Ai là người "Một đời
cúi đầu bái hoa mai"?
Vào khoảng năm 1969, học giả Hoa Bằng công bố bốn cặp
câu đối của Cao Bá Quát mà ông đã sưu tầm được từ cụ Đỗ Mộng Khương (cử nhân
khoa Ất Mão 1915) và cụ Đoàn Như Khuê (1883 – 1957, nhà nghiên cứu Hán Nôm),
trong đó có câu:
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa
(Phỏng dịch: Lặn lội mười năm tìm kiếm báu / Cúi đầu một thuở
bái hoa mai)
Từ đó phát hiện này được phổ biến rộng rãi trong các tài liệu
văn sử học và các sách giáo khoa. Nhiều người ngưỡng mộ Cao Bá Quát, yêu văn học
và yêu hoa mai đã sao chép, viết lại hai câu trên bằng chữ Hán để treo trong
phòng khách, thư viện.
Thế nhưng ba năm sau, cũng chính học giả Hoa Bằng trên tạp chí Văn Học (Số 2, tháng 3.4, Hà Nội, 1972) lại công bố một phát hiện mới, theo đó câu đối nói trên không phải của Cao Bá Quát mà là của một người Hoa là Ngải Tuấn Mỹ, tri phủ Hán Dương tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc) tặng phó sứ Nguyễn Tư Giản khi sứ bộ Việt Nam ghé lại địa phương này. Cụ Hoa Bằng dũng cảm nhận trước đây mình đã nhầm lẫn, nay xin đính chính.
Ngoài Hoa Bằng còn có nhà nghiên cứu Tảo Trang cùng chủ xướng
việc đính chính này. Từ đó, không ít người ngậm ngùi đính chính theo. Luận chứng
của những người đính chính dựa trên một tài liệu là tập Yên thiều bút lục của
tác giả Nguyễn Tư Giản, sưu tầm được từ bản sao chép tay của thư viện Khoa học
xã hội ký hiệu là A.852, tờ 18 a-b. Nội dung tài liệu đính chính được dẫn chứng
như sau:
“Năm Mậu Thìn (١٨٦٨) vua Tự Đức cử một sứ bộ sang Tàu. Cầm đầu
là chánh sứ Lê Tuấn (đỗ Hoàng Giáp năm ١٨٥٣); phó sứ là Nguyễn Tư Giản (đỗ
Hoàng Giáp năm ١٨٤٤); phó sứ thứ ٢ là cử nhân Hoàng Tịnh. Hành trình của sứ bộ
theo lối xưa từ ải Nam Quan đến Yên Kinh, thủy bộ mất ١٨١ ngày. Sau 125 ngày
thì đến huyện thành Hán Dương tỉnh Hồ Bắc, ở đó đoàn sứ bộ Việt Nam được viên
tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đón tiếp và tặng các vị chánh, phó sứ mỗi người
một câu đối.
Câu đối tặng chánh sứ Lê Tuấn:
Hữu khẩu tu ngôn thiên hạ sự / Kháng hoài bất nhượng cổ
chi nhân
(Có miệng nên bàn việc thiên hạ / Nghị lực không chịu
nhường người xưa)
Câu đối tặng phó sứ Nguyễn Tư Giản:
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm / Nhất sinh đê thủ bái
mai hoa
(Mười năm giao du tìm thanh kiếm cổ / Một đời cúi đầu
bái hoa mai)
Câu đối tặng phó sứ Hoàng Tịnh:
Truyền thần cổ hữu Lý Tư Huấn / Vấn tự kim vô Dương Tử
Vân
(Truyền thần xưa có Lý Tư Huấn / Hỏi chữ nay không
Dương Tử Vân)”
Nếu chỉ dựa vào bấy nhiêu tài liệu đó thì theo tôi, sự đính
chính của các cụ Hoa Bằng và Tảo Trang chưa thực sự thuyết phục. Xin nêu một số
điểm nghi vấn như sau:
Về mặt văn bản, Yên thiều bút lục của Thư viện Khoa
học xã hội chưa phải là bản gốc mà chỉ là bản sao từ bản sao chép tay vào khoảng
thập niên 1930 của Viện bác cổ Pháp. Nghe nói bản gốc nhiều tờ đã rách nát
không đọc được. Hồi đó chưa có kỹ thuật photocopy và microfilm nên các bản sao
đều phải chép tay. Yên thiều bút lục lại là một tập tài liệu khá lộn
xộn. Theo bài viết Về tác phẩm Yên thiều thi văn tập của Nguyễn Tư Giản
của nhà nghiên cứu Hoàng Văn Lâu (hannom.org.vn-web//tchn/data/0003-a.htm) thì:
“…Yên thiều thi văn tập, bản A.١٩٩ là bộ sưu tập gồm ٣ tác phẩm: Yên
thiều thi thảo, Yên thiều văn thảo, Trung Châu quỳnh giao tập của Nguyễn
Tư Giản đã được nói tới trong Truyện Nguyễn Tư Giản của Đại Nam liệt truyện,
chỉ khác ở chỗ: Đại Nam liệt truyện ghi Yên thiều thi thảo ٣ quyển
thì ở bản A.١٩٩ chia thành hai quyển: Quyển Nhất và Quyển Hạ; Yên
thiều văn thảo, Liệt truyện ghi quyển ١ thì ở bản A.١٩٩ ghi “Quyển
Thượng” (mà không có quyển Hạ), còn Trung Châu quỳnh giao tập thì bản
A.١٩٩ không ghi số tập, số quyển, còn Liệt truyện ghi quyển ١. Có thể
nghĩ rằng, ba tác phẩm này vốn lưu hành riêng lẻ. Sau này, trong quá trình sao
lục, người ta biên tập cả ٣ tác phẩm vào một sách, lấy tên chung là Yên thiều
thi văn tập…).
Trong bài: Về mối liên hệ giữa văn bản học và sử liệu học
đăng trên trang web vanthuluutru.com, Gs Hà Văn Tấn từng lưu ý giới nghiên cứu:
Nói đến văn bản Hán Nôm, tôi thường nghĩ đến các bản sao. Mà tam sao thì thất bản!
Tài liệu về Yên thiều bút lục đã rối rắm như vậy mà lại qua
nhiều khâu sao chép, biên tập thì ai dám bảo đảm không có sự tam sao thất bổn?
Liệu có thể hoàn toàn tin cậy ở các bản sao chép tay nói trên được không?
Một bên là các cụ Đỗ Mộng Khương và Đoàn Như Khuê nói câu đối
là của Cao Bá Quát. Một bên là bản sao chép tay (và dầu là bản chính) của cụ
Nguyễn Tư Giản nói là của Ngải Tuấn Mỹ. Bất quá cả hai đều là ý kiến một phía.
Một khi văn bản về các tác phẩm của cụ Nguyễn Tư Giản chưa đủ tin cậy thì dựa
vào đâu mà phủ nhận ý kiến của phía cụ các Đỗ Mộng Khương, Đoàn Như Khuê và bảo
lưu ý kiến của phía cụ Nguyễn Tư Giản?
Tính xác thực của văn bản Yên thiều bút lục càng
đáng nghi ngờ hơn nữa khi ta xét đến mối liên hệ giữa văn bản và sử liệu mà Gs
Hà Văn Tấn đã nêu, cụ thể:
Theo lệ xưa, nước ta cứ ba năm phải đi sứ sang Tàu một lần để
tiến cống. Do thời cuộc lộn xộn ở cả hai nước nên chuyến đi sứ của các ông Lê
Tuấn, Nguyễn Tư Giản và Hoàng Tịnh cách chuyến đi sứ trước đó những 15 năm. Phủ
Hán Dương tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc lại cách biên giới nước ta những 125 ngày
đường. Với khoảng cách thời gian và không gian diệu vợi đó, làm sao một ông tri
phủ người Hoa ở Hán Dương lại nắm rõ mồn một lý lịch và hành trạng của cả ba
nhân vật trong sứ bộ của một nước mà cho đến lúc ấy, họ vẫn còn cho là “man
di”, lại vừa ở xa đến và làm thơ tặng mỗi người một bài như thể họ là bạn tri kỷ
từ muôn kiếp trước?
Câu đối nói là của ngải Tuấn Mỹ tặng chánh sứ Lê Tuấn ý tứ rất
chung chung, vừa là lời khuyên, vừa là lời khen rất là vô thưởng vô phạt, có thể
dùng để tặng bất kỳ vị sứ thần nào, kể cả các vị đại sứ thời nay. Vậy câu này
không có gì phải bàn.
Câu đối Ngải Tuấn Mỹ tặng phó sứ Hoàng Tịnh có lời lẽ đề cao
vị phó sứ của chúng ta tài thi họa sánh bằng Lý Tư Huấn thời Bắc Tống, chữ
nghĩa hơn hẳn Dương Tử Vân – là những danh nhân văn hóa hàng đầu của Trung Quốc.
Vậy mà sao ngay ở Việt Nam xưa nay lại không thấy có tài liệu văn sử học nào
nói về tài năng kiệt xuất của phó sứ Hoàng Tịnh?
Trong khoa văn bản học, còn có một phương pháp để góp phần
xác minh tác giả và tác phẩm. Đó là đối chiếu nội dung thơ văn với hành trạng,
thân thế sự nghiệp của tác giả dựa trên nguyên tắc: Văn tức là người. Trên quan
điểm biện chứng đó, ta hãy xét lại hai câu Thập tải luân giao cầu cổ kiếm / Nhất
sinh đê thủ bái mai hoa để xem thử văn chương ấy thích hợp với nhân thân của
Cao Bá Quát hay Nguyễn Tư Giản.
Trong thơ văn Cao Bá Quát, hình ảnh thanh kiếm thường xuất hiện
như một biểu tượng của chí nam nhi. Ví dụ trong bài Tài tử đa cùng phú có viết:
Để ta đeo vòng thư kiếm, quyết xoay bạch ốc lại lâu đài… Hoặc tả sông Hương ở
Huế: Trường giang như kiếm lập thanh thiên (Sông dài như kiếm dựng giữa trời
xanh). Dĩ nhiên thanh kiếm của Cao Bá Quát không phải là thứ vũ khí của sát thủ
trong truyện kiếm hiệp mà là thứ bảo kiếm của người quốc sĩ mưu việc lớn. Đó là
thứ nguyên nhung kiếm mà Trương Lương trao tặng Hàn Tín trong cuộc chiến Hán Sở
tranh hùng: Một ngọn đèn chong / Hai ngọn đèn chong / Quốc sĩ vô song / Là
ngươi Hàn Tín… Trong hình ảnh thanh kiếm của Cao Bá Quát đã thấp thoáng
hoài bão nổi dậy của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương sau này. Phải chăng đó cũng chính
là thứ “cổ kiếm” mà tác giả câu thơ Thập tải luân giao… đã mất mười năm lặn lội
đi tìm?
Còn cụ Nguyễn Tư Giản? Cụ làm quan suốt 40 năm, trải 7 đời
vua nhà Nguyễn, chứng tỏ cụ rất biết phục tùng vương pháp. Người “hiền” như cụ
Nguyễn Tư Giản, không phải là dân chơi kiếm thì lặn lội mười năm đi tìm cổ kiếm
để làm gì? Thanh cổ kiếm ấy gắn với khẩu khí của Cao bá Quát thì thích hợp hơn.
Thanh cổ kiếm đã không thể dành cho Nguyễn Tư Giản thì câu Một
đời cúi đầu trước hoa mai cũng vậy. Hoa mai thì vô số người thích nhưng nếu nói
Nguyễn Tư Giản thích đến một đời cúi đầu bái hoa mai thì khó tìm thấy bằng chứng
niềm đam mê này trong thơ văn của cụ.
Với Cao Bá Quát thì ngược lại, có khá nhiều dẫn chứng:
Giai nhân nan tái đắc / Trót yêu hoa nên dan díu với tình /
Mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh / Rầu rĩ lắm xuân về oanh nhớ… (Hoài
nhân)
Trong bài bài Trồng mai:
Đầu non nắm hạt mai gieo
Giống thanh gửi chốn núi đèo xanh tươi
Nữa mai xuân điểm bầu trời
Bức tranh tuyệt tác cho người xem chung
(Trồng mai – Hoàng Tạo dịch thơ chữ Hán)
Và trong bài thơ gửi bạn Phương Đình Nguyễn Văn Siêu:
Khóm trúc vườn xưa chờ thu đến / Bụi mai gác nhỏ một mình
trông.
Hoặc:
Những bản thảo cũ đầy bụi, chất đống trong bồ rách
Cây mai con cũng cố ngoi lên vượt bức tường cao.
(Kiến Bắc nhân lai, nhân thoại cố hương tiêu tức)
Rồi khi ở trong cảnh lưu đày, có người ngoài Bắc vào, sau khi
biết tin tức gia đình, ông hỏi cây mai sau nhà còn sống không? Người khách cho
biết, cây vẫn tốt tươi và ông yên tâm đưa vào thơ của mình: Cây mai đã lớn, vẫn
sau nhà… Mới đây trên trang web vanchuongviet.org có bài bài tiểu luận Cao Bá
Quát: Một đời lận đận vì hoa của Văn Thành Lê có câu: Mấy phen vào tội ra
tù, lên voi xuống chó, con người tự ví mình như cây mai võ, như con chim có sức
bay cao mà bị nhốt trong lồng không thể cam lòng chịu để cho sóng gió cuộc đời
vùi dập vẻ sáng lấp lánh của hai chữ Thiên lương… Cũng trong bài này, tác
giả Văn Thành Lê gọi Cao Bá Quát là “cây mai võ của làng Phú Thị”.
Tôi cảm nhận được rằng những danh từ thư kiếm và mai võ trong
thơ văn Cao Bá Quát có sự đồng dạng, đồng thanh và đồng khí với những danh từ cổ
kiếm và mai hoa trong câu đối Thập tải luân giao… và điều này cho phép tôi càng
tin rằng Cao Bá Quát là tác giả của câu đối ấy. Câu đối ấy như chiếc áo-rất có
thể mặc vừa với Cao Bá Quát và rất không vừa với Nguyễn Tư Giản. Nói “văn tức
làn người” ý là như vậy.
Tôi cũng xin nhấn mạnh một lần nữa rằng hai câu Thập tử luân
giao cầu cổ kiếm / Nhất sinh đê thủ bái mai hoa chứa đầy tâm tư, hoài bão sâu
kín là dạng tự bạch của tác giả. Người ngoài, nhất là ông Ngải Tuấn Mỹ nào đó ở
bên Tàu chắc không dám hư cấu sẵn câu đối như vậy để tặng vị sứ thần ở xa tới.
Hư cấu kiểu đó chẳng khác gì tặng vị khách quí của mình một chiếc áo mà không
chắc khách đã mặc vừa.
Vậy thì sau đây tôi xin thử nêu một kiến giải khác:
Như chúng ta biết, lúc sinh thời Cao Bá Quát sáng tác rất nhiều.
Sau khi ông bị án tru di, tác phẩm của ông trở thành văn tự quốc cấm, lưu lạc
trong dân gian. Giả sử ai có lòng trân trọng gìn giữ những tác phẩm ấy, không nỡ
để nó thất truyền chắc cũng không dám công khai tên tác giả là Cao Bá Quát vì sợ
mắc tội với triều đình. Còn những người “thích đùa” thì muốn để bút hiệu nào
thay cho Cao Bá Quát mà chẳng được? Có khi nào câu đối Thập tải luân giao… rơi
vào số phận bèo dạt mây trôi nói trên không?
Rất mong được các bậc cao minh giải mã giùm những tồn nghi nói trên, may ra có thể trả lại công bằng cho Cao Bá Quát, cũng là trả lại hào khí cho thanh bảo kiếm của người quốc sĩ và trả lại thanh khí cho loài hoa mai của tao nhân mặc khách.
25/4/2024
Hoàng Phủ Ngọc Phan
Nguồn: Tạp chí Cửa Việt số 329
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét