Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

XXXXXXXLoan - Từ cuộc đời của một con chim phượng hoàng 2

Loan - Từ cuộc đời của một
con chim phượng hoàng 2

- 2 -

Một đêm tối tăm 

Chúng tôi tới một ngôi nhà nhỏ, tối om, bao quanh là tường cao tới đầu người, mép trên có rào giây thép gai. Chúng tôi xuống xe mà trong bụng thật nôn nao và phải theo mấy người đàn ông tới một cái cửa lớn.  

Khi chúng tôi đi vào, mấy người giải chúng tôi phải đánh thức một người đàn ông đang ngồi ngủ gật trên ghế. Ánh đèn mờ ảo rơi xuống từ một cái đèn trần xỉn màu làm cho không khí trong phòng càng khó thở.  

Ngọt không ngừng run lẩy bẩy, còn tôi thì bình thản chờ xem cái gì sẽ xảy ra.  

Người đàn ông gác cửa nói với chúng tôi một cách cộc cằn rằng vào giờ này thì chẳng có gì để giải quyết cả. Rõ ràng là vào giờ khuya như thế này thì người phụ trách không còn ở đây nữa. Vì thế đêm nay chúng tôi phải ở lại đây. 

Chúng tôi vẫn bị hai người dùng súng giải lên tầng trên. Trước mắt chúng tôi, một người gỡ một thanh sắt chặn cái cửa thép nặng nề, người kia không nói một lời đẩy chúng tôi vào trong bóng tối. Chiếc cửa bị đóng rầm ngay sau lưng chúng tôi.  

Một lúc lâu mắt chúng tôi mới quen dần với bóng tối, chúng tôi bắt đầu nhận biết được ranh giới của căn phòng chúng tôi bị nhốt. Tôi không thể tin được rằng tình cảnh của chúng tôi đã thay đổi đến mức tệ hại như vậy. Cái đồn mà chúng tôi đang có mặt ở đây chỉ là một phòng giam nhỏ bé, hôi thối của cảnh sát chánh trị chứa đầy tù nhân. Đông người không thể tưởng tượng nổi, phụ nữ, đàn ông mọi lứa tuổi được nhồi vào một căn phòng có kích thước bốn nhân bốn mét. Ngoài mùi hôi thối của nước tiểu và phân còn ngửi thấy mùi máu khô. Tôi lập tức nhận biết được mùi này vì tôi đã chịu đựng nó quá lâu trong bệnh viện.

Chúng tôi bị nhồi sát vào nhau đến mức chỉ có thể ngồi xổm hoặc phải đứng. Một vài tù nhân đứng tựa vào nhau ngủ gà ngủ gật. Không khí thật khó thở. Chỉ có duy nhất một chiếc cửa sổ nhỏ tí ở một góc trên trần, qua đó người ta có thể đoán được bên ngoài là ngày hay đêm.  

Một vài người thỉnh thoảng phát ra những tiếng rên rỉ ngắn trước khi họ lại vật vờ ngủ tiếp, hoặc ít nhất ra vẻ như đang ngủ. Ngọt bắt đầu thút thít khóc và mãi không nín. Cô cũng sợ hãi giống hệt tôi. Bây giờ thì toàn thân tôi cũng run lên và miệng tôi không dám thoát ra câu hỏi đang mấp mé ở bờ môi:  "Họ sẽ làm gì với chúng ta đây?". 

Người ta để chúng tôi bị dày vò trong nỗi sợ, hàng tiếng đồng hồ liền, cho tới khi những ánh mặt trời đầu tiên chiếu qua chiếc cửa sổ nhỏ và chúng tôi nghe những bước chân đầu tiên đi bên ngoài hành lang.  

Thanh sắt được tháo ra. Một người đàn ông hiện ra trước cửa mở và nói với giọng cộc cằn:  " Mấy đứa mới, lại đây!". Nghĩa là họ ám chỉ Ngọt và tôi.  

Những người như bạn và tôi 

Chúng tôi bị tách riêng. Trong khi Ngọt rẽ vào một phòng bên cạnh cùng với người dẫn đường thì tôi phải đi theo một người đàn ông đưa tôi vào một căn phòng trống, trong đó chỉ có một chiếc ghế. Ở đây không có cửa sổ, chỉ có ánh điện chiếu xuống từ một bóng đèn mờ mờ ở trên trần. Người ta ra lệnh cho tôi ngồi xuống.  

Hai người đàn ông Việt Nam mặc đồng phục màu xanh ô liu đứng trước mặt tôi và bắt đầu hành tôi bằng những lời quy tội.

"Hãy thú nhận đi: mày làm việc cho Việt Minh! Nếu mày thú hết tội với chúng tao thì chúng tao sẽ lượng thứ", người đầu tiên nói với giọng trơn tru. 

"Tôi chỉ làm việc cho tôi và không phải cho Việt Minh", tôi trả lời hoàn toàn bất ngờ.  

"Nhưng mà mày nổi tiếng Pháp. Mày hiểu hết những gì tụi lính nó nói và mày ton hót với Việt Minh!", người thứ hai gào vào tai tôi.  

"Tôi đã làm việc trong một trại lính Pháp, dọn vệ sinh và làm cu li. Ở đó tôi đã học được một vài từ và cũng học được của những người lính ở quán bar. Vì vậy tôi biết một ít tiếng Pháp."  

"Ở nước ta đàn bà không cần phải làm việc cho người nước ngoài. Đàn ông chúng tôi đây nuôi đàn bà và lo cho họ!", người này gào lên với tôi. Tôi im lặng và không thể không nghĩ đến bố tôi, đến anh tôi, đến Hùng và chồng của Anh và nghĩ đến việc những người đàn ông đó đã "tốt" tới mức như thế nào.  "Những người đến uống bia nhà cô, họ muốn gì?", người đầu tiên hỏi tôi, vẫn nhẹ nhàng như lúc đầu. 

"Tôi không biết các ông định nói gì? Các ông hãy để cho tôi về nhà. Tôi thề với các ông là tôi nói thật! Các ông hãy để cho tôi về nhà cùng với một người lính của các ông để lấy giấy tờ, các ông sẽ thấy là tôi nói thật." Đến lúc này tôi đã trở nên khó thở. Bỗng dưng một người đàn ông thứ ba xuất hiện từ một góc tối của căn phòng mà tôi không biết. Ông ta mặc thường phục. Mặt của ông ta mang những nét lai Âu-Á. Ông ta ngồi xuống đất trước mặt tôi và từ từ tháo chiếc dép xăng đan chân phải của tôi ra. Giờ đây, ông ta vuốt bàn chân tôi, từ tốn và gần như nhẹ nhàng.  

"Hãy nói đi", ông ta thì thầm,  "rồi chúng tôi sẽ để cho cô đi.  Hứa mà!" 

"Tôi kiếm sống một cách lương thiện. Tôi chẳng liên quan gì đến những việc ở đây cả", tôi trả lời. Hẳn đó là một câu trả lời không đúng chỗ.  

Trước khi tôi kịp phản ứng, ông ta đã bóp bàn chân tôi thật mạnh đến mức tôi phải thét lên vì đau đớn. Tôi cảm thấy có những bàn tay ấn mạnh vai tôi xuống để tôi không đứng dậy được, trong khi có người khác ép chặt hai chân tôi vào nhau. Người lai Âu-Á lấy từ trong túi quần ra một vật gì đó, một cái kìm. Bằng cái kìm đó, ông ta giật bong móng chân cái bên phải của tôi và giơ nó lên trước mặt tôi. Đau đớn không thể chịu được, cú sốc làm cho tôi phải ói mửa ngay tức thì. 

"Đồ con đĩ bẩn thỉu!", người lai Âu-Á gào lên, hắn đứng dậy rút khăn tay lau những vết nôn của tôi bắn vào hắn.  "Ngày mai đến lượt mày đây! Mày hay nghĩ lại một lần nữa đi! Tao mà như mày thì tao sẽ khai thật. Đưa nó về cũi đi!", hắn ta ra lệnh. Trên đường quay trở về phòng giam kinh tởm kia, nơi mang mùi của chết chóc, tôi nghe tiếng vang đùng đục của những cú đòn và những tiếng kêu gào của người người "phản quốc" từ những phòng bên cạnh vọng ra. Tôi chắc rằng mình phải bỏ mạng ở đây. Bàn chân tôi đau đớn kinh khủng và máu chảy đầm đìa. Sau tôi ít phút, Ngọt và một nữ tù nhân khác cũng được đưa về. Môi Ngọt rách và một mắt sưng to. Cô lại gần chỗ tôi và kinh hoàng nhìn chân tôi. Chúng tôi ôm choàng lấy nhau. 

Cô khóc và nói:  "Chúng mình chết mất! Chúng mình chết mất! Họ sẽ giết chúng mình mất!".  

"Ừ", một ông nói xen vào một cách chán chường.  "Nhưng mà trước đó họ sẽ còn tra tấn dã man các cô đã! Tốt nhất là thú nhận tất cả, cho dù các cô chẳng làm gì. Khi đó thì họ sẽ đưa các cô đến một cái trại tù, nhưng mà các cô còn giữ được mạng sống."  

Một bà luống tuổi thì thầm với chúng tôi:  "Có thể họ sẽ dùng điện tra tấn các cô. Hãy ngậm một cái khuy áo bằng xà cừ giữa hai hàm răng, như vậy đỡ đau hơn".  

Ngọt và tôi im lặng gật đầu. Chúng tôi vội vã lục tìm trong những chiếc áo chẽn của mình và mọi người gỡ được một chiếc khuy. 

Lại một lần nữa tôi nhận biết được rằng con người ta đủ khả năng làm những gì và họ có thể tàn nhẫn đến mức độ nào. Những con người buổi tối có thể sống hoàn toàn bình yên bên cạnh chúng ta, sau khi ban ngày họ đã hành hạ những người khác đến chết. Những con người như bạn và tôi...  

Cái nhìn vào địa ngục

Ngày hôm sau cánh cửa phòng giam chúng tôi vẫn đóng kín, song đôi lúc chúng tôi nghe bên ngoài hành lang tiếng cười của những người hành hạ chúng tôi. Hơn một nửa những người bị giam cầm còn đứng thẳng được, số còn lại nằm trên nền nhà, kiệt sức. Mấy người đã tắt thở đêm qua vì kiệt sức và đau đớn.  

"Họ phải đưa những người chết này ra ngoài", một người đàn ông bỗng nói khi phát hiện ra điều này.  "Chúng ta hãy gọi họ đi!"  

"Đừng làm thế!", tôi gào lên.  "Nếu chúng ta gọi thì họ sẽ lại tra tấn chúng ta! Hãy để mấy người chết ở lại đây..." Mấy người khác đồng ý với tôi. Nhóm chúng tôi xê dịch một chút, ba người chết được xếp chồng lên nhau ở trong góc.

Thật ghê rợn khi những người chắc chẳng còn sống được bao lâu nữa lại dùng những xác chết kia làm ghế băng.  

Môi chúng tôi khô cứng, chúng tôi cũng chẳng thể đi tiểu được nữa. Đầu chúng tôi trống rỗng. Tôi cố tình nhắm mắt lại, hy vọng là có dòng suy nghĩ nào đó dễ chịu hơn đến với tôi, nhưng mùi đòn tra tấn đọng lại làm tôi ngứa ngáy trong mũi và lại đưa tôi trở về thực tại.  

Mãi rồi đêm cũng đổ xuống, mang cho chúng tôi bóng tối và thêm hai người chết nữa. Khi trời mờ sáng, chúng tôi nghe tiếng chân nặng nề bên ngoài hành lang đang đi lại phía chúng tôi. Ngay lập tức Ngọt và tôi đưa chiếc khuy áo xà cừ vào miệng và giấu dưới lưỡi. Tôi có cảm giác rằng ngày hôm nay lại đến lượt chúng tôi. Tôi căm tức là mình đã đoán đúng. Và cánh cửa được mở ra.  

"Mày! Mày và mày!", người đàn ông gào lên và chỉ vào người phụ nữ đang mang thai, Ngọt và tôi. Tôi lại được đưa vào căn phòng chỉ có một mình. Da tôi ướt đẫm và tôi tưởng như tôi không còn cảm giác gì trên thân thể mình nữa. Người ta bắt tôi cởi trần và nằm xuống chiếc ghế dài ở giữa căn phòng. Các điện cực được kẹp vào đầu vú tôi. 

Tôi không biết rằng thời gian lấy cung đã trôi đi bao lâu. Tôi hoàn toàn tập trung vào việc ngậm chiếc khuy áo vào giữa hai hàm răng để chịu đựng tốt hơn những nỗi đau kinh hồn do điện giật. Có lần tôi cắn mạnh quá làm cho chiếc khuy áo của tôi vỡ đôi. Tôi sặc sụa ho. Khi tôi ngắt cơn ho, người tra tấn bắt tôi đứng dậy. Hắn ta dùng chân đạp mạnh hết sức vào ngón chân cái đang bị thương của tôi. Tôi mong muốn có thể khai được điều gì đó, nhưng tôi chẳng có gì để thú nhận.  

"Bao giờ sẽ chấm dứt đây?", tôi tự hỏi. Tôi thực tình muốn chết. Khi linh hồn tôi bỗng rơi vào một cái lỗ đen sâu thẳm, tôi tưởng rằng đã đến lúc mình ra đi. Bóng tối sẽ giải phóng tôi khỏi tội lỗi duy nhất của mình là: vẫn còn đang sống trên đời.  

Sức mạnh của ý chí

Mấy giờ sau tôi lại mở mắt ra. Đầu tôi gối trên đùi Ngọt. Người ta đã trả tôi về phòng giam. Không phải là nỗi đau thân thể do bị hành hạ làm cho tôi trào nước mắt mà vì sự xác nhận rằng mình vẫn chưa chết.  

Ngọt nhìn vào mặt tôi để tìm một cử động, có thể là một dấu hiệu an ủi cô. Tôi đau đớn và kiệt sức, như tất cả mọi người ở đây.  

Tôi cố gắng gượng dậy. Ngọt đã mặc lại chiếc áo chẽn cho tôi. Bao quanh tôi chỉ toàn là những người trống rỗng, kiệt sức. Và bây giờ tôi biết chắc chắn một điều: lần tra tấn sắp tới chắc tôi sẽ phải đầu hàng, chỉ để mà trốn tránh sự đau đớn kinh khủng này! Phải có một điều gì đó xảy ra. Tôi bỗng đi tìm một vật gì đó, một vật gì bằng kim loại hoặc tương tự. Tôi vội vàng sờ nắn khắp người Ngọt và nghe cô kêu toang lên: chúng đã dùng roi đánh bật máu khắp lưng cô. 

Tôi tìm thấy trong túi quần tôi một đồng xu. Tôi nghĩ ngay đến bố tôi và việc ông chế tạo những dấu tên nhọn. Không một lời giải thích với Ngọt, tôi bắt đầu mài đồng xu xuống nền nhà trước ánh mắt đầy ngạc nhiên của cô, bởi vì tôi đã lại cảm nhận trong tôi sức mạnh của hy vọng. Tôi chẳng còn gì để mất, chỉ có thể giành giật tất cả!  

Tôi mài đồng xu mài cho tới khi nó sắc như một lưỡi dao cạo râu. Sau đó tôi bảo Ngọt đứng tựa vào tường để tôi leo lên vai cô, mặc dù cô còn rất đau. Với lưỡi dao sắc tự tạo, tôi gần như dễ dàng cắt được miếng kính cửa sổ. Khí trời oi ả nhưng dễ chịu ùa vào. Tôi đã có thể nhìn ra tận ngoài đường cái đằng sau bức tường chắn lớn. 

Những tù nhân cùng trong phòng tôi cũng cảm nhận được luồng gió. Buổi tối, tôi đứng hằng giờ trên lưng cô và chờ đợi một điều diệu kỳ. Không có gì xảy ra cả. Trời tối đổ xuống quá nhanh, chúng tôi mệt mỏi và lại phải ngồi xuống. Song chúng tôi không thể nhắm mắt được. Tự do trong tầm tay rồi, mặc dù tôi biết rõ là đây sẽ là bản án tử hình đối với chúng tôi, nếu kế hoạch của tôi không thành công.  

Khi có con gà trống cất tiếng gáy, tôi lại trèo lên vai Ngọt và chờ cho tới khi thấy bên ngoài có gì đó chuyển động. Thời gian cứ thế trôi đi. Bỗng nhiên tôi nhìn thấy ở ngoài đường, bên ngoài bức tường chắn, có một tốp lính lê dương đang hành quân. Bằng vốn tiếng Pháp của tôi, tôi cố gắng gào to tưởng vỡ cả lồng ngực:  "Hãy thương hại! Thương hại! Cứu giúp! Chúng tôi "con gái" bị giam ở đây! Không ăn! Không uống! Đau nhiều lắm! Cứu giúp! Các anh lính! Giấy tờ ở nhà! Cứu giúp!".

Quả nhiên là những người lính lê dương dừng lại và họ phát hiện ra tôi. Một người lính công kênh một anh khác lên để người này nhìn được qua tường. Người này bắt đầu kêu lên để hỏi tôi. Anh muốn biết có bao nhiêu người bị giam ở chỗ tôi. Tôi trả lời ba mươi, vì tôi không nhớ từ hai mươi là gì.  

"Chúng tôi sẽ quay lại ngay!", anh ta kêu lên với tôi, và những người lính rời đi theo hướng mà họ đã tới. Có lẽ giờ đây chỉ tính bằng phút thôi. Liệu người ta có giải thoát cho chúng tôi?

Ngọt nằm run rẩy trong vòng tay tôi. Tôi khẩn thiết cầu khẩn Trời và tất cả Tổ tiên của tôi, những người tôi biết và cả những người tôi không biết...  

Không lâu sau chúng tôi nghe giọng đàn ông, những tiếng gọi và tiếng chân đi ngoài hành lang và đang xích lại gần. Tim chúng tôi tưởng chừng như ngừng đập. Ánh mắt của chúng tôi chỉ còn hướng về phía chiếc cửa thép này và có người đang mở nó từ bên ngoài. Chỉ mãi tới khi nghe giọng của một người lính Pháp vang lên một cách sửng sốt "Nom de Dieu!"  (Khốn nạn!), chúng tôi mới hiểu được rằng: giờ đây sự cứu giúp chúng tôi mới tới!  

Giấy tờ hay là chết!

Rất đông lính lê dương dùng vũ lực ùa vào tòa nhà và chĩa súng vào những người gác và những người tra tấn chúng tôi. Tất cả tù nhân được đưa ra hành lang. Những người quá mỏi mệt lại nằm bệt xuống nền lạnh ngắt, Ngọt và tôi thì đứng thẳng.  

Người chỉ huy của tốp lính lê dương, một viên đại úy, là một người cao to lực lưỡng, tóc đen nhánh, cằm cứng rắn. Một người Việt của họ làm công việc dịch.  

"Tại sao những người này lại bị giam ở đây?", viện sĩ quan hỏi.  

"Họ là những kẻ phản bội, lũ tay sai của Việt Minh", người mặc thường phục đã tra tấn tôi trả lời. Giọng hắn ta nghe hoàn toàn bình thản, tưởng chừng đây là điều đương nhiên.  "Còn hai người này?", viên sĩ quan hỏi tiếp, ngón tay chỉ vào Ngọt và tôi. 

"Họ không có chứng minh thư. Cũng là tay sai, chắc chắn vậy!", hắn nói, và tôi thấy hắn đã nuốt nước bọt. Tôi có cảm giác hắn đang thấy bất an. Viên đại úy suy nghĩ một lát.  "Các cô có giấy tờ không?", ông ta hỏi chúng tôi với giọng bình tĩnh. Rõ ràng chỉ trong trường hợp này rằng ông ta mới có thể biện minh cho sự can thiệp của mình.  

Ngọt như bị cấm khẩu, người vẫn chưa hết run.  

"Chúng tôi quên giấy tờ ở nhà. Trong túi xách của chúng tôi...", tôi lắp bắp một cách vội vàng.  

Ông ta cũng hỏi những tù nhân còn lại xem họ có giấy tờ không, tất cả đều nói là không. Họ lại bị đẩy ngay lập tức vào phòng giam tăm tối một cách không do dự. Không ai nói một câu gì và cũng không ai kháng cự. Những người này đã chấp nhận số phận của họ và cuộc sống của họ chừng như đến đây là kết thúc. Cánh cửa sắt đóng sầm lại sau lưng họ. 

"Một người của tôi sẽ mang ngay túi xách của các bà tới đây, thưa các quý bà", viên sĩ quan nói và khẳng định với chúng tôi điều đó. 

Hơn một giờ đồng hồ trôi qua, người mang đồ quay trở lại, mặt nóng bừng, tay cầm cả hai chiếc túi xách.  

"Đây, xin mời. Tôi đã thấy giấy tờ", anh ta nói như thở không ra hơi. Mọi "thủ tục" được giải quyết nhanh chóng. Người tra tấn tôi lướt nhìn qua chứng minh thư của chúng tôi và lẩm bẩm:  "Đây là một sự nhầm lẫn...". Hắn nói câu đó mà không hề có lời xin lỗi và cũng không dám ngẩng mặt lên nhìn chúng tôi. Nhưng mà chúng tôi đã được tự do!  

Viên đại úy nhất thiết muốn dùng xe Jeep của ông đưa chúng tôi về nhà. Chúng tôi thật nhẹ nhõm nhìn thấy căn nhà của mình.  

Món nợ

Chúng tôi chân thành cảm tạ những người đàn ông. Viên sĩ quan đưa tôi đến tận cửa và chờ cho tới khi Ngọt vào nhà để xòe bàn tay rộng bè nắm lấy vai tôi. Tay kia ông ta nâng nhẹ cằm tôi lên:  "Tôi đã cưu mang cô, cô bé của tôi. Cô nợ tôi đấy nhé..." Với cảm giác chiếm đoạt, ông dùng tay vuốt lên mái tóc còn hôi rình và dính dấp của tôi.  

"Vâng, tôi xin cảm tạ ông, từ trái tim mình, thưa ông", tôi trả lời một cách luống cuống và cúi mình.  

"Tối hôm nay tôi sẽ qua đây. Nếu một trong hai cô chờ tôi ở đây thì tốt. Cô hiểu chứ?", ông ta nói tiếp. Tôi gật đầu mà không trả lời ông ta, và ông ta để tôi đi. Tôi đóng nhanh cánh cửa phía sau lưng mình. 

"Em không thể tin được, Loan! Chúng ta được tự do rồi! Chị đã thắng lợi", Ngọt nói và nhảy cẫng lên vì vui sướng.  "Nhưng mà chị làm sao thế? Chị làm sao?" Cô hỏi tôi khi thấy tôi đứng đó, vô cảm, mặt tái nhợt.  

"Tối nay em phải để chị ở một mình," tôi nói và cố gắng để giọng nói của tôi nghe bình thường như có thể.  "Hôm nay em ngủ ở quán. Em hiểu không? Chị xin em, hãy nghe lời chị!", tôi kết thúc câu nói một cách khắt khe và đổ mình xuống giường, mắt nhắm nghiền, tuyệt vọng. Cơn ác mộng thế là vẫn chưa chấm dứt. 

Ngọt không nói gì, không hỏi gì. Cô đi tắm và thay quần áo sạch. Cô nhẹ nhàng ra khỏi nhà và còn dừng lại trước cửa, ánh mắt đầy thất vọng và thắc mắc liệu mình có làm điều gì sai không. Tôi khổ sở gượng cười:  "Chỉ đêm nay thôi, Ngọt. Ngày mai rồi mọi việc sẽ tốt hơn". Cửa đóng lại. Tôi không khóc nổi. Tôi là người đã sợ hãi trước khi bị tra tấn! Ý đồ cắt kính cửa sổ là của tôi! Và ai đã kêu cứu? Và như vậy tôi đã mắc nợ người đàn ông đó. Và như thường lệ trong đời, có nợ thì phải trả!  

Ngọt là cô gái còn trinh, tôi biết điều đó, ngược lại tôi là người phụ nữ đã mất danh giá. Tôi chuẩn bị để trả món nợ của mình bằng đồng tiền có giá trị duy nhất trong giờ phút này, bằng tấm thân của tôi. Tôi tắm rửa một cách từ từ và thận trọng, hàng tiếng đồng hồ và lưu tâm tới bàn chân đau đớn của tôi giờ đã được băng bó sơ sơ. Tôi vẩy một chút hương hoa hồng lên làn da mịn màng và mái tóc đã được chải kỹ của tôi. Tôi mặc một chiếc áo dài nhung the màu đỏ sẫm, hy vọng sẽ làm hài lòng người đàn ông đã cứu mạng sống chúng tôi.  

Rồi tôi cũng chuẩn bị xong và chờ đợi. Nhịp tim tôi đập hòa với tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ báo thức lớn để trên chiếc bàn con bên giường ngủ. Khi một bàn tay đàn ông rộng bè mở cửa ra thì tim tôi tưởng chừng như ngừng đập.  

Chỉ có bóng đêm làm chứng cho sự khuất phục của tôi. Tôi buộc phải tỏ ra hạnh phúc khi ông ta đè lên người tôi, và trong suy nghĩ rằng mình làm vậy để cứu danh dự của người bạn gái thân nhất.

Ông ta dậy trước khi trời mờ sáng. Tôi không động đậy và làm như vẫn ngủ để không kích thích thêm sự đòi hỏi ở ông ta. Ngay cả khi ông vuốt tóc tôi cũng vậy. Cửa đóng lại. Nó đã để lại cho tôi kỷ niệm với một người đàn ông, một kỷ niệm không hận thù, một dấu vết, tôi biết điều đó, chẳng mấy chốc sẽ thành hình hài trong bụng tôi.  

Chúc may mắn!  

Mặc dù Ngọt mường tượng được điều gì đã xảy ra, nhưng cô không hỏi và tôi cũng biết ơn cô về việc đó. Bản thân tôi cũng ngạc nhiên vì tôi vẫn còn đủ nghị lực để sống. Biết bao lần tôi đã tuyệt vọng khi để cho những sự kiện trong dòng đời của mình chạy ngược lại trong ký ức. Chỉ một trong hàng ngàn sự kiện đó thôi cũng đủ làm cho tôi có thể kết thúc cuộc đời này. Nhưng vào những thời điểm đó tôi thường có đủ lý do để không làm điều đấy. Chẳng là có lần ông Hương đã nói với tôi: "Cả con cũng sẽ còn nhiều lần bị vấp ngã, nhưng mà ông tin chắc rằng con sẽ luôn đứng dậy và đi tiếp". Chẳng là cô Bè hồi đó có nói với tôi rằng tôi cần phải sống tiếp để còn kể những chuyện đã trải qua? Tôi đã nhận thức được rằng đúng vào những thời điểm cần thiết thì luôn có những người thích hợp được đưa đến với tôi để chế ngự số phận của mình. Như vậy tôi thật sự không thể dừng tin vào điều tốt trong cuộc sống. Điều đó an ủi trái tim bị dằn vặt của tôi.

Có những tốp phụ nữ từ vùng châu thổ trên đường đến Hà Nội thường dừng chân tại Gia Lâm để cung cấp hàng hóa cho dân và các cửa hàng. Họ đi chân đất, lang thang nhiều ngày ở đây, chiếc nón quê che những mái tóc dài đen bóng rũ trên chiếc áo nâu sòng, ở cạp quần đen họ đeo một chiếc thắt lưng bao bằng vải màu xanh nhạt. Hai chiếc thúng chứa đầy hoa quả và rau ở hai đầu đòn gánh nhún nhẩy theo nhịp chân đều đặn và êm như ru của họ. Tôi đã chấp nhận mang trong mình một đứa con và việc bắt đầu mang thai làm da tôi căng bóng, sắc đẹp thêm mặn mà. Việc kinh doanh của chúng tôi cũng rất trôi chảy. 

Rồi điều gì phải đến cũng đã đến. Ngọt yêu một anh lính Pháp trẻ. Anh ta cũng tỏ ra rất yêu cô. Cả hai đều coi nhau là thần tượng. Họ nhanh chóng đính hôn. Tôi mừng vô cùng vì thấy cô hạnh phúc. Hy vọng rằng người đàn ông này sẽ chăm sóc tốt cho cô như tôi đã làm từ trước tới nay! Trong thâm tâm tôi cảm thấy nhẹ nhõm vì Ngọt đã có một người bảo vệ cô; một chút sức lực còn lại tôi sẽ dành cho đứa con tôi, như vậy sẽ tốt hơn.

Một chiều Ngọt thông báo cho tôi với đôi mắt ngời sáng, hai người họ sẽ vào miền Nam. Khi chia tay Ngọt khóc vì cả hai chúng tôi. Cô đã quyết định đi theo tiếng gọi tình yêu lớn của mình, và tôi có thể hiểu rất rõ điều đó. Không biết rằng có dịp nào đó chúng tôi lại được gặp nhau hay không. Cô rời đi trên thùng một chiếc xe quân sự, trong vòng tay của người mình yêu nhất. Tôi giơ tay vẫy theo họ, mặc dù bụi từ lớp xe đã lắng xuống nhưng tôi vẫn còn đứng đó khá lâu. Tôi hy vọng không bị ngã quỵ dưới gánh nặng của nỗi buồn. Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy cô.  

Thế lực của đồng tiền

Sau đó không lâu, tôi thuê một căn nhà nhỏ, ấm cúng, xây bằng gạch kiên cố và có mái tôn, vẫn không xa bãi lầy và đường xe lửa. Một túp lều nhỏ sát đó cũng được tôi thuê cho những cô giúp việc của tôi. Nỗi nhớ nhung những người bạn gái dày vò tôi mỗi lần tôi một mình từ chỗ làm trở về nhà. Chúng tôi đã cùng nhau chịu đựng va nếm trải nhiều, vậy mà giờ đây tất cả họ đã biến mất khỏi cuộc đời tôi, và tôi thấy thiếu vắng họ. So với những tình bạn của tôi, thành đạt trong kinh doanh không có ý nghĩa gì nhiều, đó chỉ là một sự thoả mãn.  

Tiền chỉ là phương tiện để đạt mục đích, ngược lại tình bạn là một điều gì đó quý giá, một món quà do Trời phú. Nhận thức này dần dần thế chỗ cho nỗi u ám của tôi bằng lòng biết ơn và hạnh phúc và giúp tôi có được can đảm mới. Can đảm để tiếp tục sống, can đảm vì đứa con mà tôi cảm nhận được nó đang đập mạnh trong bụng mình. 

Vào thời điểm này có năm cô gái làm việc ở chỗ tôi, trong đó có một cô hai mươi tuổi, góa bụa, vô sinh. Cô tên là Nguyễn Thị Cúc và chẳng bao lâu cô đã trở thành bạn gái của tôi.  

Một hôm tôi bất ngờ gặp trên đường phố ở Gia Lâm người phụ nữ đã cho cô tôi và tôi thuê nhà ở Hà Nội hồi đó. Hiền có hai đứa con nhỏ. Em gái trẻ và xinh đẹp của Hiền đi cùng với chị. Người chồng Việt Nam của chị là lính dù trong quân đội Pháp và mới bị bắt gần đây. Chỉ hôm sau, chị đã mất hết tất cả và phải ngồi ăn xin trên đường phố. Tôi thuê cho chị một túp lều nhỏ cách chỗ tôi không xa và lo cho chị hàng tuần lễ. 

Vào một buổi sáng, tôi nhìn thấy chị cùng với em gái rời đi trong một chiếc xe xích lô. Tôi cũng không suy nghĩ gì về chuyện đó, nhưng tôi bỗng có cảm giác kỳ lạ khi thấy chị quay về một mình.  

Trước khi đi làm, tôi ghé qua chỗ chị. Chị mở cửa cho tôi và khi hỏi em gái chị đâu thì chị không cầm được nước mắt.  

Chị không trả lời, chỉ lắc đầu, hai bàn tay tự đập vào mặt. Tôi hiểu được việc gì đã xảy ra.  "Chị đã bán nó! Hãy nói cho tôi bán cho ai và ở đâu! Ngay lập tức!", tôi ra lệnh cho chị.  

Giờ đây chị bắt đầu kể, với điệu bộ vô cùng xấu hổ. Chị đã bán em gái mình cho một nhà chứa lấy 3.000 đồng. Chị không dám nhờ tôi tìm việc làm vì tôi đã làm quá nhiều điều cho chị. Tôi để chị đứng đó với mấy đứa con đang khóc lóc, tôi cầm số tiền chị vừa nhận được, lấy thêm tiền từ trong chiếc rương nhà tôi và leo lên một chiếc xích lô để chuộc cô gái trở về trước khi mọi việc quá muộn. 

Tôi đã trả 3.500 đồng để chuộc cô gái về. Cô ta chưa bị làm sao. Cô gái quỳ xuống đất và hôn chân tôi. Khi về tới nhà, họ hứa với tôi sẽ kiếm tiền bằng cách khác. Họ cũng đã kiếm được việc làm lương thiện. Một bà già láng giềng lo trông hai đứa trẻ vào ban ngày.  

Thời đó thật quá đơn giản dùng tiền để định đoạt số mạng của con người.  

Vị khách ngồi trong góc 

Dần dần ngày tôi càng phục hồi về tinh thần và bằng khoản tiền kiếm được, tôi mua cho mình quần áo đẹp và nhiều đồ trang sức mà tùy hứng lúc nào tôi cũng có thể đổi được lấy đồ mới tại tiệm kim hoàn. Ở đây có vô số những đồ quý giá mà những người di tản để lại với giá bèo bọt.  

Đấy là tháng Tư 1954. Ngày càng có nhiều lính Pháp đến chỗ chúng tôi, nhiều người dự kiến sẽ được điều đến chỗ pháo đài Điện Biên Phủ.  

Từ một tuần lễ nay, cứ tối nào cũng vậy, có một người lính trẻ luôn ngồi ở đúng cái góc quen thuộc trong quán bar của tôi và nhìn tôi chằm chằm. Anh ta lúc nào cũng trầm ngâm và trông có vẻ hoang mang. Trái ngược với những chiến hữu to mồm không lúc nào bỏ lỡ cơ hội để khoe khoang họ lại chinh phục được một cô gái, anh ta im lặng, bối rối một cách rõ rệt. Ánh mắt của anh ta gần như xin lỗi về thái độ của những người kia.  

Nhân viên của tôi thường cười anh ta vì anh ta nhút nhát và họ nói:  "Bây giờ họ đưa đến cho chúng ta cả trẻ con vừa mới ra khỏi nôi nữa!". Liệu anh ta bao nhiêu tuổi? Mười tám, có thể là mười chín? Anh ta không hút thuốc. Anh cũng không uống rượu và ngồi nhâm nhi chai nước ngọt duy nhất trong cả buổi tối. Cứ nửa giờ đồng hồ anh mới uống một ngụm, cả một buổi tối dài như vậy.  

Tôi cảm nhận được cặp mắt sáng của anh dõi theo từng cử chỉ của tôi, nhưng mỗi lần tôi nhìn anh thì anh lập tức nhìn xuống đất. Mặt anh đỏ rực và nhờ đó che lấp được trong khoảnh khắc vô số tàn hương trên mặt anh.  

Một buổi tối, tôi chuẩn bị cho mình một nụ cười đẹp nhất và đi đến chỗ anh. Tôi nói to:  "Này, anh lính, nếu đồ anh đặt chỉ có thế này thì chắc chẳng bao lâu nữa tôi sập tiệm mất!" Tôi vừa nói vừa chỉ vào cái cốc còn một nửa của anh.  "Xin lỗi bà, nhưng mà tôi không có nhiều tiền. Ở chỗ bà đây tôi có thể quên cái doanh trại đi một chút, bà có biết không." Anh cúi đầu xuống với vẻ hoàn toàn bối rối và nhỏ nhẹ nói thêm khi tôi đang định đi:  "... và bà là người phụ nữ đẹp nhất mà tôi từng gặp! Chỉ nhìn bà thôi tôi đã thấy hạnh phúc!".

Tôi sững sờ. Đó là điều tôi không hề mong đợi.  "Nhưng anh ta can đảm đấy", tôi nghĩ. Anh đã quên đi trong một giây cái nhút nhát của anh thường làm anh đỏ bừng mặt lên để dành cho tôi lời khen đó. Tôi cười vui vẻ với anh. Mặc dù tôi thực sự đã nhiều lần được nghe những lời khen, nhưng lời khen của anh làm tôi thoáng xúc động. Đó là những lời, như tôi cảm nhận được, đến từ trái tim.  

Trước khi vào bếp tôi bảo với Nguyên đang phục vụ khách: Nguyên, mang cho ông khách ở góc đằng kia một cốc nước ngọt mới nhe, của quán mời!". 

Marcel 

Hơi lạ là mỗi buổi tối tôi bắt đầu chờ người lính này. Anh ta tên Marcel và là hạ sĩ. Ở tuổi mười tám anh sang Việt Nam vào tháng Mười một năm ngoái, vào lúc hầu như chưa biết điều gì đã xảy ra ở đây.  

Marcel kể cho tôi nghe về cuộc đời của anh và việc anh đã mất đi người bố vào năm anh chín tuổi. Năm mười tuổi, anh được mẹ đưa vào một ký túc xá quân đội với tư cách là trẻ mồ côi do chiến tranh. Anh ở đó nhiều năm và rất ít khi được về nhà. Cuộc đời đã chỉ cho anh thấy, có một gia đình nhiều khi còn khó hơn là không có gia đình. Tôi quá hiểu điều đó ở anh!  

Tôi cảm thấy thương hại anh. Anh cũng là trẻ mồ côi, giống như tôi, cho tới nay chưa tìm được hạnh phúc ở trên đời này. Về ý nghĩa của cuộc chiến tranh anh hiểu quá ít, cũng như tôi. Những con người ở đây, như anh ta nói, đều đối xử tốt với anh từ khi anh đặt chân tới đây. 

Sau một vài tuần, anh hỏi tôi một cách bối rối và rất thận trọng rằng tôi đã có nơi có chốn nào chưa. Lúc này tôi quyết định cho anh một câu trả lời thành thật:  "Tôi đã có mang ba tháng với một người đàn ông mà tôi sẽ không bao giờ gặp lại nữa. Và tôi sống một mình".  

"Nếu như vậy và nếu cô muốn, tôi muốn được trở thành bạn của cô", anh trả lời tôi, vừa buồn bã, vừa đầy hy vọng.  

Tôi nhận lời. Chúng tôi trở thành bạn và sau đó thành một đôi mà không hề hứa hẹn gì với nhau và cũng không một lần nói với nhau hai chữ tình yêu. Vào thời điểm này đơn giản là tôi thích anh và như vậy đối với anh là đủ. Ngoài ra không ai trong chúng tôi biết rằng ngày tiếp theo sẽ mang lại điều gì. Tôi nghĩ rằng một ngày nào đó anh sẽ rời bỏ tôi. 

Trời mưa tầm tã mấy ngày, đường xá trong thành phố có những chỗ bị ngập. Chúng tôi phải chờ cho tới khi nước rút, cho tới khi đường xá lại khô dần và anh mãi mới có được những giờ nghỉ. Chúng tôi muốn cùng nhau đi xích lô sang bên Hà Nội. Ở bên đó anh chỉ biết mỗi doanh trại và bệnh viện Lannessan (Nhà thương Đồn Thủy), nơi anh thường xuyên hiến máu. Cho tôi lúc ấy, tôi chỉ cho anh xem chiếc hồ nhỏ xinh đẹp, những tòa biệt thự với những đại lộ đầy bóng cây tiêu huyền râm mát, dẫn về hướng Bạch Mai. Về phần anh, anh cũng kể cho tôi nghe về Tháp Eiffel ở Paris và về thành phố Tours quê hương của anh, nơi mà người ta, như anh kể, cũng trồng những cây tiêu huyền bên hè phố. 

Ở bên nhau chúng tôi quên đi mối đe dọa của cuộc chiến tranh không cho phép chúng tôi nghĩ đến ngày mai.  

Cuộc sống ngày qua ngày 

Mỗi một lần Nguyên lại hỏi tôi cũng như bao nhiêu người quen khác:  "Sao chị lại chọn người đàn ông này? Da anh ấy đầy tàn hương, anh ấy không có tiền và lại bệnh tật nữa. Và anh ấy chưa hỏi chị lấy một lần là chị có muốn sang Pháp cùng với anh ấy hay không".  

Vâng, họ có lý. Mặt và lưng của Marcel đầy tàn hương, nhưng mà tôi lại thấy điều đó đầy bí ẩn, cũng vì ông tôi hồi xưa cũng đã khẳng định rằng tàn hương là những đồng xu vàng chảy ra và mang lại hạnh phúc.

Về tiền mà nói thì chắc chắn tôi sung túc hơn anh ta, nhưng tôi không nghĩ đến tiền. Và cũng đúng là anh có bệnh. Cô giúp việc của tôi đã kể cho tôi nghe, có một hôm cô ta đổ bô thấy anh chảy máu và phân có giun. Nhưng cái đó cũng chẳng phải là điều gì lớn lao cả. Tôi nhớ tới những cây thuốc của ông tôi và nhanh chóng mua chúng ở chợ. Tôi nấu lên và cho anh uống thứ thuốc tôi pha chế - và anh đã nhanh chóng khỏe lại. Tại sao anh ta lại phải đưa tôi sang Pháp, nếu chính bản thân anh chưa biết rằng ngày mai mình sẽ ở đâu và cũng chưa thể chắc chắn rằng liệu mình có còn sống sót qua cuộc chiến tranh này không? Ngoài ra tôi cũng chẳng muốn đi khỏi chốn này. 

Và mỗi một lần tôi trả lời họ vẫn một câu giống nhau:  "Có lẽ trong đời này tôi phải làm một chút gì tốt đẹp cho một người nào đó chăng? Tôi chỉ muốn chăm lo cho anh ta." Họ lắc đầu và để cho tôi yên.  

Quan hệ của chúng tôi diễn ra hầu như trôi chảy.  Mỗi khi có điều kiện, Marcel chờ tôi ở quán bar đến khi tôi được nghỉ. Anh để cho tôi chăm sóc anh và nấu cho anh ăn. Tôi rất cảm động về việc có hôm anh bảo đưa tôi toàn bộ lương của anh, coi như là một khoảng bù đắp lại. Đương nhiên là mãi về sau tôi mới chấp nhận lời gợi ý đó. 

Trong mối quan hệ của chúng tôi luôn có những tình huống khôi hài do phong tục và ngôn ngữ khác biệt. Có một hôm, khi chúng tôi mới bắt đầu quan hệ với nhau, anh ấy giận dỗi về việc tôi nuôi một con gấu trong nhà và ở một số quầy người ta chào bán thịt chó bôi phẩm đỏ.  "Các người ở đây là quân mọi rợ! Các người ăn cả thịt chó!" Tôi không nói gì về điều đó. Riêng về con gấu thì một hôm tôi quyết định làm một việc thiện đặc biệt đối với nó, tôi cho nó uống một chầu lớn rượu vang đỏ. Không ngờ mắt nó đỏ lên. Con thú thường ngày hiền dịu giờ đây hoàn toàn hoảng loạn, nó nhanh nhẹn giơ hai chân trước, giương móng ra định vồ tôi. Khi tôi nhảy lùi lại, nó bèn trèo lên cây, leo cao tới mức căng hết xích, nó gào lên với tôi vẻ cực kỳ hung dữ. Khi con thú đã tỉnh cơn say, tôi bảo một người lính lê dương vốn muốn có con gấu đó mang nó đi.  

Một vài tuần trôi qua, vào một buổi tối anh bạn tôi trở về trong tình trạng bụng đói, tôi mời anh ta ăn hai miếng thịt rán rất ngon, đương nhiên là anh đã chén sạch. Khi tôi hỏi anh ấy ăn có ngon không thì anh ấy gật đầu hài lòng. Rồi tôi nói với anh:  "Thịt chó cũng ngon đấy chứ nhỉ! Bây giờ anh cũng là quân mọi rợ rồi đấy!"  

Tôi để anh ngồi đó và cười to đi vào bếp. Mãi về sau tôi vẫn còn thú vị về vẻ mặt anh lúc đấy.

Một lần khác, trong căn nhà của tôi, tôi chỉ về hướng chiếc tủ con bên giường ngủ và nói với giọng nghiêm nghị:  "Anh thấy không? Đấy! Nó chết rồi!" Anh bàng hoàng nhìn tôi và hỏi với giọng đầy lo lắng:  "Đã xảy ra cái gì? Ai chết?" Đến khi biết được rằng tôi ám chỉ cái quạt cây thì anh bắt đầu cười.  

Anh sửa cái quạt và tôi thấy rằng anh rất khéo tay. Tôi khen anh và kể điều đó với tất cả những người mình quen, từ đó anh nhanh chóng có tiếng là một người hùng sửa chữa đồ đạc ở chỗ chúng tôi. Rõ ràng là anh thích được khen và quên đi cảm giác bị coi thường, điều mà người ta đã luôn nhồi nhét vào đầu anh thời niên thiếu. Bằng cách đó chúng tôi đã hỗ trợ lẫn nhau: anh sửa chữa những đồ vật hỏng hóc, còn tôi thì dạy cho anh không cần sợ hãi trong cuộc đời, biết từ chối và sống với con người thực của mình.  

Đêm đêm, thỉnh thoảng Marcel bí mật trốn khỏi doanh trại đề về với tôi mấy tiếng. Anh đã phải quen với việc chăng màn chống muỗi và ngủ trên một chiếc phản gỗ cứng. Anh cũng không cảm thấy phiền toái nữa khi thấy mấy cái lỗ dùi bằng kim ở tấm giấy bồi tường ngày càng to ra để người ta có thể quan sát chúng tôi rõ hơn khi làm tình hoặc cô giúp việc đột nhiên kiếm cớ mang nước sạch vào cho chúng tôi. Ngay cả tiếng loa phóng thanh thông báo về máy bay bay trên bầu trời Gia Lâm, về việc tìm và tuyển dụng lính mới hoặc về những khẩu hiệu chống cộng sản, trước khi nhạc quân sự nổi lên cũng không cản trở chúng tôi trong khi tiến hành những sự vụ quen thuộc của mình.  

Có một lần có một chiếc trong số máy bay này lượn một giờ trên bầu trời vì, như tôi nghe được sau này, có một chiếc dù có bốn quả bom mắc vào chốt của bánh sau. Sau nhiều thủ thuật phức tạp, viên phi công đã tháo gỡ được chiếc dù cùng với những quả bom mà không để lại hậu quả gì nghiêm trọng.  

Không phải tất cả những chuyến bay kiểu đó đều diễn ra trôi chảy. Có một đêm có một chiếc máy bay tiếp tế rồi vỡ tan tành chỉ cách nhà của tôi vài trăm mét. Viên phi công đã nhầm hệ thống đèn của cầu Paul-Doumer (Cầu Long Biên) với đèn của đường băng.

Vì Marcel vẫn tiếp tục đến thăm tôi mà không được phép, có một lần anh bị phát hiện và bị tạm giam tám ngày. Tuy vậy tôi có quen một người lái xe thường đến quán bar của chúng tôi. Tôi nhờ người này, đương nhiên là phải đãi anh ta một vài chén để hàng ngày anh ta mang đồ ăn ngon vào cho bạn trai của tôi, những món ăn ngon miệng hơn nhiều so với đồ ăn căng tin của doanh trại.  

Tôi muốn để mỗi ngày qua đi đều là một ngày đáng sống đối với anh.  

Thư gửi cho tôi

Marcel không phải là người nói suông. Đương nhiên tôi nhận biết những đức tính tốt trong anh và anh thể hiện chúng bằng hành động. Quan hệ của tôi với anh càng gắn bó, khi một hôm anh chủ động tuyên bố rằng anh sẽ để đứa trẻ trong bụng tôi mang tên anh để cho nó có một gia đình. Anh muốn nhận nó làm con nuôi và sẽ lo mọi thủ tục.  

Chắc chắn là anh đã thông báo ý định này qua thư viết cho mẹ anh ở Pháp. Thư trả lời đến ngay tức thì. Anh chán nản cho tôi xem bức thư của bà, anh đọc chậm chậm và dịch cho tôi. Tôi nhớ một vài câu:  "Ý tưởng gì mà điên rồ thế, nhận một đứa con không phải là của mày, một đứa con hoang làm con nuôi! Con trai yêu quý nhất của mẹ ơi, hãy hiểu rằng người đàn bà đó chắc chắn là một con điếm, cũng như nhiều kẻ khác! Tất nhiên là mẹ hiểu con chỉ vui vẻ với cô ta, nhưng mà hãy quên đi! Con còn quá trẻ và còn có cả cuộc đời ở phía trước."  

Mặc dù tôi hoàn toàn không thể hiểu được tại sao người ta lại có thể lên án một người không quen biết theo cái cách như vậy nhưng tôi vẫn im lặng. Dường như ở Pháp cũng chẳng khác gì ở chỗ chúng tôi: ở đó người ta cũng có quyền tự do lựa chọn quyết định của mình. Mặc dầu vậy người ta cũng nên kính trọng người cao tuổi cho dù không nhất thiết phải nghe lời, bởi dù sao thì người đàn bà đó cũng đã ban tặng cho anh cuộc sống. Không có bà thì làm sao có anh bây giờ. Tôi an ủi anh như vậy.

Chỉ một vài ngày sau, một lá thư từ Pháp gửi tôi, nhưng lần này là gửi cho tôi. Tôi rất ngạc nhiên nhận được thư từ nước ngoài, tôi mở ra và nhờ Marcel đọc cho tôi nghe. Tôi không thể tin được những điều mà anh đọc cho tôi với giọng nhát gừng.  

Người viết thư này là viên sĩ quan, bố của đứa con tôi! Ông ta xin lỗi vì đã không cho tôi biết tin tức gì về ông. Hiện tại ông đang nghĩ phép trước khi được điều sang An-giê-ri. Bởi vì ông nghĩ rằng tôi đang bụng mang dạ chửa nên ông muốn nhận là bố đứa trẻ và muốn cưới tôi. 

Tôi rất bàng hoàng, cả anh bạn tôi cũng vậy.  Giờ đây bỗng có hai người đàn ông trong cuộc đời tôi, cả hai đều sẵn sàng để con tôi mang tên của họ. Tôi cân nhắc một lát rồi quyết định theo cảm xúc của mình và vào bếp lấy giấy bút.  

Với ánh mắt buồn thiu, anh bạn của tôi bắt đầu ngồi viết những gì tôi đọc cho anh. Tôi cám ơn người đàn ông về gợi ý của ông và thông báo với ông rằng giờ đây tôi đang xây dựng cuộc sống với một người khác, người đó cũng tuyên bố sẵn sàng nhận con tôi làm con nuôi. Có lẽ sẽ tốt hơn cho ông ta, nếu ông ta quên hẳn tôi đi.  

Marcel ôm chặt lấy tôi và nói:  "Cám ơn em!" Lá thư được gửi đi. Sau đó tôi không nhận được thư trả lời nào nữa.  

Trong vòng xoáy của chiến tranh

Thất bại thảm hại của người Pháp ở Điện Biên Phủ tháng Năm 1954 có nghĩa là Pháp trước hết phải rút hết quân đội ở miền Bắc và tiếp sau đó là ở cả nước. Một đường ranh giới tạm thời giờ đây sẽ chia cắt Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam. Việc đình chiến kéo dài hàng tháng trời, trong khi tại Giơ-ne-vơ diễn ra các cuộc đàm phán về khả năng hòa bình.  

Đương nhiên không khí bình yên chỉ là giả tạo. Mặc dù nhiều người, như tôi, sống trong ảo tưởng là hòa bình sẽ được lập lại, bởi vì người ta không bắn nhau nữa, nhưng hàng ngàn người mất hết gốc rễ lại chạy trốn. Họ chạy bằng máy bay, bằng tàu hỏa và tàu thủy, thậm chí chạy bộ vào miền Nam, nơi một người mang tên Ngô Đình Diệm được bổ nhiệm làm thủ tướng. 

Đặc biệt ở phố phường Hà Nội người ta cảm thấy một bầu không khí đe dọa âm ỉ. Người ta dùng hàng rào thép gai rào quanh những tòa nhà công cộng lớn và nhiều tòa nhà biệt thự được bảo quản chu đáo giờ bị bỏ không. Cả núi đồ gỗ choáng lộn, những bộ xa-lông khảm ngọc trai chất ở ven đường chờ người mua. 

Vào một ngày tháng Tám, những người lính Pháp đóng quân ở Gia Lâm, trong đó có Marcel, nhận được lệnh chuyển những chi tiết cầu về phía đông và tháo dỡ nhà kho tại căn cứ đóng quân này của họ để lắp ráp tại Cát Bi và Đồ Sơn, hai địa điểm gần Hải Phòng. Giờ đây bạn tôi đã ra đi mà không thể báo cho tôi biết chính xác anh ở đâu, còn tôi thì ở lại.  

Vào một buổi tối, khi ý định đi tìm anh đang lởn vởn trong đầu tôi, tôi thấy một người ngồi ở thềm nhà tôi. Tôi giật mình vì tôi đã nhận ra ngay lập tức người ngồi đó là ai: Hùng!  

Anh ta đã tìm thấy tôi! Tôi lờ anh đi và khi anh bắt đầu xin lỗi tôi, tôi cũng chẳng thèm nhìn anh và định đi qua. Anh ta quay lại, qùy khóc dưới chân tôi, túm lấy tà áo dài của tôi và van xin tôi đón nhận lại anh. 

Tôi gạt gót xăng đan vào mặt anh ta một cách khinh bỉ và bước qua người anh để vào trong căn lều. Tim tôi đập mạnh vì hồi hộp, nhưng tôi không sợ. Tôi chỉ cảm thấy giận dữ.  

Tôi còn nghe tiếng rên rỉ của anh hàng phút nữa, cho tới khi anh rời đi và biến khỏi cuộc đời tôi, lần này vĩnh viễn. Sự xuất hiện bất ngờ của anh ta khiến tôi phải nhanh chóng đi tìm Marcel.  

Câu chuyện ở sau bức vách

Phần lớn nhân viên của tôi quyết định ở lại, trong khi Nguyên và tôi muốn lên đường đi về hướng Hải Phòng, lần này đem theo một số đồ gỗ, tiền và đồ trang sức.  

Thật bột phát và đơn giản, chúng tôi vừa cười vừa vẫy một chiếc xe tải quân đội chở vật liệu vẫn còn chỗ trống trên thùng xe.  

Người lái xe vui vẻ cười đáp lại và dừng xe. Tôi hỏi người lái xe và những người lính xếp đồ lên xe cho tôi và đi cùng xem họ có quen một hạ sĩ quan có tên là Marcel không, và họ đều trả lời là không. 

Đến nơi giáp giới với Hải Phòng chúng tôi xin người tài xế cho xuống xe gần một cây cầu mà tôi biết. Tôi lại liều lĩnh mỉm cười và nhờ họ dỡ đồ xuống và xếp ngay ngắn cho tôi. Họ cũng làm việc đó! Trước khi họ đi tiếp, tôi chân thành cám ơn họ và dặn họ nhớ tới tôi nếu họ tình cờ gặp anh bạn trai như đã kể của tôi.  

Thời gian trôi đi không lâu, Nguyên và tôi đang ngồi trên đống đồ gỗ và tính toán xem giờ đây sẽ tiếp tục như thế nào đây, bỗng nhiên chúng tôi thấy chiếc xe tải vừa đưa chúng tôi tới đây chạy lại gần, ngồi sau vô lăng vẫn là người lái xe đó, bên cạnh là Marcel, anh vẫy tôi với nét mặt sáng ngời. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau. Ngay lập tức, anh kể cho tôi nghe về cái điều không tưởng đã xảy ra. Tại căn cứ Cát Bi, cách một cái chùa không xa, anh đang cùng với một số người lính khác dựng một tấm vách ngăn cao và dài thì chiếc xe tải đó đến. Những người trong xe tỏa đi các nơi, và người lái xe nói chuyện với một người đàn ông khác ở phía bên kia bức vách trong khi anh ta đang dỡ đồ từ trên xe xuống. Marcel tình cờ nghe được câu chuyện. Anh lái xe kể cho người đàn ông rằng anh chưa hề gặp một mụ đàn bà nào nhỏ bé và xấc xược như vậy, cô ta dám hỏi anh và những người đàn ông khác xem họ có dỡ toàn bộ đồ của cô và bạn gái của cô từ trên xe xuống được không rồi lại còn xếp ngay ngắn như cô mong muốn nữa! Nhưng cô ả là một người xinh đẹp, đúng là xinh thật! Và cô đang đi tìm người yêu của mình tên là Marcel. Khi nghe thấy tên mình, anh bạn tôi giật mình và, vẫn còn đứng sau bức vách, hỏi thật to, người phụ nữ đó trong như thế nào, có phải là cô ta rất bé nhỏ và lại đang có bầu nữa không.   

Và giờ đây anh đã đến và đang đứng trước mặt tôi!  

Tưởng như hòa bình lập lại...! 

Bạn trai tôi giờ đây chạy qua chạy lại giữa Gia Lâm, Cát Bi và Đồ Sơn trong khi những tốp lính Pháp cuối cùng dần dần rút khỏi miền Bắc. Nguyên và tôi dọn về ở hai căn hộ kề sát nhau ở ven Hải Phòng. Đồng thời tôi mở ngay gần đó hai quán nhậu, một chiếc tôi đặt tên là "Chez Jacquie", hai quán nằm đối diện và rất tiện đường cho những người lính.  

Khi tôi kể cho Marcel nghe về việc lại mở nhà hàng, anh nói rằng tôi điên. Đáng lý ra, như hàng trăm người Việt Nam khác, tôi phải chuẩn bị để di cư vào Nam, đến cái nơi mà chắc chắn là anh sắp được điều đến đó, trước khi quá muộn. Tôi đã không nghe lời anh. Cuối cùng thì anh có quyền gì mà quyết định về bản thân tôi. Anh không biết gì cả, tôi nghĩ như vậy. Tôi tin tưởng chắc chắn về hòa bình. Thời gian sẽ chứng minh rằng tôi có lý! Nửa cuối năm 1954 chúng tôi vẫn sống cùng với nhau, mặc dù bất đồng quan điểm.

Sau hai ngày dài đau đẻ với những cơn đau kinh người và tôi khi đó luôn gọi tên Marcel một cách tuyệt vọng, cuối cùng thì ngày Mồng Ba tháng Mười 1954, đứa con của tôi cũng chào đời trong căn nhà của Nguyên. Trong giờ phút khó khăn này Nguyên luôn ở bên tôi. Tôi sinh ra một cậu con trai, nặng hơn 4 kg làm tôi rách cả chỗ kín. Tôi rất yếu vì mất nhiều máu, phải nằm liệt giường hơn hai tuần lễ và lúc đầu tôi không có sữa cho con bú, điều đó làm tôi thấy rất bất hạnh.

 

Sân bay Gia Lâm, nơi cha của tác giả từng đóng quân một thời gian.  

Marcel mặc thường phục đến thăm tôi, và đứa trẻ. Khi thấy rằng tôi không thể cho con bú, anh đi vào phố để kiếm sữa cho đứa bé. Chuyện đó không phải là không mạo hiểm. Giữa đường bỗng nhiên anh bị cảnh sát Pháp chặn lại và cho rằng anh là kẻ đào ngũ. Anh đã trình giấy tờ và giải thích rằng vì sao anh lại đi ở đây. Họ đưa anh tới một cửa hàng để mua sữa. Nguyên giúp tôi giải quyết mọi thủ tục giấy tờ. Chúng tôi đã quyết định đặt tên cho đứa con trai là Marcel. Nó là một đứa trẻ tuyệt vời và tôi tin chắc rằng chúng tôi giờ sẽ có một cuộc sống hòa bình ở đây. 

Tự thân vận động 

Khi bình phục trở lại, tôi mừng vì có sữa cho con bú. Không lâu sau đó tôi lại đi làm. Ban ngày một cô trông trẻ chăm sóc thằng bé, trong khi một cô gái khác chịu trách nhiệm về việc nhà và lo nấu ăn.  

Tôi mua cho con tôi nhiều đồ trang sức, trong đó có cả một chiếc vòng đeo tay to bằng vàng già tuổi. Một hôm cô trông trẻ đánh cắp chiếc vòng để đem bán. Khi bị tôi phát hiện ra cô ta van xin tôi đừng trừng phạt cô. Tôi cảm thấy thương hại và cho cô một tháng lương để cô ra đi. Tôi thực tình chẳng quan tâm tới việc mình có nhiều thêm hay ít của cải hơn một chút. 

Con trai tôi là một đứa trẻ rất xinh xắn và khỏe mạnh. Có lần một người phụ nữ giàu có mời chào trả nhiều tiền cho tôi nếu tôi bán thằng bé cho bà ấy. Ở chỗ chúng tôi chỉ cần đập tay là đủ để tiến hành các thương vụ, thậm chí thương vụ loại này. Nhiều khi những chào mời như vậy cũng không phải là không hợp lý, nếu bố mẹ những đứa trẻ quá nghèo, bệnh tật hoặc kiệt quệ. Trong trường hợp đó họ phải gác tình cảm riêng tư lại vì hạnh phúc của đứa trẻ, hy vọng nó sẽ có một tương lai xán lạn hơn. Mua một đứa con cũng là giải pháp thông thường đối với những cặp vợ chồng không có con và như vậy họ đã đạt được một nguyện vọng lớn. Tất nhiên là đối với tôi không thể có chuyện đó. Việc người phụ nữ đó mời chào như vậy đương nhiên cũng làm tôi tự hào.  

Mỗi tối bạn trai tôi đến với tôi, anh ta chăm lo chu đáo cho đứa bé một cách đầy yêu thương, và tôi rất thích thú ngắm nhìn hai người. Khi đi ngủ, thằng bé luôn nằm trên chiếc sơ mi của anh, có hơi của anh và anh để chiếc áo lại cũng vì mục đích đó. 

Tháng Mười một đến đã nhanh chóng đưa tôi trở về với thực tế. Một buổi tối Marcel thông báo với tôi rằng ngày hôm sau anh sẽ phải bay cùng với đơn vị vào Sài Gòn. Anh đề nghị tôi chuyển vào Nam cùng với những người tản cư khác nhưng tôi từ chối. Tôi vẫn cương quyết giữ ý kiến của mình rằng không lâu nữa hòa bình sẽ đến và tôi phản đối chuyển rời khỏi miền Bắc. 

Đối với chúng tôi điều đó có nghĩa là giờ đây con đường của chúng tôi sẽ chia đôi ngả. Anh buồn bã chấp nhận quyết định của tôi. Chúng tôi sống bên nhau những giờ cuối cùng và sau đó chia tay nhau mà không hề hứa hẹn điều gì.  

Tôi để cho anh đi và tôi ở lại Hải Phòng, hoàn toàn phải tự thân vận động mà không có chút thất vọng hay cảm giác cay đắng nào. Tôi đã đủ tự tin và đủ tiền để cùng với con tôi chống chọi.  

Những ngày kinh hoàng

Đối với chúng tôi cuộc sống vẫn tiếp tục trôi đi. Sau đó không lâu tại Hà Nội, khi Việt Minh, phe người Việt thắng trận, thay chân những tốp lính của quân đội Pháp thì dường như số phận tương tự cũng được định đoạt cho Hải Phòng.  

Loa phóng thanh trên đường phố luôn phát những khẩu hiệu kích động. Ban đêm những bài ca yêu nước vang lên làm mất đi sự yên tĩnh lạ thường mới có sau chiến tranh.  

Vào một buổi sáng lúc đang chuẩn bị đi làm, tôi hãi hùng nhìn qua cửa sổ, thấy một tốp nam giới đang đá vào một thủ cấp đàn ông vừa mới chặt khiến nó lăn lông lóc. Đấy là thủ cấp ông thợ làm bánh ở góc phố, ông làm bánh mì baguette cho người Pháp và cũng là chỗ quen biết của tôi. Hai người trong tốp đàn ông dùng đòn gánh có quấn dây thép gai khiêng theo mấy thủ cấp nữa, cứ thế họ diễu qua phố và gieo rắc bao nỗi lo sợ, kinh hoàng. Tôi thấy lạnh hết sống lưng. Tôi phải làm gì đây? Nguyên muốn ở lại đây, cô tin rằng đó là điều tốt nhất. Còn tôi thì không còn chắc chắn nữa. Điều quan trọng nhất đối với tôi là được tự do, và không có cái gì và không có ai có thể hạn chế được sự tự do này của tôi. Tôi đã tranh đấu quá lâu vì điều đó!  

Vì vậy tôi phân vân, cho tới khi nhận được một bức điện của Marcel gửi từ Sài Gòn ra, trong đó anh viết rằng anh ốm lắm và nếu không có tôi chắc anh không qua khỏi. Nếu tôi không vào chắc chắn anh sẽ chết.  

Giờ đây tôi biết mình phải làm gì. Trong giây phút đọc bức điện đó tôi hiểu rằng số phận của tôi là phải ra đi. Trời đã gửi cho tôi thông điệp đó, để tôi phải đến với Marcel.

Ngay trong đêm đó, lúc 1 giờ, tôi buộc đứa con trai đang ngủ của tôi trên lưng. Tôi đánh thức Nguyên dậy để chia tay cô. Chúng tôi ôm nhau. Cô không hỏi gì và đứng ở cửa thật lâu nhìn theo tôi.  

Tôi mang theo giấy tờ của mình, tiền cũng như đồ trang sức và đi xe đến Cát Bi để từ đó tản cư trên chiếc máy bay của người Pháp chuẩn bị để vào Tân Sơn Nhất, sân bay của Sài Gòn. 

Như nhiều phụ nữ khác với những đứa con của họ, tôi chen chúc vào khoang chứa hàng của một chiếc máy bay vận tải, vài giờ sau, vào lúc rạng sáng, máy bay bay qua đường ranh giới. Bay cùng với chúng tôi có mấy người lính và qua lớp da bủng, mỏng như tờ giấy của họ, tôi biết rằng họ đã phục vụ thời gian dài ở Việt Nam, giờ đây họ nhìn chằm chằm vào khoảng không, có lẽ vì họ phải bỏ lại nơi đây một phần của mình, cũng giống như tôi vậy.  

Thì cũng chỉ là đàn ông thôi!  

Vừa hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất, tất cả chúng tôi được đưa vào một trại tị nạn với những chiếc lều lớn của Mỹ. Nhân viên của Tổ chức Y tế Thế giới bố trí để từng người mới được một y tá khám và tiêm chủng, trước khi một viên công chức trao giấy tờ cho họ. Nhiều người không được rời lều vì bị bệnh lao. 

Tôi thở phào nhẹ nhõm vì cả con tôi và tôi đều khỏe mạnh. Sau khi mọi việc xong xuôi và tôi đã nhận giấy tờ được đóng dấu và một cuốn sổ tiêm chủng, tay cầm bức điện tín, tôi hỏi thăm đường tới doanh trại, nơi mà chắc Marcel đang chờ đón tôi. Tôi mầy mò mãi và cuối cùng cũng tìm được anh.  

Người ta đưa anh ra từ một gian phòng lớn, nơi anh phải làm nhiệm vụ xếp dù. Trong anh xanh bủng và gầy yếu, anh đi về phía tôi và vô cùng vui mừng vì chúng tôi lại gặp được nhau, trước khi anh thú tội với tôi điều gì đã xảy ra với anh. 

Tình trạng sức khỏe của anh thật thảm hại, chẳng phải chỉ vì anh bị bệnh kiết lị mà còn vì anh đã ném toàn bộ số tiền lương của anh cho một cô gái giang hồ người Tàu và để rồi anh lại còn nhận được thêm bệnh lậu của cô ấy. Một qui định mới đã được ban hành, những người bị ốm vì bệnh sinh dục sẽ bị phạt ở mức tạm giam 30 ngày. Vì thế anh đã phải cố chịu đựng những triệu chứng kinh khủng này cho tới khi tôi đến mà không dám báo cáo.  

Anh bị thế cũng đáng đời, tôi thầm nghĩ. Nhưng đồng thời tôi cũng thương anh vì tôi đã để anh tự do và có thể nói là chúng tôi đã không chung sống với nhau nữa. Tôi quyết định tha thứ cho anh và chăm sóc anh. Mà rốt cuộc cũng vì anh mà tôi đã vào đây. 

Trước hết tôi tìm cho tôi một chỗ ở trong căn nhà gỗ tại Lăng-Cha-Cả, một khu dân cư gần sân bay giáp với Sài Gòn. Cho dù nó chẳng có gì là xa xỉ nhưng tôi mừng là tôi đã tìm được cho tôi và con tôi một chỗ ở sạch sẽ và không bị chuột cống lớn, vốn rất nhiều ở vùng này tấn công.  

Rồi tôi cùng với con trai tôi tới chợ Phú Nhuận ở gần đó mua bánh đậu, hoa quả và một số thảo dược cần thiết để về sắc thuốc cho bạn trai của tôi. Một tối, tôi đón anh từ doanh trại, nhiều ánh mắt ghen tị dõi theo chúng tôi kèm theo những tiếng huýt sáo lớn của một vài người lính. Tôi cho anh uống thuốc này và không lâu sau anh khỏe dần.  

Buổi tối thứ hai, khi anh được nghỉ tôi đưa anh đến một bác sĩ trong thành phố để ông tiêm cho anh liều thuốc cần thiết để trị căn bệnh kia của anh. Trước khi tiêm ông tỏ vẻ ngạc nhiên vì tôi có đủ cứng rắn để đưa một người bạn trai không chung thủy đến cho ông! Tôi chỉ biết nhún vai và cười mỉm. Tôi biết làm thế nào? Marcel cũng chỉ là một người đàn ông. 

Thành phố mới, luật chơi mới 

Tôi nhanh chóng tìm được việc làm phụ bếp trong một nhà hàng và được phép mang con tôi tới chỗ làm cho tới khi tìm được một cô trông trẻ. 

Sau khi bà chủ của tôi giảng giải cho tôi về cuộc sống ở thành phố mới này, tôi đã dễ dàng làm quen với nó. Sài Gòn hoàn toàn khác so với những thành phố khác mà tôi biết từ trước tới nay. Không phải chỉ có cuộc sống đầy sôi động mà nó còn giàu có hơn, lộng lẫy và hào nhoáng hơn. Thành phố này xứng đáng được mang tên:  "Hòn ngọc Viễn Đông".  

Tổng thống Diệm trị vì ở đây với sự hỗ trợ của người Mỹ, nhưng hình ảnh và không khí một thời của chính quyền thuộc địa Pháp trước kia, mặc dù đã thất bại, vẫn còn đậm nét nơi đây. Tại những khách sạn sang trọng trong thành phố những người được gọi là giới tinh hoa tụ tập uống một cốc Cognac-Soda để rồi trong đêm khuya vào những câu lạc bộ riêng kiếm cho mình những cô gái nhảy châu Á xinh đẹp nhất. 

Dọc theo vỉa hè đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi), một đường phố buôn bán sang trọng với nhiều mặt hàng xa xỉ, những chiếc xích lô đạp chân và xích lô máy đậu chờ khách. Bên cạnh đường phố sạch sẽ, thông qua những con kênh nhỏ hẹp, người ta có thể đến được những ấp và khu dân cư kế bên nằm sát vùng sình lầy.

Như tôi cảm nhận, Sài Gòn là một thành phố hiện đại và đường phố lớn, với những tòa nhà trụ sở chính phủ và biệt thự đẹp như trong mơ, những trường học, nhà thờ, nhà hát, viện bảo tàng, thư viện và những khu vườn pha trộn hài hòa với những ngôi đền cổ. Một tòa nhà bưu điện đáng tự hào được xây dựng từ thế kỷ trước theo phong cách của Tour Eiffel tranh đua với Nhà thờ lớn lộng lẫy của Thiên Chúa giáo. Cảng sông với những kè, những bến khổng lồ và xưởng đóng tàu thường xuyên có tàu hơi nước cỡ lớn ra vào, những tiếng còi tàu rú lên làm tôi tưởng nhớ tới Hải Phòng. Trải dài về phía Tây Nam là khu phố sinh đôi Chợ Lớn, nơi trước đây là cảng buôn gạo lớn nhất thế giới, một khu phố tập trung những nhà buôn cũng như những nhà đầu cơ tài chính đáng ngờ điều khiển đời sống kinh doanh ở đây. 

Khu ổ chuột bắt đầu ngay sát đó, nơi một bộ phận của dân thành phố sống trong những nhà thuyền hoặc những túp lều bằng tôn được nối với bờ sông bằng những tấm ván. Ở đây, những con chuột cống khổng lồ chạy hàng đàn. Ban đêm người ta rút những tấm ván vào trong túp lều để chống cướp. Nhiều khi có những người khách lạ, ví dụ khách hàng của gái làng chơi rẻ tiền sa chân xuống dòng nước thối hoắc. Nếu đi lạc vào ban đêm ở đây người ta bỗng nghe những khẩu hiệu hoặc những bài ca cộng sản vọng ra từ những chiếc loa làm cho lũ ễnh ương phải im trong khoảng khắc.

Ngoài ven thành phố có cơ ngơi của một số phái giáo, họ tự xưng là Hòa Hảo và Cao Đài. Phái giáo thứ nhất là một loại phong trào Phật giáo sẵn sàng dùng vũ khí để chiến đấu bảo vệ nền tư tưởng của mình. Phái giáo thứ hai tôn thờ cả Phật và Chúa Giê-su lẫn Victor Hugo và Khổng Tử vì tất cả họ đều được coi là những sứ giả chuyển tải các thông điệp của Thượng Đế. Trong thực tế những giáo phái này có rất nhiều quyền lực và kinh nghiệm cho thấy mọi người không nên tiếp cận với họ.  

Trong thành phố cũng có một băng đảng của những tên cướp đường sông chuyên cắt cổ người ta và đầy thù hận, gọi là băng Bình Xuyên và được chính quyền Pháp dung túng. Lực lượng cảnh sát cũng nằm trong tay chúng, và chúng làm giàu lớn bằng việc buôn lậu thuốc phiện và tổ chức cờ bạc, mại dâm và tống tiến. Chúng tùy tiện ra tay cướp bóc ở các làng mạc và để lại những dấu vết tàn bạo.

Tôi biết rõ những nơi tốt nhất là mình nên tránh xa. Nhưng mà không phải chỉ có những tên tội phạm này gây ra mối đe dọa. Một ngày đầu năm, tôi đi mua đồ tại chợ trung tâm. Tôi vừa đi ngang qua một người bị bệnh hủi ngồi sát bên gánh cá tươi vừa mới đánh được và ăn xin. Người đó giơ ra khuôn mặt bị biến dạng cùng với những ngón tay và ngón chân đầy máu me của mình. Tôi rất kinh hoàng. Bỗng nhiên có hai người lính đứng trước mặt tôi và cười khỉnh, nhìn vẻ bề ngoài có thể họ có gốc gác Ả-rập, họ chặn đường tôi và có vẻ khoái chí.

Tôi im lặng, không để ý đến thái độ của họ và muốn đi qua, và một người trong số họ gọi tôi thật to là "nhà quê!". Tôi đã không chần chừ, vì như lời ông Hương đã dạy cho tôi, chiến thắng trong một cuộc chiến nhiều khi là do yếu tố bất ngờ. Tôi tụt ngay một chiếc xăng đan có gót bằng gỗ cứng ra khỏi chân mình và ném thật mạnh vào đầu người đàn ông đã chửi bới tôi. Với chiếc xăng đan con lại trong tay và với nét mặt căng thẳng và giận dữ, tôi chờ đợi cuộc tấn công mới, nhưng nó đã không diễn ra. Những người đứng quanh tôi lặng im, chờ đợi, có những người ném ánh mắt giận dữ về phía những người lính.  

Hoàn toàn bất ngờ về phản ứng của tôi, hai người đàn ông đi tiếp mà không nói thêm một lời nào, chắc họ biết rằng nếu họ tấn công tôi, một người bản xứ trước mặt một đám đông như vậy thì chắc họ không tránh khỏi nguy hiểm cho chính sinh mạng của mình.  

Tôi nhặt chiếc xăng đan từ dưới đất lên và tiếp tục đi chợ mua đồ. 

- 3 -

 Trong mơ tôi thấy... 

Tháng Giêng 1955, bạn trai của tôi bỗng nhiên mắc bệnh vàng da. Tháng Hai, anh bay đến một bệnh viện phục hồi chức năng ở Đà Lạt nằm tại phía Đông Bắc. Người ta gọi Đà Lạt là "Thành phố của mùa xuân vĩnh cửu". Thời tiết quanh năm dễ chịu ở đây với nhiệt độ không khí hai mươi độ đối với người nước ngoài thật thoải mái so với những cơn nóng bức oi ả trong những vùng khác của cả nước. Nông trang chè và cà phê ở khu vực này càng làm tăng thêm vẻ đa dạng đáng yêu của những sắc màu nổi bật.  

Tôi đã thích ứng với cuộc sống mới của mình. Con trai tôi ngày càng lớn lên, sống hồn nhiên vui vẻ. Đêm đêm tôi nằm âu yếm con và ngủ ngon lành. 

Bỗng một đêm tôi mơ thấy bạn trai của tôi quân phục rách bươm đang đi lạc trong rừng sâu, bên cạnh anh có một con hổ đang định vồ anh ăn thịt. Anh đang gặp nguy hiểm! Tôi giật mình tỉnh giấc, người ướt đẫm mồ hôi và thấy bất an, tôi thức dậy và thắp hương khấn cho anh. Tất nhiên tôi không thể giải thích cho mình được giấc mơ đó, tôi biết rằng anh đang ở bệnh viện và ở đó anh không thể gặp nguy hiểm. Tôi khấn vái cả đêm và khấn cả tổ tiên tôi lẫn mẹ tôi để họ phù hộ cho anh sớm lành bệnh trở về với tôi.  

Cho tới ngày đã hẹn không thấy anh xuất hiện, tôi lập tức tới doanh trại để hỏi thăm về anh. Khi biết anh đã khỏe mạnh trở về tôi cảm thấy nhẹ nhõm hẳn. Tuy nhiên anh bị phạt giam tám ngày vì anh đã tự gây nguy hiểm cho bản thân mình.  

Tôi bình tĩnh chờ anh đến Lăng Cha Cả với tôi. Trông anh có vẻ hồi phục và anh kể lại cho tôi nghe điều đã xảy ra. 

Anh đi dạo chơi ở Đà Lạt, bên ven khu rừng rậm, và với bản chất hiếu kỳ, ưa mạo hiểm của mình, anh quyết định không đi theo con đường mòn có sẵn. Sau khi luồn lách một đoạn dài, anh bỗng trượt chân xuống một cái dốc sâu chừng hai mét, đường lên quá dốc và anh không thể leo lên được, vì vậy anh quyết định đi tiếp, hy vọng tìm được lối khác nhưng lại lạc trong rừng sâu. Cỏ voi sắc nhọn cứa rách làn da vốn nhạy cảm của anh ở nhiều chỗ. Không xa chỗ anh đất rung lên vì có đàn voi lớn chạy qua, dẫm nát cả những túm cỏ cao và lướt qua chỗ anh. Anh lang thang trong rừng cả một ngày mà không có nước uống. Vì hoàn toàn kiệt sức, anh không biết phải làm gì nữa và bèn ngồi xuống, bỏ mặc cho số phận định đoạt. Nhưng anh đã gặp may vì có một người thổ dân đi săn và phát hiện ra anh, người đó đưa anh về chỗ bộ tộc của ông. 

Ở đây phụ nữ mình trần chạy khắp nơi (và sau này anh mới biết rằng đàn ông nghiêm cấm không được sờ vào ngực của họ vì nếu làm vậy thì có thể bị giết chết). Tất cả những người dân trong bản đều hiền lành và vui vẻ, và họ cũng rất ngạc nhiên thấy một người lạ mắt màu sáng và da trắng. Họ cho anh ăn uống và ngày hôm sau, ngày mồng bốn tháng Ba, đúng ngày sinh nhật thứ hai mươi của anh, người đàn ông đã tìm thấy anh lại đưa anh về với "thế giới khác". Người dân bản xứ chỉ xin muối làm phần thưởng cho việc cứu anh vì muối đối với họ còn quý hơn vàng. Ông nhận được hai kí lô muối và vô cùng hài lòng quay lại hướng rừng sâu.  

Người ta định tuyên bố Marcel đã chết vì chưa bao giờ có một người nước ngoài sau nhiều giờ như vậy lại có thể sống sót từ rừng rậm trở về. Dù lúc đầu cấp trên của anh rất vui mừng thấy anh sống sót trở về, nhưng anh vẫn bị xử phạt với mức tạm giam tám ngày vì đã quá liều lĩnh và không chấp hành quy định.  

Hạt giống hy vọng

Giờ đây anh đã khỏe lại. Gần như hàng ngày, sau giờ nghỉ tôi vào khu trang trại quân đội để thăm anh và mang cho anh những món ăn anh ưa thích do tôi nấu, trong khi đó một bà láng giềng trông con cho tôi.  

Khi một trong những cấp trên của anh thường nhìn thấy tôi đến, ông gợi ý để tôi có thể ngủ lại chỗ Marcel để đỡ phải đi lại vất vả. Tôi cũng có nghe lời gợi ý của ông mấy lần. Nhưng khi ấp chúng tôi bị bọn cướp Bình Xuyên cướp bóc và tôi không có nhà, tôi quyết định không ngủ lại trong doanh trại nữa vì sợ rằng con tôi có thể gặp chuyện.

Sau đó không lâu một vụ việc nữa xảy ra buộc tôi đi đến quyết định phải nhanh chóng chuyển chỗ ở. Giữa ban ngày ban mặt, khi Marcel còn đang ở chỗ tôi, lính dù Căm-pu-chia đột nhập vào ấp chúng tôi và bắt dân chúng phải nộp rượu cho chúng. Khi một trong những tên tội phạm xông vào nhà chúng tôi, Marcel đứng dậy. Hắn dí dao vào bụng anh, anh vội giơ tay lên. Tôi vẫn bình tĩnh và nhanh chóng đưa cho hắn một chai Pastis và thế là hắn rời đi với vẻ hài lòng. Ngay ngày hôm sau tôi đã ở chỗ mới tại một khu phố tốt hơn.  

Những bức thư cuối cùng của mẹ Marcel cho thấy bà không thay đổi ý kiến về tôi. Tuy nhiên con trai bà muốn đưa tôi về quê hương anh và nhất định muốn cưới tôi ở đó.  

Anh nói với tôi trong khi xé bức thư cuối cùng của bà, từ giờ phút này trở đi tôi sẽ là vợ chưa cưới của anh, không có gì và không một ai có thể ngăn cản được điều đó. Tuy nhiên chúng tôi cũng biết rằng thời gian anh quay trở về Pháp đang xích lại gần. Tất nhiên khi về tới nhà, trước hết anh sẽ được hưởng một kỳ nghỉ phép xứng đáng.  

Anh nói làm tôi phải bật cười, rằng sau khi về nước, anh sẽ mua một chiếc xe Vespa và dùng nó để đón tôi từ Việt Nam. Anh còn trẻ và ngây thơ, nhưng phong cách nhiệt thành của anh, cách anh chia sẻ với tôi những giấc mơ và phá bỏ mọi quy tắc làm cho tôi thích thú.  

Dần dần, niềm hy vọng cho con tôi và tôi đang lớn dần trong tim. Tôi muốn trong đời tôi một lần được nhìn thấy tháp Eiffel! Cho dù chồng chưa cưới của tôi không nghĩ tới điều này một cách nghiêm túc thì tôi cũng sẽ bằng mọi giá đi tìm một cuộc sống mới ở nơi đó và sẽ sống bình yên với con trai tôi tại đó.

Mong muốn đó không phải chỉ mới nảy nở trong tôi. Có một hôm tôi đi mua sắm đồ và khi sắp về tới nhà, tôi gặp một người phụ nữ, chị ta cười vui vẻ với tôi làm tôi muốn bắt chuyện với chị. Chị tên là Ngọc và trẻ hơn tôi một tuổi.  

Ngọc sinh ra ở Hà Đông, một làng cách Hà Nội không xa, và ở cuối phố tôi. Nhận lời mời của chị, tôi bế con trên tay và đi cùng chị về nhà.  

Khi uống một chén chè, chị kể chuyện của mình cho tôi nghe. Chị cũng mất đứa con đầu với một người đàn ông Việt Nam. Sau đó người này bỏ chị. Chị lại có một đứa con trai với một người Pháp, thằng bé gần cùng tuổi với con tôi. Người này cũng bỏ rơi chị khi biết chị mang thai. Giờ đây chị có một người bạn trai mới, cũng là lính và anh sẵn sàng đưa chị sang Pháp, nhưng đương nhiên là không mong muốn kèm cái "đuôi". Chị sống ở Sài Gòn trong khi một người bạn gái, cách chị rất xa, đang nuôi con cho chị như chính con mình. Tôi cảm nhận được rằng chị rất đau khổ vì chuyện này khi chị ngắm nhìn con tôi với đôi mắt to đầy nhung nhớ và xin tôi cho chị bế cháu vào lòng một lát. Tôi đưa thằng bé cho chị bế và động viên chị ráng hy vọng một ngày nào đó bạn chị sẽ thay đổi ý kiến. Tôi cảm thấy thương chị.  

Vịt nóng

Là phụ bếp, bình thường ra người ta đâu có được nghiệm trải gì nhiều. Công việc hàng ngày chủ yếu tập trung vào nhặt rau, làm cá, thái thịt thành những miếng vừa mồm. Nếu xong việc thì tôi lại phục vụ ở quầy. Tôi không phải lo thêm việc gì khác.  

Có một người phụ nữ trẻ gốc Hoa cũng làm việc với tôi ở trong bếp. Như cô ta kể cho tôi, mẹ cô làm việc trong một nhà hàng ở Chợ Lớn. Cô này lo cả việc đi chợ mua thịt cho nhà hàng. Một hôm, với vẻ mặt vô cùng hồ hởi, cô đem về hai mươi con vịt chết để hai chúng tôi vặt lông trước khi quét phẩm. Tôi hỏi lý do vì sao sáng nay cô lại hồ hởi như vậy, cô trả lời tôi vì những con vịt. Cũng may là nó không "nóng"!

Tôi không cười vì chưa hiểu được ý nghĩa của câu chuyện tiếu lâm. Sau đó cô giải thích với tôi rằng "vịt nóng" là những con vật người ta dùng trong nhà thổ của người Hoa và vì vậy mà được đặt tên như vậy.  

Tôi cười cho phải lẽ, ra vẻ như mình đã hiểu để khỏi làm mất lòng cô, nhưng thật ra tôi chẳng hiểu rằng vịt trong thực đơn của chúng tôi và những con vịt "nóng" ở nhà thổ Trung Hoa thì có liên quan gì với nhau. Cô ta nhận ra điều đó và giải thích cho tôi. Người ta đều biết rằng những sĩ quan có điều kiện hơn thường kiếm cho mình những cô gái điếm đắt tiền nhất, trong khi đó những người có hàm thấp hơn thường phải mua vui tại nhà thổ quân đội khổng lồ "Parc aux Buffles", nơi có hàng nghìn cô điếm người Việt và Căm-pu-chia lăn xả vào họ khi họ vừa mới bước chân tới cửa. Tôi cũng được chồng chưa cưới của tôi kể rằng có cả gái Ma-rốc ngủ ngay trong doanh trại để thỏa mãn những người đàn ông trong tốp lính. Tôi tưởng chừng như đứt hơi khi nghe cô kể tiếp.

Trong số họ có một vài kẻ dị nhân, họ tìm kiếm và cũng đã tìm được những thú vui đặc biệt trong một số nhà thổ nhất định ở Chợ Lớn. Thú vui đặc biệt đó là kẹp mỏ những con vịt còn sống vào khe cửa và hành hạ chúng từ phía sau ở thế quỳ trong khi chúng giãy dụa. 

Chân chúng, trước đó đã bị tước hết móng, vùng vẫy đạp vào hòn dái người đàn ông để tìm đường thoát, làm cho người này càng thêm hưng phấn. Xong việc rồi con vật tội nghiệp lập tức bị giết chết, và sau đó tôi được phép đoán xem điều gì sẽ xảy ra đối với món thịt vịt ngon lành đó...  

Sau đó một thời gian dài tôi không tránh được cảm giác ghê tởm mỗi khi tiếp xúc với loài vịt.  

Nhân duyên

Quán chỗ tôi làm kinh doanh tốt. Tôi thích nhất là phục vụ ở quầy, nơi tôi có thể móc nối quan hệ trong khi phục vụ khách. Như một sự tình cờ đã được định đoạt, một hôm có một người đàn ông trẻ mà tôi quen biết từ trước ghé qua: đó là Jean, chồng chưa cưới của cô Sao A Mùng xinh đẹp. Ngay sau đó cô ta bước vào quán và vô cùng ngạc nhiên khi thấy tôi, rồi chúng tôi ôm chầm lấy nhau.  

Họ mời tôi một cốc nước ngọt và kể cho tôi nghe những gì họ đã nếm trải trong thời gian qua. Jean được điều vào miền Nam và đem theo người mình yêu nhất đi cùng. Ở đây, tại Sài Gòn, Sao A Mùng làm việc trong một cửa hàng sách. Cả hai khẳng định rằng một ngày nào đó họ sẽ rời khỏi nước này để xây dựng một tương lai hạnh phúc trên đất Pháp. Họ vẫn yêu nhau và quấn quít bên nhau như thuở nào. Tôi vui mừng thấy họ thần tượng hóa lẫn nhau. Jean muốn lo những thủ tục cần thiết. Khi tôi bày tỏ với Mùng rằng tôi cũng sống cùng với một người Pháp nhưng không biết làm cách nào để xuất ngoại, cô gợi ý với tôi rằng cô sẽ giới thiệu để tôi làm quen với một người bạn của cô. Chúng tôi hẹn nhau rồi tạm biệt. Ngày lại ngày, trong đầu tôi cứ luẩn quẩn cái lịch hẹn, người chỉ xưng tên một cách đơn giản là "ông Phan". Ông là một nhà học giả với kiến thức rộng. Từ ông tỏa ra một sức mạnh diệu kỳ, một uy lực mà tôi chưa bao giờ chứng kiến. Ông gần như tạo ra một ấn tượng rằng ông có một mối liên đới trực tiếp "Trời" khi ông chiếu ánh mắt vào tôi, dịu dàng và xuyên thấu. Ông tỏ ra biết nhiều điều riêng tư về tôi, mặc dù tôi chỉ kể rất ít với ông và ông tỏ ra thiện cảm với tôi. Thiện cảm này có được ở cả hai chúng tôi. Ông hứa sẽ hỗ trợ tôi về mặt tinh thần bằng cách ông sẽ cầu nguyện cho tôi và ông tin chắc rằng những lời cầu nguyện đó sẽ hiệu nghiệm và sẽ che chở cho tôi. Ông khuyên tôi cần làm ngay một cuốn hộ chiếu để có thể xuất ngoại và thông báo cho ông về từng bước tiếp theo. Sau lần gặp gỡ đầu tiên đó tôi cảm thấy mạnh mẽ lạ thường và cám ơn sự tình cờ bằng cách này đã đưa đường chỉ lối cho tôi.  

Bạo loạn trong thành phố 

Vẫn trong tháng đó, tôi và chồng chưa cưới của tôi đi xich lô máy đến công sở phụ trách để đệ đơn xin làm hộ chiếu cho tôi. Để làm việc này tôi cần phải có chứng minh thư và sổ tiêm chủng. Cả hai loại giấy tờ đó tôi đều giấu trong mình, dưới chiếc áo dài.  

Thành phố hôm đó gần như vắng người. Chỉ có mấy người đi xe đạp và chúng tôi trên đường phố. Khi vừa đi ngang qua Dinh Tổng Thống bỗng có hai tiếng nổ lớn làm rung chuyển cả chiếc xích lô của chúng tôi. Người lái xe kinh hãi, suýt mất lái, ông tắt máy và run rẩy xuống xe. Ba tiếng nổ tiếp theo, chắc đến từ phía sau của Dinh Tổng Thống.  

Chỉ cách chúng tôi vài mét, một người lính của quân đội miền Nam Việt Nam canh gác cửa vào Dinh chĩa tiểu liên về phía chúng tôi và sẵn sàng nhả đạn. Anh ta đang tìm nguồn gốc nơi phát ra tiếng nổ. Marcel giơ tay lên và tỏ ra bình tĩnh, tôi cũng vậy. Người lính gác soi mói nhìn chúng tôi một lát rồi ra hiệu cho chúng tôi đi. Chúng tôi cũng lập tức đi khỏi đó.  

Giờ đây chỗ nào người ta cũng bắt đầu nổ súng. Chúng tôi quyết định nhanh chóng quay trở lại, trước hết đưa tôi về nhà và sau đó đưa chồng chưa cưới của tôi xuống chỗ doanh trại. Nhiều ngày trôi qua, gần như mọi người đều ở trong nhà vì trong thành phố đang hỗn loạn.  

Những người theo giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo liên kết với băng Bình Xuyên để tấn công Dinh Tổng Thống. Từ sau vụ nổ ở Sài Gòn thường diễn ra các trận chiến khốc liệt trên đường phố. Sau nhiều ngày đánh nhau, những nhóm quân này đã bị quân đội của Tổng Thống Diệm đánh bật ra khỏi thành phố. Vụ nổ đó làm cho dân chúng ngày càng cảm thấy bất an hơn. Những dòng người, trong đó có cả những người nông dân đơn thuần, bắt đầu di chuyển ra hướng Bắc vì ở trong Nam họ cũng không được hưởng hòa bình. 

Mấy ngày sau Marcel đến thăm tôi vào một buổi sáng, lần này cũng không xin phép, đến cùng với tôi đến "trụ sở cảnh sát" gần Nhà thờ lớn. Trên đường đi xich lô tôi thấy ở chỗ trước đây còn nhà cửa thì giờ đây chỉ là những đóng tro tàn lớn.  

Khi đến cửa tòa nhà cảnh sát, chúng tôi không thể nhích chân thêm một bước nào để tiến về phía cửa, có quá nhiều người đứng ở đây. Tất cả đều gào thét xin xỏ các thứ giấy tờ và xô đẩy, chen lấn với hy vọng là bằng cách này sẽ nhanh đến lượt mình. Chúng tôi chỉ biết đứng đó, ngạc nhiên và bất lực.  

Ngôn ngữ của đồng tiền

Tôi cảm thấy vô vọng. Nhưng Marcel nắm chặt tay tôi và dùng sức để chen lấn lên phía trước, cho tới khi chúng tôi đứng dưới một chiếc cửa sổ lớn. Có lẽ vì anh là người nước ngoài duy nhất trong đám đông nên viên công chức quan sát đám đông bên ngoài cửa kính đã phát hiện ra anh.  

Người đàn ông mở cửa sổ và kéo anh vào trong với sự trợ giúp của một đồng nghiệp. Họ hỏi anh muốn gì ở đây và khi nghe anh kể rằng anh đi cùng với vợ chưa cưới vì vợ anh nhất thiết cần một cuốn hộ chiếu, khi đó họ ra lệnh cho đám đông đang phản đối dữ dội phải nhường đường cho tôi vào. Viên công chức tiếp chúng tôi cực kỳ lịch thiệp và vui vẻ. Chúng tôi được phép ngồi để điền tờ khai. Nhưng tôi còn thiếu tờ giấy khai sinh. Khi tôi hỏi phải chờ bao nhiêu lâu để có được cuốn hộ chiếu, ông ta nói nhỏ:  "Ít nhất một năm".

Marcel im lặng chẳng biết nói gì. Anh nhìn tôi với vẻ không tin. Nhưng tôi thì hiểu ngay viên công chức đó muốn nói gì. Tôi cũng hỏi nhỏ lại:  "Thưa ông, chắc chúng ta có thể nói chuyện với nhau được chứ. Lúc nào ông có thời gian?".  

"Sáu giờ chiều nay, sau giờ nghỉ, bên cạnh cửa vào Nhà thờ lớn. Bà hãy chờ tôi ở đó", ông nói với tôi một cách hài lòng vì tôi đã hiểu thông điệp của ông.  

"Một năm" có một ý nghĩa khác hoàn toàn, và cứ thế là:  "Không bao giờ, trừ khi cô chịu chi". Tôi đã được ông Phan cảnh báo trước.  

Tôi không hề ngạc nhiên mà ngược lại. Đút lót cho viên công chức này có nghĩa là tôi có thể xúc tiến được công việc của mình theo cách tôi mong muốn.  

Đúng sáu giờ, tôi gặp ông ta. Chúng tôi đi vài bước cho có vẻ tự nhiên. Tôi hỏi thẳng ông ta xem ông ta muốn bao nhiêu. Ông ta nêu một khoản tiền lớn mà theo ông ta thì còn phải chia cho hai đồng nghiệp nữa.  

Chúng tôi hẹn gặp nhau tối hôm sau tại một nhà hàng ở Chợ Lớn. Marcel đưa tôi đến đó, không phải chỉ vì thông lệ là chồng không thể để vợ chưa cưới một mình đi gặp một người đàn ông lạ mà vì khoảng tiền lớn mà tôi mang bên mình. Biết đâu chẳng có rủi ro tôi bị một tên cướp Bình Xuyên cướp.  

Tại bàn ăn, tôi trao cho người đàn ông món tiền ông ta đòi hỏi và tất nhiên tôi thanh toán cả tiền ăn cho ông. Vì tôi hiểu được ngôn ngữ của đồng tiền nên giấy khai sinh của tôi đã được kèm với tờ khai - chỉ sau đó ba ngày. 

Lựa chọn nghiệt ngã 

Mọi việc dường như được tiến hành một cách hoàn hảo, nhưng lại kẹt ở một chỗ. Sau một vài tuần tôi hỏi lại viên công chức xem đơn của tôi đã được thụ lý tới đâu. Ông ta khẳng định với tôi rằng việc thụ lý hồ sơ được tiến hành với tiến độ thời gian bình thường và khoảng một tháng nữa sẽ xong. Và người ta sẽ cấp hộ chiếu cho tôi.

Khi tôi cám ơn và nói rằng tôi rất vui vì có thể cùng với con trai tôi sang Pháp, lúc đó bỗng nhiên ông ta sựng lại, tôi nghe ông ta nói những điều làm tôi tê dại hoàn toàn. Những lời của ông ta từ từ ngấm vào đầu tôi như một liều thuốc độc.  

"Bà đã đính hôn, hay là sao?", ông hỏi tôi câu đầu tiên. Tôi gật đầu, vẻ vui mừng và tự hào.  

"Và chồng chưa cưới của bà đã nhận con ông ta và đăng ký hộ khẩu cho nó?", ông ta hỏi tiếp.  

"Nó không phải là con anh ta mà là con tôi", tôi nói một cách ngạc nhiên nhưng tự tin.  "Chồng chưa cưới của tôi muốn nhận thằng bé làm con nuôi sau khi chúng tôi đã tới Pháp. Nhưng bây giờ anh ấy đối với thằng bé đã như bố của nó."

"Bà không thể đưa thằng bé đi cùng được", ông ta trả lời.  "Vì ông bà chưa cưới nhau nên không thể được. Thằng bé phải ở lại đây, không thể nào làm khác."  

Hẳn ông ta thấy mặt tôi tái nhợt đi. Tôi luôn luôn đinh ninh rằng mình sẽ có thể cùng con trai rời khỏi đất nước và không có gì vướng mắc, nhưng giờ đây? Giờ đây bỗng dưng tôi phải chia lìa với con tôi? Tôi hoàn toàn không thể hiểu nổi.  

"Tôi lấy làm tiếc, tôi nghĩ rằng bà đã biết sự việc."  

Tôi chỉ biết gật đầu nhẹ để cám ơn. Tôi bị sốc đến nỗi không thể khóc được nữa. Nỗi buồn vô tận kéo theo sự giận dữ và thất vọng vì phải hy sinh quá nhiều. 

Giờ đây là cuối tháng Tư 1955 và tôi phải đưa ra một lựa chọn, với tất cả các hệ lụy của nó. Phải chăng là tôi nên để bị tiếp tục cuốn vào vòng xoáy của chiến tranh hay là tôi nên chuẩn bị để phó thác đứa con trai yêu quý của tôi một mình cho số phận?  

Tối hôm đó, tôi đến gặp ông Phan với những câu hỏi dày vò và chưa được giải đáp, để ông tư vấn cho tôi.  

Một quyết định sáng suốt 

Vẫn như mọi lần, ông Phan đón tiếp tôi một cách thân mật. Trong suốt thời gian tôi giải bày, ông không nói một lời nào, chỉ gật đầu. Trước ông tôi không cảm thấy xấu hổ. Tôi không biết làm gì ngoài việc cứ để cho nước mắt tuôn trào. Tôi còn có thể làm được gì nữa?

Ông an ủi tôi và pha cho chúng tôi một ấm chè. Ông mang ra từ trong bếp một đĩa mứt gừng. Rồi ông bảo tôi cho ông biết ngày tháng năm sinh của con tôi. Ông đứng dậy và đi vào một phòng bên cạnh, trong khi tôi nắm chặt chén chè trong tay.  

Một lúc lâu sau. Dĩa mứt gừng đã hết. Ông quay lại và mỉm cười. Ông đã xem sao chiếu mệnh của con tôi. Rất chắc chắn và đầy sức thuyết phục, ông khuyên tôi để con trai mình lại Sài Gòn. Tốt nhất là liên hệ với một tổ chức tôn giáo để đảm bảo sau này tìm lại được đứa trẻ mà mình tin tưởng giao cho họ. Sao của nó tốt đấy, không có vấn đề gì đâu, ông nói với tôi. Con trai tôi sẽ vượt qua được tất cả một cách an lành.  

Tôi không biết chính xác rằng điều gì đã khiến tôi tin ông. Trong thâm tâm tôi cảm nhận được rằng người đàn ông thông thái này đã nói với tôi sự thật.

Như tôi được biết, ông Phan cũng có nhiều mối quan hệ với những người có thế lực và ông cũng được hưởng những đặc quyền nhất định nhờ khả năng cố vấn của ông. Tôi thầm nghĩ rằng một trong những mối quan hệ của ông có thể bổ ích cho tôi trong trường hợp này. Dù sao chăng nữa tối hôm đó ông cũng đã giải đáp được câu hỏi nóng bỏng của tôi, bất kể là lời khuyên của ông có phải là điều tôi muốn nghe hay không, nhưng đối với tôi số phận của con tôi như vậy đã được định đoạt.  

Những bài học loại khác 

"Một người bạn là một người mà ta biết và người đó biết ta. Cho dù người đó chẳng làm gì, nhưng vẫn là bạn ta, một khi anh ta chẳng phương hại đến ta. Còn một người bạn tốt là người mang lại cho ta những điều tốt lành." (Loan) 

Khi chúng tôi tiếp tục trò chuyện, ông Phan nói rằng tôi cũng là một người thông thái. Ý của ông muốn nói rằng tôi có nhiều năng khiếu. Tôi phủ nhận một cách rất ngạc nhiên, vì trong mắt tôi, tôi chỉ là một người đàn bà học thức kém cỏi. Một người nhỏ thó như tôi, xuất thân từ một cái làng nhỏ xíu ở tỉnh làm sao lại có được sức mạnh của tri thức? Tuy vậy ông vẫn giữ quan điểm đầy thuyết phục của ông và gợi ý cho tôi để trong thời gian còn lại cho tới khi tôi xuất cảnh, ông truyền lại cho tôi một số kiến thức của ông, với tư cách của một bậc đàn anh. Đối với ông việc này rất quan trọng, như ông nói, ông không muốn để hiểu biết của ông thất truyền.  

Đối với tôi đây là một niềm vinh hạnh! Khi tôi hỏi tại sao ông không lựa chọn một thân nhân trong gia đình ông, ông nhìn tôi và nói, không nhất thiết là người nhà mới là người nối dõi con đường kiến thức, mà phải là một người đã được định sẵn. Tôi chỉ biết đồng ý với ông và chấp thuận. Sẽ không có gì là tổn hại, nếu bằng cách này tôi có thể chuẩn bị sẵn tâm thế cho những tháng ngày sẽ đến.

Rồi tôi được biết ông Phan không chỉ là nhà chiêm tinh học, mà còn là một "Magnétiseur"  (thầy thuốc chữa bệnh bằng tâm linh)  - và một sứ giả của thần linh. Nhiều lần ông đã sống như ẩn sĩ nhiều tháng liền ở trên núi và đã thu lượm kiến thức của mình qua nhiều năm ở Tây Tạng. Hàng tháng tôi đến chỗ ông nhiều lần, phần lớn là sau khi tôi ghé qua công sở để hỏi về hộ chiếu của tôi. Trong thời gian đó ông giải thích cho tôi tác dụng của một số câu khấn của ông trước khi ông truyền nó cho tôi. Bài giảng chỉ là truyền khẩu, không hề có ghi chép. Tôi phải học thuộc lòng tất cả.  

Trước hết tôi học cách tập trung và ngồi thiền cũng như ý nghĩa của sự cân bằng giữa thể xác và tinh thần đối với sức khỏe. Tôi học được dinh dưỡng như thế nào là phù hợp nhất để đạt kết quả của thiền học. Sau đó ông giải thích cho tôi cơ sở của Saman giáo và ý nghĩa của các biểu tượng. 

Tất cả đều tác động lẫn nhau. Như tôi ghi nhận được, sự hiểu biết của ông Phan chỉ là một dấu chấm nhỏ xíu trong vòng tròn vô tận, quay chậm nhưng liên tục theo một chiều, theo chiều của cuộc sống và số phận mà người ta hoặc là có thể tác động vào nó một cách thuận lợi hoặc là không. Vì vậy, phải lựa chọn khắt khe những đối tượng có năng lực để truyền lại sự hiểu biết này. Chỉ có người có "linh hồn đẹp" mới có khả năng tạo ra được ảnh hưởng tốt trên thế giới. Nếu một người nào đó làm một điều xấu thì đó là theo số phận của mình anh ta phải làm điều đó. Đương nhiên nghĩa vụ của một người tốt và của những người có sự hiểu biết như ông Phan là biến điều xấu thành điều tốt. Điều đó có thể làm được thông qua sức mạnh của lời khấn, kèm theo là những nghi lễ nhất định. 

Tất cả những gì xảy ra quanh ta đều là vật chất sống động. Chúng ta không ngừng phát đi những tín hiệu thông qua cách cư xử của chúng ta, bằng những lời khấn hoặc những suy nghĩ của chúng ta mà tần số của chúng cả những con thú cũng có thể đón nhận được. Nếu thông điệp hoặc lời cầu nguyện đó đã tới đích hoặc lời khấn đã thấu thì sẽ có câu trả lời hoặc một sự hướng dẫn cho ta, trong một giấc mơ hoặc trong một sự "tình cờ" tích cực bỗng nhiên xảy ra hoặc cũng có thể qua hình hài của một con thú bị chết. Tùy theo con vật nào chết và chết như thế nào hoặc khi sống nó phản ứng ra làm sao, người ta có thể chỉ ra tất cả những điều tiếp theo.

Tôi ngạc nhiên về tính đa dạng của các ứng dụng. Ví dụ ông Phan có thể thông qua những cách thức nhất định tác động vào những đồ vật được nói đến trước đó như mong muốn mà không cần sờ vào chúng. Ông cũng có khả năng bảo vệ người, căn phòng hoặc tòa nhà trước những điều ác. Thông qua những hình vẽ mà sau này ông đã hủy đi, ông giải thích thêm cho tôi về tác động và trình tự của những lễ nghi mà người ta có thể áp dụng một cách đa dạng. Song song với điều đó ông cũng đọc những ngôi sao xem nó có thuận lợi đối với một công việc nào đó hay không và đưa ra những dự đoán thích hợp.  

Điều quan trọng là không sử dụng kiến thức đó để làm giàu cho mình mà chỉ để giúp đỡ những người yếu theo nhu cầu và giữ được sự cân bằng cho môi trường xung quanh một cách lành mạnh. Ngoài ra còn cấm cầu khấn tổ tiên phù hộ về những việc vụn vặt nhỏ nhoi. Kiến thức của ông Phan liên quan chủ yếu tới việc duy trì sự lành mạnh về tinh thần để đảm bảo được một cuộc sống hài hòa trên trái đất.

Nhiều điều gợi lại cho tôi nhớ tới những tập tục thời xưa, khi còn nhỏ tôi thường thấy ở những ông thầy lang. Tôi cảm nhận được rằng những kiến thức này không còn xa lạ đối với tôi và tôi có thể hiểu ông Phan và làm theo những chỉ dẫn của ông một cách dễ dàng. Khi tôi nói với ông, tôi không biết rằng cách khấn của tôi có đúng không vì tôi chỉ khấn tổ tiên tôi và khấn Trời khi tôi muốn xin một điều gì đó, ông trả lời tôi làm như vậy là đúng vì điều đó đến từ tình cảm sâu thẳm của tôi.  

Thông qua người thầy này tôi đã nhìn nhận thế giới hoàn toàn khác. Tôi phát hiện trong tôi có những khả năng tiềm ẩn và để trực giác của tôi phát huy mạnh mẽ hơn.

Như cảm nhận đầu tiên của ông cho thấy rằng tôi xứng đáng là truyền nhân của ông, tôi cần phải nghe theo trực giác của mình và sử dụng nó làm công cụ cho cuộc sống. Điều quan trọng là cần làm những điều tốt, những điều bổ ích và giúp đỡ những người khác.  

Tôi thầm biết ơn về việc mình đã được học ở một con người thông thái và sáng suốt như vậy nhiều điều về sức mạnh của đức tin.  

Cuộc chia ly ngắn ngủi

Lúc này những sự kiện dồn dập xảy ra. Vẫn trong tháng Năm, đơn vị của Marcel rốt cuộc cũng phải rời Việt Nam và được điều trở về Pháp. Chúng tôi hầu như không còn thời gian để suy nghĩ và cân nhắc xem điều gì tốt nhất đối với con tôi. Cũng không có điều kiện để lo thủ tục cho một đám cưới cấp tốc, càng không kịp để lo việc nhận con nuôi. Một cấp trên thiển cận của Marcel thậm chí còn muốn ngăn anh cưới một phụ nữ bản xứ đã có con với một người khác; người ta không hề muốn thấy điều đó ở những người Pháp đã bại trận. Thêm vào đó người ta nói với anh rằng anh còn quá trẻ và ngây thơ, nếu nói về tình yêu thì có thể về nước đã, rồi cân nhắc thận trọng và tìm thời cơ thích hợp sau.  

Chúng tôi khẳng định rằng có lẽ chưa kết hôn sẽ tốt hơn đối với tôi bởi vì có nguy cơ sẽ bị phía "bên kia" soi mói và thậm chỉ hạ sát chỉ vì có dính dáng tới một người nước ngoài thuộc dạng thù địch. Cách phố tôi không xa người ta đã phát hiện được xác của một đôi bị cứa cổ. 

Do vậy chúng tôi quyết định nghe theo lời khuyên của ông Phan và cùng nhau đến văn phòng của một tổ chức cứu trợ Công giáo tại đường Catinat để đăng ký cho con tôi.  

Một người châu Âu ghi lại các dữ liệu, Marcel giải thích cho ông ta rằng anh chỉ có thể nhận đứa bé làm con nuôi ở Pháp vì thời gian quá gấp. Con trai tôi được ghi vào danh sách "trẻ mồ côi chờ nhận làm con nuôi". Tôi sẽ đưa con tới đây sau khi khẳng định rằng không còn điều gì cản trở việc xuất ngoại của mình nữa. Trước khi bàn giao đương nhiên cũng phải nộp một khoản tiền chi phí chăm nuôi đứa trẻ. Chúng tôi ghi nhận điều đó và ra về, trong lòng nhẹ nhõm.

Tuần cuối cùng trước khi con tàu của anh rời bến để về cảng Marseille, Marcel được phép về với tôi. Ban đêm anh ngủ lại chỗ tôi, hoàn toàn suy sụp vì phải rời xa chúng tôi và đất nước này một cách bất ngờ và không chuẩn bị như vậy. Đêm cuối cùng trước khi chia ly, chúng tôi ôm chặt lấy nhau và anh yêu tôi, tưởng chừng như đó là lần cuối cùng.  

Sau đó chúng tôi không ngủ tiếp được nữa. Chúng tôi nằm ôm nhau chờ trời sáng. Marcel đưa cho tôi toàn bộ số tiền anh có để tôi trang trải chi phí cho chuyến đi cũng như địa chỉ của mẹ anh ở Pháp, nơi anh sẽ sống và một bức ảnh nhỏ của bà. Anh hứa với tôi một lần nữa, anh sẽ quay lại đón tôi nếu một mình tôi không qua được Pháp. Anh nhất định sẽ viết thư cho tôi và thông báo với tôi mọi việc tiếp theo. Anh cũng để lại chiếc sơ mi của anh cho thằng bé.  

Vào thời điểm đó chúng tôi chưa biết rằng để cầm được cuốn hộ chiếu trong tay lại khó đến mức như vậy. Anh ôm vội tôi lần cuối cùng vào sáng sớm, để lại cho tôi cảm giác đơn độc và trống rỗng vô hạn. Mặc dù chưa biết số phận sẽ đưa đẩy mình tới đâu trong cuộc đời, nhưng tôi vẫn cảm thấy hạnh phúc vì ít nhất chúng tôi cũng đã có thời gian tạm biệt nhau.  

Tiếng còi tàu chết chóc

Nhung tốp lính Pháp rút dần khỏi Việt Nam. Những cảnh tượng kinh khủng và bi đát ngày càng xảy ra thường xuyên hơn. Chiến tranh và hậu quả của nó không loại trừ số phận của những con người dính líu tới nó.  

Tại cảng Sài Gòn người ta thấy nhiều tàu thủy, trên lan can tàu có nhiều người lính chen lẫn nhau để quay lại nhìn lần cuối và ghi vào tâm trí mình nơi mình rời xa hoặc để giơ tay vẫy chào lần nữa một cô gái đầm đìa nước mắt.  

Chia tay không phải là điều hiển nhiên đối với tất cả mọi người. Có một hôm, khi đến hỏi về thời gian chờ đợi để có tàu sang Pháp, tôi chứng kiến một chiếc tàu hành khách lớn chuẩn bị rời bến và kéo lên những tiếng còi trầm, da diết nhớ nhung. Tôi thấy một người phụ nữ trẻ mang thai vượt mặt, đứng trên cầu tàu nhìn lên boong tàu với ánh mắt tuyệt vọng vẻ như đang đợi tìm người yêu của mình. Cô tập trung hàng phút tìm trong đám đông trên kia, cho tới khi cô nhìn thấy người mình đang tìm kiếm. Cô gào to và gọi tên anh. Một người lính trẻ lúc này mới để ý và vẫy lại cô liên tục và gọi tên cô. Người phụ nữ trẻ hai tay ôm bụng và gào tên:  "Hãy nhìn đây! Thà mẹ con em chết còn hơn là sống không có anh!" Rồi bất ngờ cô lấy đà nhảy ào xuống dòng nước bẩn, nổi bọt đục ngầu do chân vịt tàu quay tít bên bến tàu và chìm nghỉm.  

Người đàn ông trẻ đứng trên boong tàu nhìn thấy rõ cảnh kinh khủng này. Tôi còn nghe tiếng kêu gào tuyệt vọng và nhìn thấy những chiến hữu túm chặt lấy anh không cho anh nhảy theo người yêu của mình.

Không phải chỉ có những linh hồn đáng thương này mới bị chiến tranh hủy hoại. Một người khác, gần gũi với tôi, cũng phải chịu số phận bi đát không kém. Cô nàng Sao A Mung xinh đẹp bị tách rời khỏi anh Jean, không kịp nói lời tạm biệt. Vào một hôm, Jean bị dùng vũ lực đẩy lên một chiếc máy bay đưa anh đi xa cô mãi mãi. Sau đó Sao A Mung mất trí. Mỗi lần nhìn thấy máy bay bay qua trên đầu chúng tôi, cô lại lăn xuống đất và gào khóc một cách tuyệt vọng:  "Jean! Avion (Máy bay)! Jean". Cô chỉ còn là một cái bóng của chính mình. Quá yếu đuối để có thể quyên sinh, cô để mình rơi vào trạng thái điên dại, trống rỗng và vô cảm.  

Món quà sinh nhật

Mấy tháng trời trôi qua, cuộc sống của tôi cũng không dễ dàng hơn chút nào. Tôi vẫn chờ cuốn hộ chiếu của mình, mặc dù tôi đã trả lệ phí cấp hộ chiếu từ cuối tháng Năm, nhưng tất cả dường như vẫn bất động. Mỗi một lần, những công chức phụ trách lại nêu lý đó trì hoãn khác nhau. Luôn luôn phát sinh những "lệ phí" mới và tôi đã phải bỏ ra vô số từ khoản tiền tiết kiệm của mình để chi cho việc này.  

Trong khi một phần của thế giới bận tâm tới đề tài chủ nghĩa thực dân và nạn phân biệt chủng tộc thì tại đây, ở miền Nam người ta bắt đầu bắt giam và tống vào trại rất nhiều người bị tố cáo là "cộng sản". Mọi nơi đều lo ngại và bất an.  

Phần tôi thì lại còn thêm một rắc rối nữa là tôi lại đã mang thai. Nhất thiết phải có một điều gì đó xảy ra, vì với tư cách một bà bầu tôi hoàn toàn không có cơ hội xuất ngoại.

Trong những bức thư của Marcel mà trong đó anh bày tỏ tình yêu đối với tôi, anh luôn sốt ruột hỏi về tình hình giấy tờ của tôi. Anh không thể hiểu nổi vì sao mọi việc lại lâu như vậy. Anh cũng viết tiếp cho tôi rằng anh phản đối ý kiến của mẹ anh vì bà đang có kế hoạch khác với anh.  

Anh cũng thông báo vắn tắt với tôi rằng có nhiều khả năng không lâu nữa anh sẽ phải sang An-giê-ri. Tại đó Pháp đang dính vào một cuộc chiến tranh thực dân mới.  

Tôi nhờ một người quen dịch những lá thư của mình ra tiếng Pháp. Tôi kể với Marcel rằng tôi đang ở thế kẹt như thế nào. Tháng Chín tôi lại nhận được tin của anh.  

Anh vui mừng vì sắp được làm bố. Kỳ nghỉ phép của anh giờ đây đã kết thúc, đầu tháng Mười anh sẽ phải sang An-giê-ri. Anh cho tôi địa chỉ để tôi gửi thư cho anh và để anh bố trí người đón tôi tại Pháp nếu tôi còn có cơ hội xuất ngoại.

Ông Phan hỗ trợ tôi hết mình. Ông đảm bảo chắc chắn rằng thời điểm thuận lợi cho việc xuất ngoại của tôi sắp đến. Ông thường xuyên khấn tất cả những vị thần linh nhân từ giúp đỡ và phù hộ. Tôi đang khẩn thiết cần những điều này trong hoàn cảnh của mình!  

Đây là giai đoạn bất ổn và đầy căng thẳng trong đời tôi, cứ luôn chờ đợi một tin tích cực từ phía một viên công chức có thiện chí. Nhưng mọi điều đều diễn ra trái với mong mỏi của tôi. Trong phố, tôi tình cờ gặp một người phụ nữ đứng tuổi, một người quen thân với ông Phan, ở trên đường. Bà ta tên là Thốt. Thỉnh thoảng chúng tôi cùng nhau uống chè ở chỗ ông Phan. Tôi nghe kể là bà sở hữu vô số nhà ở nhiều khu phố khác nhau. Bà không chỉ giàu mà còn có thế lực. Giờ đây tôi đang đứng trước mặt bà và chúng tôi chào hỏi nhau một cách thân mật.  

Bà rất ngạc nhiên, hầu như không thể tin được khi nhìn thấy tôi, bà hỏi:  "Cô bé, cô vẫn chưa đi à? Tại sao thế?".    

Tôi nói với bà rằng tôi chưa có hộ chiếu. Bà lắc đầu rồi giơ một ngọn tay rồi cùng tôi lên một chiếc xe xích lô để đến tòa công sở. Người ta để chúng tôi đi qua ngay lập tức và tôi nhận thấy rằng khi chúng tôi bước vào tòa nhà, nhiều viên chức đã cúi đầu kính cẩn trước người phụ nữ này. Bà đòi tôi chỉ ngay cho bà viên công chức chịu trách nhiệm về việc của tôi. Bà đến thẳng chỗ ông ta và hỏi với giọng bình tĩnh:  "Xin hỏi giấy tờ của cô này ở đâu?".

Tôi đứng đó, trong thâm tâm rất hồi hộp và khá ngượng ngùng. Lúc đầu tôi không tin vào điều mà mắt mình nhìn thấy. Không nói một lời nào và không chần chừ, người đàn ông cúi mình và lấy từ trong ngăn bàn của ông ra một cuốn sổ màu đỏ: cuốn hộ chiếu của tôi! Ông ta vội vã đóng dấu vào đó, ký tên và đưa cho tôi. Người phụ nữ đứng tuổi cám ơn và kêu tôi theo bà ra ngoài, đến chỗ chiếc xích lô đang chờ chúng tôi.  

"Xong rồi, cô bé", bà nói một cách vui vẻ với tôi,  "giờ thì cô có thể lo thu xếp chuyến tàu cho cô rồi. Tôi chúc cô mọi điều tốt lành".  

Tôi chân thành cám ơn bà. Khi tôi hỏi tại sao bà không ra nước ngoài, bà nói với tôi rằng bà đã quá già, không còn muốn xuất ngoại nữa rồi. Bà còn trả tiền xe và chúng tôi chia tay nhau. Từ giờ phút đó tôi mang mãi trong tim lòng biết ơn sâu sắc đối với bà và hành động nghĩa hiệp của bà.

Tôi chắc chắn rằng những lời khấn của ông Phan đã thấu và Trời đã đưa bà đến cho tôi. Khi về tới nhà và tự hào ngắm nhìn cuốn hộ chiếu của mình, tôi thấy đề ngày Mồng ba tháng Mười 1955, ngày sinh nhật đầu tiên của con trai tôi.  

Khóc đâu cần nước mắt 

Tôi tiếp tục nghe lời khuyên của ông Phan va ngay sau đó tôi đến chỗ Tổ chức cứu trợ Công giáo để hỏi xem tôi phải làm gì. Chẳng mấy chốc, trở ngại tiếp theo đã hiện ra trước mắt tôi.  

Khoản tiền mà tôi phải trả để con tôi được chăm nuôi ít nhất một năm lớn hơn nhiều so với tổng số tiền tôi còn. Nó cũng vượt quá giá trị của số đồ trang sức của tôi, và tôi cũng còn cần tiền cho chuyến đi bằng tàu thủy của tôi nữa. 

Tôi lại được giúp đỡ. Không đắn đo, ông Phan cho tôi vay số tiền cần thiết. Tôi có thể trả lại ông lúc nào tôi muốn và đương nhiên là chỉ hoàn trả nếu tôi có điều kiện. Đối với tôi ông đúng là còn hơn cả một người anh lớn. Như vậy rào cản này cũng đã được giải quyết. Vì không ai có thể nói chính xác với tôi bao giờ tôi có một chỗ trên những chuyến tàu thường là kín hết chỗ nên giờ đây đã đến lúc tôi phải chia lìa với con trai tôi. Vẫn trong tháng Mười, một buổi sáng tôi cùng với con tôi đến Tổ chức cứu trợ. Cũng như thường lệ, đêm hôm trước con trai tôi trần truồng ngủ thiếp đi trong vòng tay đầy tin tưởng của tôi, tôi cảm nhận làn da ấm và dịu dàng của nó trên làn da tôi. Tôi nhẹ nhàng đứng dậy và ngắm nhìn nó hồi lâu dưới ánh đèn của ngọn đèn ngủ, nhìn nó nằm đó, hơi thở thật nhịp nhàng. Nó còn quá bé bỏng, còn quá phụ thuộc vào tôi. Nó là một phần của chính bản thân tôi! Hôm đó trời mưa to lắm và tôi nghĩ rằng trời đưa tiễn chúng tôi bằng những giọt nước mắt.

Thời gian sau đó thường xuyên mơ về thời điểm phải bàn giao con trai. Một bà xơ người châu Âu thân thiện bước vào căn phòng chúng tôi đang ngồi chờ, một nụ cười nhẹ nở trên làn môi, đôi bàn tay giơ về phía con tôi, đợi chờ.    

Tôi xếp lại chiếc dây chuyền của con tôi cho ngay ngắn, trên đó có đeo cây thánh giá nhỏ của cô Bè và tôi ngắm nhìn thằng bé lần cuối cùng. Cặp mắt đen, cái cằm vuông, nốt ruồi trên đuôi mắt bên phải... Tôi nhắm mắt và cà mũi lên trán nó để ghi nhớ cái vị thơm ngọt của nó và thì thào với nó những lời mà nó chưa hiểu được:  

"Mẹ phải đi đây. Con ngoan nhé! Sau này mẹ sẽ đến đón con! Tổ tiên chúng ta phù hộ cho con!"  

Nó hồ hởi như thường ngày và không hiểu được cái gì đã xảy ra. Khi bà xơ đón nhận nó từ tay tôi một cách trìu mến, nó không khóc. Tôi cũng vậy. Tôi không khóc nổi. Trái tim tôi bỗng nhiên trống rỗng.  

Nhân chứng của hạnh phúc

Giờ đây ngày nào tôi cũng ra cảng để hỏi xem có chỗ trống cho tôi không. Đầu tháng Mười một, người ta thông báo với tôi rằng có một bà vừa hoãn chuyến đi của mình và vì thế tôi có thể thế chỗ của bà ta. Và lần đầu tiên hộ chiếu của tôi được đóng dấu xuất cảnh với thời hạn hai tuần. Giờ đây thời gian chỉ tính bằng ngày. Giữa lúc đó, chồng chưa cưới của tôi thông báo sẽ có một cha cố quen biết đón tôi tại cảng Marseille và dẫn tôi đến đúng con tàu đi Tours. Tôi cần phải gửi điện báo cho anh ngay khi tôi biết là mình sẽ đi con tàu nào. Tôi cũng đã làm việc đó và hy vọng rằng giờ đây tất cả mọi việc sẽ trôi chảy. Một lần nữa ông Phan lại chủ động cho tôi tiền để khi đến một đất nước xa lạ tôi không đến nỗi không có đồng nào dính túi. Rồi chúng tôi cùng đi ăn một lần nữa. Và cuối cùng chúng tôi chia tay nhau. Tôi hứa với ông sẽ mãi trân trọng những kiến thức mà ông đã tin tưởng truyền lại cho tôi và ông khẳng định với tôi tình bạn vĩnh cửu của mình.  

Sắp đến ngày đi, tôi đến một ngôi chùa ở Chợ Lớn, đó là ngôi chùa do những người nhập cư từ Quảng Đông xây dựng từ thế kỷ trước để thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị nữ thần biển Trung Hoa phù hộ cho những người thủy thủ. Trong chùa này còn đặt hai bức tượng của Kim Hoa Nương Nương nữ thần sinh nở và Long Mẫu Nương Nương, nữ thần của trẻ sơ sinh và bà mẹ.  

Trong hương thơm của những vòng hương khổng lồ treo trên trần, tôi khấn vái và xin xá tội cho tôi vì giờ đây tôi phải lìa xa con tôi và đất nước tôi. Tôi cầu khấn được phù hộ và đứng lặng một phút để chia tay với tổ tiên tôi và mẹ tôi - cội nguồn của tôi.

Một chiếc va li nhỏ đủ để chứa tài sản của tôi, trong đó có một chiếc khăn trải bàn thêu bằng tay rất đẹp cũng như một bộ đồ pha chè bằng sứ tuyệt hảo nhất. Đó là món quà tôi dành cho mẹ chồng tương lai của tôi.  

Ngày 10 tháng Mười một 1955, khi những ánh bình minh đầu tiên vừa bừng lên ở chân trời, tôi gọi một chiếc xích lô để đi ra cảng. 

Để giấu cái bụng mang thai của mình và để tự vệ trong trường hợp bị cướp và bị dao đâm, tôi dùng vải cứng quấn quanh người. Mái tóc ngắn của tôi được sấy quăn như ảnh những người mẫu châu Âu treo trong các tiệm làm đầu trong thành phố. Tôi đã đổi chiếc áo dài của tôi lấy một chiếc váy và áo sơ mi, bên ngoài tôi khoác một chiếc áo khoác mỏng để tạo cho mình dáng vẻ "văn minh". Tôi đã sẵn sàng!  

Nhiều người tụ tập trên bến gần chỗ con tàu đỗ để chia tay nhau. Tôi đi nhanh qua chỗ họ, bỗng dưng tôi tưởng như đứng tim, sóng lưng tôi lạnh toát! Tôi nhìn thấy một người đàn bà đứng trước tôi, bà ta quay lại sau khi giơ tay vẫy một người nào đó, người đàn bà này thì tôi biết quá rõ: Bà cô tôi đứng đó, ném ánh mắt vào tôi.

Bà hầu như không thay đổi mấy. Nét mặt cứng rắn của bà không có thêm một nếp nhăn nào so với thời trước. Những quầng tối, sâu dưới cặp mắt đen và lạnh lùng của bà vẫn còn đó. Chỉ có màu xanh sẫm của chiếc áo dài nhàu nát của bà làm cho bà có vẻ thân thiện hơn một chút. Bà ta đứng lại.  

Việc gặp lại con người này trong tình huống này, hoàn toàn bất ngờ, làm tôi bủn rủn đầu gối. Lần đầu tiên sau một thời gian dài tôi mới lại nhớ tới cảm giác thế nào là sợ. Nỗi thất vọng đã kìm nén cảm giác này của tôi từ lâu.  

Gặp tôi ở đây, cô tôi cũng bất ngờ đúng như tôi vậy. Cô là người đầu tiên lên tiếng:  "Mày mà cũng ở đây? Đừng có nói mày là hành khách trên chuyến tàu này nhé! Làm thế nào mà mày đi được?" Tôi kìm nén và trả lời cũng bằng giọng cứng nhắc như cô, tay chỉ về phía những hành khách ở phía trước.

"Cháu đã làm đúng những gì những người khác ở đây làm!" Tôi bước những bước chân cứng cỏi qua mặt cô và đi về phía cầu lên tàu, không nhìn cô nữa. Tôi cảm nhận được ánh mắt ngờ vực và ghen tị của cô ở sau lưng tôi.  

Sau này tôi thường hỏi tôi, ông Trời có ý định gì đấy nhỉ. Tại sao chính người đàn bà độc ác đó lại phải là nhân chứng cho chuyến ra đi của tôi? Liệu bà ta một ngày nào đó có kể với thành viên gia đình tôi về việc này không? Hay đấy là một hình phạt đối với bà khi nhìn thấy tôi trên con tàu này, ra đi đến với tự do, trong khi bà phải ở lại đây? Tôi không bao giờ tìm được câu trả lời.  

Khi còi tàu rú lên và con tàu bắt đầu từ từ rời bến, tôi đứng trên boong. Tôi nhớ lại trò đùa tôi đã làm với Hiền, hai chúng tôi đã thổi vào miệng chai, giả làm tiếng còi tàu thủy. Và tiếp sau đó những kỷ niệm lướt qua đôi mắt bên trong của tôi như một bộ phim.

Tôi đã để lại đây, tại Việt Nam, một phần của chính bản thân mình, trong khi cái thai đang quẫy đạp trong bụng báo hiệu rằng không bao lâu nữa, một phần khác của tôi sẽ nảy mầm tại một phương trời xa lạ.

Chương bốn - 1 -

Những thế giới khác nhau

Biển sâu sóng cả

 

Tôi vô vọng cố gắng để làm quen với chuyển động chao đảo của con tàu theo các đợt sóng lên xuống, kể cả trên boong tàu lẫn trong căn phòng bé xíu, không có cửa sổ của mình. Tôi phải ở cùng buồng với người đàn bà mà cô tôi vẫy tay chào trước đó. Người tôi nôn nao. Tôi bị say sóng. Tôi khổ sở đến điên cuồng vì sóng biển dữ dội, không có thứ gì và không có ai giúp được tôi.  

Hai hôm sau đó, vào ngày mười hai tháng Mười một, khi chúng tôi cặp bến ở Sing-ga-po lần đầu tiên tôi mới hết nôn. Tôi lên bến cảng, đi đi lại lại trên cầu tàu. Rốt cuộc thì đã có khí trời, tôi khoan khoái hít thở sâu như đang có một đặc ân. Ý nghĩ về chuyến vượt biển dài lênh đênh trước mắt khiến lòng tôi đầy sợ âu. Tuy nhiên cảm giác hạnh phúc được có mặt trên con tàu này vẫn còn lớn hơn nỗi dày vò mà tôi phải chịu đựng. 

Mấy ngày sau đó chúng tôi đến Columbo ở Ceylon. Tại đây tôi đi chụp ảnh và gửi tấm ảnh được tráng rửa ngay sau đó sang An-giê-ri cho vị hôn phu của tôi. Nó là một tín hiệu về tôi để mang lại niềm vui cho Marcel. Bây giờ anh ấy có thể nhìn thấy là tôi đang trên đường sang châu Âu!  

Cả ngày lẫn đêm tôi giữ khư khư tấm hộ chiếu và tiền nong bên người để tránh bị mất cắp. Người đàn bà cùng cabin với tôi thường xuyên có mặt chỗ người quen ở trên cùng hành lang. Đến tối muộn tôi vẫn còn nghe tiếng họ sát phạt chơi bài ba quân. 

Bởi phần lớn thời gian phải tìm cách để khắc phục cơn say sóng nên tôi không tham gia vào các bài tập chống tai nạn trên biển. Hậu quả của việc này là sau buổi tập đầu tiên có hai thủy thủ xuất hiện ở chỗ tôi. Sau khi gõ cửa và không thấy tôi động tĩnh gì, họ đạp cửa xông vào. Họ thông báo cho tôi biết việc tập luyện là nghĩa vụ và tôi bắt buộc phải tham gia. Tôi vẫn nằm yên, người mệt lả và mặt mày tái nhợt. Tôi trả lời họ một cách khó nhọc:  

"Tôi chẳng thiết đến mấy bài tập của các ông! Nếu có phải chết thì tôi sẽ chịu chết! Các ông đừng để ý đến tối, xin cứ để cho tôi yên!" Hai người thủy thủ chưng hửng rời khỏi cabin của tôi và chẳng bao giờ quay lại nữa.  

Từ một tuần con tàu của chúng tôi đi trên biển Ả Rập, với đích là Dschibuti ở vịnh Aden. Những đợt biển động khiến tôi không còn ăn được một tí gì nữa. Tôi bắt đầu mất trọng lượng. Chúng tôi hy vọng chẳng mấy chốc sẽ lại có thể được đặt chân trên đất liền. 

Vào một ngày biển lặng hơn tôi liều đi lên boong tàu, ở đó tôi thấy một nhóm người nhỏ đứng cạnh thuyền trưởng, mắt trân trân nhìn xuống biển qua thành tàu. Có người kể lại người ta vừa mai táng trên biển thân thể nhỏ xíu của đứa trẻ đẻ non trên tàu trước đó.  

Buồn bã tôi quay trở lại cabin của mình. Bây giờ tôi bắt buộc mình ăn một thứ gì đó, cho dù đó chỉ là lát bánh mì đã khô cứng.  

 

Một chuyến rong chơi ngắn

 

Ở Dschibuti rốt cuộc tôi được lên đất liền. Tôi cảm thấy thật thỏa mãn. Tàu dừng ở bến cảng mấy tiếng và như vậy tôi cho phép mình có một đợt giải lao dài hơn thường lệ. Sau khi đã nuốt chửng cả một suất cá mòi nướng khổng lồ, tôi quyết định đi tham quan các dãy phố mua bán.  

Suốt thời gian tôi cứ lượn đi lượn lại, đắm chìm trong bao ấn tượng ập vào mình. Chỉ đến khi có một tiếng còi tàu vọng đến từ rất xa tôi mới giật mình choàng tỉnh - đây chính là con tàu của tôi! Hoảng hốt tôi quay ngoắt lại, tuy nhiên chẳng ai có thể hay tỏ ra muốn hiểu tôi. Thay vào việc chỉ đường cho tôi đến hải cảng, những người buôn bán lại tiếp tục chào hàng và tìm cách túm chặt lấy cánh tay tôi. Cuối cùng tôi chọn bừa một hướng để trở lại tàu.  

Tim tôi đập thình thịch lên tận cổ và người tôi ướt đẫm mồ hôi khi tôi nhìn thấy một chiếc xe Jeep với hai thủy thủ. Tôi tuyệt vọng vẫy bằng cả hai tay ra hiệu và đã gặp may: Họ đã dừng xe lại. Tôi bắt chước tiếng còi tàu và chỉ vào đồng hồ trên tay của họ.

Hai người thủy thủ hiểu ngay lập tức và cho tôi lên xe. Như tôi đã đoán từ trước, họ đi ngược với hướng mà tôi chọn trước đó. Sau những phút đầy lo lắng, cuối cùng chúng tôi đã đi đến bến cảng. Thở phào nhẹ nhõm, tôi hôn lên má hai người thủy thủ theo yêu cầu của họ, trước khi họ mang tôi tới tàu. Chỉ một lát sau đó tàu nhổ neo.  

Lại thêm một lần nữa tôi đã gặp may! Tuy nhiên chuyến rong chơi mạo hiểm ngắn đã để lại hậu quả, tôi quyết định từ nay cho đến khi cặp bến ở Marseille sẽ không rời khỏi con tàu nữa.  

 

Làm ơn phải tội 

 

Chúng tôi bỏ lại Biển Đỏ ở phía sau và đi qua kênh đào Suez rồi cặp bến ở Port Said. Tôi cảm thấy thật nhẹ nhõm khi chặng hành trình tiếp theo ở Địa Trung Hải diễn ra yên ả hơn nhiều. Và rốt cuộc: Vào ngày 1 tháng Mười hai năm 1955 tàu đã cặp bến ở Marseille! Tôi đã đạt được mục tiêu của mình, tôi đã đến nước Pháp!

Một cách kiên nhẫn tôi nhập vào hàng người đứng trước nơi kiểm tra hộ chiếu. Mặc dù chúng tôi đứng sát nhau, tôi vẫn cảm thấy thời tiết lạnh lẽo như thế nào. Bất giác tôi nhớ về những ngày giá rét ở miền Bắc Việt Nam.    

"Bonjour, Madame!", người cảnh sát cửa khẩu chào tôi một cách thân thiện. Ông ta mỉm cười, đóng dấu vào hộ chiếu của tôi và cho phép tôi đi tiếp. 

Tôi đứng đợi tại sảnh chờ, tim đập thình thịch trong lồng ngực. Bây giờ thì sẽ rõ liệu Marcel có cho người ra đón tôi hay không. Sau ít phút một người đàn ông dáng người tròn trĩnh, da tái xanh, nhưng toát lên vẻ thiện cảm, cầm một tấm ảnh trên tay đi thẳng đến chỗ tôi và chỉ cho tôi người chụp trên ảnh - chính là tôi.  "Xin lỗi, có phải cô là người phụ nữ này? Vợ đính hôn của Marcel?" Đấy là vị mục sư đã được báo trước trong thư; một thầy giáo cũ của Marcel đã nhờ ông đi đón tôi và đưa tôi đến đúng chuyến tàu về Tours.  

Ông cho va li của tôi lên xe và chở tôi ra nhà ga. Ở đó ông mua giúp tôi vé tàu bằng tiền do tôi đưa. Ông giải thích cho tôi rằng đến Lyon thì tôi phải đổi tàu.  

Sau khi ông đưa tôi lên một khoang trống trên tàu, tôi hỏi ông tiền công cho việc giúp đỡ tôi là bao nhiêu. Ông chỉ lắc đầu một cách nhã nhặn.  

"Chắc chắn là cô sẽ còn phải cần tiền", ông nói trước khi chúc tôi mọi điều tốt lành và chia tay. 

Con tàu vừa chuyển bánh thì có bốn người phụ nữ trẻ vào ngồi ở chỗ tôi. Chúng tôi trò chuyện với nhau và chẳng mấy chốc thì tôi biết họ làm nghề mại dâm. Họ trên đường đến Paris. Họ hỏi liệu tôi có muốn làm việc cùng với họ ở đó như một thứ "của lạ" hay không. Chắc chắn là tôi sẽ kiếm được bộn tiền... Khi nhận thấy chẳng ăn thua gì thì họ để cho tôi yên.  

Ở Lyon tôi xuống tàu. Bởi không biết phải đi tiếp bằng tàu nào, tôi hỏi một người lính trẻ đứng trên ga. Được tặng một ổ bánh mì có nhân thịt to tướng, anh ta dẫn tôi đến đường ray đúng. Khi tôi hỏi liệu tôi có thể trả tiền để đền ơn anh ta hay không, người lính gật đầu. Bởi tôi chưa biết cách tính tiền Pháp, tôi đưa cho anh ta hai nghìn trong số mười lăm nghìn đồng Franc mà tôi mang theo người.  

Người lính trố mắt, nhưng không hề do dự, cầm số tiền và biến mất tăm ngay. Mãi về sau này tôi mới biết là sự giúp đỡ của người đàn ông trẻ này đã gây cho tôi một thiệt hại lớn chừng nào.  

 

Lửa và băng giá

 

Lúc ấy đã là vào đầu giờ chiều, khi tàu của tôi vào nhà ga chính ở Tours. Trong chuyến đi dài tôi đã ngắm nhìn phong cảnh một màu nâu xám trơ trụi của quê hương mới, rồi sau đó đắm chìm vào một giấc ngủ sâu.  

Chỉ khi con tàu phanh rít lại tôi mới bừng tỉnh dậy. Một giọng phụ nữ đơn điệu vang lên từ các loa phóng thanh:  "Tours! Tours!".  

Tôi xuống tàu và đôi mắt tìm người đàn bà chẳng mấy chốc sẽ trở thành mẹ chồng của tôi. Tôi cảm thấy những cái nhìn ngạc nhiên và tò mò hướng về phía mình - ở chốn này có lẽ tôi là người phụ nữ châu Á duy nhất.  

Chẳng mấy chốc thì tôi phát hiện ra bà. Bà chờ ở phía đầu đường ray. Khi nhìn thấy tôi, bà lập tức đến ngay chỗ tôi. Trong lúc tiến lại gần nhau, người nọ quan sát người kia.  

Bà có dáng người cao dong dỏng, lưng thẳng cứng, bước đi toát lên vẻ kiêu hãnh. Bộ váy áo được chăm chút cẩn thận vừa như in. Ví đầm của bà hợp không chê được với bộ váy áo. Mái tóc màu nâu sáng cắt ngắn và uốn cong theo phong cách tân thời làm tôn những nét tinh tế trên gương mặt bà. Đôi môi bà bất động, còn ở cặp mắt của bà thì tôi không dám chắc chúng có màu diệp lục hay màu nâu. Liệu đây có phải là một vẻ đẹp "tư sản" đích thực?  

Cái nhìn của bà khiến tôi cảm thấy còn nhỏ bé hơn cả so với chiều cao một mét bốn mươi lăm trong thực tế của mình. Tôi cảm thấy mỏi mệt vì chuyến đi dài và vì cảm xúc xáo trộn. Áo quần của tôi nhăn nhúm, chiếc va li nhỏ lòi lõm do bị va đập. Có nghĩa là tôi thật khác với người đàn bà đang tiến lại gần mình. Và tôi lại đang có thai nữa!

Tôi đặt va li xuống đất và tặng bà một nụ cười đầu tiên thân thiện. Nhưng động tác ôm hôn mà tôi chờ đợi từ bà đã không đến. Người đàn bà cao hơn tôi gần hai cái đầu này đứng trước tôi, với một nụ cười khách khí. Bà chỉ chìa tay về hướng tôi và giữ một khoảng cách hết tầm sải tay cho phép.  

"Chắc hẳn cô là Jacquie? Cuối cùng thì cô cũng đã tới đây. Cô có nói tiếng Pháp không? Cô có hiểu được tôi không?"  

Ngạc nhiên vì bà gọi tôi là "Jacquie" và hơi có cảm giác bị uy hiếp bởi khoảng cách mà bà tạo ra, tôi gật đầu xác nhận.  

"Tôi là mẹ của Marcel. Cô có thể gọi tôi là Paulette. Con trai tôi đã kể bao nhiêu điều về cô! Và tôi chỉ nghe toàn là những điều tốt đẹp!"  

Một cách thẳng đuột, như tính cách của tôi vẫn vậy, tôi không thể nén được câu trả lời:  "Tôi biết mà, tất cả những điều đó có hết trong các thư gửi cho con trai bà".  

Tất nhiên đây là một khởi đầu tồi tệ. Da mặt bà ngay lập tức ửng đỏ. Sau đó bà nói tiếp một cách kiềm chế:

"Con trai tôi đã thuê một căn hộ vùng nông thôn nằm ở ngoài thành phố cho cô. Cô có biết không, thật chẳng dễ dàng gì để có thể tìm được chỗ ở cho một người như cô. Đây là một tình huống rất khó xử, và tôi thì chẳng muốn làm phiền toái gì đến ai cả. Nhưng mà bây giờ thì đằng nào cô cũng đã đến đây. Hôm nay tôi sẽ mang cô đến khách sạn. Đáng tiếc là tôi không thể để cô tá túc trong căn hộ của tôi, bởi vì màu da của cô sẽ gây kinh động. Tôi muốn tránh không để người ta nhìn thấy cô ở chỗ tôi, đặc biệt là trong tình trạng này!"  

Bà ném cái nhìn lên chiếc áo khoác giấu khá tốt cái bụng chửa của tôi.  

Và như vậy chúng tôi đi đến khách sạn ở trung tâm thành phố mà không nói tiếp lời nào. Bà dẫn tôi đến tận phòng và hẹn gặp lại vào ngày mai, sau đó lên taxi trở về nhà.  

 

Tên gọi nào thì cũng vậy

 

Vì đã mệt lử nên tôi ngủ thật say. Vào sáng hôm sau âm thanh giao thông của thành phố giờ sáng sớm đã đánh thức tôi dậy. Tại một phòng ăn sáng nhỏ, một người bồi bàn toát lên vẻ thân thiện mang đến cho tôi cà phê sữa và hai chiếc bánh croissant với mứt. Tôi ăn hết tất cả và đặt thêm một phần y hệt - bụng tôi đang đói ngấu nghiến.  

Một lát sau thì Paulette đến. Tôi trả tiền phòng, rồi chúng tôi lên một chiếc taxi đang chờ. Chúng tôi rời thành phố và đi qua một số ngôi làng nhỏ, sau một tiếng thì chúng tôi đến một nông trại cũ kỹ nằm ở một nơi hoàn toàn hẻo lánh. Nó đã bị để hoang phế từ bảy đời tám hoánh nào. Nông trại gồm một tòa nhà chính, nơi ở của chủ nông trại, và một ngôi nhà ngang nhỏ, trước đây được dùng làm nhà kho chứa nông cụ. Vậy ra đây sẽ là chốn ở mới của tôi! 

Một người đàn bà trung niên béo tốt, má đỏ au, bước ra chào chúng tôi. Bà ta là chủ cho thuê nhà. Paulette đã giải thích cho tôi rằng Marcel đã trả trước tiền thuê nhà cho cả một năm. Bà góa chồng. Bà không hề tìm cách giấu diếm sự ngạc nhiên của mình về vẻ ngoài của tôi. Sau khi nhìn tôi chòng chọc từ mọi phía, bà nói rằng chưa bao giờ nhìn thấy một người phụ nữ châu Á.  

Trên lối vào căn hộ của tôi, chúng tôi đi qua một chuồng lợn cũ. Căn hộ thực ra chỉ là bốn bức tường với một tấm vách ngăn ở giữa, mái nhà và mấy cửa sổ nhỏ. Marcel đã mang tới đây hai chiếc giường xếp mỏng và đặt sẵn một túi ngủ lên một chiếc giường. Một chiếc bàn gỗ với một chiếc ghế, một lò sưởi nhỏ khiến tôi nhớ đến cơn lạnh khủng khiếp và một chiếc tủ thấp nhiều ngăn là toàn bộ đồ gỗ. Không có bếp. Cầu tiêu nằm ở bên ngoài.  

Ánh mắt tôi chạm vào mô hình một ngôi chùa màu đỏ tuyệt đẹp đặt trên chiếc tủ. Khi tôi lại gần để nhìn rõ hơn, Paulette nói:

"Con trai tôi làm cho cô đấy. Để cho cô có một kỷ vật về đất nước mình."  

Tôi cảm thấy xúc động. Marcel còn lắp cho tôi một cái bàn thờ, đó là cả một tác phẩm nghệ thuật được ráp lại từ hàng bao nhiêu mẫu gỗ. Cho dù nơi ở mới của tôi không hề có một chút tiện nghi nào thì tối thiểu tôi đã có một thứ giúp cho mình chịu đựng được thời gian ở chốn khỉ ho cò gáy này.  

"Củi đốt thì cô có thể mua ở chỗ tôi", người đàn bà thông báo cho tôi, ánh mắt lóe lên. Cả Paulette cũng run lên vì rét và kéo chiếc áo khoác bó sát hơn vào bộ váy áo sang trọng ở bên trong. Bà giải thích rằng tôi có thể đến ở làng bên cách đây "chỉ" khoảng ba cây số để mua bánh mì. Ở đó cũng có một phòng khám bác sĩ. Ngoài ra những người buôn bán lưu động cũng đều đặn rẽ qua nông trại để rao bán các thực phẩm thiết yếu nhất. Khi cần thiết thì tôi có thể gọi xe taxi để đi đến Tours.  

Bà hỏi liệu tôi có hài lòng với căn hộ không. Khi tôi gật đầu không hề do dự, bà hầu như không giấu nổi sự ngạc nhiên. Làm sao mà bà có thể biết được điều tôi đang nghĩ. Có bao thứ tôi từng trải qua, có biết bao đêm tôi đã ngủ trong cảnh màn trời chiếu đất. Tôi chỉ cần nhớ đến những điều đó. Còn cuộc sống dư dật mà về sau này tôi cũng từng có được ở quê hương thì từ lúc này trở đi tôi phải gạt hẳn ra ngoài ký ức. Từ nay tôi và con tôi bắt đầu một cuộc đời tự do, và chỉ có điều này mới đáng kể! Tôi cảm thấy hài lòng thực sự. 

Bà chủ vội vã quay trở ra, khi từ phía nhà bà vang lên tiếng khóc của một đứa trẻ. Paulette trao cho tôi địa chỉ của bà - chỉ là cho trường hợp khẩn cấp, như bà nói. Bà lại chìa tay cho tôi:  "Thôi... tôi phải đi đây. Xe taxi đang chờ. Tạm biệt, Jacquie."  

"Xin cám ơn về sự giúp đỡ của bà. Nhưng tôi tên là Loan, không phải Jacquie", tôi trả lời.  "Hừm, cô biết không, Marcel thường vẫn kể với tôi về quán bar của cô có tên là 'Chez Jacquie'. Cô là chủ quán ở đó mà, có đúng vậy không? Cái tên Jacquie nghe hay hay và tôi thấy thích hơn là tên kia. Mà đằng nào thì tôi cũng chẳng nhớ nổi nó", bà đáp lại, giọng ngọt như mật ong. 

Tôi đoán là cãi nhau với người đàn bà ngang ngược này chỉ tốn công vô ích. Bà ta lên taxi, và tôi vẫy tay chào. Tôi quá hiểu là bằng cách đó bà ta muốn đối chất tôi với một phần quá khứ của mình.  

Nhưng mà bà ta nào có hay biết gì về tôi, mà nói cho cùng thì tôi cũng chẳng mảy may quan tâm đến điều đó. Tôi là tôi, chỉ đơn giản như vậy! Bất luận ra sao. Bà ta muốn gọi tôi như thế nào cũng được, đó là việc của bà.  

Và bà sẽ làm như vậy, cho đến tận cuối đời.  

 

Một góc quê hương 

 

Thân đơn thế côi tôi bắt đầu tổ chức cuộc sống của mình. Marcel được mẹ anh thông báo rằng tôi đã đến nơi an toàn. Tôi nhận được một lá thư của anh, anh viết rằng anh hy vọng sẽ có một kỳ nghỉ phép ngắn, nhưng chắc không phải là trước khi đứa con của chúng tôi ra đời.

Vậy là tôi phải lo sao cho có đủ mọi dự trữ cần thiết trước khi sinh. Củi đốt thì tôi lấy từ bà chủ nhà. Về sau này thì tôi được biết bà ta bán cho tôi với giá quá đắt, nhưng mà tôi còn biết làm gì khác! Cái lạnh ở châu Âu là cả một vấn đề đối với tôi, và đồng thời là một thách thức. Mặc dù đi ngủ với cả bộ quần áo ấm nhất nhưng tôi vẫn rét run cả ngày lẫn đêm. Tôi đẩy chiếc tràng kỷ của mình sát vào lò sưởi và ngủ luôn ở đó.  

Cứ hai tuần tôi lại đi bộ tới làng bên để mua một chiếc bánh mì nặng hai cân tại một hiệu bánh nhỏ ở đó, mỗi lần như vậy tôi lại bị ánh mắt tò mò của dân làng theo đuổi. Tôi cũng đến vị bác sĩ sống trong làng và nhờ ông thỉnh thoảng ghé qua khám cho tôi thời điểm sinh con vào giữa tháng Giêng. Rau quả thì cứ hai lần trong tuần có người bán hàng rong mang đến. Mỗi lần tới nơi với chiếc xe Citroen cũ kỹ màu xám, ông ta lại bấm inh ỏi để báo hiệu.

Thay chỗ bếp nấu, tôi đi kiếm ba cục đá to hình ôvan, tạo thành một bếp lửa nhỏ trong nhà. Nhiều năm về trước, bố tôi đã chỉ cho tôi cách làm như thế nào.  

Trong nhà có nước máy. Bởi vì tôi chỉ có một cái nồi, một ấm nấu nước, hai chiếc dĩa, hai con dao, một thìa ăn và một cái chậu nhựa nên chẳng có gì nhiều thứ để rửa.  

Chỉ có trưởng làng và bác sỹ là có điện thoại. Nếu muốn đi taxi ra thành phố thì tôi phải vào trong thôn và đặt xe ở một quầy bưu điện nhỏ. Tuy nhiên về sau này thì người lái xe taxi cứ vào những ngày hẹn lại đến đón tôi trực tiếp tại nhà.

Ở thành phố lớn Tours tôi nhanh chóng tìm được những nơi cần đến. Trong các cửa hàng ở đó cũng có một hiệu bán đồ châu Á. Thật sung sướng chừng nào khi vừa bước qua cánh cửa thì mùi quen thuộc của các gia vị quê hương đã xộc ngay vào mũi.  

Bởi lượng tiền dự trữ cạn đi thật nhanh, tôi chỉ mua thứ gạo hẩm vốn chỉ dùng làm thức ăn gia súc. Tuy nhiên tôi đã tự thưởng cho mình một chai nước mắm mà ở đây được bán với giá cắt cổ.  

Về đến nhà thì tôi được tận hưởng một khoái lạc thật sự khi được nếm vị nước mắm đã từ lâu không còn biết đến. Tôi bảo quản nó như một báu vật và chỉ chắt từng giọt để dùng. Chủ cửa hiệu châu Á là một bà cụ người miền Bắc Việt Nam có chồng người Pháp và sống ở Pháp từ lâu. Qua bà và qua một số người Việt Nam đến đây mua các thứ hàng hóa được coi là của lạ, tôi nhận được nhiều thông tin bổ ích về cách sinh sống ở môi trường mới.

Những cuộc trò chuyện như vậy chỉ kéo dài ít phút, nhưng cái cảm giác được gặp mặt người khác và nói vài lời với họ bằng tiếng mẹ đẻ mang đến cho tôi niềm hạnh phúc trong cảnh cô đơn. Cùng nhau chúng tôi hồi tưởng về quê hương, và cứ mỗi một câu chia sẻ, hình ảnh đẹp đẻ về quê hương ấm áp mà ở đó con người chào ngày mới với một nụ cười trên môi lại hiện về trong tâm trí. Những màu sắc, hương vị và giọng nói hòa quyện trong những câu chuyện kể và đẩy lùi lại phía sau, một cách vô thức, chiến tranh và sự khốn cùng là các nguyên do đã dẫn chúng tôi đến đây. Chúng tôi cười ngặt nghẽo về sự sợ hãi của người Pháp trước người châu Á về việc họ có thể cho vào nồi các loại chó mèo bị họ bắt gặp...  

Nhưng sau đó lại đến lúc chia tay, và tôi lại phải trở về nhà. Mọi người ở đây đều có ai đó chờ họ ở nhà hay người mà họ chăm sóc. Họ có một mái ấm. Còn tôi thì phải giữ cho riêng mình tất cả cảm xúc trong bốn bức tường ở một nơi chốn hoàn toàn hẻo lánh.  

Phải sống dưới những điều kiện thô sơ, gần như cổ xưa, đó không phải là vấn đề đối với tôi. Cái khiến tôi bất an là tình trạng hoàn toàn cô độc của mình. Tôi sợ hãi là mình sẽ bị héo mòn ở chốn này.  

Tôi sống hoàn toàn một mình và nhớ nhà một cách khủng khiếp. 

- 2 -

Những thế giới khác nhau

Đằng sau một khuôn mặt 

Với thời gian, tôi dần làm quen bà chủ nhà. Sau khi tôi hỏi liệu mấy đứa trẻ con có phải là con bà thì bà kể sau khi chồng chết bà làm công việc nuôi trẻ. Sở xã hội giao cho bà trong mỗi đợt từ hai đến ba đứa trẻ mồ côi cả bố lẫn mẹ, hoặc mồ côi bố hay mẹ.  

Tôi thấy bà thật dễ thương khi đón nhận nhiệm vụ đầy trách nhiệm và nặng nề này. Lũ trẻ sống một thời gian ở nhà bà và tha hồ vùng vẫy. Chẳng mấy chốc tôi tiếp xúc với chúng còn nhiều hơn với bà. Thực tình mà nói tôi chẳng có gì để trao đổi cùng bà.  

Vào thời gian đầu bà nhiều lần mời tôi sang chơi, và ngay lập tức, gần như sỗ sàng, mời tôi một cốc rượu vang đỏ. Khi tôi từ chối và nói rằng mình không thích rượu, bà hồ hởi giải thích cho tôi rằng ở Pháp, đặc biệt là ở vùng nông thôn, uống rượu vang là chuyện thường tình. Mà làm vậy còn tốt cho sức khỏe.  

Tiếp theo đó bà bình thản nhét nút đậy vào chai, uống một hơi hết cốc của mình, sau đó là cốc dành cho tôi. Bà không tỏ ra tự ái, có lẽ chỉ hơi buồn một chút, vì không tìm được ở tôi một người bạn nhậu.  

Khi chứng kiến tửu lượng của người đàn bà này, tôi lại nhớ tới con gấu bị say rượu của mình. Tôi cũng ngạc nhiên về bao nhiêu là vỏ chai xếp hàng trong góc bếp dưới sưởi ấm của bà. Rõ ràng là ở đây người ta cũng có thói quen tích góp mọi thứ, đằng nào thì đây cũng là một chốn khỉ ho cò gáy. 

Vào một ngày tôi gõ cửa bà để mượn bao diêm. Tôi giật mình khi nghe giọng nói líu lo của bà bảo tôi vào nhà. Tôi bước vào. Bà ngồi trên một chiếc ghế, phía trước mặt ở trên bàn là một cốc rượu vang đầy, cạnh đó là một vỏ chai rỗng, bà nhìn tôi trân trân, mặt mũi đỏ gay. Khi có một đứa trẻ đến chỗ tôi, chắc vì muốn được chơi cùng, thì bỗng nhiên bà ta đứng bật dậy, hai tay túm lấy tai nó, nhấc bổng đứa bé tội nghiệp đang khóc thét, kéo nó đi mấy mét rồi đặt phịch xuống một chiếc ghế cứng. Và bà ta nói, lưỡi đã líu lại:  

"Tao đã bảo rồi, cứ ngồi yên ở đấy!"  

Tôi phẫn nộ nói với bà rằng người ta không không bao giờ được phép nhấc trẻ con lên bằng cách đó. Bà ta chỉ cười và nói:  "Không sao mà! Không sao mà!". 

Tôi lấy mấy que diêm từ chiếc hộp lớn và cám ơn, trước khi rời khỏi nhà bà với tâm trạng bàng hoàng. Từ ngày này tôi thề sẽ phải để ý đến người đàn bà dường như coi việc hành hạ trẻ con là một thứ thú vui này.  

Có học mà vô minh 

Giữa chừng Paulette mang theo một người em gái của bà đến thăm tôi. Bà này tên là Jeanne, tóc màu sẫm cũng cắt rất ngắn, thấp hơn Paulette, hơi mủm mỉm và còn lâu mới đẹp bằng bà chị. Nhìn vào phong cách thì bà có vẻ có một cá tính sôi nổi hơn Paulette. Cả hai chẳng mang theo một thứ gì và ngay lập tức từ chối khi tôi mời họ uống trà. Cũng may là như vậy bởi tôi quên rằng mình chỉ có một bát uống nước, chứ không có tách trà hẳn hoi. 

Chuyến thăm của họ dường như chỉ để thỏa mãn sự hiếu kỳ, hơn là để thăm hỏi của tôi. Họ thị sát chỗ ở của tôi, và tôi nhận thấy họ ngạc nhiên như thế nào khi mục kích bếp lửa đơn sơ của tôi. Rốt cuộc thì họ cũng hỏi thăm tình hình của tôi, tôi trả lời họ là lịch sinh em bé của tôi nằm vào nửa sau của tháng Giêng. Chẳng mấy chốc sau đó họ lại lên xe taxi và rời nhà tôi mà không nói thêm một lời nào. 

Từ khi tôi đến đây họ không phải là người duy nhất mặc dù tiết trời lạnh lẽo nhưng rõ ràng vẫn có cái hứng thú thỉnh thoảng dừng lại cạnh nông trại để đảo chân và giết thời gian bằng cách quan sát tôi. Lời đồn đại có một người đàn bà châu Á sống ở đây đã lan truyền với tốc độ cực nhanh, và như vậy tôi đã trở thành cái đích tham quan của một số dân làng không còn điều gì hay hơn để làm.  

Vào một ngày có một người đàn ông, một người công nhân, dám đi vào đến tận cửa nhà bà chủ cho thuê nhà của tôi. Ông ta biết bà này và tìm cách bắt chuyện ngay khi thấy bà xuất hiện. Và bởi vì tôi vừa đi dạo quay trở về, bà giới thiệu tôi với ông. Ông ta cũng chỉ đợi có thế.  

Ông ta vô cùng tò mò và ngay lập tức hỏi về lý do tại sao tôi sống ở đây. Bà chủ nhà trả lời hộ tôi và mời chúng tôi vào nhà rồi mời người đàn ông một cốc rượu vang và tôi một cốc nước. Bà vui mừng vì lại có người qua chơi. 

Người đàn ông tỏ ra dễ chịu và tỏ ra quan tâm đến các phong tục tập quán của nước tôi, tôi cũng vui lòng trả lời nhiều câu hỏi của ông. Khi tôi hỏi ông đã sang Việt Nam chưa thì cả hai người phá lên cười. Người đàn ông lắc đầu và nói lần đầu tiên mới nghe đến tên đất nước này và không biết nó nằm ở đâu. Tôi choáng váng nhận ra là vẫn có những người thiếu hiểu biết và vô cảm, mặc dù nước Pháp trong hàng thập kỷ đã cử bao nhiêu thanh niên trai tráng sang Việt Nam và có nhiều người đã bỏ mạng cho mẫu quốc ở đó.  

Điều này khiến tôi thật sự rất ngạc nhiên.  

Một vị thầy thuốc liều lĩnh

Trong nhiều lần đi dạo tôi thấy trẻ em thường nô đùa và đi xe đạp trên các cánh đồng lân cận. Tôi mua một gói kẹo để tặng chúng, nếu lũ trẻ không còn thấy e ngại trước tôi. Phải mất một thời gian tôi mới cho được chiếc kẹo đầu tiên. Ranh giới ngăn cách qua đó được xóa bỏ, tính tò mò đã chiến thắng. Lũ trẻ từ đây đều đặn đến thăm tôi và nhận kẹo. Nhưng việc này phải giữ bí mật. Một cậu bé tiết lộ cho tôi rằng bố mẹ cậu cấm không được đến gần tôi, đặc biệt là không được bắt chuyện. Tôi tìm cách giải thích thái độ này và dần dần hiểu rằng ở đây người ta cần rất nhiều thời gian để có thể mở lòng mình. Nhưng nào tôi có thể làm được gì - sự đời là như vậy. Lịch sinh con của tôi ngày càng xích lại gần hơn, và tôi đã chuẩn bị sẵn mọi thứ cho việc trở về từ bệnh viện. Vào một buổi sáng, khi thấy có dấu hiệu chuyển dạ, tôi sang chỗ nhà bà chủ. Bà cử một thằng bé đi xe đạp vào xóm để đón ông bác sĩ.  

Thay vào việc ngồi xuống chiếc ghế mà bà đưa cho, tôi đi đi lại lại trong căn bếp, hai tay ôm chặt lấy cái bụng kềnh càng.  

Tôi không sợ hãi rằng trong trường hợp cấp bách sẽ phải tự sinh con. 

Cho đến lúc thằng bé thở hổn hển quay trở về thì gần một tiếng đồng hồ đã trôi qua. Sau đó chúng tôi nghe tiếng động cơ xe máy. Đây phải là người bác sĩ! Những gì chứng kiến sau đó khiến tôi trong phút chốc quên cả cơn đau đẻ: Ông bác sĩ có ý định chở tôi ngồi phía sau lưng ông trên chiếc xe Vespa bé xíu tới bệnh viện ở Tours nằm cách đây hơn ba mươi cây số. Ông không có ô tô.  

Tôi kiên quyết phản đối. Thà rằng tôi sinh con ở đây còn hơn trên chiếc xe máy của ông! Khi thấy tôi không chịu nghe, ông quyết định đi gọi một người hàng xóm có ô tô. Ông ta bỏ đi, và tôi lại tiếp tục chờ đợi.  

Người hàng xóm chở tôi đến bệnh viện một cách cẩn trọng và khẩn trương. Ông ta là một người rất chu đáo, thậm chí ông còn ở lại bên tôi, cho tới khi có một nữ y tá đến chăm sóc tôi.

Việc sinh nở diễn ra không có sự cố gì. Vào ngày 19 tháng Giêng 1956 tôi sinh một con trai. Khi người nữ y tá cho tôi xem con, trong một tích tắc tôi vụt nghĩ đến con trai Marcel của tôi. Từ đáy lòng tôi cầu mong cho con hạnh phúc và sức khỏe, trước khi âu yếm ngắm đứa con chung của tôi và Marcel.  

Lộc trời

Tôi đặt tên con là Jean-Pierre. Ngay sau đó Paulette đến thăm tôi. Từ ông bác sỹ bà nghe tin tôi đã sinh con ở bệnh viện. Bà ngây ngất bởi đứa bé và mang theo quần áo trẻ sơ sinh cũng như đủ thứ đồ vệ sinh. Qua đó bà đã mang lại cho tôi rất nhiều niềm vui.  

Sau ít ngày thì một chiếc xe taxi chở tôi và con trai về nhà. Jean-Pierre ngay từ đầu là một đứa bé xinh xắn và lớn lên trông thấy trong thời gian bú sữa. Tôi tự hào là đã có thừa đủ sữa mẹ để cho con bú!

Phải đến tháng Hai thì Marcel mới có thể về phép để thăm chúng tôi, nhưng chỉ trong vòng bốn ngày. Đất ở phía ngoài đóng băng đông cứng. Anh về bằng cách đi nhờ xe, đoạn cuối cùng thì cuốc bộ, chiếc ba lô lính đeo trên vai. Về tới nhà thì cả người anh đã lạnh cóng. Tôi vui mừng là đã giữ căn nhà đơn sơ của chúng tôi đủ ấm. Chúng tôi thật hạnh phúc khi được gặp lại nhau sau cả một thời gian dài xa cách. Marcel nhấc bổng tôi lên và ôm tôi thật chặt trong vòng tay anh. Jean-Pierre đang ngủ. Anh kiễng ngón chân nhẹ nhàng đi đến chỗ chiếc nôi là quà tặng của Paulette cùng với chiếc xe đẩy. Trông anh thật hạnh phúc.  

Khi tôi hỏi tại sao không về nhà bằng taxi anh nói là tiền phí quá đắt. Ngay lập tức tôi cảm thấy bị cắn rứt lương tâm. Từ lúc sống ở đây tôi đã nhiều lần đặt taxi vào thành phố, một phần cũng là để chạy trốn khỏi sự cô đơn. Chưa bao giờ tôi ý thức về điều đó như trong khoảng khắc này. Từ nhiều tuần nay tôi cũng chẳng bận tâm nhiều đến chuyện tiền nong. Trong tương lai tôi chắc chắn tôi phải lo việc kiếm tiền!  

Paulette mời ba chúng tôi đến uống cà phê ở nhà bà. Căn hộ của bà nằm ở trung tâm, tuy nhỏ nhưng rất tinh tươm, và tôi ngạc nhiên nhận thấy khoảng cách giữa căn hộ của bà và căn phòng đổ nát mà tôi đang sống khủng khiếp biết chừng nào.  

Marcel không có nhiều thời gian cho những chuyến viếng thăm như vậy. Trong lần về Pháp cuối cùng anh đã lo mọi giấy tờ cần thiết cho việc kết hôn của chúng tôi. Anh hy vọng sẽ có một tin tức khả quan về lá đơn cuối cùng anh đặt ở Đại sứ quán Việt Nam, tuy nhiên người ta cho anh biết vẫn chưa có trả lời. Thất vọng anh lại gửi tiếp một đơn mới, biết đâu có thêm cơ hội.

Vào sáng ngày thứ ba Marcel vẫn đang ngủ say. Trước đó chúng tôi nói chuyện với nhau gần cả đêm. Tôi thức dậy cho con bú và vừa cho thêm gỗ vào than hồng và rót nước vào siêu để chuẩn bị đun chè. Tôi đến cánh cửa sổ để cạo lớp băng vào buổi tối đóng ở phía trong mặt kính và nhìn ra ngoài. Và tôi ngỡ ngàng nhận thấy một điều kỳ diệu. Nó xảy ra ở đây, ngay trước mặt tôi! Hàng trăm, hàng ngàn, có lẽ đến hàng triệu viên đường đang từ trên trời rơi xuống, ngay trước cửa nhà chúng tôi! 

Nhanh hết mức, tôi dọn sạch quần áo từ hai thùng các tông. Tôi lấy thêm cả cái nồi, chiếc xô nhựa từ góc nhà rồi vội vàng chạy ra ngoài, trước khi điều kỳ diệu trôi qua. Tôi đặt mỗi thứ thùng, xô, nồi dưới bầu trời xám và quỳ gối cảm tạ.  "Pháp là một đất nước thật may mắn! Ở đây đường rơi xuống từ trên trời, còn ở Việt Nam thì chúng tôi phải lao động khổ ải trên đồng ruộng! Xin tạ ơn Trời!" tôi kêu to và vui mừng khôn xiết khi các thùng, xô, chậu cứ đầy dần.

Marcel xuất hiện bên cạnh cửa mà do quá xúc động tôi đã quên khép lại và hỏi tôi đang làm gì, giọng vẫn còn ngái ngủ.  "Đường! Đường!", tôi kêu lên hạnh phúc. Anh mỉm cười lắc đầu. Chúng tôi ngồi vào chỗ ấm rồi anh giải thích, trong lúc tôi vẫn còn đang run bắn vì lạnh và háo hức, rằng đây không phải là đường, mà là các bông tuyết lớn. Tôi chỉ nói:  "Anh cứ hẵng chờ đấy! Anh không tin em ư? Em sẽ chứng minh cho anh, chỉ cần cho xô đầu tiên đầy rồi anh sẽ thấy!" Anh lại mỉm cười rồi gật đầu. Chúng tôi kiên nhẫn chờ và chầm chậm uống trà. Sau đó tôi mang xô đường đầu tiên vào nhà. Tôi ngạc nhiên vì sờ vào thì thấy lạnh tanh, nhưng vẫn chắc chắn rằng đang có đường trước mặt mình. Sau một phần tư tiếng đồng hồ thì tất cả tan thành nước, tôi ngồi đó buồn bã. Marcel đã có lý.  

Điều kỳ diệu với những bông tuyết đầu tiên trong đời của tôi đã để lại một hậu quả: Hai thùng các tông đựng quần áo của tôi đã biến thành giấy nhão.

Thỏ có phải ở đâu cũng giống nhau! 

Từ đó trở đi, để tiết kiệm tiền, tôi ít khi vào thành phố và thực sự chỉ đi khi không thể trì hoãn một việc mua bán nào đó. Tôi đội ơn Paulette mỗi lần như vậy lại trông con hộ tôi trong mấy tiếng, trong lúc tôi bận đi mua sắm. Từ khi có cháu nội, bà trở nên nhã nhặn hơn với tôi, nhưng tôi cảm thấy mọi ác cảm của bà vẫn y nguyên. Ngay sau khi đến đây tôi đã tặng bà một bộ ấm chén pha trà kèm theo một tấm vải thêu lót bàn, bà cũng cám ơn nhưng nói thêm:  

"Được rồi, nhưng mà ở đây chúng tôi không dùng những thứ như thế này." Vào những năm sau đó không bao giờ tôi còn thấy lại những món quà tặng này nữa.  

Mùa xuân về và mang theo nhiệt độ dễ chịu. Phần lớn thời gian tôi ở nhà, một mình cùng Jean-Pierre. Thỉnh thoảng tôi đẩy xe nôi qua đường rừng và các khoảng cây thưa, thả bước dưới bóng râm của cây bạch dương. Những cánh đồng lúa mạch, ngô và nho tô điểm phong cảnh mà giờ đây tôi mới phát hiện ra vẻ đẹp của nó.

Tất nhiên vẫn còn nhiều người tìm đến để nhìn ngắm tôi từ xa, chẳng hạn khi tôi đem phơi tã lót giặt bằng tay trên dây phơi ngoài trời. Những lúc đó tôi lại nghĩ đến bếp lửa bằng ba hòn đá chụm lại vẫn thực hiện chức năng của nó một cách miễn chê và thầm nói:  "Các người cứ thoải mái xem tôi tồn tại ở đây được bao lâu đi! Ừ, tôi vẫn còn sống đấy. Ở chỗ chúng tôi trong rừng rậm thế này vẫn chưa là gì cả!" Vào một ngày, khi tôi đang lúi húi giữa hai luống nho để hái một loại rau dại ở chúng tôi được gọi là rau dền thì có một người nông dân bắt chuyện với tôi, vẻ mặt đầy lo âu. Ông ta đã quan sát tôi từ trước đó và nhìn thấy tôi đang hái loại rau nào.  

"Này cô ơi", ông ta nói với tôi một cách thân thiện và lắc đầu,  "cô không được hái loại rau này và đặc biệt là không được ăn nó đâu nhé! Đây là thuốc độc đối với thỏ đấy!".  

Tôi mỉm cười với ông và cám ơn sự quan tâm của ông. Nhưng tôi biết rất rõ về loại rau này và hiểu mình đang làm gì.  "Xin cám ơn ông. Nhưng mà ông có biết không, thỏ ở Việt Nam thì khác, chúng chẳng chết khi ăn phải loại rau này đâu ạ!"

Ông ta ngây người nhìn tôi rồi nhún vai bỏ đi.  

Sắc thái 

Những lá thư từ Marcel khiến tôi vui buồn lẫn lộn. Tình hình ở An-giê-ri không được tốt. Tốt thế nào cho được? Ở đó đang xảy ra chiến tranh, và tôi hiểu chiến tranh có nghĩa gì. 

Một sáng nọ, vừa lúc tôi đang trau dồi vốn tiếng Pháp bằng cách cố gắng đọc vài mẫu truyện tình yêu sến sẩm trong mấy cuốn tạp chí tiếng Pháp, món đồ tôi đổi bằng kẹo với lũ trẻ con, thì một chiếc taxi đỗ trước sân. Tôi hoàn toàn bất ngờ khi thấy Jeanne, dì của Marcel, bước xuống xe. Bà tới một mình. Trong tay cầm một cái túi. Tôi bước ra trước cửa, chào hỏi. Bà vừa cười vừa tiến vào.  

"Ta muốn được trông thấy đứa trẻ một lần! Thằng bé da vàng hay trắng?". Bà nhìn vào trong nôi rồi nói:  "Chà, cũng chưa biết được. Nhưng thằng bé rõ là đáng yêu!".  

Khi tôi hỏi, liệu bà có con cái hay không, bà cười lắc đầu rồi quay lại nói với tôi:  "Ta biết cô không có nhiều, và ta nghĩ những thứ này sẽ có thể rất hữu dụng với cô."

Trước khi tôi có thể mở miệng nói gì, bà lôi từ trong túi ra một cái chảo và một cái dĩa. Cả hai thứ đều đã gỉ đến mức hoen nhèm mà tôi chẳng mấy khi trông thấy. Bởi tôi vốn không có quan hệ gì với bà, và vì thế cũng không biết được bà sống giàu sang hay cơ hàn, lúc ấy với tôi, chỉ hành động của bà đã đủ ý nghĩa. Món quà nom thế nào không quan trọng, quan trọng là nó tới từ trái tim. Và thật vậy: Tôi không có cái chảo nào, mà tôi cũng có thể dùng thêm một cái dĩa.  

Biết ơn lòng thân thiện của bà, tôi mời bà ngồi lại và dùng một tách trà. Tôi còn mở thêm một gói bánh quy bơ. Bà không lưu lại lâu bởi xe vẫn đang đợi bên ngoài. Thật là một người tử tế, tôi nghĩ.  

Phải mất gần một buổi sáng tôi mới cọ được hết lớp gỉ ra khỏi cái chảo và chiếc dĩa. Cuối cùng thì chúng cũng sáng đến độ có thể sử dụng được. 

Ba ngày trôi qua và một chiếc taxi lại tới. Lần này là Jeanne. Gặp lại bà tôi mừng khôn xiết và dẫn bà vào trong, lòng le lói tia hy vọng tìm được người bạn đầu tiên nơi bà. Thế nhưng bà không ngồi xuống mà trưng lên vẻ mặt khó hiểu, kéo từ trong ví xách tay thời trang ra một cái túi rỗng không.  

"Tôi chỉ ghé qua để lấy lại cái chảo và dĩa mà tôi cho cô mượn. Xin cô hãy lập tức trả lại cho tôi." Lặng thinh và vô cùng lúng túng, tôi lấy ra hai thứ đồ vật này đã sáng bóng và thả chúng vào trong túi. Bà ta đột nhiên xoay người và nói:  "Cô nên học thêm tiếng Pháp: cho mượn không có nghĩa là tặng!" Rồi đi mất.    

Tôi đóng cửa lại sau lưng bà ta và vịn ngồi xuống. Tại sao bà ta lại có thể đối xử với tôi như thế? 

Jean-Pierre đã tỉnh, nó đói. Tôi rửa ráy cho thằng bé và đặt nó lên ngực mình, vẫn lắc đầu. Tôi thì thầm với nó:  "Con à, hôm nay một bà có xấu tính đã tới đây. Nhưng không sao hết, bà ta không làm được gì con đâu, có mẹ đây rồi".  

Tôi quệt đi dòng nước mắt trên gò má. Không ai trông thấy.  

Điều ít tồi tệ nhất trong những điều tồi tệ

Tôi hay nghe tiếng khóc của mấy đứa con nuôi của bà chủ cho thuê nhà. Tôi cũng biết rằng bà ta đối xử với chúng không mấy dịu dàng, có thể bởi bà đã uống vài chén, mà dù không phải cũng vậy. Bởi thấy thương cho lũ trẻ, thỉnh thoảng tôi cũng chơi cùng đứa con trai nhỏ ở bên ngoài hay đưa nó vào nhà để trông cùng với Jean-Pierre trong khi bà ấy để ý tới hai đứa còn lại.  

Một hôm nọ, tôi chợt thấy đứa con trai cứ gãi đầu liên tục. Tôi phát hiện trên da nó nổi những nốt sần nhỏ và nhiều những vết tấy đỏ lớn. Tôi không biết ấy là bệnh gì. Lúc tôi định cùng đi với nó tới gặp người phụ nữ kia, thằng bé run rẩy và cầu xin tôi không làm vậy. Ấy là tại tấm vải trải giường sần sùi thô ráp, thằng bé lắp bắp. Tôi biết có cái gì đó không ổn. Ánh nhìn sợ hãi của thằng nhỏ cứ mãi ám ảnh tôi. 

Ngày hôm sau, tôi quyết định hành động. Tôi đến thăm bà chủ cho thuê nhà và làm như thể tôi muốn thân thiết hơn với bà ta. Tôi để cho bà ấy ẵm con trai tôi, bà ta rất thích nó. Chẳng mấy mà người đàn bà lại trở nên vui vẻ. Trong lúc bà ta hôn hít thằng bé, tôi thăm thú quanh căn nhà. Hành lang dẫn vào phòng ngủ với ba chiếc giường gỗ dành cho ba đứa trẻ con. Tôi bước tới gần và ghé tai nghe thử xem người đàn bà kia có còn trong bếp hay không. Khoảnh khắc vén tấm trải giường lên, tôi rút tay lại tức thì trong kinh hãi: thay vì một tấm đệm, tôi trông thấy một lớp tầm ma dày. Thằng bé phải ngủ ở đây!  

Lặng người, tôi quay trở lại bếp, vờ như không hay biết gì. Tôi vừa mới phát hiện ra thứ gì thế này? Ngay lúc chúng tôi có thể thoát khỏi nơi đó, tôi đẩy xe nôi vào thị trấn. Tôi phải làm một điều gì đó. Tôi hỏi đường tới chỗ Thị trưởng và thuật lại tất cả những gì đã thấy. Với vẻ khó tin, người đàn ông nói lời cám ơn tôi và hứa sẽ thông báo lại cho cơ quan chức năng.

Chẳng mấy lâu sau, hai chiếc xe ô tô đỗ vào trước cổng. Tôi nhìn thấy ông Thị trưởng bước ra từ chiếc xe thứ nhất cũng hai người phụ nữ từ chiếc thứ hai. Họ tiến đến tận trước cửa nhà bà chủ cho thuê nhà của tôi và gõ. Bà ta mở cửa, hoàn toàn bất ngờ. Họ trao đổi ngắn và tôi để ý bà ta cự nự, không muốn cho họ vào. Ông Thị trưởng đẩy người đàn bà sang một bên và tiến vào bên trong. Lúc này, bà ta bắt đầu gào thét vào mặt những người đang đứng đó. Ngày sau đó, bà chạy ra khỏi nhà, với ông Thị trưởng sát sau lưng, và xông thẳng vào chỗ tôi:  

"Sau bao nhiêu chuyện tao làm cho mày! Mày trả ơn tao thế này đây, đồ da vàng!", bà ta hét. Ông Thị trưởng cố gắng trần tĩnh người phụ nữ. Nửa tiếng đồng hồ đằng đẵng trôi qua, trong suốt khoảng thời gian đó, tôi vẫn không biết chuyện sẽ được giải quyết thế nào. Cuối cùng, hai người phụ nữ bước ra khỏi căn nhà, đồ đạc đã đóng túi trong tay cùng đám trẻ. Họ rời di cùng nhau.

Ông Thị trưởng tới và giải thích với tôi, rằng bà chủ cho thuê nhà giờ đã bị truất quyền nuôi con. Cố nhiên, người phụ nữ này không muốn cho tôi ở trong căn nhà của bà ta nữa.  

Ông giúp tôi gói gém đồ đạc. Cũng không mất mấy thời gian. Với đứa con trong tay, tôi rời đi không vương vấn. Số tiền trọ tôi đã trả đương nhiên không thể đòi lại được. Đó là cái giá tôi trả cho lời tố cáo mà không nuối tiếc dù chỉ một giây.  

Có công mài sắt, có ngày nên kim

Ông Thị trưởng đưa chúng tôi tới một căn nhà nhỏ thuộc sở hữu của ông gần thị trấn hơn.  Ngụ tại tầng trệt là một gia đình đang thuê cánh đồng bao quanh căn nhà của ông. Căn hộ tầng một vẫn còn trống và theo ý ông, chúng tôi có thể dọn vào đó ở. Trên ấy còn có một căn gác mái chất đầy lõi ngô. Căn nhà trọ này khá đơn sơ, nhưng khi tôi nhìn thấy cái bếp ga mà tôi được quyền sử dụng trong phòng ăn, ngôi nhà này với tôi bỗng trở nên thật xa xỉ. Nhà vệ sinh nằm tách biệt, những người thuê nhà là chúng tôi sẽ phải chia sẻ cùng nhau. Câu chuyện chẳng mấy mà được truyền đi khắp thị trấn. Mặc dù vẫn còn có người khá dè dặt khi tiếp xúc với tôi, rất nhiều người, phần lớn là phụ nữ, chào hỏi cũng như đối xử với tôi tương đối thân thiện. 

Trong số ấy có vợ ông Thị trưởng. Bà là một quý bà đứng tuổi, người thảng hoặc tới thăm và hỏi han tình hình cuộc sống mẹ con tôi. Những buổi như vậy, chúng tôi thường cùng uống với nhau tách trà. Có một lần, bà lấy làm ngạc nhiên khi nghe thấy tiếng động lạ vang trên đầu chỗ chúng tôi. Tôi trấn an bà và giải thích, có lẽ ấy chỉ là tiếng chuột cống. Khi tôi kể cho bà nghe rằng, cách đây không lâu, tôi thấy một con chuột cống ngay gần nôi con trai tôi và dùng búa đập chết nó vì sợ rằng nó có thể cắn thằng bé, tôi để ý thấy bà có vẻ sửng sốt.  

Người duy nhất có vẻ không muốn làm quen với sự hiện diện của tôi là người đàn ông cùng thuê nhà. Một hôm nọ, khi chuẩn bị sử dụng nhà vệ sinh, tôi để ý thấy cánh cửa đã bị ai chốt lại. Lấy làm lạ, tôi gõ cửa nhà ông ta. Người đàn ông mở cửa, phủ đầu bằng giọng điệu hung hăng:  

"Nhà vệ sinh này dành riêng cho chúng tôi! Cô đi mà tìm nơi khác!" rồi hắn sập cửa lại ngay trước mặt tôi trước khi tôi kịp hé một lời.

Nhưng lần này, tôi không để mình thoái chí. Những ngày sau đó, tôi gom hết xú uế của hai mẹ con vào trong một cái xô. Thế rồi tôi đợi ông ta đến, muốn tới nhà vệ sinh, ông ta nhất định phải đi ngang hay vòng qua trước cửa sổ nhà tôi, và tôi đổ hết toàn bộ dung tích thứ hôi thối ngay trước mũi giày hắn.  

Ông ta giật nảy lại trong kinh hãi và hét lên phía tôi:  "Cô hất cái gì xuống đây! Cô làm cái gì đấy?"

"Ông không chú ý trong giờ lịch sử rồi", tôi nói vọng xuống.  "Tôi đang làm y như đức vua nước Pháp: tôi ném phân xuống từ cửa sổ". Rồi tôi nhẹ nhàng khép cánh cửa sổ lại.  

Tôi cười thành tiếng. Ông Hương chắc chắn sẽ rất tự hào về tôi! Vài phút sau, phòng vệ sinh lại mở rộng cửa cho chúng tôi cùng sử dụng.

Bất chấp gian nan 

Marcel tới với chúng tôi vào tháng Tám. Mẹ anh ấy đã thuật lại những sự việc diễn ra gần đây qua thư để anh biết nơi mà tìm chúng tôi. Vừa tới nơi, anh lập tức tới chỗ ông Thị trưởng để cảm ơn về sự hỗ trợ cũng như để tìm hiểu xem liệu những giây tờ chúng tôi cần để kết hôn và cho phép tôi nhập tịch, trở thành công dân Pháp, đã tới hay chưa.  

Ông lắc đầu và cho chúng tôi biết rằng giấy tờ hiện tại có vẻ vẫn đang nằm tại Sứ quán Việt Nam. Bản thân ông cũng không hiểu được nguyên nhân của sự chậm trễ này. Thế là chúng tôi quyết định lập tức lên đường đi Paris nhằm làm rõ mọi chuyện. Trước đó tôi còn cầu khấn tổ tiên và Thần Phật phù hộ. Ngài Đại sứ Việt Nam đón tiếp mà không để chúng tôi đợi lâu mặc dù không hề có lịch hẹn trước. Ông rất tử tế mời trà xanh sau khi chúng tôi ngồi vào chỗ trong văn phòng của ông. Lúc chúng tôi giải thích những quan ngại của mình và nói với ông, rằng chúng tôi đã chờ đợi những thứ giấy tờ này hơn nửa năm nay, ông đi lấy tập tài liệu của chúng tôi. Ông lướt nhìn vào trong rồi rút ra ba phong bì. Ông trông tôi rồi nói:  "Vâng, bây giờ tôi nhớ rồi. Chúng tôi không thể cấp đơn cho cô được bởi mẹ chồng chưa cưới của cô không chấp nhận cuộc hôn nhân này".  

Chúng tôi nhìn nhau như thể bị sét đánh ngang tai, rồi Marcel hoang mang nói:  "Làm sao mẹ tôi lại không chấp nhận đám cưới? Sao lại thế được?"  

"Đây", ông Đại sứ nói và đẩy ba bì thư về phía chúng tôi:  "Anh chị tự xem đi".

Trong phong bì là ba bức thư từ mẹ Marcel. Khẩn thiết tới mức van nài, bà cầu xin cấp trên của Marcel làm mọi điều có thể để ngăn trở đám cưới. Rằng con trai bà còn quá trẻ và ngây thơ, và rằng những yêu đương nhảm nhí này không thể nào nghiêm túc. Rằng ấy là nghĩa vụ của người mẹ mà bà phải bảo vệ con mình khỏi sai lầm này.  

Thực vô liêm sỉ tới tột cùng. Hằng tháng nay, chúng tôi chỉ chờ được bật đèn xanh là có thể bắt đầu một cuộc sống mới cùng nhau, có thể cho con chúng tôi một tương lai. Và suốt quãng thời gian đó, Paulette đã ngăn cản thành công tất cả những điều ấy. 

Tôi điềm tĩnh nói với ông Đại sứ:  "Đến tháng Ba này chồng tôi sẽ đủ tuổi. Thế có nghĩa là anh ấy sẽ có thể tự quyết định bản thân muốn gì, đúng không?".  

"Tôi yêu người phụ nữ này bằng cả tấm lòng", Marcel nói thêm vào. Ông Đại sứ cười.  "Nếu đã vậy, xin mời anh chị ra ngoài chờ thêm một chút. Tôi bảo đảm, anh chị có thể lập tức cầm giấy tờ về."  

Và quả thực như vậy.  

- 3 -

Những thế giới khác nhau

Được ăn cả, ngã về không 

Niềm kinh hãi trước cảnh biển động mà tôi đã lường trước chuyến đi còn lớn hơn nhiều so với nỗi lo sợ cho hệ quả tương lai của những việc chúng tôi đã làm. Hai đứa quyết định sát giờ tàu nhổ neo mới đến điểm ghi danh dành cho các quân nhân. 

Chúng tôi quan sát tất cả từ xa. Khi không còn ai xếp hàng trước cổng lên tàu, chúng tôi mới sải bước về phía người đàn ông làm nhiệm vụ kiểm tra. Marcel đưa cho ông ta giấy tờ và nói rành mạch:  "Suýt chút nữa thì chúng tôi lỡ mất chuyến tàu. Đây là vợ và con trai tôi. Giấy tờ sẽ tới ngay bây giờ".    

Người đàn ông liếc nhìn chúng tôi. Chúng tôi đứng đợi những "giấy tờ" cố nhiên chẳng bao giờ đến. Tàu chưa thể nhổ neo bởi chúng tôi vẫn chưa lên. Trên tàu có tiếng hỏi nguyên nhân chậm trễ. Khi nhân viên kiểm soát nói vọng lên rằng ông còn đang đợi giấy tờ trên đường tới, một mệnh lệnh được phát xuống:  "Cho lên, chuyện đấy tính sau. Muộn mất hai mươi phút rồi".  

Chỉ với mấy tiếng "Cảm ơn sếp!", chúng tôi lướt nhanh qua người đàn ông với đứa con và túi xách trên tay. Bước một thành công!

Chúng tôi dành cả ngày tới tận hoàng hôn bên nhau. Để tránh gây chú ý, Marcel mang hành lý lên boong và thả mình lên cái ghế nằm dành cho anh. Tôi tự tìm cho mình một chỗ dưới thuyền cứu hộ. Trời đã tối hẳn từ lâu, nhưng chẳng mấy chốc, tiếng khóc thất thanh của đứa con đang ướt sũng của tôi thu hút sự chú ý của một sĩ quan.  

Người đàn ông đưa chúng tôi lên buồng chỉ huy, nơi tôi kể lại với vẻ ngây thơ, rằng mình chỉ đi theo chồng dù quả là không có giấy tờ. Marcel bị triệu tập. Ông ta nói căng thẳng:  

"Bây giờ không kịp quay lại nữa. Tôi biết làm thế nào với hai người đây?"  

Marcel không giấu được nổi vui mừng. Anh tỏ vẻ bối rối, nhìn chằm chằm xuống sàn mà không nói một lời. 

"Tôi muốn được ở bên chồng mình nơi chiến trận", tôi mở miệng giải thích mục đích của mình.  "Quyết định nằm ở Ngài, Ngài Thuyền trưởng. Nếu Ngài không cho phép, cứ tự nhiên ném hai mẹ con tôi xuống biển. Tôi sẵn sàng".  

Ông chỉ huy nhìn tôi. Một phút tĩnh lặng đằng đẵng trôi qua. Ông quay về phía Marcel rồi nói:  

"Cậu trẻ à, khi cặp bến, anh nhất định sẽ bị bắt. Nhưng hiện tại hãy chăm sóc cho vợ con mình đi."  

Ông hướng về chỗ hai người thủy thủ đã dẫn chúng tôi vào và ra lệnh:  "Chuẩn bị cho phu nhận này và đứa trẻ một chỗ ngủ, tìm cho họ cái gì lót dạ nữa".  

Vui mừng khôn xiết, chúng tôi sụp xuống trong vòng tay nhau. Ông chỉ huy lắc đầu cười, tôi nghe tiếng ông nói:  "Hai người điên thật rồi!".  

Lạ lẫm ở phương xa

Tôi chịu đựng chuyến tàu dài hai ngày khá hơn dự tính, ngay cả khi cố gắng đến mấy cũng chẳng ăn được gì vì say sóng. Chúng tôi cập bến Bắc Phi và rẽ sóng biển xanh về hướng Algiers, thành phố trắng toát trong ánh nắng mặt trời. Tôi cảm nhận bầu không khí ấm áp. Như tất cả những hành khách khác, chúng tôi rời khỏi con tàu ngay khi nó cập bến.  

Đây không phải trạm dừng chân cuối cùng của chúng tôi. Trong hai giờ tiếp theo, chúng tôi phải rời khỏi Algiers để bắt tàu hỏa tới doanh trại quân đội Pháp tại Sidi-Bel-Abbes ở Tây Nam An-giê-ri. Ở đó có rất nhiều lính lê dương từ khắp nơi trên thế giới, trong số đó có một quân nhân cũng lấy vợ người Việt Nam. Hai người đã hứa sẽ giúp đỡ Marcel nếu có một ngày tôi cùng đến An-giê-ri. Và tôi cũng có thể lưu lại ở đó khoảng thời gian đầu, bởi ngay trong ngày hôm đó, Marcel phải khởi hành đi Tlemcen, nằm ở vùng Tây Nam Oran. 

Trong lúc chồng tôi đang bận rộn sắp xếp hành lý cho chặng hành trình tiếp theo, tôi quyết định gạt đi những cảm giác uể oải trong lòng bằng cách thăm quan thành phố cùng đứa con trên tay. Tại đây, ở "Algiers Trắng", một tên gọi khác của thành phố, vài thiếu niên người châu Âu ngồi bên hiên quán cà phê ven đường, cười nói vô tư bên cốc rượu Pastis, không để ý đến tối. Qua kiến trúc, người ta có thể thấy rõ tầm ảnh hưởng của Pháp tới nơi này. Nếu không nghe ra những giọng nói tiếng Ả Rập, tôi còn hằng tưởng mình đang ở Marseille.  

Những người bán hàng rong địa phương hòa mình vào đám người châu Âu, và sự hiện diện của vô số lực lượng cảnh sát không mảy may ảnh hưởng gì tới sự hài hòa này. 

Gần sát tôi là một thành phố cổ với khu phố An-giê-ri tên Kasbah. Nhưng thường lại ồn ào chào mời tôi mua hàng bằng một thứ ngôn ngữ lạ lẫm. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn thấy những người phụ nữ mặc bộ đồ trắng toát, họ được gọi là "Fatma". Họ giấu kín gương mặt sau lớp voan, tôi không hiểu tại sao.  

Mùi hôi thối xộc mũi từ những tảng thịt cừu bao phủ bởi ruồi nhặng treo trước các gian hàng hòa trộn với mùi thơm từ vô số các quán ăn, món làm từ cơm bột mì, hay còn gọi là Couscous, cá nướng than và Meshui, một món ăn làm từ thịt cừu hoặc thịt linh dương, đang đuoc bày bán.  

Đàn ông khoác trên người những áo choàng dài nom hơi giống sơ mi với ống tay rộng và mũ, gọi là Dschellabah, một số người đội khăn xếp, những ông già với chòm râu dê, lẫn trong đó có cả những đứa trẻ gầy nhẳng nhơ trong bộ quần áo cũ nát, nô đùa chạy quanh chúng tôi. Từ một góc xa vang lên tiếng Ả Rập. Một vài binh sĩ da trắng đeo súng bước xuống từ cầu thang dốc đứng dẫn xuống hàng rào thép gai giữa hai con hẻm. 

Một số mảng tường đất từng một thời sơn trắng của những ngôi nhà xây theo phong cách của người Moor bây giờ mang đầy những khẩu hiệu chính trị, như "Libérez Messali!"  ("Hãy phóng thích Messali!"). Người đàn ông này, theo tôi được biết, đã khởi xướng một cuộc vận động cách mạng vao cuối những năm hai mươi. Những khẩu hiệu thế này nhắc nhở người qua lại rằng họ đang ngụ tại một mảnh đất khao khát độc lập và đang chiến đấu chống lại những kẻ xâm lược và ngoại đạo bằng tất cả những gì nó có.  

Những tòa nhà cổ kính với tranh tường khảm đã mục vỡ đến nửa, một số với cổng vòm dát gỗ tỉ mỉ và công phu tương phản rõ ràng với những gian hàng xuống cấp nối với nhau bởi ban công và những căn hộ đơn sơ xấu xí chắn sau chấn song sắt.  

Những căn nhà này phần lớn được kết nối bằng đường cầu thang và hành lang. Sự hỗn độn của những ngôi nhà chồng chéo lên nhau tôi tưởng như không cách nào qua được tỏa ra một bầu không khí quỷ dị. Tôi không dám tiến vào sâu hơn mà quay ngược về hướng cảng. Mùi cá xacdin mới nướng quyến rũ đến mức làm tôi đói cồn cào. Khi tôi về tới bến cảng, Marcel cùng đi với chúng tôi đến nhà ga. 

Tôi nói, chúng tôi chen lấn qua đám đông, lên tàu và ngồi vào một băng ghế hẹp. Chỗ tựa lưng cứng ngắc làm tôi phải suy nghĩ xem liệu đứng hẳn lên có thoải mái hơn hay không. Toa tàu chúng tôi đông dần và tôi bắt đầu giết thời gian bằng cách quan sát những người đồng hành.  

Gửi lời theo gió

Với những người Chân Đen - tên gọi những người da trắng đẻ ở An-giê-ri - và những người phụ nữ mang mạng che mặt, chúng tôi di chuyển cùng rất nhiều quân nhân và lính lê dương nước ngoài đến Sidi-Bel-Abbes. Chúng tôi ngờ rằng, một vài trong số đó có thể đã từng có mặt ở Việt Nam. Cựu binh già ngồi cạnh những đồng đội trẻ tuổi, chẳng lớn hơn Marcel là bao. Chúng tôi nói chuyện với nhau, và một người rút từ trong túi ra một bức ảnh. Với nhiều tia luyến tiếc hơn kiêu hãnh ánh lên trong mắt, anh chỉ chúng tôi xem người "Con gái xinh đẹp" của anh, người đang đợi anh ở Sài Gòn. Tôi ngắm nhìn những đường nét tinh tế trên gương mặt người phụ nữ trẻ. Những người yêu nhau lại một lần nữa bị chiến tranh chia tách, tôi nghĩ. Tôi cười với người đàn ông trẻ tuổi, đồng cảm, và chúc anh sớm được ôm người thương yêu trong vòng tay. Anh chỉ cất lại bức ảnh trước khi rời đoàn tàu để tới nơi đóng quân tại Bufarik, nam Algiers. Tàu chúng tôi chạy qua vùng đồng bằng Mitidja. Khu vực này có vẻ rất màu mỡ, cạnh những cánh đồng rau xanh như trải về vô tận là những khóm cây ô liu xen kẽ cùng cây cam. Hoa quả và rau xanh vượt qua cả tầm mắt! Ít nhất, chúng tôi cũng sẽ không bị đói, tôi nghĩ thầm.  

Sau nhiều tiếng đồng hồ, chúng tôi rời con tàu đã tới bến Sidi-Bel-Abbas. Ngay sau khi Marcel được cất tạm đồ đạc vào một căn lều của đoàn lính lê dương, chúng tôi lên đường tìm cặp đôi đã hứa giúp đỡ chúng tôi khi trước. Sau vài lần lạc lối trong những con hẻm nhỏ, cuối cùng chúng tôi cũng tìm được căn hộ của họ. Trả lời tiếng gõ cửa của chúng tôi là một người đàn ông châu Âu cao lớn với nước da nhợt nhạt và khẩu súng lục cài thắt lưng. Đứng sau ông là người phụ nữ trẻ với khuôn mặt Á châu. Tôi mừng rỡ khi được gặp một người đồng hương. Theo tôi được biết, người phụ nữ tới từ Sài Gòn.  

Người đàn ông nhận ra Marcel và dẫn chúng tôi vào trong. Sau cuộc chuyện phiếm bên ly trà và một miếng bánh quy khô cho con trai tôi, hai người mới thú thực rằng họ tuyệt nhiên không hề có ý định giúp đỡ chúng tôi hay có chỗ cho tôi trú tạm trong khoảng thời gian đầu. Trái lại, họ còn nói đã vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy chúng tôi. Có lẽ ngày đó họ chỉ nói sẽ giúp chúng tôi theo phép lịch sự, chứ không thực sự nghĩ rằng có một ngày tôi lại tới thật. Và thế là chẳng đầy nửa tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đã lại đứng ngoài đường, mệt mỏi và thất vọng. Chúng tôi chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài tìm phòng trò cho tôi và con.

Marcel để lại cho tôi nhiều tiền hơn cần thiết để mẹ con tôi có thể sống được trong một vài tuần. Anh phải rời đi Tlemcen lập tức. Rồi với một vòng ôm vội và cái hôn cho con trai, anh biến mất mà chẳng kịp nói với tôi khi nào, bằng cách nào, hay thậm chí liệu anh có về đón tôi hay không.  

Tôi đóng cửa phòng trọ và thả mình lên giường. Tôi nằm đó, ngắm những khuôn mặt thiên sứ trắng toát đắp trên trần, chẳng còn sức mà nghĩ về tương lai.  

Cô đơn sẻ nửa

Sau đêm ngắn, tôi bị đánh thức bởi âm thanh hò la bằng tiếng Ả Rập từ một nhà thờ Hồi giáo. Chẳng mấy chốc mà tôi cùng con đánh bạo ra phố. Trước đó, tôi đưa một tấm bưu thiếp cho một Fatma to béo ở quầy lễ tân, nhờ bà gửi cho Rose. Bà còn chỉ cho tôi, hết sức có thể bằng tiếng Pháp, cửa hàng tạp hóa nằm ở đâu.  

Trên phố, cuộc sống thật náo nhiệt. Xe tải cũ gỉ nhèm với động cơ và còi tô ồn ào chở không biết bao nhiêu là cam và rau củ. Ô chở hàng của những phương tiện giao thông khác chất đầy đệm. Giữa những người đi xe đạp, những chiếc xe mà tôi chắc chắn rằng đã từng chở cả ông bà họ qua bao nhiêu chặng đường, thỉnh thoảng xuất hiện một vài chiếc Peugeot cũ trong giao thông như nêm cối. Lâu lâu lại có chiếc Jeep lướt qua tôi, bao giờ cũng với hai quan nhân trang bị súng máy ở trong.  

Tôi mua mấy quả cảm và cá xacdin nướng, những thứ giờ đã trở thành một dạng lương thực chủ yếu đối với chúng tôi, bởi chúng rẻ như bèo, mà lại cũng rất hợp với khẩu vị. Tôi vui mừng vì đủ sữa để cho con bú và thằng bé như vậy sẽ không bị thiếu chất.  

Những người thương lái và tôi giao tiếp bằng tiếng Pháp và thỉnh thoảng bằng tay nếu bức thiết, khi chúng tôi không thể cố thêm được nữa. Chỉ sau vài ngày, tôi đã có thể đếm được đến mười bằng tiếng Ả Rập.

Nhiều người phụ nữ châu Á sống tại Sidi-Bel-Abbes hơn tôi tưởng lúc đầu. Một hôm nọ, vừa lúc đi chợ, tôi tình cờ gặp một người Việt Nam chào tôi rất thân thiện. Chúng tôi nói chuyện một lúc. Người phụ nữ quê ở Huế mang tên Liên. Cô sống ở An-giê-ri được hai năm cùng với chồng là một lính lê dương, căn hộ nhỏ của hai vợ chồng không cách khu nhà trọ tôi ở là bao. Bởi vì không có con nên phần lớn thời gian cô sống một mình. Liên hân hoan khi thấy một gương mặt lạ mà quen và thường mời tôi cùng con trai qua nhà chơi. Nặng lòng nhớ quê hương, cô hỏi tôi tình hình quê nhà, nơi đã quá lâu rồi cô chưa có cơ hội nhìn lại. Bên tách trà xanh, tôi kể cho cô nghe về cuộc phiêu lưu vượt đại dương của mình, còn cô nói tôi biết về cuộc sống ở An-giê-ri.  

Tôi nghe được tình hình ngày càng bất ổn tại đây, về những vụ khủng bố liên miên ngày càng lấy đi nhiều mạng người và những phương pháp trả đũa tàn bạo.

Gần như ngày nào trong những tuần đầu tiên tại Sidi-Bel-Abbes chúng tôi đều cùng nhau. Niềm vui kết tình bạn mới giúp nỗi cô đơn xa cách chồng của chúng tôi vơi đi đáng kể.  

"Tôi... không hoan nghênh cô!"  

Marcel đột ngột trở về vào tháng Mười, mệt mỏi và căng thẳng. Sau khi ăn vài món hoa quả, anh kể với tôi rằng trong thời gian vừa rồi, anh đã lo xong bản sao chính thức của những giấy tờ tôi cần qua một thẩm phán tại Tlemcen. Anh còn tìm được một căn hộ. Chúng tôi định sẽ lên đường đến Tlemcen với anh ngay hôm sau.  

Với Jean-Pierre ngồi trong lòng, lúc đầu thằng bé có vẻ ngọ nguậy kém thoải mái, anh nghe tôi kể về người bạn tôi mới kết thân là Liên và về khoảng thời gian chúng tôi bên nhau. Chúng tôi cùng đi thăm cô để tôi có cơ hội nói lời từ biệt. Trùng hợp làm sao, chồng cô ấy cũng vừa mới trở về sau khi làm nhiệm vụ tai Algiers. Hai người đàn ông nói chuyện trong khi tôi và Liên chuẩn bị cơm chiều. Sau một buổi tối dễ chịu bên nhau, chúng tôi cáo biệt và gửi lại địa chỉ nơi ở mới.

Trong những giờ tàu chạy đầu tiên, cảnh trí chung quanh chẳng thay đổi là bao. Nhưng chẳng mấy chốc mà trước mặt chúng tôi là những cây xương rồng mọc thành hàng dài hai bên bờ con sông đã cạn trơ đáy và vô số những vườn nho nay đã trở thành trang trại ô liu. Một người Chân Đen đứng tuổi gốc Tây Ban Nha từ Orleansville trên cùng chuyến tàu kể chúng tôi nghe về đống hoang tàn khủng khiếp mà cơn động đất để lại hai năm trước, 1954, tại thành phố của ông. Đoàn tàu bỗng giảm tốc độ và tôi ngạc nhiên trông thấy một loạt những giàn gỗ chạy dọc đường ray xe lửa, cao trên mặt đất khoảng một mét, Marcel giải thích rằng ấy là tàn tích của những cột điện thoại bị đánh đổ trong một trận chiến cách đây không lâu. 

Phương tiện giao thông tại Tlemcen không khác gì ở Sidi-Bel-Abbes. Những người phụ nữ, lúc không bán vé số, đồ chơi hay dầu ô liu, đứng chờ khách cạnh những gian hàng nhỏ xíu bên lề phố. Tôi để ý thấy phần lớn những người lính chúng tôi gặp mặt đều mang súng, và điều ấy chợt nhắc nhở tôi rằng hiểm nguy vẫn đang lẩn quất khắp nẻo chốn này.  

Ở Bel Air, trong khu phố trên, có một ngôi nhà lớn nằm ngay cạnh bờ đá dốc, căn hộ mái hiên của chúng tôi nằm trong đó. Chúng tôi gõ cửa, và một người phụ nữ da trắng cao lớn với cặp mắt xanh ra trả lời chúng toi.  

Nhận ra Marcel, bà ném ánh mắt ngạc nhiên về phía tôi và con trai. Bà ta quay lại phía Marcel:  "Anh không hề nói với tôi rằng vợ anh không phải người da trắng! Nếu sớm biết, tôi đã không bao giờ cho các người thuê nhà. Nhưng giờ đã muộn quá rồi, các người vào đi".

Sợ sẽ làm bà thay đổi ý kiến, tôi theo vào mà không hề một lời. Lòng tôi lại một lần nữa tràn đầy phiền muộn.  

- 4 -

"Ai đó?"  

Căn hộ ấm cúng và khá rộng rãi với chúng tôi. Trong đó đã có sẵn một căn bếp, phòng tắm và một phòng sinh hoạt lớn. Bên ngoài còn có một cái hiên rộng nối sang những nhà bên cạnh với những chậu cây ăn quả lớn. 

Từ lúc đó, chỉ thỉnh thoảng Marcel mới có cơ hội ở cạnh chúng tôi bởi anh liên tục phải qua lại giữa Tlemcen và Oran. Thời gian ở nhà, anh dành để chỉ tôi, ví dụ, làm thế nào để đun nước sôi chỉ bằng hai sợi cáp. Anh cố định một sợi dây điện vào một bình kim loại, sợi còn lại vào một lưỡi dao lam được gắn vào một cái nút bần. Sau đó anh thả cái nút ấy ngập trong nước lạnh. Cả hai sợi cáp, anh đút giữ trong một ổ điện cho tới khi nước sôi. Hệ thống này giúp cuộc sống chúng tôi được tiện lợi hơn, đặc biệt vào những lúc bếp củi không cháy, hay chỉ chịu cháy nếu tôi đổ vào đó một cốc dầu.  

Nhưng cũng có những điều kỳ quặc. Tôi đã phải tập làm quen với việc ngủ trên hai chục quả lựu đạn tháo chốt cất trong một cái rương dưới gầm giường. Thi thoảng một ý nghĩ thoáng hiện trong đầu tôi, rằng sẽ thế nào nếu chúng tôi nổ tung lên trời khi đang yêu nhau. Bởi dạo này, hiếm có một ngày trôi qua mà không có ai bị ám sát, hay không quả bom nào phát nổ. Tới giờ, tôi đã có thể di chuyển thoải mái quanh thành phố mà không bị quấy rầy, mặc dù điều ấy không có nghĩa rằng những căng thẳng ngày càng tăng không tồn tại. Tất thảy người châu Âu đều ở trong nhà, và chỉ ra cửa hàng khi đặc biệt cần thiết. Trẻ con đã không được đến trường từ lâu. Một hôm thừa lúc Jean-Pierre đang ngủ, Marcel tháp tùng tôi tới khu chợ lớn, nơi có mái che một phần. Anh cầm lăm lăm vũ khí, quan sát kỹ không bỏ sót một ai.  Khi chúng tôi mua bán xong xuôi, hai người đàn ông lớn tuổi mặc áo Burnus xám, một dạng áo choàng len có mũ trùm, đi qua và ném những ánh nhìn hằn học về phía chúng tôi, tôi nghe thấy họ gọi theo "Rumi!"  ("Dân theo đạo Thiên Chúa!"), trước khi hai kẻ ấy nhổ nước bọt sau lưng chúng tôi.  

Cách chúng tôi vài trăm mét vang lên ngay sau đó ba tiếng nổ. Một gã trai trẻ chạy qua và ném ba quả lựu đạn vào cửa hàng và quán cà phê. Sau các tiếng nổ, dân địa phương bổ ra từ các ngôi nhà và cùng với người qua đường quen biết vây quanh thủ phạm. Bằng cách đó họ đã giúp đỡ hắn trốn thoát. 

Đây không phải lần duy nhất tôi giáp mặt với nguy hiểm. Chẳng lâu sau đó, mấy thằng bé Ả Rập chọi đá vào tôi, chúng bỏ chạy ngay khi Marcel chĩa súng lên đe dọa. Sau đó chúng tôi cài lựu đạn cầm tay và đặt các hộp kim loại để trước hiên như một hệ thống cảnh báo. Ngay từ đêm đầu tiên, mấy hộp sắt đã kêu loảng xoảng lúc chúng tôi đang say ngủ. Giật mình, Marcel vồ lấy súng và hỏi to:  "Ai đó?". Hai tiếng nổ vang lên thay câu trả lời: hai con mèo của bà chủ nhà vô phúc lạc vào bẫy của chúng tôi!  

"Sự kiện không may" này đương nhiên dẫn tới hậu quả là chúng tôi bị đuổi ra khỏi căn hộ ấy, và tôi cùng con trai lại một lần nữa phải vào khách sạn ở.  

Hân hoan

Bà Fatma làm việc tại quầy lễ tân có vẻ là một người rất thích giúp đỡ. Bà luôn chuẩn bị sẵn một tách trà bạc hà cho tôi và con trai, và bởi khách sạn tương đối vắng khách, bà thường đề nghị trông thằng bé hộ để tôi có thời gian làm việc riêng. Tôi vui vẻ nhận lời bà và sung sướng về việc không phải suốt ngày ru rú trong căn phòng với bầu không khí hiểm nguy và ngờ vực.  

Một ngày nọ, lúc bà đang trông thằng bé, Marcel mang tôi đến căn cứ của anh ở Tlemcen. Trước đó vị thẩm phán làm xong giấy tờ cho tôi, và kể từ lúc này tôi được phép chính thức đi lại trên khu vực này với tư cách là một công dân Pháp. 

Chúng tôi đi qua một bốt của lính đặc công Pháp, những người đang cố gắng giữ gìn trật tự trị an của thành phố. Marcel tự hào chỉ tôi vị trí anh hay làm việc nhất. Cách đây không lâu, anh tự dựng cho mình một quán bar nhỏ với những phương tiện đơn sơ nhất.  

Những quân nhân khi trở về căn cứ có thể nghỉ ngơi ở đây. Anh căng một chiếc dù làm mái che, gắn lên đó một cái báo cao su thổi phồng lên như một thứ trang trí. Trên sân trong tòa nhà có trồng mấy cây cam. Tôi nhìn quanh để chắc chắn không có ai lảng vảng gần rồi cố gắng giấu thật nhiều quả chín vào túi tôi khi không thể mang được nữa và quay trở về nhà trọ.  

Có một bất ngờ đợi tôi ở quầy lễ tân: Liên đến! Chồng cô hiện cũng đang đóng quân tại Tlemcen, và khi cô muốn thăm chúng tôi, người chủ nhà cũ đã chuyển cho cô địa chỉ khách sạn tôi đang ở. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau trong hân hoan. Liên giờ đang sống ở phía bên kia thành phố, và như thế, chúng tôi hẹn gặp lại nhau trong những ngày tiếp theo. Tôi sung sướng cảm tạ Trời Đất đã cho tôi gặp lại người bạn gái. 

Gieo gió gặt bão

Việc nấu ăn trong phòng khách sạn đương nhiên bị cấm hoàn toàn, nhưng tôi không để mình bị gò trong khuôn khổ. Tôi thường tự nấu cơm cho mình với một cái hộp sắt và xắt cá trộn vào đó.  

Vào một ngày tháng Một năm 1957, lúc đang làm sạch một mớ cá trích, thì tôi bị bất tỉnh. Con trai bò về phía tôi mà níu tóc, tiếng khóc của nó làm tôi tỉnh lại. Nằm trên sàn bếp lạnh, mặt úp vào mấy con cá trích, tôi dần dần nhận ra mọi thứ xung quanh. Vậy là đã rõ: tôi lại có bầu. Tôi chưa muốn cho Marcel biết và chỉ chia sẻ với Liên. Cô mừng cho tôi.  

Tình hình xung quanh chúng tôi lúc này dần trở nên căng thẳng. Một ngày nọ, khi Marcel không trở về khách sạn như thường lệ, suốt cả đêm tôi nằm thức chong chong. Chuyện gì đang xảy ra thế này? 

Mãi buổi tối hôm sau anh mới trở về. Ở Oran anh tìm mà không thấy chuyến tàu trở về Tlemcen. Rồi anh lại lỡ mất đoàn tàu ở cả bến tiếp theo. Cuối cùng, anh bỏ cuộc. Sau đó, khi nghe tin chính đoàn tàu ấy bị nổ tung lên không khí, Marcel gần như không thể tin nổi vận may của bản thân.  

Không lâu sau đó, anh mang về một chiếc xe nôi cũ cho Jean-Pierre. Anh kể với tôi về người đó, rằng anh ta là một người tình nguyện gia nhập vào đội dân quân vũ trang và sau đó bị thất vọng vô cùng. Như rất nhiều những người nông dân khác trong khu vực, anh ta sống cả cuộc đời cùng gia đình trong một nông trại không xa Tlemcen. Một ngày nọ, nông trại bị một nhóm quân giải phóng thuộc Mặt trận giải phóng dân tộc FLN tấn công cướp bóc. Bản thân anh trong thời gian ấy lại đang ở trong thành phố. Không một ai sống sót qua trận thảm sát, mọi gia đình đều bị giết tiệt. Đàn bà bị mổ bụng và nhét đá vào trong. Đàn ông nằm la liệt với bộ phận sinh dục nhét trong mồm cạnh những đứa trẻ bị tàn sát.

Những nông trại như vậy thường bị buộc sơ tán bằng trực thăng. Tôi hiểu quá rõ nỗi khốn cùng của những con người tội nghiệp này. 

Câu chuyện khiến tôi thấy rõ ràng, rằng những cuộc thảm sát như vậy chỉ đem lại ngày càng nhiều những chiến dịch đàn áp hơn. Chẳng mấy chốc, tôi cũng chẳng còn bất ngờ trước những câu chuyện về quân nhân khoe khoang những thứ chiến tích ghê rợn, chẳng hạn một cái vòng cổ được kết lại bằng tai của kẻ thù.  

An-giê-ri đã bị cuốn vào vòng xoáy bạo lực của chiến tranh và thù hận.  

Gian nan 

Tháng Hai, Marcel đột ngột bị điều về Bufarik, và tôi biết, chỗ tiền ít ỏi còn lại chẳng còn đủ dùng bao lâu nữa. Tôi phải làm gì đó, nhưng làm gì?

Tôi chợt nhớ tới những vườn cây ô liu và nông trại trồng cam ở gần đây. Để con lại cho bà Fatma coi sóc, tôi bất chấp nguy hiểm lên đường, cố gắng kín đáo lượm nhặt hết mức có thể những hoa quả rụng trên mặt đất. Những thứ này về sau được tôi bán lại với giá rẻ bên lề chợ cho những người dân bản xứ - một trò diễu cợt của định mệnh chăng?  

Sau một vài tuần, tôi cảm thấy hình thức kiếm tiền này mang quá nhiều rủi ro. Tôi phải nghĩ ra cái gì đó khác, và tôi hỏi ý bà Fatma, xin đổi một trong những bao tải hoa quả tôi thu lượm được lấy một cái bàn là điện cũ của bà. Trên phòng, tôi cố định phần tay cầm của cái máy xuống dưới và như vậy, tôi có thể nướng thịt hay cá ở trên mặt bàn là. Rồi, ý tưởng tiếp theo, tôi tới một bốt lính Pháp, và với một nụ cười mê hoặc, tôi giới thiệu với họ về dịch vụ giặt là quần áo của tôi. Tôi còn gì để mất? Và quả vậy: sau khi qua kiểm tra giấy tờ, tôi nhận được công việc, ngày một lần tôi nhận quần áo bẩn, đem về giặt giũ là lượt, ngày hôm sau đem giao lại tại đây.

Và tôi đã thành công! Tôi giặt quần và áo sơ mi trong chậu và bồn rửa trong phòng rồi phơi chúng trước cửa sổ cho khô. Sau đó, tôi là lượt lại tất cả mọi thứ. Bà Fatma tốt bụng, người đã nhắm một mắt cho qua việc nấu nướng trong phòng, giờ phải nhắm cả hai mắt làm lơ bởi cầu dao điện phòng tôi ngày nào cũng sập. Bà cam chịu tất cả với một nụ cười thân thiện. Thế là chẳng còn gì cản trở phương thức kiếm sống mới của tôi nữa.  

Tôi muốn làm Marcel bất ngờ khi anh trở về mấy tuần sau đó. Đầy tự hào, tôi chỉ cho anh xem cái hộp đầy tiền tôi kiếm được. Phản ứng của anh khác hẳn với những gì tôi mong đợi. Anh giận dữ đẩy tôi ngã xuống giường:  "Cô lấy đâu ra số tiền kia? Cô đã làm trò gì vậy? Có phải cô đã ra đứng đường đánh đĩ không?", anh vung tay lên quát. Tôi chưa bao giờ thấy anh như thế. 

Tôi đứng dậy, nhìn thẳng vào anh và từ tốn giải thích làm cách nào tôi kiếm được một khoản đáng kể như vậy. Lúc bấy giờ, với nét mặt thiểu não, anh ngồi sát vào tôi rồi ôm tôi trong vòng tay. Anh xin lỗi vì phản ứng của mình và ghì tôi thật chặt.  

Tôi kiếm được khá nhiều nhờ công việc kia, còn nhiều hơn số anh kiếm được trong vài tháng.  

Của Trời cho 

Lúc này Marcel lại phải luân chuyển qua lại giữa Tlemcen và Oran. Bởi vậy mà tôi buộc phải bớt nhận các hợp đồng giặt là và dành nhiều thời gian hơn cho Jean-Pierre, thằng bé giờ đã mau mắn biết đi.  

Những buổi tối Marcel ở nhà, chúng tôi không bao giờ nhắc đến những cảnh bạo tàn mà anh phải bắt buộc chứng kiến. Chỉ nhìn qua vẻ mặt ngày càng phờ phạc trong mỗi lần anh trở về đã đủ nói lên tất cả.

Một buổi tối đầu tháng Ba vợ chồng Liên đến thăm chúng tôi mà không báo trước. Chồng Liên được rảnh vài hôm, hai người có ý mời chúng tôi cùng làm một chuyến xe du ngoạn với họ vào sớm hôm sau. Họ muốn tham quan dãy núi Atlas hùng vĩ không mấy cách xa chỗ chúng tôi. Bọn tôi thực không cần phải nhắc nhở họ rằng những dự định như vậy nguy hiểm và vô lý thế nào vào thời điểm này. Xuất thân là lính lê dương, chồng Liên là người hiểu rõ nhất những nguy hiểm rình rập. Tuy nhiên anh ấy vẫn quả quyết rằng lộ trình anh chọn là an toàn. Hơn nữa, anh cũng nói, chúng tôi sẽ không đi mà không có vũ khí. Dù vậy chúng tôi vẫn cảm ơn và chối từ. Sự tình diễn ra sau đó cho thấy lựa chọn của chúng tôi là đúng đắn. Chiếc xe sa vào một ổ phục kích đã được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng. Thi thể của hai người được tìm thấy không lâu sau đó và được những người lính trẻ đưa trở về Tlemcen. 

Cái chết của người bạn gái là một cú giáng mạnh vào tâm hồn tôi. Trong giây lát tôi ý thức về môi trường mà sinh linh còn chưa chào đời đang nảy nở trong tôi phải lớn lên trong đó, ấy là nếu tôi vẫn còn sống sót. Cuộc chiến tranh tàn bạo này chỉ biết đến những qui tắc đơn giản:  "Tín đồ" chiến đấu chống lại những "kẻ vô thần", giới tính, tuổi tác hay màu da chẳng có nghĩa lý gì ở đây!  

Tôi hiểu rõ, Trời cho đi cái gì thì cũng có thể lấy đi cái ấy bất kỳ lúc nào. Tôi đã phải bỏ lại đứa con trai yêu quý ở Việt Nam; liệu tôi có sẵn sàng hy sinh đứa tiếp theo? Không, tôi không thể nào tiếp tục đem những sinh linh vô tội vào vòng mạo hiểm. 

Khi trước tôi lựa chọn theo Marcel đi An-giê-ri nhanh bao nhiêu thì giờ tôi quyết ý quay trở về Pháp nhanh bấy nhiêu. Và như Ông Trời muốn ngỏ ý cho tôi biết quyết định của mình là đúng đắn, các bước thực hiện sau đó đã diễn ra một cách chóng vánh. Chồng tôi nhận lệnh luân chuyển tới Oran, không đành để tôi ở lại Tlemcen một thân một mình, anh đưa tôi theo cùng. Bà Fatma vừa chào vừa khóc, tôi hứa sẽ mãi giữ những kỷ niệm đẹp về bà trong tim và cảm ơn bà vì tất cả những gì bà đã làm cho chúng tôi trong thời gian qua.  

Và rồi tôi cùng con trai đã yên vị trên một chiếc máy bay quân sự mang chúng tôi tới Oran. Thời khắc ấy đã tới: tôi phải nói chuyện với Marcel.  

Giọt nước mắt quả cảm

 Ngay khi hạ cánh ở căn cứ Senia, chúng tôi đi taxi vào thành phố. Những đại lộ to rộng, những tòa nhà sang trọng, tô điểm thêm bằng những con đường mái vòm, những con phố dài nằm dưới bóng những cây bạch đàn lớn - tôi cảm thấy Oran có lẽ còn đẹp hơn cả Algiers, có lẽ bởi đã lâu rồi tôi không ở tại một thành phố lớn. 

Chúng tôi dễ dàng tìm được khách sạn. Vào phòng, tôi thố lộ với Marcel chuyện mình đã có bầu và ý muốn quay trở về Pháp. Tôi nhận ra được cảm xúc buồn vui lẫn lộn trong anh, nhưng như bao lần, anh ủng hộ quyết định của tôi.  "Như vậy có lẽ là tốt nhất", anh nói.  

Phải để anh lại một mình, tôi đau khổ vô cùng, nhưng trách nhiệm bảo đảm an toàn cho các con tôi lớn hơn hết.  

Marcel nhanh chóng sắp xếp chuyến bay cho chúng tôi quay trở lại Lyon, và chẳng mấy chốc, vào một buổi sáng, một chiếc DC-4 đã đỗ cho mẹ con tôi ở sân bay. Chồng tôi hộ tống chúng tôi tới tận chỗ máy bay và ôm chúng tôi thật chặt trước khi hai mẹ con lên máy bay. Thế rồi cửa đóng lại. Cố nhìn ra bên ngoài, tôi chưa bao giờ thấy Marcel như thế: anh khóc. Lấy ống tay áo gạt đi nước mắt, anh úp hai bàn tay lên mặt.  

Tôi chẳng làm gì cho anh được nữa, nhưng vào lúc này, tôi cầu khấn Tổ tiên thay tôi giúp anh.

Người đang yêu sẽ mãi yêu 

Hạ cánh tại Lyon-Bron, tôi thở phào khi lại được đặt chân trên đất Pháp. Đồng thời tôi cũng không nghĩ ra được một lý do nào để thực sự vui mừng. Nhưng lần này, tôi chẳng còn sợ hãi điều gì nữa, bây giờ tôi cũng đã có khả năng trò chuyện bằng tiếng Pháp tốt hơn nhiều. Chúng tôi đi xe buýt tới nhà ga, ở đó tôi dừng lại mua ít bánh mỳ và hoa quả. Sau đó chúng tôi lên tàu đi Tours. Một chiếc taxi đưa chúng tôi tới Tauxigny, ngôi làng nơi căn hộ cứ vẫn đang chờ chúng tôi. 

Nơi này vẫn y nguyên như khi chúng tôi đi. Tôi cho đứa con trai đang mệt mỏi bú và đặt nó lên giường. Mấy bông hoa khô từ bó hoa cưới của tôi vẫn nằm trên mặt tủ đầu giường.  Sau khi đã pha cho mình một chén trà, tôi cất đồ đạc từ va li và nhẩm tính những việc phải lo liệu ngày mai. Tôi bỏ hoa quả vào một cái đĩa làm đồ cúng để đặt lên bàn thờ mà Marcel đã đóng rồi thắp ba nén nhang. Tôi cảm ơn Tổ tiên đã phù hộ cho tôi có một chuyến hồi hương an toàn. Tôi khấn Trời độ trì cho chồng tôi ở An-giê-ri và cho cả chúng tôi. Tôi cũng không quên cả đứa con trai tôi phải để lại ở Việt Nam, tôi hy vọng sẽ có một ngày đón nó sang cùng chúng tôi.  

Tin tôi trở về cùng con trai nhanh chóng truyền đi khắp xóm. Một lần nữa tôi lại được chào đón một cách thân thiện, nhưng chỉ còn ít người tới thăm hỏi như trước kia. Vợ ông Thị trưởng vẫn thỉnh thoảng tới thăm chúng tôi, đôi lúc cũng có những đứa trẻ mang đến cho tôi ít cuốn tạp chí như dạo trước khi ra đi.

Paulette đã được thông báo qua thư. Bà đến hỏi han chúng tôi, con trai của bà và được biết về cái thai tôi đang mang trong bụng.  

Như dạo trước, tôi thường cảm thấy mình bị bỏ rơi một mình. Mặc dù điều này chẳng có gì mới mẻ, nhưng tôi cảm nhận được rằng mình đã cứng rắn hơn. Thảng hoặc tôi cũng tự hỏi mình, liệu sống ở đây hay chết ở An-giê-ri hoặc Việt Nam thì tệ hơn. Tôi sợ rằng mình không còn thể yêu thương được nữa. Rồi tôi nhìn đứa con trai tôi vui vẻ dạo chơi trên đôi chân nhỏ bé của nó, rồi cảm nhận thấy cái thai đang cựa quậy ở trong bụng. Tất cả những điều ấy truyền cho tôi năng lượng, chuyển hóa sự cứng rắn thành sức mạnh và thuyết phục tôi rằng cuộc sống của mình không vô nghĩa. Tôi vẫn còn có khả năng yêu thương. 

Fontaine 

Ngày lại ngày, rồi bao tuần, bao tháng trời trôi qua. Xuân này tôi dành thời gian bên con trai và nhìn ngắm thiên nhiên đang bừng tỉnh từ giấc ngủ đông, trong lúc bụng tôi ngày một thêm tròn vo. Những bức thư it ỏi từ Marcel tôi đọc đi đọc lại đến gần như thuộc làu. Anh còn sống và rất mong đợi được gặp lại chúng tôi vào tháng Sáu tới.  

Đối với Jean-Pierre, tôi là người tiếp xúc duy nhất. Chúng tôi cùng nhàu nghịch vỏ ốc hay đá cuội. Mỗi lần những cái tháp nhỏ chúng tôi dựng lên đổ ụp xuống, nó đều cười nắc nẻ. Từ lâu tôi đã cai sữa cho nó. Chủ yếu chúng tôi ăn cơm và rau, cùng với cá hoặc thịt nếm xì dầu. Thằng bé gắn chặt với tôi như hình với bóng.

Một ngày nọ, người đưa thư với chiếc xe đạp cũ mang tới cho tôi một lá thư từ An-giê-ri. Tôi mời người đàn ông vào nhà như mọi lần. Bỗng dưng con tôi sáp lại gần, tóm lấy đùi của ông và nhe răng cắn. Người nhân viên bưu điện rú lên đau đớn và đánh rơi túi thư. Jean-Pierre thì đứng đó và hớn hở, vui mừng ra mặt vì hiệu quả của miếng cắn.  

"Thằng bé con ghê hơn cả chó!", người đàn ông tức giận hét lên và đưa tay xoa chân. Tôi xin lỗi và giúp ông thu thập lại thư từ. Jean-Pierre phản ứng như vậy rõ ràng là ghen tức.  

Cuối cùng Marcel cũng trở về. Cuộc xum họp xóa nhòa khoảng thời gian xa cách. Muộn phiền duy nhất là hành xử của con trai chúng tôi. Nó không nhận ra cha và không muốn cho anh vào nhà. Marcel lúc đầu rất giận, nhưng về sau chỉ buồn bã. Phải mất hơn một tuần, thằng bé mới nhận thức được người trước mắt nó là ai. Marcel bắt đầu suy nghĩ, liệu cách chúng tôi lâu như thế có còn hợp lý nữa hay không.

Vào ngày 24 tháng Sáu năm 1957, tôi vừa tỉnh giấc thì vỡ ối. Tôi lay gọi Marcel và nhờ anh đun một nồi nước. Giật mình tỉnh giấc, anh lo lắng hỏi liệu tôi có muốn tới bệnh viện hay không. Tôi từ chối bởi không còn kịp nữa, mà tôi cũng không sợ phải sinh đứa bé một mình. Nghe theo lời tôi, anh rời phòng ngủ. Những cơn đau đẻ bắt đầu kéo tới đều đặn, tôi nghĩ tới một dòng suối trong vắt róc rách chảy để quên đi cơn đau. Và như thế, một bé gái xinh xắn chào đời, tôi đặt tên con là Fontaine. 

Những điều quan trọng và vớ vẩn 

Bác sỹ do Marcel gọi tới nơi khi hết thảy đã xong xuôi. Hoàn toàn lạc lõng, ông ta đứng ở chân giường, có vẻ như đang đắn đo xem nên cắt dây rốn thế nào. Mãi không thấy ông có động tĩnh gì, tôi nôn nóng nói:  "Ông cứ làm đi xem nào! Hay tôi phải tự làm? Tôi biết làm thế nào đấy".  

Người đàn ông lấy lại sự điềm tĩnh và cắt rốn, trong lúc tôi quan sát kỹ lưỡng xem ông ta làm mọi việc có chuẩn xác hay không.  

Khi ông bác sỹ lắc đầu rồi đi, Marcel vào xóm thông báo cho mẹ anh được biết. Tôi hút mũi cho con và nhổ đi những thứ không sạch sẽ. Chồng tôi trở về, giúp tôi đặt lên dây rốn đã cuộn lại một đồng xu bạc lớn mà tôi chuẩn bị từ lâu. Tôi vui mừng khôn xiết khi lại có một đứa con gái. 

Một thời gian ngắn sau đó, một người phụ nữ lạ mặt tới thăm chúng tôi. Với phục sức giản dị và đôi bàn tay ngăm đen gồ ghề, bà mang một vẻ khiêm tốn và dễ gần. Marcel nhận ra bà ngay lập tức và giới thiệu tôi. Ấy là dì Madeleine, một người em gái của Paulette. Khi nghe tin về đứa con gái mới sinh của chúng tôi, bà tự nhiên đan cho cháu hẳn một bộ đồ trẻ em. Rồi người phụ nữ này lặn lội cả một quãng đường xa chỉ để đem bộ quần áo ấy cho chúng tôi.  

Tôi cảm động và hạnh phúc vì cuối cùng cũng được quen biết một người họ hàng tại Pháp có thiện ý với mẹ con chúng tôi.

Một vài ngày sau, con gái chúng tôi chính thức được đăng ký khai sinh với tên Fontaine Hélène. Rồi Paulette tới thăm chúng tôi, xiêm y đoan trang đẹp đẻ như mọi lần. Bà đem theo đồ chơi cho Jean-Pierre làm nó vô cùng sung sướng. Chúng tôi kể với bà về chuyến thăm của dì Madeleine. Qua giọng điệu của bà, tôi biết bà không thích chuyện ấy.  "Madeleine đến đây rồi? Dì ấy tự đi cả quãng đường xa như thế ư?" Rồi bà nhìn tôi:  "Cô biết không, Jacquie, dì ấy sống ở rìa thành phố. Một nông dân thực thụ" "Có lẽ vậy", tôi trả lời,  "nhưng dì ấy thân thiện và chu đáo. Và ai biết được dì đã bỏ nhiều công sức thế nào vào cho bộ đồ kia chứ".  

Bà đổi chủ đề. Bà tỏ vẻ sửng sốt khi nghe tên tôi đặt cho con gái: bà cho rằng cái tên ấy thật nực cười. Rụt rè nhưng rành mạch, Marcel đáp lại:  

"Loan là mẹ đứa trẻ. Cô ấy sinh nó ra và có quyền đặt tên theo ý cô ấy muốn."

"Hélène còn tạm chấp nhận được. Ta có thể đặt tên nó là Hélène nhưng chắc chắn không thể là Fontaine!", bà nói. Đã tới lúc bà ấy phải đi.  

Nhẫn nại, không để bà mẹ chồng có lý do mà cãi vã, tôi bế con gái nhỏ vào lòng và cười với nó một cái thật tươi. Bà ta có nghĩ gì thì tôi chẳng buồn quan tâm!  

Mối nguy hiểm đến từ chiếc hộp

Tôi đặt may một chiếc áo dài bằng vải xa tanh đẹp màu xanh lá cây sẫm trong thành phố. Tôi thấy mình xứng đáng. Trang phục cổ truyền hợp với tôi nhiều hơn quần áo phương Tây, và như thế, tôi làm quen với việc ăn vận như vậy, tự tin khoác tay người chồng hãnh diện của mình đi dạo trong công viên thành phố Tours. Những con mắt ngạc nhiên và ngưỡng mộ của những người qua lại dán về phía chúng tôi. Trước khi rời nhà để quay lại An-giê-ri, Marcel tậu một khẩu súng, vì sự an toàn của chúng tôi, như anh nói. Anh sống trong cảnh giác thường trực, lúc ngủ mới thả lỏng, mà ấy chỉ là khi không cơn ác mộng nào quấy rầy. Anh còn nói với tôi rằng anh đã quá mệt mỏi với chiến tranh, và mong chờ biết bao cái ngày nghĩa vụ quân sự tại nước ngoài của anh kết thúc. Với hi vọng ấy, chúng tôi chia tay nhau vào một buổi sớm. 

Công việc chăm sóc bọn trẻ dễ dàng hơn nhiều so với việc trải qua ngày dài còn lại. Chẳng mấy mà tôi đã xong hết việc nấu nướng, lau chùi và giặt giũ, thời gian sau đó đối với tôi thực dài lê thê. Khi lũ trẻ đã ngủ, tôi lại thả mình vào những tạp chí sến súa. Có lần một trong số những thanh niên hay qua lại chỗ tôi còn mời tôi thuốc lá. Tôi hít một vài hơi rồi ho sặc sụa, sau đó trả lại điếu thuốc với cảm giác khó chịu. Ngay cả khi điếu thuốc đầu tiên chẳng ngon lành gì, tôi vẫn biết ơn không khí bầu bạn do những người trẻ tuổi ấy mang lại. Vì thế mà tôi vờ rằng mình thích hút thuốc, và rồi mỗi ngày dần trở nên phụ thuộc hơn một chút mà chính bản thân cũng không ý thức. 

Mới đầu tháng bảy Marcel đã trở lại. Trong lúc quân đội Pháp bị cuốn vào ngày một nhiều vào những trận chiến ở khắp An-giê-ri, thời gian phục vụ ở nước ngoài của anh kết thúc. Bây giờ Jean-Pierre đã có thể nhận ngay ra cha và hai bố con đều vui mừng. Marcel tỏ vẻ thông cảm về việc tôi bắt đầu hút thuốc, mặc dù anh không được vui. Và tôi cũng chỉ thỉnh thoảng nuông chiều bản thân một điếu.  

Có Marcel trở về bên cạnh thật thích. Khi anh thấy tôi có vẻ mệt mỏi với công việc nhà cửa, như là khi tôi phải đun quần áo rồi cọ chúng bằng đá, anh quyết định lấy tiền tiết kiệm ra mua cho tôi một cái máy giặt. Và theo sau cái máy thần diệu xa xỉ ấy là một cái tủ lạnh. Rồi tới một sáng nọ, nhằm để tuyên chiến dứt điểm với sự cô đơn của tôi, một cái máy vô tuyến truyền hình được chuyển về cho chúng tôi, với thứ này chúng tôi có thể theo sát diễn biến của tất cả những gì đang xảy ra trên khắp thế giới, đặc biệt ở Việt Nam. 

Chúng tôi là người đầu tiên trong làng tự hào sở hữu thứ thiết bị như thế. Tôi đứng trước chiếc hộp lạ lùng đang chiếu lên những hình ảnh động trắng đen trong lúc một giọng nói đang thuyết minh gì đó về những hình ảnh ấy.  

Chương trình đầu tiên chúng tôi cùng xem với nhau là thời sự. Yên lặng ngồi trước cái máy kỳ diệu, chúng tôi tập trung chú ý lắng nghe. Một người đàn ông đọc bản tin. Marcel hỏi tôi cái gì đó nhưng tôi không trả lời. Mặc cho anh cố gắng nậy ra một lời từ tôi, tôi vẫn khăng khăng giữ im lặng và ra dấu bảo anh yên tĩnh. Bất ngờ bởi hành động của tôi, anh hỏi vì cớ gì tôi lại không trả lời. Tôi thổ lộ nỗi lo sợ của mình: Tôi tin chắc rằng người đàn ông trong cái hộp kỳ lạ kia có thể nghe thấy tiếng chúng tôi, mà tôi không muốn thế. 

Marcel bật cười và giải thích cho tôi phương pháp hoạt động của thứ công nghệ này. Chúng tôi tiếp tục với chương trình, anh hứng thú, tôi thì mê hoặc. Cuối cùng, người ta trình chiếu một bộ phim và tôi bỗng nhiên có cảm giác, thiết bị này phát ra nguy hiểm. Trong một cảnh có một người đàn ông chuẩn bị cướp của một người phụ nữ tội nghiệp. Không hề do dự, tôi đứng bật dậy, một chiếc guốc gỗ trong tay, sẵn sàng hỗ trợ người phụ nữ kia. Nhưng trước khi tôi kịp ném chiếc guốc vào kẻ vô lại trên màn hình, Marcel đột ngột tắt máy vô tuyến. Phải mất một lúc tôi mới nhận ra rằng thứ tôi đang thấy đã được chấm dứt chỉ bằng một cái nhấn nút.  

- 5 -

Kẻ ti tiện

Chồng tôi hiện đang phục vụ tại Rochefort, cách chúng tôi hơn trăm cây số, chỉ mỗi cuối tuần anh mới đi tàu về nhà. Để thỉnh thoảng trong tuần có thể thăm chúng tôi, anh tự mua cho mình một chiếc xe máy nhỏ và cố gắng về với chúng tôi, thường là trái phép. Trời đã sang thu, ngoài đồng lúa mạch vừa gật xong. Một hôm, tôi gặp bà phu nhân ông Thị trưởng trong một hiệu bánh. Bà thân thiện chào hỏi chúng tôi, nhìn hai đứa con tôi trong xe nôi trìu mến rồi hỏi liệu chúng tôi đã ăn táo chưa, bởi món này rất tốt cho sức khỏe. Tôi nói chưa và bà bảo tôi rằng mấy cây táo to nằm sau vườn nhà chúng tôi là của bà. Nếu muốn, tôi có thể nhặt bao nhiêu quả đã chín rụng tùy thích! Để không thì chúng cũng hỏng. Tôi vui vẻ đồng ý và ngỏ lời cám ơn. Bà thực là một người phụ nữ tốt bụng. 

Fontaine vẫn ngủ say ở nhà. Tôi cầm hai cái túi, đưa con trai ra ngoài nhặt táo. Hứng khởi vô cùng với cuộc phiêu lưu, nó tập trung giúp tôi gom quả. Chẳng mấy chốc mà cả hai túi đều đã đầy. Chậm rãi, chúng tôi kéo lê chúng về nhà. Gần ngay trước cửa, đột nhiên người thuê đất xuất hiện từ trong góc. Ông ta đã quan sát chúng tôi suốt từ nãy và giờ đang đứng rình.  "Cô làm gì ở đây? Ăn trộm hoa quả có phải không?", ông ta nói gay gắt.  

"Không", tôi trả lời đơn giản,  "bà phu nhân Thị trưởng đã cho phép tôi lấy số táo này. Chúng tôi gom quả về để tôi làm mứt". Con trai sợ sệt trốn sau lưng tôi.  

"Tôi không quan tâm cô làm gì với chúng. Tôi là người thuê đất ở đây, chỗ táo này thuộc về tôi. Nhưng mà tôi có thể bán lại cho cô, cũng không đắt đâu", ông ta nói tiếp và bắt đầu nhẩm tính. Để nhận thấy chi tiết này, cơn giận dữ cuộn lên trong tôi. Tôi tiến lại gần và dốc cạn hai cái túi. Táo rơi đầy trước mặt ông ta. Rồi tôi nắm tay con trai và nói, trước khi bỏ vào trong nhà:  "Ông cứ giữ cả đi!".

Tôi đã sớm quen với thái độ hận thù của con người này đối với tôi, với ông ta, tôi chỉ còn có cảm giác khinh bỉ. Nhưng nghĩ đến chỗ hoa quả ấy rồi sẽ héo hỏng tôi vẫn thấy thật tiếc.  

Học phí 

Chẳng mấy chốc Marcel không thể nào đồng cảm với bộ máy chính trị và quân đội Pháp được nữa. Trước đây là những sự kiện kinh hoàng ở Việt Nam, sau này những trận chiến bạo tàn ở An-giê-ri, tất cả những thứ ấy đã trở nên vô nghĩa lý đối với anh. Bỏ ngoài tai mọi lời can ngăn của cấp trên và mẹ, anh xuất ngũ vào tháng Ba năm 1958, lòng đầy giận dữ. Anh muốn bắt đầu một cuộc sống mới với tư cách một thường dân. 

Tôi ủng hộ anh hết sức như có thể. Dù vậy, tôi cảm thấy tương đối khó khăn bởi chúng tôi đã sống khá tách biệt và tôi cũng không biết anh nên bắt đầu từ đâu là tốt nhất.  

Thoạt đầu Marcel tìm được công việc ở một nhà máy sản xuất đá phiến. Nhà máy nằm gần nơi chúng tôi đang ở. Những miếng đá với cạnh sắc nhọn khiến anh trở về nhà mỗi ngày với đôi bàn tay đầy vết cắt. Như thế, anh thay đổi công việc sau ba tuần và thử may mắn với công việc đại diện bảo hiểm mà không có hợp đồng. Cả anh và tôi đều không biết những luật lệ của thị trường việc làm. Anh không được một đồng lương nào cuối tháng. Mọi việc không thể tiếp tục thế này được nữa. 

Lúc sang xuân có một nhà xuất bản báo chí lớn ở Tours đang tuyển nhân viên, anh nộp đơn và nhận được vị trí. Tôi mừng cho anh biết bao! Ngày ngày anh lái xe máy đi suốt một chặng đường dài vào trong thành phố. Chẳng bao lâu sau, thất vọng đầu tiên đã tới: thay vì được làm việc trong văn phòng như đã hứa, tạm thời anh phải đi giao báo. Anh sợ sẽ mất công việc ở một hãng danh tiếng, nhưng trên tất cả, ấy là mẹ anh đã đi kể khắp nơi rằng con trai bà nay đã là nhân viên văn phòng, vì không muốn bị coi là kẻ thất bại, anh chọn cách không nói gì. Không lâu sau đó, họ bắt anh đi chở thêm cả những cuộn giấy lớn bằng xe tải. Ngay cả khi ấy, anh vẫn im lặng, hằng tháng trời. Sau cùng, anh còn bị bắt quét dọn văn phòng và xưởng máy vào giờ nghỉ. Anh trở về nhà trong giận dữ và mệt mỏi vô ngần.  "Anh từng tham chiến để bảo vệ những con người này! Bây giờ họ lại dí chổi vào tay anh để quét dọn rác rưởi cho họ!"  

Tôi khuyên anh cần phải khiếu nại. Anh cũng đã làm như thế. Họ vẫn chỉ an ủi với anh rằng việc này sẽ chỉ kéo dài thêm đôi tháng nữa. Tuy nhiên đến những hai năm sau vẫn chẳng có gì thay đổi, chỉ trừ nỗi cay đắng một lớn dần trong Marcel.  

Đường cùng

Lúc bấy giờ là mùa thu năm 1958. Chúng tôi lại chuẩn bị có em bé và buộc phải chấp nhận sự việc như đã xảy ra, dù muốn hay không. Niềm vui của Marcel chỉ có giới hạn.  "Trời ơi, lại thêm một miệng ăn...", là phản ứng đầu tiên của anh. Lúc đầu, anh chỉ tức tối vì sự kém tin cậy của loại bao cao su chúng tôi sử dụng, thời ấy vẫn chưa có thuốc tránh thai. Nhưng sau đó anh lại ôm tôi vào lòng bởi anh thấy được lời nói của anh đã làm tôi buồn tủi thế nào, rồi an ủi:  "Thêm hay bớt một miệng ăn không phải là vấn đề".  

Tôi thì ngược lại mong chờ đứa trẻ, ngay cả khi tôi hiểu rằng sự xuất hiện của nó sẽ khiến cuộc sống hằng ngày của gia đình tôi không trở nên dễ dàng hơn. Chúng tôi luôn tìm ra cách tự xoay xở, bây giờ cũng sẽ như vậy. Cùng lúc, tôi lại nghĩ đến lời tiên tri đang dần thành hiện thực của người thầy bói thời thơ ấu. Tôi sẽ sống ở nước ngoài, ông nói, tôi sẽ sinh nhiều con và sở hữu một ngôi nhà của riêng mình. Hai điều đầu tiên ông nói rõ ràng đã ứng nghiệm, nhưng điều thứ ba, ở thời điểm hiện tại, tôi vẫn chưa hình dung được sẽ trở thành hiện thực thế nào được trong hoàn cảnh của chúng tôi. Nhưng sâu tận trong thâm tâm, tôi chưa bao giờ từ bỏ hi vọng. Có lẽ cái gì cũng cần có thời điểm của nó.  

Vào một ngày khi tôi đang phơi áo quần trước nhà, một người trong làng mà chúng tôi chỉ quen sơ dắt chó đi ngang qua và hỏi một cách thân thiện:  "Cô có muốn nuôi chó không? Tôi đang dư một con". Ông chỉ con chó lai nhỏ mà tôi thấy rất đáng yêu.  

Một cách hồn nhiên như bản tính của mình tôi đồng ý. Tôi luôn yêu quý động vật. Và bây giờ bọn trẻ có thêm bạn cùng chơi. Khi Marcel trở về vào buổi chiều, anh cũng rất vui. Thế là gia đình chúng tôi có thêm một thành viên mới.

Cuối tuần, tất cả chúng tôi đang ngủ say thì bị đánh thức bởi tiếng la ó thất thanh trước nhà. Tôi bật dậy và đi xuống, Marcel theo sau lưng. Những người thuê nhà dưới chúng tôi cũng mở hé cửa xem mọi việc cho rõ ràng. Trước nhà, một người đàn ông lớn tuổi giận dữ đứng đó, giơ trước chúng tôi một con gà chết với vẻ tố cáo và nổi xung:  "Đây, các người nhìn thấy không! Chó nhà các người cắn chết gà nhà tôi! Những ba con! Các người phải trả tiền cho tôi!"  

"Làm gì có chuyện ấy", tôi trả lời.  "Chó nhà tôi không rời chúng tôi nửa bước." 

"Tôi chắc chắn đây là chó nhà các người. Có người nhìn thấy nó. Các người mau trả tiền gà cho tôi!", ông ta gào lên. Marcel da trắng bệch. Rồi anh im lặng quay đầu vào nhà. Một lúc sau, anh quay ra, một tay dắt theo con chó, tay kia cầm súng. Anh để con chó chạy mấy bước, rồi trước khi tôi kịp hiểu anh định làm gì, anh nổ súng. Anh bắn chết con chó ngay trước mặt tôi và người đàn ông kia, nỗi sợ hãi giờ hiện rõ trong mắt hắn.  

Marcel lên đạn thêm một lần rồi nói:  "Chuyện giải quyết thế đã xong chưa? Nếu vẫn chưa, tôi còn đủ một viên nữa cho ông!"  

Gã đàn ông chỉ khẽ gật đầu rồi chạy biến. Cả cửa nhà ông hàng xóm cũng đã đóng chặt. Marcel đứng đó, mắt long lanh nước, và tôi hiểu anh buồn tới mức nào vì chuyện anh vừa làm.  

Buồn rầu và cay đắng tôi tự hỏi, liệu tới bao giờ người ta mới chịu để chúng tôi được yên. 

Chúng tôi chôn con chó ngoài đồng. Với bọn trẻ chúng tôi kể rằng con chó đi lạc mất. Một khoảng thời gian ngắn sau, chúng tôi quyết định rời bỏ nơi này mãi mãi.  

Đầu năm 1959, chúng tôi nhận được một căn nhà xã hội dễ chịu ở trung tâm thành phố Tours, và chuyển tới với tràn đầy những niềm hi vọng mới. Tháng Năm, tôi hạ sinh một bé trai mạnh khỏe trong bệnh viện. Tôi gọi bé là Daniel. Cả Marcel và hai đứa lớn đều hân hoan cùng tôi, không ai chịu ở nhà.  

Giờ thì mọi dấu hiệu đều chỉ rằng mọi điều kiện tạo nên một cuộc sống bình thường và thanh thản đều đã trọn vẹn, và tôi được truyền thêm dũng khí.

Khác biệt cũng là một tội lỗi 

Khu phố chúng tôi đang sống cũng có nhiều gia đình đông con. Luôn luôn có tiếng người gào thét hay quát tháo, tiếng trẻ con khóc đối với tôi đã trở thành một dạng âm thanh nền mỗi ngày. Tôi không thực sự quen với việc phải chung sống cùng nhiều con người trong một khoảng không gian hẹp như thế này. Không kể những tiện lợi, chúng tôi hiểu rõ rằng mình đang sống trong một khu phố cách ly.  

Dù là vậy, cuộc sống trong thành phố cũng có nhiều điều thuận lợi. Chung quanh có rất nhiều khu chợ và cửa hàng cửa hiệu cùng vườn trẻ và trường học. Quan trọng nhất có lẽ chính là ở đây, tôi chỉ là một trong nhiều người ngoại quốc và họ đều được sống yên thân. Ít ra là tôi nghĩ vậy.  

Thỉnh thoảng vào lúc bốn giờ sáng, lúc bọn trẻ còn đang ngủ, tôi giúp chồng dán áp phích để tăng số tiền lương anh nhận được vào cuối tháng. Ngoài ra chúng tôi còn có thể gửi bọn trẻ cho một bà hàng xóm người Ma-rốc-cô trông hộ.  

Marcel và tôi không có nhiều cơ hội được đi dạo cùng nhau. Khu vực xanh tươi duy nhất làm cho tôi thoải mái là Vườn Bách Thảo. Chúng tôi rất thích tản bộ ở đây, giữa những thứ cây cỏ ngoại lai làm tôi nhớ về nhà. Chốn đẹp đẻ này cho chúng tôi cảm giác thư thái đã ao ước từ lâu, và nó luôn dẫn đến đúng một chủ đề: chúng tôi nói chuyện về Việt Nam, xứ sở mà không ai trong hai chúng tôi có thể quên được. 

Vợ chồng tôi theo sát tin tức về những sự kiện kinh hoàng ở Đông Nam Á trong các chương trình thời sự. Càng ngày càng có nhiều người trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh du kích ở Lào, và mỗi khi nghe thấy hai tiếng Việt Nam, lòng tôi lại quặn thắt nghĩ về đứa con trai còn ở nhà. Tới khi nào tôi mới đón được nó về với chúng tôi đây?  

 

.

Một buổi chiều nọ, chúng tôi vô tình gặp bà của Marcel khi tôi cùng chồng đang đi dạo dưới những bóng cây tiêu huyền trên một con phố lớn. Đã lâu lắm rồi tôi không nhìn thấy bà. Bà tức thì nhận ra chúng tôi, nhưng thay vì chào hỏi, bà lại quát tháo chúng tôi to tiếng tới mức những người đang đi bộ quanh đó phải ngoái lại nhìn.  

"Hai đứa đang làm cái gì ở đây? Vợ mày phải ở nhà chăm con chứ! Làm sao hai đứa lại có thể vứt con một mình được? Đưa nó về nhà ngay!", bà hét vào mặt Marcel và chuẩn bị giơ túi đuổi đánh tôi. Tôi khiếp sợ nhìn bà chòng chọc. Bà đã già rồi và tôi không muốn cự cãi giữa chốn công cộng. Chúng tôi xấu hổ vô cùng và chẳng còn sự lựa chọn nào khác ngoài biến ngay khỏi tầm mắt người đàn bà điên rồ này. Tận lúc về tới nhà, hai chúng tôi vẫn còn choáng váng. Chúng tôi đã làm gì nên tội?  

Bước ngoặt

Tôi thường xuyên khấn vái trước bàn thờ nhỏ chúng tôi dựng lên ở phòng khách. Với hoa quả, bánh tự nướng và hoa làm đồ cúng, tôi gửi tất thảy những lời nguyện cầu vào làn khói bốc lên từ những nén hương đang cháy, cầu xin bình an cho con trai cả, mẹ và các chị em tôi ở Việt Nam và cả gia đình chúng tôi ở đây nữa. Liệu Trời xanh và ông bà ông vải có sớm đáp lại những lời khấn cầu của tôi?  

Bỗng nhiên, điều ước của tôi có vẻ như đã trở thành hiện thực. Một ngày, Marcel trở về từ chỗ làm trong tâm trạng đầy hứng khởi. Một nữ đồng nghiệp trẻ tuổi làm ở văn phòng thư kí tới chỗ anh giữa lúc anh đang quét dọn văn phòng. Thỉnh thoảng hai người có trao đổi ngắn với nhau lúc hết giờ làm việc, và anh có kể với cô ấy về tình thế khó khăn của con trai chúng tôi ở Việt Nam. Cô này có một người bạn gái, chồng của cô đó có vẻ như là một người rất có tầm ảnh hưởng. Cách đây không lâu, họ có nói chuyện về chúng tôi. Và người đàn ông kia đã nói muốn gặp vợ chồng tôi. Có lẽ ông có thể giúp được gì đó.  

Chúng tôi hẹn gặp nhau vào một cuối tuần. Tôi mặc bộ áo dài đẹp nhất và trang điểm xinh xắn. Về sau tôi được biết, người đàn ông này là giám đốc một ngân hàng và có uy tín đối với một số nhà ngoại giao. Ông kiên nhẫn lắng nghe câu chuyện của chúng tôi và còn ghi chép. Ông nói sẽ liên lạc với chúng tôi rồi từ biệt.

Không lâu sau, đầu năm 1960, Marcel thay đổi công việc. Anh giờ là nhân viên đại diện cho một hãng buôn vật liệu xây dựng. Anh có vẻ hài lòng hơn với công việc này.  

Sự kiện tiếp theo xảy đến vào đầu năm mới. Tôi vừa bước ra khỏi trung tâm mua sắm thì có một người phụ nữ châu Á trẻ tuổi đứng đó và nhìn tôi chằm chặp, vẻ khó tin. Ấy chính là Ngọc, người tôi làm quen trước chuyến đi viễn xứ tại Sài Gòn. Chúng tôi lao vào vòng tay nhau và ôm thật chặt mà không nói nên lời, vẫn gần như không thể tin được rằng chúng tôi đang đứng trước mặt nhau.

Cô cũng đang sống ở Tours và đã kết hôn với người bạn trai Pháp từ thuở ở Sài Gòn. Cả chồng cô cũng đã xuất ngũ và đang làm tại hãng đường sắt quốc gia. Chúng tôi trao đổi địa chỉ, và bởi cô không sống cùng con cái, cô rất hay đến thăm chúng tôi. Phải lâu lắm rồi tôi mới thấy hạnh phục thế này. Có lẽ Trời xanh đã nghe thấu lời khẩn cầu của tôi! Tôi cười và nghĩ tới ông Phan.  

Vào mùa hè năm 1960, nhiều sự kiện diễn ra dồn dập. Người giám đốc ngân hàng mời chúng tôi tới gặp ông. Anh trai ông, hiện đang làm việc tại Tòa thánh Va-ti-căng, cũng đồng ý sẽ giúp đỡ cho trường hợp của chúng tôi. Cùng lúc ông cũng nhận được tin, rằng rất có thể đã tìm được con trai tôi. Trái tim tôi gần như ngừng đập, tôi hồi hộp vô cùng.

Một thằng bé, dù được gọi với cái tên họ hoàn toàn lạ lẫm với chúng tôi, Varat, nhưng những thông tin khác, như ngày tháng năm sinh, nơi sinh và tên riêng Marcel, đều hoàn toàn khớp với những gì chúng tôi đã cung cấp. Thằng bé hiện đang được các bà xơ nhà thờ Công giáo tại Sài Gòn nuôi dưỡng. Tôi chắc chắn đó chính là nó: người ta tìm thấy con trai tôi rồi! Trước niềm hạnh phúc này, tôi không còn khả năng khóc nữa mà bồn chồn chờ đợi những tin tức tiếp theo.  

Bởi vì chồng tôi đã tuyên bố đồng ý nhận con trai tôi làm con nuôi, bây giờ cần đặt các đơn từ cần để hợp pháp hóa việc nhận con nuôi. Những thủ tục này có lẽ sẽ phải kéo dài tới ba tháng, sau đó thằng bé sẽ được Đại sứ quán Pháp cấp giấy tờ cho phép nhập cảnh ở Pháp. 

Ông giám đốc ngân hàng đã chuẩn bị trước cho chúng tôi các mẫu giấy tờ quan trọng để chúng tôi điền vào, với một cảm giác hạnh phúc tột đỉnh. Khi ra về tôi cúi rạp đầu đầy biết ơn trước con người tốt bụng này và hôn lên bàn tay ông trước khi ông kịp rút lại.  

Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ lại được ôm đứa con trai tôi hằng mong nhớ trong vòng tay! Giờ chỉ còn lại vấn đề thời gian.  

Của Trời lấy đi

Khoảng giữa tháng Chín chúng tôi nhận được thông báo, rằng một nhóm trẻ mồ côi đang chờ được đưa lên máy bay từ Sài Gòn tới Paris, trong số đó có con trai tôi. Người liên lạc của ông giám đốc ngân hàng tại Việt Nam cũng chia sẻ, rằng người ta đã dán tên thằng bé lên lưng áo khoác ngoài và cổ áo nó làm dấu hiệu nhận biết.

Đầu tháng Mười thì đến lúc. Marcel và tôi để lũ trẻ lại cho người khác trông và bắt tàu đi Paris. Tôi cảm thấy chuyến đi tới đó dài như vĩnh cửu!  

Tôi mặc áo dài để con thấy tôi không bị lạ lẫm. Chúng tôi gần như không nói tiếng nào trong suốt cả chặng đường. Khoảnh khắc này thật quá quan trọng! Tôi có thể mường tượng ra trước mặt cái ngày tháng mười năm năm trước, khi tôi phải trao đi đưa bé. Từng cử động, mùi hương của thằng bé đã hằn thật sâu trong tiềm thức tôi! Thở dài trong lòng, tôi cố thử gợi lại trong đầu cảm giác mềm mại của làn da nó.  

Cuối cùng thì chúng tôi cũng đã tới nhà ga trung tâm Paris, rồi ngay lập tức lái xe tiếp tới sân bay. Hội Chữ Thập Đỏ đã tổ chức một điểm tập trung cho chúng tôi tại một hội trường nhỏ trong một khuôn viên biệt lập.

Chúng tôi báo danh với một cô y tá, cô ghi lại tên tuổi và mời chúng tôi tìm chỗ ngồi trong thời gian chờ đợi. Quá hồi hộp, chúng tôi không thể đặt mình ngồi xuống. Phải mấy tiếng đồng hồ nữa máy bay mới hạ cánh.  

Ngoài chúng tôi chỉ còn duy nhất một cặp đôi nữa cũng đang chờ đợi, một người châu Âu với một người phụ nữ Việt Nam tháp tùng. Tôi đoán chừng họ cũng tới đây để đón con. Chúng tôi nhìn nhau và cùng mỉm cười, dù không ai nói một lời.  

Rồi cánh cửa mở. Một bà xơ Công giáo cùng đi với một nhóm trẻ bước đều về phía chúng tôi. Phải có đến hai mươi, thậm chí ba mươi bé trai bé gái lớn nhỏ khác nhau. Ánh mắt tôi lướt đi tìm kiếm trong đám trẻ. Bọn chúng có vẻ sợ hãi nhiều hơn là tò mò và đứng sát rạt vào nhau theo chỉ dẫn của bà xơ. Tôi nhìn chằm chằm vào chúng. Con trai tôi ở đâu tôi vẫn chưa tìm thấy.

Chúng tôi kiên nhẫn chờ đợi tới khi một cô y tá lên tiếng gọi. Nghe thấy tên mình được xướng lên, một người công tác viên của hội Chữ Thập Đỏ bước tới chỗ chúng tôi. Trong vòng tay cô là một thằng bé gầy gò trắng bệch đang ngượng ngùng nhìn ngó xung quanh, quá ốm yếu và mệt mỏi đến không bước nổi.  

"Đây là con trai của bà!", cô nói cộc lốc và định giao cho tôi thằng bé. Marcel vỗ nhẹ tôi khích lệ. Bản thân anh không phản ứng mà để tôi tự xử trí. Tôi nhìn kỹ thằng nhỏ: khuôn mặt nó dài, mái tóc nâu nhạt mỏng tang. Khi tôi trông vào đôi mắt xám ấy, chẳng có một cảm xúc nào gợn lên trong lòng: thằng bé này không phải con trai tôi!  

Tới đây người phụ nữ từ nãy đến giờ vẫn cầm tay đứa bé đang mếu máo khóc sang một bên và nói, chân đã bước tiếp về phía những đứa trẻ khác:  "Đây không phải con trai tôi!".

Đám trẻ đứng trước mặt tôi mở mắt tròn xoe. Không ai dám ngăn cản tôi đi tìm con trai của mình. Tôi nhìn từng thằng bé một, trông kỹ vào từng khuôn mặt. Kìa, giữa nhóm người, tôi nhận ra nó. Nó kia rồi!

Đôi mắt đen láy này, khuôn mặt vuông vức này, vết bớt gần lông mày phải kia. Một cậu bè với vóc người khỏe mạnh, mái tóc đen nhánh nhìn thẳng vào tôi. Khi ánh mắt chúng tôi gặp nhau, tôi cảm nhận được ngay tình mẫu tử giữa chúng tôi. Tôi cười với nó. Nó cười lại với tôi. Tôi đi về phía thằng bé, lật cổ áo nó lên và tìm thấy trên đó cái tên được viết nguệch ngoạc bằng bút bi:  "Marcel".  Và đằng sau cổ nó, người ta vẫn có thể đọc ra được phần còn lại của con dấu. Tôi cầm tay thằng bé, nói to dõng dạc:  "Đây là con trai tôi! Thằng bé này là con trai tôi!"

Trước khi chúng tôi kịp bước đi tiếp, tôi nghe tiếng những đứa trẻ khác trong nhóm nói với con tôi bằng giọng miền Nam Việt Nam:  "Cậu thấy chưa, Marcel, mẹ cậu nhận ra cậu rồi. Cậu thật may, mẹ đã tìm được câu!"  

Bản năng người mẹ trong tôi đã chiến thắng, chúng tôi nhận con và dẫn thằng bé về. Đương nhiên tôi cũng cảm thấy thương xót cậu bé kia, nhưng tôi không thể giúp gì được cho nó.  

Trên suốt chuyến xe, con trai tôi không nói một lời, ngay cả khi tôi đặt câu hỏi. Tôi hiểu rằng thằng bé cần có thời gian.  

Sâu thẳm trong trái tim tôi thầm cảm ơn Trời xanh: người trả lại cho tôi đứa con gần đúng vào cái ngày Người lấy thằng bé đi khỏi tôi, năm năm về trước.  

Khởi đầu là một chiếc tàu bay

Ba ngày trôi qua, con trai của chúng tôi vẫn không hề hé miệng một lời. Chúng tôi làm quen nó với các em. Lũ trẻ đón anh trai một cách thân thiện, đặc biệt là Jean-Pierre rất vui mừng vì có một bạn chơi mới.  

Những đêm đầu tôi hầu như không ngủ vì vui sướng. Tôi đứng dậy và ngắm nhìn con trai của tôi. Nó ngủ mà mắt vẫn mở he hé. Tôi suy nghĩ về tất cả những gì đã diễn ra vào thời gian cuối, về bằng chứng tình yêu mà chồng tôi đã dành cho tôi, về việc có bao nhiêu người đã can dự để có được điều kỳ diệu này.  

Vào buổi ngày tôi nói bằng tiếng Việt với con, cho dù nó không trả lời mà chỉ nhìn tôi. Tôi kể cho thằng bé rằng tôi là mẹ đẻ của nó và tôi vui mừng như thế nào khi đón được nó về lại với mình. Tôi kể cho nó lý do vì sao tôi phải rời khỏi đất nước của mình, vì sao ngày đó tôi không còn cách nào ngoài việc phải để nó ở lại. Tôi hứa với con từ nay sẽ luôn luôn ở bên cạnh nó. 

Tôi dịch lại cho con từng lời mà chúng tôi nói với nhau bằng tiếng Pháp. Jean-Pierre và Fontaine luôn tìm cách gần gũi anh - và từng bước giúp nó mở lòng. Tuy nhiên việc thích nghi của thằng bé chỉ diễn ra một cách chậm chạp. Lúc đầu Marcel đại tiện ngay trên sàn nhà trong căn hộ của chúng tôi. Tôi phải tốn rất nhiều công sức để giải thích cho con rằng nếu muốn đi ngoài thì phải vào nhà vệ sinh mà tôi chỉ tận nơi cho nó. Mãi sau đó có lúc nó vẫn còn quên.  

Một vài ngày sau, khi Marcel đang chơi với lũ em trên sàn nhà, thì chúng tôi nghe tiếng máy bay. Đột nhiên, đầy hoảng hốt, trước các cặp mắt ngạc nhiên của lũ trẻ, nó đứng bật dậy, chạy bộ tới chiếc bàn rộng trong phòng khách rồi chui tọt xuống, nấp dưới đó. Trong lúc đó nó thét lên, với vẻ kinh hãi tột độ, bằng tiếng Việt:  

"Nhanh lên! Máy bay! Máy bay! Bom đấy! Nó sẽ bỏ bom xuống cho chúng ta! Nhanh lên! Nhanh lên!" 

Nó thở dốc, nét mặt ngây dại, tay chìa về hướng tôi. Tôi chạy đến chỗ nó, cầm lấy bàn tay Marcel và dang tay đón nó. Tôi âu yếm xoa đầu và xiết chặt nó vào lòng. Sau đó tôi mới nhận ra: thằng bé vừa nói những từ đầu tiên!  

Phải một lúc lâu sau đó tôi mới làm nó trấn tĩnh trở lại và hết run. Tôi giải thích cho con rằng đất nước mà nó đang sống không có chiến tranh. Tôi vui mừng vì thằng bé bắt đầu nói, nhưng tôi cũng hiểu con tôi đã trải qua những điều khủng khiếp và bị chấn thương tâm lý do chiến tranh. Với tư cách người mẹ, tôi thật đau lòng. Sự việc này gợi dậy trong tôi những cảm giác tội lỗi.  

Tuy nhiên tôi hiểu cả cái nhánh xanh này, cho dù đang bé bỏng và yếu ớt như thế nào, một lúc nào đó sẽ cắm những rễ mới mạnh mẽ. Nó chỉ cần tình yêu và nhiều nhẫn nại. 

Đặc sản 

Mùa thu năm 1961 chồng tôi mang về nhà một con chó béc-giê Đức đã thuần hóa. Chủ của nó, một người bạn là nhân viên cảnh sát, muốn chuyển nhà và không đem được chó đi cùng. Vì vậy anh ta tìm một người sẵn sàng nhận con vật. Nuôi nó thì sẽ thêm phần chi phí và chúng tôi biết là gia đình mình đang eo hẹp như thế nào. Mặc dù có chút phân vân như vậy nhưng tôi đã đồng ý nhận, sau khi nhận thấy lũ trẻ vui mừng vì có một bạn chơi mới. Chúng tôi cùng đặt tên cho con chó là "Jicqui".  

Các đứa lớn hơn bây giờ đi nhà trẻ. Ở đó các cô giáo cố gắng dạy tiếng Pháp cho Marcel ở mức tốt nhất có thể. Thường thì mỗi lúc tôi đi đón bọn trẻ cô giáo này hay cô giáo kia phàn nàn về việc Marcel không hiểu gì. Và họ yêu cầu tôi phải chấm dứt việc nói tiếng Việt với Marcel, vì quyền lợi của nó. 

Lúc đầu tôi không biết cần làm gì. Nhưng dần dà tôi chuyển sang nói tiếng Pháp kể cả ở nhà. Các cô giáo chắc chắn là có lý, tôi nghĩ như vậy. Rốt cuộc thì tôi hoàn toàn không muốn chống lại khuyến nghị khẩn cấp từ "chốn thông thái" này. Tôi hầu như chỉ còn nói tiếng Việt khi cô bạn gái đến chơi. Ngọc cực kỳ mừng cho tôi về việc con trai đã về với tôi, nhưng tôi cũng cảm thấy chị đau khổ chừng nào về việc đứa con rứt ruột của chị không được sống cùng mẹ. Về việc này thì không sao có thể xoay chuyển được ý kiến chồng của Ngọc.  

Vào một buổi chiều chúng tôi chuyện trò một cách đầy tức tối về những người Di Gan gặp phải trên đường đi dạo. Những người này thỉnh thoảng lại đi qua khu phố của chúng tôi và rao bán các loại giỏ tự đan bằng tay của họ. Mặc dù những mặt hàng này khá đắt, mỗi lần tôi đều mua một thứ gì đó nếu những người phụ nữ Di Gan mời chào, do cảm giác thương hại những người sống lang thang không tìm được nơi chốn nào bình an này. Một người trong số họ tỏ ra quan tâm về các phong tục ở Việt Nam, và như vậy chúng tôi đã dừng lại chuyện trò gần cả tiếng đồng hồ trên đường phố. Khi nói về đề tài ẩm thực người phụ nữ cho hay nhím là một đặc sản tuyệt vời.  

Ngọc và tôi cảm thấy kinh hãi.  

Khi vào buổi tối cùng ngày tôi kể lại câu chuyện này với chồng thì anh cười và nhận xét rằng người Việt Nam cũng chẳng hơn gì. Anh nói rằng mình vẫn còn nhớ y nguyên cảnh tôi, và đây không phải là lần duy nhất, leo lên một cây cột gì đó để tóm bắt những con chim non còn kêu chim chíp trong tổ và sau đó đã đánh chén chúng như một thứ đặc sản. Tiếp sau đó anh trêu tức tôi bằng cách chỉ về hướng con chó Jicqui của chúng tôi, cười phá lên và nói - ở Việt Nam đây là một món ngon đầu bảng! 

- 6 -

 Lá thư 

"Tôi từng chịu đau khổ, nhưng cho dù tôi phải trả một giá đắt cho sự phản kháng thì cuộc đời cũng xứng đáng để chiến đấu vì nó!"  (Loan)  

Bây giờ đã đến thời kỳ mà tôi có cảm giác sức lực dần rời bỏ mình. Những trò hành hạ dai dẳng, trong đó có phần của họ hàng của Marcel, mà tất cả chúng tôi đều âm thầm chịu đựng, làm cho tôi trở nên mệt mỏi. Hàng ngày tôi vẫn cố gắng, ở mức tốt nhất như có thể, để chăm sóc bốn đứa con của tôi, chồng tôi và chú chó. Chúng tôi thiếu thốn mọi bề nhưng luôn đủ no. Bọn trẻ ngoan ngoãn, và cho dù có lúc có đứa sinh chuyện thì chúng vẫn lớn lên trong một môi trường mà chúng tôi cố gìn giữ một cách bình thường như có thể. Dĩ nhiên tôi không tìm ra cách bứt khỏi được vòng đói nghèo cay cực. Những lời cầu khẩn của tôi hẳn cần phải có thời gian để trở thành hiện thực, nhưng giờ thì tôi đã trở nên quá bại hoại để có thể ngóng đợi một phép lạ. Bỗng nhiên tôi trở nên hoài nghi về bản thân, điều từ lâu không còn xảy ra. Trời vẫn cho tôi sức khỏe. Người đã trả lại cho tôi người bạn gái và đứa con trai. Mặc dù vậy có một cảm giác trống trải sâu xa tràn ngập trong lòng tôi. Tôi cảm thấy xấu hổ vì điều này, tôi đã quá vô ơn!  

Nhiều tháng trôi qua, đeo đẳng bởi một cảm giác ngột ngạt mà tôi không sao có thể giũ bỏ. Bị cầm tù giữa một bên là những tiếng la hét không dứt trong khu phố của chúng tôi, một bên là cơn trầm cảm, tôi khóc rất nhiều, nhưng phần lớn chỉ là khi tôi một mình hay khi tất cả đã ngủ. Nếu ôn lại quá khứ thì tôi không tìm được một khoảnh khắc ân hận hay nuối tiếc nào khiến tôi phải bận lòng. Tôi đã trả hết các khoản nợ nần! Có một cái gì đó khác, một điều sâu sắc hơn, đã âm ỉ từ lâu trong tôi và giờ đây mới trỗi dậy. Tôi đang có một nỗi nhớ cháy bỏng. Nỗi nhớ về mẹ tôi.

Tôi lại thấy mình bỏ trốn khỏi nhà, lúc mới gần mười hai tuổi, với lời hứa thầm trong tim rằng một ngày sẽ báo cho mẹ biết mình đang bình an. Giữa chừng đã hai mươi năm trôi qua. Liệu bà có còn chờ đợi dấu hiệu này từ phía tôi? Cảm giác rằng mình có thể đã làm điều gì phải tội dày vò tôi suốt ngày đêm. Dần dần chồng tôi nhận ra càng ngày tôi càng im hơi lặng tiếng và gầy rộc đi. Khi anh hỏi nguồn cơn thì tôi đã nói với anh. Đấy là vào tháng năm 1961.  

"Chúng ta sẽ làm như sau", anh nói một cách bột phát và cầm tay tôi.  "Em hãy viết thư về Việt Nam." 

"Viết thư ư? Sau một quãng thời gian dài như vậy? Quê em là vùng chiến sự, có thể làng em cũng chẳng còn nữa? Có thể chẳng còn sót lại một thứ gì và chẳng còn ai nữa!", tôi đáp lại, bị bất ngờ bởi đề nghị của anh. Nhưng anh không để cho sự hoài nghi của tôi làm nhụt chí, ngược lại là đằng khác. Anh nhanh chóng mang đến cho tôi hai phong bì thư, một phong bì cho lá thư của tôi, và phong bì kia cho thư trả lời, kèm theo giấy bút và tem thư.  "Em viết đi!", anh ra lệnh.  

Và như vậy tôi đã ngồi vào bàn và viết lá thư đầu tiên cho mẹ tôi, báo cho bà dấu hiệu đầu tiên rằng tôi vẫn sống sau bao nhiêu năm trời. Tôi viết cho mẹ rằng mình đang hạnh phúc, tôi đã gầy dựng được cuộc sống gia đình, tôi nói với mẹ rằng tôi rất nhớ và yêu bà!  

Có bao nhiêu điều cần chia sẻ nữa! Tôi e ngại là có người sẽ mở phong bì thư, nhưng tôi tin vào lời cầu nguyện của ông Phan rằng lá thư của mình sẽ được niêm phong để ngăn chặn điều này. 

Cho dù vậy tôi chỉ viết vắn tắc. Cuối cùng, tôi kẹp một tấm ảnh cưới nhỏ có đề ngày tháng của chúng tôi vào lá thư. Tôi dán bì thư lại và viết địa chỉ của nhà tôi từ dạo trước, như lúc tôi vẫn còn sống với mẹ.  

Dưới bóng cây vườn nhà xưa 

Từ khi gửi lá thư đi, tôi cầu nguyện hàng ngày. Cho dù lễ vật trên bàn thờ có nhỏ mọn nhưng mong ước nhận được thư trả lời trong tôi thì thật lớn.  

Vào một ngày tháng Sáu có tiếng gõ cửa ở nhà tôi. Đấy là người đưa thư bảo rằng phải thu thêm lệ phí bưu điện cho một bức thư gửi từ nước ngoài. Tim tôi đập loạn trong lồng ngực! Tôi chạy nhanh đi lấy tiền.  

Tôi không thể tin vào mắt mình: đấy là một lá thư từ Việt Nam! Lá thư ngắn gọn, do Mây, em gái út của tôi viết, tôi cũng vui mừng là em đã biết chữ. Em sống một mình cùng mẹ tôi.  

Mây bày tỏ nỗi vui mừng khôn xiết vì biết tin tôi vẫn còn sống. Em viết tiếp rằng sau khi tôi bỏ nhà ra đi mẹ đã vượt cả nghìn cây số để đi tìm tôi. Mỗi lần nghe người ta nói rằng tôi đã chết, mẹ lại quay trở về nhà, nhưng bà luôn có linh tính tôi vẫn đang còn sống.

Tôi òa lên khóc. Bỗng nhiên tôi phát hiện giữa những giọt nước mắt một tấm ảnh bé xíu của mẹ nằm trong phong bì thư. Trên tấm ảnh đen trắng là một người phụ nữ ở độ tuổi chín muồi, mái tóc dài quấn tròn, với một nụ cười dịu hiền mà từ hai mươi năm dài đằng đẵng cho đến nay tôi chỉ còn nhìn thấy trong các giấc mơ.  

Trong mấy ngày liền cảm xúc đặc biệt này đã chắp cánh cho tôi. Tất nhiên là chồng tôi mừng cho tôi, ngay cả lũ trẻ cũng nhảy nhót một cách phấn chấn, vì chúng cảm nhận được tôi đang hạnh phúc như thế nào. 

Vào giữa tháng Bảy tôi nhận được một tín hiệu của tổ tiên. Tôi đặt tấm ảnh của mẹ tôi lên trên nắp chiếc tủ thấp cạnh bàn thờ. Khi đang làm bếp thì tôi thấy con chó của chúng tôi đang ngậm một cái gì đó trong mõm. Tôi đến chỗ nó và giật mình nhận ra các mẫu giấy rách trong mõm nó. Nó đã giật tấm ảnh từ trên nắp tủ xuống và đang nhai ngấu nghiến. Tôi hoảng hốt tóm lấy mõm con vật và lôi các mẫu giấy rách ra. Vào thời điểm này có một nỗi sợ hãi xâm chiếm lấy tôi, bởi tôi biết là có điềm xấu. Một điềm xấu liên quan đến mẹ tôi.  

Không một lời cầu nguyện, cho dù tha thiết đến đâu, không một thứ lễ vật hậu hĩnh nào có thể làm xoay chuyển số phận.

Đúng hai tuần sau lá thư đầu tiên của Mây thì tôi nhận được lá thư thứ hai của em: 

"Chị gái yêu quý! Hôm nay em có tin rất buồn báo cho chị. Vào ngày 10 tháng Sáu mẹ của chúng ta nằm xuống dưới bóng cây vườn nhà để ngắm lại một lần nữa lá thư của chị. Khi em đến bên mẹ thì bà đã yên ngủ mãi mãi, nước mắt còn đọng trên mặt và tấm ảnh của chị ở trên tim. Bây giờ thì mẹ đã về với tổ tiên. Chị gái yêu quý, chị hãy cầu nguyện cho mẹ nhé, như mẹ đã từng suốt đời cầu nguyện cho chị! Em Mây." 

Vĩ Thanh

"Đây là câu chuyện kể về tôi, về một người đàn bà duy nhất. Nhưng ngoài kia còn có thể có hàng trăm, hàng nghìn người đàn bà phải chịu đau khổ như tôi, và đang chờ đợi ngày thế giới sẽ thức tỉnh."  (Loan)  

Vào tháng Giêng 1963, Loan, mẹ tôi, lúc ba mươi tư tuổi, đã chuyển về ngôi nhà riêng của bà ở vùng đồng quê, không cách xa Tours bao nhiêu. Và như vậy lời tiên tri của ông thầy bói đã trở thành sự thật.  

Vào ngày 25 tháng Tư 1964, năm Giáp Thìn, tôi ra đời ở Tours. Tôi là đứa con cuối cùng của mẹ Loan.

Mẹ tôi đã dành nhiều năm trời để biến mảnh đất hoang lớn thuộc về ngôi nhà thành một khu vườn đẹp đẽ và tươi tốt.  

Vào năm 1970, mẹ tôi mở cửa hàng "Quán ăn Việt Nam" ở đó, khách ăn của bà, có người đến từ tận Paris, phải kiên nhẫn xếp hàng trước cửa để có được một chỗ ngồi. Khách đến đây không chỉ vì muốn được ăn ngon. Họ cũng còn tò mò chờ đợi sự xuất hiện không thể trộn lẫn, được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng của bà chủ quán nhỏ bé, mỗi buổi tối lại diện một bộ áo dài thêu đẹp đẽ khác nhau. 

Khi thức ăn đã bày biện xong thì bà chỉnh lại đồ nữ trang, điềm tĩnh châm một điếu thuốc lá, rồi mở cánh cửa vào phòng ăn với cử chỉ và giọng nói điệu bộ như trên sân khấu:  "Bonsoir, Messieurs, Dames!  (Xin chào quý ông, quý bà!)". Rõ ràng là bà tận hưởng ấn tượng mà mình gây ra cho người khác!  

Theo dòng thời gian, mẹ tôi đã tìm lại được anh chị em của mình. Trừ hai người anh đầu, tất cả đều sống sót qua cuộc chiến. Năm 1990, cùng với tôi, lần đầu tiên sau ba mươi lăm năm xa cách, bà lại đặt chân lên mảnh đất Việt Nam.  

Lúc chúng tôi gặp Lê, em trai út và Mây, em gái của mẹ, tại Đà Nẵng, tức Tourane trước đây, điều sau đây đã xảy ra: 

Chúng tôi chờ tại một điểm hẹn ven bãi biển. Sau một lát thì có một người đàn ông và một người đàn bà lại gần chúng tôi. Cả hai đều cúi xuống trước mẹ tôi. Mặc dù là phụ nữ, nhưng bây giờ bà là thành viên cao tuổi nhất trong gia đình. Người đàn ông tự giới thiệu là em trai Lê, người đàn bà là em gái Thảo. Tôi nhận ra ngay lập tức, sau khi liếc nhìn người đàn ông, rằng ông đã nói sự thật. Ông giống mẹ tôi như hệt. Nhưng thay vào việc ôm lấy em trai, bà lại nói:  "Ông hãy kể cho tôi nghe về thời bé, một kỷ niệm nào đấy".  

Người đàn ông kể một vài câu chuyện, trong đó có chuyện một lần ông bị bỏng mông do đụng vào nồi canh đang sôi. Mẹ vẫn điềm tĩnh, gật đầu và hỏi tiếp:  "Ông có thể làm ơn chỉ cho tôi vết sẹo của ngày ấy được không?".  

Tôi không thể nào tin nổi vào tai mình! Chỉ sau khi người đàn ông kiên nhẫn tụt quần xuống, ngay trên bãi biển và trước mắt bao nhiêu người, và tự hào chỉ cho chúng tôi đôi mông sứt sẹo của ông, thì mẹ mới dang tay ôm ông, rồi hai chị em nức nở khóc. Năm mươi năm đã trôi qua cho đến giây phút này. 

Ông Phan vẫn là người bạn và người anh trung thành của bà cho đến lúc ông qua đời vào năm 1987. Cho đến lúc đó ông hỗ trợ cho mẹ tôi trong nhiều hoàn cảnh khó khăn và đưa ra nhiều lời tiên đoán luôn trở thành sự thật, trong đó có cả về tôi. Lúc này tôi còn là một đứa bé đang lớn và chưa hiểu tại sao bản thân lại nhiều lần tiếp nhận những tín hiệu từ các lễ nghi thầy cúng của ông mà mình không thể luận giải chính xác, đơn giản là tôi chấp nhận chúng.

Mẹ Loan mãi về sau này mới chia sẻ cho tôi vốn tri thức của bà, sau khi bà đã quan sát tôi trong nhiều năm.  

Mẹ tôi dần dần trả lại cho ông Phan số tiền mà ông cho bà vay. Khi ông mất, tôi đang sống ở Đức. Mặc dù tôi chỉ biết đến ông từ các câu chuyện kể và qua một bức ảnh, vào buổi tối ông chết tôi cảm nhận thật rõ ràng rằng linh hồn của ông đã chạm vào linh hồn của tôi ra sao. Tôi đánh thức người chồng tương lai của tôi và kể cho anh rằng vào lúc này ông "bác" Phan của tôi đang về với tổ tiên. Mấy chục năm sau, khi cuộc đời tôi đang vấp phải một khủng hoảng nặng nề thì ông Phan đã hiện lên cạnh mẹ tôi trong mơ. Cả hai đều rạng rỡ và mỉm cười đưa ra những lời dặn dò mang đến cho tôi sự khích lệ và niềm hy vọng, giúp tôi vượt qua được giai đoạn khó khăn này. 

Tình bạn của mẹ Loan với bà Ngọc, người cho đến nay, năm 2015, vẫn sống ở Tours và trước sau tôi vẫn có một quan hệ gắn bó, kéo dài cho đến khi mẹ tôi qua đời.  

Cuối tháng Hai, đầu tháng Ba năm 2003, Trời còn ban tặng cho mẹ tôi và tôi tám ngày tuyệt vời để từ giã nhau, trong những ngày đó có lần bà cười và nói với tôi, rằng có lẽ tôi làm được mọi thứ, ngoại trừ việc nấu cà phê!  

Với trái tim trấn tĩnh, tôi quay lại Đức, trở về nhà. Chúng tôi đã nói cho nhau tất cả mọi điều cần phải nói.

Marcel, anh trai của tôi, người con cả của mẹ, đã đắp chân cho bà lần cuối cùng trong đêm ngày 6 tháng Ba năm 2003.  

Vào ngày 7 tháng Ba năm 2003, lúc tám giờ sáng, người đàn bà Đậu Thị Cúc, người tự gọi mình là "Loan", đã trút hơi thở cuối cùng ở ngôi nhà riêng, như mong muốn của bà.  

Theo di chúc của mẹ, thi hài của bà được hỏa táng.

Một phần tro của mẹ tôi đem rắc trong khu vườn của bà. Khi tôi làm gần xong, có một cơn lốc nhỏ ào đến, mang theo phần di cốt còn lại của bà từ bình tro đang mở nắp và cuốn nó lên không trung. 

*

"Vì có nhiều miệng không muốn nói và nhiều tai không muốn nghe, tôi ghi lại lời của mình cho nhưng đôi mắt rộng mở, cho những trái tim xúc cảm sau khi chạm vào lời."  (Loan)  

Tôi biết ơn về việc mục tiêu nhất quán mà tôi theo đuổi hơn ba mươi năm nay rằng mình sẽ viết và xuất bản cuốn sách này giờ đây đã được thực hiện.  

Vào thời gian về sau tôi đã hiểu rõ: trước hết tôi phải trưởng thành và phải nghiệm trải các đỉnh cao và vực sâu của cuộc đời để có thể truyền đạt lại các tình cảm một cách chân thực, như mẹ đã đòi hỏi với tôi và như bà có quyền được hưởng.

Tôi hy vọng rằng mình đã thành công trong việc thực hiện một cách xứng đáng lời hứa của mình với mẹ.  

"Và như chính mẹ, con chim Phượng Hoàng tuyệt vời đã mang theo tổ tiên bên mình, nay con mang mẹ trong tim và biết có bàn tay mẹ đang độ trì cho con".

6/6/2025

Isabelle Müller

Trương Hồng Quang dịch

Theo https://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

XXXXXXXLoan - Từ cuộc đời của một con chim phượng hoàng 2

Loan - Từ cuộc đời của một con chim phượng hoàng 2 - 2 - Một đêm tối tăm  Chúng tôi tới một ngôi nhà nhỏ, tối om, bao quanh là tường c...