Thứ Tư, 26 tháng 11, 2025

Lược sử văn nghệ Việt Nam 2

Lược sử văn nghệ Việt Nam 2

TIẾT 4
NGUYỄN ĐỨC QUỲNH
(1909 -1974)
Tiểu sử:

Ông sinh ngày 20-11-1909 ở Trà Bồ, Hưng Yên. Thuở nhỏ ông học ở nước ngoài, sau đậu kỹ sư điện học. Tác phẩm đầu tay của ông là Sống mà yêu, Bốn biển không nhà, viết về đời sống quân đội Lê dương ở Pháp, Bắc Phi, Trung đông. Tập thơ Mình với Ta tả đời sống chiến sĩ tả đối lập ở Xiêm La, Miến Điện, Ai Lao. Sau về nước, chủ trương Khoa học tạp chí (1931 -33) với Nguyễn Công Tiễn. Từ năm 1934 đến 1934 chủ trương Tiếng Trẻ, Thời Thế, Quốc Gia với Hàn Thuyên, tạp chí Văn Mới. Năm 1945 ông là một chiến sĩ văn hóa kháng chiến, cùng với các nhà văn của nhóm Hàn Thuyên như Nguyễn Đình Lạp, Trương Tửu, Đặng Thái Mai, Phạm Ngọc Khuê, Nguyễn Tuân...
Năm 1952 về Hà Nội, sau vào Huế, Sàigòn. Viết cho báo Đời Mới của Trần Văn Ân, từ đấy đổi bút hiệu: Hà Việt Phương, Hoài Đồng Vọng, Vương Thương Thương, Hoài Nam Hoài, Cung Phúc Chung vv... Cuốn truyện mới nhất vừa xuất bản Ai có qua cầu (ký Hoài Đồng Vọng) (Quan điểm loại mới, 1957).
Tác phẩm:
Nguyễn Đức Quỳnh viết khảo luận, làm thơ, viết tiểu thuyết. Loại biên khảo của ông rất công phu, tỏ ra là nhà văn biên khảo có trình độ và biết áp dụng sự hiểu biết vấn đề viết sách. Năm 1929 xuất bản Ta và Mọi, Phong Trào Tân Kỳ 1920, Các dân tộc lạc hậu miền Thượng du (1930), Khoa học phổ thông 1930, Kỹ nghệ làm pin điện (Giải thưởng Khai Trí Tiến Đức 1932), Nguồn sống Thái cổ, 1942, Ai cập cổ sử, 1943, Cận đông sử, 1943, Tây Phương cổ sử, 1944, Lịch sử thế giới, 1944, và tác phẩm như Mình với Ta (thơ, 1930) Bốn biển không nhà (1930), Những kẻ lạc đường (kịch, Giải thưởng Les Amis de l’Art Saigon 1939), Thằng Cu So (1941), Thằng Phượng, (1941), Thằng Kình (1942), (3 tập) Sắt đã vào lò (1943)… Đến nay, ông cho xuất bản cuốn tiểu thuyết chính trị Ai có qua cầu (Quan Điểm loại mới, 1957) dưới bút hiệu Hoài Đồng Vọng.
Khuynh hướng:
Nguyễn Đức Quỳnh là nhà tiểu thuyết chính trị đúng nghĩa hơn là một nhà tiểu thuyết giáo dục. So những tác phẩm của ông, biên khảo và truyện chính trị luận đề, cả hai loại sáng tác giá trị và khảo cứu cùng một nghĩa, loại nào ông cũng tỏ ra có sở trường. Ông là nhà văn nhạy cảm, tưởng tượng phong phú, vốn học siêu đẳng, biết chế biến hiểu biết, thu thập viết theo lập trường định sẵn nuôi dưỡng trong bộ truyện Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình. Đó là một tập truyện trường giang tự sự đời ông. Thằng Cu So tên của họ Nguyễn Đắc đặt cho đứa bé mới chào đời. Sau đặt tên Phượng. Cho đến ngày làm giấy khai sinh, tên là Nguyễn Đắc Kình sinh ngày 20 tháng 11 năm 1911 ở Trà Bồ, tổng Ba Đông, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên (cùng với ngày sinh và ít hơn hai năm sinh tác giả). Ghi lại tục lệ thôn quê, qua hình tượng sống hào hứng, và ông đả phá mê tín, hủ tục, đôi khi cực đoan quá trớn (nhìn theo con mắt xã hội chủ nghĩa Trotsky) nặng phần lý luận chính trị, nên đôi khi làm giảm giá trị tiểu thuyết một phần nào (nghệ thuật viết truyện chính trị chưa cao độ). Tiểu thuyết của ông chịu ảnh hưởng lối viết Ma vie (Đời tôi) của Léon Trotsky(17); đôi khi thoát được méo mó nghề nghiệp, vì ông viết biên khảo như Ai Cập cổ sử, Lịch sử thế giới… đều có mục đích hướng dẫn người đọc tới lúc nhìn vào sinh hoạt tiến bộ thế giới với con mắt của chủ nghĩa xã hội, để canh tân xã hội.
Phân tích tác phẩm chính.
Điển hình cho tư tưởng văn nghiệp ông, ý chí nung nấu tư tưởng cải tiến xã hội mai hậu, người đọc có thể tìm hiểu ông, nói riêng, Hàn Thuyên, nói chung qua bộ tiểu thuyết chính trị tự luận Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình. Điển hình lập luận tìm hiểu chính trị, quốc gia với quốc tế, người đọc có thể đọc sách biên khảo của ông.
Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình, cuộc đời tác giả và anh em đồng thuyền (sau này) từ khi lọt lòng, đến lúc học lớp nhất tỉnh lỵ Hưng Yên. Đầu tiên, ông muốn đả phá mê tín của dân nông thôn. Không phải lối kêu gào ầm ỹ, nhưng bằng thái độ, hình tượng và rung cảm. Cùng đọc một đoạn, ông nói về hậu quả người đàn bà vượt cạn, truy nguyên từ đâu đến; và cảnh khổ thế nào?:
“...Ai lại mỗi bận chị ta có thể mang thì thôi, cái gì cũng tắc lẻm đả tuốt. Ăn cứ bất thùng chi thình, la liếm tuốt tuột. Rồi thỗng thễnh, chẳng chịu nén cho cái bụng nó bớt sưng sỉa lên. Giải rút bỏ lỏng, đi đâu là cứ phưỡn ra như ôm cái trống cái đại. Lại chẳng chịu mó vào việc gì để cho cái thai nó xắt lại một tý. Thế cho nên lúc đẻ mới bỏ mẹ...”
Ông tả chị Phó Thợn đến thăm bà Ký thằng Phượng như thế nào:
“...Rồi là bò rống lên vang cả xóm làng. Mà kể nó cũng liều thật. Ăn thì cái gì cũng biết ăn, mà lúc đau đớn cái thân xác một tý thì không chịu được.
Ối giời ơi! Mỗi lần nhà chị ta mà giở dạ thì cả tổng cũng biết tiếng. Mà chị ta đã giở dạ năm lượt rồi. Mà bận nào cũng như bận nào hễ quặn đau là cái mồm ngoạc ra, nó khóc, nó mếu, nó lẩm nhẩm như chửi cái đau, chửi đứa con trong bụng và lẽ dĩ nhiên chửi thậm tệ cái người đã làm cho nó đau: “Anh chồng lại là anh chồng lành như củ nâu. Ai đời con vợ nó cứ túm lấy cu cậu nó cấu, nó cắn, nó sỉa sói vào mặt”. Chỉ tại cái mặt mày. Mày làm khổ bà. Bà đã bảo mày, bà đã van lạy mày rằng đừng! Thế nhưng nó có nghe lời tôi đâu, ôi làng nước ơi! Bây giờ tôi khổ thế này thì nó có thương tôi đâu! Nó có đẻ đâu mà nó biết thương người đẻ! Ối chồng ơi là chồng, ôi hàng xóm điếc tai nhức óc… Rồi nó xé áo xé quần, vú vê cứ thỗn thện…”
Nguyễn Đức Quỳnh cho người đọc thấy một xen điển hình của bác Xã, bác Phó ở thôn quê không biết gìn giữ, thiếu kinh nghiệm ngay cả trong bổn phận của người đàn bà. Ông muốn cải tiến họ, bằng nhiều cách của xã hội dành cho họ. Đoạn văn trên, chứng tỏ ông là người nhận xét tỷ mỷ. Song chịu ảnh hưởng lối nhìn sự vật qua nhỡn kính phân tâm học Freud; nhiều khi đem vào văn chương cái thật không đẹp, không làm hài lòng cho thẩm mỹ quan nghệ thuật. Và đoạn trên cũng còn là gián tiếp ca tụng hình tượng mới mà tác giả muốn làm mẫu để tả sự nhẫn nại của bà Ký khi đẻ thằng Cu So:
“… Nghĩ đến chị Phó cắn chồng ấy, các bà lại tấm tắc khen bà Lý tốt nết…”
Ông Ký, chồng bà Ký, nhân vật điển hình người buổi giao thời, từ văn minh Khổng Mạnh đụng chạm với Tây học, tràn nhập vào nước ta của Chính phủ Bảo hộ. Điển hình cá tính, lối sống ông Ký được phô diễn qua hai mặt: chịu ảnh hưởng Nho học đến Tây học. Tân học phá nho học, ông muốn tìm một lối thoát cho con người bị thống trị. Ông phân tích nhân vật điển hình trong xã hội, nhất là vào thời kỳ nhố nhăng. Vì thế, con người ông Ký là con người sống trong lề lối nho học, muốn giữ nghĩa khí nho sinh. Nào trai tài dăm bẩy thiếp, cuộc sống của vợ lẽ không cần đếm xỉa tới: cơm thừa, canh cặn, ngủ nhà ngoài. Nói như lối thơ Hồ Xuân Hương:
“Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung”
Nên Nguyễn Đức Quỳnh diễn tại cảnh đó là thế đấy:
"...Ấy ông Ký đã lấy vợ tỉnh rồi lại có vợ lẽ nhà quê, rồi phải bỏ vợ tỉnh vì "cô ấy không chịu làm lẽ" ai cũng chỉ vì bà Ký mảnh người. Mà bà Ký hai bây giờ đã chịu cực nhọc bao nhiêu năm, mới được ông Ký nhận cho làm đầy tớ không công. Vì mỗi lần có ai hỏi đến bà là bà Cả nói: "Ấy nhà neo người làm nên tôi cho nó về giúp đỡ tôi để hầu hạ thầy nó và các cháu". Mà mỗi lần xích mích với bà Cả về chuyện bà Hai thì ông Ký lại trì triết “bà lấy nó bà mua nó về chứ tôi mua, tôi lấy về, đấy à? Mà bà phải lôi thôi với tôi. Nhưng dù sao bà Hai cũng đã biết ngậm đắng nuốt cay, biết chan cơm bằng nước mắt, luôn mười ba năm trời rồi mới được hai mặt con với ông Ký. Vô duyên cho bà, cái thằng Bờm nó lại lác mắt thành thử cuộc đời buồn tẻ của bà lại buồn thêm, bà chỉ biết cắn răng chịu vậy, chứ biết làm sao?
Bà Hai đành yên phận nuôi con chồng, có phải lại chăm bẳm hơn con mình. Vì đã luôn mười ba năm nay, người ta dạy bà bổn phận kẻ làm lẽ là thế nào phải coi con mình là con thêm, con vợ cả mới chính là con thật. Bà đã bồng bế, nâng niu người con cả bà Ký. Rồi đến người con gái thứ hai, bà cũng lại bú mớm vì cùng năm bà Cả sinh con này, thì bà Hai cũng mớm con thật mình bằng gạo sống, để dành sữa cho con họ. Vì bà Cả bao giờ, cũng vẫn không bao giờ đủ sữa nuôi con…”
Quan niệm lấy vợ lẽ, bà Cả bao giờ cũng giữ vai quan trọng (có khi chồng chọn, phải được bà cả phó thự) hoặc bà cả chọn, để giữ thứ bậc trong gia đình. Lấy vợ lẽ cho chồng lại còn được họ hàng tôn sùng là vợ cả biết điều, chia sẻ yêu đương, không tham lam. Có như thế thì: “Đồn vui nào thấy đâu vui. Bưởi non tháng tám có cùi không tôm”. Giàu có mà không năm thê, bẩy thiếp, chưa danh tiếng, cũng như phải có chức bát phẩm mua cũng hả lòng. Như Nguyễn Đình Lạp tả cảnh đi lấy vợ lẽ cho chồng (bác Vuông) trong Ngoại Ô, không khác gì bà Cả lấy vợ lẽ cho chồng: (lấy vợ là mượn đứa ở không công)
“...Nuôi người ở thì vừa mất tiền công, vừa không được chắc chắn. Chỉ cưới cho chồng vợ lẽ là tiện hơn, là lợi hơn cả mọi bề. Bác thịt trâu đã mách cho một đám… Sỡ dĩ bác gái định làm sang trọng là vì bác muốn cho bác Chương Tròn biết tay mình, phải kiêng mình là một gái đảm có thể gánh vác được giang sơn nhà chồng...”
(Ngoại Ô, trang 94)
Tả sự mê tín (quá tin tưởng vào huyền bí, mất lý lẽ) ông cho ta hiểu thêm một nhân vật bên hàng xóm (bà Quản) khoán thằng bé cho Trời Phật. Tục lệ này rất đúng với nhà hiếm con, thường gửi con cho Trời, Phật, hoặc làm con nuôi cho gia đình mắn con, cho là dễ nuôi. Nguyễn Đức Quỳnh nhận xét về phong tục này, đồng thời đả kích rất có lý do:
“...Bà lại còn cẩn thận hơn nữa lấy bùa và thuốc trừ tà về đeo vào cổ thằng Cu. Không biết bà đã tích trữ từ bao giờ những xác rắn cạp nong, cạp nia rồi đem ngâm vào máu kinh nguyệt, bây giờ mang ra vắt vào hàng rào vào kẽ tường hoa quanh nhà ông Ký để cho ma quỷ xa lánh các vật tạp uế kia. Bà tin là cháu bà thế nào cũng ăn chơi như thường. Vì ngoài phép đã dùng bà lại còn sợ cả tranh ông tướng vẫn dán ở cánh cửa đền chùa mang về đốt lên, pha cho cháu uống cơ mà…”
Thằng Cu So đầy tháng phải làm mâm cơm cúng, Nguyễn Đức Quỳnh không bỏ sót cả cái hắt hơi đứa trẻ, xong tiếp theo “Sống lâu trăm tuổi”. Ai ở nhà quê, ai đã ở trong cảnh có con cầu tự, ai đã thấy sự nuông chiều con của các bà con một (con trai) tất nhiên sẽ phục Nguyễn Đức Quỳnh đã tỷ mỷ:
“...Trên một mâm đồng đánh sạch bóng lộn lên, bà đã bày đủ thứ bẩy nắm xôi gấc, bẩy con cua thật to luộc chín, bẩy quả trứng gà nhuộm đỏ…”
Tả một buổi ăn cỗ, họ đã nắm xôi hay gắp thịt đấm miệng cho Thằng Cu So. Cu So thấy họ dử rồi thì có thái độ gì? Ông viết với giọng mai mỉa, châm biếm sâu độc. Nhưng đúng:
“...Lúc người nhà ăn cỗ, họ đã nắm xôi hay gắp thịt đấm miệng cho thằng Cu So, Cu So thấy họ dử dử, tưởng đâu là vú, cong môi lên đớp, họ phá ra cười, khen thằng bé láu quá… Các cô mới về nhà chồng, tranh nhau hít cu nó, cứ hôn má nó chùn chụt làm đôi má đỏ hồng sẵn lại đỏ rực lên. Họ cắn đùi nó. Họ ngậm vào bụng nó rồi thổi ra kêu phì phì. Họ vần, họ mơn, họ vỗ nó. Họ tranh nhau bế nó, nựng nó, chòng nó. Cô nào được nó phát vốn cho một bãi nước đái thì đắc ý khoe ầm lên để người ta nếu “Có thế mới được lây. Phải gái có con như bồ hòn có rễ, ai lấy chồng mà chẳng mong có con” Lại có con kháu khỉnh như Cu So. Thế cho nên mỗi lần nó rỉ nước đái ra, các cô cậu lại bảo nhau “Này may chửa”. Nhưng có cô chưa có chồng con bè hè thì các bà kia đều đồng thanh dạy khôn “Thôi xin chị rồi mai kia sớm lại không vừa và cơm vừa bốc cứt ấy à?...”
Người đọc sáng tác của Nguyễn Đức Quỳnh không thấy cái đẹp thôn quê, hình ảnh nông thôn quyến rũ như Quê mẹ của Thanh Tịnh; hoặc không phải là lối đề cao cần cù nông thôn như Con trâu của Trần Tiêu. Nguyễn Đức Quỳnh đưa ra cổ hủ, xấu xa mà ông cho là tàn tích, mê tín, định mệnh, phúc đức tổ tiên đáng bỏ. Cái máy móc con người ăn sâu trong máu chủ nghĩa xã hội, nên nặng phần lý luận, bài xích tất cả những gì là nền móng gia đình, xã hội và cả đến lòng tin tưởng con người (không phải là mê tín).
Quyển Thằng Cu So dầy 186 trang, ông viết hoàn toàn về cuộc đời đứa trẻ lọt lòng cho đến khi lên năm, sáu. Tổng quát, có những đoạn đặc sắc, giọng văn đặc Việt Nam; đầy hình ảnh quê hương, dân tộc; nhưng giọng văn toàn cuốn truyện khô khan, kém phần hứng thú. Cuốn này là phản đề của tiểu thuyết. Thằng Phượng lên tám (1917) có người anh cả học Trường Bưởi Hà Nội về, anh Trân. Dưới con mắt ông chịu ảnh hưởng Âu học toàn diện; con người sống theo tác phong máy móc, ước lệ, thiếu tinh thần Đông Phương. Nên ông Ký không được mãn nguyện lắm, sau này Trân không thể nối nghiệp bố. Sở dĩ thế, bố cũng đành lòng và vui lòng cho con học đến nơi đến chốn, sau có thể làm quan với phe thống trị. Bố vẫn chiều chuộng con là vậy.
Rồi Thằng Phượng lên tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Đức Quỳnh cho thằng Phượng tin về sức mạnh, chí khí, trước đó thằng Cu So không tin định mệnh. Nào là phúc đức hão huyền, e dè người Đông Phương, khi bà Lý dắt con qua phố, thằng Phượng bị bọn trẻ con tỉnh lỵ chế giễu rằng, gọi mẹ là bu, thằng Phượng bực mình đánh nhau với chúng. Ông thuật lại ra sao? hãy cùng đọc:
“À thằng Phượng láo nhỉ? dám đánh em tao à?
Phượng hất hàm:
- Tao đánh đấy!
Thằng kia sấn lại gần:
- Ừ có giỏi mày đánh nữa đi tao xem. Phượng quai luôn một đấm vào cằm thằng kia. Thằng đó xoa má kêu: “Mày đánh nữa đi ông xem nào”? Phượng lại quai một quai hàm nữa. Thằng kia đau quá ôm đầu chạy la “Ừ được ông biết mày đánh ông nhé”. Lũ trẻ nhà giàu thấy đụng đến thân có phần nguy, nhớn nhác gọi nhau về bảo:
- Về mách ba cho nó.
Phượng chống tay ngang vế, hếch mắt ngó theo quát:
- Ông thách đấy.
Nhưng bà Ký đã cúi xuống âu yếm bảo con:
- Thôi tha cho chúng nó con ạ.
Bà Ký dưng dưng nước mắt. Bà mừng rằng thằng Phượng sẽ không như ông Ký, một mình dám chống chọi với cả làng suốt cả đời mà lúc nhắm mắt còn dặn con cháu “Bất độc bất anh hùng”. Lúc ấy bà mới phục tài xem tướng của chồng, vì ông Ký đã chẳng bảo là bao nhiêu lần rằng “Thằng Phượng tất là phải xuất chúng”. Cái giọng nói của nó đĩnh đạc lắm, nó không lèm bèm một tí nào. Cái mắt nó già dặn gân guốc lắm, nó không ton hoẻn, nó không đạo đức(18) . Nó rồi nó khá to. Mà thực đấy...!
Có lẽ muốn thằng Phượng tin vào sức mạnh, nên Nguyễn Đức Quỳnh cho thằng Phượng như thế là anh hùng. Không phê phán anh hùng tính cần phải có trong con người, dầu còn bé đi nữa; nhưng phê bình tác giả cho Phượng anh-hùng-hóa không đúng chỗ, không đúng lúc. Vì thế lố bịch, phản lại anh-hùng-tính của nó, dầu thắng bọn nhà giàu chăng nữa. Bằng sức mạnh thật, bọn nhà giàu nhát gan thật, nhưng tác giả quên hẳn sự có mặt bà Ký ở đấy, đã có thể tin rằng sức mạnh là gà cậy gần chuồng. Người đọc sẽ phải hiểu rằng sở dĩ bọn kia không dám đánh lại thằng Phượng, rất có thể vì sự có mặt bà Ký ở đó. Và nếu bà Ký dễ tin con có sức mạnh như thế, thì tâm lý nhân vật người mẹ trong đoạn này hỏng, nông nổi quá! Một vài đoạn nữa, Nguyễn Đức Quỳnh bài bác những định mệnh, phúc đức, đôi khi hành động quá trớn, cực đoan, ghép cho đúng ý nghĩ, tư tưởng, lập trường, thái độ, hành động chưa được khảo nghiệm, so thực tế liệu có thể xảy ra như vậy ở tương lai không?… Người đọc thấy hẳn thiếu nghệ thuật truyện tự luận; hơn nữa còn mất hẳn tính chất tự sự là phải thật, rất thật:
“...Thế cho nên trông thấy cha nó là thấy số, mặc dầu chẳng hiểu số là thế nào? Là ra sao? Mãi rồi cũng quen đi, nó nhận mang máng thấy rằng: cái gì nó muốn, hay cái gì xảy ra tự nhiên là số cả. Rồi hễ nó đứt tay khi người chơi dao là nó bảo số đấy, hễ nó vấp ngã vỡ mày vì hấp tấp là nó bảo số đấy. Cái sẹo ở ngay dưới con mắt nó, dài bằng đốt tay, cái sẹo suýt nữa làm cho nó chết toi, cái sẹo đã là kỷ niệm hôm 5 tháng 5, nó lên năm nó giành với anh nó bưng bát rượu nếp rồi ngã, rồi vật má vào mảnh bát, cái sẹo đó nó cũng bảo số đấy. Có một hôm nó đứng đái bậy ngay ở đầu phố, gặp một thầy đội xếp quất cho cu cậu một roi quắn đít, thằng Phượng thản nhiên hạ một câu “số đấy” làm cho viên cảnh sát ngơ ngác ngó thằng bé mới lên 8, 9 đó…”
Ngoài số đoạn rườm rà vô lý, Nguyễn Đức Quỳnh chỉ nhằm một tác dụng: đả phá mê tín dị đoan. Nhưng thái độ hình tượng trên không mảy may ảnh hưởng gì đến kết thúc mà Nguyễn Đức Quỳnh muốn thâu lượm; hóa ra chỉ làm độc giả buồn cười, đọc xong quên đi cách nhanh chóng.
Nhưng Nguyễn Đức Quỳnh lại cho chúng ta thú vị và có cảm tình với ông hơn: là ở đoạn dưới đây, trả lại cho thằng Phượng đúng với nguồn rung cảm chân thành ở tuổi nó:
“…Thế cho nên hễ gần mẹ nó là nó thấy đức, nó thấy rằng ngay thẳng, tử tế, tốt là rồi được sung sướng, mặc nó chẳng hiểu thế nào là phúc đức. Vì vậy mà nó hay cho ăn mày cơm nguội, nó hay chơi với bọn ăn mày, bọn nghèo khó, nó chỉ muốn hóa ra ngay Thạch Sanh, ra Hoàng Trừu, ra Phạm Công. Vì vậy mà nó ghét cay ghét đắng bọn nhà giàu..."
Phúc đức tại mẫu, hoặc con hư tại mẹ, cháu hư tại bà, ca dao phương châm xử thế của người Việt nhận chân giá trị nhân sinh quan là vậy. Ở đây ông bắt đầu hướng dẫn thằng Phượng cần phải hiểu tư tưởng bọn nhà giàu; mà theo ông, giai cấp, lập trường ấy đều nên khinh bạc. Trong Thằng Kình về sau rất nhiều hành động chống đối tiếp nối. Cho nên kẻ trọc phú ngày nay đứng tuổi có hành động đê hèn, đốn mạt, nhát gan, sa đọa; người đọc không lấy làm gì lạ, vì Nguyễn Đức Quỳnh nhận xét có lý để cho rằng con người thành hình tinh thần từ năm mười tuổi, phân tích cho thấy thế giới bọn nhà giàu hun đúc hệ thống tinh thần giai cấp (dù là hèn nhát, ích kỷ có lợi riêng) sa sụp từ lúc nhỏ. Nguyễn Đức Quỳnh tiếp nguồn rung cảm đúng xác, hợp thời gian, tuổi tác. Ở đây với tuổi suy luận hợp với tuổi Phượng:
“… Thằng Phượng yêu mẹ nó vì nó thấy bà Ký không hề bao giờ làm việc gì, nói câu gì đáng kể cho nó ghét cả. Đã nhiều lúc bà mắng nó, bà đánh nó, bà bắt nó chịu nhịn đói, bà không cho nó theo bà ra chợ để vòi quà. Tuy nó giận, nó đòi, nó bùng bỉu, dậm chân, vò đầu, nó sụt sùi, mếu máo, nhưng xong lúc đó thì thôi, gần bà nó lại thấy sung sướng lắm, yên ổn, êm đềm, chắc chắn lắm. Mỗi buổi tối được bà phe phẩy, quạt đuổi muỗi cho nó thì nó thấy hình như nó có đủ cả mọi thứ, nó không cần đến cái gì nữa, giá thầy nó đi vắng, nó cũng không cần, giá lũ trẻ đi chơi hết cả, nó cũng không cần, giá bãi tập bắn trong Thành, giá chùa Chuông, Văn Miếu, giá cầu sông Cái không có nữa, nó cũng không cần. Bu nó là tất cả đối với nó…” Đến đoạn tả quyến luyến của người mẹ phải tránh con; ông đưa người đọc trở về với cảm giác thật đúng, thật thực, thật hay, đối với ai qua cầu. Đây:
“…Mãi sau này, bà Ký mỗi lần muốn về quê lại phải tìm ra một kế riêng. Vì trốn thằng Phượng thì không nổi - hình như nó có khiếu biết trước ngày mẹ nó về quê, nên ngay từ tối hôm trước ngày bà Ký định thu xếp đi là thôi đó, dù ngoài phố có rước đèn, có hòn lăn đường, có xe bình bịch nổ ầm lên nó cũng vẫn ở chịt trong nhà, bu nó đi đâu nó đi đấy, bu nó ngồi đâu nó ngồi đấy thật là một cái đuôi! Tha hồ cho bà Ký quát tháo, mắng riếc thằng Phượng cứ như con đỉa đói nhằng nhằng bám riết lấy mẹ
- Ô hay! Hôm nay làm thế thì còn làm ăn gì nữa, hở cái thằng này?
- Con có làm gì đâu?
- Mày làm người ta thiu thịt suốt ngày suốt đêm.
- Con có quấy gì đâu?
- Thế mày không rời tao ra nửa bước là “ngãi”(19) làm sao kia chú?
- Có phải mai bu về quê không nào?
- Ai bảo mày thế?
- Không, chẳng ai bảo con cả.
- Thế sao mày biết?
- Con biết vì con thấy như mai bu về ấy… con biết.
- Không, bu không về đâu.
- Thế thực bu không về à? Bu đừng về đấy nhé.
- Ừ, bu không về. Phượng cứ đi ngủ ngoan thì bu không về nữa. Đi.
- Ừ, thế là bu không về đấy, thực đấy bu nhá!
Thế là thằng Phượng yên trí đi ngủ thẳng một mạch đến sáng không hề vẫy tai.
Hôm sau nó lại hí hởn vui mừng vì nó cũng được về quê với bu nó. Bà Ký chất đầy lên xe toàn những bị, những bao tải, những tay nải, những đồ để về quê, tải gạo tỉnh về cho cả nhà ăn.
Cỗ xe cũ cạch cạch cứ rên rỉ trên con đường gồ ghề. Nó sóc như nhẩy cỡn. Nó vật bên này, vật bên kia, lảo đảo như say. Bà Ký đi bộ với bu bé. Bu bé cõng thằng Phượng vừa đi vừa kể chuyện cổ tích cho nó nghe.
Bùi tai, cậu ta ngủ trên vai bu bé. Khi cậu ngủ đã say, bu cậu mới lên xe, còn bu bé lại cõng cậu trở trở lại tỉnh, trả lại thành phố đứa con thành phố…”
Bây giờ Nguyễn Đức Quỳnh không tả thuở ông lên tám nữa, cho thằng bé nghĩ như lúc ông ba mươi. Lại thấy ông đưa thằng Phượng vào con đường của triết gia thích suy luận, như cô Lan của Đẹp tiểu tư sản Khái Hưng khi nói chuyện với Nam về hội họa, về văn chương, như lúc Lan không ở cái tuổi 17; mà là người đã từng trải qua tất cả nhân tình thế thái:
“…Thế cho nên hễ gần anh Trân nó, là nó thấy Chí là cần, là đủ, Chí là tất cả. Có chí là phải thuộc… ư ư. Có chí là phải đỗ sép phi ca. Có chí là phải học trường Bảo Hộ. Có chí là làm ký lục, thông phán, quan lớn…!... Ai cũng khen nó, nhưng ai có biết đâu rằng lối học tắt như thế, lối học chữ như trước khi học vần như thế? Đã có ảnh hưởng rất lớn đến đời thằng bé kỳ khôi ấy? Có ai biết đâu rồi đây, trong mọi trường hợp thằng Phượng đã xét đời bằng lối xét tắt, nghĩa là lấy kết quả suy việc làm, nó lấy quả mà xét nhân, nó chỉ nhận được cái gì là đúng khi cái đó đã thành rồi. Sau này học tính nó tìm ra câu giải rồi mới mặt tính, học máy, nó tìm ra bộ máy đã áp dụng những phép khoa học nào rồi mới đến các phép kia. Tóm lại suốt đời thằng Phượng rồi đây nó chỉ sống bằng lối sống tắt, nó chỉ ưa theo con đường tắt, nó ghét con đường thẳng mà dài…”
Thằng bé lên tám biết hành động rồi mới suy luận quả là thằng bé chủ nghĩa chính trị máy móc! Qua phút lý luận buồn tẻ, và không đúng chỗ, không hợp tâm trạng thằng Phượng, thì Nguyễn Đức Quỳnh đền bù cho thưởng thức đoạn văn dí dỏm, hóm của thằng bé cũng lý luận, nhưng đúng với mức hiểu biết. Người đọc cảm được sinh động hiểu thêm nếp sống quê hương ở thôn quê.
“… Năm nay thằng Phượng đã lớn, rồi nó mới hiểu hai tiếng “Thành hoàng” nó vẫn dùng để chửi rủa chúng bạn, là hai tiếng mà dân làng hễ ai nói tới đều có vẻ kính cẩn, sợ sệt, là hai tiếng thiêng liêng. Thành hoàng là một vị thần coi cả một làng. Ngài ngự ở trong đình. Cả làng phải tế lễ ngài. Ấy thế mà xưa nay thằng Phượng lại coi "Thành hoàng" cũng thường như tiếng "Tiên sư", "Tổ sư", "Cái cóc", "Cái đếch" ấy. Thế có chết không chứ. Thì ra ngài là một vị thần có sắc vua. Ngài oai linh lắm. Dân làng làm ăn mát mẻ cũng nhờ ngài.
- Đấy con có thấy cái kia không?
- Đâu hở thầy?
- Đấy cái bia bằng đá ở bên kia kìa.
- Trông như cái cột lô mét ấy phải không thầy?
- Thằng này chỉ ví sằng ví bậy thôi nào, phải tội chết!
- Sao lại phải tội hở thầy?
- Vì bia thuộc về đình, đình là nơi thờ thần, không được nói nhảm.
- Ờ, ờ bia thuộc về đình, đình là nơi thờ thần, không được nói nhảm.
- Bia lại có cả chữ nữa thầy ạ.
- Ừ hai chữ hạ mã đấy.
- Hạ mã là gì hả thầy?
- Là xuống ngựa. Ai qua đình phải xuống ngựa.
- Sao lại phải xuống ngựa?
- Vì không thì Ngài vật chết tươi.
- Ngài là ai hở thầy?
- Ngài là ngài Thành hoàng chứ là ai nữa?
- Thế Ngài ra ngài vật à?
- Không việc gì phải ra. Ngài ra oai vật…
- Thế thì lạ quá nhỉ! Thế nhưng nhỡ đi xe qua.
- Thì phải xuống xe.
- Thế đi xe đạp?
- Cũng phải xuống xe đạp.
- Thế nhỡ đi tu bin chạy thật nhanh?
- Đi tu bin cũng phải xuống.
- Nhưng nhỡ chạy nhanh quá không trông thấy bia rồi cứ phóng bừa đi sao, hở thầy?
- Thì Ngài vật chết.
- Thế thì Ngài đuổi kịp cả tu bin cơ à thầy?
- Kịp lắm chứ lỵ. Này. Vào đình con phải lễ phép, đừng có lấc cấc rồi lại oan gia đấy, Phượng nhé.
- Vâng, nhưng còn oan gia là thế nào hở thầy?
- Oan gia là nhỡ ra mày láo lếu rồi Ngài…
- À con biết rồi. Hễ con nghịch ngợm thế là Ngài…
- Thôi đừng nói dại nữa đi con. Cứ bảo ngồi đâu thì con ngồi đó thế là Ngài không… không phạt đấy nghe chưa?
Thằng Phượng tần ngần vừa thấy cha nó bước qua cổng đình mà không xuống kịp. Đến giữa sân, sắp vào đình thì bỗng nó kéo áo ông Ký hỏi:
- Thầy! Thế nhỡ đi tàu bay thì hạ mã thế nào được?
- Đi tàu bay, ai đi tàu bay?
- Con hỏi: thế nhỡ đi tàu bay thì hạ mã thế nào được?
- Mày tẩn mẩn quá, đi tàu bay… ai lại đi tàu bay qua cửa đình An Nam, ta lại có ai đi tàu bay? Mà dù có người đi tàu bay thì họ bay ở trên giời, qua thế nào được cửa đình mà hạ tàu bay.
- À ra thế. Bay ở trên thì ra không việc gì.
- Giữa lúc ấy, ông Ký xách thằng Phượng qua bậu cửa bức bàn vào đình thì thằng con của ông nó nghĩ thầm: "Được" mai kia mình phải đi tàu bay trên giời cho khỏi phải vật chết tươi..."
Mặc dầu Nguyễn Đức Quỳnh lồng tư tưởng chính trị nhìn bằng con mắt tiến bộ xã hội chủ nghĩa, vào hành động, thái độ của Phượng; nhưng là một xen rất tâm lý, đả phá có hệ thống, rất thực; rất sát trình độ hiểu lý luận của Phượng. Bời vì, ông dẫn chứng, chúng ta đi từ một thái độ mê tín đến lẽ, mà ông không cần nói ra sự đả kích, lại là đả kích sự vô lý với một nghệ thuật tiểu thuyết cao. Có ai lại nghĩ đến hạ mã với một chiếc phi cơ, đi qua đình phải hạ mã; vậy phi cơ bay trên đình thì vô lễ biết bao nhiêu?
Nguyễn Đức Quỳnh diễn tả thù hận truyền thống dân nông thôn, cha truyền con nối, tả rất linh hoạt, biểu hiện rất sống:
“...Hai đứa trẻ đã trở nên đôi bạn thân. Chúng ăn kẹo chung với nhau. Chúng cầm tay nhau rung răng rung rẻ, nhảy lò cò trên sân đình. Hình như chúng quyến luyến nhau lắm.
Ấy thế mà họ Nguyễn đắc (Phượng) Nguyễn hưng (bạn Phượng) thù nhau từ kiếp nào người ta không biết nữa. Rồi hai người của họ không được giao thiệp với nhau người này không lảng sang giới phận người kia thì vỡ đầu, vỡ mặt. Hai đứa trẻ không bao giờ biết đến... “Nhưng “Chú Phượng”...Thằng Phượng quay lại thấy thằng cháu nó, thằng Ương là đứa đã làm cho nó khóc hôm mồng năm với chuyện hai cây lô mét, đang chu chéo gọi nó. Thằng Phượng rời tay bạn xóm Trại ra, chạy tới cổng. Thằng Ương vẻ mặt hầm hầm gắt:
- Ai bảo chú được chơi với nó?
- …
- Nó là cánh Nguyễn hưng đây. Chú chết, hễ ông mà biết chú chết.
- Thằng ấy là cánh họ Nguyễn hưng.
- Thì nó ở xóm Trại mà lỵ. Chú thì chết với ông.
Thằng Phượng cắm đầu chạy miết đến trước mặt thằng bé kia, hằn học nói:
- Mày họ Nguyễn hưng phải không?
- Ừ tớ họ Nguyễn hưng đấy.
- Hừ! Thế thì họ Nguyễn hưng mày đã ném xương vào mặt họ Nguyễn đắc tao rồi. Thế thì họ mày đã bỏ tù bác ruột tao. Họ mày đã làm cho bác ruột tao chết bỏ làng, chết mất xác! Ai bảo mày lại ở họ Nguyễn hưng? Thôi thế tao không thể chơi với mày được nữa?..."
Có đoạn đặc sắc đến thế, giọng văn không thể một nhà văn có, đó là bản sắc độc đáo của ông. Như Nguyễn Tuân và giọng khinh bạc kiêu sa ấy, không dễ có ai thay thế được! Vì người đọc không cần bình luận thêm, tự hiểu thêm thù hận cha truyền con nối, đào sâu chôn chặt như thế nào rồi? Tiếp đoạn dưới, Nguyễn Đức Quỳnh ba mươi khi viết sách tự luận, lại cho Nguyễn Đức Quỳnh sớm suy nghĩ xa nên lại thấy ông trở về với lối viết tự sự luận đề chính trị thiếu nghệ thuật cao, kém hay và phi lý. Vì thế giả tạo, trơ trẽn. Chúng ta từng biết rằng đại văn sĩ triết gia J.J. Rousseau còn mắc lỗi khi viết Les confessions (Những lời tự thú) cùng lỗi tương tự.
“...Thằng Phượng cũng như đám dân ngu ngốc, đã thù người khác họ, khác tên với mình, rồi thì như mù, như điếc, nó ruồng rẫy cả bạn nó…”
Người đọc có bao giờ trách, tại sao chúng nó lại không chơi với nhau đâu? Vì họ cũng tự hiểu rằng sự biết vượt xa thằng bé có thể có được; nhưng với tuổi nó, sự biết vượt là giỏi rồi, còn hành động vượt muốn có; làm sao đứa trẻ thực hiện được? Lẽ, bao nhiêu cản trở gia đình, bố mẹ; bản thân nó còn phải sống nhờ.
Ông cho câu truyện trong Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình tiến điều hòa theo thời gian (hành động diễn tiến thời gian) với suy ngẫm, hành động, nghĩa là tiệm tiến tình cảm, lý trí với tháng ngày, thì tiểu thuyết tự luận mới không mắc phải bệnh viết tự truyện phi lý, giả tạo, bịa đặt thiếu uyên nguyên chính đáng. Ấy thế mà ông lại cho người đọc thấy truyện ấy kể lại như hồi ký, nên mất hẳn nghệ thuật và tỏ rõ kỹ thuật đoạn này kém:
“… Chính việc ấy mà Kình, (Bây giờ Phượng đổi tên) đã có một người bạn thân RỒI SAU ĐÂY SẼ AN ỦI NÂNG ĐỠ NÓ "GẦN NỬA KIẾP NGƯỜI” (20)
Có phải đây là hồi ký không? Nó đang ở tuổi lên mười, nó làm sao biết được Trấn (bạn nó) sau này sẽ an ủi nâng đỡ nó phía sau của NỬA KIẾP NGƯỜI? Cũng vẫn mắc khuyết điểm, muốn viết cuộc đời Kình tiệm tiến, lại cho thằng Kình hiểu biết sự kiện trước xảy ra trong tương lai (J.J. Rousseau cũng mắc lỗi này trong Les Confessions) như nhắc ở trên:
“… Lần đầu tiên nó đứng cạnh một người con gái lạ. Sao mà người ấy lại giống Chiêu Quân, giống Mạnh Lệ Quân, giống Phàn Lê Huê, giống Ngu Cơ, giống Hạnh Nguyên, giống Kiều Nguyệt Nga, giống Vương Thúy Kiều đến thế..."
Người đọc có cảm tưởng Kình là một ông Thánh đọc sử Tàu, văn chương ta vanh vách như ông cụ năm bảy mươi lão luyện văn chương, chữ nghĩa, hứng cảm, chán chường nhân tính thế thái, ẩn dật cao sơn để bây giờ luận về hình ảnh ấy…
Thằng Phượng (215 trang), ông viết hấp dẫn linh động hơn Thằng Cu So, người đọc thấy lối kể lại (conte) tâm tư biểu hiện tiểu thuyết hơn. Hy vọng thằng Phượng, cứu cánh lý tưởng đời mai hậu, ông kết luận. Bằng:
“...Thưa con chỉ muốn làm một việc đẹp đẽ như khi vua Quang Trung cưỡi voi vào cửa Ngọ Môn, đón nàng Ngọc Hân về làm Hoàng Hậu…”
Hy vọng tác giả không nhỏ, mà thằng Phượng tuổi ấy làm sao mà biết được thế, ông chưa cho người đọc biết trước nó có ý ấy để hợp lý, hợp tình, hợp cảnh hơn. Thế thôi.
Thằng Kinh (396 trang) bộ truyện tự luận dầy viết đời thằng bé từ lọt lòng đến năm lên mười. Tác giả rất giàu tưởng tượng. Bây giờ, phân tích Thằng Kình đời sống giáo dục cuộc đời nó bước va chạm đầu tiên ra sao? Người đọc nhận thấy tác giả sang phần hướng dẫn nhân vật tranh đấu giữa hai giai cấp giàu nghèo. Đi vào phần đặt vấn đề và đồng thời ở cuối tổng hợp. Giai cấp nghèo sống thế nào? Suy tưởng, hành động ra sao? Giai cấp mại bản tư sản, thư lại phong kiến sống ra sao? Ảnh hưởng hai bên sống chung va chạm thế nào? Sự thẩm thấm nhu cầu tương phản (réciproque) đến đâu? Con đường hai giai cấp hướng về nẻo nào? Sử Điền cho rằng: "Trời không cho riêng một ai giàu, ý định Trời muốn ký thác cho người nghèo, Trời không dành riêng cho một ai sang, ý Trời muốn ký thác cho những kẻ hèn đấy" Thằng Kình, đại diện giai cấp nghèo có tinh thần hướng thượng, Chiêu Quân (Ngọc) đại diện cho sự giầu (có thêm Trấn). Hai nhân vật điển hình giầu có là bạn với Kình, giai cấp nghèo được lâu bền không? Sự xung đột ra sao?
Thằng Kình học giỏi nhất lớp nhì trường tỉnh Hưng Yên. Hãy nghe quan Đốc học đọc diễn văn, khi Kình được thưởng:
“...Chắc các anh cũng thừa biết rằng Chính phủ để ý thưởng học trò... nhất là học trò nghèo. Nên các anh đã biết mỗi năm nhà nước có trích công quỹ hàng tỉnh một món tiền kha khá, nhất là đối với học trò nghèo ít nhiều bao nhiêu mà chẳng là quý… Vì nhà nước cấp đến… một món tiền như thế, kể cũng quá lắm rồi, các anh thử tính xem nước ta có bao nhiêu tỉnh, mỗi tỉnh có bao nhiêu phủ huyện, mỗi phủ huyện có bao nhiêu tổng…”
Nguyễn Đức Quỳnh châm biếm bọn thư lại rất sâu độc, ông đã thành công trong việc diễn tả nhân vật cần đả phá, đả phá bằng hình tượng, không lý luận, giải thích (khách quan trong sự kiện chọn lọc có chủ quan định hướng nghệ thuật cao; mà ông không cần lộ diện qua tư tưởng suy luận). Cùng đọc:
“...Quan Đốc bỗng ngắt lại. Bộ máy lỏng cốt. Chỉ vì quan Đốc không quen nói tiếng ta…”
Chỉ cần vài dòng như thế, người đọc căm hờn bọn thư lại phong kiến mất gốc; ấy giọng văn căm hờn, nói theo Lỗ Tấn đạt được tức là đưa con người đi làm cách mệnh. Đây là tác phong mất gốc của chúng qua giọng văn căm thù. Đây là tác phong con cháu thư lại, mà ngày còn bé hiểu thương người là làm phúc, thương người mà cho học bổng:
“...Trấn tỏ vẻ hả hê vì đã thương thầm một thằng bạn nghèo là nó, khi nó thấy ông Đốc gật đầu tỏ vẻ cảm phục, thằng Trấn đã biết thương một đứa nghèo nàn hơn mình…”
Rồi đến tác phong đứa học trò nghèo có thể làm bạn với con nhà giàu, hay phản ứng trò nghèo là thằng Kình:
“...Sao nó lại nghèo. Thì ra từ trước đến giờ bao giờ bao nhiêu lần thằng Trấn nhường nhịn nó, bao nhiêu lần thằng Trấn mỉm cười với nó là bấy nhiêu lần thằng Trấn thương nó đấy thôi. Trời ơi sao nó lại nghèo?... Chẳng nhận ơn là gì? Chẳng thi ơn là gì? Người thừa không bao giờ biết, không bao giờ cần, không bao giờ phải hy sinh với người thiếu, giàu không bao giờ thương người nghèo, người giàu, người thừa chỉ có thể thương, và chỉ có thể thương, chỉ có thể cho người nghèo, người thiếu thôi…”
Ông phân tích cá tính xấu xa bọn giàu rất đúng – đúng thực tiễn – thương mà cho, thương mà làm cách mệnh cho người nghèo. Lòng thương của chúng bao giờ cũng có căn nguyên, chỉ khi nào có lợi chúng mới thương (óc trục lợi và tính toán). Thằng Kình nghèo, biết rằng nghèo là mất hào khí, phải câm miệng, mím răng chịu đựng; Nguyễn Đức Quỳnh diễn tả, biểu hiện về khía cạnh ấy:
“...Lần đầu tiên Thằng Kình thấy Trấn xa lạ quá, lần đầu tiên nó thấy rõ hai đứa ngồi thích cánh nhau cùng thở trong bầu không khí mà giữa hai đứa, có cả một bức tường cao cao quá, có cả một khu vực sâu sâu quá. Nó thấy hình như thằng Trấn phải cúi xuống mới nhìn thấy nó. Nó chóng mặt. Nó muốn đứng dậy lắm, nhưng nó vẫn ngồi im. Vì trong lòng nó vừa nổi dậy một trận cuồng phong. Nếu nó từ chối món học bổng thì nó...dạo này mùa màng thất bát, nay đại hạn, mai hồng thủy, công việc kiện tụng chẳng có gì, nhà nó một ngày một túng quẫn... thoáng hiện lên trong óc nó cả một viễn ảnh tối tăm: hết hè này nó phải thôi học, ở nhà học thuốc Bắc, thầy nó dạy cho, hay ra Hải Phòng học làm nghề thợ máy ở nhà máy Tơ với anh Lý Dũng hay lên ở nhà anh đội Lan tiêm thuốc phiện hầu anh, để đợi ngày nào lớn đủ tuổi, anh sẽ xin cho vào trại lính khố xanh, hay theo chú Cai Phèo sang tận nước Sàigòn buôn tơ lụa, hay đi làm con nuôi ông Lý Thái Bình theo đạo Gia Tô, để kiếm cơm theo đạo và muốn đi đằng nào rồi cũng phải bỏ học, xa thầy Chu, xa bố mẹ và hỡi ơi! Nó chưa nghĩ đến xa Chiêu Quân…”
Giọng văn căm thù, châm biếm cực kỳ mai mỉa đến tột độ rồi! Than kiếp nghèo có chí khí của một đứa trẻ thông minh tài năng như Thằng Kình nhóc thế là sâu lắm! Theo Đạo Gia Tô kiếm cơm, ca dao ta có câu theo đạo kiếm gạo mà ăn, theo ông Đội để được tiêm hầu thuốc phiện chờ đủ tuổi vào lính khố xanh, muốn từ chối học bổng, hòng cứu vãn danh dự cho thằng người biết suy nghĩ (Le malheur d’avoir de l’esprit). (21) Đại hạn hồng thuỷ… Điển hình về thái độ chống đối tinh tế, truyền cảm của kẻ bị thống trị phải đầu hàng, dù là Thằng Kình, được ông lột tả, biểu hiện nhân chứng thời đại – kể là nghệ thuật viết rất cao của Nguyễn Đức Quỳnh. Ông hiểu được nhiều nghĩa, sống nhiều khía cạnh, biểu hiện nhiều giọng văn, cùng mục đích vẫn là một xã hội công bằng. Nghèo đã là một ách lo lắng, nhục là một ách to lớn dằn vặt trăm lần hơn. Từ sự bị hắt hủi trí thông minh của Kình đới với Trấn, với Chiêu Quân; hẳn Kình có biết chỉ vì cái khó bó cái khôn. Cho nên… đành nhận.
Bây giờ ông cho thấy Kình bị ảnh hưởng từ cuộc sống chung chạ với giai cấp giầu (chịu ảnh hưởng bọn con thư lại về hình thức):
"...Ấy thế mà với giầy ấy, với quần ấy, áo ấy. Nó vẫn đứng đắn nghiêm trang, bệ vệ. Là vì nó có một người bạn trai là Trấn, nó có một người bạn gái là Chiêu Quân. Cả hai người đó đều là người của quyền quý, của đài các, của lịch sự, gần hai người, nó thấy cần ăn mặc, nếu không sang trọng cũng phải chau chuốt, cử chỉ; nếu không hào hoa cũng phải lễ độ, nói năng không kiểu cách cũng phải nhũn nhặn..."
Tác phong của con thư lại bị thằng Kình đồng hóa, nhưng không phải là cách ăn mặc rồi, cách xử thế bề ngoài; mà là đời sống nội tâm. Cái sâu xa của Nguyễn Đức Quỳnh muốn giáo hóa tinh thần; vì đời sống tinh thần khó thay đổi như áo quần, nhanh chóng trong nửa tuần hay hai, ba ngày một lần:
“...Nếu Chiêu Quân và Trấn đã hoán cải ít nhiều về hình thức cử chỉ thì thằng Kình nó cũng đã làm cho cuộc đời hai bạn nó xáo loạn lên ít lâu. Nó chịu ảnh hưởng của hai người nói tục, bề mặt – nghĩa là toàn về bề ngoài – còn hai người kia lại chịu ảnh hưởng của nó về bề sâu nghĩa là toàn về bề trong. Nên ai cũng chỉ thấy Kình thay đổi chứ ai biết đâu Chiêu Quân và Trấn còn thay đổi vì Kình nhiều lắm. Nếu thằng Kình thay đổi về tính thì hai người kia thay đổi về nết. Nếu thằng Kình đã bớt văng tực nói sẵng thì hai người kia cũng đã bớt khinh khỉnh kiêu căng. Nếu thằng Kình đã bớt đánh nhau, cãi nhau thì hai người kia đã bớt kiểu cách rụt rè. Giữa ba trẻ cái thái quá đã tìm cái bất cấp để dung hòa thành cái trung dung..." Ông phân tích hai bên chịu ảnh hưởng lẫn nhau, khoa học lắm. Đó là nói về ý. Còn nghệ thuật viết đoạn văn này như không có, tác giả làm công việc thay Kình, nhẩy vào giải thích lia lịa lại chẳng rung cảm chút nào!
Trong thế giới trẻ con ấy, trẻ con cũng sống có hệ thống xã hội như người lớn, giống nhau một phần nào về hình thức tổ chức. Sự yêu đương của người lớn sau này là hậu đoạn thuở nhỏ, Nguyễn Đức Quỳnh minh chứng rằng đây là ý đó, tình yêu cậu công tử bột:
“… Thằng Thành thì mang tiền ra dụ con Hồng. Con Hồng “bồ sứt cạp” vì nhà nghèo nên phải hy sinh lấy tấm thân to béo ra rút ruột, rút gan thằng công tử bột, rồi vừa thu đồ “su-vơ-nia” rất đắt nữa. Thỉnh thoảng lại được quai cái mồm ra chửi cái thằng sỏ lá có ngành có ngọn lên mà thằng Sở Khanh cũng chỉ biết có việc toét miệng ra cười hềnh hệch mà thôi. Thằng Thành đi với con Hồng rồi mà, vì không ăn đạp đổ, nó luôn luôn tìm cách ám muội nói xấu thằng Kình. Mảnh giấy viết bằng tay trái kia chính là một lời nặc danh đầu thú của cậu quý công tử con ông Nghị đó...”
Xã hội ấy mai hậu, Hồng, Thành, người lớn sau này. Người đọc cũng cảm thấy thương hại hoàn cảnh Hồng như kỹ nữ. Hồng như con đĩ bán thể xác, để bòn tiền rút ruột con quan Nghị nhà giầu, để vá víu cuộc đời vật chất thiếu thốn của cô bé. Chỉ khác về tuổi Hồng chưa cơ hội, sớm thể hiện ái tình vật chất mà thôi. Thành chưa đến tuổi bị dục vọng đòi hỏi trao đổi (cho nên sự mua bán ái tình ấy còn trong phạm vi trao đổi vật kỷ niệm, dắt tay nhau chơi dạo). Thế giới choai choai ấy, có con nhà nghèo có chí (Kình) có Hồng tập sa đọa – Trấn, Chiêu Quân, Thành (con nhà giàu). Và tác giả cho thấy ảnh hình một văn sĩ lỏi mới lọt lòng tập tễnh đánh đĩ danh. Thì sau nay ra đời nào có khác hơn:
“…Thằng Hải văn sĩ, vì hèn nên không đử sức dèm pha thằng Kình chỉ còn mỗi một cách là tuần tuần chép nhặt ở truyện, ở báo, lấy mấy vần thơ thật du dương, thật mơ mộng để quyến rũ nàng Tiên thường ham mê tiểu thuyết, rồi lúc vắng người lén gấp vào sách hay luồn vào dù, vào ngăn bàn Chiêu Quân mà lần nào cũng như lần nào, những bài thơ chắp nối kia toàn bị xé vụn ném vào nấm mồ vô chủ là cái bồ đựng giấy của nhà trường”.
Hải lên mười, văn sĩ lỏi, đã có cuộc sống tinh thần như thế; ắt hẳn sau này, mươi mười lăm năm sau, sẽ là văn sĩ cuộc đời rộng lớn, thì Hải bồi văn, tinh thần mượn nhặt, làm sao có hy vọng kỹ sư tâm hồn đa mang hậu thế sau này. Sự thành hình tư tưởng bọn lên mười có thể đưa đến thực thụ của hai mươi năm sau. Tác phong sống cũng vậy, dễ mấy ai lên mười hèn, mà hai mươi thành anh hùng được! Bọn nghèo vật chất, tinh thần, không qua mắt được Nguyễn Đức Quỳnh. Đây là hình ảnh chúng:
“... Tụi thằng Rinh tiểu lâu la, thì đã lâu cũng hết nhăn nhó, hết nhấm nháy với Chiêu Quân, vì bọn thằng Kình nó nẹt cho trên mười lần nên thân rồi, bây giờ chúng hùa nhau đi phá bọn con Mùi ghẻ tàu, con Liên bà cụ – mới ba tuổi ranh mà trông cứ như bà cụ tám mươi tuổi khiến cho bọn con trai đã phải gán cho cái tên hiệu là mụ Liên, bà Liên, cụ Liên, rồi nghe đâu chúng vừa đổi ra là cậu Liên. Con Mỹ chuột bạch cứ lùn tè tè, trông như con vịt bầu loại bạch tạng… cả ba con cùng với con Hồng đều là học trò lớp Nhì A ngồi chung bàn với Chiêu Quân. Cả bốn con cùng lãng mạn thành thần, chua ngoa ra mặt, một ngày cứ nhí nha nhí nhảnh, nói tục, nói tằn, đỏng đa đỏng đảnh, nghèo sơ lại chỉ ưa làm đỏm, xấu như quỷ dạ xoa lại thích bọn con trai dòm dỏ, làm cho nhiều lần thằng Kình nóng mặt lên nó đã mắng cho thậm tệ nó lại riếc bắn tin các cô nhiều lần “Liệu cái thần hồn. Mấy con đĩ non làm nhục bọn học trò nghèo chúng ông…”
Trai tứ chiếng, gái giang hồ, vỏ quít dày móng tay nhọn; có những cậu trai đái sằng, có những cô gái chịu đòn. Nguyễn Đức Quỳnh biểu hiện hình hài chúng với bao lời mỉa mai:
“… Bọn con trai tướng cướp mấy thằng kiềng mặt Thuận, kiềng mặt bọn Thuận vì nếu đả động đến, Thuận rút guốc, vác ô choảng liền đến nỗi tụi thằng Rinh đã phải thốt ra câu: “Thôi cánh này chịu hàng. Tay ấy là Lưu Kim Đĩnh phục sinh đấy”. Tay ấy bốc sơ hạng “pun”(22) đấy để nhại như “cốc” đấy. Anh em chờ chơi với tay ấy".
Chính Thuận đã một vài lần bênh vực cả Chiêu Quân nữa…”
Và mối tình đầu, làm sao ai thoát khỏi ở tuổi thanh xuân đến và chỉ có một lần. Cảm giác yêu đương thuở ban đầu ấy của những ngày hương mới tỏa; ở đây Nguyễn Đức Quỳnh diễn tả cho thưởng thức nàng Chiêu Quân nghĩ sao về mối tình đầu của mình? Một đoạn văn biểu hiện tình yêu thơ mộng ấy:
“… Trong lúc tâm thần xáo loạn, nàng mong gặp Kình quá. Gặp Kình, gặp Trấn để tìm một lời an ủi, một lời khuyên khích, một lời khuyên dỗ. Nàng chỉ là một người con gái thôi. Tự nhiên nàng thấy cần phải gần Ba, Mẹ, gần ai có thể luôn nâng đỡ mình. Nàng cần phải gần Kình, gần Kình trong lúc này và trong những lúc mình quạnh hiu với bóng, lẻ loi chống chọi với người đời… gần Kình mãi mãi ! Sung sướng thay, nếu được chung sống với Kình.
Trong một tíc tắc, nàng say sưa sống thực với giấc mộng vừa xây. Cũng trong tíc tắc đó, tay phải nàng vịu lấy mép bàn cho qua cơn ngây ngất, rồi vô tình nàng lấy ngón tay út ấn theo một đường kẻ ngoằn ngoèo nổi trên mặt gỗ bất giác nàng giật mình vội vàng cúi sát ria ngăn bàn. Thì trên ria ngăn bàn nàng đọc rõ ràng hai chữ N.K. ai đã khéo trổ bông lên hai chữ N.K. khắc kết lại với nhau… Rồi một nụ cười e thẹn, Chiêu Quân nhắm mắt khẽ gật đầu, khẽ lẩm bẩm thật nhanh như muốn tai mình đừng nghe thấy lời ở miệng mình thốt ra “Biết đâu đấy…”
Đến xung đột giữa hai giai cấp, giầu nghèo; nghèo và giầu đã bắt đầu ăn sâu trong tâm trí Kình, ông viết:
“...Vì anh bảo lại chơi với bọn du côn!
- Du côn. Chơi cho cả lớp chứ du côn nào?...”
Sự mâu thuẫn ấy, Trấn phái nhà giầu cho rằng thể thao, việc nhỏ mọn không đáng kể, Kình thì trái lại.
Cuối cùng Kình vẫn giữ lập trường của mình:
“...Thôi tôi van anh đi. Vâng, thì tôi chơi với bọn du côn. Bạn tôi toàn là du côn cả. Nhưng du côn cũng có danh dự của du côn anh Trấn ạ!
Kình nói mát, mỉa mai. Nhưng Trấn không nghĩ thế; thằng Trấn lầu bầu "Danh dự, danh dự" rồi vừa cười nhạt vừa quay nhìn Kình gật gật cái đầu "Phải lắm, danh dự, hì hì..."
Một quyển tiểu thuyết tả trong vòng bốn mươi lăm phút đồng hồ với sáu trăm trang, thật nhiều rung cảm và tưởng tượng. Nhà văn quốc tế trước thời đại chiến chỉ có thể chịu ảnh hưởng hai phái: một là Freud, hai là Dostoievskð. Tôi không hoàn toàn tin đúng, nhưng chưa tìm được lối nào nhìn khác hơn. Ở đây, Nguyễn Đức Quỳnh đôi khi cũng dùng phân tâm học (pschycanalyse) để phân tích những phút trong mẩu đời sống linh động, sống tận hưởng nhất. Ông cho rằng (gián tiếp) sống nhiều, dài mà chả thi vị cũng vô ích. Nên ông mới dẫn tới đoạn văn nói về phân chia giai cấp, thằng Kình nhất quốc văn, khiến Trấn ghen tị. Bênh vực Trấn ông có nhận xét thật giá trị sâu sắc:
“… Một mình với vắng vẻ, tâm trí Trấn tuy đã nguôi nhưng lởn vởn thoáng hiện lên trong óc nó một mối tình không phải là tính ghen tị nữa mà cũng chưa phải là tính ghen tuông. Kình nghèo thì bổn phận Kình phải cố gắng học giỏi hơn nó, chăm chỉ hơn nó mới đáng được chơi với nó… nó cần gì phải ghen tị với Kình…”
Quan niệm giáo dục Nguyễn Đức Quỳnh ảnh hưởng nhiều trong khi hướng dẫn người đọc qua truyện. Đời sống phải tùy thuộc vào sự sống của giai cấp tạo nên. Mô tả nếp sống nhà quan lại, Ngọc đẹp, lãng mạn, tất nhiên; vì đời sống văn hóa do giai cấp ấy đào tạo thành:
“… Ngày ấy là ngày Ngọc gặp Kình trước tấm bảng đen trường nữ học. Ngày đó là ngày Ngọc gửi cho Kình mấy lời khuyên nhủ viết sau mảnh tranh tre Triệu Tử Long phò A Đẩu. Ngày đó là ngày tâm hồn Ngọc rung động trước những hành vị của các tay võ hiệp trong truyện, trước lời lẽ gãy gọn, trước giáng điệu ngang tàng trước nét mặt dắn dỏi của Kình. Vì vậy Ngọc mến Kình… Nàng trở lại với bản tính, nàng trở lại với Từ Trẫm Á, với Tuyết Hồng Lệ Sử trung thành sốt sắng hơn Mộng Hà trong truyện bây giờ không phải là một Mộng Hà mộng, một Mộng Hà chỉ thỉnh thoảng hiện lên trong những giấc mơ hoa, mà bây giờ Mộng Hà là một Mộng Hà thật…”
Quan niệm ấy phân tích theo phân tâm học, lối nhìn duy vật nhưng đúng. Văn học ảnh hưởng đời sống, nhất là văn học lãng mạn dễ đánh vào tâm não người lãng mạn; để đào luyện con người sống như người thật ngoài đời.
Thằng Kình (396 trang); tả cuộc đời một thằng bé, nhưng là một cuộc đời đào tạo mẫu người sống theo một tập hợp có đường lối, có tư tưởng chính trị xã hội của tác giả và đồng thuyền. Nhưng nếu một Les Confessions chưa đủ để biết rõ cuộc đời thực, thực thụ của tác giả biểu hiện trong đời sống qua văn chương; thì đó là một ý nghĩa với Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình của Nguyễn Đức Quỳnh.
Kết luận.
Nghệ thuật viết Nguyễn Đức Quỳnh biểu hiện theo lập trường nhìn riêng tác giả và đồng thuyền chung lối nhìn ấy. Song lối viết, kỹ thuật chưa hoàn hảo lắm khi xét toàn diện. Đã đành độc giả Hàn Thuyên không là Tự Lực văn đoàn, song với tầm thưởng thức độc giả trí thức chưa mãn nguyện lắm. Có lẽ khi viết đến dòng này, chúng tôi muốn so sánh với truyện ngoại quốc. Theo mắt nhìn trong nước, ông là một nhà văn rất giá trị. Chúng tôi đôi khi thầm nghĩ, lãng mạn thuần triết như Tự Lực văn đoàn cũng lợi, tuy nhiên đường lối đi có vu vơ. Như truyện Khái Hưng đào sâu chiều nội tâm con người là cần, song đặt câu hỏi rằng một nước bị nô lệ, ta nên làm việc nào trước tiên, giọng văn căm thù dẫn tới cách mệnh hay là giọng văn quyến rũ để làm phai nhạt chí hướng đa số con người.
Nguyễn Đức Quỳnh ngoài văn chương ra, còn là một nhà văn học khảo cứu giá trị, có kiến thức siêu đẳng; cùng với Trường Tửu, Đặng Thái Mai vun đắp Hàn Thuyên. Ảnh hưởng tác phẩm biên khảo của ông đã tác dụng lớn lao người đương thời, so sánh tác dụng ở tiểu thuyết. Ít người biết Nguyễn Đức Quỳnh tác giả bộ truyện tự luận giá trị lên tới tám trăm trang. Truyện và thi phẩm của ông không ăn sâu vào người đọc ngay được; thơ chưa là thơ; thơ trở thành khẩu hiệu. Thơ thì vậy, truyện luận đề chở lý luận quá nhiều; đôi khi quên hẳn tâm lý nhân vật. Giai đoạn tiểu thuyết của Hàn Thuyên hoàn toàn bị chìm; nhưng truyện của Hàn Thuyên với Trương Tửu, thì Hàn Thuyên gây được thế về sau hơn. Nguyễn Đức Quỳnh dùng bối cảnh xã hội, dùng kỹ thuật nhìn của Freud, hòa với Marx (freudo-marxisme). Cho nên Thằng Kình chỉ sống 45 phút, sống thực, khi nó đặt mình vào lý tưởng. Lối phân tâm học chữa bệnh tinh thần bằng cách nói lên băn khoăn, ẩn ức chìm để ẩn ức tiềm tàng được bộc phát. Sự băn khoăn, đây là thân phận kẻ nghèo trong tình trạng chính trị bị thống trị, muốn tranh đấu để giải phóng cá nhân và quốc gia. Ông là một kỹ sư, nên đôi khi đã áp dụng lối nhìn máy móc vào văn chương, thi phú, mà bình diện này trái ngược. Mình với Ta, tập thơ có những câu thơ máy móc như:
“Bao nhiêu thành kiến bon chen
Sạch sành sanh xóa hết kèn cựa nhau
Cấm chia rẽ kẻ khó giầu
Noi gương tự lực làm đầu soi chung
Giang sơn độc lập cư hùng
Đồng lao cộng tác vẫy vùng thảnh thơi
Thiên tư đạo cả trên đời
Thờ lương tâm, phải coi đời như ta
Lấy độc đoán trị gian tà
Những phường ỷ lại dung tha được nào!”
Ẩn ức diễn tả bằng lối thoát, nằm trong lý thuyết tả đối lập qua thơ lý luận, làm sao rung cảm được người đọc thơ. Như kỹ nghệ hóa chưa sớm giải phóng được hoàn cảnh nhược tiểu, ông quay về với tinh thần văn chương dân tộc và cho rằng chỉ có thế mới tạo được lực lượng giải phóng dân tộc về sau này.
Thằng Cu So, ông tả tỷ mỷ cuộc đời lọt lòng một đứa bé, nhân đó ông muốn cải thiện phong tục hủ hóa dân quê. Thằng Phượng, ông muốn cho nó biết sự va chạm giữa văn hóa Khổng Mạnh không ứng thời, để đi vào xã hội thực tiễn hợp với con người ấy hơn.
Thằng Kình, cuộc tranh đấu thực tiễn bằng hành động, sức mạnh. Nhưng tình yêu vẫn có sức thần bí phá tan sức mạnh, chí khí. Đồng thời, tiêu chuẩn chính cuộc đá bóng, nằm trong lý thuyết xã hội đối lập Léon Trostky: đủ thời gian, trọng kỷ luật, công bằng.
Từ năm 1943 cho đến 1957, Nguyễn Đức Quỳnh mới vừa cho in cuốn truyện chính trị giáo dục, nhân sinh phục vụ nghệ thuật là Ai có qua cầu. Ông muốn đặt trí thức vào vai trò căn bản, đưa ra ý thức sống, lập trường thích ứng, để dễ giác ngộ giai cấp, khỏi đi vào đường bế tắc, giải thoát chán chường phi lý vào cái chết bất đắc dĩ. Thiên tâm bút này viết với một giọng văn khinh bạc, kiêu sa, lập ý cao. Nói theo tôi, là lối văn giọng văn Lâm Ngữ Đường viết Nghệ thuật là gì? (có bản dịch là Lạc thú ở đời, –Importance de la vie). Còn Hồ Thích viết truyện đem triết học vào đời, rồi hướng dẫn đời theo văn triết học; hoặc Lỗ Tấn viết thiên tự luận về nghĩa sống văn chương triết lý.
Nguyễn Đức Quỳnh nhiều khả năng sáng tác cả khi về già vẫn còn sung sức. Là nhà văn giá trị , có công trong khi xây dựng Hàn Thuyên. Với nhà văn tiền chiến, cùng thời ở hôm nay sáng tác sút kém, đôi khi hủ hóa; trái lại Nguyễn Đức Quỳnh biết sống, biết viết và có giá trị toàn diện hơn cả thời tiền chiến.
TIẾT 5
TRƯƠNG-TỬU-NGUYỄN-BÁCH-KHOA
(1913 -1999)
Tên thật Trương Ngọc Tửu. Sinh năm 1913 ở Bồ Đề, Bắc Ninh. 
Học hết bậc tiểu học (1930), sau đó vào Trường Kỹ thuật, ở đây làm quen với chủ nghĩa mác xít. Sau bỏ học làm báo. Từ 1930 cộng tác với Hoàng Tích Chu báo Đông Tây. 1932 cùng Nguyễn Vỹ chủ trương thơ Bạch Nga. 1934 quen Nguyễn Đức Quỳnh cùng chủ trương Tiếng Trẻ, Thời Thế, Văn Mới,…
Là một cây bút quan trọng của nhóm Hàn Thuyên, vừa viết khảo luận vừa sáng tác. Cả hai mặt ông đều có khả năng. Tuy nhiên không một sáng tác nào trội hẳn, nổi bật. Tác phẩm xuất bản: Thanh niên S.O.S (1937), Một chiến sĩ (1938), Khi chiếc yếm rơi xuống (1939), Khi người ta đói (1940), Một cổ đôi ba tròng (1940), Trái tim nổi loạn (1940), Đục nước béo cò (1940), Một kiếp đọa đày (1941)vv... và những tác phẩm biên khảo như: Những thí nghiệm của ngòi bút tôi (1938), Kinh thi Việt Nam (Hàn Thuyên 1940), Nguyễn Du và Truyện Kiều (1941), Hồ Xuân Hương (1941), Văn chương Truyện Kiều (1942), Nhân loại tiến hóa sử (1943), Nguyễn Công Trứ (1944)vv...
Trương Tửu-N-B-K viết truyện xã hội, nhưng thực thể xã hội không như bối cảnh xã hội của Nguyên Hồng hay Nguyễn Đức Quỳnh. Một đằng, Nguyên Hồng viết cái thực bản thân, giai cấp thấp hèn qua thể văn biểu hiện, còn Trương Tửu-N-B-K giống Nguyễn Đức Quỳnh ở điểm, có con mắt nhìn sự kiện qua bối cảnh xã hội mác xít. Ông pha chế lối tả chân xã hội, đôi khi lý luận rườm rà, tuy nhiên có thực thể tiểu thuyết hơn Nguyễn Đức Quỳnh. Trong Một chiến sĩ, ông muốn đi vào con đường tranh đấu thực tiễn, cốt truyện, tình tiết bố cục cao và có nghệ thuật của một nhà văn giá trị. Ông đưa ra một nhận vật lý tưởng (Hảo) để cho nhân vật khác (Hiển) theo gót. Sự sơ hở chủ quan của ông, hỏng ở chỗ: trong Một chiến sĩ dùng nhân vật lý tưởng để giải quyết cho cuốn truyện, với lập luận xây dựng chưa gọn. Tôi muốn nói đến cả hai nhân vật, một hùa theo, một lý tưởng; đều ở ngã ba đường như nhau, nên không nhân vật nào đủ lề lối, tư cách, tư tưởng hướng dẫn nhau: thì làm sao mà có vấn đề như ông đưa ra, nhân vật nọ dìu dắt nhân vật kia.
Khi Chiếc yếm rơi xuống, tả cuộc đời giang hồ một thiếu nữ buôn son bán phấn. Ông đưa ra vấn đề tại sao người con gái ấy lại đi vào đường trụy lạc. Và kết luận rằng do hai yếu tố chính thúc đẩy: sự sống và đói khát. Lối văn ngả sang phóng sự tiểu thuyết của ông không có gì đặc sắc.
Trong Trái Tim, ông đưa ra tình yêu có giai cấp mà chính giai cấp nghèo, giàu không thể nào hòa đồng; nghĩa là tái xác nhận biết: giàu nghèo không bao giờ lấy được nhau. Truyện này tương tự như các truyện trên, là tiểu thuyết đọc được, chẳng nổi trội, như có bản sắc riêng một nhà văn độc đáo.
Viết khảo luận, theo lập trường của nhóm, duy vật sử quan; nhưng lối nhìn biến chế theo lập thuyết Trostky, pha lẫn Taine, Freud… nghĩa là không phải lối nhìn của đảng viên chính thống mác xít hành động và lý luận theo chủ thuyết Marx. Nên một Trương-Tửu-Nguyễn-Bách-Khoa, một thứ Voronsky Xô Viết đối lập đệ tam; nên đệ tam dùng mà vẫn canh chừng sự diễn tiến. Lối viết phê bình Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, có giá trị hơn những cuốn của tác giả khác, người đọc có thể nhận chân được giá trị chân được giá trị thực thể đây là lập luận mác xít đệ tứ. Song vì thiên về mác xít (dù không chính thống) đôi khi mất hẳn thẩm mỹ quan, khi xét một vấn đề trở thành lệch lạc. Những tập khảo luận này có một thời cộng sản đệ tam cầm quyền chính, không cho dùng trong trường học, vì họ cho rằng không phải theo lối của Plékhanoff và Politzer. Họ đả kích lối viết tổng hợp Marx và Freud (Freudo marxisme). Nguyễn Bách Khoa đả kích nhà văn viết phê bình khác viết về Nguyễn Du, nhưng chính ông nhiều đoạn dùng duy tâm, mổ xẻ; theo Taine mà Taine rất duy tâm. Trong Văn chương Truyện Kiều, ông viết: “Phương pháp phê bình phù phiếm, nguyên nhân thứ hai là quan niệm duy tâm về nghệ thuật...”
Vũ Ngọc Phan chỉ phê bình Hàn Thuyên qua vài nhà văn như Trương - Tửu - Nguyễn - Bách - Khoa, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Lạp, Đồ Phồn vv… nhưng ông không, hoặc biết, mà vẫn đương nhiên không ghép họ vào trong một nhóm, chính thực thể của họ là một. Vũ Ngọc Phan phê bình Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa: “...Về mặt biên khảo, Trương Tửu là nhà văn thiên vị (chắc ông Phan tránh hai chữ, mác xít, xã hội chủ nghĩa) vì chỉ biết theo khuynh hướng xã hội, ông là nhà văn có những ý kiến chưa lấy gì làm chín chắn, sâu rộng…”
Trương - Tửu - Nguyễn - Bách - Khoa là nhà văn giá trị trên hai mặt biên khảo cũng như truyện. Song về truyện, ông chưa nổi tiếng lắm mà thôi, chưa biểu hiện đầy đủ cho mình một bản sắc độc đáo. Là nhà văn nòng cốt của Hàn Thuyên, có công trong xây dựng nhóm ấy.
TIẾT 6
KẾT LUẬN VỀ HÀN THUYÊN
Nhóm Hàn Thuyên theo hệ thống tư tưởng đệ tứ, lối tả đối lập. Nên thiên biên khảo của Nguyễn Đức Quỳnh, Nguyễn Bách Khoa, Nguyễn Tế Mỹ, Lương Đức Thiệp, Nguyễn Hải Âu, Nguyễn Đổng Chi, Đặng Thái Mai đều thống nhất đường lối viết; vì họ có kỷ luật và sự hiểu biết chín chắn viết sách. Nếu có dị đồng, chiến thuật, sơ hở chủ quan, nhưng nguyên tắc không suy suyển.
Sáng tác có Nguyễn Tuân, Nguyễn Đức Quỳnh, Nguyễn Đình Lạp, Trương-Tửu-Nguyễn-Bách-khoa, nhưng vẫn nằm trong đường lối, nắm vững tinh thần tri thức chỉ huy.
Khách quan bị chủ quan định hướng chi phối, nhóm Hàn Thuyên không gây được một thế hệ tiểu thuyết như Tự Lực văn đoàn; còn sách biên khảo Hàn Thuyên đã vượt xa Tự Lực văn đoàn trên hai phương diện, lập trường và sự hiểu biết. Hàn Thuyên đưa tầm mắt người đọc nhìn xa hơn, họ quan niệm rằng nghệ thuật và chủ nghĩa vẫn là bóng hình để giải quyết tình trạng một dân tộc bị thống trị tiến xa.
Ngoài tiểu thuyết ra, loại truyện hoài vọng dĩ vãng, nhóm này còn có Chu Thiên, Nguyễn Tuân, hoặc kịch bản, dịch thuật của nhà học giả Đặng Thái Mai.
Lối nhìn vào sách biên khảo, truyện đều qua lăng kính tả đối lập; cho nên sau 1945, sự thành hình con người máy móc đệ tam chịu ảnh hưởng đường lối văn hóa Hàn Thuyên nhiều. Song phe đệ tam chống lại lối chủ trương đệ tứ, sự kết hợp chỉ là giai đoạn trong giai đoạn. Vì thế Hàn Thuyên chia ra làm hai phe, một theo phe đệ tam, một bỏ về thành như Nguyễn Đức Quỳnh, Lê Văn Siêu…
Chỗ đứng của Hàn Thuyên trong văn học sử phải dành một chương xứng đáng. Vì lẽ nói trên đây.
Kỳ VII
TIẾT 1
KHÁI QUÁT VỀ ĐƯỜNG LỐI CỦA NHÓM XUÂN THU NHÃ TẬP
Xuân Thu Nhã Tập theo điển tích Hán học có nghĩa là: "Cỏ hoa nở dưới mặt trời, bông lúa chín vàng. Sắc đẹp mùa xuân hai mùa hoa nở quả nở trong tinh không cao nhẹ, nghĩa là hai mùa xuân ấy thực hiện được thơ cao đẹp, thanh”.
Xuân Thu Nhã Tập là nhóm văn nghệ gồm các kịch sĩ: Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh và Phạm Văn Hạnh (nòng cốt). Và nhà văn thơ cộng tác, hưởng ứng như: Nguyễn Lương Ngọc, Đinh Gia Trinh, Diệu Anh vv…
Nhóm ấy đưa ra hai phần thảo luận: cơ sở lý luận văn nghệ và sáng tác. Đặt cơ sở lý luận rồi sáng tác. Phần lý luận, nhà văn nghệ nhóm muốn phát huy đặc tính dân tộc nói riêng, Đông Phương, nói chung. Vấn đề tổng hợp hồn tính một dân tộc phải xúc tích, tĩnh mạc và diễn đạt theo phương pháp nhận định Tây Phương. Nhóm ấy không gây được một ảnh hưởng lớn như Tự Lực văn đoàn, Hàn Thuyên; nhưng khám phá được con đường mới, bồi bổ cho nền văn chương dân tộc. Tuy nhiên chưa đạt được mấy thành quả. Tìm hiểu đường lối nhóm ấy, chúng tôi cho trích đoạn văn của Diệu Anh nhận định về Xuân Thu Nhã Tập: (23)
“…Bài tiểu luận Thơ ký tên Đoàn Phú Tứ, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Sách là một trong những bài giá trị trong Xuân Thu Nhã Tập, có thể nói là một công trình tư tưởng có ý vị bậc nhất trong thời đại. Bài tiểu luận thơ phát biểu những quan niệm để thực hành cái phần tiểu thừa trong chương trình của nhóm thanh niên nghệ sĩ tác giả Xuân Thu Nhã Tập gây một nghệ thuật thơ cho Việt Nam, tìm con đường thực nói liền nguồn gốc xưa với ước vọng nay. Gọi về những cái giòng sống thực của ta…” (Quan niệm, trang 12). Thơ là cái gì siêu thoát, ra ngoài ước lệ; theo ở trên thì: nó rung động ta theo nhịp điệu vũ trụ, hồn nhiên, nó hòa hợp ta trong cái đẹp và ấp ủ ta nằm trong sự thật.
Kết luận, Diệu Anh viết:
“…Xuân Thu Nhã Tập, viết với rất nhiều tâm tình và nhiều nghệ thuật, là một quyển sách khiến kẻ đọc suy nghĩ nhiều. Nay giở mấy trang, mai giở mấy trang, đọc đi đọc lại mỗi bài hai ba lượt, mỗi lượt đọc lại thêm ý vị của một vài tư tưởng, gấp mấy quyển sách lại ta thấy trong nó tự nhiên, ta để nó vào một chỗ danh dự trong tủ sách…” (trang 28, Quan niệm).
Diệu Anh đề cao, phê bình quảng cáo không ít cho Xuân Thu Nhã Tập. Nhóm này cũng bắt chước lối Dadaðsme của Pháp; muốn đưa ra con đường mới; nhưng chưa được thực hiện được nhiều – song cũng gọi là nhà văn thơ, trí thức luôn muốn tiến bộ. Biết bao nhiêu khuynh hướng: Lettrisme, Existentialisme, Surréalisme, Dadaðsme, Lettrisme...nhưng có gây nổi phong trào gì đâu? Thơ, đặc tính của thơ, phải cảm rồi mới hiểu, nói như một văn hào Trung Hoa nào đó (Lỗ Tấn), không hẳn là thiếu lý do; nếu thơ mà duy lý (rationalisme) thì không còn là thơ, mà như vậy thà viết lý luận cho xong. Thiết tưởng ý nghĩ này không xác thực, nếu không vậy, quả là những bài tiểu luận triết học tôn giáo, chính trị, bí hiểm quá thì quả thật chất thơ có diễn tả bay bướm bằng nhạc điệu đến chừng nào chăng nữa; cũng chẳng làm ai cảm động lâu được bao giờ!
Sự cố gắng khám phá con đường mới là nhã ý của nhóm ấy, ở đây chỉ nhận chân công lao nhỏ ấy mà thôi.
TIẾT 2
1. Đoàn Phú Tứ
Sinh ngày 10-9-1910 ở Hà Nội. Viết văn khi còn học lớp nhất, từ 1925- 1937 chủ trương báo Tinh Hoa. 
Là kịch sĩ lịch lãm và tác phẩm đã xuất bản: Những bức thư tình (1937), Ngã ba (Thời Đại), Ghen… đều là những vở kịch dài và ngắn. Năm 1942, ông cho xuất bản cuốn Xuân Thu Nhã Tập do ông và Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh chủ trương. Nhóm này còn thêm họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung và nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát cộng tác. 
Những thi bản của ông đẹp, bao hàm thi tứ, nở hương thơm, như Màu thời gian, hoặc kịch phẩm giá trị như Ghen, Ngã Ba, có nhiều kịch tính; nội dung tiến bộ về mặt xây dựng nhân vật, bối cảnh như kỹ thuật. Tác phẩm của ông bao hàm một triết lý nhân sinh Á Đông, như chúng tôi vừa nhận định về nội dung Xuân Thu Nhã Tập. Phê bình Đoàn Phú Tứ, Vũ Ngọc Phan dành cho ông một trang danh dự trong Nhà văn hiện đại. Chúng tôi nhận thấy rằng ông Vũ Ngọc Phan làm tròn được giá trị xét về Đoàn Phú Tứ, bao gọn trong đoạn văn này:
“…Người ta có thể gọi Đoàn Phú Tứ là nhà soạn kịch thanh niên. Hầu hết các vở kịch của ông đều đượm sự nồng nàn của tuổi trẻ, cái tuổi mới bước chân vào đời mà phải nếm ít nhiều cay đắng biết suy nghĩ về cuộc sống yên lặng, ồn ào và phức tạp.
Cái đặc sắc trong các vở kịch của Đoàn Phú Tứ ở sự nhẹ nhàng bay bướm. Đọc ông, ai cũng phải nhận rằng ngòi bút ông thật tài hoa. Những việc cỏn con ở đời, những việc không mấy người để ý đến, ông nhận xét rất tinh tế và diễn tả thật tài tình. Ông có một tâm hồn thi sĩ, nên người ta thấy ông sở trường về cả thơ nữa. Thơ ông không nhiều, nhưng bài nào cũng kín đáo gọt rũa, kỹ càng, có khi kỹ càng quá, hóa ra mất cả vẻ tự nhiên, kém phần thành thật. Bài thơ trong kịch Hận Ly tao của ông cũng cùng một giọng như bài Mầu thời gian của ông mà ông Hoài Thanh đăng trong Thi Nhân Việt Nam. Bài Hận Ly tao người ta còn có thể hiểu được không đến nỗi uẩn khúc như trong bài Mầu thời gian…”
Đoàn Phú Tứ dưới nét nhìn Vũ Ngọc Phan nhận định, có thể nói là thật xác đáng. Trong văn chương Việt Nam, một Mầu thời gian có kỹ thuật kiêu sa, tuy nhiên hơi bí hiểm, và nhiều vở kịch tài hoa của kịch-thi-sĩ Đoàn Phú Tứ, cũng đủ cho chúng ta cảm ơn nhiều. Dưới đây trích Mầu thời gian của Đoàn Phú Tứ với lời chú và bình rất đặc biệt của Hoài Thanh:
MẦU THỜI GIAN (24)
Sớm nay tiếng chim thanh
Trong gió xanh
Dịu vương hương (25) ấm thoảng xuân tình
Ngàn xưa không lạnh nữa, Tần Phi (26)
Ta lặng dâng nàng
Trời mây phảng phất nhuốm thời gian (27)
Mầu thời gian không xanh
Mầu thời gian tím ngắt (28)
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh (29)
Tóc mây một chiếc dao vàng (30)
Nghìn trùng e lệ phụng quân vương (31)
Trăm năm tình cũ lìa không hận
Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng (32)
Duyên trăm năm đứt đoạn
Tình một thuở còn hương
Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian tím ngắt (33)
(Trích Ngày Nay)
BÌNH
Nói về toàn thể nên chú ý đến điệu thơ. Bài thơ bắt đầu bằng những câu dài ngắn không đều: âm điệu hoàn toàn mới. Kế đến bốn câu ngụ ngôn cổ phong, một lối thơ cũ mà các thi nhân gần đây cũng thường dùng, ông chuyển sang thất ngôn: điệu thơ hoàn toàn xưa. Lời thơ cũng xưa với những chữ phụng quân vương và những chữ lấy lại ở câu Kiều: Tóc mây một món dao vàng chia hai. Nhưng với hai câu thất ngôn dưới thi nhân đã từ chuyện người xưa trở về chuyện mình. Những chữ thiếp phụ chàng đưa dần về hiện tại. Rồi điệu thơ trở lại ngụ ngôn với hương mầu trên kia.
Thành ra ý thơ, lời thơ, điệu thơ cùng với hồn thi nhân đi từ hiện tại về quá khứ, từ quá khứ gần đến quá khứ xa, rồi lại dần dần trở về hiện tại. Hiện tại chỉ mờ mờ nhạt nhạt, nhưng càng đi xa về quá khứ, câu thơ càng thiết tha, càng rực rỡ. Nhất là từ chỗ ngũ ngôn chuyển sang thất ngôn câu thơ đẹp vô cùng. Tôi tưởng dầu không hiểu ý nghĩa bài thơ người ta cũng không thể không nhận thấy cái vẻ huy hoàng, trang trọng của câu thơ (34) .
Trong thơ ta có lẽ không có bài nào khác tinh tế và kín đáo như thế.
(Hoài Thanh – Hoài Chân
Trích Thi Nhân Việt Nam, trang 112-3-4 ấn bản Nguyễn Đức Phiên 1942)
2. Nguyễn Xuân Sanh. – Tác giả Nhật ký 1940 – 1941 (văn) và nhiều thi bản, tiểu luận đăng trong Xuân Thu Nhã Tập. 
Là thi sĩ theo phái bí hiểm như Dadaðsme (Đa đa), đôi chút pha Surréalisme (siêu thực), nên thơ chau chuốt kỹ thuật, giầu nhạc điệu mà hồn thơ nội dung lại rỗng tuếch, bí hiểm. Thơ Nguyễn Xuân Sanh phải có Đinh Gia Trinh đi bên giải thích cái hay cái đẹp, mà nghệ thuật lại phải giải thích cái hay, cái đẹp biết bao nhiêu lần, mà người đọc vẫn chưa thông cảm nổi, tôi không muốn nói rằng đó chưa đạt tới nghệ thuật được! Thơ Nguyễn Xuân Sanh không phải chất thơ lịch lãm như Đoàn Phú Tứ, đúng hơn gần ý và tứ của thơ Nguyễn Vỹ. Trong kháng chiến Nguyễn Xuân Sanh không còn làm lối thơ ấy nữa, ông quay sang lục bát rung cảm nhịp điệu hòa hợp với ý nghĩa nội dung, thì chứng tỏ ông có chất thơ để làm thi sĩ. (Làng nghẹt trong rừng đêm). Sau Đinh Gia Trinh giải thích bao hàm cái hay của Xuân Thu Nhã Tập, đến lượt Diệu Anh tiếp tục điều cảm thơ Xuân Thu Nhã Tập (Báo Thanh Nghị: Đọc Xuân Thu Nhã Tập). Chúng tôi trích đoạn văn dưới đây để thêm tài liệu, nhận rõ nội dung nhóm ấy. Không thêm ý kiến nào mà chỉ muốn mở rộng vấn đề cho những ai muốn tìm hiểu đến ngọn ngành mà thôi.
THƠ CỦA HAI ÔNG NGUYỄN XUÂN SANH VÀ ÔNG PHẠM VĂN HẠNH
“Khi tôi nói đến thơ của ông Nguyễn Xuân Sanh với người quen biết, vừa nói dứt tên tác giả, tôi bị vội vã ngắt “Thơ ấy chịu sao được”. Người ta kêu ông Xuân Sanh lập dị và người ta công kích không nghi ngại gì cái lối thơ tối tăm, bí hiểm của ông. Thực ra thì trong những kết án nghệ thuật của ông Xuân Sanh có nhiều công kích vội vàng. Chỉ vì lẽ lý trí không trông rõ ngay tức khắc mối giường của tư tưởng trong thơ mà vội chê thơ ấy là không có giá trị thì kể cũng quá sơ sài. Tất cả cái lý thuyết trong bài luận về thơ “Thơ” là để bênh vực cái lý tồn tại của một nghệ thuật thơ không vụ sự sáng sủa, không cần làm hại cái luân lý của lý trí (logique intellectuelle) nếu ta không cho cái lý thuyết ấy là dở thì thơ của ông Xuân Sanh áp dụng cái lý thuyết ấy, vị tất đã là dở. Nếu chúng ta xét thơ ông Xuân Sanh theo cái quan niệm thơ văn được lưu hành thì là thất sách. Phải xét thơ ấy dựa theo quan niệm đặc biệt trong bài “Tiểu luận Thơ" hoặc nếu ta muốn chê trách cái tối tăm của thơ ấy ta phải thẩm xét lại cái lý thuyết nguyên do và thực hành lý thuyết ấy bởi các tác giả…
Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi
(Buồn Xưa)
NGUYỄN XUÂN SANH
Hoa quỳnh (hình ảnh), chiều (gây cảm giác) chiều ưa dĩ vãng và buồn, nhạc trầm mi (tiếng nhạc, hương trầm mi mắt giai nhân). Câu thơ làm rung cảm các giác quan ta, làm rung cảm cả tâm hồn. HOA QUỲNH, buổi chiều, nhạc êm, hương ngát, mi say đắm. Sau khi bị những chữ, những âm thanh chiếm đoạt và làm ta rung động, ta có thể tìm hiểu câu thơ “Nhạc, trầm, mi, như đọng trên hoa quỳnh buổi chiều…”
Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi
Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y
Buổi chiều trong hoa quỳnh, vẳng nghe nhạc, ngửi thấy hương trầm, trông thấy mi kỹ nữ, của cả một đời xưa. Hồn ta say sưa vì đẹp dĩ vãng. “Hồn màu xanh tươi, ngát hương/ Chở mang dấu xiêm y của các mỹ nhân thời xưa múa khúc nghê thường”.
Nếu hai câu thơ ấy, ta dùng để định giá trị nghệ thuật của ông Nguyễn Xuân Sanh thì chỉ có lợi cho thi sĩ. Hai câu thơ ấy có nhạc điệu và có thực giá trị. Lợi khi là âm thanh, hình sắc. Ta có thể tìm hiểu nghĩa của thơ, nhưng không cần ngay lúc đầu. Có thể nói rằng nghĩa xuôi của câu thơ có khi giảm cái độ giầu mạnh của cảm xúc đầu tiên. “Trước khi hiểu nghĩa xuôi bao nhiêu cảm giác xây nền trên hình ảnh “Hoa Quỳnh”, bao nhiêu xúc động rộng rãi bám vào hình “Chiều xôn xao vì nhạc trầm mi” khi hiểu nghĩa xuôi, tâm hồn ta chú ý vào nghĩa ấy, cẩm xúc ấy có lẽ thu hẹp lại (Buổi chiều chỉ là buổi chiều trong hoa quỳnh).
Nhưng xét kỹ ra thì thuyết thơ ấy không phải hoàn toàn là vững chắc. Đứng độc lập, những tiếng nhạc trầm mi gây nên cảm giàu mạnh tùy theo người. Nhưng cảm giác ấy thực hời hợt và bơ vơ. Như không tìm được bấu víu. Vì tâm lý học đã cho ta biết đời cảm xúc có liên lạc mật thiết với đời lý trí, một cảm xúc mạnh và sâu vì có những tưởng tượng (représentation). Những liên tưởng (associations idées d’images) nghĩa là vì có hoạt động của lý trí. Không thể tách đời tình cảm ra một bên, chỉ nói chuyện thẳng với giây cảm xúc “Nhạc, nhạc xưa, nhạc Nghê Thường, nhạc ở đáy Thiên cổ, nhạc những giờ ca vui này đã tắt.” Cảm xúc hòa nên dồi dào bao nhiêu. “Tóc mây” nó là tóc mây của người giai nhân yêu, hai cảm xúc mạnh khác nhau. Vì vậy một câu thơ văn vần phải có nghĩa. Tác giả có thể trả lời “Độc giả đọc tiếng nhạc sẽ nghĩ đến nhạc xưa” thì dù nhạc Nghê Thường hay một thứ nhạc khác cũng được. Nhưng chỉ của độc giả không được hướng dẫn, ngơ ngác vì sự hội ngộ lạ lùng của tiếng, của chữ, thường chẳng nghĩ đến vì hơn là “Tiếng đàn” những giây cảm xúc không được rung động, đời tình cảm làm việc nghèo nàn bởi chúng không có bấu víu vào đời lý trí”.
3. Phạm Văn Hạnh. – Tác giả Giọt sương hoa (Xuân Lượm lúa vàng, 1942). 
Thơ của Phạm Văn Hạnh cảm được độc giả hơn chất thơ của thi sĩ Đoàn Phú Tứ. Và thơ Phạm Văn Hạnh có rung cảm mạnh, không phải ghép chữ có nhạc điệu như thơ Xuân Sanh. Bài Người có nghe không có gì mới mẻ lắm, ý tưởng, rung cảm, nhạc điệu, nói theo Diệu Anh, đem lý thuyết vào thơ Xuân Thu Nhã Tập chưa thấm nhuần. Còn bài Thơ Thơ ông viết theo một nhạc điệu đặc biệt, rung cảm mới lạ, truyền cảm, coi như là một bài thơ thành công của riêng ông, và xa hơn chung cho Xuân Thu Nhã Tập. Thơ Phạm Văn Hạnh gần với đời sống tình cảm của con người, với triết lý sống cao cả thanh tao Đông Phương. Sau 1945, ông vào Sàigòn cộng tác với nhóm Chân trời mới Tam Ích, Thiên Giang, ông chuyển dịch tác phẩm quốc tế. Và không thấy ông làm thơ đăng báo hay xuất bản nữa(36) .
Chúng tôi trích đăng một bài thơ điển hình Xuân Thu Nhã Tập, lấy thơ của Nguyễn Xuân Sanh là bài Người Xuân. Giá trị thì đã bàn ở trên khi nói về tác giả; còn bài thơ dưới đây coi như tài liệu tham khảo của văn thơ tiền chiến mà thôi.
Trích thơ:
NGƯỜI XUÂN
Hãy vớt mai trầm vàng nắng gió
Đường xuân rồi khép với chiều tơ
(Đường Xuân)
Lên mùa xe khách vút xe hương
Vai nghiêng suối trái lạnh hồn đường
Gieo trắng dặm thơm đời ngát nẻo
Bó mùa chân ướt ngấn hoa sương
Ngập ngừng hương ấm bình thanh xuân
Tay thơm dâng sóng đậm chiều gần
Hồn gặp men chiều siêu mái đượm
Sương người tươi trái duyên riêng thân
Thế kỷ về xuân hương nước ơi!
Người xuân liễu thắm nhạc hồn đời
Say cuộc nẻo hương hoa thấm bước
Hát trầm nhựa chuyển nhánh vươn hơi
Quay nhịp chiều tươi hương vút cao
Tay xuân suối rượu thuở xa nào
Phơi phới ngày vàng giang mái tóc
Mi ướt rừng mùa sương buổi nao
Xe lá xuân hồn hoa ngón tay
Mắt nghiêng cánh hạt mộng bờ ngày
Hương lộn mi trầm mây biếc biếc
Ôi người mùa duyên men bốc say
Chén đàn xuôi trái ướt giăng không?
Môi ngát người xưa nhịp thắm hồng
Vườn lượn tay nghiêng xây trái rủ
Bờ xuân men nhạc múa tơ bông
Bâng khuâng vai ướt lệ sương người
Vòng xuân hoa mướt lộng nơi nơi
Nghe mạch hương, mùa khua trái giữ
Tay nao sương đất hạt lầu đời
Hồn lạnh thời gian đâu buổi xưa
Tay ơi bóng ấm đậm buồn dừa
Giăng bồng đỏ chín rơi vang bước
Hạnh phúc duyên dường nghiêng nhánh xưa
Lên xuân trái nhạc ngủ chiều hương
Rừng dựng mầu cành xanh bốn phương
Nắng gội hồn ngày say góc mái
Người hương trái chín nhạc lên đường
Người xuân ngực nở nhịp tuần hoàn
Thuyền đào lên sóng nhạc thời gian
Mái tóc ngưng hương mùa nước đậm
Mi xanh hồn trĩu nhạc thơm ngàn
Mai sưa cây ngát thấm hồn rừng
Hương tưới lư trầm bốc mượt lưng
Lưu thủy ngọn đồi tuôn nhánh gió
Tròn xuân đất rậm hái tưng bừng
Nội tươi gió trái bước rừng mai
Người sương bát ngát gọi đường nhài
Đi nhạc ngàn xuân lên bước mới
Bình giời treo ngọc nét tuôn vai
Mi lồng thánh thót thở hồn son
Vai máu lầu sương nhạc đổ tròn
Trái chĩu nhịp hoa tay chới với
Bước hương gieo nhẹ máu rừng non
Lầu người gió vớt nhạc rừng xây
Đất thôn lối biếc ngực dâng đầy
Xuân đẫy vòng thơm buông trái ngọc
Thiên hương lúa mượt tóc rừng mây
Nẻo trắng ru hồn mái tóc sương
Người hương trái chín nhạc lên đường
Dào dạt ray mây đời ủ ngất
Lên mùa xuân khách vút xe hương.
NGUYỄN XUÂN SANH
(1939–1940)
(Trích báo Thanh Nghị số trong năm 1943)
PHẦN THỨ TƯ
CÁC NHÀ THƠ ĐIỂN HÌNH TIỀN CHIẾN
Tiết 1
TỪ PHAN KHÔI THƠ XUÔI CÓ VẦN ĐẾN THƠ MỆNH DANH LÀ THƠ MỚI.
Ngày 10 tháng 3 năm 1932, trên báo Phụ Nữ Tân Văn (số 122), ông Phan Khôi đề xướng thơ mới bằng cách cho đăng bài thơ xuôi có vần Tình Già, khiến tác giả Giấc Mộng Con Tản-Đà-Nguyễn-Khắc-Hiếu phản kháng dữ dội. Tản Đà cho rằng thơ Phan Khôi không có gì là mới cả.
Sau đó, Thế Lữ, Nguyễn Xuân Huy, Vũ Đình Liên, Nguyễn Vỹ, Lan Sơn, Xuân Diệu, Huy Cận, Đỗ Huy Nhiệm, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương, Chế Lan Viên, Phạm Huy Thông vv… đã làm cho độc giả chúng ta say sưa, rung cảm với những vần thơ mệnh danh là Thơ mới. Và thịnh hành từ giai đoạn đó. Thơ Đường luật gò bó, trúc trắc, thơ thất ngôn ép vận, thơ lục bát bình dân quá (quan niệm của người viết thơ mới hồi ấy). Không thể diễn tả nổi tâm hồn thi nhân rung cảm, xúc động, không nói hết được cảm hứng rạt rào, điệu nhạc dập dìu. Thêm vào đấy học giả lão thành Phan Khôi đứng đầu đề xướng Thơ Mới, Phan Khôi rất ghét Khúc tiêu sầu của Lãng Nhân (Phùng Tất Đắc); mặc dầu độc giả hồi đó cực kỳ hoan nghênh, mà Phan Khôi lại cho rỗng tuếch. Phan Khôi, bắt chước lối Thơ Mới Hồ Thích đề xướng ở Trung Hoa, khi phong trào Tân văn hóa hoạt động, thơ mới Hồ Thích như Trường thi thư (36) thì Phan Khôi làm bài Tình Già. Tiếp theo, Lưu Trọng Lư viết bài trên báo Phong hóa, tất nhiên có Thế Lữ ám trợ. Bài đăng vào mùa xuân 1933, bênh vực Thơ Mới: "Cái lối thơ mới của chúng ta là đúng vào thời kỳ phôi phai, thời kỳ tập luyện và nghiên cứu. Không biết rồi đây, nó có đi đến chỗ thành công hay là nửa đường bị đánh đổ. Đó là lịch sử bí mật của lịch sử mai sau. Dù thế nào nó cũng có cái giá trị là giúp cho sự tự do phát triển của thi ca…” Thái độ thi sĩ hơi rụt rè, làm nhưng chưa có chủ đích rõ ràng, tuy nhiên thi sĩ vẫn phải theo lao, để cầm bằng sẽ được thắng lợi. Trước, thi sĩ Lưu Trọng Lư đã viết bài trên Phụ Nữ Tân Văn ( tất nhiên Phan Khôi ám trợ đăng) (số 241, tháng 10 năm 1929). Nhân bàn về thơ với nữ giới, ông Trịnh Đình Rư cũng cổ động cho Thơ Mới. Và ông xác định sự hết quyền lực thơ Đường. Còn Thế Lữ im lặng sáng tác, trả lời Tản Đà và nhà thơ cũ bằng nhiều bài thơ mới hay, tứ thơ dồi dào, mạch thơ có nguồn, lời trong sáng, âm thanh êm tai thính giác. Chẳng bao lâu, Phan Văn Dật với Bâng Khuâng, lại tiếp ứng theo, sau này các nhà thơ Vũ Hoàng Chương lại tiếp ứng nữa. Sau Vũ Hoàng Chương, Hàn Mặc Tử cũng đành bỏ thơ Đường theo Thơ Mới. Tiếp đến là Xuân Diệu, Huy Cận làm mưa gió một thời oanh liệt trên thi đàn, và thanh niên nam nữ hồi ấy hưởng ứng. Trước khi phân tích chi tiết thi sĩ điển hình, sơ lược, và trích vài nhận xét tổng quát về các nhà thơ nổi tiếng tiền chiến. Bài viết của Hoàng Huy Giang(37) với ý kiến xác đáng, thâu tóm tổng quát về sự kiện diễn thơ mới tiền chiến:
“...Tuy nhiên, dù các trào lưu văn chương Tây Phương có xâm nhập Việt Nam, nhưng thực ra, xét các thi phẩm hồi gần đây, ta thấy chủ trương của các thi nhân bộc lộ rất lờ mờ khiến người thiếu óc thống quan khó có thể phân biệt và nhận định được chính xác. Thực vậy, chính những người khởi xướng cũng chưa có đủ ý thức rõ rệt về chủ trương của mình, cho nên căn cứ vào những quan niệm sai lầm và thiếu sót của từng thi phái, căn cứ vào kỹ thuật sáng tác thiếu lý thuyết vững vàng của họ, thấy chưa có một thi phái nào có thể có triển vọng cho một tương lai thi nghệ Việt Nam.
Dù sao khách quan mà xét quá trình phát triển của nền thơ mới, chúng ta cũng phải thành thật nhận rằng các thi gia hiện đại đã ghi lại được ít nhiều đáng kể, đánh dấu một bước tiến trong nghệ thuật thi ca Việt Nam, nhất là về phần hình thức. Nên thơ mới có từ bài “Tình xưa” (Tình Già?) của Phan Khôi làm theo thể tự do, không bó buộc bởi niêm luật cũ, đã phát triển mạnh trong một thời gian rất ngắn. Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử… đã diễn tả những tứ thơ thật sâu sắc, thiết tha trong hình thức thơ mới rộng rãi. Ngoài những thi sĩ thuộc phái "ý mới, lời mới" này còn có nhiều thi sĩ khác mượn hình thức thơ mới để diễn đạt ý mới như Nguyễn Giang, Quách Tấn hoặc nhiều thi sĩ sáng tác thơ, ý và lời nửa mới nửa cũ như Vũ Hoàng Chương, Lưu Trọng Lư. Ngoài ra còn có một số thi sĩ sáng tác theo đường lối riêng như Nguyễn Bính diễn tả những tình cảm chất phác hiền hòa dưới thể lục bát bình dân. Huy Thông bộc lộ tình cảm hùng mạnh của thanh niên trong những lời thơ đanh thép, Đoàn Văn Cừ, Nam Trân, Anh Thơ, biểu hiện tình cảm êm đẹp trong những bài thơ tả cảnh mộc mạc.
Đọc những áng thơ của những thi sĩ hiện đại, nghệ cảm của mỗi người tùy theo biểu hiện trong thi phẩm đều mang một sắc thái riêng biệt. Lưu Trọng Lư say sưa với cái đẹp lý tưởng của người và của tạo vật tấm lòng lúc nào cũng mơ mộng và thực của Lưu Trọng Lư khiến người đọc cảm thấy lòng buồn buồn như tiếng của mùa thu...." Tiếng Thu, âm thanh dìu dặt của mùa thu đìu hiu lặng lẽ ngân dài muôn thuở, có ai còn nghe và cảm thấy? Tiếng Thu ấy làm bâng khuâng bạn đọc với vần thơ nhẹ nhàng:
“...Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng kẻ cô phụ
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu sào sạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp lên lá vàng khô?"
Ở nhà thơ giàu nghệ cảm này, còn nhiều vần lục bát tuyệt bút. Hãy nghe Lưu Trọng Lư mượn trăng lên tả buổi ái ân đầu tiên của đôi trai gái:
“...Vừng trăng lên mái tóc mây
Một hồn thu lạnh mơ say hương nồng
Mắt em là một giòng sông
Thuyền ta bơi lặn trong giòng mắt em...”
Hoặc mượn một ngày nắng mới, ngày vui tất cả mọi người, khi buồn kể lại quá vãng ngậm ngùi:
“...Mỗi lần nắng mới hắt bên song
Sao xác gà trưa gáy não nùng
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng
Chập chờn sống lại những ngày không
Tôi nhớ mẹ tôi thuở thiếu thời
Lúc người còn sống tôi lên mười
Mỗi lần nắng mới gieo ngoài nội
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi...”(38)
Tuy nhiên Lưu Trọng Lư quá chú trọng về nhạc điệu, nên dù thơ có âm thanh dìu dặt vẫn thiếu tính cách hàm súc. Cùng phái “ý và lời nửa mới nửa cũ” như Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương cũng tỏ nỗi buồn man vọng về quá khứ. Nếu thơ Lưu Trọng Lư có những câu:
“...Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau khổ
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho vướng víu nợ thi nhân”
Thì ở Vũ Hoàng Chương, đau khổ luôn luôn biểu hiện trong lời thơ:
“Yêu một khắc để mang sầu trọn kiếp
Tình mười năm còn lại chút này thôi
Lá thư xưa mầu mực úa phai rồi
Duyên hẳn thắm ở phương trời đâu đó...”
Thơ Vũ Hoàng Chương đều tỏ lộ tâm trạng thất vọng, bất đắc chí:
“Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai?”
Buồn sự nghiệp không thành, Vũ Hoàng Chương cũng có:
“Ngoài ba mươi tuổi duyên còn hết
Một ván cờ khuya ngả bóng chiều
Ai khóc đời ai trên bấc lụi
Đây mùa thu tới lửa dần thiêu”
Quan niệm nhân sinh trong thơ Vũ Hoàng Chương là quan niệm tiêu cực, yếm thế:
“Đã lâu trăng cứ tuần trăng sáng
Hoa cứ mùa hoa dậy sắc hương
Phai thắm đầy vơi hờ hững nhịp
Lụi dần cho tới lớp tang thương”
Thế Lữ, nhà thơ công đầu trong việc xây dựng thi ca mới biểu hiện lời thơ rung cảm hòa điệu lòng mình với cái đẹp thiên nhiên. Một vẻ đẹp hùng tráng biểu hiện ở ngay một mãnh thú bị giam cầm được Thế Lữ nói lên trong lời thơ tuyệt đẹp qua bài Nhớ Rừng. Thế Lữ là thi sĩ có tài, giầu tưởng tượng, bài thơ Tiếng Sao Thiên Thai thật thần tiên, phong phú nghệ cảm. Ngoài ra Thế Lữ còn là một nhà thơ ca tụng tình yêu nồng nàn:
“Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Ngàn năm chưa dễ mấy ai quên?”
Trong nền thi ca mới, Xuân Diệu là nhà thơ mang lại nhiều tứ thơ mới nói lên lời tha thiết làm người đọc ngây ngất. Ta hãy nghe Xuân Diệu gợi một kỷ niệm cũ trong chiều lạnh nhớ người yêu:
“Không gì buồn bằng những buổi chiều êm
Mà ánh sáng mờ dần cùng bóng tối
Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối
Đêm bâng khuâng đôi miếng lẩn trong cành
Mây theo chim về dẫy núi xa xanh
Từng đoàn lớp nhẹ nhàng và lặng lẽ
Không gian xẫm tưởng sắp tan thành lệ
Thôi hết rồi! Còn đâu nữa chi em?”
Ở Xuân Diệu, hồn thơ bát ngát, mơ màng, lời thơ biểu hiện tiếng nói tha thiết của nhà thơ giầu tình cảm. Tuy nhiên, quá chú trọng đến tứ thơ, Xuân Diệu lãng bỏ quên sự lựa lọc, do đó có thi bản thiếu tinh túy Việt ngữ, nhiều câu ngô nghê:
“Lẫn với đời quay tôi cứ đi
Người ngoài không thấu giữa lòng si
Cũng như xa quá nên ta chỉ
Thấy núi yên như một miếng bìa”
Đặc điểm thiếu tinh túy Việt ngữ, chúng ta còn thấy ở Huy Cận. Thực vậy, nhiều bài thơ hai thi sĩ này đượm mầu dịch lại thơ Pháp. Như khi đọc hai câu thơ dịch của Huy Cận mà không nói ra là toát dịch thơ Tây:
“Thâu trong cái ngáp dài vô hạn
Hình ảnh lung lay vũ trụ tàn”
Ta thấy hình bóng sâu đậm của Charles Baudelaire trong Les Fleurs du mal (Ác Hoa):
Et dans un baillement avalerait le monde chả là "Thâu trong cái ngáp dài vô hạn sao?"
Huy Cận khác Xuân Diệu than thân ít, góp tiếng khóc đời nhiều. Người ta thấy ở Huy Cận cái buồn vơ vẩn của nghệ sĩ hơn là sầu thấm thía thi nhân. Ta hãy nghe Huy Cận tả cảnh thu miền rừng giữa một chiều nắng tắt lưng đồi:
“Sầu thu lên vút song song
Với cây hiu quạnh với lòng quạnh hiu
Non sông ngây cả buổi chiều
Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia”
Lời thơ Huy Cận hay và đẹp, ít không gợi cảm vì thiếu đặc sắc. Huy Cận ít đem tâm hồn riêng hòa đồng vũ trụ. Khác với những thi sĩ trên, Hàn Mặc Tử là nhà thơ có rất nhiều tứ lạ trong các thi bản. Chứng bệnh kỳ dị và cuộc đời đau thương Hàn Mặc Tử được diễn tả trong lời thơ thành thực:
“Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút
Mỗi lời thơ đều dính não cân ta
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt
Cho mê man chết điếng cả làn da.”
Lòng tín ngưỡng Thiên chúa giáo tôn nghiêm thiêng liêng giúp Hàn Mặc Tử thêm nhiều nghệ cảm mới mẻ đặc biệt. Hàn Mặc Tử lần đầu tiên ca ngơi Thiên chúa giáo bằng lời thơ thật chân thành:
“Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh
Run run như thần tử thấy long nhan
Run như run hơi thở chạm tơ vàng
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến”
Ngoài ra phần lớn thi nhân đều tỏ lộ tâm trang đau buồn trong tác phẩm thi ca; Chế Lan Viên nhớ tiếc quá khứ đẹp qua vần thơ bi thiết:
“Chao ơi! Mong nhớ… ôi mong nhớ!
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn…”
Bây giờ đi vào phần chi tiết, phần hồn thi sĩ điển hình và sơ lược. Một số nhà thơ như: Bàng Bá Lân, Anh Thơ, Nam Trân, Đỗ Huy Nhiệm… và nhiều nhà thơ khác nữa chưa có cơ hội nói đến, không phải quên. Và vẫn dụng khi viết chỉ chú ý bộ môn văn. Về thơ, chỉ nói đến những nhà thơ điển hình. Còn số nhà thơ khác mong được hiểu vậy mà sẽ châm chước cho.
Tiết 2
VŨ HOÀNG CHƯƠNG (1915 – 1976)
Tiểu sử.
Vũ Hoàng Chương sinh ngày 5 tháng 5 năm 1915 (nhưng khai sinh 
đề 1916) ở Phù Ửng, Hải Dương, trong gia đình nho giáo. Cựu học sinh Albert Sarraut, đậu Tú tài khóa 1937-38. Vũ Hoàng Chương cùng thơi Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Thế Lữ, Xuân Diệu… ông là nhà thơ của bình cũ rượu mới. Có nhiều tứ thơ điển cố, kỹ thuật rất điêu luyện; ngay cả khi làm thơ mới. Với tình yêu, Vũ Hoàng Chương nói nhiều hơn qua thơ rất chân thành; nhưng giọng thì lại khinh bạc kiêu sa và rất chán chường.
Tác phẩm.
Tập Thơ Say xuất bản vào năm 1940, Mây 1943, Vân Muội 1944 Trương Chi, Hồng Điệp (Kịch Thơ 1944), Rừng Phong, (Phạm Văn Tươi, Sài gòn 1954)vv... Từ tập Thơ say đến tập cuối cùng, thơ ông không khác nhau mấy chút. Hoài niệm hình ảnh quá vãng, cái tôi chán chường yếm thế, ẩn dật, và đôi khi chúng ta thấy trong thơ ông lời thơ sáo, ý thơ cổ. Lẽ tất nhiên, thơ Vũ Hoàng Chương có kỹ thuật rất vàng son, điêu luyện cao độ.
Nói tóm lại, kỹ thuật thơ của ông từ năm 1954 về trước ít ai bì kịp. Cho đến năm 1945, cách mệnh kháng chiến bùng nổ, Vũ Hoàng Chương bị thức tỉnh sau cơn u mê đằng đẵng bao năm trường chỉ chán khóc gió than mây, quên lãng cái Tôi, cái Khanh, Nàng Tiên nâu để bắt đầu tạo cho mình sinh khí mới đi theo luồng gió cách mệnh thổi. Ông sáng tác bài Nhớ về Hà Nội vàng son, mặc dầu thực tâm cũng chưa muốn hòa đồng xã hội mới; chưa dám bỏ hẳn lối sống của mình; nhưng tự nghĩ rằng; nếu không theo đà tiến hóa, sẽ bị nghiền nát; nên sáng tác bài thơ trên đóng góp vào lối tự đổi mới mình. Nội dung chưa thành thật lắm, nhưng còn khá hơn bài Giờ đã điểm (Xuân Quốc Gia, 1955) ông đánh dĩ cuộc đời thơ bằng lối thơ công thức, rỗng tuếch; cốt làm sao cho đúng lập trường là được. Ấy là mong cuộc đời đổi hướng vật chất mà đời sống tinh thần mang trong mình từ khi lọt lòng âu dễ thay đâu? Tôi vẫn nhận chân giá trị thơ Vũ Hoàng Chương, đó là thơ bản thân, dù chẳng thích ứng hoàn cảnh đời sống, dù chẳng nói lên được nỗi khốn khổ đồng chủng; nhưng ít ra thơ còn nói được cái tôi chân thành, dầu cái tôi hủ hóa đi nữa! Như vậy, tôi vẫn thú hơn là đọc thơ không rung cảm nổi, như loại thơ chính trị Nhớ Về Hà Nội Vàng Son (còn khá, chấp thuận được) – chứ đến Giờ đã điểm, thì phải đào huyệt chôn tăm tiếng Vũ Hoàng Chương. Một Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, may ra còn có thể đối chọi lại với nhà thơ bình thường của chủ nghĩa lãng mạn, tôn giáo của nước ngoài. Làm sao dám so sánh với nhà thơ triết học đại tài ngoại quốc! Miễn cho tôi kể tên nhiều, như: Alexandre Blok, Maðakowsky, Essénine, Simonov, hay lãng mạn cổ điển Lermontov, Nietzsche hay Aragon, Paul Éluard, J.Prévert, T.S. Éliot, F.G. Lorca, Bernard Dort, B.Brecht vv...
Vũ Hoàng Chương trong Thơ Say và Mây làm rung động người đọc, còn nói lên rung cảm chân thành của con tim biết yêu, biết biểu hiện:
“Em ơi lửa tắt tình khô rượu!
Đời vắng em rồi say với ai”
hay
“Tóc xõa tơ vàng nệm gối nhung
Đây chiều hương ngát lá hoa dung
Sóng đôi hề ngọn đèn hư ảo
Mơ kiếp nào xưa đã vợ chồng”
hoặc là
“Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh (...)
Bể vô tận xá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh”
Buồn kiếp nghệ sĩ khổ nhục của một thời thống trị đã qua đi, khi mà văn chương chưa nuôi sống con người, văn chương chữ nghĩa bạc như chì, đời làm nghệ thuật chưa đủ bảo đảm; làm sao nuôi vợ con? Để như có một thầy; một cô, một chó cái, dăm chồng sách nát có ra gì!
(Cao Bá Quát)
Về sau trong tập thơ Rừng Phong, bài Nguyện Cầu than kiếp bến bờ mê, tằm kéo tơ trong một nước chưa có gì biểu hiện bao dung trí thức làm nghệ thuật. Một bài thơ nhìn lên đủ cho người đời nhìn thấy nền văn hiến của thời đại quay cuồng ra sao rồi? Một câu thơ hay làm biến động được; thì đó là giá trị quá khứ của Vũ Hoàng Chương từ 1954 về trước:
“Ta còn để lại gì không?
Kìa non đá lở, này sông cát bồi
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về
Trông ra bến Hoặc bờ Mê
Ngàn thu nửa chớp bốn bề một phương
Ta van cát bụi trên đường
Dù dơ dù sạch đừng vương gót này
Để ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cánh tay níu trời
Thơ ta chẳng viết cho đời
Không vang nhịp khóc giây cười nào đâu?
Trầm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặc ta cầu đó thôi
Đêm nào ta trở về Ngôi
Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian
Một phần đã nín cung đàn
Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh âm”
Một bạn trẻ tự nhận, độc giả yêu thơ ở Huế, ký Dạ Thảo chưa hiểu được nỗi u sầu của ông; hay nói khác đi, chưa linh cảm được, rồi ra thi nghiệp họ Vũ sẽ lâm chung chăng, sẽ làm thơ phản lại bản thân như Giờ Đã Điểm (theo lập trường phê bình văn nghệ, nếu lập trường chính trị thì Vũ là một anh thợ công thức rất nên khuyến khích và đáng khen). Ông ta cho rằng Vũ bị đào thải, phải bị đào thải, vì phản bội lịch sử diễn biến, phản cách mệnh, chỉ say, còn phản tiến hóa con người. Nhưng ông bạn chưa tìm hiểu uyên nguyên chính, cứu cánh sống của Vũ từ xưa đến nay, khép tội quá nặng nề, đối tượng so sánh đà tiến hóa của người hôm nay. Cũng chưa tai hại bằng chính Vũ phản lại Vũ, phản lại thi nghiệp bản thân. Than ôi! đó mới là điều đáng nói, vì tự nó đã đào thải rồi, cần chi đến ai khác:
"...Rừng Phong ra đời còn gì hơn bằng máu và say, thật là thi nhân phản tiến hóa. Mà lúc tranh tối tranh sáng này làm con người tiến bộ(?) để rồi xô đẩy một lớp người vào cái hố ngày mai không bờ bến thì hơn gì kẻ đứng một chỗ. Vũ Hoàng Chương chỉ là một đại biểu cho phái nghệ sĩ lừng chừng mà một số nghệ sĩ cũng đủ đại biểu cho tinh thần một số lớn. Con số đó cũng thật là đáng kể…”(trích tạp chí Đời Mới)
Không cần kết luận, chắc người yêu thơ Vũ cũng nhận chân được chân đứng thi sĩ. Nếu tự phản bội chính bản thân thì làm sao mà còn phải kết luận! (38)
Trích thơ:
1. – PHƯƠNG XA
Nhổ neo rồi, thuyền ơi! Xin mặc sóng
Xô về đỏng hay dạt tới phương đoài
Xa mặt đất, giữa vô cùng cao rộng
Lòng cô đơn, cay đắng họa dần vơi
Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh
Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ
Một đời người u uất nỗi chơ vơ
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ
Men đã ngấm, bọn ta chờ nắng tắt
Treo buồm cao cùng cất tiếng hò khoan
Gió đã nổi, nhịp giăng chiều hiu hắt
Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy cho ngoan
(Trích Thơ Say)
2. – SAY ĐI EM
Khúc nhạc hồng êm ái
Điệu kèn biếc quay cuồng
Một trời phấn hương
Đôi người gió sương.
Đầu xanh lận đận, cùng xót thương, càng nhớ thương.
Hoa xưa tươi, trăng xưa ngọt, gối xưa kề, tình nay sao héo!
Hồn ngã lâu rồi nhưng chân còn dẻo,
Lòng trót nghiêng mà chân bước du dương.
Lòng nghiêng tràn hết yêu đương
Bước chân còn nhịp nghê thường lẳng lơ,
Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê, hồn gửi cánh tay hờ.
Âm ba gờn gợn nhỏ,
Ánh sáng phai phai dần...
Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân
Lui đôi vai, tiến đôi chân
Riết đôi vai, ngả đôi thân!
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ,
Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta!
Cỏ chưa khô, đầu chưa nặng, mắt chưa hoa,
Tay mềm mại, bước còn chưa chếnh choáng,
Chưa cuối xứ Mê ly chưa cùng trời phóng đãng,
Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men.
Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn,
Cho cung bực ngả nghiêng, điên rồ xác thịt,
Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết!
Ta quá say rồi!
Sắc ngả màn trôi…
Gian phòng không đứng vững,
Có ai ghì hư ảnh sát kề môi?
Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa,
Gối mỏi gần rơi!
Trong men cháy, giác quan vừa bén lửa,
Say không còn biết chi đời…
Nhưng em ơi,
Đất trời nghiêng ngửa.
Mà trước mắt thành sầu chưa sụp đổ,
Đất trời nghiêng ngửa,
Thành sầu không sụp đổ em ơi!
(Trích Thơ Say)
3.– NHỚ VỀ HÀ NỘI VÀNG SON (39)
Đoạn chấm trong bài, người viết cuốn sách này xin phép tác giả tạm bỏ.
Ôi ngày mười chín ngày oanh liệt
Sóng đổ hoa vàng khắp bốn phương
Hà Nội tiếng reo hò bất tuyệt
Vang vang bờ nọ Thái Bình Dương
Ba mươi sáu phố ngày hôm ấy
Là những dòng sông đỏ sóng cờ
Nền thắm nhụy vàng hoa vĩ đại
Năm cánh xòe trên năm cửa ô!
Xôn xao hành khúc xây đời mới
Trang khúc du dương Ngọn Quốc Kỳ
Tóc bạc má hồng của vận hội
Cùng trai nước Việt hát ra đi.
Chen tiếng hoan hô này khẩu hiệu (…)
Muôn năm người lính già tiêu biểu
Vì giang sơn quyết bỏ gia đình
Ôi ngày mười chín ngày oanh liệt
Vạn ước mong dồn một ước mong
Ôi mùa thu ấy, mùa tin tưởng
Một tấm lòng mang vạn…tấm lòng
Lưng chừng thế kỷ thứ hai mươi
Khoảng giữa mùa thu đẹp tuyệt vời
Như thoảng mê giang tràn sóng thẳm
Hoành Sơn tân lĩnh kết hoa tươi
Ba kỳ hỡi hỡi người dân Việt
Máu võ trang cùng tiến bước lên
Cùng tiến bước mau. Thề một chết
Đồi hoa Hà Nội, sóng Long Biên
Cho hoa kia nở vàng như cũ
Cho sóng này dâng đỏ gấp xưa (...)
Giữa lòng dân tộc giữa kinh kỳ
Kinh đô ngàn thu đổi cho được
Và quét hôi tanh sạch đất này
Trả hôm mười chín mùa thu trước
Về cho mười chín thu mai đây
(1947)
VŨ HOÀNG CHƯƠNG
Tiết 3
HUY CẬN (1919 - 2005)
Tiểu sử.
Cù Huy Cận tên thật Huy Cận. Đậu kỹ sư Canh nông, ban đầu làm 
thơ nhờ sự khuyến khích của Xuân Diệu. Rồi cả hai trở thành bạn thân. Sau Xuân Diệu đề tựa thơ cho bạn, xuất bản tập Lửa Thiêng (1940). Sinh ngày 31 -5- 1919 ở Hà Tĩnh, cùng quê Xuân Diệu. Thơ thường rải rắc đăng báo trên báo Sông Thương, Ngày Nay...
Tác phẩm và khuynh hướng.
Tập thơ đầu tay của ông là cuốn Lửa Thiêng, Xuân Diệu vào tựa, với những dòng giới thiệu rất thơ, duyên dáng, xúc tích; mà chúng tôi cho rằng chưa ai viết được thế, so với thi sĩ tiền chiến viết tựa cho nhau. Tâm tư nhà thơ yêu bản thân ít, yêu thiên nhiên nhiều, chan hòa tiếng khóc đời, được Xuân Diệu nhắc cho người đọc đó là chân giá trị có từ khi Huy Cận chào đời. 1940, Vũ Hoàng Chương xuất bản tập Thơ Say, Huy Cận mới xuất bản tập thơ đầu tay. Thơ ông khác thơ Xuân Diệu, lời thơ thanh xuân đẹp, bay bướm, không chán và chạy trốn trong tình yêu như Vũ Hoàng Chương, hoặc buồn man mác như Lưu Trọng Lư. Năm xuất bản tập thơ đầu tay mới là chàng thi sĩ đôi mươi. Rồi cho xuất bản sách khảo luận giáo dục Kinh cầu tự, thì tầm thường, giả tạo, vu vơ không tạo được ảnh hưởng. Nói về ông, chỉ có thơ. Thơ nhẹ nhàng, nhưng sầu chan chứa như Điệu buồn. Ngày kháng chiến, Huy Cận chuyển mình theo đà tiến hóa xã hội. Thơ mang nhiều hình ảnh sống vào thơ linh hoạt. Tinh thần đấu tranh biểu hiện rõ rệt, không vì thế mà mất thực thể giá trị nghệ thuật. Kỹ thuật thơ Huy Cận vững vàng, thơ còn thêm một đặc tính nữa là đưa bản thân hòa vào cõi siêu hình. Tự hỏi cái chết, tự hỏi cuộc đời trôi dạt bến nào? Tính chất siêu hình trong thơ Huy Cận nhuốm mầu triết lý nhân sinh nhiều hơn là thơ siêu hình Hàn Măïc Tử khảo nghiệm hồn sống ra sao, vì chứng bệnh hủi của Hàn tạo thành.
Phê bình.
Huy Cận là nhà thơ có nhiều khám phá mới trong tứ thơ. Ông tránh được tình cảm tầm thường, đứng trên mức độ đó để nhìn biến chuyển xã hội quay cuồng. Đem hình ảnh thiên nhiên vào thơ, lời rất đẹp, cũng như khám phá đời sống nội tâm dòng đời thật xúc tích. Huy Cận có địa vị chắc chắc trong nền thi nghệ Việt Nam tiền chiến. Nhận định về giá trị ông, nhà phê bình văn học đồng thới với ông, Vũ Ngọc Phan dành một trang lịch lãm:
“...Đọc quyển Kinh cầu tự, người ta nhận thấy rằng làm được thơ chưa phải là đã biết viết văn và nhất là đã biết suy xét. Thơ ở ngoài các phương pháp hành văn và ở ngoài luân lý, còn muốn viết được văn, kẻ làm thơ còn phải có học thức, hơn nữa phải còn dày công nghiền ngẫm và dày công tập luyện mới được. Huy Cận đã quên điều quan hệ ấy và ông không nhớ rằng hầu hết các văn sĩ có danh trong thế giới đều làm thơ cả. Sở dĩ về sau họ bỏ thơ là vì về thơ phải cần có khiếu…”
Huy Cận và Xuân Diệu cùng nổi tiếng về thơ và cũng viết văn. Xuân Diệu viết Phấn thông vàng; còn Huy Cận viết biên khảo Kinh cầu tự. Nói đến Huy Cận hay Xuân Diệu; chẳng mấy ai biết họ viết văn mà chỉ nhớ họ là nhà thơ nổi tiếng mà thôi. Riêng Huy Cận, ông là bậc thầy lối thơ lục bát, gieo vận sáu tám tuyệt vời.
Trích thơ:
1. NHẠC SẦU
Ai chết đó? Nhạc sầu chi lắm thế!
Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường;
Phố đìu hiu màu đá cũ lên sương
Sương hay chính bụi phai tàn lả tả?
Từng tiếng lệ ấy mộng sầu úa lá.
Chim vui đâu? Cây đã gẫy vài cành.
Ôi chiều buồn! Sao nắng quá mỏng manh!
Môi tái nhạt! Ai cười mà héo vậy!
Ai chết đó? Trục xoay và bánh đẩy
Xe tang đi về tận thế giới nào?
Chiều đông tàn lạnh xuống tự trời cao,
Không lửa ấm, chắc hồn buồn lắm đó
Thê lương vậy mà ai đành lìa bỏ
Trần gian sao? Đây thành phố đang quen
Nhưng chốc rồi nẻo vắng đã xa miền
Đường sá lạ thôi lạnh lùng biết mấy!
Và ngựa ơi, đi nhịp đầm, chớ nhẩy
Kẻo thân đau, chưa quên nệm giường đời
Ai đi đưa xin đưa đến tận nơi
Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi
Người đã chết – Một vài ba đầu cúi
Dăm bẩy lòng thương xót đến bên mồ
Để cho hồn khi sắp xuống hư vô
Còn được thấy trên mặt người ấm áp
Hình dáng cuộc đời từ đây xa tắp
Xe đang đi xin đường chớ gập ghềnh!
Không gian ôi xin hẹp bớt mênh mông
Ảo não quá, trời buồn chiều vĩnh biệt!
Và người nữa, tiếng gió buồn thê thiết
Xin lặng dùm cho nhẹ bớt cô đơn
Hàng cờ đen là bóng quạ chập chờn
Báo tin xấu, dẫn hồn người đã xế…
Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế!
Kèn đám ma hay tiếng khóc đau thương
Của cuộc đời? Ai rút tự trong xương
Tiếng nức nở gởi gió đường quạnh quẽ
Sầu chi lắm trời ơi! Chiều tận thế!
(Trích Lửa Thiêng)
2. TÌNH TỰ
Sáng hôm nay hồn em như tủ áo,
Ý trong veo là lượt xếp từng đôi.
Áo đẹp chưa anh? Hoa thắm thêm đời.
Áo mơ ước anh bận dùm chiếc nhé.
Vàng vàng cùng xanh, hồng cười với tiá.
Xin mời anh chọn hình sắc yêu đương.
Hồn em đây đủ muôn ánh nghê thường.
Anh hãy bận hồn em màu sáng chói.
Anh có biết hôm nay là ngày hội,
Của lòng ta. Em trần thiết, trang hoàng.
Anh đã về; em nghe dưới chân vang
Hoa lá nở với chuông rền giọng thắm
Thuở chờ đợi, ôi thời gian rét lắm,
Đời tàn rơi cùng sao rụng canh thâu;
Và trăng lu xế nửa mái tình sầu,
Gió than thở biết mấy lời van vỉ?
Lòng em nhớ lòng anh từ vạn kỷ,
Gặp hôm nay nhưng đã hẹn ngàn xưa.
Yêu giữa đời mà hồn ở trong mơ,
Tình rộng quá, tình không biên giới nữa
Đây cửa mộng lòng em, anh hãy mở.
Màu thanh thiên rời rợi gió long lanh:
Hồn nhớ thương em dệt áo dâng anh.
(Trích Lửa Thiêng)
3. VẠN LÝ TÌNH
Người ở phương trời, ta ở đây,
Chờ mong phương nọ, ngóng phương nầy.
Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm,
Vạn lý sầu lên núi tiếp mây,
Nắng đã xế về bên xứ bạn;
Chiều mưa trên bãi, nước sông đầy.
Trông vời bốn phía không người nhớ.
Dơi động hoàng hôn thấp bóng bay!
Cơn gió hiu hiu buồn tiễn biệt,
Xa nhau chỉ biết nhớ vơi ngày.
Chiếu chăn không ấm người nằm một
Thương bạn chiều hôm, sầu gối tay.
(Trích Lửa Thiêng)
HUY CẬN
Tiết 4
LƯU TRỌNG LƯ (1912 – 1991)
Tiểu sử.
Lưu Trọng Lư sinh năm 1912 tại làng Cao lao hạ, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (Trung Phần). 
Con thứ hai trong gia đình ông Lư Trọng Kiên, tri phủ tỉnh đường. Sống ở Hà Nội và gầy sự nghiệp cũng ở chốn đế đô Ngàn năm văn vật. Cộng tác với nhiều tờ báo như Phụ Nữ Tân Văn, Tao Đàn…
Tác phẩm và khuynh hướng.
Tác giả tập Tiếng thu (1939), Huế 1933, Huyền không động (Nam định 1935), Chạy loạn (Hà nội 1939), Một tháng với ma Hà Nội (1940), Chiếc cáng xanh (Hà nội 1941), Từ thiên đường đến địa ngục (Phổ thông bán nguyệt san), Cô Nguyệt, Một người đàn bà đau khổ, Cô gái tân thời, Con đười ươi (tiểu thuyết)... Cũng như Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư còn viết nhiều tiểu thuyết và hơn nữa, viết văn rồi mới làm thơ in sau. Nhưng Lưu Trọng Lư, dưới mắt người đời, cũng như nhà phê bình Hoài Thanh Vũ Ngọc Phan thì ông chỉ là thi sĩ. Lưu Trọng Lư không có khiếu về văn, truyện viết tầm thường. Vũ Ngọc Phan thâu tóm văn nghiệp ông qua vài dòng đủ nhận rõ giá trị văn Lưu Trọng Lư:
“...Từ truyện ngắn Huyền không động cho đến cuốn tiểu thuyết gần đây nhất là quyển Chiếc cáng xanh Lưu Trọng Lư không thay đổi mấy tí. Với cái giọng buồn tẻ, vẫn cái lối kể chuyện tâm tình một cách lôi thôi và phẳng lặng làm cho câu chuyện không có gì thú vị. Chiếc càng xanh tuy gọi là một tập truyện ngắn nhưng thật ra là một thiên ký ức của một thanh niên nhớ tiếc một thời đã qua và có tấm lòng rất thành kính đối với bà mẹ. Đọc cuốn tiểu thuyết này người ta có cảm tưởng tác giả nhớ đâu viết đó chứ không nghĩ gì đến đâu đuôi câu chuyện và cần phải kết cấu ra sao?...”
Lưu Trọng Lư vẫn là một thi sĩ có tâm hồn và địa vị; nhắc đến ông, người ta tôn sùng là thi nhân tác giả vần thơ sầu nhè nhẹ, đôi khi da diết nhớ thương ngày đã qua; hình ảnh con nai vàng ngơ ngác đẹp vô cùng của thiên nhiên vạn vật; hoặc mỗi lần nắng hắt bên sông, làm cho ta nhớ tiếc người mẹ buổi sinh thời, hình bóng còn phảng phất mỗi lần có nắng non trưa, tiếng gà xao sác cục tác cho chúng ta nhớ hình ảnh tuyệt vời của thú yên tịnh quê hương(40) . Còn bao nhiêu hình ảnh mưa buồn, còn bao nhiêu nỗi đáng nhớ, đáng tiếc, Lưu Trọng Lư đã làm cho con người biết sống đẹp hơn, biết rung cảm mãnh liệt hơn lên. Thơ ông rất giầu tình cảm, tưởng tượng dồi dào, âm tứ đặc biệt. Thơ có bản sắc, hay đôi khi hình ảnh yêu đương được tả lại thành vần thơ tuyệt vời, như một người thiếu nữ đến tuổi mơ mộng, tựa song cửa vu vơ nhìn vào tương lai đầy ngơ ngác, sầu muộn.
Giai đoạn chuyển biến 1945, Lưu Trọng Lư cũng chuyển mình như đa số nhà thơ tiền chiến bừng tỉnh, bước vào đường mới. Bài O Tiếp tế mang lại hơi thơ mới lạ, hình tượng sống chan chứa thương yêu chồng con, và quê hương lâm nguy, đặt bổn phận suy tư giữa tình yêu cá nhân và tổ quốc. Vũ Ngọc Phan cho rằng địa vị của ông là: "...một thi sĩ đa tình và mơ mộng, ông say sưa với tất cả của người và tạo vật; tấm lòng lúc nào cũng mơ mộng, mộng với thực thổ lộ nên những lời thơ huyền ảo vô cùng..."
Trích thơ:
1. NẮNG MỚI
Mỗi lần nắng mới bắt bên song
Xao sác gà trưa gáy não nùng
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng
Chập chờn sống lại những ngày không
Tôi nhớ mẹ tôi thuở thiếu thời
Lúc người còn sống tôi lên mười
Mỗi lần nắng mới qua ngoài giậu
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi
Hình dáng mẹ tôi chửa xóa mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trông ánh trưa hè trước dậu thủa (41)
2. TIẾP TẾ (42)
Vừa học i tờ
O đi tiếp tế
Hai mươi xuân trẻ
Chẳng học chi sầu
Nhìn trước nhìn sau
O qua đồn địch
O đi một mạch
Hỏi chị hỏi em
Tầm bước êm êm
Chui qua đường trống
Lách sang bên đông
O hát o ca
Đồn địch đã xa
O cười o nói
Đường qua mấy dội
O sẽ nghỉ chân
Chẳng quản xa gần
O đi đi nữa
Bóng chiều vừa ngả
O lội sang khe
Quần ướt dầm dề
Bỗng o dừng bước
Mặt soi xuống nước
Cúc áo vội cài
Nhém lại tóc mai
Rồi o chợt thấy
Xuân gầy, ba bẩy
Da tuyết vàng khè
O sợ chồng chê
Nhưng o vẫn bước
Mình lo việc nước
Chồng chê “mược” chồng.
(1945)
LƯU TRỌNG LƯ
Tiết 5
HÀN MẶC TỬ
Tiểu sử.
Tên thật Nguyễn Trọng Trí. Sinh ngày 22-09-1912 ở Đồng Hới. Thuở nhỏ học trường Quảng Ngãi, đã thích văn thơ, bắt đầu là thơ Đường luật. Năm 18 tuổi, ký bút hiệu Phong Trần. Những bài thơ đầu tiên đăng trên báo Phụ Nữ Tân Văn (Sàigòn). Năm 1934, 1935 đổi bút hiệu Lê Thanh vào làm báo ở Sàigòn. Rồi chủ trương tờ Công Luận văn chương và viết cho các báo Trong Khuê Phòng và Tân Thời. Chính thời gian này, ông ký bút hiệu Hàn Mặc Tử. Cuộc sống trải qua nhiều nghề: thư ký nhà buôn, làm báo, và cuộc sống thì nghèo nàn như đa số thiên tài có danh trên thế giới đều khổ như con vật lúc sinh thời. Có những Tết, không có tiền trả tiền nhà, trả nợ vặt, trả thợ giặt giũ quần áo và, nhà chủ đuổi nhà. Đêm ba mươi Tết, về nhà gõ cửa với hai bàn tay trắng, đầu không mũ, mẹ là bà Nguyễn Thị Duy hỏi con, hành lý để đâu? Ông trả lời: “Gửi ở Sàigòn vì chỉ ăn Tết ở nhà mấy hôm thôi”. Qua Tết, ông vẫn ở nhà trọn năm và chẳng bao giờ thấy hành lý gửi về. Năm 1936, sau khi đi du lịch Huế, Nha Trang, ông mắc bệnh hủi. Bệnh tật sau này ảnh hưởng tới văn chương rất xúc động, bi thiết, thành khẩn, ông sáng tác Đau Thương.
Tác phẩm và khuynh hướng.
Thơ Hàn Mặc Tử trước khi mắc bệnh hủi, không mấy đặc sắc. Tác phẩm đã xuất bản Gái Quê (1936), chứng tỏ điều vừa nói ở trên. Sau mắc bệnh hủi, thất tình (với Mộng Cầm), thơ Hàn Mặc Tử não nuột, đau khổ phản ánh trong văn chương cao độ. Hơi thơ mạnh, bạo, có đà đi lên, bản sắc độc đáo. Lời thơ chau chuốt, chọn lọc từng âm tứ, từ ngữ; đôi khi châm biếm, ngạo nghễ. Tiếng thơ của đời tác giả biểu hiện thành khẩn, không dấu diếm, phủ nhận luân lý xã hội. Thi sĩ Hàn Mặc Tử mất ở Qui Hòa (Qui Nhơn) cuối năm 1940. Trước khi chết viết một bài thơ xuôi bằng tiếng Pháp: La Pureté de l’âme. Sau hai năm, Quách Tấn in tập thơ Hàn Mặc Tử (Đông Phương Sàigòn 1942) gồm những bài thơ chọn lọc của Hàn, qua các giai đoạn bệnh tật và thất tình.
Phê bình.
Phê bình Hàn Mặc Tử, Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Hàn Mặc Tử có những thi hứng rất dồi dào, nhưng thơ ông phần nhiều khúc mắc, nhạc điệu trong thơ ông hình như không phải là phần quan hệ, lời thơ ông nhiều khi rất thơ, bệnh ông làm cho ý tưởng khác thường”. Ý kiến Vũ Ngọc Phan e không mấy xác đáng, vì trong tiết phê bình Trần Thanh Mại (Nhà văn hiện đại), Vũ Ngọc Phan thừa nhận giá trị thơ Hàn chau chuốt, xúc tích như Gái Quê; thì Vũ Ngọc Phan lại viện ý khác cho thơ Hàn thô kệch. Sự kiện đãi lọc phê phán tổng quát ở hôm nay, thì thơ Hàn vô cùng tha thiết với bản thân, với đời, với đạo, phân tích giảng giải ý nghĩa nhân sinh bằng lời thơ rất thơ. Thơ ông là hình tượng vắt bằng hình nhục, tim, máu, bệnh; cả nỗi chết nhọc nhằn. Ông là thi hào của thơ triết học – lối thơ triết học này như một Paul Claudel Pháp.
Sau Vũ Ngọc Phan thừa nhận thơ Hàn hay thật sau ngày ông qua đời. Nói như Nguyễn Đình Thi trong một tiểu luận (Thơ triết học) gồm hai phần: phần hồn và kỹ thuật diễn đạt đến độ cao mới thành công, với quan niệm ấy, thì thơ Hàn Mặc Tử đạt được đúng nghĩa. Hàn Mặc Tử đã tạo cho thi nghiệp trang văn chương bất tử, quý báu, là nhà thơ đem triết học vào thơ, đem triết lý nhân sinh vào thơ rất thơ. Truy niệm Hàn Mặc Tử, Hoàng Thu Đông(46) có nhiều ý kiến xác đáng về giá trị thi hào đã qua đời:
“...Hoàn cảnh đặc biệt đời sống Hàn Mặc Tử đem lại cho thi sĩ một thi nghiệp khác thường và dành riêng trang trọng thi văn Việt Nam. Giá trị thơ Hàn Mặc Tử cũng như giá trị đạo giáo, gần gũi mà xa xôi với cuộc sống. Song sức truyền cảm mãnh liệt của thi sĩ rung động người đọc sâu xa, vì Hàn Mặc Tử đã yêu thương đau khổ với tất cả những thiết tha thành thực của con người. Tiếng nói của Hàn Mặc Tử không phải là tiếng nói của một văn nghệ sĩ của thời đại, nhưng bình diện con người, Hàn Mặc Tử là một thi sĩ mà các thế hệ sau cũng như hiện thời không quên được. Vì Hàn Mặc Tử theo đúng nghĩa chân thành của nó…”
(Cải Tạo loại mới, số 326 – 1955, Sàigòn)
Trích thơ:
1. HÃY NHẬP HỒN EM
Đừng nhắc nhở tên anh ngoài lỗ miệng
Vì gió hương nghe được rỉ thầm hoa
Lỡ mất rồi tâm sự của đôi ta
Chưa hề nói cho một ai nghe biết
Chưa hề dặn ngày mai rồi tiễn biệt
Chưa khi nào đọc đến chữ chia ly
Bỗng đêm nay, trước bóng trăng quỳ
Sấp mặt xuống cúi mình theo dáng liễu
Lời nguyện gẫm xanh như mầu huyền diệu
Não nề lòng viễn khách giữa lúc mơ
Trời từ bi cảm ứa sương mờ
Sai gió lại lay hồn trong kẽ lá
Trăng choáng váng với hoa tàn cùng ngã
Anh đoán chừng cơn ấy em ngất đi
Khổ lòng chưa em hỡi mộng tình si
Cuồng dại quá, khiến nước mây sường sượng
Nhưng qua rồi những phút giây tơ tưởng
Anh nhìn trăng bẽn lẽn đậu ngành cao
Phải giờ này đang lúc em chiêm bao
Vì chính giờ này anh đang yêu thiệt
Em hãy nhập hồn em trong bóng nguyệt.
2. ĐÔI TA
Mà anh hay em trong tim đều rạn
Đều chôn sâu một hình ảnh người mơ
Bây giờ đây, quấn quít hiện bây giờ
Chỉ biết có đôi ta là đáng sống
Dành cho nhau ngọt ngào và đáng mộng
Cố làm lơ không biết đến thời gian
Đến bông hoa tàn tạ với trăng ngàn
Đến những tình duyên chung quanh thất vọng
Nhiều hành tinh tan đi vì lỏng
Ôi muôn năm giấc mộng đã rời chưa?
Lúc ấy, sóng triều rền rĩ chưa bưa
Cứ nhắm mắt yêu nhau như chết
Cứ sảng sốt tê mê và rũ liệt
Đừng nghe chi âm hưởng địa cầu đang
Vỡ toang ra từng mảnh cả không gian
Cả thời gian từ tạo thiên lập địa
Dẫu trộn trạo điều hòa và xí xóa
Thành hư không như tình ái giữa đôi ta.
HÀN MẶC TỬ
Tiết 6
NGUYỄN BÍNH (1919 – 1966)
Tiểu sử.
Sinh năm 1919 ở Nam Định. Tên thật Nguyễn Bình Thuyết. 
Nguyễn Bính sẵn thiên bẩm làm thơ từ nhỏ. Sống ở miền quê, nhà nghèo, ít học, và làm thơ lục bát rất hay, truyền cảm mãnh liệt phổ biến sâu rộng nhất trong dân thị thành, cả nông thôn. Có thể nói sau Nguyễn Du, Nguyễn Bính là nhà thơ được nhiều người học thuộc thơ nhiều nhất. Ông được giải thơ khuyến khích của Tự Lực Văn Đoàn năm 1937.
Tác phẩm và khuynh hướng.
Thi phẩm đã xuất bản như: Lỡ bước sang ngang (1940), Mây Tần, Mười hai bến nước, Tâm hồn tôi (1940), Hương cố nhân (1941) vv... sau này Nhà xuất bản Hương Sơn tái bản một hai thi phẩm chính nhiều lần. Thơ Nguyễn Bính có bản sắc sắc độc đáo, một địa vị không nhà thơ nào có được, với lối diễn đạt bình cũ rượu mới, thể thơ rất phổ biến là thơ lục bát rất Việt Nam. Từ một ảnh hình vô cùng lãng mạn, người chị dặn em ở lại nhà, trước khi đi lấy chồng (Lỡ bước sang ngang) khiến người đọc rung cảm chân thành, ứa lệ và Nguyễn Bính có giọng thơ làm người đọc thật cảm động. Từ một kỹ thuật cao, đến cách dùng từ ngữ, âm tứ, nghĩa là tạo thành bài thơ, Nguyễn Bính có kỹ thuật riêng biệt để bài thơ cảm mãnh liệt. Thơ Nguyễn Bính còn mang cá tính châm biếm cay chua cảnh nghèo kiếp tơ tằm:
“Hôm qua còn sót hai đồng bạc
Hai đứa bàn nhau uống rượu say”
hoặc mai mỉa cô gái vội quên tình nghĩa, tham tiền, quên lãng tình nhân. Như:
“Một trăm con gái đời nay ấy
Đừng nói ân tình với thủy chung!”
và đôi khi hoài cảm dĩ vãng nên thơ:
“Hai đứa ôm nhau đánh giấc dài
Vô tình ngủ đến sáng ngày mai
Chị Nhi cứ chế làm sao ấy
Hai đứa nhìn nhau ngớ ngẩn cười.”
Tình hai kẻ lúc chưa biết gì là đời, Nguyễn Bính diễn tả Mười hai bến nước đa số bài bản nói đến phận làm con gái, với vần thơ cảm động như tuyệt bút.
Phê bình.
Thơ Nguyễn Bính không giống thơ một ai, chính thi nghiệp của ông độc đáo như đời thơ Hàn Mặc Tử, rút cuộc sống thành khẩn bản thân, diễn tả thành thơ với nghệ thuật cao và thành công rực rỡ. Không cầu kỳ kiểu Vũ Hoàng Chương, không thuần túy lãng mạn lứa đôi thanh xuân đô hôi Xuân Diệu, không khóc đời suy tư kiểu Huy Cận, không hình ảnh thiên nhiên tạo vật buồn nhẹ Lưu Trọng Lư; mà đi vào một khía cạnh tâm hồn mọi người; khi thi sĩ hòa đồng rung cảm. Nhận định giá trị thơ Nguyễn Bính có hợp thời không, một bạn yêu văn nghệ, Trọng Thư viết trong báo đặc san Hương Cúc Mới (Sông Văn, Đà Lạt, 1952) như sau:
“… Thơ Nguyễn Bính ngày nay không hợp thời nữa. Giữa lúc Tổ Quốc đang cần đến nghị lực thanh niên, còn gì tức cười cho bằng một chàng trai trẻ như măng non đầy nhựa sống, than rằng tình mình đã khép lại vì một người con gái, giữa lúc xuân sang, đem bao hy vọng lại cho tuổi hoa niên. Không, tình chúng ta phải luôn luôn mở, không phải vì một cá nhân mà là vì muôn người chung quanh ta. Song không phải thế mà chúng ta phủ nhận thơ Nguyễn Bính với những bài tình tứ nhẹ nhàng, man mác như hương trầm thong thả bay trên bàn thờ, tỏa lên cao rồi lại cuốn theo chiều gió mang cả hồn chúng ta về phía xa xôi, chốn quê hương thân mến..."
Nói thế, ông bạn nào đó tự nhận chân giá trị một bài thơ tình Nguyễn Bính tiền chiến, dầu mang trường hợp Nguyễn Bính ra phân tích, nào là giữa lúc tổ quốc lâm nguy, phải có thái độ nào với thơ Nguyễn Bính? Giá trị một tác phẩm văn chương, dù là bất tử đi nữa, cũng chưa có thể áp dụng cho một thời gian không biên giới được (43) .
Trích thơ:
MỘT CON SÔNG LẠNH
Chén sầu nghiêng giữa trường giang
Canh gà bên nớ giàng sang bên này
Khoan đàn em hãy gắng say
Một đêm, chỉ có đêm nay thôi mà
Chúng ta người bến sông xa
Giang hồ một chuyến về qua xứ này
Phiền em dăm bảy đường tay
Một con sông lạnh, vài giây tơ tằm
Rưng rưng ánh nến hoen vàng
Hơi men lắng xuống, tiếng đàn cao lên
Ô nàng chẳng phải là em
Tôi nghe vó ngựa hòa Phiên, rõ ràng
Đừng quên-quên đấy-thôi nàng
Đất Hồ xa quá nàng sang sao đành
Trời ơi Hán đế vô tình
Tôi xin đốt cả kinh thành ấy đi
Chưa say, em đã say gì?
Chúng tôi còn uống còn nghe em đàn
Rưng rưng ánh nến hoen vàng
Đôi giây nức nở muôn ngàn nhớ thương
Đôi giây như thể đôi đường
Em ơi! Hà Nội là phương hướng nào?
Đêm tàn chẳng có chiêm bao
Đêm tàn có mấy chòm sao cũng tàn
Chén sầu đổ ướt trường giang
Canh gà bên nớ giàng sang bên này
Lạy trời đừng sáng đêm nay
Đò quên cặp bến tôi say suốt đời
Chiêu Quân lên ngựa mất rồi…
(Thơ Huế)
NGUYỄN BÍNH
Tiết 7 và 8
THÂM TÂM VÀ T.T.KH.
Từ ngày báo Loa đăng bài thơ Bài thơ thứ nhất, dưới ký tên T.T.Kh; thì dư luận xôn xao về chuyện tình yêu của Thâm Tâm với T.T.KH. Rồi Hai hoa sắc ty gôn, tiếp theo sau Bài thơ cuối cùng, thì sau đó Nguyễn Bính làm Giòng dư lệ mượn trong ý vào đề bằng thơ của T.T.KH:
“Cho tôi ép nốt giòng dư lệ
Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên"
Kể lại một chuyện tình của chàng thi nhân và nàng là tác giả bài thơ kia, than khóc cuộc đời giang hồ của chàng không bến đậu. Ít năm sau nàng đi lấy chồng, nhà thơ Nguyễn Bính than khóc rằng:
"Truyện xưa hồ lãng quên rồi
Bỗng đâu xem được thơ người vườn Thanh
Bao nhiêu oan khổ vì tình
Cớ sao giống hệt chuyện mình gặp xưa
Phải chăng, mình có nên ngờ?
Rằng người năm ngoái bây giờ là đây…”
của Nguyễn Bính thì là giọng thơ mơ hồ, hoài nghi, bán tin bán nghi. Vì mối tình ấy, nếu giống hệt, thì Nguyễn Bính với nàng vườn Thanh nào đó, chưa chắc đã là T.T.KH? Như vậy có lẽ của Nguyễn Tuấn Trình (bây giờ đã chết) với bút hiệu Thâm Tâm. Qua giọng thơ chàng thi nhân sau này, chúng tôi thấy giọng bi thiết hơn.
THÂM TÂM (1917 – 1950)
Tên thật Nguyễn Tuấn Trình. Sinh năm 1917 mất năm 1948. 
Nhà thơ đồng thời với Nguyễn Bính, Huyền Kiêu, Đinh Hùng, Hằng Phương… có giọng thơ chán chường, bi thiết nói về tình yêu. Khi vài bài thơ T.T.KH. đăng trên báo Loa, thì Thâm Tâm làm bài Các anh hãy uống thật say đáp lại trước Nguyễn Bính. Bài thơ ấy cũng như thơ T.T.KH. ăn khớp với nhau hơn và T.T.KH. nhắc đến người chồng đang chung sống tên NGHIÊM.
Bài thơ Thâm Tâm truyền cảm thành khẩn, lời thơ, giọng thơ bi ai thống khổ, chứng tỏ tâm hồn đau khổ thực với hồn thơ, có hình tượng đau thương bằng máu, căm hờn, giận oán, chứ không lãng mạn vu vơ như bài thơ Nguyễn Bính, mặc dầu bài thơ Nguyễn Bính cũng hay.
T.T.KH (48)
Một T.T.KH của Nguyễn Bính hay Thâm Tâm, là nàng thơ như George Sand của Chopin và Musset hay đúng hơn so với thí dụ giữa nàng Nodier của Arvers (Pháp) đầu thế kỷ 19, mà chúng tôi có thể cho rằng đó là bài thơ tình hay bậc nhất thế kỷ của những nhà thơ ngẫu nhiên. Nói như tiếng Pháp, écrivain occasionnel. Có nhiều giả thuyết nghi vấn bàn về văn chương T.T.KH, nhưng thiết tưởng rằng cũng không cần biết chi tiết là ai? Mà chỉ ít bài thơ ấy của T.T.KH, là bài thơ bất hủ, lãng mạn đau thương (romantisme tourmenté) thành khẩn làm nhiều người rung cảm theo. Còn là điển hình tư tưởng lớp thanh xuân hồi ấy ưa chuộng, bởi vì lý tưởng chung khi ấy chỉ biết đau khổ trong yêu đương làm lý do chính để sống. Hồi ấy, có thể gọi thời hòa bình, thực dân Pháp thống trị, thanh niên thiếu nữ; nếu người không làm cách mệnh, chính trị; thì chỉ còn biết thỏa mãn cuộc đời bằng vần thơ yêu đương rào rạt mà thôi.
Hoài Thanh có nhắc đến T.T.KH. trong Thi Nhân Việt Nam, chúng tôi nhấn mạnh thêm T.T.KH là thi sĩ có tài ngang ngửa Xuân Diệu thời ấy. Lối thơ lãng mạn đau thương lại thống thiết hơn. Trích hai bài thơ T.T.KH. và một bài Thâm Tâm để có tài liệu về chuyện tình và thơ tình hay tiền chiến.
Trích thơ:
1. HAI SẮC HOA TY GÔN
Mỗi mùa thu trước mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người đến với yêu đương
Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Giải đường xa vút những chiều phong
Và phương trời thẳm mờ sương cát
Tay vít giây hoa trắng cạnh lòng
Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng hoa ráng như tim vỡ
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi
Thuở ấy nào tôi đã hiểu gì?
Cánh hoa tan tác của sinh ly
Cho nên cười với mầu trong trắng
Là chút lòng trong chẳng biến suy
Đâu biết một lần đi lỡ làng
Dưới trời đau khổ chết yêu đương
Người xa xăm quá! Tôi buồn lắm
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường
Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu trước rất xa xôi
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết từng thu chết
Vẫn giấu trong tim một bóng người
Từ đấy thu rồi thu lại thu
Lòng tôi giá lạnh đến bao giờ?
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy cho nên vẫn hững hờ
Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ
Chiều thu hoa rụng lại chiều thu
Gió về lạnh lẽo cùng mây trắng
Người ấy bên sông đứng ngắm đò
Nếu biết rằng tôi đã có chồng
Trời ơi, người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa má hồng.
2. BÀI THƠ CUỐI CÙNG
Anh ạ, tháng ngày xa quá nhỉ
Một mùa thu cũ một lần đau
Ba năm ví biết anh còn nhớ
Em đã câm lời có nói đâu?
Đã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly
Càng khơi càng thấy lụy từng khi
Trách ai mang cánh ty gôn ấy
Mà viết tình em được ích gì?
Chỉ có ba người được đọc riêng
Bài thơ đan áo của chồng em
Bài thơ đan áo nay rao bán
Cho khắp người đời thóc mách xem
Là giết lời nhau đấy biết không?
Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rưng
Giận anh tôi chép giòng dư lệ
Là chút dư hương điệu cuối cùng
Từ nay anh hãy bán thơ anh
Là để yên tôi lấy một mình
Những cánh hoa lòng hừ đã ghét
Thì mang mà đổi lấy hư vinh
Ngang trái đời hoa đã úa rồi
Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi
Buồng NGHIÊM thờ thẫn buồng eo hẹp
Để nhớ người không muốn nhớ lời
Tôi oán hờn anh mỗi phút giây
Tôi run sợ viết bởi rồi đây
Nếu không im được, thời tôi chết
Đêm hỡi làm sao tối thế này?
Năm lại qua năm cứ muốn yên
Mà phương trời gió chẳng làm quên
Mà người vỡ lở duyên thầm kín
Lại chính là anh, anh của em
Tôi biết làm sao được hở trời?
Giận anh không nỡ, nhớ không thôi
Mưa buồn mưa hắt trong lòng ướt
Sợ quá đi anh có một người .
T.T.KH
Đây bài thơ Các anh hãy uống thật say Thâm Tâm nói rõ lòng và chính bài thơ ấy cho biết KH là Khánh. Vậy tạm tin giả thuyết này, còn mấy bài thơ của Khánh đăng báo chỉ ký là T.T. KH mà Thâm Tâm cho là Thâm-Tâm-Khánh.
CÁC ANH HÃY UỐNG THẬT SAY
Các anh hãy uống thật say
Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im
Giờ hình như quá nửa đêm
Lòng đau đem lại cái tin cuối mùa
Hơi đàn buồn như trời mưa
Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi
Giờ hình như ở ngoài trời
Tiếng xe đã nghiến, đã rời rã đi.
Hồn tôi lờ mờ sương khuya
Bởi chưng tôi viết bài thơ trả lời
Vâng tôi biết có một người
Một đêm cố tưởng rằng tôi là chồng
Để hôm sau khóc trong lòng
Vâng, tôi vẫn biết cánh đồng thời gian
Hôm nay rụng hết lá vàng
Và tôi lỡ chuyến chiều tàn về không
Tiếng xe trong vết bụi hồng
Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ
Tiếng xe trong xác pháo xưa
Nàng đi có mấy bài thơ trở về?
Tiếng xe mở lối vu quy
Hay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời
Miệng chồng Khánh gắn trên môi
Hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ
Từ ngày đàn chia đường tơ
Sao tôi không biết hững hờ nàng đan
Kéo dài một chiếc áo len
Tơ càng đứt mối nàng càng nối dây
Nàng còn gỡ mãi trên tay
Thì tơ duyên mới đã thay hẳn màu
Góp hai thứ tóc trên đầu
Sao còn chắp nối những câu tâm tình
Từng năm, từng đứa con non
Mỉm cười vá kín vết thương lại lành
Khánh đi còn hỏi gì anh?
Ái tình dù vỡ ái tình lại nguyên
Em về đan mối tơ duyên
Vào tà áo mới đừng tìm duyên xưa
Bao nhiêu hy vọng còn thừa
Hãy đành mà khóc những giờ vị vong
Bao nhiêu hương cánh trong lòng
Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng, hồn cha
Nhắc làm chi chuyện đôi ta
Bản năng anh đã phong ba dập vùi
Hãy vui lên các anh ơi!
Nàng đi tôi gọi hồn tôi trở về
Tâm hồn lạnh nhạt đêm nghe
Tiếng mưa lá chết đã xê dịch nhiều
Giờ hình như gió thổi đều
Những loài hoa máu đã gieo nốt đời
Tâm hồn nghệ sĩ nổi trôi
Xá chi cái đẹp dưới trời mỏng manh
Xá chi những chuyện tâm tình
Lòng đau đem chứa trong bình rượu cay
THÂM TÂM.
Tiết 9
TRẦN TRUNG PHƯƠNG (1913 - 1943)
Tiểu sử.
Trần Trung Phương sinh năm 1913, qua đời 1943. Ông chuyên viết thơ dành cho trẻ em có tính cách nói lên nếp sống ngây thơ đời con trẻ với mục phiêu giáo huấn. Cả đời văn nghệ, Trần Trung Phương chỉ tận tụy vào nghiên cứu giáo dục trẻ em bằng lối thơ rất thích hợp với tuổi thơ còn đi học, của tuổi thơ ấu thời.
Tác phẩm và khuynh hướng.
Tác phẩm xuất bản: Mấy vần tươi sáng (Bình Minh, Hà Nội tái bản năm 1952). Là nhà thơ của thế giới trẻ con, vì ông luôn luôn nghĩ đến thế hệ sau. Khác Nguyễn Đức Quỳnh huấn luyện mẫu người mai hậu; trái lại ông hòa đồng vào thế giới nhi đồng, để nói lên tính ngây thơ trong sạch. Nét tươi sáng chưa biết thế nào là vị danh vị lợi, vị tình. Thiêng liêng và trong sạch là những con người ấy! Bài tựa của Tam Lang thì không có gì đáng nhắc lại, duy chỉ bài tựa Khái Hưng có đoạn văn giới thiệu rất hợp thời, hợp cảnh, hợp tình; nói lên thầm ý một đời tác giả: làm thơ là nguồn sống tinh thần chính yếu phục vụ thiếu nhi.
Thơ Trần Trung Phương với bài thơ bé nhỏ của hình tượng rất dễ tìm thấy, nếu ngoảnh lại hàng chục năm về trước, từ bài thơ chép của nhau, đến đi học chậm, tranh giành, rồi phải quỳ, giận nhau vô lối, thù ghét kia tan đi, dành cho nhau tình bạn da diết thương yêu. Trần Trung Phương ghi lại bằng vần thơ rất linh động và cho chúng ta hưởng lại đôi phút tươi trẻ, nhớ lại bản thân của giòng thời gian xa xôi lắm…
Phê bình.
Mấy vần tươi sáng bình dị, hợp với tâm hồn em học sinh bé nhỏ. Từ âm tứ, từ ngữ trẻ em, ông khai triển sâu rộng đọc lên thấy được gần gũi thời thơ ấu. Đọc thơ tưởng rằng tác giả là người thu nhỏ mình lại đang dung dăng dung dẻ với các em, rồi phá lên cười ròn tan. Tiếng cười tan đi, sau phổ thành tiếng thơ ngọt ngào, trong suốt. Giá trị thơ Trần Trung Phương là như thế!
Trích thơ:
PHẢI QUỲ
Đêm qua thức mãi làm thơ
Sáng nay đi học trễ giờ khổ không?
Thành ra bài học thuộc lòng
Em vừa nhẩm được vài dòng đã thôi
Đi đường bút của em rơi
Đến giờ ám tả (45) û đành ngồi bó tay
Con Liên nó vội tâu ngay
Có người không viết- Thưa thầy- chị Chi
Trông em chẳng viết chữ gì
Béo tai, thầy giáo bắt quỳ ngoài hiên
Được rồi tao biết con Liên
Từ rày đừng có vay tiền của tao
Hôm xưa mình có một hào
Con ranh nịnh hót rằng tao yêu mày
Bây giờ tao phải quỳ đây
Liên ơi! đã mát ruột mày hay chưa?
TRẦN TRUNG PHƯƠNG
Tiết 10
TRẦN HUYỀN TRÂN (1913 -1989)
Tiểu sử.
Tên thật Trần Kim. Sinh năm 13 -9 -1913 ở Hà Nội. 
Trần Huyền Trân là nhà văn có tài, tác giả truyện ngắn tâm tình rất hay. Về thơ, Trần Huyền Trân có địa vị chắc chắn hơn văn, mặc dầu văn không kém thơ. Tóm lại về văn thơ, Trần Huyền Trân đều sở trường. Viết cho các báo Tiểu thuyết thứ bảy, Truyền bá, Phổ Thông bán nguyệt san…
Tác phẩm và khuynh hướng.
Tác phẩm xuất bản: Lẽ sống (Truyện ngắn, Phổ thông bán nguyệt san, 1942) và nhiều thi bản đặc sắc đăng báo Tiểu thuyết thứ bảy, và Phổ thông bán nguyệt san. Thơ Trần Huyền Trân nói lên tình cảm chân thành thế hệ ông sống, giọng thơ nhiều khi rất khinh bạc, kiêu sa như văn Nguyễn Tuân. Bài Mười năm, cũng như hầu hết các thi bản khác chỉ ca tụng tình yêu. Độc hành ca của Huyền Trân là bài thơ hay. Văn thơ lãng mạn của ông chẳng kém Xuân Diệu, và thể thơ lục bác chẳng kém Nguyễn Bính:
“Tương phùng ta để biệt ly
Biệt ly là một lòng đi qua lòng
Giờ thuyền em đã theo sông
Anh nhìn khói sóng ngỡ trông mây đèo…”
Thời kháng chiến, Huyền Trân bị chuyển dịch theo bánh xe cách mệnh, ca tụng sức vươn lên giống nòi vùng dậy tranh đấu độc lập. Bài thơ Hải Phòng 19-11-1946 là bài truyền hịch, giọng thơ căm hờn hướng dẫn tất cả giai cấp hãy đứng lên chống Pháp toan xâm lăng lần hai đất nước. Thơ khẩu khí hùng hồn, hào khí, phản ánh mảnh tình đồng hợp người dân bị thống trị. Truyện ngắn Trần Huyền Trân, như tập Lẽ sống rất linh động. Ông là nhà văn có tài. Gồm truyện Lẽ sống, Bộ áo rét nhà thơ, Tâm lý cá, Những chiều thu vắng, Lá rụng, Khoa Bát Cử, Một con cốc chết, Yêu... chứng nhận tài năng của Trần Huyền Trân, không những nhà thơ có tài; còn là nhà văn có địa vị. Khác Xuân Diệu và Lưu Trọng Lư ở điều này, thơ văn của ông đều thành công. Truyện ngắn bao hàm triết lý nhân sinh, đem cuộc đời vào truyện, suy ngẫm mong cuộc đời tươi đẹp hơn lên. Dầu chỉ là thói sống rất tầm thường người đời, dưới con mắt tác giả lại là hình tượng đáng chú ý, và đôi khi tác giả đem đời sống bản thân làm nhân vật chính trong văn chương. Như Nguyễn Đức Quỳnh, Nguyên Hồng, Mạnh Phú Tư, Thiết Can, Thạch Lam…, hầu hết truyện ngắn trong Lẽ sống là tâm tư tác giả ghi lại biến chuyển va chạm, với giọng văn căm hờn, trầm lặng; nhưng ít vui trong đời sống. Lẽ rằng cuộc đời tơ tằm có mấy khi viết lên trang văn chương sung sướng đâu?
Trần Huyền Trân là nhà thơ lớp Huyền Kiêu, Tế Hanh, Đinh Hùng, Hằng Phương; sau Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Huy Cận… song là nhà văn thơ tài năng có tâm hồn sáng tạo phong phú. Văn ông có chiều sâu, tư tưởng thâm thúy.
Nhớ thi tài Trần Huyền Trân khiến chúng tôi nhớ đến Hoài Thanh, Hoài Chân khi viết Thi Nhân Việt Nam vào năm 1940. Hoài Thanh viết đến trang chót sách phê bình thi ca trên, ông định khép cửa lại, nghĩa là dầu có là thiên tài thi ca, ông cũng không mở cửa viết tiếp. Song lại có một chữ nhưng… đó là trường hợp Trần Huyền Trân thì Hoài Thanh lại phải mở cửa viết phê bình tiếp thêm một thi nhân tài năng là Trần Huyền Trân. Chúng tôi cho trích đầy đủ nhận xét giá trị thi ca Trần Huyền Trân, qua sự phê phán của Hoài Thanh:
“…Viết đến đây tôi đã định khép cửa lại, dầu có thiên tài đến gõ cũng không mở. Thế mà lại phải mở cửa để đón một nhà thơ nữa: Trần Huyền Trân. Trần Huyền-Trân, con người có tên lạ ấy, không phải là một thiên tài. Nhưng tôi tra những văn thơ hiền lành và ít nói yêu đương.
Cũng có lần thi nhân tả tình tương tư:
"Xa nhau gió ít lạnh nhiều,
Lửa khuya tàn chậm, mưa chiều đổ nhanh"
Nhưng thường thì Huyền-Trân tìm thi hứng, hoặc trong những cảnh đời buồn bã như cảnh đời cùng của thi sĩ Tản Đà:
“Có đàn con trẻ nheo nheo,
Có dăm món nợ eo sèo bên tai.
Chừng lâu rượu chẳng về chai,
Nhện dăng giá bút một vài đường tơ.
Nghiên son lớp lớp bụi mờ,
Mọt ôn tờ lại từng tờ cổ thi.”
Hoặc trong cảnh đồng quê:
“Mặt trời say rượu tắm ven sông
Nước thẹn bâng khuâng ửng má hồng
Bầy sẻ đâu về cười khúc khích
Rủ nhau lúa chín trộm vài bông.”
Đồng quê của Huyền Trân đã mất hết vẻ quê mùa. Nó làm duyên làm dáng như một cô gái thành thị.
Huyền Trân ưa nói nhất là tình mẹ con.
Người gợi cái hình ảnh Phạm Ngũ Lão sau khi dẹp giặc Nguyên. Đêm ấy tiệc khao quân vừa tan. Ai đấy đều yên ngủ. Cho đến chiến mã cũng:
“Đuôi mừng phủi sạch bụi binh đao.”
Giữa lúc ấy Phạm Ngũ Lão một mình ngồi trong trướng, lòng băng khoăng nhớ mẹ:
“Binh thư ngừng giở, bào quên cởi
Đèn nhớ mong ai bấc lụi dần.”
Thế rồi tướng quân quất ngựa tìm về chốn:
“Nằm ăn gốc gạo lều dăm mái
Cánh liếp che sương hé đợi chờ”
Than ôi! Tướng quân về tới nơi thì mẹ già không còn nữa.
Thơ Huyền Trân không xuất sắc lắm. Nhưng sau khi đọc hoài những câu rặt anh anh em em tôi đã tìm thấy ở đây cái thú của người đi đổi gió” (45)
Dưới đây chúng tôi xin trích dẫn bài thơ của thi sĩ: Mười Năm và Hải Phòng:
Trích thơ:
1. MƯỜI NĂM
Biết nhau từ thuở dại khờ
Giờ đây bụi cát đã mờ mắt trong
Nhánh hồng em chiết bên song
Đã mười xuân rụng mười bông hoa cười
Con chim bạc má già rồi
Mỏ vàng đã nhặt hết lời thơ xanh
Còn gì nữa ở lầu gianh
Ở lòng em, ở lòng anh còn gì?
Tương phùng là để biệt ly
Biệt ly là một lòng đi qua lòng
Giờ thuyền em đã theo sông
Anh nhìn khói sóng ngỡ trông mây đèo
Mười năm mới hiểu tình yêu
Một nguồn hương nhẹ mấy chiều gió đưa?
(Trích Phổ Thông Bán Nguyệt San)
1942
2. HẢI PHÒNG
Nổ súng rồi!
Nổ súng rồi
Hải Phòng ọc máu phun ra bể
Nước mặn đồng chua thêm máu người
Còi ga rên rỉ
Xe Liên kiểm hết hơi
Miệng La-my ngọt bên tiếng súng
Bao nhiêu bơ sữa reo cười
Gió thu lồng lộng
ngó hút mù khơi
Ngoài kia
Dòng Thái bình ngoi tim bể rộng
Dòng Thái bình vọt sóng
Đang tung lưới nhà Chài
Đang vác bàn tay lưu động
Vét phù sa cầy luống ngô khoai
Dòng Thái bình gieo lên sức sống
Tiếng ngàn xưa phi ngựa thúc voi
Dòng Thái bình đánh nhau với ngư
Này đây máu vữa, thịt vôi
Sáu Kho lên xương cốt
Đóng Kè xây đập
Chật vật ngày đêm một giống nòi
Này đây xóm Lạc Viên lầm lội
Ngủ với chuột, ăn với ruồi
Cha gục xuống rồi, con bước nối
Áo hở da cơm tưới mồ hôi
Cánh tay lao động rên đêm tối
(…) (46)
TRẦN HUYỀN TRÂN
Tiết 11
1. CHẾ LAN VIÊN (1920 – 1986)
Tên thật Nguyễn Ngọc Hoan. Sinh năm 1920 ở Bình Định. Thuở nhỏ học ở Trung học Quy Nhơn.
Tác phẩm xuất bản: Điêu Tàn, 1937, Vàng sao (văn). Viết cho các báo Tin văn, Tiểu thuyết thứ bẩy, Phụ nữ, Trong Khuê phòng, Người mới... Thơ ông hoài vong quốc, mượn hồn Chiêm Thành nói lên tâm trạng khắc khoải dân Việt bị Pháp đô hộ. Hơn nữa, ông sinh trưởng ở Bình Định, nơi ngày xưa dân tộc Chiêm, nên chịu ảnh hưởng nội tâm nhà thơ mang vờ họ Chế. Những thi bản Trên đường về, Điêu tàn, mang nhiều hình ảnh bi thương ấy! Thơ ông với nội dung và hướng đi rõ nét, kỹ thuật vững vàng.
Trích thơ:
TRÊN ĐƯỜNG VỀ
Một ngày biếc thị thành ta rời bỏ
Quay về xem non nước giống dân Hời
(46)
Đây những Tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới Thời gian
Nhưng sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm le lói rỉ rên than
Đây, những cảnh ngàn sâu, cây lả ngọn
Muôn Ma Hời sờ soạng dắt nhau đi;
Những rừng thẳm bóng chiều lan hỗn độn
Lừng hương đưa, rộn rã tiếng từ qui!
Đây, chiến địa nơi đôi bên giao trận
Muôn cô hồn tử sĩ hét gầm vang
Máu Chàm(47) cuộn tháng ngày niềm oán hận
Xương Chàm luôn rào rạt nỗi căm hờn
Đây, những cảnh Thái bình trong Chiêm quốc
Những cô thôn vàng nhuộm nắng chiều tươi;
Những Chiêm nữ nhẹ nhàng quay lại ấp,
Áo hồng nâu phủ phất xõa lời vui,
Đây, điện các huy hoàng trong ánh nắng
Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh
Đây; chiến thuyền nằm mơ trên sông lặng;
Bầy voi thiêng trầm mặc dạo bên thành
Đây, trong ánh ngọc lưu ly mờ ảo
Vua quan Chiêm say đắm thịt da ngà,
Những Chiêm nữ, mơ màng trong tiếng sáo
Cùng nhịp nhàng uyển chuyển uốn mình hoa.
­­Những cảnh ấy trên đường về ta đã gặp
Tháng ngày qua ám ảnh mãi không thôi
Và từ đấy lòng ta buồn tràn ngập
Nỗi buồn thương nhớ tiếc giống dân Hời
(Trích Điêu Tàn)
CHẾ LAN VIÊN
2. NGUYỄN NHƯỢC PHÁP (1914- 1938)
Nguyễn Nhược Pháp là thứ nam nhà học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Sinh ngày 12-12-1914 ở Hà Nội, mất 19-12-1938.
Tác phẩm xuất bản: Ngày xưa (1935). Viết cho các báo L'Annam Nouveau, Hà Nội Báo, Tinh Hoa vv... Phảng phất dĩ vãng, ảnh hình không còn tồn tại ở hôm nay. Trong thơ ông. Nguyễn Nhược Pháp chú trọng về thơ tả cảnh thiên nhiên, chùa đền, bộc lộ tình cảm; hình ảnh phong độ một thời xưa. Thành công trong lối thơ này, Đi chơi Chùa Hương là một trong bài thơ hay của Nguyễn Nhược Pháp. Trước khi chết, ông sáng tác vở kịch nhan đề Người học vẽ.
Trích thơ:
ĐI CHÙA HƯƠNG
Hôm nay đi chùa Hương
Hoa cỏ mờ hơ sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương.
Khăn nhỏ đuôi gà cao
Em đeo dải yếm đào;
Quần lĩnh áo the mới
Tay cầm nón quai thao.
Mẹ cười: “Thầy nó trông!
Chân đi đôi dép cong
Con tôi xinh xinh quá
Bao giờ cô lấy chồng?
Em tuy mới mười lăm
Mà đã lắm người thăm
Nhờ mối mai đưa tiếng
Khen tươi như trăng rằm.
Nhưng em chưa lấy ai
Vì thầy bảo người mai
Rằng: Em còn bé lắm
Ý đợi người tài trai.
Em cùng đi với mẹ
Mẹ em ngồi cáng tre
Thầy theo sau cưỡi ngựa
Thắt lưng dài đỏ hoe.
Thầy me em đi đò
Thuyền mấp mênh bên bờ
Em nhìn sông nước chảy
Đưa cánh buồm lô nhô.
Mơ xa lại nghĩ gần
Đời mấy kẻ tri âm?
Thuyền nan vừa lẹ bước
Em thấy một văn nhân.
Người đâu thanh lạ thường!
Tướng mạo trông phi thường
Lưng cao dài, trán rộng
Hỏi ai nhìn không thương?
Chàng ngồi bên me em
Me hỏi chuyện làm quen
“Thưa thầy đi chùa ạ
Thuyền đông giời ôi chen!”
Chàng thưa vâng thuyền đông
Rồi ngắm giời mênh mông
Xa xa mờ núi biếc,
Phơn phớt áng mây hồng.
Dòng sông nước đục lờ
Ngâm nga chàng đọc thơ!
Thầy khen hay hay quá!
Em nghe rồi ngẩn ngơ
Thuyền đi, bến Đục quá
Mỗi lúc gặp người ta
Thẹn thùng em không nói
“Nam mô A di đà!”
Réo rắt suối đưa quanh
Ven bờ ngọn núi xanh
Dịp cầu xa nho nhỏ
Cảnh đẹp gần như tranh
Sau núi Oản, Gà, Xôi
Bao nhiêu là khỉ ngồi
Tới núi con voi phục
Có đủ cả đầu đuôi.
Chùa lấp sau chùm cây
(Thuyền ta đi một ngày)
Lên cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày.
Em đi, chàng theo sau
Em không dám đi mau
Ngại chàng chê hấp tấp
Số gian nan không giàu
Thầy me đến điện thờ
Trầm hương khói tỏa mờ
Hương như là sao lạc
Lớp sóng người lô nhô.
Chen vào thật lắm công
Thầy me em lễ xong
Quay về nhà ngang bảo
“Mai mới vào chùa trong”.
Chàng hai má đỏ hồng
Kêu với thằng tiểu đồng
Mang túi thơ bầu rượu
“Mai ta vào chùa trong”.
Đêm hôm ấy em mừng!
Mùi trầm hương bay lừng
Em nằm nghe tiếng mõ
Rồi chim kêu trong rừng.
Em mơ em yêu đời
Mơ nhiều… Viết thế thôi
Kẻo mà ai xem thấy
Nhìn em đến nực cười.
Em chưa tỉnh giấc nồng
Mây núi đã pha hồng
Thầy me em sắm sửa
Vàng hương vào chùa trong.
Đường mây đá cheo leo
Hoa đỏ tím vàng leo
Vì thương me quá mệt
Săn sóc, chàng đi theo
Me bảo: “Đường còn lâu
Cứ vừa đi ta cầu
Quan Thế Âm bồ tát
Là tha hồ đi mau”
Đường vẫn thấy đi mau
Em ư? em không cần
Chàng cũng cho như thế
(Ra ta hợp tâm đầu)
Khi qua chùa Giải Oan
Trông thấy bức tường ngang
Chàng đưa tay, lẹ bút
Thảo bài thơ liên hoàn.
Tấm tắc thầy khen hay
Chữ đẹp như rồng bay
(Bài thơ này em nhớ)
Nên chả chép vào đây
Ô! Chùa trong đây rồi
Động thẳm bóng xanh ngời
Gấm thêu, trần thạch nhũ
Ngọc nhuốm hương trầm rơi
Me vui mừng hả hê
“Tặc! Con đường mà ghê!
Thầy kêu: mau lên nhé,
Chiều hôm nay ta về”
Em nghe bỗng rụng rời!
Nhìn ai luống nghẹn nhời!
Giờ vui đời có vậy
Thoảng ngày vui qua rồi!
Làn gió thổi hây hây
Em nghe tà áo bay
Em tìm hơi chàng thở
Chàng ơi, chàng có hay?
Đường dây kia lên trời
Ta bước tựa vai cười,
Yêu nhau, yêu nhau mãi
Đi, ta đi, chàng ôi!
Ngun ngút khói hương vàng
Say trong giấc mơ vàng
Em cầu xin Giời, Phật
Sao cho em lấy chàng
(Thiên ký sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người lấy nhau, vì không lấy được nhau thì cô bé còn viết nhiều. Lấy nhau rồi là hết chuyện).
(Trích Ngày Xưa)
NGUYỄN NHƯỢC PHÁP
3. VŨ ĐÌNH LIÊN (1913- 1996)
Là bạn học Vũ Trọng Phụng ở trường Tiểu học Hàng Vôi. 
Sau làm công chức cao cấp. Sinh năm 1913 ở Hà Nội. Vào Trường Luật, được bổ Tham tá thương chính như Xuân Diệu. Chủ trương Revue Pédagogique, quản lý báo Tinh Hoa, đăng thơ trên các báo Loa, Phong hóa, Phụ nữ Thời đàm... Vũ đình Liên là nhà thơ sống trong giai đoạn thơ mới, nhưng là di tích tiều tụy đáng thương của một thời tàn (Vũ đình Liên tự cáo trạng). Hoài vọng dĩ vãng của thế hệ đã mất, Vũ Đình Liên, Nguyễn Nhược Pháp, mỗi người một đường ghi bóng cũ khác nhau; song cả hai đều nổi tiếng qua nhiều bài thơ “tiếc một thời vang bóng”.
Trích thơ:
ÔNG ĐỒ
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu…
Ông đồ vẫn ngồi đấy,
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay.
Năm nay hoa đào nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
(Trích Tinh Hoa)
VŨ ĐÌNH LIÊN
4. TẾ HANH (1921-2009)
Tên thật Trần Tế Hanh.
Sinh ngày 15-5-1921 ở Quảng Ngãi. Được giải thưởng thơ khuyến khích Tự Lực văn đoàn năm 1939, qua tập Nghẹn Ngào. Thơ Tế Hanh gần gũi với cuộc sống dân quê hương. Tác giả Làng chài lưới nói lên tâm trạng khắc khoải, đơn côi bản thân. Hoặc các bài thơ khác như Vu vơ, Ao ước…
Trích thơ:
VU VƠ
Những ngày nghỉ học tôi hay tới
Đón chuyến tàu đi, đến những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.
Tôi thấy tôi thương những chiếc tàu
Ngàn đời không đủ sức đi mau:
Có chi vướng víu trong hơi máy,
Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau.
Bánh nghiến lăn lăn quá nặng nề;
Khói phì như nghẹn nỗi đau tê,
Lâu lâu còi rúc nghe rền rĩ:
Lòng của người đi réo kẻ về.
Kẻ về không nói bước vương vương…
Thương nhớ lan xa mấy dặm trường
Lẽo đẽo tôi về theo bước họ
Tâm hồn ngớ ngẩn nhớ muôn phương.
(Trích Nghẹn Ngào)
TRẦN TẾ HANH
5. ĐOÀN VĂN CỪ (1913 - 2004)
Đoàn Văn Cừ là nhà thơ tìm kiếm của Hoài Thanh. 
Phê bình gia Hoài Thanh nhiều lần tìm kiếm, song không biết tiểu sử nhà thơ ấy. Thơ ông đăng rải rác trên các báo Ngày Nay như Đám hội, Đám cưới Mùa xuân, Trăng hè, Đi chợ Tết... Đi Chợ Tết là bài thơ điển hình trong thơ hay của thi sĩ, cùng đứng trong tâm trạng lớp người nhớ tiếc dĩ vãng của thế hệ đã mất. (Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên, Đoàn Văn Cừ). Hai nhà thơ trên đã thành công với Đi Chùa Hương, Ông Đồ; thì Chợ Tết trong ý nghĩa này với Đoàn Văn Cừ.
Trích thơ:
CHỢ TẾT
Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà gianh
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc;
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon
Vài cụ già chống gậy bước lom khom
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ,
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau.
Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh
Người mua bán ra vào đầy cổng chợ
Con trâu đứng vờ dim hai mắt ngủ
Để lắng nghe người khách nói bô bô
Anh hàng tranh kĩu kịt quảy đôi bồ
Tìm đến chỗ đông người ngồi giở bán
Một thầy khóa gò lưng trên cánh phản
Tay mài nghiên hí hoay viết thơ xuân
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau
Chú Hoa man đầu chít chiếc khăn nâu
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu
Áo cụ lý bị người chen lấn kéo
Khăn trên đầu đương chít cũng tung ra
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà
Quên cả chị bên đường đang đứng gọi
Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rượi
Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa
Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha
Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết
Con gà sống mầu thâm như cục tiết
Một người mua cầm cẳng dốc lên xem.
Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm
Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh
Trên con đường đi các đường hẻo lánh
Những người quê lũ lượt trở ra về
Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ.
(Trích Ngày Nay)
ĐOÀN VĂN CỪ
6. HUYỀN KIỀU (1913-1995)
Tên thật Bùi Lão Kiều. Lớp thi sĩ đi sau Huy Cận, Xuân Diệu, cùng đợt Đinh Hùng, Hằng Phương (vợ Vũ Ngọc Phan), Phan Khắc Khoan… Thơ Huyền Kiêu u uẩn, chán nản, bi quan. Những bài thơ đã đăng báo mang tâm trạng khắc khoải, u sầu. Song ông là nhà thơ có tâm hồn nghệ thuật cao.
Trích thơ:
TÌNH SẦU
Xuân hồng, có chàng tới hỏi
Em thơ chị đẹp em đâu?
Chị tôi hoa trắng cài đầu
Đi ngắt hoa tươi ngoài nội
Hè đỏ vẫn chàng tới hỏi
Em thơ chị đẹp em đâu?
Chị tôi khăn thắm quàng đầu
Đi rũ tơ vàng bên suối
Thu biếc cũng chàng tới hỏi
Em thơ chị đẹp em đâu?
Chị tôi tóc xõa ngang đầu
Đi hát tình sầu trong núi
Đông xám lại chàng tới hỏi
Em thơ chị đẹp em đâu?
Chị tôi hoa phủ đầy đầu
Đã ngủ trong lòng mộ tối
(1943)
HUYỀN KIỀU
7. LAN SƠN (1912-1974)
Tên thật Nguyễn Đức Phòng. Sinh ngày 11-4-1912 ở Hải Phòng, chính quán Nghệ An. 
Tác phẩm xuất bản: Anh với Em, (thơ, 1934)...Viết giúp các báo Hải Phòng tuần báo, Phong Hóa, Ngày Nay, Tinh Hoa... Thơ Lan Sơn cùng phong độ thơ sầu Huyền Kiêu, song kĩ thuật, tâm hồn rung cảm chưa mấy chín chắn, chuyên biệt như Huyền Kiêu. Đám ma đi là bài thơ chính tác giả ưa thích, yêu cầu Hoài Thanh trích trong Thi Nhân V.N.
Trích thơ:
ĐÁM MA ĐI
Có những buổi mưa phùn thê thảm quá
Cảnh vật trùm trong tấm vải chôn người
Mảnh gỗ chèn thay kính cửa vỡ rồi
Không chắn nổi gió ngoài hơi lạnh giá
Có những buổi mưa phùn thê thảm quá!
Gội lên trên gỗ ván mỏng chôn người
Đám ma đi trong hơi sương lạnh giá
Đi trên đường và đạp xéo lòng tôi
Đám ma kéo lê thê, trong lòng tôi lạnh giá
Đem chôn đi những kỷ niệm lâu rồi
Đám ma đi trong mưa phùn thê thảm quá!
Đi hàng ngày chưa tới huyệt lòng tôi
(Trích Thơ của một đời)
LAN SƠN
8. HUY THÔNG (1916 – 1988)
Tên thật Phạm Huy Thông. Sinh năm 1918 ở Hà Nội, du học bên Pháp, 
đậu tiến sĩ và Cao đẳng văn chương. Tác phẩm đã xuất bản: Yêu đương (1933), Anh Nga (1934), Tiếng địch sông Ô (1935), Tần Ngọc (1937)…. Là nhà thơ cùng thời Nguyễn Nhược Pháp, theo Hoài Thanh là: "một người có những ham muốn dị thường như thế ắt phải ưa sống cái đời những vị anh hùng thời trước, hồi thế giới còn hoang vu, hồi một người trượng phu còn có thể tin mỗi hành vi của mình đều làm xao động trời đất" (trang 92, Thi Nhân Việt Nam). Ý kiến nhận đình này phản ánh đúng tâm trạng lối thơ anh hùng ca Phạm Huy Thông, con người của mégalomanie (poème épopée anh hùng ca).
Trích thơ:
GIẤC MỘNG LÊ ĐẠI HÀNH
Ta sẽ đưa binh Nam đi vùng vẫy
Khắp bốn phương, trời đất mịt mùng tăm
Bầu mênh mông chuyển động tiếng loa gầm
Tiếng gươm ca, tiếng trống hồi ngựa hí.
Binh Nam Quốc như hải triều kiêu hãnh
Sẽ cuốn theo cùng cát phủ, cùng mây nhanh,
cùng gió mạnh
Đổng man di rải rắc núi non Hời
Rồi bóng khiên rợp mát bốn phương trời
Như thác nước cao văng thân vĩ đại
Quân xông xáo tới bên bờ thiên Trúc Hải
Và co cương trên mảnh đất cuối cùng
Đắm say nhìn biển vỗ tới hư không
Trong thế giới vô biên khi cúi đầu khép nép
Binh sĩ ta sẽ cho là đất hẹp
Ngọn trường thương không đủ chỗ tung hoành
Vì muốn đủ tầm xa vút cánh băng nhanh
Muốn sức kình được tự do ngang dọc
Biển bao la với từng trời không góc
Cần mênh mông, cần bát ngát, cần xa xôi
Nhưng không gian chỉ cảm thấy mơ thôi.
HUY THÔNG
9. HỒ DZẾNH (1916 – 1991)
Tên thật Hà Triệu Anh, 
người Minh hương, tác giả những cuốn tiểu thuyết Chân trời cũ và Một chuyện tình mười lăm năm về trước, dưới bút hiệu Lưu Thị Hạnh. Hồ Dzếnh là thi sĩ hơn văn sĩ, lẽ thơ ông giàu nghệ cảm, nổi trội hơn văn. Thơ Hồ Dzếnh có khuynh hướng hoài vọng quốc.
Trích thơ:
TRANG SÁCH XƯA
Giở lần trang sách xưa
Nhớ thời áp bức
Giang sơn ơi! lòng người nguội đau chưa?
Mong đợi người đã thức
Cõi trần ai đêm nay ta bơ vơ
Giật mình cảm xúc
Hận muốn toát ra thơ
Tình tan vào uất ức
Hồn đau run mờ tưởng bóng cờ
Ghi dấu những ngày quốc nhục
Bừng sáng mau lên xuân
Cho vinh quang quét sạch hết phong trần
Cho non nước, sáng tươi ngày trẻ mãi
Và giang sơn, giang sơn, thiên vạn đại
Trước khi tàn ta muốn thấy ngươi vui
Hỡi vô cùng yêu dấu nước ta ơi!
Máu chảy, xuân thơm, mắt lệ người
Vú mẹ đã khô nguồn sữa cũ
Tình con còn lại bấy nhiêu thôi
Hoa xuân đất Việt nghìn thu nở
Gương cũ muôn đời rạng rỡ soi
Ước nhỏ như xưa mà nũng nịu
“Coong là coong mẹ mẹ coong ơi!”
(Trích Hoa xuân đất Việt)
HỒ DZẾNH
10. NGÂN GIANG (1916 - )
Tên thật Đỗ Thị Quế. Viết cho các báo Tri Tân, trước tiền chiến, 
thời hậu chiến viết cho Tia Sáng đặc san ở Hà Nội trước 1954. Tác phẩm xuất bản: Tiếng vọng sông Ngân. Là nữ thi sĩ tiền chiến nổi tiếng, với tâm hồn thi sĩ rạt rào, thi bản Xuân Chiến Địa, bài thơ sáng tác trong cao trào cách mạng, lời thơ vô cùng rung cảm, đề cao lòng yêu nước đấu tranh.
Trích thơ:
XUÂN CHIẾN ĐỊA
Gió dịu mơ hiền ánh nắng tươi
Núi sông bừng nở vạn hoa cười
Bãi sa trường ngát men tranh đấu
Có kẻ say nhìn chốn viễn khơi
Người đẹp phương trời xiết đợi mong
Một chiều nhạc ngựa rộn ven sông
Chàng đi lo trả thù dân tộc
Đã trở về cùng những chiến công
Lời thư và áo giai nhân ấy
Giữ độ thu sang lá chớm vàng
Đây cả tấm lòng dâng chiến sĩ
Quên tình riêng nhé nhớ giang sơn
Công chúa Ngọc Hân mơ Nguyễn Huệ
Bởi say sự nghiệp khách anh hùng
Em cũng mơ người trai nước Việt
Sẽ là những bậc Nguyễn Quang Trung.
Đẹp gì chăn gối trong khi cả
Dân tộc sôi lên chí quật cường
Hãy gác tình riêng mưu nghiệp lớn
Để đong máu giặc dội biên cương
Ngày mai trọn phận người dân nước
Vó ngựa xin dừng trước mái tranh
Để ngắm ai xưa ngồi dệt lụa
Má đào còn thắm tóc đương xanh
Nếu sớm hy sinh nơi chiến địa
Chữ vàng chói lọi ánh vinh quang
Em kiêu hãnh như chồng em đã
Sống với thời gian vượt thế gian
Đêm nay vườn trước bao nhiêu lá
Đã rụng theo nhiều với gió may
Em vội vàng đan xong chiếc áo
Gửi người muôn dặm chắc vừa tay
Hẳn đã nêu cao gương chiến sĩ
Nên hoa hồng nở báo vinh quang
Lòng đầy nguyện ước đầy tin tưởng
Chép vội lời thơ gửi đến chàng
Trăng trong một mảnh soi đôi ngả
In chếch tường hoa chiếc bóng chờ
Nguyện sẽ ấm lòng khi nhạc ngựa
Rung đều dưới dáng liễu lơ thơ
Lời ai xúc động lòng anh dũng
Chiến sĩ cao nhìn thẳng núi sông
Ta quyết hứa người trai đất Việt
Sẽ là những bậc Nguyễn Quang Trung
Phấp phới cờ đào bay gió cuốn
Mây vàng, kiếm sáng lóa hào quang
Các anh, một mối thù dân tộc
Cả một mùa xuân giữa chiến trường.
(1950)
NGÂN GIANG.
Tiết 12
KẾT LUẬN VỀ THƠ MỚI
Mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, mỗi thế kỷ, hoặc có thể nửa thế kỷ thời gian không nhất định bao nhiêu lâu; người lại bắt đầu thay đổi lối ghi lại thực tại cuộc đời, rung cảm lề lối sống. Sự biến dịch ấy, mới có những thi phái này, văn phái kia, chủ nghĩa này, triết thuyết nọ. Ở Nga, thế kỷ 18 biết có bao nhiêu thi phái, nào là poésie classique et poésie de cours (thơ cổ điển và trường phái nhà trường) với: Lomonov, Soumarokov, Dimitriev, Krylov thế kỷ 19, poésie populaire (thơ dân gian) như: Nekrassov, Koltsov, Essénine... poésie pré-romantique (tiền lãng mạn) như: Delwig, Joukowsky, Pouckhine..., poésie romantique (thơ lãng mạn) như: Delvij, Lermontov... poésie pré-symboliste (thơ tiền thân phái tượng trưng) như: Tioutchev, Fet..., pré-parnassienne...(thơ tiền thân nhóm Parnasse hiện đại của S.Prudhomme, Coppée...) poésie décadente (nhóm thơ tiền thân phái tượng trưng sau này). Nhóm thơ của Goumilev, Gorodetzki, nhóm còn Futuriste (tương lai) của Maðakovski, Khlebnikov, Pasternak, Asséiev, Kirsanov..., rồi sau cách mạng Nga 1917, gọi là sau ngày Cách Mạng Tháng Mười) những nhóm nhà thơ Vô sản: Kirillov, Bezymenski, Outkine, nhóm Người Thép (Hommes d'acier) với Jarov, Lebedev... Ở Pháp chia ra theo nhiều thi phái, qua thơ lãng mạn, diễn đạt lối bẩy, tám chữ với những: Baudelaire, Hugo, Lamartine, Théophile Gauthier…. Rồi từ đầu thế kỷ hai mươi, với Paul Éluard, Louis Aragon, Jacques Prévert, ở Tây Ban Nha là F. G. Lorca ở Đức B. Brecht… Nhà thơ ở thế kỷ trước, thời lãng mạn cực thịnh như Lermonotov, Pouckhine… diễn tả lối thơ tám chữ, thơ anh hùng ca, hoặc tình yêu thuần triết, nào có khác gì ở Pháp Lamartine, Hugo…. Sau thời kỳ chuyển mình sang lề lối sống khác lại có Soupault, Picabia, Aragon, Breton… diễn tả theo lối tự do. Ở Việt Nam, từ khi Tây học xâm nhập; là lúc cáo chung hệ thống chịu ảnh hưởng văn học Tàu, người cuối cùng gần nhất còn lóe sáng như Tú Xương, rồi Tản Đà… Từ đó chuyển sang chịu ảnh hưởng Tây học mạnh mẽ với Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Phan Khôi, Đỗ Huy Nhiệm, Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên, Đoàn Văn Cừ, Ngân Giang, Huy Thông, Chế Lan Viên, J.Leiba, Nguyễn Đình Thư, Anh Thơ, Vân Đài, Hằng Phương, Bàng Bá Lân… đã góp nhiều công gây dựng Thơ mới. Quả thực muốn so sánh với thế giới, thì chúng ta vẫn đi sau ít nhất hằng thế kỷ. Thơ Huy Thông với loại thơ ca tụng loại người mégalomanie (anh hùng ca) và không sâu sắc bằng Lermontov. Còn Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, T. T. T. KH, Huy Cận, Huyền Kiêu, Trần Huyền Trân… của ta đâu đã địch nổi với một Pouckhine lãng mạn của giòng thơ mới của Nga đâu? Bởi lẽ, chúng ta sinh trưởng trong nước chịu ảnh hưởng Trung Hoa; lấy mốc ấy tiến theo; sau vua Tự Đức bế quan tỏa cảng, bởi lẽ cũng chỉ muốn nhìn lên và so sánh với Trung Hoa mà thôi. Thơ mới ở Việt Nam là một sự kiện văn học sử. Nó mốc cho sự giải thoát được tâm hồn con người u uẩn, bằng cách nói lên rung cảm tự do, mà thơ Đường không thể nào thỏa mãn chúng ta nữa. Dù muốn hay không, thơ Tự do về sau này, từ ngày có Nguyễn Đình Thi, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Tất Vinh, Hồng Nguyên vv... và nhà thơ không chuyên nghiệp là chiến sĩ, cán bộ cũng diễn tả tâm trạng qua Thơ tự do. Lối thơ này chịu îh hưởng nền văn học Nga, như Simonov, như Mạakowsky, hay chịu ảnh hưởng Pháp: Soupault, Breton, Aragon, Éluard hoặc nữa, chịu ảnh hưởng Tây Ban Nha F. G. Lorca… cho đến thời hậu chiến thơ tự do vẫn tiếp tục lớn mạnh. Thơ mới đã qua rồi, một hình bóng rất đẹp tưởng niệm. Cũng như các thi sĩ thế kỷ 19 ở ngoại quốc, nhà thơ lớp sau nhìn vào họ như một thế hệ vàng son đã qua đi. Mỗi đợt sóng mới, lại một lần văn học chuyển mình theo đà diễn đạt. Và trong bất cứ đợt mới chuyển dịch nào, hình thức thơ, nói riêng xê dịch tạo thành những ngôi sao sáng. Những ngôi sao sáng trong Thơ mới Việt Nam là ai, các bạn đánh giá được ai giá trị …
Kỳ VIII
PHẦN THỨ NĂM
SƠ LƯỢC VỀ CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP
Tiết 1
KHÁI QUÁT VỀ CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP VIẾT SƠ LƯỢC.
Sau khi lướt qua tài sản tinh thần các nhóm, nhà thơ điển hình, sơ lược; bây giờ đến phần nhận định các nhà văn độc lập. Nhà văn độc lập không ở một nhóm nào nhất định, dầu đôi khi cộng tác với cơ quan nhóm, nhưng không tham gia đường lối, sinh hoạt văn nghệ chung. Tác phẩm của họ mang nhiều nhãn hiệu nhà xuất bản khác nhau. Nếu đứng trong nhóm nào, thì chỉ là lẻ tẻ; không thể so sánh với Tự Lực văn đoàn hoặc Hàn Thuyên được.
Tuy nhiên, sản phẩm tinh thần nhà văn vẫn nhất định nằm trong một khuynh hướng rõ rệt.
Trong phần năm, chúng tôi bàn sơ lược, tổng quát nhìn văn nghiệp mỗi nhà văn sơ lược. Phần sau, phân tích tỷ mỷ nhà văn điển hình qua các khuynh hướng. Tỷ dụ, khi nói về ngành tiểu thuyết phóng sự: Tam Lang, Trọng Lang, Vũ Bằng; chỉ nhắc đến một nhà văn phóng sự điển hình Vũ Trọng Phụng là đủ. Bởi lẽ, nếu không chọn nhà văn điển hình cho một khuynh hướng nào, không thể nào trong một lần nói hết nhà văn đầy đủ chi tiết; hơn nữa với các nhà văn sơ lược; theo chúng tôi, không cần thiết nói đầy đủ như nhà văn điển hình. Lẽ, có viết hằng chục cuốn sách nói về một nhà văn không tiếng tăm gì cũng chẳng ích lợi gì, phải dành chỗ cho nhà văn điển hình xứng đáng. Ấy điển hình sơ lược; quan niệm, ý nghĩ của tôi khi viết bộ sách này, về nhà văn một thời qua đi, gần như bỏ nghề hay bị tê liệt, ít sáng tạo đi nữa. Chẳng hạn xu hướng tâm tình tiến bộ: trong số những nhà văn như Nguyễn Xuân Huy, Nguyễn Vỹ (còn là nhà thơ, nhưng không mấy tiếng tăm), Đỗ Thúc Vịnh, Nguyễn Khắc Mẫn, Mộng Sơn–Tôi chọn hai nhà văn cùng khuynh hướng ấy điển hình là Ngọc Giao và Thuỵ-An-Hoàng-Dân. Hoặc nói về Nguyễn Công Hoan điển hình cho loại tả chân xã hội phong kiến, Lê Văn Trương điển hình cho lối viết truyện trường giang và nhân vật có tính chất anh hùng rơm. Sau cùng, Tô Hoài điển hình cho lối văn đặc biệt là nhân cách hóa tả loài vật ….
Phê bình tổng quát, không chú trọng chi tiết nhỏ, chắc chắn chúng tôi hoặc các bạn đều có quan niệm riêng, có lối riêng nhìn cùng nhận xét. Chẳng hạn Trương Chính viết phê bình, nhìn với lối thán phục toàn diện như một người nhìn lên; còn Hoài Thanh nhận định một cách tùy hứng; Thiếu Sơn cùng chung ý nghĩ với Trương Chính có kiến thức rộng và kinh nghiệm nhận định vững vàng. Vũ Ngọc Phan vượt tất cả những nhà phê bình trong giai đoạn ấy, ông viết tỷ mỷ về bất cứ nhà văn nào và bàn dài giòng. Cho rằng như vậy không thể có lối nhìn tổng quát, hệ thống hóa được một di sản văn chương quá lớn, mênh mông. Muốn hướng dẫn du khách thăm vườn hoa, theo tôi phải có hệ thống khoa học phân chia rành mạch. Và giới thiệu bông hoa chúa của mỗi loài hoa, bông hoa đẫy đà vượt trội mà thôi – ấy là nhà văn điển hình cho mỗi khuynh hướng vậy. Tiết 2
TIỂU THUYẾT PHÓNG SỰ
1. TAM LANG (1900 – 1986)
Tam Lang tên thật trong đời Vũ Đình Chí. Nhà báo ban đầu, rồi chuyển sang viết phóng sự. Còn là tác giả tập phóng sự Tôi kéo xe (1935), Đêm sông Hương (1938), Lọng cụt cán (1939), Người ngợm (1940)... Tiền chiến viết cho Đông dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh, Trung Bắc tân văn, Thực Nghiệp dân báo…. Sau tiền chiến, ông cộng tác với nhiều báo ở Hà Nội. Năm 1951 chủ bút nhật báo Giang Sơn, phụ trách tòa soạn Tia Sáng đặc san, Ngô Vân chủ nhiệm. Năm 1954, di cư vào Nam là một trong những chủ nhiệm nhật báo Tự Do.
Tác phẩm của Tam Lang đều là phóng sự tiểu thuyết. Tập Tôi kéo xe chỉ có giá trị tương đối khi so sánh với tác phẩm khác của Vũ Trọng Phụng. Đặc tính phóng sự Tam Lang châm biếm, nhạo đời, răn đời, không độc ác. Phê bình Tam Lang, Vũ Ngọc Phan khen văn chương và ý nghĩa của ông lịch lãm, nhân vật tư tưởng bác ái; viết trong Nhà văn hiện đại:
“...Tư tưởng thật là luân lý, nhưng tư tưởng thật là bác ái, bao giờ cũng có cái khuynh hướng bênh vực hạng người nghèo khó, kém hèn, mà bênh vực vì lẽ phải, vì nhân đạo, chứ không xen lẫn một ý chính trị nào…”
Hiện Tam Lang không còn sáng tác được một tác phẩm văn chương nào tương đối giá trị; hoặc để tiếp nối cho sự nghiệp văn nghệ. Sự viết của ông bây giờ, như Thiếu Sơn; chỉ là kiếm cơm độ nhật, qua những bài báo đôi khi có chút giá trị hàng ngày(48) .
2. VŨ BẰNG (1913 -1984)
Tiểu sử.
Sinh năm 1913 ở Hà Nội. Bắt đầu viết văn năm 17 tuổi, đầu tiên báo An Nam tạp chí của Tản Đà. Sau viết cho các báo Trung Bắc tân văn, Công dân, Ích hữu,… và làm thư ký tòa soạn cho các báo Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông bán nguyệt san vv... Còn hay ký biệt hiệu Tiêu Liêu, Hoàng Thị Trâm, Lê Tâm v.v…
Tác phẩm đã xuất bản:
Một mình trong đêm tối (1937), Chuyện hai người (1940), Tội ác và hối hận, Để cho chàng khỏi khổ một mình trong đêm tối (1941), Cai…. Sau tiền chiến cho xuất bản Thư gửi cho người mất tích (dịch truyện Stephan Zweig) Tân Dân 1950), Khảo về tiểu thuyết (Phạm Văn Tươi 1955), Hạnh phúc lứa đôi (Thế Giới 1956) dưới bút hiệu Y sĩ Lê Tâm, viết sách vệ sinh cho lớp tiểu học, luận đề Hồ Xuân Hương (Cây Thông Hà Nội, 1950). Dưới bút hiệu Hoàng Thị Trâm viết tiểu thuyết Chớp bể mưa nguồn, Nghệ thuật làm mẹ, Mỗi tháng chỉ có năm ngày thụ thai, Các cô gái dậy thì nên biết, Trẻ, Đẹp, Sống lâu, sáu quyển sau này do Thế Giới xuất bản…. ở Sài Gòn sau 1954 Đời đơn giản dưới bút hiệu Vũ Bằng, dịch–(Phạm Văn Tươi xuất bản 1956; dưới bút hiệu Tiêu Liêu dịch tác phẩm Stephan Zweig Hai mươi bốn tiếng trong đời người đàn bà (Thanh Bình 1953).v.v...
Truyện của ông không đặc sắc, không bản sắc riêng. Ngoài tư tưởng tầm thường tả cảnh với pha tình yêu cụp lạc, gây cấn, éo le, đoạn văn ướt át, có thể tìm thấy đầy rẫy trong nhiều truyện hạ cấp khác. Duy tập phóng sự tiểu thuyết Cai khá hơn cả; tiêu biểu cho sự nghiệp văn chương đó là thiên hồi ký đặc sắc anh chàng nghiện rồi cai thuốc. Ông còn viết nhiều truyện ngắn đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bảy của Vũ Đình Long, từ năm 1949 trở đi, như Đoàn kết thân ái (T.T.T.B, số 4), Trong đất Hà (số 3). Ất, khúc ngâm trong đất Hà phóng sự nói về sinh hoạt Hà Nội trong ngày đầu tiên khói lửa, gọi tắt là trong Thành.
Tính chất phóng sự trong văn chương Vũ Bằng không linh động, truyện ngắn không có lập ý cao, bố cục như phân tích nhân vật về tâm lý, hình tượng sống không xuất sắc. Những truyện chọn dịch sau tiền chiến Thư gửi cho người mất tích, tương đối giá trị, viết trong lập trường nhà văn ở Thành ủng hộ kháng chiến. Một lối truyện ngắn khác là truyện động tác, ba bốn chữ lại một gạch nối, Vũ Bằng tự trạng cho là một khám phá mới của đời văn chương đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy; lại chính cóp nhặt giấu xuất sứ của Marchak, nhà văn Nga viết văn trước ông đăng trong tập truyện ngắn chọn lọc Xô Viết có tựa Domaine Russe (Thế giới Nga).
Về biên khảo, ông là người có học hỏi chịu tìm hiểu nghiên cứu. Tuy nhiên đọc sách có nhiều loại người có thể tiếp nhận, chẳng hạn đọc coi người viết sách là thầy, thứ hai coi người viết sách là bạn, mới nói đến loại người thứ ba, đọc sách để làm tài liệu tham khảo để vượt… Vũ Bằng viết sách biên khảo chưa biết chế biến những gì học được vào biên khảo, hiểu biết bản thân vẫn chỉ là một loại étalage de connaissances (tạm dịch: bầy hàng tri thức bất khả dụng) mà thôi. Khảo về tiểu thuyết tương đối giúp ích cho người không có vốn sinh ngữ hoặc cho ai nói chung, ít khảo cứu có thể coi như là tài liệu tìm hiểu văn học văn chương Tây Phương. Tài liệu này đã cho đăng trên Trung Bắc Chủ Nhật vào năm 1941 - 1942, sau tiền chiến in lại thành sách.
Nhiều sách dưới biệt hiệu khác, chỉ là mánh khóe kiếm cơm tầm thường, chép dịch tài liệu ngoại quốc (Trẻ, Đẹp, Sống lâu, Vệ Sinh lớp Ba), một lối kiếm cơm hạ đẳng của nhà văn trốn tránh nhiệm vụ, và không có tinh thần bao nhiệm tác phẩm. Mặc dầu nhà văn có nhiều biệt hiệu; nhưng tinh thần sáng tác phải được coi như một.
Về tiểu thuyết, Vũ Bằng chỉ là một nhà văn dưới mức bình thường, trung bình kém.
Tiết 3
TIỂU THUYẾT TÂM TÌNH TIẾN BỘ
1. NGUYỄN XUÂN HUY
Sinh ngày 15-7-1915 ở Nam Định. Viết cho các báo Đông Tây, Phụ Nữ Thời đàm, Nhật tân, Tân thiếu niên, Hà Nội Báo v.v… Là nhà văn của tuổi trẻ, chuyên viết chuyện lớp người mười bảy, mười tám, chớm vào hội thanh xuân yêu đương. Tác phẩm: Nắng đào 1939, Duyên Bích Câu 1940, Thềm nhà cũ 1941, Người tráng sĩ áo lam 1949, Nghệ thuật làm việc (dịch), Ông Già trong động Kỳ Lân 1941, Truyện Thiếu Sinh 1941, Viết và Sống (khảo luận văn chương 1941, Rosa Luxembourg (dịch) 1945, Người đàn bà chống lại thế giới (dịch) 1946… Sau tiền chiến, một vài cuốn tái bản lại như Nắng đào, Viết và Sống, Duyên Bích Câu…
Nguyễn Xuân Huy là nhà văn tuổi trẻ, thanh niên thiếu nữ thường được dùng làm nhân vật chính trong hầu hết truyện của ông. Ngưỡng cửa nhà trường dùng làm bối cảnh, phía sau là mối tình lãng mạn trong trắng, ngây thơ (Nắng đào). Hình tượng sống nhân vật trong truyện Nguyễn Xuân Huy có vốn sống, văn linh động, chau chuốt, nhẹ nhàng, tình tiết mơ mộng nên thơ (Duyên Bích Câu), Truyện mượn cốt truyện cổ viết lại theo sự dàn xếp của tác giả. Nguyễn Xuân Huy là nhà văn thành công vào bậc nhất ở tiền chiến với truyện dã sử Duyên Bích Câu. Chúng tôi chưa thấy ai có thể có giọng văn mơ màng, đôi khi ẩn hiện, lịch lãm hơn văn chương Duyên Bích Câu. Nội dung không cần bàn đến, đó là một truyện hay lấy từ đề tài cổ văn.
Về thơ, lối diễn tả bóng bẩy hờn mát, giẫn dỗi rất đáng yêu trong bài Giận nhau, in trong truyện Nắng đào. Thơ, văn Nguyễn Xuân Huy làm cho người đọc sống lại với mối tình rất nên thơ thuở mới vào đời khiến nhớ đến loại truyện của Tourguenieff như Mối tình đầu. Tất nhiên khía cạnh sống Nguyễn Xuân Huy không sâu rộng bằng nhà văn cổ điển Nga. Đọc văn ông, cảm giác thật khoan khoái, thở phào, nằm trên giường nhìn ra ánh nắng non trưa, nghe tiếng gà sao xác, giàn hoa bên cạnh lung lay theo gió, có mái đầu xanh ẩn đâu đó hiện tâm tình. Ông là nhà văn nổi tiếng đã đạt được lối văn tươi mát trẻ trung hồn nhiên.
Trích từ:
GIẬN NHAU
Hôm nọ em biết học
Khiến cho anh bất bình
Khẽ đánh em cái thước
Vào bàn tay xinh xinh
Anh nhiếc em “biếng lười”
"Rắn mặt" cùng "khó dạy"
Rồi lệ em chan hòa
Rồi lòng anh tê tái…
Giận anh em ủ rũ
Từ hôm đó mà đi!
Anh hỏi em không đáp
Anh cười, em ngoảnh đi
Chơi “Đi trốn đi tìm”
Em không chơi với nữa
Khăn đào em đang thêu
Cho anh, em bỏ dở
Hôm nay em đã cười
Nũng nịu đến “xin lỗi”
Được để anh làm cao
“Sao em không giận mãi”
(Trích Hương xuân)
NGUYỄN XUÂN HUY
2. NGUYỄN VỸ (1912-1971)
Sinh năm 1912 ở Quảng Ngãi. Là thi sĩ tác giả vần thơ Bạch Nga hai chữ và có in thơ bằng tiếng Pháp. Tác phẩm tiểu thuyết của ông: Đứa con hoang (1938), Người yêu của Hoàng Thượng (1938), Thi Sĩ Kỳ Phong (dưới biệt hiệu Lệ Chi, Chiếc bóng (1944)vv... Sau tiền chiến in Chiếc áo cưới mầu hồng, Hoang vu (thơ), Tuấn Chàng Trai Đất Việt (nhiều tập) vv...
Thơ của ông tầm thường, lối thơ đề xướng sớm rơi vào quên lãng. Truyện của ông đồng chất văn chương Vũ Bằng, gây cấn, éo le; đôi khi lại ưa diễn tả cụp lạc như kỳ tình trinh thám (Thi sĩ Kỳ Phong); đôi khi pha chất anh hùng rơm của Lê văn Trương. Sự nghiệp của ông chỉ được câu thơ, trong bài Thơ gửi cho Trương Tửu khiến cho người đời còn nhắc đến tên ông “nhà văn Việt Nam khổ như chó”(49) . Nói theo lối phê bình Hoài Thanh, thì Nguyễn Vỹ là “người có chí cao mà tài mọn”. Sự nghiệp của ông chỉ một giá trị nhỏ, căn cứ qua lối thơ hai chữ Sương rơi… Nếu Diệu Anh là người bình thơ cho Nguyễn Xuân Sanh, thì Trương Tửu cũng vậy; với Nguyễn Vỹ, một lối gà nhà bình luận). Sau tiền chiến, ông chủ trương báo hàng ngày Dân Ta và tập san văn chương tạp lục Phổ Thông. Ông chết trong một tai nạn xe hơi trên đường Sài Gòn Mỹ Tho năm 1971.
3. NGUYỄN KHẮC MẪN (19??- 19??)
Là nhà văn đứng trước ngưỡng cửa tiền chiến 1944 -45, như Nam Cao, Trần Đăng, Nguyễn Dân Giám; nổi tiếng muộn màng khởi điểm cách mạng bùng nổ, thời đoạn tranh tối tranh sáng. Khoảng thời gian ấy, người ta quên lãng bài thơ hay của Nguyễn Dân Giám, ý thơ dệt bằng máu xương, tình yêu, hoặc mẫu chuyện tình tương tự. Trong số người không may ấy, còn có Trần Cư, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao…(50)
Nguyễn Khắc Mẫn là nhà giáo dùng tài nguyên rung cảm đời sống gõ đầu trẻ, viết văn. Nhân vật chính truyện của ông đều là cậu giáo mới ra đời, hoặc dậy học ở thôn trang hay tỉnh lỵ, yêu đương, mơ mộng như Lòng cha (NXB Người Bốn Phương), Nỗi lòng (NXB Người Bốn Phương). Ông viết phóng sự như Đồng tiền hai mặt (hai tập, phóng sự hồi ký), Mẹ tôi ( Đại Học Thư Xã xuất bản). Kin Lảu(51) , truyện bối cảnh đường rừng nói về thú uống rượu cần với thiếu nữ Thái (NXB Đời Mới 1944).
Nhân vật chủ động là cậu giáo trong tiểu thuyết như đã phân tích, mang nhiều hình tượng đời sống gõ đầu trẻ. Nói khác đi, nếu chúng ta đã khảo sát tác phong, lề lối sống của cậu giáo, bó buộc phải đọc văn ông; vì nếp sống điển hình phản ánh rất sát thực trạng xã hội thời đó. Văn phóng sự tiểu thuyết trong Đồng tiền hai mặt không xuất sắc lắm.
Ông là nhà văn tâm tình tiến bộ, văn truyền cảm, lãng mạn khổ đau. Nhân vật, bối cảnh có hình tượng sống, đem kinh nghiệm cuộc đời bản thân vào văn chương. Có thể coi Nguyễn Khắc Mẫn là nhà văn nổi tiếng muộn màng của giai đoạn giao chế độ, trước giờ khởi điểm cách mệnh.
4. ĐỖ THÚC VỊNH (1920-)
Sinh năm 1920 ở Hà Đông. Tác phẩm đầu tay Bóng tre xanh, giải thưởng văn chương Alexandre de Rhodes. Sau tiền chiến tái bản lại ( Nguyễn Đỗ, Sài Gòn 1956), Lê Kim Hà Ích (truyện dịch, Người Việt Tự Do xuất bản 1956), và mấy cuốn sách luận đề giáo khoa như Hồ Xuân Hương…(NXB Bốn Phương, 1955).
Trong Bóng tre xanh, tác giả đả kích bọn quan lại, phong kiến, nêu thực trạng dã man tục tảo hôn thôn quê Bắc Việt. Cuốn tiểu thuyết mang nhiều vết tích đời sống nông thôn ở tiền chiến.
Tuy không có chiều sâu điển hình cho trào lưu văn hiến, nhưng ở một khía cạnh nào đó (tục lệ tảo hôn, phong kiến áp bức), Đỗ Thúc Vịnh là nhà văn tương đối tương đối giá trị trung bình.
5. CẨM KHÊ (19?? -19??)
Tác giả tiểu thuyết Chân trời mới (Tân Dân,1941). Tả lại một mối tình nhà nho trải qua nhiều ngang trái, chế độ giao thời giữa đạo lý Đông Phương và sự xâm nhập Tây Phương. Nội dung bình cũ rượu cũ, diễn đạt được tâm tư người của thiên đường đã mất (paradis perdu). Là nhà hoài vọng quá vãng, tuy không điển hình như Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Chu Thiên... song là một nhà văn giá trị trung bình.
6. MỘNG SƠN (1916 -1992)
Tên thật Vũ Thị Mai Hương. Vào làng báo từ 1933, viết cho Việt Nữ, Đàn Bà v.v… Vợ nhà văn biên khảo Nguyễn Uyển Diễm cùng chủ trương NXB Vỡ Đất ở Hà Nội từ 1950. Nữ văn sĩ tác giả: Văn học triết luận, (nhận định phê bình văn học, Đại Học Thư Xã 1944). Tương đối sách này giá trị, sau tiền chiến, cho xuất bản tiểu thuyết Vượt Cạn (Thế giới, 1953) gồm toàn truyện nói về tâm trạng sản phụ. Cuộc đời nghèo khổ sản phụ bị quên lãng, hậu cảnh cho con vì nghèo nàn, tình tiết cảm động, thương tâm, rút ra một thực trạng sống ở hậu chiến. Tập bút ký có giá trị trên hai phương diện: nội dung xúc tích và văn thể có kỹ thuật của tiểu thuyết gia. Sau Thụy An Hoàng Dân về văn; bà là nhà văn nữ giới có giá trị.
7. THANH CHÂU (1912- )
Tên thật Ngô Hoan. Sinh năm 1912 ở Thanh Hóa. Học qua Trường tiểu học Thanh Hóa, Trung Học Vinh, sau ra Hà Nội học Tú tài. Bỏ dở Tú tài Pháp rồi viết truyện ngắn cho Tiểu Thuyết Thứ Bảy, từ 1933, viết cho Phổ Thông bán nguyệt san vv... Giai đoạn kháng chiến, Thanh Châu từng là chủ tịch một xã thuộc tỉnh Thanh Hóa, cán bộ chính trị quân đội (VNDCCH). Sau 1954 công tác tại báo Văn Nghệ (Hà Nội)
Các truyện ngắn: Trong bóng tối (1934), Người thầy thuốc (1938), Tiểu thuyết: Sám Hối Nửa Đêm (1940), Bóng Người ngày xưa (1941), Cùng một ánh trăng (1942), cuốn tiểu thuyết dài đặc sắc của ông, trong vai họa sĩ Phan và một nhân vật nữ, người đàn bà xấu trở thành vợ tốt, đề tài khác lạ, cách diễn đạt hình tượng mới, văn phong một nhà văn có tài. Truyện ngắn Hai sắc hoa Ti gôn (1937) nói về nhân vật Lê, họa sư Lê Chất, người lấy máu vẽ các cô gái đẹp, đề tài tranh cãi với những bài thơ T.T. KH sau này.(52)
Tiết 4
TIỂU THUYẾT TỰ SỰ:
THIẾT CAN – NGUYỄN VĂN XUÂN (54) (19??- 19??)
Tên thật Nguyễn Văn Xuân, viết truyện tự sự, nhưng không phải là tự luận (tự sự có luận đề). Giọng văn trong Dã Tràng thật cảm động, tác phẩm xuất bản: Dã tràng (1939), Cát bụi (1940), Trinh nữ (1941). Ba tác phẩm trên, duy có Dã tràng đặc sắc, tiêu biểu cho văn nghiệp. Cái tôi Nguyễn Đức Quỳnh còn ẩn thể, cái tôi Nguyên Hồng dám dùng ngôi thứ nhất, và cái tôi Thiết Can tự sự ẩn thể qua nhân vật mang tên Đông, trái với Xuân. Ngay trong trang đầu, Thiết Can tự trạng:
“… Tôi có một người cô. Cô tôi đã chết rồi. Tôi chỉ biết thương người sau khi đã chết. Hỡi ơi! Nhớ đến cô, đứa cháu bất hiếu có công viết thiên lịch sử này, lịch sử một đời khổ hạnh của cô, lịch sử hết thảy những bậc “gái già” đáng kính và đáng thương…”. Charles Dickens với David Copperfield, tự truyện này khiến ông nổi tiếng là văn hào Anh. Nhờ đọc cuốn này mà Maxime Gorki viết Thời Thơ Ấu của tôi, và Thời thơ ấu của tôi sau Club des livres ở Pháp tái bản nhan đề mới là Kiếm sống. Những thiên tự sự (pages autobiographiques) rất cảm động của Panaðt Istrati như Mes départs, Le pécheur d'éponge (Những bước đầu của tôi–Người câu bọt bèo) làm cho bao tâm hồn rung động. Ở nước ta có vài nhà văn viết tự sự; chưa đạt được kỹ thuật tương tự, nhưng đã có một đời với chất liệu rất sâu. Thường thường truyện tự sự do chính khách, văn sĩ nổi danh mới có can đảm tự trạng. Chúng ta đã say sưa với thiên hồi ký Ma vie (Đời tôi) của Léon Trotsky (3 tập, Rieder xuất bản), bây giờ chúng ta thử nhìn vào tự truyện ở Việt Nam xem sao? Đã phân tích về Nguyễn Đức Quỳnh, Nguyên Hồng, bây giờ đến Nguyễn Văn Xuân.
Alfred de Musset nói: "Muốn viết tự sự, điều kiện đầu tiên là phải có cuộc sống thực (Confession d'un enfant du siècle, Lời thú tội của đứa con thế kỷ). Musset diễn tả hình tượng sống chân thành nhất, bao gồm cả phần sung sướng như đau khổ, mà đau khổ nhiều mới hay viết tự truyện. Cũng không nên quên phần xấu xa bỉ ổi (theo luân lý thời đó quan niệm) thì mới nói đến tự sự giá trị hay không? Cái tôi Nguyễn Đức Quỳnh hay cái tôi J.J. Rousseau còn ẩn thể, lược bỏ sự thực, chưa thể lấy đó căn cứ tiểu sử ngoài cuộc đời. Cái tôi Saint Thomas thần thánh hóa; cái tôi Ernest Renan nghệ thuật hóa cái dở; cái tôi Nguyên Hồng thành khẩn lại chưa có sự đãi lọc cao. Cuối cùng cái tôi Thiết Can, tương đối làm cho người đọc nhìn được nỗi thương tâm nội ẩn vô cùng sâu xa. Nhân vật chính Dã Tràng là Đông. Đông, nhân vật ngoài đời lêu lổng, chơi bời, từ tính lười biếng, ăn bám gia đình như ký sinh trùng không hề dấu diếm. Bà Ký, người đàn bà buôn bán đảm đang, gánh vác công việc gia đình, quên cả tuổi xuân, quên thời vàng son nhất, tình duyên, và cho đến lúc chết đi; không một người đàn ông nào qua dời tiễn chân tới mộ. Bà Lợi Ký biết lo cho các cháu, cả đến người thân thuộc khác hoàn toàn là ký sinh trùng: hút sách, nghiện ngập, phóng đãng.
Văn của Thiết Can cảm động, hấp dẫn, nội dung xúc tích, thương tâm. Nhưng ở Thiết Can không có bối cảnh xã hội rộng lớn để cho người đọc còn có mức biết mà so sánh như uyên nguyên sự phóng đãng của Đông. Kể ra là điều đáng tiếc cho thiên tự sự. Muốn đạt được giá trị tất không thể quên lãng điều này. Bi kịch Thiết Can còn đôi chút nên thơ, theo Vũ Ngọc Phan thì tương tự vẻ nên thơ của Willon, khi chàng thi sĩ này thảo mấy vần thơ về người xử giáo – lại tưởng tượng rằng mình cũng sắp bị treo cổ cho quạ rỉa phân thây.
Đọc văn Thiết Can, nhất là: "Dã Tràng, để hiểu một dòng đời của một gia đình sa sút và mẫu người như bà Ký có trong xã hội Việt Nam ở tiền chiến, một người đàn bà hoàn toàn hy sinh, có lòng tốt cao độ...”(Vũ Ngọc Phan)
Tiết 5
TIỂU THUYẾT DÃ SỬ:
1. NGUYỄN TRIỆU LUẬT (19??-19??)
Nhà văn dùng sử liệu để viết truyện dã sử, không thể bỏ qua Nguyễn Triệu Luật, Phan Trần Chúc, Lan Khai,... Đó là nhà văn có lối viết truyện đặc sắc, hấp dẫn thể loại này. Thể văn này dùng dĩ vãng nói lên thực tại, hoặc giáo huấn, hoặc chống lại trật tự xã hội đương thời. Một Bồ Tùng Linh với Liêu Trai chí dị, cùng ý nghĩa. Nước ta vào khoảng năm 1930 cho đến 1945, bao điều đáng nói, cảnh khổ một dân tộc bị thống trị cuối thế kỷ trước đến bây giờ ở độ bùng sôi. Bao nhiêu đề tài có thể khai thác, mà không dễ gì người ta có thể công khai phỉ báng; nên mượn xưa nói nay, mượn thế dương đông kích tây, đó là viết truyện dã sử vậy. Nguyễn Triệu Luật, Phan Trần Chúc, Lan Khai... đều bị chết cách thảm thương, hoặc bị phe cộng sản đệ tam thủ tiêu, hoặc do tình địch ám hại; nhưng hoàn toàn vì lý do chính trị. Tác phẩm của ông như Hòm đựng người, Rắn báo oán (1941), Bà Chúa Chè (1938), Loạn kiêu binh (1939), Ngược đường Trường thi (1939), Chúa Trịnh Khải (1940), v.v…
Kỹ thuật viết, tôi nói đến bố cục và xây dựng truyện thì vững; nhưng văn thể luộm thuộm không chú trọng về sử dụng văn thể. Trong ba nhà văn dã sử này, chỉ Lan Khai giá trị ở phần văn chương thôi. Trong Bà Chúa Chè, không thấy ông tưởng tượng thêm một hình ảnh nào khác với giòng lịch sử; chép đúng đà tiến hóa, có cái khác thêm một vài tiểu tiết. Trong Bà Chúa Chè cho trích những câu thơ Pháp, lại chua thêm tiếng Pháp giảng giải, chỉ là trò khoe chữ; khiến người đọc có cảm tưởng ông không phải là nhà tiểu thuyết Việt Nam viết truyện dã sử Việt Nam. Truyện lấy cơ sở ở giai đoạn lịch sử chuyển biến, không hoàn toàn vô căn cứ như truyện dã sử Phan Trần Chúc. Cái hay Nguyễn Triệu Luật, đã dùng tài liệu lịch sử Hoàng Lê Nhất Thống Chí làm nền tảng xây dựng truyện dã sử hay và xác đáng. (Ngô Tất Tố dịch).
Nguyễn Triệu Luật, nhà văn dã sử tài năng. Với nội dung truyện thì bố cục chặt chẽ, còn văn thể ít giá trị văn chương.
2. PHAN TRẦN CHÚC (1905 – 1945)
Phan Trần Chúc viết tiểu thuyết dã sử, tác phẩm đã xuất bản: Lê Hoan, 1939, Sau Lũy Trường dục, 1942, Hồi chuông Thiên Mụ, Thẩm Hoàng Cung (NXB Tân Dân) và những cuốn biên khảo: Vua Hàm Nghi (1935), Vua Quang Trung (1940), Triều Tây Sơn (1942), Văn chương Quốc Âm về Thế kỷ 19, (1944)vv...Năm 1945, nhà xuất bản Chính Ký ở Hà Nội tái bản tác phẩm của ông như Hồi chuông Thiên Mụ, Vua Lê Chiêu Thống (di cảo in lần thứ nhất), Vua Quang Trung, Vua Hàm Nghi (Hà Nội tái bản 1952-53) v.v…
Về tiểu thuyết cuốn Sau Lũy Trường Dực bố cục vững vàng, giải quyết lối thoát nhân vật hay viết hấp dẫn, đặc sắc. Tới Hồi chuông Thiên Mụ cũng là truyện truyền cảm, hấp dẫn; nhưng văn thể hơi rườm rà, lôi thôi, viết như truyện Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách (văn thể). Nói thế, không có nghĩa hoàn toàn chê bai, đả kích các nhà văn có công đầu với văn chương Việt Nam.
Truyện của ông đề cao nghĩa dũng, tình yêu chân thật, đả phá tác phong hủ bại thư lại phong kiến. Nhưng ông không là nhà văn thúc đẩy cách mạng với giọng văn căm hờn, vì bất công vua chúa với nghĩa dũng nhân vật chống lại nhau; kết cục bao giờ cũng thỏa hiệp. Có thể là vua trọng dụng nghĩa sĩ đó, vì hiểu nhầm; hoặc có một trung gian sẽ điều đình cho nghĩa sĩ trở lại hợp tác. Điều ấy, minh chứng trong hầu hết các tiểu thuyết của ông, như Hồi chuông Thiên Mụ chẳng hạn. Nên khép ông vào nhà văn cải cách hơn là thúc đẩy cách mạng gián tiếp.
Về biên khảo, tuy nghiên cứu công phu, song chưa có thái độ lập luận, mà thường ra nhà văn biên khảo dựa vào căn bản nào đó để nhận định vấn đề. Sử liệu cần phải giải thích, điều ấy đòi hỏi lập trường người viết. Nói thế muốn đến hai cuốn Vua Hàm Nghi, Lê Chiêu Thống, Vua Quang Trung. Nhưng cũng nhờ tài liệu đó, yêu thêm nhân vật anh hùng một cách rất tiểu thuyết, còn tài liệu không giá trị bằng cuốn Vua Quang Trung Hoa Bằng (Hoàng Thúc Trâm) hay cuốn Lý Thường Kiệt Hoàng Xuân Hãn. Đôi khi Phan Trần Chúc lại tiểu thuyết hóa biên khảo, điều này không hợp với tài liệu lịch sử (fait historique).
Nhận định sự nghiệp văn chương Phan Trần Chúc, Vũ Ngọc Phan đưa ra ý kiến sau đây:
“… Trong các sách của Phan Trần Chúc chỉ được ở cái đặc sắc là lối nghị luận. Lối nghị luận của ông bao giờ cũng sáng sủa. Nếu muốn tìm giá trị họa chăng đó là những giá trị của ông.
“Còn những tài liệu ông dùng, phần nhiều không được chắc chắn, nên ông không thể tránh được những điều không có trong một cuốn sử. Chắc chắn người ta còn nhớ cái lối văn của Phan Trần Chúc khi ông còn viết Ngọ Báo, Việt Báo rồi Tân Việt Nam. Lối văn ấy là một lối văn cộc lốc tương tự lối văn Hoàng Tích Chu ở báo Đông Tây hồi xưa. Một lối văn mạnh và cứng, nhưng không bao giờ tránh được những cái ngây ngô gần như dịch không thoát một câu tiếng Pháp. Chính lối văn ấy, Phan Trần Chúc đã không bỏ được, trong khi viết những trang lịch sử ký sự, làm cho người đọc phải lấy làm lạ rằng ở miệng cổ nhân sao lắm khi lại thấy những lời quá mới, quá ngây ngô đến thế…”
3. TRÚC KHÊ (19?? – 19??)
Tên thật Ngô Văn Triện. Tác phẩm đã xuất bản: Cao Bá Quát (1940), Nguyễn Trãi (1941)vv… Là nhà nho có học, căn bản, viết văn không sáng sủa, cách viết biên khảo thiếu mạch lạc, lập luận không rành mạch. Ông dịch Truyền kỳ mạn lục và còn là tác giả Phạm Đình Trọng, Trần Thủ Độ, Tang thương ngẫu lục.v.v...
Ông chuyên khảo về cuộc đời, tư tưởng danh nhân Việt Nam, và là nhà biên khảo ở mức giá trị trung bình.
4. LAN KHAI (1906 – 1945)
Tiểu sử:
Không gì hơn, tìm hiểu tiểu sử Lan Khai, bằng cách đọc lại một đoạn văn truy niệm của nhà văn Ngọc Giao viết trong đặc san Hương Cúc Mới (55) . Đó là bài Gác lạnh khêu đèn nhớ cố nhân. Đọc bài ấy, chúng ta thêm tài liệu về cuộc đời hai nhà văn nổi tiếng trong văn đàn Việt Nam: Lan Khai và Vũ Trọng Phụng. Từ cái chết bi thảm phe cầm quyền khi ấy hạ sát người quốc gia lập trường khác họ, triệt tiêu nhà văn nổi tiếng Khái Hưng chẳng hạn. Một Thạch Lam với đời sống thường hàng ngày, tâm tư sâu kín, với văn chương, nếu không có bạn thân như Thế Lữ, chúng ta khó nhận định được hành động, thái độ nhà văn buổi sinh thời. Hiểu vậy, dễ nhận giá trị bài của Ngọc Giao viết về Lan Khai:
“…Lan Khai chết vào giữa mùa thu tại Tuyên Quang, một ngày loạn rừng. Học trò của anh đã trả công ơn giáo hóa của thầy bằng cách bỏ sư phụ vào rỏ lợn, phó cho sông Lô Giang vùi cuốn. Thật là bi thảm. Nhưng dù sao tôi vẫn không nỡ tin con người tài hoa thế lại chết thảm thương như vậy. Đã nhiều lần, những ngày lưu lạc miền Việt Bắc, tôi thường hỏi về tin anh mỗi khi gặp các bạn văn công tác ghé qua quán nước của tôi đựng ở sườn đồi. Những tin thâu lượm về cái chết của Lan Khai đều không rõ rệt, kể rằng hồi ấy anh bị bắt vì đã từ Tuyên xuôi Hà Nôi, đệ lên chính phủ Trần Trọng Kim một chương trình quân sự rồi lại hội kiến với ông Phan Kế Toại… kể rằng người Nhật hồi đó quý trọng Lan Khai ở vùng Tuyên Quang nên người ta (C.S.) lập hồ sơ khai tử anh hồi ấy. Quân Nhật lui nhanh quá, không kịp đưa liên lạc cho anh nên tác giả Ai lên phố Cát, đã đành bó tay chịu trói trong một cuộc loạn rừng mà hổ báo, trốn loạn như nhau cả. Các bạn văn đều hoài nghi về trường hợp hành hình tiểu thuyết gia lâm tuyền và lịch sử Lan Khai. Nhưng sau cùng tôi đã có dịp gặp người đàn bà tang chế qua đường một buổi chiều tắt nắng lưng đồi hoang quán gió. Người quả phụ đã khóc kể lể cái chết thê thảm của chồng: “quả thực xác anh đã gửi vào mồ sông Lô đỏ sóng, ngày từ ngày binh đao chưa khởi sự bốn phương trời (…)” Tôi không thể quên Lan Khai là một nhà văn nhiều tình cảm lại đa sầu. Ngồi với tôi ở tòa lầu báo quán Hàng Bông của ông Vũ Đình Long, anh thường bỏ bút đứng lên ra tựa vầng trán nóng vì suy tưởng vào hàng song sắt lạnh mà khi nghe thấy tiếng kèn đám ma dưới đường. Anh thờ thẫn nghe tiếng khóc dưới những làn mũ áo, tiếng kèn như bi ai trước những đầu người phủ khăn đen.
Con một vị túc nho có dự vào Đông Kinh Nghĩa Thục, Lan khai là đệ tử cửa Khổng sân Trình. Anh có giọng đọc thơ như một khóa sinh thời mực tàu giấy bản. Nếu bảo rằng Hồ Xuân Hương có tử vi trong Thiên hình, Thiên diện độc dục, thì trong cung mệnh của Lan Khai phải có đào Hồng sương. Khúc đó là những dâm tính đứng cạnh văn tính làm cho các tài tử văn nhân kim cổ thành bất tử. Lan Khai không cần nhớ tuổi mình, anh thèm được trẻ, được yêu, được sống. Anh khát tình như hoa nhài chờ sương gió nở. Anh thèm sống nghĩa là thèm viết, và luôn luôn anh gõ vào chai rượu hát đùa với văn hữu quanh đèn: “Phải có danh gì với núi sông...” Lan Khai sinh năm 1906 và mất năm 1945. Chết bất đắc kỳ tử).
2. Tác phẩm và khuynh hướng. – Lan Khai viết chuyện đường rừng, biên khảo, dã sử. Tác phẩm đã xuất bản: Ai lên phố Cát, Chiếc ngai vàng, Cái hột mận, Gái thời loạn, Người hai bóng, Trang, Tiếng gọi của rừng thẳm, Bóng cờ trong sương mù, Hồng Thầu, Cưỡi đầu voi dữ, Tiếng khóc trong sương, Cánh buồm thoát tục, Đỉnh Non Thần, Cô Dung, Lầm Than (phỏng theo La Mère (Người Mẹ) của Gorki; không đề xuất). Bức thư người không quen (dịch), Ai tình và sự nghiệp, Mực mài nước mắt, Tình người muôn dặm, Truyện đường rừng, Suối Đàn, Rỡn sóng, Bạch Đằng, Tôi nhân hay nạn nhân, Tội và thương, Nàng, Lê Văn Trương (phê bình), Vũ Trọng Phụng (phê bình) Treo bức chiến bào, Cơn ác mộng v.v... Tác phẩm cuối cùng là Mực mài nước mắt (Đời Mới, xuất ban 1944) nói về bi thiết của đời làm văn.
Qua danh mục ông sáng tác nhiều, sung sức, tiểu thuyết dã sử và biên khảo. Về phê bình, ông chưa tạo được một địa vị phê bình; vì quan niệm phê bình vị tình anh em còn nể nang, chưa lý luận, phân giải đanh thép, thích đâu khen đó thiếu phần nhận định khoa học. Nghĩa là cái tôi phiến diện trong chủ quan thô thiển thiên lệch khi phê phán văn chương.
Tiểu thuyết dã sử Ai lên Phố Cát, cuốn truyện giá trị nhất của Lan Khai trong loại dã sử tiểu thuyết.
Truyện đường rừng, Lan Khai có chỗ đứng đặc biệt trong văn đàn, ông viết loại này thật đặc sắc. Những quyển ấy là Tiếng gọi của rừng thẳm, Suối đàn. Ông cho người đọc hiểu thêm đời sống người Việt miền núi, qua hình tượng, cảm xúc vui buồn, phong tục tập quán đặc biệt. Tử cử chỉ, thái độ, y phục; Lan Khai biểu hiện qua lời văn sâu sắc, quan sát tận tường, văn thể thoát và tả xen tình ái rất nên thơ. Tâm lý người Việt miền núi, ông không bỏ sót tục lệ của họ, hoặc lứa thanh xuân yêu nhau hình tượng riêng biệt. Nghệ thuật diễn đạt tâm lý nhân vật truyện, ông không cho người đọc truyện thấy tưởng tượng hão huyền, bia đặt. Lan Khai dẫn người đọc du lịch trong xứ sở đèo heo hút gió, qua bản đàn mơ mộng, điệu nhạc mê ly. Lan Khai còn viết chuyện xã hội, cảnh lầm than, nói về cảnh khổ dân Việt qua Lầm than. Ông mượn cả giọng và nội dung tương tự, nhân vật trong Người Mẹ của Maxime Gorki. Có điều nghi vấn, giữa hoàn cảnh bị thống trị, tại sao Pháp lại để cho cuốn sách lột trần cảnh sống cơ cực lớp người bị thống trị, phản ánh trong cuốn truyện in được? Nguyên tác là của nhà văn xã hội Maxime Gorki.
Lan Khai còn viết những bi thiết cuộc đời đau thương nhà văn, nói chung trong Mực mài nước mắt. Phải chăng cảnh khổ nào đi đến cao độ, sẽ toát ra văn chương bằng nhiều lối, can đảm phủ nhận luân lý xã hội để viết tự truyện, hoặc ẩn thể. Mực mài nước mắt giá trị về nội dung, cả đến văn chương cũng lưu loát. Có dịp bàn về Lan Khai trong một cuốn sách khác, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này chi tiết hơn.
Lan Khai viết truyện phong tục miền quê, thợ thuyền trong truyện vừa không dài lắm Cô Dung. Ông viết với giọng văn dài giòng, đôi khi tác giả lại nhẩy vào giải thích.
Tóm lại Lan Khai mượn cốt truyện, giọng, hơi Maxime Gorki; nhưng Lầm than là cuốn truyện phỏng dịch nhiều công sáng tạo của Lan Khai.
Truyện dã sử, ông đã rất xuất sắc trong Ai lên Phố Cát. Về truyện đường rừng Tiếng gọi trong rừng thẳm và Suối Đàn. Vũ Ngọc Phan nhận định về giá trị văn chương và nội dung của Lan Khai: “Nét bút của Lan Khai phần nhiều đơn giản. Vẽ cảnh đường rừng, tả những tính tình chất phác thực của cô gái Mán, những trận gió rung cây, những rừng vàng, cỏ tía nét bút của ông rất thích hợp”. Nhưng truyện của Lan Khai, như loại đường rừng, xã hội như chúng ta vừa bàn ở trên còn lưu lại và làm tăng trưởng danh tiếng nhà văn Lan Khai mãi mãi. Chúng ta có thể nói rằng Lan Khai khai thác truyện đường rừng trước tiên và nổi nhất trong số đó có cả Thế Lữ, tác giả Vàng và Máu. Ta hãy tưởng tượng từ cảnh ngây thơ, chất phác cô gái mạn ngược, Lan Khai tả cho chúng ta nghe, đẩy tham dự cùng sống trong cảnh núi rừng, thâm sơn cao cả, huyền bí, mơ mộng thật hấp dẫn và huyền diệu! Ông biết tận dụng bối cảnh núi rừng, khai thác, vận dụng mọi khả năng biểu hiện tâm tư thầm kín người sơn cước sống ở Lạng Sơn. Ngoài ra góp vào bình diện văn nghệ chúng ta khung cảnh mới lại, một nét nhìn mới về mạn núi non heo hút; sự kiện mở đầu cho một giai đoạn truyện đường rừng. Một Lan Khai dã sử, truyện đường rừng; một Vũ Trọng Phụng với Giông tố, Số Đỏ lên án một xã hội nô lệ, một Đôi bạn của Nhất Linh hun đúc cách mệnh; thì Lan Khai phơi bầy ẩn ức xã hội, sinh hoạt dân nghèo trong Lầm than với giọng văn căm hờn thúc đẩy gián tiếp cách mạng.
Tiết 6
KẾT LUẬN VỀ CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP ĐIỂN HÌNH.
Chúng tôi trình bày với bạn đọc về nhà văn đọc lập viết sơ lược qua phóng sự tiểu thuyết, tâm tình tiến bộ, dã sử, tự sự vv... Lối văn bay bướm hội thanh xuân mới bước vào ngưỡng cửa đời, chúng ta kể đến Nguyễn Xuân Huy, lối văn khai thác một khía cạnh sống cậu giáo tỉnh ly trong văn Nguyễn Khắc Mẫn, cùng thời còn có thêm Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Dân Giám, Nam Cao... Đồng thới với Nguyễn Khắc Mẫn, đó là những nhà văn nổi tiếng muộn màng. Rồi từ thành thị về phong tục nông thôn, Đỗ Thúc Vịnh qua Bóng tre xanh; chúng ta còn được sinh hoạt nông thôn sau năm 1940. Từ đó, bắt qua ngành tự truyện, Thiết Can với Dã tràng, kể lại sự hối hận đứa cháu bạc bẽo, phóng túng bạc đãi đối với người cô ruột. Và dã sử, truyện đường rừng, Lan Khai đã cho chúng ta một âm hưởng không khí huyền bí đầy thơ mộng trong Ai lên Phố Cát, Suối Đàn, Tiếng gọi trong rừng thẳm.
Phần thứ sáu, chúng tôi dành nhà biên khảo, phê bình. Sẽ tìm hiểu nhà văn phê bình như Hoài Thanh, Thiếu Sơn, Trương Chính; hoặc các nhà văn học khác như: Nguyễn Đăng Thục, Kiều Thanh Quế, Doãn Kế Thiện, Nhượng Tống, Phan Văn Hùm, Hoàng Xuân Hãn và Lê Thanh vv...
Phần thứ bẩy sẽ phân tích chi tiết nhà văn điển hình cho mỗi khuynh hướng. Vũ Trọng Phụng, ngôi sao sáng trong các tinh tú hội tụ xung quanh: Trọng Lang, Tam Lang, Vũ Bằng. Một Thụy-An-Hoàng-Dân, Ngọc Giao điển hình nhà văn tâm tình tiến bộ. Đến Ngô Tất Tố với lối văn phóng sự hoài cảm dĩ vãng bao trùm Trúc Khê, Chu Thiên; sau cùng Nguyễn Công Hoan đại diện lối văn phân tích tình yêu giai cấp, tả chân phong kiến. Cuối cùng Tô Hoài đại diện một chiếu ngồi không ai thay thế: truyện thôn quê có một khía nhìn đặc biệt: loài vật được nhân cách hóa, Từ chú Vện, chú bồ câu, chú mèo...sống chung quanh ta.
Tiết 1
KHÁI QUÁT VỀ CÁC NHÀ VĂN BIÊN KHẢO, PHÊ BÌNH.
Sau Phạm Quỳnh, nhà phê bình đầu tiên trong nền văn học Việt Nam ở giai đoạn nền móng đến năm 1930 là Thiếu Sơn. Ông cho xuất bản cuốn Phê bình và Cảo luận; và cách đó chín năm sau, một nhà phê bình nữa, ông Trương Chính với cuốn Dưới mắt tôi. Hai năm sau lại Hoài Thanh xuất đầu lộ diện bằng tác phẩm phê bình giới thiệu trích dẫn thơ Thi nhân Việt Nam 1931- 1942. Sau hết là Vũ Ngọc Phan ra đời với bộ sách phê bình lớn Nhà văn Hiện đại (5 tập, Vĩnh Thịnh Hà Nội tái bản) phê bình tổng hợp văn thơ hiện đại. Mặt khác, Trương Tửu, Lan Khai viết về đời văn nghiệp mỗi nhà văn riêng rẽ.
Phê bình, đòi hỏi sức học vững vàng, lập trường rõ rệt, kinh nghiệm nhận định, hơn nữa còn phải có óc sáng tạo. Nhận thấy đó là những yếu tố căn bản nhà phê bình, Vũ Ngọc Phan vẫn là nhà phê bình văn học đáng được lưu ý hơn cả. Lối phê bình tuy tỷ mỷ, so sánh kỹ lưỡng, biết chế biến sự hiểu biết vào phê phán. Tuy nhiên có hai điều còn mắc phải; theo thiển ý chưa thể tránh ít nhiều thiên tình cảm (phê bình Tư Lực văn đoàn hoặc Tô Hoài còn vị nể). Ngành phê bình thúc đẩy văn nghệ diễn tả tốt, nếu phê bình đứng đắn, thì người được phê bình phải coi như một vinh dự. Còn sự im lặng có mưu mô, đó là cảnh tượng rất đáng thương tâm! (le critique impitoyable, c’est taire).
Còn các nhà văn biên khảo tiền chiến như: Phan Văn Hùm, Kiều Thanh Quế, Nguyễn Văn Tố, Doãn Kế Thiện, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Đăng Thục, Lê Thanh, Mộc Khuê (Ba Mươi Năm Văn Học V.N.) Doãn Kế Thiện viết đời danh nhân thành đạt (homme illustré) qua Danh nhân Việt Nam, kể tiểu sử thuở thiếu thời. Thái độ này cần được phát triển, nhờ loại sách ấy thanh niên thiếu nữ học tập cuộc đời đau khổ, vật lộn đấu tranh hướng thượng (cho nghề về sau). Đó là kinh nghiệm làm vững lòng tin căn bản cho vĩ nhân bước vào chông gai cuộc đời sau này. Thái độ J.J Rousseau ở ngày sinh thời bị trục xuất sang Anh lánh nạn, nhờ triết gia David Hume bao bọc; Charles Dickens thuở niên thiếu khổ nhục; Stendhal bị cha mẹ bỏ rơi cấp dưỡng sống lang bạt ở Ba Lê; Maxime Gorki thuở niên thiếu đầy nước mắt… chẳng hạn vậy. Nên khi xét về Doãn Kế Thiện, với lý do tại sao ông không tả danh nhân ngoại quốc, vì lẽ muốn cho người đọc thông cảm danh nhân Việt Nam gần hơn. Vĩ nhân thế giới, từ Đông qua Tây, ít ai có buổi thiếu thời may mắn cả. Picasso hay Modigliani cũng thế, bao hình nhục đời vùi dập. Modigliani đã phải tự tử, Van Gogh cùng trường hợp, Picasso phải gạ bán rẻ tranh cho bà chủ quán, đó là lần thứ hai ông đến Paris; vì nghèo khổ Renoir tự tử hụt bên bờ sông Seine; bởi nước băng đông lại.
Ngoài nhóm Hàn Thuyên ra, các nhà văn biên khảo ít tự gây được thế đứng và phô diễn thật sự lập trường một cách rộng lớn. Người viết triết luận tiền chiến chỉ sao chép lại vốn triết Đông hoặc Tây, ít có ai vượt được hoặc tạo cho bản thân một chủ nghĩa triết học riêng biệt.
Tiết 2
NHỮNG NHÀ VĂN PHÊ BÌNH.
1. THIẾU SƠN (1908-1978)
Tên thật Lê Sĩ Quý. Sinh năm 1908 ở Hải Dương, hiện còn sống ở miền Nam(56) . Đầu tiên, làm ở sở Bưu điện, gặp Phan Khôi, và được Phan Khôi khuyến khích ngay ban đầu. Viết cho báo Nam Phong, 1927, Phụ nữ tân văn (1931), Đại Việt (1943), Nam Kỳ thời báo (1943), Justice (1945-1949)… Tác phẩm xuất bản: Phê bình và Cảo luận, Phan Khôi viết tựa (Hà Nội 1933). Người bạn gái (Hà nội 1942), Đời sống tinh thần (tiểu luận). Câu chuyện văn học 1945, Giữa hai cuộc cách mạng (Mạch Sống, Sài Gòn 1947)v.v..
Chỉ có giá trị tiền chiến, nếu muốn xét giá trị văn nghiệp Thiếu Sơn. Lối phê bình không hệ thống và xen kẽ lập trường, thái độ thô thiển vào phê phán văn chương. Phương pháp phê bình không logique, như nhà viết tựa Phan Khôi nhận định. Lối phê bình thô thiển, tùy hứng (critique vulgaire et spontanée. Ở buổi đầu kể cũng là giá trị. Ở Nga, một Biélinsky viết phê bình văn học sau tập hợp tất cả bài phê bình in trong cuốn Textes philosophiques choisies (Tạm dịch: Tuyển tập triết luận), được sùng bái như anh hùng bình diện văn nghệ Nga trước cách mạng Tháng Mười. Và sau này cũng còn giá trị bất biến. Nào là Saint Beuve, Benjamin Constant, Thánh Thán, Tư Mã Thiên sử gia phê bình Trung Hoa, R.M. Albérès của Pháp chỉ ngoài ba mươi tuổi đã là phê bình gia nổi tiếng có hạng.
Thiếu Sơn, một tông đồ Phan Khôi, hết lời thán phục bậc thầy; thì ở đây ông không có thái độ vượt như một Auguste Comte đối với Saint Simon, một Marx với Hegel, J.P Sartre với Kierkegard, cho nên không dám nhân định thẳng thắn. Có lẽ vì kiến thức so với thầy chưa vượt nổi? Phê bình Phạm Quỳnh mới mẻ, Nguyễn Bá Học cứng dắn, Hy Đình có duyên, Phan Khôi thâm thúy e lệ. Đây không phải là tả tính tình một nhân vật được phê bình, đây là viết nghị luận, danh từ thảo luận (mots pour debats). Xét giá trị Phan Khôi coi ông có công đầu phê bình văn học Việt Nam. Thì xếp ông vào hạng người công đầu (précurseur). Ông còn viết truyện Người bạn gái. Hoặc truyện viết về sau này, không có gì đặc sắc. Ở mức bình thường không có lập ý mới, văn và tư tưởng trong khuôn sáo ước lệ.
Hậu chiến, ông không xuất bản tác phẩm nào; chỉ an hưởng địa vị bằng nhiều bài báo giá trị hồi ký, ít giá trị thực thể. Giá trị của ông chỉ ở tiền chiến, nếu đường hiện tại đến đây vẫn căn cứ trên bài báo đăng tải trên nhật báo và báo tạp lục Phổ Thông của Nguyễn Vỹ xuất bản ở Sài Gòn thập niên 60.
2. TRƯƠNG CHÍNH (1918- )
Từ 1930-1940, các nhà phê bình đầu tiên: Trương Chính, Phan Khôi, Thiếu Sơn… qua cuốn Dưới mắt tôi, Trương Chính phê bình nhận định gom lại trong định đề: không phân giải và trích dẫn. Đó cũng là lối viết rất mới thời Trương Chính, nội dung phê bình có phương pháp khoa học, biết nhìn ưu khuyết điểm mỗi nhà văn. Một danh ngôn Trung Hoa: “Biết cái dở một người thân yêu, biết cái hay của kẻ địch” hẳn Trương Chinh biết manh nha áp dụng khi phê phán. Tuy nhiên vẫn bị rơi vào trường hợp mà Vũ Ngọc Phan đưa ra phê bình gắt gao:
“...Cây bút phê bình của Trương Chính tuy đã có phương pháp nhưng chưa được sâu sắc, ông thấy đâu hay khen đó, thấy dở đâu chê đó; rồi lại khen, khi chê ông nói trùm lắp tất cả làm cho người ta có cảm tưởng ông phá đổ tất cả những gì ông vừa xây dựng để lại xây những cái vừa bị phá đổ...” Vũ Ngọc Phan ẩn thể đả kích Trương Chính không có nét nhìn tổng quát, hoặc gọi là nhìn viễn ảnh (perspectives). Không những Trương Chính mắc phải mà chính Vũ Ngọc Phan không có ý định này khi viết sách phê bình văn học Nhà văn hiện đại. Trương thiên về thẩm mỹ văn học nhiều hơn chú trọng nội dung tư tưởng tác giả trong tác phẩm, ôm ấp trong nhân vật, mà các nhà phê bình Tây phương làm trái lại. Từ Saint Beuve đến R.M. Albérès, cũng vẫn định đề ấy làm mực thước nhận định giòng tâm tư tác giả bị phê bình. (tác phẩm khác của ông Những bông hoa dại. (tiểu luận 1941).
3. HOÀI THANH – HOÀI CHÂN. (1909 –1982)
Tên thật Nguyễn Đức Nguyên, tác giả tuyển thơ phê bình thi nghệ Thi nhân Việt Nam 1932 –1941. Hoài Thanh chuyên viết phê bình khảo luận. Lối nhận định phê bình giới thiệu sơ lược, tùy hứng thái quá, nên chỉ giá trị tương tự Mộc Khuê khi viết biểu nhất lãm Ba mươi năm văn học V.N. Tác phẩm Hoài Thanh có giá trị tài liệu văn học để người sau dựa vào đó làm căn bản phê bình. Và Mộc Khuê cũng có ích cho con mắt lớp sau nhìn hệ thống tổng quát bao trùm diễn tiến bình diện văn học tiền chiến. Trong sách, Mộc Khuê còn đề cập đến vấn đề diễn tiến quá trình báo chí.
Hoài Thanh bênh vực lập luận của ông ngay khi vào đề viết:
“...Nếu trong quyển này ít khi tôi nói đến cái dở, bạn hãy tin rằng không phải vì tôi không thấy cái dở. Nhưng tôi nghĩ rằng dở thì không tiêu biểu cho cái gì hết. Đặc sắc mỗi nhà thơ chỉ ở trong những bài hay. Thỉnh thoảng có nói đên cái dở cũng là cốt cho nổi cái hay mà thôi..." (trang 392, Thi Nhân Việt Nam, Nguyễn đức Phiên xuất bản lần hai, 1941-42, Huế).
Nói như Hoài Thanh, ở con mắt nhà phê bình theo thẩm mỹ quan; không nhìn tư tưởng và tổng quát, chúng tôi nhận rằng ý kiến trên là một ý kiến khá độc đáo. Ông là nhà phê bình tùy hứng, phóng túng, không theo hệ thống nào, khuynh hướng nào. Điều này có sự tai hại lớn, là không có sự so sánh diễn tiến sự nghiệp mỗi tác giả được phê bình; mà ở ngoài đời văn nghiệp có sự diễn tiến ấy. Từ chối cái xấu cũng là ca tụng cái tốt, nhưng tính xấu là sự kiện thành hình có cũng như cái hay. Tôi muốn nói đến nội dung hai thứ so sánh liên quan với nhau mà Vũ Ngọc Phan lại hiểu theo nghĩa của ông cho rằng Hoài Thanh muốn giải thích che lấp cái dốt bản thân lối phê bình của Hoài Thanh là một mắt ông viết:
“...Phê bình rặt cái hay, cái đẹp trái với lối phê bình của Nguyễn Văn Tố, là lối chỉ trích vụn vặt...”
Trở lại vấn đề này, hãy nhớ André Gide và Stephan Zweig viết về Dostoievskð không hề nói đến cái dở đại văn hào Nga, mà lại nói được hết tư tưởng tác giả, một tông đồ biết giải thích cái hay theo mắt nhà văn nhiều thẩm mỹ quan; một nhà phê bình nắm được đường lối tác giả, qua con mắt nhìn viễn ảnh tổng quát. Vũ Ngọc Phan sai ở điểm đó chăng? Cái khác giữa Hoài Thanh và nhà văn Pháp, Đức kia; là Hoài Thanh nhìn phiến diện và các vị kia lại có lối nhìn tổng hợp.
Thi Nhân Việt Nam giá trị cuốn tuyển tập thi ca (anthologie) như Pháp, Nga thường thực hiện; giới thiệu tác giả nói khuynh hướng sơ lược, tác phẩm không nặng nhiều phê bình, giải thích; như thế cũng có giá trị chung là bồi đắp cho văn học sử thêm tài liệu văn học. Nói chung, so sánh tác phẩm Hoài Thanh với cuốn phê bình văn học Vũ Ngọc Phan, thì Thi nhân Việt Nam không còn giá trị tổng quát.
Vũ Ngọc Phan nhận định về Hoài Thanh như sau:
“...Còn điều này nữa, mà tôi nhận thấy ở đoạn cuối trong quyển hợp tuyển của Hoài Thanh, đó là lời rào trước đón sau, giống như những bài báo trong một vụ tuyển cử, mà người viết muốn ngăn đoán những sự công kích ào ào. Thí dụ, việc gì một nhà biên khảo lại phải viết những câu như thế này “Có người thơ tuyệt đẹp mà đối với tôi lại toàn những cử chỉ rất mực xấu xa. Họ phũ phàng, họ nhỏ nhen”. Dù ông có viết thêm “Nhưng thôi tôi nói ra làm gì?”nhưng ông cũng đã nói ra rồi, những thời này chỉ là những lời rào đón. Tất cả những lời nhỏ to ấy, theo tôi chỉ nên thu gọn một ít trong bài tựa, vì nó không có tính cách vĩnh viễn và không hợp với quyển khảo luận thi ca...”
Thật xác đáng và lý thú biết bao với lời phê luận tuyệt vời của Vũ Ngọc Phan!
Tiết 3
NHỮNG NHÀ VĂN BIÊN KHẢO
PHAN VĂN HÙM (1902 –1946)
Phan Văn Hùm sinh năm 1902 ở Búng, Lái Thiêu (Nam Phần). Là con trưởng một gia đình trung lưu ở Thủ Dầu Một. Gia đình có ba anh em: bà Phan Thị Năm và ông Phan Văn Hóa. Phan Văn Hùm đứng trong lập trường đệ tứ với Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, nên bị Cộng sản đệ tam thủ tiêu vào năm 1946. Phan Văn Hùm có họ gần xa với Đồ Chiểu, một nhà ái quốc miền Nam, ngay từ hồi Pháp mới đặt chân lên đất nước. Sau khi Phan Văn Hùm đậu bằng Thành Chung ra Hà Nội theo học Công Chính. Tốt nghiệp, trở về Nam Bộ làm vườn, không ra làm việc quan. Năm 1929, vì là bạn Nguyễn An Ninh, thực dân lấy cớ vụ lộn xộn ở cầu Bến Lức bắt giam ông đưa vào Khám Lớn Sài Gòn. Năm 1933, ông qua Paris du học, đậu cử nhân triết học, tốt nghiệp ở Sorbonne. Về nước, ông đứng trong hàng ngũ những nhà ái quốc tranh đấu như: Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch… xuất bản báo La Lutte và Đồng Nai. Năm 1937, Phan Văn Hùm lại bị vào tù vì một bài báo trên La Lutte. Năm 1942, ra tù ông bị đưa đi quản thúc ở Tân Uyên, Biên Hòa. Tác phẩm đã xuất bản: Biện chứng pháp, Phật giáo triết học (Tân Việt 1941), Vương Dương Minh (Tân Việt 1944), Nỗi lòng Đồ Chiểu… và bài khảo cứu giá trị đăng trên các báo Tri Tân, Thanh Nghị. Tác phẩm Ngồi tù Khám lớn (Bảo Tồn, 1929) lên án thực dân qua thiên hồi ký tả cảnh cực khổ trong khám với giọng văn căm hờn. Cho rằng: vào tù tinh thần sẽ nát như tương hay sẽ cứng dắn như đồng, dẫn lời Nguyễn An Ninh: “En prison le coeur se brise ou se bronze”.
Phan Văn Hùm, nhà học giả ái quốc, uyên thâm, có lập trường chính trị rõ rệt, giàu lòng yêu nước, muốn giải thoát dân tộc thoát ách nô lệ. Tác phẩm Phan Văn Hùm là sách có giá trị cho người đọc hiểu thêm triết-học-chính-trị, bồi bổ, làm giàu vốn hiểu biết. Mặc dầu Phật giáo triết học hoặc tác phẩm Vương Dương Minh được viết theo lập trường đệ tứ.
Phan Văn Hùm qua đời, nhưng cuộc đời cách mệnh làm gương sáng mẫu mực thế hệ sau. Một Tạ Thu Thâu, cùng một ý nghĩa danh nhân (homme illustré); ngoài ra, ông còn là nhà biên khảo văn học giá trị có công với văn học sử.
2. HOÀNG XUÂN HÃN (1909 –1996)
Sinh năm 1909 ở Hà Tĩnh. Từng là Bộ Trưởng Quốc gia Giáo dục vào 1945 trong Chính phủ Trần Trọng Kim. Tốt nghiệp trường Bách Nghệ, đậu Thạc sĩ khoa học. Ông viết khảo cứu, lịch sử. Tác phẩm xuất bản: La Sơn Phu Tử (Minh Tân Paris), Danh từ khoa học (Minh Tân, Paris), Lý Thường Kiệt I, II (Sông Nhị, Hà Nội), Hà Thành thất thủ (Sông Nhị xuất bản), Thi Văn Việt Nam (sách biên khảo giáo khoa), Chinh Phụ Ngâm bị khảo (Minh Tân, Paris)v.v…
Tiền chiến thì Hoàng xuân Hãn chưa nổi tiếng về biên khảo, mà chỉ nổi tiếng về là nhân tài học giỏi, như Ngụy-Như-Kontum, Nguyễn Mạnh Tường, Lê Văn Thêm vv... Hồi ấy Phạm Huy Thông còn nổi tiếng thi sĩ, ngoài danh tài thạc sĩ triết học. Trần Đức Thảo nổi tiếng đỗ đầu triết lý hiện tượng luận, tông đồ rất xuất sắc Husserl. Và triết gia hiện đại Pháp Merleau Ponty đậu thứ hai. Trần Đức Thảo tối ưu chiếm danh dự (triết gia gà nhà cùng chuồng, Merleau Ponty là philosophe chevronné của nhóm Existensialisme Jean Paul Sartre. Hoàng Xuân Hãn, Trần Đức Thảo cùng biên khảo, Trần Đức Thảo sau cho xuất bản Triết lý đi về đâu?, nhưng giá trị văn học Hoàng Xuân Hãn nhiều hơn.
Năm 1945, Hoàng Xuân Hãn tham gia trong chính phủ Trần Trọng Kim và cho xuất bản những cuốn sách giá trị như Danh từ Khoa học. Người ta biết ông hơn từ dạo đó, nhất là vụ đưa Việt ngữ vào Đại học đầu tiên làm chuyển ngữ thay Pháp văn.
La Sơn Phu Tử, cuốn sách giá trị với người đọc muốn tìm hiểu thái độ xử thế con người chính trị bị hoàn cảnh xã hội xô đẩy vào đường cùng chế độ giao thời. La Sơn Phu Tử là trung thần nhà Lê chịu ơn lộc nhiều giòng vua. Khi Quang Trung đại thắng mời ra cộng tác, ông từ chối, tuy nhiên vẫn giúp ý kiến đến đời vua Cảnh Thịnh. Khi Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà, lấy hiệu Gia Long mời ông ra làm quan; vẫn không nhận và sau chết già trên núi.
La Sơn Phu Tử có tên từ dãy núi La Sơn, thái độ vô vi La Sơn thoát thai từ thuyết Lão Trang. Nên người viết sách ghi lại gương anh hùng cũng có tính chất vô vi đó.
Là cuốn sách nhiều tài liệu, hình ảnh, rất ích lợi, làm giàu tư tưởng cho những ai đa mang trường hợp nan giải có lối thoát. Sách chia làm 25 chương. Chương 1 đến 7 nói về quãng đời thư sinh La Sơn. Chương 7 đến 9 đời quan trường và từ quan. Chương 10 quan trọng nhất bàn về tư tưởng thái độ sống La Sơn ẩn dật ở núi Thiên Nhạn. Chương 11 đến 18, giai đoạn giao thiệp cộng tác với Quang Trung và Cảnh Thịnh. Chương 19 giao thiệp với Nguyễn Ánh và chương 20 với Bảo Hưng, chương 21 qua đời. Chương 22 nói về thơ văn và số học, tâm lý ,chính kiến ,tổ tiên, gia thế. Chương chót 25 gồm phụ lục và ấn tín, lưu bút Quang Trung. Tác giả sưu tầm tài liệu phong phú, lập luận viết khách quan trong chủ quan định hướng, nói chung. Ông có lập luận riêng chẳng hạn mang tâm trạng hòa hợp với anh hùng, cùng mang tư tưởng riêng vào sách. Ngày xưa Bùi Kỷ, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng phê bình truyện Kiều mang tâm trang giải oan ám ảnh (obsession), Hoàng Xuân Hãn còn tìm được chính bản Hạnh Âm thi cảo của La Sơn Thi Kinh Giải Âm và thư vua Quang Trung kèm theo ấn tín và trò chuyện như trao đổi với La Sơn. Sự kiện này chỉ tìm thấy ở nước văn hóa cao như văn hóa Pháp. Người dân Pháp nhặt được mảnh lưu bút Victor Hugo cũng đem đến thư viện Hugo gom góp. Văn hóa Tàu xưa đến kẻ sĩ nước ta không dám dùng chữ thánh hiền làm điều bậy bạ, không dẫm chân lên chữ Nho mỗi khi gặp ngoài đường. Lần đầu tiên ở nước ta, Hoàng Xuân Hãn làm được việc rất ích lợi, thật vĩ đại. Như khảo sát vấn đề nào dốc hết tâm đến tài liệu ấy. Rất có thể tác giả khác viết hay hơn Hoàng Xuân Hãn, nhưng tài liệu đến giờ này khó hơn được ông.
Danh từ khoa học, giải nghĩa danh từ không hẳn là tự điển, vì không có định nghĩa, hay nói khác đi, là người soạn sách sáng chế danh từ. Tài liệu này không dịch ở Bách Khoa từ điển nào của Pháp hay ngoại quốc. Danh từ Khoa học ở phần trên là danh từ khoa học lấy ở tiếng Pháp theo vần thứ tự abc…
Danh từ Khoa học soạn công phu, đó là cuốn sách ý niệm sơ khởi về khoa học, cần nhiều sáng kiến, mở rộng khả năng nghiên cứu. Soạn giả mất nhiều công phu, bắt đầu ông từ ngày sang Pháp du học rồi dạy học, trải qua nhiều kinh nghiệm đúc kết hoàn thành. Tác giả đề cao dân tộc Việt, qua lời vào đề, nghĩ về tiền đồ tổ quốc tin tưởng dân tộc mình không thể có mặc cảm và thua sút, từng qua bốn biển năm châu, tin tưởng ở dân tộc sẽ có nhiều người tài giỏi. Phương pháp viết sách hướng dẫn, giáo huấn, mở rộng con mắt tìm hiểu cho người đọc. (trên lãnh vực khoa học nên dùng danh từ khoa học)
Cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo, ông đưa ra ý kiến đối lập với tài liệu văn học sử có sẵn. Thái độ này coi như tiến bộ, dù sai hay đúng; chứng minh kẻ viết muốn vượt, và đính chính sự kiện chưa hoàn hảo, bồi đắp nền văn nghệ phong phú hơn. Tất nhiên, chủ quan tột độ khi làm việc này. Cùng tìm hiểu nguyên do, tài liệu đối lập này với tài liệu cũ đúng hay không? Thì Bạch Diện, tác giả truyện dã sử Nguyễn Thái Học trả lời Hoàng Xuân Hãn qua Chinh Phụ Ngâm bị khảo với nhận xét đanh thép, đầy thuyết phục (57):
“...Ông Hoàng Xuân Hãn chưa có bằng chứng rõ rệt trong tay, mới chỉ được ông Huy Chiêm gửi một bản sao bằng chữ La-tinh mà đã quả quyết rằng bản Chinh Phụ Ngâm hiện đương được mọi người truyền tụng (ông Hãn gọi là bản A) là của ông Phan Huy Ích, như thế e nông nổi quá.
Chẳng những ông Hoàng Xuân Hãn mà cả đến ông Đông-Châu-Nguyễn-Hữu-Tiến năm 1926, cũng cho rằng bản Chinh Phụ Ngâm (bản A, theo sự sắp đặt của ông Hãn) là của ông Phan Huy Ích, ông Đông Châu cũng căn cứ vào bức thư của một người cháu họ Phan. Người ấy cho biết cả một bài thơ ngẫu tuật bằng chữ nho bảo rằng cụ tổ mình làm sau khi dịch bản Chinh Phụ Ngâm của ông Đặng Trần Côn; bài thơ ấy như sau:
Nhân mục tiên sinh Chinh Phụ Ngâm
Cao tình dật điệu bá từ lâm
Cận lai khoái trá tương truyền tụng
Đã hữu thôi sao vi diễn âm
Vận luật hát cùng văn mạch túy
Thiên chương tu hướng nhục thanh tầm
Nhàn trung phiên dịch thành tân khúc
Tự tín suy minh tác giả tâm
Ông Đông Châu đã dịch ý bài thơ ấy như sau:
"...Ông Đặng Trần Côn người Nhân Mục làm ra bài Chinh Phụ Ngâm bằng chữ Hán, từ điệu cao kỳ đã truyền bá ở chốn từ lâm, ai cũng truyền tụng lấy làm khoái trá lắm, đã có người thổi sáo diễn ra ca nôm, nhưng theo về âm luật thì dịch sao cho hết được cái tinh túy trong mạch văn, vậy phải theo thiên chương và hiệp với âm nhạc mà diễn ra mới được. Nay nhân buổi đã dịch thành khúc mới chắc tin rằng suy minh được bụng dạ tác giả...”
“Tuy có bài thơ ấy, song cũng chưa dám đoán bản Chinh Phụ Ngâm là của ông Phan Huy Ích nên ông Đông Châu đặt ra một nghi vấn: “xem bài thơ trên đó truyền lại đủ chứng tỏ rằng "Chinh Phụ Ngâm" khúc bấy lâu nay vẫn truyền do bà Đoàn Thị Điểm diễn nôm, dễ thường không phải, mà chính là cụ Phan Huy Ích diễn ra đó chăng?”
“Ông Đông Châu đặt nghi vấn như vậy là phải. Vì một bức thư với một bài thơ của con cháu họ Phan gửi đến chưa có thể là một bằng chứng xác thực rằng Phan Huy Ích là dịch giả bản Chinh Phụ Ngâm. Về phần tôi; tôi cho rằng có lẽ ông Phan Huy Ích đã sao chép lại bản Chinh Phụ Ngâm của bà Đoàn Thị Điểm, vì ông thấy là bài văn hay mà còn con cháu của ông sau này ngộ nhận là của ông Phan Huy Ích chăng?(58) Bà Đoàn Thị Điểm sinh năm Ất Dậu (1705) tức là năm Chính Hòa thứ 29 cuối đời vua Lê Hiến Tông, còn ông Phan Huy Ích sinh năm Canh Ngọ (1750) tức là năm Cảnh Hưng thứ mười một đời vua Lê Hiến Tông. Như vậy là bà Đoàn Thị Điểm sinh trước Phan Huy Ích 45 năm. Bà Đoàn Thị Điểm mất năm Kỷ Tỵ (1749) năm Cảnh Hưng thứ 10 tức là bà mất trước năm ông Phan Huy Ích xuất sinh.
Đối với ông Phan Huy Ích bà Đoàn Thị Điểm là bậc tiền bối, vậy có thể rằng bản di văn của bà Đoàn Thị Điểm đã được ông Phan Huy Ích sao lại vào tập sách của ông? Ngày xưa, các nhà nho khi làm được bài thơ bài văn không khi nào tự mình đem khắc và in ra, nghĩa là không công bố sản phẩm văn chương của mình mà chỉ để cho người nhà hoặc bạn bè ngâm đọc với nhau thôi. Những khi, người nào thấy bản văn hay chép lại để giữ trong nhà. Vậy ông Phan Huy Ích cũng là người chép lại bản Chinh Phụ Ngâm của bà Đoàn Thị Điểm vì thấy là bản văn hay hoặc có khi ông Phan Huy Ích cũng phỏng theo bản chữ Hán của ông Đặng Trần Côn mà dịch lại rồi ông làm bài thơ kia chăng? Về sau này con cháu của ông không hiểu, nhận ngay bản dịch của bà Đoàn Thị Điểm.
Còn một điều đáng lấy làm lạ rằng ông Phan Huy Chiêm, từ năm 1926 đến 1952, sao không đem bằng chứng đưa cho ông Đông Châu và ông Hoàng Xuân Hãn để chứng minh bản Chinh Phụ Ngâm (bài A) là của cụ tổ mình? Ông Chiêm chỉ gửi thư bản sao chữ La-tinh. Đáng lẽ ông Hoàng Xuân Hãn nếu không được diện kiến ông Phan Huy Chiêm đem chụp ảnh di cảo của ông Phan Huy Ích để xét đoán cho đúng. Chưa có bằng chứng đích xác, ông Hoàng Xuân Hãn đã quả quyết ngay bản Chinh Phụ Ngâm (bản A) là của ông Phan Huy Ích, là ông Hãn đã mắc một cái sai nhầm lớn.
KHÔNG THỂ GÁN BẢN B LÀ CỦA BÀ ĐOÀN THỊ ĐIỂM
Đã mắc cái nhầm lớn vì không đủ bằng chứng xác thực, ông Hoàng Xuân Hãn còn mắc một cái nhầm lớn hơn nữa là ông gán bản Chinh Phụ Ngâm (bản B) là của bà Đoàn Thị Điểm. Bản này kém hơn bản A và không được truyền tụng nên ít người biết đến. Ông Hoàng Xuân Hãn căn cứ vào chữ nữ giới mà quả đoán rằng bản B này là của bà Đoàn Thị Điểm. Cái nhầm của ông Hoàng Xuân Hãn càng tỏ rõ hơn, khi ông đem chụp ảnh hai trang bản viết cũ Chinh Phụ Ngâm ấy. Theo ảnh, thì cuối bài Hán văn có hai chữ nữ giới (chữ giới và răn) ông Hãn ghép ngay với bản văn nôm (bản B) rồi cho là của bà Đoàn Thị Điểm. Chúng tôi cho rằng người nào đó nhận thấy bản Chinh Phụ Ngâm chữ Hán của ông Đặng Trần Côn là một áng văn hay, liền chép lại, rồi lại chép một bài văn, thơ, hay ca răn con gái ở trang sau, nhưng trang trước (cuối bài Hán văn) còn thừa giấy, lại đặt cái nhan đề nữ giới nghĩa là răn con gái.
Bài nữ giới có thể là bài cổ văn Nàng Ban Chiêu, vợ Tào Thê Thúc đời Hậu Hán, người ta nhận thấy là bài văn có ý nghĩa, cũng chép tiếp vào đó. Chúng tôi không hiểu rằng ông Hoàng Xuân Hãn vô tình hay hữu ý ghép hai tờ giấy, một chữ Hán, một chữ nôm vào với nhau rồi đem chụp ảnh.
Tai hại nhất là ông Hoàng Xuân Hãn đã nhầm chữ giới và răn ra chữ giới là cõi. Trong cổ văn Trung Hoa không có chữ nữ giới (giới là cõi). Chữ nữ giới này do người Nhật Bản đặt ra sau hồi duy tân, cũng như những danh từ cách mạng, kinh tế và nhiều danh từ khoa học. Hơn nữa, nếu người ta muốn đề tên tác giả hay dịch giả , thì hai chữ tên thường đặt ngay dưới nhan đề Chinh Phụ Ngâm.
Do sự nhận xét ấy, chúng tôi quyết đoán rằng ông Hoàng Xuân Hãn đã nhầm nhiều trong việc tìm tác giả Chinh Phụ Ngâm bản A và đem râu ông nọ cắm cằm bà kia của ông Phan Huy Ích. Chúng tôi cũng cho là nghi vấn chứ chưa dám tin hẳn để mọi người khác là nhầm. Một cái nhầm đã lâu ngày, đã nhiều người mắc, không thể nhất đáp cải chính ngay được.
Cũng như xưa nay ta vẫn nhận cụ Tổ mình là Hùng Vương, về sau có người tìm ra chỗ nhầm ở chữ Hùng với chữ Lạc, biết rõ ràng cụ tổ mình là Lạc Vương chứ không phải Hùng Vương, nhưng vẫn quả quyết giữ thuyết Hùng Vương.
Về tên họ Hai Bà Trưng xưa nay các vị chép sử sách vẫn chép là Trưng Trắc và Trưng Nhị; nhưng có người lại tìm ra chính danh hiệu hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị, vì nhà bà chuyên nghề chăn tằm, trứng con ngài thường gọi là trứng trắc và trứng nhì; nên người nhà đặt tên hai bà theo tiếng gọi thông thường của giới bình dân. Đằng này ông Hoàng Xuân Hãn không bằng chứng cụ thể là quả đoán, tất không tin được. Vậy cuốn Chinh Phụ Ngâm của ông Hoàng Xuân Hãn không có giá trị khi ông võ đoán bản Chinh Phụ Ngâm vẫn được truyền tụng là của ông Phan Huy Ích…”
Ông Bạch Diện đã nhận định rõ ràng; đưa bằng chứng cụ thể, hệ thống hóa vấn đề; như vậy đã cho người đọc nhận đâu là giá trị Chinh Phụ Ngâm bị khảo của Hoàng Xuân Hãn. Đó chỉ là một trong những chứng liệu nhầm lẫn của ông. Nhìn chung văn nghiệp, ông Hoàng Xuân Hãn vẫn có giá trị với Lý Thường Kiệt, Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca; cao nhất là La Sơn Phu Tử và Danh từ khoa học. Ông góp một phần không nhỏ trong ngành biên khảo văn học ở giai đoạn giao thời và hậu chiến sau này.
3. NGUYỄN ĐĂNG THỤC (1909 – 1999)
Sinh năm 1909 ở Nam Định. Thuở nhỏ học ở tỉnh nhà từ năm 1927. Đến 1934 xuất ngoại sang Paris học, đậu kỹ sư hóa học.
Năm 1945 về nước chủ trương tờ báo Duy Nhất ở Nam Định. Cách mạng bùng nổ, ông viết chung cuốn Văn hóa và cách mạng với Đào duy Anh (nhà làm tự điển nổi tiếng bậc nhất, rất công phu trong lịch sử tự điển Việt Nam) Hồ Hữu Tường, Đặng Thái Mai. 
Ông theo kháng chiến, tản cư ít lâu, rồi trở về thành sớm. Có một thời uy quyền, cánh tay mặt phe Tổng Trấn Bắc Phần, do Pháp đặt hệ thống chính quyền bù nhìn ở đất Tề. Năm 1953, ông chủ trương báo Văn Hóa Tùng Biên. Năm 1954 chủ nhiệm nguyệt san Văn Nghệ Tập San (Sài Gòn) và giữ chức Khoa Trưởng Văn Khoa (Đại học Văn Khoa) nhiều nhiệm kỳ.
Từ Duy Nhất, Văn Hóa Tùng Biên, Văn Nghệ Tập San hay tác phẩm biên khảo của ông đã xuất bản đều chủ trương lập luận:
Tinh thần truyền thống dân tộc (mission mellénaire)
Tổng hợp đạo học và khoa học.
Kết luận về văn hóa Đông Phương (nhất là Trung Hoa và Ấn Độ vẫn là trung tâm văn hóa nhân loại). Tác phẩm đã xuất bản: Văn hóa và cách mạng (viết chung 1945), Tinh thần Khoa học và Đạo học (Hà Nội 1953), Dân tộc tính (Văn hóa vụ xuất bản, Sàigòn 1954), Lịch sử Triết học Đông Phương I và II , và còn đang tiếp tục xuất bản tiếp trọn bộ như in trong mục lục là 7 tập (1956).v.v...
Khái niệm về văn hóa dân tộc, Nguyễn Đăng Thục duy trì khai thác vốn cũ dân tộc, vẫn là điều thiết yếu của tư tưởng nhân sinh quan dân tộc, nói riêng; Đông Phương, nói chung. Với nhân loại, khuynh hướng nhận thức đạo người và đạo Trời, hành động và tri thức, lý trí với tình yêu. Đây là đoạn văn gần như tuyên ngôn Nguyễn Đăng Thục và đồng thuyền. Với nhân sinh quan ấy, ông vẫn đeo đuổi phục vụ cho đến nay:
"...Dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm lịch sử sống trên giải đất ở giữa hai khu vực lớn của hai dân tộc tối cổ văn minh là Trung Hoa và Ấn Độ. Tiếng Ấn Độ China gần đây các nhà địa lý đặt tên cho giải đất chữ S này không phải chỉ có nghĩa địa lý mà còn có ý nghĩa lịch sử nữa. Về sinh lý thì trong máu người Việt Nam ngày nay có cả giòng máu người phương Bắc tràn xuống lẫn lộn với giòng máu người phương Nam tràn lên. Về tinh thần vì văn minh Trung Hoa có tính cách đại đồng thực tiễn đã ảnh hưởng sâu sa vào văn hóa và xã hội Việt Nam, đồng thời văn minh Ấn Độ có tính cách tâm linh cao siêu đã làm cho nguồn sống nội tâm của cá nhân Việt Nam. Phàm những thời đại cường thịnh trong lịch sử đều là thời mà dân tộc Việt Nam đã thực hiện được thế quân bình thích ứng trong giữa hai tinh thần văn hóa, đã thống nhất được cái tinh túy của hai nguồn sinh lực, hai khuynh hướng đặc biệt của tư tưởng nhân loại là khuynh hướng nhân sinh và khuynh hướng nhận thức đạo người và đạo trời, hành động và trí thức, lý trí với tình yêu. Thời đại mà nhà Trần, dân khí hùng dũng, tinh thần độc lập cực cao, ấy là nhờ trong nước trên dưới đoàn kết lý tưởng duy nhất đã tuần tự kết tinh ở nội giời bằng bao công phu Phật học và Hán học từ Đinh Lý trở về, biến thành một nguồn nội lực của dân tộc vô cùng mãnh liệt và phát tiết ra hành động cương quyết và tự tin. Đấy là chứng minh rõ rệt khi giao thông trên thế giới chưa được giải quyết một cách rộng rãi mà thế giới chỉ là thế giới từng châu, thì dân tộc Việt Nam đối với thời gian và không gian đã thực hiện được nhiệm vụ lịch sử của mình một cách xứng đáng, vì dân tộc ấy tuy bé nhỏ, ở vào một hoàn cảnh địa lý eo hẹp, nhưng một khi đã tìm thấy thế quân bình của mình do tình thế địa lý và lịch sử ngầm định ủy thác, thì nó đã chiến thắng vẻ vang với những thế lực cản trở lớn lao là chừng nào! Cho hay chúng ta không lo về những thế lực cản trở con đường tiến thủ sống còn của ta, mà chúng ta chỉ nên lo lắng trước giai đoạn tiến hóa của thế giới hiện thời: năm châu chằng chịt những mối tương quan về văn hóa, kinh tế, chính trị chúng ta tìm được thế quân bình mới để kết tinh cái tinh thần duy nhất làm nội lực động cơ, cũng như xưa kia Lý Trần tổ tiên chúng ta đã thực hiện thì lo gì không chiến thắng những điều kiện bất lợi nó cản trở…”
Bản tuyên ngôn về tinh thần dân tộc truyền thống của Nguyễn Đình Thục bao gồm đầy đủ: nguyên tắc, tương quan quốc gia, xã hội, thế giới uyên nguyên tiến hóa văn hóa dân tộc. Một Bakounine từng chủ trương panslavisme(62) đại đoàn kết dân tộc giòng giống Slaves để tạo một uy thế thống nhất trước khi hành động, có nguyên tắc và triết thuyết rõ ràng. Đó cũng là một điều muốn phát huy của Nguyễn Đăng Thục, tuy không như Bakounine ở triết thuyết, song đường lối thể hiện giống nhau ở dàn bài thực hiện. Ông chủ trương một thứ giao hòa panthéisme Đông Phương, Tây Phương, và lấy trọng tâm văn hóa tinh túy Đông Phương đi đôi với phương lược hành động khoa học kỹ thuật Tây Phương.
Xét văn thể bản tuyên ngôn về đường lối, như khảo và phê một thuyết nào, căn bản là phải sáng gọn, rành mạch, hệ thống, hành văn, sáng sủa; có thế người đọc mới dễ lĩnh hội. Chúng ta từng thấy một Bertrand Russell (triết gia Anh được Nobel viết cuốn Histoire de la philosophie occidentale (Lịch sử Triết học Tây Phương, Gallimard xuất bản), một Benoit P. Hepner viết về Bakounine; một Auguste Cornu viết về Essai de critique du marxiste (Lý luận về phê bình chủ nghĩa Mác xít). Lối trình bày mạch lạc, hoặc Hồ Thích, Trần Độc Tú, Lý Lập Tam, Lỗ Tấn… đều cùng ý nghĩa ở việc xây dựng triết thuyết. Nguyễn Đăng Thục chưa có lối trình bày mạch lạc, hành văn tối nghĩa, rườm rà; chính lẽ ấy người đọc không dễ dàng lĩnh hội ý tưởng của ông.
Tinh thần Khoa học, Nguyễn Đăng Thục muốn dung hòa Âu Á, qua văn hóa. Và như bản tuyên ngôn, luận đề ấy là phần chính yếu trong cuốn sách này. Bộ Lịch sử Triết học Đông Phương I là Lịch sử Triết Học Trung Hoa (I,II) biên khảo diễn tiến lịch sử triết học, tài sản triết lý qua nhiều khuynh hướng: Khổng Mạnh, Dương Chu, Mặc Tử… để người đọc thấu triệt tổng quát triết Đông.
Hai tập trong bộ sách chưa đủ để nhận xét tổng quát; tuy nhiên với phương pháp và nội dung trình bày (tài liệu ông viết căn cứ vào hai nhà tân triết học Trung Hoa như Phùng Hữu Lan và Hồ Thích) tiến bộ hơn Tinh thần Khoa học và bản tuyên ngôn bảo thủ đăng trên báo Duy Nhất. Phương pháp làm việc của ông nhiều công phu, lý luận, lập trường dựa vào dân tộc truyền thống, hòa hợp nhịp nhàng, văn khảo luận hấp dẫn không kém lối viết triết Bertrand Russell. Từ câu văn dài lê thê, thiếu mạch lạc, dài giòng, tối nghĩa ít có trong Lịch sử Triết học Đông Phương I,II.
Ông là nhà biên khảo triết học chuyên khảo triết Đông Phương với vốn học hỏi uyên thâm. Và nếu một dân tộc phát triển hùng mạnh, dựa trên nhiều khuynh hướng triết học; thì giá trị Nguyễn Đăng Thục đã có. Ông phát huy vốn văn hóa dân tộc so sánh hòa đồng Tây Đông, quân bình xã hội quốc gia, dung hòa tinh túy văn hóa Đông Phương và khoa học kỹ thuật Tây Phương. Qua đời ở Sài Gòn năm 1999.
4. LÊ THANH (1913 – 1944)
Tên thật Nguyễn Văn Thanh. Sinh năm 1913, mất 1944. Viết cho báo Tri Tân của Nguyễn Văn Tố. Tác giả Cuộc phỏng vấn các nhà văn. (Đời mới 1943) Trương Vĩnh Ký (1943), Văn học Việt Nam; đăng trên báo Tri Tân, Thân thế và Văn chương Tú Mỡ (1942), Sóng rợn sông Đà (nói về tư tưởng và thi nghiệp Tản Đà) đăng trên báo Tin Văn của Thái Phỉ (1941-42)... Những sách của ông viết về văn học Việt Nam cũng như phỏng vấn chỉ giá trị ở khía cạnh tài liệu; còn hệ thống viết phiến diện không được như Vũ Ngọc Phan. Một Kiều Thanh Quế cùng ý nghĩa, tuy tay nghề viết lách cao hơn so với Lê Thanh viết Văn học Việt Nam, cũng không bằng lối viết tính sổ văn nghệ ở Ba Mươi Năm Văn Học của Mộc Khuê (Tân Việt, xuất bản 1944). Nhưng không vì thế mà chúng ta có thể quên tài liệu phỏng vấn văn học, ở tuần chiến, xác đáng về tư liệu phong phú của Lê Thanh.
5. KIỀU THANH QUẾ (1914 – 1947)
Ông còn một bút hiệu nữa Tô Kiều Phương viết về Học thuyết Freud (Tân Việt xuất bản), Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam (Đời Mới, xuất bản 1943), Phê bình văn học (Tân Việt)...và nhiều báo ký bút hiệu Kiều Thanh Quế đăng trên tạp chí Tri Tân. Nhận định khái quát về tài liệu văn học và phê bình văn học của Kiều Thanh, ông có con mắt nhìn tổng quát cho người đọc thấy biểu nhất lãm diễn tiến văn học Việt Nam. Tuy nhiên tài liệu, lập luận viết chứng tỏ giá trị hơn Lê Thanh, Mộc Khuê. Cuốn Triết Học Freud chưa thể cho người đọc một khái quát, nắm được tư tưởng nhà phân tâm học rõ ràng. Ông viết không theo dàn bài nhất định, tùy hứng, có khi đang nói về tiểu thuyết, bỏ nửa chừng gián đoạn kể tiếp về cuộc đời, công việc làm; chứng tỏ ông chưa hệ thống hóa một cách khoa học. Người đọc sách Freud có thể hiểu qua người viết, như Daniel Lagache với La Pschycanalyse (Phân tâm học) (PUF, loại Que sais je?); nhưng với Kiều Thanh Quế, nói riêng, hay nhà biên khảo tiền chiến khác nói chung, chưa ai viết về vấn đề này khúc triết, dễ hiểu cho người đọc có một khái quát. Kiều Thanh Quế là nhà văn biên khảo giá trị, gốc ở Nam Phần đứng sau Phan Văn Hùm.
Những ngày cuối cùng, ông ẩn mình trong triết thuyết đạo Phật, bằng cách gõ mõ cầu kinh tại gia. Rồi ông bị Pháp bắn chết trong cuộc hành quân sau năm 1945 ở Biên Hòa.
6. DOÃN KẾ THIÊN (1891 – 1965)
Ông còn biệt hiệu Sở Bảo. Tác phẩm đã xuất bản: Hà Nội cũ (1934 đến 1944), Danh nhân Việt Nam (Đời Mới, 1943), Văn phạm Chữ Hán (Mai Lĩnh xuất bản). Cuốn giá trị tiêu biểu cho văn nghiệp là Danh nhân Việt Nam. Ông viết về cuộc đời Trạng Bùng, Nguyễn Văn Giai, Hoàng Sầm, Nguyễn Đình Giản, Võ Duy Thanh, Ngô Thời Nhiệm, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trường Tộ. Giá trị cuốn sách như đã bàn trong tiết khái quát về nhà văn biên khảo; có ảnh hưởng lớn lao với thế hệ thanh niên tìm hiểu tinh thần chịu đựng cũng như cuộc đời ngoại hạng danh nhân, để tạo cho một lòng tin dũng tiến. Nói như vậy, giá trị Doãn Kế Thiện đã đạt. Mẫu danh nhân rất cần để huấn luyện cho người hôm nay còn vô danh, ngày mai là anh hùng, một chút máu ngang tàng Lý Thường Kiệt, một chút kiêu sa của kẻ thừa tài bất mãn Cao Bá Quát, một chút dũng cảm chí lớn như Quang Trung, một chút tài hoa văn chương Nguyễn Du, một sức chịu đựng Nguyễn Công Trứ, một sáng kiến viễn ảnh Nguyễn Trường Tộ và v.v… thì hẳn rằng văn hóa văn nghệ, đó là khí giới truyền bá, là gạch nối lịch sử.
Sài Gòn - Chợ Lớn, 30/9/1957
Thế Phong 
Theo https://vietvanmoi.fr/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cánh hoa chùm gửi XXXXXX

Cánh hoa chùm gửi Chương 1 Những năm dài trôi qua, tôi là của mẹ, mẹ là của tôi, gian phòng này là của hai người. Thế mà bây giờ, chỉ mộ...