Tro tàn rực rỡ
TCCV Online - Lúc đó nửa đêm rồi, lửa cao ngọn lắm. Cao
hơn đọt dừa. Tàn đóm tán loạn mỗi khi gió thổi qua quăng quật đống lửa. Mấy cây
trúc ven vách chịu nóng không nổi, vặn xoắn lại trước khi nổ như pháo chuột.
Lần này nhà không lợp ngói nên không nghe ngói nổ, lửa cháy
coi bộ êm đềm. Không giống như cây rơm trước sân cháy bạo phát bạo tàn, nhà của
Tam và Nhàn cháy rất lâu, ánh sáng của nó rọi xa đến tận từng nóc nhà của xóm
Thơm Rơm.
“Cô lại bỏ chị em con Tí để chạy lại đó? Đã nói rồi, hay ho
gì mà nửa đêm lặn lội…” - chồng càu nhàu trong tiếng võng đưa kèn kẹt. Em ấn mạnh
thớt gỗ trên vào trái chuối, hai bả vai ê ẩm. Hôm nay chắc lại mưa chiều, mớ
chuối ép phơi không đặng nắng, thâm xịt lại dưới bóng mây cụm ba cụm bảy. Mùi mật
chuối đặc sệt trong sân, đầu mũi em như ướt đẫm đường.
- Ông Tam đốt nhà phải đến năm lần rồi - Em nhẩm tính bằng mấy
ngón tay đen kịt mủ chuối.
- Thì lần nào cũng như lần nấy, mắc gì phải coi.
Không phải, chồng chưa từng nhìn thấy một đám cháy nào nên chẳng
biết mỗi đống lửa mang một mùi khác nhau. Mùi những con mối cánh bén lửa, mùi
lá mục, hay mùi nhựa khét xộc ra từ tấm bạt xóc nóc nhà và những sợi dây câu.
Em phân biệt được đám cháy nào có mùi những con chuột bị nướng trui trên mái
ngói, hay những cái trứng kiến quá lửa, đám cháy nào lẩn khuất mùi cơm sôi do
Nhàn đang bắc nồi cơm lên bếp thì đằng trước Tam rê quẹt gas vào mái lá…
Em có thể nhớ mồn một những lần nhà Nhàn cháy, nhớ bao lâu
thì đám cháy rụi đi. Và tàn tro của chúng cũng khác nhau, ít dần ít dần, có khi
gom lại không đầy hai thúng. Đám cháy đầu, nhà Nhàn còn trơ được bộ cột cái
cháy sém và những mảnh ngói vỡ ám khói. Ngôi nhà tương đối khang trang đó là
quà ra riêng hai bên sui gia góp lại.
Sau này, lửa nhấm nháp đến trơ ra nền đất rám mặt, vì nhà của
vợ chồng Nhàn ngày càng tạm bợ. Nhàn cười, nói với em: “Trước sau gì anh Tam
cũng đốt, làm tử tế chi uổng công. Tụi này cũng đâu có khá giả gì”. Và cái tối
vừa rồi, thứ dào dạt tan đi trong lửa chỉ là cái chòi cột cặm, không hơn.
- Nhưng nó cháy lâu lắm, lâu nhất từ trước tới giờ.
Em nói, khi hai bả vai đau nhừ nhẫm lại gồng lên lần nữa.
Trái chuối bẹt ra như một bàn tay xòe. Nghe cái mùi tóc hơi tanh cá và khét nắng
của chồng phảng phất ở lưng. Mai chồng đi, mùi ấy còn vướng vất lại trên võng đến
cả tuần, hành hạ em tới ổ.
Em thường kể lại mấy vụ cháy Tam gây ra vì chồng không bao giờ
chạy đến đó, kể cả lúc ghe biển vào bờ và chồng về thăm nhà. Tỉnh rụi và dửng
dưng, như vợ chồng Nhàn chưa bao giờ là xóm giềng, bè bạn. Dù vậy, em lại nghĩ
là chồng muốn biết chuyện Nhàn làm gì sau mỗi bận nhà cửa hóa tro than.
- Chị Nhàn không khóc đâu, tỉnh bơ luôn…
Bới tàn tích ra chỉ mấy cái nồi cà ràng còn nguyên vẹn, chị
đi dài xóm xin gạo, mót mớ củi ngoài sân nấu cơm. Ăn cái đã, rồi sống tiếp. Tam
không bao giờ ăn cùng, anh không đói. No nê thỏa thuê, bụng căng đầy lửa, anh
ngủ đến cả ngày sau. Nằm vạ vật bất cứ chỗ nào.
Nhàn không bao giờ xin gạo ở nhà em nhưng có lần hỏi mua ít
lá dừa nước. Em bảo tụi mình với nhau mà bán chác gì, em cho, có mấy cây so đũa
bên hè, chị đốn luôn đi. Nhàn nhặt nhạnh, kết lại cái tổ đủ hai vợ chồng chị
chui ra chui vào. Nhìn chị kéo mớ lá về, đuôi lá quét lên cỏ một vệt ướt đẫm,
em không làm sao nhịn được việc nghĩ đến kết cuộc của chúng: một đống tro than.
Ý nghĩ ấy nếu biến thành lời người ta sẽ cho em là đứa ăn nói xui xẻo, trù ếm.
Nhưng ở cái xóm Thơm Rơm này, ai mà không biết Tam say xỉn suốt ngày, và những
lúc ấy anh ta hay lên cơn tủi thân. Chỉ vì Nhàn mệt quá ngủ quên không ngồi chờ
bên cửa, chỉ vì con chó hàng xóm sủa dữ quá, và Tam nghĩ “nó khinh ta”, hay vì
cái rễ cây me tây gồ lên khỏi mặt đường làm anh ta vấp té.
- Phải khóc được thì tôi đâu có đốt nhà. Tam phân trần, mặt
hiền queo xẻn lẻn.
Má Tam bảo Nhàn bỏ thằng trời đánh phứt cho rồi. Bây muốn ở vậy
thì ở với má, bằng không lấy chồng khác má cũng cúng heo ăn mừng. Chị kêu trời
đất, con mà bỏ ai cất nhà cho ảnh đốt, lỡ đốt nhà hàng xóm, kỳ lắm. Bà già đó
thở hắt ra, điệu bộ của ông thầy lang đứng trước con bệnh không thuốc chữa, sau
khi dỗ dành chúng tôi đã cố gắng hết sức. Từ phát hiện chồng có thể tủi thân chỉ
vì cọng cỏ, ngọn gió chướng, tiếng chim kêu nước… Nhàn mang gởi những thứ chị
nghĩ là cần thiết, để lúc lửa bén nóc nhà chị chỉ cần vơ lấy cái kẹp tóc rồi
lách mình khỏi đám cháy sắp bùng lên, chị kiếm một chỗ ngồi nhìn Tam.
Nhưng trong mắt Tam chỉ có đám cháy rực rỡ. Không có Nhàn.
Như mọi đàn ông ở cái xó quê này, họ thường không còn nhìn thấy vợ mình chỉ sau
đám cưới vài ba tháng, nhiều lắm là vài ba năm. Có khi đứng, khi quỳ, giữ một
khoảng cách vừa phải với lửa, Tam say đắm, tê mê ngắm chúng cho đến khi những
cái lưỡi đỏ khát thèm liếm láp đến mẩu gỗ cuối cùng. Vẻ mặt rạo rực đó là của một
con người khác, không còn là thằng Tam nghèo, chịu nhiều mất mát. Xóm giềng hồi
đầu còn xúm lại tát nước cứu nhà, rồi thấy thằng chồng say sưa đứng ngó mái lá
bị lửa ăn rào rào, và con vợ thì đắm đuối nhìn chồng, cả hai không có vẻ gì xa
xót. Bà con nản, “thôi kệ cha cái tụi mắc đằng dưới, nghèo mạt rệp không lo, đốt
nhà coi chơi là sao là sao là sao?”.
Em cũng đến đám cháy như một người coi hát. Vở tuồng của những
con người đổ nát. Hồi con Tí còn nhỏ em bồng nó theo, rồi kệ nó ngủ trên tay,
em ở đó cho đến khi lửa rụi tàn. Thứ ánh sáng lộng lẫy đó xáo động em đến cả mấy
tháng sau. Em thấy mình chính là Nhàn kia, một con đàn bà thèm khát được chồng
nhìn thấy.
Em, chồng và Tam, Nhàn cưới nhau cùng năm. Tam và Nhàn cưới
trước, hai bảy tháng hai. Em nhớ vì đêm hai sáu đi đám đãi bạn ở nhà Nhàn về,
em và chồng (lúc ấy chưa gọi là chồng) cùng say, ngọn đuốc trên tay anh lắc lư
trên con đường xóm. Rồi tự dưng anh dừng lại, nhìn em mê dại. Cái nhìn ngây ngất
và bừng cháy ngay cả khi anh quăng con cúi xuống sông. Tàn đóm lịm trong làn nước
tối thẫm. Một cách dứt khoát, anh vùi em vào trong một đống rơm, vùi vào giữa
hai đùi em cơn nóng hổi.
Năm đó em mười bảy tuổi, bốn tháng sau mới biết mình đang
mang bầu. Suốt từ cái đêm nằm trên rơm đến khi bụng em phình ra không cứu vãn
được, anh không gặp em. Anh ngoắt tàu đò ra cửa Gành Hào đi bạn cho ghe biển.
Chán ruộng đồng rồi, ra chơi với biển, anh bảo vậy. Chắc nụi, như một lời thề.
Như một cuộc trốn chạy. Một bữa má anh nhắn tàu đò kêu thằng con về gấp. Về cưới
vợ. Bụng con nhỏ chang bang rồi. Chắc anh mất nhiều thời gian mới nhớ ra con nhỏ
mà má nói là em, nhớ ra một đêm tối trời, say, đuốc chìm trên mặt nước, và mấy
cọng rơm cứ cọ vào bẹn nhột ran.
Đám cưới rước dâu bằng cửa sau, em lủn tủn tròn quay với cái
bụng đội áo. Cái khác biệt duy nhất mà đám cưới mang lại là em chuyển sang nhà
chồng sống, phụ mẹ chồng ép chuối phơi khô, bán cho thương lái. Chồng lại đi biển.
Em nối xứ Thơm Rơm vào chồng bằng những câu chuyện kể, lúc hết con nước, chồng
về. Ờ, cái hôm em sanh con Tí trăng sáng lắm, nằm trên xuồng ra trạm xá em cứ
nghĩ chắc là đẻ trên xuồng. Con nhỏ thiệt lì, láu ăn nữa, đem ra là mút tay
chóc chóc. Em lo là mẹ lẫn, hôm rồi lấy dầu lửa nhỏ mắt, gần đui. Chị Nhàn sinh
đứa thứ hai hơi khó, em bé chết lưu. Em đi thăm thấy chị cứ nằm co, kệ sữa ướt
đầm đìa áo. Ông Tam dạo này hay nhậu.
Em kể và kể, vờ như bâng quơ, chuyện nọ xọ chuyện kia, như nhớ
gì nói nấy. Như không phải em ấp ủ từng đêm trên cái giường trống hoác, những
gì nên kể, những gì mà em nghĩ chồng muốn biết nhất. Chúng làm chồng muốn về
nhà, để nghe. Cũng vài ba lần em hi vọng một vài câu chuyện nào đấy sẽ làm chồng
nhìn em ngây say như tối ấy, cái nhìn mà vì nó em đã không kêu khi lưng trần
chìm lút trong tấm thảm rơm. Em không kêu, chỉ tự gỡ mấy cọng rơm trên tóc, tự
cài cúc áo và lẳng lặng về. Ngồi đòng đưa trên cây khế mỗi khi thấy thèm chua,
em nhấm nháp cái ánh mắt nóng rực kia, dù biết vốn cũng không phải vì mình và
cho mình.
Nhưng có sao đâu, đêm đó bóng em in mắt anh, trọn vẹn. Ý nghĩ
đó làm em không khóc cả khi ba em bắt nằm dài ra bộ ngựa đánh bằng bất cứ gì
ông vớ được trong tay. Lúc ấy bụng đội lên làm người em không làm sao sát ván,
đầu và chân như hai phía của bập bênh, nhừ nhẫm vì roi vọt.
Nhưng cái nhìn đó không bao giờ em còn thấy lại. Cả khi em
nói anh ơi con Tí lại có em rồi, đạp mạnh lắm, chắc con trai. Mắt chồng vẫn tối,
lạnh, sâu. Sau mỗi chuyến đi biển chồng về, tiếng võng lại nghiến mòn đêm. Cho
nhà có tiếng người, cho nó giống một gia đình đúng nghĩa, tiếng đàn bà nói rốp
rẻn, đàn ông khạc nhổ và trẻ con cười, em lại kể chuyện mong lấp đầy khoảng lặng.
Má sưng phổi vừa nằm ở nhà thương huyện cả tuần. Cô giáo chọn con Tí đi thi viết
chữ đẹp cấp xã. Thằng Lanh thì mọc được sáu cái răng. Hôm chị Nhàn vớt con Hoa
dưới mé kinh lên, ông Tam đang gặt. Nghe người ta kêu, ông chạy về đánh Nhàn
lăn ra đất, đạp túi bụi vào bụng chị, xong cứ ôm xác con không chịu buông.
Có hồi em thấy tuyệt vọng, đó là lúc em không biết nói gì lúc
chồng về nằm cuộn trên võng như chui vào kén. Tẻ nhạt hết sức nơi cái xóm Thơm
Rơm này, nơi những người đàn ông ngập trong rượu và mối lo thất mùa rớt giá,
con cái ốm đau; nơi những người đàn bà suốt ngày cắm mặt vá víu những chỗ rách
trong nhà. Chị Nhàn ít ra đường, em không thể tả cho chồng nghe giờ chị ốm hay
đen, ăn mặc như xưa hay rách rưới, vẫn cười hay khóe miệng đìu hiu.
Rồi Tam gây ra đám cháy đầu tiên. Người ta vẫn nhắc về nó như
một sự kiện lớn của xóm Thơm Rơm, ngay cả khi chiến tranh cũng không thấy cháy
lớn như vậy. Cháy trụi. Không còn gì. Những đám cháy sau này không gây ấn tượng
sâu sắc cho họ nữa, nhàm rồi. Ngọn lửa chỉ khuấy đảo cái đời sống bình lặng của
họ được một lần đó thôi. Chỉ mỗi em quan tâm, mỗi em biết không đám cháy nào giống
hệt đám cháy nào.
Chị Nhàn đi đâu thấy có cái cây nào cặm cột được đều vác về
quăng xuống ao ngâm, biết thể nào cũng xài tới. Những chi tiết này chắc em đã kể
nhiều lần, cái khó nhất là giữ vẻ bình thản. Ông Tam vẫn thường lang thang
ngoài đường lúc nửa đêm, lè nhè chửi rủa chiếc xuồng vuột dây trôi mất, chửi
đom đóm, chửi rạ rơm vướng chân.
- Nhưng sau lần cháy này, ông Tam sẽ không đốt nhà nữa.
Em cố giấu nỗi tiếc nuối với cái ý nghĩ từ giờ mình chẳng còn
vụ nhà cháy để kể. Điều đó có nghĩa chồng không về nữa, biết đâu. Ngồi kỳ cọ
bàn tay đầy sẹo, trong nỗi đau đớn và nhẹ nhõm, trong cái trưa Thơm Rơm thẳng
căng vắng rợn, trong tiếng đập cánh của những con ong vàng sà xuống hút mật chuối
đang tươm ra, với cảm giác cắt nhát kéo vào sợi dây diều, em nói với người đàn
ông cuộn trong kén chi tiết cuối cùng:
- Nhàn đã không chạy ra khỏi đống lửa như mọi khi, anh à!
Nguyễn Ngọc Tư

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét