Theo dấu trường ca Hòn vọng phu
Kỳ 1: 75 năm lay động tiếng
trường ca
“Đời xưa đời xửa vua gì/ Có nàng đứng ngóng chồng về đầu
non/ Thế rồi trông mỏi trông mòn/ Thế rồi hóa đá ôm con đứng chờ…”.
Chuyện hòn vọng phu có ở rất nhiều nơi trên đất nước này và
trải suốt chiều dài lịch sử dân tộc đã được nhạc sĩ Lê Thương bất tử hóa bằng
trường ca để đời. Nhưng ít ai biết ba tuyệt tác Hòn vọng phu đã ra đời
như thế nào?
“Người vọng phu trong lúc gió mưa/ Bế con đã hoài công để đứng
chờ/ Người chồng đi đã bao năm chưa thấy về/ Đá mòn nhưng hồn chưa mòn giấc mơ…”
(trích Hòn vọng phu 2).
Nhạc sĩ Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh năm 1914 tại
Nam Định, từng tu theo Công giáo, học ngành sư phạm, đi dạy học và hoạt động âm
nhạc tại Hà Nội, Hải Phòng. Đầu thập niên 1940, ông vào Nam tham gia kháng Pháp
rồi về Sài Gòn định cư, tiếp tục dạy học và hoạt động âm nhạc cho đến khi mất
vào ngày 18-9-1996 tại nhà riêng (đường Bùi Viện, TP.HCM).Lê Thương được nhiều nhạc sĩ đại thụ tôn là bậc thầy, ngoài
trường ca Hòn vọng phu, ông để lại cho đời hàng loạt tác phẩm và công
trình nghiên cứu âm nhạc có giá trị.
“Bao nhiêu năm bồng con đứng đợi chồng về/ Bao nhiêu phen thời
gian xóa phai lời thề/ Người tung hoành bên núi xa xăm/ Người mong chồng còn đứng
muôn năm…”. Tuyệt tác Hòn vọng phu của nền âm nhạc nước nhà sau
gần một thế kỷ kể từ ngày đầu phổ biến đến nay vẫn còn vọng mãi lòng người.
Nỗi niềm từ đá vọng phu và Chinh phụ ngâm
Thủa còn học sinh, cậu bé Ngô Đình Hộ – tên thật nhạc sĩ Lê
Thương – từng ghé đồn điền gia đình người bạn học ở đất Đồng Đăng thuộc phủ Lạng
Thương (nay là Lạng Sơn). Những cuộc viếng thăm đã hằn sâu trong lòng cậu bé
hình ảnh nàng Tô Thị ôm con chờ chồng đến hóa đá với bao tình cảm, nỗi niềm mòn
mỏi hun hút.
Về sau, huyền tích ấy quyện hòa với hình tượng người vợ ôm
con chờ chồng đến hóa thành tượng đá trong chuyện kể dân gian trải dài khắp đất
nước càng thấm đậm lòng Lê Thương. Trường ca Hòn vọng phu thành hình
từ ấy…
Người nhạc sĩ từng chia sẻ về nguyên cớ ra đời Hòn vọng
phu 1 rằng: “Không phải đơn thuần chỉ có tượng đá Tô Thị vợ Đậu Thao, chồng
đi chinh chiến phương Bắc lâu ngày, nàng ôm con ngóng chờ mỏi mòn rồi hóa đá”.
Tác giả cũng cho biết ngoài câu chuyện nàng Tô Thị ở Đồng
Đăng xứ Lạng, còn có thêm câu chuyện hai anh em ruột bị cảnh biệt li vì giặc
giã, khi lớn họ gặp lại không nhận ra nên lấy nhau. Người chồng bỏ đi biệt tích
sau khi biết vợ chính là em gái qua vết sẹo do mình gây ra từ nhỏ, rồi người vợ
bồng con lên núi chờ chồng đến hóa thành tượng đá…
Lê Thương tiếp tục cho biết: “Phải nói cho đúng, những cảm hứng
đã thôi thúc tôi sáng tác Hòn vọng phu còn mấy yếu tố quan trọng nữa,
đó là chuyến tôi vào Nam năm 1934, khi qua đèo Cù Mông đến ranh giới hai tỉnh
Phú Yên, Khánh Hòa tôi thấy đá vọng phu trên núi Đá Bia phía đông đèo Cả. Và
khi xuống chơi Hà Tiên thấy hòn vọng phu trong vịnh Thái Lan.
Đồng thời, một xúc tác sâu trong tâm hồn tôi là ảnh hưởng những
câu thơ trong Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), đã in sâu vào tiềm thức khi còn
ngồi ghế nhà trường: “Chàng trẻ tuổi vốn dòng hào kiệt/ Xếp bút nghiên theo việc
đao cung”. Tất cả ấn tượng đó nằm sâu trong tâm thức đã từ lâu thôi thúc tôi
thai nghén tạo nên ba tác phẩm trường ca nhạc cảnh Hòn vọng phu“.
Sinh thời, nhạc sĩ Lê Thương chia sẻ: “Việc sáng tác ba bản Hòn
vọng phu xuất phát từ những bước luân lạc kéo dài tại xứ dừa Bến Tre. Những
rung cảm êm đềm lẫn ghê rợn, tuyệt vọng, đã giúp cho chàng nhạc sĩ giang hồ gốc
Thăng Long là tôi chắp nối dần các tình tiết thành một truyện ca”. Cả ba bản nhạc
được viết ở âm giai rê thứ.
Bài Hòn vọng phu 1 là cảnh chia li trở thành vĩnh
biệt của đôi vợ chồng trẻ: người chồng lên đường ra trận, vợ ở nhà mòn mỏi ôm
con chờ chồng đến hóa đá. Bằng cảm xúc và trí tưởng tượng, ông đã quyện hòa hữu
cơ giữa truyện thơ Chinh phụ ngâm với những địa danh gắn liền các điển tích ly
biệt.
Hòn vọng phu 2 (Ai xuôi vạn lý) viết về niềm son sắt của
người vợ trong đời đá vững chãi đợi chờ suốt nghìn năm, dù cho núi lở sông mòn,
dù nhận được tin người chồng đã khuất. Ở bài Hòn vọng phu 3, người chinh
phu về cố hương tìm vợ con, chỉ biết đớn đau trước “vết bước đi trên phiến đá
mòn còn in dấu”…
Tác giả Phan Hoàng trong sách Phỏng vấn người Sài Gòn (NXB
Trẻ 1998) đã viết: “Lê Thương góp phần khẳng định bước tiến mới của một nền âm
nhạc vốn đã định hình từ hàng ngàn năm ở phương Đông. Bước chân lưu lạc của người
nghệ sĩ ngay chính trên đất mẹ thân yêu thời tao loạn đã đem lại cho Lê Thương
những xúc cảm bi tráng mà đỉnh cao là ba bản Hòn vọng phu.
Trong tác phẩm này, nhạc sĩ đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền
thống và hiện đại, dệt nên “truyện ca” bất tử, chinh phục con tim người yêu âm
nhạc ngay khi mới xuất hiện”.
Phổ biến từ năm 1945
Cho đến nay nhiều tác giả đưa ra khá nhiều mốc thời gian ra đời Hòn
vọng phu. Tại Hà Nội, chúng tôi tìm gặp nhà phê bình âm nhạc Nguyễn Thụy Kha,
người từng gặp Lê Thương nhiều lần, khi thì một mình, khi thì với Văn Cao và những
nhạc sĩ danh tiếng khác, mà lần cuối vào khoảng năm 1985. Ông được Lê Thương
chia sẻ nhiều về chuyện sáng tác, chuyện các nhạc sĩ tân nhạc, tài liệu học thuật
lẫn lịch sử âm nhạc.
Ông Thụy Kha kể: “Khi rời Hải Phòng vào miền Nam, Lê Thương
thấy trên con đường dài đằng đẵng xuyên đất nước mình, những hòn vọng phu cứ đứng
bên đường, cứ hết tỉnh này đến tỉnh khác; ông ấy cám cảnh đất nước mình đang
chiến tranh… Vùng đất đầu tiên ông ấy dừng là Đồng Nai Thượng, sau đó thì dừng
chân ở cù lao An Hóa, tỉnh Bến Tre, rồi viết Hòn vọng phu 1. Ấy vào khoảng
năm 1941…”.
Theo ông Thụy Kha, Lê Thương theo kháng chiến, đến năm 1947
khi đang ở vùng Chẹt Sậy, tỉnh Bến Tre thì viết tiếp Hòn vọng phu 2 (Ai
xuôi vạn lý). Khi về Sài Gòn, Lê Thương cùng với Phạm Duy và Trần Văn Trạch bị
bắt giam tại bót Catinat trong bốn tháng. Sau khi được thả, ông sáng tác Hòn
vọng phu 3 (Người chinh phu về) vào năm 1951. Nếu đúng theo điều chia sẻ của
nhạc sĩ Lê Thương với ông Nguyễn Thụy Kha, trường ca hoạt cảnh Hòn vọng
phu sáng tác trong 10 năm (1941 – 1951).
Còn nhà nghiên cứu Đặng Tiến cho rằng: “Dường như phần I và
phần II Ai xuôi vạn lý được sáng tác đồng thời (1946), còn phần III làm sau”.
Tác giả Huỳnh Duy Lộc thì cụ thể hơn: “Hòn vọng phu 1 viết năm 1945, Ai
xuôi vạn lý viết năm 1946, Người chinh phu về viết năm 1947″.
Khi trả lời phỏng vấn tác giả Phan Hoàng, Lê Thương không nói
rõ năm sáng tác Hòn vọng phu 1, chỉ cho biết viết hai bài sau lần lượt năm
1946 và 1947. Ông nói: “…Từ năm 1945 đến đầu 1948, ba bản Hòn vọng
phu lần lượt được xuất bản tại Sài Gòn… Sau khi hoàn thành Hòn vọng
phu 1, tức Người ra đi, tôi đã gửi cho cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước một bản
trước ngày Nam Bộ kháng chiến 23-9-1945″.
Tương tự, trả lời phỏng vấn Lê Phương Chi, nhạc sĩ Lê Thương
cho biết năm 1946 và 1947 ông sáng tác lần lượt Ai xuôi vạn lý và Người chinh
phu về. Trước đó, “Sau khi hoàn tất nhạc phẩm Hòn vọng phu 1, tôi nhờ
nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đưa ra miền Bắc phổ biến hồi năm 1945″…
Kỳ 2: Tìm nàng Tô Thị xứ Lạng“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa/ Có nàng Tô Thị có chùa Tam
Thanh”. Câu ca dao thuở vừa học chữ như hòa lẫn với tiết điệu Ai xuôi vạn lý
“người vọng phu trong lúc gió mưa, bế con đã hoài công để đứng chờ” văng vẳng
bên tai.
Đây cũng là cảm hứng tiên khởi để Lê Thương sáng tác bản trường
ca đi vào lòng người…
Cảm phục nghĩa tình, hổ cũng hóa đá
Từ Hà Nội, nay chỉ ngồi hai giờ xe khách theo đường cao tốc
đã dễ dàng đến TP Lạng Sơn. Thuê chiếc xe máy ở trung tâm thành phố, chỉ khoảng
hơn mười phút sau, chúng tôi đã đứng ngay ngã ba phố Tô Thị và phố Tam Thanh để
được nhìn thấy hình tượng mẹ bồng con đã có từ ngàn năm thấm đẫm hồn ca từ Hòn
vọng phu của nhạc sĩ Lê Thương.
Tiết thu trời đẹp, dáng người ôm con hiện ra bên vách núi dựng
đứng, yên bình trên những ngôi nhà mái đỏ. “Hồi xưa khu dân cư bên dưới vắng
tênh, không phải nhiều như bây giờ đâu. Lúc nhỏ, bọn mình chiều chiều vẫn lên
đá bóng trong khu thành nhà Mạc ở trên núi phía sau lưng bà Tô Thị” – ông Nông
Đức Kiên, giám đốc Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn, kể.
Truyền thuyết về nàng Tô Thị đều nằm lòng với những người con
dân Lạng Sơn như ông Kiên. Có hai vợ chồng nhà họ Tô, sinh được hai con một
trai một gái. Lúc cha mẹ vắng nhà, anh nhặt đá ném chim, chẳng may trúng phải đầu
em, máu ra lênh láng. Anh sợ quá trốn sang Trung Quốc. Năm 30 tuổi, chàng lần
mò về quê và sinh cơ lập nghiệp tại Lạng Sơn, sau đó lấy vợ là con một nhà buôn
và sinh được một đứa con. Một hôm, chàng chải tóc cho vợ, thấy có vết sẹo trên
đầu, hỏi chuyện thì mới biết vợ chính là em gái mình.
Biết rõ sự thật, người chồng rất đau buồn, nhưng vẫn không
cho vợ biết. Nhân khi nhà vua bắt lính, người chồng ra ứng mộ. Trước khi đi,
người chồng dặn vợ nếu sau ba năm mà không thấy về thì người vợ cứ việc đi lấy
chồng khác. Nói rồi, chàng đi biệt!
Người vợ ở nhà chờ ba năm, không thấy chồng về. Hằng ngày,
nàng bồng con lên núi, mắt hướng về phía chồng ra đi. Một hôm bỗng có một cơn
bão lớn, nàng vẫn bồng con đứng mãi không về. Lúc mọi người lên núi thì thấy
hai mẹ con đã hóa đá. Người ta cảm động gọi tượng đá ấy là nàng Tô Thị vọng
phu. Và những ngày Lê Thương lên chơi miền biên ải, hồn chàng nhạc sĩ đã rung động
với câu chuyện đầy xót xa này.
Kể đến đây, tưởng chuyện đã hết, nhưng giọng ông Kiên lại tiếp
tục sôi nổi: “Trong sách Di sản văn hóa Lạng Sơn ghi lại như vậy. Nhưng dân Lạng
Sơn còn kể thêm mấy chuyện khác nữa mà người xứ xa ít biết. Đó là, phía sau tượng
bà Tô Thị, chếch về phía đỉnh núi còn có phiến đá mang hình con hổ”.
Con hổ trong câu chuyện của người dân xứ Lạng đan xen vào
truyền thuyết nàng Tô rằng: khi con hổ thấy một người mẹ bồng con ra đứng nơi
núi rừng vắng định vồ ăn thịt. “Nhưng chính tấm lòng chờ chồng son sắt của nàng
Tô Thị đã cảm hóa cả con vật ăn thịt hung dữ. Thành ra nó lại phủ phục tại đó để
bảo vệ hai mẹ con, sau đó khi bà Tô Thị hóa đá thì hổ cũng hóa đá theo” – ông
Kiên kể.
Hiện nay, phiến đá mang hình con hổ nằm phục phía sau tượng
đá Tô Thị vẫn còn, nhưng đã được cỏ cây che chắn nên khuất một phần dáng hình.
Tuy nhiên trong những bức hình được chụp từ lâu, chúng tôi dễ dàng nhìn thấy
hình tượng rõ ràng của một con hổ như dõi theo cùng hướng của tượng đá Tô Thị.
Đó là hướng về phía Bắc. Ông Kiên giải thích thêm: “Truyền thuyết không biết xuất
phát từ bao giờ, nhưng rõ ràng là nói về câu chuyện người vợ chờ chồng đi chinh
chiến canh giữ biên cương lãnh thổ. Nên bà Tô Thị mới quay về hướng biên giới
phía Bắc”.
Thấm sâu đời sống tâm linh xứ Lạng
Kề bên núi Tô Thị là hệ thống núi Nhị – Tam Thanh, nơi có
chùa Tam Thanh đi cùng câu ca dao của người dân xứ Lạng. Trong đợt xếp hạng
chính thức đợt I về những di tích, danh thắng toàn miền Bắc vào năm 1962, Bộ
Văn hóa thông tin lúc bấy giờ đã đưa khu vực núi Tam Thanh và núi nàng Tô Thị
là một trong 62 danh mục cần bảo vệ.
Lần giở hồ sơ di tích gần 60 năm trước đang được lưu giữ tại
Bảo tàng Lạng Sơn, chúng tôi mới biết tượng đá vọng phu nằm trên núi Tô Thị gắn
liền cùng di tích thành nhà Mạc với hệ thống tường thành quân sự được xây dựng
vào thế kỷ 16. Nay những tường thành đã được trùng tu, bao gồm hệ thống bậc
thang làm mới, giúp việc đi lên tận tượng đá vọng phu đã không còn khó khăn như
thuở trước.
Cái thuở mà chàng Lê Thương chắc phải vạch từng cỏ cây, dò dẫm
từng phiến đá để tìm hồn nhạc Hòn vọng phu: “Người đi ngoài vạn lý quan
san/ Người đứng chờ trong bóng cô đơn/ Bên Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng/
Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nuối ngàn trùng…”.
Buổi chiều, gửi xe nơi quán nước trước cổng miếu Thần Nông nằm
ngay vách núi bên trên có tượng đá nàng Tô Thị, chúng tôi lên bậc cấp xuyên qua
cổng thành nhà Mạc phía tây bắc. Ngoài tấm bảng “Núi Tô Thị” khuất sau lùm cây
bên sườn núi bằng ximăng đã phai cũ, một tấm bảng “Điểm du lịch địa phương: Núi
Tô Thị – Thành nhà Mạc” giới thiệu ngắn gọn về khu vực này.
Sau bức tường thành dày khoảng 1m tuổi đời gần năm thế kỷ là
vườn đào rộng xanh mướt đã lấm tấm điểm hoa. Ngay giữa khu di tích cổ thành,
vài thanh niên địa phương đang đá bóng trên khoảng đất rộng, bằng phẳng từng là
nơi đóng quân của nhà Mạc suốt mấy mươi năm. Men theo một đoạn đường mòn bên sườn
núi khoảng trăm mét, leo qua vài tảng đá, chúng tôi đến được tượng đá vọng phu.
Nhìn theo hướng tượng vọng phu, toàn bộ cánh đồng làng Khòn
Lèng hiện ra trước mắt với những thửa ruộng mạ non, ngô, cam nối tiếp trải dài
đến dãy núi trùng điệp xa xa. Vài đồng rạ chuẩn bị vụ mới, hương thơm khói đốt
đồng thoang thoảng giữa tiết trời se lạnh. Mọi năm vào 16 tháng giêng, lễ hội Lồng
Tồng làng Khòn Lèng đều được tổ chức lớn, thu hút rất đông du khách. Đây là lễ
hội đặc trưng của người Tày, một trong những cộng đồng sinh sống lâu đời tại
làng Khòn Lèng, còn gọi là hội xuống đồng.
Điều đặc biệt, ngoài các nghi thức chính là cúng cầu vụ mùa,
xuống đồng cày ruộng, một phần quan trọng khác chính là lễ rước nàng Tô Thị từ
sườn núi. Vị giám đốc bảo tàng nhận định: “Hình tượng bà Tô Thị thấm sâu vào
văn hóa như thế. Ngay cả miếu thờ Thần Nông của làng Khòn Lèng ở chân núi, dưới
chân nàng Tô, ban đầu chỉ là miếu nhỏ thờ Thần Nông, sau này người ta trùng tu
cũng để một góc dành cho việc thờ bà ấy”.
Khói sương biên ải lãng đãng bóng chiều tà, bất chợt lữ khách
đi cùng chúng tôi ngân nga câu hát: “Người không rời khỏi kiếp gian nan/ Người
biến thành tượng đá ôm con…”. Dù nhiều người chưa một lần được diện kiến tượng
nàng Tô Thị chờ chồng đến hóa đá, nhưng lòng họ đã tràn đầy xúc cảm với Hòn
vọng phu của nhạc sĩ Lê Thương rồi.
Thời gian đã thắm biết bao suy tàn
Người xưa đâu còn, hình đá bơ vơ đứng đợi chồng đi đã không hứa
về
Lòng son lụn chí trước cơn hư thề
Đà xui tan tành đời đá, nên mưa gió đổ quạnh hiu xuống ai mới
về…
(trích Hòn vọng phu 3, NXB Tinh Hoa -1954)
Chuyến đi chơi nhà người bạn học hồi nhỏ ở Đồng Đăng thuộc phủ
Lạng Thương đã gây ấn tượng sâu đậm đến tâm hồn nhạc sĩ tài hoa Lê Thương.
Ngoài việc được chiêm ngưỡng tượng đá nàng Tô Thị khiến ông thấm đẫm cảm xúc để
về sau viết nên tuyệt tác Hòn vọng phu, tên Lê Thương cũng được ông ghép từ họ
của người mẹ với con sông Thương mà ông từng lênh đênh thả hồn trong chuyến đi
này.
Kỳ 3: Sự thật hòn vọng phu bị tan vỡ
“Lòng son lụn chí trước
cơn hư thề/ Đà xuôi tan tành đời đá/ Nên mưa gió đổ quạnh hiu xuống ai mới về“,
lời ca khúc Người chinh phu về được Lê Thương viết dường như ứng nghiệm
khi tượng nàng tan vỡ. Phần đầu của nàng Tô Thị, vốn dĩ từng là một viên đá được
người dân đặt lên sau khi bị sét đánh, nay lại trở thành thứ còn sót lại nguyên
vẹn nhất khi tượng sụp xuống và được người dân đem về thờ.
Tượng đá huyền tích nàng Tô Thị bị đổ sụp năm 1991. Rất nhanh
sau đó, câu ca gắn liền với xứ Lạng được tếu táo: ‘Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa/Có
nàng Tô Thị nó vừa nung vôi’.
Chuyện tượng đá hòn vọng phu bị sụp do có người cạy lấy để
nung vôi theo đó lan rộng, phủ lên huyền tích nàng Tô Thị chờ chồng.
Đến nay, mỗi khi nhắc đến tượng đá này, người ta vẫn nhắc về
hình ảnh khói lửa nung vôi như một câu chuyện buồn phía sau tuyệt tác để đời
Hòn Vọng Phu của Lê Thương.
Nàng Tô nào phải bị nung vôi
Ngay cả Lê Thương, khi nghe tin tượng nàng Tô Thị bị người ta
phá đổ để lấy đá nung vôi, dù ông vốn trầm, ít thể hiện cảm xúc cũng phải thốt
lên: “Được bao nhiêu lợi mà người ta làm như thế”.
Nhưng điều chúng tôi ghi nhận từ những người gắn bó quanh núi
Tô Thị xưa đến nay lại khác hẳn. Dân trong phố Tô Thị, phường Tam Thanh, TP Lạng
Sơn đến nay vẫn còn nhớ rõ ngày tượng đá hòn vọng phu bị sụp đổ: ngày
27-7-1991.
Thời gian đó, phố Tô Thị đã hình thành với đa số người dân là
công nhân cơ khí về tập trung sinh sống.
“Lúc tượng sụp, cả xóm đều biết. Vì một tiếng ầm như trái
pháo nổ. Nơi tượng rơi xuống bụi bay tung tóe, chúng tôi đều chạy ra xem cả” –
cụ Đoàn Văn Ân, nhà ở ngay đối diện nơi tượng đá rơi xuống, trầm giọng kể.
Khẳng định lời cụ Ân, ông Lăng Quốc An – trưởng tổ dân phố 8,
khối 7, phường Tam Thanh, nhà ở cách nơi tượng sụp khoảng 400m – nói chắc chắn:
“Chuyện lâu rồi, nhưng nó đổ cái ầm như thế ai chẳng nghe. Lúc đó tôi đang ở
nhà cũng nghe, rồi chạy lên xem mấy mảnh vỡ”.
Theo những người chứng kiến, sự cố sập tượng xảy ra vào khoảng
17h30. Đầu giờ chiều hôm đó, trời đổ một trận mưa như trút nước.
Thời khắc tượng đá đổ, mưa chỉ còn lất phất, nhưng gió nổi rất
mạnh. Tượng sụp xuống chân núi tan ra nhiều mảnh, trong đó có hai mảnh lớn nhất
sau này được người ta đem lên làm phần cốt yếu để phục chế bức tượng.
“Bên ngành văn hóa họ phục chế vào cuối năm đó. Ngoài hai phần
đá lớn thì các mảnh nhỏ cứ thế trát vào” – ông An kể thêm.
Tin về nàng Tô Thị – hình tượng người phụ nữ ngàn năm son sắt
ôm con chờ chồng đến hóa đá vùng biên viễn phía Bắc của Tổ quốc, mạch nguồn cảm
hứng cho trường ca Hòn Vọng Phu của Lê Thương đã bị rơi vỡ tan nát như “cơn địa
chấn” lan rộng trong dư luận toàn quốc.
Bấy giờ, xóm chân núi Tô Thị cũng là một “vựa” nguyên liệu đá
vôi để làm ximăng, như rất nhiều vùng có núi đá vôi khác của cả nước. Và rất
nhanh chóng, người ta nghĩ ngay đến việc có người phá tượng nàng Tô Thị để… đem
đi nung vôi.
Tuy nhiên, tất thảy người dân khu vực này đều cho rằng việc cạy
tượng Tô Thị đem nung vôi là điều bịa đặt. Ông An khẳng định luôn một tràng:
“Không có ai phá cả, trời mưa núi lở là chuyện bình thường ấy mà.
Thời đó khó khăn, gần như nhà nào cũng tranh thủ gom thêm đá
vôi, đập bể ra vừa phải rồi đem bán cho mấy chỗ thu gom. Mà đá vùng này lúc đó
rơi vãi đầy cả ra.
Sau này người ta xây nhà mới dọn sạch sẽ đi chứ lúc ấy cho lượm
không cũng không hết. Cái chỗ nàng Tô Thị bình thường lên đã vất vả, ai hơi đâu
mà đi trèo ra chỗ cheo leo ấy phá. Mà phá thì cũng đâu lợi gì”.
“Tôi đã nêu những bằng chứng khoa học cho thấy tượng đá Tô Thị
bị sụp là hiện tượng tự nhiên từ mười mấy năm trước, nhưng hình như cũng không
mấy ai để ý. Có thể câu chuyện tượng đá hòn vọng phu bị cạy lấy đá nung vôi kịch
tính hơn nên dễ lan rộng” – ông Trương Hoàng Phương khẳng định. Tượng nàng Tô
Thị trên núi hiện nay là bản phục chế.
Đổ sụp do vôi hóa tự nhiên
Không chứng kiến thời khắc tượng đá bị sụp, nhưng thạc sĩ
Trương Hoàng Phương, nguyên giảng viên khoa địa lý Trường ĐH Sư phạm TP.HCM,
cũng khẳng định tượng đá bị sụp không phải do tác động của con người mà hoàn
toàn là diễn biến của tự nhiên. “Tôi nhận định hoàn toàn dựa vào khoa học” – vị
thạc sĩ chuyên ngành địa mạo học nói chắc chắn.
Thực ra trong khoảng thập niên 1950, phần đầu nàng Tô Thị từng
bị sét đánh bể và người ta lấy một cục đá vôi khác gắn lên sau đó. Điều may mắn
của ông Phương là cơ duyên với tượng đá đặc biệt này từ năm 1987, ông đã được
đưa đến Lạng Sơn thực tập cao học.
Với ông, nguyên mẫu tượng đá mẹ bồng con đến nay vẫn là tuyệt
phẩm đá tự nhiên đẹp nhất mà đời ông từng thấy được. Cặp mắt lãng mạn của chàng
nhạc sĩ tài hoa Lê Thương ngày nào chắc cũng đồng cảm…
Bức tượng nàng Tô Thị do thiên nhiên tạo tác ấy càng đẹp hơn
khi nằm trong bối cảnh giữa vùng đá vôi thẳng đứng nhấp nhô trên khoảng đất bằng.
Ông vẫn nhớ như in thời điểm đầu năm 1991, mình vẫn còn đi
theo con đường nhỏ ven những vườn rau, từ xa đã có thể thấy tượng đá để xác định
phương hướng tìm đến chứ không bị phố xá lô nhô choán mất tầm nhìn như ngày
nay.
Bấy giờ, đường lên đến chỗ tượng đá vẫn còn khá vất vả vì phải
lần trèo từ phía chân núi đi lên, và cũng ít người đi nên không có đường mòn dễ
dàng như bây giờ. Mỗi lần leo đến được với nàng Tô Thị, ông Phương ngồi hàng giờ
liền, ngắm từng lớp đá chồng lên nhau theo các đường chéo góc 45 độ.
Ở góc nhìn chuyên môn về địa chất địa mạo, tuyệt tác trời cho
còn sót lại được kiến tạo một cách ngẫu nhiên trong quá trình phong hóa bị nước
chảy xói mòn (karst) tạo thành. Nước đã lợi dụng những khe nứt giữa các lớp mà
tạc thành những lớp đá dày mỏng khác nhau.
Và tượng đá Tô Thị gồm các lớp đá chồng lên nhau thành lớp đầu,
lớp vai, lớp hông và lớp chân cùng gắn với khối đá núi lớn hơn tạo thành phần
“đế” bên dưới.
Thân đá trơn láng do được nước bào mòn qua hàng ngàn năm.
Toàn bộ chiều cao khoảng 4m, nhô hẳn ra so với vách đá trông rất cheo leo và đặc
biệt.
Nhưng cũng chính vì vị trí đặc biệt như vậy mà tượng nàng Tô
Thị trong Hòn Vọng Phu của Lê Thương đã bị ngã vỡ theo thời gian. Mùa hè năm
1991, ông Phương lại có dịp ngang qua đây và ngỡ mình đã lầm đường khi định lên
thăm nàng Tô Thị.
Tượng đá không còn làm dấu chỉ cho người từ xa đến nữa. Khuôn
mặt người thầy dạy địa lý vẫn còn đầy tiếc nuối như chuyện vừa mới xảy ra hôm
qua: “Tượng đã bị sụp vài ngày trước đó. Một em nhỏ dẫn tôi đến chỉ vào một đống
đá bể nằm vương vãi ngay chỗ miếu thần nông bây giờ và nói hòn vọng phu đã sụp
đổ.
Sau đó, em còn dẫn tôi đi vào động Tam Thanh, lúc bấy giờ còn
rất hoang vắng và lạnh lẽo, chỉ vào một khối đá nhỏ cỡ đầu người đặt trên chiếc
dĩa, bên cạnh có thắp vài ba nén nhang. Đó chính là phần đầu tượng nàng Tô Thị
đã được người dân đưa vào động để thờ cúng”.
Và ngay khi leo trở lại vị trí nơi tượng đá vừa đổ sụp khỏi
vách núi, ông Phương đã thấy ngay bằng chứng về việc sụp đổ tự nhiên.
“Chính tượng đá cũ được tạo nên bởi từng lớp mỏng do nước ăn
mòn, chỉ dính vào vách đá ở phần hông rất mỏng nên bị nước tiếp tục ăn mòn phần
kết dính mỏng manh này là điều tất yếu. Quá trình hòa tan nước với đá vôi theo
thời gian sẽ tạo ra một lớp đất đỏ mỏng.
Khi quan sát chỗ tượng đá Tô Thị, tôi phát hiện lớp đất đỏ
này trên vết trượt còn lại nên khẳng định ngay là hiện tượng tự nhiên chứ không
phải bị cạy gỡ” – ông Phương kể.
Kỳ 4: "Thấy tượng đá vọng phu trên núi Đá Bia"
"Chiều chiều mây phủ Đá Bia/ Đá Bia mây phủ chị
kia mất chồng". Nhạc sĩ Lê Thương từng chia sẻ lúc sinh thời: núi Đá Bia
cũng là đá vọng phu.
Ngọn núi ẩn chứa biết bao huyền tích, dấu ấn văn hóa lịch sử
đất nước đã trở thành một phần xúc cảm cho bản trường ca trứ danh.
Có người bảo Lê Thương nhầm lẫn. Nhưng ấn tượng và cảm xúc của
vị nhạc sĩ tài hoa có lý lẽ riêng của nó...
Đỉnh thiêng độc đáo
Đến chân núi Đá Bia giữa buổi trưa giao mùa, chúng tôi hỏi
người dẫn đường lên núi trong một quán cơm gà ở thôn Hảo Sơn (Hòa Xuân Nam,
Đông Hòa, Phú Yên), một cậu thanh niên bưng cơm nói ngay:
"Em sẽ dẫn anh đi, lâu rồi em cũng muốn thăm đỉnh núi
thiêng". Đó là Hùng - sinh viên khoa thủy sản Trường ĐH Nha Trang, về quê
phụ việc gia đình khi trường tạm nghỉ chống dịch.
Theo quốc lộ 1 hướng lên đèo Cả, chúng tôi gửi xe ở quán nước
cạnh tảng đá "Di tích thắng cảnh quốc gia Núi Đá Bia - Đèo Cả", băng
qua cây cầu bêtông nhỏ tiến vào hệ thống tam cấp dẫn lên đỉnh núi.
Một cụ bà sống trong căn nhà tạm bợ ngay chân bậc cấp bảo:
"Mấy chú lượng sức mà đi, dốc cao, khó tới nơi. Mấy nay mưa nhiều, nhiều
chỗ trơn trượt dễ vấp ngã lắm, hay mấy chú chờ ít hôm nắng ráo rồi đi".
Con đường lên núi gồm hàng ngàn bậc tam cấp làm bằng đá chẻ,
nhiều đoạn quanh co theo chân những tảng đá rất lớn, có đoạn là những chiếc
"thang" bêtông vượt lên khối đá cao mấy tầng lầu. Đường khá dốc mỏi
bước chân đi, nhưng cảnh sắc luôn thay đổi khi xuyên qua nhiều thảm rừng khác
nhau.
Đoạn thì dày đặc cây bụi, dây leo, nhiều nơi bạt ngàn chuối rừng
hay tre trúc. Cây thân gỗ cao không nhiều, chỉ mọc thành từng cụm xen kẽ với những
đám thân cột họ cau dừa. Nhiều điểm dừng chân là những cái hang tạo bởi những
khối đá lớn, chằng chịt dây leo như trong cổ tích.
Hùng cho hay tuyến đường dài hơn 2 cây số này được làm trên
con đường mòn cũ do người dân đi lại, khai thác rừng từ xa xưa. Thú rừng ở đây
không nhiều, thỉnh thoảng người dân bắt gặp heo, mang, chồn, cầy, trăn, rắn,
các loài gà và nhiều loài chim.
Thỉnh thoảng cũng có đoàn khách mang vác đồ chuyên dụng đến
chân núi thuê người dân dẫn vào rừng rồi cắm trại canh ngắm những loài chim
quý...
Sản vật được xem quý giá nhất của cánh rừng mang lại cho dân
địa phương chính là nguồn dược liệu.
Rất có thể khối núi cao toàn đá nằm sát biển luôn có sương
giăng và thường có gió "cực đoan" đảo chiều nóng lạnh này trở thành
nơi sinh trưởng của nhiều cây thuốc quý.
Đặc biệt quý trong số đó là loài cam thảo Đá Bia, đến thời điểm
này là nơi duy nhất tìm thấy (đặc hữu) tại Việt Nam. Hùng nói trước đây cam thảo
Đá Bia rất nhiều, được dân trong vùng xem như "thần dược" chữa bệnh
nhức đầu lâu năm.
Các loại vết thương, sưng tấy, ghẻ lở thì dùng nước nấu, rửa
qua vài lần là khỏi ngay. Hoa cam thảo cũng là món khoái khẩu của dân Hảo Sơn.
Vì sự "đa năng" ấy mà cây bị khai thác triệt để, ngày nay rất hiếm
khi tìm thấy.
Người ta tin rằng vị thuốc quý này giúp nhanh hạ đường huyết
và trị bệnh tiểu đường. Loài cam thảo này được đưa vào Sách đỏ Việt Nam 2007
trong tình trạng EN (nguy cấp), ngày nay chỉ còn tìm thấy vài cây nằm rải rác
ven các khe đá nhỏ ở độ cao khoảng 500m trên núi.
Được biết, loài cây đang được nghiên cứu, ươm trồng và nhân
giống nhằm mục đích thành mũi nhọn kinh tế cho dân địa phương.
Vọng phu trong lòng nhạc sĩ
Sau hơn 2 giờ mới đến tận nơi, sự đồ sộ của khối đá ngay giữa
đỉnh núi nhô thẳng lên cao, đặc biệt ngoài sức tưởng tượng. Những mệt mỏi chợt
tan biến bởi làn gió mạnh đến từ biển cả phả hơi sương buốt lạnh.
Được đặt tay và tựa lưng vào khối đá thiêng, lòng dâng trào cảm
xúc trước bao câu chuyện văn hóa lịch sử.
Đặc biệt, vua Lê Thánh Tông trong chuyến mở cõi đất phương
Nam đã dừng lại nơi đây, tương truyền đã cho khắc chữ lớn lên khối đá ở độ cao
706m này ghi dấu mốc giới bờ cõi, thành Thạch Bi Sơn, tục gọi Đá Bia. Đến thời
Minh Mạng, ngọn núi nằm trong dãy Đại Lãnh được vua cho khắc vào Cửu Đỉnh biểu
tượng vương quyền.
Về sau, ngọn núi thiêng từng được các nhà hàng hải phương Tây
xem là "ngón tay của Chúa"... Sự độc đáo của ngọn núi, của khối đá và
cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái rất đáng để cất công chinh phục, trải
nghiệm.
Nhạc sĩ Lê Thương từng chia sẻ lúc sinh thời: chuyến vào Nam
năm 1934, khi đến ranh giới Phú Yên - Khánh Hòa "thấy tượng đá vọng phu
trên núi Đá Bia". Ngọn núi trở thành một trong những cảm hứng để sáng tác
trường ca trứ danh. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu địa phương tin rằng nhạc sĩ Lê
Thương đã nhầm.
Khi thực hiện công trình văn hóa dân gian vùng Vũng Rô - Đèo
Cả - Đá Bia, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Chúc cho biết: Đá Bia chưa từng được
người địa phương xem là đá vọng phu. Ông Nguyễn Đình Chúc phỏng đoán rằng Lê
Thương đã nhìn khối đá mang hình vọng phu từng được một số tác giả ghi nhận nằm
trên đèo Cả chăng?
Tương tự, nhà nghiên cứu Nguyễn Hoài Sơn, phó giám đốc Sở
Thông tin và truyền thông Phú Yên, tác giả sách Đá Bia huyền ảo: Hình tượng Đá
Bia trong văn học nghệ thuật, cũng cho hay: "Đá Bia không phải là đá vọng
phu".
Soát trong trí nhớ, ông Sơn bỗng giật mình: "Phú Yên
cũng có núi vọng phu đấy, nhưng cách Đá Bia khá xa". Núi này còn có tên Mẹ
Bồng Con trong mạch Trường Sơn, gồm hai đỉnh cạnh nhau, cao 1.762m và 2.021m,
chỗ giáp ranh ba tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa và Đắk Lắk.
Theo công trình "Các truyền thuyết, huyền thoại liên
quan đến di tích lịch sử và danh thắng Phú Yên" của Đào Minh Diệp và Đoàn
Việt Hùng, truyền thuyết liên quan đến núi Vọng Phu - Mẹ Bồng Con có khá nhiều
dị bản. Trong đó có chuyện người chồng "ngậm ngải tìm trầm" trong rừng
sâu, người vợ ôm con chờ chồng cho đến chết và hóa thành đá...
Trở lại đỉnh thiêng Đá Bia, còn có câu chuyện khối đá không
"cô đơn" như những huyền tích vọng phu. Một tên gọi khác về khối đá
cao 70m trên đỉnh núi 706m này là hòn Ông.
Bốn đỉnh thấp hơn gần đó là Bà Ứng, Bà Chớp, Bà Hiền và Bà Từ.
Đá Bia có lẽ chưa từng là đá vọng phu, song cảm xúc dâng trào thành nên nhạc phẩm
như "một sự đã rồi".
Bởi vì, trong mắt, trong trái tim của người nhạc sĩ đại thụ
tài hoa Lê Thương, khối đá đã trở thành một biểu tượng người vợ ôm con chờ chồng
đến hóa đá, góp phần cảm hứng để lại cho đời bản trường ca Hòn Vọng Phu bất hủ...
"Những cảm hứng đã thôi thúc tôi sáng tác Hòn Vọng
Phu còn mấy yếu tố quan trọng nữa, đó là chuyến tôi vào Nam năm 1934, khi
qua đèo Cù Mông đến ranh giới hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa tôi thấy tượng đá vọng
phu trên núi Đá Bia phía đông đèo Cả" - nhạc sĩ LÊ THƯƠNG (Tâm tình văn
nghệ sĩ, Lê Phương Chi, NXB Thanh Niên 2001).
"Nơi phía nam, giữa núi mờ/ Ai bế con mãi đứng chờ".
Một trong những hình tượng khơi gợi cảm xúc để Lê Thương sáng tác Hòn Vọng Phu
là "Vọng Phu thạch" ở Hà Tiên.
Kỳ 5: "Nơi phía Nam, giữa núi mờ"
Men theo bờ biển Tây, từ Kiên Lương cho đến Hà Tiên,
quanh những khối núi đá vôi trải dài vươn ra tận biển này, khi nghe hỏi ở nơi
nào có đá vọng phu, nhiều người nhìn chúng tôi như 'từ trời rớt xuống'.
"Nơi phía Nam, giữa núi mờ/ Ai bế con mãi đứng chờ".
Tượng đá vọng phu ở xứ Hà Tiên cũng là một cảm hứng cho bản trường ca từng được
nhạc sĩ Lê Thương chia sẻ. Thông tin ấy gây ngỡ ngàng đối với nhiều người, kể cả
người dân vùng cuối đất Kiên Giang.
Cuộc kiếm tìm ngọn nguồn câu chuyện Vọng phu thạch ở vùng đất
này cũng đầy bất ngờ và thú vị.
Tìm kiếm trong chuỗi mơ hồ
Nhắc đến Hà Tiên xưa nay, mọi người nghĩ ngay đến danh thắng
hòn Phụ Tử nổi tiếng chứ nào phải hòn vọng phu. Cố gắng truy tầm tư liệu, chỉ
thấy có nhạc phẩm Nàng Hà Tiên của Lê Thương sáng tác trước khi ra đời
ba bài Hòn Vọng Phu.
Chẳng thấy ghi chép nào về câu chuyện đất Hà Tiên có đá
"bao nhiêu năm bồng con đứng đợi chồng về". Phải chăng Lê Thương nhầm
lẫn hay tự huyền thoại, "vọng phu hóa" một khối đá nào đó?
Lần theo lời nhạc sĩ từng chia sẻ, chúng tôi về đất Kiên
Giang những mong kiếm tìm, minh định thực hư câu chuyện. Men theo bờ biển Tây,
từ Kiên Lương cho đến Hà Tiên, quanh những khối núi đá vôi trải dài vươn ra tận
biển này, khi nghe hỏi ở nơi nào có đá vọng phu, nhiều người nhìn chúng tôi như
"từ trời rớt xuống".
Kể cả anh bạn nhà báo rất rành rẽ về đất Kiên Giang cũng quả
quyết với chúng tôi: "Làm gì có. Hòn vọng phu ở đâu ngoài miền Bắc hay miền
Trung kia chứ. Ở đây chỉ có hòn Phụ Tử, mà nay chỉ còn hòn Tử mà thôi. Hòn Phụ
sụp hơn chục năm rồi".
Đến thăm chùa Hang bên eo biển xã Bình An thuộc huyện Kiên
Lương; chùa nằm ở khối núi đá vôi sừng sững hướng ra khung cảnh hàng loạt núi
đá nhô lên mặt biển trải dài.
Nổi bật hơn cả là hòn Phụ Tử giữa phong cảnh hữu tình, với trụ
đá hơi cong chĩa lên trời. Bà Tư, chủ một quán nước trên đường dẫn vào chùa, ví
von: "Tên là hòn Phụ Tử, nhưng kể từ ngày hòn Phụ sụp, nhiều người gọi tên
là hòn Tử mồ côi, mà đúng vậy thiệt chớ!".
Bà Tư thao thao về hòn Phụ Tử ngày trước như một con thỏ, hai
tai chính là Phụ và Tử đang giỡn đùa sóng biển đầy nắng gió. Thắng cảnh độc đáo
này được kể với biết bao huyền thoại.
Thế rồi, cơn biển động rạng sáng ngày 8-9-2006, một phần
"tai thỏ" cao hơn là hòn Phụ đổ ụp xuống biển mà tiếng "ầm"
vang vọng đến tận nhà dân cách đó mấy cây số. Hòn Tử trở nên đơn côi, cũng tiếp
tục được thêu dệt khá nhiều câu chuyện hết sức thú vị.
Thực địa quanh vùng, tuyệt nhiên không có lưu truyền câu chuyện,
chi tiết nào liên quan đến môtip đá vọng phu. Các cụm dân cư sống quanh hàng chục
khối núi cận kề biển Tây, men theo quốc lộ 80 cũng chẳng có chuyện kể tương tự
nào.
Tưởng chừng vô vọng, một anh bạn chợt nhắc đến nhà nghiên cứu
Trương Minh Đạt ở TP Hà Tiên, người được "ông già Nam Bộ" Sơn Nam gắn
cho biệt danh "nhà Hà Tiên học".
Bất ngờ thăm người trọng bệnh, chúng tôi phải chờ ông sửa soạn
khá lâu để được đón tiếp. Người vợ là nhà văn Nguyễn Phước Thị Liên hiểu biết
nhiều về vùng đất từng sống mấy chục năm, rất bất ngờ trước điều chúng tôi đang
tìm kiếm và cho rằng nhạc sĩ Lê Thương có lẽ đã nhầm, vì đất Kiên Giang chưa từng
nghe có đá vọng phu.
"Ở đây mà nói có hòn vọng phu người ta cười; người ta chỉ
biết có hòn Phụ Tử thôi" - tác giả năm đầu sách quen thuộc với người Kiên
Giang khẳng định.
Vọng phu trên núi Giếng Tượng
Suốt gần buổi sáng trao đổi, "nhà Hà Tiên học"
Trương Minh Đạt chia sẻ rất nhiều, từ địa chất địa mạo, lịch sử văn hóa, các
giai đoạn mở đất định cư của những lưu dân người Việt, kể cả nhiều huyền thoại,
truyền thuyết của vùng đất cổ Hà Tiên. Nổi trội trong số đó là chuyện Thạch
Sanh cứu công chúa tại hang Thạch Động - một điểm du lịch nổi tiếng của thành
phố biển này.
Ông Đạt cũng cho rằng nhạc sĩ Lê Thương đã nhầm chăng, bởi suốt
mấy chục năm nghiên cứu, chuyện liên quan vọng phu chưa từng được tìm thấy
trong tài liệu nào.
Sau lời chia tay để về Sài Gòn, chợt ông Đạt nhắm mắt, với
tay ra chiều suy nghĩ về điều gì đó. Hồi hộp chờ đợi, chúng tôi như "bắt
phải vàng" từ lời nói khẽ của ông: "Hà Tiên đúng là không có chuyện
hòn vọng phu được kể như nhiều nơi khác, và cũng không được ghi chép trong sách
vở. Nhưng tui vừa nhớ có một tảng đá trắng cao trên núi Giếng Tượng, người ta từng
truyền tai nhau, gọi đó là Vọng phu thạch, tức đá Vọng phu".
"Hòn đá trắng đó còn không? Người ta lên được không? Sao
hồi đó đến giờ tui chưa nghe?" - bà Liên dồn dập hỏi chồng trong sự ngạc
nhiên.
"Mình đi theo lộ ra bãi biển Mũi Nai, ngó lên là thấy
ngay mà. Hồi nhỏ tui vẫn đi ngang và nghe chuyện, cũng từng lên tảng đá đó. Hi
vọng nó vẫn còn, chưa bị "phá" như đá Vọng phu ngoài Bắc" - ông
Đạt nói.
Chớp lấy sự hứng thú của cả hai người, chúng tôi ngỏ ý chở cả
hai người tìm đến tận nơi xem khối đá đặc biệt kia có còn hay không.
Chúng tôi cho xe chạy theo lối hang Thạch Sanh rồi đi theo những
con đường ngoằn ngoèo vòng quanh những khối đá vôi lớn tiếp nối mấy dãy núi
cao, nào những núi Nai, núi Đèn, núi Lớn... Giếng Tượng là dãy núi đất cao hơn
100m, dài nhiều cây số toàn rừng trồng keo và tràm hoa vàng.
Chúng tôi cho xe chạy từ từ theo đường bêtông vòng quanh núi,
dừng lại nhiều đoạn để nhà nghiên cứu 86 tuổi nhìn kỹ và soát xét trong trí nhớ.
Xe chạy quanh hai vòng vẫn không ai thấy tảng đá trắng nào nhô cao.
Ông tỏ vẻ buồn và thất vọng lắm: "Có khi nào người ta gõ
lấy đá rồi chăng?".
Chúng tôi dừng từng đoạn hỏi người địa phương về tảng đá trắng
Vọng phu ở đâu, có còn không, ai cũng lắc đầu không biết. Thật may, trên một bờ
ao ngay chân núi, một cụ già trả lời nhanh nhẩu: "Đá Vọng phu chứ gì, nó vẫn
còn mà. Cứ đi vòng lại chỗ ủy ban phường Pháo Đài, tới một chút là đường vào. Tảng
đá trắng đó ngay chỗ núi đang khai thác đất đó".
Đến nơi, khối đá nằm ngay sau dãy trại mà TP Hà Tiên làm chỗ
cách ly COVID-19. Thì ra, đá Vọng phu mà người dân Hà Tiên xưa kia nhắc đến
không ở tít trên cao như trong ký ức từ tấm bé của "nhà Hà Tiên học",
cũng không mang dáng vẻ người mẹ bồng con.
Đó chỉ là khối đá lớn khoảng bằng đầu kéo chiếc container, nằm
ở vách núi cao vài chục mét, màu trắng đục nổi bật giữa mảng đất đỏ và cây
xanh.
Nhà nghiên cứu ra chiều đăm chiêu như đang sống trong dòng ký
ức: "Đúng tảng đá này đây, chính vị trí này trông thẳng ra biển". Người
vợ trong trạng thái phấn khích: "Thật đúng, xứ nào trên đất nước mình mà
chẳng có cảnh vọng phu. Cho nên khi đến đây, người ta ghép những tình cảm nhớ
trông đợi chờ mòn mỏi của người vợ cho khối đá này".
Lặng trông đá núi, chợt nghĩ đến người nhạc sĩ thủa hoa niên
đã từng đến nơi, từng nghe câu chuyện, thấu cảm nỗi niềm vọng phu mòn mỏi được
gắn cho tảng đá vô tri. Cũng có khi nhạc sĩ từng leo lên tảng đá kia hướng vọng
biển xanh mà cảm thương đến người phụ nữ "lấy chồng đi biển hồn treo cột
buồm".
Nơi phía Nam giữa núi mờ
Ai bế con mãi đứng chờ
Như nước non xưa đến giờ?
Đường chiều mịt mù cát bay tỏa bước ngựa phi
Đường trường nếp tàn y hùng cường
vẫn còn bay trong gió
Tiếng núi non lưu luyến tấc lòng bao nghìn năm
Tiếng gió cồn như tiếng trống dồn buổi khuya vắng
Từ bóng cây ngôi mộ bên đường
Từ mái tranh bên đình trong làng
Nguồn sử xanh âm thầm vẫn sống
Bao mối thương vang động trong lòng...
(Trích Hòn Vọng Phu 3 - Lê Thương)Kỳ 6: Trường ca bất tử
Hòn vọng phu được xem là tuyệt tác của nền tân nhạc Việt
Nam, đến nay vẫn mang tính đương đại và sẽ còn vang vọng mãi mai sau...
"Có ai xuôi vạn lý /nhắn đôi câu giúp nàng,/Lấy cây
hương thật quý,/thắp lên thương tiếc chàng. Thôi đứng đợi làm chi,/thời gian có
hứa mấy khi/sẽ đem đến trả đúng kỳ/Những người mang mệnh biệt ly...
(Trích Hòn vọng phu 2 - Lê Thương)
Nhạc sĩ tiên phong, nét nhạc khác lạ
Nhà nghiên cứu âm nhạc Vĩnh Phúc (Học viện Âm nhạc Huế) cho rằng
Lê Thương là nhạc sĩ có vị trí đặc biệt trong nền tân nhạc Việt Nam, mà tác phẩm
đặc biệt là Hòn vọng phu. Cùng với Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Khoát..., Lê
Thương nằm trong nhóm những tác giả tiên phong của tân nhạc, với nhạc phẩm công
bố lần đầu trên báo Ngày Nay của Tự Lực văn đoàn nửa cuối năm 1938.
Nguyễn Văn Tuyên là nhạc sĩ tân nhạc đầu tiên được Thế Lữ
"cổ xúy" trên báo Ngày Nay ngày 26-6-1938. Đến 31-7 cùng năm, báo này
đăng nhạc phẩm đầu tiên là Bình minh của Nguyễn Xuân Khoát (phổ thơ
Thế Lữ). Ngày 7-8 thì in nhạc phẩm thứ hai Một kiếp hoa của Nguyễn Văn Tuyên.
Bài Tiếng đàn đêm khuya của Lê Thương là bản thứ ba được in ngày 14-8.
Theo nhà nghiên cứu Vĩnh Phúc, khi Nguyễn Văn Tuyên lần đầu
công khai trình diễn các tác phẩm "nhạc ta điệu Tây" của mình tại Hà
Nội, sự đón nhận của công chúng có phần "nhợt nhạt". Bởi lẽ, cử tọa
là khá nhiều tác giả cũng đã sáng tác ca khúc mà chưa công bố. Chỉ đến khi
chương trình nhạc Lê Thương được tổ chức mới thực sự gây tiếng vang trong lòng
người nghe.
Sau khi công bố mấy nhạc phẩm, Lê Thương được Đoàn Ánh Sáng -
một tổ chức của báo Ngày Nay - mời lên Hà Nội trình diễn để vận động quyên góp
làm nhà cho đồng bào. Tại Nhà hát lớn Hà Nội ngày 19-11-1938, trước khi diễn vở
hài kịch Ông Ký Cóp của Vi Huyền Đắc, Thế Lữ đã tổ chức chương trình phụ diễn
toàn nhạc Lê Thương. Đó là những bản: Tiếng đàn đêm khuya, Một ngày xanh, Thu
trên đảo Kinh Châu, Xuân năm xưa, Trên sông Dương Tử, Khúc ly ca... Đây được
xem là chương trình "tác giả tác phẩm" tân nhạc lần đầu tiên tổ chức ở
Việt Nam.
Buổi trình diễn thành công ngoài mong đợi. Khái Hưng đã không
tiếc lời trên báo Ngày Nay 26-11-1938: "...Ngoài công giới thiệu tác phẩm
mới của một soạn giả có tài, còn cho ta được thưởng thức những bài hát êm ái của
ông Lê Thương những điệu cảm động vì diễn tả một thứ văn chương ly tao nhất của
tâm hồn. Cái giọng mềm mại của ông Lê Thương được một tay danh cầm đàn theo.
Ông Trần Đình Khuê một nhạc sư ai cũng yêu tài, đã làm nổi tình cảm của ông Lê
Thương trong những ngón đàn ý tứ và đằm thắm".
Giai đoạn này, Lê Thương dạy học ở Hải Phòng, hoạt động và
sáng tác tân nhạc cùng nhiều tác giả trẻ khác như Canh Thân, Hoàng Quý, Hoàng
Phú (Tô Vũ), Phạm Ngữ... Nhà nghiên cứu Vĩnh Phúc cho rằng: "Hầu hết những
tác phẩm giai đoạn đầu của tân nhạc VN đều mang hơi hướng, ảnh hưởng rõ rệt những
bản nhạc thời trang châu Âu đương thời. Trong khi Lê Thương, chất âm nhạc lạ và
khác so với các tác giả khác, rất đáng nể phục, từ lối tư duy và vận dụng nhuần
nhuyễn âm nhạc dân tộc ngay từ đầu".
"Rất dân tộc"
Ba bản của trường ca được sáng tác cách nhau khá nhiều năm. Một
số nhà chuyên môn cho rằng Lê Thương viết Hòn vọng phu "độc lập", về
sau mới viết tiếp tục hai bản còn lại thành nên trường ca nhạc cảnh.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thụy Kha cho rằng: "Có khi Lê
Thương chỉ định viết bài Hòn vọng phu 1, về sau theo kháng chiến ông mới viết
tiếp". Trong khi nhà nghiên cứu Vĩnh Phúc lại suy nghĩ khác: "Nhìn
vào kết cấu cả ba bản nhạc, rõ ràng trong đầu ông vẫn suy nghĩ, nung nấu sáng
tác cả trường ca hoạt cảnh".
Suốt cả trường ca, Lê Thương vẫn dùng bảy âm của nhạc Tây
(đô, rê, mi, fa, sol, la, si). Thế nhưng, phân tích về mặt âm nhạc, nhà nghiên
cứu Vĩnh Phúc nhận ra điều thú vị: năm âm của nhạc truyền thống được vận dụng một
cách nhuần nhuyễn.
Ông nói: "Đọc qua bản nhạc, toàn thang năm âm:
do-re-fa-sol-la-do; thỉnh thoảng mới chen lướt nốt mi và si giáng, rất nhanh,
thoáng qua. Nhưng mi ở đây vẫn rất truyền thống, kiểu nhạc Huế hay tài tử Nam Bộ,
chỉ lướt qua; điều mà Trần Văn Khê từng nhận xét đó là sự chuyển hệ chứ không
phải chuyển điệu".
Việc dùng lời, luyến láy trong bài hát cũng được các nhà
chuyên môn nhận xét mang tính dân tộc. "Bài nào cũng vận dụng luyến láy
quãng 4, quãng 5 để hát đúng theo ngữ âm tiếng Việt. Tiếng đưa hơi "rất Việt"
được vận dụng một cách tài tình, từ ơ...a, ơ...hờ hoàn toàn trong truyền thống.
Rồi phương pháp điệp từ: "sống trong, trong mơ hồ",
"kéo quân, quân theo cờ" rất dân ca. "Xang xang xê hò xừ xang, xừ
liêu xê xang liêu ú liêu ú hò. Đoạn gian tấu ước lệ này được Lê Thương ghi lời
theo nốt năm âm, dù không trùng khớp giữa tên và nhạc, chỉ đưa tượng trưng
nhưng về mặt hình thức đã thể hiện yếu tố dân tộc rất độc đáo" - nhà
nghiên cứu Vĩnh Phúc nhận xét rồi ngân nga.
Nhạc sĩ Lê Hoàng Long, tác giả Gợi giấc mơ xưa, đồng thời là
tác giả sách Nhạc sĩ danh tiếng hiện đại (Sài Gòn, 1959) ghi nhận Lê Thương viết
nhạc rất cẩn thận để đúng hoàn toàn được ý mình, rất chú trọng đến những nốt
láy nhỏ hay nhiều nốt móc kép để lượn một lời ca.
"Cả ba bài, cách chuyển âm (mudulation) thật là giản dị
nhưng không phải thế là nghèo nàn. Về hình vẽ (đessin) thì trừ bài Hòn vọng phu
1 ở mức trung bình, còn hai bài 2 và 3 thật là đẹp mắt. Về lời ca, nếu viết một
chuyên ca, viết được như Lê Thương, một lối viết văn lưu loát, ý súc tích, câu
chuyện kể đậm đà, cảm động... Trong các tác phẩm của Lê Thương thường thường phảng
phất tính chất dân tộc nhiều hơn là ngoại lai. Đó là một ưu điểm đáng được đề
cao và ca ngợi" - ông viết.
Bậc thầy của các nhạc sĩ đại thụ
Chủ trương sáng tác của Lê Thương, ngay từ thời gian đầu đã dựa
trên âm nhạc dân gian của người Việt. Từ bản Thu trên đảo Kinh Châu, Lê Thương
sáng tác dựa vào chất liệu quan họ, sự thành công đến nỗi sau này người ta xem
bản tân nhạc này là một bài quan họ.
Ông Nguyễn Thụy Kha nhận định: "Khuynh hướng sáng tác chủ
đạo của âm nhạc Việt Nam hiện nay là dân gian đương đại. Điều này, nhạc sĩ Lê
Thương đã chủ trương từ rất sớm. Và điều đó vẫn soi sáng, vẫn vững bền; người
nhạc sĩ ấy tầm cỡ đến như thế".
Theo ông Nguyễn Thụy Kha, nhiều nhạc sĩ lớn của nền tân nhạc
Việt Nam như Văn Cao, Hoàng Quý, Tô Vũ (Hoàng Phú), Canh Thân, Phạm Ngữ... đều
chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Lê Thương. Các sáng tác của bậc thầy Lê Thương đã ảnh
hưởng đến rất nhiều thế hệ nhạc sĩ tân nhạc: "Không có Lê Thương thì làm
sao Văn Cao viết được Buồn tàn thu năm 16 tuổi, bài hát này dựa trên tinh thần
của Lê Thương".
Cũng nhờ nhạc sĩ bậc thầy tiên phong mà sau này, nhiều tác giả
lớn của nền tân nhạc mới để lại những bản trường ca bất hủ: Phạm Duy với Con đường
cái quan, Mẹ Việt Nam hay Phạm Đình Chương với Hội trùng dương... Riêng Hòn vọng
phu, ông Kha nói: "Đến nay vẫn còn nguyên giá trị; tác phẩm này được bước
vào cổ điển, cả nhạc và lời đều bất tử chứ không bị lãng quên như các tác phẩm
của nhiều nhạc sĩ khác".
"Ông là nhạc sĩ có rất nhiều cảm hứng dân tộc chân
thành, lúc nào cũng ủ ấp một ý tưởng thiết tha đưa nhạc của mình về đường dân tộc
tính... Xét về kỹ thuật của ông qua ba bài đặc sắc này chúng tôi nhận thấy Lê
Thương rất vững vàng và già dặn, được Văn Cao tôn kính làm bậc thầy không phải
là quá đáng" - Lê Hoàng Long (Nhạc sĩ danh tiếng hiện đại, Sài Gòn 1959).
Lê Thương nói trong sự xúc động: "Chưa bao giờ tôi nghe
Hòn vọng phu mà cảm xúc mạnh đến vậy, như mình đẻ đứa con và được đứa con bày tỏ
điều gì với mình".
Kỳ cuối: Ngàn đời còn nhớ "ai bế con mãi đứng chờ"
Trải cùng bao cuộc bể dâu đất nước, Hòn vọng phu của Lê
Thương càng được người đời thấu hiểu và yêu thích hơn, cả ở giá trị âm nhạc lẫn
văn hóa lịch sử. Trường ca chạm sâu vào vấn đề lớn của dân tộc và luôn mang
tính thời sự.
Hòn vọng phu của Lê Thương phản ánh một nước Việt luôn luôn
có chiến tranh, người vợ luôn luôn chờ chồng. Đã có Chinh phụ ngâm, rồi những
hòn vọng phu bằng đá, rồi nối tiếp là nhạc phẩm này. Đấy là một tư tưởng lớn chứ
không phụ thuộc vào đâu cả.
NGUYỄN THỤY KHA
Hình ảnh đẹp về người phụ nữ
Tiếp chúng tôi tại nhà riêng ở TP Hội An, nữ danh ca Ánh Tuyết
cho biết rời không gian âm nhạc ngót nghét đã 10 năm. Hầu như mọi thứ liên quan
cứ "nhớ nhớ, quên quên", nó cứ xen lẫn với mối bận tâm hiện thời là đất
đai, vườn tược, rau cỏ... Song, khi nghe nhắc đến Lê Thương và Hòn vọng phu, nữ
danh ca bỗng tuôn trào cảm xúc. Ánh Tuyết bảo như một cơ duyên, thậm chí là định
mệnh, chỉ một câu trong bản trường ca Hòn vọng phu như dẫn lối cho chị vào nghiệp
ca hát...
"Nơi phía nam giữa núi mờ. Ai bế con mãi đứng chờ. Như
nước non, xưa đến giờ" - ca sĩ dàn trải câu hát như sự bộc phát của tiếng
nói thầm kín tràn đầy cảm xúc. "Tôi nghe ca sĩ D.K. hát từ khi còn rất nhỏ,
hồi đó nhà tôi mở hàng cơm trên phố Phan Châu Trinh ở phố Hội này. Chao ôi,
nghe nó thật xa vời vợi, cái núi đó nó mờ khuất với tâm tư của con người chứ
không phải tầm nhìn, nó quá xa đến mức tâm tư con người cũng không vói tới được.
Chính vì câu hát đó mà tôi mê Hòn vọng phu từ hồi nhỏ xíu" - chị bày tỏ.
Ánh Tuyết gặp nhạc sĩ Lê Thương lần đầu vào tháng 8-1994,
trong đêm nhạc do một Việt kiều tổ chức tại khách sạn Công Đoàn TP.HCM. Cử tọa
lúc ấy toàn những "đại thụ" của làng nhạc VN như Lê Thương, Văn Cao,
Tô Vũ, Ngọc Bảo... Được mời hát, Ánh Tuyết "mần luôn ba bài" Hòn vọng
phu. "Hồi đó, tôi đang hát giữa bài hai thì thật bất ngờ, chú Lê Thương
lên sân khấu bắt tay.
Chú nói trong sự xúc động: "Chưa bao giờ tôi nghe Hòn vọng
phu mà có cảm xúc mạnh đến như vậy, giống như mình đẻ đứa con và được đứa con
bày tỏ điều gì với mình vậy". Lúc đó tôi chưa nghĩ nhiều về việc thể hiện
của mình, bởi vì có biết bao nhiêu ca sĩ hàng đầu đi trước mình đã thể hiện"
- ca sĩ bày tỏ.
Chị nhớ như in cuộc gặp gỡ ngay sau đó: "Khi nghe chú Lê
Thương khen tôi hát nhạc ông hay, chú Tô Vũ tiếp ngay lời: "Cô ấy hát nhạc
tôi cũng hay thế, chứ đợi nhạc ông à!", mấy ông thương dữ lắm". Sau
khi Lê Thương qua đời, tri ân người nhạc sĩ tài ba, Ánh Tuyết đã gặp gỡ gia
đình và xin phép thực hiện album Thằng Cuội, gồm ba bài Hòn vọng phu và sáu bài
Tuổi thơ, Đàn bao tuổi rồi, Một ngày xanh, Thu trên đảo Kinh Châu, Thằng Cuội,
Đàn tình xưa của Lê Thương.
"Hồi đó rất khó khăn, đang nghèo, ở nhà thuê, nhưng có
thể nói tôi làm album Thằng Cuội là một sự tri ân với người nhạc sĩ tài ba đã
gieo vào tôi những ấn tượng âm nhạc đầu đời, một phần cũng muốn làm món quà cho
ông, cho gia đình và những thính giả mến mộ gia tài âm nhạc Lê Thương" -
chị nói.
Ánh Tuyết nức lòng ngợi ca Hòn vọng phu: "Mỗi lần hát là
mỗi lần cảm xúc, nó đa chiều, làm cho mình cứ cuồn cuộn, đẩy mình lên độ nóng tột
cùng, hăng tột cùng, say tột cùng, và cũng đẩy mình chìm vào nỗi đau đến tận
đáy. Một người chinh phụ chờ chồng - một người chinh phu vì đất nước, cũng mong
ngày về với vợ con mà không biết ngày về. Bản trường ca ngợi ca người phụ nữ
tuyệt đẹp, chung thủy, sắt son sừng sững như núi. Theo tôi, đây là trường ca đỉnh
cao của Việt Nam không chỉ ở mặt âm nhạc, mà còn ở ca từ, ở câu chuyện".
Kiệt tác của một đại nhân
Nhạc sĩ Lê Hoàng Long viết: "Tác phẩm của Lê Thương được
xây dựng trên chuyện cổ tích truyền kỳ hay thần thoại Việt Nam cũng như lịch sử
của giống nòi. Ông là người thực tâm hướng về đất nước nên trong chuyện ca cũng
như nhạc lịch sử đều chứa đựng một nội dung súc tích trong kỹ thuật già dặn và
nhạc hứng chân thành không gò bó giả tạo".
Hồi ký Phạm Duy thì ghi: "Trong làng tân nhạc, Lê Thương
là người trí thức nhất. Mỗi bài nhạc, mỗi giai đoạn nhạc của anh đều chứa đựng
thông điệp. Qua những bài vừa soạn ra, ta thấy một thứ triết lý thời loạn của
anh. Người nghệ sĩ này, khi đi vào cuộc đời và cuộc chiến, đứng hẳn về phía kẻ
yếu".
Đề tài, cảm hứng Hòn vọng phu nhắm dựa vào hình tượng người
phụ nữ mòn mỏi chờ chồng ra trận đã chạm đến vấn đề lớn của dân tộc trong suốt
chiều dài lịch sử và đến nay vẫn nguyên tính thời sự.
Nhìn vào nghìn năm lịch sử kể từ ngày giành độc lập, nhà
nghiên cứu văn hóa Trần Đình Sơn cho rằng: "Chiều dài lịch sử mở nước là một
quá trình vọng phu. Từ cuộc chiến giành độc lập trước giặc phương Bắc, cho đến
mở mang bờ cõi đến Quảng Trị vào thời Lý, đến Quảng Nam dưới thời Trần, đến Phú
Yên dưới thời Lê và cả miền Nam dưới thời Nguyễn. Sự đằng đẵng cảnh đàn ông ra
trận chống giặc và theo đoàn lưu dân mở cõi trấn thủ bảo vệ đất đai ở phương
Nam. Nỗi lòng phụ nữ ở nhà, vẫn đợi chờ mòn mỏi, không hóa đá sao được. Vọng
phu chuyện của muôn đời, một nỗi niềm đằng đẵng của người Việt Nam. Kể cả giai
đoạn hiện nay đang thái bình mà chuyện vọng phu vẫn cứ canh cánh".
Theo nhà phê bình Nguyễn Thụy Kha, ba bài Hòn vọng phu có vị
trí lớn trong tân nhạc: "Bởi vì nó đụng đến một vấn đề của dân tộc, đó là
đối diện với chiến tranh vệ quốc, mà gần như trước đó chưa có tác giả nào nói.
Tầm vóc lớn của tác phẩm vì đứng về phía dân tộc, không theo hơi thở nào khác
ngoài dân tộc".
Một công trình nghiên cứu lớn, một cuộc hội thảo về nhạc sĩ
Lê Thương, theo ông Nguyễn Thụy Kha là rất cần thiết tổ chức, có thể nhân 110
năm ngày sinh của nhạc sĩ vào năm 2024 tới đây. Bởi lẽ: "Có những người rất
lâu người ta mới nhận ra, Lê Thương là trường hợp như vậy. Dần dần vị trí của
Lê Thương sẽ sáng dần ra. Khi con người ta biết đau đớn, biết giá trị của sự mất
mát, không ồn ào, thì mới biết giá trị rất lớn của Hòn vọng phu"...
"Ai cũng biết rằng hình ảnh người đàn bà chờ chồng hóa
đá biểu hiện sự đau thương vì chiến tranh liên miên... Không có gì đẹp hơn bằng
cách chuyển cuộc ra đi của người chồng vì mối tình ngang trái thành cuộc ra đi
vì đại nghĩa, và hình ảnh người đàn bà cũng trở nên hợp hơn, đúng hơn với người
chinh phụ! Người đàn bà luôn chịu thiệt thòi. Cần phải trả lại cho họ cái chức
phận thiêng liêng, cao quý.
Người vợ ở đây hóa đá để đợi chồng, chứ không phải tự nhiên.
Đó cũng là hình ảnh "chứng quả tình thâm": tình vợ chồng chưa toại
lòng nhau đã cách biệt, tình cha con chưa tròn ôm ấp đã chia li, tình đồng loại
chưa sum vầy đã xa cách" - nhạc sĩ LÊ THƯƠNG (Phan Hoàng, sách Phỏng vấn
người Sài Gòn, NXB Trẻ 1998).21/12/2020
Sơn Lâm - Thái Lộc
Nguồn: TTO
Theo https://vanhocsaigon.com/




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét