Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2025

Những dự cảm trong thơ Nguyễn Đức Phú Thọ

Những dự cảm trong
thơ Nguyễn Đức Phú Thọ

Trên mảnh đất sáng tạo mà sự già cỗi, khô khảm và những lên mầm, kết tụ luôn song hành, cái tên Nguyễn Đức Phú Thọ dường như đã được nhiều người biết đến. Những năm trước 2010, anh đoạt nhiều giải thưởng văn chương, tác phẩm xuất hiện trên các trang báo, tạp chí uy tín. Từ “hạt giống” tiềm năng với giải thưởng báo Mực Tím, Hoa Học Trò, Thơ Bút Mới (báo Tuổi Trẻ)… Và trước đó là “cú nổ” gây tiếng vang khi là thủ khoa Văn toàn quốc kỳ thi tuyển sinh Đại học vào năm 2007.
Bốn năm sau, Nguyễn Đức Phú Thọ trở thành gương mặt đại diện “Thi quán phương Nam” – Sân thơ Hiện đại (Văn Miếu, Hà Nội năm 2011). Anh cũng là đại biểu trẻ duy nhất của An Giang tham dự “Hội nghị những người viết văn trẻ toàn quốc” lần VIII- năm 2011 tại Tuyên Quang. Năm 2021, Nguyễn Đức Phú Thọ trở thành hội viên chuyên ngành Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam.
Tôi đã tìm đọc tập thơ “Nỗi buồn đập cánh” (Nxb. Văn hóa- Văn nghệ, 2011), cũng như chạm vào “diện mạo” tâm hồn của anh qua tập tản văn “Nỗi buồn trong suốt” (Nxb. Hội Nhà văn, 2017). Đây là vài cảm nhận của người viết từ việc thưởng thức các thi phẩm cũ và mới của anh, qua đó đúc rúc, chắt lọc nên những suy nghiệm, cảm thụ, đánh giá về thơ anh.
Hầu như Nguyễn Đức Phú Thọ luôn diễn đạt ý tưởng, cảm xúc trên nền thể loại văn vần và văn xuôi trữ tình. Đó là một sự chắt chiu, cẩn trọng trong việc chọn lọc ngôn từ, hình ảnh và cảm xúc. Và nhất là sự dấn thân sáng tạo với tâm thế “nhập cuộc”, khám phá những hình thức thể hiện tinh tế, mới mẻ. Cảm nhận dễ thấy đầu tiên về thơ anh là phong vị thâm trầm, tế nhị và sâu lắng của một người an nhiên, tĩnh lặng và tự tại một cách thấu đáo.
Tôi tình cờ đọc được một bài thơ hay và lạ của anh trong ấn phẩm Xuân Tao Đàn An Giang (Nxb Hội Nhà văn, 2020). Nhan đề bài thơ đau đáu một sắc thái âm u, cô tịch – “Vọng đêm”. Toát lên nét triết lý, màu sắc u trầm từ dòng đời trong cảm thức của tác giả. Thơ mà bàng bạc sắc triết thì đã hướng tới dấu ấn trí tuệ và tư tưởng, đó là nét ấn tượng đầu tiên khi tôi chạm vào thơ anh.
“Từng chiếc lá nhẹ xoay trên mặt đường
Đêm – mang những vì sao
Rắc vào lòng phố”.
Chủ thể trữ tình “Chiếc lá” dễ gợi cảm xúc bồi hồi khi nghĩ về đời người, chạm đến niềm riêng vô vọng, trong nỗi quạnh vắng, mong manh…
Giọng thơ của Thọ rót khẽ khàng, lắng sâu. Nét gợi tả là “ngoại diện” của phần thi ảnh – “Lá nhẹ xoay trên mặt đường”. Một sự kết thúc lặng thầm bên đường, “một mình mình biết, một mình mình hay”. Mở đầu mang đến cho độc giả một dấu chấm hết của biết bao kiếp đời. Khắc sâu hơn, đậm đà hơn, phải chăng là cảm xúc của thi pháp thời gian và không gian tĩnh lặng, êm đềm: “Đêm – phố – vì sao” đan cài vào đó là sự luân chuyển của các biểu tượng xa xăm, cô đơn, vắng lặng… Như để lại dư âm cho con người đón nhận, cảm thụ về những chiếc bóng, linh hồn của phố xá.
Loạt thi ảnh từ đó hiện lên đầy đủ hơn khi ta cảm thấy được hiện tượng chuyển nghĩa giữa các câu thơ có sự chuyển động- “tiếng dế khua từng lớp cỏ”, “hơi thở im im, “mắt cỏ im im”… Một cuộc hội tụ “hoàn mỹ” theo mạch thơ. Đó là hình ảnh giao hòa cảm xúc thật tinh tế, được bố trí các ý tưởng ngăn nắp, chặt chẽ về bố cục. Từ láy gợi cảm, cầu toàn cũng là điệp từ giàu sức lắng đọng: “Im im… – im im”.
Trong thơ của Phú Thọ, thấp thoáng một kết nối, giao thoa giữa “động” và “tĩnh”. Ta dễ cảm nhận sự chuyển đổi cảm giác, biến hóa đầy thi vị:
“Nghìn giai điệu nhảy múa
Trên nền nhạc rối bời
Của một mùa đã từng rất cũ”.
Tôi hình dung cuộc đời là những màn kịch, những thước phim có phụ họa với những giai điệu “hòa âm phối khí” và qua lăng kính thăng hoa tưởng tượng của những miền hồi tưởng sẽ vượt thoát phối cảnh đơn điệu cũ xưa của ngày nào. Từ đó chợt gợi ra hình ảnh thật sinh động: “Nền nhạc rối bời”…
Tác giả lại hình dung bản thân:
“Nhìn về phía con đường lấm bụi
Trông ngóng điều chi
Sao chẳng nói thành lời?”
Với phương thức độc thoại nội tâm qua biện pháp nghệ thuật câu hỏi tu từ. Có những ao ước, ham muốn thầm lặng của kiếp người cứ đau đáu, trăn trở mãi… Trước mắt là một lớp sương mờ, không biết thuộc về hiện tại, tương lai hay quá khứ? Cho nên, việc kiến tạo “thần thái” cho bài thơ thật chẳng phải chuyện “một sớm một chiều”. Mà có khi đa chiều, nghiệt ngã mới có được.
Bài thơ “Vọng đêm” thật có chiều kích của nội tâm. Chúng ta hãy lắng nghe cuộc hành trình của nhân vật phù du – “Chiếc lá”. Chiếc lá con con… rơi vào vũ trụ của nhà thơ:
“Từng chiếc lá xoay vào đêm thao thức
Mơ hồ điểm rơi

Phím đồng hồ
Đã gõ nhịp cuối cùng
Tiếng vọng của yêu thương
Xin trả về tủi hờn lũ dế.”
Cách dùng điệp ngữ “Từng chiếc lá… từng chiếc lá” làm nổi bật sự liên tưởng cho những kiếp đời đã mệt mỏi thân xác lẫn nội tâm và nỗi niềm giờ như trở thành những “tiếng vọng”. Một nỗi thương cảm dâng cao, khi nhân vật trữ tình lắng nghe được: “Tiếng vọng của yêu thương”… Tôi chợt liên tưởng đến bài thơ “Mùa thu” trong tập thơ đầu tay “Nỗi buồn đập cánh” của anh, cũng với hình ảnh chiếc lá:
Như chiếc lá đứt lìa cuống mỏng/Vẫn yêu người trong lúc đang rơi”
 
Nhà thơ Nguyễn Đức Phú Thọ
 
Khổ cuối của bài “Vọng đêm” ngời sáng nét lung linh, huyền ảo:
“Khẽ cúi mình
Một lần
Soi vào chùm sương mỏng
Đêm gầy mắt trong”
Kết bài, gói gọn chỉ một câu –“Đêm gầy mắt trong”, tứ thơ ám ảnh, lay động mà vẫn ngời lên nét trong trẻo.
Khi chạm tuổi lục tuần, tôi thường cảm thích, tìm hiểu về tâm linh xem như đó là liệu pháp tinh thần, trước những điều khó lí giải của cuộc đời. Khi con người nằm chiêm bao mơ mộng, có người cho đó là khi “linh hồn” của chúng ta đang đi từ cõi vô thức vào tiềm thức. Thế là giấc mơ đến, đôi lúc không phân biệt được đâu là mơ, đâu là thực… Ở cái tuổi trẻ như tác giả, lại có cảm hứng sáng tác về đề tài này khi anh đến Đồi Cốc – Nghĩa trang thai nhi thì cũng thật lạ:
“Những đứa trẻ, túa ra từ đêm
Chúng chạy nhảy xuyên qua đám cỏ
Đôi mắt sâu như những ngọn gió”
Bước vào cõi mơ của không gian, thật đắng lòng khi gặp phải những đứa trẻ được sinh ra bởi sự “ngoài ý muốn” của các bậc cha mẹ trẻ người non dạ, xem nhẹ sự sống của những sinh linh nhỏ bé, những thiên thần của tạo hóa đã bị cắt đứt sự sống khi chưa kịp thành hình. Đã có những cuộc hành trình trần thế chạm vào cõi tâm linh với những sự huyền bí đến từ cõi cao xanh – “Vùng đất mở của văn chương”.
Tôi như cảm nhận thấy ngoài thế giới thực, qua nhịp thơ được ngắt quãng:
“Chúng
nhìn tôi

Những đứa trẻ không được chào đời
trên bãi đất nhô lên lạnh lẽo
trên gương mặt héo
trên đoạn đường về đến nghĩa trang”
Và hình ảnh các sinh linh ấy thoáng qua lần cuối, đầy day dứt:
“Chúng
hóa thành những đốm sáng
lang thang”
                                         (Đốm sáng)
Những dòng thơ đậm tinh thần nhân văn, trắc ẩn.
Không dừng lại ở sự cũ mòn, đơn điệu, nhà thơ trẻ cứ dịch chuyển không ngừng, bươn bả đi tìm phương thức sáng tác mới.
Trong tác phẩm “Trăng mùa hạ”, anh thể hiện suy nghĩ mời gọi, ẩn tình. Qua cách nói ẩn dụ, đa nghĩa. Ở phần đầu bài thơ, điệp từ phối kết động từ “thắp” tạo nên chuỗi thi ảnh đầy sức gợi:  “Thắp một cơn mưa nhỏ”, “Đom đóm về thắp lửa ven sông”, “Hoa dâm bụt thắp đèn lồng trước cửa ngõ”…
Niềm đồng cảm với tâm tư, trạng thái khuyết hụt, như có chút gì lơ đãng trong những dòng thơ. Cùng sự phản chiếu hình ảnh đầy thi vị:
“Những gái quê tắm mùa hạ chưa chồng
Đuổi theo trăng
Trăng tan vào mênh mông…”
                                                                 (Trăng mùa hạ)
Bút pháp tượng trưng “mùa hạ” được dùng thật đắt. “Mùa hạ” dễ gợi nỗi buồn khô khát, mùa của sự chuyển giao, mùa tượng trưng cho sự bừng thức, hoang vắng. Ghé vào thơ của chàng thi sĩ trong đêm “Trăng mùa hạ”, người thưởng lãm trôi bồng bềnh trong niềm ảo giác.
 Đến một sáng đẹp trời, vầng thái dương lại bừng tỏa những giọt nắng hạ. Tôi bắt găp bài thơ “Ngày nắng” của anh:
“Ngày nắng vỡ, bên ngoài phía hiên nhà
căn phòng thở gam vàng
cây chết cạn
trên bàn làm việc”
Không gian thực và ảo đan cài vào nhau tạo dẫn nhập vào bài thơ. Một trí liên tưởng của tác giả cho thấy đời sống nội tâm thật phong phú, thật giàu tình cảm đồng điệu, khi kẻ hậu bối như rút dần khoảng cách với các bậc thầy văn chương cổ xưa chợt hiện hữu quanh đây:
“Sách vỡ hỗn mang,
chất chồng tư liệu
những vĩ nhân, những bậc minh triết cổ xưa
dường như họ vẫn còn đang sống
trong ý nghĩ người đời mỗi ngày
trong sự thở
của ta”
Cách ngắt nhịp, ngắt quãng dưới hình thức xuống dòng, tinh giản câu, chữ để dựng tứ cho từng đoạn thơ. Trước trang viết nhà thơ trẻ như muốn tìm tòi, chắt lọc, tìm đến “lời hay ý đẹp”, tinh hoa trong các vườn hoa nghệ thuật, các vùng đất cao lạ của những bậc hiền triết… Có khi những tư tưởng lớn sẽ gặp nhau qua các trang viết mà chính chúng ta chưa hình dung ra được. Bởi lẽ biển học với tri thức mênh mông vô hạn mà ta chỉ là chiếc xuồng nhỏ bé, lắc lư trước ngọn sóng…
“tất cả
thản nhiên
sau tiếng lặng dài
khi ta dừng lại ngắm nhìn
sự sống phía bên ngoài
trang sách”
                         (Ngày nắng)
Trang sách kinh điển kia ắp đầy bao lý tưởng. Thế nhưng khi lắng lòng lại, dường như nghe ra được “núi cao trời rộng” và nghe được từng tiếng thở hòa quyện, hiện diện sau lằn ranh bé nhỏ, mong manh. Để rồi chạm đến cái “thản nhiên” u tịch.
Một bài thơ sâu ẩn khác của Nguyễn Đức Phú Thọ, với “Đôi mắt cánh đồng” như nhìn vào, xuyên thấu hồn người.
“Những xao xác còn giữ trên tay
tôi thả xuống dòng sông
một niềm chờ đợi
chảy băng băng qua đôi mắt cánh đồng

mùa thu vắt ngang chiếc cầu nhỏ
mưa chìm bến sông”.
Phương thức cấu thành nghĩa từ sự mơ hồ, ẩn dụ. Nếu khéo, tinh sẽ làm sáng hồn thơ. Dường như cảm xúc được hòa tan nơi thi ảnh, đã mơ hồ neo vào lòng độc giả. Chỉ là chi tiết nhỏ giản dị đặt đúng chỗ đã níu giữ con tim kỳ vọng trong khắc khoải, nơi một tâm hồn đa sầu, đa cảm – “…như thả xuống dòng sông nỗi niềm chờ đợi/ chảy băng băng/ qua đôi mắt cánh đồng…” .
Hình tượng “Đôi mắt cánh đồng” lung linh, mơ hồ hòa quyện với sự trong trẻo, trải rộng một không gian xanh màu cô quạnh, đậm đặc nỗi buồn với cơn mưa nhỏ gieo mùa thu mờ ảo. Câu cuối khổ thơ có âm hưởng buồn:“Mưa chìm bến sông”
Hay lòng người như cố chìm vào quên lãng?
Kết cấu đầu cuối tương ứng đưa ta về: “Bên chiếc cầu nhỏ – …những xao xác mơ hồ, không còn giữ trên tay”. Bố cục chặt chẽ, sắp xếp ý thơ mạch lạc, trôi chảy dù sắc thơ đầy hoài niệm, u trầm. Khắc đậm thêm ý thơ ban đầu, nhưng kết thúc với góc nhìn xanh tươi hơn, lạc quan hơn. Tác giả đã đứng lên ở vị thế nhìn xuống nỗi niềm chờ đợi xa vắng ấy, mà nhãn tự ở đây là từ “ngắm”, trong sự độc thoại nội tâm:
“Tôi ngắm nhìn dòng sông
bằng nỗi niềm chờ đợi
chảy băng băng qua đôi mắt cánh đồng”
Giọng thơ thật trong trẻo, u trầm nhưng đầy sắc nét. Ba câu kết như lời giao cảm, về sự trôi chảy không ngừng về phía xa xăm…
Nhiều bài thơ của Nguyễn Đức Phú Thọ đưa tâm hồn người đọc vào cõi miên viễn. Ở đấy, với ánh nhìn xa xăm của chính tác giả… Có đôi lúc ta quên đi những nhịp sống bận bịu hối hả, lao xao bề bộn của đời thường, để ngồi nhìn lại thước phim quay chậm đời mình, để rơi vào cõi lặng. Hãy hình dung về sự thường trực dấu chấm hết của sự sống, sẽ thấy thảnh thơi và thanh thản tâm hồn.
Sự sống thật ngắn ngủi, mới ngày xuân đã chớm bước buổi đêm thu… Ai chẳng qua thời “sống ảo”. Bởi lẽ thế gian này có rất nhiều cõi ảo giác, mộng mị và hoang tưởng. Tôi luôn cảm phục hai câu tuyệt bút của thi sĩ Bùi Giáng:
“Ta cứ ngỡ thế gian này có thật
Thế cho nên tất bật mãi đến giờ”
Đọc thơ Nguyễn Đức Phú Thọ, chúng ta thấy một “cảm thức” đã trở thành “chính kiến”: Tâm trí đã bình yên, chẳng còn lo được mất. Những gì đã mất đi chẳng còn nuối tiếc nữa, chẳng cần miễn cưỡng mà mong cầu. Nếu thật mong cầu thì sẽ tìm đến kỳ vọng về một ngày mai tươi sáng rực rỡ. Nhà thơ trẻ vén tấm màn vô thức để mọi người dễ dàng trông thấy và cảm nhận. Thơ của Nguyễn Đức Phú Thọ là những thành phẩm đẹp và là kết quả của trái tim nghệ sĩ tài hoa, nhạy cảm. Trong trí não không có hàng vạn pho sách hay, khi tâm hồn không cảm thích những bức tranh sơn thủy đẹp – “núi sông kỳ lạ của thiên hạ” thì không thể sáng tác ra những câu thơ hay, lời văn đẹp để đời được.
Ngày thêm dần trôi, tôi đặt lòng tin về cuộc hành trình sáng tạo và dấn thân vào thế giới văn chương của Nguyễn Đức Phú Thọ. Chắc hẳn ngòi bút trẻ này sẽ vẽ nên thế giới nội tâm phong phú, thảnh thơi và tinh lọc nhất nơi trang viết của mình.
Bên cạnh đó, anh còn xúc tiến và đặt tâm tư vào quản lý hoạt động văn học tỉnh nhà với vai trò Phân hội trưởng Phân hội Văn học An Giang. Nguyễn Đức Phú Thọ đã và sẽ đảm nhận công việc này trong 2 nhiệm kì XIII (2019 – 2024) và IX (2024 – 2029). Anh là người trẻ tuổi nhất lịch sử các đời Phân hội trưởng khi bắt đầu đảm nhiệm ở tuổi 30. Tất cả như càng quý giá khi nhà thơ trẻ tiếp tục thăng hoa, lặng thầm đắm say cùng với hành trình sáng tạo của riêng anh.
Tài liệu nghiên cứu, tham khảo:
1. Đỗ Lai Thúy (1992). Con mắt thơ. NXB Đời Nay
2. Nguyễn Đức Phú Thọ. (2011). Nỗi buồn đập cánh. NXB Văn hóa – Văn nghệ
3. Hoàng Thị Thu Thủy. (2018). Nguyễn Đức Phú Thọ – Những vần thơ lay động, tinh tế, Vanchuongviet.org, Phê bình, 10.10.2018
4. Chùm thơ: Đôi mắt cánh đồng; Đốm sáng; Khẽ, Vannghequandoi.com.vn, 05.03.2021
5. Thơ Nguyễn Đức Phú Thọ, Vanplus.vn, 26.09.2022
6. Mai Văn Phấn. (2025). Đôi nét về thơ trẻ Việt Nam đương đại, Baovannghe.vn, Lý luận Phê bình, 15.02.2025.
17/7/2025
Trần Quang Khanh
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

XXXXXTruyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt

Truyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt Phùng Cung sinh ra ở làng Kim Lân, xã Hồng Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Nhưng...