Ngữ pháp thơ Lê Đạt
Mỗi ngôn ngữ tự nó là một nghệ thuật diễn đạt của tập thể. (E.Sapir)
Thuật ngữ ngữ pháp được sử
dụng ở tiêu đề bài viết này không phải như một ẩn dụ mà ngược lại là một khái
niệm thuần túy kỹ thuật và nghiêm xác. Ngữ pháp đáng lẽ ra phải bao hàm hai bộ
phận là hình thái học và cú pháp nhưng đặc trưng của tiếng Việt đã chối bỏ bộ
phận thứ nhất và đổ dồn gánh nặng lên cú pháp. Do đó, chúng tôi sẽ xuất phát từ
mối quan hệ cú pháp để soi chiếu vào thơ Lê Đạt, một hiện tượng mà đến nay
vẫn còn nhiều thách thức…

Nhà thơ Lê Đạt
Sự giới thuyết trên cũng
đã xác định hướng tiếp cận mà chúng tôi sẽ sử dụng trong việc giải mã thơ Lê Đạt,
đó là tri thức và phương pháp của ngôn ngữ học. Có lẽ sẽ không có gì trái với
lí luận và thực tiễn khi đứng trên một quan điểm như vậy. Ngôn ngữ là chất liệu
của văn học – nhận định này được coi như một chân lí. Và nhất là khi Jakobson
tuyên bố rằng “thi pháp học có thể được xem như một bộ phận cấu thành của ngôn
ngữ học”[1] và đi đến những phát kiến sáng chói trong khoa học
văn học thì cái chân lí ấy lại càng vững vàng hơn bao giờ hết. Trong khi đó những
nhà thơ như Trần Dần, Dương Tường, Lê Đạt đều được đồng thanh gọi là các nhà
thơ ngôn ngữ và tác phẩm của họ được định danh là thơ ngôn ngữ.
Cách gọi “Thơ ngôn ngữ”
thoạt nghe có vẻ bất ổn vì trùng ngôn nhưng ngược lại, đó là một nhận định hữu
lí. Từ khi người ta bắt đầu dè dặt không dám nói to lên rằng “ngôn ngữ là công
cụ của tư duy” thì cũng là lúc người ta khám phá ra sức mạnh và sự tự trị của
ngôn ngữ. Sự chế ước và thống trị của ngôn ngữ đối với hiện thực và tư duy
không phải đợi đến các triết gia của thế kỉ XX mới khám phá ra mà từ thời
Humboldt[2] những tư tưởng ấy đã được khai mở. Saussure không
phải là người chạy tiếp sức cho quan điểm đó nhưng những phát minh của ông vô
hình trung đã trao trả về cho ngôn ngữ sức mạnh tự thân của một hệ thống tín hiệu
kì lạ mà trước ông chưa từng được hiển minh.
Ngôn ngữ là một cơ thể sống
chứ không hoàn toàn là một phương tiện hay công cụ của một mục đích khác nào
bên ngoài. Người ta không thể tư duy về bất cứ thứ gì khi nó chưa được ngôn ngữ
hóa, hay nói cách khác chưa tham gia vào hệ thống ngôn ngữ.
Đến thơ hiện đại mà những
đại diện là Trần Dần, Lê Đạt… người ta không còn làm thơ bằng ý nữa mà bằng
chữ. Những điều trình bày trên chính là cơ sở triết học và ngôn ngữ học cho sự
ra đời của một cuộc cách tân thơ triệt để trong thi ca. Gọi là “thơ ngôn ngữ”
chính bởi lí do đó.
Trở lại với quan hệ cú
pháp. Vì sao chúng ta lại khẳng định trong tiếng Việt không hề tồn tại quan hệ
hình thái học? Hình thái học là quan hệ của hình vị với hình vị, tức quan hệ
trong nội bộ từ, đó là mối quan hệ thuần túy hình thức và chỉ có trong những thứ
tiếng biến hình. Tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập điển hình mà “cương vị ngôn
ngữ học của tiếng”[3] đóng vai trò chi phối đến tất cả các bình
diện từ tâm lí đến cấu trúc đã hoàn toàn loại bỏ sự có mặt của loại quan hệ
này. Từ những nhà Đông phương học đến những nhà ngữ học phương Tây đều thống nhất
với nhau ở điểm này. Từ những quan điểm khởi phát của Trần Trọng Kim, Nguyễn Hiến
Lê đến sự nhũn nhặn của Nguyễn Tài Cẩn qua sự quyết liệt của Cao Xuân Hạo đều đồng
tình trên một nhận định phủ quyết như thế. Ngay cả một người thao tác trên ngôn
ngữ bằng một phương pháp thuần túy hình thức như Bloomfield cũng nhấn mạnh
“ngôn ngữ này không có hình thái ràng buộc”[4] (khi nhận định về
tiếng Hán). Chỉ có quan hệ cú pháp là hiện thực trong tiếng Việt. Quan hệ cú
pháp chính là quan hệ của từ với từ. Và tất cả những sự xác lập giữa các mảng
hiện thực trong tiếng Việt đều thành tạo trên cơ sở của loại quan hệ này. Đặc
điểm này cơ sở như thế nào đến thao tác thơ Lê Đạt, chúng ảnh hưởng và chi phối
ra sao và Lê Đạt đã dụng võ như thế nào trên mảnh đất đặc trưng này…?
Xét một bài Hai Kâu của
Lê Đạt:
Vườn nắng mắt gió bay mùa
hoa cải
Bóng lá răm phải ngày phả
lại đắng cay
(Phả lại)
Việc xác định các thành
phần câu của hai câu thơ trên gần như là bất khả. Chúng ta không thể chỉ ra đâu
là đề, đâu là thuyết, cũng như các thành phần câu khác. Phải chăng cấu trúc của
thi ca đều như thế? Trong thơ mới tình hình hoàn toàn ngược lại. Ngay cả những
người khó hiểu như Bích Khê, Hàn Mặc Tử, chúng ta cũng không mấy khó khăn khi
làm công việc tương tự:
Đường kiến trúc/ nhịp
nhàng theo điệu mới
Đ
T
(Duy tân – Bích Khê)
Ý xuân/ mát đến xương
Đ
T1
(B)
Ngậm tuyết phun lã chả
T2
(Xuân tượng trưng – Bích
Khê)
B là một câu thơ vắt
dòng, một câu ngữ pháp bị ngắt đôi ra làm hai dòng thơ. Cũng có trường hợp câu
ngữ pháp bị ngắt ra thành ba hay bốn dòng thơ:
Dường có con chim báu
Rỉa cánh trên ngai lòng
Xòe xòe màu lông công
(Xuân tượng trưng – Bích
Khê)
Tuy cũng có lúc gặp phải
chút bối rối khi phân tích cú pháp câu thơ Mới nhưng nhìn chung rất hiếm có một
nỗi bất lực hoàn toàn nào ngăn trở ta. Đến đây ta thấy có một sự gần gũi giữa
ngữ pháp thơ Mới và ngữ pháp văn xuôi. Phải chăng thơ Mới vẫn là “Một thứ văn
xuôi đeo trang sức”[5]? Từ trong sâu xa, câu thơ ngữ pháp của thơ Mới
thực chất vẫn là những nhận định (mệnh đề) được thể hiện dưới hình thức thi ca.
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho mầu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
(Vội vàng – Xuân Diệu)
Người ta hoàn toàn xác định
được điều Xuân Diệu đang nói trong những câu thơ trên, nhưng với: Bãi nổi sông
thon chiều vỗ én/ Đồi mềm mây lưu thủy mắt thuyền quyên (Vũ ẻn) của Lê Đạt thì
chẳng có cái “ý” nào được truyền tải ở đây, cũng chẳng có kinh nghiệm hay nhận
định gì của tác giả, mà tất cả đổ dồn vào việc làm sống dậy các từ ngữ. Ngữ
pháp của hai câu thơ này bị xuống cấp và đồng thời với nó là sự lên ngôi của
thi tánh. Nhưng vì sao lại có hệ quả này? E. Sapir khi nói về phương thức trật
tự từ đã gọi đó là phương pháp đơn giản nhất, tiết kiệm nhất và đi đến nhận định:
“Nhưng điều đáng để ý là hễ người ta đưa ra hai hay nhiều khái niệm căn bản
tiếp theo nhau cho trí tuệ con người thì nó sẽ cố gắng thiết lập những quan hệ
nào đó giữa những khái niệm này” [6]. Ngữ đoạn tiếp theo nhau
mà chúng tôi nhấn mạnh ở trên cần được lưu tâm một cách đặc biệt để tránh những
thao tác làm việc cảm tính và thiếu căn cứ mà ta có thể gặp ở rất nhiều những
công trình lớn nhỏ trong nghiên cứu thi ca. Vấn đề này chúng tôi sẽ trở lại ở
phần sau của bài viết.
Bãi nổi (và) sông thon
(và) chiều vỗ én
Đồi mềm (và) mây lưu thủy
(và) mắt thuyền quyên
Bãi (thì) nổi sông (thì)
thon chiều (thì) vỗ (về chim) én
Đồi (thì) mềm mây (thì)
lưu (giữ) thủy mắt (thì như) thuyền quyên
Bãi nổi (cùng với) sông
thon (và) chiều vỗ én
Đồi mềm (cùng với) mây
lưu thủy (và) mắt thuyền quyên
Bãi nổi (trên) sông thon
(trong) chiều (đang) vỗ (về chim) én
Đồi (như) mềm (trong) mây
lưu (lại dưới bóng) thủy (như) mắt thuyền quyên
Tất cả những từ trong ()
đều là những cố gắng thiết lập những mối quan hệ giữa các yếu tố trước và sau
nó. Những cố gắng ấy có thể tiếp tục và cho ra rất nhiều những kết quả khác nữa.
Điều này đồng nghĩa với việc hai câu thơ trên sẽ có vô số nghĩa được thành tạo
trên sự xác lập những quan hệ tương ứng. Nhưng dù sao, đến cuối cùng những câu
thơ này cũng không phải là những mệnh đề theo kiểu thơ Mới. Sự đa nghĩa được dồn
vào từ làm cho chúng sống dậy, dựng sững lên và chính nó nắm giữ vai trò phát
nghĩa chứ không phải câu thơ trong tính toàn vẹn cú pháp của mình.
Nếu thơ tiền hiện đại nói
chung là “con tàu đưa ta đến đích” thì thơ Lê Đạt là “kẻ rong chơi dẫn ta đi dạo”[7] (Donald
Davie). Cuộc đi dạo sẽ luôn khiến ta phải dừng lại nhìn ngắm, thưởng ngoạn và
nghiền ngẫm trên từng bước chữ, đường chữ chứ không giống như một cuộc chạy việt
dã của văn xuôi xô đẩy ta lao về phía trước với một mãnh lực đã được tự động
hóa của cú pháp. Thơ Lê Đạt là một nỗ lực gạt bỏ hay hạ bệ cú pháp – một “phạm
trù phi thơ” (Hulme) để đạt tới một “độ không của lối viết” (R. Barthes), biến
nhà thơ thành phu chữ trong xưởng lao động thủ công thơ.
1. Jakobson đã đặt
tên cho một bài viết của mình là “Thơ của ngữ pháp và ngữ pháp của thơ” [8].
Thơ Lê Đạt không phải là thơ của ngữ pháp. Ngữ pháp ở đây được hiểu là cấu trúc
cú pháp của ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ sơ cấp. Với sự hạ bệ ngữ pháp tự nhiên
và xác lập một “ngữ pháp của thơ” của riêng mình Lê Đạt đã làm sống dậy những vỉa
từ, những quặng chữ, biến chúng thành vàng ròng.
Hè thon cong thân nắng cựa
mình
Gió ngỏ tình
xanh nín lộc
giả làm thinh
(Nụ xuân)
Rất khó để ngắt nhịp câu
thơ đầu. Hay nói cách khác có rất nhiều bước thơ có thể được hiện thực hóa. Thực
chất của sự ngắt nhịp xét đến cùng cũng là những cố gắng xác lập những quan hệ
nội tại trong câu thơ.
Hè thon/ cong thân nắng/
cựa mình
Hè (thì) thon cong/ thân
nắng (thì) cựa mình
Hè thon cong thân/ nắng cựa
mình
Hè thon cong thân nắng/ cựa
mình
Trên mỗi gạch chéo (/) là
một cố gắng nối kết để từ bỏ tính phi lí và đi đến một logic đang tiềm tàng.
Câu thơ Lê Đạt đa nghĩa vì lẽ đó.
Sự xuống cấp của ngữ pháp
thơ đã dẫn đến nhiều hệ quả quan trọng khác. Thuật ngữ “ghép chữ” [9] mà
Đỗ Lai Thúy “tạm dùng” cho Xuân Sanh trong Mắt thơ có lẽ càng phù hợp hơn khi
nói về thơ Lê Đạt. Sẽ là bất hợp lí khi dùng những khái niện như “tỉnh lược”
hay “đảo ngữ” để nói về thơ ông. Nếu thật sự có những thao tác ấy thì việc phục
dựng là hoàn toàn có thể nhưng ở đây sự thể lại chống đối một cách quyết liệt.
Tất cả những biện pháp tu từ truyền thống đều bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Phá bỏ
cấu trúc ngữ pháp tự nhiên, sử dụng cấu trúc độc lập mà hệ quả là tạo ra một ảo
giác về phương thức thơ ghép chữ là thể tánh của thơ Lê Đạt. Những điều này nói
cho ta biết rằng thơ Lê Đạt được tạo sinh [10] chủ yếu
trên trục kết hợp. Và cái “Vương quốc của ẩn dụ” mà người ta gán cho thơ của
người phu chữ nhịn nói này dường như là một nhận định võ đoán. Một ví dụ cho sự
lẫn lộn này là sự khác nhau trong cách quan niệm của Đinh Trọng Lạc khi ông xếp
nhân hóa vào nhóm ẩn dụ trong khi đó Nguyễn Phan Cảnh lại đưa vào nhóm hoán dụ.
Chúng tôi đồng quan điểm với Nguyễn Phan Cảnh, nhân hóa thực chất là một phương
thức tu từ ngữ nghĩa được kiến tạo trên trục kết hợp. Chỉ ở đâu thao tác lựa chọn
là chủ đạo thì ở đó ẩn dụ mới thực sự tìm thấy vương quốc của mình. Thơ Lê Đạt
lấy trục kết hợp làm “mê lộ phố” đã thiết lập những quan hệ tương cận cho một
thế giới hoán dụ sinh khởi.
Ba loại cú pháp tiêu biểu
cho ba quan điểm về ngữ pháp thơ của ba tác giả Tây phương là Hulme với cú pháp
độc lập, Finollosa với cú pháp động tác và Susane Langer với cú pháp thống nhất
được Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân tổng hợp trong Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường đều
xuất hiện với mức độ đậm nhạt khác nhau trong thơ Lê Đạt. Nhưng loại cú pháp chủ
đạo nắm giữ vai trò quyết định tới phẩm chất cách tân của thơ Lê Đạt là cú pháp
độc lập của Hulme mà chúng tôi đã từng bước trình bày trong bài viết. Loại cú
pháp này là một tử huyệt dẫn đến “cái chết của tác giả” (R. Bathes). Từ trong
mãnh lực chi phối của cú pháp độc lập hàng loạt ý tượng, biểu tượng được dựng
lên, thơ trở nên giàu hình ảnh hơn bao giờ hết; nó hoàn toàn là một đối cực của
“thơ không hình ảnh” và “thơ ngữ pháp” (Jakobson). Cũng cần phải nói thêm rằng:
xét về số lượng thì cấu trúc độc lập không làm thành một áp lực đè nén những loại
cú pháp khác nhưng ngược lại đó là nơi tập trung sự sáng tạo độc đáo làm nên
tính hiện đại của thơ Lê Đạt. Thơ Lê Đạt nhập vào dòng chảy của thơ hiện đại thế
giới, cùng minh chứng cho triết học ngôn ngữ một cách hùng hồn. Việc phá vỡ cấu
trúc câu thơ tiền hiện đại và thay thế bằng những quan hệ cú pháp mới đã ngăn
chặn sự đổ dồn một cách tự động và mù quáng của ngữ pháp lên từng yếu tố buộc
người đọc phải dừng lại và thiết lập ở đó một “lý do” biến sự phi lý và hỗn độn
thành “có nghĩa” một cách lâm thời và không thuần nhất. Sự không thuần nhất mà
chúng tôi nói đến một phần là quy chiếu vào nghĩa liên nhân. Mỗi người do kinh nghiệm
và cảm thức cá nhân mà có những cách xác lập khác nhau trước cấu trúc mở của
câu thơ. Người đọc từ cánh cửa này đi vào sáng tạo và trở thành đồng tác giả.
Mô hình tam phân: tác giả-tác
phẩm-người đọc trong phê bình văn học hiện đại được hiện thực với một trương lực
(độ căng) hơn bao giờ hết trong cấu trúc gián đoạn của thơ Lê Đạt.
Liễu líu lo tình chim dịch
biếc
Nhụy lời râu bướm tiếp âm
hương
Hai câu thơ này là một ví
dụ tiêu biểu cho loại cấu trúc gián đoạn của cú pháp độc lập. Liễu không thể
“líu lo” được nên người đọc phải hợp lí hóa bằng cách tạo ra nhưng quan hệ mới
như: (trong khóm) liễu (đang) líu lo tình chim, liễu (như đang) líu lo, liễu
(mà còn) líu lo… Đấy là chưa nói đến việc xác lập quan hệ ngữ pháp cho cả câu
thơ này:
(Trong khóm) liễu (đang)
líu lo tình (của loài) chim (lúc đang cố) dịch (màu xanh) biếc (của liễu).
Liễu (đang) líu lo (hay)
tình (của) chim (đang cố biến) dịch (sang màu xanh) biếc (của liễu).
Sự xác lập những quan hệ
mới theo phương cách như vậy vẫn còn có thể tiếp tục và cứ sau một lần nối kết
ta lại có một nghĩa mới cho chữ, cho câu. Chúng tôi không đồng tình với cách giải
mã bằng cách đảo lại trật tự câu thơ để cố hiểu nó. Ví như:
Liễu líu lo tình chim dịch
biếc (1)
đổi thành:
Tình chim líu lo dịch liễu biếc (2)
Khi thao tác như vậy, người
ta đã khẳng định rằng: (1) chẳng qua là do (2) đảo trật tự mà thành! Và việc giải
nghĩa chỉ là khôi phục lại cái cấu trúc tiền thân ấy mà thôi. Với cách quan niệm
như vậy thơ sẽ bị giết chết từ trong bản thể của nó mà hậu quả nhãn tiền là coi
như câu thơ đã được khai thác đến kiệt cùng, quá trình giải mã chấm dứt và thơ
sẽ trở thành một mẩu tin chỉ để đọc một lần.
Việc làm này vi phạm một cách thô lỗ nguyên lí tuyến tính của năng biểu [11] mà người thầy của ngôn ngữ học hiện đại, F. de Saussure đã dạy. Một hậu quả nghiêm trọng nữa là việc giải mã thơ hiện đại trên nền tảng những hiểu biết về đặc trưng của thơ truyền thống. Sự than thở và lên án về thơ Lê Đạt mà một số người gọi là “hũ nút” chính là biểu hiện của sự lầm đường lạc lối này.
Chú thích:
[1]
R. Jakobson(2008), Thi học và ngữ học (Trần Duy Châu biên khảo), Nxb Văn học.
[2] Những
cơ sở triết học trong ngôn ngữ học 1984(Trúc Thanh dịch), Nxb Giáo Dục.
[3]
Cao Xuân Hạo (2007), Tiếng Việt, mấy vấn đề ngữ âm ngữ pháp ngữ nghĩa, NXB Giáo
Dục.
[4]
Dẫn theo Cao Xuân Hạo (2007), Tiếng Việt, mấy vấn đề ngữ âm ngữ pháp ngữ nghĩa,
NXB Giáo Dục.
[5]
R. Barthes (1997), Độ không của lối viết (Nguyên Ngọc dịch), NXB Hội Nhà Văn
[6]
E. Sapir (2000), Ngôn ngữ, dẫn luận vào việc nghiên cứu tiếng nói (Vương Hữu Lễ
dịch), ĐHKHXH và NV TP. HCM.
[7]
Dẫn theo Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân (2000), Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường (Trần
Đình Sử dịch), NXB Văn Học.
[8]
Trịnh Bá Đỉnh (2011) chủ nghĩa cấu trúc trong văn học, NXB Hội nhà văn
[9]
Đỗ Lai Thúy (2000), Mắt thơ, NXB Văn hóa Thông tin.
[10]
Thuật ngữ của Thụy Khuê trong Tạp chí Thơ, số 4 – 2009, Bóng chữ của Lê Đạt,
NXB Hội nhà văn
[11] F. de Saussure (2005), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (Cao Xuân Hạo dịch), NXB KHXH.
28/10/2019
Lương Tú Tuấn
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét