Dòng thơ văn Thanh Tâm Tuyền
Nhìn lại thơ Thanh
Tâm Tuyền, tự nó, là một thế giới, và đồng thời một không gian nhìn ra thế giới.
Đây là đặc tính của thơ Thanh Tâm Tuyền, ở những nhà thơ khác dù rất hiện đại,
cũng không có, hoặc không rõ nét. Ví dụ trong thơ Tô Thuỳ Yên, chủ yếu ta thấy
thảm kịch Việt Nam; thơ Lê Đạt chủ yếu phản ánh tâm cảnh người dân châu thổ
Sông Hồng; thơ Dương Tường đưa vào nhiều tiếng nước ngoài, thảnh thót giọt mưa
dương cầm tím mộng scheherazade, vẫn là cái liếc nhìn ra thế giới, không phải
là tầm nhìn sâu thẳm, xâu xé, xoáy vào thân phận làm người, chủ yếu là người
nhược tiểu. Nói như vậy, không có ngụ ý rằng thơ Thanh Tâm Tuyền nhẹ tính
cách dân tộc. Phân biệt dân tộc với nhân loại là phiến diện: trong thế giới có
Việt Nam và trong Việt Nam có thế giới. Trong Guernica của
Picasso có Bến Tre, trong tranh khắc gỗ đình làng Việt Nam có Picasso. Tôi nói
thơ Thanh Tâm Tuyền trong hình thức và nội dung là một bước ngoặt trong nghệ
thuật và tâm thức Việt Nam là vậy.
Tuy nhiên cũng phải ghi
nhận với ít nhiều tiếc rẻ là lối thơ Thanh Tâm Tuyền không có người thừa kế. Bản
thân Thanh Tâm Tuyền về sau, trong tập Thơ ở đâu xa cũng trở về với những thể
thơ truyền thống. Nhưng đây là những bài thơ làm trong lao lý, trong những hoàn
cảnh đặc biệt, không cho phép chúng ta suy diễn về lý thuyết. Dù sao ông đã mở
ra những chân trời mới và cách tân quan niệm thi ca.
Câu thơ, bài thơ mới, đọc
qua thấy ngay. Câu văn, cuốn truyện mới, khó nhận ra hơn. Người bình luận phải
phân biện: mới so với cái gì, và mới ra sao. Nhưng điều cụ thể nhất lại là: người
đọc đương thời có nhận ra nét mới ấy không?
Thưa rằng có. Nhà văn
Nguyễn Quốc Trụ, 1973, trên báo Văn, số đặc biệt Thanh Tâm Tuyền đã dẫn, có một
bài viết căn cơ trình bày giá trị, nghệ thuật và tính chất súc tích của truyện
Bếp lửa, 1957. Ông trích dẫn cặn kẽ nhiều văn bản, nhiều tham khảo, để lại một
chứng từ chính xác[2].
Tôi còn một chứng từ
riêng: bạn tôi là Đinh Ngọc Mô, nhiều người biết vì có thời phụ trách mục Đố
vui để học trên truyền hình Sài Gòn, quen nhau từ 1965 tại Đà Lạt, gặp lại nhau
1970 tại Paris. Lúc ấy, Mô sống vất vả, lang bang, đi đàn hát trong các nhà
hàng Việt Nam để mưu sinh. Một tối về khuya, dọc Boulevard des Italiens, Mô đã
đọc thuộc lòng cho tôi nghe những trích đoạn dài của Bếp lửa mà anh tâm đắc và
cho là tân kỳ. Thuộc thơ Thanh Tâm Tuyền đã là khó, thuộc văn xuôi lại không dễ.
Vắng tin nhau khá lâu, có người mách là Mô đã qua đời, đã tự tử bên Canada. Tôi
không muốn tin, nhưng mỗi lần mở truyện Bếp lửa, là tôi tìm lại những đoạn Mô
đã đọc, cho đến bây giờ sách đã vàng ố, tả tơi, rách nát như cuộc đời của chúng
tôi. Trước khi kể lại chuyện này, tôi rà lại tin tức, thì bè bạn bốn bể năm
châu đều xác nhận chuyện buồn. Mà tôi vẫn chưa tin, và muốn hỏi Mô: Mô ơi, thật
à? Cậu ấy vui tính, hay đùa.
Bạn đọc cho là tôi lạc đề.
Thân tình thì biết tôi chỉ mới lạc dòng, lạc giọng, mà không lạc đề.
Tiềm năng độc giả thời đó
là học sinh trung học: sinh viên đại học chưa nhiều. Và chúng tôi thiếu sách để
đọc. Văn chương quốc ngữ thời đó, bỏ ra một kỳ nghỉ hè, có thể đọc hết toàn bộ.
Sách Tự Lực, Vũ Trọng Phụng
thì đọc cả rồi… Các tác gia ở lại miền Bắc ít được tái bản. Và chúng tôi khao
khát cái mới, các truyện ngắn của Doãn Quốc Sỹ, Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo,
Thao Trường. Những “Chiếu hoa cạp điều”, với “Hương gió lướt đi”. Thậm
chí, chúng tôi còn bất công với cái cũ: tạp chí Văn hoá Ngày nay của Nhất Linh
bán chạy được hai số, rồi thôi. Đoán già đoán non: các vị Đinh Ngọc Mô, Nguyễn
Quốc Trụ, cũng như tôi, đã đọc Bếp lửa trên ghế trường trung học, trước khi hư
thân mất nết ở nơi khác.
Bếp lửa là một truyện vừa,
vừa một trăm trang. Thanh Tâm Tuyền viết liền mạch, rất nhanh, trong vài tháng,
xong tháng 10-1956, đưa đi kiểm duyệt và xuất bản ngay[3]. Không có
độ lùi để sửa chữa. Sau này, khi tái bản, ông muốn sửa chữa, nhưng không làm được
và viện dẫn Malraux: người ta không viết lại được một cuốn sách. Nhưng có một
truyện ngắn “Đại lộ”, nội dung na ná, in lại trong tập truyện Khuôn mặt,
1964.
Truyện được viết từ ngôi
thứ nhất “tôi”. Người kể, “tôi” tên Tâm, cùng tên với tác giả,
đi dạy học tại một trường Công giáo tại Bắc Ninh, còn tác giả dạy tư thục ở Hà
Đông, khoảng 1952.
Tuy nhiên Bếp lửa không
phải là tự truyện, đại khái như tác phẩm Kẻ dưng, l’Etranger của Albert Camus,
bắt đầu bằng câu nổi tiếng: “Hôm nay mẹ tôi mất”, nhưng chính bà mẹ Camus
lại sống lâu hơn tác giả. Trong Bếp lửa, Tâm mồ côi bố từ nhỏ, sau đó mồ côi mẹ,
trong khi bà cụ tên thật là Thạch Thị Kim thọ rất lâu, ở Long Khánh. Tính cách
mồ côi ở đây là một ẩn dụ, như ở Kẻ dưng hay Cũng đành của Dương Nghiễm Mậu sau
này.
Không phải là tự truyện,
nhưng Bếp lửa phản ánh tâm trạng tác giả, và một số thanh niên đồng lứa vào thời
điểm trước hiệp định Genève, 1954, tại Hà Nội, và vùng phụ cận dưới sự kiểm
soát của Pháp. Chủ yếu là những nét chấm phá nhẹ nhàng, nhưng rất sắc về tâm thức
chính trị của con người lúc đó qua những nhân vật: ông Chính, đảng viên Quốc
dân Đảng, còn hoạt động; Bảo có tham dự phong trào Ngũ xã nhưng nay đã tuyệt vọng;
Đại say đắm chủ nghĩa mác-xít và chuẩn bị ra khu; Hoà nhân viên Phòng nhì; Ngọc
hoàn toàn hư vô và chối từ tổ quốc… Giữa họ là những nhân vật nữ, hiền lành, vô
tội, như chị em Thanh và Minh, em họ Tâm; Hạnh; Thịnh vào ra giữa hai vùng… Còn
Tâm? Anh xê dịch giữa đám người đó, không thân không sơ, và nói như Meursault,
nhân vật Kẻ dưng: không biết rõ mình muốn gì, nhưng biết rõ những điều mình
không muốn. Khi Tâm bị ông hiệu trưởng cho thôi việc, “ngạc nhiên một chút
rồi rửng rưng ngay. Tôi không hỏi vì cớ gì ông muốn tôi nghỉ việc cũng như ông
đã quên không nói cho tôi biết… Tôi cũng chẳng buồn quan tâm. Tôi nhẹ nhõm vô
cùng và ngủ một giấc rất say” (tr. 90).
Trong thế giới ấy, quan hệ
tình cảm cũng mong manh, sắc sắc không không, như giữa Tâm và Thanh, một cô em
họ, cũng mồ côi cha mẹ. “Đôi khi tôi nghĩ tôi có thể yêu Thanh và che chở
cho Thanh, giây thân thích giữa cúng tôi không đáng kể (…) nhưng chưa bao giờ
tôi nói ý nghĩ của tôi cả” (tr. 12).
Quan hệ tính dục cũng nhẹ
nhàng thôi. Tâm gặp lại Hạnh, một cô bạn học cũ, đi cùng một chuyến xe chở hàng
từ Bắc Ninh về Hà Nội. “Đến Hà Nội, mưa lớn hơn, chúng tôi cùng đi ăn cơm với
nhau. Và đêm ấy tôi ngủ với Hạnh ở khách sạn” (tr. 72). Chấm dứt chương 4. Bước
sang chương 5: “Tôi có cùng về Hà Nội với Hạnh một vài lần. Gần nhau, tôi nhận
thấy chiến tranh – hay chỉ cần sự đe doạ của chiến tranh, tổng quát là sự khủng
bố tinh thần – đã thổi vào máu Hạnh sự say đắm nhiệt tình trong yêu đương (…).
Sau mỗi lần như thế, khi lấy lại bình thường, Hạnh có vẻ ngượng ngùng. Có một lần
nằm cạnh tôi, Hạnh nắm tay tôi để lên ngực nàng nói: Anh có khinh em không?”
(tr. 76).
Dĩ nhiên là các vị Nam
Tào văn truyện kiêm Bắc Đẩu lịch sử sẽ có người bắt bẻ, hạch hỏi: chiến tranh
giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, hay bảo vệ tự do, chỉ có kích thích
tính dục người phụ nữ hay sao? Bếp lửa là một trước tác nghệ thuật, và Thanh
Tâm Tuyền đã có lần nói: «Người nghệ sĩ đưa sinh mệnh mình để đảm bảo sự thành
thật của tác phẩm», thì ắt không buồn quan tâm đến những vấn nạn ấy. Điều chúng
ta ghi nhận là nét hững hờ, lãnh đạm của Tâm đã thổi dạt Bếp lửa trôi xa, không
những với Dòng sông Thanh Thuỷ của Nhất Linh mà còn xa với Khu rừng lau của
Doãn Quốc Sỹ hay Thần Tháp Rùa của Vũ Khắc Khoan đồng hội đồng thuyền.
Một thắc mắc, nhỏ thôi:
không khí Hà Nội khoảng 1950-1952 nhất định phải khác xa không khí Sài Gòn
1970-1972. Nhưng về cơ bản, tâm lý thanh niên trí thức có khác nhau nhiều
không?
Ngày nay, ngọn lửa chiến
tranh vẫn còn tàn phá nhiều nơi trên thế giới; và giữa tiếng kêu la thất thanh
của trẻ con, vẫn có lời vinh danh Thượng Đế. Trong Bếp lửa, Thanh Tâm Tuyền đã
viết «theo tôi có những lúc người ta cần giải quyết giữa người và người và Thượng
Đế không nên có mặt ở lúc ấy (…) Thượng Đế đã bị lôi kéo vào tấn thảm kịch
riêng tư của loài người và chỉ có thể thoát ra với sự thất bại» (tr. 67).
Tại Việt Nam, một dải đất
còm cõi đau thương, năm 1956, một thư sinh mặt trắng, 20 tuổi, đã viết dõng dạc
được một câu như thế, kể cũng là lời tiên tri lạ lùng và cao siêu đấy chứ?
Về phong cách, Bếp lửa là
một tác phẩm làm mới văn chương chữ nghĩa theo nhận định của Nguyễn Quốc Trụ
trong bài đã dẫn. Vậy mới, là so với cái gì, và mới ra sao?
Trong một bài viết tưởng
mộ Nguyễn Đức Quỳnh, tác giả Thằng Kình, Thanh Tâm Tuyền 1974 đã viết: “Cùng với
Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Thằng Kình là quyển tiểu thuyết quan trọng đối
với tôi. Đó là quyển sách đã vỡ lòng, đã mở mắt (…) Tôi không phải là người của
một vài quyển sách. Trước và sau khi đọc Thằng Kình, Những ngày thơ ấu, tôi đã
đọc hầu hết tiểu thuyết Việt Nam, tôi hiểu được giá trị, tôi cảm được cái hay của
nhiều tác giả khác nhưng chỉ có hai tác giả Nguyễn Đức Quỳnh và Nguyên Hồng gây
được ở tôi lòng ngưỡng mộ. Văn chương phát sinh từ lòng ngưỡng mộ. Nên tôi
không bao giờ quên ơn người đã khơi dậy lòng ngưỡng mộ nơi tôi”.[4]
Một lời tình tự như vậy, ở
một người ít tự sự như Thanh Tâm Tuyền là quý hoá, là một chìa khoá đưa ta vào
thế giới tiểu thuyết, mối hạnh phúc đau đớn, bắt đầu từ Bếp lửa, rồi đến Khuôn
mặt, Dọc đường, Cát lầy, Ung thư, Mù khơi, Tiếng động…
Đối với Thằng Kình (1942,
Hàn Thuyên, Hà Nội), niềm ngưỡng mộ có lẽ dừng lại ở nội dung mới lạ của tác phẩm,
thêm chút tình riêng với tác giả. Chứ nhân vật Kình, khỏe mạnh, tự tin, tích cực,
rất xa với nhân vật truyện Thanh Tâm Tuyền; hành văn rậm rạp của Nguyễn Đức Quỳnh
cũng xa với lối viết trần trụi trong Bếp lửa.
Gần nhau hơn là Những
ngày thơ ấu, Nguyên Hồng viết năm 1938, khi 20 tuổi, như trường hợp Bếp lửa, dưới
dạng tự truyện ở ngôi thứ nhất. Bằng giọng văn đơn giản, Nguyên Hồng kể lại tuổi
thơ cơ cực, một cách thành thực, như chuyện người mẹ ngoại tình bị gia đình nhà
chồng hắt hủi mà đứa con một mực yêu thương. Nhưng cơ bản thì hai truyện khác
nhau: Những ngày thơ ấu là tự truyện của một người, dĩ nhiên là mang nét xã hội;
Bếp lửa là truyện một thế hệ thanh niên ưu thời mẫn thế, mang nặng chất
trí thức và chính trị. Nguyên Hồng viết đơn giản, nhưng thỉnh thoảng vẫn có những
đoạn văn chương, ví dụ ngay ở chương I (Tiếng kèn): «Những buổi chiều vàng lặng
lẽ… Buổi chiều nào cũng vậy…», không hề có trong Bếp lửa. Và trong một bài báo,
«Nhân nghĩ về hội hoạ», 1956, Thanh Tâm Tuyền khước từ lối «văn chương có thể đặt
tên là văn chương của bài tập đọc, luận mẫu cho học trò» (Văn 11/1973, tr. 78).
Từ đó, đem Bếp lửa ra giảng dạy ở học đường là việc khó, vì khó tìm ra một vài
trích đoạn tiêu biểu gọi là «trích diễm». Kinh nghiệm của tôi: yêu cầu sinh
viên phải đọc toàn bộ tác phẩm, rồi đưa ra những chủ đề tổng hợp, về hình thức,
nội dung. Ví dụ lối kể chuyện đơn tuyến, một mạch theo dòng thời gian, không một
lần quay lại quá khứ – cho dù có rơi rớt một vài kỷ niệm – về người mẹ và bà
ngoại. Lối dùng từ bình dị, ưu tiên cho từ đơn âm, ít từ kép, càng ít từ
Hán – Việt. Lối đặt câu ngắn, có khi cụt ngủn, có khi lược từ. Câu văn cô đúc,
có lúc khó hiểu, như là lời nói nén chặt nội tâm: «Một bên đường cỏ hoang và
núi đóng đồn binh» (tr. 47). «Ngọn núi bắt đầu thấy cứng mình vì nghe nắng sắp
về dữ dội» (tr. 87). Câu được nhiều người nhắc: «Buổi sáng mùa đông ngây ngất
vào lối 10 giờ» (tr. 11). «Buổi chiều ngất ngư chưa muốn ngã» (tr. 28).
Nhưng nét mới quan trọng
là không khí chung của toàn truyện Bếp lửa, không phân biệt nội dung, tư tưởng,
hình thức, nghệ thuật và ngữ pháp. Thậm chí người đọc có thể hỏi: Bếp lửa, bếp
lửa nghĩa là gì?
Với tôi, có lẽ thêm vài kẻ
bạn, Bếp lửa là một bài hát.
Bài hát “chỉ được nghe một
lần trong đời. Bài hát xưa lắm, những người thích nó kẻ đã chết, người còn sống
thì quên không nhắc lại. Riêng tôi, tôi thường thì thầm với chính mình những
phút cô đơn” [5] .
Có ai đó đã viết đâu đó về
âm hưởng nhạc blues trong thơ Thanh Tâm Tuyền, tôi chỉ biết ông đã thiết lập
quan hệ mật thiết giữa các bộ môn nghệ thuật. Điều này, ngày xưa, nhóm Tự Lực
đã làm, nhưng còn hời hợt, dù rằng nhà văn Nhất Linh, nhà thơ Thế Lữ, khởi đầu
là những sinh viên trường Mỹ thuật. Thời đó, họ chỉ đặt những tác phẩm nghệ thuật
bên cạnh nhau. Hoạ hoằn lắm mới có bài Nguyễn Tuân về tranh Nguyễn Phan Chánh. Ở
Việt Nam, không có nhà thơ sành hội hoạ như Baudelaire, cũng không có tình bằng
hữu giữa các nhà thơ như Aragon, Eluard với hoạ sĩ Picasso hay Chagall ở Pháp.
Thanh Tâm Tuyền thật sự muốn bắc cầu giữa các bộ môn nghệ thuật, nhất là giữa
thơ và hội hoạ, và thân thiết với các hoạ sĩ Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Duy Thanh,
bài «Nhân nghĩ về hội hoạ» viết năm 1956 – hai mươi tuổi – ông đề tặng ba người
ấy.
Hoạ sĩ Thái Tuấn kể lại rằng
trong một cuộc triển lãm năm 1958, ông có bức sơn dầu vẽ một người đàn ông đội
mũ đeo ống sáo trên vai, chừng mực nào đó, là một chân dung tự hoạ; ông không
biết đặt tên là gì. Thanh Tâm Tuyền đề nghị gọi là «Hoá thân», Thái Tuấn rất
tâm đắc. Ý nhà thơ: anh vẽ cái gì thì cũng là hoá thân vào bức hoạ, tranh nào rồi
cũng thành chân dung hoạ sĩ. Nghe chuyện, tôi cứ nghĩ Thanh Tâm Tuyền mượn ý
từ một tựa đề tiểu thuyết của Kafka. Đọc lại bài báo nói trên, tôi mới vỡ lẽ
ông tham chiếu vào một chuyên khảo về nghệ thuật của Malraux Những hoá thân của
Apollon-les Métamorphoses d’Apollon, 1951, và ông thường tâm đắc với Malraux.
Ông viết trong
bài “Nhân nghĩ về Hội hoạ”: “Tôi công nhận nghệ thuật như một nghề
như mọi nghề khác khi tôi hiểu rằng muốn làm được nghệ thuật người ta cũng cần
học hỏi, luyện tập như tập sự bất cứ nghề gì. Đến đó thôi. Khi những nhà nghệ
sĩ chân chính, để bảo đảm sự thành thực của tác phẩm, đã mang sinh mệnh chính
mình ra thách đố, thì lúc ấy nghệ thuật không còn là một nghề nữa, nó là hành động
siêu việt của nhân loại trong cuộc tìm kiếm đời sống chính đính» (Văn, số đặc
biệt đã dẫn, tr. 78).
Đoạn trích văn này có thể
tóm lược quan niệm và sự nghiệp văn thơ, nghệ thuật của Thanh Tâm Tuyền, và làm
kết từ cho bài này.
Chúng tôi gửi thêm vào đó
niềm kính trọng và thương tiếc khôn nguôi với một Lòng Suối Trong Xanh đã lẫn
sâu vào lòng đất, trở về cõi thuỷ chung. Một dòng thơ đời đời thao thiết nuôi
dưỡng Tình Yêu và Quê Hương trong mỗi chúng ta, cho mỗi chúng ta, trong thân phận
làm người, làm người trong hay ngoài đất nước, luôn luôn trong nhân loại.
Trong truyện Bếp lửa,
sáng tác năm hai mươi tuổi, Thanh Tâm Tuyền đã hạ một câu kết, để đời, – khi
hiu hắt, khi ngời sáng, trong tâm thức thế hệ chúng tôi:
“Anh yêu quê hương vô
cùng và anh yêu em vô cùng”.
Đời người, vô cùng rồi
cũng đến vậy thôi.
Vô cùng Thanh Tâm Tuyền.
Thanh. Tâm. Tuyền.
Thanh Tâm
Tuyền.
Chú thích:
[1] Thanh
Tâm Tuyền, Văn, số 199, tháng 4-1972, Sài Gòn.
[2] Văn,
số đặc biệt Thanh Tâm Tuyền, tháng 11-1973, Sài Gòn. Nhóm Thư Ấn Quán của Trần
Hoài Thư dự tính in lại nguyên văn số báo để tặng bạn đọc, liên lạc qua e-mail
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript
enabled to view it.” target=”_blank”>tranhoaithu@verizon.net. Hoan hô Trần
Hoài Thư.
[3] Thanh
Tâm Tuyền, Bếp lửa, nxb Nguyễn Đình Vượng, 1957, Sài Gòn, Chúng tôi trích đoạn
từ bản này.
[4] Thanh
Tâm Tuyền, Văn, Giai phẩm, tháng 6-1974, tr. 21-22, Sài Gòn.
[5] Thanh
Tâm Tuyền, «Buổi sáng ngoài bãi biển», trong Khuôn mặt, tr. 98, nxb Sáng Tạo,
1964, Sài Gòn.
1/4/2006
Đặng Tiến
Nguồn: VHNA
Theo
https://vanhocsaigon.com/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét