Viên quan hai Léc rất điển giai, vẫn được bạn bè gọi là con
gà sống tốt mã của cánh đồng nho Léc nói sõi tiếng Việt, giỏi mỹ thuật, và rất
chú trọng tìm hiểu phong tục Giao Chỉ. Được về làm sếp bốt Ngã tư Hồ, hôm trước,
hôm sau Léc đã tha thẩn dẫn bọn lính vào làng. Hắn được biết ở đây người ta làm
nghề vẽ tranh tết, và lúc này đang là mùa in tranh. Khi đi trên bờ sông Đuống
Léc để ý có những chiếc thuyền dọc đỗ nép vào bờ đun nấu khói nghi ngút. Một
tên lính cho Léc biết đó là thuyền ở xa đến chờ mua tranh tết. Hắn cau trán hầm
hừ cái gì không rõ trong cổ họng. Léc đến đầu làng, cảm thấy mùa xuân xứ này
đang đến, mưa chăng như mạng nhện; và khóm lá giong - thứ lá dân bản xứ gói
bánh chưng tết - thì xanh rờn, run rẩy trong gió rét. Để tỏ thái độ thiện cảm,
Léc cố giữ bộ mặt vui vẻ thậm chí còn gật đầu chào những người qua lại, mặc dầu
họ có một ánh mắt mầu đen phương Đông đáng sợ, đang nhìn hắn như nhìn quân ôn dịch.
Qua chiếc cổng làng có dòng chữ Trung hoa, Léc bước thanh thản trên con đường gạch.
Con trai lão quận trưởng đi bên Léc, tên thông ngôn này rất được Léc yêu, vì hắn
vẫn là cố vấn về các vấn đề phong tục và địa phương cho Léc, giải thích:
- Thưa ngài, con đường chúng ta đang đi, có lịch sử kỳ thú của nó. Tôi muốn nói
là những viên gạch này mang nhiều ý nghĩa. ở vùng đây mỗi cô gái đi lấy chồng,
theo tục lệ, phải lát cho làng một đoạn đường gạch. Kết quả là những lớp gạch
cũ, mới cứ nối nhau chạy dưới rặng tre xanh thế này...
Léc cười thích thú, hắn gượng nhẹ gót giày uốn éo nhún nhẩy. Những cô gái mắt xếch
của phương Đông ơi (thực ra không có ai mắt xếch) - hắn nói - tôi đang đi trên
những kỷ niệm của các cô:
Tên thông ngôn đưa Léc ngoặt vào chiếc cổng tre:
- Đây là nhà một lão khắc tranh giỏi nhất làng - hắn nhấn mạnh - Ngài sẽ được
xem họ làm việc như thế nào.
Léc nhìn thấy một ông già râu tóc trắng xóa, vận áo cúc vải, đang ngồi chăm chú
ngoại hiên với bộ dao khắc và tấm gỗ vàng hươm.
- Chào ông già, quan đến xem làm tranh, có thế thôi, ông cứ làm việc bình thường
- tên thông ngôn nói.
ông cụ dừng tay, gương mặt đỏ hồng thoáng tái một chút rồi cúi xuống. Đôi tay với
những ngón xương xẩu lại cử động một cách tinh tế, sử dụng bộ "ve" khắc
thuộc lòng trên mặt gỗ. Léc chăm chú ngắm, chụp ảnh, tỏ ra là người có văn hóa.
Bọn lính đi theo rất chán ngán, chúng ngáp, rậm rịch bước quanh sân, mắt lơ láo
ngó chuồng gà. Léc nhìn vào trong nhà thấy một bà cụ già, mấy đứa trẻ con, và
những người khác đang bỏ việc, đưa mắt cho nhau nghi ngại.
- Các người cứ làm việc bình thường, bà lão kia nghe rõ chửa, quan đến xem,
không bắt bớ gì - tên thông ngôn nhắc lại.
Mấy người cúi xuống, bà lão lại đều đều chấm chổi lông vào chậu điệp phết lên từng
tờ giấy dó và vứt la liệt sau lưng. Mầu điệp trong trắng vàng vàng như sắc ngà
voi, óng ánh chiều sâu làm Léc hết sức ngạc nhiên.
- Thưa ngài, đó là một thứ vỏ sò mục nát - tên thông ngôn giải thích - người ta
nghiền ra hòa với một chất keo gì đó.
- Một thứ vỏ sò, tôi hiểu - Léc gật đầu.
Ở góc nhà bên kia là hai đứa trẻ thò lò mũi, một đứa quệt mầu lên khuôn gỗ; một
đứa đặt giấy, Léc thấy như là chúng đang chơi trò của trẻ con thì đúng hơn là
in tranh. Những người bên cạnh chấm bút vào các chậu mầu và tô lên rất nhanh.
Chỉ một loáng tranh đã hoàn thành và được đem ra sân phơi. Léc đưa một bức lên
ngắm nghía. Hắn thấy một cây dừa châu á, một người đàn ông hóm hỉnh, mặt mũi
tràn trề hạnh phúc, đóng khố, mình trần, vú nổi to như lực sĩ ném đĩa Hy Lạp
đang trẩy quả vứt xuống. Dưới gốc dừa, một người đàn bà hai tay trần kéo váy
lên hứng. Người đàn bà rất đẹp... Léc kinh ngạc nhìn ông già râu trắng ngoài cửa,
nhìn những đứa trẻ con và sau rốt, hắn khuấy ngón tay vào chậu mầu; hắn không
thấy những mầu này có trên các bức danh họa phương Tây.
- Thưa ngài, những chất liệu này lấy trong cây cỏ tự nhiên - tên thông ngôn tỏ
ra am hiểu - chẳng hạn mầu xanh này lấy ở một thứ lá rừng. Và thứ lá kia lại có
một mầu hồng kín đáo đến nỗi các cô gái có thể nhuộm móng tay. Mầu đen này là
lá tre đốt đi ủ nước. Còn mầu vàng có thể từ hoa hòe, loại hoa để uống nước có
tên khoa học là Sophora giapônica, hoặc một thứ cây thuộc họ cà-phê gọi là
giành giành theo tên địa phương. Còn như mầu trắng lấm chấm tựa những vì sao
kia là vỏ trứng giã nhỏ trộn với chất dính.
- Nhưng còn cái này - Léc băn khoăn - tôi chưa hiểu, cái mầu xanh lam sâu đậm
và óng ánh đến là lạ.
- Hình như đó là một thứ gỉ đồng, ngài có trông thấy gầm giường kia có những
chiếc mâm đồng, dưới tác dụng của a-xít trong quả gì đó, lên gỉ. Người ta trộn
nó với nhựa thông, phết lên tranh rồi mài cho nhẵn và trong.
Léc gật đầu khâm phục. Hắn nhìn hết lượt các bức tranh thấy những con gà, con lợn,
cóc, chuột... dường như đang cử động. Những người trong tranh đang cưỡi ngựa,
cưỡi voi, cầm đao giương cung rất hào hùng. Léc thấy sợ sợ cái gì, có lẽ là sự
lầm lì của ông già râu trắng, những người đàn bà hai đứa trẻ kia...
Khi viên quan hai Léc trở ra, hắn cầm bản khắc của ông già lên xem. Hắn thấy một
con gà trống lạ lùng, tấm thân đường bệ kiêu hãnh, cái mào và đôi chân hiên
ngang; con gà như sắp gáy lên. Chao ôi, con gà dân gian Giao chỉ!... Léc máy mắt,
hắn không dám nhìn lâu, tưởng cái mỏ kia có thể mổ vào mắt hắn.
- Ông già! Nếu ông bằng lòng bán cho ta bản khắc này, ta sẽ trả ông số tiền mà
ông muốn.
Ông già lắc đầu.
Léc gặng:
- Năm mươi đồng?... Một trăm đồng, chắc ông ưng?
Ông già vẫn lắc đầu, trán nổi gân. Léc thấy thất vọng; nhìn gương mặt ấy, hắn
biết khó lòng mà toại nguyện trừ giả giở trò cướp bóc.
- Ông lão này lạ thật - tên con lão quận trưởng xẵng giọng - Ông lấy bao nhiêu
tiền thì nói lên.
Ông già đứng dậy giành lấy bản khắc trong tay tên sếp bốt, điềm tĩnh:
- Thưa quan đồn, cái này không có giá.
Thấy cuộc mua bán lôi thôi, những tên lính trố mắt ngạc nhiên. Quan hai mua làm
gì? Giá tiền cao thế sao lão già không bán?
Ông già đưa "ve" sửa vài nét ở cựa gà, không nói năng gì. Léc gật đầu,
gương mặt hằn lên những đường gân xanh nanh ác, nhưng môi lại nở nụ cười:
- Thôi đừng ép ông già. Đó là tác phẩm của ông, là tâm hồn của ông.
Hắn quay ra và nụ cười tắt ngay, chỉ còn luồng mắt xanh lè như mắt ma đưa loang
loáng. Bất chợ Léc đứng sững lại, nhìn thấy một bản khắc cũ bỏ đi, được dùng
vào việc đậy cửa chuồng gà. Léc đưa mắt cho tên thông ngôn. Tên này khá thông
minh, hiểu ngay, nhanh nhẹn tiến đến nhặt lấy và đi thẳng ra cổng.
Gió tháng chạp lùa qua trấn song sắt nhà giam giá buốt. Tiếng ồn ào của những
người đi chở ngoài đường vọng vào càng làm ông lão buồn rầu. Chúng nó bắt giam
ông đã một tuần nay, hằng ngày cho ăn cơm thịt bò, nhưng lại để mặc ông với bức
tường - mà không hỏi han gì. Về đêm, ông lão không sao ngủ được, đôi tay buồn bực
chỉ biết vuốt râu. Mùi gỗ thị, và mùi giấy mới hồ thơm thơm, chao ôi, sao mà
ông nhớ nó thế. Nhiều lúc ông mệt thiếp đi nhưng lại sực tỉnh ngay. Những hình
vẽ trong tranh cứ chập chờn trước mặt. Làm sao mà ông không nhớ cho được khi cả
đời ông gắn bó với nó. Kỷ niệm hồi nhỏ của ông là những lần bị bố đánh sưng tay
vì vô ý chệch một đường "ve". Nhưng chính từ hồi ấy ông khắc đã được
nhiều người khen. Theo các cụ dạy, trước khi bắt tay vào tranh, bao giờ ông
cũng mặc áo dài, sửa lễ cầu ông tổ nghề tranh run rủi cho khí thiêng nhập vào
người. Có thế khắc mới đẹp. Khi cầm đến "ve" đến gỗ, cứ mê đi mà làm.
Ông nhớ hồi trẻ khi nhắc lại bộ Tố nữ, ông đã mải miết đến ba tháng trời. Suốt
ngày ông nằm bò ra sửa từng ly từng tý đường nét trên cái cổ "kiêu"
ba ngấn, đuôi gà tóc, đuôi mắt có tua... Vợ ông đã điên tiết lên, nghi ông điểm
bùa vào tranh; in được tờ nào, bà lấy kim biêm mắt hết lượt rồi mới bán. Ông
lão nhớ những đôi mắt một mí hiền lành của chú bé tay ôm con vịt trong tranh
"Vinh hoa", nhớ cái khoáy âm dương trên lưng con lợn ăn cây dáy... Rồi
chính ông cũng bật cười nghĩ đến vẻ vênh váo của chú Trạng Chuột trong đám rước
dâu; vẻ cong cớn của chị vợ tay cầm kéo, búi tóc ngược, đánh ghen; dáng lụ khụ
của thầy đồ Cóc giữa đám môn sinh... Ông thuộc lòng từng khuôn mặt người trong
tranh như khuôn mặt láng giềng đến nỗi nhắm mắt có thể đưa "ve" lên gỗ
được. Những người trong tranh rồi đến cả con gà con lợn ở đấy cũng thành bè bạn
của ông rồi!...
Ấy thế mà bây giờ chúng bắt ông phải xa tất cả vô cớ giam ông vào đây.
Vào một ngày cuối tháng, tên sếp bốt cho gọi ông lão lên nhà. Hắn mời một cốc
rượu vang đỏ rồi nhún vai:
- Thật đáng tiếc, trong những ngày ta đi vắng, người ta đã bắt giam nhà họa sĩ
dân gian này. Nhân tiện đây ta ngỏ lời muốn ông thoả mãn những yêu cầu thẩm mỹ
của ta - điều ta đã nói với ông lần trước, ông bán cho ta, tất cả số bản mà ông
đã khắc từ xưa đến nay.
- Thưa quan đồn, tôi không có - ông già nói; một lát giọng dịu hơn - tôi chỉ có
vài bản để in, bán đi lấy gì sinh sống.
- Ta sẽ trả tiền ông, rất nhiều, đừng lo.
Ông lão xòe bàn tay, vẻ thành thực:
- Quả tình tôi không có: Tôi già rồi, khắc chậm chạp, được bản nào là bán cho
bà con cả.
- Ta không biết, lão làm thế nào có cho ta thì làm. Chẳng hạn như từ giờ trở
đi, lão sẽ bắt tay vào khắc lại tất cả, và dạy ta cách khắc của lão.
- Thưa quan đồn, tôi không làm được việc ấy.
- ông không tốt với ta - viên quan hai nhún vai, bỏ vào nhà trong.
Tên lính vừa đẩy ông lão xuống nhà giam vừa càu nhàu:
- Sao thằng già ngu thế? Lão bán cho mọi người được thì bán cho quan Tây cũng
được chứ sao? Ông ấy mà nổi cáu thì lão mất đầu.
Ngày hôm sau vào phiên chợ Chằm, những người đi bán tranh tết bị lính cướp giật
từng bó. Họ hốt hoảng, tắt đồng vào chợ. Chợ vỡ mấy lần vì người ta co kéo
giành lại tranh bị cướp. Dân các tổng mua tranh vội vã giấu xuống dưới thúng
hàng. Tin dữ về "vận hạn" tranh tết năm nay làm xôn xao. Ban ngày
thoáng thấy bóng thằng lính nào lảng vảng về làng, người ta báo nhau cất giấu hết.
Bọn lính nhiều lần sục vào cướp giật bản khắc đều không được. Dân làng chửi rủa
chúng và đôi khi lo lắng, nhưng tranh in ra vẫn cứ nhiều như mọi năm. Người ta
có đủ cách giấu giếm, chuyển đi các nơi. Chuyện ấy đến tai tên quận trưởng. Vì
tò mò, hắn thân hành sang hỏi Léc. Viên sếp bốt mỉm cười:
- Chẳng có liên quan đến ông đâu. Nhưng nói chung những bức tranh này không có
lợi cho chúng tôi. Nó kích động lòng kiêu hãnh của dân bản xứ về quê hương đất
nước của họ. Càng ngày số tranh bán ra càng nhiều quá đáng, tôi muốn hạn chế
đi. Đấy là chưa kể những tranh gây tác hại trực tiếp, ông xem đây - Léc đẩy ra
một bức tranh trong đó có con mèo già mắt xanh lè độc ác - Có phải đây là sự ngụ
ý sâu xa nào chăng? Tôi lại còn nghe ở làng này, người ta in cả truyền đơn và cờ
Cộng sản. Thật tai hại, ngài quận trưởng ạ - Léc ngừng một lát rồi tiếp - ông
có thể mua cho dân chúng "nghiện" tranh của xứ này những bức vẽ hình
đàn bà váy ngắn, từ bên Pháp bán sang rất nhiều mà ông đã thấy...
Tên quận trưởng về rồi, Léc lại gọi ông già râu trắng lên:
- Ông đã đủ thời gian suy nghĩ chưa? Vì lý do gì ông không thể giúp ta điều ấy?
Ông già ngồi trầm ngâm, đôi má hóp lại. Ông không thể làm xấu cái nghề của tổ
tông. Ông nhớ lại chuyện cụ tổ mấy đời làng này từng bị giặc Minh bắt đi khắc
tranh cho chúng; cụ cắn lưỡi tự tử chết chứ không chịu. Bây giờ đến lượt ông
đây, ông không thể làm thẹn mặt tổ tiên. Nhìn đôi mắt ông già, Léc lại thấy thất
vọng, hắn bực bội giậm chân trở vào. Ông già nhìn thấy một thằng Tây say đi ra.
Hắn đập vỡ cổ chai rượu vang nốc ừng ực:
- Lão... già... chết!...
Những sợi râu trắng trên ngực ông già run run. "Khắc tranh cho giặc là bán
nghề cho giặc, làm tuyệt đường sinh sống của con cháu! Dòng dõi ông sẽ bị dân
làng nguyền rủa mà lụn bại! Ông sẽ phải chịu tội với ông tổ nghề
tranh!...".
Mặt ông đỏ bừng lên, vầng trán hằn giận dữ đến nỗi thằng Tây say loạng choạng
phải chăm chú:
- Khà! Tao sẽ chặt cái ngón tay khéo léo của thằng già nếu thằng già không nghe
lời ông Léc.
Ông lão rùng mình. Chòm râu dựng nhô ra. Giấu hai tay sau lưng, ông lùi lại sát
tường lấy thế đứng tấn như lên đài vật.
- Thằng già nghe rõ chưa?
Nghe câu hỏi, mặt ông lão lại cháy bừng, cái búi tó củ hành xổ tung. Ông nhìn
ra cửa, không thấy một khe hở nào. Mắt ông đảo vào chiếc bàn vuông. Nếu chúng động
đến, ông sẽ nâng cái bàn này quật vào mặt chúng rồi cắn lưỡi tự tử.
Thằng Tây say đập nốt cái vỏ chai còn lại, ngồi xuống ghế im như chết, thậm chí
có một lúc hắn nhắm nghiền mắt lại. Ông lão nhìn ngón tay mình hốt hoảng, bất
thình lình, thằng Tây vùng dậy, ném con dao sáng loáng lên bàn và vồ lấy ông
như con mèo đói. Ông lão vùng vẫy kịch liệt. Mấy thằng lính khác vào giúp sức,
chúng ôm chặt lấy ông đặt lên ghế. Vừa cười sằng sặc, thằng Tây say vừa kéo tay
ông già lên bàn. Hắn dứ dứ con dao, dằn giọng:
- Thằng già có khắc tranh cho quan đồn không?
Năm ngón tay gầy khô xòe rộng trên bàn. Trong khi ấy ở phòng bên, viên quan hai
Léc nghe thấy tiếng dao chặt cộc cộc hai nhát rất mạnh. Hắn nhún vai bóc lá thư
của một người bạn họa sĩ từ Pháp mới gửi sang:
"Léc. Chúng mình đã nhận được bản khắc tranh con gà mà Léc sưu tầm được ở
vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Chắc Léc không tưởng tượng được niềm vui của
chúng mình. Thật là một tác phẩm vô giá".
Đông Hồ, 12/1969 Nguyễn Phan Hách Theo https://vietmessenger.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét