Không hiểu sao tháng rồi tôi liên tục đọc những trang viết đầy
những lời quê gan ruột. Nhà văn Nguyễn Đặng Mừng, người Triệu Phong, Quảng Trị
sống ở Sài Gòn ra Huế tặng tôi tập truyện ngắn Bóng chiều hôm (NXB
Hội Nhà văn, 2009), viết đặc tiếng quê mùa Quảng Trị: miềng, tui, eng, ả,
toóc, rạ, chạc, dợ, mô, tê, cươi, tréc keng, răng, rứa… Mừng kể chuyện đời
thằng Thỉ, đời chị Mịn, đời chú Gàn, đời chú Rìu… bằng cái tiếng quê ấy, đọc mà
rưng rưng. Câu chuyện nào cũng thảng thốt cái tình quê dân dã rất cuốn hút. Tôi
là dân nửa Quảng Bình, nửa Quảng Trị. Mạ tôi người làng biển Thử Luật, Vĩnh
Thái, Vĩnh Linh, nên đọc cái lời quê ấy thật đã, nghe thăm thẳm chuyện đời.
Người quê Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế nói giống nhau, cũng những từ chân
quê ấy, chỉ khác là Quảng Bình, Quảng Trị nói giọng nặng hơn, còn Thừa Thiên
thì lại thêm cái đuôi ng sau các từ như ăng, mầng… Mạ
tôi ngày xưa thuộc nhiều ca dao tục ngữ lắm. Mạ có thể ru cháu suốt ngày bằng
ca dao mà không lặp lại: Rồi mùa toóc rạ rơm khô/ Bậu về quê bậu biết
nơi mô mà tìm… Ru em em théc cho muồi/ Để mạ đi chợ mua vôi ăn trầu…
Rồi tuần trước, bác Đoàn Duy Tăng, cũng người Thượng Phước, Triệu
Thượng, Triệu Phong, là U80, không hiểu răng biết địa chỉ của tôi mà gửi ra tập
sách mỏng có tựa đề là Tiếng quê (tự làm vi tính), trong đó có
bài thơ Tiếng quê, dài tới 127 khổ thơ (tức 508 câu thơ). Bác
Đoàn Duy Tăng là người từng dịch thơ Đường 3 tập (I, II, II), dịch Thơ chữ Hán
Nguyễn Du (2 tập), nên chắc chắn bác là người rất am tường chữ nghĩa. Thế mà
khi về già, lại nghĩ về tiếng quê. Bài thơ ấy bác Tăng làm để giải
thích cho những người miền Bắc, miền Nam chưa từng về miền Trung những từ quê
dân dã Quảng Trị: “Đòn triêng là đòn gánh/ Cái sân gọi là cươi/
Quét nhà gọi là xuốc/ Xuốc cươi đi em ơi!”, hay:
“Đã tra trôốc môốc trọ/ Mà có vẻ dại khờ/ Người quê
mình chân chất/ Nhưng nỏ hề ngu ngơ”. Tra trôốc mốốc
trọ: Tra là già, trôốc là đầu, môốc là
mốc meo, bị mốc, trọ cũng là đầu, tức cái sọ. Câu ấy có nghĩa
là già rồi, sọ mốc rồi mà vẫn dại, mà không chịu tử tế. Đọc bài thơ Tiếng
quê của bác Tăng tôi biết thêm nhiều từ quê mình đã quên mất: Nhớ
trưa hè nóng nực/ Xuống rào sương nác troong/ Hai đầu hai cái đôộc/ Em sương
chạy băng băng. Rào, nác, troong, sương… thì tôi biết rồi. Còn cái độộc tức
là cái vò, cái lu để đựng nước thì tôi quên mất, giờ được đọc lại, sướng rơn.
Có lần tôi ra Đông Hà chơi, ngồi uống với nhà thơ Nguyễn Văn Dùng (hiện là phó
chủ tịch Hội VHNT Quảng Trị), tôi bảo: “Mần cái gì sơ sơ, đỡ tốn tiền”. Anh
Dùng bảo: “Lo chi, bạc nhiều thì uống nhiều, bạc ít
thì uống bưa bưa thôi”. Ôi, mấy chục năm rồi tôi mới nghe nói
từ bạc, tức là tiền. Tôi cứ nôn nao khi nghĩ cái âm bạc nó
chính xác hơn âm tiền, khi nói về sự giàu nghèo ở đời. Bạc vần trắc
cái trắc trở khó kiếm, còn tiền vần bằng không tương xứng với công lao sinh ra
nó! Rồi chữ bưa bưa nữa, tôi nghe như nghe lần đầu, nhưng hiểu
ngay và xúc động như tìm lại được chính mình.
Tôi xa quê đã hơn 40 năm. Quê tôi ở làng Thượng Luật, xã Ngư Thủy,
Quảng Bình (bây giờ là Ngư Thủy Trung) nên nói tiếng giống người Quảng Trị. Do
là nhà văn, nhà báo nên tôi rất ý thức được giá trị của tiếng quê. Dù khi đi vô
Nam ra Bắc, nói “tiếng phổ thông” để người khác hiểu mình, khi về làng là tôi
đều nói tiếng quê cho thỏa thích. Có lần tôi ra Hà Nội họp cơ quan (báo Thương
Mại trước năm 2005), vì thấy anh em xung quanh toàn quen thân thiết cả, nên khi
phát biểu ý kiến tôi xổ ra một lô một lốc toàn tiếng quê. Anh chị em ở miền Bắc
ngẩn tò tè chẳng hiểu mô tê gì, bảo tôi: “Anh nói bọn em chẳng hiểu gì cả!”.
Tôi cười: “Các em chịu khó học tiếng miền Trung mà nghe, anh nói hay lắm đấy!”.
Mỗi lần về quê giỗ chạp, tôi nói rặt tiếng quê. Các bác già trong làng cứ mắng
mấy đứa mới đi ra Hà Nội, vô Sài Gòn một vài năm đã nói giọng khác: “Tổ cha
bay, bay thấy eng Khôi (tên khai sinh của tôi) đi khắp thiên hạ bốn chục năm
chục năm ni, về làng là nói tiếng quê miềng. Còn bay mới đi ba bựa đã đổi
giọng!”. Quả thực nói tiếng quê miềng nó sướng cái lưỡi hơn khi phải nói tiếng
quê người. Tha hồ miềng chợn chắc/ Cho thỏa nỗi dớ dung… Lùm
lùm đôi bồng đảo/ Ngực đầy bun gái quê… vì ham chơi dáchọc/
Đành bấm rọt chịu đau… (Tiếng quê - Đoàn Duy Tăng)
Tôi cũng có một kỷ niệm rất sâu sắc về tiếng quê, mà tôi đã viết
trong bài hồi ức Đêm nói tiếng Quảng Trị ở Lộc Ninh. Đó là đầu năm
1973, ở mặt trận Lộc Ninh, chúng tôi gặp các chị người Quảng Trị, Thừa Thiên bị
tù đày nay được trao trả theo Hiệp định Paris về Việt Nam. Xin trích lại đây
một đoạn các chị hỏi các em có thiệt người Quảng Trị miềng không: “…chị Ngân,
người lớn tuổi nhất bỗng nói một câu dài bằng “tiếng Quảng Trị”:
- Mấy út nói mấy út người Quảng Trị miềng, mấy ả mờng hung lắm!
Răng mấy út nỏ nói tiếng Quảng Trị mô cả. Út mô nói một câu chi thiệt dài rặt
tiếng Quảng Trị miềng coi?
· Như bấm đúng huyệt, căn
phòng chú Sáu bỗng rôm rả hẳn lên. Đảm và Trung tranh nhau, hích vào vai nhau
để giành nói. Chị Ngân thấy Trung trẻ nhất đám, chỉ vào nó: “Út ni”. Trung vốn
là dân lém lỉnh, có tài kể chuyện, nên được chị Ngân chỉ định nói “tiếng” Quảng
Trị, mắt nó long lanh rồi hấp háy, hai tay xoa xoa vào nhau làm bộ điệu:
- Mấy ả ơi, mấy ả mần răng cho tui mạn cấy vá tui múc vá mói tui
nêm tréc keng bù để tui bơng cho mệ tui một đọi, mệ tui húp cho mát rọt! (Mấy
chị ơi, mấy chị làm sao cho tôi mượn cái muôi tôi múc muôi muối tôi nêm nồi
canh bầu để tôi bưng cho bà tôi một bát, bà tôi ăn cho mát ruột)
· - Rứa là thiệt người quê
miềng đặc sệt rồi, chi nữa - chú Sáu cười ha hả, quờ tay xuống gầm tủ lôi ra
chai rượu...
Chuyện “tiếng quê” bây giờ đã vào văn học nhiều. Như ngôn ngữ
trong truyện ngắn Nguyễn Đặng Mừng mà tôi đã kể trên. Xin trích thêm một đoạn
trong bài Đêm nói tiếng Quảng Trị ở Lộc Ninh, đoạn nói về thơ Hồ
Vi. Tôi cũng nói tiếng Quảng Trị và đọc thơ Hồ Vi:
Mấy bữa ni rồi trời thiếu nắng
Chừng chưa bưa lụt nước còn cao
Khi hôm bộ đội hành quân tới
Trấn thủ dầm phơi chật cả sào.
Mạ mi đem dủi ra ngoài ruộng
Kiếm ít đam cua chút của đồng
Thêm đôi ba miếng anh em đỡ
Của nhà quê kiểng buổi thu đông…
Bài thơ “Lời quê” của Hồ Vi không ngờ lại làm cho không khí đêm
vui trầm xuống, thâm nghiêm, xao xuyến. Chị Ngân bắt tôi đọc lại bài thơ một
lần nữa, đọc rõ từng tiếng một. Vâng, “lời quê” đã vào thơ, đã vang lên trong
tâm khảm, kéo con người về với cội nguồn. Nhiều chị rút khăn mùi xoa chấm, đôi
mắt đỏ hoe. Tôi vừa đọc thơ vừa ghìm giữ để không bật khóc!
Nhà thơ Hồ Vi viết thơ bằng ngôn ngữ dân quê: bữa ni, chưa
bưa, khi hôm, mạ mi, dủi, đam cua, quê kiểng… mà không cần chú thích
gì cả, người đọc cả nước cũng hiểu. Trong bài thơTrường tương tư viết
từ 75 năm trước, nhà thơ Hàn Mặc Tử cũng dùng ngôn ngữ quê mùa: Hiểu gì
không, ý nghĩa của trời thơ/ Của hương hoa trong trăng lờn lợt bảy… Chữ bảy trong lờn
lợt bảy là tiếng quê Quảng Bình, Quảng Trị. Bảy tức là bay. Nhưng
trong bài thơ này, chữ bảy hay hơn, hình khối hơn hơn chữ bay nhiều.
Với nhà thơ Nguyễn Hữu Quý, quê Quảng Bình, từng là bộ đội ở Đông Hà, Quảng Trị
hơn chục năm liền, tình yêu quê hương đã hòa trong máu thịt của mình, nên anh làm
thơ bằng tiếng quê hay như hát. Đây là một đoạn trích trong trường ca Ơicủa
nhà thơ quân đội Nguyễn Hữu Quý:
Về quê tôi thích nói
tiếng quê
cầm chủi (chổi) quét cươi (sân)
lấy đao (dao) phát cỏ
rót nác (nước) mời chắc (nhau)
đọi (bát) cơm, chiếc vá (muôi)
đi mô (đâu) đường ngái (xa)
lấy cấy (vợ) chọn tôông (tông)
lấy giôông (chồng) coi giôống (xem giống)
côi trôốc (trên đầu) có Trời
liệu đàng (đường) mà sôống (sống)...
cầm chủi (chổi) quét cươi (sân)
lấy đao (dao) phát cỏ
rót nác (nước) mời chắc (nhau)
đọi (bát) cơm, chiếc vá (muôi)
đi mô (đâu) đường ngái (xa)
lấy cấy (vợ) chọn tôông (tông)
lấy giôông (chồng) coi giôống (xem giống)
côi trôốc (trên đầu) có Trời
liệu đàng (đường) mà sôống (sống)...
Tôi luôn kính trọng và yêu mến những nhà thơ dùng tiếng quê của
mình trong sáng tác văn học như thế. Vì nó vừa là thái độ yêu quý và gìn giữ
tiếng mẹ đẻ của mình, vừa là một cách làm giàu cho ngôn ngữ văn học nước nhà.
Viết đến đây tôi lại nhớ bài thơ Tiếng Nghệ của
nhà thơ bạn vong niên của tôi Nguyễn Bùi Vợi. Đọc thơ anh Vợi, tôi thấy tiếng
quê xứ Nghệ đa phần cũng chẳng khác chi tiếng Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên: “Cái gầu thì bảo cái đài/ Ra sân thì bảo ra ngoài cái cươi/
Chộ tức là thấy mình ơi/ Trụng là nhúng đấy đừng cười
nghe em/ Thích chi thì bảo là sèm/ Nghe ai bảo đọithì
mang bát vào/ Cá quả lại gọi cá tràu/ Vo troốc là bảo gội đầu
đấy em…/ Nghe em giọng Bắc êm êm/ Bà con hàng xóm đến xem chật nhà/ Răng chưa
sang nhởi nhà choa/ Bà o đã
nhốt con gatrong truồng…
Quả thực tiếng quê dân dã đã ngấm vào hồn những người con sinh ra
từ đất mẹ và ngày càng trở thành một thứ ngôn ngữ văn chương khu biệt, kỳ thú.
Nhà văn người miền Trung mà không biết dùng tiếng quê trong sáng tác của thì
thật đáng tiếc, vì đã bỏ phí đi một nguồn chất liệu sinh động và thẳm thắm
nhất.
Ngô Minh


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét