Truyện ngắn Ivan Bunin
từ
góc nhìn văn hóa
Ivan Bunin là một
nhà văn Nga đặc biệt. Sống trên đất Pháp hoa lệ và sôi động, Bunin vẫn giữ
nguyên những nét thâm trầm, kín đáo của một nhà văn ưa hoạt động nội tâm.
Không quá cực đoan như
Aleksandr Solzhenitsyn xây dựng cho mình một “pháo đài Nga” kiên cố giữa đất
Mĩ, Bunin vẫn sinh hoạt, giao lưu, thậm chí dang tay đón nhận những vẻ đẹp văn
hóa Pháp. Nhưng điều quý giá nhất ở ông đó là luôn trung thành với tiếng Nga, vẻ
đẹp Nga, nỗi đau Nga và tình yêu đậm chất Nga vẫn luôn tuôn chảy như suối nguồn
không cạn trong văn chương của ông. Bởi thế, đọc truyện ngắn của Bunin, người đọc
có thêm những ấn tượng văn hóa sâu sắc về đất nước Nga đẹp, dịu dàng, quyến rũ
nhưng phảng phất nỗi buồn. Và cũng bởi thế cho nên muốn khám phá truyện ngắn của
Bunin, người đọc phải đi sâu vào thế giới văn hóa Nga được nhà văn tái hiện
trong tác phẩm. Bài viết này bước đầu khám phá thế giới Nga, văn hóa Nga, tâm hồn
Nga qua Những quả táo Antonov – một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của
Bunin, từ đó, mở rộng ra những truyện ngắn sau Cách mạng tháng Mười để thấy sự
lưu giữ chất Nga trong sáng tác của nhà văn Nga đầu tiên đoạt giải Nobel văn học.
Những quả táo Antonov được
viết năm 1900, khá lâu trước khi tác giả rời khỏi nước Nga. Cả tác phẩm là hành
trình trở về “nước Nga cổ xưa” trong tâm tưởng của nhân vật “tôi”. Trong cuộc
hành trình không có bạn đồng hành ấy, “tôi” đã tận hưởng trọn vẹn những rung cảm
các giác quan của mình. Truyện được Bunin chia làm bốn phần, gắn liền với hình
dung về nước Nga nông thôn trong kí ức của nhân vật “tôi”. Có một sự mất cân đối
rõ ràng trong cách phân chia bố cục (cũng là kết cấu truyện) của Bunin. Trong bốn
phần ấy, có đến ba phần nhà văn dành để miêu tả nước Nga xưa cũ với những nét đẹp
của thiên nhiên và sinh hoạt văn hóa một thời. Sang phần thứ tư, một nước Nga
khác – nước Nga của hiện tại cũng được tái hiện đầy chân thực, từ cảm giác và bằng
cảm giác.
Táo Antonov – hương thơm
kết nối hai thế giới
Không phải ngẫu nhiên tác
phẩm lại có nhan đề Những quả táo Antonov. Không gian trong tác phẩm là không
gian làng quê Nga đặc trưng với những trang trại táo rộng lớn. Chúng ta hẳn còn
nhớ trong bữa tiệc dì Anna Gheraximovna đã đãi “tôi” những món khai vị toàn làm
từ táo (táo Antonov, táo bel barưnia, táo borovinka, táo plodovitka). Mùa thu,
thời gian bối cảnh của tác phẩm, là thời gian của vụ thu hoạch táo trong năm.
Vì vậy, táo Antonov, hương táo Antonov luôn xuất hiện trong các phần của truyện.
Có thể nói, táo Antonov chính là chi tiết quan trọng xâu chuỗi toàn bộ nội dung
câu chuyện.
Ở phần một, táo Antonov
hiện ra trong không gian mùa thu trong lành: “Tôi nhớ một khu vườn lớn đã khô
và thưa lá, toàn bộ màu vàng óng; nhớ những lối đi giữa hai hàng cây phong, mùi
thơm nhẹ nhàng của lá rụng và cả mùi táo Antonov, mùi mật ong và mùi của tiết
thu tươi mát”. Ở phần hai, táo Antonov xuất hiện trong hồi tưởng về một năm được
mùa của nhân vật “tôi”: “Táo Antonov mẩy, cả năm thảy đều vui. Nếu táo Antonov
sai quả thì công việc nông thôn sẽ tốt, bởi vì có nghĩa là lúa cũng sẽ được
mùa… Tôi hồi tưởng lại một năm được mùa ấy”. Trong phần thứ ba, khi lang thang
trong khu vườn vào một buổi sáng đẹp trời ngủ quên đi săn, “tôi” cảm nhận được
hương vị đặc biệt của quả táo bị lãng quên: “Trước mắt ta là cả một ngày yên
tĩnh trong khu điền trang đã im lìm trong những ngày đông. Ta sẽ thong thả mặc
quần áo, đi dạo trong vườn, vớ được trong đám lá ẩm một quả táo, ngẫu nhiên bị
bỏ quên, đã ướt lạnh và không hiểu tại sao ta thấy quả táo này ngon khác thường,
hoàn toàn không giống như những quả táo khác”. Còn ở phần cuối cùng, khi chỉ
còn lại thế giới hiện tại, “tôi” cũng dường như ngậm ngùi: “Trong trang trại của
các điền chủ nay đã không còn mùi thơm của táo Antonov nữa rồi. Những ngày ấy
cách đây không lâu, mà sao tôi tưởng chừng như từ bấy đến nay hầu như đã qua cả
một thế kỉ”. Vẫn là sự xuất hiện của táo Antonov, nhưng là sự xuất hiện đầy nuối
tiếc. Không còn táo Antonov cũng có nghĩa là không còn sự sung túc giàu có trước
kia, không còn vẻ đẹp của không gian thiên nhiên tràn đầy hương thơm tinh khôi
và quyến rũ. Táo Antonov giờ đây chỉ còn là hương thơm của quá khứ tươi đẹp.
Như vậy, hình ảnh táo Antonov, hương vị táo Antonov đã trở thành sợi chỉ đỏ kết
nối hai thế giới và các phần của thế giới ấy trong tác phẩm.
Có một điều thú vị là,
theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, quả táo biểu tượng cho một thế
giới khác. Đó là thiên đường, là nơi ở huyền thoại của các anh hùng vua chúa
sau khi thực hiện xong nghĩa vụ trên trần thế(1). Không phải ngẫu nhiên ở đầu
tác phẩm, Bunin viết: “Nếu táo Antonov sai quả thì công việc nông thôn sẽ tốt”,
“Táo Antonov được mùa, cả năm thảy đều vui”. Rõ ràng, trong quan niệm dân gian
Nga, táo Antonov là biểu tượng cho sự giàu có, hạnh phúc. Thậm chí, nó còn là
biểu tượng cho chính nước Nga bởi đâu đâu trên đất nước này cũng có sự hiện diện
của táo. Còn đến phần bốn, nhà văn khẳng định đã không còn táo Antonov. Phải
chăng thiên đường trước kia nay đã mất? Hiện thực này càng rõ ràng hơn khi liên
hệ với thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Thế giới tươi đẹp gắn với táo Antonov
chiếm lĩnh cả ba phần không gian, thiên đường đã mất không còn táo Antonov chỉ
có mặt trong một phần. Táo Antonov đã không còn, nay chỉ còn lại hương thơm dịu
ngọt của chúng. Đó cũng là hương thơm dịu ngọt của quá khứ. Câu hỏi ám ảnh người
đọc có lẽ là câu hỏi về tương lai của táo Antonov, về tương lai của nước Nga.
Nhưng tác giả không trả lời được câu hỏi ấy. Thời gian sẽ trả lời.
Như vậy, rõ ràng, xét về
mặt định tính và định lượng, hình ảnh táo Antonov cùng hương thơm và mùi vị của
nó đã mang chức năng của một vật kết nối văn hóa đầy thú vị. Táo Antonov không
chỉ gợi ra hình ảnh làng quê Nga với vẻ đẹp của một thời đã qua nay chỉ còn
vang bóng, mà còn giống như hương thơm kết nối thế giới thực tại và tâm tưởng.
Hương thơm ấy đặc biệt đến nỗi chỉ cần gợi nhắc là tất cả hồi ức đẹp sẽ hiện về,
sẽ dâng trào trong tâm hồn con người. Giống như hương thơm của “mẩu bánh
Madeleine nhúng trong chén trà nóng một ngày đông lạnh” trong Đi tìm thời gian
đã mất (tập 1 – Bên phía nhà Swann) của M.Proust gợi nhớ đến những kỉ niệm một
thời đã thành dĩ vãng, hương thơm của táo Antonov cũng gợi cho Bunin nhớ lại vẻ
đẹp một thời vang bóng của nông thôn Nga thuở còn trù phú. Dường như ở Bunin,
dòng tâm trạng, dòng hồi ức cũng trở thành một thủ pháp hết sức quan trọng giúp
nhà văn xây dựng nên thế giới chân thực trong các tác phẩm của mình. Đó là một
trong những yếu tố kĩ thuật đặc biệt quan trọng trong sáng tác của các nhà hiện
đại chủ nghĩa.
Từ không gian văn hóa đến
sự lưu giữ chất Nga
Trong cuộc đời lao động
nghệ thuật, Bunin đã trải qua biến cố lớn nhất cuộc đời mình – Cách mạng tháng
Mười. Nhà văn đã rời xa Tổ quốc Nga thân yêu dù trong lòng luôn thường trực niềm
thương nỗi nhớ. Và những nỗi niềm thương nhớ ấy được Bunin gửi gắm vào trang viết.
Ở Paris, Bunin chỉ viết về nước Nga – nước Nga với những kí ức tươi đẹp và những
mối tình ngắn ngủi nhưng rất đậm sâu.
Nếu làm một phép so sánh
chúng ta sẽ thấy dường như hình ảnh nước Nga trong Những quả táo Antonov (sáng
tác trước khi nhà văn rời Nga) và nước Nga trong những trang viết của nhà văn
sau Cách mạng (khi đã sống ở Paris) không thay đổi. Vẫn là một nước Nga với
không gian êm lặng, trầm buồn, vẫn là khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, dịu
dàng. Có chăng, trong những trang văn viết về nước Nga sau này có thêm dáng
hình của những người phụ nữ Nga – những cô gái trẻ, đẹp, mang sứ mệnh là “người
cứu rỗi”, dù những “người cứu rỗi” ấy chỉ chợt đến chợt đi trên đường đời nhân
vật chính.
Không khó để người đọc
tìm thấy những bức tranh thiên nhiên và sinh hoạt mang đậm dấu ấn Nga trong những
trang viết sau Cách mạng tháng Mười của Bunin. Đó là những đêm hẹn hò “ấm áp và
sáng sủa ở các huyện lị Nga dạo cuối hè” với tiếng mõ cầm canh tươi vui, với
hương táo thơm dưới ánh trăng, với “cặp mắt em lấp lánh lóe sáng trong bóng tối
lờ mờ” (Canh khuya); là đêm bơi thuyền tự tình trên đầm hoa súng của đôi trai
gái mà chàng trai cho đến khi trở thành một ông lão vẫn không thể quên mối tình
thơ trẻ (Rusia); là đêm thu ấm áp của chàng văn sĩ với người phụ nữ chàng ngẫu
nhiên gặp trên tàu thủy (Những tấm danh thiếp)… Trong những câu chuyện ấy, những
mối tình thoáng qua của những chàng trai, cô gái có sức cuốn hút lạ lùng – một
thứ tình yêu vụng trộm, đê mê, thứ tình yêu đem lại sự sống thực sự cho tâm hồn.
Nhân vật “tôi” trong Canh
khuya “sẽ không bao giờ quên ơn” người con gái đã cho mình biết thế nào là hạnh
phúc: “Trời đất ơi, thật là một niềm hạnh phúc không sao tả xiết được! Chính là
vào lúc hỏa hoạn vào ban đêm mà lần đầu tiên tôi đã hôn tay em và em cũng đã siết
chặt tay tôi để đáp lại, tôi sẽ chẳng bao giờ quên ơn em về thái độ thuận tình
thầm lén này”. Chàng văn sĩ trong Những tấm danh thiếp đến với người thiếu phụ
lúc đầu vì muốn giải khuây trên tàu, nhưng chính niềm mong mỏi được yêu thực sự,
được “biết mùi đời” của cô nàng đã khiến chàng thay đổi: “Chàng hôn bàn tay bé
nhỏ và giá lạnh của nàng nó còn ở đâu đó trong trái tim chàng suốt cả đời người…”.
Những dấu ấn tình yêu như thế gần như đã trở thành “đặc sản” trong truyện ngắn
của Bunin. Và thật lạ lùng, những cô gái trong truyện, dù chỉ xuất hiện ngắn ngủi,
nhưng lại làm “thay đổi” cuộc đời của những người đàn ông từng đi qua đời họ.
Trong Say nắng, nhờ có mối tình với người thiếu phụ trên cùng chuyến tàu, anh
chàng trung úy lần đầu được biết về tình yêu. Và khi người thiếu phụ rời xa, phải
chôn vùi mối tình ấy, anh cảm thấy mình “như già đi chục tuổi”. Cô gái Rusia
trong câu chuyện cùng tên ám ảnh người chồng suốt cả cuộc đời đến mức người vợ
phát ghen bởi Rusia chính là người đầu tiên ban phát hạnh phúc cho anh ta. Đó
là thứ hạnh phúc thực sự, vô tư, hồn nhiên, trong trắng.
Trong văn hóa Nga, hình ảnh
búp bê Matrioska là một sự biểu tượng hóa người mẹ, cụ thể là người mẹ Nga.
Trong ngôn ngữ Nga, từ “nước Nga” cũng là một danh từ giống cái, gợi liên hệ tới
tính nữ. Triết học Nga cũng khẳng định đặc tính này. Triết gia Berdiaev đưa ra
luận điểm “Nước Nga là mảnh đất lệ thuộc, âm tính”, tôn giáo Nga là thứ tôn
giáo nữ tính – “đó không hẳn là tôn giáo của Đức Kitô, mà đúng hơn là tôn giáo
của Đức Mẹ, tôn giáo của mẹ-đất, nữ thánh linh soi rọi đời sống xác thịt, thứ
tôn giáo phồn sinh và ấm cúng. Mẹ – đất đối với dân tộc Nga là nước Nga. Nước
Nga trở thành Đức Mẹ. Nước Nga là đất nước mang vác Chúa”(2). Triết gia
Soloviev trình bày ý niệm về Nữ tính Vĩnh hằng, về Thần-Đất “có liên quan sâu
kín với quan niệm tôn giáo cổ truyền của nhân dân Nga về Đất-Thánh Mẫu”(3). Nhà
tư tưởng B.P.Vysheslavtsev đưa ra quan điểm “sự thống nhất chính diện, vẻ đẹp
vũ trụ nữ tính, có hồn”(4) của Eros Nga đã khẳng định điều đó. Vì thế hoàn toàn
có thể khẳng định mối liên hệ khăng khít giữa những nhân vật nữ trong sáng tác
của các nhà văn Nga với nước mẹ Nga, hay cụ thể hơn họ là biểu tượng của nước
Nga.
Trong văn học Nga có những
nhân vật nữ mang trong mình bóng dáng của Đức Mẹ: Tachiana trong Evgheni
Oneghin (Pushkin), Maria Bonconskaya trong Chiến tranh và hòa bình (L.Tolstoy),
Olga trong Dusechka (Chekhov), Matriona trong Sân nhà Matriona (Solzhenitsyn),
Sonia trong Sonechka (L.Ulitskaya)… Họ là những người bao dung, chở che, là người
cứu rỗi tinh thần cho các nhân vật trong tác phẩm bằng tình yêu của mình. Xét ở
một khía cạnh nào đó, những nhân vật nữ trong những truyện ngắn của Bunin cũng
mang phẩm chất ấy. Họ đại diện cho nước Nga, tâm hồn Nga. Hay nói cách khác,
trong con mắt của Bunin, họ là nước Nga. Như vậy, rõ ràng, nhân vật nữ của
Bunin là sự tiếp nối truyền thống nhân vật nữ cứu rỗi – hình ảnh của nước Nga
trong văn chương Nga.
Chúng ta nhớ lại đất nước
Nga khi ấy: chiến tranh, cách mạng, chém giết… Con người đối với con người, nhất
là những người khác chiến tuyến, dường như chỉ có bạo lực. Chính Bunin đã rất
phản ứng với “bạo lực cách mạng”, ông coi những tháng ngày ấy là “những tháng
ngày đáng nguyền rủa”. Làm thế nào để tâm hồn con người được “người hơn”, “đáng
yêu hơn”? Có lẽ, nhà văn đã thông qua những câu chuyện của mình để trả lời câu
hỏi ấy. Với Bunin, chỉ có nước Nga trước Cách mạng, nước Nga của những ngày
chưa đổ máu mới thực sự đẹp. Trong Những quả táo Antonov, khi có những biến cố
xảy ra thì thiên đường đã mất. Bởi thế, những mối tình được nhà văn viết trong
những truyện ngắn sau Cách mạng cũng là những mối tình của quá khứ, của thời trẻ,
của những tháng ngày êm đềm, chưa vướng phải “sóng gió cuộc đời”. Hình ảnh của
những người phụ nữ “cứu rỗi” gắn liền với “thiên đường” Nga là minh chứng cho sự
tiếp nối của không gian văn hóa Nga, là sự lưu giữ chất Nga, tình yêu Tổ quốc
Nga khi phải rời xa mảnh đất thương yêu ấy.
Bunin được coi là người kế
thừa truyền thống văn chương của Lev Tolstoy, hay nói cách khác là người thừa kế
chủ nghĩa hiện thực cổ điển Nga. Giống như Tolstoy, ông đã tái hiện thiên nhiên
Nga giàu có, thanh bình, tái hiện hình ảnh những người nông dân Nga hiền lành,
chất phác, hồn nhiên với đời sống tinh thần phong phú, tái hiện tâm hồn Nga thuần
khiết qua hình ảnh những nhân vật nữ cứu rỗi. Lối viết văn và cách cảm nhận tâm
trạng của Bunin tuân theo quy luật dòng sông tâm lí, biện chứng tâm hồn của
Tolstoy. Cái nhìn của Bunin, cũng giống như người mà ông tôn thờ là cái nhìn hướng
về nông dân Nga, hướng về cội nguồn sự sống, hướng về thiên nhiên, hướng về cái
đẹp cứu rỗi. Những quả táo Antonov, Say nắng, Rusia và những truyện ngắn khác của
Bunin là minh chứng rõ nhất cho tâm niệm ấy của nhà văn. Đọc truyện ngắn của
Bunin, dù theo hướng nào thì cũng sẽ đến cái đích ấy. Và có lẽ, cái nhìn văn
hóa chính là một trong những con đường đến đích gần nhất.
Chú thích:
1. Chevalier J., Gheerbrant
A. 2002. Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới. Đà Nẵng, Trường Viết văn Nguyễn
Du, tr.849 (Phạm Vĩnh Cư chủ biên dịch).
2. Berdiaev A.N. Tâm hồn
Nga. Tạp chí Văn học nước ngoài, số 6/2003 (Từ Thị Loan dịch).
3. Soloviev V. 2005. Siêu lý tình yêu. Hà Nội: VHTT – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, tr.38 (Phạm Vĩnh
Cư dịch).
4. Vysheslavtsev B.P. 2006.
“Đi tìm tính cách dân tộc Nga” (Thiệu Hường dịch). Phân tâm học và tính cách
dân tộc. Hà Nội: Tri thức, tr.495 (Đỗ Lai Thúy biên soạn và giới thiệu).
30/4/2020
Đỗ Thị Hường
Theo
https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét