Đinh Thị Như Thúy và
con đường nụ hoa phải đi
“Trong khu vườn người đàn bà tên Thúy” (Nguyễn Quang
Thiều) ấy mọc lên rất nhiều cây lá, đặc biệt là nở rộ rất nhiều các loài hoa.
Xanh xanh những lá rừng xanh, trắng nõn hoa cà phê và vàng rực những dã quỳ… Và
gió. Gió xao xác, hoang dã, cuồng nộ, bất an… Những ngọn gió đầy thân phận. Những
cây lá chứa vạn kiếp người. Những nụ hoa đi suốt một quy trình. Đi qua mưa nắng,
phong ba để vượt lên, ủ mầm, bung nở. Những thân phận người hoài nghi, buồn bã,
tuyệt vọng,… lầm lũi đi qua cuộc đời với tất cả những toan lo để “tươi trẻ hoài
hoài”. Trong bốn bề lộng gió và hoa, người đàn bà đầy thân phận ấy đã nhận
ra: “con đường nụ hoa phải đi” dù phải trải qua những mưa dập gió vùi…
Con đường nụ hoa phải đi…
Người đời thông thường chỉ biết chiêm ngưỡng hoa, ca ngợi những thành công, ít người chiêm nghiệm về đường đi của một bông hoa, về quá khứ đắng cay mà người thành công ấy đã đi qua. Đinh Thị Như Thúy đã chiêm nghiệm cả một quy trình từ khi cây lá hình thành cho đến lúc nụ hoa bung nở; từ đa đoan, trường đoạn phận người đến một ngày gặt hái thành công.
Trên con đường đi ấy, bao nhiêu chán chường, hoài nghi, bóng
tối, khắc khoải, bất an, nỗi buồn, sự tuyệt vọng… và kể cả cái chết rập rình. Đầu
tiên là nỗi chán chường, mệt mỏi: Với cái nhìn trống rỗng trong gương soi/ Tôi
bắt đầu một ngày dài mệt mỏi/ Một ngày dài nhàn nhạt (Có những ngày).
Cùng những “gánh nặng từng không thể mang nhưng không thể không mang” (Phía
bên kia cây cầu). Trong đó, theo Thúy, cái đáng sợ nhất của con người
chính là sự “hoài nghi”, “không xác định được phương hướng”, “không biết nên
hay không nên” trong cả việc “làm”, cái sự “đi” và cả một tiếng “gọi”: Hoài
nghi hoài nghi, đáng sợ nhất là hoài nghi, đáng sợ nhất là không xác định được
phương hướng, đáng sợ nhất là không biết nên làm hay không nên làm, nên đi hay
không nên đi, nên gọi hay không nên gọi (Krông Pắc, tháng Mười một ngày mười
ba). Hoa lá sinh trưởng trong thiên nhiên, người sống giữa cuộc đời; lá xanh
hoa nở, người vẫn giao tiếp với người… Nhưng tất thảy tất thảy tất thảy đã
không còn yên ả chảy trôi theo nhịp chảy bình thường (Cái gì đã xảy ra giữa
chúng ta).
Trừ mỗi hoa quỳnh, hầu hết các loài hoa đều nở giữa ban ngày
cho con người nhìn ngắm, khen chê dù đời nở tàn của mỗi loài hoa dài ngắn khác
nhau. Hoa cũng như người, để trổ thành bông, để gặt hái thành công, tất phải đi
qua những tháng ngày buồn mênh mông của mùa đông lạnh lẽo: ngoài kia trời
ngày đông lạnh căm màu tro xám (Trận cảm cúm và sự im lặng). Người ta săn
đón hoa, săn đón giờ phút vinh quang khi vinh quang đến, chứ có biết đâu rằng
hoa cũng có mồ côi phận hoa, người cũng mồ côi phận người. Khi cánh hoa trắng
nõn nà rơi xuống, khi con người vĩnh biệt trần gian thì màu trắng khăn tang phủ
đầy nhân gian, cây cỏ: Dưới chân tôi/ Những bông hoa mồ côi/ Những
chấm trắng rơi rơi/ Choàng khăn tang đầu ngọn cỏ (Hoa mồ côi trong
núi). Mùa xuân là mùa của muôn hoa khoe nhau đua nở, nhưng mấy ai biết được,
trong cái sự khoe nở ấy, trong cái duyên dáng hàm tiếu ấy, những hoa kia đã từng
“thở than” trước những “bất thường của thời tiết mùa xuân” bởi sự “trái mùa” của
gió, của mưa cùng những đám mây “xám xịt”, những “lạnh buốt”, “tím tái”, “nứt
môi nẻ chân’ trên thân thể con người khi phải đối diện với “Những ban mai không
có mặt trời”: Không thể không thở than trước những bất thường của thời tiết
mùa xuân, khi tràn ngập đất trời những gió chướng những mưa trái mùa những mây
xám xịt những lạnh buốt những tím tái những nứt môi nẻ chân những áo quần lùng
xùng bao bọc giấu che thân thể (Những ban mai không có mặt trời).
Tất cả đều bất an với sự “vô vọng”, “buốt nhói”: Lao về
đâu những vô vọng nẻo đường/ Dẫu có buông mình vào bão táp/ Dẫu có nhận
về mình phần buốt nhói/ ngả nghiêng (Một ngày tháng sáu). Bao “tù túng ngột
ngạt”, “thắt thỏm” âu lo, “không lối thoát”: Phố huyện tù túng ngột ngạt từng
khối lặng yên không ngừng lớn chèn ép đam mê. Thắt thỏm réo rắt không ngừng vẫn
không lối thoát (Cõi ảo). Đến như “Dâng hiến dã quỳ” vẫn phải trải qua những
“cuồng nộ gió”, người thành tâm vẫn cứ mãi chập chờn, “khắc khoải”, “âu lo”,
“luôn mơ những giấc mơ bất ổn”:…là cuồng nộ gió (…) là bướm hoang là ong rừng
là bước chân của những người đàn bà luôn mơ những giấc mơ bất ổn /…/ Những người
đàn bà mang giấc mơ bất ổn chôn trên sườn đồi đêm đêm chờ mưa chờ quên lãng
nghe trong tiếng sấm khắc khoải có niềm âu lo rồi đồi hoang không còn là đồi
hoang nữa (Dâng hiến dã quỳ). Đó là những giấc mơ “nhiều lần trở lại” với
rợn ngợp “giữa hoang vu” cùng “cảm giác muốn khuỵu ngã” do bị “bỏ rơi và quên
lãng… Và hoảng sợ. Và buồn”: Có một giấc mơ nhiều lần trở lại trong đêm.
Nàng thấy nàng giữa hoang vu. Với cảm giác muốn khuỵu ngã (…). Đó là giấc mơ về
sự bỏ rơi và quên lãng (…). Giấc mơ luôn làm nàng khóc. Và hoảng sợ. Và buồn (Chúng
ta đã không thuộc về thế giới này). Nghĩa là, trên “con đường mà nụ hoa phải
đi” ấy chứa “đầy bóng tối”, đầy “sỏi đá cỏ gai cắt cứa” đớn đau; tạo cho con
người “một cảm giác sợ hãi rợn ngợp bủa vây thảng thốt”. Tiếng nói chỉ còn là
những tiếng “u ơ”, “rền rĩ nghe buồn thảm như tiếng chó tru… tiếng gió rít qua
khung cửa những đêm trời động”:
Đâu đó những con đường đầy bóng tối. Những lối đi lạo xạo sỏi đá cỏ gai cắt cứa dưới chân. Một cảm giác sợ hãi rợn ngợp bủa vây thảng thốt (…). Từ cổ họng nàng chỉ u ơ những tiếng rền rĩ nghe buồn thảm như tiếng chó tru, hay như tiếng gió rít qua khung cửa những đêm trời động (Nơi ngày đông gió thổi).
Nỗi buồn hiện lên bằng những “mảnh tang đen” cùng “vẻ mặt âu
sầu mỏi mệt”, kể cả “bài hát vang lên… cũng mệt mỏi âu sầu” như một câu nhạc Trịnh: …lâu
rồi lại thấy ông chủ quán xuất hiện với mảnh tang đen trên ngực trái, vẻ mặt
cũng âu sầu mỏi mệt, và bài hát vang lên trong quán cũng mệt mỏi âu sầu, như nhắc
nhở hỏi han mỗi con người rằng “còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây” (Những
ban mai không có mặt trời). Bế tắc đến mức chỉ muốn “vùi mặt vào gối chăn” tìm
lấy chính mình để “nghe đơn côi chảy rung rung trong máu”, để tự thú nhận với
chính mình “đời sống thật quá buồn”: Vùi mặt vào gối chăn/ Tìm dấu vết
chính mình/ Nghe đơn côi chảy rung rung trong máu/ Đau đớn thú nhận đời
sống thật quá buồn (Chưa bao giờ ta đến được giấc mơ của nhau).
Trên con đường đi ấy, “tràn ngập quạnh hiu”, đầy mưa gió với
những khuôn “mặt người u uẩn”:
Tràn ngập nỗi quạnh hiu
Khi hoàng hôn buông xuống một màn mưa
Lạnh
Choàng lên mặt người u uẩn (Ngày lạnh).
Buồn, băn khoăn, cô độc một mình “Nơi ngày đông gió thổi”: Người
thiếu nữ đó ngồi một mình trên rẫy./ Cái chòi nhỏ./ Đôi mắt buồn./ Đôi
mắt băn khoăn./ Buồn? (Nơi ngày đông gió thổi). Và thêm một điều đáng
sợ nhất của con người nữa, chính là muốn “buông tay”, “hoang mang” và “tuyệt vọng”
trên “những con đường cứ mịt mờ đích đến” (Bài ca mưa): đáng sợ
nhất/ là mong muốn được buông tay/ khi lòng ta hoang mang/ tìm về
đâu/ những cái nhìn tuyệt vọng (Những bài mùa đông). Để cuối cùng cái
chết hiện lên rõ mồn một, có thể cảm thấy (lạnh toát) và nhìn thấy (trương
phình) được: cái chết lạnh toát đang nở ra trương phình ra như rong tảo
khô ngấm nước (Trận cảm cúm và sự im lặng). Nghe được và cảm nhận được cả
cái “Nhịp chết” đang tiến về gần. “Chậm. Chậm. Bập – biêng. Bập – biêng”: Buổi
sáng. Nghe ban đầu tiếng mưa và tiếng quạ. Nghe vô cùng áo não thê lương./ Rồi
trống chiêng báo tin bắt đầu điểm. Chậm. Chậm. Bập bập – biêng biêng. Bập –
biêng, Bập – biêng (Nhịp chết).
Đến sự nở rộ trên khắp nẻo đường đi như dã quỳ cũng “rã rời
rũ rượi”. Vàng như dã quỳ cũng “thét gào đau đớn câm lặng”. Ôi! “Ai là người hiểu
được nỗi buồn của hoa?”: Những dã quỳ rời rã rũ rượi trong gió đông. Màu
vàng của dã quỳ luôn là lời thét gào đau đớn câm lặng. Ai là người hiểu được nỗi
buồn của hoa? (Nơi ngày đông gió thổi). Trên con đường đi ấy, nhiều loài
hoa đã chết. Và trong cuộc nhân sinh, nhiều người đã chết. Chết trong tư thế phủ
phục, đau đớn, oan khiên: Một buổi sáng. Những người dân đi thăm rẫy phát
hiện một người trong bọn họ đã chết. Trong tư thế quỳ. Đầu gối chạm sát đất…
Họ./ Những người trẻ./ Chán chường./ Rượu./ Trộm cắp./ Chửi bới./
Quấy phá./ Đánh đập vợ con./ Đếm hôm sau, người còn lại thắt cổ treo mình trên
câu sầu riêng giữa bốn bề gió rít (Nơi ngày đông gió thổi).
Đó! “Con đường nụ hoa phải đi” của “người đàn bà tên Thúy” đầy
dẫy những bất trắc, âu lo, cô độc và đau đớn. Nhưng con đường thơ của “người
đàn bà tên Thúy” ấy, từ bước khởi đầu “Cùng đi qua mùa hạ” (2005), đến “Phía
bên kia cây cầu” (2007), “Ngày linh hương nở sáng” (2011), “Trong những lời yêu
thương” (2017) và “Nơi ngày đông gió thổi” (2010 – 2022) lại không đưa con người
vào tuyệt vọng, đau đớn, oan khiên bởi người đàn bà gốc Huế ấy đã nắm được quy
trình nở của một bông hoa, quy luật sống của kiếp con người. Đó là: hoa tất sẽ
“nở bung” để thoát khỏi “bóng tối”, tự khẳng định mình.
Và… nở bung chính là đích của con đường ấy
Đó là “con đường phải đi” chứ hoàn toàn không phải “đường
đi”! Hoa muốn đến kỳ “nở bung”, người muốn vươn tới đích, tất phải trải những
ngày tháng ủ mầm từ “hạt cây” cùng cái giá phải trả để “nuôi giữ một tình yêu”:
Trước mặt là trảng cỏ
Trước mặt là ngút xa
Đã có bao người nuôi giữ một tình yêu
Như nuôi giữ một hạt cây được trao tặng (Những lao xao trong gió).
Cho nên, tất cả phải biết “chờ đợi” vì “sự chờ đợi” sẽ “tràn
ngập” và “nung nóng tất thảy”: “bụi đất chờ đợi”, “cỏ cây chờ đợi”, “lòng người
chờ đợi”, “hạt giống chờ đợi”, kể cả đợi chờ từ “những bào tử của các loài nấm”
đang còn theo gió lơ lửng giữa không trung: Sự chờ đợi đã tràn ngập tất thảy,
sự chờ đợi đã nung nóng tất thảy trong cái nắng vàng óng mật ong, bụi đất chờ đợi
cỏ cây chờ đợi lòng người chờ đợi, những hạt bắp giống ủ đâu đó chờ đợi, những
bào tử của các loài nấm từ mùa trước lửng lơ đâu đó chờ đợi (Chuyện tháng
tư). Tất cả chờ đợi “cơn mưa đầu mùa”, và phải tiếp tục đợi chờ vì bản
thân Cơn mưa đầu mùa luôn vật vã như người đàn bà sinh con so chuyển dạ (Chuyện
tháng tư).
Để “trả giá cho những giọt mật” khi “mùa bướm” đến, người phải
“rờn rợn” khi nhìn ra vườn, suối phải khô cạn, hoa phải “cúi mặt”,… và tất cả
phải “tả tơi”: Mùa bướm/ Tất cả những khung cửa đều mở ra rờn rợn/ Tất
thảy những con suối đều khô/ Tất thảy những bông hoa đều cúi mặt/ Cái
giá phải trả cho những giọt mật/ Là tất thảy tả tơi (Mùa bướm). Dã quỳ
– loài hoa vàng một màu dâng hiến của xứ sở Tây Nguyên “buồn muôn thuở” cũng
đành cúi đầu trong bụi đỏ mùa khô, trong “tháng mười hai lạnh lẽo khô, ngùn ngụt
nắng”… mới làm nên “tín hiệu để mở bung”: …xứ sở buồn muôn thuở bụi mù trời
(bụi lừng lững đi lừng lững dựng từng cột đỏ trên những con đường mòn vắng vẻ
khô khát) tháng mười hai lạnh lẽo khô ngùn ngụt nắng là tín hiệu để dã quỳ mở
bung (Dâng hiến dã quỳ).
Chính vì hiểu được sự gian nan, gập ghềnh đầy truông dốc trên
con đường đi tới, nên “người đàn bà tên Thúy” nơi “xứ sở bụi mù trời” ấy đã gửi
niềm tin của mình vào “tiếng chuông” giáo đường “vui vẻ, réo rắt ngân vang
trong trẻo” cùng hi vọng nó “sẽ làm vỡ toang bầu trời dày đặc mây”, “rót xuống
mặt đất ướt át lạnh lẽo những tia nắng ấm” để có “một mùa đẹp nhất trong năm”:
Và biết đâu chính những tiếng chuông vui vẻ ấy, chính những
réo rắt ngân vang trong trẻo ấy, sẽ làm vỡ toang bầu trời dày đặc mây kia, để
có thể rót xuống mặt đất ướt át lạnh lẽo này những nắng ấm (lẽ ra phải tràn ngập)
trong một mùa mặt trời (lẽ ra phải là) đẹp nhất trong năm (Những ban mai
không có mặt trời).
Từ cái màu trắng tả tơi, rũ rượi, tang chế, vượt qua tất cả,
hoa sẽ hóa sinh, nở “bung từng chùm” trắng đẹp, dịu dàng để cho con người tỏa
sáng “nụ cười” xinh tươi đến “mê hoặc, diệu kỳ, ngây ngất”: Dâng lên dâng
lên bung từng chùm/ Trắng như áo lụa/ Trắng như mây trắng/ Trắng
như nụ cười/ Không nói tỏa hương mà nói là mê hoặc/ Không nói đẹp mà
nói là kỳ diệu/ Không nói ngắm nhìn mà nói là ngất ngây (Trong mùa tưới
rẫy). Lúc đó khu vườn sẽ rộn rã tiếng cười, ngập tràn sức sống vào “ngày nắng mới
sau mưa”, “thách thức” tất cả để “làm tất cả tỏa hương”: Có cảm giác vườn
đang cười. Vườn đang thách thức. Vườn đang dâng lên điệu sống nồng nàn. Và màu
nắng mới đang làm tất cả tỏa hương. Không gì thích bằng hương cỏ cây trong ngày
nắng mới sau mưa (Rơi như là giọt nước). Lúc đó, ta mới chợt ngộ ra rằng:
“Sự cứu rỗi của cà phê không chỉ ở trong trái chín” hay “Trong từng giọt sậm
thơm lừng mỗi sáng”, mà sự cứu rỗi ấy phải khởi lên từ “mùa tưới”, “mùa hoa”,
mùi “đất đai nồng nã”; trong cả những “ngọn gió hoang”, “vượt trùng trùng xa
ngái”, tìm đến với người: Bạn biết không? Sự cứu rỗi của cà phê không chỉ ở
trong trái chín. Trong từng giọt sậm thơm lừng mỗi sáng. Mà ở đây cả trong mùa
tưới. Mùa hoa. Trong đất đai nồng nã. Trong ngọn gió hoang. Mang nỗi nhớ bay
đi. Vượt trùng trùng xa ngái. Tìm đến một người (Hoa trắng tháng Hai). Ta
mới hiểu, tâm trạng của cây lá “chờ mưa” như thế nào, người Tây Nguyên trông
mưa đến nhường nào, và họ vui sướng vì đường về cơn mưa tràn ngập/ hả hê
chảy trôi, hả hê nuốt từng giọt ấm (Một vị trí buổi chiều) để mang đến “sự
nẩy mầm và sinh trổ”: Khi mưa xuống. Thích nhất là màu đất nâu sậm ướt. Có
gì đó mềm mại và đầy hứa hẹn. Về sự nẩy mầm và sinh trổ (Chờ mưa).
Lúc đó, những vòng quay tuần hoàn sinh trưởng sẽ khép lại dần,
“một niềm tin” xuất hiện dù mùa thu hoạch thành công còn xa ngái phía chân trời: Vườn
uống cạn lá nõn. Những nõn búp đẫm hơi sương buốt. Mặt đất khẽ rung như lồng ngực
người xao động./ Một vòng quay thu dần. Một vòng nhỏ nữa. Như nhị hoa./ Một niềm
tin. Đặt phía chân trời xa ngái (Có thể là bình yên). Và mưa vẫn tiếp tục
rơi, dù “rơi trong tang thương” hay “lạnh dần nỗi nhớ”, “rơi tha thiết cho cây
cỏ nẩy mầm xanh” để nhận ra, chính cái chết hóa sinh thành sự sống mới, “Hạt
cây chỉ thật sự chết đi khi đã được nẩy mầm”: Rồi mưa vẫn tiếp tục rơi
trong tang thương làm cũ dần nấm mộ mới. Rồi mưa rơi làm lạnh dần nỗi nhớ. Và
mưa rơi tha thiết cho cây cỏ nẩy mầm xanh. Hạt cây chỉ thật sự chết đi khi đã
được nẩy mầm (Rồi lạnh dần nỗi nhớ). Sau cơn mưa, mặt trời hiện lên “rực rỡ
dịu ngọt” làm con người “choáng ngợp”, “ngất ngây say” như thể “rượu vang” vì
“ngày đẹp đã bắt đầu”, “âm thanh cuộc sống đang dâng ngập trái tim”: Như
mặt trời sáng nay. Sau mưa. Rực rỡ dịu ngọt. Choáng ngợp lạ thường./ Cứ như thể
mặt trời đã biến thành rượu vang và ánh nắng chỉ cần chiếu vào ai thì người đó
sẽ say ngây ngất./ Một ngày đẹp sẽ bắt đầu như vậy./ Và âm thanh của cuộc sống
dâng ngập trái tim (Và như thế chúng mình hiện hữu).
Khi “con đường mà nụ hoa phải đi” cùng người về đến đích, ta
nhận ra tất cả đều là “búp nõn”, là thành quả ban đầu. Và bốn mùa trong năm đều
có thể sinh sôi chứ không phải “chỉ mùa xuân”: Như người mộng du chờ bóng
tối, nàng chờ đêm. Không phải đêm nào cũng có hoa quỳnh – những đóa quỳnh tháng
năm run rẩy. Nhưng có một người phương xa luôn đến. Với những câu chuyện về cỏ
cây, côn trùng, và đất đai nóng ấm. Những dâng lên của nhựa cây tạo thành búp
nõn. Mùa sinh sôi không chỉ mùa xuân (Nơi ngày đông gió thổi). Lúc đó,
chúng ta không còn “ngây thơ” trước những thử thách đến tưởng chừng tuyệt vọng,
mà “chúng ta đều hiểu điều gì đang đến”. Đó là “mùa hoa cuối… đẹp đến ngẩn ngơ…
và tươi trẻ hoài hoài”: Thực chất chẳng ai trong chúng ta ngây thơ. Chúng
ta đều hiểu điều gì đang đến/…/Ôi mùa hoa cuối./ Những mùa hoa luôn đẹp đến
ngơ ngẩn./ Luôn ngắn ngủi./Và tươi trẻ hoài hoài. (Nơi ngày đông gió
thổi).
Một vài cảm nhận ban đầu
Hiểu được “con đường nụ hoa phải đi” của thơ Đinh Thị Như
Thúy, ta mới hiểu vì sao bài thơ đầu tiên “Ý nghĩ ban mai” của tập thơ đầu tiên
“Cùng đi qua mùa hạ” (2005) với Rã rượi xác quỳnh đêm qua vừa nở, và
câu cuối cùng trong bài cuối cùng “Người đàn bà không giấc ngủ” là Dẫu giấc
ngủ sẽ thôi không về nữa/Mỗi ban mai vẫn vàng rực mặt trời. Ta mới hiểu tại
sao bài thơ đầu tiên “Một ví dụ về vòng quay mùa hè” của tập thơ thứ hai “Phía
bên kia cây cầu” (2007) với trạng thái chán chường: Thật dài sao những ngày
công việc xếp hàng, đến phải ngột ngạt kêu lên hãy sống giùm thở giùm, và
bài thơ cuối cùng của tập lại có tên gọi rất lạc quan là “có cơn bão không đi
vào đất liền”. Ta mới hiểu nguyên nhân vì sao bài thơ đầu tiên của tập thơ
“Ngày linh hương nở sáng” (2011) có tên “Cõi ảo” với tất cả sự “tù túng”,
“ngột ngạt”, “không lối thoát” lại có câu kết là “để thoát khỏi bóng
tối nở bung là con đường nụ hoa phải đi” và bài thơ cuối cùng được lấy làm
tên chung cho cả tập thơ với câu kết là “Ngày linh hương nở sáng khu vườn”. Ta
cũng hiểu vì sao bài thơ đầu tiên của tập thơ “Trong những lời yêu thương”
(2017) có tên “Không phải ai cũng có thể tồn tại sau khi rơi xuống” với tất cả
sự “thương xót” cùng “cảm giác một mình luôn thường trực” và
bài thơ cuối cùng lại mang tên “Tất cả những điều đó đâu ngăn cản chúng ta cảm
thấy hạnh phúc”. Và ta càng hiểu, vì sao khi mở đầu trường ca “Nơi ngày đông
gió thổi” (2010 – 2022) “là buổi sáng của một ngày đông đến sớm. Gió mang
hơi lạnh chảy tràn trề” và kết thúc trường ca bằng đoạn thơ: Nàng
nghĩ: Kỳ diệu thay cho màu hoa ấy. Xuyên qua giá lạnh để dâng lên. Không quyền
lực nào ngăn trở ràng buộc được (…) Nàng thì thầm:/ Vẫn giấc mơ đó sao? Anh?/…/
Vẫn giấc mơ đó./…/ Ở đây?/…/ Nơi này/…/ Nơi kia/… Và mãi mãi.
Theo tâm sự của Thúy thì trường ca “Nơi ngày đông gió thổi”
được viết xong vào năm 2010, nhưng đến năm 2022 mới xuất bản. Dẫu sao thì một
văn bản văn học khi được xuất bản và được người đọc tiếp nhận mới trở thành một
tác phẩm đúng nghĩa. Hơn nữa, xét về thể loại, đây lại là tập trường ca đầu
tiên sau 4 tập thơ, mà đã là một trường ca thì nó phải mang tính trọn vẹn của cấu
trúc tác phẩm từ mở đầu đến kết thúc. Vì thế, tôi xin được phép đi theo con đường
trình tự thời gian tác phẩm được công bố (như trên) mà không theo thời gian
sáng tác của tác giả. Tất nhiên, vì phải trải qua quá nhiều trắc trở, gập ghềnh,
nên con đường đi ấy trong thơ Thúy không phải lúc nào cũng suôn sẻ theo đúng
quy trình. Khi thì nó đến đích trong chỉ một bài thơ; có khi kết thúc bài thơ
(một đoạn đường) rồi, nó đột nhiên dừng lại để bâng khuâng tìm hướng mới; khi
thì nó đến đích ở những bài, những câu cuối cùng trong một tập thơ; và có khi
là cả một chặng đường thơ.
Nhưng với 5 tập thơ đang có, đây chỉ mới là một chặng để dừng
lại, nghĩ suy rồi bước tiếp, dù ai cũng biết, trên chặng đường đã đi qua, Đinh
Thị Như Thúy đã khẳng định được vị trí của mình trong thơ ca đương đại, gặt hái
rất nhiều thành công bằng những giải thưởng uy tín đã được trao tặng. Điều này
cũng giúp ta lý giải được vì sao bài thơ “Đêm luôn thừa thổn thức” được viết mới
nhất (ngày 9/5/2017) trong 5 tập thơ, tác giả không đặt ở cuối tập mà chỉ đặt ở
ngay trước bài thơ cuối tập có tên: “Tất cả những điều đó đâu ngăn cản chúng ta
cảm thấy hạnh phúc”. Nghĩa là, tác giả rất có chủ ý về con đường đi của thơ
mình, trong cấu trúc chung của các tập thơ. Và với “Đêm luôn thừa thổn thức”,
chúng ta vững tin rằng, con đường thơ của Thúy sẽ tiếp tục còn trăn trở, “thổn
thức”, vượt qua “Những ban mai không có mặt trời” cùng “Cái chết của những bông
hoa” để biết rằng: Khi những hoa vàng trải dài bất tận/ Khi da thịt mở ra/
Và trái tim lên tiếng (Mùa xuân náo động).
“Và trái tim lên tiếng” chính là chặng đường bước tiếp trên phần đường còn lại của chính nàng.
Còn rất nhiều điều để nói về thơ Đinh Thị Như Thúy, nhất là tư duy thơ và những biểu hiện nghệ thuật. Bài viết này, với cái nhìn tổng thể ban đầu, xin được kết luận rằng: Độ sâu thâm trầm triết lý của dòng chảy Hương giang (vùng đất cố đô quê quán) hợp lưu cùng hơi thở hiện đại của những chiếc cầu bắc qua Sông Hàn (nơi thành phố nàng đang sống và công tác) rồi tan hòa trong những ám ảnh Tây Nguyên (nơi nàng gắn bó cả một quãng thanh xuân rực rỡ), thực sự đã làm nên một phong cách thơ riêng biệt, độc đáo trong khu vườn thơ rậm rạp của nữ thi sĩ họ Đinh. Sức chinh phục của thơ Đinh Thị Như Thúy chính là sự vô tư bày tỏ, y hệt loài “dã quỳ tồn tại như một dâng hiến không cần lý do” (Dâng hiến dã quỳ) và “Nở bung là con đường nụ hoa phải đi” (Cõi ảo)!.
Tài liệu sử dụng:
1. Cùng đi qua mùa hạ, (Tập thơ), Đinh Thị Như Thúy, Nxb
Văn nghệ, 2005
2. Phía bên kia cây cầu (Tập thơ), Đinh Thị Như Thúy, Nxb
Phụ nữ, 2007
3. Ngày linh hương nở sáng (Tập thơ), Đinh Thị Như Thúy,
Nxb Hội Nhà văn, 2011
4. Trong những lời yêu thương (Tập thơ), Đinh Thị Như
Thúy, Nxb Hội Nhà văn, 2017
5. Nơi ngày đông gió thổi (Trường ca), Đinh Thị Như Thúy,
Nxb Hội Nhà văn, 2022
Quảng Ngãi, 4/12/2022
Mai Bá Ấn
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét