Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2015

Một thời của văn chương

Một thời của văn chương
Trong lịch sử hình thành và phát triển, dân tộc Việt nam đã trải qua nhiều thăng trầm bởi sự  xâm lấn của ngoại bang. Bởi vậy mới có đúc kết rằng: lịch sử của dân tộc Việt nam là lịch sử của quá trình dựng nước và giữ nước. Trong quá trình đó, nền văn hóa của dân tộc Việt nam luôn đứng trước những toan tính đồng hóa của các thế lực đến từ các nền văn hóa khác. Điều này đã gây nên hệ lụy: văn hóa của dân tộc Việt đã có những thời kỳ bị xáo trộn dữ dội [1].
 Thế nhưng, có một điều đáng chú ý là : chính vào những thời kỳ đó, văn chương Việt nam lại có những bước biến chuyển đặc biệt, tiên phong trong quá trình tiếp biến văn hóa, để lại những dấu ấn đậm nét trong lịch sử văn hóa của dân tộc. Trong những thời kỳ đó, phải kể đến văn chương ở những thập kỷ đầu thế kỷ XX – một thời của văn chương Việt nam .
 Nửa cuối thế kỷ XIX, tháng 8 năm 1858, tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp bắt đầu nổ, mở đầu cho cuộc xâm lăng và đô hộ của thực dân Pháp với dân tộc Việt nam ngót 80 năm sau. Lần này kẻ xâm lược đến từ một nền văn minh xa xôi còn rất xa lạ với người Việt nam và văn hóa Việt – văn minh Phương Tây. Những tư liệu lịch sử đã chứng minh rằng : ngay từ đầu, cùng với việc thôn tính dần đất đai, thực dân Pháp đã thực hiện âm mưu đồng hóa văn hóa Việt bằng công cụ chữ Quốc-ngữ  – một loại chữ viết ghi tiếng Việt theo mẫu tự La-tinh – mà những người truyền giáo phương Tây sáng tạo ra [1]. Quá trình đồng hóa văn hóa Việt theo văn hóa phương Tây này diễn ra trong suốt thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp. Chữ Quốc-ngữ chính thức bị áp đặt, trở thành chữ viết của người Việt nam vào đầu thế kỷ XX, khi chính quyền Pháp cho giải thể phép thi cử chữ Nho (1915 ở Bắc Kỳ, 1919 ở Trung Kỳ), khép lại thời kỳ dùng chữ Nôm để truyền đạt tư duy cùng những cảm hứng của dân tộc Việt. Thế là, bên cạnh mục tiêu phải giành lại độc lập cho đất nước, giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, một lần nữa, cha ông ta lại phải đối mặt với “một thế lưỡng phân lịch sử” về văn hóa do chữ viết mà chính kẻ xâm lược mang đến và áp đặt (phỏng theo cách nói của cố GS Trần Quốc Vượng [2] ). Thời cuộc đã khác, tình thế lúc này cũng khác so với khi chữ Nôm ra đời nhằm “giải Hán hóa”. Ở thời khắc mà nền văn minh phương Tây đang làm rệu rã các thành trì phong kiến phương Đông với sức mạnh súng ống và văn hóa, nền văn hoá Việt nam biến động dữ dội như chính xã hội và chính trị lúc bấy giờ.

Xu hướng phương Tây được áp đặt và thống trị trong giáo dục của người Pháp đã dẫn một bộ phận trí thức thức đương thời bước sang nẻo trời mới của văn hóa  phương Tây, giã từ Hán học, trong khi văn hóa Làng-Chùa – văn hóa chữ Nôm – vẫn còn sâu đậm sau lũy tre xanh khắp vùng nông thôn Việt nam, nơi mà văn hóa Phương Tây chưa đủ sức lan tỏa. Chính lúc này, một bộ phận những  người trí thức Hán học và những trí thức do người Pháp đào tạo để phục vụ cho bộ máy cai trị của chúng, đã hướng về chữ Quốc-ngữ với nhiều lý do khác nhau. Tựu trung, vào cái thời khắc nhập nhoạng giao thời giữa 2 thế kỷ ấy, có hai nhóm người:
Một là nhóm những trí thức yêu nước, phần lớn xuất thân khoa bảng Nho học, thấy được cái lợi của chữ Quốc-ngữ trong việc canh tân dân tộc  nhằm phục vụ cho mục tiêu giành lại độc lập cho đất nước. Đó là những sỹ phu của phong trào Đông kinh nghĩa thục, phong trào Duy tân, chủ trương thay thế chữ Nho bằng chữ Quốc-ngữ để có thể mở mang giáo dục, vì Quốc-ngữ dễ học, dễ viết, có thể dùng làm phương tiện truyền bá kiến thức phổ thông rộng rãi  đến dân chúng – một lợi thế hơn hẳn chữ Nôm – tiêu biểu là các sỹ phu : Phan-Chu-Trinh, Lương-văn-Can, Huỳnh-Thúc-Kháng,Trần-Quý-Cáp, Ngô-Đức-Kế … Việc làm của họ tập trung vào một chủ đích lớn là thức tỉnh đồng bào, cốt nhằm cho nhân dân quần chúng cả nước thấy rõ nguyên nhân vì đâu mà chúng ta sống trong tình trạng “người ngu, nước yếu” (Ngô-Đức-Kế). Phong trào Duy tân còn chủ trương hướng việc giáo dục vào thực tế, dạy đủ các nghề từ công nghiệp đến thương mại, chứ không phải chỉ chăm chú vào sách vở thánh hiền, văn chương chữ nghĩa, học thuyết chính trị, luân lý xã hội. Họ đã bị thực dân Pháp thẳng tay khủng bố khi nhìn ra thực chất của các phong trào này [5] .
Hai là nhóm những trí thức được chính quyền Pháp đào tạo và bảo trợ để phục vụ cho đường lối cai trị của chúng, nhưng có tinh thần dân tộc (như Phạm-Quỳnh, Nguyễn-Văn-Vĩnh, Trương-Vĩnh-Ký, Tôn-Thọ-Tường...và cả một số trí thức công giáo khác). Đúng là “gặp thời thế, thế thời phải thế” ! Họ đều là những người thức giả và có công lớn trong việc phổ biến và phát triển chữ Quốc-ngữ, xứng đáng ở “chiếu trên” mở đầu cho một“thời của văn chương” (nhưng việc đánh giá họ trong lịch sử và văn hóa của dân tộc không thể lẫn lộn trắng đen). Cũng cần nhớ rằng, vào thời điểm này, tuy phong trào Cần Vương đã bị dập tắt, nhưng tinh thần diệt thù cứu nước vẫn chưa chìm xuống. Tiếng vang của các cuộc khởi nghĩa (từ Phan- Đình- Phùng đến Đề Thám) còn ảnh hưởng lớn, vẫn thôi thúc mọi người. Phần lớn tầng lớp trí thức Hán học, tuy không còn người lãnh tụ tiêu biểu nữa, song cái chí nguyện độc lập, tự do, chống bọn xâm lăng của họ vẫn còn đó. Họ đều không chấp nhận chữ Quốc-ngữ  – một thứ chữ viết được đồng nghĩa với những kẻ xâm lược (như nhà thơ lớn Nguyễn-Đình-Chiểu).

Một lần nữa, đất nước bị ngoại bang xâm chiếm,văn hóa Việt nam lại có sự xáo trộn lớn (và lại liên quan đến chữ viết của dân tộc ! [1] ). Nhưng người Việt nam đã biết tận dụng cơ hội đó để đẩy văn hóa của dân tộc, trong đó văn chương đóng vai trò tiên phong, sang một thời kỳ phát triển mới trên nền tảng cội nguồn, ngoài ý muốn của kẻ xâm lược. Việc chuyển hướng từ chữ  Nho qua chữ Quốc-ngữ vào đầu thế kỷ XX là cánh cửa rộng mở giúp nền văn hoá Việt nam nhanh chóng đi lên theo đà phát triển khoa học kỹ thuật phương Tây. Nó diễn ra chỉ trong vòng nửa thế kỷ và đã hình thành nên một thời của văn chương mới – văn chương chữ Quốc-ngữ buổi ban đầu – kéo dài trong những năm nửa đầu thế kỷ XX, tuy ngắn ngủi, nhưng đã có ảnh hưởng sâu sắc, tạo nền móng cho văn chương chữ Quốc-ngữ Việt nam và những thời của văn chương tiếp sau .
Phải chăng hai từ “hội nhập” không phải đến tận bây giờ dân tộc ta mới được biết đến và biết tận dụng nó ?
Trong thời của văn chương này, trước hết phải kể đến văn chương báo chí – một hình thức văn chương hoàn toàn mới trong văn hóa Việt nam. Ngày 15-4-1865, Gia Định báo – tờ báo chữ  Quốc-ngữ Việt Nam đầu tiên – ra số 1 tại Sài Gòn, đánh dấu cột mốc khởi nguyên của lịch sử báo chí Việt Nam. Thống kê cho thấy, từ điểm mốc đó, đã có hàng chục tờ báo ra đời trong thời của văn chương này, với những tên  tiêu biểu như : Đông Dương tạp chí (1913), Nam Phong Tạp Chí (1917-1934), Nữ giới chung (1918), Annam Tạp Chí (1930- 1933), Phụ nữ Tân Văn (1929-1939), Phong Hóa và Ngày Nay (1935-1945), Tri tân (1942-1945) v..v…[4] . Mặc dù bị nhà cầm quyền Pháp kiểm duyệt gắt gao và còn nhiều điểm hạn chế, nhưng báo chí thời kỳ này, với nội dung phổ biến, cổ vũ cho chữ Quốc-ngữ, đã góp phần không nhỏ vào sự hình thành và phát triển văn chương của thời của văn chương này. Không đâu khác, chính báo chí đã là diễn đàn xã hội, nơi phô bày những tư tưởng mới, nơi thử nghiệm văn chương, nơi cách tân giáo dục, mở đầu cho sự tiếp biến văn hóa của dân tộc. Hầu hết những nhà văn nhà thơ của thời của văn chương này đều là những cây bút nổi lên như những ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác, điển hình như Tản-Đà Nguyễn-Khắc-Hiếu (1889-1939) - "gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại" [5] - với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam. Đặc biệt, ngay từ  những năm đầu thế kỷ XX, rất nhiều tác phẩm lớn trong văn chương Pháp đã được chuyển tải sang chữ Quốc-ngữ trên các mặt báo và trên các ấn phẩm, điển hình là các ấn phẩm của dịch giả Nguyễn-Văn-Vĩnh (1882-1936) như : Thơ ngụ ngôn của La Fontaine, Ba người ngự lâm pháo thủ tiểu thuyết của Alexandre Dumas, Những kẻ khốn nạn tiểu thuyết của Victor Hugo, Miếng da lừa tiểu thuyết của Honoré de Balzac, Guy-li-ve du ký truyện của Jonathan Swift và một số vở kịch của Molière v..v…[5] . Điều này cho thấy, ngoài mưu đồ quảng bá văn hóa Pháp theo chủ trương xâm lăng văn hóa của thực dân Pháp, các trí thức Tây học tiên phong đã nhanh chóng nắm bắt thời thế, thông qua báo chí phát triển ngôn ngữ Việt với chữ Quốc-ngữ, theo hướng văn minh phương Tây, đặt nền móng cho một thời của văn chương mới, thoát khỏi cái bóng của Hán học. Cùng lúc đó, một đội ngũ trí thức Tây học ưu tú trưởng thành trong các trường học của chính quyền Pháp, đã đi vào lĩnh vực văn chương, đẩy ngôn ngữ Việt lên một tầm cao mới, đủ sức phản ánh tâm tư tình cảm của người Việt mà sự thay đổi trong xã hội mang lại – đó là một nhãn quan mới về vũ trụ, một quan niệm mới về cá nhân, cái tôi, hay nói rộng hơn là sự thay đổi tư duy và tư tưởng, đạo đức trong xã hội, hình thành một ý thức hệ mới .
Trên những nền tảng mở đầu như vậy, cùng với việc người Pháp đẩy mạnh phong trào khai phá thuộc địa đã vô tình đẩy nhanh làn gió của văn hóa phương Tây vào Việt Nam, rất nhanh chóng đến ngạc nhiên, ngay vào đầu thập niên 1930, tức là không đầy 30 năm sau khi chữ Quốc-ngữ trở thành văn tự chính thức của người Việt, văn chương Việt Nam đã diễn ra một cuộc vận động đổi mới thơ ca mạnh mẽ với sự xuất hiện của một làn sóng thơ mới với cá tính sáng tác độc đáo. Cuộc cách tân này đã đi vào lịch sử văn chương Việt nam với tên gọi Phong trào Thơ mới – một điểm nhấn chói lọi cho thời của văn chương này, một thời kỳ vàng son mới của văn chương Việt Nam, ở đó, các nhà thơ “đã thay đổi cái nhịp rung cảm”(Hoài Thanh), “cá nhân tự khẳng định, tự biểu hiện ra niềm vui, mơ ước, khát vọng. Cảm hứng sáng tác gắn liền với ý thức cá nhân; thơ mới là thơ của cái "tôi", một cái "tôi" chưa bao giờ được biết đến trong thơ cổ điển. Cái "tôi" bấy giờ không làm việc "tải đạo" nữa mà vượt lên những công thức ước lệ. Trong thơ mới có nhiều rạo rực, âu lo, có nhiều khát vọng một cách vội vã, căng thẳng, chính cái mới này đã quyết định sự ra đời của thơ mới” [5] . Đặc biệt, với sự gặp gỡ các thi sĩ Pháp như  Lamartine, Hugo, Musset và Verlaine…, cấu trúc thơ đã hoàn toàn đổi khác, vượt qua các thể thơ chữ Hán khe khắt như Đường luật và thơ chữ Nôm như Lục bát, mang lại một diện mạo hoàn toàn mới mẻ cho thơ ca Việt nam. Chúng ta đã quá quen thuộc với những tên tuổi làm nên Phong trào Thơ mới – đó là : Thế- Lữ, Xuân-Diệu, Huy-Cận, Lưu-Trọng-Lư, Hàn-Mặc-Tử, Chế-Lan-Viên,Tế-Hanh, Nguyễn-Bính, Bích-Khê…
Với họ, âm hưởng của thi ca Pháp không hề làm mất đi cái hồn Việt trong những “lá sen tơ”, những “con sông xanh biếc”, những “tiếng gà trưa gáy não nùng” (*)… Phải nói rằng, chính hồn Việt đã làm cho những câu thơ mới sớm đi vào lòng độc giả ở mọi giai tầng trong xã hội. Chúng đã nâng văn chương Việt lên một tầm cao mới trong sự đắm say ngọt ngào của chủ nghĩa lãng mạn vừa hé cửa. Nếu ai đó thử thống kê xem, chắc chắn rằng số lượng những áng thơ Việt còn đọng lại trong lòng người Việt yêu thơ, từ thành thị đến nông thôn, hầu hết là những áng thơ của thời của văn chương này. Có nhiều câu thơ đã đi vào tâm trí người đọc như những câu ca dao thân thương trong văn hóa Việt từ ngàn xưa. Nó đã xa mà sao vẫn rất gần ! Những thành tựu này không dễ dàng mà có, nó đã phải trải qua những cuộc vật lộn tư duy khó khăn và những thể nghiệm cay đắng mới đạt được. Khi các trào lưu tư tưởng mới lạ từ phương Tây ùa vào ồ ạt, chen lấn lẫn nhau, những cuộc tranh luận nảy lửa trên báo chí và trong xã hội giữa cái cũ và cái mới của các học giả đương thời về  nhân sinh quan, về nghệ thuật vị nhân sinh, nghệ thuật vị nghệ thuật, về cấu trúc thơ, về triết thi … đã thổi một làn gió mới trong sinh hoạt học thuật văn chương (mà Phan-Khôi đã được ghi nhận như một ngòi bút xông xáo hàng đầu[3]). Hình như bao nhiêu tích tụ trong  hồn Việt từ thời văn chương chữ Nôm còn chưa thoát khỏi cái bóng của Hán học với Nguyễn-Trãi, Nguyễn-Du, Hồ-Xuân-Hương, Bà Huyện Thanh Quan…, được làn gió  tư tưởng phương Tây mới mẻ tác động, đã thoát ra bay bổng cùng những con chữ Quốc-ngữ, với sức lan tỏa vô cùng mạnh mẽ trong toàn xã hội. Đó chính là công lao của các nhà thơ tiên phong đã thổi hồn Việt vào những con chữ  a, b, c… đến từ phương trời xa lạ. Họ đã làm nên một cuộc cách tân lớn, không chỉ trong thơ ca, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn hóa Việt nam đang gồng mình tiếp biến, vượt ra ngoài sự toan tính của chính quyền thực dân lúc đó.
 Cũng không hề muộn hơn, kể từ khi nhà văn Hoàng-Ngọc-Phách (1896-1973) sáng tác tiểu thuyết “Tố Tâm” vào đầu những năm 1920, văn xuôi Việt nam cũng bùng nổ với nhóm Tự Lực văn đoàn do Nhất-Linh cùng một số nhà văn khác thành lập vào năm 1933. Tự Lực văn đoàn có đề ra tôn chỉ mục đích rõ ràng : "Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ. Theo chủ nghĩa bình dân, không có tính cách trưởng giả quý phái. Tôn trọng tự do cá nhân. Làm cho người ta biết đạo Khổng không hợp thời nữa. Đem phương pháp Thái Tây áp dụng vào văn chương An Nam" [5] . Các tiểu thuyết của Tự Lực văn đoàn nổi bật tinh thần chống lễ giáo phong kiến, đề cập đến những vấn đề nông dân và nông thôn, đặc biệt đề cập đến  tình yêu đôi lứa với nhân sinh quan mới, hướng tới khái niệm tự do của phương Tây. Những “Nửa chừng xuân”, những “Hồn bướm mơ tiên”… có sức lan tỏa không kém gì Thơ mới trong xã hội đương thời. Cùng với Tự Lực văn đoàn, một loạt các nhà văn hiện thực cũng ra đời với những tên tuổi một thời vang bóng như : Vũ-Trọng-Phụng, Ngô-Tất-Tố, Nguyễn-Công-Hoan, Nguyên-Hồng, Nam-Cao, Kim-Lân, Nguyễn-Tuân v..v.. Các tác phẩm của họ đã để lại những hình tượng văn học không bao giờ phai lạt trong văn hóa Việt – những Chí Phèo, chị Dậu (**) - sinh ra từ nông thôn, những Xuân tóc đỏ, Tám Bính, giáo Thứ (**) - xuất hiện ở thành thị … Đó là các sản phẩm của xã hội xáo trộn văn hóa Đông-Tây – một điều tất yếu mà văn hóa Việt nam phải đối mặt ở thời kỳ tiếp biến này. Nhưng hình như đó không chỉ là những hình tượng văn chương của một thời, chúng đã trở thành những hình tượng tạc vào nền văn hóa dân tộc mà ngày nay vẫn còn đâu đây, chung sống với chúng ta dưới các dạng khác nhau trong xã hội hiện đại. Các thời của văn chương kế tiếp chưa bao giờ tạo được những hình tượng văn chương sâu sắc mà chân thật đến như vậy. Và cũng thật lạ, vẫn chính các nhà văn, nhà thơ ấy, do biến động của xã hội, chuyển bút sang những thời của văn chương tiếp lấn, không còn đạt được những đỉnh cao như ở thời của văn chương này nữa. Phải chăng văn chương có thời của nó ? Điều này thật đáng để những người mang nghiệp văn chương hôm nay cùng suy ngẫm ...
Những câu thơ như say, như mơ , những nhân vật như thật, như khắc– đó là những sản phẩm của một thời văn chương –  thời của văn chương chữ Quốc-ngữ khởi đầu không thể nào quên. Nó đã vượt qua được thời gian để ghi lại dấu ấn trong nền văn hóa dân tộc, dù chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn ngủi đến kinh ngạc trong lịch sử – chưa đầy 50 năm – ngót một nửa thế kỷ. Điều đó cho thấy chữ Quốc-ngữ – chữ của kẻ xâm lược – ngay từ đầu đã được hồn Việt thổi vào lung linh bản sắc, làm nên một  thời của văn chương Việt nam. Cũng từ đây, người Việt nam không phải  nghi ngờ gì nữa việc chấp nhận chữ Quốc-ngữ trong nền văn hóa của dân tộc mình, điều mà chính kẻ xâm lăng cũng không thể ngờ tới khi đã từng nhận định : “Về lâu dài trong một tương lai xa, ngôn ngữ này (tức tiếng Việt – HTN) chắc sẽ tắt đi và để lại một số chữ trong tiếng Pháp tương lai của xứ này (Etienne Aymonier) [1].
Bài toán “giải Hán hóa” mà ông cha còn để lại đã được hoàn thành triệt để không chỉ đến một cách tình cờ, nó là thể hiện của sức sống của con người Việt luôn biết tìm ra con đường phát triển ở những thời khắc khó khăn nhất của lịch sử, với bút lực, bản lĩnh của các nhà văn, nhà thơ thắm đượm hồn Việt trong “cái tôi” được giải phóng – đó cũng chính là sức sống của văn hóa Việt đã được tôi luyện hàng nghìn năm trong lịch sử dựng nước và giữ nước.
Cũng chính vào những năm 1930 ấy, khởi nghĩa Yên-bái và phong trào Xô-Viết Nghệ-tĩnh đã bùng nổ, mục tiêu phải giành lại độc lập cho đất nước vẫn còn đó, báo hiệu một cuộc chiến tranh ý thức hệ còn mới hơn nữa cũng đến từ phương Tây qua con chữ Quốc-ngữ và nhanh chóng lan tỏa, tạo tiền đề cho một thời của văn chương chen lấn đã được đặt tên – thời của văn chương Cách mạng – mà chúng tôi sẽ đề cập đến trong một bài viết khác.
Như vậy, từ đây, với thời của văn chương này, chữ Quốc-ngữ đã vững vàng cùng văn hóa Việt bước vào lịch sử của dân tộc Việt nam. Nếu văn hóa chữ Nôm có gần 10 thế kỷ để phát triển thì văn hóa chữ Quốc-ngữ, đến thời điểm thời của văn chương này, mới chưa đầy 1/2 thế kỷ. Thời gian ngắn ngủi với bao biến cố dồn dập nảy sinh từ các trào lưu tư tưởng trong xã hội và nghệ thuật ngoài truyền thống, đến từ phương Tây, chen lấn ồn ào theo chữ Quốc-ngữ lan tỏa khắp nơi, đã ảnh hưởng không nhỏ, hay có thể nói là vô cùng to lớn, đến văn chương Việt nói riêng và văn hóa Việt nói chung. Sự thật là nền văn hóa Việt nam tiếp biến – văn hóa chữ Quốc-ngữ – cùng với văn chương chữ Quốc-ngữ, từ lúc gặp gỡ với phương Tây, chưa lúc nào được “bình tâm” để định hình. Sự xáo trộn văn hóa, chủ yếu là văn hóa Đông-Tây, từ lĩnh vực tư tưởng đến văn hóa sống vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay (chứ không chỉ là sự giao thoa văn hóa bình lặng !). Nó đã tạo nên không ít các thời của văn chương chèn lấn, xô đẩy, lẫn lộn, thậm trí phủ định, triệt tiêu lẫn nhau. Nhưng rõ ràng rằng, thời của văn chương những thập niên đầu thế kỷ XX, với các thành quả của nó, đã đánh dấu một bước chuyển mình mới của văn chương Việt nam – từ văn chương chữ Nôm sang văn chương chữ Quốc-ngữ, và đã tác động không nhỏ đến việc tiếp biến từ văn hóa chữ Nôm sang văn hóa chữ Quốc-ngữ, dù chưa kịp hoàn thiện mình, để lại con đường văn chương còn nhiều sáng tối về sau …
Nhắc qua một thời của văn chương trên đây để thấy lại vai trò tiên phong của văn chương quan trọng như thế nào với sự phát triển của một nền văn hóa nói chung, nhất là ở những thời khắc đặc biệt, khi văn hóa bị xáo trộn dữ dội bởi tình hình chính trị, xã hội và sự hội nhập thế giới (như hôm nay ?). Đã hay, văn chương là tấm gương phản chiếu xã hội, nhưng rõ ràng văn chương cũng đã góp phần làm thay đổi bộ mặt văn hóa và tác động không nhỏ vào sự thay đổi của xã hội. Để có được điều đó, không gì khác, chính là sứ mệnh mà các nhà văn, nhà thơ phải âm thầm gánh lấy bằng các tác phẩm sáng tạo máu thịt của mình, như lớp cha- anh đã làm ở những năm đầu thế kỷ XX – làm văn chương theo đúng nghĩa nhân văn cội nguồn của nó – thứ văn chương không phải chỉ của một thời và cho một thời. Đó phải chăng là bài học của một thời của văn chương chữ Quốc-ngữ – một bước ngoặt không chỉ riêng với văn chương mà là của cả nền văn hóa Việt nam, mà âm hưởng của nó vẫn còn vang vọng đến tận hôm nay … 
   
(MỘT THỜI CỦA VĂN CHƯƠNG – Phongdiep.Net-VNTrẻ)
(Một thời của văn chương - Tonvinvanhoadoc.vn)
(MỘT THỜI CỦA VĂN CHƯƠNG – Bichkhe.org)
(*)  Thơ của Nguyễn-Bính, Tế-Hanh, Lưu-Trọng-Lư      
(**) Các nhân vật của Nam-Cao, Ngô-Tất-Tố, Vũ-Trọng-Phụng, Nguyên-Hồng    
   Tài liệu tham khảo :
[1] Hoàng Thư Ngân – Cái chết của chữ Nôm - bước ngoặt của văn hóa Việt nam spacer  – Phongdiep.Net , tháng 12 / 2010 .
[2]  GS.Trần Quốc Vượng – Nguyễn Trãi trong bối cảnh văn hoá việt nam  (Bài giảng chưa được thẩm định – Nguồn vnthuquan.net)         [3] Lại Nguyên Ân - Hồ sơPhan Khôi  – nguồn: Internet .     
[4] Một số tờ báo tiêu biểu từ khởi thuỷ đến năm 1945 – Nguồn: Trang Thông tin Điện tử Thành phố Đà Nẵng - 17/07/2010 .
[5]  Bách khoa toàn thư mở Wikipedia – Mục từ: Phong trào thơ mới, Tự lực văn đoàn, Nguyễn Văn Vĩnh, ....                                       
[6] Phạm Xuân Thạch – Ba thập niên đầu thế kỷ XX và sự hình thànhtrườngvănhọcởViệtNamwww.vanhoanghean.com.vn/tapchi/...  
[7] Ts. Nguyễn Văn Nở (Đại học Cần Thơ)– Tính giao thời- nét đặc trưng của văn học giai đoạn 1900-1930 – nguồn: Internet.
Hà Nội, 2/2011
 Hoàng Thư Ngân
Theo http://tritanplus7.webnode.vn/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Từ lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đến đấu bò tót Tây Ban Nha: Tương đồng và khác biệt

Từ lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đến đấu bò tót Tây Ban Nha: Tương đồng và khác biệt Mỗi nền văn hóa đều phản ánh cách một cộng đồng nhận thức, ...