Thứ Năm, 7 tháng 1, 2016

Đặng Thái Sơn - Người được Chopin chọn

 Đặng Thái Sơn - Người được Chopin chọn
 “Một thiên tài âm nhạc” - đó là nhận xét về NSND Đặng Thái Sơn của Isaac Stern (1920 - 2001), nghệ sĩ vĩ cầm bậc thầy của Mỹ. Năm 1980, Đặng Thái Sơn là người châu Á đầu tiên được trao HCV tại cuộc thi dương cầm lần thứ 10 tại Warsaw (Ba Lan).
Tác giả sách: Ikuma Yoshiko - Dịch giả: Tri Thức Việt
Năm 1982, anh là nghệ sĩ trẻ tuổi nhất nhận danh hiệu NSND do Nhà nước trao tặng. Đặng Thái Sơn bắt đầu học piano với mẹ mình, nghệ sĩ Thái Thị Liên tại Hà Nội và sự hướng dẫn của nghệ sĩ dương cầm người Nga Isaac Katz, sau đó học nâng cao tại Moscow State Tchaikovsky Conservatory (Nga) với nghệ sĩ Vladimir Natanson và Dmitry Bashkirov. Sau chiến thắng giải Chopin Competition năm 1980, anh biểu diễn trên 40 quốc gia với những dàn nhạc nổi tiếng thế giới, thường xuyên được mời thuyết trình tại các lớp nhạc ở nhiều quốc gia, là khách mời danh dự và là thành viên ban giám khảo ở nhiều cuộc thi piano quốc tế.
Đã có nhiều bài báo hay bài nghiên cứu về ông nhưng đây là lần đầu tiên có một cuốn sách tái hiện toàn bộ cuộc đời Đặng Thái Sơn, lại của một tác giả nước ngoài. Bà là nhà báo, nhà phê bình âm nhạc người Nhật Ikuma Yoshiko - một cái tên quen biết trong giới âm nhạc cổ điển Nhật Bản và quốc tế. Tốt nghiệp Trường âm nhạc Tokyo, Ikuma Yoshiko đã có thời gian làm việc tại một hãng ghi âm và là chủ biên cho một tạp chí chuyên về piano có tên Chopin. Hiện bà là nhà báo tự do.
Đặng Thái Sơn - Người được Chopin chọn ra đời nhận được nhiều lời khen ngợi của các tạp chí chuyên về âm nhạc cổ điển vì đã thể hiện một cách chân thực đến cảm động chân dung Đặng Thái Sơn, từ lúc còn là một cậu bé đầy mặc cảm, yếu đuối, tới khi chiến thắng chính bản thân mình để giành Giải Nhất thuyết phục tại cuộc thi âm nhạc danh giá bậc nhất thế giới: Cuộc thi piano quốc tế Chopin năm 1980, và sau đó trở thành một nghệ sĩ biểu diễn danh tiếng. Trong lời cuốn sách, Ikuma Yoshiko có thổ lộ rằng, bà muốn “giải mã” Đặng Thái Sơn, tìm hiểu sức mạnh nào đã khiến chàng trai bé nhỏ, đến từ một xứ sở không được ghi danh trên bản đồ âm nhạc cổ điển quốc tế, lại có thể chinh phục được một ban giám khảo cực kỳ khó tính ở cuộc thi Chopin, chinh phục khán giả ở quê hương Chopin và sau đó là chinh phục cả thế giới âm nhạc cổ điển.
Người đọc có thể gặp trong cuốn sách này những câu chuyện giản dị về Đặng Thái Sơn khi còn nhỏ giữa thời điểm đất nước đang có chiến tranh và cuộc sống khó khăn trăm bề; những chuyện cảm động về những ngày vừa mưu sinh vừa học đàn trong mùa đông nước Nga băng giá, về sự mặc cảm khi đến một cuộc thi tập hợp toàn những tài năng trẻ hàng đầu của âm nhạc thế giới. Và tất nhiên, sẽ cùng tác giả hân hoan chứng kiến Đặng Thái Sơn lần lượt vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mặc cảm nằm sâu trong con người mình, để được vinh danh, trở thành một ngôi sao trong làng nhạc cổ điển.
Bên cạnh đó là rất nhiều chuyện “hậu trường” của thế giới âm nhạc cổ điển, những gì ẩn khuất sau các cuộc thi lớn, những bất đồng giữa các bậc thầy về cái nhìn dành cho những lứa hậu sinh... Bằng sự uyên thâm của một nhà phê bình âm nhạc, Ikuma Yoshiko còn cho người đọc đại chúng rất nhiều kiến thức về âm nhạc cổ điển, khiến có thể hình dung ra cả một không gian rộng lớn bao quanh nhân vật chính Đặng Thái Sơn.
Chương 1: “Anh là nhất đấy!”
Một người chạy tới nói với Đặng Thái Sơn: "Anh đang làm gì trong đó? Anh ra hội trường ngay! Mọi người đang chờ anh! Mở cửa mau lên!"Người ta đập cánh cửa phòng khách sạn ầm ĩ. Gõ cửa hết lần này đến lần khác. Lần sau mạnh hơn lần trước.
"Anh Sơn, tôi xin anh, làm ơn mở cửa đi, anh đoạt giải nhất và được công nhận là người xuất sắc nhất cuộc thi. Lễ trao giải sắp bắt đầu rồi, anh phải mau chóng đến hội trường ngay! Anh Sơn, nếu không có anh, lễ trao giải không thể bắt đầu được!"
Đặng Thái Sơn đang ở trong phòng, anh bịt hai tai, cuộn người lại, chui vào chăn, trùm kín mít cả đầu, và nằm run cầm cập. Anh ấn đầu vào trong gối để khỏi nghe cái tiếng gõ cửa.
"Mình mà đoạt giải nhất ư, không thể như thế được. Mình không thể đến nơi đó được. Chỉ cần được chơi trong vòng thi cuối cùng là mình đã mãn nguyện lắm rồi... Mình nên làm gì bây giờ?"
Cuộc thi piano quốc tế Chopin được tổ chức 5 năm 1 lần, là một cuộc thi có lịch sử đáng tự hào. Cuộc thi này là niềm mơ ước của các nghệ sĩ dương cầm trẻ trên khắp thế giới. Với Đặng Thái Sơn cũng vậy, từ ngày anh còn nhỏ, những gì liên quan tới cuộc thi này vẫn luôn xuất hiện trong những câu chuyện xung quanh anh, trong cả giấc mơ.
Mùa thu năm 1980, cuối cùng Đặng Thái Sơn cũng có thể xuất hiện tại "đấu trường" trong mơ ấy, và lọt vào tới tận vòng chung kết. Trong buổi thi ở Vácxava( ), quê hương của Chopin, anh đã được biểu diễn cùng một dàn nhạc lớn trước đông đảo khán thính giả quốc tế.
Chỉ như thế thôi, đối với anh là đã quá đủ rồi!
Cuộc thi piano quốc tế Chopin lần thứ 10 được tổ chức từ ngày 2 đến ngày 19 tháng 10 năm 1980, cuộc thi lần này có số lượng thí sinh đông nhất từ trước tới giờ. 3000 thí sinh từ khắp nơi trên thế giới đã nộp đơn đăng ký về ban tổ chức, sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, ban tổ chức chọn ra 180 thí sinh. Trong số đó, khoảng 31 người từ bỏ, không thi. Như vậy cuộc thi bắt đầu với 149 thí sinh còn lại. Và 12 người sẽ bước vào vòng 2.
Ngay từ vòng loại, Đặng Thái Sơn đã rất căng thẳng, nhưng khi bước vào vòng 2, anh tự tin được một chút. Ở vòng 3, anh đã quen với sân khấu, tập trung biểu diễn sao cho có thể phát huy tốt nhất những gì mình có, và cuối cùng là có thể tiến vào vòng chung kết một cách an toàn. Đây là khoảnh khắc tuyệt vời nhất trong đời anh.
Sau này Đặng Thái Sơn đã kể: "Đây là lần đầu tiên tôi được trình tấu cùng dàn nhạc, tôi rất hạnh phúc. Dù đến đây là kết thúc đi chăng nữa, tôi vẫn cho rằng mình là người chiến thắng!"
Sau khi thi xong, anh lập tức quay về khách sạn. Không ngồi lại nghe các thí sinh khác biểu diễn, cũng không muốn nghe hay nói bất cứ điều gì về cuộc thi nữa.
Anh muốn được yên tĩnh một mình. Sau 3 tuần lễ căng thẳng, giờ đây, anh không thể suy nghĩ gì hơn, chỉ muốn được thư giãn.
Nửa đêm, đột nhiên, chuông điện thoại reo lên. Giọng hổn hển của một người trong ban tổ chức cuộc thi thông báo: "Anh Sơn, người ta công bố kết quả rồi đấy. Chúc mừng, anh được giải nhất!"
Anh cảm thấy bị sốc, tim đập thình thịch. Thật vậy ư, mình thắng rồi sao?
Trước đó, một số nghệ sĩ đoạt giải cao nhất trong cuộc thi piano Chopin đã có thể khắc tên tuổi mình để đời cùng với cuộc thi, như Maurizio Pollini, Martha Argerich, Krystian Zimerman.
Đặng Thái Sơn không ngừng run, sau khi gác máy, cơ thể anh không cử động được nữa. Hai tiếng "hạng nhất" cứ lởn vởn trong đầu anh.
Trời sáng, có người gõ cửa ầm ĩ. Đó là những người trong ban tổ chức cuộc thi đến đón anh đi.
Cuối cùng, anh phải rời khỏi giường để ra mở cửa. Vừa ra, anh bị họ chộp lấy và bị đẩy lên xe đưa đến nhà hát.
Nhà hát Quốc gia, "đại bản doanh" của Dàn nhạc Giao hưởng Vácxava, đặt tại thủ đô Vácxava được xây dựng vào năm 1901; đến năm 1939, bị quân đội Đức ném bom. Sau chiến tranh, nó được xây cất lại và có kiểu dáng như ngày nay. Có tất cả 1072 chỗ ngồi. Phía sau khán đài có gắn bức chân dung rất lớn của Chopin. Ngoài tiền sảnh có trưng bày nhiều vật phẩm, sách nhạc, băng đĩa, bút tích của Chopin, thu hút nhiều người từ các nơi trên thế giới đến tham quan và tìm mua những thứ này. Trong đó, thứ được ưa chuộng nhất là các băng đĩa thu trực tiếp từ các cuộc thi trước đó. Đài truyền hình Ba Lan đã thu âm các buổi biểu diễn của các thí sinh và chọn lọc những tiết mục hay nên rất nhiều người mua làm kỉ niệm.
Tại Cuộc thi piano quốc tế Chopin, các tác phẩm của nhà soạn nhạc Chopin trở thành các "bài thi". Chiến thắng sẽ thuộc về những nghệ sĩ biểu diễn xuất sắc các tác phẩm của Chopin từ vòng loại cho đến vòng chung kết. Với ý nghĩa đó, so với các cuộc thi nổi tiếng khác thế giới như Cuộc thi âm nhạc quốc tế Tchaikovsky (Nga), Cuộc thi âm nhạc quốc tế Nữ hoàng Elizabeth (Bỉ), Cuộc thi piano quốc tế Leeds (Anh), cuộc thi âm nhạc quốc tế Geneva (Thụy Sĩ), Cuộc thi piano quốc tế Van Cliburn (Mỹ), Cuộc thi piano quốc tế Rubinstein (Israel), thì cuộc thi Chopin có nhiều nét đặc sắc nổi bật.
Nét đặc trưng của cuộc thi piano Chopin là chọn ra những người biểu diễn các tác phẩm của Chopin một cách tài tình nhất. Qua cuộc thi, âm nhạc của Chopin được thể hiện theo nhiều phong cách, quan điểm, cá tính khác nhau, và đó cũng là điều mà cuộc thi này tìm kiếm: Sự phong phú về cách thức trình diễn các tác phẩm âm nhạc kinh điển.
Thành viên ban giám khảo thường là các chuyên gia hàng đầu về Chopin, đến từ nhiều nơi trên thế giới. Bằng kinh nghiệm dày dạn của mình, họ vừa đánh giá được tài năng của thí sinh trong cuộc thi, vừa có thể dự đoán được sự nghiệp tương lai của những nghệ sĩ giành chiến thắng.
Cuộc thi piano Chopin gồm bốn vòng thi. Tại vòng một, thí sinh sẽ được đánh giá năng lực thông qua việc thể hiện các khúc nocturne, etude, scherzo.
Ở vòng hai, thí sinh sẽ thể hiện các bản ballad, các khúc overture, các bản valse và polonaise. Phần thi này nhằm khẳng định cá tính riêng của từng thí sinh.
Vòng ba thì đòi hỏi tài năng thiên phú cao, thông qua việc trình diễn các bản sonata và mazurka.
Đến vòng chung kết, thí sinh sẽ biểu diễn một bản concerto cùng với dàn nhạc. Vòng này nhằm thẩm định trên mọi phương diện tài năng của thí sinh.
Nhà hát Quốc gia Vácxava chính là nơi diễn ra vòng thi quan trọng nhất này. Và thí sinh sẽ được biểu diễn với Dàn nhạc Giao hưởng Vácxava danh tiếng. Hầu hết các thành viên trong dàn nhạc này đều là người Ba Lan. Họ hỗ trợ nhiệt tình cho những thí sinh không quen việc cùng trình diễn với dàn nhạc và tạo bầu không khí thân thiện, cốt sao cho thí sinh có thể phát huy tối đa thực lực của mình ở vòng cuối cùng.
Ở cuộc thi này, biểu diễn các tác phẩm của Chopin cũng đồng thời là lúc người nghệ sĩ piano thể hiện các trạng thái tình cảm và thậm chí cả tính cách của mình. Các thí sinh thường được yêu cầu thể hiện theo một phương diện nào đó trong các tác phẩm của Chopin, chẳng hạn như thể hiện một nỗi đau, hay một niềm hy vọng, hướng tới tương lai... Tức là phải thể hiện được những tình cảm mang tính nhân văn mà Chopin đã gửi gắm vào trong các tác phẩm của mình.
Những thí sinh vào tới vòng thi thứ ba, tức là sẽ nằm trong các thứ hạng từ 1 đến 6, đều được nhận bằng danh dự. Ngoài ra còn có các giải thưởng cho những thí sinh thể hiện xuất sắc các thể loại: polonaise, mazurka, concerto... và nhiều giải phụ khác.
Cuộc thi piano Chopin là một sự kiện thu hút được sự quan tâm của thế giới, và được xem là con đường tiến thân của những nghệ sĩ dương cầm trẻ. Người đã sáng lập ra cuộc thi này, chính là Jerzy Zurawlew, nghệ sĩ piano người Ba Lan, sinh năm 1887 tại Rostov (Nga). Zurawlew đã dốc sức để xây dựng và phát triển cuộc thi này ngày càng có uy tín. Thật buồn là vào ngày 4 tháng 10 năm 1980, cũng là ngày thứ ba của cuộc thi piano Chopin lần thứ 10, ông đã từ trần. Đây cũng chính là năm mà Đặng Thái Sơn có mặt ở cuộc thi này.
Jerzy Zurawlew nảy ra sáng kiến tổ chức cuộc thi piano Chopin vì ông muốn xoa dịu nỗi sợ hãi, những bấn loạn trong lòng người dân khi họ đã phải hứng chịu những tang thương do cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất gây ra. Lúc đó, ở Ba Lan đang dấy lên lời kêu gọi ủng hộ chủ nghĩa dân tộc, mà dòng nhạc của Chopin thì đầy tính dân tộc, do đó Zurawlew cho rằng nhạc của Chopin không chỉ phổ biến ở trong nước mà còn phải được lan truyền rộng rãi ra thế giới, đó là niềm tự hào của Ba Lan trước nền âm nhạc thế giới. Và cuộc thi piano quốc tế mang tên Chopin ra đời với quy định chỉ sử dụng các tác phẩm của Chopin.
Cuộc thi piano Chopin được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1927, cho đến trước thời điểm Zurawlew mất, cuộc thi đã tổ chức được 9 lần. Ông vô cùng vui mừng khi thấy những người sau khi thắng giải ở cuộc thi này đã trưởng thành hơn, tự tin thể hiện mình trên sân khấu âm nhạc khắp thế giới.
Ngay lúc này đây, Đặng Thái Sơn đang đứng trên sân khấu. Anh đang được trao tấm bằng khen, giải thưởng bằng hiện kim và bó hoa tươi thắm từ vị trưởng ban giám khảo. Các ống kính chĩa về phía anh, ánh đèn flash không ngừng lóe sáng để ghi lại khoảnh khắc xuất hiện của một ngôi sao, một tài năng mới. Từ phía khán đài, khán giả không ngừng vỗ tay, những thí sinh đoạt giải thưởng khác cũng cổ vũ anh, cả hội trường vang vọng những lời tán tụng không dứt.
Trong đầu của Sơn lúc này hoàn toàn trống rỗng, anh có cảm giác như mình không còn đứng vững được nữa. Các micro cứ chĩa về phía anh để phỏng vấn, nhưng anh không nhớ là mình đã trả lời những gì.
Hôm sau, người của ban tổ chức đã đến khách sạn đón anh.
"Anh Sơn này, hôm nay, ở Hội Chopin có buổi lễ trao các giải thưởng phụ. Mấy tấm bằng khen và số tiền thưởng mà anh đã nhận hôm qua ấy, anh để nó ở đâu? Tạm thời anh nên cất giữ nó ở chỗ chúng tôi nhé!"
" Cái gì, bằng khen và tiền thưởng hả? Tôi vẫn để ở ngoài đó...."
Mấy vị nghe xong, mặt tái xanh tái xám, họ chụp lấy tay Sơn, vội vã chạy đến nhà hát. Cả khán phòng tối om, ngay chính giữa sân khấu, các phần thưởng của Sơn đang nằm trơ trọi. Một người nói: "Anh Sơn, chúng tôi sẽ cất giữ số tiền này ở hiệp hội Chopin cho đến năm sau nhé! Vì sang năm sẽ tổ chức một buổi hòa nhạc dành cho anh nên tốt hơn hết lúc đó chúng tôi mới đưa lại cho anh!"
Tiền thưởng mà Sơn nhận được từ cuộc thi là đồng zloty của Ba Lan. Nếu đổi ra đồng đô-la Mỹ thì rất ít và đồng zloty cũng không thể mang ra nước ngoài sử dụng. Do vậy, Sơn quyết định sẽ dùng nó để mua trang phục và máy hát, số còn lại, anh gửi nó vào Hội Chopin.
Tại buổi trao giải phụ của cuộc thi, Đặng Thái Sơn nhận được giải thưởng của đài truyền hình NHK Nhật Bản, và nhận được 11 giải thưởng từ những nước như Pháp, Anh, Tiệp Khắc. Tất cả những giải đó, anh được trao tặng bằng cả hiện vật lẫn hiện kim. Tổng số tiền mà anh có được từ giải phụ còn cao hơn số tiền của giải chính thức, tổng cộng là 2000 USD, đây là lần đầu tiên Sơn thấy tờ tiền đô-la. Ở Việt Nam lúc bấy giờ, chỉ cần có 10 USD là có thể nuôi sống cả gia đình trong vòng một tháng. Vậy sau cuộc thi này, Sơn sẽ trở thành "triệu phú" ở Việt Nam.
Tin tức này lập tức được KGB (Ủy ban an ninh quốc gia Liên Xô) biết. Giáo sư Vladimir Natanson, người thầy hướng dẫn của Đặng Thái Sơn ở nhạc viện Matxcơva, đã bị KGB "hỏi thăm".
"Học trò của ông đã để tiền lại Vácxava. Liệu anh ta có tính trốn lại đấy luôn không?"
Natanson run lên, ông muốn thanh minh rằng Sơn không hề có ý định như thế đâu, nhưng rốt cuộc, ông chẳng nói gì. Ông muốn được nghe lời nói chân thật thốt ra từ miệng của học trò mình.
Với tư cách là người xuất sắc nhất của cuộc thi, Sơn đã tổ chức một buổi hòa nhạc cho riêng mình, đây là chương trình mà bất cứ người nào, sau khi thắng giải tại cuộc thi piano Chopin cũng làm thế. Tại đó, Sơn đã biểu diễn với một tinh thần thoải mái, hân hoan và vui sướng.
Khán giả ở Vácxava liên tục vỗ tay cho người châu Á đầu tiên đoạt giải nhất ở cuộc thi piano Chopin này, Sơn rất lấy làm cảm kích và anh hưng phấn thông báo sẽ diễn theo yêu cầu. Và yêu cầu chính là bản "Polka de V.R." của Rachmaninov, với tiết tấu sôi động, khán thính giả cảm thấy như bị cuốn hút, như muốn bước ra sàn nhảy để hòa cùng âm nhạc, và khi bản nhạc vừa kết thúc, mọi người đồng loạt đứng lên vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt.
"Thật tuyệt! Khán giả đã có được sự đồng điệu với tôi, đó là điều vui sướng nhất của người nghệ sĩ. Khác với cuộc thi, lần biểu diễn này, tôi đã có thể chơi đàn với một tinh thần vô cùng thoải mái!", Sơn chia sẻ.
Khi đến Vácxava, Sơn đi chuyến tàu đêm, khi về thì anh cứ nghĩ là mình có thể đi bằng máy bay. Nhưng mà hành lý lại quá nhiều, gồm các bức tranh quý, các vật lưu niệm, và những món đồ mà anh đã mua, do vậy, anh lại phải đi bằng chuyến tàu đêm. Cuối cùng, anh cũng về đến Matxcơva, người đón anh là giáo sư Natanson.
"Thầy ạ, con chưa từng nghĩ là mình sẽ trốn luôn ở Vácxava. Từ bây giờ trở đi, con sẽ tiếp tục việc học tại Nhạc viện Matxcơva này. Con vẫn còn phải học rất nhiều. Số tiền thưởng, con đã gửi lại ở đó để dành cho buổi hòa nhạc của con vào năm sau!"
Đêm đó, Natanson đã có thể ngủ ngon giấc.
Chương 2: Bản Etude đáng sợ
Đặng Thái Sơn muốn tham gia cuộc thi piano Chopin, và anh đã bắt đầu hành trình luyện tập vào năm thứ 2 khi đang du học ở Nhạc viện Matxcơva. Nhưng anh vẫn không nói gì với giáo sư Natanson về nguyện vọng tham dự cuộc thi này. Khi đó anh nghĩ rằng chắc chắn thầy sẽ phản đối, sẽ nói: "Không được, vẫn còn sớm lắm!"Đặng Thái Sơn đã tham khảo nội dung của các cuộc thi piano quốc tế như: Tchaikovsky (Liên Xô), Bach (Đông Đức), Enesco (Rumani), Budapest (Hungari), hay cuộc thi Smetana của Tiệp Khắc... và anh thấy rằng mình thích hợp nhất với cuộc thi piano Chopin, ngay từ thời còn bé, anh đã có cảm giác thân quen với những tác phẩm của Chopin rồi!
Năm 1980 có cuộc thi piano Chopin, năm 1982 có cuộc thi âm nhạc Tchaikovsky.
"Trước tiên mình sẽ tham dự cuộc thi Chopin để xem khả năng mình đến đâu, sau đó mình sẽ thử thách ở cuộc thi Tchaikovsky!", Sơn tự nhủ.
Những bài học mà anh đã học ở nhạc viện Matxcơva vào năm thứ hai bao gồm một tác phẩm của J.S.Bach, một tác phẩm của Nga và một tác phẩm cổ điển tùy chọn. Sơn âm thầm học thêm các tác phẩm khác như "Fantasia & Fugue" cung Đô trưởng K.394 của Mozart, Concerto piano số 3 cung Rê thứ của Rachmainov, bản Poissons d'or trích từ tuyển tập Images II của Debussy. Song song đó anh còn học thêm rất nhiều các tác phẩm của Chopin.
Cuộc thi Tchaikovsky lần thứ 6 được tổ chức vào năm 1978 đã chỉ ra cho Sơn thấy được những điều tối cần thiết của một nghệ sĩ dương cầm khi tham gia một cuộc thi lớn.
Anh đã dự thính các buổi biểu diễn của nhiều nghệ sĩ piano từng đoạt giải tại cuộc thi Tchaikovsky, tiêu biểu là Mikhail Pletnev (giải nhất, Liên Xô), Pascal Devoyons (giải 2, Pháp), Andre Laplante (giải 2, Canada), Nikolai Demidenko (giải 3, Liên Xô), Evgeny Ryvkin (giải 3, Liên Xô).
Cuộc thi Tchaikovsky được tổ chức lần đầu tiên vào ngày 16 tháng 5 năm 1958 và cứ 4 năm lại tổ chức một lần. Lúc đầu chỉ thi piano và violon, sau có bổ sung thêm cello. Cuộc thi diễn ra trong vòng 1 tháng, hiện nay thì nó thường diễn ra từ giữa tháng 6 đến đầu tháng 7. Thí sinh nào giành được giải thưởng cao nhất của cuộc thi Tchaikovsky thường sẽ trở nên nổi tiếng trên thế giới. Vì vậy mà các thí sinh từ khắp nơi trên thế giới đã ùn ùn đi đăng ký để có thể tham gia cuộc thi này. Có những nghệ sĩ trẻ chỉ qua một đêm thôi đã thay đổi cuộc đời, nói như thế, quả thật không quá chút nào. Thế nhưng sau đó, khi tham gia các cuộc thi khác, họ thi đấu với áp lực phải biểu diễn sao cho xứng tầm danh hiệu mà họ đã đạt được trước đó. Đặng Thái Sơn đã chứng kiến tất cả những điều này, và anh biết được bên cạnh sự hào quang là cả một trách nhiệm nặng nề mà cuộc thi đã đem lại cho người thí sinh.
Năm 1980, ở Nhạc viện Matxcơva, có tổ chức kỳ thi thử giành cho những ai có ý định tham gia cuộc thi piano Chopin. Ở Liên Xô, để có thể tham gia cuộc thi quốc tế này, thí sinh phải trải qua ba giai đoạn của kỳ thi thử. Trước tiên là thi thử ở Matxcơva, tiếp theo là thi thử ở Nga, cuối cùng là kỳ thi thử trên toàn Liên Xô. Các du học sinh nước ngoài được miễn thi thử ở Matxcơva, nhưng Sơn cũng tham gia luôn để thử sức. Những vị giáo sư hay những nghệ sĩ piano có tiếng tăm từ khắp mọi vùng miền (ngoại trừ Matxcơva) được mời tới làm ban giám khảo. Kỳ thi thử này cũng chọn các tác phẩm chủ đề giống với cuộc thi ở Vácxava.
"Được biểu diễn trước những vị giáo sư lừng danh là cơ hội mình không thể bỏ lỡ được. Mình muốn biết khả năng thể hiện nhạc Chopin của mình được đánh giá như thế nào".
Kết quả là Đặng Thái Sơn vượt qua mọi vòng thi thử và được phép tham gia cuộc thi piano Chopin, đúng theo nguyện vọng. Cho đến trước thời điểm đó, vẫn chưa ai chú ý cái tên Đặng Thái Sơn, song từ cuộc tuyển chọn này, ở nhạc viện, tên anh đã dần được biết đến. Sơn đã có thể tự tin hơn trước được một chút.
Tatiana Nikolayeva, bà giáo sư đang giảng dạy tại nhạc viện Matxcơva, đã dự thính các buổi biểu diễn trong cuộc thi thử này. Tháng 6 đến tháng 7 cũng trong năm đó, bà đi du lịch ở Vácxava, tại đây, bà tuyên bố: "Nếu nói ai sẽ là người đứng đầu ở cuộc thi piano Chopin năm nay, thì đó chính là cậu bé đến từ Việt Nam!"
Tatiana Nikolayeva vốn là một nghệ sĩ piano, bà sinh năm 1924, tại vùng Bezhitsa của Nga. Từ năm 13 tuổi, bà đã theo đuổi nghiệp dương cầm. Sau đó, bà học thêm sáng tác ở Nhạc viện Matxcơva. Năm 1950, bà xuất sắc giành được giải thưởng cao nhất tại cuộc thi piano Bach, tổ chức ở Leipzig. Lần biểu diễn đó đã truyền cảm hứng cho Shostakovich viết nên tác phẩm "24 Preludes & Fugues"; sau đó, ông gởi nó cho Nikolayeva, bà chính là người đầu tiên trình diễn tác phẩm này. Từ đó trở đi, bà tiếp tục sử dụng tác phẩm này đi lưu diễn ở nhiều nơi, và cũng có thu đĩa. Từ năm 1959, bà giảng dạy tại Nhạc viện Matxcơva, và đã đào tạo rất nhiều thế hệ.
Trong các buổi biểu diễn, Nikolayava luôn thể hiện bằng tất cả niềm đam mê, với những tình cảm dạt dào, do vậy, bà luôn để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng khán thính giả. Bà đã thể hiện xuất sắc khoảng 50 bản concerto của Bach. Vào năm 1993, trong chuyến lưu diễn ở Mỹ, bà bị đột quị và qua đời tại San Francisco. Bà có nhiều kinh nghiệm trong vai trò là giám khảo của các cuộc thi quốc tế, và bà luôn cố gắng tìm kiếm những tài năng mới.
Mặc dù đã qua được kỳ thi thử nhưng Sơn còn phải trải qua một cuộc sát hạch nữa. Những người được tham gia cuộc sát hạch này sẽ viết một bản tóm tắt về thông tin cá nhân gởi đến ban tổ chức cuộc thi. Có những thí sinh đã viết rất nhiều về thành tích của mình như: đã từng tham dự các cuộc thi trước đó, hay đã từng đoạt giải trong một kỳ thi nào đó... Sơn thì chỉ viết vỏn vẹn một dòng "Tốt nghiệp Nhạc viện Hà Nội, hiện đang du học ở Nhạc viện Matxcơva". Người của ban tổ chức vô cùng bối rối, không biết có nên chấp nhận cái tay pianist người Việt Nam kia chăng. Một thời gian, Sơn không nhận được bất cứ sự hồi âm nào.
"Không có một chút thành tích huy hoàng nào cả, liệu mình có được chấp nhận không? Cho đến bây giờ, chẳng ai nói gì với mình cả! Có lẽ mình không có cơ hội!"
Cuối cùng, ban tổ chức đã thống nhất với nhau rằng: "Nếu là sinh viên của Nhạc viện Matxcơva, hẳn người đó cũng cừ lắm!", và họ quyết định chấp nhận để Sơn tham gia cuộc thi piano Chopin.
Năm 1980 cũng là năm tổ chức Thế vận hội Olympic Matxcơva. Những du học sinh nước ngoài đang ở tại ký túc xá của nhạc viện được chuyển đến ở vùng cắm trại gần Biển Đen, để dành chỗ cho những vận động viên nước ngoài đến tham dự Olympic.
Một tháng trời, Sơn sống mà không có cây đàn piano bên cạnh.
"Không xong rồi, đây là thời kỳ quan trọng nhất mà mình phải tập luyện, vậy mà không được đụng đến cây đàn một chút nào. Chẳng lẽ giấc mơ tham dự cuộc thi piano Chopin đến đây là kết thúc sao?"
Đặng Thái Sơn giảm sút nhanh về mặt tinh thần, anh muốn được luyện ngón ngay lập tức. Anh ngồi xuống ghế, nhịp nhàng các ngón tay trên đầu gối. Vừa nhìn tập nhạc vừa tưởng tượng ra các phím đàn, những giai điệu đang ngân lên trong đầu anh. Khi ngồi vào bàn ăn cũng vậy, anh không ngừng chuyển động các ngón tay, anh làm như vậy để ngón tay không bị cứng.
Cuối cùng, khi trở về Matxcơva, anh đã có thể chạm tay vào cây đàn, Sơn nhận thấy những gì mình làm trước đây là đúng, ngón tay anh có thể nhanh chóng lướt trên những phím đàn như trước.
Tháng 10, Sơn đến Vácxava. Có rất nhiều thí sinh đi thi cùng với gia đình, bạn bè, nhưng anh thì chỉ một mình. Ngoài việc đi thăm nhà hát nổi tiếng, nơi mình sẽ thi đấu, anh không đi đâu nữa, chỉ đi lại giữa khách sạn và nơi mình tập luyện. Sơn hoàn toàn cách ly với mọi người.
Ở vòng một, Sơn đã trình diễn các bản nhạc sau: Nocturne cung Rê trưởng, Op.(*) 27, số 2; Scherzo cung Si giáng thứ, Op. 31, số 2; Etude cung La thứ, Op. 25, số 4.
<<(*) Opus: Sáng tác được đánh số của một nhà soạn nhạc (thường theo thứ tự công bố).>>
Vòng hai là các bản: Nocturne cung Mi trưởng, Op. 62, số 2; Sailor's song, Op. 60; Andante Spianato và Polonaises cung Mi giáng trưởng, Op. 13; Etude cung Fa trưởng, Op. 10, số 8; Etude cung Sol thăng thứ, Op. 25, số 6; Overture Op.28 từ bản số 21 đến bản số 24.
Vòng ba là các bản: Mazurka Op.59; piano Sonata cung Si thứ, Op. 58, số 3.
Đến vòng chung kết, Sơn biểu diễn bản Concerto số 2 cung Fa thứ, Op. 21.
Sơn cảm thấy thật thoải mái nhưng khi tới phần biểu diễn các khúc etude thì anh không tự tin, thậm chí anh cảm thấy sợ.
Trong cuộc thi, trình tự biểu diễn các bản nhạc do thí sinh tự quyết định. Ở vòng thi thứ nhất, Sơn đàn bản nocturne nhẹ nhàng, tiếp theo, đến phần biểu diễn bản etude, khúc nhạc đòi hỏi một kỹ năng biểu diễn tinh tế, anh cảm thấy hơi sợ, trước tiên anh làm ấm khán phòng lên bằng khúc nhạc scherzo, sau đó anh từ từ chuyển sang etude. Và anh đã biểu diễn thành công.
"Chà, vậy là tốt quá! Thi xong phần etude này là mình có thể an tâm rồi. Cũng không khó lắm!"
Ở vòng một Sơn vẫn cảm thấy sợ, nhưng khi vào được các vòng trong thì anh đã bình tĩnh hơn.
Vòng thi thứ nhất diễn ra trong sáu ngày, có 42 người từ 15 quốc gia được đi tiếp vào vòng hai. Jean Marc Luisada, người đến từ nước Pháp đã giành được hạng 5 ở lượt thứ 11, thì bị loại khỏi vòng hai. Trước Sơn 4 người là Kevin Kenner, người Mỹ, đạt hạng 2 (không có hạng nhất) ở lượt thứ 12, tham gia cuộc thi với tuổi đời còn rất trẻ, 17 tuổi, song đáng tiếc là anh ta cũng ngậm ngùi chia tay với mùa giải này. Đứng sau Sơn 6 người là Ivo Pogorelic (Nam Tư).
Sau vòng thi thứ hai, chỉ còn 15 người của 11 nước. Ngày 6 tháng 10, hội đồng ban giám khảo đã chọn ra 7 người của 5 nước tiếp tục tiến vào vòng chung kết.
Lần này thì Pogorelic bị dính líu đến một vụ tai tiếng. Lúc đầu, một vị giám khảo người Anh là Louis Kentner, đã rất tức giận khi Pogorelic đậu vòng thi thứ nhất, và ông đã bỏ về nước. Hội đồng ban giám khảo nhốn nháo cả lên. Kế đó, Martha Argerich phản đối việc Pogorelic bị loại ở vòng ba, và bà tuyên bố từ chối tiếp tục làm giám khảo cuộc thi.
" Cậu ta là một thiên tài đấy chứ!"
Argerich đã hét trước ống kính của đài truyền hình như thế. Câu nói này, cho đến ngày nay vẫn còn được mọi người nhắc lại.
Sơn rất thích biểu diễn các bản nhạc của Chopin, và anh chỉ quan tâm điều đó thôi. Mặc dù xung quanh mọi người đang bàn tán rất sôi nổi về sự kiện Pogorelich, nhưng Sơn vẫn hoàn toàn không hay biết gì cả. Sau đó, anh cũng biết được thông qua Irina Pietrova, một sinh viên của nhạc viện Matxcơva, cũng đang tham gia cuộc thi này.
"Anh không biết gì ư? Nghiêm trọng lắm đấy! Pogorelic không thể trụ lại cuộc thi này, còn Argerich đã từ chức giám khảo!"
Cũng lúc ấy, Sơn biết mình đã lọt vào vòng thi cuối cùng.
Tuy nhiên, anh nhận ra rằng, mình chẳng có nổi một bộ vest chỉnh tề để xuất hiện trên sân khấu. Sơn vội vàng đi tìm khắp các cửa hàng và đã mua một bộ âu phục với kích cỡ dành cho trẻ em châu Âu. Nhóm bạn người Việt đã trách anh: "Này, anh bị làm sao thế! Không lẽ anh tính xuất hiện trên sân khấu Vácxava với bộ đồ như thế sao!"
"Sơn, cuộc thi này là sự kiện quốc tế, có quay phim lên truyền hình đấy! Liệu mà ăn mặc cho đàng hoàng chút đi!"
"Anh đang làm xấu hổ người Việt chúng ta đấy!"
Ngày thi chung kết, Sơn sẽ diễn cùng dàn nhạc. Cho đến lúc này, anh chưa từng được diễn cùng dàn nhạc bao giờ cũng như chưa từng đứng trên sân khấu đầy vẻ chuyên nghiệp như thế, anh cũng chưa từng đoạt một giải thưởng nào, chưa một lần đi đến một nơi mà cần phải ăn mặc thật chỉnh tề.
Anh chạy đến Hội Chopin. Ở Vácxava có rất nhiều công trình kiến trúc liên quan đến Chopin, trụ sở của hiệp hội Chopin là một trong số đó, đó là cung điện Ostrogskich. Cung điện này đã được Unessco công nhận là di sản văn hóa thế giới, được xây dựng từ thế kỷ 16, sau đó được tu bổ lại theo phong cách baroque.
Hội Chopin được thành lập vào năm 1934, với mục đích nghiên cứu và phổ biến nhạc của Chopin đến với công chúng. Hội đã chọn Ostrogskich làm trụ sở, làm khán phòng tổ chức các buổi hòa nhạc, làm bảo tàng... Lễ trao các giải thưởng phụ của cuộc thi piano Chopin cũng tổ chức tại đây. Ở Hội Chopin, mọi người đều biết việc Sơn lúc nào cũng đi một mình, họ chăm sóc anh rất chu đáo. Đặc biệt là những người phụ nữ, họ quan tâm anh như thể họ là mẹ anh vậy.
Sơn nhào tới những người phụ nữ này, hổn hển nói:
"Xin lỗi, các cô có biết chỗ nào có thể may liền cho cháu một bộ vest không ạ? Ngày mai cháu phải mặc bộ vest đó để đi thi!"
Họ nhìn Sơn một cách trìu mến:
"À, thì ra là Đặng Thái Sơn! Cháu được vào vòng chung kết rồi à, giỏi quá nhỉ! Cháu đợi chút đi, các cô sẽ lập tức đi tìm cho cháu ngay!"
Cuối cùng, Sơn cũng có được một bộ vest.
Vòng chung kết được bắt đầu trong bầu không khí ồn ào, náo nhiệt. Pogorelich cũng có mặt ở hội trường để nghe các thí sinh khác biểu diễn, các khán thính giả vây lấy anh. Nhưng thật tiếc là anh không thể biểu diễn.
Vòng chung kết diễn ra trong 2 ngày, Sơn thi trong ngày đầu với số thứ tự là số 3. Người thi đầu tiên là Eric Berchot, người thứ 2 là Tatiana Shebanova, cả 2 thí sinh này đều bị choáng ngợp trước đông đảo khán giả, họ rất hồi hộp, cảm thấy không thể đàn được, nên đã đề xuất xin ban giám khảo cho họ được thi cuối cùng.
"Sơn, vậy thì anh thi đầu tiên nhé! Nhạc trưởng và dàn nhạc đều có mặt đầy đủ rồi! Nào, hãy nhanh chóng bước lên sân khấu đi!"
"Sao ạ? Sao lại thế chứ? Tôi thi liền bây giờ à?"
Sơn cũng đã chuẩn bị tinh thần từ trước, nhưng anh không ngờ lại phải thi đầu tiên như thế này. Thi đầu tiên thì hơi bất lợi nhưng mà... không còn cách nào khác.
"Được lọt vào vòng chung kết, vậy là đủ lắm rồi, chẳng cần thứ hạng làm gì! Bộ vest này vừa với mình quá, thế cũng vui rồi! Nếu đã vậy thì... mình thi đầu tiên thôi!"
Sơn trông thật bảnh bao trong bộ vest mới, đĩnh đạc bước lên sân khấu. Anh hoàn toàn không nghĩ gì tới mấy giải thưởng, anh biểu diễn một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Khán phòng vẫn huyên náo như cái chợ, nhưng anh không để ý đến điều đó, anh từ từ đi về phía cây đàn piano. Khi tiếng nhạc vừa vang lên, cả khán phòng bỗng trở nên im bặt, mọi người đều tập trung để lắng nghe. Những lần thi trước của Sơn luôn được đánh giá cao, và bây giờ, anh đang thể hiện kỹ năng của mình ở một bậc cao hơn thông qua giai điệu trữ tình và trong sáng, hòa cùng thanh âm lộng lẫy của dàn nhạc, tất cả những điều đó ngấm sâu vào trong lòng khán thính giả. Sơn đã cho mọi người thấy được rằng một người Việt Nam vẫn có thể đàn rất hay nhạc của Chopin. Sơn vào học ở Nhạc viện Matxcơva được 3 năm. Cho tới khi đó, Việt Nam bị xem là một nước chậm phát triển nên lúc đầu, chẳng có ai chú ý tới anh cả.
"Nếu là người Nhật hay người Trung Quốc thì việc họ có thể chơi nhạc Chopin âu cũng là điều bình thường, song, đối với người Việt Nam thì không dễ được công nhận như thế. Nhưng tôi có thể chơi nhạc Chopin, bởi lẽ tôi yêu tha thiết nhạc của ông, tình yêu đó không thua kém bất cứ ai. Mong rằng mọi người hãy hiểu điều này cho tôi!"
Sơn chẳng màng gì giành được giải thưởng nhưng anh muốn mọi người hãy thừa nhận một sự thật rằng: Người Việt Nam cũng có thể chơi nhạc Chopin.
Mọi người vô cùng kinh ngạc trước một người đến từ đất nước Việt Nam, một đất nước mới vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh đầy máu lửa, lại có thể biểu diễn âm nhạc của Chopin một cách tài hoa như thế.
"Thật tuyệt!"
"Giai điệu thật trong sáng, như thể tẩy rửa được tâm hồn chúng ta!"
Mọi người trầm trồ với nhau. Ở hàng ghế của ban giám khảo, các thành viên cũng thì thầm trao đổi. Sau khi Sơn kết thúc phần trình bày của mình, khán giả đã vỗ tay nhiệt liệt trong niềm xúc động dâng trào. Nhà hát phút chốc lại trở nên ồn ào, nhưng theo một cách khác. Tên Đặng Thái Sơn được tung hô, lặp đi lặp lại nhiều lần, mọi người yêu cầu Sơn hãy bước lên sân khấu. Trước sự nồng nhiệt của khán giả, Sơn cảm thấy vô cùng hạnh phúc, rưng rưng như muốn khóc.
"Không được, dù vui hay buồn mình cũng không được khóc. Đứng ở đây mà khóc thì xấu hổ chết!"
Thế là, Sơn đành gượng cười, anh liên tục cúi đầu chào khán giả. Sau khi chào xong, anh cố gắng ngẩng thật cao đầu, mím chặt môi, để nước mắt không thể chảy ra. Khán giả vẫn liên tục vỗ tay khiến anh vừa sung sướng vừa cảm thấy hơi có chút ngượng ngùng.
Những người đã đoạt giải trong Cuộc thi piano quốc tế Chopin lần thứ 10:
Giải nhất: Đặng Thái Sơn (Việt Nam), kèm theo các giải phụ cho trình diễn Polonaise, Mazurka, Concerto hay nhất.
Giải nhì: Tatiana Shebanova (Liên Xô), nhận thêm giải Polonaise, giải Concerto.
Giải ba: Arutyun Papazyan (Liên Xô).
Không có giải tư.
Giải năm: Ebi Akiko (Nhật Bản), Eva Poblocka (Ba Lan) kèm thêm giải trình diễn Mazurka.
Giải sáu: Eric Berchot (Pháp) và Irina Pietrova (Liên Xô)
Pogorelich nhận giải bình chọn của khán giả và giải của các nhà phê bình.
Thật ra, trong ngày thi chung kết, lẽ ra Martha Argerich đã về Geneve nhưng bà đã có mặt tại phòng nhạc. Mặc dù đã từ bỏ chức giám khảo, nhưng bà vẫn ngấm ngầm theo dõi các buổi biểu diễn của thí sinh trong trận chung kết này. Ngay sau khi về đến Geneve, bà đã gửi một bức điện cho ban tổ chức.
"Đặng Thái Sơn sẽ đoạt giải xuất sắc, chúc mừng anh nhé! Anh biểu diễn nhạc Chopin thật tuyệt vời! Từ bây giờ, tôi rất kỳ vọng ở anh đấy, hãy cố lên!"
Không thể trò chuyện trực tiếp với Argerich, nhưng bức điện này đã khiến Sơn vô cùng sung sướng.
"Cuối cùng cũng xong! Từ bây giờ mình phải vất vả lắm đây! Mình đã trở thành một nghệ sĩ piano xuất sắc thì phải làm sao để không hổ danh!"
Với danh hiệu này, Sơn biết mình đáng gánh một thứ rất nặng nề, đó là hai chữ "trách nhiệm"
Chương 3: Một năm đầy ác mộng
"Kết quả kỳ thi cuối khóa, Đặng Thái Sơn: 5+"
Đó là kết quả của kỳ thi cuối khóa năm 1977, được dán trên bảng thông báo của Nhạc viện Matxcơva. Việc xếp hạng có 5 bậc, cao nhất là bậc năm, nếu có trường hợp xuất sắc hơn nữa thì người đó sẽ được bậc 5+.Các ngón tay của Sơn bị xước, anh vừa nắn bóp bàn tay vừa thầm nghĩ:
"Quả là một năm thật may mắn. Mình thật hài lòng với kết quả này, phải đi cảm ơn các thầy mới được!"
Năm 1975, cuộc chiến tranh ở Việt Nam kết thúc. Nhà nước bắt đầu triển khai việc tuyển chọn một số học sinh đi du học nước ngoài, vì Liên Xô sẽ tài trợ học bổng cho các học sinh này. Lúc đó, chỉ những học sinh thuộc gia đình công chức nhà nước mới được đi du học. Việc kiểm tra hết sức gắt gao.
Sơn xuất thân từ một gia đình có mẹ là người rất đam mê âm nhạc, đang công tác tại nhạc viện Hà Nội, anh đủ tiêu chuẩn để được đi. Tuy nhiên, bố anh lại là một nhà thơ đang "có vấn đề". Việc Sơn đi du học trở nên xa vời.
Những năm 1950, bố Sơn, nhà thơ Đặng Đình Hưng, có tham gia phong trào Nhân văn – Giai phẩm, từ đó, rắc rối theo ông suốt nhiều năm.
Một ngày nọ, nhân viên nhà nước phụ trách tuyển người đi du học hỏi Sơn thế này:
"Trong thời gian chiến tranh, anh đã ở suốt bên mẹ phải không! Bố anh thì ở bên nhà ông bà nội, và anh chỉ biết sống với mẹ mà thôi. Nếu là như vậy thì anh có thể được chấp nhận cho đi du học nhưng... anh có đồng ý điều này không?"
Sơn không trả lời được gì cả.
Mối quan hệ giữa bố mẹ Sơn, từ lâu đã không được tốt cho lắm. Bố anh không có thu nhập ổn định, nên mẹ đã phụ trách việc nuôi nấng Sơn. Ngay cả việc học hành của anh cũng do một tay mẹ gánh vác. Trong thời gian chung sống, bố mẹ Sơn lúc nào cũng cãi nhau. Sơn lớn lên trong một tâm trạng luôn lo sợ, bất an.
Khi hai người quyết định ly dị, anh cảm thấy thoải mái hơn là nuối tiếc hay đau khổ, cảm thấy như được giải thoát khỏi cảm giác lo sợ. Họ bắt đầu phân chia tài sản. Bố anh lấy một chiếc xe đạp, cái quạt bàn và cái chảo. Mẹ thì lấy cái giường, cái tủ, một chiếc xe đạp và cái nồi. Nhà thì là nhà thuê, không có tivi, tủ lạnh; cây đàn piano là đồ mượn của nhà trường.
Lúc 7 tuổi, Sơn vào lớp sơ cấp của Nhạc viện Hà Nội, sau đó lên trung cấp, rồi tiếp tục học chuyên sâu, anh tốt nghiệp vào năm 1976.
Nhạc viện Hà Nội là một trường đào tạo âm nhạc tiêu biểu của Việt Nam, được thành lập năm 1956, học sinh theo học tại đây phải hoàn thành 7 năm sơ cấp, 4 năm trung cấp, và thêm 3 năm học chuyên môn. Phương pháp giảng dạy ở đây được tham khảo từ hệ thống giáo dục của Liên Xô.
Sơn, người đã tốt nghiệp nhạc viện với thành tích xuất sắc, được Bộ Văn hóa chú ý tới, đề xuất cho đi du học. Bố mẹ đã ly dị rồi, chuyện đi du học của Sơn đã dễ dàng hơn.
"Sơn, từ ngày mai, con sẽ sống ở nước ngoài, sẽ xa gia đình, nhưng con phải chăm chỉ học hành, phải học cho thật giỏi rồi mới được trở về nước nhé! Phải nghe lời của mọi người đấy! Tuyệt đối không để xảy ra chuyện gì bất trắc, phải tuân thủ quy tắc nơi đó, được không?"
Mẹ Sơn liên tục nhắc nhở từng li từng tí đứa con trai lần đầu tiên xa gia đình, nhắc đi nhắc lại nhiều lần như thể anh là đứa trẻ con ba tuổi.
Ngày 20 tháng 7 năm 1977, lúc nửa đêm, anh lên chuyến xe lửa đi Liên Xô cùng với những học sinh thuộc các ngành học khác.
Ngày lên đường, người chị cùng chồng con đã đến tiễn anh tại nhà ga. Khi đoàn tàu từ từ lăn bánh, chị anh đã bật khóc, sau đó mọi người cũng khóc theo, Sơn cứ vẫy tay cho đến khi không còn thấy họ nữa. Lúc đó, anh 19 tuổi.
Dù biết là đi Liên Xô nhưng những du học sinh này không biết cụ thể sẽ đến đâu, ở Kiev, Odessa, Almaty hay Matxcơva? Hành trình chuyến đi kéo dài trong 3 tuần, đi ngang qua Trung Quốc đã mất tới 5 ngày, đoàn tàu chạy một mạch xuyên qua vùng đất rộng lớn này. Sơn cảm thấy thật vui sướng vì anh đang từng bước từng bước để bắt đầu một cuộc sống mới, thật lạ thay, anh không hề có cảm giác cô đơn, buồn bã, chắc có lẽ vì ở đây, anh đang có rất nhiều bạn bè. Sơn không để ý đến sự lo lắng của gia đình dành cho anh, anh chỉ thấy mãn nguyện với cảm giác được tự do.
Tàu dừng lại nghỉ ở Irkutsk, cạnh hồ Baikal. Mọi người xuống tàu để kiểm tra sức khỏe. Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, người Việt Nam đã mắc phải rất nhiều căn bệnh, nên ở đây, họ phải kiểm tra sức khỏe để tránh đem dịch bệnh vào nước khác.
Buổi tối, mọi người tổ chức một buổi văn nghệ, phần lớn là những người không rành về âm nhạc, dân nghiệp dư cả, nhưng chủ yếu chơi cho vui. Có bốn người có chuyên môn về âm nhạc, và Sơn được yêu cầu biểu diễn một bản
"Đặng Thái Sơn! Đàn một bài gì đó đi chứ!"
"Này, cậu học chuyên về âm nhạc mà, hãy cho mọi người nghe tiếng đàn piano của cậu đi!"
Đã lâu rồi Sơn không đụng đến cây piano, anh cũng chỉ biết đàn một vài bản thôi, và anh chọn bản Etudes Tableaux của Rachmaninov. Cây đàn cũ kỹ lắm rồi, các phím đàn cứ rời rạc, chẳng ăn khớp gì với nhau cả, âm thanh rất lớn nghe nhức óc.
Sau khi đàn xong, một người phụ nữ đã tiến lại gần anh.
"Đặng Thái Sơn, lát nữa phiền anh đến chỗ tôi một chút nhé!"
Sơn bối rối, không lẽ mình làm gì sai chăng?
Người phụ nữ hồi nãy đang công tác ở Bộ Giáo dục Liên Xô. Khi Sơn ghé chỗ bà, bà nói:
"Cậu có muốn vào Nhạc viện Matxcơva không?"
Sơn khẽ đưa mắt nhìn bà, ngập ngừng trả lời:
"Vâng, đó chính là ước mơ bấy lâu nay của cháu..."
"Quyết định vậy đi! Tôi sẽ đưa cậu vào Nhạc viện Matxcơva!"
Bà giữ lời hứa, đưa anh đi thi tuyển vào Nhạc viện Matxcơva. Cho đến thời điểm này, chưa từng có một du học sinh nào của Việt Nam đậu được kỳ thi tuyển vào Nhạc viện Matxcơva, họ phải tiếp tục học ở lớp dự bị 2, 3 năm. Và Sơn chính là người đầu tiên được phép học tại đây, anh được xếp vào lớp của giáo sư Vladimir Natanson.
"Từ hôm nay, mình đã là sinh viên của Nhạc viện Matxcơva, phải thông báo cho mẹ biết mới được!"
Tuy nhiên, chưa kịp vui mừng thì Sơn biết mình sắp bước vào những tháng ngày học tập thật vất vả. Từ hồi còn bé, mẹ đã dạy nhiều về piano cho anh, và anh cũng đã học piano ở Nhạc viện Hà Nội, vậy mà, ở đây, anh phải học lại từ đầu với những kiến thức rất cơ bản, phải thay đổi tất cả những phương pháp biểu diễn mà anh đã học trước đây, thật là khổ!
Nhạc viện Matxcơva có tên đầy đủ là "Nhạc viện Quốc gia Tchaikovsky Matxcơva", được thành lập bởi Nikolai Rubinstein, một nghệ sĩ piano, đồng thời là nhạc trưởng, vào năm 1866.
Anh của Nikolai là Anton Rubinstein, một nhà soạn nhạc vĩ đại, và là một người có nhiều hoạt động nghệ thuật trên khắp châu Âu trong vai trò là một nghệ sĩ piano.
Cùng với Nhạc viện Saint Peterbourg do Anton Rubinstein thành lập, Nhạc viện Matxcơva là cơ sở giáo dục về âm nhạc có tầm cỡ lớn. Tchaikovsky, Taneyev đã từng đứng lớp ở đây. Những nhà soạn nhạc, nghệ sĩ nổi tiếng như Rachmaninov, Skryabin, Medtner cũng được đào tạo ở đây.
Ở Nhạc viện Matxcơva, các du học sinh nước ngoài thường bị xem là có trình độ kỹ thuật kém hơn học sinh người Nga, và sẽ bị xếp ở lớp có cấp độ khác với học sinh Nga. Đặng Thái Sơn học ở lớp cơ bản của bộ môn piano và mỗi ngày phải học thêm tiếng Nga.
Chỗ ở là ký túc xá của nhạc viện. Tòa nhà gồm 5 tầng, mỗi tầng có 30 căn phòng, mỗi phòng sẽ xếp 1 học sinh nước ngoài và 1 học sinh trong nước. Các phòng đều có đặt một cây đàn piano tủ. Riêng Sơn thì anh muốn tập luyện với đàn piano cánh hơn.
Loại đàn đó được đặt ở phòng luyện tập nằm dưới tầng hầm của ký túc xá. Chỉ ở đây mới có nhiều đàn piano cánh nên lúc nào cũng đông học sinh đến tập. Mỗi sáng, Sơn dậy lúc 6 giờ để xếp hàng vào phòng luyện tập trước. Những du học sinh người Việt Nam cùng hợp tác với nhau thành một nhóm rồi thay phiên nhau dậy sớm để túc trực ở đây. Khi phòng tập vừa mở cửa thì nhóm này sẽ lập tức để các cuốn sách nhạc lên các cây đàn, họ giành tới 3 phòng, sau đó căn cứ vào giờ học của mỗi người, họ sẽ thay phiên nhau mà sử dụng.
Ngoài nhóm người Việt Nam ra còn có thêm một nhóm thường xuyên dậy sớm xếp hàng vào phòng tập, đó là nhóm du học sinh người Israel. Bất kể mùa hè hay mùa đông, hai nhóm này đều tranh nhau vào phòng tập trước. Vì vậy, nhóm của Sơn đã nghĩ ra một sáng kiến là họ dùng một sợi dây thun dài, buộc chặt tay cầm của cánh cửa để khi mở thì phải đẩy vào, nhưng nếu từ bên ngoài kéo ra thì sẽ có cảm giác như có ai đó đang ở trong phòng. Vì vậy mà nhóm của Sơn lúc nào cũng giành được phòng trước.
Dưới tầng hầm này cũng là nơi các sinh viên tụ tập, bàn tán đủ thứ chuyện, chẳng hạn như ai sẽ tham gia cuộc thi nào, ai sẽ lập kỷ lục mới, kỳ thi thử sẽ tổ chức như thế nào, ở đâu... Ở đây, Sơn cũng nghe được nhiều thông tin, nhưng anh cho rằng thật mất thời giờ để nói chuyện tạp nhạp.
Ở Việt Nam thì không chỉ người lớn mà cả trẻ em cũng thường phải làm việc. Khi ra nước ngoài làm việc hay học tập, dù cuộc sống khó khăn, họ vẫn cố gắng gửi tiền hay quà về cho gia đình ở quê nhà. Sơn cũng vậy, anh cũng muốn gởi tiền về cho bố. Nhưng thực tế thì anh chỉ có tiền học bổng thôi, với số tiền này, ăn còn không đủ. Tiền học bổng của Liên Xô thì ưu ái hơn cho người châu Âu, còn đối với những du học sinh đến từ các nước như Việt Nam, Cuba thì rất ít. Ăn ở căng-tin thì không đủ tiền nên thường nhóm học sinh Việt Nam hay tự nấu ăn với nhau, thế mà vẫn không đủ trang trải. Sơn đành phải đi tìm việc làm thêm. Anh làm thợ tiện trong một cơ xưởng về đồ điện, tiện những bộ phận của quạt máy, những đồ dùng gia dụng. Anh ngâm tay trong hóa chất giải nhiệt nhiều giờ liền nên tay chai ra, nhăn nheo, sần sùi. Với công việc này, nếu làm nhanh, chính xác, số lượng nhiều thì sẽ được tiền nhiều. Sơn đã làm thành thạo công việc này, dù bị rát tay nhưng anh vẫn cố gắng để có thể tăng thu nhập. Tay Sơn nóng lên và bắt đầu bị lột da.
"Em làm gì thế này? Sơn, Em hãy nghỉ ngay. Em còn phải đàn nữa đấy. Làm gì cũng được nhưng nếu công việc đó làm hư tay hay ngón tay thì hãy nghỉ ngay!"
Thầy Natanson hốt hoảng khi thấy Sơn bị như vậy. Sơn nghe lời thầy, không tiếp tục làm nữa.
Vào kỳ nghỉ, Sơn trở lại với công việc làm thêm, 8 tiếng một ngày, công việc của anh là đi thu gom các vỏ chai. Các vỏ chai rượu, vỏ chai nước ngọt, nước suối... anh gom lại, rửa sạch rồi đem đến các vựa thu gom hàng tái sử dụng, anh sẽ nhận được một khoản tiền. So với tiền lương khi làm ở cơ xưởng thì khoản tiền này chẳng là bao, nhưng công việc này có thể duy trì lâu dài được. Sơn cùng với nhóm bạn tranh thủ thời gian để làm công việc này. Những ngày đông giá rét cũng như những ngày hè oi bức, Sơn vẫn làm, anh nhanh chóng làm xong việc là lại về ký túc xá luyện tập piano, anh chẳng lấy gì làm mệt mỏi. Vì nếu để dành được một ít tiền, anh có thể gởi về cho bố, có thể mua đồ ăn cho mình. Trong năm đầu này, anh vẫn đều đặn đến lớp học, về ký túc xá luyện tập, đi làm thêm, thời gian ngủ rất ít. Mặc dù vậy, anh vẫn thấy trong lòng hân hoan, không chút phiền não.
Mỗi năm một lần, Nhạc viện Matxcơva đều có tổ chức một kỳ thi, bất kể là sinh viên trong nước hay nước ngoài đều thi cùng một nội dung như nhau. Sơn đã trình bày các tác phẩm: The variations on a theme of Paganini của Brahms, Sonata cho piano số 21 của Beethoven, Prelude and Fugue cung Sol trưởng của J.S.Bach. Anh rất hài lòng với thành quả mà để có được, anh đã phải dày công luyện tập. Anh đã vượt qua những sinh viên khác một cách thuyết phục, vươn lên ở vị trí đầu bảng, và còn được đánh giá ở mức cao hơn là 5+.
Các sinh viên Liên Xô chẳng bao giờ để ý tới các du học sinh của những nước như là Việt Nam. Và với Sơn cũng vậy, có quy định hạn chế tiếp xúc với người nước ngoài nên hầu như anh không giao lưu với họ. Tuy nhiên, tên tuổi của anh giờ đây nổi như cồn khắp nhạc viện với mức điểm 5+, lý do là từ lúc thành lập nhạc viện cho tới giờ, đây là sinh viên nước ngoài đầu tiên đạt được mức ấy.
"Những việc mình làm từ trước tới giờ, không có gì sai cả. Năm nay quả là một năm đầy gian nan, nhưng cuối cùng mình cũng có thể an tâm bước qua năm hai!"
Từ giờ phút này, có rất nhiều vị giáo sư cũng bắt đầu để ý Sơn. Vera Goronostaeva, vị giáo sư công tác tại nhạc viện Matxcơva từ năm 1971, chuyên dạy về nhạc Chopin, đã phát biểu trên tờ báo của nhạc viện rằng ông đánh giá cao tài năng của Sơn.
Cả Natanson cũng vậy, đối với ông, đây là cậu học trò mà ông tự hào nhiều nhất. Ông đã viết một lá thư thông báo, gửi cho mẹ của Sơn.
Chương 4: Cây đàn piano được xe bò chở đến
"Đàn cho đàng hoàng xem nào! Nhìn bản nhạc cho kỹ chứ! Xem này, tôi đã nói mấy lần rồi mà vẫn chưa hiểu à? Sai rồi! Chú ý từng nốt từng nốt chứ, đàn chính xác cho tôi xem nào!"
Ở phố Tống Duy Tân, Hà Nội, có một ngôi nhà 3 tầng, từ căn nhà đó, lúc nào người ta cũng nghe những tiếng la mắng học trò thật nghiêm khắc. Người thầy liên tục nhắc nhở học trò cho đến khi chúng đàn đúng mới thôi, nếu không làm được thì chúng sẽ tiếp tục bị mắng. Đứa nào mà hơi nhát một tí là sẽ khóc từ đầu đến cuối buổi học.
Người thầy nóng tính đó chính là bà Thái Thị Liên, mẹ của Đặng Thái Sơn, phụ trách giảng dạy tại khoa piano của nhạc viện Hà Nội. Bà là một nghệ sĩ piano tiêu biểu của Việt Nam. Trải qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt, tính cách của bà rất kiên cường, cứng rắn, cũng vì lẽ đó mà bà dạy học rất nghiêm khắc. Bà Liên giảng dạy ở nhạc viện đã lâu năm lắm rồi, từ lúc nhạc viện Hà Nội mới bắt đầu thành lập, còn mang tên Trường Âm nhạc Việt Nam; giáo viên giảng dạy chỉ có 7 người, và bà là một trong số đó.
Sơn được mẹ dạy dỗ rất nghiêm khắc. Sơn lớn lên trong tiếng đàn piano của mẹ, của chị Trần Thu Hà, hay của anh Trần Thanh Bình, mỗi lần họ tập đánh đàn, cậu lúc nào cũng im lặng lắng nghe. Dường như tiếng đàn ấy dần ngấm sâu vào lòng Sơn, cậu tự dưng muốn được chạm tay lên những phím đàn. Cậu bỗng cảm thấy đam mê những âm thanh đó, thường nhẩm những bài hát trẻ con rồi thử gõ nó lên phím đàn, và có thể đàn được một vài giai điệu, rất vui. Thế nhưng bà Liên chẳng nhận ra điều đó, bà cho rằng trong ngôi nhà này không cần thêm một nghệ sĩ piano nữa, hơn nữa, bà cũng không có thời gian để dạy anh.
Người đầu tiên nhận ra nhạc cảm tốt của Sơn là bố Sơn, ông Đặng Đình Hưng. Ông cho cậu con trai nghe nhiều âm thanh khác nhau và ông khẳng định rằng Sơn quả thật cảm thụ âm thanh cực nhạy, ông muốn hướng Sơn bước vào con đường âm nhạc.
"Thằng bé này có cái tai âm nhạc rất nhạy, bà nên cho nó học piano đi!"
"Ông nói gì vậy, đủ rồi, tôi không thể dạy nó được nữa, ông làm ơn bỏ cái suy nghĩ ấy đi, tôi bận thế này, ông không thấy sao!"
"Nhưng thằng Sơn đặc biệt lắm đấy! Xem này, trông nó thật vui khi sờ vào cây đàn piano, chẳng có đứa con nít nào lại có hành động như thế!"
Ông Hưng ra sức thuyết phục bà Liên, cuối cùng bà cũng đồng ý dạy piano cho Sơn khi cậu được 6 tuổi. Quyển sách Sơn được học đầu tiên là quyển Methode Rose, do Ernest Van de Velde, giáo sư piano người Pháp biên soạn. Đây là giáo trình cơ bản mà ông đã cố gắng trình bày sao cho trẻ em Pháp có thể đàn piano một cách tự nhiên những giai điệu hay những bài hát. Đặc biệt trong đó có trình bày phần đàn piano cho những người thuận tay trái, viết cho những người mới nhập môn piano. Hiện nay, nó là giáo trình phổ biến trên thế giới.
Sơn rất vui sướng khi được mẹ dạy piano. Hồi đó đến giờ, cậu chẳng khi nào được phép sờ vào cây đàn piano, nhưng từ bây giờ trở đi, cậu đã là "đồng môn" với chị và anh mình.
Mỗi lần mẹ cho bài tập, lúc nào Sơn cũng luyện đi luyện lại nhiều lần, vì thế, cậu tiến bộ nhanh chóng.
Dạo gần đây, bà Liên muốn kiếm thêm thu nhập nên bắt đầu đi dạy cho mấy đứa bé ở đại sứ quán Liên Xô. Dĩ nhiên không phải dạy ở nhạc viện mà ở nhà bà. Sơn rất thích được phụ huynh của mấy đứa bé Liên Xô đó cho bánh kẹo. Khi sắp đến giờ học, lúc nào Sơn cũng chạy xuống dưới nhà, chờ họ ở ngoài cổng.
"Здравствуйте" (Xin chào!)
Sơn chào họ bằng một câu tiếng Nga mà cậu đã học được, các bà mẹ mỉm cười và lấy ra cho Sơn mấy thỏi sôcôla hay mấy cái kẹo.
"Ngoan quá! Cho con này. Thôi mình vào nhà đi!"
Sơn vừa cười khoái chí vừa dắt họ vào gặp mẹ.
Năm 1965, khi được 7 tuổi, Sơn vào lớp sơ cấp của nhạc viện Hà Nội.
Đặng Thái Sơn sinh ngày 2 tháng 7 năm 1958 tại Hà Nội. Ngày nay Hà Nội đầy xe máy và đường phố lúc nào cũng huyên náo, ồn ào, thế nhưng Hà Nội ở thời điểm Sơn sinh ra vẫn là một thành phố xinh đẹp và yên bình. Thời đó, đời sống người dân vẫn còn rất khó khăn, ở thành phố ít ai có được nhà riêng. Mẹ Sơn đã thuê 2 phòng của căn nhà 3 tầng ở phố Tống Duy Tân. Một phòng rộng 13m2, một phòng nhỏ hơn là 4,5m2. Nơi này chính là không gian sinh hoạt của gia đình 5 người bao gồm bố, mẹ, chị, anh và Sơn.
Trong gian phòng rộng 13m2 có đặt một cái giường lớn, mọi thành viên trong gia đình đều ngủ chung trên cái giường ấy. Ngoài ra còn có một đặt một cây đàn piano tủ mà mẹ Sơn đã mượn của nhạc viện, một cái tủ treo quần áo, chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng đã chật nhà.
Ở tầng 3 có hai căn phòng do nhà Sơn thuê, và một phòng của hộ gia đình khác, giữa hai phòng này có một hành lang nhỏ. Đây không phải là nhà bếp nhưng mẹ Sơn vẫn dùng nó làm nơi nấu nướng. Bà Liên dạy nhạc cho học trò cũng tại phòng riêng. Mỗi lần mẹ dạy học là Sơn không chịu nổi những lời mắng mỏ của mẹ với học trò, Sơn lúc nào cũng bịt tai, thu người lại.
"Mẹ không muốn nổi giận như thế đâu, nếu con chịu tập đàng hoàng thì mẹ đâu cần làm thế. Thôi được rồi, để mấy đứa học trò này ra về rồi con hãy tập đàn ngay!"
Từ lúc này, Sơn đã cố gắng chăm chỉ học cũng như luyện tập piano để không làm mẹ giận nữa. Sau khi tan học, bạn bè Sơn, ai cũng đi chơi tới chiều tối, nhưng Sơn thì lúc nào cũng về sớm để không bị mẹ la rầy.
"Mấy đứa bạn mình có đi chơi về trễ cũng không bị mẹ mắng, tại sao vậy nhỉ?"
Sơn lúc nào cũng lấy làm khó hiểu về điều này. Nhưng cũng từ đó trở đi, Sơn dần thay đổi, trong trường, lúc nào cũng là học sinh xuất sắc, luôn giữ nội quy nhà trường, không phá phách.
Đến năm 1965, nhà nhà có thể sử dụng điện, nước. Chưa được bao lâu thì máy bay Mỹ bắt đầu ném bom phá hoại miền Bắc, lại mất điện, mất nước. Mọi người phải đi lấy nước ở vòi nước nằm ngoài đường. Một ngày không biết bao nhiêu lần, Sơn phải chạy từ trên lầu xuống nhà lấy nước rồi lại xách lên. Vì xách nước nặng nên bàn tay sưng tấy lên. Nhưng Sơn không phàn nàn một lời, vì gia đình nào cũng vậy thôi.
Đầu tiên, nước dùng để nấu cơm hay nấu nước, phần còn lại để rửa rau, giặt đồ, sau cùng dùng để dội nhà vệ sinh.
Không có điện, mọi người đều sinh hoạt trong bóng tối. Quần áo của Sơn đều toàn là đồ cũ của anh trai, lúc nào cũng nhàu nát, và đi chân đất. Chiến tranh khốc liệt, học sinh của nhạc viện Hà Nội phải sơ tán về các làng xã. Bà Liên cùng học trò mình di chuyển đến ở cùng một làng. Lúc này mọi gia đình đều ly tán, mỗi người một ngả. Gia đình Sơn cũng vậy, sơ tán đến làng Xuân Phú, huyện Yên Dũng, tỉnh Hà Bắc, cách Hà Nội khoảng 70km về phía đông bắc. Sơn thấy lạ lẫm khi phải sống ở ngôi làng này, cuộc sống khác xa với đời sống nơi đô thành.
Nhà ở đây lợp mái lá, vách đất, khung nhà toàn làm bằng tre, tất nhiên là không có điện, đối với việc bếp núc thì người ta lấy ba cục gạch xếp lại rồi đặt nồi lên, đốt lá tre để đun nấu. Cũng có nhiều nhà dùng rơm để lợp, những nhà này khoảng hơn một năm thì phải phải lợp lại mái, nếu không sẽ bị mưa dột. Trong chiến tranh, những ngôi nhà lá này không bao giờ được lành lặn, Sơn ngạc nhiên khi ngồi trong nhà mà có thể thấy được bầu trời qua mái nhà, bức vách. Vào mùa đông, gió luồn qua các khe hở vào nhà rất lạnh. Sơn chợt nghĩ "Mình phải sống ở một nơi như thế này sao! Không biết phải ở đến bao giờ...".
Thời điểm này, miền Bắc Việt Nam bị máy bay Mỹ ném bom dữ dội, những nơi thường bị thả bom là các con đường lớn, cầu, nhà ga, đài phát thanh, công trường... Ngôi làng mà Sơn đang sơ tán ít bị oanh tạc. Mặc dù vậy, cách làng độ 10 cây số có một cây cầu. Cây cầu này liên tục bị ném bom và cứ mỗi lần như thế, nó được mọi người bắc lại một cái mới, rồi lại bị phá hỏng. Để không bị các mảnh vỡ của bom rơi trúng đầu, những đứa trẻ phải đội một cái mũ làm bằng rơm khi đi ra ngoài. Mấy bộ quần áo màu trắng hay bất cứ màu sáng nào cũng đều không được mặc, mà chỉ được phép mặc những bộ đồ màu xanh đậm, đồng với màu xanh của cây cối.
Bà Liên và Sơn ở nhà của một người dân trong làng. Ở đây có một cái giường do 2 tấm ván lớn ghép lại với nhau, cả nhà của chủ nhà và mẹ con Sơn sẽ cùng ăn, ngủ trên đó.
Ở nhà này có để một cây đàn piano đem từ nhạc viện Hà Nội lên, học trò sẽ thay phiên nhau để tập với cây đàn duy nhất này. Thỉnh thoảng khi nghe tiếng báy may oanh tạc của giặc sắp đến gần, mấy người lớn bảo "Sơn, ngừng tập đàn ngay! Máy bay giặc sắp đến rồi kìa!"
Dân làng thường hay chỉ cho mọi người biết cách phân biệt tiếng động của máy bay. Nếu một chiếc máy bay đang bay trên bầu trời là của Mỹ, tức là máy bay đó đang đi ném bom, nếu là của Liên Xô thì đó chỉ là máy bay đi trinh sát, thăm dò tình hình mà thôi, và âm thanh của 2 loại máy bay này có khác nhau. Sơn cũng có thể phân biệt được tiếng động cơ của hai loại máy bay này, nếu là tiếng động cơ của máy bay Liên Xô, anh vẫn tiếp tục ngồi tập đàn. Song, mấy người lớn lại rất thận trọng, hễ nghe tiếng động cơ máy bay hay tiếng bom dội từ đằng xa là họ liền giục đám trẻ con chui xuống hầm.
"Nhanh lên, nhanh lên, chui vào hầm ngay!"
"Chừng nào máy bay đi khỏi mới được chui ra đấy nhé!"
Nhà nào cũng tự đào cho mình một cái hầm ở dưới gầm giường, do hầm nằm dưới lòng đất nên rất ẩm thấp, bẩn và có rất nhiều muỗi. Bọn trẻ con rất ghét chui vào hầm, nếu không có người lớn thúc giục thì chúng cũng chẳng thèm chui xuống đó, mặc cho tiếng bom đang rền vang.
Một lần nọ, một máy bay Mỹ bị quân đội Việt Nam bắn tên lửa, nổ tan xác. Bọn trẻ con đồng loạt nhảy cẫng lên reo hò:
"Hoan hô!"
Và chúng đi lượm mấy cái dù còn sót lại, cắt vụn ra mà chơi. Chiến tranh, chết chóc xảy ra như cơm bữa, Sơn không biết bao giờ mới có hòa bình.
Việt Nam bị nước khác đô hộ trong một thời gian dài, chiến tranh vẫn liên tục xảy ra. Nhà nước ra sức kêu gọi những tấm lòng yêu nước cùng nhau giành lại nền độc lập. Và vai trò của âm nhạc tuyên truyền, cổ động rất được xem trọng. Những người được nhà nước cho đào tạo âm nhạc bài bản, hoặc những người có tài năng về âm nhạc, sau khi ra trường sẽ được tập hợp lại để đi biểu diễn khắp nơi, từ thành phố về tới thôn làng. Trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt như thế, họ đi từ làng này sang làng nọ để ca hát, kêu gọi lòng yêu nước của người dân. Việc vận chuyển cây đàn piano rất khó khăn, nên học sinh chuyên học về piano, sẽ đổi sang học đàn accordeon. Sơn cũng học nhạc cụ này từ năm 15 tuổi.
Lúc đầu, khi thầy trò mới sơ tán đến làng này, vẫn chưa có cây đàn piano. Từ Hà Nội đến làng Xuân Phú, phải băng qua 4 con sông, hầu hết những cây cầu ở đây đều bị ném bom tan tành hết rồi, nên việc vận chuyển cây đàn này trên đường bộ là điều rất khó khăn.
Một ngày nọ, bà Liên mừng rỡ nói với Sơn rằng:
"Sơn, cây đàn sắp đến đây rồi. Là cây đàn piano tủ của nhạc viện đấy. Người ta dùng xe bò chở nó đến."
Sơn chờ điều này đã lâu lắm rồi, chờ đến dài cổ.
Hà Nội cách ngôi làng này 70 cây số, nếu đi bằng ôtô thì sẽ đến đây nhanh chóng thôi nhưng đằng này, người ta vận chuyển bằng xe bò, vì chỉ có xe bò mới có thể chở được những cây đàn như piano.
Hôm nay là ngày mấy cây đàn đó tới nơi, Sơn chạy ra bờ sông chờ đợi, khuôn mặt đầy vẻ lo ngại. Một lát sau, anh nhận thấy, ở phía bên kia sông, có cái gì đó đang di chuyển, nó rung lắc dữ dội, và đang tiến về phía bên này. Có ai đó hét lớn
"A, xe bò, xe bò tới rồi, đàn piano tới rồi!"
Bọn trẻ con reo hò, người lớn, ai cũng mặt mày hớn hở. Con bò từ từ lội qua dòng nước, chiếc xe kéo bị ngập nước, cây đàn bị ướt hết, trông như nó sắp rơi ra:
"Cố lên! Cố lên!"
Mọi người cổ vũ cho con bò tội nghiệp đang gắng sức. Cuối cùng nó cũng kéo xe lên được bờ, cây đàn cũng đã xuất hiện. Nhưng dây đàn thì đứt, bàn đạp bị gỉ sét, đầu cần cũng không có, khi kéo được cây đàn lên thì nó cũng chẳng còn nguyên vẹn. Thế là mọi người cùng nhau mò mẫm sửa lại nó. Nhiều ngày sau, cây đàn cũng sửa xong. Học trò thay phiên nhau đàn, cuối cùng Sơn cũng có thể chạm tay vào những phím đàn, chỉ có khi đàn, anh mới tạm thời quên đi cái thảm cảnh chiến tranh đang diễn ra từng ngày.
Chương 5: Kỷ thuật nấu cơm điêu luyện
Công việc của Sơn ở nơi lánh nạn này rất là nhiều. Bà Liên thì bận rộn với việc dạy học, nên Sơn phải đảm nhiệm hết những công việc lặt vặt hàng ngày. Cái việc tốn nhiều thời gian nhất là nấu cơm. Sơn đã được mọi người trong làng chỉ cho cách nhóm lửa, để lửa sao cho cơm nấu không bị khê.
Thứ dùng để đốt là lá tre, trong làng có nhiều tre lắm, đâu đâu cũng thấy tre. Mỗi khi có gió mạnh, lá tre rơi rụng rất nhiều. Vì vậy, Sơn rất thích có gió mạnh vào mỗi tối, để sáng hôm sau, anh sẽ có thể gom đống lá lại, đem đi nhóm bếp. Lá tre rất bén lửa nên việc nấu cơm cần có một kỹ thuật "siêu đẳng" để cơm không khê, phải biết giữ sao cho lửa không quá lớn cũng không quá nhỏ. Tay trái bỏ lá vào lửa nhóm bếp, tay phải xới cơm cho tơi, anh làm điều đó một cách thuần thục. Nếu nước quá ít, anh sẽ phủ lên nồi nhiều lớp lá, bên dưới để lửa mạnh, như vậy thì cơm sẽ rất ngon.
7 tuổi, Sơn đã nắm vững được "kỹ thuật" này, và anh rất lấy làm thích thú. Ngoài ra còn một "kỹ thuật" đặc biệt hơn nữa là việc đi bắt cua đồng.
Trong chiến tranh, vì hoàn cảnh khó khăn nên bữa ăn của mọi người rất đạm bạc, do vậy mà không đủ chất đạm. Vì thế, bọn trẻ thường hay đi bắt mấy con cua đồng nhỏ để bổ sung cho bữa ăn của mình. Đặc biệt là vào những ngày oi bức, rất thích hợp để bắt cua. Mỗi khi trời nóng, mấy con cua này sẽ đào một cái lỗ sâu rồi chui vào bùn. Nếu thọc tay vào cái lỗ, dù chỉ một chấn động nhỏ thôi, mấy con cua cũng sẽ tự vệ bằng cách kẹp vào ngón tay đó.
Cánh tay của Sơn thì nhỏ, và gầy nên anh có thể thọc tay vào sâu trong hang; đầu ngón tay anh đang tiến gần đến con cua, anh từ từ, khéo léo lôi ra một con cua thật to và nói: "Hôm nay ta sẽ bắt mày làm thịt! Và tối nay mình có thể ăn được món cua đồng rồi!"
Sơn cười đắc ý. Nhưng mà con cua đồng thì lại quá nhỏ, không đủ chia phần cho mọi người trong nhà. Những lúc như thế này thì người ta sẽ cho thật nhiều muối khi chế biến món cua đồng, vì khi ăn mặn quá thì mọi người sẽ cảm thấy no bụng.
Bữa cơm của người Việt Nam khi đó cơ bản là gồm cơm và nước mắm. Mọi người thường hay nói đùa với nhau rằng hai loại thực phẩm này chính là nguồn năng lượng cung cấp cho người dân Việt Nam để họ giành được chiến thắng trong những cuộc chiến tranh khốc liệt. Nước mắm là gia vị làm từ cá, hầu như món ăn nào của Việt Nam cũng có sử dụng nước mắm, nó rất giàu chất đạm. Cơm và nước mắm, sự kết hợp giữa văn hóa nông nghiệp và văn hóa ngư nghiệp này đã cho ra đời những món ăn Việt Nam thật tuyệt vời.
Dạo gần đây, người dân Hà Nội được trợ cấp lương thực. Cứ 2, 3 tháng một lần Sơn và mẹ ra Hà Nội để nhận lương thực.
Hai mẹ con đi trên chiếc xe đạp cũ kỹ, lại đèo thêm bao gạo nên rất khổ. Một lần nọ, khi chạy đến gần bờ sông, thì ở đó có một con lạch nhỏ, Sơn bẻ tay lái tránh nó nhưng không may, cả lương thực, xe và người đều té xuống dòng nước.
Từ Hà Nội trở về làng thì phải băng qua 4 con sông, các cây cầu ở đây đều bị phá hỏng nên mọi người phải chèo đò qua. Để đi đến chỗ con đò này cũng khá vất vả. Chất đồ đạc lên đò, chở đi rồi lại vác xuống. Trong lúc máy bay giặc chưa phát hiện thì phải đi thật nhanh chóng. Sơn thì nhỏ con, lại ốm yếu, vì vậy công việc này khá là nặng nhọc. Phần lương thực được cấp phát có quy định mỗi tháng là 100g đường, 200g thịt, 10kg gạo. Đó là khẩu phần dành cho những học sinh bộ môn piano, còn những học sinh học khí nhạc hay thanh nhạc thì cần nhiều sức hơn nên họ sẽ được tăng thêm phần thịt là 400g. Ngoài ra, Sơn còn đảm trách việc nuôi thêm mấy con gà. Vì không đủ thức ăn để nuôi chúng nên hàng ngày Sơn phải đi bắt giun đất để làm thức ăn cho gà. Sơn thường lấy một ít trứng, số còn lại để ấp. Một hôm, một người mách cho Sơn biết "hôm nay trứng sẽ nở". Sơn chạy đến chuồng gà, nhìn các chú gà con thật xinh xắn, Sơn thấy rất vui.
"Chà, sao mà đáng yêu thế! Ngày mai tao sẽ đi bắt giun cho chúng mày ăn nhé!"
Chương 6: Bản Mazurka một đêm trăng tròn
Ngoài âm nhạc ra, Sơn còn thích môn toán. Lúc 10 tuổi, anh đã tham gia cuộc thi toán được tổ chức trong làng, và đoạt giải nhất. Bất cứ là trò chơi gì thì anh cũng nhanh chóng nắm bắt được luật chơi và luôn trở thành người chiến thắng.
Trong làng, từ người lớn đến trẻ con, nếu một ai đó gặp khó khăn gì thì mọi người sẽ cùng nhau giải quyết. Vì thế mà Sơn luôn có cảm giác như đang sống trong một đại gia đình
"Tuyệt quá, mọi người lúc nào cũng tốt với mình. Vì vậy, mình cũng phải làm gì đó để đền đáp họ. Mình có thể làm gì nhỉ!"
Sơn cảm thấy tình người sao thật ấm áp, thân thương đến thế. Cuộc sống dù khó khăn thật nhưng anh không hề cảm thấy cực khổ, Sơn nghĩ: "Mình nghèo quá, cái gì cũng không có, chỉ có âm nhạc thôi! Chỉ có âm nhạc mới vực dậy tâm hồn mình!"
Vào một đêm trăng tròn, trong làng có diễn ra một buổi văn nghệ. Bà Liên nói to:
"Nào, đêm nay mọi người hãy ra ngoài đi, hãy lắng nghe tiếng nhạc dương cầm mà chúng tôi sắp biểu diễn ngay sau đây! Vâng, ngồi chỗ nào cũng được!"
Người lớn, trẻ con, tất cả đều chạy ra ngoài, người ngồi trên cỏ, người bệt xuống đất... tất cả đều háo hức chờ đợi buổi văn nghệ bắt đầu. Sơn cũng đang ngồi trên cỏ, anh ngước lên nhìn bầu trời, hôm nay trăng thật đẹp, ánh trăng sáng rực giữa bầu trời đêm. Và lúc này đây chỉ có ánh sáng của trăng và của nến. Bà Liên mở toang cánh cửa sổ, bà đàn bản Mazurka của Chopin. Mọi người chăm chú lắng nghe. Sơn nằm xuống, ngước mặt nhìn bầu trời, những chòm sao lấp lánh như muốn xuống đây để thưởng thức âm nhạc; khung cảnh lúc này thật lung linh, huyền ảo, thiên nhiên và âm nhạc như hòa làm một.
"Thật tuyệt! Giai điệu mới mượt mà làm sao! Phải chi mình cứ được nghe tiếng đàn này mãi..."
Chopin là một nhà soạn nhạc vĩ đại người Ba Lan, ông đã sáng tác rất là nhiều tác phẩm mang đủ thể loại nhạc: mazurka, polonaise, valse, tarantella, ecossaise...
Mazurka có xuất xứ từ vùng Masovia, là điệu múa dân gian của Ba Lan, thể loại nhạc Mazurka vốn không dễ thể hiện. Trong cuộc thi piano Chopin, người ta vẫn đặt ra giải "Mazurka", phần thưởng sẽ trao cho thi sinh nào thể hiện bản nhạc Mazurka hay nhất. Đối với người Ba Lan cũng như đối với Chopin, Mazurka có ý nghĩa thật đặc biệt. Chopin đã để lại cho làng nhạc cổ điển trên 50 bản nhạc Mazurka.
Nơi Đặng Thái Sơn đang ở là Hà Bắc, một vùng đất nổi tiếng với các bài ca quan họ. Quan họ là thể loại dân ca tiêu biểu của miền Bắc Việt Nam. Hình thức hát là hai bên nam – nữ hát đối nhau. Các câu hát có thể được chuẩn bị sẵn, nhưng khi đối đáp nhau thì thường dựa trên khả năng ứng biến của hai bên. Vào mỗi dịp Tết Nguyên Đán, người ta lại tổ chức lễ hội hát quan họ khắp vùng. Vào cái hôm tổ chức văn nghệ làng, mấy người già đã hát vài bài ca quan họ. Sơn xúc động lắm, thể loại nhạc dân ca đó cùng với nhạc Mazurka của Chopin dường như đã khắc sâu trong lòng anh.
 Ikuma Yoshiko
Dịch giả: Tri Thức Việt
Nguồn: diaoc.tuoitre.vn
 Theo http://vnmusic.com.vn/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Từ lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đến đấu bò tót Tây Ban Nha: Tương đồng và khác biệt

Từ lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đến đấu bò tót Tây Ban Nha: Tương đồng và khác biệt Mỗi nền văn hóa đều phản ánh cách một cộng đồng nhận thức, ...