Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2015

Văn chương và nỗi buồn

Văn chương và nỗi buồn
Không khó để nhận ra rằng, những tác phẩm đạt đến trình độ cổ điển của văn học thế giới đều là những câu chuyện buồn về cuộc đời và tình người....  Đặng Văn Vũ        
  Có ai đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du mà không bị ám ảnh bởi tiếng đàn của Thúy Kiều. Thúy Kiều là người con gái tài sắc vẹn toàn. Cái tài của nàng thể hiện rõ qua tiếng đàn và tiếng thơ. Trong Truyền Kiều, Kiều đánh đàn rất nhiều lần nhưng được Nguyễn Du mô tả âm thanh của tiếng đàn chỉ có bốn lần. Hai lần nàng gảy cho Kim Trọng nghe, một lần cho Hoạn Thư và một lần cho Hồ Tôn Hiến. Lần đầu tiên Kiều đánh đàn trong cảm giác hạnh phúc vô biên của mối tình đầu, ba lần sau nàng gảy trong niềm đau đớn tột cùng. Thế nhưng tiếng đàn đầu tiên lại là một giai điệu du dương của nỗi buồn:
   Trong như tiếng hạc bay qua
   Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.
   Tiếng khoan như gió thổi ngoài
   Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
   Ngọn đèn khi tỏ khi mờ
   Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu.
  Tại sao tiếng đàn của Thúy Kiều lại buồn đến như vậy? Có người cho rằn dụng ý của Nguyễn Du muốn dự báo cho cuộc đời buồn đau của nàng sau này. Cách hiểu này không có cơ sở. Vì Kim- Kiều vừa mới thề nguyền xong, hai người đang ngất ngây trong men say hạnh phúc nên không thể nghĩ đến điều bất hạnh. Ngay ở chỗ này, tôi chợt nghĩ đến cái buồn của văn chương, nghệ thuật.
   Không khó để nhận ra rằng, những tác phẩm đạt đến trình độ cổ điển của văn học thế giới đều là những câu chuyện buồn về cuộc đời và tình người.
   Đời sống vật chất luôn hướng về phía trước, nhưng đời sống tinh thần của con người trường quay trở về phía sau, phía hoài niệm của những ngày xưa thân ái. Văn chương là gì nếu không phải là thế giới hồi ức của con người? Vẫn có những tác phẩm viên tưởng nói chuyện tương lai, mai sau nhưng nó rất ít. Đa số vẫn là chuyện của những gì đã qua. Nhà văn Nga Sécnưsépxki nói: “Tác phẩm nghệ thuật thường chỉ là cái cớ cho những mơ tưởng và hồi ức. Sức mạnh của nghệ thuật, nhất là của thi ca, thường là sức mạnh của hồi ức. Tác phẩm nghệ thuật có năng lực đặc biệt khêu gợi những hồi ức của chúng ta”. Tác phẩm văn chương chính là những câu chuyện kể của nhà văn. Bản thân khái niệm “kể” đã chứa đựng ý niệm về quá khứ. Cái quá khứ này có thể rất gần với hiện tại, nhưng dầu sao chỉ cách hiện tại một giây cũng đã là quá khứ. Nhưng nhiều khi, trong những chiều kích khác nhau của cảm giác thì “Xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua” (Xuân Diệu). Quá khứ luôn có mặt ngay trong hiện tại và nó có xu hướng kéo tương lai về phía mình.
   Chuyện trong truyện là những chuyện đã xảy ra cách xa so với thời điểm nhà văn viết (“chuyện” và “truyện” là những khái niệm khác nhau, khi câu chuyện ngoài cuộc sống được đưa vào tác phẩm thì gọi là “truyện”- Nguyễn Thái Hòa). Nguyễn Du viết Truyện Kiều vào khoảng năm 1812, nhưng chuyện là vào “năm Gia Tĩnh triều Minh (1522-1566). Chiến tranh và Hòa bình được L.Tônxtôi viết năm 1864 nhưng chuyện được xây dựng trên hai cuộc chiến tranh 1805 và 1812, và cuộc sống hòa bình từ năm 1805 đến 1830 ở nước Nga. Victor Hugo hoàn thành Những người khốn khổ năm 1862, nhưng chuyện của nó là vào những năm 1832, v.v…Những tiểu thuyết hay của Việt Nam thời kỳ hiện đại đều là những tác phẩm kể về quá khứ như Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, Thời xa vắng của Lê Lựu…Như vậy, văn chương là thế giới của “thời xa vắng”, và bao trùm lên thế giới ấy thường là nỗi buồn của người nghệ sĩ.
  Một nền nghệ thuật chỉ biết hoan hô là nền nghệ thuật hời hợt, thiếu sức sống. Một nền nghệ thuật mà không biết buồn, không được buồn là nền nghệ thuật chết.

  Đọc Đôn Kihôtê của Xecvantex, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng nhiều lúc ta cười đến lộn ruột. Nhưng khi gấp cuốn sách lại, tức thì một nỗi buồn cứ xâm chiếm tâm hồn ta. Có thể nói rằng, trong sâu thẳm của niềm vui là nỗi buồn. Tiếng đàn của Kiều dạo trong miền ký ức xa xăm: khúc Tư Mã Phượng Cầu, khúc Quảng Lăng, khúc Chiêu Quân, tất cả là ngơ ngẩn sầu. Điều đó nói lên rằng bản chất nghệ sĩ trong con người Thúy Kiều là cái sầu muôn thuở. Và đó cũng là đặc điểm chung của người nghệ sĩ. Hơn ai hết, nghệ sĩ là người rất giàu tình cảm, biết buồn và hay buồn, đôi khi “tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Buồn là một tình cảm nhân văn. Khi buồn, người ta sống với chính mình, ý thức sâu sắc hơn, cảm nhận được nhiều hơn. Khi buồn, khi nhớ, khi thương lòng trắc ẩn dễ được đánh thức nhất, trái tim dễ rung động nhất nên tình cảm thường là dạt dào nhất. Mà nghệ thuật chính là trái tim. Nghệ thuật luôn được khởi đầu từ những rung động mãnh liệt của trái tim chứ không phải từ sự tính toán của khối óc. Khi nỗi buồn xâm chiếm tâm hồn cũng là lúc nàng nghệ thuật quyến rũ con tim. Tiếng lòng thê thiết là dải lụa mềm để nghệ sĩ may chiếc áo thướt tha khoác lên tấm thân ngọc ngà của nàng nghệ thuật. Nhiều người nói một cách có lý rằng, nếu Hàn Mặc Tử không bị căn bệnh nan y thì liệu tiếng thơ của anh có da diết đến như vậy? Nếu Nguyễn Bính không có đơn thì liệu người đời có được những câu thơ mênh mang buồn như thế không? Và Xuân Diệu luôn hạnh phúc trong tình yêu thì liệu anh có được mệnh danh là “Ông Hoàng của thơ tình”? v.v…
  Trong đời sống tình cảm của con người ai cũng thích vui hơn là buồn. Vì vui đem lại cho người ta cảm giác phấn khích, hứng khởi làm quên đi những lo toan, mệt nhọc trong công cuộc mưu sinh đầy khó khăn. Bởi vậy cuộc sống luôn đầy ắp tiếng cười. Và người ta có xu hướng hài hước hóa hiện thực để quẳng gánh lo. Tuy nhiên con người cũng rất cần cái buồn. Có những cái buồn làm cho ta ảo não, nhưng cũng có những cái buồn làm đẹp tâm hồn mình hơn. Văn chương thường đem đến cho ta những nỗi buồn như vậy. Làm được điều đó, văn chương đã thực hiện được nhiệm vụ cao quí của mình, đó là bồi đắp tâm hồn, nâng tầng cảm xúc. Cái buồn “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo” của Bà Huyện Thanh Quan, cái cô đơn “Sông dài trời rộng bến cô liêu” của Huy Cận, cái xa xăm“Cứ lặng rồi đi rồi khuất bóng/ Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi…” của Nguyễn Bính, cái mênh mông xa vắng “Ô hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông” của Bích Khê v.v…vẫn luôn đồng vọng trong cõi tình mê đắm. Niềm vui nào rồi cũng đi qua, chỉ còn cái buồn đẹp là ở lại mãi mãi.
   Nghệ sĩ chân chính là người mang lại thật nhiều những giá trị thẩm mỹ cho cuộc đời, đem đến cho con người những cảm xúc nhân văn. Giữa cái bi và cái hài thì rõ ràng cái bi có sức lắng đọng nhiều hơn. Người ta thường nhớ đến kỷ niệm buồn, sự đau khổ nhiều hơn là kỷ niệm vui, sự sung sướng. Trong ký ức của con người luôn đầy ắp những câu chuyện buồn. Tái hiện điều đó, người nghệ sĩ đã chạm vào, khơi dậy những nỗi niềm sâu kín và thân thương nhất của con người.

  Tác phẩm văn chương có sức lay động mãnh liệt nhất, để lại những ấn tượng sâu đậm, đem lại những cảm xúc dạt dào nhất là những tác phẩm về tình yêu và nỗi buồn. Nỗi buồn, theo đó, luôn là “nhân vật chính” của văn chương nghệ thuật. Ngàn đời nay và muôn đời sau có lẽ vẫn vậy.
Nguồn: Vutrieu.webnode.vn
Theo http://tritanplus7.webnode.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Từ lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đến đấu bò tót Tây Ban Nha: Tương đồng và khác biệt

Từ lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đến đấu bò tót Tây Ban Nha: Tương đồng và khác biệt Mỗi nền văn hóa đều phản ánh cách một cộng đồng nhận thức, ...