Cảm thức thời gian
trong
thơ Mai Văn Phấn
“Tiếng thở
dài bay đi lớp bụi thời gian, ta sửng sốt thấy hồn vía tổ tiên trong nét hoa
văn đình làng, trống đồng, ngọn tháp… Những thân phận khóc cười đêm ngày làm
kén ở hồn ta” – Mai Văn Phấn.
Tác phẩm của Mai Văn Phấn:
– Giọt nắng (thơ, NXB Hải Phòng, 1992); – Gọi xanh (thơ, NXB Hội Nhà văn,
1995); – Cầu nguyện ban mai (thơ, NXB Hải Phòng, 1997); – Nghi lễ nhận tên
(thơ, NXB Hải Phòng, 1999); – Người cùng thời (trường ca, NXB Hải Phòng, 1999);
– Vách nước (thơ, NXB Hải Phòng, 2003); – Hôm sau (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2009);
– và đột nhiên gió thổi (thơ, NXB Văn học, 2009); – Bầu trời không mái che
(thơ, NXB Hội Nhà văn, 2010); – Thơ tuyển Mai Văn Phấn (thơ cùng tiểu luận và
trả lời phỏng vấn, 2011); – hoa giấu mặt (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2012); – thả
(thơ, NXB Hội Nhà văn, 2015); – Tĩnh lặng (NXB Hội Nhà văn, 2018); – Thời tái
chế (NXB Hội Nhà văn, 2019).
Mai Văn Phấn thuộc thế hệ
những nhà thơ từng thấm đẫm nước mắt của chiến tranh Việt Nam và khá nổi tiếng
bên cạnh Nguyễn Quang Thiều, Trương Đăng Dung, Hồ Thế Hà, Hoàng Vũ Thuật, Nguyễn
Lương Ngọc, Inrasar, Giáng Vân, Đoàn Thị Lam Luyến… Là thế hệ chuyển giao nhiệm
vụ của lịch sử, họ phải gánh chịu/chứng kiến sự hủy diệt của hàng tấn bom đạn
vô nghĩa ngay từ thời khắc họ được/bị sinh ra; và họ cũng là những người được/bị
sống để tiếp tục xác nhận những hậu quả tàn ác, dai dẳng của chiến tranh để lại
trên nhiều phương diện cho đến tận hôm nay. Họ ra đời trong những khoảnh khắc
kì lạ, gắn liền với những chiến dịch chấn động địa cầu. Sinh mệnh của họ dù
không muốn cũng phải cùng chịu đựng những khổ đau của dân tộc ở thời điểm này.
Mai Văn Phấn cũng là một trong những trí thức ưu tú đã từng bị khủng hoảng sâu
sắc trước những biến động của lịch sử ấy. Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều
thứ tiếng và được nhận nhiều giải thưởng danh giá của quốc tế (đến nay, tháng
10. 2019, thơ ông đã được dịch ra hơn 30 ngôn ngữ và đang tiếp tục được dịch ra
các ngôn ngữ khác nữa). Thời gian là vấn đề muôn thuở của chân lý vĩnh hằng, có
sức ám gợi mãnh liệt từ triết học đến thi ca nhân loại. Hiện thể thời gian
trong tác phẩm là một trong những phạm trù thẩm mỹ góp phần khẳng định phong
cách riêng và tài năng nghệ thuật của Mai Văn Phấn.
1. Vòng cung thời
gian hay là nghệ thuật xóa mờ ranh giới thời
gian và con người.
Ở phương Tây, các nhà
văn, nhà thơ nổi tiếng như Proust, Gide, Virginia Volf, Joyce, Dos Passos,
Faulkner, Shakespeare… đều đã có cách biểu đạt, cách huỷ hoại thời gian vật lý
theo những cách khác nhau. Nhà thơ có thể cắt bỏ quá khứ và tương lai, rút gọn
thời gian vào khoảnh khắc trực giác của tâm cảm. Dos Passos biến thời gian
thành một ký ức hạn chế và máy móc. Proust và Faulkner chặt đầu thời gian. Họ
tước bỏ tương lai của thời gian, tước bỏ chiều lựa chọn và hành động tự do của
con người. Shakespeare lại biểu đạt thời gian hai mặt, nỗ lực chiến đấu, nỗ lực
đối thoại, tranh biện với thời gian, không tiếc nuối thời gian… Ở Việt Nam, tạm
không nhắc đến các bậc thi tài trong văn học Trung đại, các nhà thơ cùng thời với
Mai Văn Phấn cũng đã có những quan niệm, những biểu đạt thời gian khác nhau. Mỗi
nhà thơ đều có một phong cách riêng, góp phần làm sinh động/ tự hào thêm cho đời
sống thi ca Việt không chỉ đối với bạn đọc trong nước mà còn ở nước ngoài. Chẳng
hạn, hầu hết các bài thơ của Trương Đăng Dung cũng là những triết lý về thời
gian (Thời gian đi trên những lối mòn không thể thấy. Thời gian ở trong máu,
không lời/ ẩn mình trong khoé mắt, làn môi/ trong dáng em đi nghiêng nghiêng
như đang viết lên mặt đất thành lời/ về kiếp người ngắn ngủi; Sợ thời gian rình
trong từng sợi tóc)…, nhà thơ có sự nuối tiếc thời gian vùn vụt trôi qua,
đôi khi đến sợ hãi. Thời gian trong thơ Trương Đăng Dung chính là con người, là
thời gian gắn liền với nỗi cô đơn lặng lẽ, là quá trình sống, suy ngẫm về cuộc
đời và cái chết, là sự trăn trở, tác động dữ dội của những hệ tư tưởng Châu Âu
trong tâm thức con người Á Đông. “Đó là sự lặng lẽ của một tâm hồn, của một con
người nặng lòng với ký ức, nặng lòng với những duyên nợ nhân gian. Lặng lẽ để
chuẩn bị cho những đợt sóng ngầm dữ dội của dòng sông không biết trôi về đâu. Lặng
lẽ và kiếp người” [1]. Còn trong thơ Hồ Thế Hà, ám ảnh thời gian sống khá mãnh
liệt. Một bài thơ ra đời như một minh chứng cho phương châm tiết kiệm thời gian
sống dành cho lao động nghệ thuật của ông. Thời gian hiện tại trong thơ Hồ Thế
Hà gắn bó mật thiết với không gian tâm tưởng… Và rõ hơn cả là thời gian sáng tạo
của thi sĩ ẩn trong cấu trúc câu thơ. (Thời gian uống từng giọt giọt nước/
không gian ép từng xác xác lá/ triệu năm phục sinh mùa!). Tác giả ít dùng đến
từ thời gian “nhưng ý thức tiết kiệm thời gian để sáng tạo, để dành niềm vui
cho bè bạn, cho những cuộc chơi thi sĩ và hơn cả là cho đời sống chung của xã hội
con người hiện tồn trong các bài thơ”[2]. Thơ Mai Văn Phấn cũng đã góp thêm một
phương cách thể hiện trực diện với thời gian, song hành với thời gian, không tiếc
nuối thời gian. Bởi mỗi sát – na trôi qua ông đã tận hiến nghiêm túc, có ý
nghĩa trong sáng tạo nghệ thuật, trong hành xử đẹp với những con người sống bên
cạnh mình, trong xã hội. Những cống hiến và khát vọng của Mai Văn Phấn xứng
đáng được bạn đọc dành cho nhà thơ nhiều sự mến mộ. Nhìn chung, thơ ông
mang “căn tính” dân tộc. Xuyên suốt ý tưởng trong các tập thơ của ông là
ước mơ tự do, bình đẳng và dân chủ của dân tộc Việt Nam. Đó là một khối cảm xúc
cô đọng được biểu đạt bằng ngôn từ thông qua thế giới nội tâm, đồng thời hiển
thị những bức tranh sống động về lịch sử, về xã hội đương thời. Mỗi tập thơ của
ông đều chất chứa khát vọng của dân tộc, đồng thời là một cánh cửa mới được mở
ra, giúp người đọc thưởng ngoạn thế giới. Nhiều người cho rằng, thơ cũng như
con người Mai Văn Phấn góp phần giúp người đọc hiểu cuộc sống và nhiều tầng văn
hóa.
Cảm thức thời gian trong
thơ Mai Văn Phấn có sự chuyển biến từ thời gian đơn tuyến, không gian hình học
phẳng sang thời gian đa tuyến tính, không gian đa chiều qua các giai đoạn sáng
tác. Vậy điều gì đã góp phần tạo nên điểm riêng về nghệ thuật biểu đạt thời
gian trong thơ Mai Văn Phấn? Thế kỷ 20 với xu hướng phương Tây hóa toàn cầu đã ảnh
hưởng đến châu Á, trong đó có Việt Nam. Song song với văn hóa là sự phát triển
của khoa học tự nhiên và công nghệ, các mô hình xã hội dân chủ, quyền con người,
những hệ hình tư tưởng mới của châu Âu… có tác động mạnh mẽ đến các trí thức Việt
Nam. Các vấn đề về tôn giáo như Ki-tô giáo, đạo Phật… góp phần xóa nhòa ranh giới
Đông Tây xét về mặt tâm linh. Theo đó, quan niệm về thời gian sống chết của con
người, của vũ trụ trong tác phẩm nghệ thuật vì vậy cũng dần mất ranh giới. Đồng
thời, quá trình dung hợp các xu hướng nghệ thuật hiện đại và hậu hiện đại đến
Việt Nam có ảnh hưởng từ nội dung đến hình thức thơ Mai Văn Phấn. Tất cả những
điều đó đã thấm quyện trong thơ dù ông có ý thức tạo ra kiểu thời gian nghệ thuật
của riêng mình hay không thì tất cả những yếu tố này cũng hiện hình trong thơ
như là một minh chứng sống động của thi sĩ. Ngay từ tiêu đề các tập thơ (đó là
chưa kể tiêu đề các bài thơ cụ thể) đều đã cho thấy thơ Mai văn Phấn ngập tràn
thời gian. Các từ chỉ thời gian trực tiếp đã cho thấy một khoảng tĩnh lặng lạ
lùng, bí ẩn với thời gian của Mai Văn Phấn trong thơ. Có 10/14 tác phẩm
chúng tôi khảo sát đều có từ biểu đạt thời gian ngay từ tiêu đề.
– Giọt nắng (thơ,
NXB Hải Phòng, 1992)
– Gọi xanh (thơ,
NXB Hội Nhà văn, 1995)
– Cầu nguyện ban
mai (thơ, NXB Hải Phòng, 1997)
– Người cùng thời (trường
ca, NXB Hải Phòng, 1999)
– Hôm sau (thơ,
NXB Hội Nhà văn, 2009)
– đột nhiên gió
thổi (thơ, NXB Văn học, 2009)
– Vừa sinh ra ở đó (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2013)
– thả (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2015)
– Tĩnh lặng (NXB Hội
Nhà văn, 2018)
– Thời tái chế (NXB
Hội Nhà văn, 2018)
Trong các tập thơ đó, Mai
Văn Phấn có nhiều bài thơ có tiêu đề trực tiếp và gián tiếp nói đến thời gian:
– Trực tiếp dùng
từ “thời gian” để khái quát quan niệm về thời gian: Vòng cung thời
gian, Đối thoại với thời gian…
Thơ Mai Văn Phấn có sự
hòa hợp với thời gian, thích nghi với sự vận hành của thời gian, chủ động đón đợi
thời gian, bình tĩnh chờ thời gian đến, cảm nghiệm, trải nghiệm thời gian trong
từng cung bậc cảm xúc của con người. Nhà thơ không sợ hãi trốn chạy khỏi thời
gian, cũng không chạy đua hay đố kỵ với thời gian, không tiếc nuối thời gian.
Thi sĩ thấy rõ mình đang hành xử đúng mực với từng sát- na thời gian, chiêm
nghiệm, trải nghiệm; chơi với nó một cách thú vị như trò xúc xắc. Thời gian
trong thơ ông chính là con người!
Níu thời gian cong. Bốn
mùa đổ từng khoảnh khắc. Sóng nước dâng cao nơi vàng rực hoa quỳ. Lãng đãng con
thuyền ngõ vắng. Tiếng gọi mơ hồ dâng ngọn tháp vút cao. Vài gương mặt trôi đi
làm nhầm lẫn cảm quan, ý nghĩ, nhầm lẫn thứ tự trang sách, rối tung tàn tro và
đám cỏ gai. Những điều vô tình bất ngờ hé lộ.
Bất ngờ dưới vòng cung thời
gian, em và anh gồng mình chống đỡ, những mũi tên độc bị chặn lại trong vòm trời
rách toạc. Tâm bão cách chúng ta chỉ một tầm nhìn. Áp tai vào vách lũ bình yên.
Từ một điểm bất kỳ tới chỗ
con mèo chơi với miếng giẻ lau là đường chân trời. Mặt đất đang dần co lại. Vòm
thời gian cong quá sẽ vỡ. Hơi thở thác nước dựng em chất ngất, mát khôn nguôi.
Chạm âm thanh em, môi anh
vỡ trăm ngàn quả chuông khác nữa. Không gian mở ra những nếp gấp rộng thênh.
Con chim xoải cánh trong
mưa, không ảo giác lao đầu xuống nước.
Nơi mũi tên rơi, mặt đất
rung lên đẩy ta tới một đích khác.
(Vòng cung thời gian)
Thấu cảm với vẻ đẹp của
thời gian cũng như sự vô tình, độc lập của thời gian nên Mai Văn Phấn đã chơi với
nó như những người bạn có nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều biến ảo sắc thái thú vị
qua mỗi mùa, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm. Thời gian có hình thù cụ thể, có cảm
xúc, lúc yêu thương vỗ về, lúc giận hờn vô cớ đột ngột ra đi, lúc trở về nũng nịu
êm ái như trẻ thơ, lúc đỏng đảnh, đam mê, ham muốn như thiếu nữ dậy thì
đang yêu, lúc lãng mạn sướt mướt qua những khu vườn, khoảng không, vũ trụ bao
la; lúc trở về với màu sắc sặc sỡ, thơm tho, đầy hấp dẫn, đầy thân thương của
tuổi thơ qua hình ảnh quả hồng, quả na chín trên bàn thờ tổ tiên…Ấn tượng đầu
tiên với người đọc là cảm thức về thời gian tuần hoàn theo Mùa đầy ắp trong thơ
Mai Văn Phấn. Ở đây chúng tôi chỉ dẫn ra/tạm thời phân nhóm một số bài thơ tiêu
biểu được nhiều bạn đọc quan tâm chú ý.
+ Bạn
tâm giao Xuân:
Rượu xuân, Gió xuân, Cuối
xuân đầu hè, Nước mùa xuân, Dấu hiệu mùa xuân, Mười bài tập mùa xuân,
Đêm lập xuân, Mùa xuân, Giai điệu xuân, Gặp mùa xuân, Đầu năm, Đêm đầu năm, Lập
xuân, Đón giao thừa, Sáng mồng một, Ngày đầu năm, Giữa xuân, Vẫn còn tết, Nắng
xuân, Khát vọng đầu năm, Cuối tháng giêng, Mưa xuân tới, Mùa, Sáng xuân, Xuân
còn trong đất, Mưa đầu mùa, Mưa xuân, Cuối xuân, Đêm giao mùa, Xuân tràn, Xuân
đi, Tháng Giêng, Tắm đầu xuân…
+ Bạn tình đỏng đảnh: Thu
Thu chậm, Bầu trời thu, Hạt
mưa thu, Trưa mùa thu, Nắng tháng Tám, Thu chín, Cuối thu, Thu, Nắng cuối thu,
Trung thu năm nay, Tiễn mùa thu,Thu qua,Chớm đông, Trời trở lạnh, Gió mùa về,
Trong sương mù, Khúc cảm mùa thu, Gom nhặt cuối mùa, Thoáng thu, Thu về, Nỗi
nhớ mùa thu, Ký sự mùa thu, Đầu thu, Nhịp thu về, Quyền lực mùa thu, Những
bông hoa mùa thu, Thu đến, Ngày thu ở nước Nga, Sắp hết thu, Sang thu, Sáng lập
thu, Cảm giác mùa thu, Thu đầy…
+ Bạn
ấp ủ niềm yêu thầm kín: Đông
Mùa đông đến, Đêm đông, Giữa
mùa đông, Sáng mùa đông, Đêm lạnh, Gió đông,…
+ Bạn
đam mê và đầy năng lượng : Hạ
Mưa cuối hạ, Sáng mùa
hè, Mùa hạ rất gần, Ngày nóng nực, Giữa hạ, Nắng lên cao, Ngày hè, Trời nắng
nhìn ra vườn, Thay mùa, Tiếng trưa, Mùa nhãn chín,Quả bàng chín trong đêm,…
+ Kẻ
vô tình: Sát na
Ngày tháng: Ngày
đẹp trời, Ngày mới, Ngày nắng đẹp, Ngày mưa vào lễ Phật,
Ngày nồm, Ngày thanh minh, Thanh minh ngày nắng, Ngày
biển động, Ngày ngắn, Ngày mới, Ngày mai trời lạnh, Ngày
sắp hết, Một ngày, Ngày cuối, Đầu tháng…
Sáng: Kinh
cầu ban mai, Lúc mặt trời mọc, Dấu vết bình minh, Buổi sáng lên Yên Tử, Vô
tình trong nắng sớm, Mở trong bình minh khác, Giả thiết
cho buổi sáng hôm sau, Có mặt trời, Trong sương sớm, Dậy sớm, Sương
sớm, Rạng đông, Gần sáng, sớm, Sáng nay, Sáng sớm, Nắng
lên, Rạng sáng, Sớm nay, Mặt trời lên, Nắng mới, Mặt trời
lên nhanh, Trời nắng, Mưa ban mai, Hừng đông mép nước, Bình
minh, Ngày rạng, Lại khởi đầu, Ban mai thanh sạch, Còn
sớm,…
Chiều: Chiều, Chiều
Trà Cổ, Con sông về chiều, Nắng chiều, Chiều
tà,…
Hoàng hôn: Hoàng
hôn, Qua hoàng hôn, Trời tối, Hoàng hôn đến, Mặt trời sắp
lặn, Tối dần,…
Đêm: Bầu
đêm, Đêm, Đêm hoa nở, Tiếng côn trùng đêm, Bóng đêm, Đêm mưa, Biến tấu đêm mưa,
Đêm qua mơ, Đêm bắt đầu, Đêm, Đêm đến vội, Đêm đến rồi, Nửa đêm tỉnh dậy, Đêm
xuống nhanh, Đêm tối ra vườn, Đêm qua nghĩa trang, Nửa đêm mưa tạnh, Biển
lẫn vào đêm, Đêm trăng, Sông đêm, Chiều xuống, Bão
đêm, Trăng lên …
Hôm qua: Tờ
lịch hôm qua, Ngoảnh lại góc phố hôm qua,…
Hiện tại: Bây
giờ mưa phùn, Người cùng thời, Thời tái chế,…
Khoảnh khắc, giao mùa,
giao ngày: Sát na, Mũi tên bóng tối, Triều
xuống, Thủy triều lên, Mùa Trăng, Tỉnh dậy trong mưa, Giấc mơ, Chuyển
mùa, Hai thời đại, Hạt mưa giao thừa, Ngày và đêm, Gió
đầu mùa, Tin nhắn lúc giao thừa, Hai mùa…
“Mùa
màng”: Ngày mùa, Mùa hái quả, Mùa gặt, Sau
mùa gặt, Hát giữa hai mùa, Bài hát mùa màng, Đợi mùa, Mùa
vải, Đã sang vụ mùa, Mùa hoa mận, Mùa ổi,…
Từ khảo sát số lượng các
bài thơ trên có thể có người cho rằng Mai Văn Phấn yêu mùa Xuân. Thực chất
không phải như vậy. Đọc các tập thơ mới thấy ông tận hiến với tất cả các mùa, dừng
chân hầu hết với các điểm thú vị của tất cả mọi dạng kiểu thời gian. Ông yêu tất
cả mọi sắc thái biến chuyển có khi chậm chạp nặng nề, có khi đột ngột dữ dội,
có khi âm thầm tha thiết, có khi đỏng đảnh kiêu kì, có khi ngây thơ hồn nhiên
ríu rít như đứa trẻ, có khi lạnh lùng kinh hãi như một cảnh sát viên đang đứng
sau lưng tội phạm, có khi như một người từng trải, nhiều kinh nghiệm luôn đứng
bên cạnh con trẻ để nhắc nhở, khuyên bảo họ hãy sống có ý nghĩa hơn, hãy tận hiến
không vô nghĩa trong từng khoảnh khắc, từng sát – na của thời gian. Dẫu vậy, những
giây phút tĩnh lặng nhất của ông vẫn đọng lại rõ ở những bài thơ ông viết về
mùa Thu. Đây có lẽ cũng là mùa ông dành nhiều sự luyến lưu nhất, phù hợp nhất với
phong cách con người Mai Văn Phấn. (Bao lần xanh biếc rong chơi/ Mấy lần úa
rụng tiếng người vọng theo/ Thôi em! Ðừng vặn! Ðừng khêu! Ðáy thu thắp sáng
trên nhiều ngọn cây/ Anh vừa đọng xuống thu gầy/ Ðã đông thành đá phủ đầy rêu
xanh – Khúc cảm mùa thu). (Hoặc: Hôn em/ Toàn thân
anh/ Chín rực – Cuống của mùa thu). (Hay: Nỗi nhớ biến
thành sương khói/ Lá khô thoát xác bay lên/ Tôi thì nồng nàn như đất/ Để
em linh ẩn chùa chiền – Thoáng thu).
Nhìn lại lịch sử thi ca
chúng ta thấy rõ các kiểu thời gian phổ biến trong thơ là thời gian lịch sử, thời
gian hiện tại với cảm nhận cá nhân, thời gian hoài niệm. Biểu tượng của thời
gian trong thơ có thể là buổi chiều: hoàng hôn, chiều tà gợi nỗi buồn, gợi khoảnh
khắc cuối ngày; là buổi sáng: bình minh, tương lai huy hoàng, tươi sáng, sự bắt
đầu; là mùa xuân: mùa bắt đầu một năm và tượng trưng cho sức trẻ… Thời gian có
thể được biểu đạt trực tiếp qua các chân lý ngay chính trong những câu thơ có từ
“thời gian”, hoặc cũng có thể được biểu đạt bằng cách dùng từ chỉ thời gian: buổi
sáng, trưa, chiều tối, mùa xuân, hạ, thu đông… nhưng thời gian cũng có thể
được thể hiện bằng hình ảnh biểu tượng gián tiếp mang tính ước lệ, là những thời
khắc trăn trở với hiện hữu của thân phận con người. Trong thơ Mai Văn Phấn, thời
gian được hiện thể bằng cả hai phương pháp này. Ông đã chơi với thời gian, xóa
nhòa ranh giới giữa các mùa, xóa nhòa ranh giới thời gian và con người bằng sự
nhạy cảm lãng mạn, khắc khoải về sự thay đổi của cuộc sống trong xúc cảm thi
sĩ. Có thể đây là thi giới nghệ thuật, còn phần riêng trong đời sống thực của
nhà thơ có thể khác, nhưng Mai Văn Phấn đã diễn đạt được vòng quay về thời gian
sống của con người bằng nghệ thuật ngôn từ. Ông lặn sâu vào thời gian, lúc thì
đứng trong thời gian, khi thì đứng ngoài/ trên thời gian để quan sát, chiêm
nghiệm, thưởng thức, chơi đùa theo các thế đi với nó như người chơi cờ, nhưng mặc
nhiên không tính toán được thua. Trong trò chơi ấy con người được hiện hữu như
một chủ thể chủ động, nỗ lực tác động lên trò chơi để được sống như là mình,
như cách ông đã nghĩ về thời gian Ngày và Đêm là:
Nơi mình ngồi đánh cờ
Được thua
Đom đóm đang tụ lại
(Ngày và Đêm – Mai Văn Phấn)
2. Tĩnh lặng với thời
gian
Tĩnh lặng có lẽ vẫn là thời
gian có ý nghĩa nhất đối với con người. Đó là thời gian để con người lắng đọng,
sống chậm hơn, có điều kiện để sống cho mình và chia sẻ cảm xúc sống với người.
Con người sống bên nhau trong thực tế bằng xương bằng thịt nhưng nhiều khi chưa
hẳn đã thấu hiểu, đã chia sẻ được cùng nhau. Họ cần những khoảng lặng với vô
vàn những câu hỏi động, hay nói cách khác họ chỉ gặp và an ủi được nhau trong
những phút tĩnh lặng với thời gian. Tĩnh lặng với thời gian trong thơ Mai Văn
Phấn gắn liền với những khắc khoải của nhà thơ về tồn tại, về đời người. Những
khoảnh khắc tĩnh lặng trong thơ ông không phụ thuộc nhiều vào quy luật tuần
hoàn của vũ trụ, không bị chi phối nhiều bởi vòng cung thời gian.
Bên cạnh những bài thơ trực
tiếp dùng từ chỉ thời gian ngay ở tiêu đề, Mai Văn Phấn còn có nhiều bài thơ,
nhiều câu thơ được vận dụng khéo các kiểu từ loại khác có tính kí hiệu mô tả thời
gian như: mặt trời, trăng, tờ lịch, bông cúc trắng, mùa lá rụng, hoa
sen, sen tàn, tàn phai, kiếp, phai nhạt, cá… Ví dụ: Đích: Chiếc
lá mùa xuân/ Rơi/ Trúng mùa hè; Những con ve: Râm
ran/ Như kêu cả/Năm sau; Hoa sen rụng: Trông xa/ Cánh
sen/ Phủ kín gốc; Bông cúc trắng: Hoàng hôn/ Chầm chậm/
Nhuộm thẫm; Xác con bướm: Dựng/ Rưng rưng/Gió thu; Trăng
sáng gốc cây: Trên bàn thờ/ Quả hồng/ Vừa chín; Sen tàn: Trăng
sáng/ Mặt đầm/ Lửa cháy. Lá rụng: Gió thu/ Giữ mãi/ Mới thả xuống đất; Cuống
của mùa thu: Hôn em/ Toàn thân anh/ Chín rực; Con nhện:
Giăng cố đường tơ, Ngày mai/ Hết thu; Cá: Ngoi lên mặt nước/ Gió
mùa/ Về từ chiều qua; Nhớ em: Ánh trăng/ Đổ lên người/ Cũng nặng…
Nhưng có thể nói trong nhóm này Con mắt nghiêng là
tác phẩm điển hình, độc đáo của Mai Văn Phấn diễn tả quá trình trải nghiệm sự
biến chuyển tĩnh lặng của thời gian. Nội dung bài thơ từ khổ 1 đến khổ 99 đều
chan chứa những trăn trở lặng thầm của nhà thơ về thời gian, về tác động độc lập
của thời gian lên vạn vật, lên vũ trụ. Trong những khoảnh khắc đó chỉ có con
người mới ý thức được nó đã lặng thầm phá hủy, cộng tác, vô tình chia rẽ, đồng
thời đang tìm cách dấn thân với chính cuộc đời con người như thế nào. Những
giây phút tĩnh lặng, suy ngẫm về giá trị của thời gian được chuyển tải trong một
kết cấu bài thơ dài 99 khổ, 3 câu theo kiểu này thì ở Việt Nam chỉ có ở thơ Mai
Văn Phấn. (1.Góc vườn/ Nước đổ xuống phiến đá/ Hoàng hôn trôi
nhanh … (Lược bớt 97 khổ thơ). 99.Được mùa/ Đàn kiến
tha thức ăn/ Lên tay Phật – Con mắt nghiêng).
Xét về mặt tư tưởng, thơ
Mai Văn Phấn có cội nguồn xuất phát từ nhiều quan niệm khác nhau của ông về thời
gian, về thế giới. Ông ý thức rõ sự dung hợp của các nền văn hóa Đông – Tây
đang ảnh hưởng đến Việt Nam và ứng xử với nó theo nhiều cách khác nhau tùy vào
mỗi khoảnh khắc. Tĩnh lặng với thời gian trong thơ ông trước hết là ở ý thức về
kiếp sống, về sự tồn tại ý thức khác biệt của thi sĩ trước mọi dịch chuyển của
thời gian. Bước chân thời gian tồn tại cùng cảnh huống theo mỗi nơi ông đi qua,
mỗi khoảnh khắc cảm xúc chợt đến. Thời gian trong thơ ông vì vậy không chỉ là
thời gian tuyến tính, luân phiên theo quy luật vũ trụ, quay vòng nhanh chóng
trôi qua vận mệnh con người mà còn là thời gian đa tuyến tính, thời gian của những
mảnh vỡ tâm hồn của con người thời hiện đại. Nó cũng là những khoảnh khắc, từng
sát na tĩnh lặng, thiền định trong đời sống nghệ sĩ. Đó cũng có thể là thời
gian của những buổi chiều hoàng hôn, của mùa thu chờ đợi, những khoảnh khắc
giao mùa, khoảng thời gian cách xa cách, đổ vỡ tê tái lòng của con người được
thể hiện trong tâm cảm. Thời gian gắn với chủ thể thi sĩ từng trải với nhiều
câu hỏi hỏi khó dành cho văn hóa, lịch sử dân tộc; sự dịch chuyển không ngừng của
thế giới. Thời gian tĩnh lặng luôn có mặt trong hành trình ông tìm kiếm những
điều không thể thấy trong đời sống thật. Nhiều tác phẩm có sự xuất hiện của tư
duy triết học Phật giáo, tạo sinh thêm một thế giới sống độc đáo trong thơ. Ở
đó, con người tồn tại trong thời gian hiện thực và chuyển hóa song song thành
thời gian vĩnh hằng trong không gian vô tận. Thời gian trong thơ Mai Văn Phấn
như một phương thức tồn tại của thế giới nghệ thuật. Nó có vai trò quan trọng
trong việc tái tạo thực tại nghệ thuật, tổ chức nên nội dung và hình thức tác
phẩm để khám phá thế giới và con người theo cách riêng của thơ. Nó vừa là khách
thể vừa là chủ thể, vừa là phương tiện phản ánh. Thời gian trong thơ ông còn chịu
sự chi phối bởi tư tưởng triết học, mỹ học của thời đại, dân tộc, của riêng tác
giả. Nó không giống với thời gian khách quan, ngay cả khi ông muốn diễn tả một
sự kiện trong thời gian một chiều, thì quy trình vận hành của nó cũng không
trùng khít với thời gian tự nhiên mà luôn đi theo tâm trạng của tác giả trước sự
biến chuyển của sự vật. Cách thể hiện thời gian nghệ thuật của ông vì thế mang
tính cảm xúc và ý nghĩa nhân sinh, quan niệm nhân văn, tính chủ động trong sáng
tạo của tác giả, góp phần giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản chất thực tại
đối với con người.
Trang sách
Mở mặt đất chữ
Rừng núi
Sông hồ
Những con đường chữ.
(Lược bớt… 43 khổ
thơ. 45.
Tôi thỉnh chuông
Màu vàng
Màu trắng lan đi…
Nó đi cho tới khi
Chỉ còn một đốm trắng
–
(Tĩnh lặng – Muôn
pháp về một, một đi về đâu? – CÔNG ÁN THIỀN)
Theo quan điểm nhà Phật mạng
sống của con người được tính bằng hơi thở. Một hơi thở ra mà không hít vào được
là kết thúc một sinh mệnh. Trong ý nghĩa đó, không ai có thể điều khiển, kìm
hãm thời gian theo ý muốn của mình. Thời gian cứ thế ám ảnh, khiến nhà thơ dường
như lúc nào cũng thao thức muốn chuyển sự hữu hạn thành vô hạn. Thơ Mai Văn Phấn
thể hiện khao khát làm sao để không có sự tàn phá của thời gian lạnh lùng,
không có nỗi phiền muộn của con người bởi khả năng phá hủy sắc đẹp, tuổi trẻ và
nhiều thứ quý giá khác do thời gian gây ra. (Bát nước và tôi màu trắng/ Mặt
đất ngả vàng/ Cánh đồng phía trước/ Cùng chiếc chuông/ Vàng sậm – Tĩnh
lặng, Muôn pháp về một, một đi về đâu? – CÔNG ÁN THIỀN). Con người cần giác tỉnh
vô thường trong cái hữu hạn thân như ánh chớp có rồi không -Thiền
sư Vạn Hạnh; đời người qua nhanh như ba sinh thấm thoắt như ngọn đuốc
trước gió – Tuệ Trung Thượng Sĩ. Sinh mệnh con người như chỉ
trong giấc mộng, đừng mơ màng, khát vọng hưởng thọ trăm năm – Ý của Trần
Thái Tông. Con người có cảm giác sợ hãi khi thời gian cứ trôi chảy, sinh mệnh
con người theo đó mà lụi tàn. Không chỉ thân sắc bị hủy hoại trong hư không, (thân
như bóng chớp có rồi không), vỡ tan như bóng nước mà tâm thức cũng trở nên
u tối như quỷ ám của kiếp người. Vì thế các thi sĩ thường diễn đạt cảm thức về
thời gian bị thu ngắn lại trong thơ qua những hình ảnh sinh động từ các biểu tượng.
Nếu xét từ thuyết luân hồi nghiệp báo, thân mệnh con người không dừng lại đó.
Thời gian cũng chịu quy luật tuần hoàn theo chu kỳ Âm dương khiên đức bản
tiên nhân (Âm dương hoạ phúc vốn xoay vần). Mai Văn Phấn hiểu rõ rằng,
chính trong cái thịnh suy mà con người giác ngộ luôn có những rung động trực cảm
và có thể có những thăng hoa nghệ thuật sẽ để lại cho đời mãi mãi. Đó là sự hiện
thể của tốc độ thời gian vận hành qua các cá thể, qua mỗi sát – na, con người
phải trở lại để đối diện, tĩnh lặng trước những thăng trầm được và mất của
thế gian. (Ánh sáng trên trang sách/ Thu thế giới/ Và tôi/ Thành một
– Tĩnh lặng, Muôn pháp về một, một đi về đâu? – CÔNG ÁN THIỀN).
Tại những phút tĩnh lặng nhất của tâm hồn, tâm thức con người được mở rộng, được
tiếp cận cái vô hạn bao la của trời đất, trong cái tĩnh lặng của hư không, thời
gian có thể nhập vào giác tính con người. Khi ý thức con người đã được
giác ngộ, đối diện với những khoảng tâm thức tĩnh lặng, đời sống tinh thần sẽ
được tham gia vào những chuyến du hành tâm tưởng thú vị. Thơ Mai Văn Phấn vì thế
đã góp phần giúp người đọc hiểu rõ các giá trị tư tưởng thẩm mỹ của nghệ thuật
đích thực luôn có giá trị trường tồn vững bền theo thời gian.
3. Đối thoại với thời
gian
Thời gian và sự biến đổi
của vũ trụ, của thế giới luôn là vấn đề quan trọng được các thi sĩ quan tâm. Bản
chất của đối thoại là hỏi, nghe, trả lời, đồng ý. Con người khi đã ra đi nhưng
những cuộc đối thoại có ý nghĩa với đời sẽ luôn ở lại. Mỗi nhà thơ đều trải
nghiệm, đối thoại với thời gian theo cách của mình. Trong hành trình đi tìm cái
không thể nhìn thấy, các thi sĩ thường bị ngăn cách với thời gian, với thế giới
về mặt ý hướng, mục đích và sự hiểu biết. Bức tường ngăn cách bất khả thấu của
thời gian vừa thử thách họ, vừa gọi mời họ đối thoại, vừa khuyến khích họ tìm
cách vượt qua. Thời gian với nhà thơ Mai Văn Phấn không chỉ là thực tại khách
quan mà còn là sự hiện diện của một thứ quyền uy huyền bí vượt trên mọi
danh xưng hiện hữu. Nỗi sợ phải chết, nỗi cô đơn và bất lực của con người trước
quy luật thời gian luôn song hành với con người trong khát vọng trở thành bất tử.
Kể cả khi chết đi rồi con người vẫn chưa thôi trực tiếp đối mặt với những đau
thương ai oán của thời gian kiếp người. Nhà thơ tự do sống trong thời gian sáng
tạo nhưng thời gian của vũ trụ vẫn cứ phải luôn tồn sinh bên cạnh họ. Trước các
tạo vật dù đều là con chung của Chúa nhưng với những sắc tộc, màu da và chính
kiến khác nhau, họ vẫn dành nhiều thời gian Ngày Đêm lãng phí để tìm cách hủy
diệt lẫn nhau. Máu xương, tội ác vung vãi khắp địa cầu dù bao nhiêu đại hồng thủy
có kéo đến cũng không quét trôi hết được. Tội ác loài người kiên trì hiện hữu
trước thời gian. Thời gian còn là kẻ xấu xa dám hủy diệt những thi vật xinh đẹp
mà vũ trụ tạo dựng. Thời gian cũng giúp nhà thơ bừng ngộ trước vẻ đẹp vĩnh cửu
của thi ca. Trong thơ Mai Văn Phấn có phải thời gian cũng là một thực tại huyền
bí thách thức tâm cảm của người đọc?
(Không gọi được ai,
lạc vào ai
Rượu hút cạn
Ngón tay rỗng buốt
Nín thở nghe nước
xiết
Phơi khô ươn ái sông
dài
Chảy qua thân
Nặng trĩu bờ vai rậm rịch
Bước chân hốc mắt đi tìm
Oan khiên con đò tự vẫn
Dâng ngang ngực
Nước mắt lửa kéo
cày
Hoàng hôn chất ngất
hạt giống
Sương giăng dài cơn mơ
(Đối thoại với thời
gian)..
Ta chỉ có thể cảm nhận được
tinh chất của thời gian khi đang sống đẹp và không thể hình dung hết bản tính của
thời gian khi con người không còn khả năng để sáng tạo, để nối kết với thế giới
quanh mình nữa. Có phải đã đến lúc con người cũng cần đối thoại với thời gian
như là một cách để tìm về nơi trú ẩn của tâm hồn? Thế gian đang ngập tràn nước
mắt, biển cả dù mênh mông cũng không chứa hết, là lí do níu giữ con người lại
phía sau. Đây là những thông điệp Mai Văn Phấn muốn đối thoại với thời
gian. Ba vệt thẫm kéo dài con đường/ Đầu gút cột vào mù tít/
Níu chúng tôi lại phía sau…(lược bớt 3 khổ thơ). Sáng đâm chồi từng vệt/ Tối
đâm chồi từng vệt/ Non tơ ngọn tóc / Hút cằn khổ đau/ Đèn vụt lóe cắt
không gian thành thửa/ Ánh sáng chảy thông bổn phận. (Đối thoại với
thời gian). Nhiều lúc dù không cố ý viết về thời gian nhưng cảm thức
thời gian vẫn luôn hiện hữu trong thơ ông. Những câu thơ diễn tả cảm nghiệm về
thời gian độc đáo trong các tác phẩm cũng là những điểm nhấn của trò chơi này.
(Muôn hạt sương/ Từ đêm tối/ Sóng reo ngoài bãi/ Dồn đại dương/ Đi
qua tôi/ Nước thấm vào tôi/ Những cánh đồng/ Dấu chân gặp
nhau/ Cây trong vườn vươn dậy – Nước đang chảy qua trái đất);
Trong thơ Mai Văn Phấn có quá trình dịch chuyển từ thời gian của nhịp sống thuần
nông thôn sang lối sống đô thị trong từng khoảnh khắc. Tâm lí tĩnh tại tiếp nhận
thời gian kiểu trung cổ chuyển sang tâm lí âu lo của thời hiện đại xuất hiện
trong những tập thơ gần đây của Mai Văn Phấn. Thời gian trong thơ ông phản ánh
quan niệm thẩm mĩ lấy chính sự vận hành của cuộc sống con người làm thước đo
cho tạo hóa, cho mọi biến đổi, dịch chuyển. Từ những kết hợp từ lạ, Mai Văn Phấn
đã cho người đọc thấy rõ uy lực của thời gian luôn thường trực trong mỗi khoảnh
khắc biến đổi của đời sống. Đó có thể là thời gian tàn phá sinh thái, là sự hủy
diệt kinh khủng đến cả những sinh vật đẹp đẽ nhất vốn được tạo hóa mang lại. Thời
gian mang đến tuổi già, cái chết, sự vô tình lãng quên khắc nghiệt của con người.
Bản thân thời gian cũng chính là chủ thể đối thoại với cuộc sống của hiện tại.
Thời gian là sự “có mặt” của tác giả trong mỗi khoảnh khắc biến chuyển của vũ
trụ: Bây giờ mưa phùn, Người cùng thời, Thời tái chế,… Tiếng
thở dài bay đi lớp bụi thời gian, ta sửng sốt thấy hồn vía tổ tiên trong nét
hoa văn đình làng, trống đồng, ngọn tháp… Những thân phận khóc cười đêm ngày
làm kén ở hồn ta… (NGƯỜI CÙNG THỜI). Mai Văn Phấn đã sống với thời
gian hiện tại, đo đếm từng nhịp thời gian bằng ngôn từ. Mỗi khoảng lặng của mỗi
tập thơ đều thể hiện mỗi khoảng khắc ngậm ngùi nhân văn, sự cô đơn khủng khiếp
của con người khi hiểu rõ về giới hạn sự tồn tại. Cuộc sống con người luôn phải
chịu những áp lực mạnh mẽ và quyết liệt của trật tự xã hội. Trật tự xã hội bị đảo
lộn, hiện thực thế giới đầy rẫy bất an kéo theo đó là sự hoang mang, lo lắng của
mỗi người. Sống trong đó, con người luôn có những khát khao cháy bỏng. Họ khát khao
được thoát ly khỏi cuộc sống hiện tại, khát khao được sống là chính mình, được
hòa hợp với tự nhiên… không phải vướng bận bởi những điều vô nghĩa. Ý nghĩa cuộc
sống con người như thế không gì khác ngoài sự đam mê hay khao khát mãnh liệt một
điều gì đó trong cuộc đời. Một ngày nào đó điều này có khả năng sẽ chế ngự trái
tim, linh hồn và thể xác chúng ta. Nó có thể cháy mãi tới khi ta chết. Nếu con
người biết trải qua nỗi khao khát, đam mê sâu sắc ấy theo hướng thiện thì họ sẽ
không sống vô ích. Nếu hành xử ngược lại, nỗi khao khát, đam mê sâu sắc có thể
trở nên độc ác bất nhân ngay cả với chính bản thân mình. Có thể vì điều này mà
Mai Văn Phấn đã dành trọn thời gian sống của mình cho tình yêu đời, yêu con người,
tận hiến với cái đẹp nghệ thuật. Thơ ông giúp người đọc thức tỉnh sự trân trọng
đối với từng giây phút của thời gian sống. Thời gian trong thơ ông không chỉ gắn
với một khối thống nhất, tĩnh tại, tuần hoàn, lặp đi lặp lại của thế giới, mà
còn được kiến tạo lại với ý thức phải tách mình ra như một cá thể sáng tạo độc
lập, có tiếng nói, cảm nhận riêng, có phương pháp biểu đạt riêng. Thời gian có
sự tách biệt qua các thời, có sự không đồng nhất giữa con người và vũ trụ. Thời
gian vũ trụ chỉ có bốn mùa, thời gian con người biến đổi theo bản năng sống
mong muốn luôn được kéo dài thêm. Mai Văn Phấn không cố ý kéo dài thời gian sống
sinh học theo ham muốn thực thể sống, ông cố tình lồng ghép vào trong mỗi bài
thơ ý thức về thời gian sáng tạo. Ông đối thoại với thời gian, thể hiện sự biết
rõ về nó, tìm cách sống nhiều hơn thời gian, nhiều hơn cả không gian theo xúc cảm
tâm – linh – hồn của ông. Đọc thơ ông vì thế có thể nhận thấy một sự vật quen
thuộc nào đó như chiếc lá, quả hồng, con mèo, con quạ… luôn được
ông nối kết với thời gian sống chung của vũ trụ, trong mối tương thông giữa các
dân tộc qua bàn tay của người thợ cao tay ngôn ngữ. Ông biết nhìn thời gian hiện
hữu như một đứa trẻ ngây thơ luôn có mặt bên cạnh một người lớn khổng lồ, đó là
sự tồn vong, hiện hữu của thế giới, của trái đất, của gia đình chung Nhân loại.
Chính vì vậy, thời gian trong thơ ông không chỉ là thời gian đặc trưng của lãnh
thổ nằm trong vùng nhiệt đới Việt nữa mà còn mang tinh thần của thời đại, có cội
nguồn văn hóa cả phương Đông lẫn phương Tây. Thời gian vì vậy mạnh mẽ sinh sôi
ban đầu, rồi tàn lụi theo quy luật và lại và hứa hẹn sinh sôi, sống tiếp với
các xu hướng đối thoại, tranh luận không cần che giấu trong tâm thức hướng thiện
của nhà thơ.
Tôi đau giấc mơ
cây cỏ úa vàng, trút xuống từng cơn thiếu máu. Lá khô đưa tôi về một thời mất
máu, một thời khinh rẻ máu, một thời gian lận máu, một thời lợi dụng, tụng ca
máu. Một vong linh không rõ giới tính đu lên cuống một chiếc lá và xưng danh từng
là giọt máu. Ngọn cây và con chim sâu gần đó vội vã lắc đầu, rồi không tranh luận
với vong linh ấy nữa – THỜI TÁI CHẾ, Chương II: THẪM ĐỎ.
Thời gian có khả năng góp
phần sáng tạo, đồng thời cũng có sức hủy diệt tới không ngờ. Nó góp phần giúp
nhà thơ xác nhận đúng đắn hơn giá trị về quyền sống, quyền tự do của con người
trong thời đại mới, biểu đạt rõ hơn sức mạnh của tình yêu, của hiện tại và sức
cám dỗ của nghệ thuật chân chính. Mai Văn Phấn có cách đối thoại, tranh luận
trong vẻ khiêm nhường, hướng về các đối tượng giao tiếp văn bản. Nhà thơ cho
người đọc cảm nhận được sự nỗ lực phi thường trong đời sống tâm hồn thi sĩ khi
đối diện với những khoảnh khắc thời gian dịch chuyển của vũ trụ. Đây cũng là biểu
hiện của một tâm hồn yêu nghệ thuật cháy bỏng đầy suy tư của nhà thơ trong môi
trường văn hóa dân tộc Việt Nam hiện đại. Thấu hiểu triết lý vô thường của triết
học Phật giáo và sự tồn tại của triết lý Phật giáo bên cạnh Ki tô giáo và các
thuyết giáo liên quan đến vận mệnh con người, Mai Văn Phấn thể nghiệm thời gian
nghệ thuật khá sinh động. Trong thơ ông, thời gian hiện thực của trần thế vốn
vô cùng ngắn ngủi và chớp nhoáng, trôi nhanh, hối hả, luôn được gắn liền với
các sự kiện mà con người nỗ lực để hoàn thành. Ông đã tìm cách chiếm lĩnh nó để
sáng tạo ra một kiểu thời gian, một thước đo thời gian mới theo cách của nhà
thơ, đó là thời gian hy vọng thực hiện được hạnh nguyện làm người trong xã hội.
(Giọt máu ấy bây giờ có hình hạt sương mang ánh sao khuya, giọt mưa trong
lành buổi sớm, vệt nước cam em bé vừa uống lỡ rớt xuống cằm. Nước mắt đọng
trong khóe mắt đợi chờ, hy vọng – THỜI TÁI CHẾ, Chương II: THẪM ĐỎ).
Nhà thơ đã cảm nhận, đã hy vọng, đã tìm cách mô tả về con người qua mục đích,
hành động thực tiễn để chuyển hóa thân phận khổ đau của loài người. Bằng cách
này, dường như Mai Văn Phấn đã đi cùng nhịp đập thời gian của cuộc sống. Thời
gian trong thơ ông vì thế có khi được tái hiện thông qua việc quy về thời gian
sự kiện, thể hiện ít nhiều tính liên tục của nó; có hệ thời gian đủ cả ngày
tháng năm, có lúc còn được tính bằng sát-na. Thời gian được tính bằng sát-na
giúp người đọc liên tưởng đến những sự kiện có liên quan trong sinh hoạt bình
thường của con người trong thực tại. Nếu con người cứ mải mê vọng trần, thời
gian theo đó có thể hủy diệt tất cả (Sát – na). Sự hệ luỵ của con người
là do vọng niệm khởi lên trong một sát-na. Trong khoảnh khắc đó, con người dễ
trượt ra ngoài tầm kiểm soát của ý thức, dẫn đến các hành động gây khổ đau cho
chính mình và xã hội. Mai Văn Phấn muốn người đọc hiểu thêm rằng con người
nguyên nó đã luôn bị trói buộc từng giờ, từng phút qua các không gian sinh hoạt
chật hẹp, nên nhà thơ đã không đơn giản mô tả hay liệt kê lại những thời khắc của
các sự kiện, mà luôn đặt chúng trong một không gian chung với Thế giới con người
tương thông. (Thanh tẩy mãi vẫn không thấy sạch/ quay về tắm bằng ngọn đèn/
thử đưa bờ vai về phía ánh sáng – Tắm đầu năm).
Đến đây có thể lý giải được
vì sao trong cuộc đối thoại ấy, Mai Văn Phấn có nhiều đối thoại hay với thời
gian Đêm. Đêm, khởi điểm của một ngày gắn liền biết bao câu chuyện,
bao vụ việc, và cả những hồi tưởng thường có thói tật thức dậy trong đêm. Đêm
là khởi điểm của thời gian tâm trạng rõ nét của nhà thơ. Trong những thời khắc ấy,
con người như tự đối thoại/ tự thú với những nghiệp nhân, nghiệp quả do bản
thân tạo ra trong đời sống. Khi không gian như đi vào tĩnh lặng thì tâm trạng
con người càng cố vận động để đối thoại với cô đơn. (Rửa mặt trong bóng tối: Nghe
họa mi hót/ Thấy mặt mình/ Sạch hơn). Đêm dài cứ trôi qua mà nhà thơ thì
chưa thực hiện xong tâm nguyện của mình với cuộc đời. (Sông đêm: Chảy
qua làng/ Giấc mơ/ Đọng phù sa). Phật giáo quan niệm thời gian như một dòng
chảy liên tục, con người sống theo bản năng dễ bị cuốn hút theo dòng chảy đó.
Thời gian là một sự vận động vô thủy vô chung của luân hồi và nghiệp báo. Con
người ngụp lặn, khổ đau trong những chu lưu đó với vô lượng kiếp. Mỗi kiếp là một
chu kỳ sinh, lão, bệnh, tử. Kiếp này tạo nhân, kiếp sau thọ quả, có khi nhân quả
cùng thời trong một kiếp. Thời gian của một đời người chỉ là một sát-na trong
dòng chảy sinh tử luân hồi. Con người cứ thế ngây thơ bị thời gian cuốn trôi
mãi với các nghiệp chướng. Nếu thân mạng người mất đi, muôn kiếp chỉ trở lại
tùy theo duyên nghiệp mình tự tạo ra khi còn sống. Thời gian theo quan niệm này
vận động theo nghiệp nhân quả. Đọc hết các tập thơ của Mai Văn Phấn, chúng ta sẽ
nhận ra quy luật vận động thời gian luân chuyển tuần hoàn này tác động mạnh đến
đời sống tâm hồn con người như thế nào. Đọa lạc hay thăng hoa của mỗi người là
do chính bản thân ta quyết định. Khi tâm và thân ra khỏi vùng tâm lý không hệ
luỵ sáu trần thì sẽ có cơ hội đến với thế giới chân như. Đó chính thời gian để
con người sống với thế giới đại quang minh của từ bi và trí tuệ.
Sự chuyển hóa này khiến con người thoát ly sinh tử, không sợ hãi trước chân trời
của cái chết mà tìm cách sống có nghĩa như là một phương pháp kéo dài thời gian
sống; xem cái chết cũng như là một nghệ thuật sống khác. Thời gian của sáng tạo
nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn vì thế trở thành thời gian vĩnh hằng của tự
do vô giới hạn, do tâm thức đạt đạo vận hành trong ý thức, không ai kiểm soát
được. Đó là một phương tiện phản ánh hiện thực của nhà thơ, nơi ông đã sống, đã
luôn có ý hướng với nó trong tư thế đối thoại, dự cảm đến tương lai. Đối thoại
với thời gian, như một cách đối thoại với tư duy các hệ hình tư tưởng tôn giáo,
Mai Văn Phấn đã tạo sinh một thế giới sống mới trong thơ. Nơi ấy, con người tồn
tại trong thời gian hiện thực và luôn chuyển hóa song song thành thời gian sáng
tạo nghệ thuật.
Có lúc Mai Văn Phấn tự thấy thơ cứ đến, chơi với nhà thơ bất kì lúc nào, có khi ông còn mơ thấy nó, tỉnh dậy chép lại. Ông làm thơ có căn, như căn đồng. Xét riêng với cảm thức thời gian, Mai Văn Phấn như đang chơi trò cá cược. Thực chất, cá cược không phải là bản chất của trò chơi. Nhưng những người biết cá cược đều là những kẻ đam mê, tận hiến; một số ít trong đó là những “tay chơi” sành điệu, lịch lãm. Đam mê đến nỗi có khi quên cả bản thân, dám đánh cược tất cả tài sản của mình cho trò chơi mình yêu thích. Chơi như “nghiện”! Thơ Mai Văn Phấn có sự đam mê “khủng khiếp” ấy! Ông trải nghiệm thời gian đúng nghĩa xét về mặt nghệ thuật cũng như trong đời sống thực tiễn, như một người thợ cao tay ngôn ngữ không giống ai. Mỗi bài thơ thời gian của Mai Văn Phấn như một cú gieo súc sắc về mặt hình thức bên ngoài nhưng bên trong nó, xét về mặt bản chất thì đó là quá trình dịch chuyển của thời gian từ đơn tuyến đến đa tuyến. Trong trò chơi của ông, hoàn toàn không phải là để khẳng định ngẫu nhiên, mà để góp phần chia nhỏ trò chơi thành những khả năng, tạo tiền đề cho cuộc sống con người. Vì thế, sẽ là vô ích khi tự hỏi rằng liệu đây có phải là cách biểu đạt ý nghĩa thần học, triết học hay chỉ là sự biện giải cho các hệ tư tưởng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn? Vì thơ xét về khả năng tồn tại và sự tồn tại thực thể của ông không liên quan mấy đến sự tồn tại hay không tồn tại của Chúa hay của Phật! Trò chơi của ông vì vậy mang tính nhân loại. Nó cũng là một trong những phương pháp đề cập tới hai cách thức tồn tại của con người. Các thế chơi phải lựa chọn này của Mai Văn Phấn gắn bó mật thiết với những dấu hiệu của lý tưởng khổ hạnh ở Con người! Và trong thực tiễn xã hội đang cuống cuồng làm tiền, chơi tiền, thì làm thơ, chơi thơ theo cách của thi sĩ tài năng này là đáng nể trọng. Mai Văn Phấn có lí do khi ông tham gia trò chơi này một cách kiên trì, nhẫn nại nhưng đầy đam mê kiêu hãnh, đầy thử thách, như hòn đá thử vàng!.
Tài liệu tham khảo:
[1]. Mai Thị Liên
Giang, Thi sĩ và những điều có thể, Tạp chí Sông Hương, số 218,
2007;
[2]. Mai Thị Liên
Giang, An trú miền đọc, NXB Hội nhà văn, 2018, tr.24;
[3]. Gilles Deleuze, Nietzsche và triết học, NXB Tri thức, 2013.
Quảng Bình, 23/10/2019
Mai Thị Liên Giang
Nguồn: Tạp chí Dạy và Học ngày nay, kỳ 2 - 11/2019
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét