Văn Cao, một tiếng thơ
"Vang vang cả lòng cả đáy"
“Tôi là ai? Bản ngã tôi ở đâu? Tôi sống trên đời
này để làm gì và tôi có thể làm gì? Tôi còn không, tôi về đâu trong sự trôi chảy
của thời gian? v.v... và v.v…
Trong số đó, câu hỏi chiếm nhiều suy tư nhất của Văn Cao có lẽ là câu hỏi về giá trị của việc được sống thực, giá trị của tồn tại người trong toàn bộ những giới hạn của nó: giới hạn trước xã hội người đầy đa tạp đa đoan, giới hạn trước cái mênh mông của vũ trụ, giới hạn trước cái thản nhiên bất tuyệt của thời gian”. Đó là câu hỏi mà Văn Cao luôn “tự đặt ra cho mình, với tư cách một con người và tư cách một người nghệ sỹ, một người sáng tạo”. Kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố nhạc sỹ Văn Cao (1923 – 2023), van.vn trân trọng giới thiệu đến bạn đọc bài viết “Văn Cao, một tiếng thơ ‘vang vang cả lòng đáy” của nhà phê bình Hoài Nam.
Trong lịch sử của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại và
đương đại, tính cả hai mươi năm văn nghệ miền Nam khi đất nước bị chia cắt, thật
khó có thể tìm ra được một trường hợp tương tự Văn Cao (1923-1995). Bởi ở ông tất
cả dường như đều là vượt ngưỡng: sự cường tráng của sức sáng tạo, sự đa dạng về
tài năng thiên phú, và tinh thần tiên phong khai mở những lối mòn để rộng đường
cho những giấc mơ, những khát vọng tự do tung cánh. Di sản nghệ thuật của ông,
mỗi khi được tính sổ, dễ khiến người ta phải choáng ngợp vì vẻ đẹp và sự giàu
có của nó. Về nhạc, đã có cây đại thụ Phạm Duy, người bạn cố tri, khẳng định
Văn Cao là số một về các ca khúc trữ tình lãng mạn, các hành khúc và trường ca.
Về họa, đã có danh họa Tạ Tỵ xác nhận Văn Cao là người rất sớm, có lẽ sớm nhất,
và đầy ấn tượng, đưa trường họa lập thể vào hội họa Việt Nam. Về thơ, Văn Cao
viết không nhiều – gần sáu mươi bài thơ, trong đó có vài trường ca – nhưng là
những thi phẩm vừa in dấu lịch sử chuyển động suốt một đời người, dọc theo thế
kỷ, vừa nhấn thật sâu vào tư tưởng và tâm hồn để biến nó thành “Một tiếng vang
vang cả lòng cả đáy” (Trường ca Những người trên cửa biển). Ở bài viết
này, tôi chỉ xin điểm vài ý về cái di sản thơ rất đặc sắc của Văn Cao. (Tất cả
các trích dẫn thơ trong bài đều lấy từ sách “Văn Cao, tác phẩm thơ”, NXB Hội
Nhà văn, 2013).
Đường thơ Văn Cao được khởi đi từ giai đoạn cuối mùa của Thơ
Mới, với những bài thơ như “Li khách”, “Linh cầm tiến”, “Ai về Kinh Bắc”, “Đêm
ngàn”, “Đêm mưa” v.v… ra đời trong quãng thời gian từ 1939 đến 1941. Đó đúng là
những thi phẩm mang điệu hồn và âm sắc của Thơ Mới – Thơ Mới lãng mạn chứ không
phải Thơ Mới tượng trưng, siêu thực – mà theo như cảm nhận chủ quan của nhà phê
bình mỹ thuật Thái Bá Vân: “Nó đẹp một nỗi buồn xa vắng”. (Thái Bá Vân, bài “Như
một viên gạch kỳ cựu nung ở độ lửa già”). Tuy nhiên cũng không có gì thật đặc
biệt, những bài thơ ấy dễ bị lẫn vào hàng trăm bài thơ “đèm đẹp” khác mà Thơ Mới
đã từng sản sinh trong lịch sử bột phát của mình. Phải chờ đến “Một đêm đàn lạnh
trên sông Huế”, bài thơ mà Văn Cao viết vào mùa thu năm 1941, thì Văn Cao mới
thực sự chiếm lĩnh cái đỉnh điểm của trường thơ lãng mạn. “Một đêm đàn lạnh
trên sông Huế” của ông là bài thơ có thể sánh ngang với những tuyệt phẩm Thơ Mới
theo motif Đàn – Đêm – Trăng – Nước, như “Nguyệt cầm” của Xuân Diệu hay “Đà
giang” của Vũ Hoàng Chương. (Bản thân tôi từng viết một tiểu luận phân tích khá
kỹ về chủ đề này, có tên “Những vọng âm từ một bài thơ”, in trên báo Văn nghệ,
năm 2022).
Cuối năm 1944, Văn Cao tham gia Việt Minh, với nhiệm vụ đầu
tiên là viết một hành khúc, sau này sẽ được biết đến với cái tên “Tiến quân ca”,
tức Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa kể từ ngày 13 tháng 8 năm 1945.
Sự dấn thân này của Văn Cao, cũng như của phần đông các văn nghệ sỹ yêu nước và
tiến bộ khác mà ta biết, không chỉ là một hành động chính trị, mà nó còn có ý
nghĩa như một sự chuyển dịch nhãn quan thẩm mỹ, một sự thay đổi ý thức sáng tạo
nghệ thuật. Người nghệ sỹ trong ông đã không còn tìm kiếm cái đẹp trong buồn,
trong cô liêu và thơ mộng, ở những thiên đường diễm ảo như Thiên Thai, Suối mơ,
hay trên dòng Tiêu kim thủy (sông Hương) nữa. Mà đẹp, chính là ở cái thực tại
này, ở cái cuộc sống đang sôi lên, réo lên tiếng đòi cơm áo của những lớp người
cần lao bao đau khổ, tiếng đòi độc lập của một dân tộc đã phải chịu cảnh nô lệ
rên xiết suốt gần trăm năm. Hai bài thơ của Văn Cao: “Chiếc xe xác qua phường Dạ
Lạc”, viết năm 1945, về nạn đói chết người ở miền Bắc, và bài “Ngoại ô mùa đông
năm 1946”, viết năm 1946, về Hà Nội tiêu thổ ngay sau ngày toàn quốc kháng chiến,
là minh chứng hiển hiện cho sự chuyển đổi trong thơ Văn Cao thời đầu cách mạng,
cách mạng nhưng vẫn rất Văn Cao.
Bài “Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc”, có thể nói, là một hiện
thực huyền ảo, khi chiếc xe chở xác những người chết vì đói đi giữa khu phố ăn
chơi mà như đang lăn bánh vào chốn u tỳ địa ngục. Những người nằm trên xe là
xác chết, nhưng những người ở hai bên hàng phố – đào nương, kép đàn – trong con
mắt kinh sợ và cảm giác mê mụ tê dại của nhà thơ, cũng chỉ là những thây người
đang sống. Tất cả mọi hình thể, hoạt động, màu sắc, âm thanh ở tọa độ không
gian này đều bị nhúng vào bầu khí tàn rữa, hấp hối, chết chóc, ma quái. Còn bài
“Ngoại ô mùa đông năm 1946”, là một hiện thực suy tưởng. Theo họa sỹ Văn Thao,
con trai của nhà thơ, thì Văn Cao viết bài thơ này ngay trên chiến lũy Ô Chợ Dừa,
khi ông bí mật về Hà Nội công tác sau ngày toàn quốc kháng chiến. Ô Chợ Dừa,
Khâm Thiên lúc đó sạch bóng người, chỉ còn ngổn ngang những nhà đổ, tường xiêu,
gạch vụn. Nhưng chính trong cái khung khổ không gian, thời gian ấy, Văn Cao đã
hồi nhớ và tưởng tượng về sự lột xác của một khu phố ăn chơi xưa, về những con
người cần lao đói khổ, những con người trụy lạc rạc rài đã vươn cao trong một
cơn biến thiên vĩ đại của lịch sử. Họ đã dũng cảm chiến đấu, đã chấp nhận chết
đi để một cuộc sống mới được sinh thành cùng đất nước. Nói về tính suy tưởng và
âm hưởng bi tráng lẫm liệt của giọng điệu thơ, có thể khẳng định, bài “Ngoại ô
mùa đông năm 1946” của Văn Cao, và một bài thơ cùng chủ đề với nó, bài “Hải
Phòng ngày 19 tháng 11 năm 1946” của Trần Huyền Trân, chính là những thi phẩm
vào loại xuất sắc nhất của thơ Việt Nam giai đoạn chống Pháp và thơ cách mạng
Việt Nam nói chung.
Thế nhưng, phát triển theo hướng này, phải nhận rằng, tác phẩm
kết tinh tài năng, tráng chí và ý thức công dân, kiệt tác thực sự của một Văn
Cao-thơ, phải là trường ca “Những người trên cửa biển” mà ông viết vào mùa xuân
năm 1956, khi thành phố cảng-thợ Hải Phòng đã sạch bóng quân Pháp được hơn nửa
năm. Hình ảnh cây mận xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm. Cây mận, ấy chính là
chứng nhân cho sự ra đời của một con người trên đất Hải Phòng, chứng nhân cho một
tuổi thơ và một tuổi thanh niên đã thấm đẫm trong mình những cảnh huống, những
nỗi niềm của một thành phố lầm lụi mà bất khuất, bị bóc lột giày xéo đến kiệt
cùng những vẫn kiên cường đấu tranh và vẫn không thôi mơ mộng. Cây mận, ấy cũng
chính là chứng nhân cho sự hồi sinh của thành phố biển, một cuộc kiến tạo mới,
một khát vọng sống cuồng nộ và bao la như biển. Quy chiếu thời gian nghệ thuật
của trường ca vào thời gian của lịch sử xã hội, có thể thấy, “Những người trên
cửa biển” là một tự sự biên niên sử Hải Phòng vô cùng mạnh mẽ, song những sự kiện
có thể đóng mốc thời gian dường như lại mang rất nhẹ ý nghĩa tự sự, chúng chủ yếu
là cái cớ để nhà thơ thăng hoa trong thế giới của tưởng tượng và cảm xúc: một
tưởng tượng phong nhiêu và táo bạo, một cảm xúc luôn tràn bờ và không khi nào
vơi hụt. Phẩm tính sử thi của trường ca “Những người trên cửa biển”, một phần,
nằm ở chính đặc điểm này. Bởi vì viết trường ca, ngoài việc nói về những sự kiện
lớn (chứ không phải những chuyện vặt) của cộng đồng (chứ không phải của cá
nhân) thì nhà thơ luôn phải tạo được những hình ảnh kỳ vĩ khác lạ, luôn phải giữ
được sự liền mạch và cao độ của cảm xúc, nếu không trường ca sẽ chỉ là một bài
thơ dài, thiên về kể lể và giãi giề tâm sự mà thôi. Và Văn Cao đã làm được điều
đó, với một nghệ thuật thi ca bậc thầy.
Đọc “Những người trên cửa biển” mới thấy Văn Cao yêu và gắn sinh mệnh đời mình với sinh mệnh Hải Phòng – rộng ra, với sinh mệnh đất nước – như thế nào. Không phải ở tuyên ngôn: “Tôi yêu Hải Phòng như Việt Nam nhỏ lại/ Tôi yêu Việt Nam như tôi biết yêu tôi”. Mà ở cái cách ông rách nát với cái rách nát Hải Phòng, đau nỗi đau Hải Phòng, vui niềm vui hồi sinh khi Hải Phòng hồi sinh sau những biến động kinh thiên. Với Văn Cao, Hải Phòng mở ra đại dương, mở ra trí tuệ, mở ra thi ca nhạc họa, mở ra khát vọng tự do vươn đến những chân trời xa rộng. Có cảm nhận được cái khát, khát vọng biển, khát vọng sống, khát vọng sáng tạo của Văn Cao, ta mới hiểu tại sao lại xuất hiện những câu thơ như lạc giọng ở chương IV, “Những ngày báo hiệu mùa xuân”. Một chương lẽ ra chỉ toàn niềm vui phơi phới, bỗng nhiên lại vang lên tiếng nói cảnh báo và luận tội đanh thép. Không thể nói khác, đó chính là con người công dân, con người đại diện cho sự công chính trong Văn Cao đang lên tiếng trước những bất ổn, những vết nứt nguy hiểm bắt đầu hình thành giữa lòng xã hội mới, những biểu hiện suy bại đây đó đang dần loang ra trong hàng ngũ những người cách mạng.
Tiếng nói cảnh báo và luận tội này còn tiếp tục được vang lên
trong một bài thơ mà Văn Cao viết cùng năm 1956, và đăng trên “Giai phẩm mùa
xuân”, bài “Anh có nghe không”. Khúc ngoặt cay đắng nhất trong cuộc làm người của
Văn Cao cũng vì thế mà bắt đầu, từ cái án văn chương Giai phẩm. Suốt quãng thời
gian từ cuối những năm 1950 đến đầu những năm 1980, các sáng tác thơ, nhạc của
ông, trừ bài “Tiến quân ca”, không được phổ biến tới công chúng; với hội họa,
ông chỉ còn có thể vẽ bìa sách và vẽ minh họa cho báo chí để độ nhật mà thôi.
Nhưng mặt khác, xét riêng trên phương diện thi ca, thì đây lại là bước rẽ mới
trong cuộc sinh tử với nghệ thuật của Văn Cao. Ông vẫn làm thơ, cho mình, và
giam thơ trong những cuốn sổ tay be bé, chỉ thỉnh thoảng mới giải phóng chúng bằng
cách đọc lên trong các cuộc rượu với một ít anh em văn nghệ thân thiết. Thơ Văn
Cao giai đoạn này thường là những bài ngắn, thậm chí rất ngắn, rất ít chữ,
nhưng chất chồng những hình ảnh như là sản phẩm của một nghệ thuật thơ in đậm
tư duy hội họa. Những hình ảnh tương đồng và tương phản, những hình ảnh nối
nhau và đối nhau bất ngờ, những hình ảnh tạo nên dư vang của chữ và chiều sâu của
suy tư khi văn bản đã chấm dứt.
Và dĩ nhiên, ở mảng thơ bị giam trong bóng tối ấy sẽ hiện lên
một diện mạo tinh thần cá nhân khác hẳn với những diện mạo tinh thần mang tính
đồng phục của thứ thơ công khai ngoài ánh sáng. Thơ Văn Cao không có niềm tin
tưởng phơi phới, mà đầy nỗi hoảng hốt, nghi hoặc, dằn vặt, day dứt, những tiếng
khóc thầm, những dòng lệ dội ngược vào trong tim. Ông sống trong sự vây bủa của
những câu hỏi do chính mình tự đặt ra cho mình, với tư cách một con người và tư
cách một người nghệ sỹ, một người sáng tạo: Tôi là ai? Bản ngã tôi ở đâu? Tôi sống
trên đời này để làm gì và tôi có thể làm gì? Tôi còn không, tôi về đâu trong sự
trôi chảy của thời gian? v.v và v.v… Trong số đó, câu hỏi chiếm nhiều suy tư nhất
của Văn Cao có lẽ là câu hỏi về giá trị của việc được sống thực, giá trị của tồn
tại người trong toàn bộ những giới hạn của nó: giới hạn trước xã hội người đầy
đa tạp đa đoan, giới hạn trước cái mênh mông của vũ trụ, giới hạn trước cái thản
nhiên bất tuyệt của thời gian.
Văn Cao còn có những bài thơ viết riêng về Hà Nội và Huế, những
bài thơ viết như trút gửi tâm sự cùng các bạn bè thân thiết nhất của mình (Nguyễn
Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyên Hồng, Dương Tường).
Tất cả đều lạ, và hay. Ít nhưng chất, có thể nói ngắn gọn như vậy về thơ trong
cái tam vị nghệ thuật thơ, nhạc, họa của Văn Cao. Đặc biệt là ở bước ngoặt thứ
hai trong đời nghệ thuật – kể từ cuối năm 1956, đầu năm 1957 – Văn Cao đã có những
nỗ lực đáng kể trong việc tiếp tục công cuộc hiện đại hóa thi ca Việt Nam. Về
cơ bản, thơ ông vẫn nằm trong khuôn khổ của thơ “dòng ý”, tức là vẫn phải tải
nghĩa chứ chưa phá cách vượt ngưỡng như những thơ “dòng chữ” mà Trần Dần, Lê Đạt
hoặc Đặng Đình Hưng, Dương Tường theo đuổi. Nhưng thơ “dòng ý” của ông đã khác
xa với thơ “dòng ý” truyền thống, chủ yếu bởi sự thâm nhập của tư duy hội họa
và âm nhạc. Với thơ, có thể nói, Văn Cao đã có đủ để trả nợ cho tiếng Việt, cho
cái định mệnh nghệ sỹ, và đủ để trả nợ cho cuộc đời đầy những ngổn ngang này. “Cuộc
đời ôm tôi như trong cái bình/ Một tiếng vang vang cả lòng cả đáy”.
10/9/2023
Hoài Nam
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét