một sự thực mà có lẽ Khái Hưng không thừa nhận: Khái Hưng đã muốn cho ái tình thắng tôn giáo trong cuốn Hồn Bướm Mơ Tiên và muốn cho cá nhân ra khỏi gia đình trong cuốn Đoạn Tuyệt, hạnh phúc cá nhân trong cuốn Lạnh Lùng. Luẩn quẩn trong bấy nhiêu vấn đề, nhà văn đã để lộ thái đội tư tưởng mình trong tác phẩm. Và cứu cánh của nghệ thuật Khái Hưng là ở một xã hội một số người. Số người này đọc Khái Hưng và lấy cái triết lý lờ mờ ấy làm triết lý nhân sinh. Cũng như người ta đọc Kim Vân Kiều vẫn nhớ: “Bắt phong trần phải phong trần” (trang 41)
Điểm thứ nhất, Tam Ích phê bình đúng. Khái Hưng đã muốn cho ái tình thắng tôn giáo - tuy nhiên trong sự cố ý ấy lại muốn Lan ni cô có tư tưởng cao thượng, nên cho Ngọc về Hà Nội. Rồi Lan có ý định bỏ chùa Long Giáng đi tu chùa khác. Sau lại cho Ngọc lên thăm Lan và ngỏ ý suốt đời không lấy ai, chỉ sống trong thế giới ảo mộng, trong tình yêu lý tưởng.
Ngọc nói:
“... Gia đình? Tôi không có gia đình nữa. Đại gia đình của tôi nay là của nhân loại, là vũ trụ mà tiểu gia đình của tôi là hai linh hồn của đôi ta ẩn núp dưới bóng Từ Bi Phật Tổ …” Tư tưởng yêu bồng bột ấy không đứng vững, vì Ngọc lên thăm Lan luôn luôn, bên nương sắn vắng vẻ, tình yêu xác thịt sẽ thắng. Cái lẩn quẩn của Khái Hưng là như thế!
Điểm thứ hai, Tam Ích nhầm, vì Đoạn tuyệt và Lạnh lùng là của Nhất Linh. Như vậy Tam Ích đã không đọc kỹ Khái Hưng và quyết đoán tư tưởng Khái Hưng đúng chỗ, thì làm sao có điều kiện chính đáng; nếu không nói là cái khờ của một kẻ muốn phê bình mà không biết đối tượng kẻ bị phê bình cho đến nơi đến chốn. Cũng như Tam Ích đã có gan phê bình "Gã khờ" Dostoievskð là nhân vật bệnh (morbidité); nhưng ông chưa hề đọc cuốn sách ấy (xem lời chú thích của ông trong Văn nghệ và phê bình, trang 43)
Trước khi phê bình Khái Hưng ta nên cân nhắc hoàn cảnh sáng tạo của tác giả. Giữa một thời đại thực dân thống trị mất tự do, độc lập nằm trong tay bọn thực dân phong kiến; việc kiểm soát tư tưởng ngặt nghèo, thì sự tự do sáng tạo rất khó khăn. Không phải là dễ dàng như ta phê bình: sao nhà văn này chỉ tả lãng mạn, nói đâu đâu, không nêu lên thực trạng xã hội. Điều thứ hai là nội tâm và cuộc đời tác giả bao giờ cũng đi đôi với tác phẩm. Vì một khi có lập trường sống của mình rồi, nhìn bối cảnh cuộc đời đem vào truyện, sẽ được tự động chọn lựa theo quan niệm có. Cho nên lập trường người viết với người phê bình khác nhau. Vì thế người phê bình phải mở rộng khuynh hướng để nhìn và đánh giá một tác giả chỉ nên nhìn xem tác phẩm tác giả trong khuynh hướng ấy đạt mục đích nghệ thuật cao chưa? Còn nữa, không thể nhìn truyện Kiều ở bây giờ để đả kích Nguyễn Du chủ trương thuyết định mệnh lạc hậu hoặc phê bình Nhị Độ Mai phong kiến hủ hóa; lẽ thời Nhị Độ Mai còn cấp tiến hơn chế độ bộ lạc. Như vậy, phê bình Khái Hưng ta phải đặt tác phẩm ấy song hành với hoàn cảnh chính trị thời ấy.
Đẹp là cuốn tiểu thuyết của Khái Hưng viết về cuộc đời nghệ sĩ. Ông viết về họa sĩ Nam là bạn học của Biên. Biên lấy vợ sớm có con sớm. Con gái đầu lòng của Biên là Lan. Trước kia Nam đến chơi, Lan còn bé hay theo chú đi chơi. Bẵng đi sáu năm, thì:
“… Bỗng năm ngoái, đi chơi vịnh Hạ Long lúc trở về, Nam rẽ vào thăm Quảng Yên và gặp Biên ở đấy. Gia đình Biên đã thay đổi khác xưa. Vợ Biên má hóp, da nhăn trông có vẻ già, tuy mới ba mươi sáu tuổi. Nhưng sự biến đổi bất ngờ cho Nam nhất là Lan không còn ngây thơ như trước nữa. Nay Lan đã là một cô gái dậy thì, hai má đỏ hây hây, cái ngực nở nang như chứa đầy sinh lực. Lan hiện học năm thứ ba trường Đồng Khánh và nghỉ hè về nhà được một tháng.
Thoạt nhìn thấy Nam, Lan vui cười chắp tay chào, vì nàng vẫn nhận được chú năm xưa. Nhưng nàng không dám vồ vập, nhất lại thấy Nam ngơ ngác và lúng túng ngả đầu như đáp lễ một người đàn bà chưa từng quen biết…”
Ông rất tâm lý, khi tả một người thanh niên chưa vợ, nhìn thấy người con gái đẹp, dù xưa kia đã chót đóng vai chú cháu cũng không muốn ràng buộc mình vào lễ phép, để không được tự do chiếm cứ sau này. Ông tả theo đúng giác quan. Còn vai Lan, nàng không dám vồ vập, cũng đúng, vì lẽ nàng đã lớn và thái độ của chú năm xưa là lạ. Thẩm mỹ nghệ sĩ bắt đầu chuyển đến nhịp yêu, cho nên hơn một tuần lễ sau, Nam lại ra Quảng Yên vẽ Lan.
Đây là cuộc đàm thoại giữa Nam và Lan buổi đầu:
“… Chú có họ với thầy cháu không nhỉ ?
Nam lắc đầu mỉm cười, cho nàng là quá thật thà.
Cháu cứ tưởng thế nào cũng hơi có họ một tí, nên chúng cháu mới gọi ông là chú.
Thế này này: chả ngày xưa tôi là bạn của thầy…
Lan mỉm cười ngắt lời:
Vậy ra, ông cùng học một lớp với thầy đấy...”
Cuộc đàm thoại thật tế nhị, dí dỏm. Tâm lý con người, nhưng người thường chưa cảm thấy, chưa diễn tả được, ông đã làm công việc của người kỹ sư tâm hồn diễn đạt thay. Lan biết Nam không phải là chú thật của mình, sự chuyển biến từ chú sang ông, tác giả để cho sự diễn tả hết sức tự nhiên. Sau đó Lan lại hỏi:
“… - Nếu thế thì có lẽ ông nhiều tuổi rồi đấy nhỉ?
Nam chưa từng nghĩ đến tuổi bao giờ, từ ngày chàng biết hưởng lạc thú ở đời, chàng tưởng như tuổi chàng đứng lại. Và chau mày suy nghĩ, khó chịu nhưng Lan đã chịu để chàng yên?
Năm nay ông bao nhiêu nhỉ?
Rồi Lan nói tiếp luôn:
Người Tây, họ kiêng hỏi tuổi lắm kia đấy, nhưng An Nam mình gặp nhau rất hay hỏi tuổi có phải không chú nhỉ?
Nam cười:
An Nam mình cũng nhiều người hay giấu tuổi như vậy. Nhất khi có lợi.
Lan làm bộ ngây thơ:
Có lợi gì cơ ông?
Chẳng hạn một người đàn ông đứng trước mặt một cô thiếu nữ trẻ hơn mình nhiều quá, thì quên hạ bớt tuổi mình xuống dăm năm.
Lan yên lặng, như không nghe thấy câu trả lời của Nam. Và Nam cũng yên lặng cúi xuống vẽ.
Bỗng chàng nói:
Mà tôi chưa trả lời câu hỏi của… Lan nhỉ?
Năm nay tôi băm hai… già quá rồi!
Lan cười rất xinh:
Già gì mà già. Ba mươi hai trẻ lắm chứ. Thầy mẹ con bảo chú chưa có vợ có thực không chú?
Thực đấy Lan ạ. Nói là chú không lấy vợ thì đúng hơn.
Chú cứ nói dại dột.
Thực đấy chứ! Chú quả quyết lắm rồi. Nhưng Lan ngồi yên cho chú nhờ một tí…”
Vai Nam ông diễn tả rất đúng. Một thanh niên vó vẻ già, mặc cảm cho nên lúc nào phải xưng tuổi với một thiếu nữ trẻ hơn mình cũng kèm theo nhưng câu nhũn nhặn, có thiệt về phần mình; hoặc chưa già lắm thì già lắm, để người nghe mình tâng bốc lại, cho là mình còn trẻ. Nghĩa là không mấy ai lại không hỏi tuổi mình ở trường hợp ấy cả. Đến đoạn tế nhị như hỏi chú có vợ thực chưa rất tinh tế. Tác giả để cho Lan nói nhiều hơn, hoặc xưng hô ông, chú, con, cháu, và Nam nói rất ít, nếu có, không bao giờ gọi Lan bằng cháu mà chỉ xưng hô tên thật của nàng.
Chưa hết, mẩu đàm thoại vô cùng lịch lãm:
“ – Vì Lan bảo tôi giận Lan, vậy tôi giận vì cớ gì?
– Vì con nhìn thấy tương lai của ông.
– Không phải nhé! Vì Lan hóm hỉnh, tinh quái nhé!
Lan lắc đầu chán nản:
– Lạ thực! Ông cũng như con, cứ nhất định bắt con ngây thơ mãi. Ông phải biết năm nay con mười bảy tuổi ta, mười sáu tuổi tây rồi. Con không phải là trẻ con nữa. Nếu sang năm con đậu Thành Chung thì con sẽ xin bổ làm giáo học, và sẽ cầm thước bổ lên đầu các trò em...Để bấy giờ ông mới chịu cho con là người lớn chăng?
– Cũng chưa là người lớn được.
– Vậy bao giờ con mới là người lớn?
Nam mỉm cười:
– Khi nào có chồng, có con Lan mới là người lớn.
Lan nhìn Nam tròng trọc:
– Vậy ông cũng chưa là người lớn được, vì hiện ông chưa có vợ có con…”
Phải nói rằng ông sống qua nhiều thế hệ, từ thế hệ Nam, rồi thế hệ trẻ gần gũi, tìm hiểu chặng đời qua rồi mà Lan đang sống; thì ông mới có giọng văn kinh nghiệm, tả tình lịch duyệt đến thế! Ta đọc xong, một cảm giác dí dỏm, yêu đời, phục quan niệm về người lớn khi Lan mười sáu tuổi, sau nàng sẽ trở thành cô giáo. Nàng có tình yêu sớm, song trạng thái chưa ổn định, chưa thể quyết định rằng yêu có thể lấy được nhau, có lấy nhau mới yêu nhau… Còn Nam, một thanh niên đã trải qua yêu đương (ba mươi hai) nhưng lại yêu lại (retour d’âge) muốn yêu nhưng không tự thú là mình yêu. Cho nên mượn lời, mượn hoàn cảnh, mượn thái độ tương đồng, bất cứ cách nào lồng được lòng yêu đương, tâm tình thèm được yêu của mình, là nói lên bằng những câu yêu đương bóng bẩy. Đó là tâm sự của Nam. Đôi khi vì quá say mê với nhân vật của mình, Khái Hưng đã cho vai Lan luận về cái đẹp quá sức hiểu biết ở tuổi Lan:
“… - Ông viện nghệ thuật, con cũng xin viện nghệ thuật. Nghệ thuật là đẹp chứ gì. Người dễ cảm cái đẹp là nghệ sĩ, mà cái đẹp hoàn toàn nhất, người ta có nói xấu mãi mặc lòng bao giờ cũng vẫn là con người. Vậy sao ông không cảm được cái hoàn cảnh ấy. Ông chưa cảm là vì ông chưa gặp được người ông cảm đó thôi…
… Ông phải biết Goethe ngoài bảy mươi còn cảm trước hình ảnh thiếu nữ hai mươi tuổi..." Đến phần ông tả Nam trở về Hà Nội, tâm lý Nam tiến theo độ sinh hoạt bình thường, không nhanh quá, không chậm quá. Đây:
“ ...Chàng buồn rầu tự nhủ: mình về hơi có vẻ đột ngột và chàng yên chí rằng vợ chồng Biên đều lưu ý đến sự đột ngột ấy. Sự thực, vợ chồng người bạn chỉ giữ lấy lệ và chàng ra đi giữa sự vui vẻ, trước mặt gần khắp gia đình ấy đến tận ô tô để tiễn biệt chàng. Nam còn như trông thấy mấy cái bàn tay nhỏ xíu giơ tay ra vẫy, mấy hàm răng trắng nuột nhe ra cười, khi xe bắt đầu từ từ lăn trên đường nhựa...”
Chỉ thiếu một một Lan. Và Nam, loay hoay tự hỏi: Tại sao Lan không tiễn mình? Vì Lan tự cho là lớn rồi? Vô lý! Mới hôm nào cùng các em đi dạo phố với chàng. Lan có tỏ ý ngượng ngùng đâu? Vì Lan giận chàng? Càng vô lý hơn. Lan không hề giận ai và trong hai người chính chàng bị Lan trêu tức và đáng giận Lan hơn. Thiếu Lan nhiều người nhận thấy ngay. Lũ em lao xao hỏi nhau chị Lan đâu? Chị Lan không đi à? Và Biên bảo vợ:
“...Nói xong cười to và thẳng thắn. Biên vẫn coi Lan như một đứa bé chưa biết gì và không từng nghĩ đến cái tuổi mười bảy của con. Có lẽ vì thế mà Lan muốn lánh mặt cha mẹ ở nơi công chúng nhất là trước mặt Nam mà đã nói chuyện bằng một giọng người lớn và ngang hàng…”
Đọc xong, ta thấy tác giả không vẽ thừa một nhân vật nào đi quá hạn định của Nam. Vì mặc cảm, khi Nam đã chớm yêu Lan. Nên tìm hiểu từ một thái độ nho nhỏ, thái độ đi đứng, nghĩ ngợi của nàng rồi tự mình kết thúc đâu là hợp lý. Đến những đứa bé, tâm lý của những đứa bé tiểu tư sản, ông vẽ rất đúng, từ thái độ lao xao, chúng kêu là không thấy Lan. Và chuyển tiếp đến Biên, vợ Biên. Hành động của Biên rất vô tình. Không nghĩ rằng Nam có thể yêu con mình, khi Biên coi Nam là người bạn cũ ngang hàng từ lúc đi học. Và Lan còn trẻ con. Giai đoạn Biên nói với vợ là dụng ý của Khái Hưng nhắc đến tên, đến thái độ của hầu hết gia đình Biên. Nhất là Lan, ông phân tích rất khéo léo, Lan không muốn cùng đi với cha mẹ, vả lại có Nam thì nàng sao được quyền coi ngang hàng? Thái độ yêu chứng tỏ rất điềm nhiên. Đây là giai đoạn Lan đến thăm Nam, ông viết:
“...Lan ! Vô lý ! Lan đến đây làm gì ?
Chàng tự hỏi và lúng túng. Đối với gái chàng thành thạo bao nhiêu thì đối với các cô thiếu nữ con nhà chàng ngượng ngập bấy nhiêu. Ít khi có dịp chàng tiếp xúc với các cô và các bà...”
Tâm trạng của Nam, nghệ sĩ, đã từng có cả cô gái điếm sống chung (Xuyến), cách xử thế không phải làm bận lòng Nam. Nam quan niệm, họ phải chiều mình, có tiền là giải quyết được tất cả các vấn đề, trao đổi là xong xuôi công việc. Nhưng gặp các cô con nhà lành, Nam cảm thấy mình phải có bổn phận lịch thiệp chiều chuộng họ nên lúng túng. Với một cô gái mới lớn, nếu không được người khác thừa nhận theo sự mong muốn của mình, sẽ bực bội. Đây:
“… Ông chú đạo đức của cháu ơi ! Chú cam đoan cháu quá quắt lắm. Chú coi cháu như đứa trẻ mười một, mười hai sao?...”
Có lẽ quá lý tưởng cho tuổi lớn của Lan. Khái Hưng lại mắc vào một đoạn rất hỏng vì tả cái biết quá sức hiểu biết của Lan ở tuổi biết:
“...Tranh sơn dầu ví như một người đẹp mà người ta tôn kính đứng xa để ngắm. Tranh sơn ta ví như một người đẹp mà người ta thích vuốt ve hơn ngắm nghía. Có phải vì thế mà người ta làm những bức bình phong hay cánh cửa tủ bằng sơn ta để bày sát bên cạnh người ta không? Nhẵn nhụi quá và mát rời rợi...”
Lan đã trở thành bà lão bàn nghệ thuật hội họa Trung Hoa, hiểu được muốn vẽ trăng thì tả mây; hoặc lồng trong triết lý sâu xa có vẻ thần bí, mà nàng chưa thể nào có lập luận ở tuổi ấy. Đây là đoạn nói về Lan thất hứa đến thăm Nam. Nàng viết thư tạ lỗi họa sĩ qua giọng văn như sau:
“Thưa ông,
Em xin lỗi ông, vì em đã sai hẹn. Lỗi ấy ở một phần cô giáo Mùi em, nhưng em cũng xin nhận cả. Cô giáo em vô lý quá, ông ạ. Ai lại đọc tiểu thuyết trong giờ khâu mà phạt cấm ra chủ nhật.
Chương trình nhà trường mới lại càng vô lý chứ! Sao không dạy con gái học vẽ như con trai mà lại bắt học khâu? Nhưng việc nữ công ấy sau này của chúng em là khâu vá suối đời chăng? Nếu quả thế thì cũng buồn ông nhỉ? Đời người phải là một đời nghệ sĩ, một đời họa sĩ, mới đáng sống phải không ông? Em nói thế không phải nịnh ông đâu em không thích nịnh ai bao giờ? Nhưng em tin thế. Sống cho cái đẹp, sống để yêu cái đẹp, nói thế có đúng không ông, hay không có nghĩa gì hết?
Đây cần mở một dấu ngoặc để cảnh tỉnh ông mấy câu, hẳn ông cho phép chứ? Sống cho cái đẹp nhưng vẫn phải sống. Còn ông thì chểnh mảng với sống quá! Em nói thế không phải em không nhận thấy mức độ sống của ông mạnh mẽ, cao sâu là chừng nào? Nhưng đây em nói về phương diện sống thường của hạng người… thôi nói thế đủ rồi, ông sẽ hiểu. Và đến đây đóng cái dấu ngoặc lại để thuật cho ông nghe câu chuyện bị phạt ra chủ nhật...”
Nhân vật không sống đằm thắm với vai trò nữa, gò bó, vá víu; sự đả kích chương trình giáo dục của bọn thống trị thời bấy giờ lồng vào vai Lan phát biểu. Nên đoạn sau ta lại thấy ông quá say mê với việc tiếp tục đả kích, cho vai Lan trở thành một nhà giáo dục, nào là không được đọc sách mà sách ấy là của André Gide (Giao hưởng đồng quê, Khung cửa hẹp, Đỗ Đình Thạch dịch). Và lại phê bình như triết nhân:
“...Sự thực, người ấy chỉ mù, sinh ra đã mù, chứ không câm. Người ấy không nói được là vì từ thuở nhỏ ở với bà: “Người chết mà bà không nói một câu”… Em thì thấy vô lý, vì sự thực chỉ có một. Cái đẹp cũng chỉ có một. Cái đẹp tưởng tượng trong khi mù vẫn là cái đẹp trước mắt khi đã sáng. Lỗi là cho thiếu nữ không biết nhìn hay nhìn sai vì quáng lòa trong ánh sáng đột ngột rực rỡ...”
Ở đây không nhận chân giá trị về phê bình Gide đúng hay không? Nhưng chỉ phê bình Khái Hưng đã không cho nhân vật khác Lan nói lên lời trên (Nam chẳng hạn) mà đặt vào cô bé mười bẩy, mười tám như Lan thì hơi quá! Có lẽ ông viết xong đoạn trên, rồi nghĩ thấy vô lý của mình; nên ngay cùng trang, ông cho Nam phê bình óc triết lý của Lan:
“...Nam đọc một mạch hết bức thư. Rồi vân vê mấy mảnh giấy trong tay, chàng xem lại từng đoạn. Chàng thấy Lan triết lý, triết lý quá. Và chàng mỉm cười tự nhủ: “Bọn họ mới lớn lên, họ vẫn thế, nhất là về bên phụ nữ. Họ thích triết lý lắm. Bất cứ một việc gì dù đơn giản đến đâu họ cũng có một triết lý sâu xa ở trong...”
Bây giờ đến đoạn cho độc giả một cảm giác thi vị, ngộ nghĩnh của Nam nhờ Tuệ, anh ruột Nam đi hỏi Lan làm vợ cho Nam:
“ –...Ừ tôi hãy hỏi chú, lúc bấy giờ chú xưng hô ra làm sao? Khi chắp tay chào vợ chồng Biên: “Lạy thầy mẹ, con về thăm thầy me ạ” liệu chú có ngượng mồm không?
Nam đã đỏ mặt cãi lại:
– Cần gì! Em nói tiếng Pháp!
Và Tuệ đã mỉm cười tiếp luôn:
– Nói tiếng Pháp với cả vợ Biên và các con nhỏ của Biên...?”
Kết Luận.
Cốt truyện rất thường, nhưng trong cái thường ấy, tác giả viết linh động say mê, hấp dẫn là một điều khó, không phải nhà văn nào cũng thực hiện được. Người ta đọc Tourguenieff thấy hoàn cảnh tạo nhân vật rất thường, như Zassekine được rất nhiều người yêu, đủ loại cả trí thức. Nhưng riêng cậu Vladimir Prétovitch mười sáu tuổi lại được yêu hơn hết…rồi Zassekine lấy chồng, Prétovitch quên nàng. Nhưng sau chàng đến đại học đường thì gặp một người cùng yêu Zassekine kể cho nghe, nàng đã chết rồi. Và Prétovitch có thư của nàng gửi cho trước phút lâm chung, trong đó nàng thú thực nàng yêu chàng hơn hết…
Cốt truyện có thế, chi tiết lại không thường, tâm lý nhân vật không dễ mấy ai viết được hơn Tourguenieff, thì mối tình đầu hay Đẹp đã thành công cũng như ông đã thành công trong Băn khoăn hay Hạnh, Lời nguyền, Nhung.
Phê bình máy móc theo duy vật lịch sử, nhìn cái đã qua với con mắt trục lợi hiện tại, chúng tôi muốn nghĩ ngay rằng: “Sao người ta không sinh ra đời đã là thánh ngay mà phải trải qua những cái gì là tầm thường, khóc oe oe, hay vòi, làm nũng, để đến một độ lớn nào tự mãn (tạm gọi khi trưởng thành) cho rằng quá vãng của mình không muốn có ở bây giờ”.
Chúng tôi trả lời thái độ phê bình Khái Hưng của ông Tam Ích, vì ông đã mắc vào lỗi phê bình ấy:
“...Về nghệ thuật tiểu thuyết, không phải mỗi lúc lại có thể có một Khái Hưng hay một Nhất Linh. Phải bao nhiêu năm mới lại kiếm được những văn sĩ ấy? Chỉ tiết một điều là phần nội dung của nghệ phẩm của họ không hợp với trào lưu nữa và đứng trên ý thức hệ thì nghệ sĩ này đã đối lập với nghệ sĩ kia. Khái Hưng đối lập với Nguyễn Đình Thi chẳng hạn và Nguyễn Tuân đối lập ngay với Nguyễn Tuân tiền chiến tranh” (trang 47, Văn nghệ và phê bình của Tam Ích).
Chúng tôi có ý nghĩ khôi hài rằng giá Nguyễn Tuân hay Nhất Linh, Khái Hưng sớm thức thời như lời ông Tam Ích phê bình, chỉ nên đợi đến lúc nào ông Tam Ích hô lớn: đó là đúng ý thức hệ sáng tác; thì các ông mới nên sáng tác. Và như thế một người trưởng thành rồi có nên ghen với tuổi trẻ của con mình có ý thức hơn khi mình là trẻ con không? Hỏi là trả lời vấn đề đối lập ý thức hệ như ông Tam Ích, quan niệm sáng tác và phê bình vậy.
Khái Hưng là một nhà văn của Tự Lực văn đoàn để lại những trang tiểu thuyết vô cùng lịch lãm, có thể gọi là người đầu tiên biết viết tiểu thuyết trong lịch sử cực thịnh của văn chương Việt Nam ở giai đoạn đầu.(3)
KỲ THỨ II.
THAY LỜI DẪN
Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam của nhà văn Thế Phong gồm 4 tập, đã được in 2 tập: Tập 1 NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930-1945, bản in ronéo đầu tiên ở Sài Gòn gồm 100 cuốn vào năm 1959. Bản tái bàn cuả NXB Vàng Son in 3000 cuốn ở SàiGòn vào năm 1974. Bià cuả họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi được chụp in lại trên đây , do một trong những NXB vô danh ở Mỹ in lậu ở California sau 1975 và Tập 4 : Tổng Luận đã chuyển ngữ A BRIEF GLIMPSE AT THE VIETNAMESE SCENE (from 1900 to 1956) và 2 tập 2 & 3 nói về văn nghệ kháng chiến, nhà văn hậu chiến 1900 - 1956 (văn nghệ quốc gia hay văn nghệ của VNCH) chưa bao giờ công bố trên văn đàn, mặc dù đã được lưu trữ tại một số thư viện TRONG NƯỚC (Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. HCM, Thư viện Khoa học Xã hội Tp.HCM) và NGOÀI NƯỚC như ở Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Boston, Ithaca-New York, SIU, IOWA vv..hoặc ở Pháp, Đức, Úc..
Việt Văn Mới xin đăng tải lại một vài nhận định báo chí, văn giới về Lược Sử Văn Nghệ khi xuất bản lần đầu vào 1959 :
a) Tạp chí Bách Khoa:" ..Ông TPhong vừa cho ra một loạt phê bình văn học. Đó là ai nấy đều mong đợi, bởi vì sau một thời gian khá lâu chưa ai tiếp tay Vũ Ngọc Phan, chốc đà mười mấy năm trời' đúng một thời gian luân lạc cuả cô Kiều...."( số 56, năm 1959, TRIỀU ĐẨU)
b) Ông TP một văn nghệ sĩ thủ đô vừa viết xong và cho phát hành cuốn" Lược sử Văn Nghệ VN", trong đó tác giả phân tích các tác phẩm của văn nghệ sĩ ra đời từ 1930 đến 1945. Cuốn này được quay ronéo có bầy bán tại các hiệu sách. Sách này tác giả đã tốn nhiều công phu và sưu tầm khá nhiều tài liệu để biên soạn (nhật báo Ngôn Luận ngày 8/9/1959- Saigon).
c) ..." Điều thứ ba, sự phán đoán của anh hợp với ý tôi, phần nhiều các tác phẩm anh khen, thì tôi cũng nhận là có giá trị; những tác phẩm anh chê, thì tôi cũng không thích. các nhận xét cuả anh về Triều Sơn, Hoàng Thu Đông đều đúng cả. Đó là nhận xét của tôi; tôi phải phục sức đọc, sức viết, sức nhớ cuả anh. Cảm ơn anh một lần nữa.." (Nguyễn Hiến Lê, 12/3c Kỳ Đồng, Saigon 3- ngày 17/4/1959)
d) Nguyệt san Sinh Lực (1959, Chủ nhiệm: Võ văn Trưng- Saigon) :"...Hôm nay Thế Phong còn có thể ít nhiều nhầm lẫn-nhưng với khả năng rạt rào của tuổi trẻ, với lòng yêu văn nghệ đến đam mê, anh còn nhiều bước đi ngạc nhiên trên lãnh vực nà để đào xới lại mảnh đất hoang phê bình cảo luận bị bỏ quên trong nhiều năm. Sự cố gắng của Thế Phong là sự cố gắng hoàn toàn văn nghệ, cuả một người văn nghệ biết mỉm cười trong sự nghèo túng bản thân mình để hiến chiều dài cho văn học sử. Cũng có đôi khi ta thấy Thê Phong phê phán có vẻ độc tài và tàn nhẫn nữa; nhưng ta vẫn thấy rằng: đó là sự độc tài và tàn nhẫn không có tính cách tự cao, tự đại; hoặc dao to búa lớn; (trái lại) nhiều tinh thần thẩm mỹ, dĩ nhiên là có chủ quan. Ta quí sự nhận thức ấy- vì anh dám nói- cũng như người khác có dám cãi lại hay không là quyền của họ.." (Lê Công Tâm - Thanh Hữu, nhà văn).
e) Le Journal d'Extrême Orient (Saigon, 3 Décembre 1959)" Lược sử văn nghệ Việt nam-Hisotire de la littérature vietnamienne". Histoire sommaire de la littérature vietnamienne, òu l'auteur passe en revue les écrivains d'avant guerre 1930-1945. Cette oeuvre est tirée sur ronéo avec une tirage limitée. Fruit de minuitieuses recherches et d'une riche documentation donnée une vue d'ensemble des diverses époques et tendances des écrivains, des poètes du Vietnam, de leurs oeuvres, d'une littérature riche de plusieurs millénaires suivant le cours de l'Histoire. C'est une synthèse remarquablement coordonné annotée parle critique éminent qu'est ThếPhong qui l'achevée dans les derniers jours de Juin 1956
(đã in ở cuối sách "LSVNVN-Nhà văn tiền chiến 1930-1945 của ThếPhong, NXB Vàng Son Saigon 1974)...
Từ Vũ và Việt Văn Mới chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã ưu ái cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ,một bộ tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu .
Từ Vũ
VvietartNewvietart 2004-2018
ViệtVănMới 25.6.2020 Troyes-France.
VÀI DÒNG TÂM SỰ NGƯỜI VIẾT SÁCH
T rước hết cảm ơn bậc đàn anh bước trước: Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh – Hoài Chân ... (chẳng là gần với tài liệu văn học tham khảo, cũng như so sánh).
Viết sách biên khảo hay phê bình, giá trị nhiều hay kém có thể nằm trong vài ý kiến dưới đây: Lập trường người viết phải có trước khi tìm kiếm tài liệu. Ấy là đã phải kể tới kiến thức, học và đọc; khả năng và tâm hồn văn nghệ nhạy cảm của người viết phê bình.
Lại cần kinh nghiệm, nhỡn quan nhìn, phải được chế biến theo lập luận người viết càng nhuyễn, sách càng phong phú. Không thể coi sách tương tự như cours nhà trường, làm thành gọi là biên khảo, phê bình văn học. Cũng như étude, non-fiction, fascicule, étude critique sur critique phân minh rõ ràng.
Tài liệu dồi dào, nhưng tài liệu nào chưa đọc, không nên bao biện. Người viết không định ý, lập luận; hẳn tài liệu phong phú dồi dào đi nữa; cuối cùng người viết chết theo với tài liệu sưu khảo được. Nhớ tới Nguyễn Hiến Lê trong một sách biên khảo bàn về tài liệu, nhất là tìm tài liệu văn học, sử học Việt Nam khó gấp bội phần khi sưu tập tài liệu tương tự ở nước ngoài. Ý kiến thật xác đáng. Nước ta triền miên khói lửa, và tầm mức thẩm định giá trị tài liệu văn học chưa được sử dụng đúng mức, công bằng.
Cộng đời sống thấp kém, ít thời giờ đọc sách, mua sách, bảo tồn sách, nên tủ sách văn học Việt Nam cần cho người viết sử dụng còn ở tình trạng rất thiếu thốn.
Khi viết bộ sách này, khích lệ tôi nhiều nhất phải kể tới một người: đó là anh Nguyễn Đức Quỳnh. Ông nhắn nhủ tôi rằng: “tài liệu nhiều chưa chắc đã là một yếu tố thành công, còn phải dám làm, dám nhận trách nhiệm”.
Đôi khi, chính kẻ dám làm lại liều lĩnh và dám biết mình ngu. Như vậy, chắc chắn tôi biết trách nhiệm khi viết sách. Cảm ơn một lần nữa nhà văn lão thành Nguyễn Đức Quỳnh, ông bạn văn tiền chiến vong niên. Nữa, cho tôi xin cảm ơn thêm vài tấm áo vải lao động: như anh chị Hai Nụ ở Xóm Chùa (Tân Định) làm nghề thợ thêu. Anh chị nuôi sống tôi hai năm trời: cơm và nhà ở. Nhà thuê vào năm viết bộ sách là một trăm năm mươi đồng. Tiền cơm bốn trăm đồng. Chưa hết, ông già Lịch bán thuốc lá, cũng ở đây; cho tôi chịu khoảng hai ngàn đồng tiền thuốc lá. Thuốc lá Ruby khoảng sáu đồng một bao. Sáu tháng liền, tôi chỉ đi ra tới ngõ; xa hơn là 147B Trần Quang Khải (Sàigòn 1) tới tiệm cho thuê sách Đức Hưng. Nơi này đủ gần hết tác phẩm tiền chiến, giấy dó Hàn Thuyên, mướn đem về đọc để làm tài liệu viết. Một người bạn nữa anh Lung cũng ở Xóm Chùa ngập nước, có một tủ sách khá lớn. Anh cho mượn và tôi sử dụng một cách sở hữu chủ. Anh từ miền Bắc vào Nam lâu, có viết báo tài tử, một người thật chân tình. Phải chăng chân tình này làm tôi cảm động, khi nghe kể đoạn đời anh tham gia kháng chiến ở Nam Bộ bị Pháp cầm tù. Đời tù đầy thêm kinh nghiệm sống, đời quất ngọn roi phũ phàng bao nhiêu, nạn nhân chịu nổi hờn đau sẽ sống lâu hơn; sau thì người ấy sẽ được liệt vào bậc tốt nhất xã hội trên mọi phương diện.Và một bạn học cũ Hà Nội : Tạ Văn Tài đạp xe đạp thăm tôi để khích lệ - trước khi anh đậu hai thủ khoa Văn chương và Luật khoa Sài Gòn rồi sang Mỹ du học.
THẾ PHONG
Tiết 3
NHẤT LINH
Nguyễn Tường Tam (1905- 1963) 
Tiểu Sử.
Tên thật ông là Nguyễn Tường Tam. Sinh ngày 1-2-1905 ở Cẩm Giàng, Hải Dương. Gia đình có sáu anh em: Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Thị Thế, Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam) và Nguyễn Tường Bách. Thích văn chương từ thuở nhỏ, năm 16 tuổi làm thơ đăng trên báo Trung Bắc Tân Văn và năm 18 tuổi viết bài bình luận Truyện Kiều đăng trên báo Nam Phong của Phạm Quỳnh.
Năm 21 tuổi, từ giã ban Lý Hóa vạn vật học (PCB) vào Nam Kỳ gặp Trần Huy Liệu, Vũ Đình Dy múa bút ở Đồng Nai. Năm 1927 sang Pháp, bạn học với Nguyễn Mạnh Tường. Đậu cử nhân khoa học, 1930 về nước mở báo Tiếng Cười; nhưng không có tiền, báo được giấy phép phải hủy bỏ. Sau ra dạy học các trường tư thục Thăng Long, Gia Long trong hai năm. Sau ra báo Phong hóa, Ngay nay. Cuối năm 1941, Tự Lực văn đoàn bị khủng bố, ông trốn sang Tàu. Còn Hoàng Đạo và Khái Hưng bị bắt đưa đi an trí. Năm 1945 về nước hợp tác với Chính Phủ Liên Hiệp Quốc Gia Kháng Chiến Việt Nam (1-3-1946) giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. Năm 1948 rời bỏ nghề chính trị, sang Nam Kinh (Trung Quốc). Năm 1951 về Hà Nội tuyên bố không còn đứng trong một đảng phái nào; mấy tháng sau vào Nam bộ mở nhà xuất bản Phượng Giang in lại những sách Tự Lực văn đoàn tiền chiến(4).
Tác Phẩm.
Cuốn đầu tiên của Nhất Linh là cuốn Nho Phong ký biệt hiệu Nguyễn Tường Tam, 1926, Người quay tơ 1927, Gánh hàng hoa 1934 (với Khái Hưng), Tăm tối 1936, Anh phải sống 1936 (với Khái Hưng), Hai buổi chiều vàng 1937, Đời mưa gió, Lạnh Lùng, Đôi bạn, Đoạn tuyệt, Đi Tây, Bướm trắng…
Phân Loại Tiểu Thuyết.
Nhất Linh khác Khái Hưng ở chỗ tác phẩm của ông lồng tư tưởng cách mạng thực tiễn vào tiểu thuyết. Đồng cảnh với Khái Hưng nổi tiếng trong Tự Lực văn đoàn nói chung, ông thích viết loại tiểu thuyết cải cách lề sống cũ hướng đến cái mới. Tiểu thuyết luận đề cách mệnh của ông, mặc dầu dưới hình thức nào cũng tuyên truyền chủ nghĩa tư sản cách mệnh rất tế nhị, khéo léo; khiến thực dân hồi ấy vẫn cho phép ấn hành. Truyện ngắn của Nhất Linh như Hai buổi chiều vàng, Tăm tối tái bản lại đổi tiêu đề là Thế rồi một buổi chiều. Truyện dài của Nhất Linh có phần sâu sắc hơn truyện ngắn, cũng như Khái Hưng. Tác phẩm in lại sau tiền chiến phải nói rằng bán rất chạy.
Bướm trắng, cuốn truyện phân tích tâm lý căn bản như Âu Phương hoặc những tác phẩm cổ điển Nga. Quyển này chịu ảnh hưởng rất trung thành hơi văn của Dostoievskð trong Tội ác và trừng phạt. Bướm trắng không cần thiết lắm, nên chúng tôi nhìn vào Nhất Linh tiền chiến chỉ phân tích qua Đôi bạn.
Nghệ Thuật Viết.
Như ở trên, chúng ta đã bàn đến nghệ thuật viết của Khái Hưng, thì ở đây Nhất Linh viết rất hấp dẫn. So với Nho Phong (1926) đến năm 1936 viết Nắng thu đã tiến bộ rất nhiều. Cuốn này mãi đến năm 1941 mới ấn hành. Trong truyện này, ông tả mối tình cô gái câm với một thanh niên tư sản Tây học yêu nhau. Tác giả đạt được nhiều cảm giác diễn đạt bằng thái độ hình tượng, khiến người đọc liên tưởng đến André Gide khi viết Giao hưởng đồng quê. Còn gì khó hơn một cô gái câm muốn thổ lộ tình yêu khi đến tuổi dậy thì, ông đưa ra một lối diễn đạt qua cách tiếp xúc, Phong dạy Trâm học, nên từ mối tình câm ấy đã nói lên tình yêu thầm kín sâu sa qua nét bút, mặc dầu tình yêu ấy sau còn phát lộ qua thái độ, hành động. Đến Gánh hàng hoa, ông đã đi vào nội tâm diễn tiến của con người rất sâu. Những cảm giác tinh tế được khơi diễn, những tình ý cởi mở đúng điệu, hòa nhịp với tâm lý nam nữ thanh niên. Từ một anh chàng mù (Minh trong Gánh hàng hoa) đến viết văn, có người yêu khích lệ là Liên. Tính chịu đựng là điển hình cho phụ nữ Việt Nam, đôi khi chịu mang tiếng oan, nhưng về sau đánh tan dư luận bằng chịu đựng cao độ. Bao nhiêu tiểu thuyết cổ điển của chúng ta đã bàn đến họ. Cốt truyện Gánh hàng hoa vô vàn thương tâm, cảm động. Tác giả tả cảnh tượng một cô gái nuôi chồng ăn học. Cô hàng bán hoa ấy chắc hẳn rằng không một cô hàng bán hoa nào ở ngoài đời quên được và nhờ đó để càng học hỏi đưa con người tới mức tiến cao hơn. Chúng ta đọc một đoạn:
“...Không. Anh không làm giáo học nữa anh sẽ viết chuyện để ca tụng những tính tình giản dị, ngây thơ, tốt đẹp của các cô hàng hoa và hết thẩy các cô gái quê (Minh nhìn Liên) những cô gái quê như em, nhu mì, nhẫn nại dễ tha thứ và rất thương yêu chồng...”
Cảm giác bồng bột xuất phát thành thật, không giả tạo. Và còn phấn khởi như đoạn sau đây:
“...Ta để ở bìa Minh và Liên soạn.
Văn vỗ tay khen:
– Ừ có thể chứ. Vậy chiều nay bắt đầu đi nhé...”
Về truyện ngắn, không phải Nhất Linh không sở trường, nhưng không đặc sắc bằng Khái Hưng. Truyện ngắn kết thúc đột ngột, xảy ra theo đúng giác quan rất tự nhiên của Khái Hưng không thấy trong truyện ngắn của Nhất Linh. Ông luôn luôn phải tìm kết thúc theo một kết thúc luân lý xếp đặt, hoặc lồng vào một thứ triết lý quá cầu kỳ, khiến truyện mất tự nhiên và chính như thế giả tạo. Đó là nói chung. Đôi khi Nhất Linh viết truyện ngắn hay như truyện Cái tẩy (trong cuốn Hai buổi chiều vàng). Trong Cái tẩy, ông diễn tả sự chán chường của một số thanh niên thi không đỗ, thiếu bằng cấp, thiên về định mệnh, rồi sinh ra ẩn dật. Tâm tư một học sinh chán học, khinh bạc cuộc sống, cho rằng ở đời dễ mấy ai hiểu nổi mình, và chán hoàn cảnh chính trị thời ấy. Anh lấy một cô vợ quê mùa rồi không hề cho vợ mình biết mình là thứ người gì? Chồng cũng bán hàng như một người bán tạp hóa bình thường. Khi bạn cũ là kỹ sư đi qua ghé vào mua hàng chợt nhận ra bạn cũ, sự mừng rỡ hiện lên, thì người bán hàng kia xoa tay ra hiệu bảo bạn không nên nhắc nhở gì, vì anh giấu không cho vợ biết anh là người có học.
Thời bấy giờ chưa dễ làm cách mệnh, tuy rằng tư tưởng cách mệnh thường trực ở con người tác giả (Nhất Linh) không bao giờ quên, nhưng chính ẩn ức nho nhỏ ấy đã dồn vào truyện ngắn để đưa ra một bằng chứng thời đại suy luận. Điều kiện sơ đẳng đặc tính truyện như bàn ở tiết nói về Khái Hưng, tiểu thuyết đọc phải say mê, hấp dẫn. Có điều thế mới quyến rũ được độc giả, cũng như nhờ đó mà lồng tư tưởng vào truyện mới dễ cảm hóa được. Nói thế, tiểu thuyết của Nhất Linh không phải là không có trong đa số truyện của hai ông: Khái Hưng và Nhất Linh khi viết chung.
Chịu Ảnh Hưởng Tây Phương.
Như Khái Hưng, bạn đồng hành, ông thấm nhuần tư tưởng Âu Phương không phải là ít. Mượn hình thức tiểu thuyết Âu để tạo cho một thế hệ tiểu thuyết mới ra đời, (Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam), Thế Lữ, Xuân Diệu (thơ) là thành công của Tự Lực văn đoàn. Phái tân học Việt Nam hồi ấy, giai cấp thành thị rất thích thú loại truyện của nhóm ấy. Nhận định về truyện ngắn của Nhất Linh, Vũ Ngọc Phan viết trong Nhà văn hiện đại, ông có hơi văn như Pierre Hamp của Pháp. Nhất là cuốn Tăm tối (sau đổi thành Thế rồi một buổi chiều) không khỏi đưa độc giả nhớ đến Marré fraỵche et Vin de Champagne…, trang 99, NXB Vĩnh Thịnh tái bản Hà Nội 1954).
Cuộc Đời Làm Chính Trị.
Sau khi Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội lên nắm chính quyền, Chính phủ liên hiệp thành lập, Nguyễn Tường Tam giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao ký hiệp ước sơ bộ ngày 6-3-1946. Nhưng vẫn chưa thỏa mãn, tình hình Nam phần mâu thuẫn, tình thế Bắc phần gây thêm khó khăn, cho nên cả hai bên Việt Pháp đều cầu mong đi đến hội nghị Lang Biang, (Đà lạt). Đến ngày 17-4-1946 Nguyễn Tường Tam làm Trưởng phái đoàn sang Fontainebleau (Pháp), ông cáo từ ốm không tham dự, Phạm Văn Đồng thay thế (5). Sở dĩ ông không sang Pháp vì thừa biết rằng muốn độc lập không thể nào chỉ thảo luận xuông với Pháp được. Và cũng là lập trường của Việt Nam Quốc Dân Đảng, báo Việt Nam đã bàn về vấn đề này. Đến ngày 28-10-1946, tại nhà Hát Lớn Hà Nội, Quốc hội lâm thời nhóm họp, người ta thấy khiếm diện năm mươi ghế nghị sĩ của VNQDĐ. Từ đó Nguyễn Tường Tam tự thôi giữ ghế Ngoại giao.
Cũng trong năm 1949, Nguyễn Tường Tam xuất ngoại đến Nam Kinh trú ngụ. Từ đó đến nay, ông tuyên bố không đứng trong đảng phái nào và ngưng hoạt động chính trị. Trong khi trở lại Nam phần vào 1951 ông làm giám đốc nhà Phượng Giang, con đẻ của Tự Lực văn đoàn, Đời Nay hậu chiến.
Phân Tích Loại Tác Phẩm Chính Của Khái Hưng:
Ở Nhất Linh, Bướm trắng là cuốn truyện tác giả thích nhất. Vì ông cho rằng đó là cuốn truyện phân tích tâm lý căn bản có thể vượt không gian và thời gian(6). Chúng tôi cho rằng vì chán chường cách mệnh, chính trị; ông trở về với văn chương bày tỏ ở nội tâm. Cho nên nhận định sự nghiệp Nhất Linh tiền chiến, không thể nào bỏ qua Đôi bạn. Ở Đoạn tuyệt là cuốn tiếp nối Đôi bạn, thực ra không có gì đặc biệt lắm…. nó chỉ là cái đuôi của Loan và một vài hình bóng lờ mờ của Dũng. Tư tưởng của nhóm phải là Đôi bạn. Phê bình Đôi bạn là bao trùm văn nghiệp Nhất Linh tiền chiến, nếu văn học sử đã định ông là kẻ có công nhất trong Tự Lực văn đoàn. Thì hiển nhiên sự nghiệp của ông căn cứ vào TLVĐ chứ không phải là sau tiền chiến, vậy là Đôi bạn.
Tự Lực văn đoàn phát sinh sau cuộc thất bại cách mệnh của Nguyễn Thái Học năm 1930. Đời văn nghệ Nhất Linh và đời chính trị Nguyễn Tường Tam chỉ là một – văn nghệ chính trị đi trước là mở màn cho làm chính trị theo sau.
Ngược dòng thời gian để nhận định lý lập luận trên, chúng ta phân tích Đôi bạn. Trong Đôi bạn, Dũng con quan Tuần phủ khác hẳn tính các anh, người sau học giỏi nhưng không phải để nối dõi tông đường, mà theo đuổi làm cách mệnh. Dũng yêu Loan cô hàng xóm, con một gia đình khác giai cấp. Nhà Loan ở nhờ đất nhà Dũng, Loan là cô gái xinh đẹp có tư tưởng cấp tiến. Còn Dũng, ở với gia đình quan lại, chàng chán cảnh khom lưng, luồn cúi, giả tạo bọn phong kiến; Dũng chán chường muốn lên đường. Cùng đọc một đoạn văn Nhất Linh viết:
“...Trúc nhìn xuống xóm nhà dưới chân đồi và hai con ngựa buộc ở bụi mai, hai con ngựa ngày hôm sau sẽ đưa đôi bạn lên đường.
– Miễn là đổi lối đi, chứ đi ngựa mãi đau lưng tệ. Sang bên Tầu, tôi với anh sẽ dùng cáng đi sang Nga như các cụ xưa đi xứ. Tôi khênh một đầu anh khênh một đầu, cứ đi thế đỡ mệt hơn nhiều...”
Phải chăng đó là tư tưởng tác giả đã nuôi trong nhân vật Dũng ở Đôi bạn. Có thể nói rằng Đôi bạn gần gũi với hình tượng và lý tưởng tác giả nhiều nhất ở những năm 1936, 1937… Ngay ở trang đầu Thay mấy lời nói đầu. (Nhặt lá bàng), ông viết:
“...Ở đời tôi chỉ có hai người bạn thân nhất mà đành phải lần lượt hết xa người nọ đến người kia, xa anh là một và xa. Tôi không nói tên nhưng chắc anh đã đoán được người ấy là ai rồi...”
Đọc toàn bài Nhặt lá bàng của tác giả trong Đôi bạn để hiểu nhiều hơn nữa, ở đây không cần nhắc lại. Nhìn vào đấy, chúng ta thấy cảnh huống xã hội bây giờ, những đứa trẻ tương lai dân tộc, đang quằn quại bên gió lốc rét mướt nhặt lá bàng miệng run cầm cập, lòng vẫn mong “lạy trời gió lên” để lá rụng nhiều. Và ngày mai đem bán lấy tiền nuôi sống gia đình nghèo túng. Sự mâu thuẫn ấy không phải là tự nhiên mà có, là cố ý của tác giả muốn nói lên một thực trạng xã hội nô lệ. Nếu một cá nhân Dũng, con quan Tuần Phủ, hẳn sung sướng tấm thân no đủ, nhưng chỉ có thiểu số như con của bọn thư lại thôi. Còn đa số là xã hội nghèo khổ, của những hình ảnh gầm cầu, nhặt lá bàng kia.
Một đồng bạn của Dũng, Thái chết về nghề cách mệnh, không thể hoạt động trong nước được đành vượt biên giới. Đây là đoạn văn cảm động, ông tả tâm trạng hy sinh của Thái, người cách mệnh sống và chết vì cách mệnh, coi thân mình là phương tiện:
"...Hai người hôm sau tìm đến nhà một người bạn cũ là nơi mà Thái ẩn núp từ khi vượt ngục ra. Dũng phải đưa ít tiền giúp Thái có cách trốn đi nơi khác xa, đợi dịp ra ngoại quốc lần nữa. Cuộc lại thăm bạn không có gì nguy hiểm cả. Dũng cũng biết thế, nhưng chàng tự nhiên có cái thú được làm một việc khác hẳn những việc chán nản hàng ngày. Mấy lần Túc can, chàng nhất định không nghe...”
Trúc nói:
– Nếu anh vừa mới nghĩ ra xong thì bây giờ anh quay về cũng còn kịp. Tôi nghĩ lại mới biết cũng khá nguy hiểm cho anh. Mà nhất là không cần phải anh đi.
Nói vậy, nhưng Trúc biết là không bao giờ Dũng quay về nữa. Dũng không cần trả lời Trúc, chàng hỏi sang chuyện khác:
– Cần nhất là làm thế nào anh ấy đi ngoại quốc thoát chứ sống ở trong nước mà sống lẩn lút như vậy chịu sao nổi. Đến chúng mình đây còn không chịu được nữa là...”
Nhận xét về vai Trúc bạn của Dũng rất xác đáng; tâm trạng Trúc là của người nhờ bạn cung cấp tiền nong, đời sống vật chất, cho nên không mấy khi dám cãi lại bạn hay thảo luận việc gì cũng sợ làm mất lòng bạn. Tâm trạng Dũng phản ảnh trung thành một kẻ ham làm cách mệnh, chứ chưa phải là nghề cách mạng như Thái. Lý tưởng nuôi trong con người hai mươi trong sạch bao giờ cũng mong rằng lý tưởng cách mệnh giải phóng cho con người bị thống trị thoát ách nô lệ, dầu thân mình có phải hy sinh. Những con người vào nghề chuyên nghiệp là Thái, còn mới vào nghề là Dũng. Còn Trúc, người không có bản sắc, khuynh hữu, tả; chính bản thân mình không có lập trường ở cuộc đời riêng tư. Sự khác biệt giữa tâm trạng Thái và Dũng, tác giả phân tích rất tỷ mỷ, diễn tiến tâm lý rõ rệt mỗi cá nhân mang trong mình một hoàn cảnh và một sứ mạng. Dũng con quan muốn tham gia cách mệnh, say mê cách mệnh, nhưng chưa đi sâu vào cách mệnh thực tiễn, chưa nếm cảnh nằm gai nếm mật, cảnh tù tội tra tấn của bọn thống trị. Còn Thái, một chiến sĩ trưởng thành trong đau khổ, trong cách mệnh, khi đau khổ đã tới một độ cao không bao giờ than van; lời lẽ chỉ chìm đi trong sự câm lặng. Đây là hình ảnh con người cách mệnh chuyên nghiệp dưới mắt Nhất Linh:
“...Lần này khác nhiều. Hai anh giúp tôi thế này là đủ lắm rồi. Khi nào đến bước liều thì chỉ nên cần đến một người khác thôi...”
Thái, đại diện cho chiến sĩ cách mệnh khinh bạc trở ngại, coi sống chết chỉ là một nghĩa phục vụ cho cách mệnh. Đến ông Tuần, đại diện thư lại, phong kiến thời bấy giờ, thân sinh Dũng, tác giả tả rất linh động về cách sống, cái gì là đài các rởm, phong lưu mượn; cách thức dạy dỗ con cái (nhân sinh quan mại bản) và nếp sống hàng ngày sung mãn vật chất nhưng nô lệ tinh thần. Và đến cả bà Tuần, hệ thống của gia đình thư lại thì lại càng tỏ ra rằng tác giả đã chứng kiến nếp sống bọn thư lại rất sâu xa:
"...Dũng uống cạn chén nước, nhìn ông Tuần, toan đứng dậy:
. Anh hãy ngồi đây tôi nói câu chuyện đã.
Dũng biết là cha mình đã nghĩ lâu lắm về câu chuyện sắp nói. Ông phải nói ra chắc vì ông đã tức tối lắm. Nghĩ vậy nên Dũng cố giữ vẻ bình tĩnh khi phải nghe lời trách mắng của cha.
Ông Tuần nói:
. Anh đã nhớn rồi, anh phải liệu lấy thân anh cho tôi khỏi lo.
Bà Hai rút ống vôi, ngửa mặt, quét vội chiếc que vôi vào lưỡi rồi nhai trầu vừa nói:
. Ông hỏi làm gì. Tôi đã mấy lần nhờ anh cả khuyên anh ấy thôi đi mà anh ấy có nghe đâu?
Bà cười và nói tiếp theo giọng đùa bỡn và cố làm như âu yếm để cho Dũng khỏi giận mình:
. Tôi chịu ông tướng cứng đầu cứng cổ nhất nhà. Ngay từ hồi còn bé đã như thế rồi.
Ông Tuần ngắt lời vợ:
. Bà để tôi nói nào. Tôi không muốn mang tiếng có một người con du đãng.
Dũng quay lại phí ông Tuần, dạ khẽ một tiếng làm như chưa nghe rõ lời cha, ông Tuần nói luôn:
. Độ này anh bỏ cả học hành đi bè bạn với những bọn du thủ du thực, anh làm lây tiếng xấu cho cả họ.
Dũng toan nói phân trần để bênh vực người bạn, nhưng ông Tuần gạt đi:
. Anh đừng cãi. Tôi biết lắm. Anh làm việc gì mà tôi không biết. Dầu sao tôi chỉ muốn anh ở nhà nghĩ đến sự học hành cho nên người xứng đáng. Người ta trông vào tôi không thẹn. Anh đã nhớn, tôi mong anh biết nghĩ và anh đừng để tôi nói nhiều.
Ngừng một lát ông tiếp theo:
. Nhất là giữa lúc này. Anh muốn tương lai anh khá thì anh phải để yên cho tôi cố sức lo cho anh mới được...”
Nhất Linh không để sót một thái độ khách quan nào mà không đưa phần phê phán tinh tế của chủ quan định hướng vào. Giữa một thời đại thư lại luồn lọt, cúi đầu xin chức tước, có kẻ hiến vợ đẹp cầu danh. Nói như thi sĩ Tản Đà thì:
“...Lấm đầu lươn luồn lụy vào ra
Chồng chồng vợ vợ vinh hoa
Mà trong vinh hiển xót xa đã nhiều...”
Ông Tuần muốn người nối nghiệp mình là Dũng, mong mỏi nhất lại là điều thất vọng nhất. Ông muốn Dũng lấy Khánh (con quan) cầu cạnh chức tước. Tác giả rất tâm lý khi tả người đàn bà độc ác ngầm (bà Hai), nửa đổ dầu khi lửa sắp cháy, cho con vợ lớn phải chịu án tử hình; nhưng lúc bùng to lại giả đò dập tắt nửa chừng để con vợ lớn không biết mà oán hận mình. Vừa muốn ông Tuần mắng Dũng (khiêu khích) vừa lại sợ Dũng biết dã tâm mình mong thế (giả vờ mắng bỡn Dũng bướng bỉnh từ nhỏ) gián tiếp khen Dũng bướng bỉnh để hy vọng lấy lại cảm tình quân bình. Đây là đoạn Nhất Linh vạch rõ hậu trường thối tha bọn quan lại tra tấn người:
“...Một hôm vào công đường chàng (Dũng) sợ hãi ngưng lại: cha chàng đương rập đầu một người nhà quê vào tường và tát luôn mấy cái nữa mặc dầu trán và má người kia đã ướt đẫm máu. Ông Phủ quay lại bảo anh lính lấy thau nước. Và trông thấy chàng gắt:
Ai lại cho nó vào đây?
Hồi đó chàng còn nhỏ...”
Nhất Linh cho độc giả thấy cảnh làm quan vô cùng đểu giả, luôn luôn mâu thuẫn với mình, đánh gã nhà quê là để tống tiền. Nhưng khi thấy con vào, biết vậy xấu xa, bỉ ổi, thì lại giấu con. Bối cảnh chính của xã hội là như thế. Liệu cái cách một vài ngành có đủ để xã hội tốt đẹp được không? Hoặc một trong các ông ấy được hưởng, còn hai mươi lăm triệu dân Việt vẫn hoàn toàn là tôi mọi. Cho nên một xã hội thối nát phải lật đổ cả chế độ phong kiến, phải làm cách mệnh toàn diện. Ông đã nghĩ như thế, cho nên trong Đôi bạn phản ánh nhiều tư tưởng biến thể qua hành động lờ mờ của Thái, của Tạo. Đây là nói về Tạo:
“...Tôi không sợ chết đâu, tôi cũng không buồn gì cả. Hình như lúc này tôi thấy đất mát lắm, giá nhắm mắt nằm xuống, bốn bề đất mát mẻ rồi chẳng biết gì nữa cũng hay hay. Anh lên tới đây có lẽ tôi không sống làm quái quỷ gì. Vì nói không ra tiếng nhưng lúc này cần viết thư bảo anh lên. Chẳng biết để làm gì nhưng không thể dừng được. Dầu sao tôi vẫn vui. Anh lên có lẽ tôi vui hơn nữa, mà có lẽ vì thế tôi cõng anh lên.
Rồi đến mấy giòng chữ nguệch ngoạc chỉ chỗ ở và đường vào, dưới cùng ký tên Tạo, thêm những chữ “Cái máy ảnh của anh tôi còn giữ bên cạnh. Sắp phải trả anh hơi tiếc đấy...”
Tạo là đồng chí của Thái. Còn nhiều nhà cách mệnh nữa, như Cận làm cách mệnh do hoàn cảnh xô đẩy lao đầu chính trị như thiêu thân. Những phần tử này không khổ công, không lập trường nên tiêu cực, chẳng khác gì Khái Hưng viết Tiêu Sơn tráng sĩ mà thực chất truyện Khái Hưng như là tác giả không đam mê viết lắm. Cận tiêu cực, hoặc vì thương bạn mà làm cách mệnh, bằng cách ủng hộ, hoặc theo chân Dũng. Chỉ có Thái là đáng kể, và Dũng là con người phản tỉnh. Đây là đoạn Dũng nghĩ về Thái, sau khi tin về Thái bặt vô âm tín:
“...Chàng đã chợt nghĩ đến Thái và cuộc sống quằn quại của Thái một người đã chán sự sống không tin ở công việc làm của mình, nhưng lúc nào cũng hoạt động để cố vượt ra khỏi sự buồn nản của mình bao phủ dầy đặc...”
Đến đây thiết tưởng rằng tác giả viết có liên tưởng đến Nguyễn Thái Học qua lối tiềm thức gợi tưởng. Cuộc cách mệnh thất bại ở Yên Bái của Nguyễn Thái Học và VNQDĐ có khác nhau bao đâu? Mộng ở trong sách là thực hay thực là mộng ở trong sách. Cũng là một Thái trong Đôi bạn có thể Nguyễn Thái Học ngoài đời. Thái vượt biên giới để tìm phương tiện mới, như Thái Học định vượt sang Tàu bị bắt ở giữa đường. Cho nên chán cuộc sống nhiều khi vẫn phải hoạt động cho đỡ buồn sầu. Thái Học biết lực lượng tan vỡ, nhưng cố gắng theo đuổi để tuyên bố dầu không thành công cũng thành nhân. (Nguyễn Thái Học).
Mối tình Dũng và Loan, tác giả gợi lòng người đọc từ tình tiết êm dịu đưa đến bi thảm. Hình tượng mới của đôi lứa thanh niên thiếu nữ ấy đem lại cho độc giả đọc xong còn ngẩn ngơ với tác dụng ảnh hưởng từ văn nghệ cao độ:
“...Bà Hai ngồi sát đất cạnh một luống cải. Ngay gần chỗ Dũng đứng, dưới giàn đậu ván. Loan đương mãi hái đậu cho vào rá. Loan biết là Dũng sang nhưng không quay lại. Dũng làm như chưa trông thấy Loan, chàng đứng dựa vào hàng rào nứa, yên lặng nhìn xuống luống cải, luống rau vuông vắn như những miếng thảm xanh. Đất khô và trắng, chỗ nào mới tưới xong, đất nâu xẫm lại và trên thảm cải, lá mùi (7), những giọt nước còn đọng long lanh. Một cơn gió nhẹ lướt qua mặt đất, các lá rau non nớt rung rung trước gió như muốn tỏ cái vui sướng được mát mẻ sau ngày mong đợi khô khan.
Ánh sáng buổi chiều đều đều và êm dịu: tiếng sáo diều ở đâu rất xa đưa lại, nhe như gió dũng cảm thấy có một sự hòa hợp nhịp nhàng giữa cảnh chiều và lòng chàng lúc đó. Tháy bà Hai nhìn về phía mình, Dũng mỉm cười yên lặng cúi đầu chào: chàng mong muốn cất tiếng nói lo sợ làm tan mất sự hòa hợp rất mỏng manh và chiều êm ả..."
Một bài thơ tuyệt đẹp của một buổi chiều êm dịu trong đó có hai con chim đang yêu nhau một cách tế nhị ở thuở ban đầu. Còn nữa, những đoạn tình thơ tả lại trong cảnh sống bao la đất trời; của những thiếu nữ, chàng thanh niên chỉ có một thời yêu nhau. Thời yêu nhau ấy sẽ:
"...Ánh trăng đương mờ bỗng sáng hẳn lên. Gió đưa tà áo Loan khẽ chạm vào tay Dũng khiến Dũng sực nghĩ mình đi sát gần bên Loan quá. Chàng nhớ đến hôm lễ thọ và cái mơ ước được đi chơi với Loan trong vườn cỏ thơm, gió đưa tà áo nàng phất phơ chạm vào tay êm như một cánh bướm. Dũng không dám quay mặt nhìn Loan, chàng chỉ thấy bên chàng có một bóng trắng hoạt động nhẹ và thơm, lúc sáng hẳn lên dưới ánh trăng, lúc mờ đi trong bóng cây lưa thưa. Dũng nghe rõ tiếng chân bước của Loan nhịp nhàng xen với tiếng chân chàng bước. Quả tim chàng đập mạnh. Chàng như trông thấy trước mắt bàn tay hơi rung rung của Loan, hôm nào rời những quả đậu non trong rá, chàng nhớ đến cái cảm tưởng ngây ngất được thấy đôi môi Loan mềm và thơm như hai cánh hoa hồng, bao nhiêu thèm muốn ngấm ngầm bấy lâu trong một phút rạo rục nổi dậy. Bốn bàn chân vẫn bước đều. Chàng nghĩ đến lúc đó ngừng lại, chàng sẽ đưa cánh tay đỡ Loan và miệng chàng sẽ nói câu mà chàng thầm nhủ với Loan bao lần trong giấc mơ:
Anh sẽ yêu em trọn đời...”
Tình yêu câm lặng hai người tóc xanh, của Dũng, của Loan bước trên hè phố là điều cảm thông nghĩa yêu đương vạn năng sự sống. Còn đẹp hơn bao nhiêu lời mở ngoài miệng. Chao ôi! Nhất Linh đã cho ta những cảm khoái tuyệt diệu chừng nào. Cám ơn!
Kết Luận.
Sau này Đoạn tuyệt tả tiếp cuộc tình duyên lỡ làng, nhưng không còn thơ mộng; vì lẽ va chạm vào thực tế và ý tưởng cũng không còn trong tập thứ hai. Cho nên chúng tôi cho rằng Đôi bạn là đáng nói hơn. Giá có Đôi bạn mà không có Đoạn tuyệt thì tác phẩm của Nhất Linh đỡ mất giá trị. Lối viết trường giang (roman fleuve) ông không có tài viết trường thiên như Balzac; nghĩa là người ta cần đọc những cái cần tiếp mà không bao giờ thấy là không cần. Đành rằng tiểu thuyết không bao giờ có kết luận nhất định vì chỉ là ngắt ở đoạn đời cần thiết nhất mà thôi. Gần hơn, Nhất Linh không có biệt tài viết trường thiên như Nguyễn Đức Quỳnh viết bộ truyện Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình. Đọc văn của Nguyễn Đức Quỳnh, người đọc thấy cần thiết sau khi ngắt Thằng Cu So, ngắt Thằng Phượng, để mong Thằng Kình.
Bướm trắng chỉ là mượn một hơi văn ngắn trong hơi văn trường thiên của Tội ác và trừng phạt của Dostoievskð, lối thám hiểm nội tâm con người và đào chiều sâu cặn bã xã hội. Trương chỉ là một nhân vật bệnh để cho người ta nhìn vào đó mà không sa vào trường hợp của Trương; chứ không phải là con người trong loại truyện Đôi bạn phản ảnh tư tưởng và giai cấp sống của Tự Lực văn đoàn.
Tác dụng văn chương của Nhất Linh có ảnh hưởng nhiều cho người hôm nay. Nghệ sĩ tính cách mệnh là đà tiến bộ trường cửu, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến thái độ ấy. Độc giả thời Khái Hưng mê cốt truyện Hồn bướm mơ tiên rồi muốn đi tu theo Ngọc, hay là có kẻ sống trong suy tư khắc khoải bằng hút thuốc lá. Đó chỉ là nói đến ảnh hưởng văn chương vào lối sống nho nhỏ. Một Ả.Q. tạo được một thế hệ, một Nietzsche tạo được một Hitler, một Locke ảnh hưởng trực tiếp đến Roosevell, Churchill… Lý lẽ văn chương quả là lực lượng vô hình tác động đáng kể.
Phê bình Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) có người cho rằng Phạm Quỳnh nên là nhà văn hóa hơn là chính trị gia. Thiết tưởng rằng ở đây, chúng tôi còn thấy quá sớm để kết luận về Nhất Linh chính-trị và văn-nghệ. Những kẻ đi sau chúng tôi định giá trị chính trị gia Nhất Linh vẫn hơn.
Nhất Linh văn chương cũng như Khái Hưng, nhà văn có công vào bậc nhất ở tiền chiến, trong việc canh tân tiểu thuyết Việt Nam. Những truyện của họ tô điểm cho văn chương đẹp hơn lên, tạo mốc lớn làm mốc cho tiểu thuyết được đánh dấu ở Tự Lực văn đoàn. Nói như thế, giá trị văn chương Nhất Linh đã được ghi một nét son lớn trong những hàng đầu.
* Phụ Chú Riêng Của Việt Văn Mới Newvietart về Cuộc Đời Làm Chính Trị của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam :
. Năm 1938, Nguyễn Tường Tam thành lập đảng Hưng Việt, rồi đổi tên là đảng Đại Việt Dân Chính năm 1939 mà ông làm Tổng Thư ký. Hoạt động chống Pháp của nhóm Tự Lực trở thành công khai.
. Năm 1940, Hoàng Đại, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí bị Pháp bắt và bị đầy lên Sơn La, đến năm 1943 mới được thả. Trong thời gian này, Thạch Lam và Nguyễn Tường Bách tiếp tục quản trị tờ Ngày Nay. Cuối năm 1941, Ngày Nay bị đóng cửa. Năm 1942 Nhất Linh chạy sang Quảng Châu. Thạch Lam mất tại Hà Nội vì bệnh lao. Đại Việt Dân Chính Đảng thì đã gần như tan rã. Trong thời gian từ 1942 đến 1944, ông học Anh Văn và Hán văn.
. Tại Quảng Châu và Liễu Châu ông gặp Nguyễn Hải Thần và Hồ Chí Minh mới ở tù ra. Nguyễn Tường Tam cũng bị giam bốn tháng ở Liễu Châu, được Nguyễn Hải Thần bảo lãnh mới được Trương Phát Khuê thả ra. Nguyễn Tường Tam hoạt động trong Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội, rồi về Côn Minh hoạt động trong hàng ngũ Việt Nam Quốc dân đảng, tá túc với Vũ Hồng Khanh. Tháng 3 năm 1944, tại Liễu Châu, Nguyễn Tường Tam được bầu làm ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, tức Việt Cách.
. Sự tranh chấp, bắt bớ và thủ tiêu giữa hai đảng Việt Minh của Hồ Chí Minh và Việt Quốc càng ngày càng gia tăng. Giữa năm 1945, Nguyễn Tường Tam trở về Hà Giang cùng quân đội, nhưng rồi lại quay lại Côn Minh và đi Trùng Khánh. Giai đoạn này đã được phản ánh trong tiểu thuyết Giòng sông Thanh Thủy.
. Theo lệnh của Nhất Linh từ Trung Quốc gửi về, báo Ngày Nay, với Hoàng Đạo, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí và Nguyễn Tường Bách, lại tục bản, khổ nhỏ, ngày 5 tháng 3 năm 1945 và trở thành cơ quan ngôn luận của Việt Nam Quốc Dân Đảng.
. Tháng 5 năm 1945, tại Trùng Khánh, ông sáp nhập Đại Việt Dân chính đảng với Việt Nam Quốc dân đảng là Đại Việt Quốc dân đảng, tên gọi mới trong nước, còn tên gọi ở hải ngoại, nhất là tại Trung Quốc là Việt Nam Quốc dân đảng, tránh dùng danh xưng Đại Việt vì lý do tế nhị trong giao tế với bạn đồng minh Trung Hoa. Nguyễn Tường Tam làm Bí Thư Trưởng[1] của tổ chức mới này. Cuối năm 1945 tổ chức này ra công khai với danh xưng Mặt trận Quốc dân đảng, gọi chung là Việt Nam Quốc dân đảng, hay Việt Quốc.
. Đầu năm 1946, Nguyễn Tường Tam trở về Hà Nội, tổ chức hoạt động đối lập chính quyền Việt Minh, xuất bản báo Việt Nam. Tháng 3 năm 1946, ông giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến[2]. Ông cũng tham gia Quốc hội khóa I đặc cách không qua bầu cử.
. Nguyễn Tường Tam đã làm Trưởng đoàn Việt Nam dự Hội nghị trù bị tại Đà Lạt đàm phán với Pháp. Ông được cử đứng đầu Phái đoàn Việt Nam dự Hội nghị Fontainebleau nhưng không đi mà bỏ trốn sang Trung Quốc tháng 5 năm 1946 và ở lại Hồng Kông cho tới 1951. Việt Minh tố cáo ông đào nhiệm và biển thủ công quỹ đem đi.
. Năm 1947 Nguyễn Tường Tam cùng Trần Văn Tuyên, Phan Quang Ðán, Nguyễn Văn Hợi, Nguyễn Hải Thần, Lưu Ðức Trung thành lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Việt Nam nhằm ủng hộ Bảo Đại, chống cả Việt Minh lẫn Pháp, nhưng đến năm 1950 thì Mặt Trận này tan rã.
. Năm 1951, về nước mở nhà xuất bản Phượng Giang, tái bản sách của Tự Lực Văn Đoàn, và tuyên bố không tham gia các hoạt động chính trị nữa. Năm 1953, Nguyễn Tường Tam lên sống tại Đà Lạt. Tuy nhiên trong Quốc dân đảng vẫn tồn tại phái Nguyễn Tường Tam, cạnh tranh với hai phái khác.
. Năm 1958 rời Đà Lạt về Sài Gòn, ông mở giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay ở Sài Gòn, phát hành được 11 số thì bị đình bản. Năm 1960 ông về Sài Gòn thành lập Mặt trận Quốc dân Đoàn kết, ủng hộ cuộc đảo chính của Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông. Đảo chính thất bại, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm giam lỏng tại nhà riêng. Ông bị chính phủ Ngô Đình Diệm gọi ra xử ngày mùng 8 tháng 7 năm 1963. Đêm 7 tháng 7, tại nhà riêng, nghe tin sẽ bị đưa ra tòa xét xử, Nguyễn Tường Tam dùng thuốc độc quyên sinh để phản đối chính quyền độc tài của Ngô Đình Diệm, để lại câu nói nổi tiếng:
."Ðời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội những phần tử quốc gia đối lập là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như hòa thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do"
KỲ THỨ III.
Tiết 4
CÁC NHÀ VĂN TRONG TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
Trong Tự Lực văn đoàn, chúng tôi có thể tạm chia ra làm hai loại nhà văn: cộng sự và chủ lực. Nhà văn chủ lực là những nhà văn sống chết với nhóm, có công trong việc khởi đầu, cũng như chung giá trị phút ưu buồn, thành công, thất bại. Nhà văn cộng lực hay cộng tác là nhà văn đem tác phẩm đến nhập bọn với nhóm. Một khi có tác phẩm in trong Đời Nay, tất nhiên nội dung đã được sự đồng ý của Tự Lực văn đoàn. Như vậy, nhiều hay ít tác phẩm và tác giả chịu chung một lập trường, chúng tôi liệt họ vào nhóm đó. Nhà văn chủ lực trong nhóm ấy: Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ, nhà văn cộng lực như Vũ Ngọc Phan với loại sách Gió Bốn Phương, do Vũ Ngọc Phan điều khiển dịch tác phẩm ngoại quốc. Tỷ dụ như A-Na-Kha-Lệ-Ninh… Tiễu Nhiên Mị Cơ… Còn Trần Tiêu, Nguyên Hồng, Anh Thơ (nữ), Trọng Lang, Đỗ Đức Thu, Bùi Hiển, Hoàng Như Tiếp, (Tứ quốc chí, loại Nắng mới) Thanh Tịnh, Mạnh Phú Tư, Đỗ Tốn...
1. HOÀNG ĐẠO
Tên thật Nguyễn Tường Long, (1906-1943) em ruột Nhất Linh, 
anh ruột Nguyễn-Tường-Lân-Thạch-Lam. Đậu Cử nhân luật, nhưng không là tri huyện, vào làm Tham tá Lục sự để có thời giờ làm báo và phát hành tờ báo Ngày Nay, trông nom nhà xuất bản Đời Nay của nhóm. Năm 1945, tham gia cách mệnh với anh. Sau sang Hồng Kông, vì ông còn là đồng chí VNQDĐ. Rồi bị bắt và mất tích vào 1948. Hoàng Đạo còn bút hiệu là Tứ Ly. Ông là một lý luận gia của nhóm, đường lối xã hội bầy tỏ trong cuốn Mười điều tâm niệm: theo mới, hoàn toàn theo mới, không do dự. Tin ở sự tiến bộ mỗi ngày mỗi tiến. Sống theo một ý tưởng. Làm công tác xã hội. Luyện tinh khí. Phụ nữ và xã hội sống hòa hợp ra sao? Luyện có óc khoa học, cần sự nghiệp không ham danh vọng. Luyện cho thân thể mạnh mẽ. Cần có chí điều khiển công việc. Những tác phẩm khác Trước vành móng ngựa 1938, Mười điều tâm niệm 1939, Tiếng Đàn, truyện ngắn,1941, Bùn lầy nước đọng, Con đường sáng. Con đường sáng là truyện điển hình cho sự nghiệp ông. Ông muốn hướng dẫn con người nghĩ đến xây dựng sự nghiệp, sau khi đã ê chề với danh hão cuộc đời. Dầu sau đi nữa, Hoàng Đạo đã tạo cho con người thích sự lập nghiệp độc lập. Mô tả về cuộc sống tư sản lãnh đạo là giai cấp ông. Hình ảnh nông thôn trong đó chỉ là trục quay làm rèm cho Duy, nhân vật chính xây sự nghiệp, đồn điền ở nông thôn mà thôi. Văn hấp dẫn, nội dung có luận đề. Phê bình, Vũ Ngọc Phan cho rằng: “...Người ta lấy làm tiếc rằng Hoàng Đạo đã không đào sâu chút nữa. Những nhân vật trong tiểu thuyết của ông không có ngôn ngữ hành động sâu sắc nên cá tính của họ không được rõ cho lắm...”. Chúng tôi cho rằng truyện của ông có phần sâu sắc trong vấn đề xây dựng xã hội.
2. THẠCH LAM (1909-1943)
Tên thật Nguyễn Tường Lân (8) sinh năm 1909 ở Cẩm Giàng. 
Học qua ban trung học chuyên khoa Albert Sarraut Hà Nội. Viết văn năm 1931 khi ấy ông 19 tuổi. Ông mất vào ngày 1-6-1942. Tác phẩm đã xuất bản như: Gió đầu mùa (1937) Nắng trong vườn (1938), Sợi tóc (1942), Ngày mới, (truyện dài) Theo giòng (khảo luận tiểu thuyết), Hà nội ba mưới sáu phố phường…
Thạch Lam sẵn thiên bẩm viết truyện như Khái Hưng, Nhất Linh trong lối viết truyện cảm giác (style d'inspiration). Phân tích tâm lý đi vào chiều sâu con người. Nhất là trong Sợi tóc chúng ta mến tài ông hơn. Tác giả nhiều truyện ngắn tình cảm, hình tượng con người thời ấy có đặc tính. Tuy chỉ là những mẩu đời vụn, nhờ đi sâu vào sự kiện, nên truyện hóa ra sâu sắc và nói lên được sự sắc bén. Hoặc giả những truyện như Đói, hẳn tác giả đã sống trải qua cảnh đói rất sâu sắc, truyện làm người đọc say mê. Với tuổi trẻ thích yêu như Cô áo lụa hồng, hoặc những truyện ghi lại biến chuyển thời đại như trong Hà Nội ba mươi sáu phố phường (NXB. Thăng Long tái bản, Hà Nội 1952).
Theo giòng là cuốn sách nghị luận về nghề viết văn. Nhưng không hẳn là thiên hồi ký viết kinh nghiệm viết văn. Cũng không hẳn là thiên hồi ký kinh nghiệm sống của tác giả, mà chỉ là khảo luận, chưa có ứng dụng nơi tác giả; thiếu sâu sắc. Đa số thiên hồi ký nhà văn nổi tiếng thế giới viết về kinh nghiệm văn chương đời mình. Còn thường thấy những kẻ viết dạy nghệ thuật văn chương, toàn là những tác giả không bao giờ là nhà văn nhà thơ nổi tiếng; mà văn thi sĩ nổi danh thì chỉ viết kinh nghiệm văn chương, chứ không bao giờ dạy viết phải như thế nào? Một điều quan trọng về Thạch Lam, ông tự nhận rằng mẩu chuyện không kết luận thế này hoặc thế kia; nhà văn chỉ có nhiệm vụ trình bày, còn giải quyết sự kiện máy móc là công việc chánh án. Tchékhov và Thạch Lam đồng ý với nhau ở điểm đó.
Thạch Lam viết truyện dài thiếu linh động, bố cục rườm rà đôi khi thừa. Đó là truyện dài Ngày mới. Sự thất bại của ông có lẽ vì dùng hơi viết tâm bút vào truyện dài. Một thể truyện cần hơi dài, có nhiều tác động hấp dẫn thì ở Thạch Lam không có trong Ngày mới.
Thạch Lam thành công trong loại tâm bút như Sợi tóc, Gió đầu mùa. Còn truyện dài và khảo luận rất tầm thường. Hình bóng nhà văn với cuộc đời và tác phẩm có liên quan ra sao? Chúng tôi nhận thấy thi sĩ Thế Lữ đưa ra ánh sáng điều quan hệ trong việc cho ai muốn nghiên cứu đời tác giả với tác phẩm: Nhân ngày giỗ đầu Thạch Lam (Báo Thanh Nghị số 1-6-1943).
“...Tôi được nghe Thạch Lam gợi lên những kỷ niệm ngày còn nhỏ của anh trước mấy ngày anh viết bài Trở về, trong đó ta thấy sáng gay gắt làm âm thầm thêm bóng cây lá. Khái Hưng trong bài tựa Gió đầu mùa nhận thấy rõ những duyên do xúc động của Thạch Lam trong nhiều đoạn ở tập sách này. Chính Thạch Lam cũng thường nói riêng với tôi rằng cái lòng quê hương là niềm quá vãng vẫn mãi mãi sống cùng hiện tại ở trong anh. Đó là lời thú thực của một người nặng tình có nhiều lúc muốn thoát khỏi những giây vương. Không có một sáng tác nào của Thạch Lam mà không có rất nhiều Thạch Lam trong đó. Gió bụi xa xưa, hương ruộng lúa mùi dạ phơi tiếng tre reo rét, thứ bóng tối nhẫn nại uất ức đời thôn quê dưới mái hay là những đêm sâu điểm trống huyện, những buổi sáng trăng dặt dìu, từ sự thực lầm lội đến cảnh êm dịu mơ màng, không một tình trạng nào ta thấy ở những trang châu báu còn lại cho chúng ta kia, không làm cho Thạch Lam cảm động đê mê từ bao nhiêu năm tháng trước. Cả đến những truyện ngắn viết vì nếu phải có cho một kỳ báo, cả đến những văn phẩm mà người ta gọi là gượng ép, ở Thạch Lam cũng là một công trình đôn hậu dồi dào. Trong những dịp làm việc chung với nhau, nhiều lần tôi được Thạch Lam túng bấn trước cái hạn 12 giờ phải đưa truyện ngắn cho báo. Gặp những lúc vội vàng ấy, tôi ở địa vị anh tất lo sợ để rồi sau cùng quyết định sai hẹn, Thạch Lam thì không. Cái người tối hôm trước trả lời tôi rằng chưa biết viết gì, sáng hôm sau đã cho tôi cảm động vì một tập truyện viết đều hàng, nét chữ nho nhỏ và nhanh, câu văn thấm đậm những tình cảm thắm thiết bày đãi trên trang hoặc đĩnh đạc ung dung, hoặc say mê ảo não. Những dòng ít dập xóa ấy có những đoạn khuôn mẫu cho cách hành văn. Đôi khi Thạch Lam phàn nàn rằng chưa biết viết gì, để một người bạn kể một chuyện nào đó - Thạch Lam viết không ai dám bảo - cả chúng tôi cũng vậy - rằng không phải chính Thạch Lam nghĩ ra. Tôi được thấy cái chuyện người thiếu nữ về nghỉ ngơi ít ngày trong lặng lẽ của quê nhà dưới sự yêu thương thong thả mát mẻ của bả tổ mẫu mà tôi thuật cho Thạch Lam nghe, chỉ mấy ngày sau thành thiên Dưới bóng Hoàng Lan. (…) Sự thật tâm hồn Thạch Lam diễn trong lời văn chương phức tạp nhiều hình, nhiều vẽ, nhưng bao giờ cũng đầm thắm, cũng nhân hậu, cũng nghẹn ngào, một chút lệ thần kín của tinh thương. Nếu Thạch Lam theo một chú ý nào trong công việc viết văn của anh thì chú ý ấy là diễn ra và gợi lên sự thương xót...”
Thật xác đáng khi xét về Thạch Lam trong văn chương và ngoài cuộc đời, cho người đọc hiểu thêm về nhà văn. Đem triết lý nho nhỏ ngoài đời sống đãi lọc đưa vào văn chương để cải tạo con người trên hai phương diện: nếu lạc quan thì con người chớ vội lạc quan hơn, nghĩa là làm giảm vui thú sẽ đưa đến quá trớn trong cuộc đời, nếu là bi quan là làm cho cuộc đời vui thú hơn lên, hai ý nghĩa điều có trong văn chương Thạch Lam; mà thế sĩ Thế Lữ cho là nhân hậu, nghẹn ngào, một chút lệ trong tình thương. Nhận định về Thạch Lam còn có thêm ý kiến xác đáng của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan viết về ông trong cuốn Nhà văn hiện đại: "Thạch Lam là một nhà văn đã trút tính tình của mình sáng tác nhân vật do ông sáng tạo nên các vai không khác nhau mấy tí" Đem cuộc đời mình phơi bày rồi sau thành công trong văn chương, chúng ta phải nhận rằng cuộc đời, triết lý nhân sinh của tác giả đem vào văn chương đã thành công. Trong thời kỳ kháng chiến bổ sung ở miền Nam, chúng tôi thấy lối văn đem triết lý nho nhỏ của đời vào văn chương thành công trong cảm giác, có Bình Nguyên Lộc ( truyện Lò chén chòm sao trong Nhốt gió, và Mai Thảo hậu chiến trong Giai đoạn chị Định ( trong cuốn Tháng giêng cỏ non).
Trang tuyệt bút văn chương quý báu của nhà văn thiên tài truyện ngắn Thạch Lam, cái chết mai một quá sớm, nhưng một Gió đầu mùa, Sợi tóc, cũng như Nam Cao Ở Rừng đã để lại cho văn học sử Việt Nam bông hoa vô vàn tươi đẹp.
3. THANH TỊNH (1911-1988)
Tên thật là Trần Thanh Tịnh. Tác phẩm đã xuất bản Quê mẹ (Đời Nay), Nước cờ Nam Tiến ( Thời Đại), Ngậm ngải tìm trầm ( Thời Đại)… Văn ông nhẹ nhàng, buồn gợi cảm dĩ vãng. Đôi khi hướng về quá vãng thật sâu đậm. Ông còn làm thơ. Những kỷ niệm thơ ấu gợi qua giọng văn trầm buồn, âm hưởng dìu dặt cho người đọc phảng phất hơi văn Anatole France, như tiêng tiếc ngày xa xưa đượm mùi giáo huấn hơi văn De Amcis.
4. TRẦN TIÊU (1899-1954)
Sinh năm 1899 ở Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Dương. 
Ông mất vào ngày 8-1-1954 ở Hải Phòng. Ông là nhà tiểu thuyết chuyên viết truyện nông thôn. Tác phẩm đã xuất bản: Con trâu (Đời nay 1940)... Ông tả cuộc sống dân quê vào giai đoạn năm 1930-1942. Nhân vật chính trong Con trâu là gia đình bác Chính lam lũ đầu tắt mặt tối, không lúc nào được an toàn. Bao năm trời nuôi lý tưởng mua được con trâu, nhưng không thực hiện nổi trước khi nhắm mắt. Phong tục nông thôn, ông rất tường tận và tất nhiên viết về miền quê Bắc Việt. Có thể nói rằng là người đầu tiên viết tiểu thuyết, lấy đề tài cho sự nghiệp mình nổi danh từ bối cảnh nông thôn, mà nông dân Việt Nam có đến chín mươi phần trăm. Sau ông, Ngọc Giao có viết về đời sống nông thôn, cuốn Đất rất đặc sắc; nhưng thật ra kẻ viết đầu tiên thành công, chúng ta vẫn phải nhắc đến Trần Tiêu. Trần Tiêu viết văn không bay bướm, nhưng giọng văn chân thành, cảm động và biểu hiện rất được phổ biến trong văn ông. Trần Tiêu là em ruột Khái Hưng.
5. MẠNH PHÚ TƯ (1913-1959)
Tên thật Phạm Văn Thứ. Tác giả Làm lẽ (Đời nay 1940), 
Sống nhờ (1942), Một thiếu niên (Mới 1942), Một cảnh sống, Người vợ già … Làm lẽ được giải thưởng Tự Lực văn đoàn, vào năm 1939. Ông nói lên sự bất công trong gia đình, mà vấn đề khai thác này có cả trong Sống nhờ, vì ông là một nạn nhân của chế độ ấy. Cuốn truyện có thể gọi là bán tự sự; ông được lồng vào vai Dần. Sống nhờ có những đoạn văn nồng nàn, chân thành cảm động rơi lệ. Vũ Ngọc Phan có ý xác đáng khi viết: “Đọc tiểu thuyết của Mạnh Phú Tư, người ta nhận thấy ông là một nhà tiểu thuyết giàu tưởng tượng trong các truyện của ông, sự việc rất nhiều, ông gian xếp điều khiển có thứ tự. Nhưng văn ông không phải thứ văn lọc lõi, ngay ở những đoạn hay nhất, người ta vẫn nhận thấy những chữ dùng không chỉnh, không xứng...”
6. TRỌNG LANG (1905-1986 SàiGòn)
Tên thật Trần Tán Cửu. Sinh năm 1905 ở Hà nội, 
con Tuần phủ Trần Tán Bình. Ông viết cho báo Phong Hóa, Ngày Nay của Tự Lực văn đoàn, chuyên về phóng sự. Tác phẩm đầu tay của ông viết đăng trên báo Đông Dương, Lọ Cổ vào năm 1930 của Mai Duy Lâm. Năm 1932, hài kịch năm màn Đại Giang tiên sinh đưa lên trình diễn dưới quyền điều khiển đạo diễn Tú Mỡ. Khi Thế Lữ chủ trương Ngày Nay, Trọng Lang viết Trong làng chạy, Đàn Bà, Nghiện, Gà chọi, Đời bí mật sư vãi, Hà Nội lầm than (1936-37), Làm dân, Làm tiền. Khi Vũ Ngọc Phan chủ trương báo Hà Nội Tân Văn, ông viết Thầy lang (tái bản sau ngày Nhật đảo chính) lúc này ông làm tổng thư ký báo và viết Đói, Sống sót. Năm 1944, chủ nhiệm nhật báo Thông Tin và viết Những đứa trẻ, Vợ lẽ, Nàng hầu, Những cái đẹp trên mồ hôi nước mắt. Năm 1937 về thành, viết cho Ngày Mới, Dân Chủ. Ông dùng bút hiệu Ba Phải, viết Tuồng Tàu An Nam do Tây đạo diễn châm biếm bọn làm chính trị tay sai cho ngoại bang. Năm 1949 chủ nhiệm nhật báo Thời Đại, Vì Nước, sau hai tờ này bị đình bản. Năm 1950 vào Huế làm cho báo Tổ Quốc viết phóng sự Đây Huế, vì lý do chính trị phải bỏ dở, viết tiếp Quê hương giữa Thần Kinh châm biếm, mai mỉa tác phong, lề lối sống vua chúa, phong kiến. Năm 1951 vào Sài gòn, viết cho báo Dân Chủ: A Sề Goòng dưới bút hiệu Ông Tưởng Tốc và trên nhật báo Dân Chủ, Chiếu trên chiếu dưới qua bút hiệu Đinh Bù Loong. Sau đó ông bắt đầu viết kịch ngắn chống mác xít qua Lòng mẹ, được quay thành phim tuyên truyền. Viết truyện ngắn như Người đàn bà trong đêm ấy, Bà Cai đi Tây ăn Tết. Tác phẩm xuất bản: Tiếu Lâm tân thời ( Lạc việt 1957) đăng tải trên tuần báo Việt Chính của Hồ Hán Sơn. Thời kỳ tiền chiến, phóng sự của Trọng Lang, cuốn Làm dân đặc sắc hơn cả. "So với nhà phóng sự Tam Lang Vũ Bằng, Trọng Lang là nhà phóng sự đanh thép và sắc cạnh" (Vũ Ngọc Phan). Đặc tính trong văn chương phóng sự Trọng Lang là được thực tại xã hội, phong tục, lề lối sống nông thôn cổ hủ, thành thị mại bản thời Tây thuộc lần thứ nhất ở xã hội chúng ta. Nhưng ông cũng không quên đưa cả lề lối, tục quán thô thiển vào văn chương. Nhưng nếu không có thì cũng không phản ánh được hình tượng sống của xã hội đương thời khi ấy. Sở dĩ thô thiển, vì Trọng Lang lọc đãi bằng chủ quan định hướng chưa nghệ thuật. So sánh sự khác biệt phóng sự Trọng Lang và Vũ Trọng Phụng; thì tác giả Làm dân, Đời bí mật sư vãi, mới chỉ nói lên được mẩu sống điển hình nho nhỏ, thiếu hệ thống của sự thành hình rộng lớn (cơ hội sẵn có), mà Vũ Trọng Phụng có nghệ thuật chọn lọc, xếp đặt, xây dựng điển hình, rõ ra đâu là đả phá đâu là xây dựng. Đọc tác phẩm Trọng Lang chưa thể thâu tóm được đại cương lớp sống trong xã hội, mà ở Vũ Trọng Phụng thì nhà cách mệnh Tạ Thu Thâu ở ngoại quốc hiểu được tình hình trong nước. Vì một đằng ghi chép tài liệu, đãi lọc với chủ quan, cấu kết thành một xã hội trong văn chương của một nhà văn có nghệ thuật. Nên Vũ Trọng Phụng trở thành văn vượt hẳn những bạn văn đương thời ở đó.
Đọc mẫu người Tây Môn Khánh, sống dưới thời Nhật thuộc; người đọc thấy Trọng Lang vẫn là nhà văn nghệ phóng sự khách quan ghi chép thô hiển mẩu đời những đứa trẻ cầu bơ cầu bất, do xã hội chính trị tạo nên, mà không căm thù biểu hiện. Giữa xã hội Tây thuộc, con người ở Làm dân như thế nào, thì giữa xã hội Nhật Thuộc, con người chỉ vẫn có thế chẳng khác hơn. Điểm đáng ghi nhớ, khi đọc phóng sự Trọng Lang hiểu được lớp lang thực tế khách quan. Trọng Lang chưa dám có thái độ để phê phán nhân vật của ông trong phóng sự. Ông cho rằng phóng sự chỉ ghi chép thôi. Nghĩa là Trọng Lang chỉ mới dám ghi chép mẫu người sống, chưa ráp vào hệ thống có nghệ thuật một tác phẩm văn chương. Qua Những đứa trẻ, Vợ lẽ, Nàng hầu, Trọng Lang vẫn giữ lối viết ở tiền chiến. Hiện nay, Trọng Lang vẫn sáng tác, giọng văn trong phóng sự thiếu sự sống đằm thắm, nên khó là phóng sự hay được. Truyện Tiếu Lâm tân thời của ông, cũng như kịch chính trị giai đoạn văn chương tuyên truyền cấp thời. Trọng Lang không còn giá trị văn chương, nếu muốn xét ông qua tác phẩm hậu chiến. Kết luận ông chỉ có giá trị ở tiền chiến mà thôi.
7. ĐỖ ĐỨC THU (1907-1979 SàiGòn).
Tác phẩm đã xuất bản: Đứa con (Đời Nay), Vỡ lòng 1940, Bốc đồng 1942, Nhà bên kia 1940, Những bước đi ngang ... (đăng báo Thanh Nghi 1944). Văn không hấp dẫn như Khái Hưng, Nhất Linh, không sôi nổi với nhân vật xã hội tính như Nguyên Hồng. Thỉnh thoảng người đọc mới thấy hào hứng, bởi lẽ, văn đều đều, bố cục chưa mạch lạc, tư tưởng tầm thường (Đứa con).
8. BÙI HIỂN (1919- )
Tác phẩm đã xuất bản: Nằm vạ 1941, 
Mạ đậu đăng trên các tạp chí Hà Nội Tân Văn của Vũ Ngọc Phan, Chiều sương, (Hà nội Tân Văn 1-3-41) Thuốc độc (Hà nội 26-4-41)… rất đặc sắc. Truyện ngắn trước tiền chiến của ông có tính cách địa phương, viết rặt hình ảnh quê hương nơi ông sinh trưởng, cho nên Vũ Ngọc Phan cho rằng đọc Nằm vạ của Bùi Hiển âm hưởng như Eugène Roy của Pháp, tả người dân quê miền Nantes, những nét đậm đà như Chateaubriand viết La Brière hoặc Joseph de Pesquidoux trong Chez nous sur la glèbe.
9. NGUYÊN HỒNG (1918-1982)
Tác phẩm đã xuất bản: Bỉ vỏ, giải thưỡng tiểu thuyết 
của Tự Lực văn đoàn 1937, Bảy Hựu 1940, Những ngày thơ ấu (Đời nay, 1940), Cuộc sống 1942, Qua những màng tối, Vực thẳm (Anh Hoa 1944), Hơi thở tàn (Thời Đại 1944)… Có thể nói rằng số nhà văn cộng tác với Đời Nay, Nguyên Hồng là nhà văn có xã hội tính hơn hết. Xã hội tính trong văn chương Nguyên Hồng là tả chân tự sự. Sau 1945, tiến tới tân tả chân (néo-réalisme). Những tác phẩm của Nguyên Hồng phần nhiều dùng cuộc đời mình làm bối cảnh chính. Những ngày thơ ấu, ông đã dám viết thẳng những gì mà thiên hạ cho xấu xa, như bố tôi làm cai chẳng hạn. Truyện viết rất chân thành, đầy nước mắt về ngày thơ ấu sống trong gia đình có ông bố nghiện. Cảnh sống đầy phong ba, cặn bã, kiếm sống (như đánh đáo kiếm gạo), cảnh thương nhớ mẹ, cảnh đau lòng gợi lối viết ở nơi bà cô nhiếc móc, ông không giấu diếm. Giai đoạn đầu viết văn, lập trường ngả sang căm thù đời sống để nghệ thuật phục vụ nhân sinh lối xã hội tiểu thuyết Romain Rolland... Sau tiền chiến, ông nổi tiếng với truyện viết đầy nhân bản tính như truyện vừa Lò lửa (1946).
Theo Vũ Ngọc Phan xét về Nguyên Hồng tiền chiến thì: "Nguyên Hồng chịu ảnh hưởng hơi văn Nga và Anh quốc nên cảm động sâu sắc". Chúng tôi chỉ đồng ý rằng vì có cuộc đời “dưới đáy” cho nên ông có lối văn cặn bã của nhà tiểu thuyết Nga và Anh hay dùng. Như Maxime Gorki, như Charles Dickens chẳng hạn. Từ Bỉ vỏ đến Cuộc sống, Hơi thở tàn tiến bộ rất nhanh chóng. Ngày ở kháng chiến, Nguyên Hồng viết hơi văn khác hẳn các nhà văn đương thời, lối tân tả chân đầy nhân bản tính trong tập truyện Lò lửa động tác rất mạnh mẽ tâm hồn người đọc. Nói như Lỗ Tấn, hơi văn căm thù dẫn đưa đến cách mệnh.
Nhận xét sự nghiệp văn chương Nguyên Hồng tiền chiến, Phạm Việt Tuyền viết trong cuốn Nghị Luận văn chương (Thế Giới xuất bản, 1954, trang 25) có đoạn giá trị:
"...Giá trị của Những Ngày Thơ Ấu một đàng ở chỗ nó cho ta biết nhiều về một nhà văn xã hội, gia đình giáo dục, tâm tình khuynh hướng trên thế giới, một đàng ở chỗ tiêu thụ lại cho ta những vấn đề thắc mắc về xã hội nhân sinh, chẳng phải của riêng một nhà tiểu thuyết Nguyên Hồng mà còn là của chung, của một lớp nhà thơ tiền 1945 nữa. Nếu có điều khiếm khuyết nào đáng tiếc, theo thiển ý, chính là ở chỗ tác giả đã anh hùng hóa tự truyện dài hơi hơn...”
Chúng tôi không đồng ý nhận xét cuối của Phạm Việt Tuyền, vì lẽ Nguyên Hồng không anh hùng hóa một chút nào trong Những ngày thơ ấu. Bởi lẽ, chỉ có thể ông đã không biết ngắt đoạn cuối thiết yếu trong một truyện tự sự. Có thế thôi. Chẳng hạn như Maxime Gorki viết Kiếm sống, ông đã ngắt đúng chỗ cho nhân vật Theckhov lên Kazan học tập, độc giả biết ngay rằng là nhân vật cầu tiến. Giá trị Nguyên Hồng ở tiền chiến: là một nhà văn xã hội tự sự. Một Thiết Can còn trốn cái tôi ở ngôi thứ nhất, thì Nguyên Hồng thành khẩn phơi bày cái tôi, mà đời khinh ở ngôi thứ nhất. Hay Nguyễn Đức Quỳnh viết tự sự cho nhân vật chính qua văn chương ở Thằng Kình. Giá trị văn chương, sự nghiệp Nguyên Hồng còn ở giai đoạn kháng chiến, qua Những chiều đông xám (trong tập Lò lửa) đã nói lên đầy đủ thực trạng một lớp người tranh đấu. Truyện về người Nhật hối cải chẳng hạn, thật đầy nhân bản tính, truyện hay hướng thượng. Chúng tôi cho trích một đoạn văn trong Lò lửa:
“… Nam bỗng thấy sự nhẹ nhàng toát ra trong người Nam, tức tối và đau chói. Nam nuốt nước bọt than thở tự hỏi: Máy Tơ và bến Xi Măng, chúng nó thấy mình không về và bặt tin chắc biết động. Không biết thằng Ba và thằng An có chắc ở mình và có gan quay lại không? Mà cả cái chị ở quê mình có trốn thoát hay không? Nam ngưng lại tê mê, Nam mơ hồ như thấy mình lại được chắp nối lại hoạt động, Nam sẽ được sống. Nam sẽ lại được… Cánh cửa kẹt mở. Một tên mật thám béo lùn, mắt một mí đi ra. Hắn thò đầu ra cửa gọi xuống đường người hàng nước đá rồi quay vào truyền vào người loong toong ra cầu thang đón người nọ.
Ồ bồng quá, mét xì!
Hắn nhận cốc nước của người loong toong bưng vào tận chỗ, vỗ vai ý khen. Keng keng, chiếc cùi dìa quay tít đá trong cốc. Những khoanh chanh, những cục nước đá và đường xoay tròn lại, bắn bọt cả ra bàn. Ực ực, tưởng hắn uống làm cả một hơi cốc nước, nhưng không, hắn chỉ nhấp nháp và khà như uống rượu.
Thấy Nam vẫn nằm im và như không biết có hắn, hắn càng quay mạnh rồi sâu một ngụm to sớt cả ra cằm, ra áo thì hắn dằn cốc xuống bàn.
Này Nam tỉnh rồi. Ấy tớ phải nói với các ông ấy cho cậu đấy. Thôi nghe tớ, uống nước, nước chanh đây rồi khai đi. Nam chỉ lờ đờ nhìn thấy. Hắn nhìn lại, Nam lắc đầu:
Ờ khổ thật! Thôi này nghe tớ, uống nước rồi khai đi.
Nam vẫn không đáp. Hắn cúi xuống lay tay Nam:
Khai đi Nam ạ, Xứ ủy, Thành bộ, Giao thông, cậu giấu thì khai một tiểu tổ vậy, một tiểu tổ hai người với cậu là ba cho đủ lệ thôi, quần chúng thường cũng được. Rồi tớ làm ráp bo cậu chỉ mới có công tác thế thôi và cậu ký vào tờ cũng thế, thế là xong, biên bản tư tòa cho chóng. Và khỏi phải khổ, và có khi tớ điều đình với ông Bôn cậu được tha cũng nên. Ông Bôn mới đổi về đây, Cà Rông, Xi Măng, ông đều dìm đi. Nhỡ có cán bộ nào lộ và nhất là chính trị phạm cũ nào như cậu ấy hoạt động mà bị bắt. Ông ấy đều hết lòng nương nhẹ, che chở cho. Cậu yếu lắm, đi Sơn La và Côn Nôn về vẫn còn ốm phải không? Chặc! Nếu cậu cứ khăng khăng, rùng rình mãi thì khó lắm. Không khéo chết mất? Mà không chết ở đây sang đề lao hay già lắm thì phát vãng cũng chết thôi. Hừ!... ra tù vào tù lăn lộn tranh đấu như cậu thế cũng đủ rồi, cũng không phải thẹn nào với anh em đồng chí. Giờ có khai sơ như thế cũng chẳng có ai dám trách. Rồi có được tha về nhà thì để cho ông cụ bà cụ - À quên ông cụ bà cụ đã mất rồi nhỉ? Thì cho bà cô cậu ăn thừa tự ấy mà, bà ấy thuốc thang tẩm bổ cho. Chiến tranh cũng sắp hết rồi. Chính phủ bên Pháp lại thay. Các cậu lại tha hồ ra cung khai như hồi 36, 37.
Kìa! Hắn ngừng lại và cau mặt nhìn vào mặt Nam.
Nam chỉ nằm im và mắt nhìn của Nam càng long lanh mãi. Nam mới lắc đầu phều phào:
Cảm ơn anh. Chúng tôi có hoạt động gì đâu, có tờ di chúc ai đâu mà khai.
Hắn liền nghiêng nghiêng nhăn mặt:
Cái gì? Cái gì? Thế nào?
Nam nhắc lại câu vừa mới nói. Hắn lại cười ngay đoạn bảo người loong toong cầm cốc nước đến. Hắn suýt xoa:
Khổ thật, tớ bảo cậu chỉ khai lấy lệ hai thằng bô lão nào đấy để làm cho xong biên bản thôi mà. Nghe tớ đi đây uống nước đi đá tan hết rồi.
Hắn đặt cốc nước lạnh toát lên tận miệng Nam, Nam rợn cả người vì hơi đá sốc vào mũi với mùi chanh chua đến se cổ, trong khi môi Nam áp vào làn thủy tinh, vụt tươi và nở phồng lên không biết chừng nào. Nhưng Nam lắc đầu và nhìn lên hắn run run:
Thật tôi không biết khai cho ai. Anh tính bọn anh em cũ họ tưởng tôi còn có thể hoạt động thì tìm đến tôi. Vừa giao cho tôi ít tài liệu hỏi tôi còn biết gì, còn biết khai thế nào?
Này không biết… Này anh em cũ… Này hoạt động… Này đảng… này công khai.
Cái đế giày lại đấm huỳnh huỵch lên ngực, lên sườn, lên vai Nam. Nam rú lên. Cánh cửa ở gian bên đã mở, hầm hầm bước sang một tên Tây lai to lớn và hai tên Tây đen cũng vậm vạp không kém. Chúng hô:
Lại quay điện. Lại treo nó lên, ca-đui ca-đui.
Cái xác mềm rũ của Nam lại bị tung lên, vứt xuống lăn lóc. Rồi mồm đầy rẻ, Nam lại bị kéo đến hòm điện. Những tiếng kêu ằng ặc. Những tia lửa giật giật ở khắp thái dương. Lỗ mũi yết hầu, bàn chân và dái Nam. Sau cùng, một chiếc giày thừng dốc ngược Nam lên để bốn cái chày cao su thi nhau quật. Nam quay lơ như cái bao của các “bốc sơ”(9) tập.
Hãy thôi. Hãy thôi. Nghe xem nó nói cái gì kia:
Tên mật thám Tây bỗng xua tay ngăn và hổn hển bảo bọn chúng.
Nam, máu mồm, máu mũi chảy giòng giòng, hổn hển:
Tôi xưng, tôi xưng.
Tên mật thám đã đến cười xằng xặc:
Có thế chứ… Đéo mẹ mày!
Tên mật thám Tây lại thân cởi cho Nam và tên mật thám đỡ Nam ngồi xuống. Tên Tây lai nhớn nhác tìm cốc nước toan đưa cho Nam thì tên mật thám ta xua tay:
Chết! Chết. Hãy gượm. Nó uống nước đá ngay giờ thì đứt ruột mất, và hãy hỏi xem nó xưng gì đã.
Nam được chúng để cho ngồi thở giây lát rồi chúng mới giục:
Nào xưng, xưng mau đi, rồi nước đây tha hồ uống.
Nam từ từ hé mắt:
Vâng, rồi cho tôi uống cũng được và tôi xin khai.
Im lặng giây phút sau, Nam gạt vén lên những sợi tóc rũ xuống trán rồi mắt lấp lánh nhìn bốn tên nọ, mỉm cười thong thả từng nhời:
“Các anh! Những sự tra tấn tù đầy, bắn giết. Lẽ phải càng ngày càng dã man khốc liệt bao nhiêu thì càng vô hiệu bấy nhiêu thôi. Mà trong cuộc chiến đấu này, giữa các anh và chúng tôi… cũng là chúng tôi, cũng là cách mệnh cũng là cách mệnh (10)”
Hai bàn tay của Nam ghì trong giây xích giơ lên rung rung châm cho từng nhời với một nụ cười sáng rực trên gương mặt máu đầm đìa.
10. KIM HÀ (1912 – 2000 Hà Nội)
Tác giả tiểu thuyết Tiếng Còi Nhà Máy giải thưởng văn chương Tự Lực văn đoàn 1939 (Tân Việt 1941)... Viết về chiều sâu sinh hoạt của giai cấp công nhân lao động thành phố. Giá trị của Tiếng còi nhà máy không văn chương, nhưng nội dung phản ánh rất sống về đời anh em nhà máy.
11. ĐỖ TỐN (1923-1974)
Tác phẩm đã xuất bản Hoa Vông Vang (Đời Nay 1945). 
Truyện ngắn của ông viết theo thể diễn đạt hình tượng cuộc sống qua lối văn cảm giác. Tập truyện ngắn đầu tay đã là văn phẩm giá trị. Nhất Linh viết tựa, nhận định: “Đỗ Tốn đã làm tôi ngạc nhiên một cách vui sướng từ khi mới xem xong vài ba truyện trong cuốn “Hoa Vông Vang”. Người bạn trẻ của tôi đã có những nhận xét tinh vi về đời sống, về những hành động, tâm tình của người tôi”.
Một truyện ngắn hay nhất của ông là Hoa Vông Vang đem lại thích thú cho người đọc, đoạn kết phóng bút theo giác quan nhân vật làm giảm giá trị một phần, ở đoạn: nhân vật chính quen một thiếu nữ, mãi về sau này khi nàng đi lấy chồng rồi, chàng ta mới biết là nàng yêu mình và chàng cũng yêu nàng. Đỗ Tốn cho chàng trở lại tìm người yêu, theo giác quan rất chính đáng, nhưng theo nhân sinh phục vụ nghệ thuật, sống để tô đẹp cho đời đẹp hơn lên; thì truyện hay nhất bị khuất lấp một phần ý nghĩa cao thượng. Sau tiền chiến, ông viết rất ít; phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ( Nam Việt Nam).
KỲ THỨ IV.
Tiết 5
XUÂN DIỆU
(1917 – 1985)
Tên thật Ngô Xuân Diệu. Sinh ngày 2-2-1917 ở Hà Tĩnh (Trung Phần). Nhà thơ nổi tiếng trong giới thanh thiếu niên thiếu nữ tiền chiến và ban đầu được sự nâng đỡ của Nhất Linh, Thế Lữ, thơ đăng trên báo Phong Hóa, Ngày Nay. Tác giả tập Thơ Thơ, thơ xuôi Phấn Thông Vàng (Đời Nay 1939), Trường ca (Thời Đại 1944), Gửi hương cho gió, Thời đại 1944... Xuân Diệu tiền chiến đi sâu vào lãng mạn tâm lý, trong kháng chiến (1945) đi sâu lãng mạn cách mạng. Chịu ảnh hưởng Âu Phương rất nhiều, cũng như Khái Hưng, Nhất Linh chịu ảnh hưởng về văn. 
Hơi thơ Xuân Diệu phảng phất âm hưởng, lối diễn đạt như thơ Pháp: Verlaine, Rimbaud, Lamartine. Thế Lữ có giọng thơ thương tiếc, hoài cảm dân tộc (Nhớ Rừng) Lưu Trọng Lư có hơi thơ nội tâm buồn man mác, tả tình chìm vào dĩ vãng, những hình ảnh không thể nào tìm được ở hiện tại; thì Huy Cận khóc đời, đôi khi huyền bí. Còn Xuân Diệu khác hẳn, có những lời thơ thanh xuân rất đẹp; mổ xẻ tâm lý đối tượng chính là tình yêu lứa thanh xuân đô hội. Thời tiền chiến, thơ Xuân Diệu là người bạn thân, gần gũi của thanh niên nam nữ; thơ giải tỏa thay cho tình yêu bộc bạch. Cho nên họ rất quý mến ông. Giá trị thơ Xuân Diệu ở hai thời kỳ: thời kỳ trước 1945 thiên về tâm lý lãng mạn (Thơ Thơ, Gửi hương cho gió). Thời kỳ hai, thơ đi sâu vào lòng dân tộc đấu tranh, thanh niên chiến đấu cho tổ quốc, song hành với tình yêu cá nhân hòa đồng. Thơ trong giai đoạn kháng chiến luôn luôn mang hình ảnh, thái độ, yêu tuổi thanh xuân hòa đồng sự chiến đấu cho tổ quốc lâm nguy. Những bài thơ về sau Đồi hoa gạo, Trở về, chứng tỏ điều ấy. Đọc thơ Xuân Diệu, tâm hồn người đọc nhận một cảm giác lâng nhẹ, thơ rất truyền cảm, mặc dầu ít tác động suy tư. Kỹ thuật rất vững vàng; điêu luyện, chọn hình ảnh đẹp tương xứng với âm thanh ngôn ngữ. Chẳng hạn đây là hình ảnh tương tư trong bài Tương tư:
“...Anh một mình nghe tất cả buổi chiều
Vào chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh
Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình nhớ ảnh
Anh nhớ em nhớ lắm em ơi!
Anh nhớ em của ngày tháng xa xôi
Nhớ đôi môi đang cười ở cuối trời
Nhớ đôi mắt đương nhìn anh đăm đắm...”
hoặc:
“Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm”
Thật là tuyệt diệu! Nếu không có từ lạnh thì câu mặt trời đi ngủ sớm sẽ chẳng còn thơ nữa, và cũng đã có nhiều nhà phê bình đem câu thơ trên chê bai thơ Xuân Diệu tây quá! Tội nghiệp cho những người không biết tận hưởng cái đẹp vô vàn mới, mới quá khiến cho họ ngại ngần không dám nhận đó là hình ảnh tuyệt vời!
Phân tích nghệ thuật thơ Xuân Diệu, Trúc Thơ, người yêu thơ thi sĩ, viết một bài trên đặc san Tia Sáng (số 11, 31-7-54) rất ích lợi cho ai muốn khảo sát thơ Xuân Diệu. Trích đoạn để thêm tài liệu minh chứng cái hay cái đẹp của nhà thơ thanh xuân bước vào nền thi nghệ Việt Nam bằng những trang oanh liệt:
“...Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ
Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ
Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá
Hai người, nhưng chẳng hết bơ vơ!”
Thi sĩ Xuân Diệu có tâm hồn lãng mạn, sầu não, lẻ loi, khóc than cảnh trăng ngàn gió bụi, cả cuộc đời lưu lạc một số cô gái giang hồ. Ta hãy lắng nghe thi nhân tả sự cô đơn trong một đêm trăng lạnh:
“...Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ
Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ
Trăng sáng, trăng xa, trăng mộng quá
Hai người, nhưng chẳng hết bơ vơ!”
Dưới ngọn bút thi nhân tả tâm trạng bi quan của nàng kỹ nữ lúc sắp phải từ biệt khách làng chơi:
“...Xao xác tiếng gà, trăng ngà lạnh buốt
Mắt run mờ kỹ nữ thấy sông trôi
Du khách ơi – Du khách đã đi rồi...”
Mấy câu thơ đó khác gì tiếng nức nở tuyệt vọng cô gái giang hồ khi cảm thấy mình trơ trọi. Vào chiều tàn nắng, sương xuống mờ mờ, thường gợi cho thi sĩ nỗi buồn không đâu đem tới:
“...Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều
Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn...”
Thật vậy! đối với mọi người, thu là mùa thương tiếc nhớ nhung, đối với thiên nhiên thu, mùa dế kêu, lá rụng. Mùa thu là mùa buồn đẹp nhất bốn mùa. Đây cảnh thu đến với giác quan Xuân Diệu:
“...Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Cóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới– mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng...”
Mùa thu là mùa ly biệt:
“...Mây vẩn từng không chim bay đi
Khí trời u uất hận chia ly
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói.
Tựa cửa, nhìn xa nghĩ ngợi gì?...”
Chàng tuổi trẻ trong Chinh Phụ Ngâm, từ giã vợ lên đường vào mùa thu:
“...Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị ào ào gió thu...”
Ta có thể nói Xuân Diệu là thi sĩ tuổi trẻ. Thi nhân coi cuộc đời rất ngắn ngủi và lắm lúc có nhiều sự ao ước bồng bột, ngông cuồng. Rồi muốn ôm:
“...Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào người!...”
Trên, ta vừa xét sơ tâm lý Xuân Diệu qua thơ thi nhân. Bây giờ xét đến nghệ thuật của thi sĩ. Về nghệ thuật tả cảnh Xuân Diệu là lối tả thực. Ngũ quan nhận thấy thế nào thi sĩ diễn ra trong thơ như thế. Tuy nhiên lối tả thực của Xuân Diệu không những không khó khăn lại khiến ta ưa chuộng là khác! Tả cảnh hết sức tầm thường như cảnh trăng sáng, thế mà thi sĩ tô vẽ cảnh đó có vẻ mới lạ hẳn lên, nhờ ở tài dùng mỹ ngữ táo bạo:
“...Mây trắng, trời trong, đêm thủy tinh
Lung linh bóng sáng bóng rung mình...”
hoặc:
“...Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời
Đầu ghê như nước lạnh, trời ơi
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm dương, nhạc nhớ người...”
Ngoài lối tả thực ra, Xuân Diệu còn có lối tả cảnh nữa, như lời các cụ ngày xưa: tả cảnh ngụ tình:
“...Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi...”
Ta nhận thấy hai câu thơ trên bao hàm ý tưởng buồn man mác của thi nhân với cảnh vật. Lại không ngụ tình trong cảnh, mà cảnh vẫn thanh thoát qua lối thơ bóng bẩy, êm đềm:
“...Con dường nhớ nhớ gió xiêu xiêu
Là là cành hoang nắng trở chiều...”
Lúc ngắm cảnh thi nhân nao nức hồi tưởng lại huy hoàng lộng lẫy thời dĩ vãng:
“...Gió thu hoa cúc vàng lưng dậu
Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên...”
Đến nghệ thuật tả người Xuân Diệu cũng tinh vi lắm. Chỉ vài ba nét đơn sơ, thi nhân gợi cho ta hình ảnh dịu dàng đầy thơ mộng:
“...Hây hây thục nữ mắt như thuyền...”
Thật là khó thay được một chữ nào trong câu thơ trên. Chịu nhiều ảnh hưởng thơ Pháp quelques morceaux, có ý nghĩ vài ba chòm sao mờ tỏ, lấp lánh trên bầu trời đêm. Tuy mang nặng hình ảnh lãng mạn và chịu ảnh hưởng sâu xa văn hóa Tây Phương, nhưng Xuân Diệu vẫn không quên cội rễ. Xem thơ của thi nhân, đôi ba chỗ chúng ta vẫn còn chung sự cuồng điên yêu mà thời xưa thường hay dùng:
“...Tôi yêu Bao Tự mắt sầu bi
Tôi mê Ly Cơ hình nhịp nhàng
Tôi tưởng tôi là Đường Minh Hoàng
Trong cung nhớ nàng Dương Quý Phi...”
Vũ Ngọc Phan phê bình Xuân Diệu, ông viết trong Nhà văn hiện đại:
“...Xuân Diệu thật là một người có tâm hồn thi sĩ. Ông làm thơ với sự nồng nàn, nên ông không phải là một tay thợ thơ, một tay có tài gọt rũa từng chữ từng câu. Cũng vì thế mà trong tập "Thơ Thơ" của ông đã có những đoạn thật du dương...”
Xuân Diệu thời kháng chiến như vừa bàn ở trên; ông đi vào đường lãng mạn cách mạng. Những bài thơ như Đồi hoa gạo, tác giả say sưa với cách mệnh, với tất cả mọi người nao nức tranh đấu độc lập. Nên có nhiều câu thơ rướn đầy sức sống vô biên. Còn Trở về, một bài thơ đẹp toàn diện, âm thanh một buổi sáng trên đường vang tiếng guốc đi lên, một xã hội rộn ràng, bao nhiêu hình ảnh đầy nhân tính, bà mẹ giơ bầu cho con bú sữa… Một xã hội của giờ cách mệnh khởi điểm.
Xuân Diệu là nhà thơ tả nhiều hình ảnh đẹp, nhà thơ xuân đô hội. Ông là thi sĩ nổi tiếng giai đoạn tiền chiến và cả trong giai đoạn kháng chiến.
Nếu còn đôi lứa thanh niên nam nữ, còn tình yêu, hẳn thơ Xuân Diệu còn được nhắc nhở.
Trích thơ:
1. TÌNH THỨ NHẤT
Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất
Anh cho em kèm với một lá thư
Em không lấy và tình anh đã mất
Tình đã cho không lấy lại bao giờ
Thư thì mỏng như suốt đời mộng ảo
Tình thì buồn như tất cả chia ly
Giấy phong kỹ mang thầm trong túi áo
Mãi trăm lần viết lại mới đưa đi
Lòng e thẹn cũng theo tờ vụng dại
Tới bên em chờ đợi mãi không về
Em cũng xé lòng non cùng giấy mới
Mây đầy trời hôm ấy phủ sơn khê
Cũng may mắn lòng anh còn trẻ quá
Máu mùa xuân chưa nở hết bông hoa
Vườn mưa gió còn nghe chim rộn rã
Anh lại còn yêu, bóng lựu, bông trà
Nhưng giây phút dầu say hoa bướm thắm
Đã nghìn lần anh bắt được anh mơ
Đôi mắt sợ chẳng bao giờ dám ngắm
Đôi tay yêu không được nắm bao giờ
Anh vẫn tưởng chuyện đùa khi tuổi nhỏ
Ai có ngờ lòng vỡ đã từ bao
Mắt không ướt nhưng bao hàng lệ nhỏ
Len tỉ tê thầm trộm chảy quay vào
Hoa thứ nhất có một mùi trinh bạch
Xuân đầu mùa trong sạch vẻ ban sơ
Hương mới thắm bền ghi như thiết thạch
Sương nguyên tiêu, trời đất cũng chung mờ
Tờ lá thắm đã lạc giòng u uất
Ánh mai soi cũng phai nhạt màu ôi!
Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất
Anh cho em, nên anh đã mất rồi!
(Trích Gửi Hương Cho Gió)
2. LỜI KỸ NỮ
Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa
Vội vàng chi trăng sáng lắm khách ơi
Đêm nay rằm: yến tiệc sáng bên trời
Khách trông ở lòng em cô độc quá!
Khách ngồi lại cùng em đây gối lả
Tay em đây, mời khách ngả đầu say
Đây rượu nồng. Và hồn của em đây
Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử
Chớ đạp hồn em! Trăng từ viễn xứ
Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn
Gió theo trăng từ biển thổi qua non
Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn
Lòng kỹ nữ cũng sầu theo biển lớn
Chớ để riêng em phải gặp lòng em
Tay ái ân du khách hãy làm rèm
Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng
Đẩy hộ hồn em triền miên trên sóng
Trôi phiêu lưu không vọng bến hay ghềnh
Vì mình em không quấn được chân anh
Tóc không phải những giây tình vướng víu
Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo
Trời đầy trăng lạnh lẽo sướt xương da
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già
Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt
Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt
Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi
Gỡ tay vướng để theo lời gió nước
Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt
Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi
Du khách ơi! – Du khách đã đi rồi!
(Trích Gửi Hương Cho Gió)
3. ĐỒI HOA GẠO
Tháng hai, hoa đất nước
Mở cánh ngập đồi xa
Máu đào tung tóe vỡ
Chân mây thở sáng lòa
Mắt tôi thành biển đỏ
Chân đến, lòng ngân nga
Cây mạnh đứng giang tay
Hát dạt dào sức đất
Máu sông núi lên hoa
Rượu mặt trời mới cất
Giữa đời xuân mới tới
Hội đỏ cũng vừa lên
Đỏ như môi như má
Đỏ như suối như men
Một khoảng thắm đưa tin
Hằng hà sa số đỏ
Khắp cả một đồng bằng
Soi sáng bằng hoa tỏ
Tôi say hay hoa say
Nắm tay cùng nắm tay
Rủ hết loài người nhảy
Dưới triều hoa gạo đầy
Vô vàn lòng trái lựu
Tuôn ra một thác ngày
Vui vui những cành tơ
Để búp hồng mơ mở
Gió chim ngoài chân trời
Cũng về chen hội đỏ
1945.
4. TRỞ VỀ
Cũng bởi vì tôi nhớ tôi mong
Một sớm mai hồng, tôi sẽ lên đường trở lại
Giữa vũ trụ nhân gian, trong gia đình xã hội
Giữa quốc gia nhân loại, trong thế giới gia đình
Một sớm mai hồng, dâng một bình minh
Xanh mắt trẻ con
Hồng môi thiếu nữ
Tôi sẽ trở về chân vui rón rén
Như hương đi những đêm xuân hò hẹn
Như mắt yêu len lén
Như tay vuốt quen quen
Như đứa trẻ con nhay vú mẹ hiền
Trong lòng đời, tôi lại về náo động
Bà mẹ đời du dương tay mở rộng
Tôi nằm tròn làm một giấc sương hoa
Hỏi cỏ cây, mình có nhớ thương ta
Ta rất nhớ thương mình nên trở lại
– Vì đang sống tôi vẫn còn sống mãi
Vì còn yêu, tôi lại lại muốn yêu thêm
Vì mắt tôi no đủ bóng ngày đêm
Tai đầy tiếng hay môi mềm cảm giác
Hôm nay vẫn nghĩ đến đời bữa khác
Như đứa con vừa bú mẹ một bên
Một bên kia vẫn mơn vú mẹ hiền
Tôi phải về vì quá đỗi yêu thương
Những con người làm bằng máu và xương
Vì thắc mắc sau khi mình đã chết
Hội vui quá thế mà mình không biết
Tôi lại về vì khúc nhạc sau đây
Đập vang trời, mời cả nước cùng mây
Ai muốn ngủ cũng thế nào ngủ được!
Như một sớm trên đường vang tiếng guốc
Như một trưa chim tróc réo mùa hè
Tiếng dũa rèn đập nắng nhẩy vàng hoe
Tiếng tia sáng múa vờn quan chiếc búa
Những bánh xe quay, những guồng máy lụa
Những bàn chân dậm, những cánh tay nhanh
Tiếng cất nhà! Trời đất gõ lanh canh
Kêu thánh thót trong khi thành cửa sổ
Những tia máy phì phì đang tập thở
Những con tàu đẩy sức rúc huyên thuyên
Tôi phải về nghe dự nhạc đoàn viên
Nhân loại mới nói cười như trẻ nhỏ
Việt Nam sau một thời gian khổ
Bây giờ cười như hoa nở
Cô gái Việt gánh gồng xinh xinh
Đâu cũng là những cô gái Bắc Ninh
Hội loài người đồng vui luyến ái
Cô hạnh phúc đợi chờ cô mãi
Gầy dựng cô sứt mẻ những bàn tay
Trật bả vai rỏ máu những lông mày
Nhưng cô đến cả huy hoàng trên trán
Dẫu đã muộn rồi hãy còn sớm chán
Hội loài người vui vẻ lắm ngày mai
Tôi sẽ xin đời về một sớm mai!
Tháng 8, 1945.
(Trích Tập văn Cách Mạng và Kháng Chiến)
XUÂN DIỆU
KỲ THỨ V.
TIẾT 6
THẾ LỮ
(1907 – 1989)
Tên thật Nguyễn Đình Lễ. Trong Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan ghi Nguyễn Thứ Lễ. Theo tài liệu bà Nguyễn thị Khương, (vợ)- tên ông Nguyễn Đình Lễ. Bà cải chính nơi ông sinh trưởng ở Hà Nội, chứ không Lạng Sơn như trước đây lầm tưởng(11). Thế Lữ sinh năm 1907, ông là nhà thơ khởi xướng thơ mới. Thơ ông rất điêu luyện, chau chuốt; nhưng không phải loại thơ thanh xuân đô hội Xuân Diệu. Nhớ tiếc, u hoài, giọng thơ hoài cảm quá trình dân tộc hùng mạnh, nay đau xót sa trong nô lệ. Thơ ông nói lên hình tượng ấy. Đôi khi rất thống thiết như trong Nhớ Rừng. 
Tác phẩm đã xuất bản Mấy Vần Thơ (Đời Nay 1935), truyện như Vàng và Máu, Bên đường Thiên lôi, Trại Bồ Tùng Linh, Mai Hương và Lê Phong, Gói Thuốc Lá… Ông viết tiểu thuyết rất hay như trong Vàng và Máu. Nhận định về giá trị thơ, Hoài Thanh viết trong Thi Nhân Việt Nam:
“...Nhưng hình như có hồi Thế Lữ đã đi lầm đường. Bởi người ta nói quá nhiều nên thi nhân tưởng quê hương mình là ở trên trời và quên rằng đặc sắc của người chính là ở chỗ tả vẻ đẹp thực của trần gian...”
(Thi nhân Việt Nam)
Vũ Ngọc Phan không đồng ý kiến trên, cả quyết cho chủ ý viễn kiến nhà thơ đi trước thời đại và chính vẻ đẹp tưởng tượng đó bây giờ chưa có; nhưng sau này là vẻ đẹp trần gian vĩnh cửu.
Thành thật nhận rằng, Thế Lữ là nhà thơ mở đầu thơ mới thành công ở nước ta; vì chính ông mới là người gây được một phong trào thơ mới. Truyện dịch Liêu trai của Tản Đà mới đúng nghĩa dịch; còn Bồ Tùng Linh Thế Lữ là phóng tác. Giữa thơ và văn của ông, thì thơ Thế Lữ nổi đình đám hơn, nên người ta nhắc đến ông là nhắc đến thơ. Thế Lữ là nhà thơ chủ lực Tự Lực văn đoàn. Lập trường nhóm này có trong thơ ông không phải ít. Nhớ Rừng bộc lộ rõ rệt hướng thơ, toát ra tâm trạng đau đớn bằng lời nói con hùm bị gông cùm; lời than bằng thơ căm hờn có hàm ý cảnh tỉnh cơn u mê dân tộc hướng về cách mệnh. Thơ u hoài thời thế của ông thành công lớn lao.
Trích thơ:
NHỚ RỪNG
(Lời con hổ ở vườn Bách thú)
Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài trong ngày tháng dần qua,
Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ,
Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi,
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa,
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng buồn hét núi
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối mắt thần đã quắc,
Là khiến cho mọi vật đều êm hơi.
Ta biết ta chúa tể cả muôn loài
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Sau những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
– Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang tầm thường, giả dối;
Hoa chăm, có xén, lối phẳng cây trồng;
Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len những vách, những mô gò thấp kém
Dặm vùng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước cảnh hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả âm u
Hỡi oai linh cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,
Nơi ta không còn thấy được bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán.
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
– Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
(Trích Mấy Vần Thơ, tập mới)
THẾ LỮ
TIẾT 7
TÚ MỠ
(1900 -1976)
Tên thật Hồ Trọng Hiếu. Sinh ngày 14-3-1900 ở Hà Nội trong gia đình nghèo nàn. Sau làm công chức trong guồng máy thực dân Pháp thống trị đất nước. Ông là nhà thơ trào phúng, châm biếm có hạng. Giọng đùa cợt lả lơi, tinh ác, đôi khi đã có chút hơi nhỏ Tú Xương. Tác phẩm xuất bản: Giòng nước ngược (2 tập, Đời Nay 1941), Nụ cười kháng chiến 1952. Được giải thưởng thơ của Hội văn nghệ (VNDCCH) năm 1951. Nhóm Tự Lực văn đoàn có một Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam văn, lý luận Hoàng Đạo, thơ mớ Thế Lữ và Xuân Diệu, và Tú Mỡ trào phúng. Cũng như hai họa sĩ Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân trình bày, đến cả Nguyễn Cát Tường vẽ kiểu áo Lemur.
Vũ Ngọc Phan viết (12) về ông: “Thơ Tú Mỡ chính là những bài ca dao dài, có cú pháp rõ ràng, có những lớp tư tưởng rõ rệt, Tú Mỡ bao giờ dùng điển tích, hay nếu ông có dùng, cũng chỉ là những điển tích rất thường, rất dễ hiểu, phổ cập hết cả mọi người vô học đến người học thức, từ trẻ con đến ông già. Đọc thơ Tú Mỡ, mọi người đều lấy làm thú vị, tuy sức hiểu mỗi người có khác nhau. Thơ Tú Mỡ thật là thơ có tính cách Việt Nam đặc biệt...”
TIẾT 8
VŨ NGỌC PHAN
(1902 -1987)
Trước kia chúng tôi rất đỗi phân vân, khi phê bình Vũ Ngọc Phan, không biết nên ghép vào nhà văn biên khảo độc lập hay nhà văn cộng tác với Tự Lực văn đoàn. Nhưng sau, chúng tôi cho rằng Vũ Ngọc Phan; tuy không là nhà văn 
theo hẳn đường lối của Tự Lực văn đoàn, nhưng góp một phần lớn vào việc góp gió bốn phương cho tủ sách Gió Bốn Phương của nhà xuất bản Đời Nay và sự họp mặt với Tự Lực văn đoàn trong sinh hoạt văn nghệ, thì đương nhiên trở thành cộng sự viên nhóm ấy. Ông dịch tiểu thuyết vĩ đại của nhà văn cổ điển Nga, Léon Tolstoð qua cuốn Anna Karénine thì tất nhiên không còn lý do thắc mắc ông là nhà văn của Tự Lực văn đoàn nữa. Tác phẩm đã xuất bản: An-Na-Kha-Ninh Đời Nay xuất bản làm hai tập Tiễu Nhiên Mị Cơ. Năm 1942, ông viết bộ phê bình văn học Nhà Văn Hiện Đại gồm 4 tập, sau nhà Vĩnh Thịnh tái bản 5 tập, lần đầu Tân Dân ấn hành; Trên đường Nghệ thuật Nguyễn Du 1944), Ba Loại Văn Tân Dân 1944, Chuyện Hà Nội, bút ký…
Nói đến văn nghiệp Vũ Ngọc Phan, chỉ nên biết là nhà văn biên khảo, phê bình văn học giá trị. Còn sáng tác ít ai biết tới. Lối phê bình của ông chịu ảnh hưởng nhiều của Pháp, như André Maurois viết Études Littéraires. Phê bình văn học chia ra làm nhiều khuynh hướng, phương pháp phân tích dẫn giải đã khoa học; nhưng cũng tùy hứng. So với các nhà phê bình văn học cùng thời như Thiếu Sơn, Trương Chính, Lan Khai, Trương Tửu, Hoài Thanh, thì Vũ Ngọc Phan viết có hệ thống hơn cả. Phải nhận rằng ngành phê bình thời trước ở trong tình trạng sơ đẳng, làm sao có thể so sánh với ngoại quốc, chẳng hạn lối phê bình các nhà văn Âu Châu: Benjamin Goriély viết Sciences des lettres soviétiques (tạm dịch: Thành tựu Văn chương Xô Viết), André Gide và Stéphan Zweig viết về Dostoievski, Biélinsky viết Rêverie littéraire (tạm dịch: Giấc mơ Văn chương), R.M. Albérès viết La révolte des écrivains d’aujourd’hui (tạm dịch: Cuộc cách mạng của Nhà văn Hôm nay), giải thưởng Saint Beuve. Trong lịch sử văn chương của ta tiền bán thế kỷ hai mươi, chưa ai có công hơn Vũ Ngọc Phan. Năng khiếu nhận định văn học phê phán, tỷ mỷ có khoa học, không thiên vị là bao! Phê bình Nhà văn hiện đại, tập I, ông L.H.V(13) trên tuần báo Thanh Nghị (số 24, ngày 1-11-1942) rất xác đáng và thiết tưởng rằng đó là nhận xét tinh vi, khi nói đến Vũ Ngọc Phan: không khám phá được thiên tài mới lạ, mà chỉ phê bình nhà văn quen biết thôi. Phê bình tập đầu Nhà Văn hiện đại là phê bình chung trọn bộ:
“...Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan là một cuốn sách phê bình sẽ được mọi người chú ý, vì một lẽ giản dị là các nhà văn có tên trong sách, chúng ta vẫn còn quen biết ít nhiều. Nếu các ngài muốn tìm được một thiên tài mới lạ bị người đời không biết đến, thì các ngài sẽ thất vọng. Ông Vũ Ngọc Phan sẽ không phát minh, ông chỉ nói đến những văn phẩm đã được người đồng thời chú ý…
Ông bỏ lối phê bình đại cương, mà dùng phân tích tỷ mỷ. Lối phê bình đó, vốn để dạy học thì rất tốt. Có một thú riêng, nhưng lại có hại là tác giả phải nhắc đi nhắc lại một ý kiến và để cho độc giả có cảm giác rằng ở ông Phan không bao quát được hết văn nghiệp của người ông định nói. Nhưng dù thế nào, cuốn sách của ông Vũ Ngọc Phan tất cũng để lại trong lòng độc giả vô cùng hứng thú...”
Ý kiến trên đây thì chúng tôi rất đồng ý, một phân tích tỷ mỷ hầu hết về các nhà văn rất có lợi cho ai muốn dễ dàng tìm hiểu về một tác giả. Lẽ thứ, hai là không tìm được nhà văn có tài bị quên lãng; một khi không được nhà phê bình đồng thời nhận biết đến; có thể thiên tài bị mai một, mất phấn khởi, bỏ dở nghiệp, hoặc người phê bình lớp sau sẽ không bao giờ còn cơ hội tìm thấy. Một Dostoevskð nổi tiếng nhờ được nhà phê bình đại tài Biélinsky khám phá. Cũng như một Maðakovski trong nhóm Tương Lai gồm Essénine, Boris Pasternak, do Maxime Gorki khám phá, khích lệ, vun xới. Chúng tôi không tin rằng thời tiền chiến không bị bỏ sót thiên tài. Tuy nhiên, người ta không thể đòi hỏi nhiệm vụ ở ông Phan quá nhiều, và lấy cớ tại sao ông không tìm được thiên tài; như thế tự đặt cho ông một cương vị quá lớn, một trách nhiệm quá nặng nề. Tình trạng đáng trách là tình trạng chung cho một thế hệ nhà văn đàn anh lớp trước có quá ít, nhà phê bình văn học đầy tâm huyết với nền văn chương Việt Nam.
TIẾT 9
KẾT LUẬN VỀ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
Phê bình đường lối chủ trương Tự Lực văn đoàn, nhà phê bình có học tiền chiến như Dương Quảng Hàm (giáo khoa) Vũ Ngọc Phan; chúng tôi bắt đầu trích đoạn của ông Phan nhận định khi viết về Khái Hưng. Ông Phan cho biết: “...Cùng loại tiểu thuyết phong tục với Khái Hưng, là Trần Tiêu và Bùi Hiển…” Khái Hưng đang sung sức sáng tác, nên ông Phan viết tiếp:
“...Về văn trước kia, người ta thấy ông viết giọng bay bướm, thường hay nhiều lời bây giờ ông viết một lối thật bình dị, thật sáng suốt, thích hợp với những ý tưởng chín chắn của một tiểu thuyết gia có nhiều lịch duyệt. Bây giờ người ta chưa thể đoán được bước đường tiến hóa của tiểu thuyết Khái Hưng, nhưng đến nay người ta thấy loại trội nhất của ông là loại tiểu thuyết phong tục. Như vậy đặt ông vào loại hay nhất của ông cũng không có gì quá đáng...”.
Ý kiến của ông Phan là như thế, còn chúng tôi ra sao, đã phân tích ở tiểu mục nói về Khái Hưng. Đến Nhất Linh, linh hồn của nhóm, Vũ Ngọc Phan viết: “...Nhất Linh cũng có tài viết chuyện ngắn, nhưng so với chuyện dài của ông, chuyện ngắn của ông không bằng. Ông vốn có tư tưởng dồi dào, lối văn ông lại vừa giản dị, vừa đài điếm nên chỉ có truyện dài ông mới bày tỏ hết tài nghệ của ông. Đọc Nhất Linh trước đến nay, người ta thấy tiểu thuyết của ông biến hóa rất mau. Từ cái tôi còn cổ lỗ như “Nho Phong”, tiểu thuyết của ông đã đi vào loại tình cảm, rồi đi thẳng vào lối tiểu thuyết luận đề là một lối rất mới ở nước ta. Đến nay, trong loại tiểu thuyết của Nhất Linh vẫn là những tiểu thuyết chiếm địa vị cao hơn cả. Những tiểu thuyết của ông đã không chịu ở yên cái địa vị ấy, rồi không biết tiểu thuyết của Nhất Linh sẽ còn đi đến những loại gì nữa, vì xem ra loại nào tác giả cũng muốn sở trường..."
Đó là nhà văn nòng cốt Tự Lực văn đoàn. Đến Hoàng Đạo, nhà văn lý luận của nhóm, Vũ Ngọc Phan viết: “Hoàng Đạo là một nhà văn sở trường về nghi luận”. Đến Trần Tiêu: “Trong tiểu thuyết của Trần Tiêu bao giờ cũng là người dân quê nghèo khổ mà mê tín. Người dân quê của ông là những người bị xiềng xích trong hủ tục nghèo… là nhà văn cho chúng ta thấy cái mặt kém cỏi người dân quên Việt Nam…”
Vừa nhận định lời phê phán Vũ Ngọc Phan về Tự Lực văn đoàn, đây là ý kiến của nhà học giả giáo khoa, ông Dương Quảng Hàm viết về Tự Lực văn đoàn trong cuốn Việt Nam Văn Học Sử Yếu. Trích đoạn khách quan lại trình bày có ý kiến riêng:
“...Đối với phong tục cũ của ta, phái ấy (Tự Lực văn đoàn) đều nhất thiết cho hủ là đáng bỏ, thành ra có tục không đáng công kích mà cũng công kích. Vả chăng, có nhiều tập tục tuy xét về phương diện này thì có hại, nhưng về phương diện khác không phải là không hay: phái ấy có thành kiến sẵn nên chỉ trông thấy chỗ dở mà không nhận thấy điều hay, thành ra trong sự mô tả, phán đoán, có phần thiên lệch. Tỷ dụ tục đàn bà góa chồng ở vậy thờ chồng nuôi con. Đành rằng tục ấy làm cho một số người đàn bà trẻ tuổi mà muốn tái giá vì cũng có người thực bụng không muốn tái giá, nhưng sợ dư luận hoặc muốn giữ gia phong mà chịu cảnh lẻ loi, lạnh lùng, tức là phải hy sinh hạnh phúc cá nhân, song cũng nhờ tục lụy ấy mà biết bao nhiêu gia đình đáng lẽ sau khi gia trưởng chết, rồi phải lâm cảnh "vỡ đàn tan nghé" biết bao nhiêu đứa con mồ hôi cha đáng lẽ chịu số phận hẩm hiu vẫn được đoàn viên vui vẻ. Thật là cái tục ấy đã gây nên bao điều xả thân, biết bao nhiêu người mẹ cảm phục. Xem thế thì biết trong sự phán đoán các tập tục xưa ta cần phải đắn đo, cẩn thận và xét cả mọi phương diện khỏi sai lầm...”
Trương Tửu lên án Tự Lực văn đoàn gay gắt, Trương Chính khen Tự Lực văn đoàn hết nhẽ, Đào Duy Anh cũng có nhận định về văn chương Tự Lực văn đoàn (riêng ông này chưa đọc kỹ cho nên trong Việt Nam văn hóa sử cương, ông nhầm lẫn tác phẩm của người này với người kia). Giá trị của Tự Lực văn đoàn dầu sao, vẫn công nhiên phải nhận. Hai lẽ: thứ nhất, dù hành động chính trị thống trị tạo nên chăng nữa; vì Trương Tửu cho linh mục Cras (Đỗ Minh Vọng) đỡ đầu Tự Lực văn đoàn (cả tinh thần và hiện kim) thì vẫn có công trong việc tu bổ văn chương chúng ta một lối tiểu thuyết mới mẻ, thơ mới giá trị, nổi bật vào thời ấy. Thứ hai với Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ Xuân Diệu, đều là những người có công lớn với lịch sử văn nghệ tiền chiến.
KỲ THỨ VI.
NHÓM HÀN THUYÊN
TIẾT 1
CÁC NHÀ VĂN TRONG NHÓM HÀN THUYÊN
Giữa ngày Nhật đặt chân lên mảnh đất Đông Dương, Nhật chia quyền lợi với Pháp. Một số trí thức đệ tứ đứng ra thành lập Hàn Thuyên, với tạp chí Văn Mới cơ quan diễn đạt tư tưởng và nhà Hàn Thuyên in những tác phẩm của anh em trong nhóm. Chủ biên là Nguyễn Đức Quỳnh, một giáo sư nặng phần lý luận, sau ông có cho xuất bản mấy cuốn tiểu thuyết chính trị. Ông điều khiển tâm nhà xuất bản Hàn Thuyên cùng với nhà văn Trương-Tửu. Những nhà văn cộng tác với Hàn Thuyên đều là người cùng chí hướng như Lê Văn Siêu, Chu Thiên, Phạm Ngọc Khuê, Đặng Thái Mai, Nghiêm Tử, Nguyễn Hải Âu, Lương Đức Thiệp, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Tuân, Vi Huyền Đắc, Đồ Phồn, Nguyễn Đổng Chi, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Trần Huân… Khác hẳn với Tự Lực văn đoàn, nhóm này mở đầu bằng một loạt biên khảo chính trị; như Nguyễn Đức Quỳnh với Lịch sử Thế giới, Gốc tích loài người, hoặc Nguyễn Bách Khoa với Nhân loại tiến hóa sử; phê bình Văn chương Truyện Kiều; loại kinh tế học như Nguyễn Hải Âu Kinh tế học nhập môn; loại cải tiến xã hội như Lương Đức Thiệp với Xã hội Việt Nam. Nguyễn Tế Mỹ đặt vấn đề nhận thức mới về sự kiện lịch sử Hai Bà Trưng, Phạm Ngọc Khuê tổ chức con người mới Óc Khoa học, dịch thuật và biên khảo như Đặng Thái Mai(14) Ả Q; phương pháp cải tạo thanh niên với lề lối làm việc như Lê Văn Siêu và Thanh niên và Thực nghiệp; Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Tuân, Trương Tửu viết tiểu thuyết theo quan niệm văn nghệ mới: tân nhân bản. Đồ Phồn làm thơ châm biếm, Vi Huyền Đắc viết kịch và họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung trình bày bìa. Một số nhà văn nhóm này muốn giáo dục tư tưởng giai cấp trí thức tiểu tư sản, đối tượng nhằm vào tác phẩm biên khảo nặng tri thức. Nhóm ấy đi sâu vào mọi mặt, lịch sử chính trị, học thuyết kinh tế, phương pháp thực tập con người thời đại mới, giải thích lịch sử theo quan niệm Mác xít. Độc giả nhóm này có trình độ tri thức, không phải độc giả ham mê truyện Tự Lực văn đoàn. Không những độc giả chọn lọc trên phương diện tác phẩm biên khảo; mà đến cả tiểu thuyết của nhóm cũng cần là độc giả chọn lọc. Nguyễn Tuân với loại tâm bút, phải là thế hệ người trải đời, hiểu mình, chán chường nhân tình thế thái, thích ngắm trăng ngắm mây, uống trà tàu, ngâm thơ thời thế; hoặc độc giả có trí óc nhìn xa trông rộng, thì loại truyện này mới hợp với họ. Ngay đến Chu Thiên với phóng sự tiểu thuyết Bút nghiên, tả thời dĩ vãng trường ốc cũ, ông Cử, ông Bảng; thì đâu có phải dành cho thanh niên thiếu nữ mới lớn lên thời bấy giờ. Nguyễn Đức Quỳnh với Thằng Cu So, Thằng Phương, Thằng Kình, tiểu thuyết giáo dục hướng thượng, tuy khô khan: phân tích đời một bé nhà quê lọt lòng cho đến khi học đến lớp nhì A, cần phải tranh đấu với bản thân mình và trường đời ra sao? Thật nhiều tác động chính trị. Thì đó không phải là độc giả của Nửa Chừng Xuân, Hồn Bướm Mơ Tiên. Không có ý so sánh giá trị đối nghịch hai nhóm, mà chỉ so sánh hai loại độc giả hai nhóm khác nhau ra sao? Truyện Chiếc lư đồng mắt cua của Nguyễn Tuân, tác giả chép lại thiên ký sự chặng đời sống phóng túng (libertinage) cũng như Vang bóng một thời… Đến Ngoại Ô, Ngõ hẻm, của Nguyễn Đình Lạp, truyện những người lao động ngoại thành với cuộc thống trị của Pháp ảnh hưởng đến thân phận sống của họ. Tóm lại độc giả của Hàn Thuyên, đối tượng là trí thức hay có tri thức sơ đẳng, mà nhóm này quan niệm có tri thức mới là nòng cốt chủ nghĩa chính trị Hàn Thuyên tung ra sau làm việc nước. Trước khi lướt qua phần sơ lược các tác giả Hàn Thuyên; tất nhiên không thể phê bình một lần cặn kẽ được, nên một số chỉ nói sơ lược.
1. PHẠM NGỌC KHUÊ (19?? – 19??)
Tác giả Một sức khỏe mới, Nghị lực, Óc Khoa học, Cải tạo Sinh lực (Hàn Thuyên xuất bản từ 1941 đến 1944). Ông có phận sự đả phá lề lối giữ sức khỏe cổ hủ của thế hệ dĩ vãng và đưa độc giả theo phương pháp khoa học mới, tạo cho người khỏe về thể xác lẫn tinh thần mới, có như thế mới đủ năng lực phục vụ cho bản thân và tổ quốc. Chúng ta thừa hiểu rằng mỗi nhà văn trong nhóm Hàn Thuyên đều thảo luận về lập trường khi hành động, dầu viết về một cuốn sách với đề tài áp đặt. Vì họ là người viết theo cương lĩnh chung.
2. NGUYỄN TẾ MỸ (19?? – 19??)
Tác giả Hai Bà Trưng (Hàn Thuyên 1944). Giải thích sự kiện lịch sử theo quan niệm mác xít, tất cả sự kiện quá vãng đều được nhào nặn máy móc theo cách nhìn mới. Trong cuốn ấy, ông giới thiệu cuốn ra sau là Lý Thường Kiệt, không biết tác phẩm ấy có xuất bản không? Chúng tôi không được đọc; nhưng lập luận viết hẳn không khác nhỡn quan nhận định về sự kiện lịch sử như cuốn Hai Bà Trưng.
3. NGUYỄN HẢI ÂU (19?? – 19??)
Tên thật là Trần Đình Minh, gốc Nam Bộ. Tác giả Kinh Tế học phổ thông, Học Thuyết Kinh tế tiểu dẫn (Hàn Thuyên)... Cũng như các đồng đội nói ở trên, Nguyễn Hải Âu viết về kinh tế theo con mắt đệ tứ. Viết những tác phẩm này, ông còn là một thanh niên hai mươi. Sau bị Pháp bắn chết ở SàiGòn khoảng sau 1945.
4. LƯƠNG ĐỨC THIỆP (19?? – 19??)
Tác giả những cuốn sách giá trị và công phu khảo cứu, như Xã hội Việt Nam (Hàn Thuyên), Văn Chương và Xã hội (Nhà xuất bản Đại Học)… Những tác phẩm này phân tích về cuộc sống dân Việt Nam ảnh hưởng đến xã hội ra sao, và muốn lập một xã hội mới phải căn cứ trên sự kiện nào. Là sách khảo cứu công phu, khoa học, hệ thống, dẫn giải rành mạch, viết với tinh thần hiểu biết am tường. Nhất là cuốn Việt Nam tiến hóa sử viết theo lập luận xã hội; nhưng là cuốn sách giúp ích cho ai muốn thấu triệt quán xuyến vấn đề mới của xã hội Việt Nam.
5. ĐẶNG THAI MAI (1902 – 1984)
Như một cây viết triết nổi tiếng còn chuyên dịch sách Tàu và viết khảo luận văn học Chinh Phụ Ngâm. 
Tác phẩm xuất bản Văn Học và Khái luận (Hàn Thuyên). Ả. Q Chính Truyện dịch của Lỗ Tấn đăng trên báo Thanh Nghị; sau Thời Đại in thành sách. Ông còn dịch các vở kịch Lôi Vũ của Tào Ngu (báo Thanh Nghị 1944). Những tác phẩm của Đặng Thái Mai dịch hay như Ả Q Chính Truyện; nhờ đó chúng ta hiểu được sinh hoạt cách mạng dưới ngòi bút một văn hào Trung Quốc vào năm 1911. Tác phẩm khảo luận văn học Văn học Khái luận chứng tỏ người viết am tường vấn đề hiểu biết, thâu thái ý kiến xác đáng bàn về văn học, phương pháp viết khoa học. Văn dẫn giải hơi tối nghĩa, trình bày theo tinh thần bác học, người đọc mất nhiều thời gian suy ngẫm. Và phải có một trình độ học thức căn bản mới thâu thập được vấn đề văn hóa của ông đưa ra.
6. NGUYỄN ĐỔNG CHI (1913 – 19??)
Là một chuyên viên khảo về dân gian, nên tác phẩm biên khảo chịu ảnh hưởng từ nghề nghiệp. Tác phẩm đã xuất bản Việt Nam văn học cổ sử (Hàn Thuyên), Hát Dậm Nghệ Tĩnh (Tân Việt 1944). Tác phẩm này cho chúng ta hiểu về vốn cũ hát dậm tiền nhân dành lại, như Ngô Tất Tố viết Văn học Việt Nam, qua các thời Trần Lý. Ông là nhà biên khảo có công, uyên thâm Hán học, Tây học, một cộng tác viên có chỗ đứng giá trị riêng biệt trong nhóm Hàn Thuyên.
7. LÊ VĂN SIÊU (1914 – 1995)
Sinh năm 1914 ở Hà Nội. Tác phẩm đã xuất bản: Thanh Niên và Thực Nghiệp (Hàn Thuyên), Hợp Lý Hóa Taylor… Sau tiền chiến viết về văn học và văn minh Việt Nam. Tác phẩm xuất bản ở hậu chiến cứu vãn Lê Văn Siêu phần nào có chỗ đứng trong địa hạt văn học: Văn minh Việt Nam (NXB Phạm Văn Tươi, 1955), Nguồn sống Văn học Việt Nam (NXB Thế Giới, 1956), Văn học thời Bắc Thuộc (NXB Thế Giới), Nếp sống tình cảm của con người Việt Nam ( Hướng Dương, 1956), Văn học Thời Lý (Hướng Dương 1957). Văn Minh Việt Nam là cuốn sách giá trị, tuy nhiên vẫn chưa thoát được duy tâm ảo tưởng khi viết. Mặc dầu ông đã phơi bày lý lẽ, có hình tượng văn minh không thể diễn đạt được vì thuộc loại trừu tượng. Nếp sống tình cảm của người Việt Nam, vì quá đi tìm những cái còn lại về nếp sống cũ người Việt Nam, nên nhiều đoạn viết về phong tục hôn nhân, tang chế, có phần nô lệ Tàu. So sánh quyển này với Văn hóa sử cương của Đào Duy Anh, một học giả đi trước; thì ông chưa vượt được. Những sách viết về Văn học thời Lý chịu ảnh hưởng nhiều tài liệu khác nhau, chưa chế biến. Như mượn của Ngô Tất Tố, Việt Nam văn học, thời Trần và Lý I và II (Mai Lĩnh xuất bản 1943). Tài liệu gốc vẫn là của Thượng tọa Mật Thể. Tuy nhiên cuốn sách trên cũng hữu ích, trong khi chúng ta đang cần sử liệu để khảo về vốn văn cổ. Giá trị Lê Văn Siêu chưa thể là Michelet với Histoire de France; hoặc Buffon với Histoire naturelle, nhưng tạm là nhà văn học có giá trị tương đối, cố gắng học hỏi, sưu tầm, so trước tiến khá xa khi nhập Hàn Thuyên. Sách dịch thô thiển, cổ hủ như Thanh niên và Thực nghiệp hoặc Hợp lý hóa Taylor đến Văn minh Việt Nam, Văn học Thời Lý chứng tỏ sự cố gắng của ông.
8. VI HUYỀN ĐẮC (1899 – 1976)
Sinh năm 1899 ở Hải Ninh, Bắc Phần. Vào làng văn từ năm 1929. Ông còn một biệt hiệu nữa Giới Chi; nhưng ít ai biết đến. Một Vi Huyền Đắc, một Đoàn Phú Tứ là những kịch sĩ nổi tiếng. Tác phẩm đã xuất bản như Hoàng Mộng Điệp diễn ở Nhà Hát Lớn Hà Nội vào năm 1928, sau Thái Dương văn khố xuất bản. Hai tối tân hôn (Thái Dương văn khố Hải phòng xuất bản 1929), Cô đầu Yến (1930); Cô Đốc Minh (1931), Martine (dịch kịch Bernard), Kinh Kha đăng trên Phong Hóa (1935) và một vở kịch viết bằng tiếng Pháp Éternels regrets (1938), Kim Tiền (Ngày Nay) diễn ở Hải Phòng 19-02-1938, Ký Cóp diễn ở Hà Nội 15-10-1948… Sau tiền chiến, ông cho xuất bản vở kịch Thành Cát Tư Hãn (Người Việt Tự do 1956). So vở kịch tiền chiến cho đến nay, Thành Cát Tư Hãn có phần tiến bộ về kỹ thuật. So với sự nghiệp kịch của ông, Thành Cát Tư Hãn không vượt được tác phẩm trước và nếu so sánh chung với tình hình kịch. Kịch tác gia bị chìm trước vở kịch kháng chiến Tiếng Trống Hà Hồi Hoàng Như Mai.
9. ĐỒ PHỒN (1911 – 1990)
Tên thật Bùi Huy Phồn. Tác phẩm hoạt kê châm biếm Một chuỗi cười (Hàn Thuyên). Ông viết truyện trinh thám ký tắt là B.H.P, như Gan dạ đàn bà, Tờ di chúc, Mối thù truyền kiếp… Truyện trinh thám của ông không có gì đặc sắc so với Phạm Cao Củng hay Thế Lữ. Thơ trào phúng Đồ Phồn châm biếm sâu sắc, khí phách ngang tàng. Chúng tôi cho trích bài Giang Hồ Khái, làm bằng chứng về tài châm biếm của một Tú Mỡ Hàn Thuyên:
Trích thơ:
GIANG HỒ KHÁI
Sinh người hà tất lại sinh ông
Thầy chẳng nên thầy thợ cũng không
Hai bữa nếm toàn cơm nội trợ
Góc đời bàn mảnh chuyện Tây Đông
Theo voi đã chán nhai đầu mía
Há miệng dương nằm đợi gốc sung
Chợt vẳng xa nghe thằng bị gậy
Rủ đi ăn vạ với non sông
ĐỒ PHỒN
10. CHU THIÊN (1913 – 1992)
Tên thật Hoàng Minh Giám. Tác phẩm đã xuất bản Lê Thái Tổ, Bà Quận Mỹ (1942)... thuộc loại tiểu thuyết dã sử. 
Duy tập phóng sự thuyết về thi cử Bút nghiên giá trị hơn cả giữ lại cho ông chỗ đứng trong văn học (Hàn Thuyên xuất bản 1942). Ngô Tất Tố với giọng văn hoài cổ trong Lều chõng, Nguyễn Tuân với Vang bóng một thời đến Chu Thiên với Bút nghiên. Ở Bút nghiên, Chu Thiên không tả nhân vật tài năng như Lều chõng, song phác họa cho nhìn thấy cảnh đi thi mà trong Lều chõng không nói đến. Nhận định về truyện trên, Vũ Ngọc Phan viết: “...Chu Thiên chuyên về mặt khảo cứu nhiều quá, nên trong tập “Bút nghiên” truyện gần như là phụ, hình như tác giả chỉ cần đến việc chỉ cốt là diễn tả cho hết những gì học hỏi lối thi cử của ta thuở xưa cho có thứ, lớp, chứ không phải tác giả muốn dùng việc để viết thành nhưng đoạn có tình tiết, cơ mưu làm cho động tác luôn luôn thay đổi, gây được nhiều cảm hứng cho người đọc. “Bút Nghiên” là một tập tiểu thuyết phóng sự rất phẳng lặng, xét riêng về truyện thì gần như không có gì. Nó chỉ là một truyện có hậu. Một cậu học trò chăm học, thông minh nên đã lấy được vợ đẹp và đỗ sớm...” Ý kiến của Vũ Ngọc Phan đầy đủ giá trị để tóm lược về văn nghiệp Chu Thiên.
TIẾT 2
NGUYỄN ĐÌNH LẠP
(1913-1952)
Tiểu sử.
Nguyễn Đình Lạp quê quán Bạch Mai Hà Nội nhà văn nhóm Hàn Thuyên. Ông chuyên viết về cuộc sống người dân thấp cổ bé miệng, sống luẩn quất ngoại thành Hà Nội. Chịu ảnh hưởng của những đòn chính trị tai ác chà đạp nhân bản dân bị thống trị, nay được ông phơi bày có tình tiết, nghệ thuật diễn tả cao trong tác phẩm của ông.
Tác phẩm.
Tác giả hai cuốn tiểu thuyết Ngoại Ô (Hàn Thuyên 1941), Ngõ hẻm, (Hàn Thuyên 1942). Phần sau, chúng tôi phân tích tỉ mỉ Ngoại Ô, tác phẩm chính của Nguyễn Đình Lạp.
Phân tích tác phẩm chính.
Nguyễn Đình Lạp có khuynh hướng xã hội với con mắt nhìn xã hội chủ nghĩa. Trong khi các nhà văn đồng thời dùng bối cảnh lãng mạn tâm tình dựng tác phẩm mình thì ông theo hướng khác. Trong số nhà văn xã hội, kể đến, như Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, tất phải kể đến Nguyễn Đình Lạp. Ngõ Hẻm thuộc vào loại tiểu bối cảnh là ngoại ô nhưng so với Ngoại Ô thì không nhiều hình tượng sống đáng nói bằng Ngoại Ô. Chúng ta bắt đầu phân tích Nguyễn Đình Lạp ở Ngoại Ô. Nhân vật chính cốt truyện là vợ chồng bác Vuông. Bác Vuông trai giờ đây lên tiếng giải bày với người đọc về một pha quan viên với cô đầu phố Vạn Thái, ngoại ô Hà Nội:
“...Quả nhiên vừa bước chân vào khỏi ngõ, bác đã nghe thấy có người gọi. Bác theo chân thằng nhỏ, bước vào nhà một cô đầu. Quan viên nhà này đông quá. Trên cái ghế ngựa kê sát ngay cửa ra vào, một người đàn ông nằm cuộn trong chăn bông đầu trở ra ngoài, gối lên đầu. Trông hắn ngồi ta phải nhớ ngay đến con sâu kèn đang thò đầu ra ngọ nguậy. Cuối phòng, bốn năm người trai trẻ khác nằm úp thìa đầu gối lên bụng nhau xung quanh một cái khay thuốc phiện. Giữa phòng, là một sa lông kiểu mới. Hai người đàn ông nằm uốn trên ghế, chân ghếch lên mặt bàn, miệng hát líu lo. Liền ngay đấy, một người thanh niên nữa ôm chặt lấy một cô đầu mà nhảy đầm...”
Hình ảnh số đông thanh niên tăm tối thời đã chết trong nô lệ, ông đã cho chúng ta nhìn thấy thật rõ. Thái độ của một người văn nghệ, có giọng văn hơi căm thù, tác động được người đọc cảnh như thế. Cảnh cô đầu vơi cuộc sống chết trong tay những mụ Tào, tất cả sự thực bỉ ổi, trắng trợn, đểu giả, sống bằng cách nằm ngửa; còn bị bóc lột thặng dư giá trị, qua thủ đoạn lọc lừa du côn, giá trị người sống không hơn con vật. Đó là trong xã hội thực dân thống trị, cho tự do lập khu tự do trụy lạc để quên chống lại chúng. Nguyễn Đình Lạp tả rất linh động:
“...Mụ Tào làm nghề buôn lòng bò và tiết trâu. Nhưng thực ra mụ không sống bằng cái nghề này. Vì ngoài cái nghề làm nặc nô để đi đánh ghen hoặc đòi nợ mướn cho người.
Kể ra những đứa lớn đầu, lóp lép ba mươi tuổi rồi nghĩa là bằng tuổi mụ hoặc chỉ kém một vài tuổi thôi. Chỉ một sự phục tòng ấy cũng đủ chứng tỏ rằng mụ là người có oai đến thế nào?
Nhất là khi mụ đã nốc độ một vài cút rượu, mặt đỏ ngay như quả gấc chín rồi thì lời nói của mụ cũng đắc lực lắm. Lúc ấy mà một đứa đàn em nào dám cưỡng lời mụ hoặc chỉ chậm chạp chưa thi hành ngay cái lệnh của mụ truyền, thì tức khắc mụ túm lấy tóc, dìm đầu xuống đất, rồi cứ tay mụ phang như mưa rào...” Đây là lời Huệ, một cô đầu quen bác Vuông kể lại thành tích mụ Tào đã hành hạ nàng. Cảnh đau ốm vì đòn nhừ tử của mụ bắt đầu hành hạ nàng. Nàng ốm đau, xanh sao, vàng vọt thì lang quân lại lãng quên và tiền nong cũng không. Đi vay tiền là nhục, chẳng lẽ gặp chủ cho vay lại hỏi ngay, phải vào lời bằng câu chuyện con cà, con kê đã như ý để kéo dài thời gian làm đẹp lòng người mình muốn vay tiền; đồng thời có đủ thời giờ khiến như có can đảm cất tiếng hỏi vay tiền. Nguyễn Đình Lạp từng trải cảnh ấy, phơi bày cho chúng ta thấy tâm lý hình tượng sống nhân tình thế thái:
“...Nhưng nếu cứ ốm thế này thì có nghĩ sao được sự phục thù nữa? Tôi cầu trời, khấn Phật cho chóng khỏi. À bác này làm ơn…
Nàng lại im lặng. Và khi bác hàng giò...
Sao thế cô? Có sự gì cô cứ nói. (...)
Bác ạ tôi cần phải uống thuốc thì mới mong qua khỏi được. Vậy bác làm ơn cho tôi giật tạm một đồng để lấy thuốc. Tôi đã phải hỏi đến bác là vấn đề bất đắc dĩ.
Huệ vừa nói dứt thì cái ý định phải trang trải tiền nhà, tiền thịt, tiền thuế chợ cũng vụt qua óc bác hàng giò như một luồng chớp nhoáng. Rồi hình ảnh bà cả Nẫn, bà chủ nhà, người xoát vé chợ, hàng gạo, hàng củi lũ lượt hiện ra, bác Vuông rùng mình lo lắng. Nhưng đồng thời bác nhận thấy khuôn mặt Huệ cáng sám ngắt, tiếng ho này càng gấp càng khô khan. Và trên gò má dỗ cao của nàng hai hàng nước mắt tuôn rơi lả chả. Không do dự lấy mười hào trao cho cô Huệ...”
Lòng giúp đỡ giữa kẻ nghèo không tính toán, so kè, hoặc trục lợi; trái lại, kẻ giàu giúp đỡ kẻ nghèo vì lòng thương, vì không tiêu hết tiền, muốn mua hư danh xả kỷ; mà nếu có ít nhất cũng thấy thả con săn bắt cá rô. Nguyễn Đình Lạp phơi bày cho người đọc nhận thấy thế nào là nghĩa sống các giai tầng xã hội thời ấy. Có thể coi Nguyễn Đình Lạp như một Khái Hưng của Hàn Thuyên của giai cấp nghèo nàn.
Tác giả Đẹp lao động là Nguyễn Đình Lạp, còn Đẹp tiểu tư sản trí thức Khái Hưng đã chiếm chỗ. Nam là bạn Biên rồi lấy con gái Biên, dùng tiếng Pháp xưng hô chuyện trò với bố vợ không thẹn mấy, vì xưa họ là bạn. Thì bây giờ tác giả Đẹp lao động quan niệm về Nhớn, bạn bác Vuông khuyên có nên lấy Khuyên con gái của bạn không?
“...Nhớn nghĩ đến, vả lại mình là bạn bố con khuyên. Ai lại lấy con gái bạn bao giờ? Đang là bạn với nhau bỗng dưng tự hạ mình xuống làm con thì coi sao được?
Tuy nói thế, nhưng Nhớn vẫn tiếc rẻ. Đấy là tâm trạng của Nhớn. Nhưng mà lão Mỗ thân với lão Vuông lắm nhé. Thế nào mà lão Vuông chả nể lời bạn mà bằng lòng. Nghe bà Sửu nói thế, bác Nhớn tự nhiên kém hẳn vui. Dù Nhớn không có ý định lấy cái Khuyên và cũng hôm nay là lần đầu tiên Nhớn để ý tới cái Khuyên. Nhưng hắn cũng băn khoăn nhủ thầm: “Quái cái Khuyên xinh xẻo thế kia mà lấy cái thằng Pháo thật là vô lý quá. Thằng oắt con thế kia mà tốt số...”
Nguyễn Đình Lạp rất tâm lý, tả mối tình sơ khởi đến khi Nhớn bỏ Tình yêu Khuyên và trốn theo Khuyên sau này thật tha thiết, cảm động. Phải thừa nhận rằng ông nghiên cứu nhân vật rất kỹ, đi vào tận cỗi rễ đời sống lao động. Ông tả em của Khuyên, cái Còi thích cho chị lấy Pháo, chỉ vì trông thấy mối lợi nho nhỏ trước mắt; mà quên rằng bố mẹ mình đặt chị mình ngồi đâu thì được ngồi đấy, dầu đó lạc hậu đi nữa! Nếp sống phác họa rất đơn giản, của phần diễn tả tâm lý rất trẻ con cũng được Nguyễn Đình Lạp đưa vào văn chương vô cùng đặc sắc:
“...Trong gia đình bác Vuông có lẽ cái Còi muốn cho chị nó lấy thằng Pháo hơn cả. Thỉnh thoảng mua phở, nó vẫn được thằng Pháo chọn cho chỗ thịt ngon và bán rất rẻ. Nếu bây giờ chị nó lấy thằng Pháo thì ngày ngày nó tha hồ ăn phở, khỏi phải lo không có tiền…”
Lại đến vai Tham Nhân, đại diện thư lại tham biện thời thực dân. Tham Nhân là tình nhân của Huệ. Khi Huệ đẹp hắn say mê, đến khi Huệ ốm thì hắn lảng trốn. Sau khi Huệ bị đánh lần thứ hai nhờ có bác Vuông mà Huệ thoát nạn, thì Tham Nhân lại đến tìm Huệ giữa lúc Huệ tiếp chuyện bác Vuông. Đây là đoạn tác giả cho chúng ta thấy cảnh thưởng tiền của một giai cấp quan lại thí cho bác Vuông, giai tầng bị khinh bỉ, xác nhận sự phân biệt rõ tác phong của giàu và nghèo, sang và hèn, thống trị và bị thống trị:
"...Tham Nhân rút cái ví da ở túi áo lấy ra một tập giấy năm đồng đếm đi đếm lại. Chợt Tham Nhân nhìn lên bắt gặp cặp mắt nẩy lửa của bà khiến bà ngượng nghịu cúi xuống tảng lờ nói:
- Kìa Huệ. Quan Tham sai đi mua gì kìa!
Huệ đang ân cần mời bác Vuông thuốc lá, nghe tiếng chủ, quay lại hỏi:
- Gì kia ạ?
Được dịp để khoe mình rộng rãi kể cả, Tham Nhân lạnh lùng nói:
- Không mua gì cả. Huệ cằm lấy hai giấy năm đồng thưởng cho bác hàng giò...
Câu nói ấy khiến cho bác Vuông đỏ ửng mặt. Bác đã toan cự lại một câu tàn tệ nhưng chẳng hiểu như thế nào bác ngồi yên lặng đánh rơi điếu thuốc lá xuống chiếu. Bà chủ đon đã tiến lại:
- Kìa quan Tham đã cho.
Bà đỡ hai tờ giấy trong tay Nhân rồi quay về phía bác Vuông:
- Đây bác cầm lấy, Quan Tham ngài rộng quá. Bác cám ơn quan Tham đi.
Không nói một lời, bác Vuông lạnh lùng đứng dậy, hai mắt nhìn thẳng vào mặt Nhân cầm lấy hai tờ năm đồng vò nhầu vào hai bàn tay. Và giữa lúc bác định giơ tay ném trả lại thì một ý nghĩ thoáng qua trong đầu. Cái ý nghĩ sắp phải làm một bữa cổ sang trọng nhân dịp đón vợ lẽ về nhà. Mà hiện giờ bác hãy còn thiếu tiền. Bác mỉm cười hạ tay xuống, nhét vội tiền vào túi áo, giọng chua chát:
- Chào Ngài, chào cả nhà.
Rồi bác đi ra cửa…”
Có một điều làm mất ý nghĩa, tuy ở đây biểu hiện đúng - mà ông bắt nhân vật phải dẹp lòng tự ái, vì thiếu tiền sửa soạn bữa cỗ cưới vợ lẽ thật linh đình, khiến người đọc bị giảm mất sự thù hằn của kiếp nghèo mà bán tư tưởng cao thượng - nhân sinh vị nghệ thuật - để thỏa hiệp vị lợi nhỏ nhen không đáng. Ta sẽ thấy trong Thằng Kình của Nguyễn Đức Quỳnh được học bổng mà họ xoi mói, khiến nó khinh bạc cái nghèo hèn, nó định từ chối; khi nghĩ đến đại hạn mất mùa đành quên đau khổ, sỉ nhục mà nhận phần thưởng. Cũng là hai lẽ chịu đựng, nhưng ở tác giả Thằng Kình có lý lớn hơn, nghệ thuật cao hơn ở chỗ đó. Vì lẽ Thằng Kình của Nguyễn Đức Quỳnh nghĩ đến gia đình (chung) hơn là bác Vuông của Nguyễn Đình Lạp thừa tiền dùng vào việc cưới vợ lẽ linh đình (riêng tư); như thế hà tất phải chịu đựng Tham Nhân với một thái độ không cần nhịn nhục, lại được dịp tỏ lộ lòng công phẫn đúng chỗ.
Tác giả Ngoại Ô cho chúng ta nghĩ về Pháo, anh chồng mà cha mẹ Khuyên chót hứa nhận gả nàng. Ông viết rất đặc sắc:
“… Sao Pháo lại không như bác Sẹo… hay bác Nhớn. Ừ, sao chồng mình không như bác Nhớn vừa lạnh lẹ, vừa cao lớn vừa khỏe mạnh. Khuôn mặt lúc nào cũng hồng tươi. Đôi mắt lúc nào cũng long lanh sáng. Ừ sao chồng mình lại không như bác Nhớn. Có phải không ai chê vào đâu không?...”
Con gái chúa hay so sánh, trông núi này thấp hơn núi nọ, nhất là tâm trạng cô gái quê ở ngoại ô Hà Nội (Bạch Mai) thì luân lý cổ truyền co dãn, không ăn sâu vào trí não cô gái nhiều; nên sự đặt con gái ngồi ở đâu theo ý của bố mẹ không chắc đã hiệu nghiệm?
Bây giờ Nguyễn Đình Lạp cho người đọc thấy điểm vô lý chính tác giả thiếu nhận xét tinh vi, khi viết về nhân vật Ả Quay, chồng trước vợ lẽ bác Vuông:
“…Ban ngày nó giả làm ông lang đi chữa bệnh bằng khoa thuốc châm cứu. Nhưng ban đêm, hắn chuyên đi thả mồi trộm bằng cách trộn xa tiền, nhân ngôn, thính và thịt để đánh bả chó. Vô phúc con chó nào ăn phải thì chỉ có việc uống nước no bụng trương to lên to bằng bụng con bò rồi lăn đùng ra chết. Thế là hắn đàng hoàng ném con chó vào cái thùng, đậy vỉ buồm kín mít, rồi đợi đi bán cho hàng thịt chó quen...”
Bởi vì ăn cắp cho như Ả Quay, chú Ba Tàu của ông quá dễ dàng đến vô lý. Đến nỗi chẳng bao giờ có nghệ thuật ăn cắp lấy được một con chó. Con chó ăn bả không chết ngay, mà thời gian đủ để trương bụng, lại sẽ chết ở một chỗ khác; một chỗ có lẽ Ả Quay cứ theo đuổi một con chó giãy chết chạy lung tung và đợi cho đến bao giờ?
Nhưng dưới đây, tác giả lại cho chúng ta thưởng thức một pha rất thực tiễn, linh động vô cùng. Thực dân ra lệnh không cho xe kéo ngoại thành vào nội thành, cũng như hàng giò chả ngoại ô, cấm không được đem vào nội thành Hà Nội bán. Vì thế bác Vuông trai không theo trọn được nghề, đành để vợ làm nghề bán thịt lậu. Cùng chứng kiến một đoạn não lòng tác giả thuật lại rất khéo, điển hình cho hàng trăm, nghìn, hàng vạn, triệu vụ bắt bớ dã man tương tự:
“…Hai người đàn ông vội vã quay lại phía người đàn bà ngồi núp ở góc tường khóc thút thít. Một bàn tay nắm chặt lấy cánh tay người đàn bà kéo mạnh cho người ấy dứng dậy:
- Cởi áo ra để quan khám.
Người đàn bà giơ bàn tay lóng cóng hắt mớ tóc ra sau lưng. Một khuôn mặt tái nhợt hiện ra. Đôi mắt ướt nhòe những lệ lơ láo nhìn một cách sợ sệt lo ngại van xin:
- Kìa mày không cởi hả?
Cái gân bò nằm trong tay người đàn ông giơ cao lên, nhắm thẳng đỉnh đầu người đàn bà:
- Vút.
- Úi giời ôi! Con xin cởi. Con xin cởi.
Hai bàn tay run lật bật vội vã vân vê mấy cái khuy đồng. Cái áo nâu dài rơi xuống đất, cái áo cánh trắng cũng rơi theo. Rồi cái yếm xô xuống cái quần thâm. Mấy giọt nước mắt lăn từ gò má xuống ngực hòa vào những giọt mồ hôi, quằn quại chảy từ ngực ra đầu vú rồi từ đầu vú rơi thẳng xuống bụng.
- Cởi nốt quần ra.
Mấy ngón tay cóng lại vội vã tìm đầu giải để rút.
- Phịch.
Người đàn bà khóc nấc lên một tiếng. Hai bàn tay vội vã xoắn lấy cạp quần. Nhưng bàn tay to lớn của một người đàn ông đã thò vào nắm lấy giằng ra. Cái quần tụt xuống đất. Cái bụng chửa phơi ra.
Không phải cái bụng chửa đâu? Đó là những miếng thịt lợn to tướng buộc chằng chịt lấy nhau che lấy cái bụng ngoài. Người đàn ông bận âu phục chống hai tay xuống thành ghế bành, đứng vùng dậy. Hắn với lấy cái gậy ở góc tường. Hắn cười tít mắt, giơ thẳng gậy thong thả tiến đến.
Người đàn bà khiếp sợ. Hai bàn tay xòe ra, giơ thẳng về phía trước mắt. Hai mắt tròn xoe, trừng trợn. Cái đầu gậy đã đâm thẳng vào bụng người khốn nạn. Một miếng thịt rơi xuống đất. Rồi dăm bảy miếng khác rơi lả tả xuống theo. Người đàn bà lùi lại một bước nhưng đập vào tường miệng thét lên một tiếng rồi cả người lẫn thịt ngã vật xuống đất…”
Tác giả thắt nút, cởi nút rất thoát và chỉ ít dòng chữ như thế đủ cho người đọc đầy đủ cảm giác về sự chà đạp nhân bản giữa đồng chủng làm tay sai đối với đồng chủng. Từ chỗ cấm thịt ở ngoại ô không được bán ở nội thành đến cảnh buôn bán lẩn lút bị khám phá. Nhưng Nguyễn Đình Lạp thiếu một chút nghệ thuật ở đoạn trên, là tác giả nhảy vào giải thích, mà thiết tưởng không cần cho sự không thể hiểu của độc giả. Ở chỗ: không phải cái bụng chửa đâu?
Bác Vuông giúp đỡ Huệ, Huệ giúp đỡ lại bác Vuông. Sự tương trợ người lao động thành phố với nhau một đằng bác Vuông, mồ hôi lao động, một đằng kỹ nữ, lao động vật chất, khai thác bản thân. Đây là đoạn Tham Nhân có cử chỉ lịch thiệp (cho bác Vuông hai tờ giấy năm đồng) nhưng biết đâu rằng chúng hối lộ được hàng trăm trước đó. Tác giả diễn tả rất đầy đủ cho thấy mánh khóe tiểu xảo bọn thư lại đại bịp tư sản mại bản, lưu manh đến chừng nào! Nếu có đãi lại một hai đồng, giả vờ bỏ quên trong túi áo, túi quần, cho bồi bếp vú em (cho gián tiếp) thì mình vội vã cho rằng Tây và các quan ta tốt. Nhưng đâu có biết rằng chúng thu thuế, chúng bóc lột bằng kinh tế độc quyền, xuất nhập cảng độc quyền, chúng hạn chế sự phát triển kỹ nghệ của mình…Bây giờ chúng ta nghe Nguyễn Đình Lạp thông ngôn cho người đọc thấy mặt trái bọn tư sản mại bản lưu manh mà Huệ là nhân chứng:
"...Chẳng qua chúng thấy bác tin nên chúng nó xoay,(sau khi bác Vuông gái bị thắt buôn thịt lậu, đồng đảng Tham Nhân dọa bỏ tù nên hối lộ một trăm đồng) nói quấy quá để lấy tiền đó thôi. Chớ chúng nó cũng chẳng thế lực gì mà chạy chọt được cả. Chính Tham Nhân đã nói với Phán Hạnh. Mày nên đánh mạnh vào. Bọn ấy xem chúng có thể bóp được đấy. Tội gì, tha hồ mà hát mày ạ...”
Chúng hành lạc trên mồ hôi, máu mắt lao động, ông rất tinh tế với giọng văn thúc đẩy căm thù kết thúc tha hồ đi hát mày ạ. Phường thư lại sống chết mặc bay làm cho đồng chủng phẫn nộ đó là thành công của văn chương gián tiếp thúc đẩy cách mạng của Nguyễn Đình Lạp.
Bác Vuông gái cả sau chết về bệnh dịch. Tục quê hương không muốn rằng chiếc xe nhà binh màu xanh chất xác rồi đổ vôi lên; nên khi bác Vuông trai thuê xe chở người ốm về quê, chẳng may có mệnh hệ nào còn được chôn cất ở quê nhà. Giữa đường bác Vuông gái tắt thở, chúng ta thưởng thức mẩu chuyện kiếm cớ xoay tiền, thủ đoạn của bọn chánh, phó lý khai thác xác chết để có tiền chè rượu:
“…Một tên tuần đã bấm ông Phó ra một chỗ rồi nói nhỏ:
- Bẩm Thầy, có lẽ con mụ này chết vì dịch thầy ạ. Con thấy áo quần thằng chồng bê bết những phân. Viên Phó lý nhìn bác Vuông từ đầu đến chân. Đoạn hắn gật đầu mỉm cười tỏ ý công nhận. Hắn bước về chỗ cũ nói theo viên lý trưởng.
- Phải đấy ông Lý ạ, việc này thế nào cũng phải làm biên bản. Tôi ngờ đàn bà này có lẽ chết về bệnh thời khí.
Bác Vuông tái xanh mặt khẩn khoản nói:
- Lạy hai ông, hai ông thương cho phần nào, nhà cháu được nhờ phần ấy. Việc này mà hai ông làm biên bản trình quan thì thật rầy ra cho nhà cháu lắm. Lạy hai ông.
- Lạy với lục gì. Cái nhà anh này lôi thôi quá. Tôi nói cho anh biết anh mang người chết dịch về đây để định làm khổ cả làng hả. Bệnh đang hoành hành khắp mọi nơi không đủ ư? Mà anh lại còn mang người chết về để truyền nhiễm nữa.
Rồi ông Lý quay về phía tuần tráng quát to:
- Tuần đâu. Chúng bay phải cắt nhau đứng canh cái nhà này nghe không? Thôi ông Phó lý về với tôi đi, ta còn đi trình quan Huyện.
Dứt lời, hai ông Chánh phó lý đùng đùng đi ra, miệng hãy còn hậm hực:
- Đi bán sống bán chết một năm không sao, động về đến nhà là y làm bận đến người ta.
Bác Vuông giọt lệ ngắn dài, lẽo đẽo chạy theo sau năn nỉ:
- Thôi lạy hai ông tha nhà cháu làm phúc.
Hai ông Chánh phó lý thản nhiên đi, bàn chuyện ngày rằm tới này thì ông Tiên chỉ sẽ khao tám mươi. Ngày ấy tha hồ mà chén, mà sóc đĩa, cô đầu. Thật vui như tết…”
Người đọc dừng lại ở đây để thấy hai cảnh tượng: một xác chết trương có đàn ruồi nhặng, nhặng xanh chúa tể đang dạo nhạc bâu trên xác chết, hút những máu còn rỉ ở thân xác. Cảnh Chánh phó lý như bọn nhặng xanh gây khó dễ, nào là bệnh dịch đang hoành hành đem xác chết về, thì bệnh truyền nhiễm sẽ lan rộng làm khổ dân làng. Không phải là thương dân, yêu nòi giống, mà là thủ đoạn làm tiền của chúng đã bị Nguyễn Đình Lạp lột trần, từ thái độ tế nhị nho nhỏ: "Chúng đã kháo với nhau nào là ngày ông Tiên chỉ khao tám mươi, tha hồ sóc đĩa, cô đầu"; thì bác Vuông cần phải đút chúng tiền bạc, chúng mới cho phép chôn xác chết. Đây:
“...Bọn hương chức bằng lòng cho phép chôn, thôi không làm bản trình quan sở tại, bằng cái giá ba mươi đồng. Vì phải chờ đợi lâu thế, nên đến khi nhập quan thi thể bác Vuông gái đã trương to, da chân, da tay, da mặt đã nứt nở và tuột ra từng chỗ…”
Đó là tác giả trả lời chúng ta, đọc Ngoại Ô của Nguyễn Đình Lạp, người đọc sáng suốt nhận định ra rằng cốt truyện bố cục chặt chẽ. Sau khi Nhớn và Khuyên yêu nhau bỏ đi Hòn Gay, bác Vuông trai buồn về cảnh gia đình, vợ chết rồi bác Thịnh (một tay hảo hán đã từng đánh nhau thuê với Tào, bởi vì bác Vuông nhờ can thiệp hộ Huệ và cuối cùng đi tù, tội ăn cắp hai nghìn đồng). Bác Vuông hóa điên dại rồi phải điều trị ở nhà thương vôi một thời gian. Bố cục Ngoại Ô chỉ có đoạn lỏng lẻo nhỏ; đó là bác Thịnh, mà tác giả muốn tạo cho một cá tính anh hùng. Song không phải cứ thằng ăn cắp sẽ không thể trở thành anh hùng, lẽ tác giả không muốn biết đặt cho nó một vai anh hùng có cá tính:
“...Là thằng ăn trộm chứ gì? Nhưng cô ạ, bác ta là một thằng ăn trộm phi thường. Một thằng ăn trộm chuyên đi ăn trộm để lấy tiền cứu mạng người nghèo khó. Khắp xóm Văn Chỉ không một ai là không chịu ơn của bác ta. Kẻ thì được bác ta giúp tiền, kẻ thì được bác ta giúp quần áo, gạo củi…”
Tác giả tả cuộc giao tranh giữa mẹ Tào hành hung Huệ, Thịnh và bác Vuông hiệp lại đánh trả bọn kia.
Trong lúc đánh nhau, Nhớn và bác Vuông bị vỡ đầu mới nhận ra nhau. Hai người cùng ngưng tay, tay hảo hán dám bênh vực Huệ là Thịnh. Hai bên xử hòa. Ấy giản dị như thế, lại đánh nhau toán loạn như trong truyện Thủy Hử, mà không có lý do chính đáng, trở thành hề. Diễn tả cử chỉ anh hùng của Thịnh, ông viết: “...Bác Vuông và bác Nhơn đứng vào giữa bọn người nhốn nháo giang tay giới thiệu:
- Đây là bác Thịnh.
Nhớn trợn mắt nhanh nhảu hỏi:
- Có phải bác Thịnh ở Văn Chỉ?
- Phải.
- Trời ơi! Nghe đồn danh của đại huynh mà bây giờ mới gặp.
Hoặc mụ Tào khen phục:
- Bác Thịnh thì còn phải kể, chúng tôi tôn bố lên làm trùm...”
Mụ Tào, trùm nặc nô ở Bạch Mai mà tôn bác Thịnh lên làm trùm khác gì cá mè một lứa. Nhân vật anh hùng xả kỷ của Nguyễn Đình Lạp thất bại hoàn toàn trong Ngoại Ô. Phê bình Nguyễn Đình Lạp, Vũ Ngọc Phan viết: Đọc quyển “Ngoại Ô” của ông, người ta thấy ông không hề phẫn nộ giai cấp". Vũ Ngọc Phan nhận định sai lầm về điểm này, chúng tôi thấy không cần trở lại giải thích. Trong đoạn phê bình thái độ thưởng tiền của Tham Nhân, bác Vuông gái bị bắt, buôn thịt lậu cũng nhận định được sự phẫn nộ có hay không rồi? Bất tất phải tranh luận thêm. Bây giờ cùng thưởng thức một đoạn văn cảm động, cũng là kết thúc mối tình lao động thành phố so sánh với nông thôn, cha mẹ đặt con gái đâu ngồi đấy. Nguyễn Đình Lạp là nhà văn xã hội biết khai thác xã hội Ngoại Ô trong văn chương. Xã hội tính trong văn linh động, tình tiết hấp dẫn, linh hoạt, cách diễn đạt thoát, chứng tỏ ông là nhà văn có tài, xứng đáng nổi tiếng tiền chiến:
“...Đôi bạn đứng trước một cái mả mới, bên trên có một nắm cỏ trôn và những thỏi vàng bằng thỏi vàng bằng giấy. Lạ lùng Sẹo hỏi dồn:
- Mày định làm gì?
Không trả nhời, Nhớn đã tháo cái gói nhật trình cầm trong tay đó là cái cuốc. Hắn lại giằng lấy gói trong tay Sẹo. Hắn lật đật mở ra, một cái sẻng.
- Mày làm gì mà quái gở thế này?
Nhớn lạnh lùng nói:
- Mày có thương cái cảnh chúng tao bây giờ không? Có hở? Vậy thì xin mày cứ làm theo tao. Đừng hỏi han gì nữa. Đây cuốc mày cuốc đi.
Nhời nói của Nhớn như có một sức mạnh gì, Sẹo ngoan ngoãn theo. Thế là đôi bạn hì hục đào cái mả đất mới đắp nên đào rất dễ, chỉ đầy mười lăm phút cuốc của Sẹo chạm vào một vật dắn và rỗng, tiếng kêu bục bục. Nhớn khẽ reo:
- Tới ván thiên rồi.
- À đây rồi. Một và hai. Đủ cả, thàng cha thế mà nói đúng.
Tiếng Sẹo gọi giật bạn:
- Nhớn?
- Gì? - Mày làm tao ghê quá!
Nhớn bấm lấy đèn bin chiếu vào ngón tay đeo hai cái nhẫn vàng chạm “lưỡng long chầu nguyệt” lóng lánh dằn từng tiếng nói:
- Tao có muốn thế đâu? Nhưng hai cái nhẫn này có thể làm cho tao và cái Khuyên được sung sướng thì tội gì mà lại bỏ phí hoài trong mồm một cái thây ma.
Rồi hắn cười gằn, tiếng cười ròn sắc nghe mà rùng mình. Đôi bạn lại lặng lẽ đi. Sương mỗi lúc một sa xuống nhiều hơn. Trong rặng tre, mấy con gà đã cục cù gáy sáng.
Khuyên trốn nhà đi theo Nhớn đã được ngót một tháng nay. Bác Vuông buồn bã tức giận”....
NGUYỄN ĐÌNH LẠP
(Trích Ngoại Ô)
TIẾT 3
NGUYỄN TUÂN
(1910 – 1987)
Tiểu sử.
Nguyễn Tuân sinh 1910 ở Thanh Hóa. Sau khi học hết bậc tiểu học ở 
quê nhà, ông ra Hà Nội và sống ở đây lâu năm. Bắt đầu viết từ 1938. Là nhà văn độc lập, tuy nhiên có thể liệt vào Hàn Thuyên, vì đường lối của ông và nhà văn trong nhóm vẫn thường sinh hoạt, thảo luận chung; mặc dầu ông chỉ có một hai cuốn sách do nhà xuất bản Hàn Thuyên ấn hành, như Chiếc lư đồng mắt cua chẳng hạn... Nguyễn Tuân có lối văn đặc biệt, nôi dung hoài dĩ vãng, tiếc tháng năm trôi trên bước giang hồ.
Tác phẩm.
Vang bóng một thời, (NXB Tân Dân 1940), Tiếng quê hương (NXB Anh Hoa 1943), Một chuyến đi (Tân Dân 1941), Tùy bút I và II, NXB Cộng Lực 1941, Chiếc lư đồng mắt cua (NXB Hàn Thuyên), Ngọn đèn dầu lạc (Mai Lĩnh 1943), Tóc Chị Hoài, (Lượm Lúa vàng 1944), Chùa Đàn, (Quốc Học 1946), Sông Đà (tiểu thuyết, Hà Nội 1954), và những truyện ngắn, truyện vừa đăng trên các báo Thanh Nghị như Hai tấm vé số, Xác Ngọc Lam...
Khuynh hướng.
Phần nhiều tác phẩm Nguyễn Tuân đều mang tính chất khinh bạc cuộc đời và tả lại thú giang hồ lang bạt. Từ cái giọng khinh bạc của Cụ Hai đến Cụ Sáu, chúng ta nhận định được tất cả tư tưởng chán chường nhân thế, chua chát con người giao thời, đã qua đi một dĩ vãng như khúc phim mờ. Bối cảnh truyện tùy thuộc vào dĩ vãng, hình ảnh chìm đắm, mỗi khi nhắc lại khiến người ta thở phào luyến tiếc. Nhân vật Nguyễn Tuân cá biệt, vì lẽ chẳng giống nhân vật của nhà văn nào đương thời với ông, không là người hùng như Lê Văn Trương, không đài điếm phong nhã đương thời như nhân vật Khái Hưng. Nhân vật của ông đài điếm quý phái rất cổ kính, ưa khinh bạc, phóng túng. Vũ Ngọc Phan viết về ông trong Nhà văn hiện đại cho rằng ông chịu ảnh hưởng Marcel Proust, điều này đúng. Bởi Đi tìm thời gian đã mất cũng có giọng ai oán, hờn căm, chua chát, và cộng thêm thú giang hồ Paul Morand nữa:
“...Nguyễn Tuân như người ta đã thấy là một nhà văn đứng riêng hẳn về một phái. Những tạp văn đầu tay của ông, dầu không phải là tùy bút cũng ngả về tùy bút chẳng ít thì nhiều, ông lại không thể nào bỏ được cái lối phiếm luận, cái giọng khinh bạc bất cứ về việc gì nên có nhiều đoạn thật lê thê. Nhưng dù lê thê hay gọn gàng, đọc Nguyễn Tuân bao giờ người ta cũng thấy một hứng thú đặc biệt, đó là sự thâm trầm trong ý nghĩ, sự lọc lõi trong quan sát, sự hành văn của một cách hoàn toàn Việt Nam. Nguyễn Tuân là một nhà văn theo thuyết hoài nghi, ông có chủ nghĩa về chủ nghĩa vật chất và gần như muốn tin ở cái ma lực của bản năng, ông lại ưa thích cái cố hữu nên là người tuy luôn luôn xê dịch, tuy tự nhận mình là một kẻ giang hồ, nhưng sự thật thì chỉ những khi viết về cái xưa cũ, nhưng cái thuộc vế quê hương, đất nước hay những cái có thể tưởng nhớ quê hương đất nước, ông mới viết tinh vi sâu sắc. Ông là một nhà văn đặc Việt Nam, có tính hào hoa và cái giọng khinh bạc đệ nhất trong văn giới Việt Nam hiện đại. Nói như thế , người ta mới hiểu được cái thân thế và văn ông, vì nhân thế và văn ông theo như bóng với người. Chỉ người ta ưa suy xét, đọc Nguyễn Tuân mới thấy thú vị, vì văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức. Một ngày không xa, khi mà văn chương Việt Nam được người Việt Nam ham chuộng như bây giờ, tôi dám chắc văn phẩm của Nguyễn Tuân sẽ còn có một địa vị xứng đáng hơn nữa. Người ta hay nói đến những cái lôi thôi, những cái dài dòng trong văn chương của Nguyễn Tuân, nhưng người ta quên không nhớ rằng Marcel Proust hoặc Tourguenieff còn dài dòng hơn nhiều, mà đó chỉ là những sự diễn tả thành thực của tâm hồn…”
Chịu ảnh hưởng Đông Phương.
Nếu Khái Hưng, Nhất Linh, Xuân Diệu, Thế Lữ bị ảnh hưởng Tây Phương, trái lại Nguyễn Tuân, Lưu Trọng Lư chịu ảnh hưởng Đông Phương. Thể tâm bút của ông viết trong Vang bóng một thời hoặc Chùa Đàn hoặc Nguyễn, Chiếc lư đồng mắt cua; là những mẩu tâm tư giống như văn Ba Kim, Lố Tấn với Ả Q Chính Truyện. Hoặc tản văn của Ba Kim trong U Linh, Thèm khát Tự do cũng vậy. Chịu ảnh hưởng Trung Hoa và Nhật Bản nhiều nhất, không phải ở hình thức viết, mà kể cả tâm hồn con người, kể cả truyền thống sống, ít nhiều tác phong Đông phương, gần gũi nhất là Tàu. Nói về cái thú uống trà Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên đã trở thành một nghệ thuật. Nên tác phẩm những nước kế bên, chúng ta thường thấy nhà văn ca tụng thú uống trà thật nhàn tản và kiêu hãnh. Thì ở Việt Nam, một Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời (Những chiếc ấm đất) cho ta hưởng phút khoan khoái, thanh tao uống trà, một hình tượng văn minh cổ truyền thanh nhã. Tùy Bút là những mẩu tâm tư nói lên tâm trạng ưa thích dĩ vãng, hoài cảm hình tượng sống đã lùi xa. Tập truyện Những dịp còi, Những ngày Thanh Hóa, Những ngọn đèn xanh... tả tiếng còi báo động có âm thanh ghê rợn đến cảm giác buồn của đêm não nuột tàn thu khi trời trở lạnh. Bao nhiêu màu sắc, cảnh vật thiên nhiên đượm buồn, hình tượng khinh bạc, kiêu sa con người ưa trăng gió, ưa thú lang thang trên nẻo đường có thác ghềnh, rừng núi. Hơi văn ấy rất linh hoạt dưới ngòi bút tài hoa Nguyễn Tuân. Thiếu quê hương cũng tương tự như thế. Chẳng là chúng ta hiểu Nguyễn Tuân qua Tùy bút, và muốn hiểu Nguyễn Tuân sâu rộng đến chân tơ kẽ tóc, không phải chỉ vài chục trang giấy là đủ. Chúng ta phải viết riêng một cuốn sách đầy hàng năm trăm trang, mới mong xét về Nguyễn Tuân tương đối đầy đủ, nói về cuộc đời cũng như thú lang thang của Nguyễn Tuân trong văn phẩm. Văn phẩm chọn lọc Vang bóng một thời, chúng tôi sẽ phân tích ở tiểu mục sau và được coi như là tác phẩm chính Nguyễn Tuân.
Trong Thiếu quê hương, vào đề bằng: “Ta muốn sau khi ta chết đi, có người thuộc da ta làm chiếc va li” của Paul Morand. Và hạnh phúc chỉ tìm thấy ở nhà ga, mới hiểu hưởng lạc thú đời qua hai nghĩa bi và lạc quan, đầy đủ cảm giác lưu luyến đơn côi. Cuộc đời ông, lối sống ông phản ánh nhiều trong văn chương, nên sau này du lịch tới ga nào, xin được nhà ga đóng dấu lên chiếc va li ấy. Du lịch trong Thiếu Quê hương là động cơ chính của chàng thanh niên có óc nay đây mai đó, nay thưởng thức cảnh chiều đẹp của nơi rừng khói ấm, mai vào một sáng tinh sương mịt mùng ngang biển. Đi và đi, không hẳn là cứu cánh của mình, nhưng để trải trên những con đường heo hút như vô tận. Một kẻ chán mình, chán thời thế muốn quên và trốn. Đó cũng là một thái độ sống với một ý nghĩ cá biệt. Tập này so với văn phẩm chung của ông không có gì đặc sắc lắm.
Chiếc lư đồng mắt cua cũng vào đề bằng: "Trong tập này cũng lại chỉ là những trang tùy bút chép lại một ít tâm trạng tôi trong những ngày phóng túng hình hài".
Tả một nhà báo tỉnh lỵ, kẻ lãng tử muốn vào Nam lập nghiệp; nhưng rồi lại ra Vinh, Thanh Hóa rồi ở lại Vinh. Ở đâu thì cũng chỉ một vài hôm rồi lại lên đường, việc này xảy ra như cơm bữa trong đời tác giả.
Phân tích tác phẩm chính.
Vang bóng một thời tác phẩm đầu tay của tác giả, chính lại là tác phẩm đưa ông đến mức thành công cao nhất trong văn học thời ấy, cũng như về sau. Có thể nói là tác phẩm đẹp gần toàn diện. Một Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân trải một chiếu riêng trong nền văn học Việt Nam. Chúng tôi phân tích từng truyện, để hiểu rõ ông, hiểu những gì là tinh hoa của đạo Khổng, sân Trình; cùng căn bệnh chán đời vào giai đoạn chính trị mới xâm nhập, và muốn cho hình hài mình sống mà đang chết trong thanh cao. Có thể nói thêm rằng, nhân vật của ông sống trong đau khổ, nhưng chết dần mòn tươi đẹp như thiên thần. Vang bóng một thời gồm Chém treo ngành, Những chiếc ấm đất. Thả thơ, Đánh thơ, Ngôi mả cũ, Hương Cuội, Chữ Người tử tù, Chén trà trong sương sớm, Một cảnh thu muộn, Báo oán (Tân Dân in năm 1940), Chính Ký tái bản năm 1953 ở Hà Nội).
Chém treo ngành cốt truyện giản dị tả một bọn tù ái quốc bị thực dân Pháp bắt được đem xử tử. Không phải như lối chịu án tử hình bằng những viên đạn đồng, mà chúng giao cho một tổng đốc người Việt quản nhiệm xử giảo. Bát Lê, người vác dao chém treo ngành được vời đến. Vào đầu, ông cho người đọc thấy một cảnh ghê rợn, nơi dùng để tập xử giảo những người yêu nước sau này:
"...Phía Tây thành B, trên một nền đất rộng, đổ sát vào thành cho lằn gạch ngoài thành được thêm vững chãi, tàn lá rộng và không bao giờ sợ gió đánh rách, che kín cả vòng mặt trời. Trên áng cỏ bốn mùa ẩm ướt loài nấm dại nở hết sức bừa bộn.
Khoảng đất ấy ở phía sau kho lúa xây trong thành quanh năm không có vết chân người.
Mỗi buổi chiều mặt trời lặn, mấy con chim không tổ mỏi cánh định vào vườn chuối âm u này để ngủ.
Những thân chuối cao vút và tàu lá chuối trống trải không đủ nơi làm tổ, loài chim kêu mấy tiếng thưa thớt rồi lại bay qua thành.
Vườn chuối im lìm, bữa nay có tiếng hát. Chính là những lời xám hối của một người lúc đương thời sống không bao giờ oán nhau nhưng phải giết nhau. Tiếng hát của người lính cơ ấy: Ta hoa thanh quất. Cỏ xanh đổi màu. Sống không thù nhau…”
Tiếng hát người lính cơ thừa lệnh trên làm việc, Nguyễn Tuân tưởng tượng cảnh xử giảo rất tài tình, chúng ta cảm thấy ghê rợn, nào là múa thanh quất từng giọt máu chảy đầm đìa. Tâm trạng lính cơ thanh minh với người bị xử giảo , ông tả rất đúng ý nghĩ của kẻ phải làm theo mệnh lệnh, hẳn là thái độ tắc trách. Đến lúc người xử giảo dẫn nạn nhân đến pháp trường, Nguyễn Tuân viết linh động như:
“Người ngồi cho vững, cho ngọt nhát đao.”
Cảm tưởng độc giả bị ám ảnh bởi lời khuyên của kẻ sống không oán thù, chết phải giết nhau: “Anh ngồi cho yên, cho đao ngọt lưỡi, anh chết ngay cho đỡ phải đau khổ, nhận thêm phút sống ngây ngất ê trề”. Tình thương đồng loại hòa vào tình cảm chân thành; trước khi xử người, lính cơ là bác Lê đau khổ lắm. Nguyễn Tuân cho Bác Lê đọc kinh sám hối trước kẻ sắp phải chết đi, hiểu rõ tâm trạng đau khổ của người cầm đao. Ông còn nhắc lại ở đoạn cuối:
“...Buổi sáng hôm sau, bọn vợ lính cơ thêm được ít người tò mò nữa kéo đến vườn dâu ngoại thành, và nghe rõ người ta chặt chuối trên mặt thành với những câu hát rõ mồn một: “Ta hoa thanh quất. Cỏ xanh đổi màu. Sống không thù nhau. Chết không oán nhau”. Khi nghỉ ngơi, lúc họ mang chuyện đó về nhà, thì những người lính cơ đều ra vẻ cảm động sở hãi và cắt nghĩa:
- Ông Bát Lê sắp làm việc đấy.
- ???
- Ông lớn sắp đem mười mấy người ra chém. Và tiếng người hát trên mặt thành là tiếng ông Bát Lê đang múa thanh quất ở vườn chuối đấy”
Tới đoạn giới thiệu tài chém treo ngành Bát Lê, ông viết rất tự nhiên, tả anh lính giảng giải cho vợ: “...U mày không hiểu. Lâu nay ông Bát không phải khai đao vì ông lớn thấy già yếu nên muốn cho nghỉ đấy. Mỗi lần có án trảm, ông Bát chỉ phải ra pháp trường cho có mặt thôi. Còn công việc thì đã có người khác thay thế. Nhưng vẫn cứ được phần thưởng. Đã đến gần một năm nay, ông Bát không cầm đến thanh quất. Không hiểu tại sao lần này ông lớn lại cho gởi ông Bát ra cho kỳ được và xem chừng như Ngài săn sóc đến cái vụ xử trảm này nhiều lắm...”
Từ chỗ giới thiệu Bát Lê là tay xử trảm với thanh đao tài tình, cho đến khi báo tin cho biết vụ xử trảm thật quan trọng, Nguyễn Tuân rất nghệ thuật khi chuyển tiếp, gợi tò mò người đọc. Hoàn cảnh xã hội vào 1940, khi Pháp Nhật thông đồng thống trị, không thể nào có giọng văn căm hờn lộ liễu mà sách xuất bản được.
Ở đây, ông chỉ tả sơ lược vài nét, qua vóc dáng tổng đốc sang trọng, kiêu kỳ; nhưng lại toát ra đầy đủ ý nghĩa mỉa mai thâm thù:
“...Bẩm lạy ông lớn, ít lâu nay con về quê. Giá như ngày trước có khi nào con dám đi xa? Sớm tối con cũng phải ở trong nội thành phòng những lúc ông lớn bất thần gọi đến. Nhưng từ hồi gần đây ông lớn thương phần già nua cho con nghỉ tay đao, con có mạn phép về thăm nhà. Được tin ông lớn cho đòi, con vội vã vào hầu, xin ông lớn tha tội cho con. Con chờ lệnh ông lớn truyền xuống.
- Thôi cho đứng dậy.
Quan Đổng lý quan vụ ngả mình trên ghế bành vàng và son, hất hàm hỏi tên bát phẩm đầy tớ già đang co ro ngồi bên chiếc cột:
- Liệu bây giờ còn chém mát tay nữa không?
- Dạ.
- Dạ sao? Chú có biết ta sắp cho xuống cái lệnh chi không?
- Dạ...”
Lối xưng hô Bát Lê khúm núm trước quan Đại thần, từ thái độ hạ nhân phẩm xuống, đề cao quan trên, chúng ta hiểu thêm được rằng Quân vụ thị trấn càng oai vệ bao nhiêu, thì chức tước quan Pháp ban cho chúng càng hống hách bấy nhiêu. Như là trà đạp tinh thần cách mệnh gián tiếp gây căm thù, cũng là lối văn thúc đẩy cách mệnh, Nguyễn Tuân chỉ cần đưa một vài nét lồng vào lời nói quan Quân vụ. Bề ngoài thật là giọng văn cung kính, suy xét kỹ hơn thấy Nguyễn Tuân phản lại với hậu quả rất tế nhị. Thái độ quan Quân vụ thị trấn đối với quan Công sứ, nào khác gì Bát Lê đối với quan Tổng đốc:
“...Có mười hai tên tử tù sắp phải hành hình. Quan Công sứ muốn được thị kiến lúc bọn hắn chịu án trảm. Người chém thế nào cho gọn thì chém, hễ chém một đầu đến hai nhát thì không những là truất tiền mà còn bị quở nữa. Chém cho thực ngọt.
- Dạ.
- Tiền thưởng này chính quan Công sứ cho. Ta muốn giữ phần cho người, nên ta gọi mà lĩnh việc này, gọi là kiếm một chút bổng để dưỡng cái tuổi già. Chú phải biết khi nhận lấy mười hai tên tử tù là chú phải làm việc cho đầy đủ. Chớ để phiền đến ta. Ta đã chót khoe khoang cái tài chém treo ngành của chú với quan Công sứ. Chú nghĩ thế nào?...”
Người đọc một phen thấy sự trắng trợn của tên phong kiến gian ngoan, muốn rằng vụ xử mười hai tên tử tù thật ngọt, để cầu mong gián tiếp quan cho lên chức. Tả tâm lý viên tổng đốc, Nguyễn Tuân đã có nghệ thuật biểu hiện, tuy che lấp cái bợ đỡ của tổng đốc với quan Công sứ, nhưng ra lệnh cho viên bát phẩm, thì hiểu được đó cũng là cách gián tiếp đề cao, nịnh bợ quan Tây. Như câu quan thương mà muốn cho hắn lĩnh phần thưởng dưỡng già. Tác giả lột trần được cái gì thật bỉ ổi thầm kín cả hai mặt. Ở đoạn sau, ông viết:
“...Nếu cái nghề chém đặc biệt của chú không thể truyền lại cho một người nào được, thì một lần cuối cùng nữa chú cũng nên cho một vị quan Tây ở đây thấy rõ cái cách chém xưa của một người đầy tớ hầu cận của ta là như thế nào?...”
Bây giờ đến tâm trạng Bát Lê, Nguyễn Tuân tả sự điên cuồng của người phải thừa hành mệnh lệnh, bị dằn vặt khi làm một việc mà chính kẻ cầm thanh đao không muốn:
“...Trên đống thân cây trơn ướt, Bát Lê vẫn làm việc nhẩy nhót như một kẻ điên cuồng. Cứ mỗi một cây chuối gẫy gục xuống cỏ roạt một cái thì Bát Lê lại cất tiếng hát:
“Sống không thù nhau…chết không oán nhau...”
Ông tả lại cảnh sầu não ở pháp trường thật rùng rợn, và nhận xét về mầu sắc rất tinh tế chuyên môn:
“...Trời chiều có một vẻ dữ dội. Mặt đất thì sáng hơn là nền trời. Nền trời vẫn những đám mây tím đổ về đủ mọi hình thức quái lạ. Những bức tranh mây chói mầu thẫm hạ thấp thêm và đè nặng xuống pháp trường oi bức và sáng gắt...”
Tiếp theo, Nguyễn Tuân đưa chúng ta đến kết thúc, mười hai tên tử tù bắt đầu sắp sửa ra pháp trường. Ông tả rất tỷ mỷ, nhận xét từ một thái độ cỏn con điển hình về sự chém giết sắp diễn ra, âm thanh ghê rợn của gông cùm, tiếng va chạm của kim khí cọ sát với da thịt:
“...Mọi người chờ đợi một cái gì. Từ phía nhà ngục, mười hai con người chằm chặp tiến tới giữa hai tốp lính áp giải. Bãi cỏ im lìm đến nỗi tiếng gông lũ tù, giây va chạm vào nhau theo một dịp bước rụt rè nghe cứ rõ mồn một như tiếng sênh người chấp hiệu định liệu bước đi cho cỗ đòn đám.
Không biết từ đâu ra, ông Bát Lê đứng sẵn bên cọc tre và trong một lát đã buộc xong bọn người đợi chết vào cọc. Lũ tử tù bị trói rật cánh khủy gối trên mặt đất, khom khom lưng xếp theo hai hàng chênh chếch nhau, chầu mặt vào rạp. Những người giữ phần việc ở bãi đoạn đầu đang bóp họng, nắm xương cổ và tuốt cho mềm sống lưng lũ tử tù. Họ cần ôm thế nào cho tội nhân lúc quỳ phải để được gót chân ngửa đúng vào cái mẩu xương cụt nơi hậu môn. Như thế tử tù sẽ phải rướn mình lên mà nhận lấy lưỡi dao thả mạnh xuống cái cổ căng thẳng. Họ lạnh người dần dần. Sinh khí chừng như đã thoát hết khỏi hồn họ.
Trông xa, họ có cái cứng thản nhiên của những tượng đá tạc hình người Chiêm Thành quỳ trước sân đền vua Lý.
Tiếng nhạc bắt đầu thổi bài Lưu Thủy trường ca gần mãi lại. Rồi trong một giây phút mọi người lắng rõ tiếng sênh tiền. Ai nấy nín thở. Trông ra cờ quạt kín cả nền trời và lính tráng kín cả mặt cỏ. Bụi cát bay mù như lúc có cuộc hành quân. Quan Công sứ mặc đồ binh phục có ngù kim tuyến đi ngang hàng cùng quan Tổng đốc. Hai quan đầu tỉnh – một người đi ghệt – một người đi ủng – đều gò bước đi cho nó ăn nhập, với cái long trọng của pháp trường. Những tên lính tỉnh gầy ốm che sát vào người hai ông lớn mọi thứ tàn vàng tán tía lọng xanh.
Cái quần chúng không dám phạm thượng cúi đầu mặt xuống đất nhìn cỏ may chọc thủng ống quần mình. - Những người sắp bị hành hình kia là dư giặc Bãi Sậy...”
Lòng yêu nước của những đồng chủng phẫn uất trước sự chết đau đớn anh hùng Bãi Sậy, Nguyễn Tuân đã giới thiệu họ với chúng ta họ là anh hùng, chí khí sắt thép như tượng tạc Chiêm Thành quỳ trước đền vua Lý. Nhưng có một điều, tả lòng yêu nước sơ sài; thiếu trầm mặc, nghiêm trang, và lại quá ôn hòa. Nguyễn Tuân tả cái chết ấy đúng phải rất khinh bạc, kiêu sa. Kết thúc Chém treo ngành, Nguyễn Tuân động viên tiềm thức người đọc với giọng văn căm thù:
"...Lúc quan Lưu trú gần cầm mũ áo trở về Tòa sứ, quan Đổng Lý quân vụ còn ân cần buộc ông thông ôn Nam Kỳ dịch cho đủ câu này:
- Bẩm quan lớn, chém treo ngành như thế này phải lựa vào những lúc việc quân quốc thanh thản số tử tù ít ít thôi. Vào những lúc nhốn nháo quá, tử tù đông quá, thì ty chức đã có cách khác. Là chẻ đôi cây tre đực dài cặp vào cổ tử tù xếp hàng và nối đuôi quỳ hướng về một chiều. Đại để nó cũng như là cái lối cặp gắp chả chim mà nướng ấy. Rồi Bát Lê sẽ cầm gươm mà dóc ngang như người ta dóc mía.
Lúc quan Công sứ ra về, khi lướt qua mười hai cái đầu lâu còn dính máu vào cổ người chết quỳ kia, giữa pháp trường sắp giải tán nổi lên một trận gió lốc xoáy rất mạnh. Thường những lúc xuất quân bất lợi, tưởng cơn gió lốc cuốn gãy ngọn cờ súy, hút cát bụi lên, xoay vong quanh đám tử thi.
Bấy giờ vào khoảng giữa giờ thân…”
Nguyễn Tuân không xui người đồng chủng làm cách mệnh, chính giọng văn căm thù và chính sự không cần kết thúc đổ xương máu; thì bất cứ ai đã đọc xong đoạn văn có giòng máu muốn bảo tồn giòng giống, quê hương đều đi đến kết luận làm cách mệnh.
Đến Người tử tù, Nguyễn Tuân tả vẻ hiên nganh tên tù ấy. Đi sâu vào hành động tâm tư, phân tích tâm sự một kẻ khinh bạc kiêu sa trước cái chết, vì chính bản thân đã thất bại. Không trả nợ cho đất nước được, Huấn Cao, người tử tù ấy vẫn còn tác phong hiên ngang, cũng như viên quản ngục, vì thừa lệnh phải thực hiện những gì là: khi sống không oán nhau, chết không oán nhau. Độc giả không được thưởng thức phút rùng rợn như Chém treo ngành; và hiểu được chiều sâu tâm tư thầm kín viên quản ngục lẫn kẻ tử tù. Tả chòi canh tử tù, Nguyễn Tuân viết:
“...Tiếng trống thành phủ gần đây đã bắt đầu thu không. Trên bốn chòi canh ngục tốt cũng bắt đầu điểm vào cái quạnh quẽ của trời đất tối mịt những tiếng kẻng và mõ rất đều đặn và rất thưa thớt. Lướt qua cái thăm thẳm của nơi cỏ đẫm sương, vẳng từ một làng xa đưa lại mấy tiếng chó cắn ma. Trong khung cửa sổ có nhiều con song kẻ những nét đen và thẳng lên nền trời lốm đốm tinh tú, một ngôi sao hôm nhấm nháy như muốn trút xuống phía chân trời không định. Tiếng dội chó sủa ma, tiếng trống thành phủ, tiếng kẻng mõ canh nổi lên nhiều nhiều. Bấy nhiêu âm thanh phức tạp bay cao lẩn lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị từ biệt vũ trụ…”
Nguyễn Tuân tả cảnh trên đây thật đẹp, văn phong bay bướm, ý trầm thoang thoảng, cảnh nên thơ; vũ trụ phóng túng đến tận trăng sao. Những nốt nhạc trầm bản đàn ảo não, u buồn, sầu dằng dặc, đau khổ mênh mông đất nước thiếu tự do lắng sâu vào lòng người đọc. Tả gông cùm lim nặng của tử tù đeo, ông châm biếm vô cùng cay đắng:
“...Sáu phạm nhân đều mang chung một chiếc gông dài đến tám thước. Cái thang gỗ lim nặng, đóng khung lấy sáu cái cổ phiến loạn, nếu đem ra cân có thể nặng đến bảy tám tạ. Thật là một cái gông đã cũ và mồ hôi cổ mà tay kẻ phải đeo nó đã phủ lên một nước sơn bóng nhoáng. Những đoạn gông đã bóng thì loáng như có người đánh bằng lá chuối khô. Những đoạn không bóng thì sỉn lại những chất ghét đen xanh...”
Tả lính áp giải tử tù, tác giả vẽ lại tác phong chú đầu bếp thời phong kiến: đỏng đảnh, hóm hỉnh, kiêu ngạo mà nào có biết chỉ hơn lính lệ một bậc:
“...Các người chả tập nữa. Mai mốt chi đây sẽ có người sành sỏi dẫn các người ra làm trò ở pháp trường. Bấy giờ tha hồ mà tập. Đứng dậy, không ông lại phết cho mấy hèo bây giờ…”
Về cách dửng dưng tử tù thì hiên ngang đến độ:
“...Huấn Cao lãnh đạm, không thèm đáp chỉ chúc mãi gông nặng xuống thềm đá tảng, khom mình thúc mạnh đầu thành gông xuống đấy đánh thuỳnh một cái. Then ngang chiếc gông bị giật mạnh đập vào cổ năm người sau làm cho họ nhăn mặt. Một trận mưa rệp đã làm nền đá xanh nhạt lấm tấm những điểm nâu đen (…) Khi nói câu mà ông cố ý làm ra khinh bạc đến đâu, ông Huấn đã đợi trận lôi đình báo thù và những thủ đoạn tàn bạo của quan bị sỉ nhục. Nhưng cái chết chém ông còn chẳng sợ nữa là những trò tiểu nhân thị oai này. Ngục quan đã làm cho ông Huấn bực mình thêm khi nghe xong câu trả lời, y chỉ nhã nhặn lùi ra với một câu “Tôi xin lĩnh ý”. Và từ hôm ấy cơm rượu vẫn lại đưa đến đều và có phần hậu hơn trước nữa, tuy chỉ có y là không hề để chân vào buồng giam ông Huấn. Ông Huấn càng ngạc nhiên nhiều nhiều: năm bạn thân của ông cũng đều được biệt đãi như ông…”
Nguyễn Tuân có ý tả cho người đọc hiểu được rằng quản ngục mến tài Huấn Cao, không chỉ là đảng viên phản nghịch chống triều đình ở mạn Sơn Tây, mà còn là nho sĩ văn hay chữ tốt. Bao nhiêu lần y hy vọng tử tù dịu bớt tính nết, để y nhờ Huấn Cao viết cho y mấy chữ trên tấm lụa trắng mua sẵn. Nguyễn Tuân diễn tả vai trò y, một tên quản ngục còn biết chuộng văn hay chữ tốt, còn biết kính trọng giá trị nho sĩ; hơn nữa cũng là để đưa giá trị của nho sĩ tài giỏi nhưng không bao giờ thèm còng lưng ham quan tước, mua danh vọng hão huyền:
"...Biết đọc vỡ nghĩa thánh hiền từ ngày nào, cái sở nguyện của viên cai ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao: đẹp lắm, mộng lắm. Tính ông khoảnh, từ chỗ tri kỷ, ông ít chịu cho chữ. Có được chữ ông Huấn mà treo là một vật báu trên đời. Viên quản ngục khổ tâm nhất là làm thế nào xin được chữ. Không can đảm giáp mặt một người xa cách y hàng bao nhiêu thế kỷ tài học, y chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình thì cái thèm muốn kia chỉ là một cái mộng...”
Tới quan Hình bộ Thượng Thư bắt giam tử tù đưa vào Kinh, Nguyễn Tuân tả tâm trạng viên quản ngục lo âu, sợ không bao giờ còn xin được chữ người tài giỏi ấy! Với cách tả và giọng văn lưu loát, ý tưởng xúc tích:
“...Viên quản ngục vốn đã tìm được thầy thơ lại, cho gọi lính lên kể rõ tâm sự mình. Thầy thơ lại cảm động nghe xong chuyện, nói được một câu: “Dạ bẩm ngài yên tâm, đã có tôi”. Rồi ù té chạy…”
Bây giờ được thưởng thức lần cuối cảnh tử tù chính là nghĩa sĩ văn hay sắp hạ hút. Khiến Nguyễn Tuân chạnh nhớ đến, để rồi cho người đọc cùng nghĩ đến: Muốn cho Lý Bạch đề thơ./ Kẻ nâng nghiên bút người đưa mực Tàu”:
"...Trong một không khí khói tỏa như đám cháy, ánh sáng tỏ ngòm của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lằn hồ. Khói bốc tỏa cay mắt làm họ dụi mắt lia lịa. Một tên tử tù đeo gông, chân vướng siềng đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng thẳng trên mặt ván. Tên tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa ong. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu nước…”
Đến Những chiếc ấm đất, Nguyễn Tuân cho thấy hai cảnh tượng: cụ Sáu với tháng ngày phiêu lưu và ngày tàn tạ. Nhân vật của ông, dù ở hoàn cảnh nào, cũng khinh bạc đời, muôn mầu, muôn vẻ khác nhau. Khi phú quí, cái phú quý của nho sĩ hiền triết, thanh cao và đến khi tàn lụi, cũng vẫn mang nặng trong tâm hồn và ngoài cuộc đời nghĩa khí cho dầu chịu ảnh hưởng tinh hoa lẫn hậu họa cửa Khổng sân Trình ở buổi giao thời va chạm với văn minh Tây Phương. Ông viết tâm trạng ông Sáu của tháng ngày phong lưu nhất mực:
“...Ông cụ Sáu tỳ tay vào thành giếng nhờn nhờn rêu xanh, chỉ ngón tay xuống lòng giếng sâu thăm thẳm gần đến hai con sào và nói: “Chùa nhà ta có cái giếng này quý lắm. Nước rất ngọt. Có lẽ tôi nghiện trà tàu vì nước giếng nhà chùa đấy. Tôi sở dĩ không đi đâu xa được là vì không đem theo được nước giếng này đi để pha trà. Bạch sư cụ, sư cụ nhớ hộ tôi câu thế này. Là giếng nhà chùa mà cạn thì tôi sẽ không cho người nào muốn xin bộ đồ trà quý của tôi, chỉ có nước giếng đây là pha trà không bao giờ lạc mất hương vị. Mà bạch cụ, chúng tôi không hiểu tại sao ngọn đồi này cao mà thủy lại tụ. Địa thế chùa này xem có thể dụng võ được”.
Đến ngày tàn tạ cuối cùng Nguyễn Tuân viết:
“...Phải bây giờ ông Cụ Sáu sa sút lắm rồi. Bây giờ ông cụ lo lấy bữa cơm cũng khó, chứ đừng nói đến chuyện uống trà tàu. Thỉnh thoảng có xin được người nào quen một vài ấm trà, cụ lấy làm quý lắm: gói giấy dắt kỹ trong mình, đợi lúc nào vắng vẻ một mình đem ra pha uống. Vốn cái thói phong lưu, nhiều khi qua chơi ao sen nhà ai, gặp màu hoa nở cụ lại cố bứt lấy ít nhị đem ướp luôn vào gói trà dắt trong mình, nếu đây là trà mạn cũ…”
Nhân vật Nguyễn Tuân luôn trung thành kiếp phận đa mang trong đời cho đến chót. Ông Sáu trong Những chiếc ấm đất tàn tạ đến hồi phải xin trà uống, bây giờ bản rẻ ấm ở phiên chợ trước, cất nắp dành phiên chợ sau được giá hơn. Con cháu Khổng Nho đến thời tàn lụi vật chất:
“...Có thế mới được giá. Có cái thân ấm rồi, chẳng nhẽ không mua cái nắp vừa vặn sao? Bán thân ấm, rồi đến lúc bán nắp ấm, mới là lúc bán giá đắt...”
Có thể nói rằng Nguyễn Tuân đã được chứng kiến đời tàn lụi gia phong, bạn cụ thân sinh ra ông, thế hệ giao thời. Thân sinh tác giả là ông Tú nho sĩ chán đời, lịch lãm, hào hao từ huyết thống tồn truyền. Và Nguyễn Tuân chứng kiến cảnh sống, được kể lại rất tỷ mỷ sẵn trong mình nghiệp văn chương, ông đem kinh nghiệm rất sống ấy cùng gia phong, cộng thêm năng khiếu văn chương phong phú, kết tụ trong Vang bóng một thời.
Nhìn cảnh sa sút của gia đình quan Án, chỉ còn lại chị Tú, cậu Chiêu và cụ Hổ, thầy địa lý là bạn quan Án ngày xưa. Thú tiêu dao thầy bói từ làng nay sang làng khác, chọn đất, tìm gia đình phúc đức có đất hướng thượng, để mồ mả cho họ thì ngày sau sẽ phát xán lạn. Cảnh nào đẹp hơn ông Tiên trần giới đi ban ân và hạnh phúc cho loài người.
Cậu Chiêu và chị Tú sa sút thê lương, được Nguyễn Tuân ghi lại cảnh nghèo đến mức thấp tuyệt đối: “..Rồi cậu Chiêu vẫn không quen cái cảnh màn trời, chiếu đất của ngày bé bỏng. Dưới cái màn trời triền miên, những kinh động ngời sợ ánh sáng tối và ẩm ướt của rừng tị nạn đổ xuống một cái đầu xanh đang ngậm chùm tóc mới vừa tơ mà đã nhuộm mầu tang. Trên cái chiếu đất dằng dặc mùi côi cút, một cặp chân có khóa bạc vòng vàng đang in đôi gót đỏ như son lên cái rêu nhầy nhờn của ngày đau khổ và lẩn lút. Có những ngày liên tiếp cậu Chiêu và chị, cô Tú phải nấu củ rừng ăn với cháo chó, những con chó trung thành cũng theo chủ vào ruột rừng Hưng Hoá..."
Cô Tú trong Ngôi mả cũ, Nguyễn Tuân cho người đọc mến và kính nhân vật. Nàng hy sinh hạnh phúc riêng tư nuôi em hy vọng em nối được nghiệp gia đình. Vài ba nét nói về cô Tú, Nguyễn Tuân mê say người đọc qua giọng cô đọng đầy chân thành:
“...Với cô Tú, cuộc đời đến giờ đã hết tất cả xán lạn rồi. Bởi vì đời đã sớm đòi hỏi cô nhiều về bổn phận. Cô nhất định không đi lấy chồng và vui lòng sống vậy cho đến lúc nào cậu Chiêu đi thi được và làm nên được. Ở trong cảnh côi cút với sự thanh bạch. Cô Tú ngày ngày dệt vải, khâu thuê vá mướn cho người hàng xóm và những lúc rỗi tay thôi thì cô lại lên tiếng ngầy ngà đến người em lúc quên mất chữ sách hay là bỏ dở một trang quyển bài viết. Cái bây giờ của cô Tú đã là không đáng kể và chỉ có sống bằng mộng cho về cái mai sau của cậu Chiêu. Dưới cái quang đèn dầu bông, nhiều khi người dem đã rầu lòng tỏ lời hối lỗi, vì những lúc làm phiền lòng cô Tú mà cậu coi là mẹ, một người mẹ rất trẻ, đầy âu yếm và thừa thãi kỳ vọng nơi mình..."
Cái đáng quý hy sinh tuổi trẻ bản thân để gây dựng cho em cô Tú, giữa xã hội đầy rẫy giả dối, lừa lọc, đảo điên, thì thủy chung hy sinh như cô Tú càng đáng quý hơn nữa; coi như kinh nhật tụng cho ai muốn tránh khỏi cảnh đời bỉ ổi, nhố nhăng. Cô Tú ngoài việc nuôi em vẫn không quên thăm mồ mả thân phụ. Cảnh rau cháo nuôi thầy địa lý, cụ Hổ Viễn, bạn cũ quan Án thuở bình sinh thật làm cho người đọc mủi lòng. Đây là đoạn cuối của đời thầy địa lý trước kia là quân Cờ Đen từ giã gia đình có hai chị em mà chị như là một nàng Tiên:
“...Ngày mai, tôi xuống thăm lại cái kiểu đất ở Đồng Cồn. Xong rồi tôi xuôi luôn Hà Nội. Tháng sau tôi sẽ về qua đây để chỉ bao xoay lại ngôi mộ. Cô đừng nên nói chuyện tạ ơn. Còn về lâu dài, đáng lẽ bộ chén ngọc tôi không nhận đâu. Lấy những cái gì là gia bảo của người, làm của mình là một cái tội. Nhưng vì nghĩ rằng trong lúc chị em cô còn nhỏ tuổi chưa chắc giữ nổi, thiếu gì kẻ nhòm ngó. Thôi tôi cũng giữ hộ cho cô cậu. Độ mười năm sau, lúc đất có thể phát được rồi, tôi sẽ trở lại đây. Lúc bây giờ tôi sẽ trả lại cô Tú và cậu Chiêu bộ chén ngọc lựu. Cụ Án nhà lúc sinh thời quý nó lắm. Đi lại với cụ luôn luôn, mà cụ nhà chỉ mang chén ra dùng với tôi có hai lần. Nếu tôi không sống được đến ngày đó, mấy đứa con tôi xem chừng cũng bạc lắm. Có lẽ là đến đời con tôi là không còn gì nữa. Cô Tú và cậu Chiêu nhờ hộ tôi câu nói chi tình này…”
Truyện Vang Bóng Một Thời là tập sách văn chương chép giấc mơ đẹp quá vãng. Đọc xong, người đọc có cảm giác rằng vừa qua một cơn mộng tuyệt đích thú vị, ở một thế giới đã xa hẳn thế giới chúng ta. Như một bộ đồ tra ngọc chén lựu, trên và dưới, xung quanh còn vết chạm trổ nét tuyệt mỹ từ thế kỷ xa xôi. Mộng đẹp đến chừng nào, cũng không thể không có ác mộng, thì cái ấy không khiến cho ta hoàn toàn được hưởng thuyết vị, cái đẹp và cái gợn làm giảm đẹp, tôi muốn nhấn mạnh đến văn chương Nguyễn Tuân. Chúng ta không nên và không có quyền đòi hỏi quá nhiều ở một thiên tài Nguyễn Tuân, văn chương sự nghiệp gần như ngọc toàn bích. Trong Vang bóng một thời, hầu hết chuyện hay, trội như nhau cả: Ném bút chì, Hương cuội, Chén trà trong sương sớm, Một cảnh thu muộn. Âm hưởng thế hệ qua lâu rồi. Thế hệ quan lại, nho sĩ, Nguyễn Tuân ghi lại gần như đầy đủ, từ bước giang hồ kỳ thú của Cụ Hai đầy nho nhã khí phách, cho đến cảnh bỉ ổi khinh thị quan Tổng Đốc trong Chém treo ngành, đến Huấn Cao, tên tử tù đều có nét tao nhã riêng. Đáng lẽ phải dành cho Nguyễn Tuân nhiều trang hơn nữa, để phân tích cái hay trong văn chương Nguyễn Tuân. Đọc Một cảnh thu muộn tưởng chừng như lạc vào thế giới đầy đủ cảnh nên thơ, sống bình thản trong tâm hồn, thanh cao tư tưởng thuần khiết. Thế giới nào đầy rẫy ảnh hình tao nhã đạo Nho, của văn chương, nghĩa lý nào đã hết. Làm sao người đọc không thèm tiếc sống ở địa ngục văn minh vật chất làm lạc mất nhân bản.
Còn truyện cổ tích của Nguyễn Tuân, đề cao tiểu công nghệ quê hương một cách rất văn chương, nghĩa lý của nghề làm giấy bản họ Chu và cô Dó Thần trong truyện ngắn Xác Ngọc lam, một sự thêu dệt về một giai thoại rất đẹp của trang văn chương quý báu. Giấy dó Hà đông trong Xác Ngọc lam còn mai mỉa bọn thư lại yếu hèn như Maxime Gorki mai mỉa lính Cosaques yếu đuối trong Chuyện nàng tiên và anh chàng mục đồng (La petite fée et le jeune pâtre). Xác Ngọc lam có hơi văn Liêu trai, nhưng là truyện ngắn đẹp, cả hình thức lẫn văn chương biền ngẫu, nội dung đề cao quê hương. Nguyễn Tuân đạt được mục đích văn chương trong truyện cổ tích này.
Trong kháng chiến, Nguyễn Tuân viết được nhiều truyện tách riêng trong cái chung áp đặt tuyên truyền; như tâm bút Gió Lào, có thể liệt vào tâm bút kiệt tác. Là nhà văn thiên tài như Nguyễn Tuân; lịch sử văn chương Việt Nam ghi tên hàng đầu trong nhà văn hàng đầu thật xứng đáng.
Trích văn:
NHỮNG CHIẾC ẤM ĐẤT
Sư cụ chùa Đồi Mai nhìn thấy bóng nắng đã đúng đỉnh đầu, thủng thẳng trở về trai phòng. Nhà sư già gỡ chiếc nón tu khỏi đầu, sắp ngồi vào thụ trai thì có tiếng con trẻ gọi ở ngoài cổng chùa. Một chú tiểu lễ phép bước lên tam cấp:
- Bạch cụ, có người con trai cụ Sáu xin vào.
- Vậy chú vẫn đóng cửa chùa sao? Chú ra mở mau không có người ta phải đứng nắng lâu. Cổng nhà chùa bao giờ cũng nên để ngỏ. Từ giờ chú nên nhớ: Sáng sớm, tụng kinh nhật tụng và thỉnh chuông xong là phải mở rộng cửa chùa và tối đến, lúc nào học xong kệ thì mới đóng. Kẻo nữa khách thập phương dị nghị.
Tiểu ra được một lát thì một người con trai trạc mười bẩy tuổi, xúng xính trong chiếc áo dài thâm, chân xéo lấm, tay bưng cái khay tiến vào tăng xá, vái sư cụ:
- Bạch cụ, thầy con cho con mang xuống biếu cụ bình trà đầu xuân. Và xin phép cụ cho ra giếng chùa nhà gánh một gánh nước.
Nhà sư già đã quen với việc biếu xén và xin nước này ở dưới cụ Sáu, khẽ cất tiếng cười. Trên khuôn mặt khô sác, nụ cười không có gì là ấm áp, là thiết tha. Nó chỉ đủ là hiền lành thôi.
- Thế cháu đựng nước bằng cái gì?
- Dạ, có người nhà quảy nồi và gánh đi theo còn chờ ở ngoài.
- A Di Đà Phật! Nắng này mà đi từ làng trên xuống tận đây lấy nước, cụ Sáu nhà có công quá. Cháu ngồi nghỉ chân đã. Để già bảo chú tiểu đưa tên bộc ra giếng. Cháu đi từ sớm, chắc bây giờ đã ngót dạ rồi: sẵn oản chuối vừa hạ xuống, già ép cháu thụ một ít lộc Phật.
- Bạch cụ, cháu ăn mặn ở nhà vẫn còn lửng dạ.
Sư phụ chùa Đồi Mai không nài thêm và vẫn chỉ cười rất thuần hậu.
- Cháu có biết cụ Sáu nhà đến xin nước ở chùa đây đã mấy năm rồi không? Gần mười năm. Uống trà tầu như thầy cháu thì cũng có một. Cứ nước giếng chùa đây mới chịu pha trà. Lắm lúc già tự hỏi về cái tiền thân của thầy cháu xem là như thế nào? Nghĩ đến cái nhân duyên của thầy cháu với nhà chùa đây, thực cũng là bền và kỳ lắm cháu ạ!
Thoáng thấy tên lão bộc đã quảy xong gánh nước đang ngơ ngác tìm mình và làm ướt cả khoảng giữa sân chùa lát toàn đá tảng xanh, người con cụ Sáu, với cái từ tốn của một thư sinh ngồi hầu chuyện bậc phụ chấp đã xuất gia, liền vội vàng đứng dậy xin phép về.
- Bạch cụ, cháu vội phải về, vì ở nhà hôm nay có khách uống trà. Có lẽ thầy cháu ở nhà đang mỏi mắt chờ gánh nước.
Nhà sư già cũng vội theo bọn xin nước ra tới thềm ngoài. Sư cụ rút trong tay áo vải rộng ra một chiếc quạt thước, xòe rộng hết cả nan quạt, nghiêng che đầu cho đỡ nắng và bảo chú tiểu:
- Chú chạy mau ra vườn bẻ mấy cành lá đào.
Rồi cụ giữ con cụ Sáu lại:
- Ấy, ấy, thong thả một chút. Thả mấy cành đào có lá vào nồi nước, lúc gánh đi đường xa nó đỡ sóng ra ngoài và về đến nhà, nước vẫn mát.
Bọn xin nước vái chào nhà sư. Trên con đường đất cát khô, nồi nước tròng trành theo bước chân mau của tên lão bộc gánh rỏ xuống mặt đường những hình ngôi sao ướt nối nhau trên một quang đường dài ngoằn ngoèo như lối đi của loài rắn vì buổi trưa hè này là một đêm có bóng trăng giải lạnh lùng và vì cổng chùa Đồi Mai là một cửa non đào thì những giọt sao kia có đủ cái thi vị một cuộc đánh dấu con đường về của khách tục trở lại trần sau khi chia tay cùng chúa động.
Ánh nắng già dặn buổi trưa nung đốt mặt cánh đồng dưới chân đồi, làm rung rinh lớp không khí bốc từ mặt đất vá giống như vệt khói nhờ nhờ vờn qua những màu xanh bóng loáng của một dãy xóm làng cây cối im lìm. Đứng trong cổng chùa từ bề cao nhìn xuống cái thấp dưới chân mình, nhà sư già hấp háy cặp mắt, nhìn cái nắng sáng lòa. Bọn người xin nước chỉ còn là mấy cái chấm đen, mỗi lúc cử động lại làm tung lại phía sau mình một chùm cát bụi mờ mờ. Gió nồm thổi mạnh nhiều cơn đã đem cả mảnh bụi trần kia vào lọt cổng ngôi chùa cao ráo. Nhà sư nghĩ đến cụ Sáu và thở dài tỏ ý tiếc cho một kiếp chúng sinh vướng phải vòng nghiệp chướng.
Cụ Sáu vốn đi lại với chùa đây kể ra đã lâu lắm, từ trước hồi nhà sư già tới trụ trì. Mấy cái pho tượng Phật Tam Thế bằng gỗ mít đặt ở trên bệ và mấy pho kinh in giấy đại thừa là của cụ Sáu cúng đã có từ lâu. Cái chuông treo ở trên nhà phương trượng cũng là của ông cụ Sáu cúng vào hồi trùng tu lại chùa đấy. Và mỗi lần nhà chùa lập phả khuyến thí, ông cụ Sáu đứng đầu sổ. Chùa Đồi Mai vốn ở xa làng mạc và biệt lập trên một khu đồi nên cũng ít bị phiền nhiễu bởi bọn tạp khách. Thỉnh thoảng trong bọn khách đến chơi, ông cụ Sáu được sư cụ biệt đãi nhất. Độ một tháng một lần, nhà sư già lại giữ ông cụ Sáu lại ăn một bữa cơm chay và lần nào từ biệt, nhà sư cũng chân thành tặng khách một giò Chu Mặc Lan. Thường mỗi lần gặp gỡ, thế nào hai ông già cũng kéo nhau ra cái giếng nước chuyện vãn rất lâu. Nhà sư rất ít nhời thường hay trầm tĩnh ngắm bóng mình trong lòng đáy giếng. Cái bóng nhà sư già ít khi được đậu hình cho lâu trong phiến gương nước giếng mát lạnh: Chốc chốc một vài giọt nước ngọt lại rời mạch đá tổ ong, thánh thót rớt xuống, tiếng kêu bì bõm. Ông cụ Sáu tỳ tay vào thành giếng nhờn nhờn rêu xanh, chỉ ngón tay xuống lòng giếng sâu thăm thẳm đến gần hai con sào và nói: “Chùa nhà ta có cái giếng này quý lắm. Nước rất ngọt. Có lẽ tôi nghiện trà tàu vì nước giếng chùa nhà đây. Tôi sở dĩ không đi đâu xa được là vì không đem theo được nước giếng này để pha trà. Bạch sư cụ, sư cụ nhớ hộ tôi câu này: là giếng chùa nhà mà cạn thì tôi sẽ cho không người nào muốn xin bộ đồ trà rất quý của tôi. Chỉ có nước giếng đây là pha trà không bao giờ lạc mất hương vị. Mà bạch cụ chúng tôi không hiểu tại sao ngọn đồi này cao mà thủy lại tụ. Địa thế chùa này, xem có thể dụng võ được…”. Chừng như sợ cụ Sáu bàn rộng tới những chuyện không nên trao đổi với kẻ tu hành đã lánh khỏi việc đời sống rồi, sư cụ vội nói lảng sang chuyện mấy cây mít nhà chùa năm nay sai quả lắm và kéo ông cụ Sáu vào trai phòng dùng một tuần nước. Theo một ước lệ rất đáng yêu đặt ra từ ngày mới làm quen với nhau, đã mươi năm nay, bao giờ uống nước trà của nhà chùa, ông cụ Sáu cũng được cái vinh dự pha trà và chuyên trà thay chủ tự.
Dạo này, chắc ông cụ Sáu bận việc nhiều nên đã mấy tuần trăng rồi mà không thấy vãn cảnh chùa uống nước thăm hoa, để cho sư cụ cứ nhìn thấy chậu Mặc Lan giò trổ hoa mà tặc lưỡi mỗi khi cùng bất đắc dĩ phải ngắt cắm vào lọ con. Dạo này cụ Sáu chỉ cho người nhà xuống xin nước giếng thôi. Và trưa hôm nay lúc lặng ngắm hai thầy trò người con ông cụ Sáu đem nước ra khỏi chùa, lúc trở vào, nhà sư già thở dài cùng sư bác chờ đấy:
- Ông cụ Sáu này, nếu không đam mê cái phong vị trà tầu, đam mê đến nhiều khi lầm lỗi, nếu ông ta bỏ được thì cũng thành một ông sư tại gia. Danh và lợi, ông ta không màng. Phá gần hết cơ nghiệp ông cha để lại, ông ta thực đã coi cái phú quý nhãn tiền không bằng một ấm trà tầu. Nhưng một ngày kia, nếu không có trà tầu mà uống nữa thì cái ông cụ Sáu này sẽ khổ đến bậc nào. Phật dạy rằng hễ muốn là khổ. Biết đâu trong bốn đại dương nước mắt chúng sinh của thế giới ba nghìn sau đây lại chẳng có một phần to nước mắt của một ông già năng lên chùa xin nước ngọt về để uống trà tầu. Mô Phật!
Ông cụ Sáu, hôm nay lấy làm thích cái người khách lạ đó lắm. Vì người khách vừa kể cho chủ nhân nghe một câu chuyện cổ tích. Lê trôn chén vào lợi chiếc đĩa cổ vài ba lần, khách kể:
– Ngày xưa, có một tên ăn mày cổ quái. Làm cái nghề hành khất là phải cầm bằng rằng mình không dám coi ai là thường nữa; thế mà hắn còn chọn lựa từng cửa rồi mới vào ăn xin. Hắn toàn vào xin những nhà đại gia thôi và cố làm thế nào cho gặp được mặt chủ nhân rồi xin gì thì hắn mới xin. Có một lần hắn lần vào đến nhà một nhà phú hộ kia giữa lúc chủ nhân cùng một vài quý khách đang ngồi uống trà buổi sớm. Mọi người thấy hắn mon men lên thềm, và ngồi thu hình ở chân cột một cách ngoan ngoãn, mọi người không nói gì cả để xem tên ăn mày định giở trò gì. Hắn chả làm gì cả, chỉ nhìn mọi người khoan khoái uống trà. Hắn đánh hơi mũi, và cũng tỏ vẻ khoan khoái hít được nhiều hương trà nóng tản bay trong phòng. Thấy mặt mũi tên ăn mày đã đứng tuổi không đến nỗi bẩn thỉu quá, chủ nhân bèn hỏi xem hắn muốn xin cơm thừa hay canh cặn, hay là hơn nữa, hắn còn muốn đòi xôi gấc. Hắn gãi tai, tiến gần lại, tủm tỉm và lễ phép xin chủ nhân cho hắn uống trà tầu với! Mọi người tưởng hắn điên. Nhưng tại sao không ai nỡ đuổi hắn ra và còn gọi hắn lại phía bàn cho hắn nhận lấy chén trà nóng. Hắn rụt rè xin lỗi và ngỏ ý muốn được uống nguyên một ấm trà mới kia. Hắn nói xong, dỡ cái bị ăn mày của hắn, cẩn thận lấy ra một cái ấm đất độc ẩm. Thấy cũng vui vui và lạ lạ, mọi người lại đưa cho hắn mượn cả khay trà và phát than tầu cho hắn đủ quạt một ấm nước sôi, thử xem hắn định đùa với bọn họ đến bực nào mới chịu thôi. Hắn xin phép đâu đấy rồi là ngồi bắt chân chữ ngũ, tráng ấm chén, chén trà từ chén tống sang chén quân, trông xinh đáo để. Lúc này không ai bảo hắn là ăn mày, mặc dầu quần áo hắn rách như tổ đỉa. Uống một chén thứ nhất xong, uống đến chén thứ nhì, bỗng hắn nheo mắt lại, chép môi đứng dậy, chắp tay vào nhau mà thưa với chủ nhân:
"Là thân phận một kẻ ăn mày như tôi được các ngài cao quý rủ lòng thương, thực kẻ ty tiện này không có điều gì dám kêu ca nữa. Chỉ hiềm rằng bình trà của ngài có lẫn mùi trấu ở trong. Cho nên bề dưới chưa được lấy gì làm khoái hoạt lắm”.
Hắn lạy tạ, tráng ấm chén lau khay hoàn lại nhà chủ. Lau xong cái ấm độc ẩm của hắn, hắn thổi cái vòi ấm rất kỹ lưỡng, cất vào bị; thế rồi xách nón, xách gậy, vái lại chủ nhân và quan khách xong hắn tập tễnh lên đường. Mọi người cho là một thằng điên không để ý đến. Nhưng buổi chiều hôm ấy cả nhà đều lấy làm sợ tên ăn mày vì ở lọ trà đánh đổ tung vãi ở mặt bàn, chủ nhân đã lượm được ra đến mươi mảnh trấu.
Ông cụ Sáu nghe khách kể đến đấy thích quá vỗ đùi khách mà kêu:
- Giá cái lão ăn mày đó sinh vào thời này thì tôi mời hắn ta đến ở luôn với tôi để sớm tối có nhau và thưởng thức trà ngon. Nhà này phần nhiều lại toàn là ấm song ẩm quý.
- Cổ nhân cũng bịa ra một truyện cổ tích thế để làm vui thêm cái việc uống một tuần trước đấy thôi, chứ cụ tính làm gì ra những thứ người ấy. Ta chỉ nên cho nó là một câu giai thoại.
- Không, có thể như thế được lắm mà. Tôi chắc cái lão ăn mày này đã tiêu cả một sản nghiệp vào rừng trà Vũ Di Sơn nên hắn mới sành thế và mới đến nỗi cầm bị gậy. Chắc những thứ trà Bạch Mao Hầu và trà Trảm Mã, hắn cũng đã uống rồi đấy ông khách ạ. Nhưng mà ông khách này, chúng ta phải uống một ấm trà thứ hai nữa chứ. Chả nhẽ nghe một câu truyện thú như thế mà chỉ uống với nhau có một ấm thôi sao?
- Thế rồi trong khi cụ Sáu tháo bã trà vào cái bát cổ rộng miệng vẽ Liễu Mã, ông khách nâng cái ấm quần ẩm lên, ngắm nghía mãi và khen:
- Cái ấm của cụ quý lắm đấy. Thực ra là ấm Thế Đức màu gan gà. “Thứ nhất Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”. Cái Thế Đức của cụ cao nhiều lắm rồi. Cái Mạnh Thần song ẩm của tôi ở nhà mới dùng nên cũng chưa có cao mấy.
Cụ Sáu vội đổ hết nước sôi vào ấm chuyên, giơ cái ấm đồng cò bay vào sát mặt khách.
- Ông khách có trông rõ mấy cái mấu sùi ở trong lòng ấm đồng không? Tầu nó gọi là cái kim hỏa. Có kim hỏa thì nước mau sủi lắm. Đủ năm cái kim hỏa đấy.
- Thế cụ có phân biệt thế nào là nước sôi già và nước mới sủi không?
- Lại “ngư nhãn, giải nhãn” chứ gì. Cứ nhìn tăm nước to được bằng cái mắt cua thì là sủi vừa và khi mà cái tăm nước to bằng cái mắt cá thì là nước già chứ gì nữa.
Chủ khách cả cười uống thêm mỗi người hai chén nữa. Cụ Sáu tiễn khách ra cổng với một câu:
- Thỉnh thoảng có đi qua tệ ấp, xin mời ông khách ghé thăm tôi như một người bạn cũ; mỗi lần gặp, ta lại uống vài tuần nước. Hà, hà.
Năm ấy nước sông Nhị Hà lên to. Thảo nào mấy nghìn gốc nhãn trồng trên mặt đê quanh vùng, vụ đó sai quả ạ! Cái đê kiên cố đã vỡ. Nhưng vốn ở cuối dòng nước chảy xiết, nhà cửa cụ Sáu chưa đến nỗi cuốn phăng đi. Lúc nước rút, ở cái cổng gạch nguyên vẹn, hai mảnh giấy hồng đều của đôi câu đối dán cửa vẫn còn lành lặn và nét chữ vẫn rõ ràng:
Họ lịch sự như tiên, phú quý như giời,
Quất con ngựa rong chơi ngoài ngõ liễu.
Ta trồng cỏ đầy vườn, vãi hoa đầy đất,
Gọi hề đồng pha nước trước hiên mai (15)
NGUYỄN TUÂN
(Trích Vang Bóng Một Thời)
Sài Gòn - Chợ Lớn, 30/9/1957
Thế Phong 
Theo https://vietvanmoi.fr/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Truyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt Phùng Cung sinh ra ở làng Kim Lân, xã Hồng Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Như...