Thiền tập là gì
Vài nét về tác giả:
Sinh năm 1917, tại New
Jersey. Học âm nhạc tại Nhạc viện Oberlin. Trình diễn và dạy piano một thời
gian. Lập gia đình, có 4 đứa con; ly thân, làm thư ký, rồi trợ giảng tại một
phân khoa đại học.
Bắt đầu thực tập Zen vào
tuổi 40. Học đạo với Thiền sư Hakuyu Taizan Maezumi tại Los Angeles, và sau đó,
với Thiền sư Hakuun Yasutani.
Năm 1983, thành lập Trung
tâm Zen tại San Diego.
Ni sư luôn dạy học trò của
mình nên đối mặt với những khó khăn trong đời sống thường nhật, thay vì trốn
tránh chúng. Nhiều đệ tử của Ni sư là nhà tâm lý học, nhà tâm lý trị liệu.
Tác phẩm chính: Everyday
Zen [ 1989] và Nothing Special [ 1993].
Ni sư qua đời năm 2011,
thọ 94 tuổi.
[ Theo từ điển Wiki
pedia, bản tiếng Anh]
Thiền tập
thì rất giản dị. Tuy vậy, không có nghĩa là nó sẽ không làm xoay chuyển đời ta.
Tôi muốn xem xét lại cái mà chúng ta làm khi chúng ta ngồi, hoặc là thiền tọa.
Và nếu bạn nghĩ rằng, đó là chuyện quá tầm thường, thì bạn cứ việc nghĩ như vậy.
Không sao cả.
Thiền tọa chủ yếu là [tạo
ra] một không gian được giản dị hóa. Đời sống thường nhật của
chúng ta di động thường trực: nhiều sự việc đang diễn ra, nhiều con người đang
nói chuyện, nhiều biến cố đang xảy đến. Giữa cái đó, thật khó mà cảm nhận ta là
cái gì trong đời mình. Khi ta giản dị hóa tình huống, khi ta cất bỏ những cái
bên ngoài và rời khỏi cái điện thoại đang reo, khỏi cái TV, những người khách
thăm viếng ta, con chó mà cần đưa đi dạo, thì ta có một cơ hội –
là cái điều tuyệt đối có giá trị nhất có được – để đối mặt với chính
mình. Thiền [meditation] không nhắm đến một trạng thái nào đó, mà nhắm vào
chính thiền giả. Nó không nhắm đến một hoạt động nào đó, hoặc đến việc điều
chỉnh một cái gì đó, hoặc thành tựu một cái gì đó. Nó nhắm vào chính chúng ta.
Nếu chúng ta không giản dị hóa cái tình huống, thì cái cơ may được nhìn vào
chính mình là rất nhỏ bé – bởi vì cái mà chúng ta có khuynh hướng nhìn vào, thì
không phải là chính mình, mà là mọi thứ khác. Nếu một cái gì đó không ổn xảy đến,
thì chúng ta nhìn vào cái gì? Chúng ta nhìn vào cái đang bất ổn, và thường là
nhìn vào những kẻ khác, những người mà chúng ta nghĩ là đã tạo ra cái bất ổn
đó. Chúng ta đang nhìn ra ngoài đó trong mọi lúc, chứ không phải
nhìn vào chính mình.
Khi tôi nói Thiền là nhắm
vào chính hành giả, tôi không có ý nói rằng, chúng ta dấn mình vào sự tự phân
tích bản thân. Cái đó cũng không phải là thiền. Vậy thì chúng ta làm cái gì?
Một khi chúng ta đã ngồi
vào tư thế tốt nhất (nên ở tư thế thăng bằng, thoải mái), chúng ta chỉ đơn giản
ngồi ở đó, tọa thiền. Với cụm từ, “chỉ ngồi ở đó,” tôi muốn nói điều gì? Nó là
cái hoạt động có tính yêu sách nhất trong mọi hoạt động. Thường khi, trong khi
tọa thiền, chúng ta không nhắm mắt. Nhưng ngay lúc này, tôi muốn bạn nhắm mắt lại
và chỉ ngồi ở đó. Cái gì đang diễn ra? Mọi loại sự việc. Một
cái giật nhẹ nơi vai trái bạn; một áp lực nơi hông bạn… Hãy ghi nhận cái mặt của
bạn trong một khoảnh khắc. Nó có bị căng thẳng ở chỗ nào không? Xung quanh miệng,
xung quanh trán? Bây giờ, hãy di chuyển xuống một chút. Hãy ghi nhận cổ của bạn,
chỉ ghi nhận cảm giác về nó. Rồi hai vai bạn, lưng bạn, ngực, vùng bụng dưới,
cánh tay, đùi. Hãy duy trì cảm giác về bất cứ cái gì mà bạn phát hiện. Và hãy cảm
nhận hơi thở của bạn khi nó đến và đi. Đừng cố kiểm soát nó, chỉ đơn giản cảm
nhận nó. Bản năng đầu tiên của chúng ta là, cố kiểm soát hơi thở. Cứ để hơi thở
tự nhiên. Nó có thể cao trong ngưc bạn, nó có thể ở khoảng giữa, nó có thể thấp.
Có thể nó căng thẳng. Hãy hiện nghiệm nó trong trạng thái hiện hành của nó. Bây
giờ, hãy chỉ đơn giản cảm nhận mọi cái đó. Nếu một cái xe đi qua ở phía ngoài,
hãy nghe nó. Nếu một phi cơ bay trên đầu, hãy nhận biết nó. Hãy chỉ là cái đó.
Đó là tất cả những gì mà bạn cần phải làm, tuyệt đối tất cả những gì bạn phải
làm: hiện nghiệm cái đó, vả chỉ lưu lại với nó. Bây giờ bạn có thể mở mắt ra.
Nếu bạn chỉ có thể làm
cái đó trong 3 phút, cũng đã là tuyệt diệu. Thường khi, sau khoảng 1
phút, chúng ta bắt đầu suy nghĩ. Chúng ta không ưa việc chỉ đơn thuần có mặt
với thực tại (là cái mà chúng ta vừa mới làm). “ Ni sư muốn nói rằng, tọa thiền
chỉ có vậy thôi ư?” Mối quan tâm của chúng ta đối với cái thực tại, là hết sức
nhỏ bé. Không, ta muốn suy nghĩ. Ta muốn lo lắng xuyên suốt tất cả những mối bận
tâm của mình. Ta muốn dùng tư duy để giải quyết. Và do vậy, vô tình ta đã quên
mọi thứ về cái khoảnh khắc này, và ta trôi dạt vào trong sự suy nghĩ về một cái
gì đó: bạn trai, bạn gái của ta, con cái, ông chủ, nỗi sợ hãi của ta… Ta trôi dạt
lang thang! Không có gì tội lỗi về cái quá trình tưởng tượng đó, chỉ có điều,
khi ta chìm đắm trong đó, ta đã đánh mất đi một cái gì khác. Khi ta đắm chìm
trong tư tưởng, khi ta đang mơ mộng, ta đã đánh mất cái gì? Ta đã đánh
mất thực tại. Đời ta đã vuột khỏi ta.
Đây là cái mà con người vẫn
làm. Và ta không chỉ làm cái đó một đôi khi, mà phần lớn thời gian. Tại sao ta
làm cái đó? Dĩ nhiên, bạn biết câu trả lời. Ta làm cái đó, bởi vì ta đang cố
che chở chính mình. Ta đang cố loại bỏ cái khó khăn hiện hành ra khỏi ta, hoặc,
ít nhất là hiểu nó. Không có gì sai trái với những ý tưởng quy ngã, chỉ có điều
là, khi ta tự đồng nhất với chúng, thì cái nhãn quan của ta về thực tại bị tắc
nghẽn. Vậy thì, ta nên làm cái gì khi những ý tưởng khởi lên? Ta nên định
danh những ý tưởng. Hãy cụ thể trong việc định danh của bạn: không chỉ là
“suy nghĩ, suy nghĩ” hoặc “lo lắng, lo lắng,” mà phải cụ thể hơn.
Thí dụ: “Có một ý nghĩ rằng
cô ta độc đoán. “Có một ý nghĩ rằng, anh ta không công bằng với tôi.” “Có một ý
tưởng rằng, tôi không bao giờ làm một cái gì đúng.” Hãy cụ thể. Và nếu những ý
tưởng đang tuôn ra quá nhanh, đến nỗi bạn không thể nhận ra cái gì ngoài sự hỗn
độn, thì chỉ định danh cho cái mớ tùng phèo mờ mịt đó là “hỗn độn.” Nhưng nếu bạn
kiên trì trong việc cố phát hiện ra một ý tưởng riêng biệt, chẳng sớm thì muộn,
bạn sẽ tìm thấy.
Khi ta thiền tập như thế
này, ta trở nên quen với chính mình, đời ta vận hành ra sao, ta đang làm gì với
nó. Nếu ta phát hiện rằng, những ý tưởng nhất định nào đó khởi lên hàng trăm
lần, ta biết một cái gì đó về chính mình, những cái mà trước kia ta không biết.
Có lẽ, ta liên tục nghĩ về quá khứ, hoặc về tương lai. Một số người luôn nghĩ về
những biến cố, một số người luôn nghĩ về những người khác. Một số người luôn
nghĩ về chính mình. Những ý tưởng của một số người thì hầu như hoàn toàn là những
phán đoán về những người khác. Cho đến khi ta định danh 4 - 5 năm, ta
không biết rõ chính mình. Khi ta định danh những ý tưởng một cách chính xác
và cẩn thận, cái gì xảy đến với chúng? Chúng bắt đầu lắng xuống. Ta
không cần phải cưỡng bách chính mình phải loại bỏ chúng. Khi chúng lắng xuống,
ta trở lại với cái kinh nghiệm về cơ thể và hơi thở, lặp đi lặp lại mãi như vậy.
Tôi thấy cần phải nhấn mạnh rằng, ta không chỉ làm việc này 3 lần, mà chúng ta
làm việc này 10 ngàn lần; và khi chúng ta làm việc này, đời ta chuyển hóa. Đó
là một mô tả lý thuyết về thiền tọa. Nó đơn giản; không có gì phức tạp cả.
Bây giờ ta hãy đơn cử một
tình huống thường nhật. Giả thử, bạn làm việc trong một hãng máy bay và người
ta bảo với bạn rằng, cái hợp đồng thì sắp hết hạn, và rất có thể là không được
ký tiếp. Bạn tự nhủ: “Tôi sắp mất việc. Tôi sắp mất cái nguồn thu nhập của tôi,
tôi phải chu cấp một gia đình. Điều này thật kinh khủng!” Vậy thì, cái gì xảy
ra? Đầu óc bạn bắt đầu trăn trở qua lại với cái vấn đề đó. “Cái gì sắp xảy ra?
Tôi sẽ làm gì?” Trí óc bạn mỗi lúc một xoay vòng nhanh hơn với nỗi lo lắng.
Không có gì sai trái với
cái việc hoạch định cho cái tương lai trước mặt; chúng ta phải đặt kế hoạch.
Nhưng khi ta trở nên bị đảo lộn, thì ta không chỉ đặt kế hoạch; ta bị ám ảnh.
Ta bẻ cong vấn đề trong một ngàn cách thức. Nếu ta không biết cách thiền tập với
những ý tưởng lo lắng của mình, thì cái gì sẽ xảy ra kế tiếp? Những ý tưởng sản
sinh ra một cảm xúc và ta trở nên càng loạn động hơn. Mọi loạn động cảm xúc đều
được gây ra bởi trí óc. Và nếu ta để cái này xảy ra qua một giai đoạn thời
gian, thì ta thường trở nên bệnh hoạn về thể xác hay bị dồn nén về tâm thần. Nếu
một trí óc không muốn chăm sóc cái tình huống đó với sự tỉnh thức, thì cơ thể sẽ
làm cái đó. Nó sẽ giúp ta ra khỏi cái tình huống đó. Như thể là cơ thể nói: “Nếu
bạn không muốn chăm sóc nó, tớ đoán rằng tớ phải làm cái gì đó.” Do vậy, ta tạo
ra cơn cảm lạnh, chứng phát ban, bệnh ung loét, bất cứ cái gì vốn là cái “kiểu”
của ta. Một trí óc mà không tỉnh thức, sẽ sản sinh ra bệnh tật. Tuy vậy, đó
không phải là một sự chỉ trích. Tôi không biết, có ai mà không hề bị bệnh, kể cả
chính tôi. Ta muốn lo lắng, và khi cái mong muốn đó trở nên mãnh liệt, ta tạo
ra những khó khăn. Với thiền tập đều đặn, ta bớt tạo ra những khó khăn. Bất
cứ cái gì mà ta không nhận biết về chính mình, nó sẽ tạo ra những hậu quả trong
đời ta, cách này hay cách khác.
Từ quan điểm con người,
những cái bất ổn trong đời ta thuộc về hai loại. Một loại là những biến cố bên
ngoài ta, và loại thứ hai, là những cái bên trong ta, chẳng hạn, bệnh tật thể
xác. Cả hai đều là cơ hội để ta thực tập, và ta xử lý chúng bằng cùng một
phương cách. Ta định danh tất cả những ý tưởng mà xảy ra xung quanh chúng, và
ta hiện nghiệm chúng nơi cơ thể ta. Cái quá trình đó là tự thân của thiền tập.
Nói thì dễ, nhưng làm nó
thì khó vô kể. Tôi không biết có ai mà có thể làm cái đó trong mọi lúc. Tôi biết
một vài người có thể làm nó trong nhiều thời gian. Nhưng khi ta thiền tập trong
cách này, trở nên nhận biết về mọi thứ đi vào đời ta (dù bên trong hay bên
ngoài), thì đời ta bắt đầu chuyển hóa. Và ta đạt tới sức mạnh và tuệ giác, và
thậm chí, đôi khi sống trong trạng thái chứng ngộ, mà chỉ đơn giản có nghĩa là,
hiện nghiệm cuộc sống như nó đang là. Nó không phải là một bí ẩn.
Nếu bạn chưa quen với thiền
tập, thì điều quan trọng là nhận thức rằng, chỉ đơn giản ngồi trên cái gối đó
15 phút, đã là một thắng lợi. Chỉ ngồi với sự trầm tĩnh đó, chỉ có mặt ở đó
thôi, là điều tốt rồi.
Nếu chúng ta sợ bị ở
trong nước và không biết bơi, thì cái thăng lợi đầu tiên sẽ là, chỉ đơn giản tự
đặt mình xuống nước. Cái bước kế tiếp, có thể là làm cho cái mặt của ta bị ướt.
Nếu ta là một tay bơi thiện nghệ, thì sự thách đố có thể là, liệu ta có thể cho
bàn tay vào trong nước ở một cái góc nhất định trong khi ta thực hiện cái động
tác của mình. Có phải cái đó có nghĩa là, một tay bơi thì giỏi hơn và người kia
thì dở hơn? Không. Cả hai đều hoàn hảo đối với cái nơi chốn mà họ đang có mặt. Ở
mỗi giai đoạn, Thiền tập là: chỉ đơn giản là cái con người mà
ta là, vào khoảnh khắc đó. Nó không phải là vấn đề tốt hay xấu, khá hơn hay dở
hơn. Đôi khi, sau những pháp thoại của tôi, người ta sẽ nói, “Tôi không hiểu điều
đó.” Và cái đó cũng là hoàn hảo. Sự hiểu biết của ta phát triển qua tháng năm,
nhưng tại bất cứ điểm nào, ta đều hoàn hảo – trong trạng thái mà ta đang là
[nghĩa là, không phải cải thiện xong thì mới hoàn hảo. ND].
Ta bắt đầu học được rằng,
chỉ có duy nhất một cái trong cuộc đời, mà ta có thể trông cậy vào. Đâu là cái
duy nhất trong cuộc đời, mà ta có thể trông cậy vào? Ta có thể nói: “Tôi trông
cậy vào người bạn đời của tôi.” Có thể, ta yêu chồng hay vợ mình, nhưng ta chưa
từng hoàn toàn có thể trông cậy vào họ, bởi vì một người khác (giống như chúng
ta) thì luôn luôn là không thể trông cậy được, ở một mức độ nào đó. Không có
người nào trên trái đất, mà chúng ta có thể hoàn toàn trông cậy vào, mặc dù chắc
chắn là, ta có thể yêu thương kẻ khác và ưa thích họ. Vậy thì, ta có thể trông
cậy vào cái gì? Nếu đó không phải là một con người, thì nó là cái gì? Ta có thể
trông cậy vào cái gì trong cuộc đời? Có lần tôi hỏi một ai đó và cô ta nói,
“chính tôi.” Bạn có thể trông cậy vào chính bạn không? Tự trông cậy vào chính
mình là tốt, nhưng mà nó bị hạn chế một cách tất yếu.
Có một cái duy nhất trong
cuộc đời, mà bạn có thể luôn luôn trông cậy: cuộc sống như nó đang là.
Ta hãy nói cụ thể hơn. Giả thử, có một cái gì đó mà tôi rất muốn có: có lẽ, tôi
muốn cưới một ai đó, hay có một cái bằng cấp cao, hay muốn con cái tôi mạnh khỏe
và hạnh phúc. Nhưng cuộc sống như nó đang là, có thể hoàn toàn đối nghịch lại với
cái mà tôi muốn. Ta không biết, liệu ta có lấy được người đó hay không. Nếu ta
cưới được họ, thì họ có thể qua đời ngày mai. Ta có thể lấy được cái bằng cấp
đó, có thể không. Rất có thể ta sẽ lấy được, nhưng cũng không có gì chắc chắn.
Ta không thể trông cậy vào một cái gì cả. Cuộc sống thì luôn sẽ là cái cách mà
nó là. Do vậy, tại sao ta không trông cậy vào cái sự kiện đó? Tại sao ta luôn bất
an? Giả thử, cái không gian sống của bạn bị phá hủy bởi một trận động đất, và bạn
sắp mất một cánh tay và tất cả khoản tiền tiết kiệm một đời của bạn. Sau đó, bạn
có thể trông cậy vào cuộc sống như nó đang là không? Bạn có thể làm như vậy
không?
Tin cậy vào những sự việc
hiện như chúng đang là, đó là cái bí quyết [secret] của cuộc sống.
Nhưng ta không muốn nghe cái điều đó. Tôi có thể tuyệt đối tin cậy rằng, trong
năm tới đời tôi sẽ bị thay đổi khác đi, thế nhưng luôn luôn vẫn là cái cách mà
nó đang là. Nếu ngày mai tôi bị một cơn bệnh tim, tôi có thể trông cậy vào cái
đó, bởi vì nếu tôi bị, tôi chấp nhận nó. Tôi có thể an trú trong cuộc sống như
nó đang là.
Khi ta làm một đầu tư cá
nhân vào những ý nghĩ của mình, ta tạo ra cái “tôi” (như Krishnamurti thường
nói), và rồi thì đời ta bắt đầu không vận hành tốt. Đó là lý do tại sao ta định
danh những ý tưởng của ta, để lấy cái đầu tư của mình ra. Khi ta đã thiền tọa đủ
lâu, ta có thể thấy rằng, những ý tưởng của mình chỉ là cái “dữ liệu” giác quan
thuần túy. Và ta có thể thấy chính mình di chuyển xuyên qua những giai đoạn trước
giai đoạn hiện nay: ban đầu, ta cảm thấy rằng, những ý tưởng của mình là thực,
và phát xuất từ đó, ta tạo ra những cảm xúc quy ngã, và cũng từ đó, ta tạo ra
cái rào chắn, ngăn cản ta nhìn cuộc sống như nó đang là; bởi vì ta bị vướng kẹt
trong những cảm xúc quy ngã, ta không thể thấy những con người hay những tình
huống một cách rõ ràng minh bạch. Một ý tưởng, trong tự thân nó, chỉ là một dữ
liệu giác quan, một mảnh năng lượng. Nhưng ta sợ thấy những ý tưởng trong thực
tướng của chúng.
Khi ta định danh một ý tưởng,
ta bước lùi xa khỏi nó, ta loại bỏ sự đồng hóa của mình. Có một khác biệt to lớn
giữa việc nói, “Tôi không thể kết thân với cô ấy được!” Và “Có một ý tưởng rằng,
không thể kết thân với cô ấy được!” [1] Nếu ta kiên trì định danh bất cứ ý tưởng
nào, thì cái lớp vỏ phủ lên cảm xúc bắt đầu rụng dần, và ta được bỏ lại
với cái mảnh năng lượng vô ngã, là cái mà ta không cần đeo níu vào. Nhưng nếu
ta nghĩ rằng, những ý tưởng của mình là thật, ta hành động dựa vào chúng. Và nếu
ta hành động từ nhưng ý tưởng như vậy, đời ta bị rối tung. Một lần nữa, thiền tập
là làm việc với cái này, cho đến khi ta biết nó từ trong xương tủy mình. Thiền
tập không nhắm vào việc đạt tới một nhận thức trong đầu óc ta. Nó phải là máu
thịt, xương tủy ta, là chính ta. Dĩ nhiên, để thích nghi với cuộc sống thực tiễn,
tư duy là cần thiết – chẳng hạn, làm sao để lợp mái nhà, làm sao để lên kế hoạch
kỳ nghỉ hè của ta, v.v. Nhưng ta không cần cái hoạt động quy ngã có tính cảm
xúc mà ta gọi là tư duy. Nó không thực sự là tư duy, nó là một lệch lạc
của tư duy.
Zen nhắm vào một cuộc sống
năng động, dấn thân. Khi ta biết trí óc ta rõ ràng và (biết) những cảm xúc, mà
cái tư duy của ta tạo ra, ta có khuynh hướng thấy rõ hơn cái mục đích của đời
ta và cái gì cần phải làm, thường chính là cái nhiệm vụ kế tiếp “ngay dưới mũi”
ta. Thiền là nhắm vào một cuộc sống hành động, không phải là một cuộc sống thụ
động không làm cái gì cả. Nhưng những hành động của ta phải được đặt nền móng
trên thực tại. Khi những hành động của ta đặt nền móng trên những hệ thống tư
tưởng hư dối của ta (hệ thống tư tưởng này đặt nền trên sự quy định của ta),
thì nó không có một nền móng vững chắc. Khi ta đã thấy xuyên suốt những hệ thống
tư tưởng đó, ta thấy cái gì cần phải làm.
Cái mà ta đang làm, không
phải là tái “chương trình hóa” chính mình, mà là giải phóng mình ra khỏi mọi
chương trình, bằng cách thấy rằng, chúng nó trống rỗng, chả có chút thực tại
nào cả. Việc tái chương trình hóa, chỉ là nhảy từ “núi này”
sang “núi nọ.” Ta có thể có cái mà ta nghĩ như là một chương trình tốt hơn;
nhưng cái then chốt của thiền tọa, thì không bị điều khiển bởi bất cứ chương
trình nào. Giả thử, ta có một chương trình gọi là “Tôi thiếu tự tin.” Giả thử,
tôi quyết định tái lập chương trình sang cái “Tôi có tự tin.” [2] Không
có cái nào trong cả hai sẽ đứng vững dưới những áp lực của cuộc đời, bởi vì
chúng dính líu tới một “cái tôi” và “cái tôi” này là một sự hư cấu rất mỏng
manh, không thực – và dễ bị làm cho mê muội. Thật ra, chẳng bao giờ có
một “cái tôi. Điều hệ trọng là thấy rằng, nó trống rỗng, là một ảo tưởng, việc
này thì khác với việc giải tan nó. Khi tôi nói rằng, nó trống rỗng, tôi muốn
nói rằng, nó không có thực tại căn bản nào cả; nó chỉ là một “sáng tạo” của những
ý tưởng quy ngã.
Thực thành thiền tọa, thì không bao giờ đơn giản như là cái việc nói về nó.
Ngay cả những thiền sinh, mà đã có một hiểu biết khá về cái mà họ đang làm, nhiều
khi cũng có khuynh hướng bỏ rơi cái thiền tập cơ bản. Dù vậy, khi ta ngồi tốt,
mọi thứ khác sẽ tự lo liệu cho chính nó. Vì thế, bất kể bạn đã ngồi 5, 20 năm
hay vừa mới bắt đầu, thì điều quan trọng là, phải ngồi một cách hết sức nghiêm
mật, với sự chú tâm tỉ mỉ...
Chú thích:
[1] Đây là một phân biệt
rất quan trọng: Câu đầu là một “ phán đoán” [ judgement] , câu sau là một “ sự
kiện” [ fact]. Một phán đoán thường bị lèo lái bởi bản ngã; một sự kiện thì có
tính khách quan, không bị bản ngã chi phối. [ND].
[2] Việc “tái chương
trình” không phải là xấu, và một số nhà tâm lý học cũng khuyên nên làm như vậy.
Tuy nhiên, theo Ni sư Joko, thì việc “tái chương trình” là không triệt để, bởi
vì khi làm như vậy, ta vẫn còn bị kẹt vào “cái tôi”. Đây là điều đáng suy ngẫm.
[ND].
Ni sư Charlotte Joko Beck
Đỗ Tư Nghĩa dịch
Nguồn: Trích dịch từ Everyday Zen. NXB Harper, San Francisco, 1989
Theo https://www.art2all.net/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét