Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

XXXXXXLoan - Từ cuộc đời của một con chim phượng hoàng 1

Loan - Từ cuộc đời của một
con chim phượng hoàng 1

Chương một - 1 -

Cuộc cách mạng của con tim

Trải lòng với một đứa con

Đó là vào năm 1970, năm Canh Tuất theo Âm lịch.  

Tôi sống cùng với gia đình ở một làng nhỏ, hẻo lánh ở nước Pháp. Vào ngày hè hôm ấy tôi chọn cho mình những hàng gạch ấm trên bậc tam cấp lớn dẫn từ phòng khách ra ngoài vườn. Trước khi nằm xuống dưới bóng hai cây dẻ cao và rậm rạp, tôi sắp xếp lại chiếc gối cứng mà mình sẽ đặt đầu vào đó. Lại đến lúc Isabelle nhổ những sợi tóc sâu của tôi. Và con bé đang tới rồi, nó sẽ bắt đầu ngay với công việc, khéo léo, đúng theo phong tục ở đất nước mà tôi đã sinh ra và lớn lên.  

Mái tóc dài cần phải giữ được một màu đen hoàn hảo và không bị xen lẫn những sợi trắng phản phúc có thể làm phương hại đến vẻ ngoài của tôi.  

"Mẹ ơi, mẹ từ đâu đến? Tại sao mẹ không giống chúng con? Kể đi mẹ!", cô con gái nhỏ của tôi hỏi, với chiếc nhíp trên tay.  

Nghe lời thỉnh cầu của con bỗng nhiên tôi mới ý thức được là chưa bao giờ tôi nói về quá khứ của mình. Mà nào có ai lại quan tâm về cuộc đời của tôi chứ?

Gần bốn mươi năm sôi động đã trôi qua, suốt thời gian đó tôi luôn giữ kín các cảm xúc của mình cho một dịp nào đó về sau. Liệu giờ đây tôi đã sẵn sàng cởi mở tấm lòng mà không làm vỡ ra những vết sẹo cũ đã lành?

Nó ngồi đó, đầy kỳ vọng trước tôi, đứa con gái út mà tôi đã sinh hạ vào 1964, năm Giáp Thìn, ánh mắt tò mò và vô tội. Nó muốn nghe tôi kể. Và đột nhiên tôi có cảm giác đã đến lúc phải đối diện với quá khứ của mình. Không nén lại bất cứ một điều gì nữa. Không còn sợ hãi. Tôi muốn giải tỏa nỗi cồn cào trong mình, được thét lên và chia sẻ. Tôi muốn rốt cuộc được tự giải thoát khỏi gánh nặng đã đè trĩu lên tâm hồn mình hàng chục năm trời như một tảng đá. Và như vậy tôi đặt đầu lên lòng con gái và bắt đầu kể. Và trong khi tôi nói, quá khứ quay trở lại, dường như tôi phải nếm trải tất cả một lần nữa...  

Ra đời trên đường đi 

Tôi xuất thân từ An Nam, ngày nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Những năm đầu đời tôi sống ở một làng gần thị xã Hà Tĩnh nằm bên bờ biển miền Trung.  

Tôi có hai người anh trai. Một người anh cả tôi sẽ không bao giờ muốn nêu tên vì sự thô lỗ và tàn bạo mà người ấy dành cho tôi, và Hòe.  

Tôi sinh ra trên đường đi Hải Phòng, một trung tâm thương mại quan trọng từ hàng thế kỷ nay và một thành phố cảng tầm cỡ ở phía Bắc An Nam mà do có nhiều cây phượng vĩ mọc ở đó nên cũng được gọi là thành phố hoa phượng đỏ.  

Mẹ tôi đi theo bố tôi trên một chiếc xe thồ hai bánh do một con trâu mộng của nhà kéo. Bố mẹ tôi đến Hải Phòng để bán da thú và các chiến lợi phẩm săn bắn khác của bố tôi.

May mắn là bố mẹ tôi cùng đi với nhau, bởi người mẹ bụng chửa vượt mặt của tôi lúc đó, một người đàn bà An Nam, không được phép sinh con trong ngôi nhà của chính mình ở Hà Tĩnh. Làm như vậy thì sẽ mang lại tai họa cho trẻ sơ sinh và cả gia đình.  

Khi lên cơn đau đẻ, mẹ tôi tìm một góc yên tĩnh có cây xanh, nằm ngoài tầm mắt của người qua kẻ lại. Bà không tìm được một túp lều nào để có thể chọn làm nơi đẻ.  

Bố tôi để mẹ tôi một mình trong khi vượt cạn. Là chồng, ông không được phép có mặt chỗ vợ sinh, bởi nếu không thì ông sẽ bị mất khả năng đàn ông. Ông chờ ở chỗ buộc con trâu nhà cho đến khi được mẹ tôi gọi. 

Tất cả những việc này xảy ra vào năm 1929, có lẽ vào khoảng tháng Mười, vì lúc đó vụ lúa thứ ba và cũng là vụ lúa cuối cùng đã thu hoạch xong. Mẹ tôi đo cuống nhau và thả nó rơi xuống tận đầu gối tôi. Sau đó bà gọi bố tôi, ông dùng con dao sắc của mình cắt cuống nhau. Mẹ tôi quấn tôi vào một tấm khăn địu bằng lụa màu đen, trước đó không quên buộc chặt một đồng bạc to vào cuống nhau đã được thắt lại thành hình loa ốc sên. Như vậy nó sẽ lành và chóng rụng hơn, sau đó mẹ tôi sẽ bảo quản khúc cuống nhau cẩn thận trong những năm đầu đời tôi; nó sẽ được dùng kèm theo một loại thuốc chống sốt do người già pha chế nếu như tôi bị ốm. Mẹ tôi còn hút sạch đờm từ trong mũi tôi và nhổ ra vệ đường. Bằng cách đó bà đề phòng bệnh hô hấp cho tôi.  

Tôi được đặt tên Cúc, hàm nghĩa hoa cúc. Mẹ gọi tôi như vậy vì bà rất yêu loài hoa này. Sau đó bố mẹ tôi tiếp tục đi Hải Phòng và mấy tuần sau mới quay trở lại Hà Tĩnh. Nơi đây tôi đã sống những năm đầu tiên vô tư của thời thơ ấu.  

Gốc rễ 

Về sau này mẹ tôi nói với tôi rằng người ta chẳng cần biết nơi sinh của mình. Điều quan trọng là sức khỏe. Vào thời đó ở nước tôi, đặc biệt là ở vùng nông thôn, có thông lệ là đứa trẻ nào sinh ra bị dị tật sẽ bị bóp mũi cho đến khi ngạt thở. Người ta tin rằng làm thế thì sức khỏe và sự thanh sạch của dòng giống sẽ được đảm bảo.

Mẹ tôi, một người đàn bà mảnh mai, duyên dáng, sinh vào năm 1890, cùng năm như một người đàn ông về sau sẽ mang tên Hồ Chí Minh. Bà thuộc dân tộc thiểu số Lào và sống ở một vùng cao nguyên gần Lào. An Nam thời đó có trên năm mươi dân tộc.  

So với một người phụ nữ An Nam bà khá cao lớn. Bà có mái tóc dài và mượt, trên môi luôn nở nụ cười. Da của bà rất trắng. Đối với tôi bà thật đẹp. Thường bà mặc đồ lụa xanh, và mái tóc dài của bà được quấn bằng vải đen thành một hình vành khăn ở quanh đầu. Cổ tay bà đeo nhiêu vòng bạc nung vốn rất phổ biến ở quê tôi.  

Mỗi khi đi chợ quê để bán thú rừng do bố tôi săn được, bà luôn đội nón, phía sau vành nón giấu một tấm gương tròn nhỏ. 

Trước ngôi nhà của chúng tôi có một chum đựng nước mưa dùng để uống và nấu ăn. Trong nhà có một gian nhà kho với các bao tải chứa thuốc lào phơi khô và gạo. Cạnh nhà có một chiếc bè tre lớn neo sẵn để cứu gia sản của chúng tôi nếu có mưa lớn kèm lũ quét, biến những nhánh sông ở gần thành một dòng thác nguy hiểm. Phía sau nhà, cạnh cái chuồng gà của bà cô tôi là một mảnh vườn nhỏ của mẹ tôi, ở đó bà trồng cây ăn quả, rau và mùi.  

Bố tôi thuộc một tộc người sống chủ yếu nhờ săn bắn, được gọi chung với các tộc người thiểu số khác là "mọi". Ông có một tấm lưng to như tấm phản và người rất thấp, chỉ khoảng một mét tư. Với một bàn tay ông có thể dễ dàng vặn cổ một con khỉ! Hình dáng của ông đến hôm nay vẫn còn hiển hiện trước mắt tôi: làn da sẫm màu, gương mặt rộng, chiếc mũi bẹt, mái tóc cứng và đen nhánh của ông được buộc túm lại bằng một giải da.  

Ông chỉ đóng mỗi chiếc khố, chỉ khi nào có việc xuống thị trấn ông mới vận một bộ quân phục cũ đã bợt màu, một kỷ vật từ thời ông phục vụ trong quân đội Pháp. Ông phục vụ ở đó trên hai mươi lăm năm. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, ông có mặt ở Pháp, tại mặt trận phía Tây. Trong một lần vấp nổ lựu đạn ở đó, ông đã mất đi hai ngón tay.  

Sau thời gian đó, cuộc sống của ông lại quay về với nhịp điệu cũ, thỉnh thoảng ông kiếm thêm chút tiền bằng cách làm người dẫn đường đi săn cho các thành viên khá giả thuộc tầng lớp thượng lưu: Chủ ngân hàng, bác sĩ hay chủ đồn điền giàu có, họ muốn đi tìm một chút kích thích trong chốn rừng rậm thâm u.  

Một cuộc hôn nhân

Cuộc hôn nhân của bố mẹ tôi đã được hai bên gia đình sắp đặt từ sớm, chính bố mẹ tôi không hề biết đến. Chỉ có ông bà nội ngoại mới được thông báo trước về quyết định này.  

Bố tôi thường sang Lào đi săn. Từ đó ông mang về cho cô dâu tương lai trinh trắng của mình lá trầu để bà nhai, nhằm chăm sóc cho hàm răng nhuộm đen của bà. Ngoài ra ông luôn mang theo đá thạch anh mài, ngọc và vải đỏ - màu của may mắn - và thú rừng săn bắn được. Bởi do kiếm được bộn tiền từ việc đi săn để có thể nuôi sống được gia đình riêng, bố tôi không phải đi ở rể ở nhà bố vợ tương lai.

Lễ cưới thực sự của bố mẹ tôi bắt đầu bằng việc bố tôi tặng cho vị hôn thê của mình nhiều thứ quà cáp. Trong khi đó hai bên nhà trai và nhà gái làm lễ cúng gia tiên.  

Ngày đầu kết thúc bằng một bữa tiệc tối thịnh soạn. Sáng hôm sau cô dâu ăn vận lộng lẫy được rước sang ngôi nhà gia đình tương lai của mình. Khi đến nơi, bà quỳ rạp xuống lạy bố mẹ chồng và họ hàng nhà trai. Bà cầu nguyện gia tiên và các thần linh bảo hộ hôn nhân từ nay sẽ phù hộ cho mình.  

Từ thời điểm này bà trở thành thành viên của gia đình bên chồng, từ lúc này bà phải chấp nhận đức tin của họ. Tôn giáo của chúng tôi là một hỗn hợp của Phật giáo và một niềm tin về các thần linh thiện và ác bao quanh con người, thường xuyên đòi hỏi lòng tôn kính và các lễ vật.

Từ đó mẹ tôi sống trong căn nhà này, dưới con mắt xét nét thường trực của bố mẹ chồng. Do được kết hôn hoàn toàn theo đúng nghi thức truyền thống nên bà được hưởng vị thế của một người vợ được nể trọng. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là cuộc đời của bà lại đáng được người đời ghen tị.

Trong những đồng tiền do bố kiếm được, mẹ chỉ nhận được phần cần thiết nhất để trang trải sinh hoạt cho bố mẹ chồng, ba đứa con và bản thân. Nếu không đi săn hay làm một công việc khác thì bố tôi mua rượu mía, còn gọi là rượu "rum"(Rhum), rồi uống tới say, hoặc đánh bài ba quân. Thêm vào đó ông còn thường đi chơi phố. Ông đi về tùy ý thích mà không cần một lời báo trước - là đàn ông, ông chẳng phải giải trình trước một ai. Thỉnh thoảng, ông biệt tâm hàng tháng, có lúc cả hàng năm trời, nhưng mỗi lần trở về lại được mẹ tôi đón nhận không một lời chất vấn, cứ như thế ông chưa hề đi xa.  

Giả sử nếu muốn ly dị, mẹ sẽ phải hoàn trả từng món quà tặng của bố. Những vật dụng bị vỡ, chẳng hạn như chén bát, sẽ không có đồ để thay thế. Hay cho một tấm vải thêu đã mòn ông sẽ đòi một khoảng cắt cổ để kiếm được tấm vải nguyên dạng. Ngoài ra bà sẽ mãi mãi phải rời bỏ ngôi làng của mình để không gây ô nhục cho gia đình.

Như thế mẹ không bao giờ có khả năng chia tay bố nữa. Còn bố tôi, như mỗi một người đàn ông khác, có đến bảy lý do để có thể ly hôn, trong đó ba lý do quan trọng nhất là bệnh vô sinh, thói lắm lời và tính ghen tuông từ phía người vợ. Bởi vì bố tôi không phải là một người An Nam nghèo khó, ông có thể chọn cách sống đa thê. Từ rất lâu ông đã lấy một người vợ lẽ sống ở làng bên và cũng có con với người này. 

Với mẹ tôi thì vị trí "bà cả" đã là một vinh dự, qua đó bà được hưởng một sự công nhận nhất định. Khi tự giới thiệu với ai đó, bà nêu tên mình và chua thêm một cách tự hào:  "Bà cả".   Và như vậy tôi cũng được tự hào xưng danh là "Cúc, con gái của bà cả". Cho dù không thực sự hiểu được nguyên do, mỗi lần có ai đó gật đầu một cách cảm thông pha chút giễu cợt, danh xưng ấy vẫn làm thỏa mãn và cũng có cảm giác lâng lâng về tính ưu việt trong tôi.  

Tôn ti và trật tự bao trùm ở quê hương chúng tôi đã được tôi nhập tâm từ tấm bé như là những nguyên tắc cốt lõi. Tôi biết rằng bố thì đứng trên đỉnh cao nhất, vì ông là bố, và vì ông là đàn ông. Người đàn ông tầm thước này, với một tấm lưng rộng như lưng trâu mộng, có mọi quyền quyết định trong gia đình. 

Ở vị trí tiếp theo là anh trai cả của tôi, người đại diện cho quyền lợi của gia đình khi bố đi săn hay sống ở nhà bà vợ lẽ. Anh trai Hòe kế theo chịu trách nhiệm về những công việc giản đơn hơn. Người có uy tín tiếp theo đó là mẹ tôi, người có nghĩa vụ gắn kết gia đình và thường xuyên bị xét nét bởi bố mẹ chồng và các bậc trưởng lão. Và ở vị trí rốt cùng là tôi, Cúc,  "con gái của bà cả".  

Thời vô tư

Tôi từng trải qua những giờ phút không thể nào quên trên những cánh đồng lúa xanh mướt gần nhà và quan sát người lớn trong khi họ làm việc. Đàn ông cày trên các thửa ruộng bùn lầy, đàn bà thì cấy lúa và hát những bài ca buồn bã. Trên từng bước đi tới, những chú trâu kiên nhẫn thở phì phò một cách nhịp nhàng. Trên tấm thảm âm thanh được kết thành từ những hơi thở sâu và mạnh, tiếng lội nước sùng sục và các điệu hát du dương, những sắc thái tinh tế của màu sắc bao quanh chúng tôi trong ánh dương mang đến cho tôi một cảm giác thật huyền diệu.

Thỉnh thoảng tôi được phép cắm mạ xuống đất bùn sau khi đã thử kéo một đường cày thẳng với chú trâu nhà. Tôi rất thích mùi đất xộc lên mũi và làn hơi ấm trên da làm cho nó trở nên lấp lánh. Ở quê tôi có thừa đủ nước để tưới cho mạ non, tôi thường tát nước bằng chiếc nón quê của mình. Chiếc nón của tôi còn lâu mới đẹp như những chiếc nón từ kinh đô Huế, xứ sở của những người làm nón. Nón Huế thường có những hình hoa văn tinh tế chìm giữa hai lớp lá, lúc soi ra ánh sáng mới có thể nhận thấy hết vẻ đẹp. Chiếc nón quê của tôi đơn sơ hơn nhiều, nhưng đủ che nắng mưa và gắn bó với tôi suốt cả thời thơ ấu.

Thuở đó tôi chưa hề ý thức được về việc người lớn phải lao động nặng nề như thế nào. Tất cả dường như diễn ra thật nhẹ nhàng, và nụ cười hiển nhiên trên gương mặt họ mang đến cho tôi cảm giác rằng công việc đang mang lại cho họ niềm vui. 

Ngày đó tôi chưa có các nghĩa vụ phải hoàn thành. Khi xem đã chán hay nếu những con đỉa hút máu trở nên quá hung hãn, tôi sẽ lại trèo lên chú trâu nhà và nó sẽ mang tôi trở về nhà an toàn, cho dù tôi có ngủ thiếp đi trên lưng nó.  

Mẹ tôi gần như luôn túc trực trước cổng nhà để xả thịt thú rừng do cha bắn hạ bằng mũi tên tự chế tẩm thuốc độc. Ông sử dụng thành thạo các loại vũ khí và nắm vững mọi ngóc ngách của kỹ thuật săn bắn, nhờ đó ông nổi danh là một thợ săn xuất chúng. Những con chim nhỏ bị dính chặt trên những tấm ván do bố đã bôi keo trước đó. Bố chỉ cần thu lượm chúng về.

Thỉnh thoảng ông lại đến các đầm lầy và cắm một con vịt gỗ sơn có mỏ thật xuống mặt nước ven bờ. Sau đó ông dùng cung tên bắn vào những con vật đồng loại bay tới. Hay để thay đổi ông sử dụng một con cò tự lắp với bộ cánh "thật" biết vỗ ngay giữa đồng lúa. Có lần chỉ trong một ngày ông đã bắn hạ được hơn cả một trăm con cò xám.  Phần lớn những con thú săn được ông phân phát một cách đầy hào phóng cho dân làng. Nhiều lúc ông bắn được hươu non, về đến nhà ông cắt cổ chúng và uống tiết hươu con nóng để tăng lực. Còn tim hươu thì mẹ tôi chế biến thành bữa ăn tối cho ông.

Có một ngày ông mang từ rừng về một con gấu non bị bắn hạ và trao lại lá tụy và mật cho ông ngoại tôi là thầy thuốc trong làng để chế thành những thang thuốc quý.  

Ông ngoại tôi là một người có học. Tôi yêu quý ông. Ông biết đọc và viết chữ Tàu cổ theo hàng dọc. Mỗi khi thấy tôi có hứng thú, ông thường dành thời gian giảng giải cặn kẻ cho tôi về những gì mà ông biết được về các loại thảo dược và phương pháp trị liệu. Trong khi nói, ông có thói quen vuốt chòm râu bạc lưa thưa mọc dài đến ngực mà ông rất đỗi tự hào. Nhờ có nó ông không chỉ là một người được vị nể trong làng, ông còn tin rằng vào ngày mà ông từ giã cõi đời, Đấng cao xanh sẽ lấy túm chòm râu mà kéo ông lên trời. Chòm râu càng dài bao nhiêu thì xác suất được lên trời càng cao bấy nhiêu! Nếu có ai đó cắt đi chòm râu của ông, linh hồn của ông sẽ phải lang thang bất hạnh!  

Linh hồn như tôi và bạn

Sau tôi mẹ tôi còn sinh hạ hai người con gái nữa, Thảo và Mây.  

Và bây giờ bà mang thai đứa con thứ sáu. Bố tôi quyết định nới rộng căn nhà dần đã trở nên chật chội của gia đình tôi. Căn nhà được xây dựng trên nền đất sét được lèn chặt, với tường đất nan tre và mái sậy. Một hôm ông đi hút vào rừng rậm mất mấy ngày liền, vào một buổi sáng ông trở về với một con voi hoang, ông kể là đã dùng chuối chín để nhử và mua chuộc nó.

  Bố tôi đã phát hiện đàn voi từ trước đó. Ông quả quyết rằng mình có khả năng trò chuyện với các loài thú, và tôi lập tức tin điều đó khi thấy ông trở về cùng với con voi cường tráng này. Nó bắt đầu ngay với việc lần lượt nâng bổng mười hai thân cây sơn to nặng từ mặt đất và dựng chúng lên cùng bố tôi. Mủ độc của loài cây này không chỉ được dùng để chế tạo sơn. Một khi phết lên các mặt gỗ, nó còn có tác dụng chống ẩm và diệt mối một cách tuyệt vời. Khi đánh bóng miếng gỗ này, nó sẽ sáng lên như gương. Ở lối vào nhà của chúng tôi có treo một tấm gương như vậy.  

Bằng cách đó, bộ khung cửa gian nhà phụ chuẩn bị cho đứa con chưa ra đời đã dựng xong. Sau khi nó được hoàn tất với các bức tường rơm và đất sét được ráp vào các cột gỗ, chú voi tự lên đường trở về rừng rậm, trước đó không quên chén chuối đầy bụng. 

Cũng có những con voi được thuần hóa sống và làm việc suốt đời trong một gia đình như một gia súc trung thành. Mẹ tôi kể có lần có một kẻ nát rượu bán con voi của mình cho một người họ hàng của chúng tôi trong làng, sau khi anh ta đã nhiều lần đánh nó trong cơn say xỉn. Nhiều năm sau, do một tình cờ, người này đặt chân đến một làng có con voi đó đang làm việc. Khi nhìn thấy người đàn ông này, con vật giận dữ lao đến và giẫm chết anh ta, sau khi dùng vòi ném bổng người đó lên không khí. Làng lập tức triệu tập một phiên tòa để xét xử về hành động của con voi. Người dân ở đây cho rằng hết thảy đều có sự sống và có linh hồn, bất kể đó là loài vật hay cây cỏ. Trong ý nghĩa này, loài vật cũng được coi bình đẳng như người và được đối xử một cách tôn trọng.

Người ta cho rằng con vật này đã hành động một cách công bằng, do nó bị hành hạ trong quá khứ. Với người chủ mới, nó luôn tỏ ra là một gia súc chăm chỉ và trung thành, vì vậy mà nó đã được tuyên bố trắng án.  

Thầy mo 

Không chỉ thần linh đòi hỏi ở con người sự kính trọng. Từ khá sớm tôi đã biết có người tốt, nhưng cũng có cả các ác nhân sống quanh ta. Vào một ngày nọ có một người đàn bà trẻ đến làng chúng tôi. Cô bị kiệt sức và xin một bữa ăn cùng nơi tạm nghỉ chân. Cô kể cho chúng tôi câu chuyện của mình.  

Ở làng cô, nơi gần biên giới Lào, có một gia đình thù địch với cô và người nhà của cô, họ rất tức tối về việc mảnh ruộng thuê của gia đình cô mang lại nhiều sản lượng hơn so với các mảnh ruộng của họ. Sau nhiều lần tranh cãi, gia đình kia tìm sự giúp đỡ của một thầy mo. Vào lúc trời nhập nhoạng tối, người đó bí mật bôi lên cánh cửa ra vào căn lều của người đàn bà một thứ chất lỏng đã bị bỏ bùa, nhằm để nhử rắn ở quanh vùng vào bên trong túp lều.   Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng trăm con rắn độc đã trườn vào lều và cắn những người trong gia đình đang nằm ngủ. Bà mẹ già, chồng và năm đứa con đã chết một cách thê thảm. Bản thân cô thoát chết chỉ vì hôm đó tình cờ cô ngủ lại nhà một người em gái vừa sinh con.  Ở làng tôi có một bà cụ biết được cách giải bùa, nhưng người đàn bà trẻ quá sợ hãi nên không dám quay trở về nhà. Vì vậy mà cô sẽ đi tiếp, cô nói với chúng tôi như vậy, chừng nào đôi chân của cô vẫn còn đủ sức.  

Người đàn bà trẻ chỉ ở lại ít hôm. Sau đó cô lại rời khỏi làng chúng tôi, với đầy đủ thức ăn dự trữ, để tiếp tục con đường của mình.  

Ngày xửa ngày xưa 

có một vị Hoàng đế 

Qua nhiều thế kỷ, do vị trí địa lý và tài nguyên của mình, đất nước chúng tôi đã trở thành món mồi thèm khát của các thế lực ngoại bang. Vương quốc Trung Hoa từ lâu đã đưa Khổng Giáo với quan niệm ngũ thường - nhân, nghĩa, lễ, trí, tín - cũng như hệ thống pháp luật và quản lý nhà nước thông qua các quan lại vào áp dụng ở quê hương chúng tôi. Các vị quan này là những học giả thuộc giới tinh hoa có nhiều ảnh hưởng của triều đình, có trách nhiệm thừa lệnh Hoàng đế thực hiện việc bảo tồn nền văn hóa Trung Hoa. Công việc này hoàn toàn chỉ dành cho nam giới.  

Để trở thành quan, có nghĩa là người có địa vị cao quý, các bậc nam nhi phải thông thạo về văn học Trung Hoa và phải vượt qua những kỳ thi khó khăn. Chỉ sau đó họ mới được thăng quan tiến chức trên các thang bậc hành chánh và quyền lực của triều đình.

Với việc áp dụng hệ thống quan lại, tất cả các tỉnh huyện phải được sắp xếp lại. Cho dù nền thống trị của Trung Quốc mang lại tiến bộ kinh tế và nhiều thành tựu văn hóa và giáo dục ở đất nước chúng tôi, các phong tục và truyền thống bản địa đã bị cấm đoán và bị thay thế bởi các luật lệ của Trung Hoa. Và như vậy có nhiều cuộc bạo loan đã nổ ra, có lúc thành, có lúc bại. Đồng thời Đông Nam Á ngày càng lọt vào tầm ngắm của các thế lực Phương Tây; đặc biệt là nước Pháp đã vươn dài cánh tay của mình sang đây. Nhiều cuộc khởi nghĩa chống phong kiến ở An Nam đã bị dập tắt với sự giúp đỡ của người Pháp. Pháp đóng vai một nhà bảo hộ được hoan nghênh và tận dụng cơ hội để đặt chân lên đất nước này. Rốt cuộc Trung Hoa đã công nhận khu vực bảo hộ Bắc Bộ là địa phận thuộc Pháp. 

Cuối thế kỷ mười chín tuy vẫn còn một Hoàng đế Việt Nam ngự trên ngai vàng, nhưng Pháp, với tư cách một thế lực thực dân quyền uy,  đã thành lập và kiểm soát Liên bang Đông Dương, trong đó bao gồm các xứ Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ và cả Lào, Cămpuchia. Vào đầu thế kỷ hai mươi, Phật giáo, vốn bị triều đình và người Pháp chèn ép trước đó, đuợc chấn hưng trở lại. Các tu sỹ Phật giáo thành lập các trường học, cô nhi viện và bệnh xá. Những người nghèo cưu mang những người còn nghèo hơn cả mình.  

Lúc tôi ba tuổi, Bảo Đại lên ngôi vua, tất nhiên là dưới sự bảo trợ của người Pháp. Ông từng du học ở Pháp và được quyền thừa kế ngai vàng. Huế, kinh đô của triều Nguyễn, nằm cạnh dòng sông Hương. Đô thành được bảo bộc bởi năm dãy núi có chức năng phòng thủ, điều này được coi là một điềm lành.

Như vậy tôi đã lớn lên với tư cách bầy tôi của một Hoàng đế Việt Nam dưới ách thống trị thực dân Pháp và phải tuân thủ các điều luật hiện hành của các quan lại đương nhiệm, cho dù quyền lực của quan lại ở những làng xa như quê tôi không thể hiện một cách mạnh mẽ như ở những khu dân cư lớn. Ở làng chúng tôi thì câu tục ngữ "Phép vua thua lệ làng" vẫn giữ nguyên hiệu lực.  

"Những con khỉ da vàng" 

Đầu thế kỷ hai mươi đất nước tôi được phân chia thành hai giai cấp. Một bao gồm các đại địa chủ bản địa, một thứ tầng lớp thượng lưu mới, những người di dân mới từ Pháp và các nhà truyền giáo Cơ đốc. Năm 1933 có một người An Nam đã được bổ nhiệm làm Giám mục Cơ đốc.  

Những người bản địa giàu có và con trai của các quan lại được hội nhập một cách có chủ đích vào xã hội Pháp, trước hết là vùng đô thị, và được đào tạo trong các trường Pháp. Chữ viết lâu đời của chúng tôi, chữ Hán và chữ Nôm, được thay thế bởi chữ La tinh như là hệ thống chữ quốc ngữ mới. Qua đó có một đường ngăn cách rõ ràng xuất hiện giữa hai nền văn hóa. Trong thời thơ ấu của tôi hai phần ba đất đai nằm trong tay của giới thượng lưu này.  Giai cấp còn lại bao gồm nông dân và tá điền nhỏ phải gánh chịu sưu cao thuế nặng. Bộ phận dân chúng này bị gọi một cách khinh miệt là "dân nhà quê" và sống ở các thôn xã. Họ không được học hành, ngay cả đọc và viết cũng không. Nhìn chung, những người Annamit khốn khổ này không có chút giá trị nào, người ta gọi họ là "khỉ da vàng". Vợ của những người nông dân thường bị cưỡng bức đi làm việc ở các đồn điền cao su hay tại các mỏ than khét tiếng ở Hòn Gai gần biên giới Trung Quốc và chỉ được trả đồng lương chết đói. 

Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, hàng trăm nghìn người đàn ông "nhà quê" đã bị đưa sang Pháp tham gia các "tiểu đoàn lính thợ". Bố tôi là một trong số đó. Ông kể cho chúng tôi, trong khi ngắm bàn tay bị cụt hai ngón của mình và cười cợt về sự dốt nát của đám lính da trắng, rằng họ chỉ muốn sử dụng ông và những người khác ở các trận đánh vào ban ngày, vì cho rằng người Annamit trong bóng tối sẽ sợ cọp và "ma quỷ". Về sau thì họ mới rõ chính đêm tôi là sở trường của "khỉ da vàng".  

Giá trị của một nụ cười

Lúc lên năm lần đầu tiên tôi đã có trái nghiệm với một ông quan có thực ngoài đời. Vào một ngày ông đến làng chúng tôi để kiểm tra hệ thống tưới nước ruộng và thu tiền thuế đến kỳ hạn. Từ trước đó sai dịch đã khua chiêng gõ mõ báo việc quan về làng.  

Mẹ ở nhà với tôi. Bố thì vắng nhà đã hàng tuần lễ nay, lần này cùng với anh trai cả của tôi. Tôi đang chơi trước nhà thì thấy một nhóm đàn ông vừa đánh trống inh ỏi, vừa cố sức dương cao hai tán lọng bước tới. Sau họ là một người đàn ông ngự trên một kiệu gỗ chạm trổ do hai người phụ đi chân trần khiêng. Một tấm áo thụng dài bằng lụa xanh sẫm và gấm thêu che đôi chân đi hia của ông. Tôi phát hiện ngay trên sườn áo một con rồng thêu màu sắc rực rỡ, trên ngực là một ô vải vuông với rất nhiều hoa văn tinh xảo, ở chính giữa là hình một con chim. Người đàn ông đội một chiếc mũ hình nón đan bằng tre, từ trên đỉnh mũ bằng thủy tinh nhọn có một chùm lông ngựa rũ xuống và lắc lư theo từng nhịp bước của người khiêng kiệu, tôi thấy khá vui nhộn.

  Tôi đứng im bặt và không biết điều gì gây ấn tượng với mình hơn: sự xuất hiện ồn ào, hào nhoáng của vị quan, và đoàn tùy tùng, hay hình dong của chính ông, bất động và cứng đơ như chiếc cổ áo của bộ trang phục dường như không cho phép chủ nhân của nó được phép có một động tác thừa nào.  

Tôi nhìn thấy mọi dân làng đứng ở hai bên vệ đường đều cúi gập đầu chờ khi người đàn ông này đi qua. Mẹ tôi từ nhà đi ra, ngay lập tức cũng cúi đầu và có ý chờ tôi làm theo bà. Nhưng tôi không làm như vậy. Vị quan chĩa một ngón tay ra hiệu mà không nói lời nào, tôi nhận thấy chiếc nhẫn lớn đeo trên ngón tay và những móng tay dài ngoẵng và có hình vuốt của ông, ngay sau đó những người phụ khiêng kiệu ngừng bước lại.  

Mẹ tôi, không nói lời nào, đầu vẫn còn cúi gập, chìa tay về phía đầu tôi và tìm cách đè nó xuống một cách vô vọng. Tôi không chịu và nhìn người đàn ông, ông ta cũng nhìn tôi trân trân. Vì cớ gì mà tôi lại phải cúi đầu? Tôi đâu có biết ông ta, ông ta cũng không phải là một vị bô lão, tôi thầm nghĩ như vậy. Không hề sợ hãi, tôi mỉm cười với ông. Ông ta nheo mắt, mỉm cười trở lại, rồi lại chĩa ngón tay lên cao. Những người phu tiếp tục khiêng kiệu ông đến tận giữa làng.  

Khi nhìn sang mẹ, tôi thấy bà khóc.  

"Đừng bao giờ làm như vậy nữa! Không bao giờ được phép nhìn vào mặt sứ giả của Hoàng đế, nếu không con sẽ bị chém đầu! Hôm nay là con gặp may đấy!". Bà hấp tấp đi vào nhà và lấy một tráp gỗ nhỏ, trong đó có chứa các phần tài sản để đóng thuế của chúng tôi: đồ trang sức, mấy viên đá quý, tiền kim loại và vàng lá ròng. Giữa làng, những người đàn khác đã xếp hàng đợi. Mẹ tôi nhập vào hàng người, và khi đến lượt mình, bà trao cho vị quan phần đóng góp cho Hoàng đế.

Lúc trở về, bà giải thích cho tôi một cách từ tốn, rằng Hoàng đế là Thiên tử và là đấng trị vì duy nhất của chúng tôi. Ông ấy chịu trách nhiệm về mọi số phận thần dân, chăm lo hạnh phúc và sự thịnh vượng của họ.  "Con đã hiểu chưa?", bà hỏi tôi. Tôi gật đầu nhiều lần và tiếp tục được phép chơi.  

Khi vị quan đi rồi, một số người dân làng chuyện trò với mẹ tôi.  

"Thật là bất công! Nếu mà chúng ta làm việc cho họ thì họ trả cho chúng ta bằng tiền đồng. Nhưng mà thuế thì chúng ta luôn phải trả bằng vàng." Tất cả họ nhìn nhau buồn bã, tuyệt vọng cùng cực. Nhóm người dân giải tán, và mọi người lại trở về công việc của mình. Mẹ đổ nước nóng từ một ống bương và bắt đầu nhổ lông một con gà. Tôi đến trước mặt bà và nói một cách cương quyết:  "Con chẳng thể nào hiểu nổi. Nếu Hoàng đế muốn điều tốt lành cho dân chúng thì tại sao ông lại lấy đi số vàng duy nhất mà chúng ta có?".  

Mẹ ngẩng đầu, mỉm cười và trả lời:  "Bởi lẽ như vậy", rồi bà lại vắt lông gà tiếp. Tôi quay người và bỏ đi mà không thể thỏa mãn với câu trả lời này, vì đối với tôi đó không phải là một câu trả lời.

- 2 -

Bản năng thợ săn 

Lúc năm tuổi, lần đầu tiên tôi đi cùng bố đến một con sông, nơi ông dùng những cây lao tẩm thuộc độc để xiên các con cá lớn. Chất độc được ông chiết từ một loài cây đặc biệt và cất giữ rất bí mật. Ông cũng chỉ cho tôi cách dùng thứ cây cỏ nào thì có thể gây mê được các loài cá bé để sau đó chỉ cần dùng lưới để vớt những chú cá đã ngủ say này lên khỏi mặt nước. Ở những cánh đồng lúa ngập nước có đầy rẫy tôm, cua và các loài cá nhỏ.  

Tôi thật vui sướng mỗi lần được đi cùng ông, bởi qua đó tôi cảm thấy dường như bản năng thợ săn trong mình được đánh thức. Trước khi bước chân vào rừng rậm thâm u, xứ sở của các loài rắn hổ mang, bọ cạp và những con rết khổng lồ màu xám xịt, tôi được bố dạy cách đọc dấu chân thú ở các cánh rừng tếch xum xuê; đó là một trong những kỷ năng của người thợ săn giỏi. 

Để di chuyển một cách lặng lẽ hết mức, trước hết chúng tôi nhón gót chân để bước đi thật mềm dẻo. Những vết chân thú tìm thấy cần phải được phân tích căn cứ vào độ lớn và đặc điểm của lốt chân. Tùy theo hình dạng của vết chân mà có thể phỏng đoán liệu con thú còn ở gần hay không. Tùy thuộc vào việc có mưa hay không và lốt chân thú sắc cạnh hay tròn, người ta có thể đoán lốt thú này đã có từ bao lâu. Chiều sâu của lốt chân thì lại cung cấp thông tin về trọng lượng của con thú.

Chỉ riêng số lượng ngón chân hay cách di chuyển của con thú đã cho biết nó thuộc loài nào. Loài chim nhảy nhót kiếm ăn trên cây và trong không trung có vết chân nằm cạnh nhau, khác với vết chân của những con chim chỉ biết đi và thức ăn thường là các loài côn trùng sống trên mặt đất.  

Một dấu chân chữ U bao gồm lốt chân nhỏ phía trước và lốt chân lớn phía sau cho hay đây có thể là một chú thỏ. Nếu chúng tôi tìm thấy cỏ bị xéo trên mặt đất và các vết vằn vèo chữ chi thì điều ấy có nghĩa rằng có một thú móng guốc hay một con hươu hoang ở cách đó không xa, đặc biệt nếu phần thú ăn còn sót lại của chúng chưa khô hay ở phần cạnh đã biến thành màu nâu. 

Gấu thì cùng lúc nhấc chân trước và sau cùng bên để lại những vết móng dài trên mặt đất, thường thì chúng cũng để lại cả những vết cào trên vỏ cây ở xung quanh. Các vết lệch song song theo chiều ngang trên cỏ cho thấy đó là dấu vết của một loài bò sát nhỏ, còn cỏ bị đè rạp một cách đều đặn cho thấy đó là vết của một loài bò sát lớn. Tôi luôn hứng thú với việc lần theo lối di chuyển của thú rừng và tìm ra loài nào từng gặm cỏ, ngủ hay săn bắt ở khu vực mà chúng tôi đang theo dấu. Hai bố con thường xuyên để ý đến hướng gió, phần để tránh bị lộ, phần là để không bỏ qua các chỉ dấu quan trọng trong hơi gió. Bởi vì mỗi loài thú không chỉ để lại các dấu vết như da hay xương mà chúng tôi có thể mang về nhà chạm khắc để làm đồ chơi, lông hay những nhánh cỏ gãy, mà còn có cả một thứ mùi vị đặc trưng. Nếu tìm thấy phân thú, bố tôi có thể dựa vào hình thù, độ lớn và màu sắc mà xác định đó là loài thú nào, nó đã ăn gì vào lúc nào và di chuyển về đâu.

Dấu vết khiến tôi sợ hãi nhất là một đường kéo dài gồm nhiều vết nối nhau, do đuôi một con thú quệt trên mặt đất để lại. Khả năng lớn nhất đây là một con hổ. Nếu gặp trường hợp như vậy thì tôi chỉ có thể thầm cầu Trời rằng bố đã hoàn toàn có lý khi ông cho rằng con hổ đã đi xa. Trong những lần đi rừng tôi luôn lưu ý sao cho chiếc nón che kín đầu và không có con rắn nào có thể mổ xuống từ trên cao. Rắn "hai bước" là một loài rắn khét tiếng, từ những nhánh cây trên cao nó thả mình rơi xuống các nạn nhân của mình. Sau nhát cắn của nó, nạn nhân chỉ còn có thể đi tiếp hai bước cho đến lúc từ giã cuộc đời.  

Ngoài ra tôi không bao giờ được phép đi qua những khoảng rừng thưa có mọc cỏ voi, bởi vì chưa tính đến nguy cơ gặp thú dữ, loài cỏ sắc này có thể cắt đứt da tôi như lưỡi dao lam.

Khi đi theo bố trong rừng rậm, tôi phát hiện nhiều loài cây và thảo mộc mới, bố tìm cách giải thích cho tôi những gì mà ông biết về chức năng hay công dụng của chúng. Tôi thích đùa nghịch với đám cây mắc cỡ mọc ven đường mà người địa phương vẫn gọi là "cô gái thẹn thùng". Nếu có ai chạm vào chiếc lá xanh, nó sẽ giật mình và ngay lập tức cuộn tròn lại. Tôi luôn ngạc nhiên khi mỗi lần chứng kiến những bụi cây đã bị bố dùng lưỡi mác sắc như dao cạo phát trụi chỉ vài ngày sau đó lại mọc đầy trở lại. Thiên nhiên bao bọc quanh ta thật quyến rũ và khiến tôi cảm thấy mình vô cùng nhỏ bé.  

Tôi bám sát bố tôi từng bước, đặc biệt nếu chúng tôi bị khỉ, trong đó có loài khỉ đầu chó, nhìn chòng chọc và ném thức ăn thừa vào người. Những câu chuyện lưu truyền trong làng hiện về trong tâm trí tôi. Không người đàn bà nào, đặc biệt là các cô gái trẻ, lại được phép liều mạng đi vào rừng rậm mà không có đàn ông đi cùng, vì theo lời đồn đại sẽ gặp mối nguy cơ bị những con khỉ đột khổng lồ bắt cóc và hãm hiếp rồi biến mất tăm hơi.  

Vào dịp trăng rằm có lúc chúng tôi thức dậy từ đêm khuya để vào núi lấy củi cho bếp lửa của gia đình. Một số loài gỗ được chúng tôi đốt thành than củi trong một chiếc lò gang rồi đem đi bán. Một chuyến hành trình trong khí hậu nóng ẩm nhiều lúc kéo dài cả ngày trời. Trên đường vào núi, chúng tôi bỏ lại phía sau lưng cả hàng đàn kiến lửa đỏ, để rồi ngay sau đó lại vật lộn với cơ man bọn vắt hút máu kinh tởm, những con vật này đã đánh hơi chúng tôi từ tận xa và thả mình rơi xuống từ các ngọn lá lõng bõng nước, hay trườn lên từ đất bùn để cắm vòi hút vào bắp chân chúng tôi. Tôi khiếp sợ chúng, bởi có một cô em họ của tôi đã chết khi bị một con vắt chui vào hốc mũi. Những con vật hút đến no máu và chúng tôi không bao giờ được phép rứt chúng khỏi người, nếu không muốn bị các vết thương tấy mủ. Tuy nhiên may mắn thay chúng sẽ tự rụng khi chúng tôi xuống đến đồng bằng. Không bao giờ chúng tôi uống nước từ các dòng suối trên núi để tránh bệnh tật.

Một câu chuyện kể của bố mãi hằn sâu trong trí nhớ của tôi. Có lần ông làm người dẫn đường cho một nhóm đi săn hổ, ngoài ông ra còn có bảy tay súng nữa. Tất cả họ đều là những thợ săn lão luyện, trừ một luật sư người An Nam, ông này thích chơi golf hơn là đi săn và thường mua các chiến lợi phẩm làm từ thú rừng, để sau đó khoe khoang ở giới thượng lưu, làm như chính ông ta đã săn được chúng vậy.  

Dọc đường đi người đàn ông có vóc dáng nhỏ nhắn và mảnh mai này lên cơn khát. Bi đông của ông ta đã cạn, cũng như những người khác. Theo lời kể của bố tôi thì phải đi bộ tiếp hai tiếng nữa thì mới đến trạm có sẵn nước uống tiếp theo. Thế nhưng ở gần đó có tiếng róc rách của một dòng suối nhỏ. Mặc dù bố tôi đã nghiêm khắc cảnh báo về mối nguy hiểm và yêu cầu vị luật sư không được đi một mình đến dòng suối, ông ta đã cười vào mũi bố và men theo một lối nhỏ để đi xuống. Ông ta biến mất hút ngay trong bụi rậm, nơi ánh sáng mặt trời hầu như không lọt tới. Nhóm người chờ cả mấy phút. Khi ông ta mãi vẫn không quay lại, tất cả đều bỏ đi tìm. Xuống tới khe suối một cảnh tượng kinh hoàng bày ra trước mắt họ. Một con trân khổng lồ, dài ít nhất phải mười hai mét, màu da lẫn một cách hoàn hảo vào sắc diệp lục của cây rừng, hắn đã bất ngờ tấn công người lên cơn khát, quấn chặt lấy ông ta trong chớp mắt, nghiền nát thân thể rồi nuốt chửng kẻ xấu số. Con trân tuôn mình không một tiếng động vào lớp cỏ cao và sắc khi nhóm người vừa đi tới. Từ chiếc mõm mở toác của nó còn thấy đôi bàn chân của nạn nhân chìa ra ngoài.  

Điều quan trọng đối với chúng tôi là trước khi hoàng hôn đổ xuống đã phải kịp về đến bìa làng. Bố tôi thường kể rằng khi trời tối "Ông Ba mươi" sẽ đi kiếm ăn, với một đứa trẻ như tôi đây là một hình dung thật khiếp đảm. Người ta cố tình gọi hổ là "ông", vừa do sợ hãi, vừa do nể vì. Thỉnh thoảng, cùng những thợ săn khác, bố mang những con thú săn về làng, chân của chúng được buộc lủng lẳng trên những đòn tre dài. Những con thú này thường là một chiến lợi phẩm mang lại một khoảng tiền đáng kể, một số bộ phận trong cơ thể chúng được sử dụng để điều chế dược phẩm. Công thức điều chế và cách dùng là một bí mật được truyền lại từ hàng ngàn năm nay, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Chẳng hạn bố tôi thường đốt bộ râu hổ trước khi ướp xác con thú. Râu hổ khi được xay mịn và trộn vào thức ăn có thể đâm thủng dạ dày người mà không để lại dấu vết, nó cũng được dùng cho phép bùa chú. Chỉ thịt hổ là không ăn được. Mẹ tôi và tôi thường hầm thịt hổ trong ba ngày liền mà nó vẫn dai ngoách và không thể nào xơi nổi.  

Có một lần chuyến đi kéo dài hơn dự tính và bóng đêm nhanh chóng sụp xuống. Bố liên tục gõ vào tấm não bạt đeo bên đùi nhằm để xua đuổi thú dữ. Tôi vừa chạy vừa khóc, cố sao để về đến nhà thật nhanh, tôi sợ trước các con thú đói mồi và những cô hồn còn được gọi là "ma quỷ".  

Ông bà của tôi thường kể về chúng. Đó là linh hồn của những người chết không tìm được sự bình yên ở thế giới bên kia, hoặc vì lúc sống họ đã làm điều ác, chẳng hạn làm thầy mo xấu, và do vậy khi chôn cất bị người đời ghẻ lạnh, không được ban phước lành và bị nguyền rủa. Hoặc là khi hấp hối họ vẫn còn than vãn về việc không thực hiện được mọi nghĩa vụ của mình trên cõi thế. Những lời cầu nguyện, việc tha thứ tội lỗi hay ban phước lành có thể giúp cứu vớt linh hồn của họ. Rốt cuộc thì tôi có thể thở phào nhẹ nhõm khi thấy những mái nhà đầu tiên trong làng hiện lên trước mắt.  

Tôi tìm cách xóa những khoảnh khắc đầy hãi hùng nhanh hết mức. Nếu vài tuần sau đó bố mang về cho tôi những con vẹt tuyệt đẹp hay một chiếc sáo trúc do ông tự tay gọt thì tôi hầu như đã quên bẵng những ký ức này.  

Thần linh nổi giận

Giữa năm 1935 bố tôi lại có đợt vắng nhà rất lâu. Chúng tôi không biết chính xác ông ở đâu. Bởi vì bà nội tôi đoán ông đang ở nhà người vợ lẽ nên bà lên đường đi đón bố tôi về nhà. Bà có quyền làm việc đó, mẹ tôi thì không.  

Tuy nhiên lý do thực sự cho việc bà tôi phải cất công đi một quãng đường xa như vậy không phải là việc mẹ tôi từ hàng tháng nay có một vết thương hở miệng ở ngực trái. Cũng không phải vì ánh mắt mẹ đã từ lâu không còn ngời sáng nữa. 

Đó là vì mùa mưa đang đến gần, mang theo ẩm ướt, sương mù và tai ương. Những người cao tuổi dự báo như vậy, sau khi quan sát những đàn chim táo tác bay ngược hướng và phát ra những tiếng kêu lạ.  

Dòng suối có những đoạn chỉ sâu mấy xăng ti mét nay biến thành một dòng sông chảy xiết hung hãn. Lúc đó tôi năm tuổi và đang ngồi cạnh một người em họ bên bờ sông, ngắm một con trâu bị chết đuối, xác đã trương phềnh vừa dạt qua chỗ chúng tôi, thì bỗng nhiên cậu em trượt chân rơi tõm xuống nước rồi mất hút ngay trong dòng thác. Người lớn đang làm việc không xa nơi đó nghe được tiếng thét của tôi nhưng chẳng hề tìm cách vớt thân thể bé nhỏ lên khỏi dòng nước đỏ ngầu đang chảy xiết. Cả họ và tôi đều không biết bơi. Chúng tôi đứng như bị hóa đá trên bờ và bất lực chứng kiến cảnh cậu bé đáng thương bị chết đuối. Tấn thảm kịch này khiến tôi mãi mãi có một cảm giác kinh hoàng mỗi khi tiếp xúc với sông nước. Ít ngày sau bố tôi cùng bà quay trở về nhà với vẻ mặt cau có. Nước lũ đã rút.  

Một thời gian ngắn sau đó tôi đổ bệnh. Tôi bị đau đầu, đêm thì sốt lên cơn ớn lạnh. Ông ngoại của tôi được gọi đến. Lưỡi tôi khô rang và cuống họng đau xé. Da tôi bắt đầu lên mụn. Ông tôi chỉ nói:  "Đậu mùa". Điều này có nghĩa rằng đây là một đòn tấn công của ma quỷ và là một mối đe dọa cho cả dân làng!  

Tôi được ông nhanh chóng mang tới một túp lều bằng đất sét nằm ở bìa làng. Túp lều này vừa dùng để làm nơi cho đàn bà sinh con ngoài phạm vi nhà ở, vừa để cách li người ốm, tránh bệnh truyền nhiễm lây lan. Tại đây tôi đã phải sống hàng tuần lễ trong một buồng tối, ngày đêm bị hành hạ bởi những cơn đau nhói do mụn nhọt gây ra.  

Phải sau ba hôm hoàn toàn bị cách li, những chuyến thăm nuôi hàng ngày của bà ngoại mới giúp tôi giảm nhẹ được phần nào sự khổ sở. Chỉ những người già như bà mới được phép tiếp xúc với tôi. Hàng ngày bà dùng nước thấm ướt môi cho tôi, và vào những lúc như vậy bà không bỏ lỡ dịp kể cho tôi nghe những câu chuyện rùng rợn về ma quỷ. Đương nhiên cũng có ma lành, thậm chí cũng có những con ma xó chuyên giữ nhà. Tương truyền một ông chú của bà tôi sống ở Lào được một con ma xó đều đặn rỉ tai về việc liệu trong khi ông ấy đi vắng có ai đó vào vườn ăn trộm rau quả hay không. Vào buổi tối người ta có thể thấy các vật thể trắng chuyển động. Theo lời bà tôi kể đây chính là các đầu lâu đang bay lượn!  

Tôi cảm thấy thật khổ sở vì bị mọi người bỏ rơi. Tuy nhiên nhờ những cuộc đến thăm của bà ngoại mà giờ đây thời gian trôi qua nhanh hơn. Mắt và tai tôi không còn bị mưng mủ nữa, nhưng rải rác đâu đó trên người vẫn còn những mụn nhọt ứ máu.  

Sau bốn tuần một thầy cúng được mời đến để giao tiếp với thần linh. Hai con gà trống thiến của cô tôi được đem cúng dâng các vị thần bảo hộ và tổ tiên. Tôi nghĩ là cô đã rất giận tôi về việc này. Rốt cuộc thì có đã vỗ béo mấy chú gà này cho mình chứ đâu có phải cho tôi. Còn tôi thì lại cảm thấy thỏa mãn, bởi tôi vốn không ưa người đàn bà luôn có bộ mặt khó đăm đăm này mỗi khi nhìn thấy tôi, và không thể chịu nổi tiếng gà gáy quang quác đánh bật mình khỏi giấc mơ từ lúc còn mờ sớm.  

Cuối cùng thì tình cảnh khốn khổ của tôi cũng trôi qua. Tuy nhiên trước khi được phép trở về ngôi nhà của bố mẹ trước đó đã được xông khói bằng các loại lá thiêng, người thầy cúng con gò trống bên tai tôi, đi quanh tôi mấy vòng, vừa đi vừa niệm các câu thân chú để đuổi tà ma ra khỏi hẳn người tôi.  

Sau đó thì nghi lễ hoàn tất. Tôi đã khỏi bệnh và được phép lao vào vòng tay rộng mở của mẹ. 

Một chuyến hành trình ra 

thế giới lớn 

Có một lần tôi đi theo bố ra thành phố Nam Định nằm ở phía Bắc. Ở đó ông rẽ qua thăm người em gái không có con cái, ngày hôm sau chúng tôi lại đi tiếp về Hải Phòng để trao đổi hàng hóa. Chuyến đi vất vả này khiến tôi rất hưng phấn. Chiếc xe kéo của chúng tôi rất trĩu hàng. Tôi ngồi ngất ngưỡng ở trên, bố thì đi cạnh con trâu. Ông đi dép cao su tự chế bằng lớp ô tô, quai đẹp làm bằng săm xe đạp quấn quanh mắt cá chân.  

Ở Hải Phòng có đến muôn ngàn giọng nói làm náo nhiệt cả khu phố gần hải cảng.   Tôi vô cùng bối rối. Chưa bao giờ tôi chứng kiến một cảnh tượng như vậy. Tiếng còi tàu hú to thúc giục trộn lẫn với giọng nói lanh lảnh của người bán hàng rong, những tiếng rao gay gắt của họ khiến tôi liên tưởng đến tiếng gà gáy của cô tôi ở quê. Người đi xe đạp, người lái xích lô, xe chở hàng của người buôn bán chuyển động tứ tung, đan xen liên tục mà không hề đụng nhau. Một vài chiếc ô tô bóp còi inh ỏi dành cho mình lối đi giữa đám đông. 

Tôi dỏng tai tìm cách phân biệt các thổ ngữ và tiếng nói khác nhau mà mình không hiểu hết đang vang lên từ những đám người chen chúc và thử đoán họ đến từ vùng nào, một phần dựa vào trang phục. Nhưng hầu như tôi không đoán nổi nếu bố không nói cho biết. Khi chúng tôi đi qua một ngôi chùa Tàu đồ sộ, bố chỉ về hướng một nhóm phụ nữ Dao, một dân tộc thiểu số ở vùng cao nguyên phía Bắc. Ngay lập tức họ thu hút sự chú ý của tôi bởi hàng lông mày cạo và khăn turban đỏ rực. Họ ngồi bên vệ đường và tươi cười rao bán các hàng dệt nhiều màu sắc. Cũng có cả phụ nữ Hmong vượt qua những chặng đường dài từ núi cao xuống thành phố để bán đồ thổ cẩm quý giá với những họa tiết thêu đa dạng, được làm từ sợi bông và đay, cũng như đồ trang sức bằng bạc hay các hạt dẻ rừng. Họ mặc váy xếp ly nhiều màu sắc, có đeo vòng bạc dày chế biến tinh xảo. Một số người trong số họ, thay vào khăn quấn đầu sặc sỡ, quấn tóc thành hình tháp trên đỉnh đầu. Để có được mái tóc rất cầu kỳ này, trong hàng năm trời họ đã phải cẩn trọng tết các sợi tóc rơi, có khi cả tóc của những người họ hàng đã chết, vào tóc của mình. Những tháp tóc quả thật là đầy ấn tượng!  

Chồng hay con trai của họ mặc quần đen rộng ống và áo choàng ngắn, họ rao bán đồ gỗ, tre và mây. Ngồi không cách xa họ mấy là những người phụ nữ mặc váy màu sẫm, phía sau lưng đính các đồng tiền bạc, mũ được trang điểm bằng những hòn bi bạc hay những quả cầu bằng sợi nhiều màu sắc, phần để làm đẹp, phần cũng để xua đuổi tà ma. Những người phụ nữ này rao bán đồ mây đan.

Các quý bà ăn vận sang trọng, làn da trắng trẻo, gương mặt giấu dưới ô che nắng màu trắng thêu ren, ngồi hững hờ trên xe xích lô và để cho một phụ nữ người Hoa đi chân đất, mồ hôi nhễ nhại, mặc áo quần rách rưới màu xanh kéo trên đường phố, kéo theo cả mùi nước hoa quý phái của họ. Những người lính châu Âu vội vã đi qua, nói cười ầm ĩ. Tôi nhận ra quân phục của họ thật chỉn chu, khác hẳn với bộ quân phục của bố tôi ở nhà.   Tại đây lần đầu tiên tôi nhìn thấy một người đàn ông da đen đồ sộ với cặp mắt lồi. Người lính mặc quân phục này vừa mới mua đồ ăn từ một quầy ăn nhanh và bây giờ đang nhai. Lúc đi ngang qua ông ta, tôi thoáng rùng mình. Cặp mắt của ông khiến tôi nhớ đến mắt của những con yêu quái thường có ở các đền chùa.

Bố và tôi đã tới nơi.  Ở khu chợ chính có bày bán rắn sống, sừng hươu, da cá sấu, sừng tê giác bản địa và nhiều thứ khác nữa. Da hổ và xương hổ, những con khỉ nghiến răng trèo trẹo và chim chóc kêu inh ỏi đặc biệt được ưa chuộng. Bố nắm thành thục hết mọi thứ và biết rõ phải đi đâu, gặp ai. Chưa hết một ngày chúng tôi đã bán và trao đổi hết sạch hàng hóa. Bố mua từ một người đàn ông Hmong một chiếc cung tên mới cho mình. Chúng tôi chất lên xe hàng hóa do các thầy lang từ các làng bên đặt, những loại thảo dược tương truyền có các tác dụng mầu nhiệm, bột sừng tê giác, vỏ quế cuộn tròn và rắn hổ mang chúa ngâm rượu. Bố cũng không quên mua quà cho mẹ: một thỏi dày màu xám có mùi thơm, được gọi là "Xà phòng Marseille". Mẹ mê mẩn thứ này.

Trên đường về chúng tôi lại nghỉ ở nhà cô tôi. Sau khi cắt một miếng to từ bánh "Xà phòng Marseille" để đổi một chai rượu Rum, cô tận dụng cơ hội cùng cha tôi đến một quán ăn khét lẹt mùi thuốc, để chơi bài ba quân ăn tiền ở đó. Tôi dội rửa cho con trâu và gần như suốt đêm một mình canh gác nó. 

Có một cảm giác gì đó thật lạ lùng. Tôi rất vui mừng rốt cuộc lại được trở về nhà, nơi cuộc sống diễn ra một cách êm ả, tuy nhiên đồng thời cũng cảm thấy cuộc sống thành phố thu hút mình nhường nào. Trong một ngày, tôi đã chứng kiến một cõi hỗn mang náo nhiệt, những dòng chảy của người qua lại, màu sắc và mùi vị, sự pha trộn của các ngôn ngữ. Thành phố với những phương diện hoàn toàn khác nhau của nó đã đè bẹp tôi như một cơn sóng và cuốn tôi sang một thế giới khác. Và thế giới này đối với tôi dường như hấp dẫn, sinh động và bí ẩn hơn là rừng rậm.  

Bé hạt tiêu

Lúc đã lên sáu tuổi vào một buổi sáng tôi được bố gọi đến. Ông ra lệnh cho tôi xòe lòng bàn tay phải rồi thả ba đồng xu vào. Tôi đứng đó, mắt mở tròn xoe mà không biết phải làm gì. Trước khi tôi kịp hỏi thì ông đã nói:  

"Bây giờ đã tới lúc mày phải đi kiếm tiền rồi. Đây là ba đồng tiền xu. Con đi mua đường rồi mang về cho mẹ. Mẹ sẽ chỉ cho mày cách làm kẹo kéo từ đường mía. Xong rồi thì con đi ra thị xã Hà Tĩnh. Nhớ là phải bán lẻ từng cái! Con chọn chỗ đứng ở nơi nào đông xe, đông người, trước rạp chiếu bóng hay cạnh chỗ lính gác trước cổng doanh trại. Rồi mang tiền bán được về cho bố. Nếu làm tốt và bán được hết hàng thì bố sẽ thưởng cho mày một đồng." 

Chao ôi, đó là cả một gia sản! Tôi coi tất cả những điều này là minh chứng của sự tin cậy, tim tôi tràn ngập cảm xúc tự hào. Tôi cầm chặt ba đồng tiền xu trong tay, lòng đầy sung sướng, chạy ngay đi mua đường ở cách đấy mấy nhà. Cuối cùng thì tôi cũng đã được giao một nhiệm vụ. Tôi thầm nhủ sẽ nhất định hoàn thành nó sao cho bố hài lòng. 

Mẹ để tôi đo lượng đường và nước, trước khi chúng tôi đổ cả hai vào một nồi kim loại duy nhất mà gia đình tôi có để đun sôi. Mẹ chờ cho đến lúc chất lỏng màu vàng óng nguội đi một tí, sau đó chế biến khối đường dẻo với những động tác nhanh nhẹn. Vào ngày này tôi học cách làm sao để không bị bỏng và trước hết là tránh được cám dỗ của việc nếm kẹo. Không lâu sau thì món kẹo mạch nha đã xong, chúng được xếp ngay ngắn trong một chiếc rổ đan bằng tre.  

"Hai viên kẹo giá một xu. Phải rao thật to và rõ ràng chữ "Bonbon" để người ta nghe được con! Mà cấm không được ăn một chiếc nào trong đó và đừng đánh rơi một đồng xu nào cả!".  "Bonbon" là từ ngoại quốc đầu tiên mà tôi học được. Bố tôi biết nói một ít tiếng Pháp.

Đường vào thị xã chẳng có gì nguy hiểm. Nền tư pháp An Nam của chúng tôi rất hà khắc với những phiên tòa xử nhanh và các bản án nặng nề được thi hành ngay lập tức. Ai phạm tội sẽ bị chặt ngón tay, bàn tay hay thậm chí bị chém đầu. Tất cả người dân sống ở đây đều biết rõ điều này. Và như vậy ai cũng có thể thoải mái đi lại vào cả lúc ban ngày và ban đêm mà không phải đề phòng.

Tôi lên đường một mình với rổ kẹo đã đậy kín. Đến thị xã Hà Tĩnh tôi chọn cho mình chỗ đứng trước một rạp chiếu bóng. Hương vị kẹo mạch nha thơm lừng trong mũi tôi và miệng thì ứa đầy nước dãi. Tôi tưởng tượng vị chiếc kẹo mạch nha tan ra như thế nào trên lưỡi, nhưng không dám ăn dù chỉ một chiếc, vì sợ hãi hình phạt sẽ đến. Và như vậy tôi đành chỉ nuốt nước bọt và nguyền rủa thanh tre mảnh và dẻo đặt ở sau cửa ra vào được dùng làm roi đánh đòn ở nhà tôi.

Mỗi lần rao hàng tôi lại khuyến mại một nụ cười thật tươi, tôi bán cứ như chơi và chẳng mấy chốc tất cả số kẹo đã hết. Chiếc rổ mang theo nhẵn thín, còn túi quần của tôi bây giờ chứa những mười đồng tiền.  

Tôi hớn hở chạy về nhà. Mẹ đang giũ lúa trên một tấm ván để tách hạt lúa khỏi nhành. Bà mỉm cười với tôi. Bố đến và cầm số tiền mà tôi đưa cho ông. Mẹ được bố đưa ngay hai đồng để đi mua một con gà. Bố đi vào nhà và lấy một ống bương hai đầu bịt da thú được dùng làm tráp đựng tiền của gia đình và bắt đầu ném các đồng tiền vào.  

Tôi nín thở và nhẩm đếm theo. Năm, sáu, bảy... Trên tay ông còn lại một đồng tiền. Đồng tiền của tôi. Bây giờ đến lượt tôi được trả công, tôi nghĩ như vậy. Với một giọng nói ra mệnh lệnh không chấp nhận một sự trái ý nào, ông nói cụt lủn:  "Đi mua cho tao một chai rượu!". 

Không một lời khen, và cũng chẳng có một lời nào khác nữa phát ra từ môi ông. Tôi cầm đồng tiền và rời khỏi nhà, trước khi bố có thể nhìn thấy nước mắt của tôi trào ra. Tôi thoáng tưởng tượng mình sẽ dùng cây hèo tre mảnh và dẻo đặt đằng sau cánh cửa vụt vào bố để trừng phạt cho sự lừa dối của ông, tuy nhiên ý nghĩ này chẳng có sức an ủi lâu. Thật buồn là nhiều ngày tương tự như vậy sẽ còn đến với tôi.  

Danh mục tội lỗi

Tôi học được rằng việc phân chia công việc quan trọng ra sao và một nghĩa vụ có ý nghĩa nào. Nếu bố vắng nhà lâu ngày, anh trai cả của tôi, người mà tôi không hề có một sự gắn bó nào, cầm chịch trong nhà với tư cách là ông chủ gia đình với vị trí kế tiếp.  

Anh ta có quyền ra lệnh và trừng phạt. Chẳng bao giờ anh ta phải làm việc nặng như mẹ và tôi. Điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là việc anh ta có thể sai khiến mẹ. Dẫu sao chăng nữa vẫn còn là một đứa trẻ, vậy mà anh ta đã được coi như một người đàn ông. Những cái tát mà anh ta dành cho tôi một khi không vâng lời khiến tôi phải chấp nhận điều này. Mẹ chẳng hề ngăn cản anh ta làm việc đó. Chẳng bao lâu tôi đã hiểu rõ hệ thống tôn ti trật tự được qui định một cách chính xác vận hành như thế nào: người cao tuổi đứng trên người trẻ tuổi đã đành, nhưng đàn ông thì luôn đứng trên đàn bà, và gia đình thì quan trọng hơn cá nhân. Tôi là người đứng cuối bảng, có nghĩa chẳng là ai cả. Tôi không tồn tại nếu không có người khác. Tôi cố nén nỗi uất ức trước thứ tôn ti trật tự này vì sợ người lớn sẽ đọc được ý nghĩ của mình nhờ ông bà tổ tiên mách bảo.

Bố đã xây dựng cả một hệ thống hình phạt nhằm đảm bảo trật tự và quy định giải pháp cho mọi xung đột. Nó như thế này: cho mỗi một lỗi lầm và thái độ khinh thị, cho mỗi một hạt gạo bị đánh rơi xuống đất (ông vẽ một vạch trên một tờ giấy treo trên tường nhà cạnh chiếc hèo tre.  (Mẹ thì chẳng bao giờ vẽ vạch.) Cảm giác bất an vì không biết bao giờ hình phạt sẽ được thực thi xem chúng còn tồi tệ hơn cả chính bản thân hình phạt.

Thường thì bố im lặng, ông không nói nhiều. Vào những ngày mà ông cảm thấy khó ở, hoặc một cách vô cớ, hoặc do rượu rum đã cạn, chỉ cần một cái nhìn hơi xấc đã đủ khiến ông cho cây hèo tre nhảy múa.  

Những lúc như vậy, ông trói hai bàn tay tôi vào cột gỗ giữa nhà và buộc mái tóc dài của tôi vào chân chiếc giường tre. Sau đó ông lấy tờ giấy mà ông gọi là danh mục tội lỗi ra. Ông đọc tội đầu tiên mà tôi mắc phải và ngay lập tức vung hèo. Thật kỳ quặc là các anh em trai của tôi chẳng bao giờ bị trừng phạt như vậy. 

Thường thì ông dừng lại sau mười hay mười một hèo. Tôi không được phép khóc, nước mắt rơi sẽ khiến tôi bị bồi thêm một hèo nữa. Mẹ chẳng hề nói gì. Bà không bao giờ phản đối các hành động của bố. Chỉ khi mẹ đắp thuốc lá lên các vết thương trên lưng tôi, tôi mới để cho nước mắt trào ra - không phải vì bản thân, mà vì nỗi đau xót mà tôi đọc được trong mắt bà.  

Những lúc như vậy tôi nguyền rủa bố tôi, mái tóc dài của tôi và toàn bộ thế giới bất công.  

Báu vật bằng vàng

Chỉ trong một năm, với sự hỗ trợ của tôi, lọ tiền tiết kiệm của gia đình đã nhiều lần được đong đầy, tuy nhiên cũng có nhiều lần bố mẹ tôi lại rút cạn nó. Có lần tôi nghe mẹ chuyện trò với bà hàng xóm và kể với bà ấy rằng bên cạnh việc mua quần áo lụa mới - mỗi năm một lần chúng tôi được sắm một bộ quần áo - bà đã mua cả một cân vàng ròng. Tôi không hiểu được điều này - tại sao chúng tôi lại phải sống tần tiện trong khi có cả một cân vàng, thậm chí còn hơn thế nữa? Tôi tận dụng cơ hội một lần bố vắng mặt vì lại nhận việc hướng dẫn một nhóm đàn ông vào rừng rậm và hỏi mẹ số vàng dùng để làm gì.  

"Số vàng này để dành làm tiền học cho anh trai của con. Mỗi năm đi học của anh tốn một cân vàng", mẹ giải thích cho tôi như vậy.

"Trường học có nghĩa là gì hả mẹ?", tôi hỏi.  

"Đó là nơi có những người rất thông thái dạy cho ta trở thành thông thái. Ở đây người ta học đọc và học viết."  

"Thế còn con? Bao giờ thì con sẽ được đến trường?"  

Mẹ tôi cười phá lên, tôi chưa bao giờ nghe mẹ cười như vậy, làm hở cả hàm răng đẹp nhuộm đen mà bình thường tôi ít khi được nhìn thấy.  

"Con ấy ư? Sẽ chẳng bao giờ con được đến trường cả! Con trai mới đi học, con gái thì không. Là con gái thì lấy chồng rồi đẻ con. Vì vậy con chẳng cần phải đến trường để đảm đương nghĩa vụ này!"  

"Thật bất công!", tôi giận dữ hét lên.  

"Sự đời là như vậy. Có những điều ta chẳng thể nào thay đổi được. Nào, con lấy nhíp ra đây và nhổ tóc sâu cho mẹ đi!", bà nói một cách nhẹ nhàng và lắc đầu, tiếp tục cười.  

Tôi lấy chiếc nhíp từ một trong hai chiếc ngăn kéo lớn của chiếc bàn duy nhất của gia đình. Không có nhiều của cải là một điều tốt, vì như vậy chẳng có gì để mất. Mẹ gỡ khăn quấn tóc, và cả một dòng suối tóc đen chảy xuống gần tới đất. Bà nằm xuống một tấm chiếu làm bằng lá cọ phía trước nhà, lúc đầu còn kiểm tra xem tôi nhổ có chính xác không, lúc sau bà ngủ thiếp đi một cách an tâm và thư thái trong lòng tôi.

Tôi thấy nhẹ lòng vì không còn phải làm việc gì trong ngày nữa. Cảm giác hạnh phúc khi ngắm gương mặt của mẹ giúp tôi quên đi trong chốc lát mọi điều cay đắng của cuộc đời mình: tâm trạng u ám của tôi, ý thức về một sự bất công ghê gớm, một sự trộn lẫn giữa cảm xúc giận dữ bị đè nén và sự bất lực.  

Tò mò, một tội lỗi

Những giao tiếp duy nhất giữa tôi và anh trai cả, ngược lại với anh trai kế tôi, Hòe, cho đến nay là những cú tát mà anh ta dành cho tôi. Anh không đếm xỉa gì đến tôi trừ khi cần sai bảo tôi việc gì đó. Tuy nhiên anh luôn đòi hỏi tôi phải bày tỏ thái độ tôn kính, bởi vì anh là một đứa con trai có đặc quyền, một người đàn ông. Anh không bỏ qua một dịp nào để tôi nhận biết được điều này. Tôi từng nhiều lần thấy anh từ trường học quay trở về, chân đi đất, nhưng quần áo thì sạch sẽ, sách vở cầm trên tay, và ngày tôi càng ngạc nhiên hơn về chốn "thiêng liêng" này, nơi anh trai tôi dường như đang được đào luyện để thành một người thông thái. Tuy nhiên tôi chẳng hề thấy anh thông thái hơn được chút nào. Trong mắt tôi, anh vẫn ngạo mạn và khinh rẻ người khác hệt như trước đó. Dù sao thì bây giờ anh đã biết đọc và biết viết, và như vậy trong lòng tôi dần nhen nhóm một cảm xúc mới: giá như tôi cũng có được một chút thông thái, chỉ một chút thôi... Tôi không cảm thấy ghen tị, mà dường như chỉ là sự tò mò trước một điều hoàn toàn xa lạ đối với mình. Một buổi sáng dậy tôi không còn kiềm chế được nữa. Tôi đợi cho tới khi anh rời khỏi nhà đi đến trường, rồi sau đó lấy một trong những cuốn sách mà anh cất trong số đồ đạc của mình. Vô cùng hồi hộp và trốn dưới gầm bàn trong bếp, tôi bắt đầu lật các trang trong cuốn sách mà lúc đó có lẽ tôi đang cầm lộn ngược. Chắc chắn phải có một bí mật được ẩn giấu ở trong đó! Nó ở đâu? Những con chữ mà tôi nhìn thấy chẳng nói lên được điều gì. Tôi không giải mã được điều gì, tuy nhiên vẫn chắc chắn rằng câu trả lời ẩn giấu ở trong đó. Chìm đắm trong cuộc tìm kiếm, tôi không nhận ra có một đôi chân trần lấm bụi đang đứng như trời trồng bên cạnh tôi. Anh cả tôi quên một thứ gì đó và đã quay trở lại nhà.

Anh ta chẳng cho tôi cơ hội để có thể mở miệng. Anh lôi tôi xềnh xệch từ gầm bàn. Cầm chiếc hèo tre của bố trên tay, anh quật như điên dại vào người tôi, và khi tôi khụyu xuống dưới những cú đánh, anh dùng cả hai chân đá tôi, lúc đầu vào bụng, sau đó vào sườn, lưng và cuối cùng là vào mặt. Tôi không tìm cách bỏ chạy và giữ thế bất động, với hy vọng cơn khùng của anh sẽ chóng trôi qua. Nhưng anh ta không hề ngừng, rốt cuộc tôi bất tỉnh.  

Như mọi lần, mẹ chẳng hề nói gì. Bà ân cần chăm sóc tôi suốt cả tuần lễ. Toàn bộ thân thể sưng vù khiến tôi đau đớn. Anh cả đánh tôi bầm dập khắp nơi, môi tôi rách toang. Trong khi nằm đó tôi hình dung những trận đòn của bố còn nhẹ nhàng hơn chừng nào.

Từ lúc ấy tôi căm thù người anh cả, một mối thù kéo dài suốt cả cuộc đời. Và trong lòng tôi bỗng nhiên trỗi dậy một ý nguyện không thể nào cưỡng nổi, ý nguyện bỏ nhà ra đi. Xuất phát từ sự căm thù đối với người mà sẽ không bao giờ tôi gọi tên.  

Một con gà bằng vàngMấy tháng nữa trôi qua cho đến khi tôi có thể thực hiện được một thứ kế hoạch phản kháng. Tôi đã tám tuổi, và thay cho cảm giác yếu đuối hay sợ hãi, giờ đây tôi thấy mình tự tin và dũng mãnh.  

Một khi đã đủ khả năng kinh doanh kẹo thì tại sao tôi lại không thể có năng lực học được các con chữ trong bảng chữ cái? Tôi biết là cách nhà vài con đường có mấy nhà giàu cho con trai đến trường, và tôi đã làm quen được vài ba đứa trong số đó khi chúng tôi cùng nhau trốn trong nghĩa địa và chơi trò giả giọng ma hù dọa người qua lại. 

Để đánh đổi các trái cây chín ngọt mà tôi ăn cắp một cách thật kín đáo trong các vườn cây vào các buổi sáng sớm, bọn con trai sẵn sàng truyền lại cho tôi các bài giảng mà chúng đã học. Có lúc tôi "đánh rơi" vài viên kẹo xuống đất để sau đó được đổi lại bằng trí thức. Bọn con trai dùng một cây gậy nhỏ vẻ lên nền đất bụi bặm các con chữ trong bảng chữ cái. Chúng tôi có thể nhanh chóng xóa những con chữ này một khi có ai đó đến gần. Tôi miệt mài học và tìm cách nhập tâm bài đã học cho đến "tiết học" tiếp theo. Sau tám ngày tôi đã thuộc lòng bảng chữ cái. Tiếp theo đó bọn con trai chỉ cho tôi cách ghép các chữ cái thành từ ra sao. Tôi không bao giờ cảm thấy thỏa mãn. Càng học tôi lại càng muốn biết nhiều hơn, và cứ sau mỗi tuần tôi lại càng cảm thấy vững tâm thêm. Lúc đầu tôi xấu hổ do phải đi ăn cắp để thỏa mãn trí tò mò và khao khát hiểu biết của mình, nhưng hồi ức về trận đòn man rợ của người anh cả đã khiến cho mọi băn khoăn trong tôi tan biến. 

Tôi không dám nghĩ đến hình phạt chắc chắn là thảm khốc sẽ dành cho mình một khi bị phát hiện. Bất kể là trẻ con hay người lớn khi phạm tội ăn cắp sẽ bị chặt ngón tay, tôi biết như vậy. Tái phạm lần thứ nhất sẽ bị mất cả bàn tay, tái phạm lần thứ hai sẽ rơi đầu...  

Cứ như vậy, ăn cắp quen tay, tôi đã phát hiện ra bao tài năng tiềm ẩn trong mình và ngày càng biết cách tận dụng chúng một cách hiệu quả hơn. Đỉnh cao cho "sự nghiệp" của tôi là việc ăn cắp một con gà mái của bà cô ở cạnh nhà. Trước đó tôi có hỏi cô liệu bà có thể cho tôi một con gà để thưởng công cho sự giúp đỡ của tôi trong công việc đồng áng không. Cô tống cổ tôi ra khỏi nhà và hét theo sau lưng:  "Hãy tự mà đi kiếm sống và đừng có xin xỏ!".

Thế là một hôm, tôi tới một ruộng lúa gần nhà và nhặt nhanh một nắm thóc ở đó. Tôi chờ cho đến khi cô rời khỏi nhà đi chợ, rồi lẻn đến hàng rào gỗ ngăn cách giữa tôi và đàn gà của bà. Tôi đào một lỗ nhỏ, đủ rộng cho một con gà có thể dễ dàng chui đầu qua, rồi rắc thóc lên khoảng hai mươi xăng ti mét dọc hai bên hàng rào. Nhớ đến lời nói của bố khi đi săn, tôi nhẫn nại chờ đợi và hoàn toàn tin tưởng rằng đây không phải là một việc xấu, bởi vì con gà sẽ tự nguyện chạy đến chỗ tôi. Bố tôi nói rằng giống vật cũng biết suy nghĩ. Nếu mà con gà có khả năng suy nghĩ thì hẳn nó phải biết chính xác về điều mà nó làm. Vậy thì tôi đâu phải chịu trách nhiệm nếu nó ngu xuẩn và tham lam?  

Con gà vừa thò đầu qua lỗ để mổ các hạt thóc còn lại ở bên phía tôi thì tôi chộp lấy nó, bẻ ngoặt cổ để cho nó chết thật nhanh và im ắng. Sau đó tôi bới rộng lỗ, kéo con gà sang phía mình, rồi ngay lập tức lấp chỗ hở lại. 

Tôi không sở hữu một cân vàng, nhưng bây giờ lại có trong tay một con gà mái mà với tôi là giá trị chẳng kém. Sau đó tôi đã thực hiện phi vụ kinh doanh lớn nhất của đời mình: tôi đã đánh đổi con gà này lấy cả một năm học ở lũ trẻ.  

Bói toán quàng xiên

Vào một ngày tôi đang chờ khách mua những chiếc kẹo cuối cùng thì thấy phía đường bên kia có nhiều người vây quanh một cụ già ngồi dưới một bóng cây trên một chiếc ghế gỗ ba chân. Cụ ăn mặc rách rưới như tổ đỉa. Đám trẻ ngày thường ngồi trên cây cao dõi xuống các thầy chùa đi ngang qua và hát những bài dung tục chế giễu họ bây giờ tụt xuống đất và kể với tôi rằng chỉ cần trả ba xu là ông cụ có thể dự báo được tương lai.  

Những người hiếu kỳ đã xếp thành hàng, có những tiếng kêu xuýt xoa vọng đến tai tôi. Tôi tiến lại gần hơn và lắng nghe điều mà ông cụ đang tiết lộ cho những khách hàng muốn biết trước số phận của mình. 

Đứng trước tôi là một người đàn bà trung niên, tôi thật ngạc nhiên khi thấy bà bắt một con thằn lằn từ trên thân cây rồi nhét đầu nó vào miệng và nuốt chửng cả con.  "Nó sẽ chữa lành bệnh bướu cổ của cô", bà ta nói như vậy với tôi sau khi đã nuốt gọn con vật. Hẳn lúc đó tôi đã phải trố mắt nhìn bà. Bà ta chỉ cho tôi xem cục bướu trên cổ rồi quay mặt đi, chờ cho tới khi mình đến lượt.  

Cả tôi cũng rất muốn được biết về tương lai của mình, nhưng mà tôi biết làm gì bây giờ? Tôi không thể chi số tiền vừa kiếm được. Cuối cùng thì mọi người đều bỏ đi, chỉ còn một mình tôi đứng trước cụ già.  

"Này cô bé, cháu không muốn biết về tương lai của mình à?", cụ hỏi tôi một cách ân cần.  "Chỉ tốn có ba xu thôi mà." 

"Cháu không thể chi tiền của bố mẹ được ạ", tôi nói một cách xấu hổ và đưa tay sờ số tiền xu ở trong túi. Khi tôi định bỏ đi, cụ già nói:  "Cháu lại đây, ông không lấy tiền của cháu đâu. Đưa tay đây cho ông xem".  

Bị bất ngờ, tôi chìa bàn tay phải cho ông cụ. Ông xem xét rất cẩn thận, lần từng đầu ngón tay và đường vân tay. Sau đó ông nói một cách chậm rãi và trịnh trọng:  

"Sẽ rất nhiều lần con thoát chết, nhiều lần trong đời con sẽ đứng sát cửa tử. Ta nhìn thấy những tai họa mà con sẽ vượt qua. Con sẽ đi rất xa và trước lần sinh nhật thứ ba mươi lăm sẽ có một ngôi nhà riêng, nhưng không phải ở đây, mà ở nước ngoài. Con sẽ đẻ nhiều con. Những năm về già con sẽ gặp nhiều may mắn." 

Tôi lễ phép cám ơn ông và nghĩ ông già hẳn phải là một người hoàn toàn mất trí! Tôi sẽ rời đất nước của mình và sẽ có nhiều con? Không bao giờ! Và tôi lấy đâu ra tiền để xây nhà? Tôi cố quên đi thật nhanh những lời vô nghĩa lý này của người bói toán quàng xiên.  

Sắc đẹp là trên hết

Cũng như phụ nữ dân tộc Thái Đen và H'Mông Trắng, phụ nữ dân tộc Lào cũng có tục nhuộm răng. Vào một buổi sáng, lúc tôi đã mười tuổi, mẹ gọi tôi đến. Bà giải thích cho tôi rằng đã đến lúc tôi cũng cần nhuộm răng để làm tôn vẻ đẹp của mình và để người đời biết rằng tôi là một cô gái trinh bạch. Tôi vui mừng mà không hay biết rằng thủ tục cứ ba năm phải làm lại một lần này sẽ gây cho tôi không ít phiền toái. Đầu tiên răng của tôi được nhuộm đỏ bằng một lớp bột nhão trát trên mo cau. Tôi phải há miệng, một chiếc đũa tre ngắn giúp tôi xiết chặt hàm lại để lưỡi không còn động đậy được nữa. Ở tư thế như vậy trong mười bốn ngày liền tôi được tiếp thức ăn là các vắt xôi nhỏ được để nguội với nhân đậu xanh.

Sau đó ông bà tôi được mời đến. Đầu tiên họ thì thầm nói mấy lời cầu nguyện, tiếp theo giã phèn đen thành tinh bột trong một chiếc cối đá nhỏ. Lọc qua một lần họ hòa tan bột trong nước, nhúng một tấm vải bông vào đó rồi áp lên răng tôi, trên một lá dừa có hình hàm răng của tôi.  

Cho đến sáng hôm sau tôi vẫn ngậm cả hai thứ ở trong miệng. Hàm răng của tôi đau buốt, tôi phải cố lắm để nhịn khóc. Suốt thời gian mẹ tôi để ý sao để không có một người đàn bà nào đang để tang, hành kinh hay có thai nhìn thấy tôi, vì nếu không thì mọi chuyện sẽ xôi hỏng bỏng không.  

Trong lúc đó ông bà của tôi đã đốt các vỏ dừa và giã vụn chúng thành bột. Trát lớp bột này lên răng sẽ tạo ra một độ bóng tuyệt vời, những năm tiếp theo tôi sẽ phải tiếp tục chăm sóc hàm răng bằng một thứ nước sinh tố màu đỏ từ lá trầu, vỏ cau được nhai nhuyễn với voi.   Cuối cùng thì thủ tục này đã kết thúc, và tôi được giải thoát. Tôi có được những chiếc răng đen bóng. Tất cả đều hài lòng, và đây là điều quan trọng nhất.  

Tết cuối cùng

Sau Thảo và Mây mẹ tôi còn sinh một em trai nữa, dưới sự trông chừng của bà ngoại trong túp lều vắng và nơi tôi từng chiến đấu chống lại cơn bệnh đậu mùa. Em tên là Lê, việc chăm sóc em là một trong những nhiệm vụ mới của tôi.  

Đầu tháng hai 1940 tất cả gia đình tôi, cùng nhau đón Tết Nguyên Đán, một điều thật hiếm có. Đây là lễ đón mừng năm mới theo lịch Trung Quốc, diễn ra sau tuần trăng mới thứ hai sau tiết Đông chí, tức là giữa 21 tháng Giêng và 21 tháng Hai dương lịch. Năm đó là năm Canh Thìn, tức là năm cầm tinh con Rồng.  

Ông bà tôi ngồi bên bàn cạnh bố tôi, ông đã trở về nhà. Bố chống đũa chờ mẹ tôi và tôi phục vụ ông cũng như ông bà. 

Vào ngày này, khi mọi người có mặt đều đối xử với nhau lịch sự và mềm mỏng một cách chủ ý để tránh "dông" cho cả năm, mẹ tôi đã chuẩn bị những món ăn đặc biệt ngon, mặc dù bà đang bị ốm. Bên cạnh cơm, bắp ngô, khoai lang và món bún có sợi dài biểu tượng cho sự trường thọ, còn có nhiều món thịt và cá nâu với xốt gừng, nấm hương và rau mùi. Trên bàn ăn cũng không thiếu những chén nước mắm nhỏ, một loại nước chấm đặc trưng làm từ cá muối mặn. Món nộm đu đủ trộn hạt sen chả mấy chốc đã hết bay. Phần tôi thì ăn món bánh chưng ngọt - một biểu tượng cho hạnh phúc - đến mức đẫy bụng, khiến bà tôi phải khuyên sau đấy tôi phải nhảy dây để tiêu hết món ăn. Đỉnh cao của bữa tiệc đối với tôi không phải là món tiết vịt tươi luộc, hay món "trứng trăm năm tuổi" dầm muối trong hủ chôn một trăm ngay trong lòng đất. Không, đó là món nhộng đặc sản, giòn ngậy được nuôi trong bóng tối và sau đó sấy khô, bố tôi mang về như là một đền bù cho thời gian ông vắng nhà. Đây là món ăn tuyệt diệu nhất mà tôi từng được biết!  

Vào ngày này tôi thật hạnh phúc. Không mảy may có tín hiệu nào cho tôi biết đây là cái Tết cuối cùng mà tôi được đón trong lòng gia đình. 

Tương lai của tôi 

- và tôi căm thù lũ lợn 

như thế nào!

Lại một mùa mưa trôi qua! Như thường lệ, chúng tôi đón những trận mưa rào bất chợt, cả nhiều cơn mưa to nổi bong bóng ấm áp mà lũ trẻ trong làng khoái trá nô đùa và vẫy vùng trong đó. Khi trời nổi cơn giông thì chúng tôi chạy ù về nhà, vào những lúc như vậy tôi thấy người lớn thường chụm môi và thổi phù phù, như thể làm thế sẽ đấu dịu Thần Sấm với các lưỡi tầm sét của ông ta. 

Nhờ thuốc lá của ông ngoại mà tôi đều đặn đắp lên ngực mẹ, sức khỏe của bà đã hồi phục. Vết thương há miệng bỗng dưng xuất hiện trước đó và hành hạ mẹ suốt một thời gian nay đã lành. Da bà gần như mịn màng trở lại. Ông ngoại chẩn đoán vết thương này là một thứ "ung thư nữ". Khác với "ung thư nam", vết thương này nông và có thiết diện rộng. Ông bắt mẹ ăn kiêng, bởi ông biết dùng loài thực phẩm nào thì có thể tác động đến diễn biến của ca bệnh. Tôi đã quen với việc chăm sóc mẹ và đem từ chợ về cho bà trái cây ngọt hay tôm tươi, mỗi lần như vậy mẹ đều thật vui lòng.

Một ngày tôi từ thị xã quay trở về, trước nhà chúng tôi không có một ai. Mẹ chắc chắn đang đi trên đường cùng với em, tôi nghĩ vậy. Tôi đặt làn đi chợ xuống gần cửa ra vào. Số tiền bán hàng nhanh chóng được cất vào ngăn kéo phía trên cùng của chiếc bàn lớn, cho đến lúc bố đếm chúng và bỏ vào ống tre tiết kiệm. Tôi đi vào phòng ngủ và ném chiếc nón của mình lên chiếc gối gỗ, từ bên ngoài lúc này có tiếng một con gà mái cục tác inh ỏi đánh thức sự chú ý của tôi. Khấp khởi mong sẽ có một bữa ăn tối thật khoái khẩu, tôi chạy vụt ra ngoài và đuổi theo con gà, dồn nó một cách thật nhẹ nhàng vào một góc vườn. Con gà kéo tôi theo khá xa đến tận mấy bụi tre và xương rồng, ở đó tôi chui vào giữa hai khóm cây và tìm cách tóm lấy nó. Nhưng không được. Tôi giật bắn khi bỗng nhiên nghe có tiếng đàn ông đi lại gần. Tôi nhận ra giọng một người, đó là bố tôi. Giọng thứ hai là một người đàn ông lạ. Bây giờ thì họ dừng chân và trò chuyện tiếp. Tôi vừa định đứng dậy để chào hỏi thì nghe thấy tên tôi được nhắc đến.

"Vậy là mọi việc đã ổn. Bao giờ cái Cúc trưởng thành thì ta sẽ tổ chức đám cưới. Tôi sẽ nhận thửa ruộng, còn con trai của ông sẽ mang đến cho chúng tôi hai con lợn", bố tôi nói.  "Nhất trí! Đất ruộng chỗ đó rất màu mỡ, con trai tôi thì lại chăm chỉ. Nó sẽ thích lắm đấy. Con bé nhà ông quả là xinh!", người đàn ông kia nói. 

Nỗi sợ hãi bị phát hiện trong lúc nghe trộm khiến tôi toát mồ hôi lạnh khắp sống lưng, lần đầu tiên tôi cầu khẩn tổ tiên xin để con gà mái đang cúi đầu im lặng cách tôi không xa đừng làm tôi bị lộ. 

"Nào, ta phải uống mừng thôi. Mời ông đi theo tôi, tôi có rượu rum ở nhà." Bố tôi và người đàn ông lạ bỏ đi một lúc lâu rồi mà tôi vẫn còn nằm bệt trên mặt đất, hai bàn tay ôm lấy đầu. Bầu không khí ngột ngạt hơn mỗi khi giờ dường như đã trở nên quánh đặc. Tôi không thể tin được về những gì mình vừa nghe thấy. Ngay vừa mới đây bố tôi đã đánh đổi tôi, con gái đẻ của ông, lấy một thửa ruộng và hai con lợn! Và với một người lạ hoắc! Thì ra tương lai của tôi sẽ là như vậy... Con gà mái và tôi nhìn vào mặt nhau, và dường như con vật cũng đồng cảm với tôi, nó tiến lại gần hơn.  "Đằng ấy không định bắt tớ nữa ư?", ánh mắt của nó dường như muốn hỏi tôi vậy. Bây giờ thì tôi có thể dễ dàng bẻ quặt cổ nó, nhưng tôi đã tha mạng cho nó. 

Tôi đi thật chậm rãi về nhà. Các em gái của tôi tíu tít chạy về hướng tôi. Lê, em trai út của tôi, nằm khóc trong vòng tay mẹ. Không chỉ vì em bị ngã dúi vào bếp và bị nước canh nóng làm bỏng đít, mà vì anh cả của tôi còn đánh đòn nó thêm do tội làm đổ nồi canh xuống đất. Anh ta trừng phạt nó bằng cách dùng lưỡi mác chém vào gót chân của thằng bé. Mặc dù trong một khoảnh khắc nghĩ việc một đứa con trai cũng bị trừng phạt là một điều công bằng, tôi cho rằng hình phạt khốc liệt này là một hành động của một kẻ vũ phu độc ác và tàn bạo, có quyền hành hạ người khác và thưởng thức sự hành hạ này. 

Cổ đầy ứ, tôi cố ăn một chút gì đấy. Tôi đợi cho tới lúc mẹ một mình rồi đi đến chỗ bà. Hẳn mẹ sẽ an ủi, giải thích mọi điều và giúp đỡ cho tôi.  

"Hôm nay con nghe thấy là con sẽ bị gả cho một người đàn ông lạ. Tại sao lại như vậy hả mẹ?", tôi hỏi nhỏ.  

"Nhưng phải hai, ba năm nữa cơ mà", mẹ tôi trả lời một cách ngạc nhiên, nhưng bình tĩnh.  "Bố đã tìm cho con một mối tốt. Khi đã trưởng thành thì con sẽ phải thành lập gia đình, đó là chuyện thường tình."  

"Chuyện thường tình ư?", tôi hét lên.  "Con có quen biết gì người đàn ông này đâu. Con đâu có yêu anh ta! Con không muốn lấy anh ta! Bố mẹ đã dễ dàng đánh đổi con chỉ để lấy một mảnh ruộng và hai con lợn! Con không muốn như vậy!"

"Mẹ biết. Rồi con phải làm quen với điều này thôi. Cả mẹ cũng được gả cho bố, mặc dù lúc đó mẹ có biết bố là ai đâu. Và bây giờ con xem, tất cả đều đã ổn đấy chứ", mẹ nói. Tôi cố tìm trong ánh mắt mẹ một tia đồng cảm, nhưng chỉ thấy sự cam chịu.  

Vào khoảng khắc mà mẹ nói điều này tôi có cảm tưởng như mình đã bị cưỡng đoạt ý chí và già đi nhiều tuổi, tuy nhiên trước khi tôi kịp trả lời mẹ thì bà đã bỏ tôi đứng đó một mình. Toàn bộ sự căm hờn bỗng nhiên dồn về bố tôi, người đàn ông xa lạ và tất cả loài lợn trên thế gian này!  

- 3 -

Họa vô đơn chí

Vào những tuần tiếp theo chúng tôi không nói gì về việc này nữa. Thông qua công việc tôi tìm cách lãng quên và xua đuổi ý nghĩ về điều này bằng cách chơi lâu hơn với Lê. Tôi thử hình dung làm mẹ thì sẽ như thế nào khi bế đứa con trên tay, nhìn thấy nó cười và vui sướng. Biết đâu mọi chuyện sẽ không đến nỗi tồi tệ?  

Mấy ngày sau, lúc ở nhà, tôi nghe tiếng mẹ cãi nhau với bố, điều mà bà chưa bao giờ làm. Khi đến gần tôi nghe thấy bố dồn ép mẹ cho tôi đi cùng ông trong chuyến đi săn sang phía Bắc Lào sắp tới. Lần đầu tiên tôi chứng kiến mẹ nổi giận. 

"Nó còn quá bé", mẹ nói một cách cương quyết.  "Ông hãy để nó ở nhà với tôi! Chúng tôi cần có nó ở đây." Bố tôi tìm cách thuyết phục bà thêm mấy lần nhưng không có kết quả. Lần đầu tiên mẹ tôi đã kháng cự - vì tôi! Đây là một điều mới mẻ!  

Rốt cuộc thì bố đã nhượng bộ. Tôi làm như mình không nghe thấy gì. Tôi ngạc nhiên là bố lại muốn mang tôi theo trong chuyến đi này. Nhưng tôi còn ngạc nhiên hơn về sự phản kháng quyết liệt của mẹ tôi.  

Một vài ngày sau có ba người đàn ông đến đón bố đi. Chúng tôi nhìn ông chất các dụng cụ đi săn quen thuộc lên xe của họ rồi ngồi vào chỗ. Ông lên đường cùng với họ, và như mọi lần, không hề có một lời giã biệt. 

Chỉ ít tuần nữa là đến mùa gặt lúa tháng Mười. Bố vẫn chưa quay trở lại. Hai anh trai tôi đi vào thị xã, mẹ và tôi thì ở nhà đánh vẩy mấy con cá vừa đánh bắt được bằng dao sắc. Các em tôi đang tìm cách chăm bếp lửa thì có hai người đàn ông lạ tiến đến gần nhà và dường như muốn gặp chúng tôi.  

"Chúng tôi đến đây để đòi tiền nợ của chồng bà", một trong hai người đàn ông nói cộc lốc, chẳng hề chào hỏi gì trước đó.

"Tiếc là chồng tôi không có nhà", mẹ tôi trả lời một cách hòa nhã, mặc dù rất ngạc nhiên.  "Ông ấy... đã chết ở Lào rồi!", người đàn ông lạnh lùng nói tiếp hết câu.  "Ông ta và những người khác đã bị đột kích trong chuyến đi. Ở phía Bắc đang có bạo loạn. Tất cả đều bị chết. Và bây giờ thì chúng tôi đến đòi lại tiền." Mẹ đánh rơi con cá xuống đất và ngơ ngác hỏi:  "Chết ư?" Bà nhìn tôi. Tôi có thể đọc được ý nghĩ của mẹ. Chỉ suýt nữa thì tôi cũng đã đi theo cùng bố. Liệu có phải mẹ đã có một mối linh cảm?  "Vậy các ông muốn đòi tiền gì?"

"Tiền ông ta đánh thua khi chơi bài ba quân", người đàn ông còn lại trả lời, rồi họ bước vào nhà. Họ lục lọi và tìm thấy tiền tiết kiệm của chúng tôi cất trong một tráp gỗ đợi đến lúc đổi thành vàng. Ho cắp theo chiếc tráp gỗ mà không thèm đếm xỉa đến tiếng khóc của mẹ tôi và lời cầu khẩn của ông bà tôi vừa đổ xô đến. Họ biến nhanh như cắt và không nói một lời, hệt như lúc đến.

Tất cả chúng tôi đều đứng ngây người và bất lực, tôi không thể tin được là giờ đây mình không còn bố nữa. Tôi không khóc, bởi trước khi nỗi buồn có thể chạm vào đến tim thì cảm giác sợ hãi trước người chủ mới của gia đình đã xâm chiếm hết tâm trí của tôi.  

Ít mà nhiều 

Ngoại trừ mẹ và bà chẳng có ai trong chúng tôi khóc vì cái chết của bố. Như đã dự đoán, anh cả của tôi ngay lập tức thể hiện quyền uy của mình với tư cách ông chủ gia đình một cách đầy khoái chí. Đám trẻ con chúng tôi làm công việc của mình không chút kêu ca, với hy vọng sẽ không bị anh ta đánh đòn.

Ông bà của tôi khuyên mẹ mang giấy tờ của bố ra thị xã làm đơn xin tiền tuất, ít nhất để chúng tôi có một khoản tiền nào đó sống qua ngày. Tôi được phép đi cùng mẹ, bởi tôi thuộc đường ở thị xã hơn bà.  

Thị xã Hà Tĩnh nhốn nháo hơn mọi khi. Trên đường phố chỉ có ít người qua lại, họ tỏ ra sợ sệt, lính Pháp lái xe tải hấp tấp chạy tới chạy lui. Chúng tôi phải đi vào một doanh trại Pháp. Một người đàn ông da đen đứng ở cửa bập bẹ giải thích cho chúng tôi cách tìm đến chỗ có thẩm quyền, đường đi nghe chừng phức tạp. Một người đàn ông châu Âu dáng vẻ hòa nhã, thường xuyên dùng một chiếc khăn bông trắng lau mò hôi mặc dù quạt gió đang chạy, kiên nhẫn lắng nghe, vừa nghe vừa gật gù, câu chuyện ngắn của mẹ tôi do một người lính Annamit đứng gác ở cửa dịch sang tiếng Pháp. Khi bà nói xong, ông ta xem qua mớ giấy tờ có đóng dấu của bố tôi rồi gạt sang một bên với vẻ khinh khỉnh, ít nhất là theo cảm nhận của tôi.  "Vâng. Chồng bà đã phục vụ trung thành cho mẫu quốc trong hai mươi lăm năm. Thật tội nghiệp là ông nhà không còn nữa. Nhưng tiếc là chúng tôi không giúp được gì cho bà", người lính trẻ dịch lại.  "Nhưng mà xin ông xem đây, đây là giấy tờ, con dấu... Ông ấy thậm chí đã mất hai ngón tay khi chiến đấu", mẹ tôi nói như vậy và đưa giấy tờ cho người đàn ông trẻ.  

Với giọng nói điềm tĩnh và lạnh lùng, viên công chức nói tiếp:  "Chồng bà chưa bao giờ có quyền hưởng hưu trí, và như vậy gia đình ông ấy cũng không. Ông ta là người Annamit".

Mẹ tôi có vẻ không hiểu điều mà người đàn ông nói. Bà chờ đợi một lời giải thích tiếp theo.  

"Chồng bà là lính tình nguyện", người lính trẻ nhấn mạnh chữ "tình nguyện".  "Lính tình nguyện người Annamit đối với chúng tôi không có quyền gì hết. Điều này có nghĩa là bà sẽ không được hưởng một chế độ nào cả."  

Người đàn ông đứng dậy, khẽ chào chúng tôi trước khi đi ra ngoài. Mẹ thu gom đám giấy tờ lại. Bà già đi trông thấy. Vào ngày này tôi học được một điều: một người đàn bà Annamit chẳng là gì so với một người đàn ông Annamit, nhưng so với một người Âu châu thì một người đàn ông Annamit cũng vô giá trị như chính một người đàn bà.  

Một ngày được tổ tiên phù hộ 

Mặc dù mẹ không một lời phàn nàn tôi vẫn cảm nhận được bà buồn bã như thế nào. Tôi chỉ chờ một dấu hiệu từ mẹ để có thể an ủi bà, để một nụ cười sẽ làm gương mặt của bà rạng rỡ trở lại, nhưng vô vọng. Vào một ngày tôi đang đứng phơi quần áo phía sau nhà, trong lòng ngổn ngang bao ý nghĩ, thì bỗng nhiên có một loạt xe vận tải quân sự chạy vào làng. Tôi nghe tiếng đàn bà la hét và tiếng trẻ con khóc. Những giọng đàn ông cục cằn ra lệnh bằng một thứ tiếng xa lạ. Quân đội Nhật Bản đã đột nhập vào làng của chúng tôi. 

Trong chớp nhoáng mọi người dân đã bị dồn lại bằng vũ lực tàn bạo. Một cụ già bị chém đầu bằng kiếm vì dùng một chiếc muôi gỗ huơ lên tự vệ. Đa số người lớn và trẻ em, trong đó có người nhà của tôi, quỳ gối xuống đất, cúi đầu và chắp tay lạy xin tha mạng sống.  

Đám lính tráng đầy vẻ hung dữ. Vẻ mặt của họ khiến tôi tưởng đến mặt của những con trâu lên cơn điên. Một người lính nói to bằng tiếng Việt rằng Nhật Bản đã chiếm nước của chúng tôi. Nông dân chúng tôi không được phép kháng cự và phải nộp cho quân đội Nhật Bản toàn bộ lương thực dự trữ, nếu không làng chúng tôi sẽ bị phá hủy. Đám lính sau đó tản ra, đi vào từng nhà và cướp bóc các gian nhà kho.  

Các anh chị em tôi tiếp tục quỳ gối trước sân và theo dõi diễn biến sự việc mà không dám cựa mình. Mẹ thì đi theo hai người lính vào nhà. Tôi đi theo sau. Một trong hai người lính lấy hết các dự trữ cá, thuốc lào và gạo của chúng tôi từ gian kho, người kia thì dùng dao bửa ống bương chứa tiền tiết kiệm. Khi mẹ tìm cách van xin, người này đấm vào mặt bà và đoạt lấy những gì mà ông ta muốn. Mẹ ngã xuống đất và nằm khóc ở đó. Tôi không dám đến chỗ mẹ và đứng lặng như bị tê liệt.  

Với bao gạo cuối cùng của gia đình tôi trên vai và các thực phẩm khác dự trữ trên tay, người lính Nhật đầu tiên im lặng rời khỏi ngôi nhà của chúng tôi. Người thứ hai vừa đi qua chỗ tôi thì bỗng nhiên quay ngoắt lại. Y nhìn tôi từ đầu đến chân. Hoàn toàn bất ngờ, bàn tay cứng như sắt của y tóm chặt vai phải của tôi, khiến tôi rùng mình khiếp sợ. Với một thứ tiếng Việt lơ lớ, y hét lên:  "Con này! Đi theo chúng tao!".

Không suy nghĩ gì, tôi kháng cự một cách quyết liệt và đẩy người đàn ông ra khỏi người bằng cách cào cấu vào bàn tay y. Tôi thấy lòng trắng mắt của y vằn tia đỏ. Y tức giận rút lưỡi lê, đâm thẳng vào người tôi. Trong giây lát, tôi cảm thấy lưỡi kim loại lạnh thọc qua làn da, xuyên sâu vào bụng rồi lại được rút ra.  

Theo bản năng, tôi nhắm nghiền mắt lại, gập người về phía trước và ngã xuống đất, giả chết. Tôi hy vọng rằng hung thủ sẽ rời đi, và y cũng bỏ đi thật.  

Thời đen tối

Cuộc đột kích trôi qua. Nằm trên vũng máu tôi nghe tiếng kêu la, khóc lóc và nguyền rủa trộn lẫn vào nhau ở phía bên ngoài. Anh chị em tôi đi vào nhà và đỡ mẹ đứng dậy, mặt bà đẫm máu. Mẹ đến ngay chỗ tôi, trước khi kịp nhìn thấy vết thương của tôi, mẹ đã cho gọi ông ngoại sang.  

"Các con kiếm thật nhiều mạng nhện mang về đây!", ông hạ lệnh một cách bình tĩnh, nhưng dứt khoát với đám trẻ.  "Phải cầm máu lại ngay!" Mặc dù vết đâm sâu, dường như không có một cơ quan nội tạng quan trọng nào bị tổn thương. 

"Con đã gặp may, nhờ tổ tiên!", ông ngoại nói và thận trọng kéo chiếc áo của tôi qua đầu. Lũ trẻ quay trở về với các túm mạng nhện vừa nhanh chóng gom được trên tay. Ông ngoại lần lượt xếp các lớp mạng nhện lên vết thương. Vết thương đau rát, nhưng ánh mắt nhìn tự tin của ông khiến tôi yên lòng. Tôi tin cậy ông và biết là ông sẽ chữa lành vết thương cho tôi. Từ hôm đó, mỗi ngày nhiều lượt, ông đến nhà để băng cho tôi. Khi đã khoẻ hơn, tôi tận dụng cơ hội để hỏi ông về thành phần các loại thuốc cao của ông.  

Sau một vài tuần tôi đã có thể đứng dậy, bụng vẫn còn bị băng, để hỗ trợ cho mẹ trong những công việc hàng ngày. 

Kho bếp vẫn trống rỗng, mùa thu hoạch lúa chẳng đủ cho tất cả các miệng ăn. Nhiều người trong làng quyết định tạm thời bỏ nhà cửa đến sống ở nhà bà con cho đến khi tình hình ổn định trở lại.

Vào thời gian này có nhiều người từ ngoài Bắc và trong Nam đi qua làng chúng tôi và kể lại cho dân làng nghe những tin tức mới nhất về tình hình trong nước. Nhật Bản, với quân đội hùng mạnh của mình, đã thiết lập căn cứ chiến lược trên phần lớn lãnh thổ Đông Dương, qua đó áp đặt sự hiện diện của mình đối với chính quyền thuộc địa Pháp. Cho dù những kẻ chiếm đóng chấp nhận hệ thống hành chính đang có, điều đó không ngăn cản họ bắt giữ người Pháp, người Việt và đưa họ lên vùng núi. Đồng thời, đối với thường dân, dường như ít có gì thay đổi, Hoàng đế của chúng tôi vẫn tiếp túc tại vị. Thế giới đối với chúng tôi như vậy dường như vẫn ít nhiều yên ổn. Tuy nhiên chúng tôi cũng có nghe về một vụ khởi nghĩa do Đảng Cộng sản khởi xướng ở phía Nam bị đàn áp đẫm máu và về nhiều vụ nổi dậy ở phía Bắc nhằm chống lại hai thế lực chiếm đóng, người Pháp và người Nhật. Liên tục có những gia đình đến lánh nạn ở làng của chúng tôi, họ còn giữ được mạng sống thật nhưng đã mất hết mọi thứ khác.

Kiếm được cái ăn đối với chúng tôi lúc đó còn quan trọng hơn là việc để tâm đến các sự kiện này. Chúng tôi cùng khổ đến mức phải đi bắt sâu bọ sống dưới các vỏ cây rồi sau đó nướng chúng qua quýt để ăn.  

Những con lợn được báo trước 

Giai đoạn khốn khổ khiến anh cả của tôi phải tạm dừng việc đi học, may mắn thay chỉ kéo dài mấy tháng. Tôi nhận thấy anh đã trở nên cáu bẳn như thế nào vì việc này. Sau đó cuộc sống của chúng tôi bình thường trở lại. Như mọi khi mẹ gánh nước từ sông lên, dùng khăn vải để lọc rồi rót vào hai can lớn bằng kim loại. Chúng tôi dùng nước này để nấu canh ăn với cơm. Sau này anh Hòe còn tham gia đi săn cùng với những nam thanh niên khác, và khi lần đầu tiên họ khiêng về một con hoẵng bắn được, cả nhà đã reo lên hoan hỉ. 

Lũ con gái chúng tôi thường đi vào bìa rừng kiếm củi. Một ngày khi chúng tôi quay trở lại, có một người đàn ông lạ đứng cạnh anh cả, tay chỉ về hướng tôi. Hai người đàn ông đi vào nhà chúng tôi và mở một chai rượu rum. Tôi chuyển dần mớ củi vừa kiếm về lên nhà, trong lòng thấy bất an. Máu trong huyết quản của tôi như bị đông lại khi tôi nhận ra người đàn ông lạ mặt: ông ta chính là người mà tôi đã có lần nghe trộm khi nói chuyện với bố tôi - tôi đã được hứa gả cho con trai của ông ta!  

Anh tôi theo tiễn ông ta một đoạn và tỏ ra vô cùng mãn nguyện khi quay trở lại.  

"Lại đây", anh ta gọi tôi khi vào đến nhà. Đầy căng thẳng, tôi đi đến chỗ anh, với hy vọng không bị nhận ra là mình đang bị run rẩy.  

Anh ngồi xuống. Tôi đứng yên.

"Mày biết đấy, nhà ta đang gặp khó. Anh chẳng thể lo được hết cho mọi người. Vì vậy mà tao đã quyết định làm lịch cưới của mày sớm hơn. Gia đình chồng mày thật tốt bụng và đã đồng ý rước dâu về sớm hơn. Trước mùa mưa các cụ sẽ nhuộm lại răng cho mày, và sau khi nhận đồ lễ cưới, mẹ và anh sẽ đưa em đến nhà người ta. Tháng Mười sẽ làm lễ cưới. Mọi chuyện là như vậy, bây giờ thì mày đi đi!" Nói xong anh ta vớ lấy một cuốn sách với vẻ ngạo mạn và bắt đầu đọc, không thèm đếm xỉa gì đến tôi nữa. Trên môi anh ta thấp thoáng một nụ cười.  

Hoàn toàn lặng lẽ, tôi rời khỏi căn nhà. Tôi đã hết run và bình tĩnh một cách lạ thường. Chỉ trái tim tôi là trĩu nặng như đá đè, đến mức không còn cả chỗ cho sự căm hờn. Trước ngày sinh nhật lần thứ mười hai của tôi, hai con lợn đã hứa sẽ được mang đến, và một người đàn ông lạ hoắc sẽ cưới và chiếm đoạt tôi làm vợ.  

Quyết định 

Tôi quay lại ngay với việc nhà, liếc thấy qua đuôi mắt mẹ đang bận rộn chế biến hai con bồ câu rừng cho bữa ăn tối. Trước mâm cơm, anh cả tôi lại sẽ lăn xả vào những miếng ngon như một con thú dữ và chỉ chừa lại cho mấy anh em chúng tôi phần đầu và cánh. Còn mẹ thì, lặng lẽ như mọi lần, sẽ ăn phần thức ăn còn sót lại của chúng tôi.

Hình dung rằng mình sẽ sống cuộc đời của một người đàn bà nhẫn nhục như mẹ vượt quá sức chịu đựng của tôi, và ngay trong buổi tối hôm đó, khi mọi người đã ngủ say, tôi đã đi đến một quyết định. Tôi sẽ bỏ trốn.  

Còn hai tuần nữa mới đến rằm, vầng trăng khuyết còn chênh chếch ở phía cuối trời. Chẳng mang theo một thứ đồ đạc gì, tôi băng chân trần qua đêm về hướng Bắc, bụng chứa đầy hờn tủi và không hề ngoái mặt lại một lần. Trước khi rạng đông hiện lên, có đôi vợ chồng già cho tôi ngồi lên chiếc xe kéo của họ, trên xe có mấy con gà, một chiếc bàn và hai chiếc ghế, toàn bộ gia sản của họ.  

Họ không chất vấn tôi và để cho tôi ngủ cho đến khi xe tới Vinh vào buổi chiều. Tôi quyết định ở lại đây. Tôi nhảy xuống đất, cám ơn và vẫy theo đôi vợ chồng già cho đến khi họ đi khuất.

Ở Vinh tôi đi từ nhà nọ qua nhà kia để tìm việc làm. Tôi kể với mọi người rằng mình đang trên đường đi tìm người bố bị thất lạc và cần có việc để sống qua bữa và đi tiếp.  

Người ta khuyên tôi đến thử vận tại cửa hàng bán đồ trang sức. Ở đó một người phụ nữ trung niên với thái độ thân thiện nhận tôi làm người ở. Tôi có nhiệm vụ giặt và là ủi quần áo cho bà ấy, bà không trả lương, nhưng mỗi ngày cho tôi một bữa ăn nóng. Tôi còn phải đi lấy nước sạch ở một ao nhỏ ở gần đấy. 

Vào sáng hôm sau tôi bắt đầu với những công việc nhẹ nhàng này. Sau vài tiếng đồng hồ tôi đã xong việc và được phép rời khỏi nhà để đi ngắm nghía phố phường. Mọi người theo đuổi công việc của mình như thường lệ. Lần đầu tiên tôi thấy một người lấy ráy tai chuyên nghiệp, ông ta lanh lảnh rao chào dịch vụ của mình, trên tay cầm một que gỗ dài và mỏng. Tôi cũng nhìn thấy nhiều trẻ em chơi trên đường phố, chúng khiến tôi nhớ gia đình. Nhưng tôi gạt các hồi ức của mình sang một bên. Tự do, đó là một cảm giác thật mới và đẹp đẽ!  

Giá trả cho nỗi nhớ 

Tám ngày trôi qua. Bà chủ hài lòng với công việc của tôi, và tôi được ăn uống đầy đủ. Nhưng đồng thời tôi lại cảm thấy một nỗi nhớ nhà không thể tả trào lên trong lòng. Tôi thật nhớ các em gái và em trai Lê của tôi, tôi hình dung chúng ngủ thiếp đi trong căn phòng ngủ chung của chúng tôi như thế nào. Tôi thấy nét mặt dịu hiền của mẹ và tìm cách hình dung về mùi hương tóc, làn da mềm mại của bà. Tôi sợ rằng mình sẽ quên tất cả những điều này.  

Bà chủ của tôi mỉm cười thông cảm, khi tôi nói với bà rằng mình muốn quay trở về nhà. Trước khi chia tay vào sáng sớm, bà con nấu cho tôi món mì nóng và cho tôi hai bánh chưng để đi đường. Bà xoa đầu tôi khi tôi lên đường, cử chỉ này khiến tôi liên tưởng nhiều đến mẹ và càng củng cố thêm cho quyết định trở về của mình. 

Tôi gặp may: người tài xế một chiếc xe vận tải quân sự từ Hà Nội chở hàng tiếp viện cho một căn cứ ở Đà Nẵng dừng xe khi thấy tôi vẫy và cho tôi đi cùng. Đến Hà Tĩnh tôi xuống xe và chạy về nhà.  

Lúc ấy đã gần trưa. Các em tôi chơi trên sân trước nhà với các vỏ dừa và bỏ rơi mọi thứ khi nhìn thấy tôi, chúng ào đến bám vào cổ tôi. Mẹ là người đầu tiên từ trong nhà đi ra. Trong đôi mắt sáng ngời hạnh phúc của mẹ tôi nhận ra mình đã làm bà đau khổ như thế nào và tôi bật khóc. Tôi nuối tiếc vì đã khiến bà bị tổn thương, nhưng cũng thật sung sướng vì cuối cùng đã phát hiện được một sự bày tỏ cảm xúc nơi bà. 

Bây giờ anh trai cả từ trong nhà đi ra và tiến thẳng đến chỗ tôi. Không nói một lời, anh ta đấm thẳng vào mặt tôi, cú đấm mạnh đến mức tôi ngã gục xuống đất. Dưới ánh mắt của tất cả mọi người, anh ta túm tóc tôi và kéo tôi xềnh xệch trên nền nhà, tôi cảm thấy đầu gối bị đất đá xé toạc.  

Như bố từng làm ngày trước, anh cả buộc tóc tôi vào chân giường, giật phăng chiếc áo mỏng khỏi lưng tôi trước khi đi lấy chiếc hèo tre. Sau đó anh ta đánh tôi tóe máu. Mỗi một cú đánh kéo tôi về gần hơn với thực tại, với thế giới bạo tàn của tôi. Mỗi một cú đạp khiến tôi ý thức rõ ràng hơn chỗ của tôi không phải ở đây, không thể còn ở đây được nữa. Chính tôi cũng ngạc nhiên rằng mình đã không la hét, không khóc lóc. Tôi cảm thấy có một nguồn sức mạnh nội tại ngăn cản mình làm việc đó và có lẽ điều này đã khiến anh cả càng trở nên tức giận hơn.

Khi không còn sức để đánh nữa, anh ta ném chiếc hèo tre vào mặt tôi, giọng thều thào rít lên:  "Lần sau thì tao sẽ giết mày!".  

Tôi nằm liệt giường mười ngày liền, khắp cả mình mẩy sưng tấy. Tôi nuôi dưỡng sự căm hờn, còn mẹ thì chăm sóc tôi, không hề nói một lời như mọi khi.  

Giả biệt 

"Nếu thế giới ngoài kia không còn muốn lắng nghe ta, ta hãy xây dựng một thế giới cho riêng mình và hãy cầu nguyện để đừng kẻ nào có thể hủy hoại nó."  (Loan)

Vào một buổi sáng tinh mơ hai anh trai của tôi lên đường đi Sài Gòn. Chúng tôi cảm nhận thấy những hơi gió ẩm nóng đầu tiên, báo hiệu cho mùa mưa sắp đến, khi bà ngoại cho biết sáng mai bà sẽ nhuộm răng lại cho tôi. Trong thâm tâm tới khước từ việc trở thành một người phụ nữ trưởng thành. Tôi căm ghét cơ thể của mình và cầu mong tổ tiên không cho phép các nét mặt của mình trở nên tinh tế hơn.  

Trong những tuần lễ cuối hình ảnh cơ thể sùi vẩy, biến dạng của mình khiến tôi càng thêm củng cố ý định sẽ bỏ nhà ra đi. Lần này thì tôi chắc chắn là mình sẽ thành công hơn. Tuy nhiên, tôi không muốn ra đi mà trước đó không từ biệt mẹ.  

Tôi tìm thấy mẹ trong vườn, bà đang nằm thiu thiu ngủ dưới bóng râm của rặng cây ăn quả. Nét mặt của bà thư giãn một cách hiếm hoi. Trông bà thật đẹp. Tôi đặt đầu lên ngực bà, mắt vẫn nhắm bà đưa tay vuốt ve tóc tôi.

"Mẹ ơi, con đến để chào mẹ. Con muốn đi khỏi nhà, lần này sẽ đi hẳn..." Không hề run rẩy, tôi nhỏ nhẹ nói những lời này.  

Mẹ ngồi dậy, bình tĩnh, nhìn sâu vào mắt tôi, dường như với hy vọng tìm thấy trong đó một lời nói dối. Tâm hồn tôi có thể cảm thấy cái nhìn dò xét của bà. Nhưng lời nói của bà chấm dứt khoảng khắc kéo dài này. 

"Nếu con nghe được những tiếng gọi từ tương lai của mình mách bảo thì con hãy đi theo chúng. Mẹ vẫn biết rằng con không bao giờ chịu khuất phục. Những lúc chứng kiến sự bướng bỉnh của con là mẹ thấy lại chính mình thời tuổi trẻ. Giờ thì mẹ không sao có được sự can đảm này nữa, bởi mẹ quá yếu ớt. Mẹ hiểu con. Con có lý, con hãy đừng lặp lại con đường của mẹ. Con hãy như một con chim trời, con hãy bay thật xa như có thể! Ngày ngày mẹ sẽ cầu nguyện tổ tiên phù hộ cho con. Nếu đến một ngày mà con cảm thấy đã chắc chắn thành công thì còn hãy cho mẹ biết! Mẹ sẽ chờ. Con gái yêu, còn một điều nữa, con nhớ đừng quên để bảo trọng tính mạng: từ bây giờ con phải sống như một đứa trẻ mồ côi, không còn người nhà. Nếu có ai hỏi thì con hay nói rằng mình không có gia đình nữa, để không ai có thể lần theo tung tích của con được. Anh trai của con đi về phía Nam, vậy thì còn hãy đi về hướng Bắc."

Tôi nghĩ rằng cả hai chúng tôi đều muốn việc chia tay diễn ra một cách ngắn ngủi để không bị sụp đổ dưới gánh nặng của khoảng khắc này. Chúng tôi không khóc. Mẹ lại nằm xuống và nhắm mắt lại, để tôi không thể đọc cảm xúc của bà, sợ có thể làm thay đổi quyết định của mình.  

Tôi quay người bước đi, chỉ lưu giữ lại ký ức này. Tôi còn cảm thấy cái nhìn trìu mến của mẹ sau lưng, cho đến khi hoàng hôn đổ xuống. Tôi cuốc bộ đi tới tương lai của mình. Ngày đó tôi vẫn chưa tròn mười hai tuổi. 

Chương hai - 1 -

Cuộc chiến bất phân thắng bại

Bảo trọng 

Vào mùa mưa khắp nơi đầy bùn lầy. Xe đạp, xe kéo và xe ô tô chạy ngang qua tôi có nhiều lúc phải chật vật lắm mới tiến lên được phía trước. Từ đầu cuộc trốn chạy tôi đã quyết định làm sao tránh đi trên đường cái quan. Do sợ hãi trước các toán quân Nhật Bản đi qua có thể xâm hại đến mình, và cũng là để đề phòng trường hợp anh cả quyết định truy đuổi, tôi luôn chọn các con đường phụ nếu được.  

Tôi ăn trái cây hái dọc đường, ngủ trên các cánh đồng. Tôi thầm mong không gặp phải các con vật có nọc độc. Như thường lệ, tôi tắm rửa dưới các trận mưa rào, uống nước âm ấm đọng trên lá cây, sau khi đã xem xét kỹ ở đó không có đỉa vắt bám.

Sau hai ngày, khi nhận ra ở vùng địa phương này hầu như chỉ có các gia đình đi lại với các xe kéo chở đồ, tôi quyết định bám theo họ. Đi xe tốt hơn là đi bộ. Thỉnh thoảng tôi xin được đi nhờ, mỗi lần đều nói mình là trẻ mồ côi, như mẹ đã dặn. Tôi đã thành công: gần như lần nào tôi cũng được cho đi nhờ.  

Đi quá Vinh một đôi vợ chồng có ba đứa con nhỏ dành cho tôi một chỗ trên xe. Họ xuất thân từ vùng ngoại ô kinh đô Huế và đang trên đường đi ra người nhà ở Hà Nội. Họ kể cho tôi nghe những trải nghiệm tệ hại với hiến binh Nhật, còn được gọi là "Kempeitai", đám quân tàn bạo này sau khi cướp bóc ở các làng quê của chúng tôi lại đi tiếp về hướng Nam và còn gây ra ở đó nhiều tai ương hơn nữa. Đôi vợ chồng là người theo Công giáo, và bởi vì tôi không hiểu Thiên Chúa giáo là gì, họ đã giải thích ngắn gọn cho tôi hiểu về tôn giáo của họ. Họ chia sẻ cùng tôi phần lương thực eo hẹp của mình một cách hiển nhiên, và trong khi cùng chung sức kéo chiếc xe khỏi các vũng bùn để trợ lực cho con bò kéo, họ kể cho tôi nghe nhiều hơn về thời sự chính trị. Hình dung của tôi về tình hình của đất nước dạo đó còn rất phiến diện. Tôi chỉ linh cảm được rằng mình phải gặp rất nhiều may mắn để có thể tai qua nạn khỏi.  

Vào buổi tối chúng tôi luôn dừng xe bên vệ đường để ngủ, thường có nhiều chiếc xe đạp thồ hàng không đèn vượt qua chỗ chúng tôi. Tôi nằm cạnh ba đứa bé ngủ kề bên nhau. Sương mù lạnh giá luồn qua làn áo vải bông của tôi, tôi thật vui mừng vì không còn phải lủi thủi một mình.

Ngôi nhà của bố mẹ mà tôi đã bỏ lại sau lưng giờ hiện lên trong tâm trí tôi như một ảo ảnh xa vời. Tôi cố không nghĩ đến nó. Tôi sợ sẽ bị nỗi buồn xâm chiếm và sẽ quay bước trở về.

Thử một lần 

Chúng tôi đi qua nhiều làng mạc nhỏ. Có những nơi hầu như không thấy một bóng người, có những nơi thì cuộc sống lại diễn ra náo nhiệt. Lợn, gà, vịt thả rông, có lúc chạy lẫn vào người. Khi đến một làng ở phía Nam thành phố Nam Định, chặng hành trình tiếp theo, chúng tôi nghe tiếng người phát ra từ chiếc loa do hai người đàn ông cầm trên tay đứng ở giữa làng. Họ kêu gọi các nhóm người dân đứng tụm ba tụm tư ở xung quanh tham gia phong trào chống Pháp và chống Nhật, thế lực xâm lược mới đã chiếm giữ các vị trí chiến lược ở miền Bắc và hiện đang tiếp tục xâm lấn miền Nam. Hai người đàn ông diễn thuyết với giọng nói hùng hồn về độc lập và quyền của nhân dân An Nam, khi họ kết thúc và lên xe đạp đi tiếp, đoàn người giải tán. Chỉ có một số ít đứng lại và cùng nhau thảo luận.

Chúng tôi mua một ít lương thực dự trữ và tiếp tục chuyến hành trình. Bởi vì tôi không biết chính xác mình sẽ chọn thành phố nào để làm nơi trú ngụ đầu tiên, đôi vợ chồng sẵn sàng nhận tôi làm con nuôi. Ở nước tôi, chỉ cần người muốn nhận con ngỏ lời và có sự đồng tình của đứa trẻ thì ngay từ lúc đó đứa trẻ sẽ được gia đình và nhà chức trách công nhận là thành viên mới của gia đình mà không cần một thứ giấy tờ nào. Tôi do dự một lát. Tôi bị giằng xé bởi những suy nghĩ trái ngược chiều. Cho dù trong thâm tâm thật thèm muốn có được hơi ấm của gia đình và vừa được tận hưởng tình cảm ấm áp đó trên bao cây số của chặng đường vừa trải qua, cuối cùng tôi đã từ chối. Tôi cảm thấy mình vẫn còn quá hoang mang. Và như vậy, tôi đã quyết định chia tay với gia đình ân nhân ở chợ Nam Định. Họ tỏ vẻ buồn bã và đi tiếp, trước đó không quen ban phước lành cho tôi. Tôi đã chọn thành phố này một cách bộc phát, với ý nghĩ lóe lên trong đầu là sẽ đến thăm cô tôi ở đây. Bà thường sống ở Nam Định khi tìm được công việc ở đó. Rốt cuộc thì tôi đã đi một khoảng cách đủ xa với nhà và cảm thấy trong lúc này rất cần có một điều gì đó gợi nhớ lại về gia đình. Tim đập thình thịch, tôi bắt đầu dò hỏi ở khu vực xung quanh. Tôi đi tìm nhà của cô tôi.

Trên chợ có nhiều người nông dân mà tôi nhận ra qua sắc áo vải bông xanh và đen bán đủ thứ hàng, từ khoai lang, thảo dược đến cả các chú gà chọi có mào đỏ và tím tuyệt đẹp. Một bà nông dân dùng một chiếc quạt gỗ quạt gió cho một con lợn nái to tướng có vẻ đã kiệt sức sau một chuyến đi dài, nằm vật trên nền đất bụi bặm, trong khi một đứa bé gái tưới nước lên mõm của nó. Các bà già đứng bên cạnh các hàng lụa và nhung, phần lớn thêu chỉ vàng và bạc, rao bán đồ nữ trang. Tim tôi giật thót khi một mùi thơm thật quyến rũ từ hàng phở xộc vào mũi. Tôi nhận ra ngay chỗ này! Tại đây, đúng ở vị trí này, nơi có những người phụ nữ duyên dáng mặc áo dài lụa, họ hỏi mua gia cầm từ những tiểu thương chở gà vịt sống, chân của chúng bị trói túm trên xe đạp, bố đã cùng tôi dừng chân dạo trước để ăn một bát phở nóng.

Được khích lệ, tôi đi lướt qua những hàng cắt tóc rong, miệng lẩm bẩm cầu khẩn bố, giờ đã thuộc về thế giới tổ tiên, phù hộ cho tôi tìm đúng đường dẫn đến nhà em gái của ông ở Nam Định. Tôi quyết định phải tìm người đàn bà này bằng được! Nhất định tôi phải tìm được bà! Với cảm xúc lâng lâng và dạ dày đang cồn cào vì cơn đói, tôi thầm tạ ơn tổ tiên: trước lúc màn đêm đổ xuống, chưa hết thở dốc, kiệt sức, nhưng với một cảm giác nhẹ nhõm, tôi đặt chân lên ngưỡng cửa nhà cô tôi. Phía trong có ánh nến đang chiếu sáng. Tôi gọi to tên cô qua cánh cửa.  

Bảng chữ cái yêu dấu

Ngay lập tức tôi nhận ra quyết định đến đây là một sai lầm. Cái nhìn của cô nói nhiều hơn cả nghìn lời. Ngạc nhiên, kinh hoàng và đầy ghê tởm, cô chòng chọc nhìn tôi mấy phút liền từ đầu đến chân, làm như thể cô không nhận ra tôi là ai. Càng về sau tôi lại cảm thấy xấu hổ hơn vì bộ quần áo rách rưới, bộ mặt bẩn thỉu hệt như tay chân, móng chân, móng tay đen đúa và mái tóc rối bù xù. Nhưng trước hết tôi cảm thấy mình thật bất lực do sự im lặng của cô. Khi tôi kể với cô rằng bố tôi đã mất, bà chỉ nhún vai và nói với giọng lạnh lùng:  "Thật tiếc". Lúc này tôi thoáng ngửi thấy mùi rượu rum mà người đàn bà này chắc đã uống trước đó. Sau đó cô quay ngoắt người lại, lấy từ buồng trong một mớ quần áo sạch, đặt bộp vào ngực tôi, hất hàm chỉ về hướng một chậu kim loại đựng đầy nước đặt ở góc nhà và nói sẵng:  "Rửa người đi!".

Ngoài ra cô chẳng hỏi han điều gì, không nhắc đến ai trong gia đình, tôi thực sự biết ơn bà về điều này. Tôi còn biết ơn cô nhiều hơn về việc từ nay không còn phải ngủ ngoài trời và biết bao nguy cơ rình rập. Cho dù tôi hiểu rằng dưới mái nhà mỏng lợp lau sậy này không thể chờ đợi hơi ấm của tình người, tôi vẫn có cảm giác đã tìm được một chốn nương thân mà mình vẫn thiếu thốn bấy lâu nay.  

Đánh đổi cho việc phục dịch của mình, tôi được giữ lại bộ quần áo mượn và ở lại chỗ cô. Cô cũng cho phép tôi ngủ cùng giường. Cô sống một mình, không có con cái. Tôi chẳng phải là đứa con thay thế của cô, mà chỉ là một người hầu gái làm hết thảy các công việc, ngoài ra cô còn yêu cầu tôi phải gọi cô bằng "bà". Những chuyện như vậy tôi chấp nhận được hết.

Vào những tháng tiếp theo đó tôi hiểu nhiều hơn về cô. Cô sống qua ngày, kiếm sống bằng nghề phụ bếp tại các quán ăn ở nhiều thành phố khác nhau, hay ở những đồn điền trên các vùng cao nguyên.  

Ở thời điểm này chúng tôi không nghĩ tới việc đến một lúc đó sẽ tìm chỗ định cư ở thành phố. Như những kẻ lang thang cơ nhỡ, chúng tôi đi khắp cả miền Tây Bắc bộ, lúc thì cuốc bộ, lúc thì bằng tàu hỏa.

Cô tôi biết tận dụng triệt để sức lao động của tôi và cho nhiều người chủ thuê lại, tất nhiên là tiền lương tôi có được thì cô luôn bỏ vào túi riêng. Tôi phải thức giấc trước bình mình để hái nụ chè ở các đồn điền trồng chè. Điều khiến tôi khổ sở nhất là những cục sưng tím nhỏ ở bắp chân do đỉa hút máu. Sau giờ làm việc, chủ đồn điền dùng bật lửa để đốt những cục sưng này.  

Vào một ngày nọ trên con đường giữa chốn đồng không mông quạnh, cách Hà Nội chừng hai tiếng đồng hồ, đoàn người buôn bán và các gia đình mà chúng tôi sát nhập đang chậm chạp đi tới bỗng nhiên khựng lại. Bên cạnh hai chiếc xe đỗ ngang đường có những người đàn ông An Nam cầm súng chặn từng người một. Họ đeo ruột tượng đựng gạo choàng qua vai. Áo sơ mi có ống tay dài bỏ lửng trên quần rộng.  

"Việt Minh", những người đứng trước chúng tôi lo lắng nói.

Khi đến gần, cô tôi và tôi nghe được rằng đây là một chiến dịch xóa nạn mù chữ được khởi xướng bởi phong trào đòi độc lập của Hồ Chí Minh. Một người đàn ông giơ cao một tấm bảng có ghi chữ cái trên đó. Chỉ những ai đọc được các chữ cái mới được phép đi tiếp. Những người khác phải lên xe và được đem đến một chỗ khác, nơi họ sẽ được "dạy học". Mặt bà cô tôi bỗng nhiên trắng bệch. Tôi nhìn thấy sự hoảng hốt trong ánh mắt cô: bà không biết đọc.  

"Bà cứ nói A, B, C, D và hãy chỉ vào bốn chữ cái đầu tiên", tôi nói nhỏ,  "A, B, C, D... A, B, C, D!" Chúng tôi đến lượt. Cô tôi nói dối một cách thản nhiên:  "Tất nhiên là tôi biết đọc!" Bà nói mặc dù chưa được ai hỏi và bắt đầu xướng to và chậm rãi các chữ cái:  "A, B, C", và còn to hơn nữa "D!". Người đàn ông sốt ruột đẩy bà đi tiếp để kiểm tra tôi. Tiếp theo đó, với nét mặt không chút biểu cảm, nhưng không giấu được ánh mắt ngạc nhiên, ông ta để tôi đọc hết toàn bộ bảng chữ cái. Tôi được cho đi qua và đương nhiên là sung sướng tận hưởng vẻ mặt thảng thốt của cô tôi. Việc tôi học đọc và học viết quá đã không phí phạm!  

Một thành phố đẹp

Cuối cùng chúng tôi đã tới Hà Nội. Bởi vì ở các đồn điền hầu như không còn công việc, cô tôi muốn đi kiếm việc ở đây. Chúng tôi thuê một căn hộ nhỏ ở tạm mấy tháng tại một khu phố cổ, nơi chủ yếu là người bản xứ sống. Vào các buổi sáng sớm tôi bán bánh mì Pháp, bánh sừng bò và thuốc lá lẻ ở gần công viên Bách thảo và khu doanh trại. Cô tôi thì nhận đồ giặt thuê, cô đi lấy nước ở một vòi nước gần nhà. Vào buổi chiều, trong căn hộ của chúng tôi, tôi là quần áo đã phơi khô, sau đó cô mang chúng đi trả cho khách.  

Trong thời gian này tôi chẳng hề một lần thấy tiền lương của mình. Mà tôi cũng chẳng bận tâm đến điều đó, tôi cảm thấy hoàn toàn đầy đủ vì có tự do và các bữa ăn nóng đủ no. Thỉnh thoảng, nếu cô tôi nổi hứng, tôi được phép cùng bà đi xem kịch. Mặc dù chủ đề chính của phần lớn các vở diễn là tình yêu bất hạnh, tôi theo dõi các lớp diễn rất nghiêm trang và chăm chú, bởi các vở kịch đã đánh thức trong tôi những tình cảm hoàn toàn mới, những cảm xúc quý giá, chưa bao giờ có trong đời. Dường như nó có thật, một thứ tình yêu lớn, mà vì nó ta có thể đấu tranh, thậm chí hy sinh tính mạng! Dường như có nó thật, sợi xích vô hình của lòng chung thủy! Trên sân khấu, nơi tình yêu chân chính được thể hiện, người ta không thể đánh đổi nó để lấy một thửa ruộng và hai con lợn cưới, như chính tôi cũng đã từng không đánh đổi. Liệu ở cuộc đời thực có thể có như vậy được không? Ở ngoài kia, trong cõi đời thực, tôi mơ một ngày sẽ yêu bằng cả trái tim, và chàng, thần tượng của tôi, sẽ đáp trả tình yêu của tôi, bất chấp mọi thứ quy tắc áp đặt.

Tối đến tôi rửa cốc chén ở nhiều quán nhỏ tối tăm khác nhau mà cô tôi biết và thường có mặt đến tận khuya ở đó, bên một chén rượu rum, miệt mài chơi bài ba quân. Chơi bài là niềm đam mê lớn của cô, cô luôn đắm mình vào đó mỗi khi có thời gian. Tôi yêu Hà Nội, đây là một thành phố tuyệt đẹp. Tôi nhanh chóng khám phá nó bằng cách đi bộ hay đu bám theo tàu điện chạy ken két. Vào những lúc rỗi rãi hiếm hoi tôi thích đi dạo ở phía Tây khu phố cổ ở Hồ Hoàn Kiếm. Theo truyền thuyết đây là nơi vào thế kỷ 15 vua Lê Lợi đã hoàn trả thanh bảo kiếm cho một con rùa khổng lồ trước đó đã trao nó cho ông để đánh đuổi quân Trung Quốc ra khỏi bờ cõi. Nhà hát lớn, Trường Mỹ thuật Đông Dương, những lâu đài tráng lệ và các biệt thự Pháp màu nâu vàng tô điểm các đường phố và những đại lộ với các hàng cây cổ thụ tỏa bóng mát cho người qua lại. Những người đàn ông châu Âu ăn mặc sang trọng, thường là đắm đuối tay trong tay với một, thậm chí với hai người đàn bà An Nam xinh đẹp, ngồi trên xe xích lô đi qua những dãy phố mua bán thanh lịch. Từ các sảnh khách sạn sang trọng và quán cà phê vang lên tiếng nhạc Pháp từ các máy quay đĩa hát! Vào những ngày như vậy cuộc đời thật đẹp sao!

Một trò chơi đen tối 

Đêm đã muộn. Ở quầy bar chỉ còn vài người lính ngoại quốc ngồi, đang trầm mặc, mắt nhìn dán vào những chiếc cốc đã uống cạn. Tôi đã rửa xong cốc chén. Từ phía phòng bên trong, nơi có một nhóm người An Nam, vừa đàn ông vừa đàn bà, đang tụ tập đánh bài ba quân, tôi nghe tiếng chửi và nguyền rủa của cô tôi vọng ra. Chắc hẳn đêm nay vận may đã không đến với bà.  

Bà mở hé cửa, mặt đỏ gay đầy vẻ kích động, gọi thêm một bình rượu rum nữa. Khi tôi mang bình rượu vào, đám người ngấm hơi men cười ré lên, mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía tôi, hơi rượu nồng nặc hòa lẫn với mùi răng thối làm tôi gần nghẹt thở.  

Liệu bố tôi cũng từng ở trong một tình trạng như vậy? Liệu mẹ tôi sẽ nói gì, nếu bây giờ bà nhìn thấy tôi? Những ý nghĩ này khiến tim tôi nhói đau, và khi nhận thấy mình đang đỏ mặt vì xấu hổ, tôi rời khỏi căn phòng, đúng lúc cô tội gỡ chiếc dây chuyền hạt ngọc xinh xẻo, đập mạnh lên bàn và nói:  "Chơi tiếp!".  

Sáng hôm sau, lúc tôi vẫn đang ngủ say, cô lay vai, hấp tấp đánh thức tôi dậy.  

"Sáng nay có việc, dậy mau! Rồi đi tắm đi, tao đã chuẩn bị sẵn nước ấm rồi! Và sau đó thì mặc cái này vào!", cô nói và đưa cho tôi một chiếc váy nhung đỏ ngắn tay tuyệt đẹp và một đôi hài màu bạc.  

"Bà mua cho con đồ mới ư?", tôi ngạc nhiên hỏi mà không tin được vào sự may mắn của mình.

"Ờ. Đúng vậy." Cô tôi thậm chí bắt đầu giúp tôi làm vệ sinh sớm. Không có bất cứ dấu hiệu nào trên cơ thể tôi cho thấy tôi đã là một cô gái gần mười ba tuổi, ngoài hai bầu vú tí hon, giống như hai trái cây còn non, bé xíu, không biết sẽ nảy nở tiếp hay không, và mái tóc đen óng ả chảy dài xuống tận mông.

Tôi mặc vào chiếc váy và xỏ chân vào đôi hài cũng vừa như in. Cô tôi chọn có thật chính xác, tôi nghĩ và ngắm mình trong gương, tay vuốt lên lớp vải nhung thật mềm mại. Chưa bao giờ tôi được ăn mặc đẹp như vậy! Cô kiên nhẫn chải tóc cho tôi khá lâu.  

"Hôm nay cứ để tóc xõa nhé", bà nói và bôi một lớp son đỏ lên môi tôi một cách thành thục, làm tôn thêm một chút nét đàn bà mới manh nha của tôi. Tôi hãnh diện và sung sướng rằng rốt cuộc thì sự chăm chỉ của mình đã được ban thưởng một cách hậu hĩnh. Với vẻ ngoài này chắc chắn hôm nay tôi sẽ bán hết vèo số bánh sừng bò! Tôi chỉ muốn ôm chầm lấy cô tôi để cám ơn sự hào phóng của bà, nhưng quầng mắt thâm đen của cô bỗng khiến tôi nhớ lại buổi tối hôm qua. Vì thế tôi ngưng ý định này lại.  

Tiếng thì thầm cứu tinh

Một chiếc xích lô đã chờ sẵn khi cô tôi và tôi đóng cánh cửa lại phía sau lưng. Không nói một lời, chúng tôi đi đến một khu phố lạ đối với tôi, nằm rất xa căn hộ của chúng tôi, gần một khu chợ lớn của người Hoa. Trên một đường phố buôn bán sầm uất, chúng tôi dừng lại trước một tòa nhà đẹp.  

Một người đàn ông béo lùn dường như đã chờ sẵn và vui vẻ mời chúng tôi bước vào cánh cửa rộng mở. Đi qua hành lang chạy xuyên giữa các căn phòng đầu tiên, chúng tôi bước vào một sân trong, nơi có một ngôi nhà hai tầng, bao quanh tầng trên là một ban công bằng gỗ. Tôi nhìn bao quát tất cả, đầy ngạc nhiên. Tôi chưa từng bao giờ làm việc ở một ngôi nhà như vậy!

Trong sân người đàn ông quay sang tôi và yêu cầu tôi há miệng. Đầu tiên ông ta quan sát hàm răng nhuộm đen của tôi, đôi bàn tay với các móng tay bị hỏng, mái tóc của tôi, sau đó ông ta lùi lại một bước, dường như để kiểm tra toàn thân. Tôi cố mỉm cười, e sợ sẽ có thể không được nhận vào làm công việc mới. Tuy nhiên ông ta tỏ vẻ hài lòng và cười toác miệng, để hở cả những chiếc răng bọc vàng.

"Mày chờ ở đây", cô tôi nói với một giọng gay gắt khác thường, khiến tôi liên tưởng đến giọng nói của bố. Người đàn ông vén một tấm màn nặng nề phủ lên cánh cửa. Ông ta mở cửa, rồi cùng cô tôi biến mất trong ngôi nhà mà không nói một lời. Tôi ngoan ngoãn và lo âu đứng chờ, mắt nhìn lên ban công và tự hỏi có những gì có thể ẩn giấu sau nhiều cánh cửa này, vừa lúc đó có những tiếng nói thì thầm và tiếng cười khúc khích từ một góc trên tầng một vọng xuống, thu hút sự chú ý của tôi. Năm hay sáu cô gái trẻ, tất cả đều trang điểm và ăn vận xinh xắn như tôi, đứng túm tụm ở trên đó và nhìn xuống tôi.  

"Đằng ấy mới đến à?", một cô hỏi.

"Vâng...", tôi do dự trả lời và hạ giọng, nói thì thầm hệt như các cô gái vì sợ bị bắt quả tang.  "Nhưng mà tôi chưa biết ông chủ mới sẽ giao cho tôi công việc nào." Một vài cô tiếp tục cười rúc rích, cho đến khi một trong số các cô gái ra lệnh cho họ im lặng và hấp tấp gọi tôi:  "Này cô bé, biến ngay khỏi đây! Em đang ở trong một nhà thổ và sẽ phải bán thân cho đám đàn ông! Không ai trong các chị có thể thoát khỏi đây! Tin chị đi! Em hãy chạy thật nhanh!"

Tôi hoảng hốt lùi lại. Bỗng nhiên hiện lên trước mắt tôi là những con lợn mà gia đình tôi đã được hứa hẹn sẽ nhận được nhân lễ thành hôn của tôi, giờ đây dường như chúng đang rình rập trong căn phòng bên cạnh, nơi cô tôi đang có mặt, và sẵn sàng lao ra. Tôi kiễng gót chân, tiến sát đến tấm màn chắn nặng nề.  

"Bà có chắc là nó còn trinh không?", giọng người đàn ông hỏi.  

"Chắc, chắc như đinh đóng cột", tôi nghe cô tôi trả lời, đầy mãn nguyện.  "Và bây giờ thì ông đưa tiền đây! Trò chơi bài khốn kiếp này... Thật đấy, tôi xót lòng lắm vì phải bán con bé, nhưng ông tin tôi đi: Thua bài ba quân còn nhục hơn nhiều lần!" Bà tôi cười, và tôi nghe tiền kim loại kêu xủng xẻng.

Tôi như bị tê dại. Chỉ khi tấm màn chắn được gat sang một bên và một bàn tay đàn ông béo múp vươn ra tìm cách tóm lấy vai của tôi, tôi mới định thần trở lại. Có một giọng nói từ bên trong thét lên với tôi:  "Chạy đi! Chạy thật nhanh khỏi nơi đây!"  

 

- 2 -

Một cánh cửa mở 

Hoàn toàn bối rối và khiếp đảm về những gì sẽ chờ đợi mình nếu lọt vào tay những người này, tôi chạy thục mạng ra đường phố, vừa chạy vừa xô gạt những người bắt gặp, bất kể trẻ hay già. Những người bán hàng chửi vọng theo tôi và nguyền rủa, trong lúc nhặt lại những trái cây bị rơi dưới đất. Tiếng chửi giận dữ của họ làm át cả tiếng hét của cô tôi và của người đàn ông. Tôi cảm thấy hơi thở của mình đuối dần và rẽ vào một ngõ hẻm xa lạ.  

Mặc dù yếu tố bất ngờ của cuộc trốn chạy đã cho tôi một lợi thế nhỏ, nhưng giờ đây đôi chân của tôi đã chùn. Liệu tôi sẽ có thể nhờ vả ai bây giờ? Tôi run bắn khắp toàn thân và đứng như trời trồng. Tôi đã bị thất thế, bất cứ lúc nào những bộ mặt giận dữ của những kẻ truy đuổi cũng sẽ có thể xuất hiện từ góc phố. Chắc chắn là họ sẽ kéo tôi theo.  

Bỗng nhiên có một cánh cửa bật mở phía sau lưng tôi.

"Vào đây, nhanh lên!", một giọng nói vang lên. Không do dự tôi nhảy qua khe cửa, không kịp nhận biết ai là người vừa lên tiếng. Cánh cửa vừa khép lại thì tôi đã nghe những tiếng la hét tiến lại gần.  

Tôi vẫn như bị tê liệt. Cơ thể đẫm mồ hôi không chịu tuân thủ tôi nữa. Người đàn ông già vừa mở hé cánh cửa ra hiệu bảo tôi hãy yên lặng. Mắt nhắm nghiền, tôi thầm kêu cứu mẹ. Tôi sợ mất hết hồn vía và run lẩy bẩy khắp toàn thân.  

"Bình tĩnh, bình tĩnh lại đi con. Đừng sợ! Họ đã đi rồi", người đàn ông nói nhỏ nhẹ sau một hồi im lặng.  "Con ngồi xuống đi. Ở đây con được an toàn, sẽ không có gì xảy ra với con cả. Tên của ông là Hương", ông nói tiếp và niềm nỡ chỉ vào một chiếc ghế gỗ chạm trổ, tôi ngồi xuống mà đôi chân và đầu gối vẫn run lẩy bẩy. Tôi tìm cách chế ngự hơi thở hổn hển của mình.

Ông Hương lặng lẽ nấu cho chúng tôi một ấm chè xanh rồi ngồi xuống trước mặt tôi.  

Một người tử tế 

Tôi quyết định kể cho ông nghe sự thật. Về lý do tôi chạy trốn khỏi nhà, về cả những gì tôi đang trải qua. Ông để cho tôi nói mà không ngắt lời, châm một tẩu thuốc và gật gù nghe. Tôi cám ơn ông đã cứu thoát tôi khỏi cuộc sống trong nhà thổ, một cảnh ngộ mà từ trước tới giờ tôi mới chỉ nghe qua lời kể.  "Nếu con muốn, con có thể ở lại đây", ông nói.  "Ông sống một mình. Con có thể nấu cơm cho ông, làm việc nhà. Mà con lại biết đọc nữa, vậy thì thỉnh thoảng còn đọc sách báo cho ông nghe. Mỗi năm hai lần con sẽ có quần áo mới. Tất nhiên ông cũng sẽ trả lương cho con. Mười đồng một tháng."

Nổi ngạc nhiên và niềm vui tràn ngập về lời đề nghị bất ngờ và hào phóng này chắc chắn đã hiển hiện hết trên vẻ mặt của tôi. Tôi không nói được nên lời và chỉ biết gật đầu. Vào khoảnh khắc này tôi không có khả năng làm được điều gì hơn nữa.

Ông Hương kể cho tôi nghe một chút về bản thân. Ông là một cựu binh người Hoa. Ông đã đào ngủ ở đó. Mấy năm trước ông đến An Nam từ vùng Bắc Bắc Bộ, sau đó bỏ về Hà Nội và ẩn náu ở đó. Ông để lại gia đình của mình ở Trung Hoa mà khong bao giờ gặp lại. Tôi có thể đồng cảm thật sâu sắc với ông về việc này. Bởi vì hầu như toàn bộ hệ thống thương nghiệp của thành phố nằm trong tay người Hoa, giống như những người đồng hương khác không bị chết bởi bệnh sốt rét, ông đã xây dựng cho mình một mạng lưới quan hệ để có thể sống và làm ăn mà không bị quấy nhiễu ở đây.  

Chúng tôi chọn một phòng trống ở trên gác và sắp xếp nó làm nơi ở cho tôi. Từ lúc này trở đi tôi có được cảm giác là chủ nhân nơi ăn chốn ở mới của mình. Tôi cảm thấy hài lòng. Ngay trong ngày hôm đó ông mua cho tôi một bộ quần áo giản dị, không gây sự chú ý. Vào thời gian đầu ông cấm tôi không được ra ngoài, như một biện pháp phòng ngừa.

Bây giờ tôi sống ở đây, trong một ngôi nhà tiện nghi, lòng tràn đầy sự biết ơn đối với một người xa lạ dành cho tôi sự chăm sóc ân cần như của một người ông và từng bước giúp tôi có một cuộc sống hoàn toàn bình thường, không sợ hãi. Theo thời gian, tôi dành cho ông một lòng tin cậy vô hạn và sự nể vì. Tôi cũng cảm thấy đây là một tình cảm hai chiều. Và như vậy tôi làm những công việc nội trợ và bếp núc hàng ngày của mình càng chăm chỉ và cẩn trọng hơn, thậm chí với cả một niềm vui lớn. Tôi vẫn chưa hết bàng hoàng về sự may mắn của mình.  

Khi có khách người Hoa đến nhà thì tôi lùi lên tầng trên, nhưng vẫn chăm chú lắng nghe chuyện từ đó. Sau một vài tháng, tôi đã hiểu sơ sơ nội dung trò chuyện nói bằng tiếng mẹ đẻ của ông chủ. Cùng với ông giữa chúng tôi cũng đi mua sắm ở khu chợ của người Hoa, vào những dịp như vậy ông luôn mỉm cười để tôi đếm tiền bằng tiếng Hoa.

Một vài lần ông đi dạo phố Hà Nội cùng tôi, ông biết hết các ngóc ngách của thành phố và chỉ cho tôi những khu phố lạ, nơi các đường phố được sắp xếp theo các nghề thủ công khác nhau, chẳng hạn phố Hàng Đào, phố Hàng Bông, phố Hàng Thiếc hay phố Lò Đúc.  

Tuy nhiên, khi ở thành phố bắt đầu có các vụ tấn công vào các lực lượng chiếm đóng và cả những vụ nổ, ông quyết định không ra phố nhiều nữa. Ở nhà an toàn hơn. Ngược lại với tôi, ông tỏ ra rất bình tĩnh khi nghe tiếng súng từ bên ngoài vọng vào. Việc trả đũa trước một vụ tấn công lại kéo theo những vụ tấn công mới.  

Trong chừng mực nào đó ông khiến tôi nhớ về ông ngoại của tôi, bởi ông cũng có một khối tri thức lớn và sẵn sàng chia sẻ nó với tôi. Ông thường xuyên chữa lỗi cho tôi khi đọc và viết. Vào những lúc rỗi tôi đọc ngấu nghiến các cuốn sách của ông. Nằm trong lớp màn chống muỗi, lần đầu tiên tôi đọc những cuốn chuyện ngôn tình ly kỳ, các truyền thuyết và chuyện cổ tích hấp dẫn và cả các cuốn sách về lịch sử Pháp mà ông chủ đặc biệt quan tâm.  

Để giúp tôi có khả năng tự vệ, ông đều đặn truyền cho tôi Vịnh Xuân quyền, một môn phái võ thuật tự vệ của Trung Quốc. Những lúc cao hứng, ông chỉ cho tôi các động tác phản công. Chúng tôi tập luyện với vũ khí là một cây côn đơn giản làm bằng gỗ. Chẳng hạn tôi học cách dùng cây côn để nối dài cánh tay của mình và để làm chủ được đòn tấn công.  

Càng ngày tôi càng cảm thấy chắc chắn, tự tin và mạnh mẽ hơn.

Nhập gia tùy tục 

Ông Hương thích những món ăn đơn giản mà tôi nấu cho ông. Tuy nhiên cũng có lúc ông vào bếp và chỉ tôi cách nấu ăn, bằng cách tẩm gia vị các môn thịt hay cá cho ngon miệng hơn. Ông chẳng nề hà gì, kể cả trong việc thái rửa rau hay chỉ cho tôi các công thức nấu ăn mới. Điều này khiến tôi ngạc nhiên, bởi cho đến lúc tôi chỉ biết rằng: một người đàn ông thì chẳng dính dáng gì đến công việc bếp núc, mà được đàn bà nấu nướng và phục dịch. Truyền thống này bất di bất dịch ở đất nước tôi. Những giờ làm bếp chung này của chúng tôi được đan xen bởi những câu chuyện kể và các giai thoại. Vào một ngày, trong khi chờ món súp thịt chín, ông kể cho tôi nghe ở Trung Quốc người ta dùng các sợi tre được xây rất mịn nhằm giết đối phương một cách kín đáo bằng cách làm thủng dạ dày của người đó. Ông không khỏi ngạc nhiên khi nghe tôi chia sẻ lại kinh nghiệm của bố. Tôi không quên việc bố đã nhồi các con thú săn của mình và trước đó đốt cháy bộ ria của chúng ra sao. Những sợi ria này cũng có thể đâm thủng dạ dày một cách sắc lịm và không để lại dấu vết. Gian bếp thường vang lên tiếng cười. Dĩ nhiên tôi vui mừng một khi ông có mặt cùng tôi trong bếp. Và tôi cũng không khỏi ít nhiều tự hào về việc ông tỏ ra ưa thích sự có mặt của tôi bên cạnh.

Vào một buổi chiều có một đôi vợ chồng quen biết đến thăm ông, họ trò chuyện về bầu không khí chiến tranh đang dần bao phủ khắp đất nước. Nhiều khu vực đang bị tranh chấp ác liệt giữa Việt Minh, Pháp và Nhật. Đối với người dân tình hình ngày càng trở nên bất an hơn. Sau cuộc thảo luận dai dẳng, để tránh khỏi tâm trạng ủ dột và lo âu, chủ và khách hẹn cùng đi ăn tối ở một quán Tàu.  

"Cô bé này cũng có thể đi cùng, nếu cô ấy thích", người phụ nữ nói một cách thân thiện và cám ơn tôi về ấm trà mà tôi đã pha cho bà.  "Sao lại không nhỉ, con có muốn đi cùng không nào?", ông Hương hỏi tôi.  

"Cám ơn ông bà, con rất thích ạ", tôi trả lời.  

Chúng tôi gặp nhau ở khu phố Hoa Kiều, ở đó có thêm một đôi vợ chồng đứng tuổi nữa cũng họp mặt. Quán ăn nhỏ được chọn từ trước sặc mùi khói thuốc và chật ních khách, tuy nhiên có một nữ nhân viên dẫn chúng tôi ngay vào một phòng phụ nhỏ, ở đó có kê một chiếc bàn tròn và chúng tôi được ngồi tách biệt với các thực khách còn lại.  

Dường như tất cả các món ăn đều đã được đặt trước. Đầu tiên chúng tôi ăn món chim cút nhồi, tiếp theo đó là món xúp sò huyết. Đúng là danh bất hư truyền: khi tôi vừa chọc đũa vào một con sò, một tia màu tươi phọt ra! Bên cạnh con vịt Bắc Kinh giòn tan còn có bảy món khác nhau, tất cả đều được chế biến từ thịt của cùng một con rắn. Tôi quyết định ăn món cơm thịt vịt.  "Món tiếp theo chắc chắn là không dành cho con!", ông Hương nói với tôi một cách hào hứng.

Ba nhân viên dọn sạch bàn ăn, trước khi họ quay lại phòng, mang theo năm con khỉ bé đầy sợ sệt, cổ từng con bị quấn xích sắt và phần thân bị bó chặt trong một chiếc cũi gỗ. Dần dần tôi hiểu những chiếc lỗ tròn nhỏ khoét trên bàn ăn được dùng để làm việc gì. Trước mặt chủ tiệc và các thực khách khác - trừ mỗi tôi - các con khỉ bé bị nhốt trong cũi lần lượt được đặt xuống dưới các lỗ bàn, đỉnh sọ của từng con nhô lên. Tôi không thể tin nổi mắt mình về những gì chứng kiến sau đó. Với một con dao cực sắc, đỉnh sọ của chúng bị bổ ra, những con vật xấu số rú lên và giẫy dụa. Sau khi xem xét và tán thưởng, từng thực khách cầm một chiếc thìa bạc múc vào não con khỉ của mình. Với một động tác thuần thục, họ khoét gọn cả bộ óc nhỏ và để cho nó chảy tan trên lưỡi một cách khoái trá, trong khi những con vật đó gục xuống.

Vào buổi tối hôm đó tôi chẳng ăn được gì thêm nữa. Tôi cảm thấy mừng là thức ăn đã ăn trước đó không bị trào ra khỏi dạ dày. Tôi tự nhủ rằng những con vật sống mà mình mua ngoài chợ rồi cũng bị hóa kiếp dưới tay mình như vậy, chẳng có gì là ghê gớm cả. Và người Hoa có những phong tục của riêng họ. Tôi tìm cách coi câu chuyện xảy ra là bình thường. Tuy nhiên, vào những ngày sau đó, tôi thật khó tránh nghĩ đến nó mỗi lần trước khi thiếp vào giấc ngủ.  

Một con ma đói

Từ một năm nay tôi sống ở nhà ông Hương, nhờ vào các mối quan hệ của mình mà ông đã khắc phục một cách thần tình những đợt khan hiếm thực phẩm thường xảy ra ở thành phố trong thời gian này. Nông dân bị bóc lột và cưỡng bức nộp toàn bộ thu hoạch mùa màng ở những nơi do người Nhật kiểm soát. Vào thời gian này, tôi làm thân với một bạn gái người An Nam sống ở nhà bên, vào những giờ rỗi cô dạy cho tôi cách đi xe đạp. Hiền ít hơn tôi một tuổi và sinh ra ở Hà Nội. Chúng tôi chơi trò dùng những chai thủy tinh rỗng thổi giả làm tiếng còi tàu thủy. Thỉnh thoảng chúng tôi đạp xe của Hiền đến trước một doanh trại và chờ ở đó cho đến khi có một người vã mồ hôi thổi kèn trompet điểm danh. Vào đúng lúc đó chúng tôi vừa cười cợt, vừa cố tình mút các quả chanh còn xanh trước mặt ông ta. Gần như lần nào chúng tôi cũng làm cho người lính có hàng ria mép bị rối loạn, sau hồi kèn độc tấu ông ta bị người chỉ huy quát tháo. Do nước dãi chảy đầy miệng nên ông ta không thổi được âm thanh nào cho ra hồn, những tiếng kèn tậm tịt của ông khiến chúng tôi cười vỡ bụng. Đáng tiếc là chỉ thỉnh thoảng chúng tôi mới có dịp tụ tập để nô đùa, bởi chúng tôi không được phép gặp nhau ở nhà, mà chỉ ở trên đường phố. Vì vậy mà những khoảnh khắc vô tư bên cạnh nhau này càng trở nên quý giá và gợi nhớ cho tôi rằng mình vẫn còn là một đứa trẻ.

Một buổi sáng có tiếng người gõ cửa. Ông Hương lúc ấy đang lơ mơ ngủ trên ghế với một cuốn sách đặt trên ngực. Bởi vì đang ở tầng trệt, tôi có nhiệm vụ mở cửa.  

Trước tôi là một bóng hình mà chỉ mới nhìn thoáng qua đã khiến cho máu của tôi bị đông cứng trong huyết quản và mặt mày tái mét, trước khi tôi kịp mím môi để tìm cách nén lại một tiếng thét ngắn ngủi và khô khốc. Đó là một thây ma đúng như trong hình dung của tôi. Tôi hoảng hốt lùi lại, vẫn không tin đây là sự thật, mắt trố hết cỡ, để cho cô tôi bước vào.  

Cái nhìn vô hồn của người đàn bà nát rượu khiến vẻ mặt thô cứng, đầy nét nhăn và già nữa càng trở nên ghê rợn hơn, và chỉ trong tích tắc, cái ngày khủng khiếp mà bà ta đã phản bội tôi vụt hiện về trong trí nhớ. Tôi cứng người vì sợ hãi. Ông Hương đã tỉnh giấc. Ông chậm rãi đứng dậy, tiến về phía chúng tôi và khoát tay ra hiệu mời cô tôi vào nhà.  

Cứ như thể tôi đang không tồn tại, cô tôi ngồi bệt ngay xuống chiếc ghế của tôi và điềm nhiên gật đầu khi ông Hương mời bà ta một chén chè rồi ngó quanh khắp nhà trong khi tôi đi pha nước với một cảm giác đầy uất ức. Bà uống nước đang nóng, sau đó cất giọng khàn khàn tố cáo về toàn bộ nỗi bất hạnh do tôi đổ lên đầu bà. Bà đòi tiền bồi thường và đưa ra ngay một tổng số tiền bằng toàn bộ tiền lương trong năm của tôi.

Tôi không thể tin nổi điều mình đang chứng kiến. Ông Hương im lặng lắng nghe rồi đứng dậy, lấy tiền từ tráp và trao cho cô tôi với điều kiện từ nay phải để cho tôi yên và không bao giờ được phép xuất hiện trong cuộc đời của tôi nữa. Khi nói xong ông đứng dậy, cô tôi đi theo ông ra cửa và biến mất, không hề nhìn tôi một lần.  

Khi cánh cửa sập lại, tôi mới bừng tỉnh dậy từ trạng thái đờ đẫn và òa khóc, lâu lắm rồi tôi không như vậy.  

"Con khóc vì chuyện tiền nong ư?", ông Hương hỏi và vuốt nhẹ vai tôi.  "Đó là cách tốt nhất mà chúng ta có thể làm để vĩnh viễn thoát khỏi bà ta", ông nói và tìm cách lau nước mắt cho tôi.

"Không, không phải vì vậy", tôi vừa khóc vừa trả lời.  "Con khóc là bởi vì cuộc đời thường quá bất công đối với con. Tại sao lúc sinh ra con không phải là con trai mà lại là con gái? Tại sao con luôn phải đánh mất tất cả, cứ mỗi lần sau khi con gặp được một chút may mắn? Tại sao người ta lại truy đuổi con? Con có làm gì nên tình nên tội đâu?" Tôi dùng ống tay áo gạt nước mắt.  

Ông Hương ngồi xuống và nhìn tôi như chưa bao giờ ông làm như vậy, đầy nghiêm trang và tư lự.  

"Cúc à, con biết không, đời là cho và lấy. Tìm thì sẽ thấy. Được rồi lại mất. Sinh tử tử sinh. Con cứ tin ông, mất mát chỉ khiến ta đau đớn lần đầu tiên. Những thử thách trong cuộc sống sẽ làm cho con cứng rắn và mạnh mẽ hơn. Tất nhiên, điều này không dễ. Con sẽ còn nhiều lần bị vấp ngã, nhưng mà ông tin chắc rằng con sẽ luôn đứng dậy và đi tiếp. Con hãy nhớ lời của ông."  

Ông mỉm cười thật nhân hậu với tôi, khiến tôi cũng chỉ có thể mỉm cười đáp trả

- 3 -

Bằng cả trái tim 

Tôi đã làm việc không lương một năm để trả một khoản nợ mà tôi không hề gây nên để được đổi lấy tự do. Sau nghiệm trải này và cũng do nỗi sợ hãi rằng một ngày nào đó bà cô của tôi sẽ xuất hiện trở lại, tôi quyết định chỉ sống tiếp nửa năm ở nhà ông Hương để kiếm thêm ít tiền và sau đó đi tiếp mà không bị hoàn toàn trắng tay. Ông tôn trọng quyết định của tôi.  

Đến tháng tư 1944, tôi lên đường. Tôi mang theo hai chiếc áo bông, một chiếc áo dài thêu bằng lụa tím, một đôi dép mà tôi không muốn xỏ vì đi chân trần thoải mái hơn, số tiền mà tôi kiếm được và một chiếc lược có cán làm bằng mai rùa bóng loáng, tất cả được để trong một chiếc áo thụng cuộn tròn, buộc vào đầu một chiếc gậy gỗ. Mái tóc đen dài từ mấy lâu nay được tôi búi cao, để tôn thêm vẻ người lớn trước mặt ông Hương.

Vào buổi sáng chia tay, lúc tôi đã dọn nhà và chuẩn bị xong bữa trưa, chúng tôi ngồi im lặng bên nhau và cùng uống trà. Ông Hương bỗng nhiên đứng dậy, rời khỏi phòng rồi quay trở lại với một chiếc hộp bé trên tay, ông mỉm cười trao nó cho tôi.  

"Ông cũng muốn cám ơn con và chúc con vạn sự may mắn. Còn đây là quà cho con", ông nói nhỏ.  

Tôi tháo lớp vỏ bọc, mở chiếc hộp và phát hiện thấy một đôi khuyên tai vàng tuyệt đẹp, mỗi chiếc dính một hạt ngọc trắng lấp lánh. Không nói nên lời vì cảm động, tôi lấy món đồ trang sức giá trị ra, món quà tặng đầu tiên trong đời của tôi. Lúc này tôi mới chợt nhớ ra là mình chưa xâu lỗ tai.

"Ông có thể xâu tai cho con, nếu như con muốn. Ông có sẵn đồ ở đây", ông nói như có thể đọc được ý nghĩ của tôi, và trên nét mặt của ông tôi nhận ra là ông vui mừng vì đã dành được cho tôi một sự bất ngờ.  

Tôi gật đầu và để ông dùng một chiếc đinh bằng gỗ xỏ hai dái tai của tôi. Niềm vui vì món quà tặng khiến tôi quên hết cả cơn đau.  

Trong gương tôi nhìn thấy một thiếu nữ mười bốn tuổi tươi cười hạnh phúc đang dần trở thành một người phụ nữ trẻ mà nét mặt thanh tú càng tươi sáng hơn nhờ đồ trang sức quý báu.  

Ông khẽ đóng cánh cửa sau lưng tôi, và mặc dù trong một khoảnh khắc trái tim tôi như bị thắt lại và biết rằng mình sẽ nhớ ông, tôi cảm thấy vui mừng vì sẽ được nhìn thấy và nghiệm trải những điều mới mẻ.

 

Lạc lối 

vào một chốn hoang tưởng 

Tôi rời Hà Nội theo hướng Đông Bắc và dừng chân ở chặng đầu tiên là Từ Sơn. Ở đó tôi thuê một căn phòng bé tí ở nhà của một bà góa và suy nghĩ mình sẽ kiếm tiền bằng cách nào. Đơn giản là tôi sẽ làm thứ mà tôi vẫn làm và làm tốt nhất từ trước đến nay: bán hàng, với một nụ cười trên môi, nhưng lần này là cho riêng mình! Chẳng mấy chốc những đồng tiền đầu tiên đã rơi rủng rẻng vào túi của tôi. Ngày ngày, có lúc cũng là vào buổi tối, tôi đứng cạnh một nhà hát và bán thuốc lá và đồ uống cho người qua lại. Quyền tự do không phải báo cáo với bất cứ một ai, được tự quyết về việc mình làm, làm bao giờ và làm ra sao là một kinh nghiệm hoàn toàn mới đối với tôi. Và tôi tận hưởng cảm giác hạnh phúc này, cho dù có lúc phải chứng kiến bầu không khí đe dọa. Ngày qua ngày, tiếng súng từ xa vọng về, nhưng tôi cố không nghe nó, như chính ông Hương chắc cũng sẽ làm như vậy ở một hoàn cảnh tương tự.

Một người phụ nữ hầu như ngày nào cũng mua nước xô đa ở chỗ tôi có lần bắt chuyện với tôi:  "Này, em là một cô bé thật xinh xắn. Liệu em có muốn làm việc cùng với các chị ở nhà hát hay không, liệu em có thể hát ở đó? Làm việc này chắc chắn được trả tiền nhiều hơn so với việc em bán nước ở đây".  

"Em chỉ biết làm công việc nội trợ và bán hàng thôi ạ. Em chưa bao giờ hát cả", tôi ngạc nhiên trả lời.  

"Em có thể học được mà. Lúc nào xong việc thì em cứ đến nhà hát và hỏi chị. Tên của chị là Hoa." Chị mỉm cười với tôi, trả tiền nước xô đa và đi tiếp.  

Vào buổi tối tôi đến chỗ chị. Hoa là người trưởng gánh hát. Chị dạy cho tôi nghệ thuật hát ca trù. Công việc của tôi là hát những ca khúc buồn bã dựa trên các bài thơ và các bài hát nói. Nhạc cụ đệm cho tôi chỉ có một bộ phách bằng tre do chính tôi gõ, một chiếc đàn đáy ba dây do một nam nhạc công ngồi cạnh tôi chơi. Các bài hát hầu như chỉ nói đến tình yêu bất hạnh, về chia ly và niềm hy vọng mới.  

Những gì mà Hoa đòi hỏi ở tôi có vẻ dễ dàng. Chị cho tôi hai tuần để học ca từ và các động tác biểu diễn. Những giai điệu đầu tiên mà chị hát thầm trước cho tôi nghe từ âm thanh đầu tiên đã có sức thuyết phục đến mức tôi có cảm giác như có thể chạm được vào nỗi khát vọng trong không gian căn phòng. Chị hát trước, tôi cứ thế hát theo. Đồng thời chị cũng dạy cho tôi cả những động tác đệm biểu cảm trên bộ phách. Chị ấn vào tay tôi mấy tờ giấy mỏng, đó là số bài hát của tôi, và giao hẹn với tôi đến tập hàng ngày. Tôi ngạc nhiên khi phát hiện ra mình có khả năng hát, tuy nhiên cũng cố gắng hết sức mình để hát thật hay và không phụ lòng chị Hoa. Hai tuần lễ liền, từ sáng sớm đến tối, tôi tới chỗ tập và khi ở một mình thì lại luyện phần ca từ. Ơn trời là tôi biết đọc!

Sau đó là tối biểu diễn đầu tiên của tôi: trên một sân khấu nhỏ, với một bộ trang phục đẹp được mượn riêng cho tôi, trước một khán phòng không kín hết chỗ ngồi. Vào ngày này, như các bạn diễn khác đã dặn tôi nhiều lần, tôi tránh uống nước hoa quả chua để giữ gìn các thanh đới.  

Trước đó Hoa trang điểm cho tôi và giúp tôi mặc trang phục. Tôi tưởng mình có thể chết đi được vì hồi hộp, tuy nhiên khi những tiếng nhạc đệm đầu tiên vừa vang lên thì ngay lập tức tôi đã trấn tĩnh trở lại. Thậm chí tôi còn có cảm giác khoan khoái và càng hát càng trở nên vững tâm hơn. Sâu thẳm trong lòng mình tôi tưởng tượng tình yêu có thể đẹp như thế nào và tôi sẽ buồn bã ra sao nếu như số phận nghiệt ngã với tôi như với cô gái ở trong bài hát. Không chủ định mà khi hát niềm khao khát dẫn dắt tôi đến một người thân yêu, trong giây lát này tôi có thể hy sinh mọi thứ để có thể gặp lại, hít hà và ôm chầm lấy người đó. Như bị lên đồng, tôi không thể không nghĩ đến mẹ tôi, vì tình cảm với mẹ là thứ tình yêu duy nhất mà tôi biết được từ trước đến nay.  

Khán giả của tôi xúc động. Tôi nhận được tiếng vỗ tay hoan hô. Hoa hài lòng, tôi còn hài lòng hơn nữa khi nhận được tiền công. Lần đầu tiên trong đời, ít nhất là trong mắt mình, tôi đã kiếm được bộn tiền.

Các nghệ nhân khác, phần lớn là người nghiệp dư như tôi, tới đây từ mọi miền của đất nước trên đường đi tìm việc làm. Chẳng mấy chốc thì tôi nhận ra có một số người trong họ, kể cả Hoa, có những buổi tối đã dốc nhẵn số tiền kiếm được để cùng hút thuốc phiện. Tất cả họ đều niềm nở đối với tôi và nhiều lần mời tôi đi cùng với họ. Rốt cuộc vào một buổi tối tôi đã nhận lời.  

Trong một quán ăn có kèm dịch vụ đặc biệt, người ta có thể tùy thích đi vào những căn phòng mở, được dọn dẹp sạch sẽ ở phía trong, để thả sức hút thuốc phiện và quên đi thời gian. Nằm trên những tấm đệm thoải mái và mềm mại là những thân hình không còn biết rõ họ có thuộc về thế giới này nữa hay không, mọi sự đối với họ chẳng còn một ý nghĩa nào, bởi các giác quan của họ đều đã bị lu mờ. Những người này khiến tôi nhớ đến cô tôi, và một cảm giác ghê tởm dâng lên trong tôi.  

Với tôi tất cả đây chỉ là một trò dối lừa mà tôi không muốn can dự. Tôi có cảm giác những cảm nhận và xúc động sâu xa mà họ hát và thể hiện trên sân khấu bỗng nhiên biến thành một giấc mơ rất xa xôi, dường như chúng không tồn tại nữa. Trong lúc tôi lại muốn tin đó là sự thật! Họ sống trong một thực tại khác. Dường như họ đã đánh mất hy vọng đối với cuộc sống, niềm hy vọng mà tôi vẫn còn cảm nhận đâu đó trong tim mình và khiến cho tôi, từ một thời gian ngắn trở lại đây, mở to mắt để nhìn đời và sống một cách hoàn toàn có ý thức. Sâu thẳm trong lòng mình, tôi cảm nhận rằng cuộc sống vẫn chứa đựng những khả năng khác, chẳng hạn như tình yêu. Tôi muốn đối mặt với cuộc sống, thay vào việc chạy trốn trước nó. Ngay từ lúc này, mặc dù tôi mới cảm nhận được nó từ một thời gian cách đây, khát vọng sống của tôi đã quá lớn để có thể buông mình chìm đắm trong màn khói thuốc phiện.  

Rõ ràng là tôi đã lạc lối đến chốn này.

Chưa đầy ba tháng sau buổi diễn đầu tiên tôi quyết định rời khỏi thành phố, lúc ra đi cũng đơn giản như lúc mình đến đây. Sau một cuộc chia tay ngắn ngủi, tôi tiếp tục lên đường, tâm hồn giàu có thêm bởi một nghiệm trải và đầy háo hức, vâng, đầy cảm giác đói khát đối với cuộc sống đang chờ tôi ở phía trước.  

Một cuộc gặp khó chịu 

Mùa mưa lại đến, và tôi có ý định đi tiếp về hướng Bắc mà không biết chính xác sẽ đến nơi nào. Tôi vẫn giữ cho mình mục tiêu tìm một cuộc sống bình an trong tương lai, cách biệt với người anh trai mà tôi căm thù, cách biệt với cả những luật lệ cứng nhắc của làng xã. Ở đó, ở phía Bắc, hẳn phải có một chốn như vậy cho tôi, nơi ước mơ giản đơn này sẽ trở thành hiện thực.

Trước sau tôi vẫn kể với mọi người rằng mình là một đứa trẻ mồ côi mà chẳng còn cảm thấy áy náy gì do nói dối. Cảm giác được ai đó chờ đợi hay chào đón ở nơi nào đó đã trở nên hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Những người nông dân chất phác từ những thôn xóm nhỏ mà tôi đi qua thường cho tôi đồ ăn thức uống mỗi khi tôi xin họ, mặc dù chính họ cũng có nhiều nhặn gì cho cam, thêm vào đó họ lại còn cho tôi ngủ nhờ. Nếu ít gặp may mắn hơn thì tôi ngủ qua đêm ở ngoài trời, trên một cánh đồng, bất kể ở đó ẩm ướt ra sao. Tôi chấp nhận mọi việc như vốn có. Và như vậy cuộc sống cũng trở nên dễ chịu hơn một chút đối với tôi.

Vào một ngày tôi lại kết bạn đường với một đôi vợ chồng già cũng cuốc bộ như tôi. Chúng tôi đã đi đến gần thị xã Bắc Giang. Đó là một ngày nóng và oi ả. Trước mặt chúng tôi đột nhiên xuất hiện một nhóm thanh niên nam nữ có trang bị vũ khí. Tuy không chĩa súng vào chúng tôi, họ ngang nhiên chặn đường và yêu cầu chúng tôi phải ủng hộ cuộc kháng chiến.  

"Mất mỗi một hạt gạo vào tay kẻ xâm lược là đánh rơi một giọt máu đào của nhân dân", một trong những người đàn ông nói.

"Hãy góp của cho chúng tôi để cứu nước!", một người phụ nữ yêu cầu. Hai người già sợ hãi và ngoan ngoãn móc tiền từ túi ra. Họ cũng nộp cả những nắm xôi là thức ăn dự trữ đi đường. Những ánh mắt soi mói giờ đây nhắm thẳng vào tôi, tôi trở nên hoảng hốt. Thật bất ngờ là ông già đã lên tiếng bênh vực cho tôi, ông nói với một giọng van lơn và hơi run rẩy:  "Con gái chúng tôi chẳng có gì cả. Xin các ông bà để cho cháu đi. Chúng tôi đã già cả, xin các ông bà rủ lòng thương!". Tôi thầm cầu khẩn rằng họ sẽ không mở túi quần áo mà tôi đã giấu toàn bộ số tiền mặt của mình vào trong đó. Tuy nhiên sự việc diễn ra không như dự đoán.  

Một người trong số họ, có lẽ là người đội trưởng, đưa tay về phía đầu tôi, và trước khi kịp hiểu anh ta muốn gì tôi đã thấy đau nhói ở tai phải.  

"Chúng tôi cũng cần cả những thứ như thế này!", giọng nói đanh thép của anh ta vang lên. Anh ta liếc qua chiếc khuyên tai của tôi, sau đó nhét vật trang sức đẫm máu vào túi. Tôi không chờ đến lúc anh ta giật tiếp chiếc khuyên thứ hai từ vành tai và cố gắng tháo nó ra và trao cho anh ta thật nhanh.  

Họ tỏ ra thỏa mãn, để cho chúng tôi đi tiếp và lại biến mất sau các lùm cây.  

"Cám ơn ông", tôi nói với người đàn ông già đang lẩm bẩm chửi. Vợ của ông đưa cho tôi một chiếc khăn để tôi ép chặt lên vết thương đang chảy máu, cho đến lúc chúng tôi chia tay ở thị xã Bắc Ninh gần đấy.  

  "Đời là cho và lấy..." Những lời nói này vang lên trong tâm trí của tôi. Một món quà mà tôi nhận được vừa bị lấy đi. Lạ lùng thay những lời an ủi này của ông Hương đã khiến tôi vượt qua cơn buồn bã.

 

Bí mật được hé mở 

Ở Bắc Ninh tôi mau chóng tìm được việc làm tại một gia đình có năm đứa con để đổi lấy đồng lương ít ỏi và một bữa ăn trong ngày. Tôi làm hết mọi công việc trong nhà. Gia đình họ sống trong một căn nhà dưới một ngọn đồi nhỏ, bên cạnh một bốt gác của quân đội Pháp.

Căn nhà nền đất đơn giản được xây bằng đá, lợp mái tôn phồng độp đã hỏng cho thấy nó hẳn sẽ không còn chống chọi được lâu nữa trước các cơn bão không hiếm khi xảy ra ở đây.  

Tôi ngủ ở một trong hai căn phòng phụ trên một chiếc giường gỗ lớn cùng với tất cả lũ trẻ dưới một tấm màn chống muỗi. Chỉ có những bức vách mỏng ngăn giữa chúng tôi, phòng khách đồng thời là phòng ăn và phòng ngủ của bố mẹ.  

Một buổi tối, mấy tuần sau khi đến ở cùng gia đình nhà chủ và đang ngủ say sau một ngày làm việc vất vả, tôi bị tiếng cười rúc rích của hai đứa con gái lớn làm thức giấc. Chúng đứng sát mặt vào tấm vách, mũi gần như dí vào lớp giấy báo dán trên tường thay cho giấy bồi và tỏ vẻ vô cùng khoái chí. Tôi đứng dậy khẽ khàng để không gây tiếng động và tiến lại gần bức vách. Có ai đó đã dùng một chiếc đinh to chọc một cái lỗ ở đó. Lũ trẻ để ngón tay lên miệng ra hiệu cho tôi phải thận trọng và để cho tôi nhìn qua chiếc lỗ. Tôi há hốc miệng và mở mắt tròn xoe khi phát hiện thấy trên giường một cặp đôi nam nữ trần như nhộng đang im lặng quấn vào nhau đê mê dưới ánh sáng êm dịu và ấm áp của một ngọn đèn cacbit!

Đó là lần đầu tiên tôi chứng kiến đàn ông đàn bà làm tình với nhau. Tôi cảm thấy má của mình trở nên nóng bừng, phần vì xấu hổ, phần vì tò mò, tim đập thình thịch dội đến tận cổ và một nỗi thèm khát mới mẻ dâng lên trong người. Tôi mừng là căn phòng đang tối. Tôi tìm cách giấu kín mọi biểu lộ cảm xúc của mình, bởi vì tôi cảm thấy thật xấu hổ khi phải thừa nhận sự thiếu hiểu biết và ngây thơ của mình trên lãnh vực này. Tôi chỉ nhún vai, mỉm cười và nằm xuống giường trở lại. Mấy phút sau hai đứa trẻ cũng quay lại giường và ngủ thiếp trước tôi. Ý nghĩ của tôi còn quanh quẩn khá lâu với những hình ảnh của cuộc làm tình vừa mới nhìn thấy. Tôi vẫn còn nguyên cảm giác rạo rực trong cơ thể và thử hình dung sẽ ra sao nếu chính mình được nghiệm trải điều vừa chứng kiến.  

 

Bất khả chiến bại

Vào tháng Ba 1945 nền độc lập của Việt Nam được tuyên cáo và người Nhật đã sắp xếp Hoàng đế Bảo Đại của chúng tôi vào vị trí Quốc trưởng. Những người đàn bà gầy guộc cùng với bầy đứa con đã nhiều ngày trời không miếng ăn bỏ vào miệng của họ trên đường đi qua kể về các cuộc thảm sát và về việc nhiều người bị giam giữ. Càng ngày người ta càng cảm nhận rõ rệt hơn bầu không khí đe dọa giờ đây đã bao trùm khắp nơi.  

Tôi vui mừng rằng vào lúc này mình đang có một nơi ăn chốn ở, nhưng rất khó để có thể làm quen nổi với tiếng súng đại bác và tiếng bom nổ vọng về. Bên cạnh công việc nấu nướng, giặt giũ và trông nom lũ trẻ tôi cũng còn có nhiệm vụ mỗi ngày một lần, có khi hai lần, đi gánh nước sạch về nhà từ một nơi cách đây khoảng một cây số.

Vào một buổi sáng tôi đã có mặt trên đường từ rất sớm. Tôi vừa đi, vừa thì thầm ngâm một bài thơ của Nguyễn Công Trứ đã học từ dạo ở nhà hát lúc này hiện về trong tâm trí:  

"Chữ tình là chữ chi chi,  

Dẫu chi chi cũng chi chi với tình.  

Sầu ai lấp cả vòm trời,  

Biết chăng chăng biết hỡi người tình chung? Nói:  

Đa tình là dở,  

Đã mắc vào đố gỡ cho ra!  

Khéo quấy người một cái tinh ma,  

Trói buộc kẻ hào hoa biết mấy!

Đã gọi người nằm thiên cổ dậy,  

Lại đưa hồn lúc ngủ canh đi.  

Nực cười thay lúc phân kỳ,  

Trông chẳng nói, xiết bao nhiêu biệt lệ.  

Tình huống ấy dẫu bút thần khôn vẽ,  

Càng tài tình càng ngốc, càng si.  

Cái tình là cái chi chi?"  

Trên đường đi tôi cũng tự hỏi tại sao chiến tranh lại khiến cho con người muốn rời bỏ quê hương của mình. Vào thời điểm đó tôi chưa hình dung rằng mình có thể làm một điều như vậy. Với tình cảm gắn bó với đất nước của mình, tôi nghĩ rằng dù thế nào thì nó vẫn đủ rộng lớn để dành cho mỗi một người con dân một chốn yên lành, cách xa hẳn các xung đột.  

Tôi bắt đầu thấy giếng nước ở phía trước thì có một tiếng nổ dữ dội ở phía sau lưng, khiến tôi suýt ngã chúi xuống và bừng tỉnh giấc mơ ngày. Khi quay đầu lại thì tôi nhìn thấy, lần đầu tiên, giữa đám quần áo rách nát, một cơ thể người bị cắt đứt đôi từ trên xuống dưới.  

Một người đàn ông trẻ, chỉ cách phía sau tôi mấy mét, vừa dẫm lên mìn. Xác chết của anh ta trông thật khủng khiếp.

Vào khoảnh khắc này những lời nói của ông thầy bói hiện về trong đầu tôi. Vâng, cái chết vừa gõ cửa cho tôi, nhưng lần này nó đã chọn một nạn nhân khác. Ý nghĩ này trong giây lát cho tôi có được một cảm giác bất khả chiến bại. Tôi nhặt chiếc đòn gánh vừa bị rơi xuống trong vụ nổ và đặt nó lại lên vai, đi tiếp đến giếng nước, trong lúc hai đầu gối vẫn còn chưa hết run. Tôi nhanh chóng lấy đầy hai thùng nước. Trên đường trở về nhà chỉ khi đã đi vượt qua xác chết của người đàn ông một quãng tôi mới có thể thở phào. Vừa bước đi tôi vừa tự nhủ, vụ việc diễn ra vừa rồi đâu phải là dành cho mình.  

 

Những chiếc nồi biết bay

Ở ngoại ô thành phố ngày càng có nhiều xe kéo giờ đây chủ yếu được dùng vào việc chở xác các nạn nhân từ các vùng lân cận đến. Người chết được nhanh chóng trút xuống những hố lớn và được vùi kín ngay khi hố đã đầy. Có nhiều người bị chết đói, đa số họ là những người thuộc tầng lớp bần cùng nhất, trong đó có nhiều trẻ em bị bỏ rơi. Những cơ thể gầy đét của họ làm người ta liên tưởng đến những thân cây đã bị khô héo.  

Vào một ngày có mấy người đi đến chỗ tôi với dáng điệu hồ hởi, mỗi bên tay xách một chiếc xô chứa đầy những con lươn béo ú đang nhung nhúc cuộn mình. Họ cười sung sướng, tôi rất ngạc nhiên không hiểu họ kiếm được từ đâu ra thứ của hiếm đó vào thời buổi này. Đã từ bao lâu rồi chúng tôi chẳng hề có những món đặc sản như vậy trong bữa cơm hàng ngày.

Khi tôi hỏi, họ chỉ cho tôi chỗ đang lúc nhúc đầy những con vật như vậy. Tôi biết chỗ này quá rõ: đây là một trong những hố lớn dùng để chôn xác người. Với một cảm giác nôn nao trong dạ, tôi cầu xin tổ tiên đừng bao giờ để mình lâm vào cảnh đói khát.  

Những tình huống nguy hiểm mà tôi rơi vào ngày càng xảy ra nhiều hơn. Chỉ mấy tuần sau vụ nổ mìn có một việc khá kỳ quặc, gần như lố bịch, đã xảy ra đối với tôi.  

Lúc đó tôi đang có mặt trước nhà để rửa mấy chiếc xoong nhỏ trong một chiếc nồi lớn. Khi sắp xong việc thì từ phía trên đồi có một tiếng rít vang lên, tiếp theo đó là những tiếng gõ cồng cộc khiến tôi phải ngẩng đầu lên.  

Một vật lạ từ trên cao xuống nhảy chồm chồm trên đường, sau mấy lần bị va chạm thì chuyển hướng và dừng hẳn một đoạn ngắn phía sau lưng tôi. Bởi vì nó bằng kim loại nên sau khi trấn tĩnh lại tôi đoán là có ai đó đã vứt đi các thứ xoong nồi cũ của mình. Thật là vô liêm sĩ và táo tợn, tôi rủa thầm và rất tức giận vì đây là một việc làm quá nguy hiểm.  

Tuy nhiên tôi cảm thấy vật lạ này có gì đó không bình thường, vì vậy tôi đi tiếp mấy bước sang bốt gác quân sự ở bên cạnh và gọi người ở đó ra.

Tôi vung tây vung chân ra hiệu, tìm cách giải thích cho người lính da trắng xa lạ hiểu là mình vừa tìm thấy một chiếc nồi biết bay. Ông ta dường như không hiểu tôi, nhưng sau một lát thì gọi người chỉ huy ra, người này biết nói một ít tiếng Việt và tôi có thể trình bày ngắn gọn cho ông ta điều mình muốn nói.  

Chúng tôi cùng nhau đi đến chiếc nồi bây giờ đang nằm im lìm và vô tội, lấm đầy bụi đường. Hai người lính đảo mắt nhìn nó và tôi thấy vẻ mặt vốn đã tái của họ bây giờ càng trở nên nhợt nhạt hơn. Cả hai hốt hoảng cùng nhìn tôi, tóm chặt lấy cánh tay phải tôi, kéo tôi chạy thật nhanh khỏi thứ đồ vật này. Đó là một quả lựu đạn điếc.  

 

Giàu mà vẫn nghèo

Bởi tình hình đối với dân thường ngày càng trở nên căng thẳng hơn, gia chủ của tôi quyết định rời khỏi thành phố đi về hướng Nam với tất cả các đồ đạc mà họ có thể mang theo. Bản thân tôi thì đằng nào cũng không muốn đi về hướng Nam nên đã chia tay họ và tìm một chỗ làm mới.  

Chủ mới của tôi là một người đàn ông người Hoa già và giàu có, vợ của ông trẻ hơn ông rất nhiều, bà này có gốc gác nửa là Bồ Đào Nha, nửa là người Hoa. Ở mặt tiền của ngôi nhà bà ta có một cửa hiệu nhỏ. Ba người con trai gần như đã trưởng thành, tuy nhiên đều chưa lập gia đình và sống ở nhà. Gia đình họ chẳng thiếu thốn thứ gì, tôi có cảm giác dường như cuộc sống ở đây cứ tiếp tục diễn ra một cách bình thường.

Trong ngôi nhà bày biện khang trang chủ nhà cho đào hai hầm nhỏ làm kho dự trữ, trong đó chứa đầy các loại các thực phẩm có thể bảo quản được lâu dài.  

Ở sân sau còn có một giếng nước riêng để có thể lấy nước sạch từ đó, đây quả là một xa xỉ phẩm.  

Trong đội ngũ gia nhân có một người đàn ông duy nhất là một ông già lưng còng với một bộ mặt không bao giờ biểu lộ cảm xúc, bao quát toàn bộ công việc quản gia. Ông tên là Sơn. Ông là một người đầy tớ trung thành của gia đình, phục vụ ở đây từ thuở còn tấm bé, tôi cảm thấy sự tự hào của ông khi ông kể về điều này. Dưới sự giám sát nghiêm ngặt của ông, tôi đã học được rất nhiều điều. Nếu trong lúc làm bếp tôi mắc phải một lỗi nào đó (may mắn là điều này hiếm khi xảy ra), chẳng hạn như rau thái không chuẩn hay món thịt nấu chưa chín, ông trừng phạt bằng cách bắt tôi xòe các ngón tay và dùng đũa quất vào đó. Tôi chấp nhận những đòn hạ nhục nho nhỏ này, bởi vì ông cũng tỏ lời khen ngợi mỗi khi tôi làm được việc. Từng bước, từng bước tôi học thêm nhiều điều mới mẻ.

Ông chủ của chúng tôi thỉnh thoảng có những hành vi khá kỳ quặc. Một khi nổi hứng, ông ta ra lệnh nấu những món thật ngon, nhưng chẳng bao giờ ăn, mà chỉ để ngắm. Có một ngày theo nguyện vọng của ông chúng tôi chế biến một món cá cực ngon. Ba ngày liền ông yêu cầu tôi bày món cá này lên mâm và tỏ ra rất ưng ý, nhưng mỗi lần sau đó ông lại bảo mang nó xuống bếp trở lại để chúng tôi bảo quản giữa các thanh nước đá. Trong thời gian đó chúng tôi chỉ ăn các cục cơm nếp vắt chấm với nước tương. Chỉ trước khi con cá bắt đầu thiu, ông ta mới cho phép cả nhà ăn nó, nhưng riêng ông lại không hề đụng đũa.  

Lúc tôi hỏi ông Sơn tại sao ông chủ lại ứng xử kỳ quặc như vậy, ông chỉ lắc đầu và nói:  "Ông chủ nhà ta bị trời hành. Ông ấy có tất cả những gì người đời thèm muốn, nhưng lại không thể thưởng thức chúng".  

Hành vi ứng xử của ông chủ là trải nghiệm kỳ lạ nhất mà tôi có được trong thời gian sống ở gia đình này. Nhiều năm sau tôi vẫn còn phải tự hỏi tại sao một người chẳng thiếu thứ gì để hưởng thụ, vậy mà chẳng bao giờ được toại nguyện.  

- 3 -

Cái chết đến trên bốn chân 

Cả ở nơi đây tôi cũng chỉ nhận được một đồng tiền lương ít ỏi, nhưng tôi luôn được no bụng và không phải ngủ ngoài trời. Một trong những công việc của tôi là đi chợ mua thức ăn. Để làm việc này tôi được giao một khoảng tiền nhất định. Tuy nhiên tôi quyết định những khi mua được thực phẩm với giá rẻ hơn mức bình thường do biết cách mặc cả thì sẽ giữ lại cho mình số tiền đã tiết kiếm được. Như vậy tôi thấy công bằng hơn.

Trên chợ vào buổi sáng này chỉ có ít người qua lại, trong đó có mấy người lính Pháp mang theo súng dài. Tôi bước đi nhịp nhàng, trên vai là chiếc đòn gánh, một đầu là một thúng rau quả tươi, ở phía thúng đầu kia là hai con gà đang sống, chân buộc túm vào nhau.  

Tôi đã kết thúc việc mua hàng cho ngày hôm nay và đang trên đường về nhà thì bỗng nhiên có tiếng thét át hẳn cả tiếng trò chuyện của những người bán hàng.  "Chạy đi, nhanh lên! Nó bị hóa dại đấy! Tránh nó ra!", nhiều giọng nói hấp tấp lẫn vào nhau. Tôi không biết những tiếng gọi này dành cho ai, chỉ khi có mấy người đàn ông và đàn bà sợ hãi chạy qua chỗ tôi và xô tôi suýt ngã xuống đất, tôi mới nhận ra nguyên nhân của cơn hoảng loạn bất ngờ này: một con chó mực.  

Lao tiếp một vài mét đến trước mặt tôi thì nó dừng lại, dương mắt nhìn vào tôi chòng chọc. Nó không lớn lắm, tiếng thở hồng học của nó trộn lẫn trong tai tôi với tiếng tim của chính tôi đang đập dồn dập. Tôi chỉ có một giây lát để kịp để ý đến dãi nhớt đang nhỏ lỏng tỏng từ hai bên mõm nó và nghe được giọng một người đàn bà gọi tôi:  "Chạy ngay đi, bé ơi! Chó dại đấy!" Tôi không hiểu được chó dại có nghĩa là gì, nhưng biết đây là điều chẳng có gì tốt lành. Bỗng dưng con vật chồm vào tôi. Bị bất ngờ bởi đòn tấn công này, tôi ngã sụp xuống đất và hét lên kinh hãi khi hàm răng sắc nhọn của nó cắm xuyên qua lớp quần vải vào bắp chân trái của tôi.

Tôi cảm thấy răng của con vật đã ngoạm sâu vào đến xương ống chân và thét lên kêu cứu vì quá đau đớn. Ba người đàn ông cầm gậy chạy tới và vụt lia lịa vào con chó cho đến khi nó rời khỏi tôi. Con vật lại tìm được nạn nhân tiếp theo và cắn vào cổ tay của một trong mấy người đàn ông. Người này hét lên, tìm cách giãy ra thì có một tiếng súng nổ. Một người lính Pháp đã bắn chết con chó và cứu chúng tôi khỏi con quái vật này.  "Ta phải đốt nó ngay lập tức", những người đàn ông đứng vây quanh con vật đã chết rồi.  

"Trong phố có mấy người bị cắn rồi, trong đó có ba người ngoại quốc. Và bây giờ thêm hai người này...", một người đàn bà nói.

Hoảng loạn và đau đớn, tôi ném đại đám rau quả và hai con gà bị rơi vào thúng. Tôi chỉ muốn trở về nhà, thật nhanh.  

 

Cỏ điên

Trước khi xem xét vết thương, tôi vá lại chiếc quần. Bốn lỗ sâu trên ống chân của tôi hầu như không chảy máu và cơn đau điếng trước đó cũng đã dịu xuống. Tôi lại làm những công việc thường nhật mà không kể gì về sự việc đã xảy ra vì sợ sẽ bị khiển trách.

Những ngày đầu tiên diễn ra khá bình thường. Tôi tiếp tục tìm cách quên đi các cơn đau. Chỉ đến bữa ăn tối chung với ông bà chủ vào ba ngày sau đó - khi không có khách chúng tôi vẫn ăn chung cùng nhau - tôi không thấy ngon miệng. Tôi có cảm giác khó ở, gây sốt. Ngoài ra tôi còn bị buồn nôn. Bà chủ điểm tĩnh bảo tôi đi ngủ và nói rằng với một cô gái ở lứa tuổi của tôi đây là một chuyện bình thường. Có thể là tôi sắp hành kinh, một điều mới mẻ đối với tôi.  

Đêm khuya bỗng dưng những cơn đau xoáy óc và cơn khát cồn cào đánh thức tôi dậy. Tôi đứng dậy, rót cho mình một cốc nước trà, nhưng không sao uống nổi được một ngụm. Cổ của tôi như bị thít lại. Để không đánh thức ai, đặc biệt là ông Sơn cũng ngủ trong gian bếp ở ngôi nhà ngang như tôi, tôi lại đặt mình xuống giường, nhưng suốt đêm tôi bị khát nước, bất an và thường xuyên trằn trọc, trở người qua lại.

Vào sáng sớm tôi phải dậy để chuẩn bị cho bữa ăn sớm. Ông Sơn đã đứng sẵn trong bếp khi tôi lảo đảo đi vào, các khớp xương đau nhức nhối.  

Ông chào tôi như mọi lần và mở rèm cửa để cho ánh nắng lọt vào thì tôi hét lên.  

"Cháu làm sao vậy?", ông hỏi một cách ngạc nhiên và lo lắng.  

"Ánh sáng làm cho mắt cháu nhức, cháu khát cháy cổ mà chẳng uống được một giọt nước nào. Suốt cả đêm, cháu đã bị như vậy", tôi trả lời và lấy hai bàn tay che mắt.  

Ông Sơn rót cho tôi một chén nước trà mới pha, khi tìm cách uống thì tôi nhận ra cổ của mình còn bị thít chặt hơn nữa. Tôi có cảm giác bị ngạt thở và hoảng hốt tới mức đánh rơi chén nước xuống đất. Khi ông Sơn cúi xuống để nhặt các mảnh vỡ thì tôi ngập ngừng nói:

"Ông ạ, cách đây ba ngày cháu bị một con chó cắn ở chợ. Có lẽ cháu bị ốm là vì vậy. Cháu xin lỗi."  

"Bị chó cắn? Thật sao? Ở đâu?", ông hỏi, đột ngột trở nên chăm chú.  

Tôi thấy trán ông toát mồ hôi khi chỉ cho ông xem vết thương.  

"Sao lại có thể được... Cháu ở lại đây! Ngồi xuống và chờ ông ở đây!", ông hạ lệnh cho tôi rồi chạy ngay sang ngôi nhà chính, nhanh hết mức tuổi tác của ông cho phép. Sau ít phút ông quay lại cùng ông chủ và ba người con trai của ông chủ. Họ dừng lại ở cửa bếp và tôi nghe ông Sơn hạ lệnh.  

"Con bé chẳng còn nhiều thời gian nữa. Cháu cầm mười đồng chạy ngay đến ông bác sĩ người Tây. Bảo ông đưa số thuốc tiêm cần thiết. Như vậy vẫn chưa đủ đâu, nhưng tạm thời cứ mang chừng ấy về đã. Rồi chạy đến chỗ ông thầy Đông y và lấy cho bác một thang cỏ điên. Cháu đưa ông ấy một trăm đồng, vì từ ngày mai ông ấy còn phải đến đây chín lần. Và bây giờ thì giúp bác trói con bé vào giường. Cẩn thận đừng để con bé cào cấu hay cắn, bệnh dại là bệnh truyền nhiễm đấy!"  

Cánh cửa mở rồi lại khép. Chỉ có ông Sơn đến cạnh tôi và nhìn tôi một cách bình thản. Ba người còn lại đứng sau lưng ông, trên tay cầm các sợi dây thừng dài. Mặc dù vô cùng khiếp sợ, tôi đặt hết niềm tin vào ông.  

Trong lúc dìu tôi đến giường gỗ ông nói với tôi, với một giọng bình thản cố ý:  

"Này cháu, bây giờ bác sẽ cho cháu uống thuốc, rồi cháu sẽ khỏe trở lại, nhưng trước tiên bác và các anh phải buộc cháu vào giường đã." Ông nói chưa dứt câu thì hai bàn chân của tôi đã bị trói chặt. Tôi tìm cách nhỏm dậy nhưng bốn bàn tay vạm vỡ ngay lập tức đã đè tôi dúi xuống, nhanh đến mức đầu của tôi bị đập bộp vào mặt giường gỗ. Bây giờ hai bàn tay tôi cũng bị trói nghiến lại.

Ông Sơn nói tiếp với tôi:  "Cháu ạ, có những hình thù khiếp đảm sẽ hiện lên trước mắt cháu, nhưng cháu hãy cố nhớ là chúng không có thật. Bất cứ điều gì xảy ra đi nữa, chúng chẳng hề có thật! Chỉ khi bệnh dại đã rời khỏi cơ thể cháu thì những ảo ảnh này mới biến đi. Cháu hiểu chưa?".

Vết thương của tôi bây giờ có cảm giác nhồn nhột rất kỳ cục.  

"Cháu hiểu chưa?", ông Sơn nhắc lại. Tôi khẽ gật đầu, do sợ hãi hơn là hiểu.  

Các lô thuốc tiêm của vị bác sỹ người Tây đã được đem về. Ông Sơn tiêm cho tôi ba mũi lên thành bụng. Tiếp theo đó người con trai của ông chủ, người ướt đẫm mồ hôi do chạy, mang về thang thảo dược đã được ông thầy Đông y bào chế đựng trong một bình thủy tinh lớn. Ông Sơn đến chỗ tôi, một tay cầm chiếc bình không đậy nắp, bên trong là một thứ chất lỏng sền sệt, đục ngầu, bốc mùi hôi thối, một tay cầm một chiếc phễu.  

Người ta đè mạnh lên má tôi, mở vòm miệng đủ rộng để ông Sơn có thể dùng phễu rót thứ chất lỏng đã pha chế vào họng tôi. Sự kháng cự của tôi hoàn toàn vô hiệu. Tôi cảm thấy luồng chất lỏng chạy xuống dạ dày của mình. Tôi nhắm mắt lại cam chịu. Tất cả yên tĩnh lại. Bây giờ cuộc chiến đấu của tôi để mạnh khỏe trở lại đã bắt đầu.

Tôi không biết có bao nhiêu thời gian đã trôi qua cho tới khi tôi bắt đầu nghe thấy một tiếng gõ nhẹ trong đầu mình. Tiếng gõ sau đó chuyển thành tiếng rít. Tôi mở mắt ra. Dưới chân tôi có vật gì đó động đậy. Tôi rùng mình khiếp sợ khi nhận ra nó. Một con rắn khổng lồ đang quấn lấy tôi và tìm cách bóp nát thân thể của tôi, trước khi nó há to mõm để nuốt chửng lấy tôi. Sau đó tôi nghe thấy tiếng la thét thất thanh của những con khỉ giận dữ chõ thẳng vào tai tôi. Những chiếc mõm hổ to tướng mở hoác trước mặt tôi. Tôi muốn chạy trốn, nhưng thấy mình đã bị trói chặt và thấy vô cùng tức giận. Tại sao người ta lại trói tôi? Tôi nghe rõ cả những tiếng đập thình thịch của trái tim hoảng loạn trong lồng ngực. Tôi chỉ có một mình! Không có ai ở đây để giúp đỡ tôi. Bất kể tôi mở hay nhắm mắt, những hình thù ngày càng trở nên quái đản hơn đẩy tôi vào trạng thái cuồng điên, khiến tôi liên tục rú lên vì tức tối và kinh hãi.

Phải mấy tiếng đồng hồ sau những hình ảnh này mới thoát khỏi đầu óc và thân thể đã kiệt sức vì giãy dụa của tôi. Khi mở mắt, tôi nhìn thấy trước tiên là gương mặt lo âu của bà chủ, sau đó là ông Sơn, ông dùng khăn lau trán cho tôi và lần đầu tiên mỉm cười âu yếm với tôi.  "Vậy là cháu đã qua được cơn nguy khốn rồi. Bây giờ cháu đã lại là cháu", tôi còn nghe được lời ông nói, trước khi chìm sâu vào giấc ngủ do kiệt sức.

Chín ngày liền tôi tiếp tục uống thứ thuốc nước bốc mùi thối mà một người đàn ông già hàng ngày mang đến cho tôi. Mỗi lúc như vậy, để đề phòng, người ta lại trói tôi, tuy nhiên không còn lần nào tôi bị lên cơn mê sảng nữa.  

Về sau tôi được biết vào thời gian này ở Bắc Ninh có bảy người chết vì bị chó dại cắn. Hai người ngoại quốc là lính lê dương có vợ là người An Nam được cứu sống. Họ hẳn đã phải đi qua một thứ địa ngục tương tự như tôi, một cô gái mới mười lăm tuổi đời, để tránh cái chết gần trong gang tấc.  

 

Một phen thay đổi sơn hà

Mùa mưa năm nay với những trận mưa xối xả, kèm theo những cơn bão dữ dội, đã hủy hoại mùa màng và khiến cho bao người trở nên trắng tay. Ở nhà ông bà chủ của tôi số lương thực dự trữ cạn dần. Khi nạn đói lan tràn khắp miền Bắc, có những người tị nạn kiệt sức vào thành phố kiếm ăn kể rằng họ đã phải tuyệt vọng chứng kiến cảnh các toán quân Nhật Bản trước khi rút lui đã ném xuống sông số gạo mà chúng chưa tiêu thụ hết. Vào thời gian này tôi nhìn thấy xác trẻ em vun thành đống ở trước mấy ngôi nhà.

Một quả bom nguyên tử được ném xuống Hiroshima, một sự kiện đã dẫn tới việc đầu hàng của Nhật Bản và qua đó là sự thoái vị của Hoàng đế của chúng tôi. Một thời gian ngắn sau đó những người lính Trung quốc mặc quân phục màu xanh da trời, phần lớn đi chân đất, hành quân đến từ phương Bắc để giải giáp quân Nhật. Những vụ hiếp dâm và cướp bóc, nếu vẫn chút gì đó sót lại để cướp, diễn ra như cơm bữa theo các lời đồn đại. Những câu chuyện kể sởn gai ốc này là lý do để bà chủ của tôi, theo lệnh của chồng bà, cùng với các người con và ông Sơn, rời khỏi nhà đi về hướng Nam để chờ tới lúc yên hàn. Họ thuê một chiếc xe buýt cho chuyến hành trình. Trong túi họ chứa đầy đồ trang sức, vàng và tiền, nhiều tới mức như tôi chưa bao giờ thấy vậy trong đời. Những đồ vật quý giá khác không mang theo được thì những người con trai đem giấu kỹ dưới lòng giếng.  

Trong ngôi nhà lớn, chỉ một mình tôi ở lại với ông chủ độ tuổi đã cao nên không kham nổi chuyến đi xa. Ông thậm chí còn không nghĩ tới việc rời căn nhà, bởi nếu sau đó có ai khác bước vào ngôi nhà bị bỏ hoang thì sẽ được coi như là người chủ mới. Và tôi muốn giữ lời hứa của mình là sẽ tiếp tục phục vụ ông một cách trung thành, như ông Sơn đã làm từ trước tới nay, và coi đây cũng là một dịp đền ơn cho những thứ thuốc men mà ông đã bỏ tiền mua để chữa bệnh dại cho tôi.  

Trong phạm vi khả năng của mình tôi đảm đương các công việc nội trợ giờ đây đã trở nên đơn giản hơn nhiều. Hầu như ngày nào vào buổi trưa chúng tôi cũng chỉ cùng nhau ăn một món cháo lẫn với thịt lợn sấy khô, được gọi là "ruốc". Buổi tối đến ông đi ngủ sớm. Ông thường nói với tôi rằng thời buổi tệ hại này chẳng mấy chốc sẽ trôi qua; không nghĩ ngợi gì nhiều tôi tin vào lời của ông.  

Vào tháng chín, chẳng có dấu hiệu nào báo trước, tôi bắt đầu có hành kinh. Bởi vì không có quần lót nên tôi đã cho dòng máu sẫm đen chảy xuống đất và rửa người nhiều nhất có thể. Sau ba ngày thì tôi hết hành kinh. Sau đó tôi chẳng hề cảm thấy mình nữ tính hơn được chút nào, và tôi vẫn tiếp tục căm ghét đôi vú trông như hai quả chanh non còi cọc của mình.

Việt Nam giữa chừng được tuyên bố độc lập lần thứ hai, lần này bởi một người đàn ông có tên Hồ Chí Minh. Với tư cách là tân nguyên thủ quốc gia mà xe ô tô được hộ tống bằng xe đạp, ngay từ mùa xuân 1945 ông đã kêu gọi người dân đi phá kho thóc Nhật để khắc phục nan đói và chống lại kẻ xâm lược. Nhiều người, cả đàn ông và đàn bà, không còn gì để mất ngoài tính mạng của mình và của con cái họ, quyết định chọn ông và hoàn toàn tin tưởng đi theo ông. Họ đặt toàn bộ hy vọng của mình vào phong trào Việt Minh có biểu tượng là lá cờ đỏ sao vàng giờ đây đang hiện diện gần như khắp nơi trên miền Bắc. Những lá cờ nhầm hiệu triệu ý chí của người dân thay đổi và cải thiện hoàn cảnh của mình.  

 

Bình yên trong hỗn loạn

Đối với tôi cũng như với toàn thể người dân bản xứ, việc sống dưới rất nhiều thế lực chiếm đóng và chính phủ khác nhau đã gần như trở thành một thói quen. Họ thẳng tay thực hiện quyền lực, và tùy theo ý thích, khi thì để cho dân chúng yên ổn, khi thì o ép hết mọi bề. Cuộc sống hàng ngày của tôi giới hạn trong việc sống ẩn mình cùng ông chủ và né tránh các xung đột có thể bùng nổ hay các tranh chấp dẫn đến xung đột. Tôi biết là chúng chỉ mang lại đau khổ. Tuy nhiên khi nổ lực để thích nghi với hoàn cảnh, tôi vẫn luôn có những cảm xúc lẫn lộn, bởi tình hình căng thẳng chung đang đè nặng lên tâm trí tôi và cả thành phố; không lúc nào tôi có thể biết chắc ai là người muốn điều lành và ai có ý định làm điều dữ. Như tất cả mọi người tôi sống trong niềm hy vọng chẳng bao lâu nữa những ngày bình yên hơn sẽ đến và những bóng đen bất an hiện tại sẽ được xua tan.

Ông chủ của tôi tránh không ra ngoài, còn tôi thì run rẩy đi ra phố để mua thực phẩm cho hai người vào những ngày rét mướt trong tiết lạnh đầu năm, vừa hy vọng, vừa lo âu đón chờ những tin tức mới nhất.

Giờ đây nhiều lần xuất hiện những người Âu gầy gò, nhợt nhạt đội mũ kê pi và những người lính Phi châu cao lớn lừng lững với những cặt mắt trước nay vẫn khiến tôi khiếp sợ ngồi trên các đoàn xe vận tải đi vượt qua người đi bộ. Đồng thời bộ đội Việt Nam với mũ cối màu xanh và quân phục màu nâu đỏ, đeo súng hay cầm gậy tre diễu hành qua thành phố, trên tay là quốc kỳ màu đỏ sao vàng.  

Thực tình tôi cảm thấy thản nhiên trước mọi việc, điều cốt yếu là làm sao có đủ cái ăn và không bị ai quấy nhiễu. Tình hình trở lại yên ổn trong mấy tháng trời. Ban ngày trên đường phố người ta lại nghe tiếng rao của những người bán hàng cần mẫn, đêm đến những hành khúc cách mạng mới mẻ vang vọng xa xa. Những hàng cây phượng vĩ to lớn nở hoa đỏ rực. Nếu giờ đây người thầy bói già dạo xưa đang đứng trước mặt tôi, hẳn tôi sẽ hỏi ông liệu sắc đỏ này là tượng trưng cho hạnh phúc hay là màu của máu.

 

Một cốc cà phê

và một kiếp người 

Trên những đường phố gần như vắng tanh ở Bắc Ninh giờ đây bỗng nổ ra các trận giao tranh. Những tiếng nổ và tiếng súng bắn ở gần, tiếp theo đó là tiếng đại bác đáp trả khiến cho tôi khiếp sợ. Mỗi lần đạn bắn trúng vào mái tôn ở ngôi nhà ngang, chiếc quạt mà tôi cầm trên tay để quạt cho ông chủ trong phòng khách lại run bắn lên.

Mặc dù bề ngoài không hề có biểu hiện gì hoang mang, thay vào việc ngồi yên như mọi khi, ông lại đi lấy một chiếc đệm bông từ trên gác xuống, chắn dọc trước cửa sổ. Ngồi trên một chiếc gối thêu trước tấm đệm, ông lần đọc trong một cuốn sách.  

"Cháu đi pha cho ông một cốc cà phê", bỗng dưng ông nói với tôi.  

"Nhưng mà thưa ông... họ đang bắn ở ngoài kia! Cháu không thể đi được, cháu đang sợ!", tôi trả lời.  

"Hãy làm như ông vừa bảo", ông nói với giọng nghiêm khắc và cáu kỉnh, mãi đọc trong cuốn sách hơn là bạn tâm đến tình trạng tâm lý của tôi.

Chưa bao giờ tôi lo lắng như lúc này. Đạn súng máy vãi như mưa xuống mái nhà của chúng tôi. Với ý nghĩ rằng mình sẽ chết ngay tại chỗ, tôi chạy xuống nhà bếp, giữa những làn đạn chết chóc bay chiu chíu ở xung quanh. Tay run bần bật, tôi nhóm lửa nấu nước và tìm cách tập trung vào công việc để quên đi nỗi sợ mà không được. Toàn thân run rẩy, tôi mang cốc cà phê đầy vừa pha xong chầm chậm đi qua sân, thay vì chạy nhanh như trước đó, nước mắt dâng trào.  "Thưa ông, cà phê của ông đây ạ", tôi thở phào nói khi đặt chân vào phòng khách. Không ai trả lời tôi. Liệu ông chủ đã đi ra ngoài rồi ư? Đột nhiên tôi đánh rơi chiếc cốc. Phía giữa chiếc đệm đã nhuộm màu đỏ. Tôi thấy ông chủ giữa một vũng máu, người gập về phía trước, vẫn còn ngồi trên chiếc gối. Ông đã bị một viên đạn bắn vào lưng.

Không kịp đắn đó gì về hành động của mình nữa, tôi chạy ra cửa và mở tung nó ra. Như bị mất hồn, tôi la hét trên đường phố cầu cứu. Tôi không biết là trận đánh đã trôi qua và xung quanh trở lại im ắng như thể chẳng có gì xảy ra.  

Những người lính Pháp đi đến chỗ tôi. Họ mang ông chủ vẫn đang còn thoi thóp thở của tôi đi. Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy ông.  

 

Bị số phận bỏ mặc 

"Phải chăng mỗi người đều chỉ là một 'kẻ sống sót'?" (Loan)

Ba đêm trôi qua. Tôi ngủ li bì, không tỉnh giấc lấy một lần, cho đến khi hồi lại sức. Chỉ còn lại một mình trong ngôi nhà, tôi luôn ở trong trạng thái sợ hãi. Tôi không còn dám đi ra ngoài, kể cả xuống bếp.  

Tôi thường khóc. Tôi rất nhớ mẹ. Nhớ bàn tay bình thản của bà hẳn lúc này sẽ dịu dàng lau nước mắt cho tôi và nụ cười hàm ý rằng:  "Con đừng sợ, rồi mọi chuyện sẽ trở nên tốt lành".  

Vào sáng sớm tinh mơ ngày thứ tư có tiếng chân đạp mạnh vào cửa ra vào và tiếng động rầm rầm. Lính lê dương Pháp đổ xô vào khám xét nhà, trước khi họ dẫn tôi ra ngoài, các họng súng chĩa thẳng vào tôi. Họ đã nhận được lệnh tản cư thành phố.  

Không xa ngôi nhà có một chiếc xe tải lớn đỗ sẵn, trên đó có mặt nhiều người đàn bà, trẻ em và người già. Tôi trèo lên xe.

Hình ảnh cảnh cửa nhà mở toang là hồi ức cuối cùng của tôi, áo quần trên người là tài sản duy nhất mà tôi mang theo.  

Chẳng hề có ai giải thích một điều gì với chúng tôi. Và không một ai trong chúng tôi dám hé miệng đặt câu hỏi. Suốt cả ngày chúng tôi đi trên những con đường gập ghềnh theo hướng Đông Nam. Trong những lần giải lao ít ỏi chúng tôi không được phép xuống xe. Trong khi xe chạy, các bà mẹ có con nhỏ giơ trẻ có nhu cầu lên thành xe để chúng đái ỉa qua đó.   Trẻ sơ sinh thì khóc thét inh ỏi cho đến lúc kiệt sức thiếp đi.  

Buổi tối xe dừng lại nhưng người ta hạ lệnh cho chúng tôi phải ngồi yên.  

Chúng tôi tiểu tiện vào lòng bàn tay để không bị chết khát. Đầu tiên là trẻ em uống, sau đó là người già, và cuối cùng, như luôn luôn vẫn thế, là chúng tôi - đàn bà và con gái.

Vào sáng hôm sau chúng tôi lại đi tiếp, vẫn chẳng hề được cho ăn cho uống, nhưng lại bị họng súng chĩa vào đầu. Tôi chỉ muốn hất tung những tiếng thét căm tức và phẫn nộ lên trời cao, nhưng không sao nói nên lời, bởi tôi nhận thấy có nhiều người còn tuyệt vọng hơn cả tôi cũng phải nuốt nước mắt và im lặng.

Chúng tôi bỏ những cánh đồng lúa lại phía sau và đi vào thành phố lớn Hải Phòng. Người ta ra lệnh cho chúng tôi xuống xe. Không hề có một lời giải thích nào, những người lính cùng các chiếc xe cam nhông biến đi, nhanh chóng hệt như lúc họ đến, bỏ mặc chúng tôi đứng đó.  

Tại sao họ lại mang chúng tôi đến đây? Rồi số phận của chúng tôi sẽ ra sao?  

Những người bị bỏ rơi cùng tôi chầm chậm tách nhau ra mà không nói nhiều lời. Tôi cũng bỏ đi mà không biết phải về đâu. Năm ấy tôi gần mười bảy tuổi.  

 

Một cuộc gặp gỡ lặng lẽ

Tôi cân nhắc. Đầu tiên là tôi phải tìm ngay một việc làm, bởi chỉ có tiền thì tôi mới có thể sống nổi.  

Hải Phòng là một thành phố rất sôi động và có nhiều gương mặt khác nhau. Khắp nơi đều thấy sự hiện diện của nhà binh. Các bà xơ Công giáo đi thành nhóm qua các dãy phố bị phá hủy, những đống đổ nát gợi nhớ cách đây mấy tháng đã diễn ra các cuộc giao tranh ác liệt ở đây. Mấy chiếc thuyền mành với cả các gia đình trên đó đi vào đến tận trung tâm thành phố trên các nẻo đường thủy.

Giao thông ở đây tấp nập hơn nhiều so với các khu vực nội địa. Dọc đường men theo các cầu cảng khổng lồ, nơi có các con tàu lớn chạy động cơ hơi nước đang chuẩn bị nhổ neo, tôi gặp những người đủ các màu da và chiều cao. Ở hầu như mọi góc phố đều có các tu sĩ Phật giáo đi khất thực.  

Suốt cả một ngày trời tôi đi hỏi xin việc làm tại một khu phố ngay gần cảng. Tôi chỉ nhận được các lời từ chối cho đến khi tới một tiệm bán đồ uống và gà rán cả ngày lẫn đêm. Bà chủ là một người đàn bà có thân hình tròn trĩnh xuất thân từ Lào, góa chồng và sống cùng với người em gái và cô con gái ở góc sau của cửa hàng. Em gái bà làm công nhân trong một xưởng dẹt lụa, cô con gái thì có một quầy ăn ngoài đường để kiếm sống. Bà đồng ý nhận tôi vào làm việc. Buổi tối tôi phụ trách việc bán gà rán và được trả công bằng các bữa ăn và chỗ ngủ.

Sau khi tôi đã rửa qua người, bà chủ trao cho tôi một bát mì nấu với thịt gà, tôi đang gần như chết đói nên ăn ngấu nghiến một lát hết ngay. Ngay trong đêm đó tôi sẽ bắt đầu làm việc ngay. Trong khi ăn tôi để ý thấy trên tường tấm ảnh của một người đàn ông với gương mặt gầy gò. Tôi hỏi bà chủ với giọng cảm thông:  "Thưa bà, liệu đây có phải là ông nhà đã quá cố?". Bà chủ lắc đầu cười:  "Không, đây là ông Hồ Chí Minh, Quốc trưởng mới của chúng ta".  

Lần đầu tiên tôi nhìn thấy người đàn ông mà đa số dân chúng đặt hy vọng của mình vào đó, với ước mơ chẳng mấy chốc sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn, đất nước không còn thế lực ngoại bang chiếm đóng.  

 

Nhầm đường

Lúc đầu tôi rất khó khăn trong việc thích ứng với nhịp điệu công việc mới, bởi mặc dù làm việc vào buổi đêm song ban ngày tôi lại hầu như không thể chợp mắt. Những lời nói của ông thầy bói không để cho tôi yên. Rồi tôi sẽ sống ở nước ngoài, ông từng nói như vậy. Và bởi vì tiên đoán của ông về việc tôi sẽ nhiều lần thoát khỏi cái chết trong gang tấc cho tới nay đều nghiệm đúng, dần dần tôi cảm nhận rằng đó chính là số phận của mình. Điều này có nghĩa là tôi sẽ phải đi tiếp để có được sự yên ổn mà tôi đang tìm kiếm.  

Chỉ sau vài tuần, tôi ngả theo tiếng gọi thoi thúc từ bên trong này. Nhưng mà đi về đâu? Tôi loại trừ hai mục tiêu Nam Định và Hà Nội có thể dễ dàng đi đến bằng tàu hỏa, bởi các dấu vết mà cô tôi để lại ở đây còn quá mới. Còn đi tiếp về hướng Nam thì không thể vì ở đó có anh cả của tôi. Và như vậy thêm một lần nữa tôi quyết định đi tìm vận may ở phía Bắc.

Ở chặng đầu tiên tôi men theo con đường dọc theo vịnh Hạ Long, lúc thì đi bộ, lúc thì ngồi trên xe kéo, lúc thì lại bám đuôi một chiếc xe buýt. Vịnh Hạ Long đẹp như trong mơ, tôi ngắm nhìn không thoả mắt. Trên những bãi cát dài ngư dân đem phơi các hải sản đánh bắt được. Những người khác thì lênh đênh đánh cá ngoài khơi trên những chiếc bè mỏng mảnh được trét kín nước bằng bắc ín. Những chiếc thuyền mành lớn với buồm nâu lui tới chậm rãi giữa các ngọn đá vôi trắng mọc lên từ mặt nước đẹp như tranh vẽ.

Trong mấy tháng, cùng với những nữ công nhân khác, tôi làm việc quần quật tại một mỏ than ở Hồng Gai để đổi lấy đồng lương chết đói. Than là một trong những nguyên liệu xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam, bên cạnh những tài nguyên khoáng sản khác cũng như gỗ quý và hải sản. Sau một thời gian quan sát, tôi thấy có nhiều người đi thuyền nhỏ sang các đảo lân cận để cũng khai thác than ở đó, nhưng được lương cao hơn, một hôm tôi quyết định đi tới đó.  

Giờ tôi đã liều lĩnh và mưu mẹo hơn, tôi giả vờ làm người khuân vác để lọt xuống một con thuyền. Khi bị kiểm tra trong chuyến đi, tôi khóc lóc cầu xin lòng thương hại vì lý do là trẻ mồ côi không có tiền nhưng nhất thiết phải đi tới đảo. Sau khi lau nước mắt, nụ cười thật tươi của tôi đã có tác dụng và người kiểm tra đã tha cho tôi.

Không may là tôi bị say sóng khá nhanh và nhận ra rằng mình không thể hàng ngày qua lại trên thuyền. Tôi chỉ ở lại có một đêm và sau đó lại làm một "người đi tàu lậu chính thức" để trở về đất liền. Sáng hôm sau trên thuyền tôi lại gặp người kiểm tra hôm trước, lần này ông ta mỉm cười để cho tôi đi cùng mà không hỏi điều gì.  

Tôi tiếp tục đi. Chuyến hành trình dẫn tôi lên đến tận Cao Bằng, một vùng núi cao rừng rậm ở phía cực Bắc. Nhiều người mà tôi gặp dọc đường đi cho tôi đồ ăn. Một ngày tôi trò chuyện với một gia đình sống trên vùng cao nguyên và kể cho họ nghe về kế hoạch xuất ngoại của tôi. Tất cả họ đều cười phá lên chế nhạo tôi.

"Cô bé ơi, cô tới chốn này là bị nhầm to rồi! Ở trên này chỉ có toàn người Trung Quốc thôi! Cô có hiểu như vậy là như thế nào không? Ngay cả đi thuyền buồm qua vịnh cũng cực kỳ nguy hiểm, trên biển đầy rẫy bọn hải tặc! Chúng sẽ giết cô như ngóe ngay! Nếu như mà muốn xuất ngoại thì cô phải đi về hướng Nam!" Giờ thì tôi đã hiểu. Họ có lý. Có lẽ cho tới lúc này tôi chưa tìm được chỗ đứng của mình trên cõi đời này chỉ là vì mình đã đi nhầm hướng.  

Lập tức tôi quay trở lại và đi về hướng Hải Phòng bằng cách trốn chui lủi giữa những chiếc lồng gà phủ vải bạt trên một chiếc xe tải. Việc tìm cách rời khỏi đất nước mà không có một kế hoạch nào khiến tôi mất trắng nhiều tháng trời, nhưng tôi vẫn bất chấp. Ít nhất là bây giờ thì tôi đã biết mình muốn đi về đâu.  

 

Lời cầu nguyện rút gọn

Vào tháng giêng 1947 tôi trở lại Hải Phòng. Trên từng bước đi tôi phát hiện những đống đổ nát của một thành phố bị phá hủy, trên trời là các máy bay gầm rú, mà không tin nổi vào mắt mình. Đi ngược về hướng tôi là những gia đình mang vác theo mình mọi thứ của cải còn sót lại, lại có những gia đình hoàn toàn tay trắng. Trong khi các toán quân Pháp, lính nhảy dù và lính viễn chinh, rõ ràng là đang trong tình trạng báo động, diễu qua chúng tôi cùng các xe thiết giáp nối theo sau, mở ra trước đôi mắt rụng rời của tôi là cả một cảnh tượng tàn phá.

Thành phố tuyệt đẹp mà tôi từng bỏ lại sau lưng nay đâu rồi? Khu hải cảng hầu như chẳng còn lại gì. Tất cả chỉ là những đám tro tàn gạch vụn. Người dân đi đào bới trong các đống đổ nát, hoang mang tìm kiếm một thứ vật dụng nào đó. Tại trung tâm thành phố, trước những ngôi nhà chưa bị sụp hẳn, bên cạnh các cây đổ, người ta bày bán đồ gỗ. Một cửa hàng dường như bị cướp sạch đồ. Tôi bước vấp vào một con chó đã chết. Mùi cháy khét lẹt bám theo tôi. Liệu trong các đống đổ nát còn có xác người? Thời gian dường như ngưng đọng lại để tôi thu vào trí nhớ của mình những hình ảnh này cho mãi mãi về sau. Tôi không hề hay biết chiến tranh giữa Pháp và Việt Nam đã diễn ra đến mức ác liệt như vậy từ mấy tuần qua. Tôi không hiểu từ "chiến tranh" thực sự có nghĩa gì.

Một bà cụ có người nhà đã tản cư hết về vùng nông thôn cho tôi ở trọ cho đến lúc tìm được việc làm. Bà buồn bã kể cho tôi về các cuộc thảm sát tiếp nối nhau. Giọng nói đều đều của bà kể những điều khiến cơn giận dữ và phẫn nộ trào lên trong tôi. Từng chi tiết, từng lời của bà khiến lòng tôi tan nát. Mỗi một hình ảnh của sự tàn phá thế chỗ cho hình dung cứng nhắc trong đầu tôi cho tới nay về một giải pháp hòa bình cho các xung đột. Chầm chậm, như một liều thuốc độc, những lời kể của người đàn bà này thẩm thấu vào các giác quan của tôi và làm tan biến mọi ảo tưởng trong tôi. Tôi đã đi đến thực tại: chúng tôi đang ở trong một cuộc chiến, bản thân tôi đang ở ngay chính giữa nó, hoàn toàn bất lực.

Nhận thức này khiến tôi quy cuộc đời mình vào một công thức đơn giản: sống hay là chết. Trong chốc lát tôi hiểu rằng trong những lời cầu nguyện trước đây đối với tổ tiên, mình đã đòi hỏi thật vô lối khi xin được "sống trong hòa hình"; từ lúc này, tôi chỉ còn cầu xin "được sống sót".  

 

Một gương mặt quen thuộc 

Vào buổi tối bà cụ chia sẻ cùng tôi thức ăn của mình, cơm với canh cua và cá muối mặn. Sáng sớm hôm sau, sau một giấc ngủ sâu để lấy lại sức, tôi lên đường đi kiếm việc ngay. Lần này thì chẳng dễ dàng. Tám tiếng đồng hồ sau đó tôi vẫn chưa tìm được gì. Mà tôi cũng không phải là người duy nhất đi tìm việc làm. Những bà già gánh hàng rong đi qua các nhà, các gia đình có trẻ em, những người dân với vẻ mặt thất thần ngồi trước ngôi nhà đã bị phá hủy của họ, tất cả như những diễn viên trên sân khấu. Chỉ có điều là lần này phong cảnh đã được thay đổi.  

Tôi đã chực bỏ cuộc và quay trở về thì bắt gặp một gương mặt quen thuộc trên đường phố. Thời gian lúc ở Hà Nội tôi và chị Hoa đã từng mua vải của người đàn bà có vóc dáng thanh mảnh này để làm trang phục sân khấu. Dạo đó chị thường tỏ ra ưu ái khi bán hàng cho tôi. Chồng của chị làm nghề chụp ảnh, ở Hà Nội anh là người đã chụp cho tôi bức ảnh đầu tiên trong đời. Chị lập tức nhận ra tôi, chúng tôi vui mừng ôm chầm lấy nhau và cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi được gặp lại người quen ở một thành phố lạ.

Khi người chồng ra trận, chị tìm được chỗ ở tại nhà một người họ hàng gần; chị ngỏ lời mời tôi về sống cùng. Tôi đi theo chị về nhà, lòng thầm cám ơn số phận. Nơi chị ở chỉ cách đây mấy con phố, nhưng nằm ở hẳn ngoài khu vực bị ném bom.  

Ngôi nhà nhỏ xây mái bằng toát lên vẻ cởi mở, tôi nhanh chóng được đón nhận một cách thân thiện. Tại đây người nhà của chị người quen của tôi bán nước ngọt và thuốc lá cho lính Pháp mặc thường phục thường qua lại vào các buổi tối. Thỉnh thoảng tôi được phép giúp đỡ họ bán hàng và qua đó có dịp bồi bổ thêm vốn từ vựng tiếng Pháp của mình. Ngoài ra tôi còn kiếm thêm vài đồng bằng cách đi gánh nước thuê cho các gia đình khá giả, đôi vai của tôi bây giờ đã trở nên cứng cáp hơn dưới sức nặng của chiếc đòn gánh.  

 

Một bước sa chân

Vào một buổi sáng có người gọi tôi. Ở một phố không xa chỗ chúng tôi có người đặt nước. Với hai thùng nước đầy, tôi lên đường đến chỗ khách đặt, chẳng mấy chốc ngôi nhà tôi tìm đã hiện lên trước mặt, cao vượt lên những đống đổ nát xung quanh. Ngôi nhà trông như bị bỏ hoang. Tường bên ngoài lỗ chỗ những lỗ thủng lớn. Hai đứa trẻ chơi ở bên cạnh lối ra vào. Khi tôi hỏi có ai đặt nước ở đây, chúng chỉ lên phía trên, tầng bốn.  

Tôi đi vào. Khắp nơi mảnh thủy tinh rơi vãi trên các tấm trần nhà lớn bị đổ xuống và trên các đồ gỗ bị vỡ. Các bức tường phía trong cũng có những lỗ thủng lớn, từ đó người ta có thể nhìn ra ngoài. Chỉ có cầu thang là còn nguyên vẹn. Tôi hạ hai thùng nước xuống và nặng nhọc leo lên từ từ. Ở tầng bốn có một người đàn bà mảnh dẻ mở bức rèm tre thay cánh cửa cho tôi vào nhà. Chồng ba cần nước để tắm. Bà cám ơn, trả tiền rồi quay đi.

Phía cuối hành lang tôi phát hiện thấy một chiếc ban công nằm sát mấy căn phòng bỏ trống.  

"Từ trên cao này mà nhìn xuống thành phố thì thật tuyệt vời", tôi chợt nghĩ. Không ngăn được sự tò mò, tôi đặt hai chiếc thùng rỗng xuống nền nhà và từ từ đi tới phòng bên cạnh.  

Cánh cửa ra ban công chỉ có thể mở hé một nửa. Khi bước ra sân thượng nhỏ, tôi không thể tin nổi về những gì đang mở ra trước mắt. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một cảnh tượng như vậy. Bức tranh toàn cảnh của sự tàn phá át mất cảnh quan đậm sắc xanh của thành phố. Khói từ những đám cháy vẫn bốc ngút lên trời cao. Một nỗi buồn trĩu nặng đè lên tâm trí tôi. Tất cả mọi vẻ đẹp đều đã bị thẳng tay hủy diệt và chôn vùi dưới các đống đổ nát, vì sao lại có thể như vậy? Và tôi nữa, vì sao tôi lại có mặt ở đây? Phải chăng thực sự không còn một chốn bình yên nào cho tôi trên thế gian này, một nơi chốn mà ở đó tôi không còn phải nhìn thấy những cảnh tượng như trong giờ phút này?

Câu trả lời cho những câu hỏi này đến ngay sau đó. Chiếc ban công mà tôi đang đứng ở trên bỗng nhiên sụt xuống, và cùng với tôi, rơi xuống sâu từ độ cao tầng bốn.  

Khi rơi xuống, tôi nghe thấy trái tim mình ngừng đập, tôi không còn nghi ngờ gì là mình sẽ chết.  

 

Sân trước của địa ngục 

Tôi rơi sầm xuống đống thùng gỗ chứa các bình ga đã cạn xếp chồng lên nhau trên sân. Tôi nghe rõ tiếng va đập và cả tiếng xương của mình gãy. Sau cú sốc là những cơn đau khủng khiếp. Tôi cảm giác mặt và chân tay mình ngay lập tức bị sưng vù lên và đập vào tai là tiếng hét hãi hùng của những người đang tiến lại chỗ tôi.

Thân thể gãy nát của tôi nằm đó bất lực. Tôi vừa bị cấm khẩu, vừa không thể cử động được người, thậm chí không mở nổi mắt. Nhưng tôi nghe có người nói về mình, như thể từ xa vọng lại.  

"Ô, xem kìa. Con bé chết rồi. Rõ là tội nghiệp...", một người đàn bà nói.  

"Đâu, nó hãy còn thở mà", một người đàn bà khác cãi. Im lặng một chốc, sau đó có một giọng đàn ông cả quyết:  "Ta cứ chờ đến sáng sớm mai. Nếu đến lúc đó con bé vẫn còn thở, ta sẽ mang nó đi". Các giọng nói xa dần, người ta để tôi nằm lại đây ở tư thế như lúc tôi rơi xuống, suốt ngày trời và suốt cả buổi tối dài dằng dặc, tưởng không bao giờ kết thúc.

Tôi nằm hôn mê, như dưới một lỗ sâu, kiệt sức vì đau đớn. Về sau này một người nữ y tá kể cho tôi nghe rằng vào buổi sáng hôm sau, khi nhận thấy tôi vẫn chưa chết, người ta đã nhặt thân thể bất tỉnh của tôi chất lên một chiếc xe trâu, nhưng không có trâu, mà do hai người đàn ông kéo. Lúc này là thời chiến và chẳng tìm ra đâu được một con vật làm sức kéo. Hai người đàn ông này đã liều mình để cứu tôi, một cô bé xa lạ. Họ đã can đảm đi cùng tôi hai ngày và một đêm trên đường để đem tôi đến một bệnh viện công ở tỉnh. Sau đó họ lại ra về, đơn giản như lúc đến và không để lại tên tuổi. Một vài ngày sau, bị đánh thức bởi một thứ mùi nồng nặc, xộc thẳng vào mũi, tôi bừng tỉnh dậy. Đây là mùi cồn sát trùng, như về sau tôi được biết, và ngay lập tức những cơn đau choáng váng khiến tôi nhớ lại cú ngã.  

Tôi tìm cách cử động, nhưng ngay sau đó rú lên vì đau đớn. Một giọng phụ nữ mềm mại trấn an tôi, rồi người đó dùng khăn ướt thấm môi tôi, trước khi tôi rơi vào giấc ngủ mê man.

Tôi bị vỡ ba chỗ ở hộp sọ. Xương sườn và một xương ống chân cũng bị gãy ở nhiều chỗ. Xương mắt cá chân bị lòi ra khỏi da đã được xếp lại, vết thương của tôi đã được khâu kín. Ngoài ra xương cụt của tôi cũng bị chấn thương nặng. Mái tóc dài óng ả của tôi đã bị cắt trụi vì vết thương cần được băng bó. Toàn bộ thân thể tôi bị bó bột, trừ một chân còn lành lặn.  

Bởi vì thiếu giường nên chẳng mấy lâu sau tôi được đặt lên một băng ca đặt trên đất. Vào lúc này tôi phát hiện rằng mình đang có mặt tại nơi chốn đang diễn ra một tấn kịch rùng rợn mà tôi bất đắc dĩ phải tham gia.  

La liệt xung quanh tôi là những bệnh nhân thập tử nhất sinh, các bệnh nhi gầy đét, những hình hài bị tàn phế bởi chiến tranh, tuy vẫn còn thở nhưng chẳng còn ra vẻ người, tiếng rên la của họ chẳng mấy chốc đã trở thành một giai điệu đen tối đeo đẳng tâm trí tôi. Thời tiết oi bức. Ruồi nhặng bám trên gương mặt bết mồ hôi của tôi. Một chiếc quạt duy nhất đều đặn đảo đi đảo lại, thổi luồng khí thối của các vết thương hoại tử vào mũi tôi.  

Ở đây tất cả chúng tôi đều bất lực đợi chờ cái chết. Mới vừa mười bảy tuổi, tôi đã có mặt ở sân trước của địa ngục.  

 

Những người bạn đồng hành 

trong đau khổ 

Mọi thứ đều thiếu thốn: dụng cụ vệ sinh và y tế, thuốc men, thiếu nhất là thuốc giảm đau. Các nữ y tá cũng nghèo gần như các bệnh nhân, tuy nhiên họ hết sức chăm sóc người ốm, nhiều lúc chẳng bằng gì khác ngoài lòng tận tụy. Hàng ngày họ kiên nhẫn làm vệ sinh chiếc băng ca của tôi, về phần mình tôi gần như cảm thấy xấu hổ vì vẫn còn ở trên cõi đời này.

Bệnh nhân được mang đến và chuyển đi liên tục, không phải để được chữa lành bệnh, mà để có một nơi chốn để không phải chết một mình. Đã có nhiều lúc tôi nghe tiếng thở hắt yếu ớt cuối cùng hay hơi thở dốc vội vã trước thời khắc lâm chung mong đợi. Và mỗi lần khi bất đắc dĩ trở thành nhân chứng của những khoảng khắc riêng tư như vậy, tôi cứ tự hỏi tại sao mình vẫn còn sống sót.

Trong lúc những con người ở ngoài kia đang chiến đấu để sinh tồn thì phần lớn chúng tôi ở đây chỉ có mỗi một nguyện vọng: được phép chết. Đó gần như là một lời cầu hôn của chúng tôi đối với Thần Chết. Nhưng ở trường hợp của tôi thì lời cầu hôn đó đã bị bác bỏ.  

Và như vậy trong suốt hơn một năm trời tôi đã quằn quại trong cái nhà tù hôi hám, rùng rợn, đầy các loại chuột bọ này, giữa những thây ma sống, với sự tuyệt vọng là người bạn đường duy nhất.

 

Cô Bè

Với một chiếc lưỡi lam người ta đều đặn cắt các sợi tóc mọc qua kẽ băng của tôi. Vải băng gần như đã trở thành lớp da thứ hai của tôi. Cuối cùng thì thạch cao bó bột cũng đã được gỡ ra, thân thể của tôi lại được tự do.  

Với chiều cao một mét bốn mươi lăm vào lúc đó tôi chỉ cân nặng có ba mươi ba cân. Cơ thể và giọng nói của tôi không còn thực sự tuân theo ý chí của tôi nữa. Tôi phải học nói và học đi lại từ đầu.  

Khi lần đầu tiên ngồi dậy tôi có cảm giác mình không bao giờ có thể đi nổi nữa. Nhưng vào ngày mà tôi đi được bước đầu tiên, cảm giác chiến thắng nho nhỏ này đã mang lại cho tôi sức mạnh. Mỗi ngày chỉ trong ít phút và với sự trợ giúp của một nữ y tá, tôi học lại các động tác đã quên để tới một lúc nào đó sẽ trở lại một người khỏe mạnh.

Có những đêm tôi mơ về quá khứ. Tôi thấy mình đang chạy, trong túi đựng đầy tiền bán kẹo mạnh nha. Những lần khác tôi hát trên sân khấu của một nhà hát không quen biết. Nhưng thường là những giấc mơ như vậy biến thành các cơn ác mộng ngột ngạt, ở đó tôi đánh mất điểm tựa và rơi tự do, kèm theo là những ảo ảnh rùng rợn. Trong khi rơi xuống tôi tìm cách bám víu vào một chỗ nào đó nhưng không thành, cho tới khi hốt hoảng dậy từ giấc ngủ.  

Nằm bên cạnh tôi là một bà cụ thường có con gái Hải Phòng đến thăm. Cô Bè, con gái của cụ, chăm sóc mẹ rất chu đáo, tuy nhiên bà hầu như chẳng còn nhận ra con mình. Vào một ngày kia, khi bà mẹ đang ngủ, cô bắt chuyện với tôi và sẵn lòng giúp tôi tập đi.

Trong khi tập, chúng tôi trò chuyện với nhau cho đến khi tôi mệt. Cô Bè là người Công giáo. Khi tôi nói với cô rằng tôi không hiểu được ý nghĩa việc sống sót của mình, cô trả lời tôi:  "Chỉ có Chúa Trời mới có thể quyết định lúc nào số phận của ta kết thúc. Nếu như mà em vẫn còn sống sót thì điều này có nghĩa là em phải tiếp tục sống để kể lại về tất cả những gì đã trải qua".  

Ba tháng sau mẹ của cô Bè mất, mặc dù vậy cô vẫn tiếp tục đến thăm và chăm sóc tôi. Cô đã dang tay cứu độ và ban cho tôi niềm hy vọng.  

 

Một thiên thần lặng lẽ

Vào tháng Ba năm 1948 cô Bè quyết định đón tôi về nhà, để tôi có điều kiện hồi phục sức khoẻ tốt hơn.  

"Em cứ về chỗ chị. Em vẫn còn yếu lắm. Ở chỗ chị em có thể nghỉ ngơi và ăn cho đến kỳ no thì thôi." Cô giúp tôi mặc quần áo mang theo người. Tôi ra viện với đầu cạo sạch tóc. Chúng tôi đi xe xích lô chầm chậm đến căn hộ đơn sơ của cô tại một khu phố mà tôi chưa biết ở Hải Phòng. Lúc bấy giờ dân thường ở thành phố ít nhiều đã ổn định trở lại, tuy nhiên tin đồn về các vụ tranh chấp và chiến sự vẫn tiếp tục lan đến chỗ chúng tôi. Ở các địa điểm chính thức bên cạnh cờ Pháp giờ còn có thêm cờ Việt Nam tung bay, gần như trong một thứ tình huynh đệ, còn Hoàng đế của chúng tôi thì sống lưu vong.

Ba tháng trôi qua. Cô Bè sống một mình với tôi. Tôi chẳng thiếu một thứ gì, hàng ngày trước khi đi làm cô chuẩn bị đầy đủ hết mọi thứ cho tôi. Tuy nhiên có một lần tôi nhận thấy cô gói ghém quần áo thêu rất đẹp và đồ trang sức rồi mang theo, trong khi tưởng tôi vẫn còn đang ngủ. Tôi lờ mờ đoán biết lý do vì sao cô lại làm như vậy. Một sáng sớm, khi thấy cô lại lấy đồ trang sức từ tráp ra, tôi cố gắng hết sức mình để đi theo cô. Ở một ngõ nhỏ, cô đi vào một cửa tiệm và chỉ đó một lát, khi quay trở ra không còn chiếc túi ở trên tay. Tôi nhanh chóng quyết định bước vào. Một người đàn ông đứng tuổi chào tôi một cách hòa nhã.  

"Chào ông. Cháu vừa thấy cô Bè vào chỗ ông. Cô ấy có mua gì không ạ?", tôi hỏi.  

"Không. Từ mấy tháng nay, cô Bè có mang đồ ra đây nhờ bán hộ."  

"Cô ấy mang những thứ gì đến chỗ ông ạ? Cháu có thể xem được không?"  

"Tất nhiên", ông nói, với giọng còn vui hơn và nở một nụ cười tươi, chỉ cho tôi những chiếc áo dài, khăn trải bàn thêu rất đẹp, đồ ăn bằng bạc và đồ trang sức cũ.

Hóa ra là như vậy. Tôi là một thứ gánh nặng, và cô đã sẵn sàng gánh lấy nó mà không hề kêu ca. Cô cần có số tiền này để nuôi tôi.  

"Hiện giờ thì cháu không chuộc được", tôi nói một cách quả quyết.  "Nhưng liệu ông có thể cất giùm cháu tất cả các thứ của cô ấy được không ạ, cho đến lúc cháu có đủ tiền để chuộc lại?" Người đàn ông đồng ý.  

Khi đi ra ngoài, tôi còn nói với ông:  "Và cháu còn xin ông một điều nữa: xin ông đừng nói gì với cô ấy về việc này".  

Vào lúc này tôi hiểu rõ thêm một điều. Thông qua sự giúp đỡ của cô Bè tôi cảm thấy trong cuộc đời mình vẫn còn những điều tốt lành. Với nhận thức được củng cố trong lòng này, niềm tin của tôi đối với Thiên Đế càng trở nên mãnh liệt hơn, tôi tin tưởng chắc chắn rằng chính Người đã cử cô Bè đến giúp tôi.  

Không phải chết mà là sống, đây là thử thách mà tôi vừa vượt qua. Thêm một lần nữa tôi được tái sinh.  

Sức mạnh mới 

Vài ngày sau tôi quyết định kết thúc giai đoạn nghỉ dưỡng. Một thời gian ngắn sau khi tôi nhờ cô Bè kiếm hộ việc, cô đã tìm được cho tôi việc làm tại một doanh trại Pháp. Ở đó tôi có thể quét dọn và làm phụ bếp, với một số tiền công gấp ba mức mà tôi có thể kiếm được cho loại công việc này.

Từ lúc này tôi làm việc nhiều tháng liền như một cái bóng thầm lặng trong căng tin và nhặt thức ăn thừa ở đây mang về để ăn tối chung với cô Bè. Bằng cách đó chúng tôi sống qua ngày. Dần dần tôi kiếm đủ tiền để đến một ngày chuộc lại được số đồ mà cô Bè ký gửi.  

Khi nhìn lại số đồ của mình, cô Bè òa khóc. Điều quan trọng đối với mỗi chúng tôi là không ai phải đánh mất thể diện. Cô Bè chưa bao giờ phàn nàn về việc thiếu thốn hay đòi hỏi ở tôi một điều gì. Về phần mình tôi tự nguyện quyết định hoàn trả lại tài sản cho cô một cách tế nhị. Và như vậy cả hai chúng tôi đều giữ được danh dự.  

Tuy nhiên tôi cảm thấy sắp đến lúc phải lên đường, không phải chỉ vì tôi đã mười chín tuổi và muốn sống cuộc đời riêng của mình, mà cũng là vì không muốn choán một chỗ quá lớn trong cuộc đời của cô. Sức khỏe của tôi lúc này đã hồi phục. Khi đã tiết kiệm đủ tiền cho một khởi đầu mới, tôi cám ơn cô và chia tay. Chúng tôi không bao giờ gặp nhau nữa.  

Tôi thuê một căn hộ nhỏ ở gần doanh trại, nơi tôi vẫn tiếp tục làm việc, và sau một thời gian ngắn tôi kết bạn với hai cô gái trẻ, cả hai đều trẻ hơn tôi hai tuổi. Họ bán bánh mì và thuốc lá trong một quầy hàng nhỏ ở gần chỗ tôi.  

Ngọt sinh ra ở Hải Phòng là trẻ mồ côi phải lăn lộn từ tấm bé. Liên sống trong một căn hộ nhỏ cùng với Anh, cô em gái mười lăm tuổi, một sắc đẹp hoàn hảo. Bố của Liên mất sớm, mẹ Liên sống cùng với hai đứa em gái nữa ở Đà Nẵng, một thành phố ven biển ở phía Nam.  

Mặc dù tình hình đã ít nhiều trở nên yên ổn hơn, trong thành phố vẫn còn nhiều người tị nạn mang theo những kiện hành lý nặng chờ xe buýt hay tàu hỏa.

Cả ba chúng tôi đều chia sẻ phương châm sống:  "Chiến tranh không thể làm ta suy suyển, ta đã đủ lớn để quyết định vận mệnh của mình!".  

Và như vậy chúng tôi đã quyết định cùng mở một quán ăn nhỏ. Chúng tôi gom lại toàn bộ số tiền tiết kiệm của mỗi người và thuê một ngôi nhà nhỏ không xa trại lính lắm, với bàn ghế và đầy đủ bát đĩa.  

Tôi chịu trách nhiệm chạy các thủ tục cần thiết về phía chính quyền. Tất cả đều diễn ra suôn sẻ, và trong tôi trào dâng một nguồn năng lượng mới.  

- 4 -

Một thời huy hoàng 

Chúng tôi quyết tâm kiếm tiền, và mọi việc diễn ra đúng như vậy. Từ sáng cho đến tận khuya chúng tôi bán thuốc lá, xúp, gà rán, nước chanh và bia ướp lạnh, chủ yếu là cho lính. Giữa chúng tôi đã học cách xây dựng và chăm sóc các mối quan hệ. Thông qua vẻ duyên dáng và tài ngoại giao mà tôi áp dụng một cách hoàn toàn có chủ ý, tiệm của chúng tôi trở nên vô cùng ăn khách.

Người ta đều đặn cung cấp cho chúng tôi hàng hóa và các tảng nước đá lớn dùng để ướp lạnh đồ uống, thứ bình thường rất khó kiếm trong thành phố. Ở một góc tiệm có một máy quay đĩa chơi nhạc từ bộ đĩa nhạc Pháp lớn do tôi sưu tầm. Máy quay và các đĩa hát đều do tôi mua lại từ những người tị nạn với một số tiền nhỏ. Thứ âm nhạc mang chất hoài niệm này chạm vào con tim của khách hàng và khiến họ thích dừng chân ở chỗ chúng tôi.  

Vào một ngày thậm chí tôi còn mua một chiếc đàn accordion để khách hàng có thể chơi vào giờ muộn nếu họ có hứng thú. Một trong số họ là Jean, một người Pháp điển trai, đính hôn với một cô gái gốc Hoa xinh tuyệt trần, tên là Sao A Mung. Cả hai thường đến thăm chúng tôi, và chẳng mấy chốc chúng tôi đã kết bạn với nhau.  

Với sự đồng ý của hai người bạn hàng, tôi tự mình quản lý toàn bộ hoạt động kinh doanh. Tiền lãi và số tiền boa hậu hĩnh chúng tôi chia cho nhau một cách công bằng, giữa chúng tôi không có chuyện cãi vả và tị nạnh.  

Chẳng mấy chốc tôi đã có nhiều tiền đến mức có thể sống trong một căn nhà nhỏ riêng có đủ tiện nghi ở phía ngoài trung tâm với hai cô giúp việc. Một cô giặt giũ quần áo, một cô thì cho đàn gà và lợn ăn buổi chiều trước khi đi chợ và nấu nướng. Hàng ngày vào buổi sáng có một chiếc xe xích lô đón tôi tới chỗ làm, buổi tối lại chở tôi về nhà.

Tôi sắm cho mình, bên cạnh quần áo thêu vàng bạc, cả đồ trang sức thứ thiết và diện chúng tùy thích. Tuy nhiên dưới làn áo dài tôi luôn đeo cây thánh giá nhỏ do cô Bè tặng tôi lúc chia tay.  

Rất nhanh chóng tôi quen với cảm giác thịnh vượng và thành đạt. Giờ tôi còn có thời gian đọc các tiểu thuyết diễm tình và đến chụp ảnh ở một hiệu ảnh. Việc này đã trở thành một niềm đam mê lớn của tôi. Không có bất cứ một điều gì trên thế giới khiến tôi có thể có ý định rời bỏ đất nước. Không một tin tức nào về tình hình chiến sự hay nạn cướp bóc ở miền Bắc khiến tôi có thể thay đổi ý định của mình.  

 

Những đóa hoa vô tội 

Tôi không cảm thấy bận lòng vì việc phải mang tiếng gái đã lớn mà chưa chồng. Tôi có tất cả những gì mình muốn, và mỗi lần nếu có một người đàn ông nào tỏ ý tán tỉnh, tôi đều nhã nhặn khước từ.  

Vào một buổi sáng, khi bước vào tiệm ăn từ rất sớm, tôi phát hiện có một biển hoa cúc, loài hoa mà tôi ưa thích, bày trên khắp các mặt bàn và quầy bán hàng. Ngọt và Liên từ trong bếp đi ra rất nhanh khi nghe tiếng tôi và trao cho tôi một chiếc phong bì màu vàng. Cả hai đều cười một cách tinh quái.  

"Có chuyện gì thế?", tôi hỏi mà không hay biết điều gì.  

"Hoa được mang đến sáng sớm này cho chị đấy", Ngọt nói và cúi đầu kính cẩn trước tôi.

"Và chiếc phong bì này chúng em cũng được dặn trao lại cho chị", Liên bổ sung, còn lúng túng hơn cả tôi. Tôi mở phong bì, ngón tay hơi run rẩy. Trong đó có một tấm bưu thiếp với những dòng chữ vàng. Tôi đọc to:  "Thưa quý cô, cho phép tôi được tặng cô những đóa hoa này, mặc dù cô hẳn biết không có loài hoa nào trên thế giới này có thể sánh được với sắc đẹp của cô. Một người hâm mộ trung thành của cô". Thư không đề tên người gửi. Tôi thấy mặt mình bị đỏ bừng và cất chiếc bưu thiếp lại vào phong bì.

"Chà, thế mới gọi là một người hâm mộ! Chắc anh ấy phải giàu lắm và đang chết mê chết mệt chị, nếu không thì đã chẳng làm như vậy", Liên nói, Ngọt gật gù tán đồng.  

"Em cứ nói vậy. Đúng là một gã điên. Để rồi xem. Và bây giờ thì bắt tay vào việc thôi!", tôi gạt đi nhằm che giấu sự ngượng ngập của mình. Cả ba chúng tôi đi vào bếp để chuẩn bị các món ăn. Ngày làm việc trôi qua rất nhanh, tôi mệt mỏi trở về nhà. Mặc dù đêm đã khuya, tôi vẫn nằm thao thức trên giường, mắt nhìn trân trân lên chiếc quạt trần đang quay, thổi phồng chiếc màn chống muỗi của tôi.  

Tôi đặt tấm bưu thiếp lên trên bàn ngủ. Hôm nay một người đàn ông lạ khiến tôi bối rối. Mắt nhắm nghiền, tôi tìm cách tưởng tượng một người đàn ông trẻ bên cạnh mình, nhưng rồi tôi lại mở mắt rất nhanh khi thấy người đàn ông trẻ đã biến thành một ông già đang đi kiếm một cô nhân tình trẻ.

Trong đêm nay tôi ngủ không yên giấc và bực bội vì phí phạm thời gian quý báu cho những giấc mộng tình chẳng đâu vào đâu.  

 

Màu của trái tim

Mấy ngày liền tiệm ăn của chúng tôi tràn ngập các loài hoa quý mà chẳng có ai đứng ra nhận là chủ nhân. Tôi tìm cách đút tiền cho người vận chuyển để lần ra tung tích của người tặng hoa bí ẩn nhưng không thành. Mỗi lần như vậy người vận chuyển đều chỉ im lặng và cúi đầu đi ra ngoài. Cứ như vậy tôi quen dần với việc được tặng hoa, nhưng chẳng mấy lâu sau đó tôi đã tặng tiếp chúng cho láng giềng và khách hàng.  

Hiển nhiên vào mỗi ngày tôi đều phát hiện thấy mình đang cố tự làm đẹp hơn một chút so với thông thường. Tôi lưu ý sao để cô hầu gái của tôi chải mái tóc dài của tôi thật mượt và áo quần của mình thật chỉnh.

Vào một sáng sớm tôi quyết định chọn một chiếc áo dài nhung màu tím, thêu rồng vàng. Khi bước vào quán, tôi không nhìn thấy hoa tươi, tâm trạng đang hào hứng của tôi chùng hẳn xuống. Thất vọng tôi đi vào bếp. Ngọt vội đến gặp tôi, ngay theo sau là Liên, nét mặt hân hoan hơn mọi lần. Ngọt cầm trên tay một chiếc hộp chạm trổ khá tinh vi và cẩn trọng trao cho tôi. Bởi vì trông nó thật quý giá, cả hai đã cất giữ nó trong gian bếp.  

Trong lòng hộp có một bông hoa cúc tím được cài một dải băng đỏ. Vừa trông thấy nó tim của tôi đã đập như muốn vỡ tung lồng ngực. Đối với tôi đây là một tín hiệu mà tổ tiên dành riêng cho mình, bởi bông hoa này cùng màu như chiếc áo dài mà tôi chọn mặc ngày hôm nay! Dường như tôi nghe được một tiếng nói từ trên cao vọng xuống:  "Ta đã nghe được lời cầu khẩn của con. Đây là người đàn ông mà ta đã chọn cho con!".

"Chị còn chờ gì nữa! Mở nó ra đi!", Ngọt và Liên đồng thanh. Tôi chầm chậm mở nắp hộp và nín thở khi thấy một vòng vàng đeo cổ rực rỡ nạm thạch anh tím được mài một cách tinh xảo hiện ra. Một tấm bưu thiếp với dòng chữ vàng quen thuộc nằm ngay bên cạnh.  

"Thưa quý cô! Xin cô hãy nhận món quà này như là một dấu hiệu của tình yêu vô tận mà tôi dành cho cô. Xin cô hãy đeo chiếc vòng này lên cổ và đi ra phố. Tôi đang chờ cô ở đó!"

"Chị phải làm gì bây giờ! Anh ta đang chờ ở ngoài kia!", tôi kêu lên choáng váng. Tay tôi quá run không cài được chiếc vòng. Rốt cuộc thì Ngọt cài móc khóa nó hộ cho tôi, trước khi đẩy tôi ra khỏi gian bếp và tiếp theo đó là ra khỏi tiệm ăn. Tôi biết là dĩ nhiên cả Ngọt và Liên sẽ chực sẵn bên cửa sổ để không bỏ sót một chi tiết nào. Và tôi đã đứng ở đó, bên vệ đường. Hy vọng là tổ tiên của tôi biết rõ điều mà họ dành cho tôi. Trong giây lát tôi cảm thấy đầu gối của mình mềm nhũn xuống. Tôi e lệ nhìn về phía trái, rồi về phía phải mà không phát hiện được ai. Khi chầm chậm nhìn về phía bên kia đường thì tôi thấy một người đàn ông mặc com lê trắng ngồi lặng lẽ trên một chiếc ghế quan sát tôi. Tôi phát hiện ánh mắt đầy trìu mến, gần như thân thuộc của anh và khâm phục phong cách bình thản của anh khi đứng dậy để đón tôi. Anh cao lớn. Đẹp trai. Và giàu có.  

Anh chạm nhẹ vào chiếc vòng cổ tôi đeo hơi bị lệch, trước khi đưa bàn tay của tôi lên môi hôn một cách dịu dàng. Đôi môi gợi cảm của anh thật mê hoặc, khiến tôi vừa rét run, vừa nóng bừng người. Cảm giác hạnh phúc đưa tôi vào một trạng thái bồng bềnh chưa bao giờ trải qua trước đó. Không nói một lời và không chạm tiếp vào người anh, vì sợ hãi khoảng khắc kỳ diệu này sẽ biến mất, tôi đi dạo cùng người đàn ông đầu tiên của cuộc đời mình.  

 

Phép thuật của tình yêu 

Hùng kể ít về mình. Tôi chỉ biết rằng anh xuất thân từ một gia đình giàu có ở miền Nam và đang thực hiện các thương vụ của ba anh tại thành phố này. Anh nhiều hơn tôi mười tuổi và là một nhà lãng mạn đích thực.

Bên anh chẳng mấy chốc tôi có được cảm giác rằng cuộc chiến lúc bùng lên, lúc lắng xuống ở miền Bắc chẳng bao giờ lên đến được chỗ chúng tôi. Mặc dù Hoàng đế của chúng tôi đã quay trở lại Việt Nam, tình hình giữa hai bên tham chiến vẫn tiếp tục căng thẳng. Trung Quốc, nước láng giềng to lớn của chúng tôi, mới đây đã trở thành Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.  

Hùng làm thơ tặng tôi và tiếp tục tấn công tôi bằng các món quà quý và hoa. Mỗi lần gặp nhau anh âu yếm chạm mũi vào mũi tôi. Đây là cách hôn nhau ở nước tôi và suốt một thời gian đây là sự đụng chạm cơ thể duy nhất mà chúng tôi tự cho phép.  

Trong những tuần đầu tiên anh tôn trọng việc tôi vẫn còn là một trinh nữ mặc dù đã ở độ tuổi đôi mươi. Tuy nhiên cả tôi cũng càng ngày có thêm đòi hỏi đối với anh, anh đánh thức trong tôi những cảm xúc từ trước tới giờ mình chưa biết tới. Khi anh, hoàn toàn bị chinh phục bởi tình yêu đối với tôi, ngỏ lời cầu hôn thì tôi cũng đã sẵn sàng trở thành đàn bà, người đàn bà của anh.

Và như vậy tôi đã để cho anh trở thành chủ nhân cơ thể và cảm xúc của tôi. Cùng anh tôi khám phá lạc thú của tình yêu. Sau những ngày làm việc bận rộn là những đêm nồng nàn trong căn nhà nhỏ của tôi, và mặc dù tôi hầu như không ngủ, tình yêu của chúng tôi đã chắp cánh và tiếp cho tôi nhiều sức mạnh. Rất nhiều lúc, khi xe xích lô như thường lệ đến đón tôi đi làm, Hùng vẫn còn ngủ.  

Hùng giới thiệu tôi với chị gái của anh sống ở đầu bên kia thành phố. Anh nói rằng tôi là vợ đính hôn của anh. Mặc dù chị gái Hùng tiếp đón tôi khá lãnh đạm, tôi vẫn coi chị là một người dễ thương. Nhưng thực tình mà nói tôi không mấy bận tâm. Chỉ có Hùng là quan trọng! Trong vòng tay của anh tôi luôn tìm được sự bình yên mà mình tìm kiếm bấy lâu nay, và nếu có những ngày các tin tức xấu lọt đến tiệm ăn của chúng tôi thì lời nói của anh lại khiến tôi bình tâm trở lại. Hùng ân cần chăm sóc và không hề để tôi nghi ngờ rằng chúng tôi sẽ có một cuộc sống hạnh phúc. Và bởi vì tôi tin rằng chỉ một người đàn ông thành công mới có thể có những món quà tặng quý giá như vậy, tôi lại càng củng cố lòng tin của mình về một cuộc sống an toàn và đầy đủ trong tương lai. Thành công mạng tới sự thịnh vượng và cũng có nghĩa là sức mạnh.

Ba tháng trôi qua, và chẳng mấy chốc nữa tôi sẽ làm quen với bố mẹ Hùng. Ngọt và Liên luôn gọi tôi là chuột sa chĩnh gạo và mỗi lần như vậy đều thở dài tỏ vẻ khao khát. Cùng nhau chúng tôi nôn nóng tiến hành những khâu chuẩn bị cuối cùng cho đám cưới. Tôi tự hào vì sẽ sắp kết hôn với một người đàn ông mà tôi yêu và đã tự chọn cho mình.  

 

Những đám mây ô nhục 

Một buổi sáng, khi tôi vừa bước lên xe xích lô thì có một ông già đứng bên vệ đường vẫy tay ra hiệu. Tôi nhận ra đó là người láng giềng của tôi, ông ở chỉ cách tôi mấy bước sau một hàng rào tre dày. Tôi bảo người lái xe dừng lại và bước xuống để nói chuyện với ông.

Không nói lời nào, ông lịch sự tỏ ý mời tôi bước đến bậc cửa nhà ông. Tôi đến gần và mỉm cười thân thiện với ông. Khi tôi hỏi ông có việc gì thì nét mặt ông bỗng dưng thay đổi. Ánh mắt ông trở nên buồn bã và ông tránh không nhìn tôi. Ông chắp tay, cúi đầu và nói:  "Thưa cô, tôi cầu xin cô! Xin cô thứ lỗi nếu hôm nay tôi phải làm phiền cô, nhưng tôi nghĩ là mình có nghĩa vụ phải thông báo và cảnh báo cho cô biết về những chuyện không hay. Xin cô thứ lỗi!".  

"Không dám", tôi ngạc nhiên trả lời,  "Xin ông cứ cho biết chuyện ạ".  

"Trong phố có các tin đồn về me xừ..."

"Me xừ?" Tôi cảm thấy tim mình bắt đầu đập nhanh hơn.  "Vâng. Có lẽ đấy chính là me xừ... Có tin đồn rằng của cải gia đình ông ấy có được từ những phi vụ bất minh. Đền chùa bị cướp và... Nhưng mà thực ra đấy không phải là điều mà tôi muốn nói với cô." Ông hạ thấp giọng. Tôi biết là da mặt tôi đã trở nên đỏ bừng. Tôi dán mắt nhìn vào miệng ông, nghe những lời sẽ vĩnh viễn làm tan vỡ trái tim của tôi.  

"Thưa cô, me xừ không chung thủy với cô."  

"Không thể thế được!", tôi nói và hít sâu.  "Ông không biết điều mà ông đang nói! Chúng tôi sẽ làm lễ cưới..."  

"Thưa cô, hàng ngày tôi vẫn quan sát cô. Tôi đã nhiều tuổi rồi, tôi biết cô là một người thật thà và chăm chỉ. Ở phố cô được tiếng là một cô gái trẻ rất cương nghị và hòa nhã. Nhưng mà mỗi buổi sáng, khi cô rời khỏi nhà và me xừ còn ở chỗ cô, thì tôi lại nghe từ nhà cô những tiếng động không bình thường. Thưa cô, tôi khuyên cô khoảng một tiếng nữa hãy quay lại để chứng kiến tận mắt. Tôi rất lấy làm tiếc."  

Ông nhìn tôi một cách đầy thương cảm trước khi bước vào nhà, đôi vai thõng xuống.  

 

Vỡ mộng

Tôi đứng lặng và vẫn chưa hiểu nổi điều mình vừa nghe thấy. Đờ đẫn tôi quay lại xe xích lô và bảo người lái xe chạy tiếp, sau mấy trăm mét tôi yêu cầu anh ta hãy cho tôi chạy vòng quanh một lát trong buổi sáng. Trong thâm tâm tôi nguyền rủa ông già, hẳn ông chỉ ghen ghét hạnh phúc mà tôi đang có. Vì những lý do nào đó mà tôi chưa hay biết, ông ta đang muốn hủy hoại niềm vui sống của tôi.  

Chìm đắm trong những ý nghĩ trái ngược nhau tôi không nhận ra chiếc xe xích lô của tôi đã dừng lại từ lâu và người lái xe nói với tôi:  "Thưa cô... thưa cô?" Tôi giật bắn mình.  "Bây giờ đi đâu ạ?", anh ta hỏi. Bình thản, gần như đang mơ ngủ, tôi trả lời ngắn gọn:  "Anh cho tôi quay trở lại nhà".

Khi đến gần nhà, tôi bảo người lái xe dừng lại và bước xuống. Tôi trả tiền và cho anh ta nghỉ việc trong thời gian còn lại trong ngày. Mặc dù tôi rón rén đi như một con rắn đang trườn tới, từng bước chân vang động lên trong tâm trí tôi. Tôi cảm thấy áy náy khi nghi ngờ Hùng đến mức như vậy. Tôi gần như căm thù bản thân về việc này. Nhưng mà tôi muốn biết sự thật.  

Tôi cởi dép và đặt xuống trước thềm nhà, trước khi mở cánh cửa. Tôi bước vào nhà. Không có một tiếng động nào. Bỗng nhiên có tiếng nói và tiếng cười khúc khích từ trong phòng ngủ vọng sang. Từ phòng ngủ của tôi, phòng ngủ của chúng tôi. Tôi nín thở, trước khi nhẹ nhàng và chậm rãi mở cửa, lòng đầy căng thẳng.  

Hùng và cô giúp việc của tôi nằm trần truồng, quấn vào nhau, giọng rên rỉ đầy thèm khát, bàn tay vuốt ve trên làn da, cơ thể nóng bừng tìm sự giải thoát trên giường của tôi. Trên giường của chúng tôi!

Tôi nhìn họ, mất hết khả năng cử động. Mỗi một cú dập của anh ta xuyên vào đầu tôi, vào tim tôi, vào tâm hồn tôi. Mỗi một tiếng hét đầy lạc thú của cô ta cắt xé tôi như một lưỡi dao, khiến tôi tổn thương, hạ gục tôi, hủy diệt tôi. Liên tục như vậy. Những giấc mơ của tôi, hy vọng của tôi, cuộc sống của tôi trong chốc lát tan tành và rơi xuống như đống đổ nát của thành phố này trước chân tôi.  

Sự tức giận đột nhiên trào dâng trong tôi, tôi phản ứng như một hung thần. Tôi túm lấy một chiếc đèn bàn. Hai bên buông nhau ra, họ hoảng hốt nhìn tôi.  

"Em yêu! Không phải như em nghĩ đâu! Anh chẳng muốn, nhưng mà cô ta...!" Hùng cất lời, mắt mở trống hoang.

"Cút! Đồ rắn rít! Đồ phản bội! Tôi không bao giờ muốn nhìn mặt anh nữa!", tôi hét lên và ném chiếc đèn vào đầu anh ta. Mặt đỏ bừng, anh ta vớ lấy chiếc quần, không nói thêm được lời nào, trần truồng chạy ra khỏi nhà.  

Vẻ mặt tôi bị biến dạng vì cơn cuồng nộ mà tôi không còn kiểm soát được nữa. Tôi bắt đầu đấm túi bụi vào cô gái lõa thể đang đờ đẫn, cứ như thể bằng cách đó tôi sẽ đánh bật khỏi người cô mùi người đàn ông mà cô ta đã đánh cắp của tôi. Vừa la hét, tôi vừa dùng hết sức mạnh của sự tuyệt vọng để hành hung cô, bất chấp mọi lời cầu khẩn.

Khi các nắm tay của tôi bị đau như dần bởi các cú đánh, tôi túm tóc cô lôi vào bếp. Cô ta đã gần như bất tỉnh và không kháng cự. Tôi bóp nát ớt chỉ thiên trong lòng tay và trát chất lỏng sền sệt này vào miệng cô và vào giữa hai háng cô. Sau đó tôi túm tóc lôi xềnh xệch cô gái máu me đầm đìa và trần truồng trên đường phố và hét lên với tất cả mọi người, rằng cô ta đã phản bội và cướp đi danh dự của tôi. Một số hàng xóm và người qua đường vỗ tay và lớn tiếng mắng chửi cô gái. Tôi buông cô ta ra và trở về nhà, đầu ngẩng cao, cổ vươn thẳng. Tuy nhiên trong thâm tâm tôi nhẩm đếm từng bước đi và biết rằng tất cả đang quan sát tôi. Bằng bất cứ giá nào tôi cũng không được phép bày tỏ sự yếu đuối trước mặt họ. Danh dự của tôi đang treo trên sợi tóc.  

 

Dấu vết của tình yêu

Khi cảnh cửa nhà rốt cuộc khép lại sau lưng tôi, tôi kiệt sức nằm co quắp trên nền nhà. Tôi cảm thấy mình bị phản bội, lừa dối và làm nhục hết mức. Dần dần tôi mới ý thức hết thảm cảnh của mình. Một cách ngây thơ và mê muội, bất chấp các quy tắc xã hội, tôi đã trao tặng sự trinh bạch của mình cho một người đàn ông trước khi hôn thú. Bởi vào thời đó sự trinh bạch là giá trị duy nhất của một người phụ nữ, điều này có nghĩa là tôi sẽ không bao giờ có thể kết hôn một cách đường hoàng ở đất nước tôi được nữa. Ai mà lại đi mua một thứ hàng đã dùng và bẩn thỉu? Tôi không còn có giá trị nữa và sẽ không bao giờ còn được tôn trọng ở xã hội An Nam. Giờ đây tôi bị coi như một gái điếm.  

Mù quáng bởi tình yêu tôi đã chấp nhận rủi ro này. Bây giờ thì đã quá muộn, tôi đã thua cuộc. Cuộc đời của tôi chỉ còn là một thảm họa!  

Tôi không dám tới phòng ngủ, những tiếng rên rỉ hoan lạc của những kẻ phản bội vẫn còn vang vọng ở đó. Tôi ngồi hàng tiếng đồng hồ, bất động, trống rỗng, tuyệt vọng, bất hạnh cùng cực và không đến chỗ làm nữa.

Gần trưa Ngọt mở cửa bước vào mà không gõ, hơi thở đứt đoạn. Cô tìm thấy tôi ngồi ở một góc nhà, mặt trống rỗng. Tôi không còn khả năng khóc nữa.  

"Chúng em biết chuyện gì đã xảy ra", cô khẽ khàng nói và dịu dàng vuốt tóc tôi. "Cả thành phố bàn tán về chuyện này! Chị quả đã không gặp may. Nhưng mà điều quan trọng nhất là chị đã giữ được thể diện của mình! Người ta kể là chị đã đánh con bé đó còn kinh hơn so với cả một người đàn ông!"  

Tôi không trả lời. Chẳng có gì để nói.  "Em sẽ ở lại đây với chị, cả đêm nay nữa, nếu chị muốn. Liên sẽ cùng Anh lo việc ở tiệm. Em sợ để chị ở đây một mình", cô nói tiếp và nhìn tôi một cách lo lắng.  

Cô đứng dậy, đi vào bếp để đun cho chúng tôi một ấm chè hoa nhài. Cô rót nước từ bình chứa vào ấm nấu nước và cười với tôi:  "Bọn em sẽ chăm sóc chị, đừng sợ!".  

Tôi buồn bã trả lời:  "Các em sẽ phải tự chăm sóc cho nhau". Ngọt nhìn tôi, tỏ vẻ không hiểu điều tôi muốn nói.

"Bọn em phải tự chăm sóc cho nhau? Thế còn..." Tôi cúi xuống, gật đầu. Nước mắt tôi bắt đầu chảy dàn dụa.  

"Chị muốn dành cho các em sự bất ngờ. Chị sẽ có em bé."  

Ngọt đặt phịch ấm nước còn lạnh lên bàn, như cô vừa bị bỏng, đến bên tôi và ôm chặt tôi.  "Trời ơi... Lạy trời, xin hãy giúp cho chúng con!", cô nói nhỏ và cũng bắt đầu khóc.  

 

Một món quà 

Suốt cả một ngày và một đêm dài tôi nằm đau đẻ trong nhà của Ngọt, mãi cho đến khi mặt trời mọc, đây là vào giữa tháng Tám năm 1950, một đứa bé gái, con gái của tôi, cất tiếng khóc chào đời. Nhìn thấy đứa con của tôi khỏe mạnh, tôi rất đổi hạnh phúc và tự hào.

Ngọt và Liên thay nhau đóng vai trò bà dỡ. Liên từng giúp mẹ khi đẻ nên biết chính xác cần phải làm điều gì. Khi cô trao đứa bé sơ sinh cho tôi, tôi hút đờm từ trong mũi nó và nhổ đi. Trước đó hai cô đã buộc một đồng tiền bạc to lên cuống nhau của đứa bé. Sau đó nó ngủ thiếp đi.  

Thời gian đầu khi có thai tôi thường bị rơi vào trạng thái buồn u uất. Lúc ấy tôi nhận ra nỗi buồn thất tình, tương tự như chiến tranh, có thể từng bước, từng bước hủy hoại một con người. Tuy nhiên tôi chẳng bao giờ hoàn toàn một mình. Hai người bạn gái trung thành của tôi giữ lời hứa và giúp đỡ cho tôi một cách không mệt mỏi. Cùng với họ, tôi lao đầu vào công việc, dần dần tôi cũng cảm thấy khuây khỏa hơn.

Ôm đứa bé đỏ hỏn trên tay tôi quả quyết nói với hai cô bạn:  "Các em có biết không, nếu chiến tranh đã chả động được đến chân lông của chị thì cả ái tình cũng vậy!" Để luôn nhớ những lời này, tôi đặt tên cho con gái mình là "Loan", còn có nghĩa là "Phượng Hoàng". Cái tên này sẽ phải là dấu hiệu cho sự hồi sinh của tôi, là biểu tượng cho sức mạnh của tôi trong cuộc đời. Từ nay con gái của tôi hàng ngày sẽ chỉ cho tôi biết rằng người ta có thể đứng dậy từ đống tro tàn, tạo nên viên mãn từ sự trống rỗng. Loan là một món quà báu đối với tôi.  

 

Điềm g

Với chiếc bụng được buộc chặt, một ngày sau khi sinh tôi đã đi làm trở lại. Tôi địu Loan sau lưng với một chiếc khăn vải bông rộng, khi nó đói tôi chỉ cần xoay con về phía trước là có thể cho nó bú. Nó có một sức thu hút lớn với mọi người, bản thân tôi cũng cảm thấy ngạc nhiên vì đã trao tặng sự sống cho sinh thể kỳ diệu này. Tôi không thể và không muốn rời khỏi con, dù chỉ trong một phút.  

Cửa hàng bán chạy. Chúng tôi tươi cười bán các đồ uống trước đó đã được pha loãng một cách có chủ ý với nhiều nước đá bảo quản trong một chiếc tủ gỗ.  

Mấy ngày nữa trôi qua cho đến khi vào một buổi chiều có một thằng bé bỗng nhiên chạy áp vào tiệm của chúng tôi, người đầm đìa mồ hôi. Đây là thằng bé thỉnh thoảng vẫn chở các tảng đá lạnh đến cho chúng tôi.

"Cô ơi! Cô ơi!" Tôi vội vàng từ bếp đi ra, vẫn địu Loan ở trên lưng, trong khi thằng bé thất thanh nói tiếp:  "Cô ơi! Nhà cô đang cháy! Về nhanh lên cô ơi!"  

Liên lúc đầu còn đứng đó bán tin bán nghi, rồi hoảng hốt đập cả hai tay lên đầu.  

"Nó mang điềm gở đến! Nó mang điềm gở đến cho con bé rồi!", cô nói với giọng sợ hãi.  

"Đừng có mà nói vớ vẩn!", Ngọt nói, bình tĩnh hơn một chút. Tôi biết là cô chỉ nói vậy để an ủi tôi. Tôi hiểu là cả hai đang nghĩ gì. Sau khi sinh, trong mấy ngày liền, người mẹ không được phép thốt ra một lời nào liên quan tới điềm gở, nếu không đứa trẻ sơ sinh sẽ bị ám bởi chính điềm gở đấy.

Tuy nhiên chẳng còn thời gian để suy nghĩ tiếp về việc này nữa. Tôi gỡ chiếc khăn địu và trao con gái cho Ngọt, trước khi cùng thằng bé chạy về nhà, vì xung quanh không có chiếc xích lô nào.  

Ngôi nhà của tôi chẳng còn lại gì ngoài một đống tro lửa đang bốc khói nghi ngút. Hàng xóm đã cùng nhau ngăn chặn không để cho đám cháy lan ra tiếp và gây thêm nhiều thiệt hại nữa. Tất cả đều bàng hoàng và chia buồn với tôi.  

Tôi đứng đó bất lực. Thêm một lần nữa tôi lại mất hết tất cả những gì mình sở hữu. Thế nhưng chúng tôi, con tôi và tôi, vẫn còn sống. Trong khoảng khắc này chỉ điều đó mới quan trọng. Sự bất hạnh này khiến cho tôi càng hiểu thêm giá trị thật sự của cuộc sống và làm cho tôi sẽ trở nên mạnh mẽ hơn sau đó.

Trước khi quay trở lại chỗ làm việc, tôi bình tỉnh cám ơn mọi người đứng xung quanh. Và bởi vì tôi phỏng đoán kẻ phóng hỏa có mặt không xa đấy, tôi nói với giọng kiềm chế, nhưng đủ to:  "Chẳng có gì kinh khủng cả. Bao giờ ta cũng có thể bắt đầu lại từ đầu!".  

Sau các biện pháp điều tra ngắn gọn và nhờ các lời khai của nhân chứng, người ta đã tìm ra được kẻ phạm tội. Người đàn bà suýt nữa thì trở thành chị dâu của tôi đã bị quan sát thấy trong khi tiến lại ngôi nhà của tôi với một cây đèn dầu hỏa trên tay, khi đi ra thì chỉ hai bàn tay trắng. Khi bị hỏi cung, chị ta thú nhận ngay. Chị ta không chỉ hành động để trả thù, mà còn vì tin tưởng vào một phong tục mê tín ở nước tôi. Sau khi biết được tôi sinh con, chị ta tìm cách cho đứa bé bị gặp nạn.  

Người đàn bà bị tống giam. Cảm giác hú vía sau đó không xua được trạng thái xây xẩm khi tôi nghe lời khai của chị ta.

 

Bonjour và Adieu*

* (Xin chào và tạm biệt (tiếng Pháp trong nguyên bản)

Ngọt đề nghị tôi về ở cùng, bởi vì cô sống một mình. Cũng như Liên, cô chưa bao giờ ràng buộc sâu sắc với ai. Tôi đoán là cả hai đều cảm thấy bị răn đe bởi kinh nghiệm của tôi. Tôi vui mừng nhận lời mời của cô. Trước sau tôi không bao giờ rời Loan một bước, những lúc tôi phải làm việc thì con gái của tôi ngủ ngay ở chỗ chúng tôi trong bếp.  

Chúng tôi vẫn tiếp tục công việc kinh doanh của mình dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập.  

Tuy nhiên không lâu sau đó cả ở miền Nam lẫn vùng núi phía Bắc lại tiếp tục diễn ra các cuộc giao tranh ngày càng trở nên quyết liệt hơn giữa các lực lượng theo ông và người Pháp. Cuộc chiến tranh này như một đại dương đều đặn xô sóng lên bờ. Chúng tôi sống giữa hai bên mặt trận với hy vọng các xung đột sẽ nhanh chóng lắng xuống và hòa bình sẽ được lập lại như hằng mong mỏi và mang đến cho chúng tôi cơ hội có được một tương lai tốt đẹp.

Bởi vì khách qua lại ở tiệm của chúng tôi phần lớn là binh lính Pháp nên tôi chứng kiến nhiều gương mặt vô danh, trẻ và già, đang trên đường đến cái chết. Vốn tiếng Pháp của tôi khi đó đã đủ để có thể diễn đạt điều muốn nói và hiểu được những gì các vị khách của tôi kể với nhau trong khi ăn uống.  

Bên cạnh lính dù còn có cả lính lê dương từ nhiều nước khác nhau đến chỗ chúng tôi và cạn cốc lần cuối trước khi đi vào trận đánh. Người Đức, người vùng Elsass, Breton, Basque, Corsica, Pieds Noirs, người da đen, Maroko, Hungary và Bỉ chỉ là một số trong nhiều người đang căng thẳng không biết ngày hôm sau sẽ mang đến điều gì cho họ. Phần lớn trong số họ nói to, và thường tỏ ra rất nôn nóng để bước vào cuộc chiến. Có những người lại âm thầm và dường như không biết chính xác vì lý do nào mà họ lại có mặt nơi đây. Có người lính viễn chinh lại mỉm cười với chiếc vé tàu điện ngầm mang điềm may rút ra từ túi áo, an tâm rằng một ngày nào đó lại có thể sử dụng nó ở quê hương. Lính lê dương hay bỏ một viên đạn vào cốc nước, sau đó hôn nó một cách dịu dàng trước khi đút lại vào túi quần. Trong khi tôi, luôn luôn với một nụ cười trên môi, gạt phăng bàn tay đang sờ mông mình và đặt nó lên mặt bàn, lịch sư nhưng vẫn đủ kiên quyết trước khi tính tiền, thì ngay sau đó lại có thể rót thêm một chén không lấy tiền cho một người bỗng dưng khóc nức lên như trẻ nhỏ, chẳng biết vì thất tình hay nhớ nhà.  

Tôi đã hoàn toàn trở nên chai lì giữa tất cả những con người và số phận này và chấp nhận trong chốc lát lời chào "Bonjour" sẽ có thể biến thành lời chia ly "Adieu".

 

C'est la vie...*

* (Đời là vậy (tiếng Pháp)

Vào một buổi tối có một nhóm lính lê dương bước vào quán với câu nói cửa miệng quen thuộc:  "Nào, ta vào cho mấy cô ả nhỏ bé đánh rắm qua quần lụa cái nào!" và đặt một chầu Cognac pha xô đa. Một người trong số họ, vẻ ngoài không lấy gì làm điển trai, mỉm cười ngượng ngập vì cách ăn nói của đám đồng đội. Anh ta tên là Philippe, quê xứ Bretagne. Họ luôn đến theo nhóm, uống một hay nhiều chầu, và quầy tính tiền của chúng tôi cũng tha hồ vang lên tiếng loảng xoảng của tiền đồng. Thỉnh thoảng có người lính cũng đến cùng một cô gái bản xứ mà trên nét mặt của cô gái ấy hiện rõ ước mơ sẽ có một tương lai chung với người đàn ông bên cạnh. Thường tôi vẫn nghe lời hứa hẹn sẽ mãi mãi đợi chờ nhau của họ. Và thường tôi phải an ủi những đôi trai gái trẻ tuổi linh cảm được rằng buổi tối trong quán của chúng tôi cũng là buổi tối cuối cùng bên nhau của họ.

Không lâu sau tôi hỏi đồng đội của Philippe liệu anh có bị điều động đi nơi khác bởi vì từ nhiều ngày Philippe không còn đến quán nữa. Tôi nghe kể anh đang nằm viện trong doanh trại vì bị tiêu chảy. Không nghĩ ngợi gì, vì Philippe luôn rất dễ thương và đối xử đứng đắn đối với tôi và vì tôi cũng cảm thấy thiếu bầu không khí vui vẻ toát ra từ anh, tôi đã tới doanh trại và mang theo cho anh trái cây tươi, ngoài ra còn có một suất ăn ngon và một chai rượu vang đỏ. Ngạc nhiên và rất xúc động, anh chân thành cám ơn tôi.  

Một vài tuần sau khi đã hồi phục, anh trở lại chỗ chúng tôi. Đứng bên quầy anh nói với tôi rằng anh khâm phục cách chúng tôi nhìn nhận con người như vốn có, cho dù là đẹp hay xấu, giàu hay nghèo, mạnh khỏe hay bệnh tật. Sau đó anh nói về sức mạnh của tình yêu mà anh đặt lòng tin vào đó. Rồi, một cách bất ngờ, anh tỏ tình với tôi.

Anh nói về hôn nhân và về một cuộc sống bình yên bên cạnh anh khi chiến tranh trôi qua. Lúc phá lên cười vì không còn tin vào tình yêu, tôi không ý thức được là điều đó đã làm tan vỡ trái tim của anh. Anh chỉ nói là tôi hãy suy nghĩ lại và cúi gằm đầu đi ra ngoài.  

Vào một buổi sáng đầu 1951 Philippe bước vào quán của chúng tôi, một mình.  

"Tôi sẽ tình nguyện đăng ký lên Cao Bằng, trừ khi em nghĩ lại", anh nói với giọng bình thản và nghiêm trang. Tôi biết rằng tình cảm anh dành cho tôi lớn hơn chỉ là một mối thiện cảm, nhưng ngược lại với anh, trái tim tôi hoàn toàn trống rỗng.  

Vào thời điểm này cùng lắm tôi chỉ có khả năng dành sự thương hại cho một người đàn ông, chẳng hạn cho những cậu trai trẻ thỉnh thoảng lại khóc rống lên trong tiệm. Tình cảm sâu sắc hay thèm muốn gần gũi về thể xác đã trở thành xa lạ đối với tôi. Trái tim tôi vẫn còn cảm thấy nỗi đau sâu sắc và cay đắng do tình yêu đã gây ra. Từ dạo đó tất cả những gì liên quan đến đàn ông đối với tôi chỉ là gỗ đá: lạnh lẽo, bất động và không có sự sống. Từ sự thất vọng này trong tôi đã hình thành nên cảm giác rằng mình sẽ không còn bao giờ có thể yêu được nữa. Và chỉ vì quyền lợi thuần túy mà kết hôn một người đàn ông, ý nghĩ này hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Thế nên tôi im lặng.  "Ở đó có thể tôi sẽ chết", anh nói tiếp tục.  

"Quên tôi đi", tôi trả lời anh một cách lạnh lùng.  

"Nếu vậy thì... Chào em, trong tim tôi giờ chỉ còn cái chết." Anh nhìn tôi, mắt trắng bệch và nước mắt trào ra.  

Trước khi quay người để đi vào bếp tôi chỉ nói:  "C'est la vie...".  

 

Hối hận

Hồi ức về trận phóng hỏa và ngôi nhà vẫn còn tiếp tục ám ảnh tôi, gắn liền với nó là sự sợ hãi rằng con tôi vẫn tiếp tục bị các mối hiểm nguy đe dọa. Tại sao số phận lại luôn nhằm vào tôi? Ở những khoảng khác như vậy tôi ôm Loan thật chặt vào lòng. Nhìn thấy con dần lớn lên ngay cạnh mình, tôi thấy được an ủi. Tuy nhiên tôi cũng bắt đầu suy nghĩ về tương lai của chúng tôi. Rồi con tôi sẽ sống ra sao, khi mà chính tôi cũng không biết ngày mai sẽ có gì xảy đến với mình? Đã từ lâu rồi tôi chưa bao giờ rơi vào một tình trạng sa sút tinh thần như trong mấy tuần qua, cả công việc hàng ngày trong tiệm lẫn những lời an ủi của các bạn gái cũng không làm tôi thật sự được khuây khỏa.  

Dần dần, khi những ý nghĩ u ám cũng xâm chiếm tôi vào cả các buổi tối, tôi mới tự thừa nhận nguyên nhân. Từ sau lúc chia tay Philippe tôi mới ý thức thật sự rằng mình đã hành động một cách ích kỷ ra sao khi tôi chỉ biết đến mình mà không nghĩ đến tương lai của con tôi. Tôi đã hành động nhẹ dạ biết bao! Không kể đến nỗi đau đớn khủng khiếp mà tôi đã gây ra cho một người đáng yêu như anh, tôi còn tự dày vò bởi nhận ra rằng mình không còn khả năng đáp trả tình cảm sâu nặng của một người khác nữa.

Tình cảnh khốn cùng của những đoàn người tị nạn càng về sau càng đông hơn đã trở thành một thực tế hàng ngày đối với tôi. Rốt cuộc tin tức về các trận đánh ác liệt ở Cao Bằng và Lạng Sơn đã chấn động tôi đến tận xương tủy. Ý nghĩ của tôi giờ đây chỉ còn xoay quanh Philippe và đè nặng như hàng ngàn hòn đá lên tâm hồn tôi, lên lương tâm tới. Liệu tôi có phải là một kẻ xấu xa?  

Ở phía Bắc cả mùa mưa cũng không đủ để làm cho máu của các nạn nhân thấm vào lòng đất bùn. Có thể Philippe cũng là một nạn nhân. Và với câu nói khước từ lời tỏ tình chân thành của anh, tôi đã đẩy anh vào chỗ chết. Tôi đã hành động sai trái và nhẫn tâm biết chừng nào! Cứ nghĩ mình đẩy một người đang yêu đi vào một chỗ chết chắc chắn, sức chịu đựng cuối cùng trong tôi vơi cạn và khiến tôi càng tuyệt vọng hơn.  

Tôi phải sống với quyết định của mình, nhưng đã đến lúc tôi phải sửa lại lỗi lầm này. Tôi phải cứu vãn lại tình thế!  

Việc giải thoát khỏi tội lỗi này của tôi diễn ra thông qua một người quen. Nguyễn Thị Nga, vợ đính hôn của một người Pháp, đã nhiều lần khuyên tôi vào làm việc cùng chị trong một doanh trại Pháp. Tại hiệu thuốc ở đó hiện người ta đang tìm một người giúp việc. Cho đến nay tôi vẫn luôn từ chối, nhưng lần này, khi chị lại đến thăm và hỏi tôi thì tôi đã quyết định đồng ý làm việc cùng chị.

Rất nhanh chóng, vào ngày 19 tháng Bảy 1951, tôi đã được tuyển làm "cu li" và lần đầu tiên được nhà chức trách Việt Nam cấp thẻ căn cước.  

Bởi vì không biết mình sinh ra chính xác vào ngày nào, nhưng để tránh bị mắc lỗi và có thể trả lời một cách tự nhiên nếu về sau này bị kiểm tra, tôi đã khai ngày sinh là 10.10.1929. Mười ngón tay của mình thì dễ nhớ mà...

Ở hiệu thuốc, hàng ngày tôi cân đong và đóng gói các dược phẩm sau đó sẽ gửi ra các mặt trận. Khi tôi vắng mặt thì Ngọc và Liên chăm sóc Loan. Tôi được phép rời chỗ làm nhiều lần để về cho con bú. Sau buổi làm việc tôi quay trở về quán bar để ăn tối và tiếp tục làm việc ở đó. Sáng hôm sau tôi lại thức dậy từ sớm để có thể đóng được thật nhiều gói thuốc. Và với từng gói thuốc, tôi cảm thấy tâm hồn trĩu nặng của tôi lại nhẹ nhõm hơn một tí.  

 

Cuộc đời của một 

con chim Phượng Hoàng 

Và rồi năm cầm tình mạnh mẽ của con Rồng lại đến. Cũng vào năm Thìn cách đây mười hai năm, năm 1940, tôi đã quyết định vĩnh viễn rời khỏi nhà. Từ lúc đó tôi sống một cuộc đời cho bản thân, và giờ đây là cho con gái của mình.

Trong thẳm sâu trái tim mình, tôi vẫn giữ hy vọng một ngày nào đó sẽ được sống trong hạnh phúc và hòa bình. Vào những khoảnh khắc mơ màng theo đuổi những khát vọng đó, tôi thường vuốt ve đồ trang sức duy nhất mà mình có: cây thánh giá nhỏ mà cô Bè tặng cho tôi.  

Tôi chưa theo hẳn một đức tin nào, có lẽ bởi vì tôi mới hiểu biết quá ít về những tôn giáo mà mình từng tiếp xúc từ trước tới nay. Cũng có thể là vì tôi đã không được học hành đến nơi đến chốn. Nhưng mà tôi biết điều gì là quyết định: Ông Trời và tổ tiên của tôi. Tôi có quyền và tôi muốn được dựa vào nguồn sức mạnh này.

Vào một buổi tối đầu tháng Ba, tôi có một giấc mơ kỳ dị. Chúa Hài đồng Giê Xu nằm trên nôi và đòi tôi nước uống vì Ngài đang khát. Lúc nhìn thấy cảnh tượng này, tôi cảm thấy tim mình đập mạnh hệt như mình đang thức. Trong giấc mơ tôi đi lấy sữa và rót cho Chúa Hài đồng uống, như một bà mẹ đối với đứa con của mình. Sau đó tôi tỉnh giấc và cảm thấy thật kỳ cục khi mình lại mơ về đứa con của Thượng đế người da trắng. Tôi với tay về phía Loan đang ngủ một cách ngon lành ở bên cạnh. Tôi bế Loan và lại ngủ thiếp đi với con gái trong vòng tay.  

Giữa tháng Ba bỗng nhiên Loan làm tôi thức giấc trong một đêm khuya. Con tôi vật vã và khóc to. Ngay lập tức tôi choàng dậy, ôm con và cố làm cho nó bình tâm trở lại bằng cách hát nho nhỏ các bài hát quen thuộc của mình. Ở phía ngoài kia mưa lạnh sầm sập đổ xuống mái nhà như muốn gọt sạch mọi thứ tội lỗi.  

Ngọt cũng bị tiếng khóc của đứa bé đánh thức dậy.  

"Chắc là nó đang mọc răng chị ạ", cô nói. Tôi ru cho con ngủ tiếp. Ngọt đi nằm trở lại. Tôi nhẹ nhàng đu đưa đứa bé và bế con ngồi trên một chiếc ghế, dần dần nó yên ắng trở lại.

Về sau trời ngưng đổ mưa. Và tôi đã có thể nhìn thấy những tia mặt trời đầu tiên. Đấy là vào một ngày thứ Sáu!  

Bỗng nhiên, chẳng có một nguyên cớ nào, Loan lại khóc thét lên. Lúc bây giờ tôi mất hết bình tĩnh. Con tôi chưa bao giờ đau ốm cả, nó đang bị gì vậy? Ngọt cùng tỉnh dậy và đi sang phòng bên thắp hương cầu nguyện cho sức khỏe của đứa bé. Tôi nghe tiếng lẩm bẩm của cô.  

Chỉ vài phút sau, tôi rùng mình vì kinh hãi. Trước mặt tôi, từ trong bức tường trắng, tôi thấy ba người đàn ông bước ra. Căn cứ vào da mặt trắng xanh và các tấm áo thụng dài của họ, tôi nhận ra đây là các tu sĩ châu Âu. Những gương mặt như đắp mặt nạ của họ trừng trừng dõi vào tôi. Tôi bị cấm khẩu do quá sợ hãi, người ướt đẫm mồ hôi.  

Người đàn ông đứng ở giữa chìa bàn tay về phía chúng tôi. Đầu tôi có thể đọc được ý nghĩ của ông ta.  

Ông ta nói:  "Con đừng sợ. Chúng ta đến để đón đứa bé của con". Dường như Loan đã nghe thấy những lời này, nó khóc thét lên lần cuối, trước khi bàn tay nhỏ xíu của nó dãy dụa, tìm cách bấu chặt vào tóc tôi, chặt đến mức tôi bị đau nhói. Sau đó nó ngừng thở.  

Những bóng ma biến mất. Họ đã mang theo linh hồn của đứa con vừa chết trong vòng tay của tôi. Chỉ ít lâu nữa Loan sẽ tròn mười chín tháng tuổi.  

Một thầy thuốc do Ngọc gọi đến chỉ còn có thể xác nhận cái chết của Loan, nguyên nhân có thể là một căn bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn gây nên. Những trường hợp ốm đau và những vụ dịch bệnh chết người như vậy không phải là điều hiếm hoi ở xứ sở này và đối với bác sĩ là một chuyện thường ngày. Nhưng với tôi, với một người mẹ, nó đã làm cho trái tim tôi tan nát.  

Trời vừa lấy đi của tôi sinh linh cuối cùng mà tôi yêu quý.

Chương ba- 1 -

Những con đường số phận

Chim Phượng Hoàng

vẫn tiếp tục sống

 

Nghi lễ đưa ma mà theo đó người chết được rước về với tổ tiên rất quan trọng ở nước tôi. Người ta tin rằng nếu không có nghi lễ đó linh hồn của người chết sẽ bị đày xuống địa ngục.  

Một mảnh lụa trắng là biểu tượng cho "linh hồn trong trắng" được đặt lên ngực người quá cố để linh hồn lìa đời bám vào đó khi người đó trút hơi thở cuối cùng. Trong nhà, nhang được thắp lên để canh giữ thi hài, việc này phần lớn do những thầy cúng được mời đến làm. Trước cửa nhà người ta rắc những đồng xu bằng đồng để trừ tà ma. Khi thi hài được rửa bằng nước thơm và được người nhà khâm liệm, người ta nhét tiền và gạo vào miệng người chết, coi đó là bữa ăn cuối cùng.

Sau đó người chết được đặt vào một chiếc quan tài bài trí rất cầu kỳ với nhiều lá bùa may mắn gắn trên nắp, trước khi quan tài được đặt vào một chiếc khung sơn son thếp vàng, trông giống như một chùa nhỏ. Vào dịp này, người ta có thể thuê những người đàn bà đầu cạo trọc đến để khóc mướn và thể hiện sự đau xót của mình bằng những giọt nước mắt vô cùng thống thiết. Thân nhân mặc toàn đồ trắng, màu của tang lễ, và cũng có thể cắt trọc đầu.  

Rồi quan tài được đem ra nghĩa địa. Đi đầu đoàn người đưa tang là hai người đàn ông rước đuốc và cờ, trên cờ có ghi vị thế của người quá cố. Tiếp đó là đoàn người đi theo sau rắc vàng mã để trấn an ma quỷ. 

Sau đó là người rước bia sơn son tưởng niệm người quá cố giờ đây đã được xếp vào hàng tổ tiên. Còn có một bàn thờ nhỏ, trên đó đặt những kỷ vật hay đồ dùng từng gắn bó với người quá cố. Sau cùng là xe tang, được vây quanh bởi đoàn nhạc công và tang quyến.  

Khi đến nơi an táng người ta gọi hồn ba lần và quan tài lúc này có thể hạ huyệt.  

Mọi việc diễn ra như vậy. Sau đó bài vị của người quá cố được đưa lên bàn thờ tổ tiên.  

Tôi không muốn biết gì về những thứ thủ tục đó. Không một thứ nghi lễ, dù to tát đến chừng nào, có thể diễn tả nỗi đau mất con của tôi và tình yêu mà tôi dành cho nó. Tôi không cần bàn thờ, vì tôi mang tổ tiên tôi trong lòng mình và biết rằng tổ tiên tôi luôn đưa bàn tay cưu mang tôi, một đứa trẻ mồ côi. Tôi cũng không cần cả một người khóc thuê vì tự tôi có thể khóc.

Tuy nhiên tôi vẫn mặc đồ tang trắng và ngồi bên xác Loan suốt ba ngày.  

Ngọt và Liên đã mang hoa đến và rắc lên thi thể bé nhỏ của nó. Tôi đã nhờ Ngọt cắt mớ tóc dài tôi. Nó làm theo lời tôi mà rưng rưng nước mắt. Loan thích mái tóc của tôi, và đó là vật duy nhất ngoài tình yêu của tôi mà tôi có thể cho con gái tôi mang theo trên chuyến đi xa của nó. 

Vì trước đó có ba tu sĩ da trắng hiện lên trong giấc mơ nên sáng ngày Chủ nhật tôi đưa xác con tôi, được quấn bằng lụa trắng, đến chỗ một cha cố. Trước khi nhờ vị linh mục mai táng Loan theo lễ nghi tôn giáo của ông, tôi nói:  "Ông Trời thật công bằng: một người đàn ông trẻ tuổi đã chết vì bị tôi khước từ. Và giờ đây tôi đã phải trả giá tội lỗi đó bằng chính giọt máu của mình". 

 

 

Nhân vật chính, mẹ của tác giả, cắt tóc ngắn sau khi người con gái đầu tên Loan qua đời.  

 

Vị cha cố im lặng nhìn tôi và hiểu được nỗi buồn của tôi. Sau đó ông đã làm theo ý nguyện của tôi.  

Tôi nêu lý do cá nhân và xin nghỉ việc ở chỗ tôi làm vào ngày 31 tháng Ba năm 1952.  "Từ nay", tôi nói với những người bạn gái của tôi,  "tôi không muốn ai, kể cả các bạn, gọi tôi là "Cúc" nữa mà hãy gọi tôi là "Loan", bởi vì nó đã và sẽ mãi là con của tôi. Tôi đã không uổng phí gọi nó là Con Chim Phượng Hoàng".  

Ít lâu sau đó tôi quyết định rời khỏi thành phố, nơi đã mang lại cho tôi biết bao điều bất hạnh. Tôi chỉ mang theo một hộp nhỏ đựng đồ trang sức, tiền và một ít quần áo và chia tay với Ngọt, Liên và Anh, những đứa em buồn thê thảm khi phải để tôi ra đi.  

"Chị không thể ở lại đây thêm nữa", tôi nói với họ.  "Vì nếu không chị sẽ chết vì buồn bã. Hãy nhận tất cả gì mà chị đã dành dụm được. Chị chẳng cần đến nó nữa. Chị cám ơn các em nhiều lắm."

Tôi leo lên xe khách, xe đưa tôi tới Gia Lâm, một thị trấn ở phía Đông Hà Nội, để bỏ lại thật xa phía sau quá khứ nặng nề.  

Khi xe khách từ từ lăn bánh, họ gọi với theo, như đã đọc được suy nghĩ của tôi:  "Chị có lý đấy Loạn ạ: một con chim Phượng Hoàng không bao giờ chết!".  

 

Hoa, một tâm hồn cao cả 

 

Quân Đội Pháp từ lâu đã đóng quân tại Gia Lâm. Tôi sống ở ven con đường từ Hải Phòng tới Hà Nội, trong một túp lều nhỏ xíu như bao túp lều khác. Ngay đằng sau đó là những bãi lầy xa tắp, nơi tạo môi trường sống lý tưởng cho cá sấu và ễnh ương và mỗi khi hoàng hôn đổ xuống, đàn ễnh ương lại kêu uênh oang thật to, át cả những âm thanh ồn ào thường thấy. Lần này tôi muốn mở một quán bar, vì thế tôi thuê trên phố một gian phòng nhỏ và mua một số đồ gỗ. Rồi tôi thuê hai người phụ nữ trẻ phụ giúp cho tôi. Tiếng gầm rú của phi cơ ném bom và máy bay Đa-cô-ta từ sân bay gần đó thường trộn lẫn với những tiếng rao bình thản của những người bán đồ ăn. Như tất cả những người ở đây, tôi sống ngày này qua ngày khác. Một chiếc cầu dài mang tên Paul-Doumers bắc qua sông Hồng rộng lớn và nối liền Gia Lâm với Hà Nội. Đường xe lửa đi Hải Phòng cũng chạy qua cây cầu này. Những người lính thực dân da đen, người cao lớn mặc quần soóc canh gác cầu, thường xuyên đi tuần ở đây. Cầu nhiều lúc bị tắc nghẽn vị xe trâu, xe xích lô, xe đạp và cả người đi bộ. 

Vào những ngày nghỉ tôi đi xích lô qua cầu và dành thời gian ở bên Hà Nội. Động tác tượng trưng này nhằm rũ bỏ thân phận và đã giúp tôi dần dần lấy lại sức lực. Việc không cưới bố của Loan đã là một quyết định mang hậu quả nặng nề. Tôi đã vi phạm những quy tắc xã hội và đã hủy hoại thanh danh của mình. Nhưng tôi đã cảm nhận rằng sẽ hoàn toàn sai nếu tôi từ bỏ cuộc sống tự quyết của một người phụ nữ. Việc mất Loan chỉ là thêm một thử thách nữa mà tôi phải trải nghiệm. Và tưởng chừng như con gái của tôi đang đòi hỏi tôi phải bắt đầu một cuộc sống mới, phù hợp với chính những nguyên tắc bướng bỉnh mà tôi đã đặt ra cho mình, tôi tìm cách để thực hiện điều này một cách tốt nhất. Tôi quyết tâm không lâu nữa sẽ lại có thể trụ được trên chính đôi chân của mình, tại một thành phố khác và bằng một cái tên mới.  

Một buổi tối, tôi đã làm quen với một cô gái trẻ cách quán của tôi vài bước chân, tôi từng nhiều lần nhìn thấy cô đứng đó một mình. Cô bé 14 tuổi, tên là Hoa.  

Tôi bắt chuyện với cô. Cô nhìn tôi một cách ngượng nghịu và cẩn thận nhòm ngó quanh đó, xem có ai nghe chúng tôi nói chuyện không. Cô bé nói nhỏ với tôi, cô là gái làm tiền và đang chờ khách làng chơi. 

Rồi cô kể cho tôi nghe câu chuyện của cô. Đó là cách duy nhất để cô và gia đình cô tồn tại. Bố cô đã lên đường đi chiến đấu vì tự do của dân tộc mình; từ nhiều năm nay họ không được tin tức gì của ông nữa. Mẹ cô ở lại cùng với ba người con, thêm vào đó là người ông bị bại liệt, và chẳng còn một xu dính túi. Năm 12 tuổi Hoa đã phải bán mình cho một người đàn ông lấy mấy trăm đồng để gia đình sống qua ngày. Không ai ép buộc cô gái làm việc đó, nhưng sự túng quẫn của gia đình cô trong cuộc chiến tranh khốn nạn này đã không cho cô một sự lựa chọn nào khác. 

Tôi thật cảm động khi được biết rằng một con người có khả năng làm được những điều gì vì tình yêu dành cho người thân của mình. Đối với tôi, hy sinh của Hoa là minh chứng cho một tâm hồn thực sự cao cả.  

 

 

Một gian phòng đầy bí ẩn 

 

Người chủ mới cho tôi thuê nhà đón tôi một cách vui vẻ, gần như nồng nhiệt. Ông sống cùng với gia đình trong căn nhà bên cạnh và chẳng hỏi han gì cả. Một hôm tôi chợt nhớ ra mình để quên giấy tờ tùy thân ở nhà, và vì vậy phải nhanh chóng quay trở lại. Chẳng ai biết rằng điều gì có thể xảy ra trong ngày, vì thế tốt nhất là mang tất cả những gì quan trọng nhất bên mình. Khi về gần tới nơi, tôi thấy người chủ nhà bước vào túp lều của tôi, vai vác một nửa con bê. Tôi ngạc nhiên chờ vài phút ở trước cửa. Ông ta định trữ tảng thịt đó ở đâu? Trong nhà làm gì có chỗ. 

Một lúc sau vẫn chưa thấy ông bước ra, tôi bèn đi vào trong nhà. Ông bình thản đứng giữa căn phòng duy nhất của tôi và cười vui vẻ:  "Cô Loan, tôi đang định kiểm tra xem trong lều của cô có sạch không?", tôi nhận thấy ông nói năng có vẻ lúng túng.


Tôi bình tĩnh trả lời ông với một nụ cười đặc biệt thân thiện và lịch sự:  "Xin mời ông. Ông cứ kiểm tra đi ạ. Tôi hy vọng rằng mọi thứ đều sạch sẽ đối với ông. Tôi chỉ muốn về lấy cái túi mà tôi quên thôi". Tôi không chờ ông trả lời mà đi thẳng về chỗ chiếc tủ con bên cạnh giường ngủ. Tất nhiên là tôi không hề thấy dấu vết gì của tảng thịt khổng lồ ban nãy. Tôi không tỏ thái độ gì, lấy cái túi và chào ông một lần nữa. Ông tỏ ra hài lòng với việc kiểm tra của mình, gật đầu đáp lại câu chào của tôi và theo tôi đi ra ngoài. 

Buổi tối sau giờ nghỉ tôi về nhà, khóa chặt cửa và vặn nhỏ ngọn đèn Ca-bít. Sự việc xảy ra trong ngày đã không để cho tôi yên. Tôi muốn tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra đối với nửa con bê. Tôi bắt đầu sờ vào tường. Không có gì cả! Nhưng tôi chợt phát hiện ra tấm thảm dưới giường của tôi có vết gấp ở một góc. Tôi nhẹ nhàng và cẩn thận kéo chiếc chõng tre cùng với tấm thảm sang một bên. Quả thực phía dưới là một chiếc nắp hầm.  

Tôi tò mò kéo chiếc nắp hầm vài xăng-ti-mét sang một bên và phát hiện ra một lối ngầm. Túp lều của tôi bị đào rộng dưới nền và ở đó có hẳn cả một đường hầm!  

Giật mình và sợ hãi vì có thể có người nào đó từ dưới hầm chui lên, tôi vội vàng đóng chiếc nắp hầm lại và nhẹ nhàng đẩy tấm thảm cùng với chiếc chõng tre trở lại vị trí cũ. Vậy là tôi lại có thêm một câu chuyện rắc rối nữa. Gian phòng của tôi là cửa vào của một hệ thống đường hầm, và qua đường hầm đó hẳn ông chủ nhà của tôi đã tiếp tế thức ăn cho người của Việt Minh! Lúc đầu tôi có bị sốc, nhưng rốt cuộc thì tôi nghĩ rằng mọi sự đối với mình đều là vô can. Tôi chỉ mong muốn được yên thân và sống trong bình an.  

Con rắn quay trở lại 

Cuộc sống cứ thế trôi đi. Tôi cố tình lờ đi như không nhìn thấy những cây chuối ở đằng sau túp lều của tôi thỉnh thoảng lại rung lên khi tôi phơi quần áo lên dây phơi, và tôi cũng cố tình như không nghe tiếng những "con chuột chũi" hai chân đang nói chuyện ở những cái lỗ phía dưới không xa chân tôi là mấy, vì họ bỗng dưng va đầu vào những rễ cây cứng.  

Đã hai tháng trôi qua kể từ khi tôi tới đây. Tôi không có lý do gì để phải lo lắng. Về phần mình, tôi chẳng thiếu thốn gì. Nếu có đủ tiền người ta có thể sống ở đây một cách khá thoải mái. Có những người thích ngồi xổm trên chiếc ghế đẩu bởi họ cảm thấy ngồi như vậy thoải mái hơn là ngồi trên ghế tựa, vào những giờ phút yên tĩnh họ ngồi trước cửa lều và bắt chấy trên đầu cho nhau. Những người khác thì bỏ tiền ra thuê người bới tìm tóc bạc và chìm vào giấc ngủ khoan khoái khi được nhổ tóc. Ngược lại, những người nghèo nhất trong số những người nghèo thì hàng giờ đứng ở vệ đường để bán những mớ tóc óng mượt của mình lấy ít tiền hoặc đổi lấy một chút đồ ăn. Những bờm tóc này phần lớn được phụ nữ mua về để độn vào những làn tóc mỏng của mình, hoặc là để tạo dáng thành những kiểu đầu độc đáo. Điều quan trọng là cần phải chú ý tới nguồn gốc của tóc, bởi cũng có những trường hợp tóc là của những người đàn bà đã chết.  

Vào một buổi sáng tôi có linh cảm mình đang bị theo dõi. Tôi phát hiện ra một người đàn ông trẻ đeo kính đã theo mình suốt từ nhà cho tới chỗ làm. Giờ đây anh ta vẫn đứng cách quán bar của tôi không xa và làm ra vẻ như đang đọc sách.  

Tôi cảm thấy bất an. Liệu có phải tôi đã bị phát hiện vì những mưu đồ của người chủ nhà hay không? Liệu có phải tôi biết quá nhiều hay không? Hay là vì những mối quan hệ của tôi với người nước ngoài?  

Đến chiều thì tôi không thể chịu đựng được nữa. Người đàn ông vẫn còn đứng đấy. Bởi sự việc bắt đầu trở nên kỳ quặc, tôi quyết định sang bên kia đường và trực tiếp hỏi anh ta.  

"Xin lỗi. Ông đã quan sát tôi suốt cả ngày trời. Tôi có thể giúp ông điều gì chăng?", tôi hỏi và cố tỏ ra hoàn toàn bình thản. Bất ngờ vì sự thẳng thắn của tôi, người đàn ông trẻ bỏ kính ra, nhìn xuống đất và trả lời tôi một cách lúng túng:  "Tôi phải xin lỗi bà... Có phải bà là bà Cúc?".  

Khi chưa thấy tôi trả lời, anh ta nói tiếp:  "Ông chủ của tôi đã lệnh cho tôi đến tìm bà. Ông ta muốn gặp bà đề nói chuyện và để xin lỗi vì những điều ông ấy đã làm đối với bà. Ông ấy muốn đón bà về... để làm vợ ông ấy". Người đàn ông trẻ vẫn nhìn xuống với vẻ tôn kính.

Chỉ trong một tích tắc, hồi tưởng về Hùng đã ùa đến khiến tôi rụng rời. Tôi phải hít một hơi thật sâu. Vâng, tôi cũng đã từng muốn chung sống cùng anh. Bằng tất cả sự chân thành, tôi đã hiến dâng cho anh sự trinh trắng của tôi. Giờ thì chỉ còn nỗi đau đớn khi tôi nghĩ đến anh. Sau khi đã lấy lại được đủ nghị lực và sự bình thản, tôi trả lời:  "Ông hãy về nói với ông chủ của ông rằng tôi sẵn sàng đón nhận ông ta. Tuy nhiên với điều kiện là ông ta đủ can đảm để tự cắt đi một bên má mặt, coi đó là sự đền bù lại nỗi đau ông ta đã gây ra cho tôi. Còn nếu không thì tôi không bao giờ muốn nhìn lại ông ta nữa".  

Người nhắn tin gật đầu vội vã và ra đi với vẻ biết ơn vì có thể mang về cho ông chủ mình một câu trả lời.  

Mối kết giao bằng hữu 

"Nếu cuối đời bạn có thể tin tưởng vào chỉ một bàn tay, vào một người bạn duy nhất thôi thì bạn đã là người hạnh phúc!"  (Loan)

Ở quán tôi chứng kiến những việc đã trở thành thường tình với mình, đó là phục vụ những người lính của nhiều quốc gia khác nhau và nghe họ kể chuyện. Với một nụ cười và một chút thái độ thân thiện là tôi đã được nghe họ dốc hết bầu tâm sự về cuộc đời của mình.  

Thường thì tôi vỗ vai một người khách ca thán vì biết mình đã cùng đường. Nhiều lần tôi đã gật đầu an ủi một đứa trẻ lớn tuổi đang nhớ nhung và mơ mộng những điều không bao giờ thành hiện thực trong cuộc đời của nó.  

Chẳng phải vì tiền. Từ lâu tôi đã khám phá ra rằng tiền chỉ là một ảo tưởng của hạnh phúc. Ở đây tôi đang tiếp xúc những con người với tất cả những tình cảm, những nỗi khao khát của họ, con người với cả những thế mạnh và những mặt yếu.  

Đồng thời tôi cũng đã học cách xử lý những màn đánh lộn. Một người lính chân ướt chân ráo vừa mới tới đã khoe khoang từng tham gia cuộc chiến tranh Triều Tiên thì không cần uống rượu đã đủ để khiêu khích một người nào đó trong quân đội thuộc địa hoặc lính lê dương. Chỉ nói qua một lời thôi cũng đủ khiến bàn ghế bị đập nát trong phút chốc. Trong những trường hợp như vậy tôi luôn giữ cho thần kinh mình ổn định. Sau một vụ đánh nhau, tôi liệt kê mọi thiệt hại và ngày hôm sau vào doanh trại, nơi luôn có một vị chỉ huy của những thủ phạm đánh lộn sẵn sàng chi tiền bồi thường thiệt hại, và phần lớn còn kèm theo một lời xin lỗi, sau khi đã ghi lại tên ai trong số binh lính của mình gây chuyện, để trừ lương tháng sau.  

Vào một ngày mưa tháng Bảy, tôi đang chăm chú lo rót bia thì bỗng thấy một chiếc xe xích lô dừng trước cửa quán bar. Tôi há hốc miệng đứng nhìn những người đang bỏ hành lý từ trên xe xuống: Ngọt, Liên và Anh thình lình đứng trước mặt tôi, trên mặt nở những nụ cười rạng rỡ.  

"Chúng em đã bán tất cả để theo chị! Và bây giờ thì chúng em đã tới đây!", họ tranh nhau nói loạn cả lên và reo lên mừng rỡ.

Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, làm cho khách hàng của tôi cũng phải cười và cự nự một cách bỡn cợt, ra ý họ cũng muốn được chúng tôi ôm cùng. Thật khó mà tin được. Tim tôi tràn đầy cảm giác hạnh phúc! Tôi đâu có mất tất cả: tôi có những người bạn gái trung thành, những bằng hữu trọn đời.  

Anh

Chúng tôi nhanh chóng dọn sang một căn nhà rộng hơn, có đủ chỗ cho bốn chị em. Nó nằm hơi xa một chút và bao quanh là một bãi lầy lớn. Tường hậu phòng ngủ của chúng tôi sát với vách ngoài của một ngôi chùa, trong đó có nhà sư trẻ trụ trì.  

Bây giờ thì tôi cảm thấy rất nhẹ nhõm vì biết rằng bên dưới giường mình chẳng có người nào nữa. Chúng tôi cũng chuyển quán tới một vị trí khác sầm uất hơn. Cũng như trước đây, trong một bầu không khí thật chan hòa, chúng tôi đã tiếp tục công việc kinh doanh của mình một cách thành đạt.  

Ngọt và Liên thì không thay đổi gì, vẫn như hồi tôi quen họ, nhưng Anh thì đã thay đổi rất nhiều, với cái tuổi mười chín của mình, cô trở nên xinh đẹp hơn nhiều. Tôi đã nghe kể về những gì cô đã phải trải qua trong những tháng vừa qua.

Đầu tiên cô bị chồng bỏ để đi theo một người đàn bà mà trong con mắt của anh ta thì còn xinh hơn cả cô. Sau đó người đàn bà này còn cho người hành hung cô. Giữa thanh thiên bạch nhật, một người lạ mặt đã xông vào Anh ngay ở giữa đường và tìm cách tạt axit vào mặt cô. Trong cái rủi có cái may, cô chỉ bị người đó làm bị thương ở cổ. Cũng chính vì sợ bị tiếp tục tấn công, cô đã quyết định cùng với Ngọt và Liên trốn tới chỗ tôi. Và đây chưa phải là tất cả: Anh đã có mang tháng thứ ba.  

Tôi cảm nhận được rằng cô đã phải đau khổ như thế nào về việc đó. Cả Ngọt và Liên không thể giúp gì cho cô. Tôi đã tìm cách tiếp cận Anh để an ủi cô.

Chúng tôi có một cuộc trò chuyện với nhau, đúng hơn là cô chỉ nghe mà chẳng nói gì. Tôi bảo cô đừng quá lo lắng, ngay cả khi cô đang sắp sửa có con. Tôi lấy ví dụ rằng chính tôi cũng đã tự mình vực dậy sau cơn hoạn nạn. Danh dự, tôi nói với Anh, không phải là tất cả. Bản thân tôi cũng từng hạnh phúc, và đứa con của Anh chắc chắn cũng sẽ mang đến nhiều niềm vui. Ngoài ra cô còn có cả chúng tôi nữa mà!  

Anh ngước nhìn lên. Một lúc sau cô nói nhẹ nhàng:  "Em cám ơn chị. Chị tốt với em quá. Em yêu chị như chính chị gái của em. Nhưng không có anh ấy thì cuộc sống của em chẳng có nghĩa lý gì hết. Cho dù cái gì sẽ đến, em cũng bất cần". Cô từ từ đứng dậy và đi ra ngoài. Tôi buồn bã và bất lực quay trở lại chỗ những người kia. Tôi đồng cảm sâu sắc với điều mà Anh đã chia sẻ. 

Hai ngày sau Liên tìm thấy Anh trong phòng ngủ. Tại đó, hoàn toàn không gây nên một tiếng động nào, Anh đã dùng dao trước hết đâm vào bụng mình và sau đó đâm nhát thứ hai vào tim để tự giải thoát khỏi cuộc sống mà cô không muốn có nữa.  

Một đêm bất an

Vào một ngày cuối tháng mười một năm 1953, lúc gần nửa đêm, tôi cùng với Ngọt và Liên đang trên đường đi về nhà thì bỗng nhiên có tiếng súng nổ và tiếng những người đàn ông gào thét thật to, chỉ cách chúng tôi một vài con phố. Chúng tôi giật mình và chạy nhanh hơn. Chúng tôi đã gần về tới căn lều của mình.  

Những người lính Pháp bất thình lình xuất hiện như từ trên trời rơi xuống và chặn đường chúng tôi, họ chĩa súng vào chúng tôi. Họ đã đuổi theo một tốp chiến sĩ Việt Minh mà họ vừa mới phát hiện.  

Khi họ nhận ra chúng tôi chỉ là ba người phụ nữ, họ lại để chúng tôi đi qua và tiếp tục kéo đi một cách hoang mang. 

Vừa vào nhà chúng tôi liền đóng chặt cửa lại. Song chưa đầy mười phút sau có người đạp cửa thật mạnh làm cửa bật tung ra. Lính tràn vào nhà chúng tôi, vũ khí lăm lăm trên tay. Chúng tôi ngồi yên, vô cùng sợ hãi. Trong khi một người chĩa súng vào chúng tôi, hai người lục soát các phòng.  

Với giọng nói cau có "Xin lỗi các bà!" họ lại ra ngoài, bước vào bóng đêm sau cuộc lục soát không có kết quả.  

Tôi cố tìm cách đóng cửa lại vì ổ khóa giờ đã bị đạp hỏng, tôi nhìn ra và thấy tất cả các căn nhà khác đều bị lục soát theo cách tương tự. Chúng tôi pha chè uống để tĩnh tâm lại, nhưng khi bất thình lình nghe nhiều tiếng súng nổ từ hướng bãi lầy thì chúng tôi suýt đánh rơi chén chè xuống đất. 

"Chắc chắn là chúng ta bắn trúng nó rồi!", một người la lên.  "Hãy để cho hắn chết đuối!", một người khác phụ họa thêm. Một lúc lâu sau tốp lính mới bỏ đi. Không ai trong số chúng tôi lại mường tượng được rằng bãi lầy sau nhà chúng tôi lại là nơi trú ẩn của Việt Minh! Khi gặp nguy hiểm, họ có thể ngâm mình hàng giờ dưới nước và chỉ thở qua mấy chiếc ống tre.  

Sau đó, vào lúc nửa đêm, chúng tôi nghe những tiếng chân vội vã ở phía sau căn nhà của mình và nghe giọng nói bằng tiếng Việt vọng ra từ ngôi chùa. Ngôi chùa là ngôi nhà duy nhất không bị khám xét, vì được coi là chốn linh thiêng. Cả đêm chúng tôi nghe thấy tiếng nói từ phía đằng sau vách khiến cho mình run sợ. Nếu người ta phát hiện ra rằng các nhà sư để cho những người bị truy đuổi lánh nạn thì chắc chắn tất cả chúng tôi đều phải tính tới chuyện bị trả thù.  

Một chuyến đi trên mây 

Những nghiệm trải mạo hiểm như vậy cũng không thể cản trở chúng tôi trong công việc kinh doanh. Cuộc sống vẫn cứ tiếp diễn. Ngày càng nhiều lính Pháp trụ lại ngắn hạn ở Gia Lâm, trước khi họ bị điều đi Điện Biên Phủ. Nơi đó người Pháp đã xây dựng cả một căn cứ trong thung lũng và phải bảo vệ nó trước sự tấn công của các đơn vị bộ đội Việt Minh.

Một người lính lê dương đổi cho tôi một con gấu con màu nâu mà toán quân của anh bắt được trong rừng sâu để lấy một chai Cognac. Tôi hứa sẽ chăm sóc con thú đã được thuần hóa. Nó được xích cả ngày bằng một cái xích dài ở phía sân sau của quán bar chúng tôi và ăn đồ ăn thừa của bếp. Khi chia tay, anh lính lê dương khuyên tôi rời khỏi thành phố vì không bao lâu nữa tình hình có thể sẽ căng thẳng. Tôi chẳng hề để ý đến lời nhắc nhủ của anh ta. Có lý do gì đâu mà phải lo lắng. Tôi đã phiêu bạt lâu lắm rồi và hầu như lúc nào, ở chỗ nọ hoặc chỗ kia, cũng đều có chiến sự. 

Tôi đã quá quen với điều đó. Giờ thì sao tôi lại phải làm mình đau đầu vì chuyện này?  

Sau đó không lâu, vào một ngày mưa, tôi đang trên đường đi chợ thì trời nổi sấm sét. Sấm to báo hiệu một cơn bão sắp tới. Bất thình lình trước mặt tôi, ngay trên đường phố, một người qua đường bị sét đánh trúng và bay đầu.  

Liệu có phải qua đó Ông Trời muốn chỉ cho tôi biết cái chết và sự sống gần nhau trong gang tấc như thế nào hay không? Liệu có phải điều đó có nghĩa rằng:  "Ta phải đi khỏi nơi đây?" hay là "Ta luôn luôn gặp may?". Tôi không thể hiểu nổi ý nghĩa của chỉ dấu này. Chỉ biết là từ đó và mãi về sau tôi luôn cảm thấy một nỗi sợ khủng khiếp mỗi khi trời nổi giông tố.  

Tháng Giêng 1954, Liên bất ngờ nhận được một bức điện từ Đà Nẵng. Mẹ cô ốm thập tử nhất sinh và gọi cô về. Ngay ngày hôm sau chúng tôi giúp cô đóng chiếc va ly nhỏ và tiễn cô ra xe xích lô để đến nhà ga gần nhất. Tàu của cô qua đèo Hải Vân. Cô sẽ sớm về với mẹ, hy vọng là còn kịp!  

Chúng tôi vuốt nhẹ lên gương mặt tái mét của cô và chúc cô mọi điều tốt lành. Rồi cô đi khỏi. Chúng tôi sẽ rất nhớ cô. Với một tâm trạng nặng nề, chúng tôi trở về nhà, vì lúc đó đến quán bar làm thì hẵng còn sớm quá. Lúc chúng tôi gần về đến nơi thị Ngọt chợt phát hiện ra một con cú mèo đậu trên mái nhà chúng tôi. Một dấu hiệu chẳng lành! Ngọt vội quỳ xuống và khấn vái để xua đuổi điềm gỡ. Chúng tôi vào nhà mà bụng chẳng khỏi nôn nao, chúng tôi thắp hương nhiều ngày để mong thần linh phù hộ và xua đuổi tà ma.

Cảm giác lạ lùng, đeo đẳng về việc có sự gì đó không may có thể xảy ra tưởng chừng như đã trôi qua sau hai tuần lễ thì vào ngày mồng ba tháng Hai, vào ngày Tết âm lịch của chúng tôi lại trỗi dậy, khi chúng tôi lại nhận được một bức điện nữa. Điện lại gửi cho Liên. Chúng tôi vội vàng đọc xem trong đó viết gì:  

"Chị yêu thương - Mẹ đang hấp hối - Mẹ đang gọi chị - Chị ở đâu - Hãy về ngày chị nhé!"  

Ngọt và tôi bàng hoàng nhìn nhau, chúng tôi bỏ dở mọi công việc, vội vã lên xe xích lô để ra ga xe lửa. Khi tới ga, chúng tôi hỏi nhân viên hỏa xa về chuyến tàu mà Liên đã đi. Ông ta trả lời một cách thản nhiên, như chẳng có chuyện gì lớn xảy ra:  "Vâng, cách đây hai tuần đoàn tàu đã bay lên không trung. Có phá hoại mà". Ông ta để chúng tôi đứng đó, bàng hoàng và buồn vô tận.

Liên đã có một chuyến đi trên mây. Từ trên đó cô có thể nhìn xuống thấy chúng tôi...  

Chỉ cần nói qua một lời 

Chúng tôi ủ rũ quay trở lại quán bar. Tất cả những người quen biết Liên, dù là người quen ở mấy cửa hàng bên cạnh hay khách hàng đều choáng váng. Nếu năm Ngọ bắt đầu như vậy, tôi nghĩ, thì nó sẽ kết thúc ra sao?  

Để tưởng nhớ cô, chúng tôi thắp hương trong quán và sắm một giỏ trái cây cùng với hoa. Ngày hôm đó Ngọt và tôi làm việc như thường lệ. Đối với chúng tôi, đấy là cách tốt nhất để khuây khỏa. Trong bếp thì chúng tôi lau nước mắt, còn ở ngoài quầy bar thì chúng tôi cười với những người khác.

Mới chập tối mà quán đã nhanh chóng đông kín, ban đầu là lính dù với những cô gái cặp với họ, sau đó, vào giờ khuya hơn là lính lê dương và lính thực dân. Bao giờ họ cũng đi riêng và ngồi thành từng nhóm riêng. Mọi người đều kể chuyện và cười to, tạo không khí thoải mái. Họ đến đây để cùng quên lãng, nhưng hôm nay họ muốn liên hoan. Họ cũng đã làm như vậy, cho tới khi một người lính thực dân ngà ngà say và bắt đầu hát một bài ca về sự thất bại của lính lê dương tại Bắc bộ. Những tiếng cười bỗng lặng ngắt. Khi anh ta vừa mới bắt đầu hát, những người lính lê dương đứng bật dậy và lao như điên dại vào những người khác. Các cô gái lập tức bỏ chạy. Và tôi chứng kiến một trận hỗn chiến lớn nhất từ trước tới nay.  

Ngọt và tôi chờ ở trong bếp cho tới khi sự việc qua đi, bỗng nhiên những cảnh sát người Việt được trang bị vũ khí nhảy từ trên xe cam nhông xuống và xông vào quán. Họ đã nhận lệnh tiến hành lục soát và bắt đi tất cả những người không có giấy tờ.

Ho kiểm tra từng người một. Những người bản địa đều trình giấy tờ của mình mà không cự nự gì. Sau đó đến lượt Ngọt và tôi. Chúng tôi là những người duy nhất không mang chứng minh thư bên mình, và đến giờ chúng tôi đã quên túi xách của mình ở nhà. Đấy là lần đầu tiên, nhưng một lần như vậy cũng quá đủ.  

Trong khi họ dùng súng bắt khách hàng ngồi hoặc đứng yên tại chỗ, chúng tôi tìm cách giải thích với họ rằng giấy tờ để ở trong túi xách ở nhà. Chúng tôi van nài họ để chúng tôi về lấy hoặc cho người về nhà chúng tôi để lấy giấy tờ.  

"Lũ đĩ rạc! Hãy đi theo chúng tao!", một người gào lên một cách vô cảm. Một người khác đi về phía chúng tôi, trên môi nở một nụ cười đĩ đượi làm tôi lạnh cả sống lưng và nói:  "Chúng ta sẽ giải quyết việc đó ở trên đồn!".  

Trước khi kịp ghi nhận được điều gì đã xảy ra với mình thì chúng tôi đã ngồi trên thùng xe tải, chiếc xe mà lúc đó chúng tôi chưa hình dung được rằng nó sẽ đưa mình trong đêm tôi về hướng địa ngục.

6/6/2025

Isabelle Müller

Trương Hồng Quang dịch

Theo https://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

XXXXXXXLoan - Từ cuộc đời của một con chim phượng hoàng 2

Loan - Từ cuộc đời của một con chim phượng hoàng 2 - 2 - Một đêm tối tăm  Chúng tôi tới một ngôi nhà nhỏ, tối om, bao quanh là tường c...