Mười hai tướng soái Trung Hoa 2
Trận Bành Thành bị thua
to, cuộc diện giữa Sở và Hán cũng thay đổi theo, hai tướng là Tái Vương Tư Mã
Hân và Địch Vương Đổng Ế bất ngờ phản lại, đầu hàng Hạng Võ khiến cán cân lực
lượng nghiêng phần thua kém về phía Lưu Bang. Không những vậy Tây Ngụy Vương Ngụy
Báo kiếm cớ trở về đất được phong của mình, rồi cũng đoạn giao với nhà Hán theo
về với Sở.
Trong tình hình nguy cấp ấy
không còn ai có thể lật ngược được thế cờ ngoài Hàn Tín. Thế nhưng Hàn Tín rất
giận việc Lưu Bang không nghe lời khuyên của mình, lại phong cho Ngụy Báo làm
Nguyên soái nên nhất quyết không ra tay. Tiêu Hà và Trương Lương phải dùng một
kế mọn, khích tướng Hàn Tín mới thành công. Khi được Lưu Bang cho làm Nguyên
soái, Hàn Tín liền chế tạo mấy trăm chiếc chiến xa, mỗi chiếc do một con trâu
kéo có binh sĩ cầm cung nỏ ở trên xe bắn ra. Khi cần các chiến xa này lại có thể
dùng để chuyển vận lương thực, đóng quân lại thì làm đồn lũy.
Khi đã sửa soạn xong, chế
tác thêm mấy ngàn chiến xa nữa, Hàn Tín liền dùng thư khích tướng khiến Hạng Võ
đùng đùng nổi giận, gạt qua lời khuyên của Phạm Tăng, dẫn 30 vạn quân kéo thẳng
đến thành Huỳnh Dương quyết chiến. Trong trận này Hàn Tín đưa ra một loạt mưu kế
khiến quân Sở tiêu hao khá nhiều, sau cùng lại bị đoàn chiến xa lạ lùng vây
hãm, suýt nữa Bá vương Hạng Võ đã lâm nguy nếu không nhờ Chung Ly Muội và Quý Bố
đến kịp.
Kết cuộc quân Sở chết quá
nửa, Hạng Võ phải chạy xuống bờ ruộng ẩn nấp mới thoát khỏi sự truy kích của
quân Thục Hán. Tình thế nhờ vậy trở lại ngang bằng, bước vào thời kỳ giằng co
không bên nào lấn lướt bên nào. Kết quả này hoàn toàn nhờ vào tài năng của Hàn
Tín, ông chỉ cần một trận cũng đã lật lại được thế thua kém, thật sự trong các
danh tướng từ cổ chí kim chưa có ai sánh bằng. Tuy nhiên xét về thực lực thì sức
mạnh quân Sở vẫn còn, chỉ nhất thời tiêu hao chút ít nên Tiêu Hà lập tức lợi dụng
thời gian này chiêu mộ thêm quân binh, chờ những trận đánh kế tiếp.
Tháng 11 năm thứ hai đời
Hán, để trừng trị việc Ngụy Báo đầu hàng Bá vương, Lưu Bang phong cho Hàn Tín
làm Nguyên soái, để Vương Lăng ở lại giữ thành Huỳnh Dương, còn các tướng như
là Quán Anh và Tào Tham đều theo đoàn quân đi chinh phục nước Ngụy. Đại quân của
Hàn Tín đến sông Bồ Bản thì phải dừng lại bởi quân Ngụy phòng thủ rất nghiêm mật
bên kia bờ sông. Hàn Tín quan sát tình hình xong liền bí mật sai làm rất nhiều
cái thùng gỗ, tức dùng thân cây khoét ở giữa, kết lại thành bè. Khi đã xong,
Hàn Tín sai Quán Anh đến bên bờ sông sửa soạn thuyền, làm như sắp sửa vượt sông
tiến đánh. Thực sự Hàn Tín đã lén sai Tào Tham xuống bến Hạ Dương, dùng số
thùng gỗ ấy mà qua sông đánh úp phía sau quân Ngụy.
Ngụy Báo làm sao chống nổi
với những loại mưu kế tài tình ấy của Hàn Tín, rốt cuộc đại bại, để mặc quân
Hán chiếm đóng toàn bộ nước Ngụy gồm năm 52 quận huyện.
Sau khi đánh xong Tây Ngụy,
Hàn Tín lại dâng kế sách từng bước tiêu diệt Hạng Võ, giành lấy thiên hạ. Theo
kế sách này thì Lưu Bang cứ cố giữ lấy Huỳnh Dương để giữ chân Hạng Võ, đồng thời
tăng viện thêm cho ông 3 vạn quân để tiêu diệt Yên và Triệu. Sau khi đã có hậu
phương vững vàng thì mới bắt đầu tiến đánh nước Tề. Đây cũng là kế sách trước
kia Tần Thủy hoàng dùng để thôn tính các nước, thu phục thiên hạ.
Lưu Bang rất tán thưởng kế
hoạch của Hàn Tín, lập tức tăng thêm cho ông 3 vạn quân theo như yêu cầu. Nhờ vậy
Hàn Tín bình định được đất Đại, đến năm sau thì đem quân đánh Triệu. Thế nhưng
cùng lúc ấy Hạng Võ tiến đánh Huỳnh Dương khiến Lưu Bang hao tổn khá nhiều quân
tướng, cấp tốc gọi về cứu nguy. Trong tình hình nước Triệu có địa thế rất hiểm
trở, lại được Triệu vương là Yết sát cánh cùng Thành An quân Trần Dư và Lý Tả
Xa quyết chống dữ, Hàn Tín không còn cách nào khác là phải “tốc chiến tốc thắng”.
Riêng Lý Tả Xa cũng là một danh tướng giỏi về “binh quyền mưu” không kém Hàn
Tín, là một chướng ngại rất lớn nếu chỉ đưa ra những loại mưu kế tầm thường.
Trong tình thế bất lợi
như vậy mới thấy rõ tài cầm quân của Hàn Tín là vượt bậc, ông dùng một loạt mưu
kế, đưa quân dựa sông để khích động tinh thần quân sĩ rồi chiến đấu một trận nổi
tiếng, đánh tan quân nước Triệu như đã trình bày ở trên. Khi Triệu vương Yết và
Lý Tả Xa bị bắt sống, Trần Dư tử trận, cuộc chiến hoàn toàn thắng lợi, các tướng
dưới quyền của Hàn Tín vô cùng khâm phục, cho rằng trên đời này chưa có ai dám
bày “tuyệt trận Thủy Bôi” như ông.
Danh tướng biết trọng đãi
danh tướng, Hàn Tín đối xử với Lý Tả Xa rất trọng vọng. Sau vài câu khách sáo,
Hàn Tín hỏi luôn:
– Tôi muốn tiến quân về
phía bắc đánh nước Yên, tiến về phía đông đánh nước Tề, không biết làm thế nào
để thành công?
Lý Tả Xa khiêm tốn nói:
– Tôi nghe người ta nói:
tướng đã bại trận thì không còn đủ tư cách để bàn về vấn đề mưu lược nữa; một
thần tử đã mất nước thì không xứng đáng được dự bàn kế sách cai trị đất nước
bình yên lâu dài. Tôi hiện nay là một tướng bại trận, là tù binh của một đất nước
đã bị diệt vong, đâu dám được dự bàn việc đại sự với ngài.
Hàn Tín nói:
– Tôi cũng có nghe người
ta nói, Bách Lý Hề làm quan ở nước Ngu bị diệt vong thì ông ta lại sang nước Tần
làm Tướng quốc, giúp cho nước Tần làm Bá chủ thiên hạ. Điều này không phải là
Bách Lý Hề ở nước Ngu thì xuẩn ngốc và khi đến nước Tần thì thông minh, mà
chính là bởi chính vì hiền tài không được các vương hầu trọng dụng và nghe
theo. Trước mắt có thể thấy rõ nếu như Thành An quân (Trần Dư) nghe theo kế
sách của ông thì Hàn Tín này làm gì thắng nổi? Thế nhưng tôi sẵn sàng nghe lời
chỉ bảo của ông, đó là hai việc hoàn toàn khác hẳn.
Lý Tả Xa thấy Hàn Tín xem
trọng mình thì liền nói:
– Người tinh khôn đến
ngàn việc thì vẫn có việc sẽ lầm lẫn, kẻ ngu tính ngàn việc thì tất cũng sẽ có
một việc đúng. Nguyên soái quả là anh hùng tuyệt thế, hành quân thần tốc bắt Ngụy
Báo, giết Hạ Duyệt rồi bây giờ được tôi và Thành An quân, đưa Triệu vương vào
chỗ chết thì khắp thiên hạ ai nghe danh mà chẳng kinh sợ? Thế nhưng hiện nay
quân Hán đang mệt mỏi, nếu sang đánh với Yên đang nhàn nhã khỏe mạnh thì là điều
bất lợi, chỉ cần như vậy là Nguyên soái đã hiểu tôi muốn như thế nào rồi.
Hàn Tín liền theo lời
khuyên của Lý Tả Xa, dùng cách thuyết phục Yên vương đầu hàng. Danh tướng của
nước Yên là Khoái Văn Thông nhìn rõ tình hình này, cho rằng quân Hán đã quá mỏi
mệt nên mới dùng phương pháp chiêu hàng, tự thân đi sang Triệu yết kiến Hàn Tín
thuyết phục ông bãi binh, chẳng ngờ khi gặp mặt Lý Tả Xa, bị ông ta trình bày
rõ lợi hại, lập tức về khuyên Yên vương nên về đầu nhà Hán. Thế là Hàn Tín chẳng
tốn một tên quân cũng bình định được nước Yên. Điều này càng chứng tỏ người làm
tướng không nhất thiết phải ỷ vào sức mạnh mà tùy theo hoàn cảnh, lúc nhu lúc
cương, lúc cần tới cách đánh “tử chiến”, lúc lại nhu hòa chiêu dụ mới thật sự
là tướng soái tài năng.
Lúc ấy Bá vương Hạng Võ
cũng đã nghe tin, kinh hoảng triệu các tướng lại bàn kế sách đối phó. Các tướng
đồng lòng cho rằng nếu tiêu diệt được Lưu Bang thì trước sau gì cũng triệt hạ
được Hàn Tín. Hiện Hàn Tín không có mặt ở Quan Trung là cơ hội tốt nhất. Hạng
Võ nghe theo, truyền lệnh kiểm điểm 10 vạn quân mã tiến đánh thành Huỳnh Dương
rất gấp.
Lưu Bang cả kinh nhưng nhờ
vào Trần Bình lập mưu kế ly gián khiến Hạng Võ đuổi Phạm Tăng về quê. Đến khi Hạng
Võ biết mình trúng kế thì lại càng tức giận, xua quân đánh rất rát. Một lần nữa
Trương Lương lại bày kế “Kim thiền thoát xác” (ve sầu lột xác) dùng một người
giống hệt diện mạo của Lưu Bang là Kỷ Tín chết thay mới thoát về tới Thành Cao.
Thế nhưng Hạng Võ truy đuổi
ráo riết, bao vây Thành Cao chặt chẽ, túng cùng Hán vương Lưu Bang phải sai người
gọi quân của Hàn Tín từ nước Triệu về cứu nguy. Tiếc rằng tình hình diễn biến
quá nhanh, cuối cùng Lưu Bang phải bỏ Thành Cao cùng quần thần chạy đến nước
Triệu, tự mình dẫn mấy kỵ binh vào thẳng quân doanh của Hàn Tín. Đêm hôm qua
Hàn Tín và Trương Nhĩ uống rượu quá nhiều nên vẫn còn ngủ say, bị Lưu Bang lấy
mất ấn tín rồi hạch tội đã không mau chóng cứu viện Thành Cao.
Thật ra tội này rất đáng
mất chức nhưng khi ấy Lưu Bang còn cần Hàn Tín nên chỉ trách mắng vài lời rồi
cho quân đóng ở Tu Vũ, sai Hàn Tín mau chóng đi đánh nước Tề, cho Trương Nhĩ
làm Triệu vương.
Tháng giêng năm thứ tư đời
Hán, Hàn Tín tiến đánh nước Tề, chẳng bao lâu đã đánh đến Lâm Tri. Tề vương Điền
Quảng không còn cách nào khác là phải cầu cứu Hạng Võ. Chính ông ta cũng biết nếu
nước Tề mất thì mình sẽ hai đầu thọ địch nên nhanh chóng sai Đại tướng Long Thư
và Chu Lan mang 3 vạn quân đến phối hợp với quân Tề đón đánh quân của Hàn Tín ở
Duy thủy. Quân Hán và liên quân Sở - Tề bày trận ở hai bờ Duy thủy.
Long Thư rất khinh bỉ Hàn
Tín cho rằng đã là anh hùng thì chết thì thôi chứ không đời nào hèn hạ luồn
háng tên côn đồ giữa chợ, lại phải nhờ đến chén cơm của Phiếu mẫu mới sống sót.
Mặc cho Phó tướng Chu Lan khuyên giải, ngay hôm sau Long Thư đã viết chiến thư
thách thức Hàn Tín giao chiến. Ngày hôm sau Long Thư cho quân tướng ăn uống sớm,
khi xong lập tức kéo quân ra bày trận. Hàn Tín cũng đã sửa soạn sẵn sàng, đôi
bên gườm nhau chực chờ cuộc chiến tàn khốc xảy ra.
Chẳng ngờ Hàn Tín đánh với
Long Thư được mấy hiệp thì đã đuối tay, quát ngựa bỏ chạy. Long Thư cả cười, mắng
lớn:
– Ta đoán không lầm,
ngươi chỉ có hư danh mà thôi.
Các tướng dưới quyền thấy
Long Thư định đuổi theo, xúm lại khuyên đừng nên mắc mưu của Hàn Tín, cuối cùng
Long Thư phải nghe theo nhưng trong lòng đã kiêu ngạo coi thường Hàn Tín lắm rồi.
Đến chiều tối, Hàn Tín đột nhiên bày trận gọi Long Thư ra quyết đấu, cũng theo
lối cũ mà bỏ chạy. Lần này Long Thư quyết đuổi cho đến cùng. Khi đến bờ Duy thủy,
Hàn Tín dễ dàng cho ngựa vượt qua bởi cát mênh mông, nước chỉ đến chân ngựa là
cùng. Long Thư đuổi tới nơi, cũng rất kinh ngạc bởi dù nước cạn đến mấy cũng
không lộ cát ra như vậy. Các tướng dưới quyền Long Thư cũng khuyên nên đề phòng
Hàn Tín đã chặn nước ở thượng nguồn, chờ lúc quân ta qua sông sẽ dùng thủy kế
đánh giết.
Thế nhưng Long Thư không
nghe, dẫn đầu đoàn quân Sở vượt sông đuổi theo. Khi đến giữa sông thì trời đã tối
đen, Long Thư chợt thấy có ngọn sào treo một cái đèn lồng, đến gần thì lại có
treo tấm bảng: “Thắp đèn sáng giết Long Thư”.
Tình thế rất mơ hồ nên
quân tướng của Sở bàn tán xôn xao, mỗi người một ý khác nhau. Có tướng cho rằng
đây chỉ là kế hoãn binh, làm đối phương sợ hãi mà không dám đuổi theo. Riêng
Chu Lan thì cho rằng ngọn đèn chính là để chỉ rõ địa điểm quân Sở đang đứng, nếu
tắt đi thì quân Hán không biết đường nào mà tiến đánh nữa. Long Thư nghe theo
Chu Lan, vung dao chém tắt ngọn đèn.
Không ngờ đó chính là hiệu
lệnh cho quân Hán tháo nước trên thượng nguồn, quân Sở ôm nhau kêu khóc vang trời,
đành chịu cho thác nước dữ dội cuốn như cỏ rác. Hóa ra Hàn Tín đưa ra một loạt
kế sách liên hoàn để quân Sở chui đầu vào bẫy. Long Thư nhờ có con Long câu nên
nhảy thoát khỏi dòng nước nhưng cuối cùng cũng không thoát được cái chết bởi
Hàn Tín đã cho Tào Tham và Hạ Hầu Anh mai phục ở bên bờ sông từ lâu.
Khi đã chiếm xong 70
thành của nước Tề, Hàn Tín nhìn phong cảnh kinh đô Lâm Tri huy hoàng chẳng khác
gì Hàm Dương thì ít nhiều trong bụng đã phát sinh lòng tham muốn. Lại có một
mưu sĩ đất Tề tên là Khoái Kiệt đến hầu, nói:
– Chẳng lẽ Nguyên soái
công trạng lớn như vậy mà cứ cam tâm dưới người hay sao? Nguyên soái không biết
rằng “Chim muông hết thì chó săn bị đem ra làm thịt” hay sao. Nhân lúc này Hán
và Sở đều kiệt quệ, Nguyên soái tự lập cơ nghiệp, chia thiên hạ thành thế chân
vạc thì chẳng bao giờ còn lo lắng gì nữa, có phải hay hơn không?
Còn đang do dự thì Hàn lại
tiếp được lệnh phải kéo hết binh mã về hợp sức đánh Sở, ông liền theo lời của
Khoái Kiệt yêu cầu phải được phong làm Tề vương. Đây là nguyên nhân quan trọng
để Lưu Bang ghi nhớ thù hận và diệt trừ Hàn Tín sau này. Lúc đó ở Huỳnh Dương,
Lưu Bang thua luôn mấy trận, tuy rất tức tối nhưng vẫn phải phong cho Hàn Tín
làm Tề vương.
Với tài năng quân sự lừng
lẫy của Hàn Tín, chẳng bao lâu Hạng Võ phải chấp nhận chia đôi thiên hạ, lấy
ranh giới Hồng Câu làm phân định. Thật sự hiệp ước này không hề được hai bên
tôn trọng, vì vậy lâu lâu lại xảy ra chiến tranh, cuối cùng sức mạnh của Hạng
Võ suy yếu dần vì mất hết tay chân tài giỏi ở bên mình.
Đến năm 201 trước Công
nguyên thì Hạng Võ thân cô thế yếu đành phải cùng với 10 vạn quân ở Cai Hạ. Hàn
Tín chỉ huy trận đánh này, cho hai cánh quân mai phục hai bên rồi tự mình ra
khiêu chiến, giả vờ rút lui dụ Hạng Võ vào bẫy, đánh cho quân Sở một trận tan
tác. Hạng Võ chạy đến bến Ô Giang tự biết rằng không còn đường sống, phải rút
kiếm ngắn ra tự sát.
Thế là cuộc chiến tranh
Hán Sở đã thật sự kết thúc, Hán vương Lưu Bang lên ngôi Hoàng đế, xưng hiệu là
Hán Cao đế. Hán đế luận công ban thưởng cho rằng Hàn Tín có công lao lớn nhất,
xứng đáng được ban thưởng nhiều nhất. Thế nhưng ông lại nghĩ đất Tề quá rộng
rãi, người đông sản vật nhiều, nếu một mai Hàn Tín làm phản thì rất khó lòng
đánh dẹp nên cuối cùng chỉ phong cho Hàn Tín làm Lỗ vương, làm vua một mảnh đất
nhỏ hẹp ở một góc Kinh Nam.
Đó chỉ là phương cách tạm
thời để Lưu Bang ổn định thiên hạ, sau khi triều chính đã vững vàng, lập tức
Lưu Bang nghĩ đến việc “tính sổ” Hàn Tín với nhiều lý do:
– Thứ nhất Hàn Tín đã
không chịu đem quân từ nước Triệu về cứu viện khiến chút nữa mình đã phải vong
mạng nơi Huỳnh Thành.
– Lần thứ hai ở Tề, Hàn
Tín không tuân lệnh hợp binh đánh Sở, lại còn đòi làm Tề vương. Sự bức bách này
đối với Lưu Bang quả là nhục nhã.
– Thứ ba, khi đã đại
thành công, trong khi vui vẻ luận bàn về công trạng, Hàn Tín vẫn cho rằng mình
giỏi hơn Lưu Bang nhiều lần, đủ sức nắm cả 100 vạn quân vẫn điều khiển đâu ra đấy.
Với những lý do ấy, Lưu
Bang đã toan tính việc trừ diệt vị Tướng soái đã bỏ bao nhiêu tâm huyết giúp
mình đoạt được ngai vàng. Thật sự Lưu Bang đã có ý định đem quân đi giết Hàn
Tín nhưng cũng tự biết không thể nào thắng nổi nên mới dàn dựng vở kịch du ngoạn
đầm Vân Mộng, dùng hạ kế bắt giữ Hàn Tín ở kinh đô, giáng xuống làm Hoài Dương
hầu Lúc ấy Lưu Bang đã có thể tha hồ giết chóc bởi Hàn Tín không còn binh quyền
nhưng triều Hán mới thành lập, nếu phóng tay ắt thiên hạ chê cười nên Lưu Bang
đành nén lòng chờ cơ hội khác.
Cơ hội ấy đến khi Hàn Tín
cùng với Trần Hy là Tướng quốc nước Đại, toan tính mưu phản. Lần này Lưu Bang
không ra tay mà kéo quân đi đánh Trần Hy, để cho Lã hậu theo kế của Tiêu Hà triệu
Hàn Tín vào cung rồi bắt giết, tru di cả ba họ. Trước khi chết, Hàn Tín ứa nước
mắt ngửa mặt lên trời than dài:
– Ta thật hối hận đã
không nghe lời của Khoái Kiệt để bây giờ mắc kế của một mụ đàn bà, việc này chẳng
lẽ là ý trời hay sao?
Theo sự ghi chép của Hán
Thư, Nghệ Văn chí, sau khi chết đi Hàn Tín đã để lại 3 thiên binh thư cho riêng
mình chuyên về “Binh quyền mưu” và cùng với Trương Lương tuyển chọn trong binh
thư của 182 binh gia, lấy những điều cốt yếu nhất viết thành cuốn binh thư khác
rất tuyệt tác nhưng hiện nay đã thất truyền.
Việc các công thần bị giết
hại hầu như đời nào cũng có, thế nhưng đối với một danh tướng nhiều công lao
hãn mã như Hàn Tín mà Lưu Bang vẫn không nương tay khiến người đời sau phản xúc
động. Sau này có nhà nghiên cứu cho rằng vụ việc Hàn Tín âm mưu với Trần Hy
hoàn toàn giả trá, đều do bàn tay của Lưu Bang và Lã hậu xếp đặt bởi dù Lưu
Bang hết sức đố kỵ tài năng nhưng ông không bao giờ có ý nghĩ phản bội. Bằng chứng
là đã nhiều lần, từ lúc Sở vương Hạng Võ sai người thuyết phục ông theo về rồi
sau đó là Khoái Kiệt. Những lúc ấy Hàn Tín không trở cờ thì lúc đã mất hết binh
quyền, bị giam lỏng trong thành Hàm Dương lại nghĩ đến việc phản bội? Ông là
người rất mưu trí, một khi chưa đủ điều kiện thì tất sẽ chưa bao giờ toan tính
việc lớn lao như vậy.
Như trong lần khuyên Lưu
Bang đừng tiến quân sang phía đông tranh chiến với Sở, Hàn Tín đã vạch rõ bất cứ
việc gì cũng phải hội đủ ba điều kiện: Thiên thời, Địa lợi và Nhân hòa. Khi Lưu
Bang vu cho Hàn Tín âm mưu làm phản, ông không hề có Thiên thời bởi không có
chút quyền hành trong tay, cũng không có Địa lợi vì đang bị giam lỏng, còn Nhân
hòa thì lúc ấy ông chỉ có vài chục tên gia nhân trong tay, triều Hán đã thành
công, mấy ai dám theo một vị tướng đã sa cơ như thế. Do đó việc Hàn Tín bị giết
hoàn toàn là do Lưu Bang quá đố kỵ, bởi một nước không có hai vua mà cũng không
thể có hai anh hùng.
Có thể kết luận: Hàn Tín
chết là vì có tài năng quá lớn. Trong sách Sử ký chí nghi của
Lương Ngọc Thắng thì khẳng định như đinh đóng cột: Hàn Tín chết oan với
nhiều lý lẽ chắc chắn. Thế nhưng dù sao đây cũng chỉ là nghi án lịch sử, xin
ghi lại để hậu thế suy xét.
7 VỆ THANH - GIỮ VỮNG
BIÊN CƯƠNG
Sau khi đánh bại Sở vương
Hạng Võ, Lưu Bang lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Hán Cao đế, bắt đầu xây dựng một
triều đại khá huy hoàng và kéo dài nhiều trăm năm. Thế nhưng ngay lúc Lưu Bang
còn sống cũng không được yên ổn bởi sự quấy phá của một dân tộc phương bắc, đó
là Hung Nô. Chính Hán Cao đế cũng đã có lần phải thân chinh đi đánh dẹp và
trúng kế “Thỉnh quân nhập ủng” (Mời ông vào rọ) của một Thiền Vu Hung Nô là Mạo
Đốn, suýt nữa đã bỏ mạng nếu không nhờ Trần Bình siêu việt nghĩ ra kế ly gián.
Khi thoát khỏi Bạch Đăng thành rồi, Lưu Bang chắc chắn hết cả hồn vía và chỉ mấy
năm sau thì băng, không còn trận nào đọ sức với Hung Nô nữa. Khi Hán Văn đế lên
ngôi, nhờ vào chính sách “ôhòahân” của tiên đế, đất nước được thành bình một thời
gian khá dài.
Thế nhưng, cuối cùng người
Hung Nô vẫn ôm ấp mộng xâm chiếm dải đất Trung nguyên màu mỡ và nhiều lần tiến
quân quấy phá dò xét xem thực lực triều Hán mạnh yếu ra sao. Nhờ có danh tướng
Lý Quảng, biệt hiệu Phi Tướng quân, nhiều phen làm cho quân Hung Nô phải thất đảm
kinh hồn. Ông là lão tướng trải qua ba đời Hán đế, đến khi Hán Vũ đế lên ngôi với
chủ trương dùng quân sự tiêu diệt Hung Nô tận gốc thì ông mới qua đời trong một
cuộc tiến binh bất lợi.
Lý Quảng gia nhập quân đội
Hán triều ngay khi còn nhỏ tuổi, hầu như ít khi về triều mà suốt đời ở nơi biên
cương để chống với quân Hung Nô. Lý Quảng là người có sức mạnh nhưng được người
ta khen ngợi hơn cả là tài dùng binh thần tốc khiến quân Hung Nô không kịp trở
tay. Hán Văn đế hết sức khen ngợi Lý Quảng, đang toan tính thăng chức và cho
ông nắm trọng trách chỉ huy nơi biên cương thì qua đời. Do vậy khi Hán Cảnh đế
(156 - 140 trước Công nguyên) lên nối ngôi chỉ phong cho ông làm Kỵ Lang tướng,
giữ trọng trách bảo vệ Hoàng đế.
Khi Ngô vương và Sở vương
liên kết với nhau nổi dậy lật đổ triều Hán, Lý Quảng được giữ chức Đô úy cùng
đi theo với Thái úy Á Phu dẫn quân dẹp loạn. Nhờ chiến công hiển hách đánh tan
loạn quân, sau khi xong việc Lý Quảng được điều đi giữ chức Thái thú miền tây bắc
với nhiệm vụ đề phòng quân Hung Nô quấy nhiễu.
Một lần kia, Cảnh đế muốn
tìm hiểu tình hình biên cương, sai một đại quan thân cận cùng với mấy tên võ sĩ
tùy tùng đến quân doanh của Lý Quảng. Thấy phong cảnh biên cương rộng rãi bao
la, rừng xanh thâm u rất đẹp, viên cận thần hứng thú cùng với đám tùy tùng cưỡi
ngựa dạo chơi. Bỗng nhiên có ba tên quân Hung Nô như trên trời rơi xuống, phi
ngựa nhanh như gió đến nơi, đồng thời bắn tên ra như mưa. Mấy tên tùy tùy đều
trúng tên chết, chỉ riêng viên quan chỉ bị thương nhẹ, cố sức phóng ngựa bỏ chạy.
Lý Quảng lập tức dẫn kỵ binh ra cứu ứng.
Với tài thần tiễn, Lý Quảng
mau lẹ bắn chết hai tên Hung Nô, bắt sống được một tên. Chẳng ngờ đó chỉ là mấy
tên quân tiền tiêu, ngay khi ấy đại quân Hung Nô xuất hiện dày đặc trên các gò
đất cao, hò hét xung phong định báo thù cho đồng bọn. Quân sĩ dưới quyền Lý Quảng
đều kinh sợ, ai nấy bàn nhau phải bỏ chạy cho thật mau. Thế nhưng Lý Quảng bình
tĩnh nói với bọn chúng:
– Chúng ta bỏ chạy tức là
làm bia cho bọn chúng bắn, đều chết hết. Cứ hãy đứng im, địch sẽ tưởng chúng ta
đang bày thế dẫn dụ, sẽ chùn bước mà không dám tấn công nữa.
Bọn quân sĩ nghe lời, quả
nhiên khi thấy đối phương hoàn toàn không sợ hãi thì quân Hung Nô đâm ra nghi
ngại, sai một tên kỵ binh đến gần xem sao. Lý Quảng trổ tài thần tiễn bắn chết
tên này khiến cả một đạo quân hung hãn đều khiếp sợ, đứng im cho ông ung dung
cưỡi ngựa ra về. Thái độ của Lý Quảng quá thản nhiên khiến quân Hung Nô lại
càng nghi ngờ, ngay đêm hôm đó rút ra xa để đề phòng. Sự bình tĩnh và quyền biến
của Lý Quảng nổi danh từ lúc ấy, vì vậy khi Hán Võ đế lên nối ngôi thì cho ông
giữ chức Vệ úy trấn giữ Nhạn Môn quan.
Vào năm 140 trước Công
nguyên, Lưu Triệt lên ngôi, xưng hiệu là Hán Võ đế. Ông là người hùng tâm tráng
chí, cương quyết đến độ tàn nhẫn, điển hình nhất là việc tướng Lý Lăng dẫn quân
đi đánh Hung Nô, vì quá ít quân, lại bị bao vây tứ phía nên đành phải đầu hàng.
Thế mà Hán Võ đế bắt tội cả nhà họ Lý đem giết hết. Sử quan là Tư Mã Thiên chỉ
nói vài lời tỏ vẻ bênh vực, cho rằng Lý Lăng lâm vào tình trạng bất đắc dĩ mà
thôi, liền bị Hán Võ đế khép vào tội bị “cung hình” (tức bị hoạn), suốt đời
mang mối ô nhục ấy cho đến nhắm mắt.
Với hùng tâm này, Hán Võ
đế quyết định mở một chiến dịch lớn lao, huy động toàn quốc vào cuộc chiến
tranh với Hung Nô. Ông chủ trương phải đánh đến tận sào huyệt của Hung Nô ở mãi
trong sa mạc hoang vu để diệt tận gốc. Do vậy Hán Võ đế huy động gần hết số
trai tráng trong nước, chi phí cho chiến dịch này hết sức tốn kém, làm cho ngân
khố suy giảm thậm tệ. Tuy sau cùng chiến dịch thành công nhưng đó là bước đầu
làm cho nhà Hán suy sụp dần dần, đến khi Hán Chiêu đế Lưu Phất Lăng lên nối
ngôi thì hầu như ngân khố đã trống rỗng, kéo theo tình trạng nhân dân đói khổ.
Hán Võ đế lên ngôi rồi vẫn
trọng dụng Lý Quảng cùng với các danh tướng khác như Lý Lăng, Hoắc Khứ Bệnh, Vệ
Thanh. Lúc đó quân Hung Nô phát triển rất mạnh, vừa đông đảo vừa giỏi về kỵ
binh nên tiến lui như chớp nhoáng, thường hay tập hợp số đông tấn công một điểm
nào đó rồi nhanh chóng rút lui ngay, quân triều đình muốn truy kích cũng không
được.
Vì vậy có một lần Lý Quảng
bị quân Hung Nô bất ngờ bao vây. Vì quân ít hơn nhiều nên Lý Quảng cố sức phá
vòng vây mà không xong, tưởng đâu đã mất mạng. May sao trước đó Thiền Vu Hung
Nô rất hâm mộ oai danh của ông, đã ra lệnh phải bắt sống nên cuối cùng ông
không chết, bị bắt sống dẫn đi. Giữa đường nhân lúc tên quân canh sơ hở, Lý Quảng
bứt đứt dây trói, phóng sang cướp ngựa của tên quân bên cạnh cùng với cung tên
của hắn. Lý Quảng vừa chạy vừa bắn trả khiến quân Hung Nô chết khá nhiều, rùn
bước để ông chạy thoát về quân doanh. Từ đó trở đi Hung Nô gọi ông bằng danh hiệu
là “Phi tướng quân” chứ không gọi bằng tên tục.
Thế nhưng việc để quân địch
bắt sống đối với Hán Võ đế là trọng tội, đáng lẽ đem xử tử làm gương. Hán Võ đế
xét ông có nhiều công trạng, chỉ cách chức giáng xuống làm thường dân. Thiếu vắng
Lý Quảng trấn thủ biên cương, người Hung Nô lại càng hung hăng lộng hành, tiến
quân giết chết viên Thái thú ở Liêu Tây rồi đánh bại luôn đại quân của Hàn An
Quốc. Bất đắc dĩ Hán Võ đế phải trọng dụng Lý Quảng lại, cho ông làm Thái thú Bắc
Bình. Quân Hung Nô nghe tin này, luôn mấy năm đánh phá ở đâu thì được chứ Bắc
Bình thì hoàn toàn yên tĩnh.
Năm 120 trước Công
nguyên, Lý Quảng cùng với tướng Trương Khuyên dẫn 4000 quân đi đánh vào danh trại
Hung Nô nhưng giữa đường lọt vào ổ phục kích của Tả Hiền vương Hung Nô. Quân số
hai bên chênh lệch gấp 10 lần. Quân Hán dưới sự chỉ huy của Lý Quảng ra sức chiến
đấu, thế nhưng chẳng bao lâu đã hết sạch tên. Lý Quảng nhanh trí sai quân sĩ cứ
giương cung như sắp bắn, thật sự chẳng còn mũi tên nào làm cho quân Hung Nô vô
cùng sợ hãi, tạm thời không dám xông lên nữa. Nhờ được quân tiếp viện đánh thọc
vào vòng vây, Lý Quảng mới thoát chết trở về.
Thấy cuộc chiến vẫn giằng
dai không sao tiêu diệt hẳn Hung Nô, vào năm 119, Hán Võ đế lại tổ chức một cuộc
tấn công đại qui mô với mục tiêu là đánh lên tới tận sa mạc Mạc Bắc. Hán Võ đế
phong cho Vệ Thanh làm Nguyên soái, cùng với danh tướng Hoắc Khứ Bệnh dẫn 5 vạn
kỵ binh và 10 vạn bộ binh, chia làm hai đường tấn công, lệnh ban ra là phải
tiêu diệt hoàn toàn Hung Nô mới được trở về. Lúc đó Lý Quảng đã là lão tướng
hơn 60 tuổi nhưng vẫn xin với Hán Võ đế cho mình theo quân. Khi Vệ Thanh điều
tra bọn tù binh, biết được nơi ẩn trốn của Thiền Vu Hung Nô thì liền sai Lý Quảng
làm Tiên phong đánh về phía đông, còn mình kéo đại quân đánh thẳng vào nơi Thiền
Vu Hung Nô đang đóng quân.
Vì chưa lần nào tiến sâu
như vậy, Lý Quảng bị mất phương hướng, dẫn quân đi loanh quanh rất lâu chưa tìm
được đường ra. Trong khi ấy Vệ Thanh tiến đến nơi Thiền Vu Hung Nô nhưng không
kịp bao vây nên đành để ông ta trốn thoát. Khi trở về, Vệ Thanh mới gặp Lý Quảng,
cùng nhau hội quân. Thế nhưng lúc về triều, Hán Võ đế tức giận hạch tội hai tướng
đã hành quân ra sao mà xổng mất Thiền Vu Hung Nô. Vệ Thanh liền đổ tội cho Lý
Quảng không phối hợp tốt. Tuy không bị Hán Võ đế trách phạt nhưng Lý Quảng tức
tối dùng kiếm tự sát để minh oan. Đây là cái chết rất oan uổng của người lão tướng
dưới triều Hán.
Vệ Thanh nguyên là người
họ Trịnh, sinh trưởng ở Bình Dương. Thân phụ của ông là Trịnh Quý, chỉ làm một
viên tiểu lại nho nhỏ dưới quyền của Bình Dương hầu Tào Thọ. Trịnh Quý có lần
thông dâm với người thiếp của Tào Thọ là Vệ Ôn, vì vậy sau khi đẻ con liền cho
đứa bé lấy họ mẹ, đặt tên là Thanh. Vì là con của thiếp nên Tào Thọ không nuôi
dưỡng, cho về quê của cha ruột. Gia đình Trịnh Quý nghèo khó nên thuở thiếu thời
Vệ Thanh rất cơ cực, có lúc phải đi chăn bò cừu cho kẻ giàu lấy bát cơm ăn.
Khi lớn lên, nhờ có thân
hình to lớn, sức vóc mạnh mẽ nên Vệ Thanh được Tào Thọ cho làm kỵ binh, chuyên
việc canh phòng cho phủ Bình Dương hầu. Cuộc đời Vệ Thanh tưởng như mãi mãi ở
nơi xa xôi ấy với chức vụ quèn. May sao vào năm 139 trước Công nguyên, người chị
của Vệ Thanh là Vệ Tử Phu có sắc đẹp hơn người, được tiến vào cung và được Hán
Võ đế sủng ái, phong làm Phi tử.
Lúc đó Hoàng hậu không có
con nối dõi nên khi Vệ Quý phi hoài thai thì Hán Võ đế lại càng cưng chiều,
nghe nói đến Vệ Thanh liền phong cho chức Đại phu. Rốt cuộc Vệ Thanh từ một người
tầm thường, dựa vào sự sủng ái của người chị mà leo lên làm đại thần trong triều.
Vệ Thanh có thân hình cao lớn, tướng tá oai phong, lại giỏi về võ nghệ nên khi
Hán Võ đế tính đến việc chinh phạt Hung Nô liền giao cho trọng trách chỉ huy
toàn quân. Lúc đó triều Hán hầu như không còn tướng tài, Hàn An Quốc và Lý Quảng
đều đã cao tuổi, khó có thể đảm đương được một chiến dịch lớn lao như vậy.
Trong thời gian mở chiến
dịch tiến đánh Hung Nô, Vệ Thanh được sự trợ giúp của một viên tướng trẻ tên là
Hoắc Khứ Bệnh. Nhờ họ Hoắc, nhiều lần đại quân Hán đã đánh bại Hung Nô, đưa họ
vào tình cảnh không còn hoạt động quấy nhiễu như trước được nữa.
Hoắc Khứ Bệnh là người ở
Sơn Tây, ngay từ nhỏ đã tỏ ra là người có tài năng về quân sự, lại có họ hàng
xa với Vệ Thanh. Do vậy khi Hán Võ đế quyết định tiến đánh Hung Nô, trong triều
không còn danh tướng nào nữa, đành phải giao cho Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh, mặc
dù khi đó ông còn rất nhỏ, mới được 17 tuổi. Thế nhưng Hoắc Khứ Bệnh rất được
lòng tướng sĩ, phong cách khoáng đạt, thân mật với quân sĩ như là anh em, làm
cho họ đồng một lòng chiến đấu. Tương truyền khi Hán Võ đế ban cho Hoắc Khứ Bệnh
một vò ngự tửu, ông không muốn uống một mình, bèn đổ cả bình ngự tửu xuống một
cái ao nhỏ rồi tất cả cùng uống nước trong ao, biểu lộ tình cảm gắn bó quân tướng.
Tiếc rằng Hoắc Khứ Bệnh mất
quá sớm, khi mới vừa tuổi 24, trong lúc đang hành quân tiến đánh Hung Nô, tức
đã được 7 năm cầm quân đánh giặc. Người ta cho rằng Hoắc Khứ Bệnh bị bệnh do
không thích hợp với thổ nghi nóng và ẩm của đất Hung Nô. Cũng có người tin vào
giả thuyết quân Hung Nô quá kinh sợ tài chiến đấu của Hoắc Khứ Bệnh, sau khi giả
vờ rút lui liền đổ chất độc vào giếng nước, ông uống phải loại nước này nên chết
không thể cứu chữa được.
Chiến công oai hùng nhất
của Hoắc Khứ Bệnh là khi mới được Hán Võ đế tin dùng, trao cho một cánh quân độc
lập, phối hợp với quân của Vệ Thanh. Nhận thấy đường sá nơi đất Hung Nô khó
khăn hiểm trở, nếu đưa đại quân tiến lên rất dễ bị lộ, quân Hung Nô hoặc sẽ tập
họp đánh trả, hoặc sẽ lẩn trốn rất khó tìm ra. Hoắc Khứ Bệnh nhân lúc quân Hung
Nô dồn hết ra đánh với Vệ Thanh liền can đảm cùng với mấy trăm kỵ binh luồn
theo đường núi đánh bọc hậu, kết quả Hoắc Khứ Bệnh giết được hơn 2000 quân Hung
Nô, đồng thời bắt sống một lúc mấy viên đại thần Hung Nô, trong đó có nghĩa phụ
của Thiền Vu Hung Nô, giết chết hơn phân nửa, còn lại đều đầu hàng.
Hán Võ đế hết sức tán thưởng
chiến công này, ban cho ông tước Quán Quân hầu. Sau đó với nhiều chiến công hiển
hách khác, Hoắc Khứ Bệnh còn được thăng lên tới chức Đại Tư mã, tức là nắm toàn
bộ binh quyền trong tay, kể cả Vệ Thanh. Khi Hoắc Khứ Bệnh chết rồi Vệ Thanh mới
có cơ hội thăng quan tiến chức.
Nói về chiến dịch Mạc Mắc
do Hán Võ đế tổ chức, khi Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh chia quân làm hai đường thì
mỗi người có cách đánh riêng. Vệ Thanh chỉ huy quân đội rất nghiêm nhưng vẫn
hài hòa thân thiết nên quân tướng một lòng chiến đấu. Mỗi khi đụng trận, Vệ
Thanh thường hay đi đầu, tả xung hữu đột đánh phá khiến quân Hung Nô khó mà chống
nổi.
Hoắc Khứ Bệnh thì hay
dùng kỳ binh, lấy số quân ít mà đánh vào những điểm trọng yếu hay bất ngờ nhất
làm cho quân địch hoang mang bỏ chạy. Sau nhiều cuộc chiến khốc liệt, quân Hung
Nô đã phải lùi sâu vào nội địa, thế nhưng Hoắc Khứ Bệnh vẫn truy kích đến cùng.
Có lần ông chỉ dùng một đội kỵ binh nhỏ nhưng lựa chọn toàn là người thiện chiến,
tiến về phía Lũng Tây. Toán quân của ông đi xuyên qua 5 bộ tộc Hung Nô mà không
gặp phải sức kháng cự nào mạnh mẽ, đến đâu đều chiến thắng đến đó. Lối đánh này
chẳng khác gì quân Hung Nô thường dùng để kỳ tập các đồn biên giới. Nay bọn
chúng bị Hoắc Khứ Bệnh áp dụng đúng như thế, đêm nào cũng nơm nớp lo sợ không
biết bị đánh úp lúc nào, dần dần mất hết nhuệ khí. Chẳng bao lâu Hoắc Khứ Bệnh
đã dồn tàn quân Hung Nô phải chạy về tới tận miền bắc Mạc Bắc, đến tận địa giới
núi Lang Cư Tư.
Riêng Vệ Thanh nắm đại
quân, tiến thẳng tới triều đình Hung Nô, chạm trán nhiều hơn và phải trải qua
nhiều trận đánh khốc liệt. Vì trị quân rất nghiêm nên hầu như tất cả quân tướng
đều lo sợ bị bắt tội, anh dũng chiến đấu, có thể lấy ít chọi nhiều nên rất ít
khi thất trận. Có lần một bộ tướng của Vệ Thanh là Tô Kiến, dẫn 1000 đi tiễu trừ,
bất ngờ gặp phải đại quân của bộ tộc Hung Nô do thủ lĩnh tên là Đan Vu. Tô Kiến
huy động quân binh chống trả ác liệt, nhưng với số đông, quân Hung Nô đã tiêu
diệt được 1000 quân Hán, chỉ còn lại mỗi mình Tô Kiến chạy thoát về quân doanh.
Theo quân lệnh, mỗi khi
tướng để quân bị tiêu diệt thì phải xử chết theo. Vệ Thanh đã toan đem Tô Kiến
ra xử tử thì các tướng dưới quyền kiến nghị, cho rằng đó là chiến thắng chứ
không phải thất bại bởi Tô Kiến đã giết hơn 2000 quân địch. Nếu cứ theo quân lệnh
cứng nhắc thì còn tướng nào dám chỉ huy ba quân nữa. Chắc chắn nếu thua một trận
thôi - dù bất đắc dĩ – thì họ sẽ không dám trở về nữa mà đành đầu hàng như danh
tướng Lý Lăng.
Vệ Thanh tiếp nhận ý kiến
đó, tâu về với Hán Võ đế và được nhà vua xuống chiếu không bắt tội Tô Kiến.
Cách hành xử đúng mực và không cố chấp của Vệ Thanh chính là võ khí chỉ huy ba
quân rất hữu hiệu. Vì vậy nhiều lần Vệ Thanh đạt công trạng rất lớn, điển hình
nhất là vào năm 128 trước Công nguyên, Vệ Thanh lại được lệnh dẫn đại quân đi
tiêu diệt Hung Nô lần nữa, có cánh quân do Lý Tức và Trương Thứ tiếp trợ. Dưới
quyền chỉ huy của Vệ Thanh, quân tướng hết lòng chiến đấu, tiến mau như chẻ
tre, chẳng bao lâu thì đã vượt qua được bốn vòng trấn giữ của quân Hung Nô.
Lúc đó một đại tướng của
Hung Nô, tước lên đến Hữu Hiền vương đóng ở trung quân, tưởng rằng quân Hán còn
lâu mới có thể tiến sâu đến như vậy, không phòng bị nên bị đánh bất ngờ. Trận
này Vệ Thanh suýt nữa giết được Hữu Hiền vương, hắn phải cùng quần thần bỏ chạy
trối chết. Không có người chỉ huy, toàn bộ quân Hung Nô đều đầu hàng. Chiến thắng
này cực kỳ vang dội nên Hán đế lập tức phong cho ông làm Đại tướng quân, các
con của Vệ Thanh đều hưởng ơn cha, được phong tước Hầu, vô cùng vinh hiển.
Thế nhưng Vệ Thanh không
bằng lòng, dâng tấu lên Hán đế, cho rằng chiến công đó là do tập thể các tướng
hết lòng vì nước, nếu chỉ có gia đình ông hưởng ân mưa móc thì sau này rất khó
khích lệ ba quân. Hán Võ đế tuy rất cố chấp nhưng vẫn nhận ra sự sai lầm của
mình, lập tức cũng phong cho các tướng trong trận đánh này tước Hầu.
Khi Vệ Thanh cùng với Hoắc
Khứ Bệnh đem 15 vạn quân tiến đánh Hung Nô là lần cuối cùng trong cuộc đời tướng
lãnh của ông. Vì vậy Vệ Thanh mặc dù đã lớn tuổi vẫn đem hết sức mình ra chỉ
huy ba quân chiến đấu và kết quả cuối cùng cũng đã tương đối làm cho Hung Nô
không còn cơ hội phát triển được như trước nữa.
Thế nhưng đổi lại chiến
thắng, quân tướng nhà Hán cũng thiệt hại khá nặng nề do vì không hợp thủy thổ đất
Hung Nô. Sau khi chiến dịch khép lại, triều đình Hán tính toán đã tiêu diệt được
hơn nửa số quân thiện chiến của Hung Nô, ước khoảng gần 10 vạn nhưng quân Hán
cũng chỉ còn khoảng 3, 4 vạn về trong số 15 vạn khi xuất phát. Với bản chất hiếu
thắng và tàn nhẫn, Hán Võ đế chấp nhận số thương vong cao ngất ấy nhưng không
biết rằng đó chính là một phần nguyên nhân làm cho triều đại Hán huy hoàng ngày
nào trở thành suy yếu rồi sau cùng diệt vong dưới bàn tay lộng hành của Vương
Mãng.
Trong chính sử ghi chép về
đại chiến dịch này rất sơ lược, có vài điểm khác biệt, nhất là số thương vong của
quân Hung Nô:
“Đây là trận chiến có quy
mô rất lớn do Hán Võ đế huy động ba quân đánh lên Mạc Bắc (sa mạc vùng Nội Mông
Cổ). Hán Võ đế sai hai Đại tướng là Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh dẫn 10 vạn kỵ
binh và một số lớn quân tinh nhuệ, lên đến vài chục vạn. Nghe tin Thiền Vu Hung
Nô đóng quân ở phía đông, Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh liền chia quân làm hai cánh
tìm kiếm. Lúc đó Hoắc Khứ Bệnh mới là Phiêu kỵ Tướng quân, làm Phó tướng cho Vệ
Thanh, đem quân từ Đại quận xuất phát tiến đánh quân Hung Nô. Vệ Thanh xuất
phát từ Định Tương vượt biên giới khống chế mặt bên trái của quân Hung Nô. Sau
khi dò biết đích xác nơi trú quân của Thiền Vu Hung Nô, Vệ Thanh liền đem đại
quân tiến đánh, sai hai tướng là Lý Quảng và Triệu Thực đến địa điểm ngăn chặn
đường rút lui của Hung Nô. Thế nhưng Lý Quảng và Triệu Thực đi lạc đường, không
tới đúng điểm dự định, vì vậy Vệ Thanh bắt giết được Thiền Vu Hung Nô, làm cho
cuộc chiến kéo dài hơn tính toán.
Khi Vệ Thanh đi xuyên qua
sa mạc thì bị quân Hung Nô xuất hiện đánh chặn. Nơi sa mạc hoàn toàn không có
công sự cố thủ nên Vệ Thanh sai quân dùng chiến xa xếp thành vòng tròn, từ đó
các cung thủ bắn tên ra như mưa. Khi thấy quân địch đã loạn, Vệ Thanh liền sai
5000 kỵ binh xông ra đối chiến với hơn 1 vạn kỵ binh Hung Nô. Hai bên giao chiến
đẫm máu đến mãi chiều tối, Vệ Thanh liền chia quân ra làm hai cánh cùng lúc
đánh kẹp kỵ binh Hung Nô vào giữa, kết quả là đại thắng. Phía quân của Hoắc Khứ
Bệnh cũng đụng độ với đại quân Hung Nô. Kết quả Hoắc Khứ Bệnh tiêu diệt hơn 7 vạn
quân địch, làm cho triều đình Hung Nô rúng động.
Một ghi chép khác về danh
tướng Hoắc Khứ Bệnh cho rằng ông không phải mất trên đất Hung Nô mà về bị bệnh
nặng, khi về tới Trường An mới mất. Theo ghi chép này thì Hoắc Khứ Bệnh tổng cộng
tiêu diệt đến hơn 10 vạn quân Hung Nô, so với con số của triều đình nhà Hán đưa
ra chỉ là khoảng 10 vạn cộng cả chiến công của Vệ Thanh thì có khoảng cách khá
xa. Điều này không được nhiều người khảo cứu bởi mục đích cuối cùng là tiêu diệt
Hung Nô đã thành công, mà thành công nào không phải trả giá bằng xương máu tướng
sĩ, thiệt hại là lẽ dĩ nhiên, thậm chí còn có thể cao hơn nữa do vì thời tiết
và thủy thổ Hung Nô hết sức khắc nghiệt. Số quân thật sự chết vì chiến trận có
lẽ còn ít hơn số quân bị chết do bệnh tật.
Cơ bản sau trận chiến Mạc
Bắc người Hung Nô đã bị chia rẽ và mỗi Thiền Vu có chủ trương khác nhau, do vậy
không thể đồng lòng nhất trí để tập hợp các bộ tộc thành một lực lượng đủ mạnh
tấn công Trung nguyên nữa.
Sau khi phần lớn số quân
Hung Nô bị đại quân của Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh tiêu diệt, số tàn quân còn lại
theo chân Thiền Vu Y Trí Da phải chạy mãi lên tới miền bắc sa mạc Gôbi trú ẩn ở
đó. Đến đời Hán Tuyên đế, vào năm 73 trước Công nguyên kết hợp cùng với quân của
bộ tộc Ô Hoàn một lần nữa đánh đuổi người Hung Nô nhưng không tiêu diệt được hết
mà chỉ làm cho họ chia rẽ thành nhiều nhóm bộ tộc khác nhau, thế lực suy yếu thấy
rõ.
Đến năm 51 trước Công
nguyên, một Thiền Vu của Hung Nô có chủ trương ôn hòa hơn tên là Hô Hàn Da, quyết
định đưa con trai của mình đến triều Hán làm con tin đổi lấy hòa hiếu. Đó là
vào thời Hán Tuyên đế. Đến khi Hán Nguyên đế lên ngôi, nhân dịp Tết Nguyên Đán,
đích thân Hô Hàn Da đến Trường An chúc thọ và xin được cưới Công chúa. Hán
Nguyên đế bằng lòng, phong cho một phi tần là Vương Chiêu Quân làm Công chúa rồi
gả cho Hô Hàn Da.
Câu chuyện Vương Chiêu
Quân cống Hồ (Hung Nô) trở thành một câu chuyện diễm tình bởi sự thao túng của
họa sĩ Mao Diên Thọ. Trong chuyện này Hán Nguyên đế hết sức tức giận, giết cả
nhà Mao Diên Thọ và rất tiếc rẻ mỹ nhân Vương Chiêu Quân.
Thế nhưng theo một ghi
chép khác thì khi Hán Nguyên đế thấy mặt Vương Chiêu Quân thì lập tức say mê,
bí mật thương thuyết với Hô Hàn Da đánh đổi bằng 5 phi tần khác. Hô Hàn Da bằng
lòng và vẫn giữ tình hữu nghị giữa hai nước như trước.
Những kết quả chính trị của
Hô Hàn Da thúc đẩy các Thiền Vu bộ tộc khác theo gương. Một Thiền Vu khác tên
là Chí Chi cũng gởi con trai đến triều Hán xin nghị hòa hiếu nhưng sau cùng bị
quân Hán phối hợp cùng với quân Tây Vực giết chết, việc hiếu hòa tạm thời bị đứt
đoạn và ít nhiều người Hung Nô trở lại quấy nhiễu. Khi Vương Mãng soán ngôi nhà
Hán, thành lập triều Tân cũng phải nhiều lần đem quân đi đánh dẹp, chứng tỏ
biên cương Trung nguyên giáp giới với các dân tộc du mục phía bắc như Mông Cổ,
Khiết Đan, Nữ Chân, Tây Vực, v.v... không khi nào được bình yên lâu dài. Và các
tướng soái Trung Hoa vẫn luôn luôn xuất hiện mỗi khi có biến động để bảo vệ
biên cương.
8 CHU DU - ANH HÙNG LỠ VẬN
Triều đại Nhà Hán quả thật
huy hoàng và kéo dài chỉ kém nhà Tây Chu cổ đại. Triều Hán chỉ tạm dừng lúc
Vương Mãng tiến quyền tự xưng Hoàng đế và lập ra triều Tân. Thế nhưng số mệnh của
Vương Mãng chỉ làm Hoàng đế được 15 năm rồi các tông thất nhà Hán nổi lên, tiếp
tục một giai đoạn mới gọi là Đông Hán. So ra thời Đông Hán không thịnh trị bằng
thời Tây Hán vì có khá nhiều vị Hoàng đế u mê bạc nhược. Do đó đến năm 220 triều
đại này suy tàn, đưa đất nước Trung Hoa rơi vào cảnh tương tàn hỗn loạn với nhiều
tập đoàn quân phiệt thi nhau tranh giành quyền lực. Tuy cuối cùng chỉ còn lại 3
thế lực quân phiệt lớn nhất của Tôn Quyền, Lưu Bị và Tào Tháo - được sử gọi là
thời Tam Quốc - nhưng các cuộc chiến vẫn diễn ra liên miên khiến người dân hết
sức điêu linh. Thời loạn tất có anh hùng hào kiệt xuất hiện và các thế lực đều
tranh nhau mời gọi các nhân tài ấy về phò tá cho mình.
Nhắc đến thời Tam Quốc
thì không ai không nghĩ tới một nhân tài kiệt xuất, đó là Khổng Minh Gia Cát Lượng.
Thế nhưng xét về mặt Tướng soái thì ông không phải, ông phải được xếp vào hàng
các Mưu lược gia, Chiến lược gia, hoặc là Chính trị gia với chức vụ Thừa tướng
triều Thục Hán. Sở dĩ Gia Cát Lượng phải kiêm nhiệm chức vụ Tướng soái trong những
trận đại chiến kinh tâm động phách, đầy mưu trí khó lường là vì các tướng của
Thục Hán chưa ai đủ tài năng làm Tướng Soái.
Quan Vũ có sức mạnh, lòng
trung thành tuyệt đối nhưng lại không biết đến quyền biến nên cuối cùng mất mạng
oan uổng ở đất Kinh châu; Trương Phi với tính thô bạo nóng nảy; Ngụy Diên võ
nghệ cao cường; Triệu Vân oai hùng với trận Đương Dương Trường Bản khiến đối
phương nghe tên đã khiếp vía bỏ chạy. Nhưng những tướng ấy hoàn toàn thiếu một
bộ óc kết hợp giữa mưu lược với binh pháp, kết hợp giữa hoàn cảnh với sự quyền
biến, không thể lãnh đạo được những đoàn quân lớn. Đến ngay như Nhai Đình là điểm
rất trọng yếu, thế mà Gia Cát Lượng cũng đành phải sai Mã Tốc nắm giữ để rồi trở
thành tội đồ cho cả chiến dịch. Sau này triều Thục Hán có được một Khương Duy
văn võ toàn tài nhưng lại thiếu tư duy chiến thuật, vì vậy không thể vực dậy được
toàn cảnh đã quá suy sụp khi Gia Cát Lượng mất.
Về thế lực Tôn Quyền ở
Giang Đông tuy không nhiều danh tướng nhưng lại có một nhân tài hiếm có, đó là
Chu Du. Ông không được các nhà sử học nhắc đến nhiều bởi vì ông chết quá trẻ,
chết vì sinh không phùng thời, vì đúng thời điểm ấy đã có Gia Cát Lượng, đành
phải ôm hận mà chết. Tuy thời gian hoạt động không lâu nhưng Chu Du cũng đã nắm
được chức vụ Đại Đô đốc, tức là tướng soái nhưng thiên về thủy chiến nhiều hơn.
Chu Du tên thật là Chu
Công Cẩn, ngay từ khi còn trẻ đã nổi tiếng có dung mạo tuấn tú, rất giỏi về thơ
văn và âm luật, được người thời đó tặng cho biệt hiệu là ”Mỹ Chu lang”. Cuộc đời
ông không gặp nhiều cuộc đại chiến nên chỉ nổi tiếng khi tham dự trận Xích
Bích. Tuy trận này Gia Cát Lượng đưa ra kế hoạch, thật sự phải có sự trợ giúp của
khá nhiều mưu sĩ tướng quân như Bàng Thống, Hoàng Cái, Cam Ninh, v.v... mới đạt
được kết quả huy hoàng như vậy. Trong cuộc chiến đó, phần đánh thủy chiến đều
do Chu Du chỉ huy và lập được công lớn cho triều Đông Ngô.
Chu Du sinh trưởng ở quận
Thư quận Lư Giang, theo chính sử thì ông sinh năm 175 mất năm 210 tức mới vừa
tuổi 35. Chu Du xuất thân từ gia đình quyền quý, các đời tổ tiên đều giữ chức
quan lớn như Thái úy hay Lệnh doãn dưới triều Đông Hán. Thế nhưng triều đại này
không ổn định, đến cuối triều đại thì lại càng hỗn loạn do việc các thế lực
quân phiệt cát cứ gây ra.
Đến đời Hán Linh đế, nhà
vua càng làm cho triều chính suy đồi hơn với việc sủng ái bọn Thập Thường thị
(tức bọn 10 tên hoạn quan mà đứng đầu là tên Trương Nhượng). Hán Linh đế dung
túng cho bọn này tha hồ tác oai tác quái, mãi đến lúc sắp chết mới tỉnh ngộ, vội
triệu Đại tướng quân Hà Tiến vào trăn trối nhờ chấn chỉnh triều đình. Thế nhưng
Hà Tiến chỉ là một tên đồ tể mổ thịt bán ngoài chợ, dựa vào quyền người em gái
được nạp vào làm Phi tần trong cung mà lên tới chức vụ cao trọng. Hà Tiến liền
cùng Viên Thiệu bàn soạn kế hoạch diệt trừ Thập thường thị nhưng kế sách chẳng
ra gì, đành phải phát hịch gọi các trấn đem quân về cứu giá. Nhân cơ hội này Đổng
Trác đang giữ chức Tiền Tướng quân, tước Ngao Hương hầu kiêm Thứ sử Tây Lương nắm
được thời cơ, lũng đoạn triều chính càng làm cho quốc gia thêm nát bét. Khi Đổng
Trác chuyên quyền đưa Trần Lưu vương lên làm Hán đế thì hầu hết các triều thần
đều tức giận, bắt đầu cho sự hình thành các thế lực quân phiệt.
Viên Thiệu, Tôn Kiên rồi
đến Tào Tháo sau khi âm mưu giết Đổng Trác không thành đều chạy khỏi kinh đô và
chiêu mộ quân binh, lập nên các thế lực độc lập. Riêng Tôn Kiên có sự tích khác
lạ hơn người, đó là khi thế lực Viên Thiệu đang giao tranh cùng với Tào Tháo.
Lúc ấy Tôn Kiên ở trong thành lạc Dương, xem thiên văn thấy sao Tử Vi mờ tối
thì than thầm trong bụng, không biết rồi đây ai sẽ là chân chúa xứng đáng để
mình theo phò tá. Đột nhiên Tôn Kiên thấy có luồng hào quang ngũ sắc từ dưới
cái giếng nước bỏ hoang bốc lên sáng chói.
Tôn Kiên liền sai quân đốt
đuốc rồi bắt trèo xuống xem có gì dưới đó. Tên quân này đưa lên một thi thể phụ
nữ đã chết nhưng hình hài không bị tan rữa, có đeo một cái túi gấm trước ngực.
Tôn Kiên liền thò vào túi gấm lấy ra cái hộp gỗ, trong đó đựng chiếc ấn bằng ngọc.
Tay cầm chạm khắc năm con rồng uốn lượn, mặt ấn khắc tám chữ: “Thụ mệnh
vu thiên, ký thọ vĩnh xương”. Tôn Kiên là tướng nên hoàn
toàn không biết ngọc ấn ấy ra sao, bèn đi hỏi Trình Phổ, được cho biết:
– Đó là viên ngọc tỷ truyền
quốc của Văn vương nước Sở, làm bằng viên ngọc họ Hòa. Năm thứ 26, Tần vương
chiếm được cho làm ấn quốc bảo, chính tay Lý Tư viết tám chữ ấy. Đến năm thứ
28, Thủy Hoàng đế tuần du Động Đình hồ, thấy có gió dữ bèn ném xuống và yểm trấn.
Thế nhưng đến năm 38 bất ngờ có người đem trả lại. Viên ngọc ấn này truyền đời
từ Hán Cao đế Lưu Bang đến Vương Mãng, Hiếu Nguyên đế rồi sau vào tay Quang Võ
đến Lưu Tú. Đến lúc bọn Thập Thường thị làm loạn triều đình thì tự nhiên ngọc ấn
mất tích.
Nay ông được ngọc ấy thì
là trời ban cho giang sơn, hãy về Giang Đông mà lập quốc.
Thế nhưng Viên Thiệu biết
chuyện này và do vậy xảy ra cuộc đánh nhau giữa ông ta và Tôn Kiên. Sau đó Tôn
Kiên trốn về Giang Đông, Viên Thiệu cũng kéo quân đến Quan Đông cát cứ. Từ đấy
triều đình Giang Đông được thành lập và truyền lại cho Tôn Quyền. Cha ông của
Chu Du đi theo Tôn Kiên, trở thành công thần của triều đình Giang Đông.
Chu Du được thừa hưởng tập
ấm của cha ông, rất hâm mộ danh tướng Tôn Sách và Mã Viện đời Hán. Khi Tôn Sách
nắm binh quyền thì liền mời Chu Du ra phụ tá, phong làm Kiến Uy Trung lang tướng,
chỉ huy một đoàn quân. Có thể nói, ngay từ lúc còn nhỏ tuổi, mới vừa 24, Chu Du
đã đặc biệt được đảm nhận chức tướng, do vậy có nhiều kinh nghiệm trong việc điều
động ba quân. Mẹ của Tôn Sách là Tái phu nhân lúc ấy nắm quyền triều chính cũng
rất mến mộ Chu Du, thường hay nói với con là Tôn Quyền phải trọng dụng Chu Du
làm trụ cột cho quốc gia.
Trong số các công thần có
Trình Phổ là người già dặn kinh nghiệm, tuổi cao đức trọng nhưng lại rất hay
xung khắc với Chu Du, cho ông là non người trẻ dạ chưa thể làm nên việc lớn.
Chu Du không vì vậy mà tức giận, vẫn một lòng đối đãi kính cẩn, trải qua một thời
gian đến ngay Trình Phổ cũng phải khâm phục và kết giao với ông, coi như bạn
vong niên.
Vào năm 200, Tôn Sách bị
thích khách giết. Chu Du nhận được tin liền dẫn quân từ Ba Kỳ tới đất Ngô chịu
tang, thấy tướng mạo của Tôn Quyền oai hùng, miệng lớn cằm vuông, mắt biếc râu
tía, ánh mắt sáng như điện, nên biết người này có thể làm nên đại nghiệp, quyết
định ở lại phò tá cho Tôn Quyền. Lúc đó, do Tôn Sách vừa mới chết, địa vị của
Tôn Quyền không ổn định nên khi được gặp Chu Du rất mừng, liền hỏi về kế sách
giữ gìn cơ nghiệp. Chu Du liền nói:
– Xưa tới nay bất cứ minh
chủ nào tài giỏi đến đâu mà không có nhân tài phò tá thì đều thất bại. Vì vậy
điều trước tiên là phải biết chiêu dụng hiền tài thì giang sơn mới bền vững.
Tôn Quyền cả mừng, xin Chu Du giúp cho mình. Chu Du liền tiến cử một mưu sĩ tên
là Lỗ Túc. Nguyên Lỗ Túc tên tự là Tử Kính, người Đông Xuyên, tính tình hết sức
thẳng thắn và hiếu lễ với cha mẹ. Sau khi đàm đạo với Lỗ Túc, Tôn Quyền càng mừng
thêm vì quả thật ông ta là người có kiến văn cao thâm, lại nhờ Lỗ Túc tiến cử một
người khác là Gia Cát Cẩn làm mưu sĩ.
Chính Gia Cát Cẩn là người
vạch ra kế hoạch cho Tôn Quyền tuyệt giao với Viên Thiệu, tạm thời hòa hoãn với
Tào Tháo để đủ thời gian xây dựng giang sơn. Tôn Quyền nghe theo nên được Tào
Tháo xin với Hiến đế phong cho làm Thái thú Cối Kê, tạm thời chưa bị ai nhòm
ngó tới. Với chủ trương chiêu mộ nhân tài nên ngoài Chu Du ra, Tôn Quyền còn kết
nạp được một số mưu sĩ danh tướng như Trương sử Trương Chiêu, Cố Ưng, Hoàng
Cái, Lã Mông, v.v...
Kết hợp với những nhân
tài này, Chu Du ra sức chỉnh đốn triều chính, luyện tập quân mã nên chẳng bao
lâu đất Giang Đông đã phát triển, nhân dân no ấm.
Lúc ấy là vào năm 202,
Viên Thiệu dẫn đại quân hơn 80 vạn nhưng phô trương thanh thế lên đến 100 vạn
tiến đánh Tào Tháo. Với quân binh ít hơn nhưng Tào Tháo là người kiêu hùng lắm
mưu trí, dùng ít đánh nhiều và cuối cùng nổi tiếng với trận Quan Độ, đánh tan
80 bạn quân của Viên Thiệu. Nhân thắng lợi này, Tào Tháo liền nhân danh Thiên tử
nhà Hán, bắt ép các thế lực cát cứ phải thần phục, nhất là đất Giang Đông màu mỡ.
Nhận được chiếu thư của Tào Tháo, Tôn Quyền hết sức lo lắng, hội quần thần lại
bàn soạn kế sách đối phó. Quần thần Đông Ngô vì sợ hãi sức mạnh của Tào Tháo, lại
vẫn mong muốn được “chính danh” là tôi thần nhà Hán nên nhiều người khuyên Tôn
Quyền nên phục tùng Tào Tháo. Riêng Chu Du nhất quyết không chịu, đứng ra bài
bác:
– Tướng quân được kế thừa
cơ nghiệp của huynh trưởng (Tôn Sách), đất có sáu quận, quân đông lương nhiều,
tướng lĩnh tài năng cũng không thiếu. Hiện nay đất Gang Đông sản vật đầy đủ, có
thể tự túc tự cường được, sao lại chịu cúi đầu với người. Theo tôi thì Tướng
quân nên khước từ việc này, chấn chỉnh binh mã sẵn sàng đối đầu. Dù sao đi nữa
làm vua một phương vẫn hơn là làm tôi tớ cho họ Tào.
Lời nói của Chu Du rất
kiên cường nên cuối cùng Tôn Quyền nghe theo, từ chối việc đưa người về Hứa Đô
làm con tin, càng ra sức xây dựng đất Giang Đông vững mạnh hơn. Việc này khiến
Tào Tháo hết sức tức giận nhưng khi ấy ông ta còn phải đối đầu với các thế lực
quân phiệt khác nên tạm thời để yên. Đến năm 208 Tào Tháo cơ bản đã bình định
được khu vực phương bắc, bắt đầu quay qua nhìn tới phương nam.
Lấy cớ Lưu Biểu không phục
tùng triều đình, Tào Tháo dẫn 20 vạn quân tiến đánh Kinh châu, toan tính sau
khi hoàn tất sẽ thừa thế đánh luôn Đông Ngô. Xuống phía đông tiêu diệt Tôn Quyền.
Tin này khiến cả triều đình Đông Ngô đều hoảng loạn, đa số đều sợ hãi muốn đầu
hàng Tào Tháo cho yên thân. Riêng Lỗ Túc chủ trương liên kết với Lưu Bị để chống
với Tào Tháo, được Chu Du tán thưởng.
Chu Du phân tích tình
hình cho Tôn Quyền hiểu được đại thể, đó là thật sự phương bắc chưa hoàn toàn
quy phục Tào Tháo, Mã Siêu và Hàn Toại tuy không phải là thế lực mạnh nhưng vẫn
còn ung dung đóng quân ở Quan Tây thì là uy hiếp rất lớn đối với Tào Tháo. Nếu
như hai thế lực này nhân cuộc chiến giằng dai ở Giang Đông và thừa cơ đánh úp Hứa
Xương thì Tào Tháo sẽ hai đầu thọ địch. Đó là điều bất lợi Tào Tháo không muốn
nói ra, thật sự chưa chắc đã dám tiến quá sâu vào đất Giang Đông.
Chu Du rất giỏi về thủy
chiến, trong khi ấy đất Giang Đông lại nhiều sông rạch chằng chịt, việc tiến
quân bằng kỵ binh của Tào Tháo sẽ bất lợi. Ngay cả thủy thổ đất Giang Đông ẩm
thấp nhiều chướng khí cũng là điều không lợi cho quân của Tào Tháo. Vì vậy Chu
Du cương quyết chống trả bằng sức mạnh quân sự và bằng tài năng của mình để Tào
Tháo nể mặt.
Kế hoạch của Chu Du rất
thuyết phục nên sau cùng Tôn Quyền nghe theo, phong cho ông và Trình Phổ làm Tả
Hữu Đô đốc, Lỗ Túc làm Tham quân hiệu úy, đồng thời cấp cho Chu Du 3 vạn quân để
đến Kinh châu hội cùng Lưu Bị sửa soạn chống trả với Tào Tháo. Đó là thời điểm
bắt đầu cho trận đánh Xích Bích nổi tiếng đi vào lịch sử quân sự mà Chu Du có
công lớn nhất.
Đồng thời lúc đó Lưu Bị
cũng muốn chống lại quân Tào nên sai Khổng Minh đến Đông Ngô bàn việc liên
minh. Chiều hôm ấy Khổng Minh theo Lỗ Túc đến chỗ Chu Du, nóng ruột hỏi ngay
xem Chu Du toan tính ra sao? Chu Du hững hờ đáp là phải đầu hàng thôi khiến Lỗ
Túc vô cùng ngạc nhiên, hầm hầm đứng dậy nói:
– Cơ nghiệp Giang Đông đã
trải qua 3 đời rồi, chẳng lẽ đến nay không có ai tài cán phó giúp, để giang sơn
rơi vào tay kẻ khác hay sao? Ai cũng trông chờ vào tài của Đô đốc, hóa ra Đô đốc
cũng là kẻ hèn kém chẳng khác gì đàn bà.
Đây là câu sỉ mạ khá nặng
nhưng Chu Du tỏ ra thản nhiên, lấy lý lẽ là quân Tào quá mạnh, không thể chống
lại nổi. Hai người tranh cãi kịch liệt thế mà Khổng Minh cứ ngồi mà cười, chẳng
nói lời nào. Chu Du thấy vậy hỏi ý kiến thì Khổng Minh cũng cho là hàng tốt
hơn. Chu Du liền cười ngất, hùa theo tán thưởng khiến Lỗ Túc nổi giận, đỏ mặt
phừng phừng mà mắng Khổng Minh tiếp tay cho giặc. Khổng Minh cũng không hề giận,
bình thản nói:
– Tào Tháo quân đông tướng
mạnh, dụng binh như thần nên chính chúa công của tôi cũng phải chạy dài. Nay
Chu Đô đốc muốn về hàng để vợ con được vinh thân phì gia là phải lắm rồi.
Thấy Lỗ Túc càng thêm giận,
lớn tiếng mắng chửi, Khổng Minh dùng kế khích tướng, nói:
– Thôi thế thì không phải
đầu hàng, cũng không phải ra quân. Chỉ cần dâng Nhị Kiều ra là Tào Tháo rút lui
ngay.
Lần này Chu Du trúng kế,
tức giận đến đỏ bừng cả mặt, nghiến răng nói lớn:
– Giặc Tào thật láo xược.
Rồi sau đó Chu Du cùng với
Khổng Minh bàn việc hợp binh. Nhân cơ hội ấy Khổng Minh lại dùng kế khích tướng,
cho là Chu Du chỉ giỏi đánh thủy chứ đánh bộ không thể bằng Tào Tháo. Chu Du cả
giận, nói luôn:
– Được rồi, ngày mai ta sẽ
đem quân đi cướp lương thảo của Tào Tháo, xem đánh bộ ai giỏi hơn.
Khổng Minh điềm tĩnh đáp:
– Đánh thủy thì chắc chắn
Tào Tháo không bằng Đô đốc. Hắn lại là tay chuyên đi cướp lương thảo của đối
phương với nhiều mưu kế tài tình. Vì vậy chắc chắn đã đề phòng đối phương sẽ cướp
lương thảo, ra quân lần này chắc chắn ông sẽ thất bại.
Tuy Chu Du nổi tiếng là
người nóng nảy nhưng rất có trí tuệ, nghe vậy liền giật mình khen Khổng Minh
nói đúng. Vừa lúc ấy Tào Tháo sai sứ giả mang chiếu thư đến, phía ngoài có ghi
mấy chữ rất láo xược: “Đại Thừa tướng Hán triều lệnh cho Chu Đô đốc phải xem
thư này”. Chu Du nổi nóng lên, chẳng cần biết trong thư nói gì, lập tức xé tan
làm trăm mảnh rồi sai quân đem sứ giả ra chém đầu ngay.
Chém sứ giả xong, Chu Du
sai Cam Ninh làm tiên phong, Hàn Đương và Tưởng Khâm dẫn hai cánh quân đi hai
bên, còn mình ở trung quân tiếp ứng. Dĩ nhiên khi Tào Tháo nghe tin Chu Du chém
sứ giả thì nổi giận đùng đùng, lập tức sai hai hàng tướng ở Kinh châu là Sái Mạo
và Trương Doãn mang quân đi tiên phong, còn chính mình đốc thúc chiến thuyền
kéo thẳng đến cửa Tam Giang dàn trận.
Hai bên giao chiến được mấy
hiệp thì Sái Huân bị Cam Ninh chém chết, Hàn Đương và Tưởng Khâm thừa thế xua
quân xông lên đánh giết quân Tào một trận tơi bời. Thế nhưng Chu Du cũng tự biết
khó có thể truy kích Tào Tháo, đành cho thu quân trở về.
Sau trận thua này, Sái Mạo
và Trương Doãn xin Tào Tháo cấp cho một số quân, lập một thủy trại lớn ở luyện
tập quân sĩ thủy chiến, quyết đánh báo thù. Thủy trại này chia làm 24 cửa, canh
phòng rất nghiêm mật, khi trời tối đèn đuốc sáng rực cả một góc trời.
Chu Du ở bên này sông,
nhìn thấy cảnh tượng ấy cũng hơi kinh sợ, cùng với vài viên tướng bơi thuyền nhỏ
đến quan sát tình hình, thầm khen tài của Sái Mạo và Trương Doãn, trong lòng đã
có dự tính trước khi xuất quân đánh Tào thì cần phải diệt trừ hai tướng này trước.
Lúc ấy Tào Tháo đã cho thuyền ra bắt thám thính của địch nhưng Chu Du dùng thuyền
nhẹ nên chạy khỏi dễ dàng.
Tào Tháo thấy vậy rất lo
về mặt thủy quân, bàn với các tướng việc đối phó. Một viên tướng tên là Tưởng
Cán bước ra nói:
– Trước kia tôi và Chu Du
giao thiệp rất thân mật, bây giờ nếu Thừa tướng bằng lòng thì tôi xin qua trại
địch mà thuyết phục dụ hàng một phen.
Tào Tháo mừng lắm, lập tức
ra lệnh cho Tưởng Cán đi ngay. Tưởng Cán mặc áo vải, đầu đội khăn vải, phong trần
dầu dãi qua mấy vất vả, cuối cùng mới được quân canh vào báo với Chu Du. Vừa
nghe qua, Chu Du đã cười ngất, nói với các tướng:
– Ta đã hiểu việc này ra
sao rồi. Vậy ngươi hãy chờ xem sắp có chuyện vui đây!
Khi gặp mặt, Chu Du hỏi
ngay đây là việc quân hay là bạn bè đến chơi. Tưởng Cán mau mắm đáp chỉ là đến
thăm bạn mà thôi. Chu Du liền cho mở “Quần Anh hội”, tiệc rượu bày ra tươm tất,
sai Thái Sử Từ làm giám tửu rồi nói với mọi người:
– Tử Dực (Tưởng Cán) là bạn
ngày trước, nay tuy là quân hai bên nhưng vẫn nhớ tới nhau đến thăm, không phải
là thuyết khách. Vì vậy xin cứ vui say thật sảng khoái vào, đừng e dè gì hết.
Khi rượu đã mấy tuần, ai
nấy đều ngà ngà say, Chu Du làm như quá cao hứng, nói với Tưởng Cán:
– Bằng hữu có muốn đi
quanh một vòng quân doanh để xem tôi bố trí ra sao không?
Tưởng Cán cả mừng, chỉ đợi
có thế liền nhận lời. Khi đi, Chu Du đã cho quân sĩ bố trí sẵn nên nơi đâu cũng
gươm giáo sáng lòa, quân binh chỉnh tề, lương thảo chất cao như núi khiến Tưởng
Cán không khỏi kinh hoảng trong lòng nhưng ngoài mặt vẫn giả như vui vẻ khen ngợi
quân mã Giang Đông quả là không sai với lời đồn.
Sau khi đi một vòng, mọi
người lại trở về bàn tiệc ăn uống tiếp tục, ai nấy đều say mèn, có người gục
ngay xuống bàn mà ngủ. Chu Du giả say ân cần mời Tưởng Cán ở lại ngủ trong quân
doanh của mình nhưng lại nôn ọe đầy ra khiến Tưởng Cán không sao ngủ được. Nằm
trằn trọc đến canh hai, Tưởng Cán nhìn qua thấy Chu Du ngủ như chết thì liền
nhè nhẹ bước tới gần án thư, đọc trộm các văn thư còn vất lung tung ở đó. Trong
số thư từ, Tưởng Cán liếc thấy có tên Sái Mạo và Trương Doãn thì vội đọc kỹ.
Thư viết rất ngắn, đại khái chỉ báo cho biết đã lừa được Tào Tháo, khi nào diệt
được thì sẽ cùng nhau sum họp chè chén một bữa no say cho thỏa chí. Tưởng Cán
liền giấu bức thư vào trong tay áo rồi trở về chỗ cũ giả vờ ngủ. Được một lúc,
chợt có quân canh vào báo:
– Xin Đô đốc tỉnh rượu,
có người ở Giang Bắc đến báo tin mật.
Chu Du cựa mình ngái ngủ
nhưng vẫn gắt lên:
– Ngươi ra đi, có việc gì
thì hãy đợi sau.
Sau đó Chu Du lén nhìn,
thấy Tưởng Cán đang ngủ say mới bước ra nói chuyện với tên quân vừa vào báo
tin. Tưởng Cán giả vờ ngủ nhưng lắng tai cố nghe xem chuyện bí mật ấy là gì. Thế
nhưng hai người xì xào rất nhỏ, Tưởng Cán chỉ nghe được lõm bõm mấy tiếng như
Sái Mạo, Trương Doãn mà thôi. Sau đó Chu Du lại trở vào và lần này lăn ra ngủ
ngay. Tưởng Cán liền nhân dịp này lẻn ra ngoài, nói dối bọn quân canh:
– Ta đi có việc cần. Các
ngươi cứ để Đô đốc ngủ yên, sáng mai báo là ta đã đi rồi là được.
Bọn quân canh không thấy
Tưởng Cán mang theo thứ gì nên để cho ông ta đi qua dễ dàng, về đến quân doanh,
Tưởng Cán lập tức đem mọi chuyện báo cho Tào Tháo biết. Tào Tháo nghe xong nổi
giận, sai quân gọi Sái Mạo và Trương Doãn đến hạch hỏi:
– Các ngươi lập thủy trại
huấn luyện quân binh tới đâu rồi? Bao giờ mới tiến binh được?
Hai tướng vô tình đáp:
– Việc huấn luyện còn
chưa hoàn tất, xin Thừa tướng đừng nôn nóng. Bao giờ xong chúng tôi sẽ báo lại.
Tào Tháo nghe vậy càng
tin chắc Sái Mạo và Trương Doãn cố tình trì hoãn, lớn tiếng mắng một hồi rồi
không cho biện giải gì hết, lập tức đem ra ngoài chém đầu. Thế nhưng Tào Tháo
là người đa mưu túc trí, khi giết xong Sái Mạo và Trương Doãn thì giật mình nói
lớn:
– Thôi rồi! Ta đã mắc kế
ly gián của Chu Du mất rồi.
Tuy vậy Tào Tháo không
nói ra điều này, phao tin là Sái Mạo và Trương Doãn bê trễ việc quân nên phải bị
trừng trị. Các bộ tướng của Tào Tháo nghe vậy hết sức kinh sợ, ai nấy răm rắp
lo việc của mình cho nghiêm chỉnh.
Riêng Chu Du nghe tin Sái
Mạo và Trương Doãn đã bị chém đầu thì cười lớn:
– Trừ xong hai tên này
thì ta chẳng còn lo lắng gì nữa, có thể tiến binh được rồi.
Thế nhưng lúc Lỗ Túc đến
thăm Khổng Minh thì ông nói ngay:
– Tôi xin chúc mừng về việc
diệt trừ được đối thủ khó chịu. Nhưng cái trò ly gián này Tào Tháo sẽ biết
ngay. Đừng nói gì với Chu Du mà tôi nguy mất.
Lỗ Túc hết sức kinh hãi,
vội chạy đến kể lại cho Chu Du nghe mọi việc. Chu Du liền nói:
– Kình địch nguy hiểm nhất
chính là Khổng Minh chứ không phải là Tào Tháo. Bây giờ phải tìm cách trị tội
Khổng Minh, giết đi thì ta mới yên tâm.
Ngày hôm sau Chu Du cho gọi
Khổng Minh đến, ban lệnh:
– Ngày xuất quân sắp tới
mà tên của chúng ta còn thiếu rất nhiều. Ta giao cho ông việc cung cấp tên, hạn
trong 10 ngày là phải có đủ. Nếu sai thì cứ theo quân pháp mà trừng trị.
Trong ý Chu Du dự định thể
nào Khổng Minh cũng nài xin thêm ngày, ông ta sẽ cho nhiều lắm là 5 ngày nữa.
Chẳng ngờ Khổng Minh cười nói:
– Việc ra quân rất gấp, nếu
để 10 ngày thì bê trễ hết còn gì. Tôi xin đảm nhệm việc này, chỉ trong 3 ngày
là có đủ!
Chu Du cả mừng, nghĩ thầm
trong bụng: “Đó là ngươi tự tìm lấy cái chết chứ không phải ta ép uổng”. Xong rồi
Chu Du liền gọi các tướng vào làm chứng, bắt Khổng Minh phải viết giấy cam đoan
rõ ràng. Khi ra về, Khổng Minh liền tìm Lỗ Túc trách cứ:
– Tôi đã nói là không nên
tiết lộ cho Chu Du biết. Nay ông đã hại tôi rồi thì phải cố giúp mới xong. Lỗ
Túc cũng rất ân hận về việc này, xin Khổng Minh cần gì thì mình quyết cung ứng
ngay. Khổng Minh liền mượn 20 chiếc thuyền, cho căng màn chung quanh, lấy cỏ
khô bó lại thành hình người chất đầy quanh mạn thuyền. Khi xong việc Khổng Minh
ung dung uống rượu ngâm thơ chẳng đả động gì tới khiến Lỗ Túc hết sức ngạc
nhiên. Đến ngày thứ 3, khi Lỗ Túc đang định đi ngủ thì Khổng Minh sai người đến
nói hãy đi lấy tên với mình.
Đêm hôm ấy có sương mù
dày đặc mờ mịt cả dòng sông, đứng sát nhau cũng khó thấy mặt. Khổng Minh liền lệnh
cho 20 chiếc thuyền buộc chặt với nhau rồi cứ thế mà lầm lũi đi đến thủy trại của
Tào Tháo. Khi đến gần bờ, Khổng Minh sai quân nổi trống và reo hò ầm ĩ làm cho
quân Tào hầu như thức dậy một lượt. Lỗ Túc hết sức kinh sợ, vội ngăn cản nhưng
Khổng Minh đoan quyết:
– Sương mù như thế này,
là người cẩn trọng, chắc chắn Tào Tháo không xuất quân đâu, ông đừng lo. Đi
chơi với tôi một vòng rồi về là đủ số tên ngay.
Quả nhiên lúc ấy Mao Giới
và Vu Cấm đã vào báo cho Tào Tháo biết nhưng đúng với suy đoán của Khổng Minh,
Tào Tháo chỉ lệnh cho quân sĩ cứ nhắm vào chỗ có tiếng trống mà bắn tên ra. Tiếng
trống càng rầm rộ bao nhiêu thì tên càng bắn ra như mưa. Khổng Minh cho thuyền
chạy tới chạy lui mấy vòng rồi mới sai quân sĩ đồng thanh hô to: “Tạ ơn Thừa tướng
ban cho tên”, sau đó 20 chiến thuyền vun vút chạy về doanh trại. Khi ấy Tào
Tháo mới biết mình lại trúng kế của Khổng Minh lần nữa, rất tức giận mà không
làm gì được.
Việc “mượn tên” này diễn
tả trong cuốn Tam quốc diễn nghĩa, là một cuốn tiểu thuyết dựa vào lịch sử và
có đôi chút phóng đại. Vì vậy việc “mượn tên” của Khổng Minh theo các nhà
nghiên cứu chỉ là làm giảm uy danh của Chu Du, đồng thời khen tặng Khổng Minh.
Thật sự, khi thủy chiến, dù ban ngày hay ban đêm quân sĩ đôi bên thường dùng
tên lửa bắn ra để đốt cháy chiến thuyền địch. Nếu như Khổng Minh dùng thuyền lấy
tên thì chỉ cần vài ba mũi tên có tẩm dầu là chiếc thuyền đã thành tro tàn mất
rồi. Trong giới nghiên cứu lịch sử, có người còn cho rằng La Quán Trung, người
viết cuốn Tam quốc diễn nghĩa chắc chưa bao giờ ra trận nên mới chế ra việc “mượn
tên” hoang đường như trên.
Có thể nói, việc liên
minh giữa Lưu Bị và Tôn Quyền là thật nhưng không phải nhờ vào Khổng Minh mà
quân Đông Ngô mới có tên để dùng. Chắc chắn với một chiến dịch lớn lao như vậy,
Chu Du là Đại tướng phải chuẩn bị đâu đó sẵn sàng rồi.
Riêng việc Chu Du dùng kế
phản gián giết hai tướng Sái Mạo và Trương Doãn đủ nói lên mưu trí của ông rất
sắc sảo. Vả chăng Chu Du là người kiêu ngạo, đâu cần nhờ tới mưu kế của Khổng
Minh mới thắng được Tào Tháo trong trận Xích Bích. Tào Tháo giỏi dùng kỵ binh với
cách đánh kỳ trận, còn thủy binh rất yếu kém nên mới chấp nhận sự đầu hàng của
Sái Mạo và Trương Doãn, nay trúng kế của Chu Du thì đã thất bại tới nửa phần,
còn lại là do tài điều binh của Chu Du.
Sự phán đoán này hoàn
toàn có cơ sở bởi vì sau đó quân tướng của Tào Tháo khi xuống thuyền đều bị say
sóng, nôn mửa mất sức, làm sao huấn luyện thành thạo được, lại là một yếu kém để
Chu Du hình thành kế “liên hoàn thuyền”, giúp cho kế hỏa công đại thắng lợi.
Ngay trong Tam quốc diễn nghĩa, đoạn viết về Chu Du cùng Khổng Minh bàn cách
đánh bại Tào Tháo cũng đủ chứng tỏ tài trí của ông không hề thua kém Khổng
Minh.
Khi ấy Chu Du nói với Khổng
Minh:
– Tôi đã có kế sách đánh
bại Tào Tháo dễ dàng.
Khổng Minh liền nói luôn:
– Tôi cũng có kế đánh bại
được Tào Tháo. Bây giờ mỗi người viết kế sách đó vào tay rồi so xem kế của ai
hay hơn.
Kết quả Chu Du và Khổng
Minh đều viết vào lòng bàn tay một chữ duy nhất “ôhỏa” hai người nhìn nhau mà
cười. Rõ ràng về mặt mưu kế Chu Du cũng rất nhạy bén, khi Tào Tháo sai hai em của
sái Mạo là Sái Trung và Sái Hòa lẻn sang đầu hàng thì Chu Du cũng biết ngay đó
là kế trá hàng, cốt dò xét xem quân Đông Ngô còn mưu kế gì khác nữa không.
Một bộ tướng của Chu Du
là Hoàng Cái cũng có mưu trí không kém, thấy chủ tướng không có ý định gì thì
nhân đêm khuya bí mật vào quân doanh khuyên Chu Du nên dùng hỏa công để đánh
Tào Tháo. Chu Du liền nói thật rồi nhân việc Sái Trung và Sái Hòa trá hàng liền
sai Hoàng Cái qua quân Tào trá hàng, giúp cho việc đánh hỏa thành công.
Hoàng Cái nhận lời, dùng
“khổ nhục kế” giả vờ chống đối với Chu Du, bị đánh đòn tới mức máu đổ thịt rơi
rồi nhân dịp chạy qua đầu hàng Tào Tháo. Lại có một mưu sĩ tên Hám Trạch trợ
giúp nên cuối cùng mới lừa được Tào Tháo, là người hết sức đa nghi. Lúc ấy Tào
Tháo mang tiếng chuyên quyền nên rất nhiều nhân sĩ không bằng lòng, vì vậy sau
này lại có một nhân tài sánh ngang với Khổng Minh là Bàng Thống đến hiến kế cho
Tào Tháo huấn luyện quân sĩ thủy chiến. Bàng Thống nói:
– Thừa tướng huấn luyện
quân sĩ thủy chiến thật đúng phép nhưng chưa hoàn toàn nên người không quen
sóng gió dễ bị bệnh. Nếu như Thừa tướng đem khoảng 30 đến 50 chiếc thuyền kết
thành một nhóm, dùng đai sắt ghép cứng lại rồi trải gỗ lên trên làm sàn thì có
thể đi lại dễ dàng như trên đất bằng vậy. Chẳng còn lo gì sóng gió nữa.
Tào Tháo cả mừng, lập tức
sai quân làm theo như vậy, gọi là “Liên hoàn thuyền”. Chẳng mấy chốc mọi việc
đã hoàn tất, Thủy quân Đô đốc Mao Giới và Vu Cấm đến thưa rằng có thể xuất quân
được rồi, Tào Tháo liền truyền cho toàn bộ chiến thuyền lần lượt tiến ra thủy
trại, đông đến nỗi chật cả một khúc sông dài, khí thế rất hào hùng. Hai mưu sĩ
dưới quyền của Tào Tháo là Trình Dục và Tuân Du có suy nghĩ sâu xa hơn, nói với
Tào Tháo:
– Thuyền kết thành nhóm
thì quả rất lợi. Thế nhưng lỡ đối phương dùng hỏa công thì thật khó xoay trở.
Tào Tháo đang lúc hứng khởi,
gạt đi không nghe lời của hai người, ung dung sai quân ra khiêu chiến. Chu Du
cũng xuất quân nghinh địch, hai bên đánh mấy trận bất phân thắng bại. Chu Du đứng
nhìn qua quân doanh của Tào Tháo, chợt thấy có một lá cờ bị gió to cuốn gẫy thì
rất mừng bởi vì đó là điềm xấu, chắc chắn Tào Tháo sẽ thất bại về tay mình. Thế
nhưng đột nhiên Chu Du nhớ lại một việc, kêu to một tiếng rồi hộc máu tươi ra,
ngã xuống thuyền mê man bất tỉnh.
Thật sự Chu Du chỉ giả vờ
vậy để cho quân Tào càng thêm kiêu ngạo, ông ngầm bàn với Khổng Minh lập đàn cầu
đảo để có gió đông nam rồi một mặt sai Cam Ninh cùng với Sái Trung đem quân đến
Ô Lâm cướp phá lương thảo; Thái Sử Từ chặn đường, Lã Mông tiếp ứng; Lăng Thống
đến Di Lăng; Đông Dương đánh trại của Tào Tháo; Phan Chương thì ra Hán Dương tiếp
ứng cho Đổng Tập.
Một loạt điều động quân
binh rất nghiêm chỉnh, chứng tỏ Chu Du rất tinh thông binh pháp, sắp đặt xong 6
hộ quân, Chu Du thống lãnh thủy quân chia làm 4 đội tiến đánh quân Tào. Trận
chiến xảy ra kinh hoàng, Tào Tháo cũng bị trúng tên vào tay, bao nhiêu chiến
thuyền không làm sao cởi ra kịp đều bị hỏa công của quân Đông Ngô thiêu rụi.
Quân Tào hoảng hốt bỏ chạy lên bờ cũng bị các hộ quân Đông Ngô phục sẵn xông ra
đánh giết tơi bời. Tào Tháo nhìn quanh thấy chỗ nào cũng có lửa cháy thì kinh
hoảng rụng rời, đành phải theo Trương Liêu lên một chiếc thuyền nhỏ bỏ chạy.
Lúc đó Hoàng Cái đuổi theo rất rát, thế mà Tào Tháo vẫn còn oai phong giương
cung bắn trúng vào vai Hoàng Cái một mũi tên, ngã lộn xuống sông.
Trận này Tào Tháo đại bại,
thu thập quân tướng cùng mình chạy về Nam quận. Khi qua Hoa Dung đạo lại bị
Quan Vũ chận đường, tưởng đâu lần này nắm chắc cái chết. May sao Tào Tháo khôn
ngoan nhắc lại tình nghĩa lúc trước đã tặng áo cẩm bào, ngựa Xích Thố cho Quan
Vũ mới thoát được. Lúc gần đến Nam quận, Tào Tháo được quân của Tào Nhân hộ tống
mới vào thành bình yên.
Đại thắng Xích Bích không
những biểu lộ tài năng chỉ huy ba quân của Chu Du mà còn mở ra một bước ngoặt mới
khiến Tào Tháo mất đất Kinh châu đã nắm chắc trong tay. Cũng nhờ vậy mà hai thế
lực của Tôn Quyền và Lưu Bị có thời gian phát triển thế lực, từ đó hình thành cục
diện Tam quốc, tức là thành thế chân vạc Ngụy, Thục, Ngô để giằng co với nhau.
Thua trận Xích Bích, Tào Tháo phải mất nhiều tâm huyết, nhiều năm sau mới phục
hồi lại được sức mạnh quân sự, cũng là một bài học kinh điển về hỏa công mà người
sau thường lấy để minh họa cho lý thuyết binh pháp.
Tiếc rằng khi tiến đánh
Nam quận, Chu Du bị trúng tên trọng thương. Tào Nhân biết việc này liền đem
quân ra khỏi thành truy kích nhưng Chu Du dù đang rất đau đớn vẫn chỉ huy ba
quân đánh bại quấn Tào, rút lui yên ổn. Mũi tên mà Chu Du trúng phải là tên có
bôi chất độc, vì vậy sau đó chạy chữa tận tình vẫn không sao khỏi được và ông mất
khi mới vừa 36 tuổi.
Người đời sau rất ít khi
nhắc đến Chu Du bởi vì cuộc sống của ông quá ngắn ngủi, nếu như có may mắn sống
đến 90 tuổi như danh tướng Vương Tiễn đời Tần thì chắc chắn ông sẽ còn cống hiến
cho đời nhiều trận đánh tài tình chứ không riêng gì trận Xích Bích.
9 QUÁCH TỬ NGHI - MỘT
LÒNG VÌ QUỐC GIA
Kể từ thời nhà Hán (cả
Tây Hán lẫn Đông Hán) bị diệt vong, đất nước Trung Hoa trải qua một thời kỳ hết
sức hỗn loạn. Sau thời kỳ Tam quốc là thời Nam Bắc triều, trải dài từ năm 220 đến
năm 618 mới được hưởng thái bình dưới thời nhà Đường, một triều đại khá huy
hoàng nhờ ở sự anh minh của gia tộc họ Lý mà khởi đầu là Lý Uyên. Thế nhưng triều
đại nhà Đường cũng gặp không ít hỗn loạn bởi sự thao túng của người đàn bà nổi
tiếng, đó là Võ Tắc Thiên. Sau khi Võ Tắc Thiên mất, đất nước vẫn chưa phục hồi
lại được thịnh trị như trước, qua các đời Đường Trung tông, Huệ tông, đến đời
Đường Huyền tông mới xuất hiện một vị tướng soái tài danh, xứng đáng được ghi
danh vào sử sách. Vị tướng soái ấy tên là Quách Tử Nghi.
Quách Tử Nghi sinh vào
năm 697 tức vẫn còn trong thời gian Võ hậu Võ Tắc Thiên cai trị với quốc hiệu
là Chu. Ông cũng là vị tướng soái có số tuổi xếp vào loại thọ nhất, trải qua bốn
đời vua từ Huyền tông, Túc tông, Đại tông rồi đến đời Đường Đức tông mới mất,
vào năm 781.
Quách Tử Nghi là người
huyện Trịnh thuộc Hoa châu, được trời đất ban cho thân hình cao lớn, diện mạo
oai phong đầy đặn. Khi lớn lên, người ta lại nhận thấy tính tình của ông cũng
can đảm khác người, trung trực dám nói dám làm, không hề cúi đầu trước cường
quyền. Thân phụ của ông là Quách Kính Chi, từng giữ chức Thứ sử ở triều Huyền
tông nên có hoàn cảnh khá tốt để học hành đầy đủ. Thế nhưng ngay lúc còn nhỏ,
ngoài sách vở Thư, Thi, ông lại tỏ ra ham thích các sách viết về binh pháp, hay
cùng chúng bạn luyện tập võ nghệ.
Đến lúc trưởng thành,
Quách Tử Nghi vừa làu thông binh pháp vừa giỏi về văn chương nên về sau rất ý hợp
tâm đầu với nhà thơ nổi tiếng Lý Bạch. Thời gian mà Quách Tử Nghi khôn lớn rơi
vào đúng đời Đường Huyền tông, được gọi là “Khai Nguyên chi trị”. Khi ấy đất nước
giàu mạnh yên ổn, nhân dân an hưởng thái bình nhưng Quách Tử Nghi vẫn nhìn ra
được những hiểm họa từ phương bắc đưa tới đe dọa nền an ninh của đất nước,
trong tâm đã hình thành ý tưởng muốn đem hết tài năng của mình ra bảo vệ biên
cương.
Vì vậy khi vừa đủ tuổi,
Quách Tử Nghi liền xin gia nhập quân ngũ. Với xuất thân quyền quý, ông được đưa
vào đội cấm quân của Hoàng đế, giữ chức Tả vệ Trưởng sử. Được thỏa chí, ông dựa
vào môi trường này lập nhiều chiến công khiến triều đình phải chú ý và muốn
thăng cấp cho ông nhưng không có cơ hội bởi vì đất nước rất yên bình, hầu như
không có nội loạn, tức không có công trạng thì làm sao có thể thăng cấp bừa
bãi. Vì vậy nhân có tin đồn người dân tộc phương bắc đang có ý định quấy rồi
biên cương, Quách Tử Nghi liền được điều động lên phía bắc giữ chức Thái thú Cửu
Nguyên.
Nắm được binh quyền rồi,
Quách Tử Nghi bắt đầu tổ chức thao luyện quân sĩ, củng cố thành trì suốt dọc
theo biên giới, rất chú trọng đến những động thái của các dân tộc Nội Mông Cổ.
Trong số các dân tộc thiểu số ấy, một dân tộc có tên gọi là Hồi Hột xuất hiện một
thủ lĩnh đầy tài ba là Cốt Lực Bùi La. Ông này sau khi thống nhất được các bộ tộc
liền sai sứ thần đến triều Đường xin đặt cơ quan hành chính cai trị. Đường Huyền
tông Lý Long Cơ bằng lòng, phong cho Cốt Lực Bùi La làm Hoài Nhân Khả Hãn, chia
đất Hồi Hột ra làm 6 phủ.
Cốt Lực Bùi La là người
có chí lớn nhưng không tàn ác tham lam, ra sức kết hợp giữa hai quốc gia, thúc
đẩy sự giao thương nên chẳng bao lâu đã trở thành một quốc gia khá cường thịnh
nơi phương bắc. Đồng thời sự giao thiệp giữa hai nựớc Hồi Hột và Đường cũng rất
tốt đẹp, đời Đường Túc tông còn đem Công chúa Văn Thành gả cho vị Khả Hãn để biểu
lộ sự hảo hữu. Thế nhưng đồng thời với sự giao thương, vị Hoàng đế anh minh Lý
Long Cơ vẫn không quên việc đề phòng ngoại xâm, lập ra các trấn dọc theo biên
giới, dùng chính người dân tộc thiểu số cai trị để làm phên dậu.
Khi ấy có một tướng của
Thổ Phiên nhưng gốc gác lại là người Đột Quyết tên là An Lộc Sơn được triều
đình rất tín nhiệm. An Lộc Sơn vừa có sức mạnh muôn người không địch, lại khéo
kết hợp được các bộ tộc về theo mình nên dần dần trở thành một lực lượng đáng kể.
Để vỗ về An Lộc Sơn, triều Đường nhiều lần đến phủ dụ và hắn tỏ ra bằng lòng
qui thuận nên được phong làm Phiên tướng một trấn. Từ đấy trở đi An Lộc Sơn ra
sức mua chuộc quan lại triều đình, bày tỏ lòng trung thành bằng nhiều lễ vật
quý hiếm, lại ra sức tiễu trừ bọn thổ phỉ suốt vùng phía bắc nên chẳng bao lâu
Đường Huyền tông thăng lên làm Tiết Độ sứ nắm giữ cả 3 phiên trấn, gồm có Bình
Lư, Phạm Dương và Hà Đông.
An Lộc Sơn bề ngoài hết sức
cung kính với Huyền tông, thường biểu lộ lòng trung thành mỗi khi có mặt ở triều
đình nhưng thật sự hắn có dã tâm rất lớn, lợi dụng chức vụ Tiết Độ sứ được toàn
quyền nắm binh mã 3 trấn mà ra sức chiêu mộ quân binh, bí mật huấn luyện thật
tinh thục. Để che giấu tai mắt triều đình, An Lộc Sơn thường lấy cớ về Trường
An dâng tặng Huyền tông những thứ quý hiếm, thực sự là có ý muốn thông đồng với
các đại quan làm tay chân và dò xét tình hình triều chính ra sao, nếu có cơ hội
sẽ tiến hành tranh đoạt giang sơn. Tiếc rằng lúc ấy Đường Huyền tông Lý Long Cơ
quá thỏa mãn về đại nghiệp của mình nên hoàn toàn không để ý đến những dấu hiệu
nguy hiểm ấy. Ông lại là vị Hoàng đế rất đa tình, tuy có nhiều Phi tần xinh đẹp
tuyệt thế như Mai phi, Quắc phu nhân nhưng vẫn mê luyến một mỹ nhân tên là
Dương Ngọc Hoàn. Mỹ nhân họ Dương vốn là con dâu của Huyền tông, tức vợ của Thọ
vương Lý Mạo, thế mà chỉ một lần gặp mặt vị Hoàng đế anh minh kiêu hùng ngày
nào trở thành u mê, quyết định cướp vợ của con với sự giúp đỡ tận tình của tên
gian thần Cao Lực Sĩ.
Khi đã cướp được mỹ nhân
rồi, Huyền tông lập tức phong cho nàng là Quý phi, từ đấy thường bê trễ triều
chính, suốt ngày đêm thưởng hoa vịnh nguyệt với người đẹp trong cung cấm. Để vừa
lòng mỹ nhân, Huyền tông còn không tiếc tiền bạc triệu mời một danh sĩ nổi tiếng
là Lý Bạch về cung, chế tác những bài hát cung đình phục vụ thâu đêm suốt sáng.
Có thể nói, vì mê đắm nữ
sắc mà bắt đầu Đường Huyền tông, thường được ca tụng sự sáng suốt bằng tên Đường
Minh hoàng - bắt đầu trở thành một vị Hoàng đế mê muội nhất thời nhà Đường. Chẳng
những Huyền tông bỏ bê triều chính mà còn nghe lời ỏn thót của mỹ nhân, đưa một
người anh họ hàng tên là Dương Khâm lên làm Tể tướng. Lúc đó lại có tên gian thần
Lý Lâm Phủ hết sức thâm hiểm, đối chọi tranh giành quyền lực với Dương Khâm,
làm cho triều chính càng ngày càng hủ bại.
Nhờ vào việc xu nịnh,
Dương Khâm được Huyền tông khen ngợi và đổi tên là Dương Quốc Trung. Hắn tuy ít
học hành nhưng là người sắc bén, xuyên qua các sự việc liền nhận ra dã tâm của
An Lộc Sơn, nhiều lần dâng tấu xin Huyền tông hãy tước bớt binh quyền hoặc triệu
hắn về kinh trao cho chức vụ gì đó, gọi là thăng cấp nhưng thật sự giam chân hắn
ở kinh thành để dễ bề đề phòng. Tiếc rằng Huyền tông quá tin tưởng An Lộc Sơn,
bao nhiêu sớ tấu của Dương Quốc Trung đều vất bỏ, còn nói:
– An Lộc Sơn là danh tướng
trụ cột của triều đình, lại nhận ta là nghĩa phụ thì đời nào phản bội. Việc huy
động quân mã nơi biên cương chẳng qua chỉ muốn tăng cường để trấn áp bọn người
Hồ mà thôi.
Thật sự khi ấy quân đội của
triều Đường quá nhàn nhã nên hết sức bạc nhược, chỉ còn một số quân binh ngoài
biên trấn do các tướng có tài như Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật nắm giữ là được
huấn luyện kỹ càng. Thế nhưng cũng có lần Quách Tử Nghi về triều, dâng tấu thư
xin Huyền tông xem lại tư cách của An Lộc Sơn bởi có tin đồn rất khả nghi. Thế
nhưng tấu thư này bị Lý Lâm Phủ giấu nhẹm. Sau khi Lý Lâm Phủ chết rồi, Dương
Quốc Trung mới biết việc này nên mới tâu xin với Huyền tông như vậy.
Dương Quốc Trung vẫn cố
nài xin, bất đắc dĩ Huyền tông phải sai một cận thần đi dò xét nhưng tên này nhận
tiền bạc đút lót của An Lộc Sơn, khi về triều tâu những điều tốt cho hắn. Dương
Quốc Trung bị trách mắng nên rất tức giận, quyết định một ván bài then chốt. Đó
là không hề tâu trước với Huyền tông mà đột ngột đem quân bao vây phủ đệ của An
Lộc Sơn ở kinh đô, xông vào tra xét tìm giấy tờ liên quan đến ý đồ phản bội triều
đình.
Bọn quân trung thành với
An Lộc Sơn quyết chống trả đến cùng, không cho Dương Quốc Trung làm việc phi
pháp, vì vậy xảy ra xung đột dữ dội; và tất cả quân của An Lộc Sơn đều bị Dương
Quốc Trung giết sạch. Tuy vậy, kết quả Dương Quốc Trung cũng tìm được một số bằng
chứng, vui mừng mang về dâng cho Huyền tông để chứng minh rằng mình không sai.
Nghe tin này, An Lộc Sơn cả sợ, còn chưa biết toan tính ứng phó ra sao thì một
bộ tướng là Sử Tư Minh liền hiến kế sách lấy danh nghĩa “trừ gian thần” tức
Dương Quốc Trung, ép quân về triều rồi tùy cơ ứng biến, nếu có thể thì chiếm
luôn ngai vàng.
An Lộc Sơn liền nghe
theo, điểm 15 vạn quân mã nhưng phô trương lên thành 20 vạn đang đóng ở Phạm
Dương kéo rốc xuống phía nam. Vì quân tướng nhà Đường không hề ngờ tới mà cũng
chẳng có phòng thủ chút nào nên An Lộc Sơn tiến nhanh như vũ bão, chẳng bao lâu
đã vượt sông Hoàng hà.
Thế nhưng sau những thất
bại liên tiếp ấy, các tướng trấn giữ ở Hà Bắc bắt đầu hoàn hồn, thu nhặt quân
mã chuẩn bị chống đỡ. Ngay lúc ấy lại nghe được tin Huyền tông phong cho Quách
Tử Nghi làm Đại tướng, có quyền điều động toàn bộ quân đội thì ai nấy đều vui mừng
bởi danh tiếng của ông đã được nhiều người nghe biết. Địa đầu tiến vào Trường
An là Đồng Quan do lão tướng Ca Thư Hàn chỉ huy, cũng phấn khởi với tin này nên
khi An Lộc Sơn đánh phá thì hết lòng chống đỡ, quả nhiên cầm chân được loạn
quân. Trong khi ấy Quách Tử Nghi cũng điều động quân đội của mình lên phía bắc,
tức là An Lôc Sơn bị lâm vào thế hai đầu thụ địch, đành phải đóng lại ở Lạc
Dương, tự xưng là Hoàng đế, lấy tên nước là Đại Yên.
Trường An lại yên vui như
trước và Huyền tông lại cùng Dương Quý phi ngày ngày ca xướng điệu Nghê thường.
Thế nhưng Huyền tông lại vấp phải sai lầm chết người, đó là khi Ca Thư Hàn báo
tin về cho biết đã chiêu mộ được hơn 20 vạn quân. Huyền tông cả mừng, lập tức
xuống lệnh cho viên lão tướng này tiến đánh, chiếm lại Lạc Dương. Đây là sai lầm
chết người là vì quả thực dưới tay Ca Thư Hàn có 20 vạn quân nhưng chưa hề được
huấn luyện, thêm vào đó Ca Thư Hàn đã quá già yếu bệnh tật, lên tới chức Tướng
chỉ nhờ vào ở trong quân ngũ lâu năm, hiền lành không làm mất lòng triều thần
mà thôi.
Nhận được chiếu thư, Ca
Thư Hàn tự biết mình không phải là đối thủ của An Lộc Sơn, trước khi động binh
quay mặt về hướng Trường An, quỳ xuống khóc lạy vĩnh biệt Hoàng đế. Quả nhiên,
quân đội của An Lộc Sơn vốn tinh nhuệ, lại hầu hết là người dân tộc Mông Cổ rất
thiện chiến nên chỉ sau mấy trận đã đánh bại đại quân của Ca Thư Hàn ở Đồng
Quan, bắt sống vị lão tướng này. Đúng ra An Lộc Sơn đã tạm hài lòng với danh vị
Hoàng đế Đại Yên, nhân dịp chỉnh đốn binh mã rồi mới tính tiếp đến việc tiêu diệt
nhà Đường. Nhưng vì việc Ca Thư Hàn tiến đánh, hắn nổi giận, quyết định kéo hết
đại quân tiến về Trường An với khí thế hết sức hung hãn.
Nghe tin Ca Thư Hàn đại bại,
chẳng bao lâu loạn quân sẽ tiến về kinh thành, toàn bộ từ Hoàng đế cho tới người
dân Trường An rơi vào hỗn loạn, vương tôn quý tộc cùng với kẻ bình dân đua nhau
gom góp tài vật, lên xe ngựa tháo chạy. Quân tướng nhà Đường đóng ở Trường An
cũng bị tình hình làm tiêu tan ý chí chiến đấu, bỏ hàng ngũ khá nhiều. Dương Quốc
Trung không còn cách nào khác, đành phải vào tâu xin Đường Huyền tông tạm thời
lui về đất Ba Thục, hội họp quân tướng xong sẽ tái chiếm sau.
Bất đắc dĩ Huyền tông phải
nghe theo. Ngày 12 tháng 6 năm Thiên Bảo thứ 15, Huyền tông thiết triều tuyên bố
việc bỏ chạy, để kinh thành cho Thái tử Lý Hanh trấn thủ. Gia tộc họ Dương cũng
thu xếp chạy theo, họp với đoàn xe hoàng gia thành một dãy dài, lục tục kéo về
hướng vùng đất cằn cỗi, lởm chởm núi đá của Ba Thục. Thế nhưng khi đoàn xe đi đến
dịch trạm Mã Ngôi thì toàn quân triều đình nổi lên làm loạn, đòi Hoàng đế phải
giết Dương Quý phi và Dương Quốc Trung mới đồng lòng ra sức đánh đuổi quân thù.
Vị Hoàng đế triều Đường năm ấy đã 60 tuổi, đau khổ sai Cao Lực Sĩ mang tấm lụa
ban cho mỹ nhân họ Dương, sau đó rơi nước mắt mà đi đến Ba Thục.
Sau khi An Lộc Sơn chiếm
được Trường An, tên này bỏ mặc quân tướng dưới quyền hoành hành, chém giết nhân
dân, cướp đoạt tài sản, đốt phá đình miếu nhà cửa khiến chính những người dân
không võ khí cũng phải căm tức mà tự đứng lên tổ chức chống lại. Kết hợp với
lòng dân, một số quan tướng vùng Hà Bắc tuy đã thất thủ nhưng vẫn rút lui kịp
thời, kêu gọi mọi người gia nhập quân ngũ để chờ thời cơ tiêu diệt loạn quân.
Đáng kể nhất là viên Thái thú tên Nhan Cảo Khanh đã dùng lực lượng của riêng
mình chống trả rất quyết liệt và còn thu hồi được một số thành trì đã bị mất.
Thế nhưng vì không có tiếp viện, cuối cùng Nhan Cảo Khanh bị An Lộc Sơn dồn hết
lực lượng bao vây và bắt giết được ông.
Lúc đó Thái tử Lý Hanh
cũng đã bỏ Trường An chạy về Ninh Vũ. Để có danh chính ngôn thuận, triều đình
khuyên Thái tử lên ngôi Hoàng đế, xưng hiệu là Đường Túc tông. Với danh nghĩa
này, Túc tông hạ lệnh cho Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật cùng kết hợp với nhau
chống giặc.
Nguyên trước kia Quách Tử
Nghi và Lý Quang Bật đều là Phó tướng của An Tử Thuận nhưng tính tình hai người
rất xung khắc, nhiều lúc cùng ngồi một xe, ăn uống chung một tiệc mà vẫn như cừu
địch, không bao giờ nói chuyện với nhau. Khi Túc tông phong cho Quách Tử Nghi
làm Đại tướng thay thế An Tử Thuận thì Lý Quang Bật rất lo lắng ông sẽ dùng chức
vụ ấy mà hãm hại mình, thẳng thắn đến gặp Quách Tử Nghi rồi nói:
– Tôi dù sống chết cũng
không quan tâm, chỉ xin ông rộng lượng đừng hại đến vợ con tôi, là những người
vô tội mà thôi.
Quách Tử Nghi liền bước
xuống cầm tay Lý Quang Bật, rơi nước mắt mà nói:
– Tôi đâu có dám vì thù
riêng mà hại ông, đừng nói đến vợ con. Hiện giờ đất nước loạn lạc, vua tôi cùng
nhau lo lắng để đừng bị mang tiếng nhục nhã với đời sau. Nếu không có ông giúp
cho một tay thì sao tôi có thể gánh vác được việc thiên hạ?
Lý Quang Bật thấy vậy
cũng khóc theo, từ đó hai người xóa bỏ những hận thù trước kia, chung lưng kết
hợp chống với loạn quân khiến An Lộc Sơn không sao chống lại nổi. về sau cũng
chính Quách Tử Nghi đề bạt cho Lý Quang Bật giữ chức Tiết Độ sứ.
Khi đã hiểu nhau rồi,
Quách Tử Nghi sai Lý Quang Bật dẫn trung quân tiến thẳng đến chiếm lại thành
Thường Sơn, riêng mình thì bí mật theo đường nhỏ đánh bọc hậu. Lúc ấy Sử Tư
Minh đang trấn giữ Thường Sơn, tuy quân số rất hùng hậu nhưng bị khí thế của
hai tướng triều đình làm cho nhụt chí, chỉ sau mấy trận đánh đã hoảng hốt bỏ chạy
về Hoàn Dương.
Trận đánh ở Hoàn Dương
cũng diễn tiến gần giống như vậy, với cách hành binh thần tốc và bí mật của
Quách Tử Nghi, quân phiến loạn không thể nào ngờ được. Một lần nữa Sử Tư Minh
đành phải cúi đầu bỏ chạy về Phạm Dương, quân binh tử trận hơn phân nửa. An Lộc
Sơn nghe tin này rất tức giận, lập tức gom góp toàn bộ kỵ binh tinh nhuệ, lên tới
20 vạn, tiến đánh chiếm lại Hoàn Dương.
Quách Tử Nghi cùng Lý
Quang Bật xem xét tình hình, biết rằng về mặt kỵ binh thì bọn loạn quân đa số
là người thiểu số phương bắc thiện nghệ hơn, không nên dùng sở đoản của mình
đánh với sở trường của bọn chúng. Đối phương lại phải điều động từ xa đến tất mệt
mỏi, do vậy có thể dùng kế sách cố thủ, làm cho tinh thần quân giặc suy yếu,
cùng lúc đó sử dụng du kích mà đánh phá, khi đã có thời cơ mới nên đối chiến đạt
thắng lợi.
Đó chính là tư tưởng mưu
lược của họ Quách, vận dụng một cách linh hoạt, khi thế giặc hùng mạnh thì cố
thủ, khi giặc lơi lỏng thì đánh úp, ban ngày nghỉ ngơi, ban đêm thừa cơ tùy chỗ
mà đánh phá. Riêng trong hoàn cảnh chống với An Lộc Sơn, kế sách này của Quách
Tử Nghi tỏ ra rất hiệu dụng, chẳng bao lâu lòng quân của hắn đã loạn xạ, không
còn tinh thần chiến đấu nữa.
Khi ấy Quách Tử Nghi và
Lý Quang Bật mới quyết định dồn sức tiến đánh. Quả nhiên liệu định của hai tướng
đều chính xác, qua mấy trận đại thắng đã đẩy lùi quân của An Lộc Sơn đến Bác
Lăng, Hà Bắc. Thành Bác Lăng được xây dựng rất kiên cố nên Quách Tử Nghi không
tham đánh mà hao tổn quân sĩ, cũng lui về trấn giữ Hoàn Dương, tạo thế kềm hãm
không để cho An Lộc Sơn có dịp tung hoành.
Đồng thời ông vẫn cho
quân dùng du kích chiến đánh phá khiến quân phản loạn hết sức mệt mỏi. Dưới sự
lãnh đạo của Quách Tử Nghi, dân chúng khắp nơi nô nức đến xin tham gia, chẳng mấy
chốc đã được thêm mấy vạn quân. Thấy thời cơ đã tới, Quách Tử Nghi bèn hiệu triệu
quân tướng rồi mở màn cho trận đánh Bác Lăng nổi tiếng. Trong trận này Sử Tư
Minh bị trọng thương, quân sĩ bị tiêu diệt gần hết nên tiếng đồn vang xa, các
châu huyện nơi Hà Bắc cũng đồng thanh nổi dậy đánh phá, giết bọn cầm đầu làm
cho tình hình của An Lộc Sơn suy yếu hẳn.
Trong khi Quách Tử Nghi đối
đầu với Sử Tư Minh thì Túc tông cũng sai một tướng khác là Phòng Quản tái chiếm
Trường An. Thế nhưng Phòng Quản là một người bất tài vô tướng, tính tình kiêu
ngạo làm cho nhận xét về địch quân sai lầm, dùng “chiến xa” do trâu kéo để đối
phó với kỵ binh người Hồ. An Lộc Sơn cũng rất tinh thông binh pháp, lập tức sử
dụng hỏa công khiến những con bò hoảng loạn, quay ngược lại đạp giẫm lên quân
sĩ nhà Đường, chết vô số.
Trước tình hình như vậy,
cuối cùng Túc tông đành phải cấp tốc triệu Quách Tử Nghi đến Linh Vũ giao cho
chức Đại tướng, nắm toàn bộ binh quyền để tái chiếm lại hai kinh thành Tây Kinh
Trường An và Đông Kinh Lạc Dương. Để hoàn thành nhiệm vụ này, Quách Tử Nghi
khôn ngoan cho quân đánh chiếm Đồng Quan trước, thế là cắt đứt đường liên kết
và rút lui của bọn phản loạn. Thừa thế đang thắng, Túc Tông lại giao cho Quách
Tử Nghi 15 vạn quân, giữ chức Tổng Binh Nguyên soái, cho Lý Tự Nghiệp làm Phó
tướng, đại quân rầm rộ tiến thẳng đến Trường An với mục tiêu là phải lấy lại
kinh đô làm bàn đạp tái chiếm Lạc Dương.
Trận đánh dữ dội xảy ra
ngoài thành Trường An, đôi bên ngang ngửa nhưng quân nhà Đường có khí thế hơn
nên cuối cùng đại thắng mấy trận, buộc bọn chúng phải vào thành cố thủ. Thế
nhưng để chiếm được Trường An là vấn đề khá hóc búa và phải có thời gian lâu
dài. Quách Tử Nghi và Lý Tự Nghiệp bèn bàn soạn một kế sách, vẫn đưa quân đánh
phá nhưng cùng lúc sai một số quân lo về lương thực, tính kế lâu dài. May sao
lúc đó trong nội bộ bọn phản loạn xảy ra biến cố, An Lộc Sơn bị chính con trai
của mình là An Khánh Tự giết chết, toàn quân tướng của hắn trở nên đại loạn.
Nghe tin này, Quách Tử
Nghi nắm lấy thời cơ, lập tức cho quân đánh thật rát khiến quân phản loạn hết sức
kinh sợ, cuối cùng tự bỏ khỏi giáp mà chạy trốn. Tái chiếm Trường An thành công
là một bước ngoặt lớn trong đời Quách Tử Nghi, ông trở thành người nổi tiếng mà
tất cả triều đình đều đăt hy vọng vào ông.
Lúc Túc tông dời về Trường
An thì An Khánh Tự cũng đã chạy đến Lạc Dương cố thủ. Túc tông quyết định không
để quân giặc có thời gian hồi phục, xuống lệnh cho Quách Tử Nghi tiếp tục kéo đại
quân thẳng tới Lạc Dương. Lần này An Khánh Tự đã sợ hãi nên bố trí rất nghiêm mật,
sai quân dựa lưng vào núi để cố thủ. Thế nhưng Quách Tử Nghi còn quyền biến hơn
nhiều, ông mau chóng nghĩ ra kế sách đánh bại quân địch, đó là nhờ dựa vào số
5000 quân Hồi Hột đã mượn được của Khả Hãn. Quân Hồi Hột rất thiện về việc leo
trèo núi cao nên cùng lúc tấn công chính diện, Quách Tử Nghi cho quân Hồi Hột lẻn
ra phía sau, đi đường núi đánh úp phía lưng bọn chúng.
Bị bất ngờ, quân của viên
tướng Nghiêm Trang đều hoảng hốt, thi nhau bỏ chạy, bị quân triều đình truy đuổi
chém chết rất nhiều. Khi chạy về đến Lạc Dương, Nghiêm Trang không còn hột máu
hổn hển thúc hối An Khánh Tự mau mau bỏ chạy. Thế là tên gian ác giết cha này
cũng hoảng hốt theo, vội vàng ra lệnh rút binh khỏi Lạc Dương, chạy trối chết
qua Hoàng hà để về Tương châu.
Hai chiến thắng liên tiếp
khiến Túc tông vô cùng xúc động, tự thân đến Bá Thượng khen ngợi và ban thưởng
cho Quách Tử Nghi. Sau khi chỉnh đốn hai kinh thành yên ổn, Túc tông mới sai
người đến Ba Thục đón Huyền tông trở về, tôn lên làm Thái Thượng hoàng.
Từ đó danh tiếng của
Quách Tử Nghi có uy lực chấn động cả phương bắc, những bộ tộc theo phe An Lộc
Sơn trước kia đều xin rút lui khiến lực lượng của con trai hắn càng lúc càng lụn
bại mặc dù vẫn còn mấy huyện ở Nghiệp quận và Sử Tư Minh bị trọng thương nhưng
không chết, vẫn cố thủ ở Phạm Dương. Hai tên này sau khi hồi sức thì vẫn còn
tham vọng, một lần nữa hợp binh kéo đến uy hiếp Lạc Dương.
Lần này Túc tông cũng u
mê chẳng khác Thái thượng hoàng Huyền tông, rất sủng ái một tên hoạn quan là
Ngư Triều Ân, giao cho hắn chức thống lãnh 9 đoàn quân của 9 Tiết Độ sứ, trong
đó có cả quân của Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật. Với lo lắng chức vụ Tiết Độ sứ
đã quyền hạn lớn rồi, Túc tông không hề phong cho ai làm Nguyên soái, để mặc
tình Ngư Triều Ân chỉ huy. Vì vậy quân triều đình tuy đông gấp bội quân địch, lại
có những tướng lãnh tài ba nhưng vẫn không sao kết hợp nhau được, mấy trận đều
thất bại.
Ngư Triều Ân chỉ huy đại
quân thất bại, thế mà vẫn được Túc tông khen ngợi, thành ra hắn càng thêm kiêu
ngạo, trong ý muốn trừ diệt Quách Tử Nghi để không còn ai cản trở sự thao túng
của hắn nữa. Hắn liền đổ hết tội lên đầu họ Quách, giáng chức không cho nắm
binh quyền nữa.
Nội bộ của triều Đường rối
loạn nhưng của đối phương cũng không yên ổn. Khi ấy Sử Tư Minh bất mãn An Khánh
Tự, lén giết chết ông ta rồi tự lên ngôi Đại Yên Hoàng đế. Hắn chiêu mộ thêm
binh mã rồi đến năm 759 kéo quân đến Lạc Dương đánh phá. Khi ấy không còn vị Tiết
Độ sứ nào có tài năng trấn giữ, chẳng bao lâu Lạc Dương đã thất thủ. Sử Tư Minh
chiếm được lạc Dương không lâu thì nội bộ lại phát sinh cố, đứa con trai của hắn
là Sử Triều Nghĩa theo gương An Khánh Tự giết chết cha mình chiếm ngôi.
Trong tình thế ấy bắt buộc
Túc tông phải gọi Quách Tử Nghi ra cầm quân nhưng vẫn không hề tin tưởng mà
giao cho Ung vương Lý Thích làm Nguyên soái, Quách Tử Nghi chỉ được làm Phó tướng.
Thế nhưng Quách Tử Nghi tự biết số quân triều đình không thể nào tiêu diệt được
bọn Sử Triều Nghĩa, tự thân ông đi vận động và mượn được 10 vạn quân Hồi Hột.
Nhờ vậy Sử Triều Nghĩa đại bại, phải chạy về Mạc châu ẩn trốn.
Hắn cũng không được yên
thân bởi qua năm sau mấy tên bộ tướng như Điền Thừa Tự, Lý Hoài Tiên, v.v...
liên tiếp nhau về đầu hàng triều đình. Sử Triều Nghĩa không còn bao nhiêu quân
tướng trong tay, cùng đường tắc lối nên tự vẫn mà chết. Thế là cuộc chiến loạn
An Lộc Sơn - Sử Tư Minh hoàn toàn bị Quách Tử Nghi dẹp tan, phải mất đến hơn 7
năm khiến toàn đất nước lâm vào cảnh đói khổ điêu linh. Từ đó triều nhà Đường bắt
đầu tiến trình lụn bại và kéo dài cho đến khi đất nước hình thành các triều
đình nho nhỏ gọi là thời Ngũ Đại.
Khi Quách Tử Nghi vừa mới
đem quân ra khỏi kinh thành mấy ngày thì Túc tông chết, lên nối ngôi là Thái tử
Lý Dự, xưng hiệu là Đường Đại tông. Triều Đường cũng chưa phải là được yên ổn,
vì bao nhiêu quân tướng trấn giữ biên cương phía tây bắc đã điều động đi đánh dẹp
“An Lộc Sơn chi loạn” nên biên cương hầu như bỏ trống, nhân cơ hội đó thế lực
quân phiệt của người Thổ Phiên liền tấn công và chiếm được Phụng Thiên.
Một lần nữa Đại tông phải
nhờ đến tài ba của Quách Tử Nghi, sai ông mau chóng điều quân đi đánh dẹp. Thấy
số quân của mình quá ít, Quách Tử Nghi nhiều lần tâu xin thêm nhưng tất cả đều
bị tên gian thần Trình Nguyên Chấn giấu đi, vì vậy Quách Tử Nghi không sao chống
đỡ nổi, phải từng bước rút lui. Cuối cùng quân Thổ Phiên kéo đến Trường An uy
hiếp. Bất đắc dĩ Đại tông phải cùng quần thần chạy về Lạc Dương châu lánh nạn.
Các lộ quân triều Đường đóng ở Trường An và Thương châu nghe tin này đều tự động
bỏ hàng ngũ.
Khi Quách Tử Nghi tới kịp,
ông ra sức kêu gọi và tụ tập các quân tướng đào ngũ để lập lại trật tự. Đã nghe
danh tiếng Quách Tử Nghi từ lâu, nay nghe ông kêu gọi lập tức các đào binh đều
trở về. Nắm được sốquân ấy, Quách Tử Nghi quyết định sử dụng một kế sách thần
diệu, gọi là “Thanh đông kích tây”. Ông sai tướng Trưởng tôn Toàn Tự dẫn quân đến
Lam Điền khiêu khích, mở cờ đánh trống dữ dội, thật sự quân chủ lực của Quách Tử
Nghi đi vòng ra phía tây bất ngờ đánh thẳng vào thành. Quân Thổ Phiên trở tay
không kịp, đại bại thi nhau chạy trốn và Lam Điền được giải tỏa mở đường cho
toàn quân nhà Đường tái chiếm lại Trường An. Tuy nhiên Đại tông không về kinh
thành mà nghe lời xúi bẩy của Trình Nguyên Chấn, đóng đô luôn ở Lạc Dương.
Quách Tử Nghi sáng suốt
biết ngay đó là mưu kế của Trình Nguyên Chấn muốn loại bỏ mình nên lập tức dâng
tấu thư thẳng thắn vạch ra sai lầm nếu như đóng đô ở Trường An. Dù đang sủng ái
Trình Nguyên Chấn nhưng Đại tông vẫn nhận ra những lý lẽ của ông hoàn toàn đúng
đắn, vào năm 764 quyết định dời triều đình về Trường An.
Thế nhưng sự bình yên vẫn
chưa đến, lúc đó một viên Tiết Độ sứ vùng Lũng Hữu là Phốc Cố Hoài Ân nhân cơ hội
triều đình nhà Đường đang rối loạn thì nổi lên tham vọng muốn làm vua một cõi.
Hắn khôn khéo mượn quân của Thổ Phiên và Hồi Hột để đánh phá, chẳng bao lâu lại
uy hiếp Trường An. Tuy Quách Tử Nghi bị bọn gian thần sợ hãi gièm pha rất nhiều
nhưng Đại tông vẫn không còn cách nào khác là phải giao toàn bộ binh quyền cho
ông, phong làm Nguyên soái dẫn quân đi đánh dẹp loạn Phốc Cố Hoài Ân.
Nhiều năm trấn thủ biên
cương, Quách Tử Nghi có mối giao tình rất hậu với người Hồi Hột nên nhân cơ hội
này thuyết phục bọn họ không giúp cho Phốc Cố Hoài Ân nữa. Thế là hắn sức tàn lực
kiệt, sợ hãi chạy trốn về Linh châu, quân của Quách Tử Nghi không cần đánh cũng
dẹp tan được nội loạn.
Bề ngoài thấy sự việc có
thể dễ dàng, thật sự nếu như danh tiếng và đức độ của Quách Tử Nghi không vang
dội khắp nơi và được người Hồi Hột kính nể thì không dễ gì vài ba lời nói mà
thuyết phục được bọn chúng. Điều này có thể chứng tỏ vào lần thứ hai khi Phốc Cố
Hoài Ân đem mấy chục vạn quân Hồi Hột tiến đánh Kinh Dương. Giữa đường hành
quân thì tên phản bội này đột nhiên bị bệnh chết, đại quân Hồi Hột không có người
chỉ huy cứ gặp đâu đánh phá đến đấy. Lúc ấy quân của Quách Tử Nghi đang bị kẹt ở
Kinh Dương, tình thế không thể cùng lúc hai đầu chống trả nên Quách Tử Nghi quyết
định dùng một kế sách khá mạo hiểm, đó là một mình một ngựa đến doanh trại quân
Hồi Hột, lấy uy danh của mình ra thuyết phục bọn chúng rút lui.
Đầu tiên, ông cho người đến
quân doanh Hồi Hột thuyết phục bằng đạo lý, lấy ân đức để phủ dụ. Thủ lãnh Hồi
Hột là Thược Cát La nghe lời sứ giả lộ vẻ hoài nghi vì đã lâu lắm rồi không
nghe nhắc đến tên tuổi của họ Quách, chỉ bằng lòng rút quân nếu thấy mặt thực sự
như vậy.
Sứ giả về báo lại, Quách
Tử Nghi lập tức nhảy lên lưng ngựa, dẫn theo chưa đến mười kỵ mã và không hề
đem theo khí giới, chạy thẳng đến quân doanh Hồi Hột. Con trai Quách Tử Nghi
cùng chư tướng đều lo lắng vì sự mạo hiểm này, hết lời khuyên can nhưng Quách Tử
Nghi bình tĩnh nói: “Hiện tại chúng ta không còn cách nào khác hơn, một là mạo
hiểm để cứu vãn tình thế, hai là hy sinh tính mạng báo đền cho quốc gia”.
Khi tới quân doanh Hồi Hột,
Quách Tử Nghi ngẩng cao đầu hiên ngang bước vào, nét mặt không hề tỏ ra bối rối
hay lo sợ khiến bọn quân sĩ Hồi Hột tự nhiên khiếp đảm, bỏ hết võ khí xuống.
Lúc ấy, thủ lĩnh Hồi Hột là Thược Cát La đã nhìn thấy rõ ràng đúng là Quách Tử
Nghi. Trước kia, một số dân Hồi Hột theo dưới trướng họ Quách đi chiến trận,
chiến tích dẹp tan loạn An Lộc Sơn - Sử Tư Minh vẫn còn như mới hôm qua còn ghi
trong trí nhớ. Quân tướng Hồi Hột liền đồng loạt quỳ xuống bái chào. Đôi bên
nhìn lại nhau, nhớ lại tình cũ, ai nấy đều cảm động vô cùng vì đã bao nhiêu năm
mới có dịp tương phùng.
Quách Tử Nghi đỡ mọi người
đứng lên rồi kéo tay Thược Cát La, ân cần phủ dụ:
– Triều Đường đối xử tốt
đẹp với các vị, giao tình riêng của chúng ta cũng sâu đậm, nay các vị bị người
khác khích động xúi giục nên mới xảy ra tình trạng cùng nhau đối mặt trên chiến
trường. Nếu các vị nghĩ lại đúng sai thì hãy cùng nhau bàn bạc việc rút quân, bằng
không xử trí ta ra sao tùy ý.
Thược Cát La vội đáp :
– Xin Quách công chớ nói
vậy, khi trước Phác Cố Hoài Ân nói ngài đã chết, nếu không chúng tôi nào dám chống
lại? Hiện tại Hoài Ân đã chết mà chúng ta được tương phùng thì đâu còn là kẻ
thù nữa?
Quách Tử Nghi cảm tạ mọi
người rồi theo Thược Cát La vào quân trướng tiệc tùng. Nhân cơ hội ấy, Quách Tử
Nghi thuyết phục được quân Hồi Hột tự nguyện trở giáo cùng đánh lui Thổ Phồn để
chuộc lỗi lầm. Riêng Thổ Phồn vốn đóng trại cách đó không xa, nghe được tin
này, lo sợ bị quân Đường và quân Hồi Hột đánh kẹp hai bên nên âm thầm lui quân
ngay đêm hôm ấy. Lập tức Quách Tử Nghi hạ lệnh truy kích, Thổ Phồn đại bại, tử
thương hơn năm vạn quân, bị bắt sống hơn một vạn. Mối lo biên cương do một mình
một ngựa Quách Tử Nghi đã chấm dứt.
Kế sách của Quách Tử Nghi
thể hiện trong tình huống một người một ngựa đánh lui quân Thổ Phồn, thu phục
quân Hồi Hột là tổng hợp rất nhiều mưu trí, vừa ân vừa uy, vừa đại trí đại
dũng, dùng lẽ phải khuất phục đối tượng, vào chỗ chết tìm lẽ sống, dùng uy vũ
phục người, dùng hư đãi thực, nhờ vậy mới có kết quả tốt đẹp như vậy. Câu chuyện
này điển hình cho mưu trí bỏ công sức ít mà đạt được thành công lớn lao.
Tuy nhiên người Thổ Phiên
đã được vào đất Trung nguyên, nhìn thấy sản vật sung túc, đất đai màu mỡ, lắm
vàng bạc châu báu thì không sao cầm được lòng tham, sau đó rất nhiều lần kéo
binh xâm phạm. Tất cả đều bị Quách Tử Nghi đánh bại, đem lại bình yên suốt một
vùng Quan Trung rộng lớn. Công lao của ông người dân nào cũng đều biết đến và hết
lời ca tụng, chỉ riêng triều đình thối nát nhà Đường làm như không biết đến,
không hề thăng chức hay ban thưởng, vẫn để ông phải vất vả lo toan ở biên
cương. Quách Tử Nghi không vì vậy mà tỏ ra bực bội, vẫn một lòng trung thành,
đem hết sức mình ra giúp dân giúp nước.
Khi Quách Tử Nghi đã vào
khoảng 77 tuổi, tức là vào năm 774 thì triều đình mới phong cho ông tước Mân
vương Quận vương, mãi đến khi Đại tông mất, con là Lý Thích lên nối ngôi, xưng
hiệu Đức tông mới trao quyền Thái úy cho ông. Danh tiếng của Quách Tử Nghi khi ấy
lẫy lừng cả trong và ngoài nước, hễ ông đi tới đâu thì nơi đó được bình yên. Thế
nhưng ông cũng tự biết chức càng cao càng nhiều ghen ghét, nhiều lần từ chối đặc
ân của triều đình, làm gương sáng thanh bạch cho thuộc hạ.
Vì vậy mà sau này chính sử
cũng đã ghi nhận: “Ông (Quách Tử Nghi) là người có công lao trùm thiên hạ thế
mà làm quan thanh liêm trung trực tới mức vua không dám nghi ngờ điều gì, địa vị
cao trọng tột bậc mà không ai ganh ghét”. Suốt cuộc đời Quách Tử Nghi lấy
phương châm trung thành và chính trực, không sợ cường quyền, không thiên vị bất
cứ ai, cứ theo vương pháp mà xét xử nên chưa hề phạm một lỗi lầm gì dể cho bọn
gian thần có cớ gièm pha. Ngay chính người con trai của ông phạm quân pháp cũng
bị xử đúng với luật lệ.
Có thể nói, cả cuộc đời của
vị danh tướng này đều là những vất vả nơi chiến trường, chỉ trừ một thời gian
ngắn khi đã già yếu làm việc ở triều đình. Từ khi tham gia quân đội, Quách Tử
Nghi đã là một vị tướng nhiều tài năng, chỉ đến khi cuộc biến loạn An Lộc Sơn nổ
ra, tài năng của ông mới được bộc lộ, lấy thân mình và sự tận tụy suốt 30 năm
gánh gồng cho triều đình nhà Đường thoát qua biết bao nhiêu cơn nguy cấp.
Với trí mưu quyền biến kết
hợp với đức độ của mình, không ít lần Quách Tử Nghi đã không phải tốn sức vẫn dẹp
yên được nội loạn. Đó là lý do tại sao tên tuổi của ông rất ít khi được hậu thế
nhắc đến ngoài cuộc binh biến An Lộc Sơn. Thật sự Quách Tử Nghi là nhà quân sự
rất thông thạo binh pháp nên trước tiên vận dụng các yếu quyết trong binh pháp
để giải quyết vấn đề, cuối cùng không sao được mới phải dùng tới sức mạnh quân
sự. Trong các trận chiến, người ta có thể thấy ông tùy hoàn cảnh mà sử dụng kế
sách theo binh pháp hết sức linh hoạt, có lúc lấy nhàn nhã đánh mệt mỏi, có khi
dùng kế “Dương đông kích tây”, có lúc lại đánh bất ngờ làm cho quân địch trở
tay không kịp. Hầu như các chiến thắng của ông đều lấy ít đánh nhiều, đó là chiến
lược tài tình nhất của người cầm quân, không nhất thiết quân số phải nổi trội
hơn đối phương mới thắng trận.
Vị Hoàng đế hôn ám Đường
Đại tông đến khi chết mới nhận ra tài năng và đức độ cùng với tấm lòng trung
thành của ông và di chiếu để lại nhờ ông phò tá cho con mình lên ngôi. Quả
nhiên di chiếu này đã được Quách Tử Nghi tiến hành rất nghiêm túc, tang lễ Đại
tông tiến hành suôn sẻ dưới sự giám sát của Quách Tử Nghi, không hề có sự cố gì
xảy ra. Do vậy khi Đức tông lên ngôi rồi cũng phải công nhận ông xứng đáng là
nguyên lão bốn triều, tôn xưng ông làm Thượng phu, cho giữ chức Trung Thư lệnh,
tức ngang hàng với Thừa tướng, được quyết định những điều quan trọng nhất của
triều đình.
Với chức vị này, Quách Tử
Nghi vẫn không hề kiêu ngạo, đối xử với triều thần rất khiêm tốn, ai ai cũng
kính phục, ông cũng đem hết sức mình ra vực dậy một triều đại đã có dấu hiệu
suy tàn nhưng không sao cãi được số mệnh. Đến năm 781, Quách Tử Nghi mất. Thọ
85 tuổi, được Đức tông truy phong làm Thái sư. Đây là vinh dự chưa một tướng
soái nào các triều đại được ban hưởng như vậy. Ông mất đi hoàn toàn thanh thản,
để lại một gia đình rất nhiều con cháu, đều được làm quan, mang tài năng ra
giúp dân giúp nước. Lương tâm ông không hề hối tiếc điều gì bởi đã cống hiến
toàn bộ tài sức của mình cho quốc gia, xứng đáng là vị tướng soái mẫu mực để hậu
thế noi theo.
10 NHẠC PHI - ANH HÙNG
DÂN TỘC
Người dân Trung Hoa biết
lịch sử hay không đều căm hận nhất là tên gian thần Tần Cối bán nước cầu vinh.
Thế nhưng nhắc tới Tần Cối tất là phải nhắc đến Nhạc Phi, một vị anh hùng dân tộc
được người dân Trung Hoa thờ kính muôn đời giống như đối với Quan Công vậy. Tần
Cối có tội bao nhiêu thì Nhạc Phi anh hùng bấy nhiêu, là sự đối chọi giữa thiện
và ác.
Nhạc Phi sinh năm 1103,
tên tự là Bằng Cử, người ở Tương châu, xuất thân trong một gia đình nhà nông,
gia đình khá vất vả nên có lúc ông phải đi làm mướn cho người ta, lấy tiền trả
nợ cho cha mẹ. Vốn là người có sức vóc mạnh mẽ, lại ham thích võ nghệ nên dù rất
cực khổ ông vẫn dành thời gian để luyện tập đầy đủ “Bát môn binh khí” nhưng giỏi
nhất vẫn là cách đánh bằng giáo (thương pháp). Thời điểm lúc ấy quân Liêu không
ít lần xâm phạm biên cương với ý đồ xâm chiếm toàn bộ đất Tống. Thế nhưng triều
đình Bắc Tống dưới sự cai trị u mê của Tống Huy tông Triệu Cát, triều đình đầy
rẫy những tên gian thần chỉ biết vơ vét cho vinh thân phì gia, không bao giờ
nghĩ đến việc tìm kiếm hiền tài cứu nguy đất nước. Với lòng nhiệt huyết yêu nước,
không thể nhìn đất nước nghiêng ngả sắp rơi vào tay ngoại bang, Nhạc Phi liền
xin gia nhập quân đội, trước tiên là không phải lo miếng ăn hàng ngày, sau đó
hy vọng có cơ hội cống hiến sức lực và tài năng cho quốc gia.
Quyết định này bị rất nhiều
người cười chê, cho rằng Nhạc Phi không có chí tiến thân. Lý do là vì vào thời
phong kiến ấy, quan điểm trọng văn học, dựa vào những kỳ thi cử để tuyển chọn
người ra làm quan vẫn còn rất nặng nề. Bất cứ ai có tài về văn chương thi phú
hay vượt qua được kỳ thi là sẽ được ra làm quan, chẳng cần biết đến đạo đức của
người ấy ra sao. Dĩ nhiên trong số những người đỗ đạt có kẻ tốt người xấu nhưng
hầu hết người có tấm lòng trung thực đều không chịu nổi sự thao túng của quan lại
thời Bắc và Nam Tống, dần dần tìm cách bỏ đi, để lại quan trường toàn là những
tên gian thần giỏi nịnh bợ, bất tài thiếu đạo đức nhưng giàu sang vinh hiển.
Nói chung muốn tiến thân
thì phải qua con đường thi cử, tòng quân nhập ngũ bị người đời rất khinh thị.
Thế nhưng Nhạc Phi vẫn khao khát được làm người lính, không thể nào khoanh tay
đứng nhìn đất nước nghiêng ngả dưới gót chân xâm lược của ngoại bang. Lúc bấy
giờ hai triều đình Liêu và Kim thay nhau quấy phá biên cương, quân sĩ hết sức vất
vả khổ cực, lại dễ dàng chuốc lấy cái chết nên tòng quân tức là đã chấp nhận
đón lấy cái chết, ai nấy đều tìm cách trốn tránh, vì vậy quân binh rất cần thêm
người có tâm huyết tình nguyện như Nhạc Phi.
Ngay từ lúc vào quân ngũ,
Nhạc Phi đã tỏ ra là người rất anh dũng, trận nào cũng xung phong đi đầu, không
hề sợ chết. Có một lần ở Hợp châu, nơi có nhiều bọn thổ phỉ ẩn trong vùng núi
non, rất khó đánh dẹp. Nhiều lần quan quân vất vả truy đuổi nhưng đều thất bại,
mỗi khi lơi lỏng là bọn chúng lại xuất hiện cướp bóc của cải dân lành, thậm chí
nhiều khi còn táo tợn đánh cả phủ huyện, giết quan lại và vét sạch kho lẫm. Lúc
đó Nhạc Phi chưa có chức tước gì nhưng vẫn xin tình nguyện đi đánh dẹp bọn thổ
phỉ chỉ với vài chục tinh binh. Ông cho bọn họ giả làm lái buôn vào thẳng sào
huyện bọn thổ phỉ.
Bọn này thấy toàn là trai
tráng thì rất thích, không tính tới việc buôn bán mà định bắt toàn bộ cưỡng ép
theo bọn chúng, bao nhiêu hàng hóa thì tịch thu, thế là “nhất cữ lưỡng tiện” được
cả đôi đường. Tiếc rằng Nhạc Phi đã tính sẵn, khi bọn thổ phỉ gọi vào xem hàng
hóa, lập tức các quân binh rút võ khí trong hòm ra xông vào đánh giết. Với khí
thế hăng hái như vậy, bọn thổ phỉ lại bị bất ngờ, lớp chạy trốn lớp bị giết,
sau đó không còn tung hoành như trước được nữa.
Nhờ chiến công nho nhỏ
này mà danh tiếng của Nhạc Phi bắt đầu được mọi người biết đến, ai cũng ca tụng
ông là người can đảm hiếm có. Những lúc rảnh rỗi, Nhạc Phi thường xin được chỉ
dạy về binh pháp nên tuy chưa có cấp bậc gì vẫn được anh em trong quân đội khâm
phục.
Một lần nữa khi quân Tống
kết hợp với quân nhà Kim tiến đánh quân Liêu, Nhạc Phi liền xin phụ trách đội
tiên phong, dũng cảm xông lên mặt thành đánh giết, mở đường cho đại quân tiến
vào thành Yên Kinh. Thật sự nhà Kim hoàn toàn không hề có ý tốt đối với nhà Tống,
sự liên kết đó chỉ là nhất thời mà thôi. Quả nhiên không lâu sau, vào năm 1123,
khi Kim Thái tổ chết, con của ông là Kim Thái tông Hoàn Nhan Thịnh tiêu diệt
xong nước Liêu, liền nghĩ tới việc đánh chiếm xuống phương nam mà đầu tiên là Bắc
Tống hủ bại.
Đại quân của Hàn Ly Bất
nước Kim mau chóng tràn xuống phương nam và uy hiếp kinh thành triều đình Bắc Tống,
Tống Huy tông kinh sợ chạy trốn, trao ngai vàng lại cho con cùng với hoạn quan
Lương Phương Bình dàn quân bên này sông Hoàng Hà chống đỡ. Thế nhưng, quân Kim
dễ dàng vượt qua Hoàng hà, chiếm Hoạt châu, thẳng tới Khai Phong. May mắn là có
viên tướng tên Lý Cương can đảm đứng ra tập hợp binh sĩ chống đỡ mới làm cho cục
diện tạm thời không thất bại.
Thế nhưng triều Tống
không nhân cơ hội ấy mà lật ngược thế cờ, trái lại từ vua tới quan đều sợ chết
tới nỗi sẵn sàng ký hòa ước nhục nhã, xin Hàn Ly Bất rút quân với điều kiện sẽ
cống nạp cho triều Kim đến 50 triệu lạng bạc, 5 triệu lạng vàng và cắt đất 3 trấn
biên giới, đưa một số thân vương đại thần đến triều Kim làm con tin.
Khi đã định xong hòa ước,
quân Kim quyết định rút khỏi Khai Phong, dẫn giải luôn Tống Huy tông và Tống
Khâm tông cùng một số thân nhân trong hoàng gia về Hội Ninh, phía nam Hắc Long
Giang. Thế là triều đình Bắc Tống diệt vong, thay vào đó là triều đình Nam Tống
do Khang vương Triệu Cấu liên kết cùng với tên Tri châu Uông Bá Nhan, lấy phủ Đại
Danh làm kinh đô. Triều Nam Tống cũng theo vết xe đổ, càng hủ bại hơn trước và
mỗi lần nghe tiếng quân Kim sắp tiến đánh là ai nấy đều run rẩy chỉ nghĩ đến đầu
hàng hoặc xin thần phục giữ lấy mạng sống.
Nhạc Phi đã tham gia quân
đội từ thời Bắc Tống, trải qua mấy năm trong quân ngũ đã nhìn rất rõ sự tác hại
của bọn gian thần, trong lòng hết sức căm hận nhưng đành phải nín nhịn, mang hết
sức mình ra chiến mỗi khi đụng độ với quân triều Kim. Nay thấy triều đại cũ diệt
vong, nghĩ rằng triều đại mới chắc chắn sẽ sáng suốt nhìn ra cái họa xâm lăng từ
triều Kim nên hăng hái dâng thư lên Tống Cao tông kiến nghị mở rộng việc chiêu
mộ và huấn luyện quân sĩ, đồng thời cách chức mấy tên gian thần trong triều mà
nổi trội nhất là tên Uông Bá Nhan. Thế nhưng Nhạc Phi không biết rằng triều Nam
Tống cũng hủ bại chẳng khác gì Bắc Tống, khi dâng thư lên liền bị Cao tông quở
trách và cách hết chức vụ, cho về quê làm thường dân.
Tuy nhiên mấy năm sau triều
Kim lại kéo quân sang uy hiếp biên cương, bất đắc dĩ Cao tông phải gọi Nhạc Phi
ra cầm quân trở lại theo Vương Ngạn vượt sông Hoàng Hà chống lại quân Kim. Sau
này, ông theo dưới trướng Tông Trạch lưu thú tại Đông Kinh, rất được Tông Trạch
yêu thích.
Sau khi Tông Trạch chết,
Nhạc Phi theo Đỗ Sung đóng ở Kiến Phong. Khi Ngột Truật vượt sông xâm lược Nam
Tống, Đỗ Sung sợ hãi đầu hàng quân địch nhưng Nhạc Phi rất can đảm, chỉ huy bộ
tướng quyết định chiến đấu. Khi Ngột Truật rút quân, Nhạc Phi dũng mãnh truy
kích theo, thừa cơ thu phục lại đất Kiến Phong. Lúc ấy Nhạc Phi đã trải qua nhiều
chiến trận, trở thành một viên tướng thiện chiến, danh tiếng được khắp nơi biết
đến.
Do đó vào năm Thiệu Hưng
thứ hai (1132), vừa đúng 30 tuổi, Nhạc Phi được Tống Cao tông phong cho làm
Nguyên soái trấn giữ vùng trung du Trường Giang. Hai năm sau, Nhạc Phi lại vâng
lệnh đem quân đánh lên miền bắc, thu phục được 6 quận Tương Dương và nhờ chiến
công ấy được gia phong lên làm Tiết độ sứ, tước Võ Xương Khai quốc hầu. Nhạc
Phi còn định đem quân đánh sâu vào đất Kim, giải trừ hoàn toàn mầm mống uy hiếp
của triều Kim nhưng hùng tâm tráng chí của ông không được sự đồng ý của Tống
Cao tông, đành phải đóng quân ở biên giới đề phòng.
Vì quá sợ triều Kim nổi
giận, nhiều lần tưởng như Nhạc Phi đã thành công, tiêu diệt hoàn toàn lực lượng
quân Kim, thế mà ông bị Tống Cao tông ngăn cản, thành ra từ thắng trận biến
thành thế thủ.
Điển hình nhất là vào năm
Thiệu Hưng thứ tư (1134), khi Nhạc Phi đang dẫn quân truy kích theo quân Kim,
đã vào rất sâu đất địch, mà quân Kim chỉ biết tháo chạy không còn sức chống đỡ,
đột ngột Tống Cao Tông hạ lệnh bắt phải rút quân trở về. Đến năm 1136, một lần
nữa Nhạc Phi vâng mệnh đem quân bắc phạt, Cao tông thấy thắng mấy trận thì cho
là đã đủ, hạ lệnh phải kéo quân về. Nhạc Phi đã toan liều lĩnh trái mệnh vua để
tiếp tục tấn công nhưng khi ấy đang vào sâu đất Kim, nếu không có tiếp viện cả
người và lương thực thì không sao đủ sức, đành phải tức tối rút quân. Tất cả những
lần cản trở ấy đều do bọn gian thần trong triều đình xúi bẩy. Trong số đó người
ghét Nhạc Phi nhất là tên gian thần Tần Cối, hắn vừa sợ Nhạc Phi có danh tiếng
thì địa vị của hắn lung lay, vừa sợ triều Kim trách cứ bởi chính hắn đã ngầm
bán nước cho địch từ lâu rồi.
Nguyên do là vào thời Bắc
Tống, Tần Cối mang tham vọng rất lớn nhưng cố gắng mấy vẫn không được Tống Khâm
tông để mắt đến. May sao triều đình Bắc Tống chủ trương dâng đất nghị hòa nên
phong cho Tần Cối làm Lễ bộ Thị lang, cùng với Trình Võ làm sứ giả sang nước
Kim điều đình. Thế là Tần Cối được làm một vị đại thần nhờ không có ai dám đi
sang nước Kim chứ không phải tài cán của hắn được tín nhiệm. Cuộc đời thật éo
le, khi mới đi được nửa đường thì Tần Cối nghe tin Hàn Ly Bất đã tự động rút
quân vì thủy thổ không hợp, quân tướng lâm bệnh quá nhiều, mừng rỡ trở về kinh
đô. Chức tước đã được ban rồi nên từ đó Tần Cối nghiễm nhiên là vị đại thần
tham dự vào triều chính.
Thừa cơ hội đó Tần Cối ra
sức nịnh bợ, mua chuộc nên thăng chức rất mau. Hắn tưởng như cuộc đời thênh
thang rộng mở, chẳng ngờ chưa được bao lâu thì quân Kim lại tổng tiến công lần
nữa.
Trong lần xâm lược này,
quân Kim đã hiểu rõ đường lối và thủy thổ đất Tống nên tiến rất mau. Hai tướng
quân Kim là Hàn Ly Bất và Niêm Hãn với cách đánh chớp nhoáng của mình, tiến mau
đến nỗi Tống Khâm tông còn đang hội họp quần thần bàn về việc dâng châu báu nghị
hòa thì quân Kim đã ồ ạt kéo đến sát thành Khai Phong, cuối cùng bắt sống được
cả Tống Khâm tông lẫn Tống Huy tông đem giam giữ nơi doanh trại ngoài thành.
Tên gian thần Nghiêm Tung
khi ấy nắm chức Thừa tướng, chủ trương nghị hòa nên khi quân Kim rút lui đã đem
theo cả Huy Tông lẫn Khâm Tông cùng hơn ba ngàn quần thần trong hoàng thất và
quan lại triều Tống giải về phương bắc. Trong số quần thần ấy có cả Tần Cối.
Người ta tưởng đâu như thế Tần Cối sẽ bỏ xác nơi đất phương bắc, không bao giờ
được về cố quốc nữa. Để quốc gia có người cầm đầu, sau khi Huy tông và Khâm
tông bị bắt đi rồi, Khang vương Triệu Cấu liền lên ngôi xưng là Tống Cao tông,
thành lập triều đình Nam Tống ở Đại Danh, phủ Ứng Thiên. Việc này khiến triều
Kim rất tức giận, lại sai Hoàng đệ là Đát Lãn đem quân đánh Sơn Dương. Lần này
Đát Lãn có dẫn theo cả vợ chồng Tần Cối cho hắn lo việc văn thư hoặc làm chuyển
vận sứ. Nhân cơ hội này, vợ chồng Tần Cối tìm cách trốn chạy về phương nam cùng
với hai thủ hạ là Đinh Dị và Vương An Đạo.
Thật sự theo nhiều chứng
cứ thì vợ chồng Tần Cối không thể dễ dàng trốn chạy như vậy, nhất là lại đèo bồng
cả bọn thuộc hạ. Hắn đã theo lệnh của Đát Lãn, cam tâm làm gian tế nằm phục ở
triều đình Nam Tống mà phá hoại, giúp cho triều Kim thuận lợi hơn trong việc
tiêu diệt nước Tống. Do vậy nhiều lần Nhạc Phi đã sắp tiến tới chiến thắng thì
đều bị Tần Cối xúi giục Cao tông xuống lệnh triệu về, bắt rút lui bỏ hết những
công lao từ trước tới nay.
Năm Thiệu Hưng thứ bảy
(1137), một lần nữa Nhạc Phi không hiểu triều đình đã bị bọn gian thần bán nước
thao túng, về triều bệ kiến Tống Cao tông, dâng bản kế sách thu phục những vùng
đất Nam Tống đã bị quân Kim chiếm giữ. Cao tông đọc bản kế sách này rất khen ngợi,
lập tức cho Nhạc Phi nắm toàn quyền binh mã, đồng thời quyết định tăng thêm số
quân để đủ cho kế hoạch. Nhac Phi rất mừng, nhưng khi đang điểm quân thì chợt
Cao tông đổi ý ngược lại hoàn toàn, đó lại là do sự ngăn cản của Tần Cối. Không
những thế, Tần Cối còn gièm pha là Nhạc Phi không coi trọng di hài tiên đế, chỉ
muốn lấy chiến tranh làm bậc thang trèo lên chức vụ cao. Nhiều lần như vậy, Cao
tông đâm ra có ấn tượng không tốt với Nhạc Phi.
Thật sự Tần Cối muốn giết
Nhạc Phi từ lâu rồi nhưng ông có quá nhiều chiến công vang dội, triều đình lại
đang cần tướng lãnh tài ba để chống đỡ nên không sao hại được Nhạc Phi. Qua nhiều
lần như vậy, dần dần Nhạc Phi cũng hiểu ra, vì vậy khi Cao tông mở phong chức
thì ông nhất định từ chối, cho rằng nên đề phòng người Kim lật lọng hơn là chắc
ý vui mừng. Việc này khiến Cao tông hết sức buồn giận, bởi nếu Nhạc Phi không
nhận ban thưởng thì chẳng có ai xứng đáng hơn nữa.
Cuối cùng Cao Tông phải hạ
chiếu tới lần thứ ba, bất đắc dĩ Nhạc Phi phải nhận để đừng mang tội khi quân.
Vì việc này mà Tống Cao tông rất bất mãn Nhạc Phi nhưng không có cớ nói ra. Tần
Cối nhìn biết tâm ý của Cao tông, ngầm tìm cách hãm hại Nhạc Phi để cho Hoàng đế
được hài lòng.
Lúc đó là vào năm 1134,
Lý Thành được triều Kim yểm trợ, phát triển rất mạnh nên nhân cơ hội ấy tiến
đánh dữ dội, chẳng bao lâu đã chiếm được 6 quận ở Tương Dương, uy hiếp cả vùng
Lưỡng Triết. Thế mà triều đình vẫn bình chân như vại không hề để ý tới. Nhạc
Phi không sao kềm được nôn nóng, tuy biết rằng việc dâng thư có thể làm cho bọn
gian thần càng thêm căm ghét nhưng cuối cùng vẫn dâng tấu thư xin nhà vua mau
chóng khởi binh tái chiếm lại 6 quận này.
Cao tông nghe theo, sai
Nhạc Phi giữ chức Chế Trí sứ, huy động các lộ quân ở vùng Kinh Nam, Ngạc châu
và Nhạc châu tiến đánh chiến lại vùng Tương Dương. Nhạc Phi đã sửa soạn trước,
nhận được lệnh liền cho quân vượt Trường giang, đầu tiên là tấn công thành Sính
châu do tên hàng tướng Kính Siêu chiếm giữ. Kính Siêu có sức mạnh muôn người
không địch lại nhưng hoàn toàn không có cơ mưu, chỉ biết dựa vào sức mạnh trời
cho để chiến thắng. Vì vậy mấy lần quân của Nhạc Phi tấn công đều thất bại,
không sao phá được thành.
Nhạc Phi liền nghĩ đến
cách đánh khác, biết rằng Kính Siêu bất trí vô mưu nên chắc chắn không dự phòng
quân lương cũng như võ khí lâu dài, đổi cách đánh làm tiêu hao địch, không tấn
công ồ ạt nữa. Quả nhiên không bao lâu thì trong thành hết nhẵn gỗ, đá và tên bắn
cũng không còn bao nhiêu nện trong đợt tấn công cuối cùng quân của Nhạc Phi đã
chiếm được thành. Nhạc phi một mình một ngựa truy đuổi Kính Siêu, dồn hắn vào
chỗ chết để trừ tận gốc hậu họa.
Sau khi chiếm được Sính
châu, Nhạc Phi chia quân ra làm nhiều cánh đồng thời đánh Tùy châu, Đặng châu,
còn mình dẫn quân thẳng đến Tương Dương. Thành này do Lý Thành chỉ huy, hắn học
theo cách đánh của người Kim rất thiện nghệ về kỵ binh. Do vậy Lý Thành hoàn
toàn tự tin, dàn quân chờ đợi quân của Nhạc Phi tiến đến, trong bụng chắc chắn
sẽ đánh tan đối phương bằng kỵ binh. Thế nhưng Nhạc Phi đã sửa soạn sẵn, cho
quân sĩ sử dụng thương dài nhắm vào việc giết các con ngựa chiến khiến bọn kỵ
binh chưa đánh đã ngã lộn xuống đất. Thế trận của Lý Thành hoàn toàn tan vỡ,
đành dẫn mấy trăm tùy tùng thừa đêm tối bỏ chạy, để cho Nhạc Phi chiếm giữ
Tương Dương. Chỉ một trận đánh ông đã tiêu diệt được đối phương, danh tiếng từ
đấy càng vang dội, mỗi khi quân Kim nghe biết đoàn quân của ông chỉ huy thì đều
thối chí kinh hoàng.
Tất cả là do tài trí của
Nhạc Phi đã dự kiến một kế hoạch hoàn thiện, vì vậy không mất bao nhiêu thời
gian đã tái chiếm được 6 quận Tương Dương. Ngay cả Tống Cao tông cũng khá ngỡ
ngàng với chiến thắng này bởi từ trước đến nay toàn là nhận được tin bại trận,
lập tức phong cho Nhạc Phi giữ chức Kinh Tương Đàm châu Tiết Độ sứ, tức toàn
quyền giữ quân trấn thủ mấy châu này. Nhạc Phi rất mừng bởi đây sẽ là căn cứ địa
rất tốt để chấn chỉnh binh mã, tích trữ lương thảo, chiêu mộ thêm quân binh để
sau này làm bàn đạp tiến đánh triều Kim.
Về mặt nội bộ triều Nam Tống
cũng chưa thể gọi là yên tĩnh bởi các nơi nhận biết rằng từ vua tới quan đều thối
nát, nếu có chút tài năng liền nổi lên làm loạn chiếm giữ một vùng đất xưng
vương xưng bá. Hùng hậu nhất trong các cuộc nổi loạn là của Dương Thái ở Động
Đình hồ. Triều đình Nam Tống đã nhiều phen sai quan quân đi tiễu trừ nhưng đều
thất bại. Lần cuối cùng triều đình phái viên tướng Dương Tạ dẫn binh đi thảo phạt
nhưng lần này thất bại càng nặng nề hơn khiến triều đình hết sức lúng túng,
không biết tìm đâu ra tướng tài để trao cho trọng trách này. Lúc ấy Tần Cối liền
tiến cử Nhạc Phi. Mọi người đều tưởng Tần Cối không còn lòng oán ghét nhân tài
nữa, biết sử dụng nhân tài vào việc lớn quốc gia.
Thật sự Tần Cối vô cùng
thâm hiểm, tiến cử Nhạc Phi nhắm hai kết quả: Nhạc Phi rất giỏi đánh thương và
đánh trên bộ, nếu như đánh với Dương Thái ở Động Đình hồ bằng thủy chiến thì
chưa biết ai thắng ai bại. Nếu Nhạc Phi thắng thì đó là công tiến cử của mình,
bằng ngược lại thì có cớ trừng trị Nhạc Phi, đầu nào cũng có lợi cho hắn. Cao
tông không hề biết, nghe Tần Cối tiến cử thì rất mừng rỡ, lập tức phong ông làm
Thanh Viễn quân Tiết Độ sứ, dẫn quân thay thế cho Dương Tạ.
Quả nhiên Nhạc Phi khá
lúng túng trong việc tìm cách đối đầu với Dương Thái. Thế nhưng ông rất quyền
biến, để thử lòng quân địch xem mạnh hay yếu, trước tiên ông cho loan truyền hịch
chiêu hàng. Chỉ mấy ngày sau Nhạc Phi đã được một viên tướng dưới quyền Dương
Thái tên là Huỳnh Tá bí mật xin đầu hàng triều đình. Nhạc Phi không chờ lệnh
vua, chấp nhận việc này nên Huỳnh Tá bất ngờ làm phản đánh chiếm được luôn một
lúc mấy thủy trại.
Để Huỳnh Tá yên lòng, Nhạc
Phi cấp tốc dâng thư về triều, xin phong cho Huỳnh Tá chức Võ công Đại phu, dựa
vào tài đánh thủy chiến của ông ta mà mở cuộc đại tấn công. Tần Cối ra sức ngăn
cản nhưng nhờ một vị đại thần là Trương Tuấn đứng lên nói rõ lòng dạ thẳng thắn
và trung thành của Nhạc Phi, không hề có ý định mờ ám gì trong việc này, cuối
cùng Cao tông mới chấp thuận.
Sau khi đã chỉnh đốn xong
binh mã cùng các chiến thuyền do Huỳnh Thái mang về, Nhạc Phi đưa ra kế hoạch tổng
tấn công từ ba mặt khiến quân của Dương Thái không sao địch lại, phải bỏ chạy
tán loạn, rút sâu vào trong Động Đình hồ cố thủ. Đường thủy ở Động Đình hồ rất
ngoắt ngéo nếu không phải là người quen thuộc rất dễ bị lạc lối hoặc sa lầy. Do
vậy Nhac Phi không dám tiến binh ngay, nhân cơ hội một tên bộ tướng của Dương
Thái ra hàng thì giả vờ nghi ngờ, đánh đòn rồi tha về.
Điều này làm cho quân tướng
hết sức ngạc nhiên vì từ trước đến nay Nhạc Phi không bao giờ mê muội đến mức
trừng phạt hàng tướng. Thật ra khi tên hàng tướng ấy đi thuyền trở về thủy trại,
lòng đầy căm tức thì đã vô tình dẫn đường chỉ lối cho Nhạc Phi. Vị tướng trí
mưu này đã bí mật sai hai tướng Ngưu Cao và Vương Quí dẫn theo mấy ngàn tinh
binh lặng lẽ bám gót theo sau, mau chóng chiếm thủy trại của hắn. Lấy thủy trại
này làm bàn đạo, hai tướng Ngưu Cao và Vương Quí từ trong đánh ra, đại quân của
Nhạc Phi từ ngoài đánh vào, khí thế hết sức dữ dội.
Dương Thái không sao ngờ
nổi Nhạc Phi lại đa mưu túc kế đến vậy, hoảng hốt bỏ chạy nhưng cuối cùng vẫn bị
bắt sống. Nhạc Phi liền hạ lệnh chém đầu để làm gương cho mọi người. Chiến thắng
này làm cho Tần Cối có muốn hãm hại cũng không được, đành khoanh tay căm tức ngồi
nhìn Cao tông thăng cho Nhạc Phi làm Võ Thắng Định quốc quân Tiết Độ sứ. Đây là
chức vụ rất lớn, toàn quyền điều động quân binh cả một vùng chung quanh Tương
Dương nên Nhạc Phi lại càng nôn nóng nghĩ đến ngày sẽ tiến binh đánh tan triều
đình nhà Kim.
Sự chuẩn bị này không qua
được tai mắt của triều Kim, đó cũng là nguyên do dẫn đến biến cố trong nội bộ đối
phương. Khi ấy triều Kim chia làm hai phe chủ hòa và chủ chiến, giằng co nhau
chưa bên nào ngã ngũ. Khi nghe tin Nhạc Phi đang chỉnh đốn binh mã, lập tức phe
chủ chiến do Ngột Truật cầm đầu giận dữ xin Đát Lãn phải cho xuất binh đánh phủ
đầu ngay. Đát Lãn vốn chủ trương hòa hoãn nên không nghe theo, rốt cuộc bị Ngột
Truật làm phản giết chết, nắm đại quyền trong tay rồi quyết định đem quân tràn
xuống phương nam, đó là vào năm 1139. Quân Kim chia làm 4 cánh do các danh tướng
triều Kim chỉ huy rầm rộ tiến quân, khí thế hết sức hung hãn.
Triều đình Nam Tống không
hề đề phòng nên chỉ trong một thời gian ngắn, quân Kim đã lấy lại toàn bộ đất
đai vừa trao trả cho Tống, đồng thời còn uy hiếp cả Hoài Nam. Bất đắc dĩ Tống
Cao tông phải hạ lệnh cho quân triều đình tiến ra biên giới chống đỡ. Quân tướng
nhà Tống rất hâm mộ Nhạc Phi nên đồng lòng xin được ông chỉ huy, Tống Cao tông
phải chấp nhận việc này, phong cho ông làm Nguyên soái. Nhạc Phi liền hội quân ở
Tựơng Dương, làm lễ thề ước sẽ quyết chiến đấu đến cùng xong là lập tức tiến
quân, ngay trận đầu đã chiếm lại được Thái châu.
Các cánh quân khác nghe
tin đại thắng thì đều phấn khởi, sát cát cùng nhau hưởng ứng, Hàn Thế Trung chiếm
được Hải châu, Vương Đức chiếm được Túc châu và Hào châu. Những chiến thắng này
khiến triều Kim vô cùng lo lắng, đành phải bí mật sai người tới nói với Tần Cối
tìm cách cứu nguy. Tần Cối liền tâu với Tống Cao tông lấy những chiến thắng này
làm áp lực “để cầu hòa”, hoàn toàn không muốn lợi dụng thời cơ đánh bại luôn
quân địch. Cao tông từ trước tới nay vẫn nơm nớp kinh sợ mỗi khi quân triều Kim
tấn công nên nghe lời Tần Cối tâu liền vội vàng xuống lệnh cho quân Tống triệt
thoái khỏi các vùng đã chiếm.
Lúc đó thắng lợi đã gần
như nắm trong tay, sĩ khí quân Kim xuống dốc thê thảm, hễ thấy đoàn quân nào
trương cờ vàng có đề ba chữ “Nguyên soái Nhạc” lập tức hò nhau bỏ chạy. Các
cánh quân khác cũng lợi dụng sự sợ hãi này, tuy không phải là của Nhạc Phi vẫn
trương cờ của ông làm cho quân Kim khiếp sợ mất tinh thần. Vì vậy nhận được lệnh
thoái lui, Nhạc Phi không đành lòng chút nào, bàn với các tướng:
– Lần này ta chống lại mệnh
triều đình, nếu không toàn thắng thì khó toàn được tính mệnh. Vì vậy các ngươi
phải đồng lòng chiến đấu, lấy công chuộc tội. Khi việc đã xong, ta nghĩ chắc
triều đình không lẽ bắt tội người chiến thắng sao?
Sau đó Nhạc Phi tập họp
toàn bộ đại binh kéo thẳng đến thành Yên kinh, là nơi Ngột Truật đang đóng
quân. Ngột Truật rất sợ hãi nhưng vẫn cố đưa quân kỵ, mặc giáp sắt dày ra đối
phó với cách đách thương từ xa của Nhạc Phi. Chẳng ngờ lần này Nhạc Phi không
dùng thương dài nữa mà cho quân cầm mộc đan bằng mây già che đỡ phía trên, tay
cầm đại đao lăn người xuống thấp chuyên chém vào chân ngựa. Quân Kim rất thiện
chiến về kỵ binh, nay mất ngựa thì chẳng khác gì như hổ mất móng vuốt, thi nhau
bỏ chạy, dẫm đạp lên nhau chết vô số.
Ngột Truật đại bại phải dẫn
tàn binh chạy về Dĩnh Xương cố thủ. Tần Cối thấy Nhạc Phi trái lệnh rất căm tức,
tâu với Cao tông phái một cận thần đến tận nơi quân doanh bắt buộc ông phải thi
hành. Vị cận thần đó tên là mã định Lý Nhược Hư cũng có lòng trung quân ái quốc,
khi thấy Nhạc Phi đang sửa soạn binh mã tiến sâu vào phía bắc thì liền bí mật
nói:
– Ngài cứ theo ý mà tiến
hành. Tôi sẽ lấy cớ đến quá chậm không kịp ngăn cản. Nếu có bị trách phạt cũng
cam lòng vì việc này có lợi cho dân cho nước.
Nhờ vậy Nhạc Phi đánh chiếm
nhiều châu quận của triều Kim khiến Ngột Truật cũng phải kinh hoảng, nói với bộ
tướng:
– Từ khi ta khởi binh đến
nay, chưa bao giờ thất bại nặng nề như thế này. Nhạc Phi quả là thần tướng chứ
không phải người phàm.
Ngột Truật kinh sợ tới mức
còn định rút quân bỏ luôn Bắc Kinh. Biết được tin này, Nhạc Phi lập tức tâu về
kinh xin được phép tiến công. Ông tin chắc triều đình sẽ chuẩn y bởi vì đây là
cơ hội ngàn năm một thuở, trong khi chờ vẫn tiếp tục tiến quân, chẳng bao lâu
chỉ còn cách Bắc Kinh vài chục dặm, đóng lại bên đây bờ sông chờ có lệnh triều
đình là lập tức vượt sông
Ngột Truật không còn cách
nào khác là sai một tên sứ giả thân tín cấp tốc vượt đường xa đến liên lạc với
Tần Cối. Thế chưa kịp động binh, Nhạc Phi đã liên tiếp nhận được chiếu thư của
triều đình nhà Tống bắt buộc phải rút quân. Nhạc Phi vô cùng tức giận, hạch hỏi
viên quan đem chiếu thư đến, hắn liền trả lời:
– Theo tôi được biết thì
Tần Thừa tướng đang nghị hòa với triều Kim. Có lẽ nay mai là thành công. Vì vậy
nếu Nguyên soái tiến binh thì bao nhiêu công lao nghị hòa bỏ sông bỏ biển hết.
Nhạc Phi nghe vậy vô cùng
tức giận, quát mắng:
– Ta chỉ cần một lần tiến
binh này là đã thu hồi toàn bộ đất Trung nguyên, lại còn uy hiếp triều Kim
không cho chúng tha hồ làm càn nữa. Như vậy cần gì đến nghị hòa mà phải rút
binh?
Mắng xong Nhạc Phi liền
viết tấu đưa về triều đình cương quyết sẽ tiến quân. Cao tông và Tần Cối biết
khó ngăn cản được quyết tâm của ông, xoay qua kế sách khác, đó là sai người đến
bắt Trương Tuấn và Dương Nghi phải rút cánh quân của mình về nước, để mặc cho
Nhạc Phi đơn độc giữa chiến trường.
Dù biết như vậy rất khó
khăn cho mình, không có quân tiếp trợ nhưng Nhạc Phi vẫn cho rằng chỉ cần một
cánh quân của mình thừa sức tiêu diệt quân triều Kim bởi ý chí bọn chúng xuống
thấp lắm rồi. Trước tình trạng ấy Tần Cối hết sức lo lắng sẽ đắc tội với người
Kim, thúc hối Cao tông, hầu như mỗi ngày đều có các cận thần hỏa tốc cầm Kim
bài xuống ra lệnh cho Nhạc Phi rút quân. Kim bài là một miếng gỗ có viết chữ bằng
vàng, tức là mệnh lệnh không thể không thi hành, chỉ sử dụng mỗi khi thật nguy
cấp. Theo luật thì mỗi khi nhận được Kim bài, vị tướng lãnh ấy bằng mọi cách phải
tuân theo.
Thế nhưng Nhạc Phi không
ưng chịu sự thua thiệt vô lý này, nói với các tướng:
– Từ trước tới nay vẫn có
câu “Tướng đánh giặc ngoài biên thùy có khi không cần phải theo lệnh của Hoàng
đế”. Ta có thể áp dụng vào hoàn cảnh bây giờ vậy.
Rồi ông vẫn chuẩn bị quân
mã đâu đó sẵn sàng. Ngột Truật cho người dò xét, biết được việc này thì càng hoảng
hốt, lập tức báo cho Tần Cối biết. Tên gian thần này lại càng căm hận, xúi Cao
tông một ngày giáng xuống đến 12 đạo Kim bài. Đây là sự cố chưa bao giờ xảy ra
bởi nguy cấp lắm cũng chỉ đến một đạo Kim bài là sự việc đã được giải quyết.
Ngày hôm Nhạc Phi nhận được 12 đạo Kim bài, ông hết sức đau đớn trong lòng vì
biết rằng triều đình đã quá bạc nhược và đã bị gian thần lũng đoạn, dù ông cố gắng
đến mấy cũng không thể chống với cả tập đoàn bán nước cầu vinh ở triều đình. Nhạc
Phi nghĩ lại bao nhiêu công sức của ông và của chư tướng đều trở thành số không
thì hết sức uất hận, nhờ có các tướng lão thành khuyên giải mới ngậm ngùi ra lệnh
sửa soạn rút về.
Đánh thì khó chứ rút rất
dễ, chỉ trong mấy ngày là toàn quân Tống đã từ từ nhắm phía nam chậm bước, ai nấy
đều cúi mặt tuôn rơi nước mắt, khóc cho vị tướng quân của mình thì ít mà khóc
cho non sông gấm góc thì nhiều. Bá tánh nơi biên cương đồng lòng theo quân đi về
nam cũng khá nhiều, kẻ gồng người gánh trông thật thê lương.
Tất cả đều mất hết ý chí
chiến đấu, võ khí lơ đãng, hàng ngũ lộn xộn vậy mà quân tướng triều Kim không hề
đuổi theo truy kích bởi dã quá ngán ngẩm với hai chữ “Nhạc Phi”. Điều này chứng
tỏ ông có uy danh lớn đến mức từ xa cũng đã có thể làm quân địch khiếp sợ. Nên
nhớ là trước kia vào thời Tam Quốc, Lưu Bị cũng đã một lần cùng với người gồng
gánh chạy nạn, bị quân Tào Tháo truy đuổi thiệt hại không biết là bao nhiêu. Lần
này Nhạc Phi rút khỏi biên cương còn thê thảm hơn cả Lưu Bị thế mà vẫn đưa quân
tướng và bá tánh từ đất Yên Vân bình yên trở về thì đủ biết oai đức của ông có
sức mạnh vô cùng.
Sau khi Nhạc Phi rút quân
xong, triều đình Nam Tống trơ trẽn mở yến tiệc ăn mừng, đèn cờ treo lộng lẫy khắp
kinh thành. Cao tông cũng xuống ơn mưa móc triệu Nhạc Phi về kinh để ban thưởng
và được dịp vui chơi. Ông không những đã chẳng chịu về muối mặt tươi cười trước
cái nhục mất nước mà còn dâng một tấu thư vạch rõ sự gian hiểm của những tôi thần
bán nước.
Lời lẽ của ông rất thẳng
thắn nên ít nhiều đụng chạm đến Cao tông, thế là ngoài Tần Cối nay lại có cả
Cao tông ngấm ngầm ôm mối hận đối với vị danh tướng ấy. Dù sao cũng là một vị
Hoàng đế bù nhìn, Cao tông dù ghét bỏ Nhạc Phi tới đâu vẫn không thể lấy vương
pháp ra trừng trị cho thỏa lòng, ông ta bèn hướng về Tần Cối, nhiều lần úp mở
bày tỏ sự tức giận của mình. Dĩ nhiên Tần Cối mừng như mở cờ trong bụng, chắc
chắn phen này sẽ tìm ra một tội nào đó của Nhạc Phi để đưa ra sự trừng phạt cao
nhất.
Thế nhưng khi ấy quân Kim
vẫn còn đóng ở biên cương và lòng dân hầu hết đều hướng về người anh hùng dân tộc
họ Nhạc, Tần Cối không dễ gì muốn đánh muốn giết là được. Tên gian thần này cực
kỳ thâm hiểm, biết rằng nếu còn binh quyền trong tay thì hắn sẽ không bao giờ
làm gì được Nhạc Phi. Vì vậy Tần cối từng bước một cắt bớt vây cánh của Nhạc
Phi. Trước tiên Tần Cối lấy cớ nhỏ mà giải tán đoàn quân do Hàn Thế Trung lãnh
đạo. Tần Cối lại hứa sẽ giao hết số quân tinh nhuệ ấy cho Trương Tuấn, vì vậy
khi Nhạc Phi lên tiếng cực lực phản đối thì tức là đã đụng chạm đến Trương Tuấn.
Kế sách này hết sức hiệu lực, một cuộc tranh luận nảy lửa xảy ra giữa Nhạc Phi
và Trương Tuấn. Cuối cùng Nhạc Phi không kềm được tức giận, giũ áo từ quan về
Lô Sơn ẩn dật. Tần Cối cả mừng bởi chỉ một kế đã tiêu giải được hai đạo quân,
còn lại Hàn Thế Trung ngây thơ rất dễ đối phó.
Đồng thời lúc đó triều
Kim cũng quyết định nếu Nhạc Phi còn sống thì không bao giờ tham vọng đánh chiếm
Trung nguyên thành công, bí mật sai người truyền lệnh cho Tần Cối bằng mọi giá
phải giết chết người danh tướng ấy, không chỉ là giam cầm hay trừng trị tầm thường.
Nhận được lệnh của “quan thầy” nhà Kim, Tần Cối lại càng mừng rỡ vì đó chính là
ý muốn từ lâu của hắn.
Lần này Tần Cối lôi kéo cả
Cao tông vào âm mưu thâm độc của mình nhưng Cao tông giả như không hề biết gì,
mặc cho hắn muốn thi hành thế nào cũng được. Với sự đồng ý ngấm ngầm của Cao
tông, Tần Cối xúi giục Đại phu Vạn Sĩ Oa dâng thư hạch tội Nhạc Phi nhiều lần
trái lệnh triều đình. Bọn tay sai của Tần Cối là Ngự sử Hà Trù, Thị ngự sử La
Nhữ Tập, Vương Tuấn và Vương Quý muốn nịnh bợ Tần Cối nên cũng dâng tấu vu cáo
Nhạc Phi lộng quyền, không chịu theo lệnh triều đình là muốn tự mình làm Hoàng
đế. Thế nhưng dù ghép vào tội gì đi nữa cũng phải có bằng chứng, Tần Cối liền
thuyết phục một tên bộ tướng của Nhạc Phi là Trương Hiến đứng ra vu cáo. Trương
Hiến khai trước Đại Lý tự (cơ quan hình pháp của triều Tống) là đã từng nghe Nhạc
Phi nói với con trai Nhạc Vân hãy sửa soạn binh mã để nổi dậy chiếm ngôi Hoàng
đế, cai trị thiên hạ thay những tên u mê đang ngồi ở triều đình Đại Tống. Chỉ
là lời khai của một người, hoàn toàn không có chứng cớ xác thực, thế mà các đại
thần phe cánh của Tần Cối vẫn lập thành hình án khép tội Nhạc Phi.
Những tội danh này đều là
tội chết nhưng Tống Cao tông lại ra vẻ khoan hồng, chỉ cách hết chức tước của
Nhạc Phi mà thôi. Điều này rất dễ lý giải, đó là Tống Cao tông căm ghét Nhạc
Phi không phải vì tội ông quá hăng hái đánh đuổi quân Kim mà lo sợ Nhạc Phi một
khi đánh tới Hoàng Long phủ (kinh đô triều Kim) thì hai vị Hoàng đế trước kia
là Huy tông và Khâm tông sẽ được về nước. Như vậy còn chỗ đâu cho Cao tông ngồi?
Do đó cách chức của Nhạc Phi là đã thỏa mãn lòng căm hận của ông ta rồi, chưa đến
nỗi tán tận lương tâm giết người lương tướng.
Tiếc rằng Tần Cối đã nhận
lời của Ngột Truật, một mặt hắn giam chặt Trương Hiến và Nhạc Vân ởmột chỗ bí mật,
một mặt sai tay chân là Dương Tích đến chỗ ẩn dật của Nhạc Phi ở vùng Lô Sơn,
giả mạo chiếu lệnh của Cao tông truyền phải về kinh để nhận lệnh. Nhạc Phi hoàn
toàn không biết đó là âm mưu độc ác của Tần Cối, ngỡ ngàng không hiểu đã có
chuyện gì xảy ra nhưng vẫn lập tức theo chiếu chỉ về kinh. Nhạc Phi hoàn toàn
không nhìn thấy mặt Cao tông, vừa đến kinh thành đã lập tức bị hạ ngục.
Khi đưa ra thẩm vấn, Nhạc
Phi thấy chung quanh toàn là tay chân của Tần Cối như là bọn Vạn Sĩ Oa, Hà Trù,
La Nhữ Tập, nên biết ngay có tranh cãi đến đâu cũng khó thoát được bàn tay thâm
hiểm của hắn, nhất quyết không nói một lời, dù bị đánh dập tra khảo hết sức tàn
khốc. Không có chứng cứ thú tội của Nhạc Phi, Tần Cối bèn nảy ra một kế khác,
chuyển sự tra khảo sang Trương Hịến và Nhạc Vân, sau đó mới dụ dỗ hễ khai ra Nhạc
Phi có âm mưu tạo phản là lập tức tha ngay.
Thế nhưng, cả Nhạc Vân lẫn
Trương Hiến đều là anh hùng trượng phu, nhất quyết không khai gian dối dù bị
đánh đập rất tàn nhẫn, máu thịt tan nát. Lúc đó Hàn Thế Trung cũng đã bị Tần Cối
bãi chức, vẫn cố gắng tìm cách vào gặp mặt hắn chất vấn:
– Nhạc Phi có tội gì mà
phải bị bắt?
Tần Cối hơi lúng túng
nhưng rồi bình tĩnh trở lại, trơ trẽn đáp:
– Tội của họ Nhạc là
“không có tội gì cả” (mạc tu hữu).
Ba chữ “Mạc tu
hữu” (tội không có tội) trở thành ngạn ngữ để ám chỉ bất cứ sự việc
nào mà bọn gian thần muốn ghép tội cho người hiền lương, được người đời sau sử
dụng rất phổ biến. Ba chữ này gắn liền với tên tuổi của Tấn Cối cho đến ngàn
năm, hễ nói “Mạc tu hữu”là ai cũng nhớ ngay đến tên gian thần
Tần Cối. Hàn Thế Trung tuy là người không có nhiều trí mưu nhưng cũng nhận ra
ngay triều đình là cái bẫy chết người, sau đó ông tự động từ bỏ quan chức, đi
đâu ẩn cư không rõ.
Sau khi bắt giam Nhạc Phi
rồi, Tần Cối báo cho Ngột Truật biết, xin được đẩy nhanh tiến độ giảng hòa với
Kim, vì vậy chỉ mấy tháng sau hòa ước được ký kết. Hòa ước này chẳng có gì khác
với các hòa ước trước đó dù đôi ba lần quân Kim thất trận nhưng cuối cùng vẫn bắt
nhà Tống phải xưng thần và mỗi năm cống nạp cho triều Kim 25 vạn lạng bạc, 25 vạn
súc lụa.
Cũng giống như mấy lần
trước, mỗi khi có dịp nào đó, dù là ký hòa ước ô nhục, triều đình Nam Tống vẫn
vin vào lý do ấy để tha hồ ăn chơi. Bọn nịnh thần thì được dịp tâng bốc ca tụng
Hoàng đế lên tới mây xanh. Riêng Nhạc Phi không hề dâng biểu chúc mừng như những
tên nịnh thần mà còn dâng tấu hạch tội Tần Cối, đại để là: “... Người
Kim rất dối trá, vì vậy không thể hòa hảo lâu dài. Thừa tướng (Tần Cối) làm như
vậy là đã đẩy quốc gia đến chỗ ô nhục, thần e rằng sẽ là cái nhục mà mãi đời
sau mọi người đem ra chê cười... Thần xin lấy hết sức mình để chống với quân
Kim, thu phục đất nước được toàn vẹn nếu như thánh thượng ban cho binh quyền...”
Tần Cối đọc bài tấu ấy
căm hận thấu xương, ngay lập tức xúi giục Tống Cao Tông hạ chiếu trách tội Nhạc
Phi không dâng biểu chúc mừng. Thế nhưng những lời trung trực anh hùng của Nhạc
Phi được nhiều triều thần hết sức ca ngợi, do vậy Tống Cao tông không dám xuống
lệnh trách phạt Nhạc Phi, giả vờ lãng quên như chưa có chuyện gì xảy ra.
Đồng thời với sự thần phục
ấy, Nam Tống phải cắt rất nhiều vùng đất phía bắc giao cho nhà Kim cai quản.
Đây là hòa ước ô nhục nhất trong lịch sử Trung Quốc, được sử sách gọi là “Thiệu
Hưng hòa nghị”. Thế nhưng khi ấy Cao tông hoàn toàn không hề biết nhục, khi
dâng biểu cho triều Kim, gọi vua Kim là Hoàng đế còn mình xưng tên tục là Cấu,
chẳng khác chi tôi tớ của Hoàng đế vậy.
Hoàng đế không biết nhục
thì Tần Cối làm gì biết? Hắn còn tận lực truy tìm chứng cứ để ghép Nhạc Phi vào
tội chết. Thế nhưng, dù hết sức tra tấn, cha con Nhạc Phi và Trương Hiến vẫn một
lòng từ chối không nhận bất cứ tội gì hắn đưa ra. Trong khi đó nhà Kim rất nóng
ruột vì Nhạc Phi còn sống nên mấy lượt sai sứ giả đến thúc giục phải thi hành
cho mau.
Vợ Tần Cối lòng dạ cũng độc
ác giống như chồng, thường hay triết lý:
– Người đời nói “thả hổ
thì dễ, bắt hổ mới khó”, đã là đại nam tử sao không ra tay mà còn chần chừ, lỡ
khi hổ dữ thoát khỏi gông cùm thì chính mình phải chết.
Nghe vậy Tần Cối chẳng giữ
gìn thể diện gì nữa, dùng tới thủ đoạn đê hèn nhất, sai tên Vạn Kỳ Tiết viết giả
tờ khai của Trương Hiến, trong đó thú nhận là Nhạc Phi đã có ý muốn làm phản.
Khi tờ khai này được dâng lên Cao tông, ông ta mới giả vờ như kinh ngạc nhưng
cuối cùng cũng phê vào án văn, lại còn giả nhân giả nghĩa ban cho ông được chết
toàn thây.
Có một ghi chép khác thì
Tần Cối túng thế phải qua mặt Cao tông, lén sai tên giữ ngục hạ độc giết chết
Nhạc Phi trong ngục thất. Còn Trương Hiến và Nhạc Vân xử vào tội phản thần,
mang ra pháp trường chém đầu. Dù là cách nào đi nữa thì Nhạc Phi cũng đã bị hãm
hại chứ không được chết đường hoàng chính, thật oan uổng cho người danh tướng
suốt cuộc đời lăn lộn xông pha vì nước vì dân, chẳng ngại hiểm nguy lửa đạn.
Ông mất vào năm mới 39 tuổi, tức là vào năm 1142, cái tuổi còn nhiều khí lực để
cầm quân đánh giặc.
Nhạc Phi không những là vị
tướng soái thiện chiến can đảm mà còn có tư duy chiến thuật rất sắc sảo, do vậy
ông đã thắng nhiều trận để đời, làm kinh điển cho các binh gia sau này nghiên cứu.
Vì tuổi trẻ khó khăn ít học nên khi đã có thời gian, Nhạc Phi quyết tâm học tập
cho tốt, tuy lời lẽ văn chương không hoa mỹ nhưng đầy khẳng khái, chứa đựng sự
mãnh liệt của tâm hồn muốn đem hết sức lực cống hiến cho quốc gia. Vì vậy sau
khi Nhạc Phi chết oan bởi bàn tay độc ác của Tần Cối, ông để lại cho đời tác phẩm “Văn
tập Nhạc trung Võ vương” gồm 10 quyển.
Về võ nghệ, Nhạc Phi còn
để lại tập “Nhạc gia thương”, tức sách dạy cách đánh giáo
(thương) riêng của nhà họ Nhạc, mà hiện nay vẫn có nhiều người theo học.
Cái chết oan ức của Nhạc
Phi không hề làm mất tên tuổi của ông mà trái lại càng làm cho tên tuổi của ông
sáng chói như nhật nguyệt và càng làm cho tội ác của Tần Cối cùng đồng bọn thêm
chồng chất. Vì vậy sau này khi Tần Cối chết rồi, người dân Trung Hoa căm giận tới
mức cho đúc tượng cả vợ chồng hắn lẫn bọn Vạn Sĩ Oa trần truồng quỳ lạy đặt ở
trước mộ Nhạc Phi. Khách đến viếng mộ Nhạc Phi khi đi qua ba tượng ấy đều tức
giận đánh đập phỉ nhổ nên chẳng bao lâu đã bị vỡ nát. Mãi đến năm Vạn Lịch thứ
22 (1595), Án sát phó sứ là Phạm Lai mới cho đúc lại, thêm vào tượng Trương Tuấn
là bốn tượng.
Có thể nói suốt chiều dài
lịch sử phong kiến Trung Hoa chưa có một vị tướng soái nào được người dân coi
như anh hùng dân tộc, lập miếu thờ phượng giống như của Nhạc Phi. Quan Công
cũng có rất nhiều miếu thờ nhưng đó là do người dân kính trọng tiết tháo trung
thành của ông đối với người anh kết nghĩa vườn đào, là một tướng tận tâm tận lực
để rồi phải chết nơi sa trường mà thôi. Miếu thờ Quan Công nghiêng về thần
thánh hóa, mê tín dị đoan còn miếu thờ của Nhạc Phi chính là biểu tượng của
lòng tự hào dân tộc trong việc chống ngoại bang. Nhạc Phi chết đi nhưng đời đời
tên ông vẫn được hậu thế nhắc tới.
11 THIẾT MỘC CHÂN - LỪNG
LẪY ĐÔNG TÂY
Trong thời gian từ năm
1208 đến khoảng 1300, lịch sử Trung Hoa nổi lên những cái tên mà hầu như ai
cũng kinh sợ mỗi khi nhắc đến, đó là tên các danh tướng lẫy lừng từ Đông sang
Tây như Thiết Mộc Chân, Oa Khoát Đài, Đà Lôi, Mông Kha, Hốt Tất Liệt, v.v... Những
danh tướng này tuy có một vài trận không chiến thắng bởi nhiều lý do khách quan
nhưng hầu hết đều đạt thắng lợi lớn lao, giúp cho triều Nguyên mở rộng biên
cương từ Đông sang Tây, từ Bắc cho tới tận miền nam Trung Hoa.
Lịch sử huy hoàng của triều
Nguyên bắt đầu từ Thiết Mộc Chân, sau khi chết được truy tặng là Nguyên Thái tổ.
Dưới sự chỉ huy của Thiết Mộc Chân, vó ngựa người Mông Cổ tung hoành từ Đông
sang Tây, từ nước Nga sang đến tận châu Âu; từ bắc xuống tới tận biên giới với
Việt Nam.
Năm sinh của Thiết Mộc
Chân không được sử sách ghi chép rõ ràng, chỉ theo sự kiện lịch sử mà tính thì
ông sinh vào khoảng 1155 ở bên bờ sông Oát Nan, sau nhiều cuộc chiến tranh tiêu
diệt các bộ tộc Mông Cổ hoặc sát nhập họ vào quân đội của mình, năm 1206 Thiết
Mộc Chân xâm chiếm Trung Hoa và dựng nên triều đại nhà Nguyên. Ông trị vì được
22 năm, đến năm 1228 thì lâm bệnh nặng rồi qua đời ở sông Ngưu Đầu thuộc huyện
Thanh Thủy sau khi quốc vương Tây Hạ đã đầu hàng.
Họ của Thiết Mộc Chân là
Bột Nhi Chỉ Cân, con vị Hãn của một bộ tộc nhỏ người Mông Cổ
tên là Dã Tốc Cai. Hãn tức là người đứng đầu của bộ tộc, khi bộ
tộc ấy lớn mạnh hoặc sát nhhập nhiều bộ tộc với nhau mới tôn xưng lên là Khả
Hãn hay Đại Hãn, tức tương đương với tước Vương ở
Trung Hoa. Lúc đó có rất nhiều bộ tộc sống rải rác khắp miền bắc, hầu hết sinh
sống bằng việc săn bắn và nuôi súc vật chứ không biết đến nông nghiệp. Vì là xứ
sở mênh mông với những hoang mạc ở Gôbi và những bình nguyên đồng cỏ ở phía nam
Seberi thuộc nước Nga. Ở đây có một bộ tộc Mông Cổ nổi tiếng thiện chiến và
hung dữ tên là Tác Ta.
Các bộ tộc nhỏ thường dựa
vào nhau để sinh tồn và rất thiện nghệ về thuật cưỡi ngựa. Sau này thuật cưỡi
ngựa được quân đội Mông Cổ sử dụng như là thứ vũ khí lợi hại nhất, đoàn kỵ binh
Mông Cổ đi tới đâu là nơi đó bị tiêu diệt không còn một con chó con gà, nhà cửa
thì bị đốt cháy, san thành bình địa. Có thể nói, sự hung hãn của người Mông Cổ
cũng được coi là “một loại vũ khí” đánh vào tinh thần. Do vậy hễ nghe tin quân
Mông Cổ sắp tiến đến, hầu như các thành phố đều hoảng loạn, sĩ khí xuống thấp,
rất lợi cho việc đánh chiếm của họ. Thế nhưng vì quá lợi dụng “võ khí tinh thần”
này mà dần dần người Mông Cổ bị toàn bộ các dân tộc khinh ghét, thậm chí căm
thù thấu xương, là tiền đề cho sự suy tàn của cả một đế chế trải rộng từ Đông
sang Tây do một tay Thành Cát Tư Hãn dựng lên.
Cùng với thuật cưỡi ngựa,
người Mông Cổ thiên về săn bắn nên thuật bắn cung cũng có thành tựu rất cao
siêu. Dần dần các bộ tộc Mông Cổ kết hợp lại, trở thành một lực lượng rất mạnh
nhờ vào tính kỷ luật và sự phối hợp hành quân rất chặt chẽ. Với hoàn cảnh ngày
đây mai đó không dừng bước nơi nào lâu dài, người Mông Cổ không chú trọng vào
việc học chữ mà ngay từ nhỏ đã chuyên tâm rèn luyện việc cưỡi ngựa, bắn cung.
Đa số bộ tộc Mông Cổ theo “Bái vật giáo”, tức là về tâm linh vẫn còn sơ khai.
Bái vật giáo có thể định
nghĩa là một loại bùa hộ mệnh nào đó hoặc một phép lạ. Bái vật giáo hình thành
từ lúc loài người mới nhận biết Thượng đế và tổ chức thành tín ngưỡng. Bái vật
giáo tin vào các thuộc tính siêu nhiên của vật thể tự nhiên như gốc cây cổ thụ,
hòn đá có hình dáng kỳ quái, v.v... Bộ tộc Mông Cổ suốt đời sinh sống nơi hoang
dã, tất nhiên rất dễ tin tưởng vào các biến chuyển hay hình dáng của vật thể tự
nhiên, đó chính là Bái vật giáo.
Lúc đó bộ tộc của Dã Tốc
Cai phải sống chung với một bộ tộc người Khiết Đan và một bộ tộc Mông Cổ tên là
Thái Xích Ô. Cuộc sống của Thiết Mộc Chân có lẽ sẽ cũng như bao người khác nếu
như không xảy ra sự cố lớn lao trong gia tộc, đó là việc thân phụ ông bị người
Tác Ta (một bộ tộc Mông Cổ sinh sống mãi về phương Đông, gần với nước Nga hơn
Trung Hoa) đầu độc vào năm 1167. Cái chết của Dã Tốc Cai biến bộ tộc của Thiết
Mộc Chân trở thành đại loạn, mẹ của ông là Nguyệt Luân phu nhân phải lưu lạc hết
sức gian khổ để nuôi dạy đùm bọc cho những đứa con vẫn đang bị bộ tộc Tác Ta
truy sát “diệt cỏ tận gốc”. Đồng thời hai bộ tộc thân cận là Khiết Đan và Thái
Xích Ô cũng bỏ đi càng khiến bốn mẹ con Thiết Mộc Chân bơ vơ không nơi nương tựa.
Khi ấy Thiết Mộc Chân mới là đứa trẻ 13 tuổi, đã phải vất vả kiếm sống để giúp
đỡ cho mẹ cùng với hai đứa em trai.
Thế nhưng sự việc không dừng
ở đó, từng bước một hai bộ tộc Khiết Đan và Thái Xích ô cũng tìm cách bỏ rơi bốn
mẹ con Thiết Mộc Chân với ý định đẩy họ vào cảnh tự nhiên bị tiêu diệt. Quả
nhiên chẳng bao lâu sau người đứng đầu bộ tộc Thái Xích Ô triệu tập đại hội các
bộ lạc Mông Cổ để bầu lên một vị Hãn mới.
Đương nhiên bộ tộc Thái
Xích Ô đã sửa soạn sẵn sàng, lấy số đông áp đảo nên cuối cùng viên thủ lĩnh của
bộ tộc ấy là Tháp Nhĩ Hốt Đài được bầu làm Hãn. Đây chẳng khác
gì làm loạn bởi dòng dõi của Dã Tốc Cai vẫn còn sống, đáng ra Thiết Mộc Chân mới
là người thừa kế ngôi vị của cha. Hai mẹ con Thiết Mộc Chân hết sức phẫn nộ
nhưng không còn thủ hạ dưới tay, đành ôm hận chờ cơ hội.
Tháp Nhĩ Hốt Đài lên nắm
quyền Hãn rồi lập tức tính đến việc giết luôn cả gia đình Thiết
Mộc Chân, bất ngờ cho quân tấn công lều của mẹ con họ. May sao có một thủ hạ
trung thành biết tin ấy, chạy đến báo trước nên bốn mẹ con mới kịp chạy thoát.
Thế nhưng quân của Tháp Nhĩ Hốt Đài quyết truy đuổi đến cùng, bốn mẹ con Thiết
Mộc Chân chui rúc từ cánh rừng này đến núi đá kia vẫn không sao thoát được sự
truy đuổi của bọn chúng. Lúc ấy Thiết Mộc Chân mới 13 tuổi nhưng lâm vào tình
trạng nguy, ông đã tỏ ra là người có trí tuệ, biết tính toán lợi hai. Thiết Môc
Chân liền một mình một ngựa chạy ra đường khác để thu hút sự truy đuổi, giúp
cho mẹ và hai em có cơ hội thoát thân.
Cuối cùng sau mấy ngày
đói khát, Thiết Mộc Chân bị bọn Thái Xích Ô bắt sống nhưng không giết ngay mà
đưa về để cho toàn thể các thủ lĩnh bộ tộc quyết định xét xử. Lâm vào cảnh sống
chết trong đường tơ kẽ tóc nhưng Thiết Mộc Chân vẫn không cam chịu đầu hàng số
phận, ngay đêm ấy đã nhân cơ hội bọn canh gác lơ lỏng liền lẻn trốn ra ngoài sa
mạc. Thiết Mộc Chân may mắn được một người thủ hạ già giúp cho ngựa và lương thực
cùng nước uống.
Hình như vận mệnh trời đất
đã đặt định sẵn cho Thiết Mộc Chân trở thành một vị tướng lãnh tài ba và sau
cùng là ngôi Hoàng đế của một đế quốc rộng lớn nên khi chạy đến dãy núi Cô Sơn
thì gặp lại gia đình, tất cả cùng đồng ý kiến phải đến bằng được vùng núi Bất
Nhi Hãn thì mới có thể tránh được tai mắt của bọn Thái Xích Ô. Nhờ rặng núi này
rộng bao la, lại có suối nước trong nên tạm thời gia đình của Thiết Mộc Chân ẩn
trú, lấy việc chăn nuôi gia súc làm sinh kế hàng ngày.
Một ngày kia đàn ngựa quý
như vàng của Thiết Mộc Chân bất ngờ bị lấy trộm. Ai nấy đều than thở và lo lắng
cho tương lai nếu như không có đàn ngựa ấy. Lúc này mới thể hiện rõ lòng quyết
tâm và can trường của Thiết Mộc Chân, chàng thanh niên lập tức dùng con ngựa
duy nhất còn lại của gia đình, quyết đuổi theo bọn trộm đến cuối cùng trời đất
mới thôi. Ông kiên nhẫn theo đuổi, không hề nghỉ ngơi, ăn trên lưng ngựa uống
trên lưng ngựa luôn mấy ngày đêm mới bắt kịp bọn đã trộm ngựa.
Thiết Mộc Chân còn đang
băn khoăn chưa biết phải làm sao thu hồi được số ngựa của mình thì tình cờ gặp
được một thanh niên có vóc dáng hết sức oai phong. Hỏi thăm danh tánh thì mới
biết đó chính là anh em họ xa của Thiết Mộc Chân tên là Bác Nhĩ Thuật. Nhờ sự
trợ giúp của Bác Nhĩ Thuật, Thiết Mộc Chân đoạt lại được số ngựa nhưng không đủ
sức tiêu diệt hết bọn trộm ngựa, trong lòng vẫn chưa thấy thỏa mãn.
Thời gian trôi qua rất
nhanh, chẳng bao lâu cả ba anh em Thiết Mộc Chân đã trở thành những dũng sĩ can
trường, các môn cưỡi ngựa bắn cung đều tài ba hơn người. Vào khoảng năm 1174,
tuy sử sách không ghi lại chính xác nhưng theo khẩu truyền thì năm ấy Nguyệt
Luân phu nhân quyết định cuộc hôn nhân cho Thiết Mộc Chân và Bôi Nhi Thiếp, con
của một bộ tộc Ôn Cát Lạp Mông Cổ. Có lẽ đây là quyết định thiên về chính trị
chứ không hẳn chỉ quan tâm đến hôn nhân bởi nếu thành công thì gia đình của bà
sẽ có lực lượng tiếp trợ mỗi khi cần đến. Thiết Mộc Chân đang ôm mối thù giết
cha, không hề vui vẻ với quyết định này nhưng vẫn tuân theo bởi vì ông cũng biết
cái lợi khi cùng liên kết với bộ tộc Ôn Cát Lạp.
Trước khi Thiết Mộc Chân
sinh ra thì vào năm 1115, bộ tộc người Nữ Chân phát khởi thành một quốc gia
hùng mạnh, dưới sự lãnh đạo tài ba của Hoàn Nhan Mân, quân Kim đã chiếm một phần
lãnh thổ Trung Hoa và xây dựng nên chính quyền nhà Kim, tự xưng là Thái tổ,
đóng đô ở Trung Đô. Đến thời điểm Thiết Mộc Chân đã là thanh niên cường tráng với
nhiều ý chí báo thù thì nhà Kim đã sang mấy đời, truyền đến Kim Thế tông Hoàn
Nhan Ung. Sự thành công của người Nữ Chân thôi thúc Thiết Mộc Chân cũng muốn đạt
thành đại nghiệp như vậy nên bắt đầu bằng việc muốn tìm viên Đại Hãn trước kia
là Cáp Bất Cần, nhờ ông ta trợ giúp. Một phần vì Cáp Bất Cần cũng nuôi mối thù
với người Kim bởi đã có một lần ông ta bị người Kim xúi bẩy bộ tộc Tác Ta ám
sát nhưng bất thành. Cả hai đều có mối hận thù chung là bộ tộc Tác Ta, vì vậy
Thiết Mộc Chân hy vọng sẽ thành công.
Thế nhưng Cáp Bất Cần đã
quá già yếu, không còn tham vọng gì nữa, bất đắc dĩ Thiết Mộc Chân phải chịu lụy
đến xin Thoát Lý, lúc ấy đang là quốc vương của một nước nho nhỏ tên là Khắt Liệt.
Người Khắc Liệt là bộ tộc Đột Quyết, rất gan dạ và dũng cảm nhưng không thể
liên kết lâu dài với họ được. Tiếc rằng Thoát Lý không đồng ý, quên hẳn tình
xưa nghĩa cũ của Dã Tốc Cai nên bao nhiêu hoài bão muốn phục hồi lực lượng của
bộ tộc mình đều thất bại.
Đang lúc Thiết Mộc Chân
lúng túng thì lại có tai họa xảy đến, bộ tộc Miệt Lý Cát bất ngờ tiến đánh và bắt
vợ của Thiết Mộc Chân đi mất. Lần này không còn đường nào khác, Thiết Mộc Chân
lại phải đến vương quốc Khắc Liệt cầu cứu Thoát Lý. Chẳng ngờ Thoát Lý cũng
đang có mối thù với bộ tộc Miệt Lý Cát, nhận lời ngay nhưng yêu cầu phải có người
của bộ tộc đứng ra cầm đầu. Do vậy Thiết Mộc Chân cùng với người bạn Bác Nhĩ
Thuật đến đề nghị với Trác Mộc Hợp.
Sau khi dàn xếp xong, đại
quân của mấy bộ tộc lập tức tiến đến đại bản doanh của bộ tộc Miệt Lý Cát. Bây
giờ Thiết Mộc Chân đã hết sức chín chắn chứ không nôn nóng như ngày trước, vận
dụng trí tuệ ra dùng mưu kế đánh úp bất ngờ vào nửa đêm khiến cho bộ tộc Miệt
Lý Cát trở tay không kịp, bị đánh tan tành, cứu được người vợ Bôi Nhi Thiếp.
Khi dẫn đoàn quân khải
hoàn trở về, Thiết Mộc Chân liền cùng với Trác Mộc Hợp kết nghĩa anh em, từ đó
thế lực của chàng mỗi ngày càng phát triển. Với hùng tài đại lược của Thiết Mộc
Chân, chẳng bao lâu ông đã có dưới tay rất nhiều dũng sĩ được huấn luyện theo
bài bản chứ không ô hợp như quân của Trác Mộc Hợp. Tiếc rằng “một nước không có
hai vua, một rừng không có hai cọp”, khi Thiết Mộc Chân đã có trong tay lực lượng
hùng hậu thì nảy sinh vấn đề ai sẽ là người được bầu lên chức Hãn đây?
Vì đã là anh em không tiện đấu đá, cuối cùng Thiết Mộc Chân và Trác Mộc Hợp quyết
định chia ra làm hai lực lượng khác nhau, mỗi người chiếm cứ một vùng. Thiết Mộc
Chân cởi bỏ được sự ràng buộc rồi bắt đầu tiến hành việc chiêu mộ nhân tài, chỉ
hơn ba năm sau đã có trong tay gần 5 vạn người, còn lớn mạnh hơn cả khi thân phụ
của ông là Dã Tốc Cai cầm đầu.
Sau mấy năm nữa lực lượng
của Thiết Mộc Chân càng phát triển nhưng ông đối xử với quân tướng giống như là
anh em, ai ai cũng vừa kính phục vừa mến mộ. Với thanh thế ấy, chẳng bao lâu
Thiết Mộc Chân đã đựợc mọi người tin tưởng, bầu lên làm Khả Hãn.
Khác với mọi Khả Hãn của
Mông Cổ, ngay khi chính danh, Thiết Mộc Chân đã nghĩ tới việc xây dựng một
chính quyền đầy đủ các chức vụ giống như triều Kim của người Nữ Chân. Ông sắp đặt
người có tài về hành chính làm quan giống như chức Thừa tướng của Trung Hoa,
còn người có dũng khí và can trường đều được phong làm tướng, có quân đội
riêng, tất cả đều dưới sự xem xét của Thiết Mộc Chân, nếu ông đi vắng thì có
người bạn thân thiết từ thuở nhỏ là Bác Nhĩ Thuật thay thế.
Thế nhưng Thiết Mộc Chân
không ngờ tai họa lại đến từ những người thân của mình. Trong một cuộc tranh chấp
đồng cỏ, người của ông lỡ tay giết chết em của Trác Mộc Hợp nên ông ta hết sức
tức giận, âm thầm liên kết với hơn 10 bộ tộc, trong đó có cả bộ tộc Tác Ta, tiến
đánh Thiết Mộc Chân.
Đến đây mới nhận thấy tài
năng chinh chiến của Thiết Mộc Chân hơn người. Tuy bị đánh bất ngờ nhưng ông vẫn
mau chóng chia quân ra làm nhiều cánh, mỗi cánh chống với mỗi bộ tộc. Vì lực lượng
liên quân quá hùng hậu, Thiết Mộc Chân đành phải rút lui nhiều lần để bảo toàn
lực lượng. Thật ra ông đã có ý riêng bởi vì Trác Mộc Hợp quá nôn nóng đuổi theo
nên bỏ quên đi việc tiếp vận lương thảo, mấy ngày sau quân binh đều đói khát mệt
mỏi.
Nhìn ra được điểm yếu của
đối phương, Thiết Mộc Chân bất ngờ tập họp quân sĩ tấn công, đánh tan đoàn quân
ô hợp của Trác Mộc Hợp, bắt sống hơn 3000 tù binh.
Đến đây rẽ qua một khúc
quanh mới, khi bàn tính với số tù binh bắt được, Bác Nhĩ Thuật nghiêm mặt nói:
– Giữ bọn chúng thì tốn
kém mà chiêu hàng thì không thể chắc chắn chúng sẽ phản bội lúc nào. Thêm vào
đó, nếu muốn lập được đại nghiệp thì không nên nghĩ tới nhân nghĩa, Đại Hãn nên
giết sạch bọn chúng để thị uy. Sau này tất không còn tên nào dám chống đối nữa.
Đó là kế sách “Đả thảo kinh xà” của người Trung Hoa làm cho đối phương phải mất
hết tinh thần chiến đấu.
Thiết Mộc Chân nghe theo,
ngày hôm sau ban bố lệnh: “Bất cứ ai dám chống lại Khả Hãn Thiết Mộc Chân đều bị
xử tử không tha”. Sau đó toàn bộ số tù binh bị giết sạch. Quả nhiên sau đó lập
tức có hai bộ tộc nhỏ đến xin qui hàng, càng làm cho thanh thế của Thiết Mộc
Chân lừng lẫy. Trung thành với chiến lược này, không ít lần đoàn quân Mông Cổ
trước khi tiến đánh một thành nào đều tuyên bố nếu đầu hàng thì sẽ tha mạng, bằng
chống cự sẽ giết không còn một con gà con chó. Suốt trong thời gian chinh chiến
khắp Đông, Tây, quân đội Mông Cổ đều thi hành mệnh lệnh này một cách nghiêm khắc
khiến ai nghe thấy cũng phải rùng mình kinh sợ. Tuy việc này quá tàn nhẫn nhưng
xét lại đúng là đòn “tâm lý chiến” hết sức lợi hại.
Thời cơ đưa đến rất thuận
lợi, khi Chương tông Hoàn Nhan Cảnh của triều Kim lên ngôi thì gặp rất nhiều
khó khăn do việc người Tống vẫn kiên trì chống cự. Đang phải lo về mặt phía nam
thì bộ tộc Tác Ta lại nhân cơ hội quấy phá nên Chương tông bèn sai Thừa tướng
Hoàn Nhan Tương đến liên kết cùng với vương quốc Khắc Liệt và lực lượng của Thiết
Mộc Chân. Dĩ nhiên Thiết Mộc Chân mừng rỡ bằng lòng ngay vì đây chính là lần đầu
tiên có cơ hội báo thù rửa hận cho cha.
Ba cánh quân của Khắc Liệt,
triều Kim và của Thiết Mộc Chân đồng loạt tấn công dữ dội. Bộ tộc Tác Ta hết sức
thiện chiến nhưng vẫn không thể đối đầu với lực lượng hùng hậu như vậy, viên thủ
lĩnh bị bắt giết tại trận, bao nhiêu tài vật đều chia cho ba cánh quân, chỉ còn
lại một số ít chạy thoát. Kể từ đó thế lực của bộ tộc Tác Ta không còn đáng kể
nữa.
Nhờ vào chiến thắng này,
Thoát Lý chính thức được triều Kim công nhận là vua của vương quốc Khắc Liệt và
Thiết Mộc Chân được phong một chức quan võ trong triều đình nhà Kim. Thừa thắng,
trên đường trở về Thiết Mộc Chân tiêu diệt thêm hàng chục bộ tộc nữa. Một bộ tộc
nhỏ tên là Trát Thích Xích Nhi nghe tin Thiết Mộc Chân đang tiến quân thì liền
ra qui thuận, được ông vui vẻ chấp nhận, dùng dũng sĩ Mộc Lê Hoa của bộ tộc ấy
làm quan thân cận cho mình. Về sau này Mộc Lê Hoa cũng đạt được nhiều chiến
công hiển hách, là một trong những tướng soái trụ cột của Mông Cổ.
Mấy năm sau vương quốc Khắc
Liệt có nội loạn, Thoát Lý phải chạy sang cầu cứu Thiết Mộc Chân. Từ đó hai thế
lực này liên kết với nhau càng làm cho sức mạnh thêm hùng hậu. Tiếc rằng Thoát
Lý không giữ được lòng đố kỵ, khi cùng với Thiết Mộc Chân đi chinh phạt bộ tộc
Nãi Man, lúc về đã lặng lẽ chiếm lấy số lớn của cải rồi bỏ đi đường khác. Chẳng
ngờ tàn quân Nãi Man tập họp lại được, không dám đánh với Thiết Mộc Chân mà đuổi
theo Thoát Lý, rốt cuộc ông ta quá tham thành hại, tơi tả chạy về chẳng còn tài
vật nào trong tay.
Nhân đà thắng lợi liên tiếp,
Thiết Mộc Chân tính sổ với bộ tộc Thái Xích Ô và giết chết thủ lĩnh của họ,
tiêu diệt hơn một nửa bộ tộc Thái Xích Ô. Chưa kịp nghỉ ngơi thì Thiết Mộc Chân
lại phải đối phó với âm mưu của Trác Mộc Hợp. Hắn chưa thể nào quên được mối
thù ngày trước, tìm đến tàn quân của các bộ tộc, liên kết lại rồi dẫn đại quân
tấn công.
Lần này Thiết Mộc Chân phải
liên kết với Thoát Lý bởi Trác Mộc Hợp có đến hơn 5 vạn quân mã. Trận chiến nổ
ra hết sức hung hãn bởi đôi bên đều dựa vào kỵ binh, lại biết nhau quá rõ, vì vậy
giằng dai mãi đến chiều tối quân của Thiết Mộc Chân mới thủ thắng, đáng lẽ trời
đã tối thì nên cho quân nghỉ ngơi nhưng Thiết Mộc Chân vẫn trung thành với lối
đánh của mình, tức là đã đánh thì phải đánh đến khi tận tuyệt mới thôi. Thế
nhưng cũng chính vì đêm tối mà Thiết Mộc Chân không thể thấy rõ đường lối, bị
trúng tên suýt mất mạng.
Mũi tên này là do một “thần
tiễn” dưới trướng Trác Mộc Hợp bắn ra, dũng sĩ đó tên là Hạt A Tịch. Sau khi trời
sáng chính Hạt A Tịch đến đầu hàng quân của Thiết Mộc Chân. Ông rất khen ngợi
tài bắn cung của Hạt A Tịch, lấy lời phủ dụ và đổi tên thành Triết Biệt, tiếng
Mông Cổ có nghĩa là “Thần tiễn”. Sau này Triết Biệt lại là một viên tướng đắc lực
nhất của Thiết Mộc Chân, đã từng chinh chiến cả Trung Hoa, Trung Âu và Trung Á,
nhưng lại chết trước khi dẫn quân tiến đánh một vương quốc nhỏ tên là Hoa Thích
Tử Mô. Cái chết của Triết Biệt là đòn mạnh đánh vào sự kiêu hãnh của Thành Cát
Tư Hãn. Trước đó một danh tướng kiêm mưu sĩ của Thành Cát Tư Hãn là Mộc Lê Hoa
cũng tử trận khi tiến đánh quân kháng chiến của con trai Mô Hãn Mặc Đức ở Y Lạp
Khắc. Nhưng cũng có giả thuyết cho rằng về sau Mộc Lê Hoa không đồng chính kiến
với Thành Cát Tư Hãn và bị ông ta giết chết.
Bất cứ vì nguyên nhân
nào, cái chết của Mộc Lê Hoa, Triết Biệt và người con trưởng của Thành Cát Tư
Hãn là Thuật Xích cũng đã khiến cho vị tướng bách chiến bách thắng này suy sụp
tinh thần, cộng với sức lực suy yếu sau nhiều năm sương gió nơi chiến trường đã
kết thúc cuộc đời vị Hoàng đế mà toàn thế giới ai nghe đến tên cũng phải kinh sợ.
Vào năm 1203, một lần nữa
người anh em kết nghĩa Trác Mộc Hợp lại xúi giục Thoát Lý cùng mình hợp quân tấn
công Thiết Mộc Chân. Tuy lần này ông phải rất vất vả đối phó nhưng sau cùng với
tài cầm quân quyền biến và có nhiều danh tướng tài dưới tay, vẫn đánh bại được
liên quân của họ, giết chết Thoát Lý rồi thừa thắng tiêu diệt luôn vương quốc
Khắc Liệt. Còn Trác Mộc Hợp thì chạy đến bộ tộc Nãi Man nương nhờ.
Khi Thoát Lý chết rồi,
người bạn của ông ta là Trác Hốt Nan, một đại tướng của bộ tộc Nãi Man quyết định
hưng binh báo thù. Biết rằng quân của Thiết Mộc Chân rất hùng hậu, Trác Hốt Nan
liền đến vương quốc Uông Cổ xin hợp quân. Tuy vương quốc này ở sát với biên
cương Trung Hoa nhưng nguồn gốc vẫn là người Mông Cổ, nghe đề nghị liền trở mặt
bắt trói Trác Hốt Nan giải giao cho Thiết Mộc Chân xét xử.
Nhân cớ ấy Thiết Mộc Chân
liền quyết định ra quân tiêu diệt luôn bộ tộc Nãi Man, sai Triết Biệt và Hốt Tất
Liệt làm tướng tiên phong. Đóng trại xong, Mộc Hoa Lê dâng kế “hư trương thanh
thế” mỗi quân binh phụ trách đốt mấy đống lửa khiến quân tướng Nãi Man nhìn thấy
đều tỏ vẻ khiếp sợ. Không những thế, cứ đêm tới là quân của Thiết Mộc Chân nổi
lửa sáng rực, người ngựa nhốn nháo giống như sắp tiến đánh, sau đó chợt im lặng
không còn động tĩnh gì nữa.
Đêm nào cũng thế khiến
quân tướng Nãi Man canh phòng rất mệt mỏi. Đúng lúc quân Nãi Man bất ngờ nhất,
quân Mông Cổ đột ngột ào ào tiến đánh, đến chiều tối đã dồn được toàn quân Nãi
Man rút lên núi cố thủ. Khả Hãn của Nãi Man là Thái Dương cho rằng thể nào quân
Mông Cổ cũng phải nghỉ ngơi đến sáng mới tiếp tục đánh nên chẳng đề phòng chút
nào. Đột ngột giữa đêm khuya quân Mông Cổ âm thầm theo từng góc núi tiến lên, cứ
vậy mà chém giết chứ không reo hò như mọi khi.
Trận này Thiết Mộc Chân
dùng kỳ binh rất thần diệu nên hoàn toàn đại thắng, bắt sống được cả gia quyến
Thái Dương đem chém đầu. Thế là hầu hết các bộ tộc ít người vùng phía bắc đã bị
sát nhập vào lực lượng của Thiết Mộc Chân, còn lại một ít lui vào rừng núi ẩn
trốn, không đáng kể. Đó là vào năm 1206.
Sau đó Trác Mộc Hợp bị
các tùy tướng bắt giao nộp cho Thiết Mộc Chân. Ông bèn tha chết cho người anh
em đã kết nghĩa ngày nào, chém đầu bằng hết bọn phản tướng. Trác Mộc Hợp vô
cùng hối hận không muốn sống nữa nên Thiết Môc Chân ban cho ông ta chết toàn
thây. Khi đã không còn đối thủ nữa, vào tháng 4 năm 1206, Thiết Mộc Chân liền
theo chê độ quân chủ của Trung Hoa, ban bố chiếu lệnh rồi lên ngôi tự xưng là
Nguyên Thái tổ, hiệu danh Thành Cát Tư Hãn, tức là “Vị Hoàng đế lớn nhất thiên
hạ”. Thành Cát Tư Hãn cho đóng đô ở dưới chân núi Hòa Lâm và cũng từ đấy cái
tên Thiết Mộc Chân không bao giờ được người ta nhắc tới nữa.
Đại nghiệp đã được dựng
lên nhưng đối với Thành Cát Tư Hãn thì đời con người chán ngán nhất là phải ngồi
chơi, không được ra chiến trận. Vì vậy sau khi bàn bạc cùng quần thần, ông quyết
định tiến đánh Tây Hạ, mở đầu cho tham vọng chiếm toàn thế giới.
Khi ấy Tây Hạ đã là một
cường quốc với nhiều thành lũy kiên cố, tướng sĩ cũng anh hùng nhưng người đứng
đầu là Bất Hãn lại không có tài năng gì, chỉ lo ăn chơi khoái lạc. Khi nghe tin
Thành Cát Tư Hãn kéo quân tiến đánh, quốc vương Bất Hãn đã định đầu hàng để giữ
địa vị nhưng quần thần nhất quyết tâu xin lấy hơi thở cuối cùng ra bảo vệ non
sông, bất đắc dĩ phải bằng lòng mà hết sức lo lắng.
Nhờ vào sự quyết tâm,
thành Trung Hưng của kinh đô Tây Hạ lại được xây dựng vô cùng kiên cố nên quân
dân Tây Hạ chống chọi với đoàn kỵ binh khủng khiếp của nhà Nguyên được mấy
tháng. Sau cùng Thành Cát Tư Hãn phải dùng đến mưu trí, sai quân phá một đoạn
đê điều trên sông Hoàng Hà. Thế nhưng chính nước ngập lại làm cho đoàn kỵ binh
Mông Cổ không thể tiến được, đành phải rút lui. Tuy không chiếm được kinh đô đối
phương nhưng trận này Thành Cát Tư Hãn cũng khiến cho đất nước Tây Hạ lâm vào cảnh
suy yếu, nhân dân đói khổ oán thán khôn xiết. Đây là lần chinh phạt Tây Hạ thứ
nhất.
Quốc vương Bất Hãn phải
nghe những lời oán thán ấy không hề tức giận người Mông Cổ mà lại đổ hết căn
thù lên đầu người Kim. Hóa ra Tây Hạ và Kim đã có ký kết hòa ước, bất cứ bên
nào lâm nguy thì bên kia phải đưa quân tới giúp. Thế mà quân Mông Cổ bao vây
thành Trung Hưng hơn một tháng vẫn không hề thấy bóng dáng của quân đội triều
Kim đâu. Từ sự tức giận này, Bất Hãn sai sứ giả sang triều Nguyên thuyết phục
Thành Cát Tư Hãn đánh nước Kim, Tây Hạ sẽ thần phục cho quân tiếp trợ.
Quả là cơ hội rất tốt cho
Thành Cát Tư Hãn, lại càng tốt hơn ngay khi ấy có sứ giả nước Kim đến báo tin
triều đình đã có Hoàng đế mới. Nguyên vào năm 1209, Kim Chương tông Hoàn Nhan Cảnh
qua đời, nối ngôi là Hoàn Nhan Vĩnh Tế. Vĩnh Tế không xưng Đế như các đời khác
mà xưng hiệu là Vệ Thiệu vương, là một người bất tài vô tướng, không được quân
tướng tin tưởng nhưng lại hết sức kiêu ngạo, ngông cuồng vô lối. Thành Cát Tư
Hãn chưa kịp động binh thì Vệ Thiệu vương Vĩnh Tế đã biết tin, lập tức sai quân
đánh phủ đầu Mông Cổ. Đại quân của triều Kim do hai Đại tướng là Thông Cát
Thiên và Gia Nỗ Hoàn chỉ huy, dẫn đến 3 vạn quân vượt qua biên cương Mông, Kim.
Thành Cát Tư Hãn hết sức
tức giận, đưa ra chiến thuật tốc chiến tốc thắng, sai ba anh em Thuật Xích dẫn
quân đánh ngay khi quân Kim chưa kịp hạ trại. Kết quả là quân Kim đại bại, chết
quá nửa, phải rút lui rồi dựng chiến lũy ở Ô Sa cố thủ. Thành Cát Tư Hãn thừa
thế thắng trận, đích thân dẫn đại quân tiến đánh thành Tây Kinh của nước Kim.
Tuy thành này còn kiên cố hơn thành Trung Hưng của Tây Hạ nhưng không quyết tâm
chống giữ nên chỉ mấy ngày sau đã thất thủ.
Quân đội triều Kim phải
rút về ải Thúy Bình, Thành Cát Tư Hãn cũng không buông tha, kéo đại quân đến đó
bày trận. Nhờ vào sự đầu hàng của một tướng Kim, quân Mông Cổ chiếm được cửa ải
này rất dễ dàng. Với chiến thuật đánh tới cùng, Thành Cát Tư Hãn không để quân
tướng nghỉ ngơi, quyết định chia quân ra làm hai đạo, một tiến đánh Đông Đô, một
do mình chỉ huy kéo rốc đến Trung Đô, là kinh thành của triều Kim uy hiếp. Vệ
vương Vĩnh Tế nghe tin địch quân bao vây thành không hề biến sắc mặt, sai Đại
tướng Hồ Sa Hổ chỉ huy chống giữ, còn mình thì tiếp tục ăn chơi sa đọa.
Quân triều Kim chống đỡ
cũng rất kiên cường nhưng khi nghe tin Đông Đô đã bị Mông Cổ chiếm lập tức biến
thành hoảng loạn, ai nấy đều oán giận Vĩnh Tế. Đại tướng Hồ Sa Hổ liền lập mưu
giết chết Vĩnh Tế, tôn phò Hoàng Nhan Tuân lên nối ngôi Hoàng đế nước Kim, xưng
hiệu là Kim Tuyên tông. Vị Hoàng đế này còn trẻ tuổi non gan nên quyết định hiến
dâng một số tài vật cùng với Công chúa yêu thương nhất cho Thành Cát Tư Hãn để
cầu hòa.
Khi ấy Thành Cát Tư Hãn vẫn
canh cánh điều nhục nhã là không hạ được thành Trung Hưng, lập tức chấp thuận
rút quân tính đến việc đánh Tây Hạ cho bõ giận. Khi đại quân Mông Cổ rút lui rồi,
Kim Tuyên tông Hoàng Nhan Tuân vẫn chưa hết sợ hãi, vội vàng cho thiên đô về Biện
Kinh, lấy cớ Trung Đô quá gần với Mông Cổ khó đề phòng. Chẳng ngờ việc này làm
cho Thành Cát Tư Hãn nổi cơn lôi đình, sửa soạn chia quân làm hai đạo cùng lúc
tiến đánh Trung Đô lẫn Biện Kinh.
Đoàn quân đánh Trung Đô
do danh tướng Mộc Lê Hoa chỉ huy chỉ trong một trận đã chiếm được thành, một phần
là do Thái tử nước Kim quá tệ hại trong việc chống giữ. Mộc Lê Hoa còn bắt sống
được Gia Luật Sở Tài, một mưu sĩ kiêm chính trị gia nổi tiếng của Tây Hạ.
Nguyên Gia Luật Sở Tài là hoàng thân của nước Liêu nhưng khi nhà Liêu không còn
nữa thì ông phục vụ dưới triều Kim, rất được Hoàng đế triều Kim tin tưởng. Tuy
dòng dõi là người phương bắc nhưng Gia Luật Sở Tài chẳng khác gì người Trung
Hoa, rất thông thạo Thư, Thi cùng với thiên văn địa lý, binh pháp chính trị,
không môn học thuật nào không biết. Khi bị bắt, Gia Luật Sở Tài liền xin theo
Thành Cát Tư Hãn làm mưu sĩ.
Thế nhưng đạo quân của
Thành Cát Tư Hãn lại không sao vượt nổi Đồng Quan để đến Biện Kinh bởi thành
lũy quá chắc chắn và quân Kim bị dồn vào tử địa chống trả hết sức kiên cường.
Thành Cát Tư Hãn rất khâm phục tài năng của Mộc Lê Hoa, phong cho ông tước
Vương để chỉ huy ba quân tiến đánh phía nam nước Kim. Mộc Lê Hoa quả là tướng
tài, chỉ trong vòng mấy tháng đã hạ được hơn 30 thành trì, làm cho quân Kim
nghe đến tên đã kinh hồn bạt vía.
Khi đã giao trách nhiệm
cho Mộc Lê Hoa, Thành Cát Tư Hãn tiến quân về phía tây. Khi ấy con trai của
Thái Dương xứ Nãi Man là Khuất Xuất Luật chạy thoát đến vương quốc Hoa Thích Tử
Mô. Hắn ngon ngọt thuyết phục được quốc vương xứ ấy là Mô Hãn Mặc Đức tấn công
Tây Liêu mở rộng biên cương. Khi tiêu diệt xong Tây Liêu rồi, Mô Hãn Mặc Đức
phong cho Khuất Xuất Luật làm Quốc vương. Thành Cát Tư Hãn nghe tin này lập tức
phái tướng Triết Biệt dẫn một vạn binh mã tiến đánh Tây Liêu, chưa đầy một
tháng đã hoàn thành nhiệm vụ được giao, lại giết chết luôn Khuất Xuất Luật.
Không bao giờ ngồi yên một
chỗ, tiếp đến Thành Cát Tư Hãn dẫn quân trừng trị Hoa Thích Tử Mô. Lúc đó là
năm 1219 tức ông đã hơn 50 tuổi nhưng vẫn còn mạnh khỏe hơn người. Thế nhưng
theo đề nghị trước kia của Tây Hạ, Thành Cát Tư Hãn sai sứ giả đến đề nghị tăng
viện thêm quân thì Tây Hạ từ chối, ông càng thêm tức giận nhưng đành phải gác lại
vì đang đi đánh Hoa Thích Tử Mô.
Quân binh Hoa Thích Tử Mô
cũng dũng cảm kiên cường nên nhiều lần công thành đều thất bại. Thành Cát Tư
Hãn liền áp dụng chiến thuật mà mình đã suy nghĩ từ lâu, đó là không đánh thẳng
vào mục tiêu khó chịu. Ông sai hai con là Oa Khoát Đài và Sát Hợp Đài ởlại tiếp
tục công thành đồng thời chia ra ba đạo quân độc lập, mỗi đạo do một viên tướng
chỉ huy tiến đánh một thành chung quanh kinh đô của Hoa Thích Tử Mô. Do vậy
kinh thành không còn tiếp tế, cả dân lẫn quân đều đại loạn, cuối cùng đành phải
mở cửa đầu hàng. Sau này Thành Cát Tư Hãn rất thường áp dụng chiến thuật này nếu
có thành nào quá khó tấn công, tiêu diệt toàn bộ các thành trước sau và chung
quanh tất sẽ đưa đối phương vào chỗ cô lập, chẳng bao lâu sẽ tự đầu hàng hay là
đánh chiếm cũng dễ dàng hơn.
Tuy đã chiếm hầu hết các
thành của vương quốc Hoa Thích Tử Mô nhưng quốc vương Mô Hãn Mặc Đức vẫn chạy
thoát, Thành Cát Tư Hãn quyết không bỏ cuộc, cho quân truy sát tận tuyệt. Cuối
cùng Mô Hãn Mặc Đức phải xuống thuyền chạy ra một hòn đảo ngoài Lý Hải rồi chết
ở đó. Quân Mông Cổ rất thiện nghệ kỵ binh nhưng về chiến thuyền hoàn toàn không
dự bị, đành phải nhìn Mô Hãn Mặc Đức trốn thoát.
Thừa thế đang tiến quân
không ai địch nổi, Thành Cát Tư Hãn còn tiêu diệt luôn cả Tây Vực rồi toan tính
tiến sang biên giới với Ấn Độ vì cho rằng đó là đất nước giàu có bậc nhất, nhiều
vàng bạc tơ lụa cùng phụ nữ xinh đẹp. May nhờ có Gia Luật Sở Tài đi theo quân
ngỏ lời ngăn cản, Thành Cát Tư Hãn mới chịu kéo quân về nước.
Thấy đất đai đã quá rộng
lớn, Thành Cát Tư Hãn liền giao nước Hoa Thích Tử Mô cho Sát Hợp Đài; phần đất
phía đông Mông Cổ giao cho Oa Khoát Đài; vùng cao nguyên thì giao cho Đà Lôi.
Sau này chính Đà Lôi là người kế vị tạm thời khi Thành Cát Tư Hãn mất. Riêng
người con trưởng là Thuật Xích nhiều lần chống đối không theo quân lệnh của phụ
hoàng nên Thành Cát giáng xuống làm lính, sau đó chết trong một trận công thành
của địch. Thành Cát Tư Hãn hết sức thương xót, cho mai táng theo thể thức hoàng
gia Mông Cổ nhưng không vì thế mà để sai quân lệnh bao giờ.
Bấy giờ Thành Cát Tư Hãn
đã 71 tuổi, cảm thấy rất mệt mỏi, sức lực suy yếu dần nên tạm thời trở về kinh
đô Hắc Lâm triều Nguyên tịnh dưỡng. Thế nhưng chỉ vài năm sau, ông lại xuống lệnh
phải tiêu diệt Tây Hạ bằng được. Có lẽ trước khi chết ông muốn hoàn thành tâm
nguyện của mình chăng? Lúc ấy là thời điểm Tây Hạ đang xuống dốc nên không thể
chống nổi với đoàn quân dũng mãnh của Thành Cát Tư Hãn, chẳng bao lâu vó ngựa
Mông Cổ đã đến chân thành Linh châu và dễ dàng dánh chiếm. Tiếp tục cuộc chinh
phục, đoàn quân Mông Cổ một lần nữa vượt sông tấn công kinh thành Trung Hưng, đồng
thời chia quân ra uy hiếp Nam Kinh.
Quân Mông Cổ tiến như chẻ
tre, đến đâu chiến thắng đến đó nhưng riêng Thành Cát Tư Hãn lại cảm thấy như bệnh
cũ tái phát, phải để Đà Lôi phụ trách tấn công Trung Hưng. Tuy thành này chưa bị
chiếm nhưng vua tôi Tây Hạ đã quá kinh sợ, liền sai sứ giả đến cầu hòa. Đang
lúc mỏi mệt, Thành Cát Tư Hãn lập tức chấp thuận, rút quân về tới Lục Bàn sơn ở
Linh châu thì mất. Tuy nhiên Thành Cát Tư Hãn vẫn còn kịp trăn chối cho Đà Lôi
tạm thời phụ trách ngôi vị Hoàng đế triều Nguyên. Đó là vào năm 1227. Trước khi
nhắm mắt, Thánh Cát Tư Hãn còn cố gượng sức nói với Đà Lôi phải tiêu diệt Tây Hạ
bằng mọi giá thì chết mới yên lòng đồng thời cũng ước mong tiêu diệt được Nam Tống,
hoàn thành giấc mộng “đế vương trên tất cả các đế vương” của mình.
Đà Lôi theo di mệnh nắm
quyền giám quốc nhưng không thể giao lại cho ai bởi nội bộ Mông Cổ xảy ra rối
loạn. Mãi cho đến năm 1229 thì Đà Lôi mới giao lại cho người con thứ ba là Bột
Nhi Chỉ Cân Oa Khoát Đài, xưng hiệu là Nguyên Thái tông.
Đế quốc Mông Cổ tưởng như
rất vững chắc, thế mà sau khi Thành Cát Tư Hãn chết lại nổ ra nhiều cuộc tranh
giành địa vị. Oa Khoát Đài và Mông Kha tuân theo lời trăn trối, chia đại quân
ra làm 3 mặt đánh chiếm Nam Tống. Trong một trận đánh bị trúng tên tử trận.
Mông Kha lên nối ngôi xưng hiệu là Nguyên Hiến tông nhưng vẫn trung thành với lời
trăn trối của Thành Cát Tư Hãn, tự thân đem quân tấn công Hợp châu, tức là đi
đường vòng tấn công mặt sau Nam Tống.
Quân Mông Cổ chia làm 4 lộ:
một tấn công Ngạc châu và Kinh sơn; một tấn công Đàm châu; một tiến đánh Hải
châu; còn lại do chính Mông Kha chỉ huy tấn công Tứ Xuyên. Cánh quân do Mông
Kha chỉ huy tiến như chẻ tre, chưa tới một năm đã chinh phục được một vùng đất
rộng lớn là Xuyên Tây, Xuyên Bắc và Xuyên Trung. Thế nhưng khi đến Hợp châu thì
phải dừng chân. Do vì thành Hợp châu nằm ở dưới chân núi Điếu Ngư ba mặt đều là
sông nước rất bất lợi cho kỵ binh Mông Cổ. Tướng Vương Kiên dựa vào địa thế hiểm
trở này mà chống cự khiến Mông Kha nhiều lần tấn công mà không thể hạ nổi.
Thấy kéo dài đã lâu, quân
tướng Mông Cổ không hợp thủy thổ bệnh tật chết rất nhiều, các tướng dưới quyền
khuyên Mông Kha tạm rút binh. Nhưng Mông Kha quyết hoàn thành tâm nguyện cho
Thành Cát Tư Hãn, một đêm vào năm 1259 sai Đại tướng Uông Đức Thần tấn công quyết
liệt. Tiếc rằng quân dân Hợp châu cũng anh dũng không kém nên vẫn giữ vững được
thành. Uông Đức Thành sợ bị tội với Mông Kha, ngày hôm sau đổi chiến thuật đến
chân thành thuyết phục đối phương đầu hàng, bất ngờ bị đá trên thành bắn xuống
chết tại chỗ.
Mông Kha hết sức tức giận,
tự mình cầm quân tấn công nhưng rốt cuộc cũng bị trúng tên mà chết. Khi ấy Hốt
Tất Liệt đang đóng quân ở Ngạc châu, cấp tốc đem binh về Khai Bình chiếm lấy
ngôi Hoàng đế, xưng hiệu là Nguyên Thế tổ. Dưới thời Hốt Tất Liệt quân Mông Cổ
mới hoàn toàn cai trị Trung nguyên, hoàn thành tham vọng của Thành Cát Tư Hãn.
Thành Cát Tư Hãn được nhắc
đến như là một vị tướng soái tài ba chứ ít ai nghĩ ông là Hoàng đế của một triều
đại kéo dài từ năm 1206 cho đến 1368 mới diệt vong, rơi vào tay Chu Nguyên
Chương. Cả cuộc đời ông toàn là chinh chiến, rày đây mai đó, tưởng như chỉ biết
có chiến trận mà thôi. Thật sự khi đã lên ngôi Hoàng đế rồi, Thành Cát Tư Hãn
cũng có suy nghĩ về tâm linh nên đã có lần mời một vị Chân sư là Khâu Xứ Cơ đến
doanh trại của mình để nghe giảng đạo. Khâu Xứ Cơ là tên thật, đạo hiệu là Trường
Xuân Chân nhân hay Trường Xuân tử, theo giáo phái Toàn Chân ở Trung Hoa.
Đó là vào năm 1219, khi
đang ở Trung Đô, Thành Cát Tư Hãn đặc biệt sai sứ giả đến mời Khâu Xứ Cơ đến giảng
đạo cho mình. Trước đó Kim Thế tông Hoàn Nhan Ung cũng đã mấy lần mời ông đến
Trung Đô giảng đạo cho triều thần. Việc Thành Cát Tư Hãn triệu mời Trường Xuân
Chân nhân gây nhiều thắc mắc trong giới nghiên cứu bởi vì hoàn toàn không biết
vị Hàng đế nổi tiếng tàn ác này có ý định ra sao.
Bí mật ấy cùng với cái chết
bất ngờ của Thành Cát Tư Hãn vẫn là nghi vấn chưa ai có thể tìm ra. Sau này người
ta nghiên cứu có đến mấy giả thuyết về cái chết của ông mặc dù trong “Nguyên sử”
do Thái tổ Chu Nguyên Chương ban lệnh soạn thảo viết rất rõ ràng: “Ngày Nhâm Ngọ,
tháng 7 mùa thu (ông) bệnh nặng. Ngày Kỷ Sửu băng tại hành cung Tát Lý châu.”
Theo các thuyết này thì
Thành Cát Tư Hãn bị trúng tên tẩm thuốc độc của người Tây Hạ nhưng vẫn gắng gượng
cứu chữa, sau đó tái phát mới chết. Cũng với giả thuyết Thành Cát Tư Hãn bị
trúng độc nhưng không phải do tên địch thủ mà là bị các Vương phi đầu độc. Điều
này tương đối có chứng cứ bởi vì mỗi khi Thành Cát Tư Hãn bắt được thê thiếp của
các quốc vương hay thủ lĩnh bộ tộc, bất cứ ai có nhan sắc đều ép buộc làm Phi tần
của mình. Họ có thể có cơ hội đầu độc được. Thế nhưng lại có giả thuyết khác ly
kỳ hơn, đó là mỗi lần ân ái cùng với các Phi tần tù binh, Thành Cát Tư Hãn chắc
chắn đã đề phòng cẩn mật, không thể nào họ giấu được thuốc độc hay võ khí. Vì vậy
giả thuyết nêu lên là một Phi tần của người Tây Hạ đã dùng răng làm Thành Cát
Tư Hãn bị thương nặng nơi hạ bộ, sau đó không cầm máu được mà chết. Tựu trung
các giả thuyết Thành Cát Tư Hãn bị Phi tần tù binh sát hại đều dựa vào con số
các phi tần mà ông ta bắt được, buộc phải làm vợ của mình. Theo ghi chép thì
khi Thành Cát Tư Hãn chết, số Phi tần bị tuẫn táng theo lên tới số 40, có lẽ đó
là cách ông ta trả thù người đã hạ độc mặc dù không chính xác là ai, tất cả Phi
tần bị nghi ngờ đều phải chết.
Trong chính sử của người
Mông Cổ thì lại ghi rằng Thành Cát Tư Hãn ngã ngựa bị thương, cộng với bệnh tật
do sương gió thành bệnh mà chết. Còn một số giả thuyết ly kỳ hơn như bị sét
đánh, bị các vương phi đâm chết, v.v... Tất cả đều là giả thuyết bởi ngay hiện
tại người ta còn chưa thể tìm ra lăng mộ của Thành Cát Tư Hãn ở đâu. Nếu như
tìm được, khai quật rồi khám nghiệm xương cốt bằng những khí cụ khoa học tối
tân ngày nay, chắc chắn sẽ chứng minh được cái chết bất ngờ của “Vị vua của
toàn thể thế giới”.
12 TỪ ĐẠT - CÔNG THẦN
DANH TƯỚNG
Với sự cai trị hà khắc
tàn nhẫn của triều Nguyên, toàn thể người dân Trung Hoa đều phẫn uất. Sở dĩ triều
Nguyên tồn tại được khá lâu, từ năm 1206 cho đến 1341 mới diệt vong là vì qua một
thời gian hủ bại của các triều đình nhà Tống, hầu như không có nhân tài nào xuất
hiện lãnh đạo. Nếu có chăng, thí dụ như Nhạc Phi thì cũng đã bị bọn gian thần
diệt trừ bằng hết rồi. Thế nhưng bất cứ hoàn cảnh nào, dồn người vào con đường
quá phẫn uất thì trước sau cũng nổ ra các cuộc khởi nghĩa chống đối. Cuộc khởi
nghĩa đầu tiên mang màu sắc tôn giáo, bắt nguồn từ Minh giáo mà cầm đầu là vị
Tiểu Minh vương. Thời thế đã đổi thay, lập tức các cuộc khởi nghĩa nông dân
khác cũng lớn mạnh, đáng kể nhất là lực lượng của quân quàng khăn đỏ (Hồng cân)
và của Hàn Sơn Đồng, Lưu Phúc Thông ở Dĩnh châu; của Từ Huy Thọ ở Ký châu rồi đến
Lý Nhi, Bành Đại, Triệu Quân ở Từ châu; Quách Tử Hưng, Tôn Đức Nhai ở Hào châu;
sau này lại có lực lượng của Trần Hữu Lượng và Trương Sĩ Thành vô cùng hùng mạnh.
Với những cuộc nổi dậy
liên tiếp ấy, quân đội triều Nguyên không thể nào đánh dẹp được hết, dần dần yếu
thế và để mặc cho các anh hùng Trung Hoa tung hoành chiến địa. Lúc ấy nổi lên một
danh tướng tên là Chu Nguyên Chương. Đầu tiên Chu Nguyên Chương gia nhập hàng
ngũ của Quách Tử Nhưng sau nhiều năm thì xảy ra bất đồng chính kiến. Do vậy Chu
Nguyên Chương tách ra thành một lực lượng riêng, đóng quân ở Hào châu.
Nhờ vào thời niên thiếu cực
khổ gian nan nhưng Chu Nguyên Chương đối đãi rất nghĩa khí nên khi nắm quân khởi
nghĩa rồi, có rất nhiều bạn bè ở Hào châu đến xin gia nhập, sau này đều trở
thành những công thần danh tướng của họ Chu. Dưới tay Chu Nguyên Chương có những
người như Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân, Quách Anh, Ngô Lăng, v.v...
Họ Chu là người có hoài
cao xa, nhận thấy không những cần đến quân tướng mà còn rất cần những Nho gia học
sĩ, mưu sĩ làm nòng cốt cho mình nên mời hai anh em họ Phùng là Phùng Quốc Dụng
và Phùng Quốc Thắng ra phò giúp. Nghe lời hai anh em họ Phùng, Chu Nguyên
Chương tiến chiếm Kim Lăng để làm căn cứ địa. Sau này họ Chu còn được một danh
sĩ nhiều tài năng là Lý Thiện Trường đến xin cùng giúp sức, thanh thế bắt đầu lớn
mạnh.
Trong số những bạn bè đất
Bái đi theo Chu Nguyên Chương ngay từ khi khởi nghĩa, đáng kể nhất là Từ Đạt.
Ông không những là viên tướng soái bách chiến bách thắng, nhiều mưu lược mà còn
là nguyên lão công thần của triều nhà Minh sau này.
Từ Đạt sinh năm 1332, tên
tự là Thiên Đức, sinh trưởng ở Hào châu, xuất thân gia đình là nông dân thuộc tầng
lớp thấp kém giống như Chu Nguyên Chương vậy. Ông là người có thân hình cao lớn,
khỏe mạnh, tính tình rất kiên cường dũng cảm, được các trai tráng trong thôn
kính nể. Ngay từ khi chưa gia nhập hàng ngũ của họ Chu, Từ Đạt đã nổi danh là
người nghĩa dũng, tự tập họp trai tráng ở thôn Thái Bình thành một đội quân.
Lúc Chu Nguyên Chương lấy tình đồng hương chiêu mộ quân sĩ thì Từ Đạt lập tức
cùng với một số bạn bè đi theo ngay. Từ Đạt còn giúp Chu Nguyên Chương dễ dàng
trong việc tuyển quân, giới thiệu những bạn bè trai tráng có chí khí. Vì rất nể
trọng Từ Đạt nên rất nhiều xin theo họ Chu, chẳng bao lâu đã tụ họp được gần một
ngàn người.
Khi ấy Chu Nguyên Chương
đang nắm chức Trấn Phủ dưới cờ của Quách Tử Hưng, có chút quyền hành nên phong
cho các bạn bè thân thiết ở Hào châu làm Đầu mục, trong số đó có Từ Đạt. Đã có
trong tay quân tướng hùng hậu, Chu Nguyên Chương liền nghe theo lời của Lý Thiện
Trường đánh chiếm Trừ châu rồi sau đó là Hòa châu. Trong những lần đánh chiếm
này, Từ Đạt biểu lộ là người có tài năng, chiến đấu hết sức dũng cảm nên khi
xong việc, Chu Nguyên Chương xin với Quách Tử Hưng phong cho ông làm Trấn Phủ,
tức ngang bằng với mình trước kia.
Khi Quách Tử Hưng chết,
em vợ của ông ta là Trương Thiên Hựu lên nối chức Nguyên soái nhưng thực ra Chu
Nguyên Chương mới là người quan trọng nhất.
Năm 1355, Từ Đạt theo Chu
Nguyên Chương vượt Trường Giang tiến đánh Hòa Châu. Dù tướng nhà Nguyên là Man
Tử Hải Nha chống cự hết sức kiên cường nhưng vẫn không sao địch nổi hai danh tướng
Thường Ngộ Xuân và Hồ Đại Hải. Thấy tình hình thuận lợi, Từ Đạt liền thúc giục
Chu Nguyên Chương thừa cơ đánh chiếm thành Thái Bình. Thấy quân Nguyên rút chạy,
Từ Đạt nhanh chóng chớp thời, xin với Chu Nguyên Chương dẫn binh đi mai phục ở
vùng núi phía nam Thái Bình, đánh bại quân cứu viện do Trần Dã chỉ huy, bắt buộc
chủ lực quân Nguyên phải rút chạy về Tập Khánh.
Sau khi chỉnh đốn lại
binh mã, Từ Đạt tiếp tục tiến đánh Lật Dương, hình thành thế bao vây thành Tập
Khánh vào giữa. Chu Nguyên Chương rất dễ dàng đánh chiếm Tập Khánh và đổi tên
thành Ứng Thiên phủ, tức là ứng theo số mệnh của trời đất, quyết định lấy Ứng
Thiên phủ để đóng quân.
Lúc ấy về phía đông Ứng
Thiên phủ vẫn còn một tướng nhà Nguyên là Định Định trấn giữ, nếu như để lọt
vào tay Trương Sĩ Thành thì rất nguy hiểm. Do vậy họ Chu giao trọng trách này
cho Từ Đạt, phong làm Đại tướng quân. Đây là lần đầu tiên Từ Đạt nắm ấn tín Tướng
soái. Ông mau chóng chiếm được Trấn Giang rồi đến Kim Đàn, Đơn Dương, công trạng
rất lớn. Vì vậy một lần nữa Chu Nguyên Chương ưu ái phong cho Từ Đạt làm Thống
quân Nguyên soái. Bắt đầu từ đây với quân tướng trong tay, Từ Đạt trở thành trụ
cột không thể thiếu của Chu Nguyên Chương và có những chiến công hết sức lẫy lừng.
Thế nhưng Trương Sĩ Thành
không chiếm được Trấn Giang thì liền cho thủy quân tấn công cố lấy lại. Từ Đạt
dù ít quân hơn hẳn nhưng vẫn chỉ huy cầm cự kiên cường, đồng thời cấp tốc báo về
Chu Nguyên Chương xin quân tiếp viện. Đã có lực lượng tương đồng, Từ Đạt liền
bày trận thế, chia quân ra làm ba cánh liên hợp với nhau mà đánh. Riêng ông thì
chỉ huy trung quân đánh trực diện. Với tài ba lỗi lạc cùng với tinh thần chiến
đấu hừng hực, cuối cùng Từ Đạt lại lập công lớn, đánh bại quân của Trương Sĩ
Thành, bắt sống được hai tướng của đối phương. Thừa thế, Từ Đạt cho quân tiến đến
Thường châu.
Biết quân địch còn khá mạnh,
Từ Đạt không vội tấn công mà cứ bao vây chặt chẽ, đồng thời phái quân đi đánh
chặn các đường tiếp tế của đối phương. Chẳng bao lâu trong thành Thường châu hết
lương thực, quân dân náo loạn, Từ Đạt liền xua quân tấn công dữ dội và chiếm được
thành. Chu Nguyên Chương rất mừng vì chiến thắng này, đổi tên Thường châu lộ
thành Thường Châu phủ và thiết lập Khu Mật Viện ở đó, cho Từ Đạt đứng đầu, còn
tướng Thang Hòa giữ chức Khu Mật Viên Đồng Thiêm.
Cùng năm ấy, Từ Đạt theo
Chu Nguyên Chương tiến đánh Ninh Quốc, bắt sống được em của Trương Sĩ Thành là
Trương Sĩ Đức. Tuy nhiên lúc ấy vẫn còn một số quân nổi dậy có liên hệ với họ
Chu, vì vậy Từ Đạt liên minh với quân của Thiệu Vinh đánh chiếm Nghi Hưng phủ.
Thế là toàn bộ Ứng Thiên phủ đã không còn bị uy hiếp nữa. Tất cả những công trạng
ấy đều có mặt của Từ Đạt.
Năm 1360, Từ Huy Thọ bị bộ
tướng dưới quyền là Trần Hữu Lượng sai người giết chết. Theo “An Nam chí lược”
của Lê Tắc, Trần Hữu Lượng là hậu duệ của Trần Ích Tắc, người Việt Nam, sinh sống
ở Cái Dương, Hồ Bắc. Trần Hữu Lượng xuất thân đánh cá nhưng rất chịu khó học
hành, thao luyện võ nghệ nên ngay từ thời niên thiếu đã nổi tiếng là đọc sách
nhiều, nhớ dai, vì vậy đầu tiên được làm chức văn thư trong huyện. Một lần, vì
bất hòa với cấp trên vốn là quan lại nhà Nguyên mà Lượng vẫn thường chê ngu dốt
hơn mình, Lượng liền gia nhập vào quân Hồng Cân do Từ Thọ Huy cầm đầu.
Nhờ có võ nghệ cao cường,
lại học hành đôi chút nên Trần Hữu Lượng chiến đấu rất mưu trí, nhiều lần lập
được công trạng, dần dần thăng tới Lãnh binh nguyên soái, tự xưng là “Bình
Chương”. Năm 1360, Trần Hữu Lượng bí mật sai người thân tín dùng trùy sắt đánh
chết Từ Thọ Huy rồi lên ngôi hoàng đế ở Thái Thạch đặt quốc hiệu là Hán, đổi
niên hiệu là Đại Nghĩa rồi sai người đi ước hẹn với Trương Sĩ Thành cùng đi
đánh Chu Nguyên Chương ở Ứng Thiên.
Đây là trận chiến ác liệt
và gay go bởi quân số bên địch đông hơn rất nhiều. Thế nhưng Chu Nguyên Chương
rất tài tình, một mặt chống đỡ một mặt sai Từ Đạt đánh ngang hông chia cắt quân
của Trần Hữu Lượng ra làm hai, không còn tiếp trợ cho nhau được nữa. Thật sự Trần
Hữu Lượng dựa vào sức mạnh của thủy quân nên về đánh trên bộ thì rất yếu so với
các cách dùng binh của Chu Nguyên Chương và nhất là của Từ Đạt.
Kết quả cuối cùng Trần Hữu
Lượng đại bại, dùng thuyền chạy về Giang châu. Trong trận này Chu Nguyên Chương
bắt được khá nhiều tù binh cùng với các chiến thuyền của Trần Hữu Lượng, thanh
thế càng tăng cao. Lúc ấy Trương Sĩ Thành về đầu hàng triều Nguyên, được lệnh tấn
công quân khởi nghĩa Hoàng cân do Lưu Phúc Thông nắm giữ. Vì trước kia có mối
liên hệ với Hoàng cân và nếu để Lưu Phúc Thông thất bại thì Ứng Thiên phủ cũng
bị hở sườn nên Chu Nguyên Chương quyết định đem 20 vạn quân trở về cứu Hồng Đô,
có cả Từ Đạt theo.
Quân hai bên bày trận ở
trên hồ Phiên Dương và sau đó xảy ra một cuộc chiến hết sức quyết hệt. Có thể
nói đây là cuộc chiến quyết định sự tồn vong của cả hai bên nên mỗi bên có cách
hành xử khác nhau. Quân Trần Hữu Lượng thì phao lên là có tới 60 vạn trong khi
Chu Nguyên Chương chỉ có 20 vạn. về mặt chiến thuyền cũng có sự khác biệt, chiến
thuyền của quân Trần Hữu Lượng to lớn hơn còn Chu Nguyên Chương chỉ có thuyền
nhỏ. Như vậy về binh lực và trang bị, Trần Hữu Lượng đều chiếm ưu thế, ai cũng
tưởng lần này họ Chu tất phải bại trận.
Thế nhưng, Chu Nguyên
Chương cũng không phải tay vừa, một mặt ông sai Từ Đạt trở về Ứng Thiên phủ lo
liệu việc đề phòng bị Trương Sĩ Thanh đánh úp, một mặt sử dụng hỏa công để đối
phó với các chiến thuyền to lớn của Trần Hữu Lượng. Chu Nguyên Chương lợi dụng
nhược điểm thuyền lớn của quân Hán khó xoay xở, sử dụng tính linh hoạt của thuyền
nhỏ, chủ động tấn công trước và bắt chước Khổng Minh ngày trước, dùng hỏa công
chặn đường sau của quân Trần Hữu Lượng. Trải qua 36 ngày ác chiến, quân họ Trần
bị cắt đứt trên dưới, đành bỏ chạy tán loạn, Trần Hữu Lượng cũng bị trúng tên
mà chết.
Thế là về mặt đối phó nội
tình không còn phải lo lắng gì nữa, Trương Sĩ Thành không xứng tay đối thủ với
ông ta. Vì vậy vào năm 1364, Chu Nguyên Chương tự xưng là Ngô vương, thiết lập
triều đình đầy đủ ban bệ, phong cho Từ Đạt làm Tả Tướng quốc. Nếu tính từ khi bắt
đầu gia nhập quân đội, tức là khi ông được 23 tuổi, chỉ mới 9 năm đã lên tới
hàng đại quan nhất phẩm triều đình.
Thiết lập triều đình
xong, lực lượng lớn mạnh nhất của Trần Hữu Lượng đã bị tiêu diệt, Chu Nguyên
Chương chỉ còn lại cái gai là Trương Sĩ Thành. Lúc ấy Trương Sĩ Thành cố thủ ở
phía nam Trường Giang, lúc thì phản lại lúc thì đầu hàng triều Nguyên, không có
ý chí nhất định. Vì vậy Chu Nguyên Chương rất coi thường họ Trương, không thân
chinh đi đánh mà sai Từ Đạt làm Đại tướng đem quân tiến đánh.
Với lối đánh thần tốc và
dũng mãnh, Từ Đạt cho quân công kích dữ dội, nhanh chóng chiếm được Thái châu,
bắt sống tướng Nghiêm Tái Hưng. Thừa thế, Từ Đạt chia quân làm hai đạo, một do
Lưu Kiệt tiến đánh Hưng Hóa, một do mình chỉ huy tiến đánh Cao Bưu. Thế nhưng
Chu Nguyên Chương sợ rằng Từ Đạt quá hăng hái sẽ đi sâu vào đất địch bất lợi, hạ
chỉ gọi ông về. Thật sự là do Chu Nguyên Chương lo sợ Từ Đạt lập công lớn khó bề
kềm chế mà thôi. Đây là dấu hiệu nghi ngờ công thần của họ Chu mà sau này gây
ra nhiều tác hại, giết gần hết các công thần đã theo phò tá mình từ ngày mới khởi
nghĩa, trong đó có cả Từ Đạt theo một giả thuyết khác với chính sử.
Lúc đó Trương Sĩ Thành thừa
cơ đang tiến đánh Giang Nam nên khi Từ Đạt trở về không hề được nghỉ ngơi, lại
phải cầm quân đi chống đỡ, đẩy lui được quân của Trương Sĩ Thành ra khỏi vùng
Giang Nam. Đang lúc Từ Đạt định đánh Cao Bưu thì Chu Nguyên Chương triệu hồi về
nhưng lại sai một tướng khác là Phùng Quốc Thắng đem quân tiến đánh. Điều này
càng chứng tỏ tâm địa nghi ngờ công thần danh tướng của họ Chu đã bắt đầu lộ
ra. Tiếc rằng Phùng Quốc Thắng mắc mưu của Du Đồng Thiêm, tổn thất khá nhiều
quân sĩ, phải bỏ chạy về Ứng Thiên.
Lúc đó Chu Nguyên Chương
mới quyết định sai Từ Đạt đem quân cùng với Phùng Quốc Thắng tiến đánh Cao Bưu.
Ông chỉ cần một trận đã chiếm được thành và giết chết Du Đồng Thiêm, quả là
không hổ danh Tướng soái trụ cột của triều Ngô.
Thừa thắng, Từ Đạt xin lệnh
tiến đánh luôn Hoài An. Tướng giữ thành là Mai Tư Tổ vừa nghe quân của Từ Đạt
thì đã hồn vía lên mây, lập tức mở thành đầu hàng. Từ Đạt không phải tốn tên
quân nào cũng chiếm toàn bộ Hoài An và mấy châu quận liên thuộc. Sau đó Từ Đạt
tiến chiếm luôn thành Hưng Hóa, toàn bộ đất Hoài Đông đã về tay triều Ngô mà tất
cả chiến công đều là công sức của Từ Đạt. Hoài Đông bình định xong nhưng đối thủ
Trương Sĩ Thành vẫn còn đóng quân ở Hồ châu. Nếu đưa quân đi xa mà không tính
toán kỹ lưỡng thì rất dễ thất bại, do vậy một lần nữa Chu Nguyên Chương lại nhờ
tới tài năng của Từ Đạt, phong làm Đại tướng rồi cho Thường Ngộ Xuân làm Phó tướng,
kéo 20 vạn quân tiến thẳng tới Hồ châu.
Trước đó Từ Đạt đã nghiên
cứu tình hình quân đội của đối phương, dùng kế sách chia cắt ra đánh từng phần
một nên dù Trương Sĩ Thành đã tăng viện cho Hồ châu 6 vạn binh do hai tướng
Châu Xiêm và Lữ Trân chỉ huy vẫn bị Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân đánh cho mấy trận
thất điên bát đảo. Bất đắc dĩ Trương Sĩ Thành phải tự thân dẫn quân đi cứu
nguy. Thế nhưng Từ Đạt đã đoán trước được việc này, cho quân mai phục ở một địa
điểm nơi Chiết Giang, làm cho Trương Sĩ Thành phải bỏ chạy trở về. Sau đó luôn
mấy lần Trương Sĩ Thành phái quân đi cứu viện nhưng lần nào cũng bị Từ Đạt đuổi
chạy không còn manh giáp.
Quân của Từ Đạt và Thường
Ngộ Xuân đi đến đâu chiến thắng đến đó, nhiều thành bị phá nhưng cũng không ít
thành vừa nghe thấy tên ông đã vội đầu hàng. Đó là các tướng Phan Nguyên Minh ởHàng
châu, Lý Tư Trung ở Thiệu Hưng... hình thành thế bao vây Trương Sĩ Thành ở Bình
Giang không còn đường nào thoát chạy. Nhận thấy thành Bình Giang rất kiên cố, Từ
Đạt liền cho quân lấy đất đắp thành tường cao chung quanh thành giống như một bức
tường thứ hai vậy. Từ bức tường này quân của Từ Đạt cố thủ bao vây chặt chẽ,
ngày đêm bắn tên, gỗ, đá vào thành khiến Trương Sĩ Thành không còn biết cách
nào chống đỡ.
Thế nhưng dù đã cạn kiệt
lương thực, Trương Sĩ Thành nhất quyết tử chiến, cũng không chịu về đầu hàng.
Biết rằng nếu đánh thành tất phải hao tổn quân số lớn, Từ Đạt bèn sai người về
xin ý kiến của Chu Nguyên Chương và được nhà vua chấp thuận toàn quyền quyết định.
Từ Đạt được toàn quyền liền hiệu triệu quân tướng ra sức đánh phá, tuy chưa
thành công nhưng đã giết chết được người em của Trương Sĩ Thành là Trương Sĩ
Tín. Nghe tin này Trương Sĩ Thành hết sức chán nản nhưng vẫn không chịu đầu
hàng.
Từ Đạt không muốn quân sĩ
chết nhiều nên cứ trì hoãn cuộc tấn công tổng lực, nay thấy Trương Sĩ Thành quá
ngoan cố thì không dừng được nữa, ra lệnh cho toàn quân dốc sức tấn công. Quân
của Từ Đạt rất tinh nhuệ, lại được một danh sĩ là Lưu Bá Ôn mới về phò tá cho họ
Chu, chế tạo ra “vân thê” (thang làm bằng mây) nên từ bốn cửa thành trèo vào tấn
công hết sức dữ dội. Kết quả là Trương Sĩ Thành nhìn thấy thành bị chiếm, bao
nhiêu công lao từ lúc khởi nghĩa đến nay tiêu tan thành mây khói, đau lòng vào
nhà riêng tự thắt cổ mà chết.
Thông thường thành nào
quyết tử chiến đến khi bị đánh hạ sẽ bị trả thù tàn nhẫn, riêng Từ Đạt có lòng
nhân từ, sai quân treo bảng trấn an và hạ lệnh nếu cướp phá tài sản người dân
hoặc giết người đều bị xử trảm. Nhờ vậy gần 20 vạn dân quân trong thành Bình
Giang đều được yên ổn, người người đều ca tụng.
Nhờ chiến công đánh hạ
thành Bình Giang, Chu Nguyên Chương đích thân đến cửa Kích Môn đón chào, thăng
Từ Đạt lên làm Tín Quốc công, còn Thường Ngộ Xuân được phong Ngạc Quốc công.
Lúc đó chỉ còn lại lực lượng của Dương Quốc Trân ở Chiết Giang. Tuy nhiên đó là
lực lượng khá yếu kém, không sao chống nổi với các danh tướng của triều Ngổ, chỉ
trong vòng vài tháng đã bị tiêu diệt.
Đến đây mới là bước ngoặt
quan trọng, đó là trực diện đối đầu với quân triều Nguyên ở các tỉnh phía bắc
như Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, An Huy, Triết Giang. Để đối phó với quân chủ lực
triều Nguyên, Chu Nguyên Chương cho phép các Đại tướng được toàn quyền quyết định,
ứng xử tùy theo hoàn cảnh chiến trường không phải tâu báo về triều đình.
Sau đó vào năm 1367, Chu
Nguyên Chương phong Từ Đạt làm “Chinh Lỗ Đại nguyên soái” cùng với Thường Ngộ
Xuân dẫn 25 vạn quân tiến lên phía bắc. Từ Đạt mau chóng chiếm được Sơn Đông rồi
từ đó làm bàn đạp tiến đánh Tương Dương, Nam Dương, Nghi châu. Chỉ trong năm ấy,
quân của Từ Đạt đã tiến xa hơn kế hoạch, đến chân thành Tế Nam bao vây. Thấy
thanh thế của quân Ngô quá hùng hậu, viên tướng trấn giữ thành là Đóa Nhi Chỉ mở
cửa ra đầu hàng. Tiếp tục chiến dịch, trong vòng 3 tháng Từ Đạt đã tạm thời
bình định toàn bộ vùng Sơn Đông.
Khi đã thấy tương đối đã
mở rộng được non sông, Chu Nguyên Chương liền lên ngôi Hoàng đế, đặt quốc hiệu
là Minh vào năm 1368. Đã có triều đình tất phải có đại thần trụ cột và Lý Thiện
Trường được phong Hữu Thừa tướng, kiêm Thái tử Thiếu sư; còn Từ Đạt được phong
Tả Thừa tướng, kiêm Thái tử Thiếu phó. Danh vọng của ông gần như đã cao nhất
không ai sánh kịp. Tất cả đều xuất phát từ tài năng dùng binh của ông quá siêu
việt, hầu như chưa trận nào đại bại, giúp nhà Minh xây dựng sớm hơn dự tính rất
nhiều.
Triều đình đã dựng xong,
Chu Nguyên Chương tiếp tục cho quân tiêu diệt hết các đạo quân Nguyên còn đóng
trong lãnh thổ Trung nguyên và cũng chính Từ Đạt được giao trọng trách này. Với
khí thế mạnh mẽ và tài cầm quân của Từ Đạt, chẳng bao lâu quân Minh đã chiếm được
toàn bộ Hà Nam, bắt đầu tiến sang Thiểm châu. Nơi đây có Đồng Quan ải rất nổi
tiếng với sự xây dựng hết sức kiên cố, là cửa ngõ tiến vào Trung nguyên. Thế
nhưng khi ấy danh tiếng của Từ Đạt đã trở thành nỗi kinh hoàng của quân Nguyên.
Ngay khi ông tiến quân đến Đồng Quan thì hai hàng tướng nhà Nguyên là Lý Tư Tề
và Trương Tư Đạo lập tức bỏ thành chạy trốn. Thế là quân Minh đã tạo được một
vòng vây chung quanh Đại Đô, kinh thành của triều Nguyên. Chu Nguyên Chương quyết
định thân hành đến Biện Kinh cùng các tướng bàn soạn kế sách, quyết một lần phải
tiêu diệt được quân Nguyên ở Đại Đô. Do vì đây là chiến dịch hết sức quan trọng
nên Chu Nguyên Chương rất phân vân. Riêng Từ Đạt thẳng thắn đưa ra ý kiến
riêng. Ông cho rằng đang lúc quân Nguyên khiếp vía kinh hoàng thì nên dồn lực
lượng đánh ngay và đánh thật dữ dội. Nếu để thời gian trôi qua, nỗi khiếp sợ ấy
tan dần và triều Nguyên chấn chỉnh được quân mã thì sẽ rất khó đánh. Đó là kế
sách “sét đánh không kịp bưng tai” nên Chu Nguyên Chương chấp nhận ngay.
Tuy nhiên trước khi xuất
quân, Từ Đạt còn hỏi rõ Chu Nguyên Chương nếu quân Nguyên bỏ chạy sâu vào nội địa
thì có nên truy kích đánh giết hay không? Đó là sự cẩn trọng của Từ Đạt và cũng
là tiên đoán kết quả quân sự mà ông đã nắm chắc trong tay. Chu Nguyên Chương
cho rằng quân Nguyên đã thiệt hại quá lớn mà quân mình cũng cần phải có thời
gian chỉnh đốn nên không cho Từ Đạt truy kích.
Dù đã chắc thắng mười phần,
Từ Đạt vẫn xuất quân rất thận trọng, từng bước đánh chiếm các thành trì xung yếu
quanh Đại Đô. Nếu bỏ qua các thành này, có thể bọn chúng sẽ bất ngờ tập hậu sau
lưng hay gây khó khăn cho các đoàn quân tiếp tế lương thảo. Từng bước một Từ Đạt
cho quân theo Hoàng Hà tiến lên phía bắc, đánh chiếm Đức châu, Trường Lư, Trực
Ngô rồi thẳng tiến đến Thông châu.
Những tin bất lợi liên tiếp
bay về Đại Đô, cộng với tinh thần đã quá suy sụp, lập tức Nguyên Thuận đế thu xếp
cùng với các phi tần lén lút bỏ chạy về Cư Dung quan. Đến đây Nguyên Thuận đế vẫn
chưa cảm thấy yên tâm, tiếp tục chạy đến Khai Bình, sâu mãi trong Nội Mông. Khi
thành lập triều Nguyên, không biết các Hoàng đế có cảm giác như trước sau gì
cũng không thể giữ nổi Trung nguyên hay không mà lập ra hai kinh đô, một ở Đại
Đô, một gọi là Thượng đô ở Khai Bình.
Từ Đạt chẳng tốn một mũi
tên cũng đường hoàng tiến vào Đại Đô. Ông tiến quân quá nhanh nên cả triều đình
bù nhìn do nhà Nguyên dựng lên đều không kịp chạy trốn. Từ Đạt lấy danh nghĩa
là Thừa tướng triều Minh, ban bố khuyến dụ nếu ai thành khẩn đầu hàng thì sẽ
tha chết, còn lại đều đem chém đầu làm gương, trong đó có cả Hoài vương và hai
viên Tể tướng của triều Nguyên.
Nhờ chính sách giải quyết
ôn hòa và nghiêm minh của Từ Đạt, hoàn toàn không có cảnh đại loạn xảy ra, người
dân Đại Đô dù là Hoa hay Mông đều sinh hoạt bình thường. Nếu xét về mặt chính
trị thì ông cũng rất xứng đáng là nhà cai trị tài ba.
Tin tức chiếm được Đại Đô
bay về Ứng Thiên phủ làm cho toàn dân Trung nguyên nức lòng hởi dạ bởi đó chính
là sự kiện đã chấm dứt hoàn toàn thời kỳ cai trị tàn khốc của quân Nguyên. Chu
Nguyên Chương liền cho đổi tên Đại Đô thành Bắc Bình phủ, để người dân quên hẳn
đi thời kỳ chiếm đóng của ngoại bang.
Tuy căn bản đã tiêu diệt
được triều Nguyên nhưng vẫn còn khá nhiều đạo quân Nguyên đóng rải rác ở miền bắc.
Theo cách hành quân của người Mông Cổ thì bất cứ đạo quân nào viễn chinh đều phải
tự túc từ lương thực tới nước uống, thậm chí không có tiếp viện. Nếu chiếm được
thành trì cũng vậy, do đó có thể giải thích được tại sao đi đến đâu quân Nguyên
cũng cướp phá tài sản người dân đến đó.
Chiến dịch triệt phá toàn
bộ quân Nguyên trên dải đất Trung nguyên là chiến dịch cuối cùng nên toàn quân
Minh đều phấn khởi, tranh nhau đi đầu lập công. Lúc ởThái Nguyên vẫn còn đại
binh của một tướng Nguyên là Vương Bảo Bảo trấn giữ. Vương Bảo Bảo là thân
thích của hoàng gia, lại có nhiều chiến công nên rất tự kiêu, thấy quân Minh đã
rút số lớn khỏi Bắc Bình thì liền lén tấn công Nhạn Môn quan.
Nghe tin này, thay vì mau
chóng mang quân tiếp viện, Từ Đạt lại có suy nghĩ khác, nói với các tướng:
– Nhạn Môn quan là cửa ải
trọng yếu, xây dựng vững chắc, lại có quân của ta liều chết chống giữ thì Vương
Bảo Bảo không dễ gì chiếm nổi trong một thời gian ngắn. Nay hắn đã bỏ trống
Thái Nguyên, chúng ta nên tập kích thẳng vào hậu phương của chúng. Đó là kế
sách “vây Ngụy cứu Triệu” mà các danh tướng ngày xưa hay dùng. Nay chúng ta
không những chiếm Thái Nguyên cứu Nhạn Môn quan mà còn dồn Vương Bảo Bảo vào
con đường tiến không xong, lui không được.
Các tướng đều khen ngợi kế
sách này thần diệu, quyết tâm đánh chiếm Thái Nguyên trong thời gian mau nhất.
Nghe tin Thái Nguyên bị đánh dữ dội, Vương Bảo Bảo rất kinh sợ, vội vàng kéo
quân trở về cứu nguy. Thế nhưng Từ Đạt đã cho quân mai phục sẵn, đánh tan đại
quân của hắn vào lúc đêm khuya. Vương Bảo Bảo bị đánh bất ngờ đến nỗi không kịp
trở tay, đành cùng mấy chục tùy tùng thân tín chạy trối chết về Đại Đồng. Còn lại
hơn 4 vạn quân tướng nhà Nguyên đều xin đầu hàng. Chiến thắng này hết sức vang
dội nên Vương Bảo Bảo ở Đại Đồng nghe tin càng thêm kinh sợ, lập tức bỏ chạy về
Cam Túc.
Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân
thừa thế xua quân vượt Hoàng Hà đánh chiếm các thành trì vùng Thiểm Tây. Cũng
như bao lần chiến chinh trước, dù lần này Từ Đạt gặp một số khó khăn do sự phản
bội của tên Trương Lương Thần nhưng cuối cùng vẫn đại thắng. Chiếm được toàn bộ
Thiểm Tây tức là hầu như toàn bộ đất Trung nguyên đã về tay nhà Minh. Vì vậy
Chu Nguyên Chương hết sức mừng rỡ, cho Từ Đạt rút quân về nghỉ ngơi và ban thưởng
rất nhiều vàng bạc, gấm lụa.
Được một thời gian yên
tĩnh, Từ Đạt lại phải lên đường xuất chinh khi tướng Nguyên Vương Bảo Bảo thu
vét tàn quân tiến đánh Lan Châu. Trước khi xuất quân, Chu Nguyên Chương hội quần
thần lại vạch rõ nguyên nhân tại sao quân Nguyên vẫn chưa tận diệt. Đó là vì
Hoàng đế triều Nguyên vẫn còn ở vùng đất phía sau Cư Dung quan. Tiếp thu ý kiến
này, Từ Đạt tự thân đem quân chống với Vương Bảo Bảo ở Lan châu, đồng thời sai
Phó tướng Lý Văn Trung dẫn quân vượt Cư Dung quan đánh thẳng vào nơi triều
Nguyên đang trú ẩn. Đây là chiến thuật rất hay bởi triều Nguyên không thể trở
tay kịp mà nếu có thì cũng không thể tiếp viện cho Vương Bảo Bảo nổi.
Thế nhưng Vương Bảo Bảo
không hổ là danh tướng trụ cột của triều Nguyên, chống cự với quân của Từ Đạt rất
dữ dội. Đôi bên không phân được thắng bại, cứ đối mặt nhau ở Thẩm Nhi cốc. Có
lúc quân Minh thắng trận nhưng cũng có lúc Vương Bảo Bảo thừa thế đánh úp, thắng
được một trận. Nhân cơ hội này, Từ Đạt xuống lệnh chém đầu mấy bộ tướng đã lơ
là sơ hở để cho quân Nguyên có thể đánh úp rồi lại nhân đó ban lệnh quyết chiến,
bất cứ ai không theo quân lệnh tự ý rút lui đều bị xử chém.
Do vậy ngày hôm sau, quân
Minh mở cuộc tiến công tổng lực, khí thế ngất trời, quân tướng đều hăng hái
xung phong lên phía trước. Quân Nguyên không sao chống lại nổi, bỏ chạy tán loạn
để mặc cho các đại quan triều Nguyên bị bắt sống. Quân Nguyên đầu hàng và bị bắt
sống tổng cộng lên tới mấy vạn. Kết quả cuộc chiến này làm cho Vương Bảo Bảo suốt
đời không còn phát triển được quân mã nữa, mối nguy hiểm đã bị triệt tiêu.
Riêng cánh quân do Phó tướng
Lý Văn Trung may mắn hơn, vừa tới Ứng Xương thì đúng lúc triều đình nhà Nguyên
xảy ra đại loạn. Nguyên Thuận đế băng hà, Thái tử lên nối ngôi vốn là người
nhát sợ, nghe tin quân Minh đang tiến tới liền dẫn theo các phi tần, con cháu
vương thất chạy sang Hòa Lâm. Vì số người quá đông, di chuyển chậm chạp nên Lý
Văn Trung dễ dàng truy kích kịp, bắt sống toàn bộ lên đến mấy trăm người. Cùng
với chiến thắng của Từ Đạt, không bao giờ triều Nguyên còn phục hồi được nữa.
Khi đoàn quân chiến thắng
trở về, đích thân Chu Nguyên đến Lũng Giang đón chào, phong cho Từ Đạt tước Ngụy
Quốc công, đặc ân cho phép không phải vào chầu thường xuyên như các quan lại
khác. Đó là sự tín nhiệm tuyệt đối của vị Hoàng đế nổi tiếng hay nghi ngờ này.
Tuy nhiên để đề phòng
quân Nguyên có thể vẫn còn quấy nhiễu, Chu Nguyên Chương cho Từ Đạt làm Trấn thủ
Bắc Bình, ông liền ra sức chấn chỉnh quân mã, sửa sang thành lũy và rất chú trọng
đến nông nghiệp. Đó cũng là đức tính căn bản của người nông dân, luôn luôn lấy
đồng ruộng làm lẽ sống của quốc gia.
Chu Nguyên Chương lo xa rất
đúng, đến năm Hồng Võ thứ 5, tức năm 1373, một lần nữa tàn quân triều Nguyên do
Vương Bảo Bảo chỉ huy lại kéo sang quấy phá vùng biên cương phía bắc. Bọn chúng
rút kinh nghiệm chia quân trải rộng ra khiến việc tiêu diệt phải rất vất vả. Từ
Đạt thấy vậy cũng chia quân ra làm nhiều cánh nhưng chính vì vậy mà bị Vương Bảo
Bảo kết hợp cùng với một tướng Nguyên khác là Gia Tông Triết tập hợp đại quân
đánh bại. Vì Từ Đạt ít quân hơn nên tuy thua trận mà không bị Chu Nguyên Chương
trách phạt.
Trận thua này một phần là
do Chu Nguyên Chương và Từ Đạt quá khinh địch, mặc dù nhiều lần mưu sĩ Lưu Bá
Ôn, thường gọi là Lưu Cơ đã khuyến cáo đừng xem thường hắn. Lưu Bá Ôn có thể
nói là một “kỳ nhân” tài năng sánh ngang với Gia Cát Lượng thời Tam quốc, rất
thông thạo Âm Dương Bát quái, kiêm cả Phong thủy chiêm bốc, đoán việc như thần.
Thậm chí người ta còn thêu dệt Lưu Bá Ôn còn có thể “hô phong hoán vũ” như thần
tiên, ông được Chu Nguyên Chương đích thân đến cầu hiền và sau đó kính trọng
như bậc thầy. Chính Lưu Bá Ôn đã giúp kế sách cho Họ Chu đại thắng Trần Hữu Lượng,
một đối thủ khó chịu nhất lúc còn ở Ứng Thiên phủ. Thế nhưng đến khi Chu Nguyên
Chương đã lên ngôi Hoàng đế thì không còn chú ý đến hiền tài này nữa. Do vậy mới
xảy ra việc xem thường Vương Bảo Bảo, dẫn đến thất bại.
Đúng với lời khen tặng của
Lưu Bá Ôn, Vương Bảo Bảo hết sức trung thành với triều Nguyên, không chỉ một lần
đó thôi mà sau này không ít lần chiêu mộ thêm quân tướng, kéo đi quấy phá các
châu huyện biên giới. Mãi đến khi Vương Bảo Bảo chết vào năm 1375, mối đe dọa ấy
mới thực sự hoàn toàn chấm dứt và triều Minh được yên tĩnh để lo về nội trị.
Đó là việc sau này, lúc Từ
Đạt chưa tiêu diệt xong tàn quân nhà Nguyên ở Cư Dung quan thì Chu Nguyên
Chương đã chính thức kiến lập nhà Minh vào năm 1369. Chu Nguyên Chương đích
thân cùng với quần thần luận bàn công trạng của từng người, xong xuôi liền cho
lập “Công thần miếu”, ghi rõ công lao xếp theo thứ tự ít hay nhiều và Từ Đạt được
nêu đầu bảng với danh xưng “Đệ nhất khai quốc công thần”. Đây là sự ban phong xứng
đáng bởi Từ Đạt không những đã phò giúp cho Minh Thái tổ ngay từ khi mới khởi
nghĩa mà chắc chắn công lao không ai sánh bằng nổi, kể cả danh tướng Thường Ngộ
Xuân. Nếu tính ra ông đã trải qua hàng ngàn trận đánh lớn nhỏ, không thua kém
gì các danh tướng thời trước như Bạch Khởi, Vương Tiễn, Hàn Tín, v.v... Thường
Ngộ Xuân (khi ấy đã chết vì bệnh) chỉ được Chu Nguyên Chương liệt vào hạng công
thần thứ nhì bởi hầu hết các chiến thắng của Thường Ngộ Xuân đều dựa vào sự liều
lĩnh, can đảm đến điên cuồng mà thành công, không thận trọng tính toán được như
Từ Đạt.
Về mặt nhân văn, Thường
Ngộ Xuân cũng rất hay lạm sát, giết địch quân và hàng binh không gớm tay trong
khi Từ Đạt lấy nhân nghĩa làm chủ đạo, vì vậy ông không những được tướng sĩ, đồng
liêu yêu mến mà cả đến người dân khắp nước cũng rất kính trọng. Mỗi khi quân đội
của ông đi tới đâu, người dân vô cùng yên tâm, không hề bị cướp phá hay tổn thất
thứ gì.
Ngoài Từ Đạt và Thường Ngộ
Xuân có công lao lớn nhất, các danh tướng đã theo ông từ thuở mới khởi nghĩa, gồm
đến 28 người đều được phong Hầu và rất nhiều đất đai thực ấp. Những người này
hình thành một tập đoàn thế lực được sử gọi là “Tập đoàn Hoài Tây”. Có lẽ chính
Chu Nguyên Chương cũng muốn như thế để dựa vào đó mà không còn lo lắng bị đại
thần phản trắc chiếm ngai vàng nữa. Thế nhưng cuộc đời không bao giờ tiên đoán
được hết, Chu Nguyên Chương lo sợ người ngoài cướp ngôi Hoàng đế, không hề đề
phòng con cháu và chính con trai của ông là Chu Lệ sau này lại là người cướp đoạt
ngai vàng, xưng hiệu Minh Thành tổ.
Với công lao ấy, Từ Đạt
được giữ chức Tả Thừa tướng, tước Quốc công và đi trấn nhậm một vùng đất trọng
yếu Bắc Bình, tức Đại Đô ngày trước. Có thể nói, khi thành công rồi, Từ Đạt coi
như đã là một ông vua nhỏ, toàn quyền sinh sát không phải tâu bày với Chu
Nguyên Chương. Với quyền hạn rộng lớn ấy, Từ Đạt vẫn không hề kiêu ngạo hay ăn
uống xa hoa phí phạm. Ông vốn xuất thân từ nông dân, đến khi lên tới địa vị “dưới
một người mà trên vạn người” vẫn giữ cuộc sống giản dị liêm khiết như thuở nào.
Tính thành thât khiêm tốn
của Từ Đat khiến người người đều muốn học hỏi nên ngay từ lúc còn làm Thừa tướng
không ít người muốn kết giao để nhờ cậy, đến khi về hưu rồi vẫn rất nhiều người
xin đến được nghe lời chỉ dạy kể cả những vị Thừa tướng đương thời như Hồ Duy
Dung, quyền hành bao trùm cả triều đình. Riêng Chu Nguyên Chương luôn luôn đặt
tin tưởng ởnơi ông, do vậy giả thuyết Chu Nguyên Chương bắt ông về kinh đô rồi
ban thuốc độc giết chết hoàn toàn mâu thuẫn.
Người ta hay đổ tội cho
Chu Nguyên Chương lạm sát, đến cả công thần đệ nhất là Từ Đạt cũng không buông
tha nhưng thực tế cho thấy Chu Nguyên Chương quả giết người nhiều thật mà không
bao giờ đề cập gì đến Từ Đạt.
Theo chính sử thì Từ Đạt
chết ở Ứng Thiên phủ vào năm 1385 vì bệnh nặng. Thế nhưng lúc ấy ông mới được
54 tuổi, chắc chắn sức khỏe còn dồi dào, nên cái chết của ông trở thành nghi
án. Khi Từ Đạt chết rồi, chính tay Chu Nguyên Chương viết văn bia cho Từ Đạt,
truy phong làm Trung Sơn vương và ban cho con cháu 3 đời đều được kế thừa vương
tước ấy. Những ân nghĩa này vẫn không đánh tan được nghi ngờ về cái chết của vị
danh tướng công thần triều Minh. Người ta cho rằng Chu Nguyên Chương hiếu sát
công thần đến mức thành cố tật, vì vậy khi đã giết hết các công thần thì chỉ
còn mỗi mình Từ Đạt, cũng sẵn sàng xuống tay luôn nhưng khéo léo hơn.
Theo giả thuyết này thì
khi Từ Đạt bị bệnh nặng ở Bắc Bình, Chu Nguyên Chương liền sai người đến đưa
ông về Ứng Thiên phủ, gọi là tiện việc chăm sóc và có lương y giỏi chữa trị. Thế
nhưng một lần kia Từ Đạt uống bát thuốc do danh y của Chu Nguyên Chương phái đến
thì chỉ một lúc sau là chết. Một thuyết khác thì nói là Từ Đạt bị nhọt độc sau
lưng, khi về đến Ứng Thiên phủ, Chu Nguyên Chương sai người đem đến cho ông một
bát canh thịt ngỗng. Theo sách thuốc ngày trước, nếu người bị nhọt độc mà ăn
canh thịt ngỗng sẽ bị bộc phát mà chết. Từ Đạt cũng biết điều này, rơi nước mắt
mà ăn hết bát canh, sau quả nhiên qua đời.
Giả thuyết này có một điểm
yếu là: Lúc đó Từ Đạt bệnh nặng sắp chết, Chu Nguyên Chương còn hạ độc thủ làm
gì cho mang tiếng?
Nếu sắp xếp một cách khoa
học, có lý luận thì Chu Nguyên Chương có thể giết bất cứ ai trừ Từ Đạt bởi những
lý do sau:
– Từ Đạt là bạn chí thân
của Chu Nguyên Chương, đã kề vai sát cánh trên các chiến địa. Họ đã quá hiểu
nhau, không thể vì chút nghi ngờ nào đó mà xuống tay sát hại được.
– Từ Đạt làm quan được mọi
người tôn trọng, chưa bao giờ xảy ra đố kỵ hay ghen ghét, vì vậy không có việc
bị đại thần gièm pha vu cáo với Chu Nguyên Chương.
– Ông lại là hoàng thích,
địa vị cao trọng sánh ngang với Hoàng đế thì còn tham vọng như thế nào nữa mà tới
nỗi phải bị Chu Nguyên Chương trừ diệt? Từ Đạt có ba người con gái đều được gả
cho con của Chu Nguyên Chương: người lớn nhất lấy Yên vương Chu Lệ và sau này
được phong làm Hoàng hậu; một người là Phi tử của Đại vương Chu Quế; người cuối,
cùng cũng là Phi tử của An vương Chu Doanh. Với thân phận như vậy, chắc chắn Từ
Đạt không bao giờ có tâm ý muốn phản lại triều đình, chẳng lẽ Chu Nguyên Chương
giết “cho vui”?
Con trai của Từ Đạt là Từ
Huy Tổ kế thừa chức tước của cha, quyền cao chức trọng, nắm đại quyền trong
tay. Nếu như Từ Huy Tổ khám phá ra việc phụ thân bị đầu độc thì sẽ nghĩ sao? Một
người hiếu sát như Chu Nguyên Chương, sẵn sàng “giết lầm chứ không tha lầm” thì
tại sao chỉ giết mỗi mình Từ Đạt? Không giết luôn Từ Huy Tổ để trừ tuyệt hậu họa?
Với những câu hỏi này, giả
thuyết Chu Nguyên Chương hạ độc Từ Đạt hoàn toàn sai lầm. Như vậy Từ Đạt còn
cao trọng hơn tất cả các Tướng soái trong lịch sử, lập không biết bao nhiêu
công trạng tuyệt vời trong chiến trận mà sau cùng cũng được hưởng ơn mưa móc của
Hoàng đế và chết trong sự mãn nguyện. Ông không thọ bằng những danh tướng khác
là do nguyên nhân dầm sương dãi nắng suốt 35 năm, chắc chắn sức khỏe phải tổn
thất nặng nề, khó có thể trường thọ như người ăn sung mặc sướng, đó là lẽ tất
nhiên vậy.
Huyền Cơ
Theo https://vietnamthuquan.eu/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét