Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2025

Giấc mơ "Thấp thoáng cánh cò"

Giấc mơ "Thấp thoáng cánh cò"…

Nguyễn Lập Em là một nữ tác giả nổi tiếng ở Đồng bằng sông Cửu Long, với hơn 30 năm mải mê và gắn bó nghiệp cầm bút. Chị có “vốn liếng” gồm hơn trăm tác phẩm, với nhiều thể loại truyện ngắn, bút kí, tiểu thuyết, kể cả 10 tập thơ xuất bản từ năm 1980.
Tiêu biểu có tập thơ “Xin đừng ai đơn chiếc”, được trao tặng “Tập thơ hay trong 20 năm” (Văn nghệ An Giang, 1975-1995). Về văn xuôi, tập truyện ngắn “Bến nước Kinh Cùng” của chị đã được Hội Nhà văn Việt Nam, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn trao giải A đồng hạng- “Tác phẩm xuất sắc trong 30 năm” (1980 – 2010).
“Thấp thoáng cánh cò” (Nxb. Hội Nhà văn) là tập thơ ra mắt gần đây nhất của Nguyễn Lập Em. Thơ chị đã cuốn hút tôi bởi nét chân thực trong cách lột tả và diễn đạt tư tưởng. Chẳng hoa mĩ, màu mè, lên gân gì cả, cũng chẳng dùng triết lý để thu phục con tim và khối óc của mọi người, như nhiều thi sĩ khác đã thành công. Lời thơ mộc, bình dân như khẩu ngữ. Cảm xúc chân phương và “rất Nam Bộ”.
          “Nỗi vui buồn làm tôi thao thức
Nỗi nhớ nhà… trọn vẹn yêu thương”.
Theo cá nhân tôi, từ sự chân thực sẽ khởi lên tất cả. Chị chẳng thể hiện sự hào nhoáng, trau chuốt bóng bẩy. Mà luôn giữ nét hồn hậu, sâu lắng. Có một thế giới riêng được chưng cất và thành hình trong thơ tác giả.
         “Đêm phương Nam ánh lửa bập bùng
sự sống giấu dưới bao tầng lá mục
bình minh là tiếng gà eo óc
mồ hôi cha hòa cùng sương đêm
đất phương Nam đêm ngày vẫy gọi
Cha đi theo thấp thoáng cánh cò”
                                      (Thấp thoáng cánh cò)
Chấp chới “cánh cò” khi ẩn, khi hiện – khi có, khi không. Một thế giới tình cảm “không” mà “có” (hữu ngã và vô ngã)… Hình tượng người cha như “vị thần” mở đất, che chở và dõi theo từng bước chân con trên những chặng đường… Người cha đáng kính ấy như một tấm gương để con soi vào đó mà trui rèn, mà tu sửa:
          “Cha của thời bùn ngập ống chân
đã dạy con “bạc tiền như phấn thổ”
niềm ao ước cho con biết chữ
lớn hơn sản nghiệp đời mình”
Dường như, những lời dạy đầy tâm huyết ấy luôn thường trực nơi tâm trí của tác giả. Biết chữ để có tri thức, để từ đó hoàn thiện nhân phẩm. Chắc hẳn ở nơi xa người cha của tác giả sẽ rất vui khi tiếng tăm con vang bóng ở một thời. Kể cả những lúc thu mình dật sĩ, ôm những “áng mận đào” và vui cùng “lan vũ nữ đến mùa lại nở”:
          “Em cứ đẹp còn ta
buồn chút nữa
Không thể trách thời gian vôi vữa
Em tinh khôi, ta từng của xuân thì
…Hoa cứ nở tưng bừng
Như không biết có tàn phai chờ đợi…”
Hình như nhân vật trữ tình đã chuẩn bị cho mình một “tinh thần nhập cuộc”…  Để sức “liễu yếu đào tơ” can trường đối mặt với gian truân trong duyên phận của mình. Đã nghe những lạnh lẽo, quạnh quẽ phả vào trong một thoáng sấm sét đã đi qua trên giàn lan ấy… Để rồi… cảm thấy chạnh lòng, đau đáu cho số phận. Nhưng vẫn có nét lạc quan, vui vẻ với đời:
         “Lan vũ nữ đến mùa rộ nở
rực rỡ vàng
đẹp và tinh khôi”
Một cuộc tình thật trong trẻo… đầy tư tưởng nhân văn. Một màu tím chung tình mong manh dù chỉ còn là đơn phương, cô tịch.
         “Chấm nhỏ của màu hoa
mà như đời bất tận
cất lên từ ký ức
của kiếp nào trong ta
dịu dàng bông súng tím
bỗng vô cùng bao la”
                             (Màu tím mong manh)
Nhà thơ Nguyễn Lập Em
 
Tác giả như đã “linh cảm” được những gì của ngày mai… Đọc thơ của thi sĩ sẽ chợt gặp “điểm nhấn” trọng âm, đặt vào việc diễn tả cảm xúc dồn nén. Hình ảnh thơ được chắt lọc, cẩn thận. Tác giả luôn dụng công để tạo nét sống động, cho ra những “đóa hoa” thơ giản dị, dịu dàng mà cuốn hút, phối hợp giữa nét biểu cảm với miêu tả, tự sự. Ai được lớn lên từ nhịp sống của làng quê sẽ cảm nhận được những cảm xúc hồi tưởng. Và chất liệu hiện thực bởi từ ngữ tự nhiên, khỏe khoắn. Bao giờ trong thơ của tác giả vẫn trong trẻo nét tươi sáng, khi nhìn về phía trước và kể cả mai sau:
          “…Hãy sống hết những gì em có được
Nắng gió và vòm trời trong suốt
Sẽ cùng em nhảy múa khúc yêu đời”
Phải chăng tác giả luôn tự tạo niềm vui, vượt thoát lên trên nỗi đau đời thường. Chắc hẳn cứu cánh cả đời người phụ nữ ấy không đâu xa là hình ảnh thân thiết, gần gũi “ấp iu nồng đượm” của bóng dáng người mẹ, người bà và từ đó mở cuộc hành trình trở về hồi ức:
          “Quê ngoại
Vẫn còn đó màu trời dáng núi
…Góc sân nhà mình vẫn như xưa
Con xanh xao buồn, nhớ má”
                              (Ở một góc sân nhà)
Đó cũng là sự độc đáo, riêng biệt trong lối bày tỏ nơi chị. Từ trần thuật biến hóa sang độc thoại nội tâm: “Lẽ ra con lấy rổ hái trầu/ Lẽ ra con bắc thang…”
Đến bài thơ “Hỏi chuyện người nghìn năm”, tác giả viết khi đến thăm Khu Di tích Óc Eo (dấu tích Vương quốc Phù Nam cổ xưa), sự cật vấn một lần nữa được tác giả diễn đạt bằng lời tự hỏi:
          “Mùa thế gian
mùa của những kiếp người
ta nghe từ lòng đất Óc Eo người nghìn năm nhắn gửi
ngẫm phận mình đời có đến trăm năm?
Câu hỏi chất vấn hòa cùng giọng thơ, với khẩu khí hùng hồn, mạnh mẽ… Có lúc đầy chất trữ tình. Phảng phất nét u hoài, xa vắng.
“Chở phù sa lên đồng
đưa nước phèn ra biển
Ý tưởng vụt qua trở thành miên viễn
Để lại cho đời
Tiền nhân cổ xưa
Ta rồi cũng sẽ cổ xưa
                             (Nhớ người đào Kinh Vĩnh Tế)
Tác giả như mạnh dạn trong nhận thức và chấp nhận “con tạo xoay vần”. Thường trực là thái độ sống ân nghĩa, theo đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”: –  “Nghiêng mình trước người năm xưa nghĩ chuyện đào kênh…”(N.L.E)
Đặt chân đến địa danh nào, tác giả cũng đều lưu dấu một bài thơ: “Mai Châu nhớ Quang Dũng”, “Rừng Trà Sư”, “Lên Pha Long”, “Về Mường Khương”, “Trở lại Hiệp Xương”… Đến Cù lao Ông Hổ, Mỹ Hòa Hưng- xứ sở lưu dấu trong ca dao, tác giả gợi nhớ những tích xưa, điển cũ:
          “Vài trăm năm trước, cù lao hoang sơ
Cọp sống cùng người, hiền ngoan như vậy
Thú dữ nhớ ơn người, hàng năm giỗ quảy…”
                               (Nghĩ trước bia đá trấn đất Cù lao ông Hổ)
Bìa tập thơ Thấp thoáng cánh cỏ
Thành tâm, dân dã và chân phương nhưng gợi lên bao thông điệp, triết lý thời cuộc và nhân sinh. Nguyễn Lập Em định nghĩa về “thơ” – chỉ vỏn vẹn 4 câu, nhưng lắng đọng biết bao điều…
          “Sang trọng hay chân quê
Tình đời đều ứa lệ
Thơ vui hay là buồn
Vẫn âm thầm tỏa hương”
                    (Ngẫm nghĩ thơ)
Có lẽ nghề viết cũng tựa như “Người hát rong”, khi ta và thơ là đôi bạn. Cho nên muốn ẩn mình khép kín, suy tư miên viễn.
          “Số phận nào ai giống ai
…Nỗi bất hạnh lặng thầm không sao biết hết
Cuộc đời muôn nghìn điệu nhạc
Có cả nỗi buồn tôi đã hát ca
…Sự đểu giả đến vô cùng
Lòng lương thiện phải đâu hiếm có
…Đồng tiền lạnh tanh bán mua nhân phẩm con người?”
Sau cùng, đáp số của những bài toán nhân sinh hóc hiểm, những chông gai mà “người-hát-rong-thơ” đã nếm trải là gì? Phải chăng là lương tri con người cần được đánh thức? Bởi lẽ, người thiện bao giờ vẫn sẽ không muốn đánh đổi, lệ thuộc vào ai hay bất cứ điều gì? – “Nỗi mất mát cứ nghiêng về phía Thiện…”
Phải có sự nhạy cảm trước “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, phải có bề dày vốn sống và đời sống nội tâm phong phú, tác giả của “Thấp thoáng cánh cò” mới có được những vần thơ giản dị, mượt mà, làm rung động trái tim độc giả. Đó là sự xuất phát từ tấm lòng yêu thương chân chính và luôn đặt chữ “chân” lên hàng đầu, trong điểm đến: “Chân thiện mỹ”.
22/7/2025
Trần Quang Khanh
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

XXXXXTruyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt

Truyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt Phùng Cung sinh ra ở làng Kim Lân, xã Hồng Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Nhưng...