- Ðem lại những thể loại mới
vào văn học Việt Nam như thơ ngụ ngôn, tiểu thuyết văn xuôi.
- Cách tân hình thức, thay đổi
diễn xuất, phong cách, tạo ra nguồn cảm hứng mới, thoả mãn những thị hiếu mới,
đề xuất những tư tưởng mới.
1. Dịch thơ Pháp
Sự thâm nhập sớm nhất của
văn học Pháp qua đường dịch thuật được thực hiện từ năm 1884 qua cuốn sách của
Trương Minh Ký, Chuyện Phang-sa diễn ra quốc ngữ (16 chuyện ngụ ngôn
của La Fontaine), Sài-gòn, 1884 (xem Trần Văn Giáp và đtg, 1972, 82).
Còn có một cuốn khác cùng đề Chuyện
Phang-sa diễn ra quốc ngữ gồm 150 chuyện ngụ ngôn của La Fontaine dịch ra
dưới thể văn xuôi và thơ lục bát (18 bài) . Sách này được xuất bản năm 1886 và
được tài trợ của Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ thuộc Pháp (Conseil Colonial de la
Cochinchine Française). Xem qua cơ quan tài trợ này đủ biết việc áp dụng chữ quốc
ngữ có đi đôi với chủ trương phổ biến văn học Pháp ở những vùng Pháp mới chiếm
đóng.
Nhưng cũng phải nhìn nhận rằng
bộ ba Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh Của, Trương Minh Ký, những nhà nho miền Nam
tiên phong trong việc dùng chữ quốc ngữ và có hấp thụ được văn hoá Âu Tây không
phải là những tác nhân tích cực cho việc truyền bá văn chương Pháp. Vai trò này
về sau dành cho Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh và nhất là nhóm Nam Phong từ nhị
thập niên thế kỷ 20 trở đi. Trái lại một người như Huình Tịnh Paulus Của quả xứng
đáng là một nhà Việt Nam học có công trong sự nghiệp giữ
gìn, làm giàu, tăng niềm tin tưởng vào tiếng Việt và chữ quốc ngữ qua cuốn Ðại
Nam Quấc Âm tự vị, Saigon, Imprimerie Rey, Curiol & Cie, 1895, 596 trang.
Thật ra ý ban đầu của tác giả là muốn làm một cuốn từ điển song ngữ Việt-Pháp
nhưng vì gặp nhiều trở ngại đành bỏ phần tiếng Pháp nên Huình Tịnh Của trở nên
tác giả của cuốn từ điển Việt-Việt đầu tiên. Tác giả đã có lời phân bày (Ðại
Nam Quấc Âm tự vị, tr. IV): " Làm tự vị này, sơ tâm ta muốn cho có
tiếng Langsa. Hồi mới khởi công, có nhiều quan Tây giùm giúp, sau các ông ấy có
việc phải thuyên đi Bắc-kỳ, bỏ có một mình ta, lúng túng, phải bỏ phần dịch tiếng
Langsa. Nhưng vậy nhơn khi rỗi rảnh, ta cứ làm theo tiếng ta, chữ ta, viết đi
chép lại, ngày đêm khó nhọc, hơn bốn năm trời mới thành công việc... "
Trong một bài nghiên cứu
đăng trong Cahiers d'Etudes Vietnamiennes (Tập San Việt Học), 10,
1989-90, Phạm Ðán Bình đã lập một bản kê rất công phu theo niên đại xuất hiện
những bản dịch ra Việt ngữ các bài thơ Pháp. Bản kê bắt đầu với bài dịch thơ ngụ
ngôn của La Fontaine của Trương Minh Ký năm 1884 như đã lược bày ở trên và kết
thúc với bài dịch của Tường Vân đăng trong Tao Ðàn số 13, 16.10.1939,
có đề là Từ giã tổ quốc (Tiếng hát của kẻ vượt bể khơi đi) mà nguyên
bản tiếng Pháp là của Victor Hugo, Le chant de ceux qui s'en vont sur mer
(Les Châtiments).
Cũng trong bài này, Phạm Ðán
Bình đã đưa ra một số nhận xét đáng lưu ý khi nói về ảnh hưởng của văn học Pháp
đối với văn học Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ 20.
Nếu không kể nhà thơ ngụ
ngôn La Fontaine, các thi sĩ Pháp khác có thơ dịch ra tiếng Việt thì Victor
Hugo dẫn đầu với 27 bài; Lamartine 16 bài; Musset 11; Verlaine 10; Ronsard
và Sully Prudhomme, mỗi người 6 bài.
Năm thi sĩ Pháp, Lamartine,
Hugo, Musset, Ronsard và Verlaine hầu hết thuộc truờng phái lãng mạng, đã chiếm
gần phân nửa tổng số các bài thơ dịch (tức là 139/300); số còn lại dành cho
khoảng 60 tác giả khác.
Các người dịch dường như
nghiêng về các đề tài buồn như sự trôi đi của thời gian, tính mỏng manh của đời
người, cái lạnh lùng của số mệnh.
Nếu tính theo ngày xuất hiện
bản dịch thì La Fontaine được dịch sớm nhất, lần đầu tiên năm 1884 do Trương
Minh Ký; Beaudelaire năm 1917 do Phạm Quỳnh dịch ra văn xuôi ba bài thơ trong
tập Fleurs du Mal là Spleen (U uất), La Rançon (Chuộc
mình) và Recueillement (Bình tĩnh), đăng trong Nam Phong số 5,
1917. Chateaubriand, một nhà thơ lãng mạng nổi tiếng được dịch năm 1921 qua
bài Nuit chez les sauvages de l'Amérique (Ðêm vắng ở khoảng giã bên Tân Thế
Giới) do một học sinh năm thứ 3 Quốc Tử Giám, đăng ở Nam Phong số 47. Cùng
năm 1921, Lamartine đuợc dịch ra 5 lần, bốn lần với bài Le lac (Cái hồ), một
lần với bài L'Automne (Mùa thu), tất cả đều xuất hiện trên Nam
Phong số 48, 49 và 51. Ronsard, một tác giả ở thế kỷ 16, phải chờ đến 1923
với bài Sonnet (sur la mort de Marie) (Một người con gái từ trần); Sully
Prudhomme năm 1923 với bài Le vase brisé (Cái bình vỡ); Musset năm
1924 với bài L'étoile du soir (Hỏi sao hôm), bài Lorsque le
laboureur... (Nhà sét đánh cháy) đều đăng trong Nam Phong số 88 và
sau cùng là Victor Hugo, năm 1925, với bài Hymne [Mort pour la patrie] (Vị
quốc vong thân), Nam Phong số 91, và bài Oceano Nox (Những kẻ đắm
tàu),Nam Phong số 93.
2. Dịch truyện và tiểu thuyết
Pháp
Về truyện và tiểu thuyết
Pháp dịch ra tiếng Việt thì dịch giả đầu tiên cũng là Trương Minh Ký với cuốn Tê-lê-mạc
phiêu lưu ký, Sài-gòn, 1887; nguyên bản Pháp văn là của Fenelon, Les
aventures de Télémaque (1699). Sách này được Trương Minh Ký diễn ra bằng
tiếng Việt theo thể thơ lục bát và khởi đăng ở Gia Ðịnh báo, kể từ
20.6.1885.
Thứ đến phải kể đến Trần
Chánh Chiếu (1867-1919) còn gọi là Gilbert Chiếu, người gốc quận Châu Thành, Rạch
Giá. Ông theo học ở Collège d"Adran Sài Gòn, sau được bổ dụng làm giáo học
rồi làm thông ngôn cho Tham biện Chủ tỉnh Rạch Giá. Theo Bùi Ðức Tịnh (1972:
46-47) thì trong hai năm 1906, 1907, Trần Chánh Chiếu làm chủ bút tờ Nông
Cổ Mín Ðàm (số 1, 1901, Saigon) và nổi tiếng trong cuộc vận động Duy Tân nên
được mệnh danh là ông Phủ Minh Tân. Ðồng thời Gilbert Chiếu cũng kiêm luôn chủ
bút tờ Lục Tỉnh Tân Văn (số 1, 1907, Saigon) dưới tên Trần Nhựt
Thăng, hiệu là Ðông Sơ.
Trần Chánh Chiếu có cho in cuốn Tiền căn báo hậu, bản dịch cuốn tiểu thuyết của Alexandre Dumas, Le Comte de Monte-Cristo (1846) do nhà Imprimerie de l'Union, Saigon, ấn hành năm 1914. Sau bản dịch Tê-lê-mạc phiêu lưu ký, Sài-gòn, 1887, của Trương Minh Ký, đây là bản dịch tiểu thuyết Pháp thứ hai, cách nhau 27 năm.
Trần Chánh Chiếu có cho in cuốn Tiền căn báo hậu, bản dịch cuốn tiểu thuyết của Alexandre Dumas, Le Comte de Monte-Cristo (1846) do nhà Imprimerie de l'Union, Saigon, ấn hành năm 1914. Sau bản dịch Tê-lê-mạc phiêu lưu ký, Sài-gòn, 1887, của Trương Minh Ký, đây là bản dịch tiểu thuyết Pháp thứ hai, cách nhau 27 năm.
Về việc dịch tiểu thuyết
Pháp, một người thứ ba đáng nói đến là Nguyễn Văn Vĩnh. Nguyễn Văn Vĩnh sinh
năm 1896, mới 14 tuổi đã tốt nghiệp trường Thông ngôn. Có thể nói Nguyễn Văn
Vĩnh là người đã dịch tiểu thuyết Pháp ra tiếng Việt nhiều nhất. Một số tác phẩm
Pháp do Nguyễn Văn Vĩnh dịch được liệt kê như sau (Trần Văn Giáp và đtg, 1972,
II, 103) :
- 1927 A. Dumas, Les
trois mousquetaires (1844) (Truyện ba chàng ngự lâm pháo thủ)
- 1927 Fenelon, Les aventures de Télémaque (1699) (Tê-lê-mặc phiêu lưu ký)
- 1932 Abbé Prévost, Histoire du chevalier des Grieux et de Manon Lescault (1731) (Mai-nương Lệ-cốt)
- 1928 V. Hugo, Les misérables (1862) (Những kẻ khốn nạn)
- 1928 Ch. Perrault, Les contes (1697) (Truyện trẻ con)
- 1928 H. De Balzac, La peau de chagrin (1831) (Truyện miếng da lừa)
- 1927 Fenelon, Les aventures de Télémaque (1699) (Tê-lê-mặc phiêu lưu ký)
- 1932 Abbé Prévost, Histoire du chevalier des Grieux et de Manon Lescault (1731) (Mai-nương Lệ-cốt)
- 1928 V. Hugo, Les misérables (1862) (Những kẻ khốn nạn)
- 1928 Ch. Perrault, Les contes (1697) (Truyện trẻ con)
- 1928 H. De Balzac, La peau de chagrin (1831) (Truyện miếng da lừa)
Ngoài ra nội trong năm 1928,
Nguyễn Văn Vĩnh còn dịch ra bốn bản kịch nổi tiếng của soạn giả Pháp Molière ở
thế kỷ 17. Ðó là Người bệnh tưởng (Le malade imaginaire), Người biển lận
(L'avare), Giả đạo đức (Le misanthrope) và Trưởng giả học làm sang
(Le bourgeois gentilhomme).
3. Ảnh hưởng thơ Pháp vào
thơ mới Việt Nam
Qua phần trình bày trên, ta
nhận thấy rằng ở mặt chữ viết, chữ quốc ngữ được chính thức dùng để viết tiếng
Việt là vào giữa thế kỷ 19 do nhà cầm quyền Pháp quyết định và chỉ áp dụng cho
phần đất Pháp mới chiếm ở Sài Gòn-Lục Tỉnh. Dần dần với cuộc chinh phục quân sự
Việt Nam của Pháp càng ngày càng mở rộng ra phía bắc và miền trung Việt Nam thì
việc dùng chữ quốc ngữ cũng được lan ra theo với lực lượng chiếm đóng của Pháp.
Có thể nói việc áp dụng chữ
quốc ngữ xuất phát từ trong Nam đã làm một cuộc Bắc tiến, lần hồi lấn át chữ
nôm và chữ Hán, và đã thắng lợi hoàn toàn với quyết định năm 1918 của Triều
đình Huế bãi bỏ các cuộc thi kiểu xưa của các triều vua chúa Việt Nam mà trong
đó chữ viết chính là chữ khối vuông (Hán và nôm).
Chúng tôi xin nhấn mạnh rằng
danh từ chữ quốc ngữ ở đây là để chỉ chữ viết, thứ chữ viết
tiếng Việt dùng mẫu tự La Tinh ; chữ quốc ngữ đối lập với chữ nôm thuộc
loại chữ khối vuông dùng "hình tượng" tuy cả hai cùng sử dụng để viết
tiếng Việt. Không thể và không nên hiểu chữquốc ngữ như là tiếngquốc
ngữ được La Mã hoá như qua từ ngữ"langue nationale
romanisée" (xem Bùi-Xuân Bào, 1985, tr. 4). Hiểu như thế này sẽ dẫn độc
giả, nhất là độc giả ngoại quốc, đến sự lẫn lộn tai hại là tiếng Việt
đã bị La Mã hoá.
Ðồng thời với hướng tiến từ
Nam ra Bắc của chữ quốc ngữ thì việc du nhập văn chương Pháp qua những bản dịch
các bài thơ hoặc truyện và tiểu thuyết cũng phát triển theo hướng Sài Gòn-Hà Nội.
Như vậy trong lĩnh vực thi
thơ, sự gặp gỡ với các thi sĩ Pháp đã đem tới cho tác gia Việt Nam nguồn cảm hứng
mới và những hình thức biểu đạt mới. Sự chuyển tiếp bắt đầu từ cuối thập niên
thứ hai của thế kỷ 20 được thể hiện qua sự phê bình, hoặc sự lảng quên luật thơ
Ðường mà tiền nhân xem như một kiểu mẫu hoàn chỉnh của thi thơ. Trong lúc xã hội
khám phá ra cá nhân, cái tôi, thì văn thơ hồ hởi thoát ra khỏi những niêm luật
khắc khe đã định ra ở Trung Quốc từ mười thế kỷ trước về việc gieo vần, thuận
thanh, đối ngẫu. Với sự lui dần vào hậu trường của Hán tự, các bài thơ làm theo
Ðường luật càng ngày càng hiếm. Cảnh mờ dần của thơ Ðường kéo theo sự mai một của
một nhãn quan nào đó về vũ trụ, của một thứ nhuệ cảm nào đó, của một quan niệm
về nghệ thuật nào đó.
Trong khi ấy, các môn đồ và
những người khởi xướng thơ mới khai trương từ năm 1932 Ố với
bài Tình già của Phan Khôi đăng trong Phụ Nữ tân văn, số 122,
ngày 10.3.32 Ố hầu hết còn đang ở độ thanh xuân; một số trong bọn họ đã nổi tiếng
lúc mới 16 tuổi, ngay ở bài thơ đầu và giành được cảm tình của thế hệ trẻ ít
nhiều chịu ảnh hưởng của văn hoá Âu Tây. Rất đông các tác giả thơ mới đã hút nhụy
từ thơ Pháp và không đọc được chữ Hán. Ðối với họ, sự thay thế chữ Hán hay chữ
nôm bằng chữ quốc ngữ không phải chỉ là một sự thay đổi chữ viết, mà còn là một
cuộc giả từ đối với một di sản trĩu nặng những ràng buộc nó bóp nghẹt cá nhân
và làm cản trở cảm hứng của thi sĩ. Theo Xuân Diệu* , con người ở Việt Nam tính
theo diện một cá nhân " trong những năm 30 (của thế kỷ 20) chối bỏ những tấm
tã lót của xã hội phong kiến, đã ra đời lần đầu tiên. Có một lòng cảm thán, một
sự phát minh say sưa ; đó là một thứ tình đầu... Chúng tôi muốn giải phóng cả nội
dung lẫn hình thức của thơ. "
Giải phóng nội dung ? Tức là
làm ra những bài thơ cá biệt. " Không còn là cái vui, cái buồn, cái tuyệt
vọng phi cá thể, đã lắng xuống, có thể nói là đã cô đọng lại, được tìm thấy
trong thi thơ truyền thống, nhưng mà là một sự rung cảm thầm kín của một con
người bằng xương bằng thịt, sự phơi bày ra những góc chốn u tối của một cá thể
đau buồn hoặc sung sướng, thấy và cảm thấy sự vật và hoàn cảnh đã sống qua với
một cảm giác rung động, dâng cao gần đến mức bệnh tật. " (Nguyễn Khắc Viện
và ctv, 1975: 47).
Ðể thực hiện công việc này
thì người mẫu có đó, ở trong văn học Pháp sẵn sàng cho ta mô phỏng. Trên mặt từ
ngữ, đôi khi là một sự vay mượn, thường là một sự cải tác, nhưng hay gặp hơn là
một sự pha trộn thành công của cảm hứng và công sức, một thứ luyện đan có kết
quả của sáng tạo và vay mượn.
Như Xuân Diệu đã lấy một câu
thơ của Edmond Haraucourt: Partir, c'est mourir un peu (Ði là chết đi một
ít), và thay đổi khúc đầu : Yêu là chết ở trong lòng một ít.
Một hôm, Alfred de Musset
nói với George Sand: Dépêche-toi, George, notre amour est vieux (Nhanh lên
em, George, mối tình chúng ta đã già rồi). Câu này làm nguồn cảm hứng cho
bài Giục giã của Xuân Diệu:
Mau với chứ, vội vàng lên với
chứ
Em, em ơi, tình non đã già rồi...
Em, em ơi, tình non đã già rồi...
Tình non đã già rồi thời
đó là một kết hợp từ ngữ khá bạo. Theo lời thú nhận của Xuân Diệu, "Một số
đông độc giả quen thuộc với thơ cổ điển, đã bất bình trước lời văn quá Âu hoá của
Xuân Diệu, không còn đặc tính dân tộc, thi vị kín đáo của phương Ðông; một số
người xấu miệng còn cho rằng một số câu thơ của Xuân Diệu làm người ta phải đỏ
mặt vì tính suồng sã của nó. "
Những câu dịch sát chữ từ
câu thơ Pháp :
Hơn một loài hoa đã rụng
cành
Plus d"une espèce de fleurs a quitté les branches
(X.D. "Ðây mùa thu tới",Thơ thơ, 1938)
Plus d"une espèce de fleurs a quitté les branches
(X.D. "Ðây mùa thu tới",Thơ thơ, 1938)
Nhưng ta cũng có thể tìm ra
những cái đổi mới, hay cả những phát minh nằm ở mép giới hạn chấp thuận của ngữ
nghĩa, tư duy Việt Nam thời bấy giờ :
Cái bay không đợi cái trôi
Từ tôi phút trước sang tôi phút này
(X.D. "Ði thuyền", Thơ thơ, 1938)
Từ tôi phút trước sang tôi phút này
(X.D. "Ði thuyền", Thơ thơ, 1938)
(Cái) bay, (cái) trôi, những
động từ được biến thành danh từ; đó chứng tỏ cách dùng từ rất bạo dạn của Xuân
Diệu trong câu văn tiếng Việt kể từ những năm 30 của thế kỷ 20. Hơn nữa ta còn
có (cái) tôi dùng để chỉ bản ngã, một khái niệm thời thượng lúc bấy
giờ, trong trào lưu muốn nâng cao cá nhân, tách cá nhân ra khỏi cộng đồng.
Nói về cú pháp của câu thơ
thì các nhà thơ mới không ngại ngùng từ bỏ luật đối ngẫu của thơ truyền thống
mà áp dụng phương thức bắc cầu kiểu thơ Pháp :
Thức dậy nắng vàng ngang mái
nhạt
Buồn gieo theo bóng lá đong đưa ->
Bên thềm. Ố Ai nấn lòng tôi rộng
Cho trải mênh mông buồn xế trưa.
Buồn gieo theo bóng lá đong đưa ->
Bên thềm. Ố Ai nấn lòng tôi rộng
Cho trải mênh mông buồn xế trưa.
Bắc cầu không những chỉ
là phương tiện nối liền một yếu tố của một câu thơ với một câu kế tiếp, câu trước
trên mặt ý nghĩa chưa được trọn vẹn, còn treo lơ lửng, mà đối với Xuân Diệu còn
là một cách thức để " chuyển tải cái tràn đầy của vế thơ trước qua vế thơ
sau theo tinh thần tự do lồng lộng trong thơ Pháp. ":
Ố Một tối bầu trời đắm sắc
mây,
Cây tìm nghiêng xuống đám hoa gầy,
Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ ->
Nghiêng xuống làn rêu một tối đầy ->
Những lời huyền bí toả lên trăng,
Những ý bao la rủ xuống trần...
(X.D. "Với bàn tay ấy", Thơ thơ, 1938)
Cây tìm nghiêng xuống đám hoa gầy,
Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ ->
Nghiêng xuống làn rêu một tối đầy ->
Những lời huyền bí toả lên trăng,
Những ý bao la rủ xuống trần...
(X.D. "Với bàn tay ấy", Thơ thơ, 1938)
Trên đây là những nét phác
hoạ về ảnh hưởng thơ Pháp vào thơ Việt, nhất là qua Xuân Diệu, một nhà thơ có
tú tài tây. Hoài Thanh và Hoài Chân (1985: 115) đã có nhận xét: " Ngày một
ngày hai cơ hồ ta không còn để ý đến những lối dùng chữ đặt câu quá tây của
Xuân-Diệu, ta quên cả những ý tứ người đã mượn trong thơ Pháp. Cái dáng dấp yêu
kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam đã quyến rũ
ta".
Nguyễn Phú Phong




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét