Văn chương và văn hóa Việt Nam - Một thoáng nhìn
Mở đầu bài viết “Một
vài vấn đề phân kỳ lịch sử văn học nhìn từ điểm đầu của thế kỉ XXI ”, GS.
Nguyễn Huệ Chi có viết: “Phân kỳ lịch sử văn học bao giờ cũng
là một vấn đề có sức hấp dẫn đối với người viết văn học sử, bởi đó là cái chìa
khóa then chốt để có thể nhận diện văn học như sự nối tiếp của nhiều tiến
trình”.
Rõ ràng, phân kỳ là một thao tác cơ bản của khoa văn học sử, không có sự
phân kỳ thì khó có thể hình dung ra lịch sử văn học, dù đó là lịch sử văn
học dân tộc hay lịch sử văn học thế giới. Bởi vậy, phân kỳ lịch sử
văn học Việt nam đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu văn học đề cập tới với
các tên như : Dương Quảng Hàm, Văn Tân, Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng, Nguyễn
Huệ Chi, Trần Đình Hượu, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Đình Sử, Nguyễn Đình
Chú, Phạm văn Diêu, Vương Trí Nhàn, nhóm Lê Quý Đôn (gồm Trương
Chính, Lê Thước, Hoàng Ngọc Phách, Vũ Đình Liên, Huỳnh Lý, Lê Trí Viễn, Đỗ Đức
Hiểu), nhóm Phan Cự Đệ v..v.. và các tổ chức đã từng rất quyền uy
trong thời kỳ bao cấp như : Ban nghiên cứu Văn sử Địa, Viện Văn học, Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Uỷ ban Khoa học Xã hội
Việt Nam... Điều lý thú là mỗi “nhà” đều đưa ra cách phân kỳ riêng của
mình với các lý luận, minh chứng đầy thuyết phục và ... còn xa hơn nữa ! Bởi vậy, hình như cho đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất khả dĩ về sự phân
kỳ của lịch sử văn học Việt nam. Điều này cũng hợp lẽ, bởi nói gì thì nói,
mọi sự phân kỳ đều là chuyện áp đặt đối với tiến trình phát triển phức tạp và
liên tục của văn học theo các góc nhìn khác nhau từ các lý luận văn học “bịa đặt”
(nói theo kiểuhậu hiện đại !). Bởi lẽ, lý luận, phê bình văn học chỉ
là thứ “ăn theo” văn chương – một hoạt động kỳ lạ của con người,
một thành tố gắn chặt với mỗi nền văn hóa, là chính văn hóa được phản ánh
bằng ngôn từ vậy.
Tuy nhiên, mặc sự khác nhau của các kết quả nghiên cứu, ta vẫn có thể tìm thấy
trong đó một vài điểm chung lý thú để có thể nhận diện văn học Việt nam
và cả văn hóa Việt. Bởi vì, nói đến phân kỳ là nói đến các mốc thời
gian cụ thể, dù chỉ là tương đối. Điều này không thể và không sao né tránh
được, dù các nhà nghiên cứu đã khoác lên nó các tên gì chăng nữa, như thời kỳ “trung
đại”, “cận đại”, “hiện đại” ... hoặc cụ thể hơn với Phạm văn Diêu trong “Văn
học Việt Nam” là: thời phôi thai (mốc thời gian sẽ là từ
thế kỷ XIII đến đầu XV), thời xây dựng(mốc thời gian sẽ là thế kỷ
XV-XVI), thời toàn thịnh (mốc thời gian sẽ là thế kỷ XVII-XVIII đầu
XIX) ; hoặc với Phạm Thế Ngũ trong “Việt Nam văn học sử giản ước
tân biên” là : thời kỳ sơ khởi (Trần Lê), thời kỳ phát triển (Mạc
đến hết Tây sơn), thời kỳ thịnh đạt (triều Nguyễn), văn học hiện
đại (1962-1945 gồm: giai đoạn 1862-1907, giai đoạn 1907-1932, giai đoạn
1932-1945), v..v..và v..v..
Từ các mốc này, dễ dàng nhận ra rằng, dù sự phân kỳ lịch sử văn học VN có
khác nhau giữa các nhà nghiên cứu, nhưng lại có một đáp án chung là : các mốc
thời gian phân kỳ lịch sử văn học VN đều rất gần, thậm trí còn trùng
khít với các mốc thời gian quan trọng diễn ra trong lịch sử phát triển của dân
tộc – đó là các mốc thay đổi của thời thế trên dải đất chữ S, dẫn đến
sự thay đổi nhân sinh quan, thế giới quan... trong mỗi con người Việt
nam, mà rõ ràng nhất là từ thời điểm sau “cái chết của chữ Nôm” (cuối thế kỷ 19
đầu thế kỷ 20) cho đến nay. Có thể thấy điều đó khi nhóm Lê Quí Đôn trong
“Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam - 1957” đã đưa ra các mốc thời gian
như sau : văn học thế kỷ XIII-XV, văn học thế kỷ XVI-XII, văn học thế kỷ
XVIII-đến đầu XIX, văn học đầu XIX đến giữa XIX, văn học từ 1858 đến 1930,văn học
1930-1945; giáo trình “Lịch sử văn học Việt Nam” của Đại học sư
phạm Hà Nội gồm: văn học giai đoạn XI-XIV, văn học giai đoạn XV- giữa
XVIII, văn học giai đoạn giữa XVIII đến đầu XIX, văn học giai đoạn 1858 đến đầu
XX, văn học đầu XX đến 1930, văn học giai đoạn 1930-1945, văn học giai đoạn
1945-1960 (sau này kéo đến 1975); rõ ràng nhất là trong bộ “Lịch sử
văn học Việt Nam” thuộc công trình quốc gia do Uỷ ban khoa học xã hội
Việt Nam tổ chức biên soạn và ra đời năm 1980 đã đưa ra 4 thời kỳ lớn của
văn học VN với các mốc thời gian là : từ thế kỷ X về trước, thời kỳ xây dựng quốc
gia Đại Việt, thời kỳ chống ách thống trị của thực dân Pháp, thời kỳ từ
khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà...
Xuất phát từ nhận xét trên, một thoáng nhìn từ phân kỳ lịch sử văn học Việt
nam sẽ dẫn ta đến những nhận xét đáng lưu ý về quá trình hình thành và
phát triển của văn chương và văn hóa Việt nam.
Hãy thử quan sát biểu đồ thời gian đơn giản sau đây chứa các mốc phân kỳ lịch
sử văn học mà giới nghiên cứu đã nhắc tới với sự xê dịch tương đối :
-----(1)------(2)-----(3)-----(4)-----(5)-----(6)------(7)------>
trong đó:
(1): năm 1858 –
thời điểm thực dân Pháp bắt đầu nổ súng xâm lăng nước ta.
(2): cuối thế kỷ
19, đầu thế kỷ 20, chính quyền Pháp cho giải thể phép thi cử chữ Nho (1915 ở Bắc
Kỳ, 1919 ở Trung Kỳ) và đưa chữ Quốc-ngữ lên hàng văn tự chính thức bắt
đầu từ năm 1908 .
(3) : năm 1930 – Đảng
CSVN ra đời.
(4): năm 1945 – nước
VNDCCH ra đời.
(5): năm 1954 – cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, hòa bình về trên miền Bắc XHCN, Bắc-Nam
chia cắt.
(6): Năm 1975 – kháng
chiến chống Mỹ toàn thắng, đất nước thống nhất, nước CHXHCNVN ra đời.
(7): 1989 (1990) – bắt
đầu thời kỳ đổi mới.
Từ biểu đồ trên cho ta có thể rút ra những nhận xét sau đây :
Một
là: khoảng cách giữa 2 mốc thời gian (một thời kỳ), không kể trước mốc
(1), lớn nhất là khoảng 40 năm ( (1) - (2) ), nhỏ nhất là khoảng 9 năm ( (4) –
(5) ) và trung bình là khoảng 20 năm, so với một đời người thật là ngắn ngủi,
ngắn đến nỗi rất khó để có thể hoàn thành trọn vẹn một tiến trình văn học nào
đó, nói gì đến sự hình thành một nền văn hóa mới.
Bởi vậy, các nhà nghiên cứu thường có ý kéo dài các phân kỳ thành các phân kỳ lớn, như cách làm của Phạm Thế Ngũ, Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, v..v.., nhưng vẫn không tránh khỏi rồi trong mỗi phân kỳ lớn đó lại phải chia nhỏ ra thành các phân kỳ nhỏ hơn (mà gọi là các giai đoạn). Điều này chứng tỏ dù có loanh quanh dựa trên các lý luận khác nhau thế nào chăng nữa để phân kỳ lịch sử văn học Việt nam, người ta vẫn phải quay về các mốc thời gian của lịch sử dân tộc. Bởi mỗi mốc thời gian đó đều là các mốc đánh dấu sự thay đổi thời thế dẫn đến thay đổi nhân sinh quan, thế giới quan... của toàn dân tộc. Rõ ràng nhất là thời kỳ (2) – (3) màGS.Trần Đình Hượu đã đặt tên là “thời kỳ giao thời”, “văn học giao thời” trong lịch sử văn học (Giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930), nó chỉ tồn tại trong khoảng trên dưới 30 năm, đã được nghiên cứu khá kỹ lưỡng. Ở thời kỳ này nhân sinh quan, thế giới quan... của CN Tư bản (phương Tây) bắt đầu thay thế cho nhân sinh quan, thế giới quan... dưới chế độ Phong kiến (phương Đông). Khó có thể quên được sự thay đổi thời thế ở thời kỳ này trong những hình ảnh và tâm sự mà nhà thơ Trần Tế Xương đã để lại : ”Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt / Dưới sân ông cử ngẩng đầu rồng” và “Nào có ra gì cái chữ Nho / Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co / Sao bằng đi học làm ông Phán / Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò”v..v... Ở thời kỳ này, chỉ vẻn vẹn trên dưới 30 năm, văn hóa và văn chương Việt đã có sự thay đổi lớn lao về mọi phương diện sau “cái chết của chữ Nôm” và sự ra đời của chữ Quốc-ngữ - một bước ngoặt của văn hóa Việt nam(“Cái chết của chữ Nôm-bước ngoặt của văn hóa Việt nam”-Phongdiep,Net). Sự thay đổi diễn ra nhanh đến nỗi “Vẳng nghe tiếng ếch bên tai / Giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò” (Trần Tế Xương) và văn nhân chỉ kịp chua chát than thở cho cái đã mất đi đang diễn ra ngay trước mắt :“Những người muôn năm cũ / Hồn ở đâu bây giờ?” (Vũ Đình Liên). Có thể nói, ở thời kỳ này nền văn hóa và văn chương Việt nam nghìn năm bỗng chốc buộc phải rẽ ngoặt sang một nẻo đường xa lạ. Chính nó đã mở ra một trang hoàn toàn mới trong nền văn chương Việt nam và cả nền văn hóa Việt nam, tạo tiền đề cho một thời không thể nào quên của văn chương Việt ở các thời kỳ tiếp nối (“Một thời của văn chương”- Phongdiep.Net) và chính nó đã tạo tiền đề cho sự tiếp nhận CNCS với sự ra đời của Đảng CSVN năm 1930, một lần nữa, tạo nên sự xáo trộn lớn lao trong nhân sinh quan, thế giới quan...của toàn dân tộc. Do đó, nếu chỉ gọi thời kỳ này là“thời kỳ giao thời”thì chưa phản ánh rõ tầm quan trọng của nó, mà phải gọi đó là “thời kỳ giao thời then chốt” trong lịch sử văn học Việt nam nói riêng và trong văn hóa Việt nam nói chung, dù thời gian là ngắn ngủi.
Bởi vậy, các nhà nghiên cứu thường có ý kéo dài các phân kỳ thành các phân kỳ lớn, như cách làm của Phạm Thế Ngũ, Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, v..v.., nhưng vẫn không tránh khỏi rồi trong mỗi phân kỳ lớn đó lại phải chia nhỏ ra thành các phân kỳ nhỏ hơn (mà gọi là các giai đoạn). Điều này chứng tỏ dù có loanh quanh dựa trên các lý luận khác nhau thế nào chăng nữa để phân kỳ lịch sử văn học Việt nam, người ta vẫn phải quay về các mốc thời gian của lịch sử dân tộc. Bởi mỗi mốc thời gian đó đều là các mốc đánh dấu sự thay đổi thời thế dẫn đến thay đổi nhân sinh quan, thế giới quan... của toàn dân tộc. Rõ ràng nhất là thời kỳ (2) – (3) màGS.Trần Đình Hượu đã đặt tên là “thời kỳ giao thời”, “văn học giao thời” trong lịch sử văn học (Giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930), nó chỉ tồn tại trong khoảng trên dưới 30 năm, đã được nghiên cứu khá kỹ lưỡng. Ở thời kỳ này nhân sinh quan, thế giới quan... của CN Tư bản (phương Tây) bắt đầu thay thế cho nhân sinh quan, thế giới quan... dưới chế độ Phong kiến (phương Đông). Khó có thể quên được sự thay đổi thời thế ở thời kỳ này trong những hình ảnh và tâm sự mà nhà thơ Trần Tế Xương đã để lại : ”Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt / Dưới sân ông cử ngẩng đầu rồng” và “Nào có ra gì cái chữ Nho / Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co / Sao bằng đi học làm ông Phán / Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò”v..v... Ở thời kỳ này, chỉ vẻn vẹn trên dưới 30 năm, văn hóa và văn chương Việt đã có sự thay đổi lớn lao về mọi phương diện sau “cái chết của chữ Nôm” và sự ra đời của chữ Quốc-ngữ - một bước ngoặt của văn hóa Việt nam(“Cái chết của chữ Nôm-bước ngoặt của văn hóa Việt nam”-Phongdiep,Net). Sự thay đổi diễn ra nhanh đến nỗi “Vẳng nghe tiếng ếch bên tai / Giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò” (Trần Tế Xương) và văn nhân chỉ kịp chua chát than thở cho cái đã mất đi đang diễn ra ngay trước mắt :“Những người muôn năm cũ / Hồn ở đâu bây giờ?” (Vũ Đình Liên). Có thể nói, ở thời kỳ này nền văn hóa và văn chương Việt nam nghìn năm bỗng chốc buộc phải rẽ ngoặt sang một nẻo đường xa lạ. Chính nó đã mở ra một trang hoàn toàn mới trong nền văn chương Việt nam và cả nền văn hóa Việt nam, tạo tiền đề cho một thời không thể nào quên của văn chương Việt ở các thời kỳ tiếp nối (“Một thời của văn chương”- Phongdiep.Net) và chính nó đã tạo tiền đề cho sự tiếp nhận CNCS với sự ra đời của Đảng CSVN năm 1930, một lần nữa, tạo nên sự xáo trộn lớn lao trong nhân sinh quan, thế giới quan...của toàn dân tộc. Do đó, nếu chỉ gọi thời kỳ này là“thời kỳ giao thời”thì chưa phản ánh rõ tầm quan trọng của nó, mà phải gọi đó là “thời kỳ giao thời then chốt” trong lịch sử văn học Việt nam nói riêng và trong văn hóa Việt nam nói chung, dù thời gian là ngắn ngủi.
Hai
là: trong mỗi thời kỳ ngắn ngủi lại có sự chèn lấn, xô đẩy, phủ định lẫn
nhau giữa các dòng văn học. Điển hình là thời kỳ (3) – (4) giữa VH cách mạng và
VH đương thời với cuộc tranh luận nảy lửa trên diễn đàn văn học thời đó giữa
cái gọi là “nghệ thuật vị nghệ thuật” và cái gọi là “nghệ thuật
vị nhân sinh” – một sự ấu trĩ nực cười với cách nhìn hiện nay. Cũng chính
ngay ở đầu thời kỳ này “cái tôi” bắt đầu lên tiếng thách thức lễ giáo
Phong kiến nghìn năm với“Hồn bướm mơ tiên”,“Nửa chừng xuân” (Khái Hưng),”Đoạn
tuyệt”, “Lạnh lùng” (Nhất Linh), “Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” (Xuân Diệu)..., để
rồi chưa kịp ngất ngây đã phải “quẳng bút vớ long tuyền” (Sóng Hồng), thi
sỹ trở thành chiến sỹ trước một thời thế mới. Đặc biệt hơn
là thời kỳ (5) – (6), giữa thời đạn bom chống Mỹ, tiến tới thống nhất Tổ quốc,
miền Bắc chúng ta đã có cả một thời kỳ có thể gọi là thời kỳ “văn
hóa thời chiến” và đương nhiên, đó cũng là thời kỳ “văn chương thời
chiến”, tất cả cho tiền tuyến đánh thắng giặc Mỹ, mà sang thời kỳ (6) –
(7) có người đã mượn từ ngữ nước ngoài để rồi nhiều người rêu rao một cách
thích thú rằng đó là thời kỳ “văn chương minh họa” khi rất nhiều người
“viết bài thơ ghép bằng khẩu hiệu, tất nhiên đó là những khẩu hiệu viết bằng
tâm hồn, chứ không phải lý trí”(theo Trần Đăng Khoa - “Vài nét về thơ Việt
Nam hiện đại” - Phongdiep.net – 07/2013)... Rồi mươi năm gần đây, trong thời kỳ
từ sau mốc (7) đến nay, đã có khá nhiều ý kiến trái chiều nhau trong việc đánh
giá thành tựu của văn học, khi có sự xem xét lại sự kiện “Nhân văn giai phẩm” và
đánh giá lại các tác gia, tác phẩm mà các thời kỳ trước đó có ý phủ định (như
các các công trình khảo cứu của Lại Nguyên Ân về tạp chí Tri-tân (1940-1945),
về tác gia Phan Khôi, Trần Trọng Kim v..v...). Do sự ngắn ngủi của
các thời kỳ như đã nói ở trên, rõ ràng một nhân sinh quan, thế giới quan...
mới vừa mới hình thành, chưa kịp thấm sâu và lan tỏa thì một nhân sinh
quan, thế giới quan...khác đã xuất hiện chèn lấn, xô đẩy. Đặc biệt, trong các
thời kỳ từ mốc (2) trở đi.
Hãy thử tưởng tượng trong vòng chưa đầy 100 năm, (tính từ mốc (2)), vừa trọn một đời người, một dân tộc đã phải trải qua ba bốn lần thay đổi nhân sinh quan, thế giới quan... và sống trong sự chèn lấn,chen chúc thử nghiệm, thậm trí đối địch nhau, của các nhân sinh quan, thế giới quan...khác nhau đến từ các phương trời xa lạ; văn hóa mới vừa ra đời thì lại có một văn hóa khác xuất hiện, đan xen chèn lấn; “cái tôi” đầy lãng mạn lôi cuốn vừa hé mở thì lại phải nhường bước cho những cái to tát hơn; rồi cái to tát vừa đi qua thì “cái tôi” lại trỗi dậy gào thét “đi tìm cái tôi đã mất”..., mà chúng diễn ra nhanh đến nỗi nhà thơ Phạm Tiến Duật sống ở sau mốc thứ (6) giữa lòng Hà-nội yên bình mà vẫn lơ mơ tưởng như đang ở Trường-Sơn “bên nắng cháy, bên mưa rừng..” thời đánh Mỹ ((5) – (6)), hỏi mỗi con người bình thường thôi chứ chưa nói gì đến các văn nhân, thi sỹ, làm sao mà định hình được trong cuộc đời? Chả thế mà thực tế đã có cả một thế hệ những người cầm bút sáng tác đã phải chuyển từ cực này sang cực khác (mà trước đây hay gọi là thay đổi ý thức hệ) trong vòng xoáy của thời cuộc với tâm trạng “gặp thời thế thế thời phải thế” như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nam Cao, v..v.., hoặc biến mất khỏi văn đàn với tâm trạng “trăm năm cô đơn” như Hoàng Ngọc Phách (Tố Tâm), Kim Lân (Vợ nhặt) và “Thi chủ” sử thi, triết thi Minh Tuyền Hoàng-Chí-Trị (“Việt nam có triết thi ?”- Phongdiep.Net). Ta nhớ mãi Nguyễn Tuân với “Vang bóng một thời” và Nguyễn Tuân với “Người lái đò sông Đà” trên tinh thần “qui thuận quần chúng một cách tự giác” ; ta nhớ Chế Lan Viênvới “Điêu tàn” và Chế Lan Viên với “Phù sa và ánh sáng”; ta nhớ mãi Nam Cao với “Chí Phèo”và Nam Cao với “Đôi mắt” , và gần đây hơn, ta nhớ Nguyễn Khải với “Mùa lạc” và Nguyễn Khảivới “Đi tìm cái tôi đã mất” v..v.. Rất nhiều thời kỳ, tuy ngắn ngủi, chỉ vì thời cuộc, đã để lại không biết bao nhiêu bi kịch và các “cuộc tranh luận gay gắt dẫn đến cãi vã” (Trần Đăng Khoa-“Vài nét về thơ Việt Nam hiện đại” - Phongdiep.net – 07/2013) cho đến tận bây giờ, mà nếu phân kỳ lịch sử văn học không dựa vào các mốc lịch sử của dân tộc thì không thể giải thích nổi. Điều này đặc biệt xảy ra nặng nề nhất từ sau mốc (4).
Hãy thử tưởng tượng trong vòng chưa đầy 100 năm, (tính từ mốc (2)), vừa trọn một đời người, một dân tộc đã phải trải qua ba bốn lần thay đổi nhân sinh quan, thế giới quan... và sống trong sự chèn lấn,chen chúc thử nghiệm, thậm trí đối địch nhau, của các nhân sinh quan, thế giới quan...khác nhau đến từ các phương trời xa lạ; văn hóa mới vừa ra đời thì lại có một văn hóa khác xuất hiện, đan xen chèn lấn; “cái tôi” đầy lãng mạn lôi cuốn vừa hé mở thì lại phải nhường bước cho những cái to tát hơn; rồi cái to tát vừa đi qua thì “cái tôi” lại trỗi dậy gào thét “đi tìm cái tôi đã mất”..., mà chúng diễn ra nhanh đến nỗi nhà thơ Phạm Tiến Duật sống ở sau mốc thứ (6) giữa lòng Hà-nội yên bình mà vẫn lơ mơ tưởng như đang ở Trường-Sơn “bên nắng cháy, bên mưa rừng..” thời đánh Mỹ ((5) – (6)), hỏi mỗi con người bình thường thôi chứ chưa nói gì đến các văn nhân, thi sỹ, làm sao mà định hình được trong cuộc đời? Chả thế mà thực tế đã có cả một thế hệ những người cầm bút sáng tác đã phải chuyển từ cực này sang cực khác (mà trước đây hay gọi là thay đổi ý thức hệ) trong vòng xoáy của thời cuộc với tâm trạng “gặp thời thế thế thời phải thế” như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nam Cao, v..v.., hoặc biến mất khỏi văn đàn với tâm trạng “trăm năm cô đơn” như Hoàng Ngọc Phách (Tố Tâm), Kim Lân (Vợ nhặt) và “Thi chủ” sử thi, triết thi Minh Tuyền Hoàng-Chí-Trị (“Việt nam có triết thi ?”- Phongdiep.Net). Ta nhớ mãi Nguyễn Tuân với “Vang bóng một thời” và Nguyễn Tuân với “Người lái đò sông Đà” trên tinh thần “qui thuận quần chúng một cách tự giác” ; ta nhớ Chế Lan Viênvới “Điêu tàn” và Chế Lan Viên với “Phù sa và ánh sáng”; ta nhớ mãi Nam Cao với “Chí Phèo”và Nam Cao với “Đôi mắt” , và gần đây hơn, ta nhớ Nguyễn Khải với “Mùa lạc” và Nguyễn Khảivới “Đi tìm cái tôi đã mất” v..v.. Rất nhiều thời kỳ, tuy ngắn ngủi, chỉ vì thời cuộc, đã để lại không biết bao nhiêu bi kịch và các “cuộc tranh luận gay gắt dẫn đến cãi vã” (Trần Đăng Khoa-“Vài nét về thơ Việt Nam hiện đại” - Phongdiep.net – 07/2013) cho đến tận bây giờ, mà nếu phân kỳ lịch sử văn học không dựa vào các mốc lịch sử của dân tộc thì không thể giải thích nổi. Điều này đặc biệt xảy ra nặng nề nhất từ sau mốc (4).
Ba
là: từ biểu đồ trên cho thấy văn học VN (Văn hóa VN) đã có 3 lần hội
nhập quốc tế(chứ không phải bây giờ ta mới hội nhập đâu !). Đó là thời
kỳ (1) - (2): lần đầu tiên hội nhập với phương Tây – đó là cuộc
CM lần thứ nhất, mở đầu một quá trình Âu hóa có ý nghĩa sâu sắc, mang
tính bản lề; thời kỳ từ mốc (2) đến mốc (7) : hội nhập với CNCS
thế giới – đó là cuộc CM lần thứ hai; thời kỳ sau mốc (7) : hội
nhập toàn cầu – có lẽ là cuộc CM lần thứ ba? Tuy nhiên, do thời gian mỗi kỳ
là quá ngắn ngủi và luôn bị xáo trộn của thời thế nên mỗi cuộc hội nhập đều
không đủ thời gian chín muồi cho những thay đổi tầm vóc, nó như chỉ mới xào xáo
lên để kịp cho ra đời “một thời văn chương”, chả bao giờ đủ độ chín
cho “một nền văn chương” đích thực, nói chi đến cả một nền văn
hóa. Để rồi... đúng như nhà thơ Trần Đăng Khoa đã có nhận định
trong tham luận đọc tại cuộc gặp gỡ các nhà thơ thế giới tổ chức tại Paris từ
ngày 22-5 đến 2-6 năm 2013, rằng : “Nói như một nhà thơ và nhà nghiên cứu thì tất
cả các trường phái và phương pháp của thơ ca (văn chương, văn hóa) thế
giới trong suốt một thế kỷ qua đều chen chúc thử nghiệm và gây ảnh hưởng ở Việt
Nam trong một quãng thời gian rất ngắn”, và rằng: “Việc đánh giá
thơ (văn chương, văn hóa) ở đất nước tôi bây giờ cũng rất khó. Hầu
như không tìm được tiếng nói chung. Nhiều cuộc tranh luận gay gắt dẫn đến cãi
vã cũng thường bắt đầu từ thơ (văn chương). Đó là sự va đập giữa các
khuynh hướng nhằm muốn tự khẳng định, gây ảnh hưởng trước công chúng, có khi
gay gắt dẫn đến triệt tiêu nhau. Tất cả các cuộc tranh luận này rốt cuộc dường
như vẫn bỏ ngỏ, không có kết luận và cũng không có tiếng nói cuối cùng...(“Vài
nét về thơ Việt Nam hiện đại” - Phongdiep.net – 07/2013) ....
Tóm lại, nói không quá là: “nhắm mắt” một chút cũng có thể tưởng tượng ra các
mốcphân kỳ của văn học VN dựa vào các mốc sự kiện “lột xác” đã xảy
ra trong lịch sử dân tộc, vì những mốc sự kiện này đều đánh dấu sự lột xác cả về
vật chất lẫn tinh thần, dẫn đến những thay đổi về nhân sinh quan, thế giới
quan... của con người Việt, đặc biệt ở tầng lớp trí thức, trong đó có những
người cầm bút tiên phong đã để lại những dấu ấn đậm nét phản ánh sự thay đổi của
thời thế, không chỉ trong văn chương mà cả trong nền văn hóa Việt nam trong 100
năm ngắn ngủi. Phải chăng đó chính là lời giải thích cho việc tại sao lại có sự
trùng hợp giữa các mốc phân kỳ lịch sử văn học Việt nam và các mốc trong lịch sử
phát triển của dân tộc!.
Nếu văn chương là văn hóa kết tinh trong những ngôn từ thì
sự phân kỳ lịch sử văn học phải chăng cũng là một phần quan trọng của
sự phân kỳ của lịch sử văn hóa dân tộc cùng những hệ quả từ nó với
cái nhìn thoáng qua ở trên?
Người viết bài này cứ bị ám ảnh mãi về “những thói xấu của người Việt” (Vương Trí Nhàn) và một phát biểu trên diễn đàn Vietnam.Net cách
đây vài năm của một Việt kiều yêu nước khi nói về văn hóa Việt hiện đại: xin
nói thật, không có văn hóa Việt nam hiện đại ! Đúng sai thế nào ?
Nguyên do từ đâu ? Sự xuống cấp của văn hóa, đặc biệt trong đời sống thường nhật
hiện nay, là điều trăn trở của mọi người dân Việt, cho thấy sự lúng túng của
các nhà quản lý xã hội mong có một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc. Phải chăng đó là sự“lung tung”(nói theo kiểu hậu hiện đại!), “chả
ra Tàu chả ra Tây” (nói theo kiểu dân gian) của nền văn hóa Việt từ
sau mốc phân kỳ lịch sử văn học thứ (2) cho đến tận ngày nay? Văn hóa
và văn chương Việt hình như vẫn đang tìm đường ra trong mớ bòng bong từ di chứng “đa
thời thế”có lúc đối nghịch nhau của quá khứ 100 năm qua. Vấn đề trước hết và
tiên quyết phải chăng là phải thấu hiểu dòng chảy của văn hóa Việt, văn chương
Việt, để mà định hình phát triển nó chứ không phải từ cách làm duy ý chí, hiểu
quá khứ hời hợt một chiều như thường gặp ...
Mong rằng cùng với văn chương của thế hệ Việt nam mới đang khởi sắc, văn
hóa vàvăn chương Việt nam sẽ có đủ thời gian để định hình và “tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”!.
Hà Nội, 8/ 2013
Hoàng Thư Ngân




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét