Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026

Nhà Trắng - Những chuyện chưa kể 2 00000000

Nhà Trắng - Những
chuyện chưa kể 2

Chương 5
Chuỗi ngày u ám
Ông ấy nói mình thức dậy giữa khuya và va vào cửa phòng tắm nhưng chúng tôi chắc chắn là bà ấy đã đập ông bằng một cuốn sách
– Chuyện kể của một gia nhân về cuộc sống trong Nhà Trắng dưới thời Clinton trong thời gian xảy ra vụ tai tiếng Monica Lewinsky.
Máu vương vãi khắp giường tổng thống và đệ nhất phu nhân. Một nhân viên Nhà Trắng sau đó đã nhận được cuộc gọi đầy hoảng loạn của cô hầu phòng khi phát hiện chuyện này. Một ai đó cần đến đó gấp để xem có gì hư hại không.
Đó là máu của ông Bill Clinton. Ngài tổng thống phải khâu lại một số vết thương ở đầu. Ông quả quyết mình bị thương vì va đầu vào cửa phòng tắm lúc nửa đêm. Nhưng không phải ai cũng tin điều đó.
“Chúng tôi chắc chắn là bà ấy đã đập ông ấy bằng một cuốn sách”, một gia nhân nói. chẳng ai biết rõ điều đó hơn các gia nhân, chuyện này xảy ra không lâu sau khi chuyện yêu đương giữa tổng thống với một thực tập sinh Nhà Trắng bị dư luận phanh phui – rõ ràng đây là thời kỳ khủng hoảng hôn nhân của hai vợ chồng Clinton. Và trên chiếc bàn đầu giường lúc đó có ít nhất hai mươi cuốn sách để người vợ bị phản bội tha hồ lựa chọn, trong đó có cả cuốn Kinh Thánh.
Tháng 11 năm 1995, Clinton bắt đầu có quan hệ yêu đương với Monica Lewinsky, một thực tập sinh Nhà Trắng 22 tuổi, ông đã hơn một chục lần quan hệ tình dục với cô trong suốt một năm rưỡi, đa phần là trong Phòng Bầu dục. Khi vụ bê bối bị công khai dư luận sau hơn hai năm kể từ khi bắt đầu, cơn bão truyền thông đã hủy hoại quãng thời gian còn lại của nhiệm kỳ tổng thống của ông. Phát hiện này là thành quả của hơn bốn năm điều tra của công tố viên độc lập Kenneth Starr, người cũng nghiên cứu các cáo buộc khác, trong đó có vụ thỏa thuận đất đai Whitewater và vụ sa thải một số nhân viên làm việc lâu năm cho Phòng Du lịch của Nhà Trắng, một vụ xì–căng–đan được biết dưới tên gọi Travelgate. Mặc dù những người này không phải là những người giúp việc ở tư dinh nhưng Quản lý Skip Allen nói rằng ông nhớ các đồng nghiệp của mình đã đau buồn thế nào sau khi xảy ra việc các nhân viên bị đuổi khỏi Phòng Du lịch. Dù gì thì hầu hết các nhân viên ở tư dinh đều đã cống hiến toàn bộ sự nghiệp của họ cho Nhà Trắng, cho nên một số người bắt đầu thấy bị tổn thương. “Mọi người trong tòa nhà đều hơi căng thẳng vì ai cũng gắn bó với sự nghiệp của mình. Không ai có thể nói trước là nếu tình hình này tiếp diễn, sẽ có bao nhiêu người bị sa thải và ai sẽ bị sa thải”. Cũng giống như giáo viên chính thức, nhân viên chính phủ rất khó bị sa thải, Allen nói, vì thế mọi người đều rất sốc khi thấy những người này bị đuổi ngay tức khắc không một lời giải thích. Vợ chồng Clinton cũng phản bác lại những chỉ trích cho rằng họ sử dụng Phòng ngủ Lincoln để ve vãn các nhà tài trợ giàu có.
Ngày 17 tháng 8 năm 1998, Clinton trở thành vị tổng thống đầu tiên cho lời khai với tư cách là đối tượng điều tra của đại bồi thẩm đoàn. Tổ trưởng Tổ Điện Bill Cliber, người giúp bố trí đường dây điện cho việc lấy lời khai kéo dài 4 tiếng rưỡi của ông Clinton – thực hiện qua camera giám sát – cho biết ngày hôm đó tổng thống “có tâm trạng rất tệ”. Đến tối hôm đó, Clinton thừa nhận “mối quan hệ không thích hợp” với Lewinsky trên chương trình truyền hình toàn quốc. Bốn tháng sau, tức tháng 12, Hạ viện do phe Cộng hòa kiểm soát bỏ phiếu buộc tội ông, tuy nhiên sau đó ông được tha bổng sau phiên xét xử kéo dài 5 tuần ở Thượng viện.
Công chúng không hề biết gì về Monica Lewinsky cho đến tháng 1 năm 1998. Nhưng một số người giúp việc trong dinh thì đã biết về câu chuyện tình ái này trong suốt thời gian nó diễn ra từ tháng 11 năm 1995 đến tháng 3 năm 1997. Các nhân viên phục vụ từng nhìn thấy tổng thống và Lewinsky trong rạp chiếu phim gia đình, và hai người họ cũng thường xuyên được thấy bên cạnh nhau, đến mức các nhân viên bắt đầu nói cho nhau nghe mỗi khi nhìn thấy Lewinsky. Là những người gần gũi với gia đình tổng thống, các nhân viên phục vụ thường rất sốt sắng giữ kín những bí mật kiểu này, nhưng thỉnh thoảng họ cũng vẫn chia sẻ các mẩu chuyện nhỏ với đồng nghiệp – bởi thông tin này có thể có ích cho người đó, hay chỉ vì thỉnh thoảng họ cũng muốn chứng tỏ mình là người biết chuyện.
Một nhân viên đề nghị giấu tên nhớ là lúc cô đang đứng ở hành lang chính phía sau bếp, nơi các trợ lý khu Cánh Đông và khu Cánh Tây thường hay qua lại, thì đột nhiên một người phục vụ thúc nhẹ vào người cô và thì thào khi nhìn thấy Lewinsky đi ngang qua: “Cô đó đó, bạn gái ổng đó. Đúng là cô ta. Cô ta là người trong phòng chiếu phim tối hôm trước”.
Gần hai thập niên sau, nhiều nhân viên giúp việc trong dinh vẫn còn tỏ ra thận trọng khi nói về cuộc chiến mà họ chứng kiến giữa hai vợ chồng Clinton. Nhưng tất cả mọi người đều cảm nhận được bầu không khí ảm đạm bao trùm tầng hai và tầng ba khi câu chuyện này kéo dài suốt năm 1998.
Các nhân viên tư dinh chứng kiến hậu quả tồi tệ của câu chuyện tình này và ảnh hưởng nặng nề của nó lên bà Hillary Clinton, nhưng các trợ lý khu Cánh Tây cũng đã từ lâu nghi ngờ về vở kịch đang diễn ra trên tầng hai của tòa hành pháp. “Bà ấy hẳn đã đập chồng bằng một cái chảo nếu có ai đó đưa chảo cho bà ấy”, Susan Thomases, bạn thân đồng thời cũng là cố vấn chính trị của bà Hillary đã nói thế khi được Trung tâm Miller của Đại học Virginia phỏng vấn nhằm phục vụ việc sưu tập các câu chuyện lịch sử truyền miệng để làm tư liệu về nhiệm kỳ tổng thống của Bill Clinton. “Theo tôi thì bà ấy chưa bao giờ nghĩ đến chuyện rời xa hay ly dị ông ấy”.
Betty Finney, hiện đã 78 tuổi, bắt đầu làm hầu phòng trong Nhà Trắng năm 1993. Phần lớn thời gian, bà làm việc ở khu nhà ở của gia đình tổng thống và nhớ rõ mọi thứ đã thay đổi thế nào trong những năm cuối cùng. “Mọi chuyện trở nên căng thẳng hơn. Tôi thấy buồn cho cả gia đình họ và cho những gì họ trải qua lúc đó”, bà nói. “Ta có thể cảm nhận được nỗi buồn. Không còn nhiều tiếng cười như trước”.
Nhân viên cắm hoa Bob Scanlan ít thận trọng hơn khi nói về bầu không khí ở đây: “Tầng hai trông chẳng khác gì nhà xác khi ta lên đó. Không ai nhìn thấy Phu nhân Clinton đâu cả”.
Sự yên ắng kỳ lạ trong tòa nhà chỉ bị phá vỡ để nhường chỗ cho những cảnh kích thích sự hiếu kỳ cùng những màn khẩu chiến ác liệt. Một chuyện đã xảy ra quãng gần Giáng sinh 1996, khi chuyện tình của Tổng thống và Lewinsky đang tiếp diễn.
Bộ phận Phòng lúc đó đang làm công việc thường lệ của mình là gói quà cho đệ nhất gia đình. Đôi khi họ được yêu cầu gói hơn bốn trăm phần quà cho bạn bè, người thân và nhân viên của đệ nhất gia đình. Bắt đầu từ dưới thời Reagan (khi mọi thứ đặc biệt đòi hỏi phải thật đúng chuẩn), gói quà là một công việc rất công phu khi mọi thông tin chi tiết về từng món quà đều phải được ghi sổ cẩn thận (Những sổ này đều bị hủy mỗi khi có gia đình mới dọn vào). Những nhân viên gói quà phải luôn đính kèm một nhãn quà tặng (gift tag) ghi rõ bên trong là thứ gì, và kín đáo nhét nó dưới dải ruy–băng. Sau đó họ đặt những gói quà đó lên một chiếc bàn định sẵn trong Phòng khách Tây hay Phòng Bầu dục Vàng.
Mùa lễ năm đó, một gia nhân nhớ mình đã chú ý đến một món quà khác thường mà cô được yêu cầu gói: đó là tập thơ Leaves of Grass của Walt Whitman. Sau đó cô đặt cuốn sách đã gói lên bàn và không còn nghĩ đến nó nữa. Vài tháng sau, vào tháng 2 năm 1997, tổng thống tặng Lewinsky một món quà. Đó là cuốn Leaves of Grass. Mãi sau này, người gia nhân đó mới biết món quà mà cô đã gói có nhiều khả năng là cuốn sách tặng người tình của tổng thống.
Cũng theo người gia nhân này, sau mùa lễ, có một ngày tổng thống rất muốn lấy một cuốn sách trong phòng ngủ hai vợ chồng ra, nhưng lúc đó vì đệ nhất phu nhân chưa thay đồ nên không ai muốn quấy rầy bà. “Betty Currie [thư ký tổng thống] gọi cho người hầu riêng của tổng thống và bảo cậu ta đến nhờ tôi vào đó lấy cuốn sách, nhưng tôi dứt khoát nói không”, người gia nhân nhớ lại. (Khi cửa phòng của vợ chồng tổng thống đóng kín, điều đó đồng nghĩa với câu XIN ĐỪNG QUẤY RẦY thường treo ngoài cửa phòng khách sạn). “Cuối cùng, tôi nghĩ Betty Currie đã gọi điện trực tiếp cho bà Clinton”.
Một lát sau, một cuốn sách từ phòng ngủ bay vèo ra ngoài. Bà Hillary đã ném nó ra ngoài hành lang. Cậu người hầu của Tổng thống nhặt nó lên và đem đến cho Currie, chẳng biết cuốn sách đệ nhất phu nhân ném ra khỏi phòng có phải là cuốn sách tổng thống tặng cho Lewinsky không, nhưng người gia nhân nhớ là bầu không khí lúc đó vô cùng căng thẳng.
Nhân viên cắm hoa Ronn Payne nhớ có một ngày, khi ông lên trên lầu bằng thang máy cùng chiếc xe đẩy để đưa các bình hoa cũ xuống nhà thì nhìn thấy hai nhân viên phục vụ đứng ngoài hành lang Phòng khách Tây lắng tai nghe vợ chồng Clinton cãi nhau kịch liệt bên trong. Họ ra dấu cho ông lại gần và đặt ngón tay lên môi, kêu ông im lặng. Payne bất chợt nghe tiếng đệ nhất phu nhân gào lên “Đồ khốn!” với tổng thống, rồi ông nghe tiếng một vật nặng ném qua góc phòng bên kia. Các nhân viên đồn rằng bà ném một cái đèn. Các nhân viên phục vụ sau đó được sai dọn dẹp mớ lộn xộn này, Payne nói. Trong một lần trả lời phỏng vấn với Barbara Walters, bà Clinton đã làm sáng tỏ câu chuyện mà ngay sau đó được đưa vào mục lượm lặt. “Tôi nhắm khá tốt”, bà nói. “Tôi mà ném một cái đèn vào ai đó thì chắc cô cũng biết chuyện gì xảy ra rồi”.
Payne không ngạc nhiên trước cơn giận dữ đó. “Ta nghe thấy rất nhiều lời lẽ thô tục trong Nhà Trắng dưới thời Clinton”, ông nói. “Khi ta là người giúp việc cho một ai đó, chắc chắn ta biết chuyện gì đang xảy ra trong nhà”.
Trong thời gian làm việc ở Nhà Trắng, Payne có kết quả xét nghiệm HIV dương tính và có sức khỏe rất yếu, có thời điểm ông sụt đến 20 ký. Ông muốn xin nghỉ phép một thời gian nhưng được bảo phải lựa chọn giữa hai phương án là nghỉ làm hoặc về hưu. Và ông đã chọn về hưu non. Ông hy vọng mình có thể quay lại làm việc sau khi khỏe trở lại vì theo lời ông, một số nhân viên nghỉ hưu sau đó vẫn quay lại làm việc. “Chắc cô cũng hình dung được là lúc đó tôi trông như thế nào. Tôi biết họ không muốn tôi lên lầu”, ông nói. “Tôi muốn phục hồi sức khỏe và cân nặng của mình”. Tuy nhiên, lúc ông thấy mình có thể làm việc trở lại thì lại được bảo rằng ông không thể quay lại vì ông về hưu theo chế độ bệnh tật. Ông không bao giờ được nói rõ mình bị sa thải vì dương tính với HIV và cũng không biết ai đứng sau quyết định này – gần như chắc chắn là chuyện này không được thông báo cho gia đình Clinton – nhưng ông không chính thức phản đối chuyện này. Từ vài năm nay, ngay cả dưới thời các chính quyền trước, việc các nhân viên mắc HIV không được phép tiếp xúc với đệ nhất gia đình đã trở thành nguyên tắc bất di bất dịch. “Tôi chứng kiến cảnh họ gây rất nhiều khó dễ cho các nhân viên dương tính với HIV”, Payne nói. “Một số người bị buộc làm việc ở phòng giặt dưới tầng hầm. Một số khác bị đưa ra ngoài cắt cỏ”. Vả lại, phòng nào trong tòa hành pháp cũng có mặt nhân viên cắm hoa, kể cả các phòng ngủ của gia đình tổng thống, vì thế Payne khó lòng được quay lại công việc cũ. Ông đau lòng khi thấy sự nghiệp ở Nhà Trắng của mình kết thúc đau đớn như thế, và được rất nhiều đồng nghiệp ở lại nhớ tiếc.
TRONG THỜI GIAN thảm kịch lên cao trào, bà Hillary thường xuyên bỏ các cuộc hẹn trưa với các nhân viên. Điều hành tòa hành pháp lúc này không quan trọng bằng việc cứu vãn cái ghế tổng thống và cuộc hôn nhân của họ. Suốt ba, bốn tháng năm 1998, tổng thống phải ngủ trên ghế sofa trong phòng làm việc riêng ở sát cạnh phòng ngủ của hai vợ chồng họ ở tầng hai. Đa số các nhân viên nữ trong dinh đều nghĩ ông ấy bị thế là đáng đời.
Ngay cả Phục vụ James Ramsey, người tự xưng là tay sát gái, cũng đỏ mặt khi đề tài này được nêu lên. Ông nói Clinton là “bạn thân của tôi, nhưng mà... thôi nào”. Như thường lệ, trong suốt thời gian nổ ra vụ tai tiếng Lewinsky, Ramsey nói ông không hé môi nói nửa lời.
Một số nhân viên nói rằng bà Hillary đã biết chuyện Lewinsky từ lâu, trước khi chuyện này bị lộ ra, nhưng điều khiến bà thực sự đau khổ không phải là việc chồng bà ngoại tình mà là vì chuyện này bị phát hiện kéo theo sự cắn xé của giới truyền thông.
Những tháng khó khăn đó, đệ nhất phu nhân rất dễ nổi nóng. Ông James Hall nhớ lúc ông đang phục vụ trà và cà phê trong Phòng Lam cho bữa tiệc chiêu đãi một lãnh đạo nước ngoài thì đột nhiên đệ nhất phu nhân tiến đến chỗ ông đang đứng phía sau quầy bar.
“Ông đang mơ mộng gì đó?”, bà la ông. “Tôi phải cầm hộ tách cho vợ thủ tướng đây này... Bà ấy uống xong và nhìn quanh xem có chỗ nào đặt tách không”. Hall lặng người. Ngoài kia các nhân viên phục vụ khác đang mang khay thu gom đồ uống, còn công việc của ông chỉ là phục vụ đồ uống mà thôi. Nhưng ông biết lúc này ông có tự bào chữa cũng vô ích. Bà Clinton than phiền chuyện này với Phòng Quản lý và Hall không được gọi trở lại làm việc suốt một tháng trời.
“Làm việc ở đó trong thời gian xảy ra vụ cáo buộc không đến nỗi tệ”, cựu Quản lý kho Bill Hamilton nói, nhưng ông đồng ý rằng làm việc với phu nhân Clinton trong những tháng khó khăn này là một thách thức lớn. “Chuyện này quá khó khăn với bà ấy nên hễ ai nói gì ra cũng đều bị bà ấy nạt”, Hamilton lắc đầu nhớ lại. Nhưng ông nói mình vẫn thích làm việc cho gia đình Clinton, và mặc dù ông đã nghỉ hưu năm 2013 nhưng đôi lúc ông vẫn ước mình ở lại Nhà Trắng, biết rằng có ngày bà Hillary Clinton có thể sẽ quay về trên cương vị nữ tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ. Ông nói ông rất muốn làm việc cho bà một lần nữa ngay cả sau 8 năm đầy xáo động của bà ở Nhà Trắng.
Ông hoàn toàn thông cảm với đệ nhất phu nhân trong những ngày u ám đó. “Điều đó đã xảy ra, và bà ấy biết là nó xảy ra và tất cả mọi người đang nhìn vào bà”, ông Hamilton nói.
Quản bếp bánh ngọt Roland Mesnier nói ông muốn giúp bà Hillary thấy đỡ hơn bằng bất cứ cách nào. Món tráng miệng ưa thích nhất của bà là món bánh kem moka, và khi vụ xì–căng–đan đang trong cao trào, ông nhớ là “tôi đã làm rất nhiều bánh kem moka, tin tôi đi”, chiều đến, bà Hillary thường gọi điện cho Phòng Bánh ngọt. Bằng một giọng nhỏ nhẹ khiêm tốn, khác với giọng nói bình thường vẫn mạnh mẽ và tự tin của bà, Hillary hỏi: “Roland, tối nay ông cho tôi xin một cái bánh kem moka được không?”
Vào một ngày cuối tuần đẹp trời của tháng 8 năm 1998, ngay trước khi tổng thống thú nhận tội lỗi với cả nước, đệ nhất phu nhân gọi điện xuống cho Quản lý Worthington White để yêu cầu một chuyện khác thường.
“Ông Worthington, tôi muốn ra hồ bơi nhưng không muốn nhìn thấy ai khác ngoài ông”, bà nói.
“Vâng, thưa phu nhân, tôi hiểu rồi”, ông trả lời với giọng cảm thông.
White biết chính xác bà muốn nói gì. Bà không muốn nhìn thấy người nhân viên mật vụ vẫn đi theo bảo vệ bà, không muốn nhìn thấy những người chăm nom khuôn viên rộng lớn ở Nhà Trắng, và chắc chắn là cũng không muốn nhìn thấy bất cứ khách tham quan nào ở Cánh Tây. “Bà không đủ sức chịu đựng chuyện đó”, ông nhớ lại. Bà chỉ muốn yên tĩnh vài tiếng đồng hồ.
White nói với bà rằng ông cần 5 phút để giải tỏa hiện trường, ông chạy đi tìm người chỉ huy nhân viên mật vụ và đề nghị hai bên hợp tác giải quyết việc này. Và nhất là phải nhanh.
“Cuộc nói chuyện chỉ kéo dài 20 giây nhưng tôi biết bà ấy muốn nói gì. ‘Nếu có ai nhìn thấy bà ấy hay bà ấy nhìn thấy ai thì tôi sẽ bị đuổi, tôi biết điều đó’”, ông nói với người nhân viên mật vụ. “‘Và anh cũng có thể bị đuổi’”.
Thế là những nhân viên mật vụ được phân công bảo vệ đệ nhất phu nhân đồng ý đi theo bà một cách kín đáo, mặc dù theo quy định thì phải có một người đi trước và một người đi sau bà.
“Bà ấy sẽ không quay lại tìm các anh đâu”, White nói với họ. “Bà ấy chỉ là không muốn thấy mặt các anh, cũng không muốn các anh nhìn mặt bà ấy”.
Ông đón bà Clinton ở thang máy và hộ tống bà đến hồ bơi, sau lưng là các nhân viên mật vụ, ngoài ra không còn ai khác. Bà đeo kính đọc sách gọng đỏ và cầm theo vài cuốn sách. Bà không trang điểm, cũng không làm tóc. Với White, bà trông rất đau khổ.
Trên đường đến hồ bơi, không ai nói với ai lời nào.
“Thưa phu nhân, bà có cần đến nhân viên phục vụ không?” White hỏi sau khi bà Clinton ngồi vào ghế.
“Không”.
“Bà có cần gì không?”
“Không, chỉ là hôm nay đẹp trời nên tôi muốn ngồi đây tận hưởng chút ánh nắng thôi, chừng nào xong, tôi sẽ gọi ông”.
“Vâng, thưa phu nhân”, White đáp. “Bây giờ là 12 giờ. Tôi sẽ đi khỏi đây lúc 1 giờ và một người khác sẽ đến thay tôi”.
Bà Clinton nhìn ông chăm chăm. “Tôi sẽ gọi ông khi nào tôi xong”.
“Vâng, thưa phu nhân”, White trả lời, hiểu rằng bà muốn ông ở lại cho đến khi bà quyết định rời khỏi chỗ đó. Chỉ đến gần 3 giờ rưỡi trưa, White mới nhận được cuộc gọi của bà. ông quay lại và lặng lẽ cùng đệ nhất phu nhân đi từ hồ bơi về tầng hai. Trước khi ra khỏi thang máy, đệ nhất phu nhân cho ông biết là những nỗ lực của ông có ý nghĩa thế nào với bà.
“Bà ấy nắm tay tôi bóp nhẹ và nhìn thẳng vào mắt tôi nói ‘Cảm ơn ông’”.
“Điều đó làm tôi xúc động”, White nói về lòng biết ơn của bà Clinton. “Điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với tôi”.
Một vài nhân viên trong Nhà Trắng thậm chí còn bị lôi vào tấn thảm kịch đã bị lột trần. Có lúc, nhân viên quét dọn Linsey Little bị gọi lên tầng hai để trả lời các câu hỏi liên quan đến chuyện ngoại tình của tổng thống. Người gặp anh trên lầu là một nhân viên liên bang trông rất đáng sợ. Ông ta hỏi anh đã từng nhìn thấy cô Lewinsky trước đây chưa. Chưa, anh trả lời với giọng lo lắng.
“Họ muốn làm ta cảm thấy như họ biết ta biết chuyện gì đó”, anh nói. Anh nhất quyết nói mình chưa bao giờ nhìn thấy chuyện gì không hay, nhưng dù có thấy thì anh cũng không muốn mất việc và thấy tên mình xuất hiện trên báo. “Tên ta sẽ bị rêu rao trên khắp các phương tiện truyền thông”, anh nói.
Mesnier mô tả năm 1998 như là một “khoảng thời gian rất buồn” khi nhìn thấy hai con người tài năng bị vụ xì–căng–đan hủy hoại. Và giống như nhiều gia nhân khác, ông thấy chuyện này thật quá khủng khiếp với Chelsea, con gái nhà Clinton.
Trong một bức ảnh chụp ngày 18 tháng 8 năm 1998, một ngày sau khi cha cô thú nhận tội lỗi, Chelsea nắm tay cha mẹ tiến về chỗ chiếc trực thăng đậu ở Bãi cỏ phía nam. Mesnier lắc đầu khi nghĩ đến những gì cô gái trẻ đã trải qua. “Chelsea là cô gái duyên dáng nhất tôi từng gặp và rồi ta phải chứng kiến họ trải qua một việc ngớ ngẩn như thế này. Thật ngớ ngẩn. Thời gian đó quả thật rất gay go”.
QUẢN LÝ SKIP Allen thừa nhận rằng phục vụ cho những gia đình mình thích dễ hơn là giả vờ thích họ.
“Nhưng chúng tôi giả vờ rất giỏi”, ông nói.
Allen không giấu được sự e dè của ông đối với gia đình Clinton. Trong lúc ăn trưa bên bể bơi của căn nhà rộng lớn của ông ở vùng nông thôn Pennsylvania, ông nhớ lại chuyện bà Clinton luôn nhờ ông giúp bà thắt nơ trên áo vì bà không thể tự làm. Nhưng ông nói gia đình Clinton không bao giờ tin tưởng hoàn toàn vào các nhân viên và đặc biệt là hay nghi ngờ Phòng Quản lý. “Họ là những người hoang tưởng nhất tôi từng gặp”.
Allen không phải là người duy nhất có hồi ức cay đắng về Nhà Trắng dưới thời Clinton. Quản lý Chris Emery, một người rất thân với gia đình Bush, cũng cảm thấy mình bị vợ chồng Clinton xét nét quá đáng. Ông nói trong quãng thời gian 14 tháng hầu hạ họ, ông đã bị xét nghiệm ma túy đến ba lần và bị kiểm tra lại lý lịch mặc dù phải mấy năm nữa ông mới đến hạn kiểm tra lại. Ông cho biết một số câu hỏi đặt ra cho ông – bao gồm cả việc ông theo giáo phái nào – hoàn toàn mang tính cá nhân nên ông từ chối trả lời. “Tôi nghĩ họ đang cố bới lông tìm vết để dễ sa thải tôi”. Ông thở dài. Và quả thật, khi Emery bị đuổi khỏi Nhà Trắng năm 1994, nguyên nhân một phần là do ông đã giúp cựu Đệ nhất Phu nhân Barbara Bush làm một việc gì đó”.
Dưới thời Tổng thống Bush thứ nhất, Emery đã giúp đỡ bà Bush rất nhiều. “Chúng tôi rất thân thiết. Chris dạy tôi cách sử dụng máy vi tính”, bà nói với tôi. Sau khi rời Nhà Trắng, trong lúc viết hồi ký, bà làm mất một chương nên gọi điện cho Emery nhờ ông giúp. Emery rất vui vì được giúp bà, nhưng điều này lại khiến gia đình Clinton nghi ngờ ông quá gắn bó với gia đình Bush. Emery cho biết khi gia đình Clinton nhìn thấy danh sách cuộc gọi của ông, họ “đi đến kết luận rằng tôi tiết lộ các bí mật với ý đồ đen tối cho gia đình Bush ở Houston, điều mà tôi không hề làm”.
Ít lâu sau, Tổng Quản lý Gary Walters gọi Emery vào phòng ông và nói: “Bà Clinton không thoải mái với anh”.
“Ông nói vậy nghĩa là sao?”, Emery hỏi với giọng sửng sốt.
“Có nghĩa là ngày mai sẽ là ngày cuối của anh”.
Barbara Bush thừa nhận là những cuộc gọi của bà “đã gây rắc rối” cho Chris. Emery bị Neel Lattimore, phát ngôn viên của bà Hillary, trách mắng trước mặt mọi người vì tội “thiếu kín đáo”, “chúng tôi tin rằng vị trí hiện ông ấy đang có, trên cương vị một nhân viên Nhà Trắng, buộc ông ấy phải hết sức tôn trọng sự riêng tư của gia đình tổng thống”.
Emery cho biết ông đã ngã quỵ vì bị mất việc cùng với mức lương 50.000 đô la. “Tôi nghỉ việc một năm”, ông nói. “Họ đạp đổ chén cơm của tôi. Tôi tự hỏi không biết họ sẽ làm gì với ai đó thực sự có thế lực”. Tối hôm đó khi ông về nhà, cuộc gọi đầu tiên mà ông nhận được là từ người trợ lý của bà Barbara Bush, nói rằng vợ chồng nhà Bush đã nghe tin này và họ muốn làm mọi cách có thể để giúp đỡ ông. “Cuộc gọi kế tiếp là từ văn phòng của Maggie Williams, chánh văn phòng của bà Hillary Clinton, nói rằng nếu tôi nhận được cuộc gọi nào từ báo giới, tôi phải nói họ gọi lại cho Nhà Trắng. Lúc đó tôi lập tức nghĩ ‘Đương nhiên, đây là điều chúng tôi vẫn luôn làm’. Đến khi gác điện thoại rồi, tôi mới nhớ ra là ‘Đợi đã. Họ vừa đuổi mình mà’”.
Nhiều năm sau, Emery buồn bã nói với tôi rằng ông hiểu vì sao mình bị đuổi. “Bà ấy đang đối mặt với quá nhiều áp lực”, ông nói về bà Clinton, “và tôi xui xẻo trở thành nạn nhân của bà”.
Nhưng ít nhất cũng có một cựu đồng nghiệp của Emery tỏ ra không đồng tình với những gì ông tuyên bố. Người nhân viên yêu cầu không nêu danh tính này nói rằng gia đình Clinton có lý khi nghi ngờ các nhân viên bởi nhiều người trong số họ đã từng phục vụ cho các tổng thống thuộc Đảng Cộng hòa đến 12 năm. Theo người này, “tất cả mọi người trong Phòng Quản lý đều đau buồn khi ông Bush, tổng thống thứ bốn mươi mốt của Hoa Kỳ không tái đắc cử... và họ bộc lộ sự đau buồn đó ngay trước mặt vợ chồng Clinton”. Cũng theo người này, Emery đặc biệt lại là “một người Cộng hòa từ chân tơ đến kẽ tóc” và bản thân ông cũng nói rằng lẽ ra ông đã theo vợ chồng Reagan đi California sau khi họ rời nhiệm sở nếu như được họ yêu cầu.
Emery không phải lúc nào cũng giấu cảm xúc của mình trước mặt gia đình Clinton. Theo người đồng nghiệp này, có một ngày khi Tổng thống Clinton vừa từ trên tầng hai xuống để đi dự một sự kiện, Emery đã nói thế này: “Tôi không hiểu tại sao mọi người lại sung sướng đến vậy khi ông ta ở đó”, ông ta nói câu này đủ lớn để các trợ lý của Clinton nghe, người đồng nghiệp nói.
Hai vợ chồng Clinton cũng có lý do để lo lắng về đội cận vệ của họ. Họ vẫn còn choáng với việc các cảnh sát bang Arkansas, được chỉ định bảo vệ Thống đốc Clinton trước đây, tiết lộ với báo giới rằng họ đã giúp tạo điều kiện thuận lợi cho ngài thống đốc ngoại tình trong những vụ sau này được biết đến dưới tên gọi là “Troopergate”.
Có một việc khiến gia đình Clinton đặc biệt lo lắng. Một đêm năm 1994, khi họ đang mừng lễ Phục sinh ở Trại David thì trên tầng ba của Nhà Trắng, cô Helen Dickey, trước đây từng là bảo mẫu của Chelsea và nay là trợ lý nhân viên, đột nhiên nghe thấy tiếng động phát ra từ khu nhà ở của gia đình tổng thống ở tầng dưới. Khi cô chạy xuống nhà xem chuyện gì xảy ra, cô nhìn thấy một toán người mặc đồ đen và mang vũ khí đang lục lạo đồ đạc của gia đình Clinton.
“Các anh làm gì đó? Các anh không có quyền đến đây”, cô la lên.
“Chúng tôi là nhân viên mật vụ đang làm nhiệm vụ. Ra ngoài!” Họ bảo cô.
Khi Hillary quay về, bà yêu cầu Tổng Quản lý Gary Walters giải thích rõ chuyện này. Ông xin lỗi vì đã quên không nói cho bà biết rằng các nhân viên mật vụ đến rà soát tầng hai để xem có thiết bị nghe lén không. Bà Hillary giận điên lên.
Gia đình Clinton rất yêu quý quãng thời gian họ được ở một mình với nhau. Trong cuộc phỏng vấn năm 1993, bà Hillary Clinton nói rằng bà rất thích tầng hai của Nhà Trắng bởi đó là nơi duy nhất mà bên mật vụ không bám theo gia đình bà. “Chúng tôi có thể bảo những người giúp việc toàn thời gian này xuống dưới nhà. Chúng tôi không cần họ có mặt trên đó”, bà nói. “Cảm giác này thật tuyệt bởi ở bất kỳ nơi nào khác, chúng tôi cũng đều bị họ vây quanh”.
Theo lời nhiều người, Chelsea Clinton đối với các nhân viên rất cung kính. Tuy nhiên Ronn Payne tin rằng cô cũng phần nào bị nhiễm cái thói ghét Cơ quan Mật vụ của bố mẹ mình. Ngay từ khi Clinton bắt đầu lên nắm chính quyền, các nhân viên mật vụ đã đóng chốt ở chân cầu thang tầng hai, ngay bên cạnh thang máy dành cho tổng thống. Một vị trí cắm chốt khác của Cơ quan Mật vụ là ở ngay trên đầu cầu thang Grand Staircase đối diện Phòng Hiệp ước ở tầng hai. (Các vị trí cắm chốt này sau đó được dời xuống tầng Khánh tiết theo yêu cầu của vợ chồng Clinton).
Một ngày kia, Payne kể, khi ông đang đi ngang qua căn bếp riêng ở tầng hai thì một nhân viên mật vụ cũng đi theo sau ông để chờ hộ tống Chelsea đến Sidwell Friends, ngôi trường tư mà cô đang theo học ở tây bắc Washington. Lúc đó Chelsea đang nói điện thoại.
“Ồ, tớ phải đi rồi”, cô nói với bạn. “Lũ lợn đang ở đây”.
Người nhân viên mật vụ giận tím cả mặt, Payne nhớ lại. “Cô Clinton, tôi muốn nói với cô điều này. Công việc của tôi là đứng chắn giữa cô, gia đình cô và một viên đạn. Cô hiểu chứ?”
“À, đó là tên mà bố mẹ tôi đặt cho các anh đó mà”, cô trả lời.
ÔNG GÁC CỬA Preston Bruce nói rằng ông có dự cảm là hai trong số những trợ lý thân cận nhất của Richard Nixon sẽ có ngày phản bội tổng thống. Lúc đó là tháng 11 năm 1968 và Bruce đã gác cửa cho Nhà Trắng được 15 năm. Ông biết có điều bất thường xảy ra khi ba hoặc bốn ngày sau khi ông Richard Nixon được bầu làm tổng thống, một trợ lý chính trị liên tục xuất hiện ở Nhà Trắng. “Tôi nghe người đàn ông này hỏi thăm từng chi tiết nhỏ về cách mọi thứ được điều hành nơi đây”, Bruce nói. “Dường như không có chi tiết nào là quá nhỏ để thoát khỏi sự tò mò của anh ta”.
Người đàn ông này là John Ehrlichman, cố vấn của Nixon kiêm trợ lý nội vụ. Ehrlichman đặt câu hỏi dồn dập cho Tổng Quản lý J.B. West trong lúc ông đưa anh ta đi tham quan dinh thự.
Bruce chưa bao giờ thấy chuyện gì như thế. “Nhân viên chúng tôi biết cách giữ an toàn cho các gia đình tổng thống và giúp họ thấy thoải mái. Đó là nhiệm vụ của chúng tôi. Nhưng còn anh chàng này thì đang toan tính chuyện gì đây?”
Mặc dù Bruce bị mê hoặc bởi việc gia đình Nixon chịu khó bỏ thời gian để biết tên của từng người – có tám mươi nhân viên cả thảy – nhưng ông rất ghét cái cách mà Ehrlichman và người chánh văn phòng mới nhậm chức của Nixon là H.R. “Bob” đối xử với ông. “Dù đã đi thang máy cả trăm lần rồi nhưng lần nào cần đi thang máy, họ cũng chỉ nói cộc lốc mỗi một câu ‘cho tôi lên tầng hai’ mà không kèm theo bất cứ câu ‘Ông vui lòng’ hay lời cảm ơn nào. Họ nhìn xuyên qua tôi như thể tôi là người vô hình”.
Trong khi Nixon dễ dàng cười đùa với Bruce thì Haldeman chỉ làm những việc để mọi người thấy rõ là các nhân viên trong tư dinh chỉ là những người giúp việc không hơn không kém. Văn phòng của anh ta gởi một thông báo cho các nhân viên nói rằng bất cứ nhân viên nào nhờ vả hoặc hỏi xin một tấm ảnh có chữ ký của tổng thống hay ai khác trong gia đình tổng thống sẽ bị đuổi ngay tức khắc. “Tất cả chúng tôi đều thấy đây là trò ti tiện”, Bruce nói. “Chúng tôi biết làm nhiều thứ hay hơn là đến gần tổng thống xin xỏ”.
Haldeman không muốn bất cứ ai đứng ngoài hành lang trước Phòng Quốc yến trong lúc diễn ra bữa tiệc, kể cả các nhân viên mật vụ. Việc lắng nghe mọi người bên trong nâng cốc chúc mừng nhau từ ngoài hành lang từng là truyền thống và niềm vui riêng của các nhân viên phục vụ.
“Có cái gì đó ở Haldeman và Ehrlichman mà khi nhìn họ, ta biết rằng họ sẽ không bao giờ kính trọng một người như ta”, phục vụ Herman Thompson nói.
Hầu hết các cố vấn tổng thống đều chỉ muốn che chở cho tổng thống chứ không muốn dính dáng tới các chi tiết liên quan đến việc điều hành tòa nhà. “Nhưng ngay cả khi chúng tôi đang bày bàn, chúng tôi cũng thấy Halderman và Ehrlichman đi ngang qua”, Thompson vừa nói vừa lắc đầu chán ngán. “Nhìn điệu bộ của họ, ai cũng tưởng họ mới là người phụ trách mọi thứ”.
Trước vụ Watergate, Tổng thống Nixon rất được các nhân viên yêu quý mặc dù hầu hết mọi người đều đồng ý rằng ông và gia đình ông khách sáo và kém tự nhiên hơn những người tiền nhiệm của ông rất nhiều. Bếp trưởng Frank Ruta kể một câu chuyện về nhân viên rửa nồi niêu Franki Blair, một người Mỹ gốc Phi rất thân thiện lúc nào cũng ở dính trong nhà bếp. Một buổi tối, Blair đang rửa nồi niêu sau bữa ăn tối của đệ nhất gia đình thì Tổng thống Nixon thơ thẩn bước vào căn bếp trên lầu và không biết làm cách nào mà họ bắt đầu nói chuyện về bowling. Nixon mê chơi bowling đến nỗi ông cho lắp đặt một làn bowling bên trong tầng hầm phía dưới Cửa Bắc. Nixon hỏi Blair có muốn chơi với ông không, và thế là cả hai chơi bowling với nhau đến 2 giờ sáng. “Có lẽ cũng có sự góp phần của một chai rượu scotch”, Ruta nói thêm.
Sau khi chơi xong, Blair quay sang tổng thống nói: “Vợ tôi chắc chắn không tin tôi về trễ vì chơi bowling với ông”.
“Đi với tôi”, Nixon nói với anh.
Cả hai đi đến Phòng Bầu dục để tổng thống viết một lá thư xin lỗi vợ Blair vì đã giữ anh lại quá khuya.
Quản lý Nelson Pierce cũng nhớ đến quãng thời gian vui vẻ với gia đình Nixon trước khi vụ Watergate hủy hoại cái ghế tổng thống của Nixon. Khi ông biết tổng thống và đệ nhất phu nhân sắp đi du lịch ở Seattle, nơi ông chào đời, ông nói với đệ nhất phu nhân là ông rất nhớ các đỉnh núi phủ tuyết ở tây bắc. Không bao lâu sau, bà bảo ông cùng đi với họ.
“Thư ký tổng thống đưa cho tôi sơ đồ đường bay”, Pierce hồi tưởng, và ông nghiên cứu nó rất kỹ, “cố đoán xem mình sẽ nhìn thấy những gì, sẽ nhận ra được những gì. Nhưng chúng tôi càng đến gần Washington thì tôi càng nhìn thấy ít đi”. Trong lúc ông đang cố xác định phương hướng thì “đột nhiên chúng tôi ngoặt qua phải và tôi nhìn thấy núi Adams, núi St. Helens, núi Baker và núi Rainier... Tôi biết có người đã yêu cầu các phi công bay đường này để tôi có thể nhìn thấy các ngọn núi”.
Pierce chưa từng trở về nhà kể từ năm 1941, khi ông 16 tuổi. “Tôi vô cùng xúc động khi máy bay ngoặt qua phải và tôi biết chuyện gì đã xảy ra. Thế là tôi bắt đầu khóc”.
Khi quay về Nhà Trắng, Pierce hỏi đệ nhất phu nhân có phải bà đã nói viên phi công bay đường đó chỉ vì ông không. “Tôi cũng muốn nhìn thấy các ngọn núi nữa’, bà nháy mắt với ông.
Gia đình Nixon tuy rất khách sáo với nhân viên nhưng họ là người tử tế – và sự tử tế của họ càng khiến các nhân viên thêm đau lòng khi nhìn thấy quá trình làm sáng tỏ vụ việc của tổng thống diễn tiến quá chậm chạp. Việc điều tra vụ tai tiếng Watergate kéo dài hơn hai năm, và mỗi ngày trôi qua lại càng khiến tổng thống thêm mệt mỏi. Vai ông rũ xuống trên đường đến Phòng Bầu dục và từ Phòng Bầu dục về. Thợ điện Bill Cliber, người sau này trở thành tổ trưởng Tổ Điện, nhớ rằng ở nhiệm kỳ đầu tiên, ông Nixon rất quy củ trong công việc khi sáng nào ông cũng thức dậy thật sớm để đến Phòng Bầu dục. Nhưng vụ Watergate đã khiến ông bị trầm cảm nặng. Toàn bộ những gì ông làm thường ngày đều tiêu tan.
Khi vụ xì–căng–đan lên cao trào, cả bà Pat Nixon cùng hai cô con gái dường như cũng chìm trong tuyệt vọng, “ôi, ông Bruce”, cô con gái Julie của Nixon bênh vực cha khi nói với người gác cửa trong nước mắt. “Làm sao họ có thể nói những điều ghê gớm đến thế về bố tôi?”, Tricia, cô con gái kia của Nixon nói với tôi rằng họ tìm thấy sự an ủi trong sự ủng hộ của các gia nhân. “Ta cảm nhận được tinh thần tích cực đó xung quanh ta – kiểu như chúng tôi biết cô là ai, bố cô là ai và chúng tôi rất thương cô. Chúng tôi luôn cảm phục bố cô”. Khi ta làm việc trong Nhà Trắng, ta có thể “nhìn xa hơn các quan điểm chính trị, nhìn xa hơn câu chuyện”, cô nói. “Ta có thể nhìn thấy con người thực sự”.

Tuy nhiên, phía sau hậu trường, sự căng thẳng đang lan tỏa khắp tòa Nhà Trắng dưới thời Nixon cũng ảnh hưởng đến các nhân viên. Nixon có thể đã tống khứ chiếc vòi sen công nghiệp cực mạnh của Johnson, nhưng ông cũng có sở thích tắm rửa kỳ lạ riêng khi yêu cầu gắn một bồn tắm mát–xa tạo cảm giác lắng dịu. “Việc tìm cách thư giãn dường như chiếm một phần lớn thời gian của vị tổng thống này trong Nhà Trắng”, Traphes Bryant nói. Nixon bị hủy hoại bởi chính căn bệnh hoang tưởng về “danh sách” đối thủ chính trị của ông, đến mức ngay cả các nhân viên cũng không biết vị trí của họ như thế nào trong lòng ông ấy. Với nhiều nhân viên, bao gồm cả Quản lý Nelson Pierce, vụ tai tiếng Watergate còn khiến họ đau buồn hơn cả vụ ám sát Kennedy bởi nó kéo dài quá lâu. “Ta nhìn thấy một người suy sụp từng ngày mà không có cách gì giúp đỡ ông ấy”.
Chín giờ tối ngày 8 tháng 8 năm 1974, Tổng thống Nixon tuyên bố từ chức trong Phòng Bầu dục và yêu cầu mọi người ra khỏi phòng, kể cả các nhân viên mật vụ. “Chỉ còn lại một người quay phim, một kỹ sư đài truyền hình, hai nhân viên quân đội và tôi. Tất cả chúng tôi phải ở đó để quay phim”, Cliber hồi tưởng lại ở chiếc bàn bếp nhà ông ở Rockville, Maryland. Ông nhớ rõ chuyện đó như thể nó chỉ mới xảy ra ngày hôm qua: “Căn phòng im ắng đến chết người, ý tôi nói là đến sởn cả gai ốc”.
Sau khi Nixon hoàn thành xong chương trình truyền hình lặng lẽ này, Cliber rời Phòng Bầu dục và đi dọc dãy hành lang có các hàng cột. Nixon im lặng đi theo ông. Cliber dừng lại để vị tổng thống thất sủng đi lên trên.
“Anh đi đâu thế Bill?” Nixon hỏi, vào cái ngày chắc hẳn khó khăn nhất đời ông.
“Trở về khu nhà ở”, Cliber nói giọng ngượng ngùng.
“Đi với tôi”, tổng thống nói.
Cả hai sánh bước đi trên dãy hành lang ngoài trời dọc Vườn Hồng, Cliber bất chợt dừng lại và quay sang Nixon.
“Ngài phải tự hào về bản thân. Ngài đã làm rất tốt. Điều tốt nhất ngài có thể làm”.
“Phải, tôi mong nhiều người cũng nghĩ như vậy”, Nixon trả lời, mắt đờ đẫn. Cliber cảm thấy như ông ấy đang cố kềm để không khóc.
“Đến một ngày nào đó, họ sẽ gặp rắc rối vì chuyện này”, Cliber nói với ông.
Khi đến Tầng Trệt của khu nhà ở, họ chia tay nhau và không nói thêm lời nào khác. Nixon tiến đến chiếc thang máy dành cho tổng thống còn Cliber bước xuống cầu thang để đến Phòng Điện dưới tầng hầm.
Đêm hôm đó, Nixon thức đến 2 giờ sáng để gọi điện thoại trong Phòng khách Lincoln, căn phòng yêu thích nhất của ông trong Nhà Trắng. Tiếng reo hò của đám đông không ngớt vọng vào từ bên ngoài: “Bỏ tù tổng thống! Bỏ tù tổng thống!” Cuối cùng ông cũng lên giường nhưng chẳng thể ngủ yên. Khi ông thức giấc và nhìn vào đồng hồ đeo tay thì thấy mới 4 giờ sáng. Không ngủ lại được, ông vào bếp định tìm thứ gì đó để ăn và giật mình thấy Phục vụ Johnny Johnson đang đứng ở đó.
“Johnny, anh làm gì ở đây vào lúc sáng sớm như thế này?”
“Không sớm đâu, thưa ngài tổng thống”, Johnson trả lời. “Gần 6 giờ rồi”.
Trong buổi phỏng vấn năm 1983, Nixon giải thích chuyện gì xảy ra lúc ấy: “Đồng hồ của tôi hết pin lúc 4 giờ sáng, ngay ngày cuối cùng tôi còn tại vị. Đó cũng là lúc sức lực của tôi cạn kiệt”.
Ông Preston Bruce nhớ lúc ông gặp Tổng thống Nixon trong thang máy vào ngày cuối cùng của ông ấy trong Nhà Trắng. “Thưa ngài Tổng thống, đây là thời điểm tôi không bao giờ mong muốn xảy ra trong cuộc đời tôi”, Bruce nói với Nixon. Khi chỉ còn hai người với nhau trong thang máy, Bruce nhớ lại, họ đã ôm nhau khóc – giống như vợ và em trai của Tổng thống Kennedy đã từng khóc với ông sau ngày JFK bị ám sát hơn một thập niên trước.
“Ông là người bạn thực sự của tôi”, Nixon nói với Bruce.
TỔNG THỐNG REAGAN thân thiện đến mức chỉ sau một thời gian ngắn, các nhân viên làm phòng, phục vụ cùng các quản lý đã phải học cách lẻn ra ngoài cửa khi xuống đến Sảnh Trung tâm nếu như không muốn bị kẹt trong những câu chuyện cà kê dê ngỗng của ông. Ông đặc biệt thích nói về bang California, nơi ông từng làm thống đốc suốt tám năm. Cletus Clark vẫn nhớ hầu hết những lần tổng thống ghé vào phòng gym buổi tối khi ông đang sơn lại nơi đó. “Có một ngày, ông ấy xuống dưới đó ngay lúc một anh thợ sơn đang đứng trên máy chạy bộ của ông ấy. Tôi sợ muốn chết. Tôi nghĩ ông ấy sẽ nổi giận, nhưng trái lại ông ấy còn nói: ‘Để tôi chỉ anh cách sử dụng’. Và thế là ông ấy leo lên máy và bắt đầu chạy bộ”.
Bà Nancy Reagan không phải lúc nào cũng tán thành thói quen tán dóc với nhân viên của chồng. “Bà ấy luôn đưa ông ấy về đúng với cương vị của ông ấy”, Clark nói. “Bà không muốn chồng thân thiết với các nhân viên”.
Vào 2 giờ 25 trưa ngày 30 tháng 3 năm 1981, sau đúng 69 ngày Reagan lên làm tổng thống, John Hincley Jr. nã sáu phát đạn vào người ông sau khi ông phát biểu ở Khách sạn Washington Hilton ra. Vụ mưu sát làm rúng động những người giúp việc lúc đó vẫn chưa biết rõ về vị tổng thống vui vẻ vô tư này.
Vào ngày Reagan bị bắn, Clark đang ở trong phòng Solarium. Bà Nancy Reagan và Ted Graber, nhà thiết kế nội thất của bà, cùng Tổng Quản lý Rex Scouten cũng đang đứng gần đó. “Tôi sẽ không bao giờ quên chuyện này”, Clark nhớ lại. “Có người chạy lên thì thào gì đó với họ, tôi chưa kịp hiểu ra chuyện gì thì họ đã đi mất. Chỉ còn tôi ở lại pha sơn cho khớp với màu rèm cửa”.
Ngày hôm sau, trong lúc chồng bà đang hồi phục trong bệnh viện thì đến lượt bà bị chấn thương. Sau khi về đến tư dinh, bà lên Phòng Game trên tầng ba, một không gian ấm cúng thoải mái với chiếc bàn bi-da, để lấy bức hình chồng bà yêu thích nhất đem vào bệnh viện cho ông. Trong khi xe chờ bà ở dưới nhà, bà trèo lên ghế và với lấy tấm hình nhưng chẳng may bà bị ngã, gãy hết mấy cái xương sườn. Chỉ vài người giúp việc trong nhà biết bà gặp nạn bởi bà không bao giờ công khai chuyện này ra ngoài. Các nhân viên cũng chưa bao giờ nhắc đến chuyện đó cho đến ngày hôm nay.
Ron, con trai của vợ chồng Reagan thậm chí cũng không nhớ đã xảy ra chuyện này. Tuy nhiên anh không ngạc nhiên khi nghe kể lại mấy chục năm sau: “Hẳn tâm trí mẹ tôi lúc ấy chỉ hướng về ba tôi, bằng không bà đã không để bị gãy xương sườn như vậy”.
Lúc đó, bà Nancy Reagan đã có lối hành xử kiên cường trước áp lực, như lối hành xử mà các nhân viên trong dinh thể hiện mỗi ngày.
Chương 6
hy sinh
Ngày đầu tiên đến Phòng Quản lý, tôi nghĩ nó trông chẳng khác gì một cái nhà thương điên rộng 4m x 4m. Mọi người không ngớt chạy ra chạy vào cả ngày, chuông điện thoại reo vang không dứt và tiếng máy kêu o o liên tục
– J.B. West, Quản lý và Tổng Quản lý, 1941–1969, Trên lầu Nhà trắng: Sống cạnh các đệ nhất phu nhân.
Quản lý Nelson Pierce sống cùng bà Caroline vợ ông trong một ngôi nhà trắng xây theo lối kiến trúc thuộc địa rất đẹp ở Arlington, Virginia, cách Nhà Trắng khoảng 6 km. Trước khi ông qua đời ngày 27 tháng 11 năm 2014, hai vợ chồng ông rất thích ngồi xích đu trước hiên nhà trong những ngày hè. Trong một lần phỏng vấn, khi tôi hỏi vợ chồng ông đã kết hôn bao nhiêu lâu, ông liếc nhìn sang vợ và nhờ bà nhắc mình. Bà như không để tâm đến phút đãng trí nhất thời của chồng. Bà dường như đã quen giữ vai trò chính trong mối quan hệ vợ chồng. Do thời gian làm việc của chồng bà luôn dày đặc nên trong suốt 36 năm kết hôn, bà gần như một mình chăm sóc bốn con, hai trai và hai gái.
Chỉ có một ngày là ông Pierce nhớ rõ, đó là ngày 16 tháng 10 năm 1961, tức ngày ông bắt đầu vào làm trong dinh tổng thống. Trong hơn hai thập niên ở Nhà Trắng, thời gian làm việc của ông dài và thất thường đến mức vợ ông cảm thấy “kỳ lạ” mỗi khi ông có mặt ở nhà. Ca trực của các nhân viên quản lý thay đổi thường xuyên đến mức hai vợ chồng Pierce phải đặt một cuốn lịch trên bàn, ngay cạnh chiếc điện thoại để bà Caroline nắm giờ giấc làm việc của chồng. Bà nói rằng các con bà “sống theo cuộc sống của Nhà Trắng”. Không biết bao nhiêu lần, bà phải luôn miệng lặp đi lặp lại với chúng rằng “‘Chúng ta không thể làm chuyện đó vì bố phải đi làm. Chúng ta không thể đi ngày hôm nay vì bố phải đi làm’. Cuộc sống của chúng tôi xoay quanh Nhà Trắng”. Có lần bà đã trêu chồng khi nói rằng bạn bè của mấy đứa nhỏ không biết ông làm gì. Nhìn vào chức vị của ông, tất cả bọn chúng đều nghĩ ông làm nghề dẫn chỗ trong nhà hát [**]. “Điều này làm ông ấy mất giá”, bà đùa.
[**](Theo từ điển thì “usher” là người dẫn chỗ ngồi trong rạp hát, chỉ duy nhất trong Nhà Trắng “usher” mới có nghĩa là quản lý.)
Nhưng Pierce chưa bao giờ quên là mình có đặc ân làm việc trong Nhà Trắng. Có một ngày, Steve Bull, một trợ lý của ông Richard Nixon đang ra khỏi khu Cánh Tây thì gặp Pierce từ dưới cầu thang đi lên để bắt đầu ca trực. Bull chọc quê ông là chưa chi đã đeo thẻ Nhà Trắng khi chưa vào đến bên trong. Pierce nghiêm túc nói: “Trong 210 triệu người trên đất nước này, có bao nhiêu người trong chúng ta được đặc ân đeo chiếc thẻ này?”
Bull khựng lại rồi trả lời: “Tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều đó”.
Trong suốt thời gian ông làm việc ở Nhà Trắng, chỉ có mỗi việc cố sức theo kịp các yêu cầu của Tổng thống Lyndon B. Johnson là ảnh hưởng nhiều nhất đến cuộc hôn nhân của ông. Giống như một con thú ăn đêm, Johnson thường ăn tối sau 10 giờ, sau đó ngủ vài tiếng và thức dậy lúc 4 giờ sáng. Thợ mộc Isaac Avery, người bắt đầu làm việc ở Nhà Trắng năm 1930, nói rằng anh chưa bao giờ thấy ai giống vậy: “Vợ chồng nhà Kennedy chỉ là sống vội, chứ còn Tổng thống Johnson thì sống ngay trên đường đua”.
Lynda, con gái của Johnson nhớ là mỗi ca làm việc của cha cô kéo dài hai ngày. Cô nói “buổi sáng ông ấy thức dậy làm việc”, đến khoảng 2 hay 3 giờ trưa hoặc bất cứ lúc nào có thể nghỉ giải lao thì ông ấy về nhà để ăn trưa hay ăn xế (nhiều lúc khá trễ, tận 3, 4 giờ trưa). Sau đó ông về phòng mình thay đồ ngủ và đánh một giấc khoảng nửa tiếng hay một tiếng. Và thế là ngày thứ hai của ông bắt đầu”.
Các nhân viên phải điều chỉnh thời gian làm việc của họ cho phù hợp với yêu cầu của Tổng thống Johnson. Họ làm theo ca. Một nhóm quản lý, hầu phòng, phục vụ và đầu bếp đến từ 7, 8 giờ sáng và làm đến 4, 5 giờ chiều. Một nhóm khác đến sau giờ ăn trưa và làm đến đêm hoặc đầu giờ sáng.
Mỗi tối, viên chỉ huy trưởng lực lượng hải quân đều đến mát–xa cho Tổng thống Johnson tại khu nhà ở của tổng thống. Mỗi khi Pierce trực đêm, ông phải đứng đợi ở dưới nhà cho đến khi người chỉ huy trưởng xuống bảo là tổng thống đã lên giường, lúc đó ông mới được tự do ra về. Thỉnh thoảng, Pierce nhớ lại, tổng thống ngủ gục trên bàn và người chỉ huy trưởng phải ngồi đợi cho đến khi ông ấy tỉnh dậy để có thể hoàn tất công việc mát–xa của mình.
“Đến 3, 4 giờ, có khi đến 5 giờ sáng chúng tôi mới ra về”, Pierce nói, không chút oán trách.
Johnson không phải là vị tổng thống duy nhất có cuộc sống cú đêm. Pierce nhớ vợ chồng Kennedy cũng từng tổ chức vài bữa tiệc tối kéo dài đến tận khuya, làm ông phải gọi điện về nhà cho vợ để nhờ bà nói với cậu con trai đầu của họ là đừng đi làm vội mà chờ ông về. Sau đó ông vội vã về nhà để kịp chở con đến tòa soạn báo Washington Post ở cách nhà 10 km. Có đôi khi, đó là lần duy nhất ông gặp mặt con trong ngày.
Khối lượng công việc của các nhân viên quản lý khiến các nhân viên khu Cánh Tây cũng phải bất ngờ. Katie Johnson, cựu thư ký riêng của Tổng thống Obama, đã vô cùng kinh ngạc trước tính hiệu quả của việc họ phối hợp tổ chức một bữa tiệc ăn mừng vào phút cuối dành cho các nhân viên đã giúp đạo luật chăm sóc sức khỏe lịch sử của Tổng thống Obama được thông qua tối ngày 21 tháng 3 năm 2010.
“Mãi đến 4 giờ chiều, chúng tôi mới biết biết đạo luật được thông qua, và dĩ nhiên là danh sách những người làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe lớn hơn nhiều so với dự tính ban đầu. Đến 4 giờ rưỡi, tôi gọi điện cho bên tư dinh và nói với họ rằng chúng tôi cần đồ ăn và thức uống cho một trăm người lúc 8 giờ”, cô nhớ lại. Cô nghĩ họ sẽ thoái thác, thế nhưng “họ lại nói ‘chẳng có gì to tát, chúng tôi hiểu rồi’”. Chỉ trong vài tiếng đồng hồ, họ đã tạo ra một đêm đáng nhớ cho các nhân viên Cánh Tây với bữa tiệc rượu champagne trên ban công Truman.
Cựu phát ngôn viên Nhà Trắng Reid Cherlin nói đó là lần đầu tiên ông đặt chân đến khu nhà ở của tổng thống (vợ chồng Obama đặc biệt rất kín đáo, chỉ có vài người bạn thân của họ, trong đó có Valerie Jarret là được thường xuyên nhìn thấy tầng trên). Cherlin nói đây là một hồi ức “sâu đậm bởi tôi biết mình sẽ không bao giờ đến được nơi đó nữa”.
Trong lúc họ đang thưởng thức champagne, người viết diễn văn Adam Frankel buột miệng xin Reggie Love cho vào xem Phòng ngủ Lincoln, chẳng mấy chốc, tất cả mọi người đều muốn được tham gia chuyến tham quan ngẫu hứng đó.
“Ta làm một vòng nhé”, tổng thống nói với đám người đến dự tiệc.
Chỉ cần có thế. “Tất cả mọi người, từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất đều đi rảo quanh các phòng ngủ ở tầng hai. Ai cũng cười rạng rỡ”, Cherlin nhớ lại. “Tâm trạng tổng thống hôm ấy rất vui vẻ”.
“Tôi chỉ có thể đưa các bạn lên đây khi Michelle đã ra khỏi thành phố thôi”, Obama nói với họ. Chỉ vào một phiên bản của bài diễn văn Gettysburg chưng trong Phòng ngủ Lincoln, vị tổng thống – vốn vẫn tự hào về chữ viết của mình – nói với các nhân viên trẻ là ông rất ngưỡng mộ nét chữ tuyệt đẹp của Lincoln.
Với một chính trị gia thỉnh thoảng vẫn bị xem là cách biệt, Obama thường nói về Nhà Trắng với vẻ thích thú rất trẻ con. Không lâu sau ngày nhậm chức, Frankel đưa một người viết diễn văn mới đến Phòng Bầu dục.
“Lần đầu tiên anh đến đây phải không?”, Obama hỏi.
“Dạ phải, thưa ngài”, cậu đồng nghiệp của Frankel trả lời.
“Anh thấy sao, tuyệt chứ hả?”
QUẢN BẾP WALTER Scheib lập tức nói rằng ông cảm thấy rất vinh dự và biết ơn vì được làm cho Nhà Trắng – mặc dù ông nói làm việc nơi đây không khác ở tù.
“Mỗi ngày chúng tôi đều phục vụ cho cùng một số người đó. Không còn cuộc sống riêng tư, gia đình, đời sống xã hội. Chúng tôi sống theo cái mà chúng tôi gọi là “giờ làm việc linh hoạt ở Nhà Trắng”, có nghĩa là ta chọn bất kỳ 85 giờ làm việc nào ta muốn mỗi tuần. Ta mất gia đình, mất đời sống xã hội, mất đời sống cá nhân, và trong nhiều trường hợp còn mất luôn cả đời sống nghề nghiệp bởi ta làm việc với cùng một nhóm người mỗi ngày, hết ngày này đến ngày khác. Vì thế ta phải luôn tìm cách gì mới để giữ mãi sự vui tươi”.
Nhiều nhân viên phục vụ mà tôi phỏng vấn đã ly hôn, một phần cũng tại công việc của họ. Phục vụ James Ramsey quả quyết rằng ông chưa bao giờ vui hơn kể từ lúc ly dị vợ năm 1995, mặc dù chuyện này làm ông mất đứt căn nhà và chiếc xe. “Bây giờ tôi muốn đến muốn đi lúc nào cũng được. Tôi làm mọi thứ tôi muốn, chẳng còn ai nói tôi phải làm gì. Tôi yêu cuộc sống của tôi”. Không có ai để đáp trả cũng là chuyện tốt khi ta phải làm việc trong điều kiện giờ giấc thất thường. Đôi lúc Ramsey ra khỏi nhà từ 5, 6 giờ sáng và chỉ quay về vào 2 giờ sáng hôm sau nếu trong dinh có tiệc tối.
Phục vụ James Hall, người được Nancy Reagan đặt biệt danh là “Big Man”, bắt đầu công việc ở Nhà Trắng năm 1963. Chín năm sau thì ông ly hôn. Hall được gọi đến phục vụ cho các quốc yến và phụ giúp các nhân viên phục vụ toàn thời gian mỗi khi thiếu người, ông thường nhận được cuộc gọi vào phút chót sau khi đã làm việc toàn thời gian ở Khu lưu trữ văn kiện quốc gia với tư cách kỹ thuật viên thư viện.
Hall qua đời cùng quãng thời gian với James Ramsey bạn ông. Trước lúc Hall ra đi, tôi đã phỏng vấn ông tại căn hộ gọn gàng ngăn nắp của ông tại khu nhà hưu trí ở Suitland, Maryland, nơi căn phòng ngủ thứ hai được ông dành trọn để trưng bày những gì liên quan đến sự nghiệp của mình. Trong số các kỷ vật đó, có hai lá thư của Quản bếp Rex Scouten viết cảm ơn ông đã giúp đỡ cho bữa dạ tiệc vinh danh các tù binh Mỹ tại Việt Nam, và cho bữa tiệc cưới của Tricia Nixon. Những lá thư này được treo cạnh thư chia buồn của Tổng thống Clinton khi cha ông mất năm 1995.
Hall không hề oán giận chuyện mình ly hôn hay những lần về khuya vì phải ở lại làm việc ở Nhà Trắng. Nhớ đến thời gian làm việc dưới thời Nixon, lúc các nhân viên phục vụ còn mặc áo đuôi tôm và áo gi-lê trắng, ông nói: “Họ buộc chúng tôi phải thay gi-lê trắng bằng gi-lê đen vì cho rằng chúng tôi ‘còn chải chuốt hơn cả khách mời’”.
Dĩ nhiên là không phải cứ làm việc ở Nhà Trắng là có nguy cơ vướng vào chuyên ly hôn. Một số cặp vợ chồng thậm chí đã quen biết nhau lúc làm chung trong Nhà Trắng. Sau một thời gian tán tỉnh nhau, cuối cùng đến năm 1980 Tổng quản lý Bộ phận Phòng Christine Crans cũng yêu anh kỹ sư Robert Limerick. Cả hai gặp nhau khi Crans lấy số đo của Limerick để may đồng phục cho anh. Ông kỹ sư trưởng, sếp của Limerick, lúc nào cũng chọc ghẹo họ cho đến khi cả hai quyết định “công khai chuyện này để làm ông ấy vui”, Christine nhớ lại. Chưa đầy một năm sau, họ kết hôn.
Khi Christine cho Nancy Reagan biết mình đã đính hôn, đệ nhất phu nhân rất phấn khởi, và cả nhẹ nhõm nữa. “Tôi nghĩ bà ấy lo tôi sẽ trở thành gái già”, Limerick phá lên cười. Do người quản lý Bộ phận Phòng trước bà cũng từng kết hôn với một bếp trưởng bánh ngọt nên từ đó “mọi người đùa rằng các quản lý Bộ phận Phòng đến Nhà Trắng là để kiếm chồng”. Tại bữa tiệc cưới nho nhỏ của họ ở Deale, Maryland, có khoảng 40 trong số 65 khách mời là nhân viên Nhà Trắng cùng với vợ chồng họ, trong số đó có Gary Walters và Rex Scouten.
Tuy nhiên, lịch làm việc bận rộn cũng gây cho họ không ít thách thức. Lúc gia đình Clinton ở Nhà Trắng, Giáng sinh năm nào Limerick cũng phải đi làm, vì thế hai vợ chồng bà cuối cùng quyết định là Robert sẽ nghỉ công việc kỹ sư ở Nhà Trắng vì lịch làm việc quá căng. Ngoài chuyện bực bội vì khó phối hợp lịch làm việc của hai người với nhau, vợ chồng Limerick còn không thể kể cho nhau nghe những điều khác thường mà họ nghe được trong công việc, dù cả hai đều làm trong Nhà Trắng. “Chúng tôi không phải lúc nào cũng có thể kể hết mọi chuyện cho nhau nghe khi về nhà”.
QUẢN LÝ SKIP Allen, làm việc ở tư dinh từ năm 1979 đến năm 2004, biết một nhân viên đã hy sinh đời mình cho công việc. Frederick “Freddie” Mayfield bắt đầu làm việc ở Nhà Trắng năm 1962. Công việc của ông là quét dọn và di dời các đồ đạc nặng. Khi lên được chức gác cửa thì ông cũng đã trở thành một nhân viên lão làng với mái tóc bạch kim, chiếc cà vạt trắng cùng chiếc áo đuôi tôm đen (ông cũng có thái độ điềm tĩnh đáng kính giống người đồng nghiệp Preston Bruce của mình). Là nhân viên gác cửa, tối đến ông có nhiệm vụ đứng cạnh thang máy để đưa tổng thống về nhà. “Ông ấy có nụ cười rất tươi”, Luci Baines Johnson nói. “Đối với Freddie Mayfield, mỗi ngày đều là Giáng sinh”.
Có một ngày, Mayfield kể với Allen rằng bác sĩ nói ông cần phẫu thuật bắc cầu động mạch vành gấp. Mayfield nói: “Tôi biết mình phải làm chuyện này, bác sĩ nói tôi phải phẫu thuật ngay lập tức nhưng tôi sẽ đợi cho đến khi tổng thống thực hiện chuyến công du sắp tới cái đã”. Nhưng khi chuyến đi kế tiếp của tổng thống đến thì đã quá trễ. Mayfield lên cơn đau tim trên đường đến nơi làm việc và qua đời khi chỉ mới 58 tuổi, “ông ấy chưa bao giờ điều trị bệnh tim vì liên tục nói rằng ‘Tổng thống hiện đang cần tôi, tôi sẽ đợi đến khi ông ấy đi xa mới vào bệnh viện’. Ông ấy không bao giờ làm được chuyện đó”. Không phải vì Mayfield nghĩ rằng chỉ có ông mới làm được việc này, Allen nói. “Đây là niềm tự hào công việc, là ‘tôi muốn làm hết sức mình cho tổng thống’, và họ đã cố gắng hết sức làm điều đó”.
Ngày 17 tháng 5 năm 1984, bà Nancy Reagan đến dự đám tang Mayfield. Bà xúc động trước sự ra đi của ông đến mức thốt lên rằng “không có ông ấy, nơi này dường như không còn như cũ”. Phục vụ Herman Thompson nhớ mình đã rất xúc động khi nhìn thấy bà trong đám tang. “Tôi nghĩ bà ấy rất kính trọng người đã khuất”. Nhiều thập niên sau, bà nói bà nhớ mình đã “sốc và đau buồn” đến nhường nào khi nhận được điện thoại báo tin ông mất. Bà lập tức biết rằng “mọi thứ sẽ không còn như trước khi thiếu đi gương mặt tươi cười của ông ấy ở cửa thang máy”.
Tất cả các nhân viên đều xem nhau như người nhà. Thời Freddie Mayfield còn sống, nhiều người thường chơi golf với nhau. Cứ mỗi tối thứ Sáu, một nhóm nhân viên lại tụ tập ở đường băng bowling trong tòa nhà văn phòng điều hành Eisenhower để đấu với các nhân viên mật vụ và sĩ quan cảnh sát. Khi bà Caroline vợ ông Nelson Pierce nghe đến tên người bạn già Freddie, gương mặt bà tươi hẳn lên. “Freddie rất thích ăn cổ gà tây. Lễ Tạ ơn nào tôi cũng để dành cổ gà tây gởi cho ông ấy”.
Tình bằng hữu giữa các nhân viên vẫn tiếp tục tồn tại cho đến hôm nay. Mỗi khi một nhân viên có người nhà qua đời hay gặp khó khăn chi trả phí khám chữa bệnh, các đồng nghiệp của người đó sẽ bỏ tiền vào một cái hũ đặt trong phòng để đồ ăn ở tầng một để phụ vào chi phí khám chữa bệnh.
“Mỗi khi ta có một ngày không vui, một nhân viên phục vụ sẽ bước vào chào ta buổi sáng và làm ta cười”, Quản lý Nancy Mitchell hồi tưởng. “Lúc nào cũng có người vào phòng và giúp ta lấy lại tinh thần”.
Phục vụ James Jeffries đến từ một gia đình có nhiều người làm việc trong Nhà Trắng. Gia đình ông có đến chín thành viên làm việc ở đây. Cậu của ông, Charles Ficklin, là quản lý tổ phục vụ của Nhà Trắng. Một người cậu khác, John Ficklin, lúc đầu làm nhân viên phục vụ nhưng sau đó cũng trở thành quản lý tổ phục vụ.
Khi mẹ Jeffries mất năm 2012, ông đau buồn nhớ lại, “ngoại trừ tổng thống ra, còn thì hầu hết mọi người đều đến đưa tang mẹ tôi”. Tuy mẹ ông chưa bao giờ làm việc cho Nhà Trắng nhưng các nhân viên phục vụ Buddy Carter và James Ramsey cùng Quản lý kho Bill Hamilton cũng đến bày tỏ sự ủng hộ của họ với gia đình Ficklin. Các đồng nghiệp của ông góp gần 400 đô la tiền phúng mặc dù chẳng ai giàu có. Jeffries càng kinh ngạc hơn khi mọi chuyện lại diễn ra tương tự khi một người cậu của ông mất. “Cậu tôi không làm việc trong Nhà Trắng nhưng ông ấy là một người thuộc dòng họ Ficklin. Ông ấy qua đời ở Amissville, Virginia. Khi chúng tôi đang tiến hành tang lễ thì đột nhiên tôi nghe tiếng cửa nhà thờ bật mở và ông West, các quản lý cùng một vài người khác ở Nhà Trắng bước vào tiễn đưa cậu tôi. Tôi nhớ ai đó đã đọc to lá thư chia buồn tổng thống gởi tới”, ông ngưng lại một lúc. “Tôi bật khóc vì hạnh phúc khi thấy mọi người nghĩ đến chúng tôi”.
Jeffries hiện vẫn tiếp tục phục vụ ở Nhà Trắng mỗi tuần vài ngày. Ông nói mình sẽ nghỉ hưu “khi chân tôi không còn trụ vững”. Mỗi khi đến Nhà Trắng, việc đầu tiên ông làm là lấy bảng phân công đặt trên mặt tủ bếp ra xem. Công việc của ông ngày hôm ấy có thể là túc trực ở căn bếp tầng một để pha chế rượu hay mang khay thu dọn ly tách bẩn. Ông nói ông thích pha chế rượu hay rửa bát đĩa trong bếp hơn vì việc cầm khay chất đầy ly tách là quá nặng với một người ở độ tuổi thất tuần lại viêm khớp như ông. Ông cho biết là vừa rồi, quản lý của ông đã hỏi thăm ông có sao không sau khi ông thở không ra hơi do liên tục chạy tới chạy lui giữa nhà bếp với Phòng Đông, mỗi lần bưng hai đĩa thức ăn cùng một lúc. Nhưng ông luôn gạt phắt đi. “Tôi không muốn than thở”, ông nói. Những ngày như thế, các đồng nghiệp luôn đỡ đần để ông không phải làm nhiều việc nặng, giống như ông từng giúp đỡ các nhân viên phục vụ lớn tuổi khác hồi ông mới vào đây, năm 1959.
“Tôi nhớ có một lần, các nhân viên phục vụ vì quá già yếu nên khi bưng chiếc khay chất đầy thức uống, tôi nghe tiếng thủy tinh va vào nhau nghe leng keng vì lực tay họ không đủ mạnh”, ông nói. “Tôi liền chạy ra ngoài đỡ chiếc khay và thế chỗ cho ông ấy để ông ấy có thể quay trở vào trong”.
Các nhân viên phục vụ thường để lại ấn tượng lâu dài cho đệ nhất gia đình cùng các trợ lý của họ. Desirée Rogers vẫn nhớ về sự mất mát của Nhà Trắng khi nhân viên phục vụ lâu năm Smile “Smiley” Saint–Aubin qua đời đột ngột năm 2009. Cô gọi cái chết của ông là “một trong những điều đau lòng nhất trong thời gian tôi và nhóm chúng tôi làm việc ở đó”. Như thể đang nói về sự mất mát của một người thân trong chính gia đình mình, Rogers cho biết gia đình Obama đã tổ chức một buổi lễ vinh danh Smile ở Nhà Trắng có mặt gia đình ông.
“Ông ấy là một người rất tử tế và làm việc rất giỏi, chính vì thế chúng tôi gọi ông ấy là ‘Smiley’ tức luôn vui vẻ tươi cười, lúc nào cũng sẵn sàng phục vụ, sẵn sàng giúp đỡ, dù đó là việc văn phòng cần hay việc các đồng nghiệp nhờ”, cô nói. “Tất cả chúng tôi đều nghĩ đây là một mất mát quá sớm, ngay tại thời điểm chúng tôi đang học cách làm quen với công việc ở đây. Thời điểm đó quả thật khó khăn”.
Tuy nhiên, sự hy sinh của các nhân viên không phải là không được biết đến. Charles Allen, con trai người phục vụ kiêm quản lý tổ phục vụ Eugene Allen, nhớ có lần ba anh đã kể cho anh nghe một câu chuyện cho thấy sự hết lòng của đệ nhất gia đình với các nhân viên của họ. Lo lắng cho người vợ bị ung thư của một người phục vụ, phu nhân Lady Bird Johnson liên tục hỏi thăm anh ta xem vợ anh ta được điều trị ra sao. Khi không vừa ý với cách anh trả lời, bà đã gọi điện cho hai bác sĩ điều trị ung thư được đánh giá cao nhất nước. Ngay trưa hôm đó, họ bay từ New York đến sân bay quốc gia Washington để gặp vợ người phục vụ.
Tương tự, thợ điện Bill Cliber cũng bày tỏ sự thương yêu và kính trọng đối với phu nhân Bird khi nhớ lại việc các nhân viên mật vụ đến gặp ông không lâu sau ngày con trai ông ra đời.
“Vợ anh nằm ở bệnh viện nào?” Họ hỏi.
“Cô ấy ở bệnh viện Washington Adventist ở Takoma Park”, ông trả lời. “Sao vậy?”
Họ nói phu nhân Lady Bird tính tặng hoa cho vợ ông. Ông ngưng lại, mắt rưng rưng dù đã nhiều năm trôi qua. “Ồ không”, ông không tin vào tai mình. “Đệ nhất phu nhân đi lấy hoa và đem đến bệnh viện tặng vợ tôi”. Bà Bea vợ ông ngồi cạnh đó trong lúc ông kể chuyện, nhưng khi tôi yêu cầu bà ấy kể chi tiết hơn thì bà lắc đầu từ chối. Hồi ức đó, bà chỉ muốn cất giữ cho riêng mình.
Ngày hôm sau khi Cliber đến cảm ơn phu nhân Lady Bird, bà nói đây là việc dễ làm nhất trên cương vị một đệ nhất phu nhân.
Chương 7
chủng tộc và nhà trắng
Bất kỳ người Mỹ nào hiểu được lịch sử phức tạp của đất nước này cũng sẽ cảm nhận được điều đó. Nhất là khi ta nhìn vào những bức vẽ mô tả quá trình xây dựng tòa nhà và thấy rằng nhiều nô lệ đã không thể bước chân vào để tham gia xây dựng nên tòa nhà này. Trong số những nô lệ đó có thể có tổ tiên tôi, chính vì thế việc chúng tôi là gia đình Mỹ gốc Phi đầu tiên sống ở ngôi nhà này qua chừng ấy năm có ý nghĩa và sức mạnh đến thế nào
– Đệ nhất phu nhân Michelle Obama.

Cuộc bầu cử 2008 huyền thoại đưa ông Obama lên ngôi tổng thống đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử nước Mỹ và được nhiều người ca ngợi như là thành công của phong trào dân quyền. Không hơn 40 năm trước khi diễn ra cuộc bầu cử, việc kỳ thị người Mỹ gốc Phi ở miền Nam được xem là hợp pháp. Khoảng 100 năm trước đó nữa, các phòng đấu giá nô lệ được dựng lên ngay Quảng trường Lafayette nhìn thẳng ra Nhà Trắng. Nhưng bây giờ thì đệ nhất gia đình Mỹ gốc Phi của đất nước đang được phục vụ bởi một đội ngũ phục vụ có đa số là người Mỹ gốc Phi.

Lúc gia đình Obama mới dọn vào Nhà Trắng, họ rất thận trọng với các nhân viên. Một số quan sát viên tin rằng họ không hoàn toàn thoải mái khi có người phục vụ bữa ăn cho mình. Vợ chồng tổng thống đương nhiên ý thức rất sâu sắc về thân phận lịch sử có một không hai của họ. Ông Obama không chỉ là người Mỹ gốc Phi đầu tiên đắc cử tổng thống mà, như ông đã lưu ý trong bài phát biểu về vấn đề chủng tộc được đón chào nồng nhiệt trong mùa bầu cử sơ bộ năm 2008, mà vợ ông cũng là “một người Mỹ da đen mang trong mình dòng máu nửa nô lệ nửa chủ nô”. Jim Robinson, ông sơ của bà Michelle Obama là một nô lệ. Còn ông cố của bà, Fraser Robinson, lúc trẻ không biết chữ và mãi sau này mới học đọc. Một số thành viên của gia đình Phu nhân Obama làm công việc gần giống với những việc mà các gia nhân trong tư dinh đang làm, như ông ngoại Purnell Shields của bà chẳng hạn từng làm công việc vặt ở Chicago, còn dì của bà làm người giúp việc.
Từ lúc đắc cử, tổng thống cố tránh để không sa vào các mối quan hệ sắc tộc, thế nên các trợ lý của ông không có gì nhiều để nói về mối quan hệ giữa những người giúp việc với đệ nhất gia đình. Nhưng Tổng Quản lý Stephen Rochon, nghỉ hưu năm 2011 trên cương vị tổng quản lý da đen đầu tiên, nói rằng ông vẫn nhận thấy có sự đồng cảm đặc biệt giữa các gia nhân Mỹ gốc Phi và gia đình Obama vì “họ có cùng nền văn hóa”. Ông nói về “cảm giác tự hào” của các gia nhân vì “đất nước này đã tiến bộ đến mức có một tổng thống da đen”.
Với Desirée Rogers – nay là CEO của Nhà xuất bản Johnson, nơi phát hành các tạp chí Jet và Ebony – việc cô là thư ký xã hội Mỹ gốc Phi đầu tiên của đệ nhất gia đình này có ý nghĩa rất đặc biệt. “Vào ngày nhậm chức, điều lôi cuốn tôi nhất chính là chứng kiến tất cả những quý ông lịch lãm đó chuẩn bị cho sự chuyển đến của vị tổng thống Mỹ gốc Phi đầu tiên, và tôi không thể không chú ý đến vẻ mặt của họ. Họ thực sự làm tôi nhớ đến ông tôi, vốn cũng là một trụ cột gia đình”. Cô nói cô ước gì ông mình có mặt ở đó để chứng kiến chuyện này.
Rogers thường nghe các nhân viên phục vụ nói rằng họ chưa bao giờ nghĩ sẽ có ngày phục vụ vị tổng thống Mỹ gốc Phi đầu tiên. Họ thậm chí còn cố gắng làm việc nhiều hơn bình thường một chút. “Tôi có thể thấy họ tự hào thế nào khi chuẩn bị cho đệ nhất gia đình dọn đến. Với tôi, khoảnh khắc chuẩn bị nhà cửa để đón gia đình này vào thực sự rất xúc động khi tôi chứng kiến tất cả những quý ông lịch lãm đó làm việc thật chăm chỉ để đảm bảo mọi thứ thật hoàn hảo lúc gia đình tổng thống đến sau khi xem lễ diễu hành”.
Lonnie Bunch, giám đốc sáng lập Bảo tàng Lịch sử và Văn hóa Quốc gia về người Mỹ gốc phi thuộc Viện bảo tàng Smithsonian, đồng thời cũng là thành viên của ủy ban Bảo tồn Nhà Trắng, nói ông sẽ rất ngạc nhiên nếu như bà Michelle Obama không bao giờ nói với các nhân viên Mỹ gốc Phi ở Nhà Trắng về hoàn cảnh chung đặc biệt của họ. Nhưng ông nhanh chóng chỉ ra rằng nếu chỉ dựa vào một mình chủng tộc của gia đình Obama không thôi thì không thể nói là họ thân thiết với các nhân viên Mỹ gốc Phi hơn những người tiền nhiệm của họ. “Nhưng rõ ràng là họ có sự đồng cảm và tình cảm với những người đàn ông và phụ nữ đó”, ông nói. “Tôi nghĩ cái cảm giác đó chính là, giống như Michelle từng nói, ‘những người đó có thể là tôi hay những thành viên trong gia đình tôi’”.
Quản lý Điều hành Tony Savoy, đã về hưu năm 2013, dứt khoát nói rằng việc ông Obama bước vào Nhà Trắng không ảnh hưởng đến cách điều hành công việc của ông. “Tôi sẽ làm hết sức mình, cống hiến tất cả những gì có thể cho người đó, bất kể họ là ai”, ông nói. “Tôi sẽ không tận tụy với ông ta hơn là với một nữ tổng thống hay một tổng thống da trắng. Sẽ không có gì khác biệt. Tôi sẽ cống hiến một trăm mười phần trăm sức lực cho tất cả mọi tổng thống”.
HAI CHIẾN THẮNG mà Tổng thống Obama giành được để bước vào Nhà Trắng càng đặc biệt nổi trội hơn nếu xét mối quan hệ rắc rối giữa Nhà Trắng với chế độ chiếm hữu nô lệ. Việc buôn bán nô lệ ở Washington phát triển mạnh ở thế kỷ 19 mặc dù vẫn có nhiều người da màu tự do. Trong thời điểm xảy ra cuộc Nội chiến, hồ sơ điều tra dân số cho thấy có 9.029 người da đen và 1.774 nô lệ sống ở Washington, D.C. Trở ngược lại năm 1792, khi mới bắt đầu xây dựng tòa hành pháp, thủ đô mới này lúc đầu chỉ là một đầm lầy ở xa các khu trung tâm lớn phía đông, và được tách ra từ hai tiểu bang theo chế độ nô lệ là Maryland và Virginia.
Lúc ông John Adams chuyển đến Washington tháng 11 năm 1800, một phần ba dân số của thành phố này là người da đen và hầu hết là nô lệ. Những người Mỹ gốc Phi, cả người tự do lẫn người nô lệ, cũng đã góp công xây dựng phần lớn thủ đô nước Mỹ qua việc mài đá để làm cột và xây tường cho Nhà Trắng và Điện Capitol. Những người lao động này được chủ nhân của họ cho thuê để đến làm việc tại các mỏ đá chính phủ ở Aquia, Virginia, và chỉ được trả công bằng đồ ăn (thịt heo và bánh mì) và thức uống (khẩu phần hằng ngày là nửa lít rượu whisky mỗi người) Không ai biết nhiều về họ ngoài những cái tên như “Jerry”, “Charles”, “Bill” ghi trên hồ sơ chính phủ.
Thật khó để hình dung khu đất Nhà Trắng trông ra sao trong quá trình xây dựng. Một bãi đá được dựng lên ở phía đông bắc tòa nhà với hàng chục nhà xưởng lớn chứa đầy bàn cắt đá. Gần các bức tường mới xây của ngôi nhà là hai cần kéo ba mấu cao, dùng để nhấc các khối đá đưa đến nơi cần đặt. Những thiết bị này đỡ những chiếc ròng rọc khổng lồ và có cái cao đến 15 mét, vươn lên trên công trường xây dựng rộng lớn này. Bất chấp kiến trúc đồ sộ của nó – đây là tòa nhà rộng nhất nước Mỹ cho đến sau cuộc Nội chiến – Nhà Trắng vẫn là một nơi khá thô thiển trong suốt nhiều thập niên sau khi viên đá đầu tiên được đặt.
Đến khi tòa nhà có người đến cư ngụ, các nô lệ mới lần lượt được từng tổng thống miền Nam, bao gồm Thomas Jefferson, James Madison và Andrew Jackson, đưa vào Nhà Trắng cho đến năm 1860. Năm 1830, dưới thời Tổng thống Jackson, theo ghi chép của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, có 14 nô lệ sống trong tòa nhà này, trong đó có 5 trẻ em dưới 10 tuổi. “Về cơ bản thì dấu tay của người Mỹ gốc Phi đã hiện diện trên Nhà Trắng ngay từ lúc khởi đầu”, Lonnie Bunch lưu ý. Do các tổng thống đầu tiên phải tự bỏ tiền túi ra trả lương cho các gia nhân nên số gia nhân lúc đó ít hơn bây giờ nhiều. Tổng thống Jefferson chỉ có khoảng một chục người hầu, trong số đó chỉ có ba người là da trắng, còn lại toàn các nô lệ Mỹ gốc Phi đến từ Monticello, tức quê hương của Jefferson ở Virginia.
Nhiều tổng thống miền Nam ở thời kỳ đầu cố gắng cắt giảm chi phí bằng cách thay các gia nhân được trả lương – gồm người da trắng và người da đen tự do – bằng nô lệ riêng của họ. Tổng thống James Madison cũng trông cậy vào sự giúp đỡ của các nô lệ mà ông đưa từ quê nhà ông ở Montpelier lên. Người hầu riêng của ông, một nô lệ tên Paul Jennings, cuối cùng đã mua được sự tự do của mình và là người đầu tiên viết hồi ký kể về cuộc sống trong tòa hành pháp.
Khi chuyển đến Nhà Trắng, Tổng thống Andrew Jackson, một chủ nô ở Tennessee, quyết định tiết kiệm tiền bằng cách thay một số người hầu da trắng bằng các nô lệ đưa từ Tennessee lên. Các nô lệ xuất hiện trước mặt công chúng trong bộ y phục cầu kỳ, gồm áo khoác xanh dương đính nút đồng và quần ống túm màu vàng hoặc trắng. Hầu hết bọn họ đều sống trong những căn phòng đông đúc dưới tầng hầm hay trên gác mái, nơi có trần nhà dốc và ánh sáng lờ mờ. Lúc đó ở dưới tầng hầm chưa có căn bếp dài 12 mét với những chiếc lò sưởi khổng lồ. Ở nửa đầu thế kỷ 19, những gia nhân được trả lương cùng các nô lệ đều phải ngủ trên giường xếp hay những tấm nệm sờn cũ.
Thời điểm Tổng thống Zachary Taylor nhận nhiệm sở tháng 3 năm 1849 cũng là thời điểm những người miền Bắc bộc lộ sự bất bình dữ dội với chế độ chiếm hữu nô lệ. Để tiết kiệm tiền, ngoài 4 gia nhân trong tòa nhà, ông đưa thêm 15 nô lệ, trong đó có một số trẻ em, từ quê hương Louisiana của ông lên, nhưng không để họ thường xuyên lộ diện vì lo ngại phản ứng của công chúng. Cuối cùng thì chế độ nô lệ cũng được bãi bỏ ở thủ đô năm 1862.
Vai trò của các gia nhân Nhà Trắng dần dần được cải thiện. Nếu như năm 1835 người duy nhất được xếp vào vị trí quản lý trong sổ sách Liên bang là người làm vườn chính, thì đến năm 1866 Quốc hội đã lập ra chức vụ “quản gia” chính thức khi Tổng thống Andrew Johnson tuyển William Shade, một người Mỹ gốc Phi từng là người đưa tin riêng cho Tổng thống Abraham Lincoln, làm người quản lý chính thức đầu tiên của Nhà Trắng. Công việc của người này khá giống với công việc của người tổng quản lý hiện nay, tức là quản lý toàn bộ nhân viên trong tòa hành pháp và giám sát tất cả các sự kiện công và tư. Do Shade là người chịu trách nhiệm về toàn bộ tài sản của chính phủ trong tòa nhà nên ông được giao phụ trách nguồn ngân quỹ 30.000 đô la, một số tiền rất lớn ở thế kỷ 19. Văn phòng nhỏ của Shade nằm giữa hai khu bếp dưới tầng hầm, bên trong có những chiếc tủ chất đầy đồ bạc và đồ sứ, cùng những chiếc rương da lớn đựng bát đĩa sứ và muỗng nĩa từ thời Tổng thống James Monroe và Tổng thống Andrew Jackson (những món đồ này vẫn được sử dụng ở các bữa tiệc tối sau cuộc Nội chiến). Đích thân Shade giữ chìa khóa rương và kiểm tra từng món đồ một sau khi chúng được rửa và xếp cất sau các bữa tiệc tối long trọng. Nhà Trắng không có tổng quản lý Mỹ gốc Phi nào khác cho đến khi đô đốc Stephen Rochon tiếp nhận vị trí này năm 2007.
Một thế kỷ sau khi Tổng thống Jefferson cắt giảm chi tiêu bằng cách thay những người hầu da trắng bằng các nô lệ da đen, Tổng thống Franklin D. Roosevelt đưa Henrietta Nesbitt, người quản gia của ông ở Hyde Park lên để giúp điều chỉnh các khoản chi tiêu bừa bãi của đệ nhất gia đình. Không bao lâu sau ngày Roosevelt nhậm chức, Nesbitt giúp đệ nhất phu nhân sắp xếp lại bộ phận gia nhân. Bà Eleanor Roosevelt quyết định sa thải toàn bộ người giúp việc da trắng (trừ Nesbitt) và chỉ giữ lại các gia nhân Mỹ gốc Phi. Là một người nổi tiếng ủng hộ dân quyền, lý do bà đưa ra khiến mọi người khá ngạc nhiên: “Phu nhân Roosevelt và tôi đồng ý với nhau là các gia nhân cùng màu da hiểu rõ nhau trong công việc hơn và giúp cho cơ ngơi này được vận hành trôi chảy hơn”, Nesbitt viết trong hồi ký của bà.
Trước khi các nhân viên da trắng bị sa thải, các gia nhân da trắng và gia nhân da đen ăn trong hai phòng ăn khác nhau. Theo Alonzo Fields, một nhân viên phục vụ Mỹ gốc Phi thời đó, mỗi khi các gia nhân Mỹ gốc Phi đi cùng tổng thống đến nhà riêng ông ấy ở Hyde Park, New York, họ không được phép ăn trong phòng ăn dành cho người giúp việc mà được bảo phải ăn trong bếp. Chính vì chuyện này mà “tôi không tin Nhà Trắng có thể nêu gương cho phần còn lại của nước Mỹ”, Fields viết trong hồi ký của ông.
NHIỀU THẬP NIÊN trôi qua, các gia nhân Mỹ gốc Phi giờ đây đã tận dụng vị trí uy tín này của họ để vươn lên. Mặc dù họ vẫn là người giúp việc nhưng là giúp việc cho ngôi nhà quan trọng nhất nước Mỹ. Lynwood Westray khởi đầu sự nghiệp 32 năm bằng công việc phục vụ bán thời gian ở Nhà Trắng từ năm 1962. Sinh ra và lớn lên ở Washington, D.C., ông nhớ năm 1939 ông chỉ kiếm được sáu đô một tuần với công việc bán hàng trong một tiệm tạp hóa. Giờ đây khi đã 93 tuổi, ông hồi tưởng lại thời gian làm việc ở Nhà Trắng trong căn nhà trệt ba phòng ngủ ở đông bắc Washington của mình. Đây là căn nhà ông mua với giá 13.900 đô la năm 1955, vài năm sau khi kết hôn với bà Kay vợ ông. Bên ngoài nhà là con đường bốn làn xe với những dòng xe lao vùn vụt. “Thời buổi bây giờ ai cũng điên, cứ thích hất tung các xe khác ra khỏi đường”, ông nói. Ở lối vào nhà ông có hai bức hình Tổng thống Abraham Lincoln và Tổng thống Barack Obama lồng khung treo cạnh nhau, còn trên chiếc bàn kê sát tường là con búp bê mô phỏng bà Michelle Obama. Ngoài ra còn có hai tấm thiệp chúc mừng Giáng Sinh của vợ chồng Johnson và vợ chồng Carter được lồng khung treo trong phòng ăn.
Westray từng là thành viên của Công ty cung cấp nhân viên phục vụ tư nhân. Công ty này do một nhóm phục vụ Mỹ gốc Phi ở Nhà Trắng lập ra để giúp nhau tìm việc làm thêm ở các tư gia vào những tối không bận việc trong Nhà Trắng. Họ lợi dụng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, Westray nói. Những người làm việc trong chính phủ thường gọi điện cho quản lý tổ phục vụ Nhà Trắng để xem có nhân viên phục vụ nào rảnh rỗi thì đến nhà họ phục vụ các bữa tiệc. Điều này giúp họ có cơ hội được hầu hạ bởi một đội ngũ phục vụ đẳng cấp thế giới (và có quyền khoe khoang khoác lác) tại các sự kiện tư nhân. Do đó, mỗi khi Westray không phải làm việc toàn thời gian ở bưu điện (nơi ông từ chức thư ký leo dần lên chức quản đốc) hay làm việc bán thời gian ở Nhà Trắng, ông lại đến phục vụ cho các thành viên Quốc Hội, các đại sứ hay những nhà môi giới có thế lực ở Washington trong các bữa tiệc tối ở Georgetown.
“Họ hết sức thích thú. Lúc giới thiệu ta với mọi người, họ gọi ta là ‘ông’ chứ không phải Sam, John hay Charles. Tôi là ông Westray!”
Westray nói rằng ngày xưa việc phục vụ bị xem là “một công việc hèn hạ”. Ông nói các bạn ông không nhận thức được vị trí này của ông ấn tượng đến mức nào “cho đến khi họ khám phá ra rằng chúng tôi kiếm được toàn bộ số tiền này nhờ làm thêm bên ngoài”. Nhờ mối quan hệ với Nhà Trắng mà “các nhân viên phục vụ ở thành phố này có cuộc sống dư dả!”, Westray nói.
Vào một trong những lần đầu tiên tôi phỏng vấn Westray, mắt ông sáng lên khi bà Kay vợ ông mặc quần tây xanh và tô son đỏ chót chầm chậm bước vào phòng với sự hỗ trợ của chiếc khung tập đi. Tình cảm của họ dành cho nhau rất dễ lan tỏa bởi họ không ngớt trêu chọc nhau. Khi được hỏi bí quyết duy trì cuộc hôn nhân lâu dài của họ, bà Kay nói “Chúng tôi yêu nhau một chút, cãi nhau một chút, rồi làm hòa và bắt đầu lại từ đầu”.
Ông Lynwood cười toét miệng xen vào: “Năm mươi năm đầu là khó khăn nhất”.
Bà Kay qua đời tháng 5 năm 2013 sau 65 năm kết hôn. Giờ đây Westray nói ông hầu như chẳng biết làm gì khi không có bà. Ông kể chuyện mình hôn lên trán vợ ngay trước khi bà qua đời không phải với sự buồn rầu mà là một cảm giác là lạ. “Cái chết là một phần của sự sống”, ông nói. Ông giữ một bản cáo phó ép nhựa trong túi áo và đặt bình hài cốt của vợ trên mặt lò sưởi, phía trên chiếc tất Giáng sinh mà ông vẫn treo y nguyên ở đó một năm sau ngày bà mất. Nhưng ông vẫn cố hết sức sống tiếp. “Tôi đang học cách sống một mình. Tôi nấu ăn, giặt đồ, quét dọn, những việc tôi chưa từng làm”, ông buồn bã nói. Mỗi lần tự nấu ăn cho mình, ông lại chọn những món vợ yêu thích nhất, như món táo chiên chẳng hạn, để chứng tỏ với gia đình là ông tự xoay sở được. Nhưng ông sẽ không nghĩ đến chuyện có bạn gái khác bởi “tôi đã quá già rồi”.
Mười năm đầu, Lynwood Westray chỉ làm việc bán thời gian ở Nhà Trắng để bổ sung cho nguồn thu nhập chính ở bưu điện. Sau khi nghỉ hưu ở bưu điện năm 1972, ông được ông tổng quản lý mời gia nhập đội ngũ làm việc thường xuyên ở Nhà Trắng. “Vợ tôi không muốn tôi làm ở đó vì giờ giấc không ổn định”. Nhưng Gloria, cô con gái độc nhất của vợ chồng Westray thì lại nói rằng công việc của cha cô “đã mở ra cho họ nhiều cánh cửa”. Cô thích kể với mọi người là cha minh làm việc trong Nhà Trắng và phát hiện ra rằng điều này giúp cô xem trọng bản thân hơn. “Tôi đặt tiêu chuẩn bản thân cao hơn”, cô thổ lộ. “Tôi không thể ra ngoài làm chuyện không hay”.
Lúc còn là một cô bé tuổi teen, Gloria kể, có một ngày khi đi học về, cô nhìn thấy một nhân viên FBI đang đợi mình. “Mẹ tôi sợ xanh cả mặt. Hóa ra là cái anh chàng hơi lớn tuổi mà tôi đang hẹn hò bị dính vào một chuyện không hay nên FBI đến hỏi tôi, và tôi làm như thể ‘cháu quả thật không biết gì hết’. Chắc cô cũng tưởng tượng được là chuyện gì xảy ra khi ba tôi về nhà”. Cô phải hứa với cha là không bao giờ gặp anh chàng đó nữa vì điều này ảnh hưởng đến danh tiếng của ông và cuộc sống gia đình họ.
Cô cho biết mình thường đã đi ngủ mất khi cha đi làm về, nhưng sáng hôm sau trong bữa ăn sáng cô hay ép ông kể về bữa tiệc tối mà ông phục vụ tối hôm trước. Thường thì phần lớn những gì cô có thể moi được từ ông chỉ là cái thực đơn.
Mặc dù Westray luôn giữ kín những gì xảy ra trong suốt sự nghiệp của mình, nhưng khi ông già đi, ông bắt đầu chia sẻ các câu chuyện. Trong một lần được tôi phỏng vấn, ông đến tủ lấy ra mấy món đồ lưu niệm, gồm mấy bức ảnh chụp ông đang phục vụ thức uống ở bữa tiệc dã ngoại năm 1970 trên Bãi cỏ phía nam, một bức ảnh khác chụp ông đang đứng cùng Đức cha Billy Graham sau lễ cầu nguyện ngày chủ nhật ở Nhà Trắng, và cả một hộp nữ trang đựng miếng bánh kem vani nhỏ đã khô cứng lấy về từ đám cưới Tricia Nixon.
Westray hạnh phúc nhớ lại cái đêm xảy ra một chuyện bất thường năm 1976 trong Phòng Đỏ, căn phòng có nhiều bàn ghế chạm trổ cùng những bức tường viền sa-tanh tím thêu hoa văn vàng nằm giữa Phòng Lam và Phòng Quốc yến trên Tầng Khánh tiết. Tối hôm đó, Nữ hoàng Elizabeth Đệ nhị và Hoàng thân Philip được Nhà Trắng mời đến dự kỷ niệm hai trăm năm Cách mạng Hoa Kỳ. Trong bộ đồng phục tuxedo, Westray cùng Sam Washington, một người bạn làm chung, bước đến chỗ Hoàng thân Philip, lúc đó đang ngồi một mình giữa đêm khuya trong Phòng Đỏ.
“Thưa Hoàng thân, ngài có muốn dùng một ly cocktail không?”, Westray đưa khay rượu cocktail ra mời khách.
“Tôi sẽ lấy một ly... nhưng chi khi nào các anh cho tôi hầu các anh ly đó”, Philip trả lời.
Westray liếc nhìn Washington. “Anh ta không tin được chuyện này. Chưa từng có ai yêu cầu chúng tôi chuyện tương tự”. Westray và Washington chấp nhận lời mời. Họ kéo ghế ra ngồi, trong lòng chưa hết bàng hoàng, và cho phép vị hoàng thân hầu họ một ly rượu, ông không nhớ họ nói chuyện gì với nhau hay uống rượu gì, chỉ nhớ là tối hôm đó Công tước Edinburgh muốn được làm một thường dân dù chỉ trong chốc lát.
“Ngài ấy muốn thử làm người phục vụ, thế thôi”. Westray ngưng lai một lúc. “Tôi được một người trong hoàng gia hầu rượu. Thật quá sốc!”
Năm 1994, hơn ba thập niên sau ngày ông bước qua cánh cổng sắt đồ sộ của tòa nhà lớn này lần đầu, Westray rời Nhà Trắng để nghỉ hưu. Ông có thể ở lại làm việc lâu hơn nhưng sau khi nghe tin mình cần phẫu thuật bắc cầu mạch vành, ông làm theo những gì ông nghĩ là tốt nhất cho tòa nhà hành pháp và cho những nhân viên giúp vận hành tòa nhà đó: “Tôi sẽ là nỗi sỉ nhục của những người hầu bàn trong Nhà Trắng nếu như lỡ tay làm đổ đĩa thức ăn lên người ai đó”, ông nói. “Tốt nhất tôi không nên ở lại”.
WESTRAY KHÔNG PHẢI là người phục vụ duy nhất nhìn thấy khía cạnh bình dân của Công tước Edinburgh. Alonzo Fields, một nhân viên kiêm quản lý tổ phục vụ từ năm 1931 đến 1953 cũng kể về một cuộc gặp gỡ tương tự cách đây một phần tư thế kỷ. Câu chuyện xảy ra khi ông đang phục vụ bữa sáng cho cặp vợ chồng hoàng gia cùng đoàn tùy tùng của họ tại tòa nhà Blair House, nơi qua đêm của phần lớn những người quyền cao chức trọng nước ngoài. Công chúa Elizabeth và đoàn tùy tùng của bà vừa ngồi vào bàn đã bắt đầu ăn ngay mà không đợi phu quân của Công chúa, chỉ đến khi các quý tộc “dùng gần xong món dưa” thì vị công tước mới chạy xộc vào và nói: “Tôi đến hơi trễ”.
“Ông ấy mặc một chiếc sơ–mi để mở ở cổ và vớ đại lấy một chiếc ghế trước khi có ai đó nhấc ghế cho ông ngồi”, Fields, qua đời năm 1994, viết trong hồi ký của mình. “Công chúa vẫn tiếp tục ăn món dưa của mình mặc dù những người khác đều đứng lên khi ngài công tước ngồi xuống. Nhìn thấy vị công tước trong chiếc sơ–mi không cài khuy cổ cho tôi cái cảm tưởng đây là cách ứng xử của một lê dân chứ không phải cái ta trông đợi ở một thành viên hoàng tộc. Tôi thật sự ngưỡng mộ sự táo bạo của ông bởi tôi biết rằng mình sẽ bị chỉ trích thậm tệ nếu có một ngày cùng vợ đến chơi nhà ai và bước ra ngoài với độc chiếc sơ–mi... Thật dễ chịu khi nhìn thấy vị công tước thoải mái trong chiếc sơ–mi của ông”.
Hoàng thân Philip không phải là thành viên duy nhất trong gia đình hoàng tộc khiến các nhân viên Nhà Trắng ngạc nhiên bởi khoảnh khắc thoải mái không câu nệ nghi thức của mình. Nữ hoàng Elizabeth Đệ nhị cũng đã một lần khiến các gia nhân bị sốc khi cởi áo khoác sau bữa tiệc tối, và vứt chiếc vương miện kim cương, cùng các món trang sức vô giá khác bừa bãi khắp phòng.
TRẺ HƠN FIELDS một thế hệ, số phận của Herman Thompson đã được định là làm việc trong Nhà Trắng. Mặc dù ông là một giám sát viên toàn thời gian tại Phòng in ấn của viện Smithsonian nhưng cha ông lại là nhân viên phục vụ bán thời gian ở Nhà Trắng (và là một trong những người sáng lập Công ty Phục vụ bàn tư nhân), còn chú ông là nhân viên quét dọn ở đó. Ông là bạn của Quản lý Tổ Phục vụ Charles Ficklin và của ông Eugene Allen sống ngay gần đó. Ông thậm chí còn được Preston Bruce cắt tóc cho (Bruce đảm nhận vai trò cắt tóc những lúc không phải hộ tống các quan chức cao cấp đến gặp tổng thống). “Tất cả bọn họ biết rõ tôi hơn cả tôi”, Thompson nói về nhóm nhân viên phục vụ Mỹ gốc Phi rất gắn bó với nhau.
Các nhân viên luôn chú ý giữ an toàn cho nhau, cả về mặt cá nhân lẫn nghề nghiệp, Thompson nhớ lại. “Tất cả mọi người đều muốn hỗ trợ Charles, sau đó đến John, rồi đến Eugene”, ông nói. “Mục đích chính là giúp đỡ người quản lý tổ phục vụ bởi vì các quản lý tổ phục vụ của chúng tôi đều là người da đen và chúng tôi muốn họ được tốt”. Còn người quản lý tổ phục vụ thì nắm một danh sách các nhân viên phục vụ bán thời gian đáng tin cậy biết làm mọi thứ, từ việc bày bàn ăn tươm tất đến việc pha chế những ly rượu martini đẳng cấp thế giới.
“Ta không cần dạy bảo họ, cũng chẳng cần nói họ phải làm gì”, Thompson nói. Ông bắt đầu đến làm cho Nhà Trắng năm 1960 và nghỉ làm vào cuối nhiệm kỳ của Tổng thống George H. W. Bush. Thompson hiện đã 74 tuổi nhưng vẫn phụ vợ bày bàn ăn gia đình mỗi tối suốt hơn 50 năm qua.
Thompson phụ trách phục vụ rượu ở các quốc yến – mỗi món ăn đi kèm một loại rượu khác nhau, ông phải đảm bảo mỗi chai rượu được khui sẵn để có thể rót ra ngay khi thức ăn được dọn lên. “Nghe thì có vẻ đơn giản”, ông nói, nhưng thực ra không đơn giản chút nào khi trên bàn có mười thực khách “và ta phải liên tục rót rượu suốt đêm”. Công việc của ông ở các bữa tiệc Giáng sinh đặc biệt rất khó khăn, ông hồi tưởng, một phần vì ông phải lạng cả tảng thịt nướng khổng lồ.
Nhưng Thompson luôn xem công việc của mình là một đặc ân, một điều có thể mất đi trong phút chốc. Nếu người phục vụ trò chuyện quá nhiều với khách – xét cho cùng, họ cũng chẳng bao giờ biết mình nói chuyện với ai – hoặc vét đĩa quá lớn trong phòng bếp kế bên, anh ta có thể sẽ không bao giờ được gọi trở lại làm việc. Khách của Nhà Trắng “phải nhận được sự phục vụ tốt nhất nước Mỹ”, Thompson nói. “Khắp nơi trên thế giới đều dõi theo họ”.
NGAY CẢ MARY Prince cũng không thể tin là số phận mình thay đổi đến mức nào. Chưa đầy một năm sau ngày bị tuyên án chung thân vì tội giết người ở thị trấn Lumpkin bang Georgia, nữ tù nhân Mỹ gốc Phi khoảng 24, 25 tuổi này đã được chuyển từ nhà tù Georgia đến dinh thống đốc, nơi cô sẽ phụ trách chăm sóc bé Amy, đứa con gái 3 tuổi của Thống đốc Jimmy Carter.
“Lần đầu nhận được cuộc gọi kêu tôi đến làm việc ở dinh thống đốc, tôi không biết mình có thể trông đợi điều gì”, Mary Prince nói với tôi.
“Sau khi đến đó, Amy và tôi lập tức kết nhau ngay ngày đầu tiên. Ý tôi muốn nói là chúng tôi thực sự mê nhau ngay ngày đầu tiên. Kể từ hôm đó, hai chúng tôi không rời nhau”.
Prince nằm trong một chương trình ủy thác của nhà tù, qua đó các tù nhân được phân công làm nhiều công việc khác nhau ở dinh thống đốc như làm vườn, nấu ăn, và thậm chí là chăm sóc con cái của gia đình thống đốc. Lúc đó, Prince không hề ngờ rằng mối quan hệ thân thiết giữa cô với Amy sẽ ném cô vào một thực tế còn kỳ lạ hơn: sống và làm việc bốn năm trong tòa nhà nổi tiếng nhất nước Mỹ.
Prince bắt đầu gặp rắc rối vào một tối tháng 4 năm 1970 khi người em họ của cô đánh nhau với một người nam và một người nữ khác bên ngoài một quán bar. Theo lời kể của Prince thì khi cô đang cố giật khẩu súng ra khỏi tay họ thì đột nhiên súng cướp cò. Tuy nhiên một nhân chứng khác lại khai rằng Prince đã giật lấy khẩu súng và cố tình giết chết ngươi đàn ông đó để bảo vệ em họ mình. Prince nhất quyết nói mình vô tội. “Tôi có mặt không đúng nơi đúng lúc”, cô khăng khăng nói. “Tôi bị dính vào một tình huống mà tôi không hiểu vì sao mình lại ở đó. Họ phải mất đến sáu năm mười tháng mới chứng minh được tôi vô tội”.
Lúc đó, Prince không hề được tòa án giúp đỡ. Lần đầu tiên cô gặp người luật sư được tòa chỉ định bào chữa cho cô là lúc đến phòng xử án. Ông ta nói nếu cô nhận tội, ông ta sẽ giúp cô giảm án, nhưng kế hoạch này thất bại và Mary Fitzpatrick, tên gọi của cô lúc đó, bị tòa tuyên án chung thân. (Mãi đến năm 1979, cô mới lấy lại tên họ thời con gái của mình sau khi chính thức ly dị chồng).
Tuy nhiên, chưa hết năm 1970, Prince đã được phu nhân Rosalynn Carter chọn làm người chăm sóc con gái bà ở dinh thống đốc. Bà Carter tin rằng người phụ nữ trẻ này bị oan. “Cô ta hoàn toàn vô tội”, Rosalynn Carter nói. Trung thành với bảo mẫu của con mình, vợ chồng Carter xem cô không khác người nhà. “Cô ấy không dính dáng đến chuyện đó”, bà Rosalynn kiên quyết nói, giọng vẫn còn kích động sau mấy chục năm.
Lúc ông Jimmy Carter đắc cử tổng thống năm 1976 cũng là lúc thời hạn phóng thích của Prince kết thúc và cô bị gởi trả về nhà tù. Vận may của cô tưởng như đã chấm dứt. Nhưng vì phu nhân Carter tin cô vô tội nên đã viết thư cho ban ân xá xin giảm tội cho cô để người bảo mẫu mà bé Amy rất mực yêu quý có thể tiếp tục làm việc cho họ ở Nhà Trắng. Đặc biệt hơn nữa, tổng thống còn được chỉ định làm người phụ trách theo dõi Prince trong thời gian tạm tha. Cuối cùng, trường hợp của Prince được xem xét lại và cô được xóa tội hoàn toàn.
Vị cựu đệ nhất phu nhân, người luôn sát cánh bên chồng trong nhiều dự án nhân đạo trong khoảng thời gian hậu tổng thống dài nhất nước Mỹ, nói rằng Prince sở dĩ bị kết án là vì màu da của cô. “Đó là quãng thời gian rất khó khăn, rất khó khăn ở quê nhà tôi”, bà nói. Khi Tổng thống Harry Truman xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc trong lực lượng vũ trang, bà nhớ lại, “chúng tôi quay về quê nhà ở miền Nam”, nhưng nạn kỳ thị chủng tộc không thể xóa sạch hoàn toàn. “Mọi người chỉ là không đề cập đến vấn đề chủng tộc, nhưng ai cũng dễ dàng thấy vì sao Mary bị bắt”. Tổng thống Carter, người bị chỉ trích vì quyết định đưa Prince tới Nhà Trắng, cũng đồng tình với nhận định của vợ. “Chuyện của cô ấy là chuyện rất thường xảy ra với người nghèo và người da đen trước khi đất nước chúng ta bị buộc phải tiến hành một số cải cách pháp lý”, tổng thống viết trong hồi ký của ông.
Trong suốt sáu tháng đầu tiên làm người bảo mẫu nổi tiếng nhất nước, Prince nói mỗi ngày cô nhận được khoảng năm mươi lá thư. Nhiều người viết thư tự nhận mình là họ hàng thất lạc từ lâu của cô và nhờ cô xin tổng thống giúp đỡ họ. “Tôi trở thành sự kiện nóng hổi trên toàn thế giới khi chuyển từ nhà tù đến Nhà Trắng”, cô nói, giọng vui vui khi đề cập đến sự nổi tiếng của mình lúc đó. Nhưng giới truyền thông không tin là gia đình Carter có thể để một kẻ bị kết tội sát nhân chăm sóc đứa con gái nhỏ của họ, và không phải sự quan tâm nào cũng tử tế: câu chuyện này thu hút nhiều sự quan tâm đến mức kênh truyền hình trực tiếp tối chủ nhật dành cả một vở hài kịch cho đề tài này, với nữ diễn viên Sissy Spacek vào vai bé Amy Carter còn nam diễn viên hài Garrett Morris cải trang thành Mary.
Cơn bão truyền thông tuy chẳng hề dễ chịu nhưng Prince tìm được nguồn an ủi trong đức tin của cô. “Tôi là một tín đồ Cơ đốc và tôi cầu nguyện mọi thứ”, cô nói với tôi. “Tôi luôn xin với Thiên chúa rằng nếu tôi làm điều gì sai thì Thiên chúa hãy cho tôi biết và tha thứ cho tôi. Tôi đoán có lẽ vì thế mà Đức Chúa lòng lành đã ban cho tôi cuộc sống tốt đẹp kể từ ngày đó. Việc một tù nhân có thể vào được dinh thống đốc và trở nên thân thiết với gia đình này quả thực là một phúc lành”.
Ngay cả trong Nhà Trắng, mọi việc không phải lúc nào cũng dễ dàng. Prince có quãng thời gian rất khó khăn để kết bạn với những người giúp việc trong dinh vì họ xem cô là người ngoài, lại là người có quá khứ gây tranh cãi. Một số nhân viên không ưa cô bởi cô được tổng thống đưa vào, lại còn có phòng riêng trên tầng ba. Một số khác thì ganh tị với quyền hạn của cô: nếu cô muốn nấu một bữa ăn tối kiểu miền Nam cho đệ nhất gia đình, cô có thể cho tất cả các đầu bếp ra về và chỉ cần thông báo trước cho họ một thời gian rất ngắn. Cô không cần nghe theo ai, miễn là làm gia đình Carter vui là được. Mà họ thì rất thương cô. Một buổi chiều, lúc cô đi ngang hồ bơi ở phía nam khu Cánh Tây thì tình cờ nhìn thấy đệ nhất phu nhân đang bơi ở đó. “Xuống đây!” đệ nhất phu nhân réo cô. Lúc đó Prince không mặc đồ tắm, nhưng đệ nhất phu nhân cười lớn và nói: “Cứ mặc nguyên đồng phục xuống đây!” Thế là cô đá văng đôi giày của mình đi và nhảy tùm xuống hồ trong bộ đồng phục bảo mẫu trắng hồ cứng để biểu diễn cho đệ nhất phu nhân xem mình học được gì ở lớp dạy bơi. (Amy rất thích bơi nên cô cũng phải đi học bơi). Tối hôm đó, “chỉ có mỗi tôi và đệ nhất phu nhân bơi chung ngoài đó”, Prince nói về kỷ niệm đẹp nhất của mình trong thời gian ở Nhà Trắng.
Nhưng tin đồn về quá khứ của cô nhanh chóng tới tai các nhân viên. Một số cựu nhân viên thậm chí còn tin cô thực sự giết người. “Đây đúng là một cách hay để tống khứ anh xã nhà cô”, một gia nhân nói đùa mà không biết rằng cô chưa bao giờ bị kết tội giết chồng.
Prince có một cái nhìn khác về quãng thời gian sống trong Nhà Trắng và nói rằng cuộc sống xa hoa trong Nhà Trắng chưa bao giờ làm cô thấy lúng túng. “Tôi không hứng thú với cuộc sống đó”. Thay vào đó, cô chỉ tập trung vào công việc và vào việc ổn định cuộc sống cho hai cậu con trai sau khi chuyển chúng từ Atlanta đến một căn hộ ở Suitland, Maryland, trong một khu dân cư của người lao động ở ngoại ô Washington. Tối đến, sau khi chăm sóc cho Amy xong, cô đón taxi đến chỗ hai con – ban ngày hai cậu bé được chị cô trông nom – để giúp chúng làm bài tập và chuẩn bị sẵn quần áo cho chúng mặc đi học ngày hôm sau. Đến khuya, cô lại đón taxi về Nhà Trắng để sáng hôm sau dậy sớm lo cho Amy. Cô chưa bao giờ xin vợ chồng Tổng thống Carter cho con mình chuyển vào sống chung mặc dù cô nhớ chúng khủng khiếp.
“Tôi không bao giờ nghĩ việc đưa gia đình mình vào Nhà Trắng sống cùng họ là một việc làm phù hợp. Đây là công việc của tôi. Tôi có thể bỏ tiền ra để chúng sống gần tôi và có chỗ ở riêng”. Cô rất xem trọng ranh giới giữa cuộc sống nghề nghiệp với cuộc sống gia đình cùng hai con trai. Sau khi xong việc, cô nói mình “luôn có thể về nhà với các con”.
Cô chưa bao giờ nghĩ chủng tộc là một vấn đề gì lớn trong Nhà Trắng cho đến khi một viên quản lý đến gặp cô và chuyển cho cô một tin nhắn làm cô tức điên người. “Con tôi lúc nào cũng ăn mặc đàng hoàng vì tôi luôn đảm bảo chúng ăn mặc đàng hoàng”, cô nói. Số là cô có một cậu con trai làm việc ở câu lạc bộ quần vợt Georgetown. Thỉnh thoảng khi ghé thăm mẹ ở Nhà Trắng, cậu vẫn mặc nguyên chiếc quần soóc tennis từ chỗ làm về. Có một ngày, một người quản lý đến gặp cô và nói: “Mary, có người gọi cho tôi và than phiền rằng mấy đứa con cô ăn mặc lôi thôi lếch thếch khi đến đây. Nhưng cô đừng lo, bọn họ chỉ nhiều chuyện thôi. Tôi chưa bao giờ thấy mấy đứa nhỏ đến đây mà không ăn mặc đàng hoàng”.
Nhưng với Prince thì đây là một sự sỉ nhục nhân đôi. Họ không chỉ nói mấy đứa con Mỹ gốc Phi của cô ăn mặc lôi thôi lếch thếch mà còn ám chỉ cô không làm tròn bổn phận người mẹ. “Tôi đoán họ nghĩ tôi là đứa chả ra gì”, cô nói. Cô không bao giờ tìm ra kẻ độc mồm độc miệng đó là ai. “Tôi nghĩ người đó thành kiến với tôi vì tôi được Tổng thống Carter giúp ra khỏi nhà giam và đưa vào làm trong Nhà Trắng”.
Nhưng Prince đã vượt lên tất cả những chuyện đó để kết thúc thời gian làm việc ở Nhà Trắng một cách đường hoàng, đồng thời vẫn duy trì mối quan hệ khăng khít với cái gia đình đã cứu cô thoát khỏi chốn lao tù. Hiện nay cô đang sống ở Plains, Georgia, cách gia đình Carter chỉ ba dãy nhà. Cô vẫn gặp họ hầu như mỗi ngày mỗi khi họ lên thành phố, và là người chăm nom các cháu ngoại của họ.
QUẢN LÝ NELSON Pierce biết mình có một vấn đề, và vấn đề này cần được giải quyết ngay lập tức.
Lúc mới đến làm việc ở Phòng Quản lý năm 1961, ông còn rất trẻ và chịu trách nhiệm cập nhật hồ sơ cá nhân của các nhân viên. Điều đó có nghĩa là ông thấy được mức lương của mỗi người. “Tôi sửng sốt khi nhìn thấy bảng lương”, ông nói. Bởi mức lương của các nhân viên Mỹ gốc Phi thấp hơn rất nhiều so với các đồng nghiệp da trắng của họ.
Thời điểm phát hiện chuyện này là một thời điểm rất tồi tệ. Trong Thông điệp Liên bang [**] thứ nhất của ông Johnson, tổng thống đã “tuyên chiến vô điều kiện với tình trạng nghèo khó” ở thời điểm mà mức thu nhập tối thiểu là khoảng 3.000 đô la hoặc ít hơn trong một năm (mức thu nhập tối thiểu hiện nay là khoảng 23.550 đô la một năm), “chính quyền liên bang và chính quyền địa phương phải chung tay dốc sức đánh đuổi cái nghèo ở mọi nơi – ở các khu ổ chuột trong thành phố và các thị trấn, trong các túp lều của dân lĩnh canh hay trong trại tị nạn, ở phần đất của người da đỏ, ở người da trắng lẫn người da đen, ở người trẻ lẫn người già, ở những thành phố phát triển lẫn những khu vực trì trệ”, đó là điều tổng thống phát biểu ngày 8 tháng 1 năm 1964 tại phiên họp chung của lưỡng viện.
[**](State of the Union address: bài diễn văn then chốt hàng năm mà Tổng thống Hoa Kỳ trình bày trước toàn thể thành viên hai viện của Quốc hội.)
Nhưng sự nghèo khó hóa ra lại tồn tại ngay trước mắt tổng thống. Những vị trí hưởng lương cao ở Nhà Trắng – như quản lý, thợ cắm hoa, quản bếp, tổng quản lý bộ phận phòng, thợ mộc, thợ ống nước – đều được xem là có chuyên môn cao hơn và được giao cho người lao động da trắng. Còn những công việc nhà truyền thống như phục vụ ăn uống và làm phòng thì được giao cho hầu hết người Mỹ gốc Phi với mức lương thấp hơn rất nhiều. (Là một quản lý trẻ, Pierce lãnh gần 6.000 đô la một năm, gấp đôi lương các nhân viên phục vụ, làm phòng mới vào). Tất cả mọi nhân viên đều hưởng mức lương thấp hơn mức lương trả cho một công việc tương tự ở lĩnh vực tư nhân, nhưng nhìn chung thì nhân viên da trắng vẫn được trả lương cao hơn rất nhiều.
Ngày 9 tháng 1, Pierce nói với Tổng Quản lý J. B. West rằng họ cần nói chuyện với nhau. Tổng thống đã tuyển hai người mới với mức lương thấp hơn mức lương tối thiểu. “Trước khi báo chí phát hiện ra những trường hợp lãnh lương thấp hơn ngưỡng tối thiểu trong Nhà Trắng, tốt nhất ông nên tăng lương cho hai cô hầu phòng mới được tuyển vào với mức lương 2.900 đô một năm”, Pierce khẩn thiết nói.

West biết mức lương này bởi chính ông là người tuyển họ, nhưng ông không hề nghĩ đến việc giới truyền thông có thể lợi dụng thông tin này để gắn mác đạo đức giả cho tổng thống. Thế là West lập tức tăng lương cho họ.
Pierce đã rất khôn ngoan khi lấy cớ sợ dư luận quần chúng để ý để buộc West tăng lương cho các nhân viên mới. “Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy các gia nhân phục vụ các tổng thống tận tâm đến thế mà lại không được hưởng mức lương cao hơn mức lương họ đang hưởng”.
Quản lý Mỹ thuật Betty Monkman không mấy ngạc nhiên về mức lương chênh lệch giữa các nhân viên. Gần như ngay khi bà vào đây làm năm 1967, bà đã đánh hơi thấy mùi phân biệt chủng tộc ngầm, cái được bà gọi là “vấn đề miền Nam”, bên dưới bề mặt đầm ấm thân thiện của Nhà Trắng. Ví dụ, bà không thể tin nổi là tất cả mọi người đều gọi ông gác cửa Preston Bruce bằng họ của ông. “Ông ấy là một người rất thanh lịch và hết sức lôi cuốn”, bà nói. “Hồi tôi mới đến đó, tôi thấy mọi người đều gọi ông ấy là ‘Bruce’ nên tôi nghĩ ‘Bruce’ là tên ông ấy. Phải một thời gian sau tôi mới biết đó là họ của ông. Tôi điếng người vì mình đã gọi ông như thế”.
QUẢN LÝ KHO Bill Hamilton quả quyết mình là người dẫn đầu cuộc nổi loạn đòi trả lương đồng đều cho những người Mỹ gốc Phi lương thấp. Điều này đi ngược lại với cảm tưởng được tạo ra bởi bộ phim Người hầu bàn của Lee Daniel, một bộ phim mô phỏng một phần cuộc sống của nhân viên phục vụ Eugene Allen, trong đó nhân vật trong tựa phim đến thẳng Phòng Quản lý để xin tăng lương. Theo phần lớn ý kiến ngoài đời thì Allen quá rụt rè và quá tôn trọng hệ thống cấp bậc ở Nhà Trắng để có thể làm điều đó.
Tuy nhiên, Hamilton cũng chẳng phải người như vậy. Ông ra đời ở một nơi cách Nhà Trắng chỉ tám dãy nhà. Mẹ ông không đi làm để ở nhà nuôi dạy mười đứa con. Sau khi sống ở Đồi Capitol một thời gian, bà nói với Hamilton rằng bà không muốn sống ở khu da trắng nữa. Hamilton chỉ mới 20 tuổi khi ông bắt đầu làm chân quét dọn cho Nhà Trắng dưới thời chính quyền Eisenhower. Gia đình Eisenhower điều hành Nhà Trắng như điều hành quân đội. Sau khi kết thúc các chuyến tham quan Nhà Trắng, Hamilton nhớ mình đã phải cố dùng máy hút bụi xóa sạch mọi dấu chân trên thảm trước khi phu nhân Mamie Eisenhower nhìn thấy. Mỗi khi có khách đi ngang qua Tầng Trệt, ông lại phải tắt máy hút bụi và xoay mặt vào tường. (Sau này khi Tổng thống Kennedy thấy các gia nhân làm thế, ông đã hỏi một gia nhân khác là “Họ có điều gì không ổn à?”) Hamilton làm trong nhà kho từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều để lấy tiền lo cho bảy đứa con ăn học (có thời điểm nhà ông có bốn người con học đại học cùng một lúc), sau đó ông còn phải chạy thêm taxi đến tận 11 giờ khuya. “Tôi cày như trâu”, ông nói. “Nhưng tôi luôn đảm bảo là mình ở nhà vào các ngày cuối tuần”.
Mỗi khi có một tổng thống mới nhận nhiệm sở, Hamilton nói, các cố vấn chính trị của họ luôn tỏ vẻ khinh thường các gia nhân. “Các nhân viên khu Cánh Tây luôn nghĩ họ tài giỏi hơn chúng tôi. Nhưng sau khi đến đó rồi, họ mới biết là tất cả chúng tôi mới là người điều khiển mọi việc cho tổng thống”. Tuy nhiên Hamilton không thích bị ngược đãi và muốn tìm ra cách nào đó để thể hiện sự bất mãn của mình.
“Tôi không bao giờ quên lúc chúng tôi lên lầu gặp ông J.B. West”, Hamilton hồi tưởng lại trong căn nhà hưu trí yên tĩnh dành cho tầng lớp trung lưu của ông ở Ashburn, Virginia, cách Washington D.C khoảng một giờ đi xe. Thời điểm ông bắt đầu hành động là vào cuối thập niên 1960, quãng thời gian Martin Luther King Jr. bị ám sát, và sau đó là những ngày náo loạn. Washington bị những kẻ phản đối giận dữ ném bom xăng và cướp bóc các cửa hàng do tức giận chuyện Luther King bị ám sát và trước tình trạng bất bình đẳng xảy ra chung quanh họ. Một số người tiến sát Nhà Trắng, cách đó chỉ hai dãy nhà.
Bên trong các cánh cửa Nhà Trắng, Hamilton lúc này đang rất giận dữ khi thấy mọi người khác đều được tăng lương, chỉ trừ nhóm nhân viên Mỹ gốc Phi ra. Được truyền cảm hứng bởi những kẻ chống đối đòi dân quyền bên ngoài, ông tập hợp một số ít nhân viên quét dọn lại và tuyên bố: “Tối nay họ có quốc yến nhưng chúng ta sẽ không làm việc”.
Các đồng nghiệp của ông lặng im suy nghĩ lúc lâu. Họ đã lỡ nhận lời giúp cho buổi tối đó rồi. (Các nhân viên ở nhiều phòng ban khác nhau thường được yêu cầu giúp đỡ mỗi khi có sự kiện bởi họ đã được thông qua khâu kiểm tra an ninh).
“Anh nói chúng ta không làm là sao? Chúng ta sẽ mất việc đó”, một người nói.
“Đó là điều tôi đang muốn nói với tất cả các anh đây. Nếu tất cả chúng ta đoàn kết lại, họ sẽ không thể làm gì chúng ta”.
“Họ không thể đưa người ngoài vào đây” để phụ cho bữa tiệc, ông lý luận, bởi những người đó sẽ không được bên an ninh cho vào.
Hamilton cuối cùng cũng thuyết phục được những người làm chung với ông và bọn họ cùng nhau đến gặp Tổng Quản lý J. B. West.
West vô cùng tức giận. “Anh là người đại diện cả nhóm hả?”, ông hỏi Hamilton.
“Đúng thế”, Hamilton trả lời.
Mặt West “tím ngắt”, Hamilton cười phá lên. Chưa khi nào ông khiến sếp mình lâm vào hoàn cảnh khó khăn như lần này.
“Bộ các anh muốn tôi phải mặc sơ mi trắng với nơ đen và bộ com–lê đó sao? Và nếu ai làm rơi cái gì thì tôi sẽ phải đến nhặt cho họ sao?”, West hỏi cả nhóm.
Hamilton không nao núng: “Tôi không quan tâm ông sẽ làm gì khi tôi rời khỏi đây”.
Trái với những gì mô tả trong phim Người hầu bàn, những người hầu bàn không phải là người thắc mắc về mức lương chênh lệch. Theo Hamilton, họ “không phải là người gây náo động”. Hamilton quả thực rất thất vọng khi họ không theo phe ông bởi các nhân viên phục vụ mới chính là những người có quyền lực thực sự trong số các nhân viên Nhà Trắng vì họ làm việc gần gũi nhất với gia đình tổng thống. Nếu họ có can đảm nói với tổng thống và đệ nhất phu nhân là họ bị trả lương thấp, Hamilton chắc chắn tổng thống và phu nhân sẽ làm gì đó để chấn chỉnh lại chuyện này. Tuy nhiên, các nhân viên phục vụ không chỉ từ chối theo ông kháng nghị chuyện này, một số người còn tức giận ông vì ông khiến họ có nguy cơ mất việc.
“Chúng tôi không tham gia phong trào dân quyền. Vai trò của chúng tôi chỉ là phục vụ tổng thống và gia đình ông ấy, chấm hết”, cựu phục vụ kiêm quản lý tổ phục vụ George Hannie nói. Năm 1963, Hamilton cho biết ông là nhân viên duy nhất ở dinh tổng thống đến nghe Martin Luther King Jr. đọc bài diễn văn nổi tiếng Tôi có một ước mơ tại đài tưởng niệm Lincoln trong cuộc tuần hành đến Washington, ông nói đây là một trải nghiệm “rất xúc động”. Nhưng giờ đây, sau nhiều năm, khi ông làm theo những gì lương tâm mách bảo và yêu cầu mọi người hành động thì lại khiến các đồng nghiệp giận dữ. ông nói: “Tôi bị chính đồng bào tôi nổi giận với tôi” chỉ vì tôi muốn đòi tăng lương cho họ. “Nhưng tôi cần phải nuôi con. Tôi muốn các con tôi có cuộc sống tốt đẹp hơn tôi. Tôi không cần biết hậu quả ra sao nhưng tôi sẽ làm chuyện này. Có một ngày, tôi về nhà và nói với vợ tôi rằng ‘Anh chán bọn này (những quản lý da trắng trả lương thấp cho người da đen) lắm rồi. Anh có thể sẽ thất nghiệp nhưng kể từ bây giờ trở đi, anh sẽ không nghe theo lệnh bất kỳ ai ở đó nữa’”.
Tuy nhiên, khi Hamilton và các nhân viên làm công việc giống ông đứng lên, lẽ phải đã chiến thắng. Sau hai ngày ngồi ngoài các bữa tiệc tối, các nhân viên da đen đã được tăng lương. Hamilton nghĩ đó là vì J.B. West nhìn thấy những dòng chữ trên tường bên ngoài Nhà Trắng. “Ông ta biết rằng với tất cả những gì đang xảy ra bên ngoài, ông ta sẽ không thoát khỏi chuyện này. Tôi biết mình đã nắm được thóp ông ta. Chắc chắn như thế”.
Mặc dù vẫn còn tức giận về tình trạng kỳ thị chủng tộc rõ ràng trong Nhà Trắng, Hamilton vẫn nói về quãng thời gian 55 năm phục vụ dưới mười một đời tổng thống bằng giọng ngưỡng mộ. “Khi tôi bước vào Nhà Trắng để phỏng vấn xin việc, tôi có cảm tưởng như đó là ngày đầu tiên trong đời tôi”, ông nói. Trước đó, ông chưa từng đến Nhà Trắng, dù là để tham quan. “Tôi không thể tin được, bố mẹ tôi cũng không tin được. Đây là điều không dễ xảy ra!”
EUGENE ALLEN CHẮC chắn là thận trọng hơn Bill Hamilton khi không muốn làm mọi chuyện rối beng lên.
Thời gian Charles, con trai độc nhất của Allen, tham chiến ở Việt Nam, anh rất sợ giao tranh trên bộ. “Lần duy nhất trong đời tôi xin cha tôi nhờ Nhà Trắng chiếu cố là khi tôi nhờ ông ấy nói với Tổng thống Johnson rút tôi ra khỏi chuyện này”, anh nhớ lại.
Trong thư gởi cho cha, anh van xin ông với tâm trạng hoàn toàn tuyệt vọng: “Ba hãy đến gặp ông ấy, xin ông ấy giúp con ra khỏi bộ binh. Tụi con ngày nào cũng phải lội bộ từ 15 đến 30 cây số. Con đói đến chết mất”. Charles viết thêm: “Ba, con không phải là đứa hèn nhát, nhưng ba có thể xem thử ông Johnson có thể chuyển con sang không quân được không?”
Khi Charles nhận được thư cha, đó không phải là câu trả lời anh mong đợi. “Ông ấy hồi âm cho tôi và nói rằng nếu gia đình Kennedy vẫn còn cầm quyền, ông nghĩ mình có thể làm gì đó. Nếu như Bobby vẫn còn ở đó”. Nhưng với Johnson làm chủ Nhà Trắng thì lại là chuyện khác. “Ba không thân họ lắm”, ông nói. “Vì thế con phải chịu đựng thôi”.
NGHỀ PHỤC VỤ, làm phòng, rửa chén đĩa và quét dọn ở Nhà Trắng được xem là những việc làm tốt và ổn định trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi ở Washington ở thập niên 1960 và 1970. “Mọi người luôn ý thức về sự cao quý của công việc này và công nhận đây là một nghề đặc biệt”, Lonnie Bunch nói. Ông cho rằng sở dĩ các công việc này đáng tự hào và mang tính chuyên nghiệp cao là do được truyền từ đời này sang đời khác: “Cha dạy lại cho con rồi đến lượt con dạy lại cho cháu”.
Đối với nhiều thế hệ người Mỹ da đen, công việc ở Nhà Trắng còn hơn cả một công việc. “Họ nhận ra rằng công việc của họ không đơn thuần là một công việc. Họ thấy như mình đang mang gánh nặng gấp đôi. Một mặt, họ phải làm việc chăm chỉ để không bị mất việc. Mặt khác, họ cũng kỳ vọng vào chủng tộc của mình. Họ muốn đảm bảo những gì họ làm phải là tốt nhất”.
Việc phần lớn các nhân viên phục vụ ở Nhà Trắng là người Mỹ gốc Phi đôi khi cũng làm mọi người thắc mắc. Quản lý Chris Emery nhớ lại việc lãnh tụ Xô viết Mikhail Gorbachev thực hiện chuyến viếng thăm lịch sử đến Nhà Trắng năm 1987 và các nhân viên phải thay đổi vào phút chót để bảo vệ cho hai nhà lãnh đạo hàng đầu thế giới không bị ướt trong cơn mưa bất chợt ở Bãi cỏ phía nam.
“Khi Tổng Quản lý Gary Walters nhìn thấy tất cả các nhân viên phục vụ cầm ô đứng ở đó, ông nói: ‘Tôi không thể để tất cả những người Mỹ gốc Phi đó cầm ô che cho các lãnh tụ thế giới được. Trông sẽ rất kinh khủng”. Thế là Walters nhờ Emery và một quản lý da trắng khác cầm ô ra che cho Reagan và Gorbachev để Nhà Trắng trông không giống như đồn điền cuối cùng” [**], Emery nói.
[**](Đồn điền ở đây đồng nghĩa với chế độ chiếm hữu nô lệ ở Nam Mỹ, nơi các nô lệ da đen làm việc cho các chủ nô da trắng.)
Phục vụ Herman Thompson, một thành viên của lớp học đa chủng tộc đầu tiên của hệ thống trường công lập ở Washington, là người đi đầu trong việc xóa bỏ nạn kỳ thị chủng tộc. Sự phân biệt đối xử và ghét bỏ ra mặt của những bạn đồng học da trắng đối với người da đen đã biến ông thành “một kẻ nổi loạn”, ông nói tại một bữa cơm trưa ở một nhà hàng dưới phố tại Washington, không xa nơi ông trưởng thành. “Chuyện này rất khó chịu”.
Thompson nhận thấy tình trạng phân biệt chủng tộc ở Nhà Trắng không khác với những nơi khác trong thành phố và cố gắng chống lại nó nhưng một cách ngấm ngầm hơn Bill Hamilton. “Nhiều lần, mỗi khi có người Mỹ da đen nào đến đó với tư cách khách mời, chúng tôi luôn đảm bảo họ được chăm sóc cẩn thận và được quan tâm như tất cả mọi người khác”, ông nói.
Cho đến thời Nixon, các nhân viên phục vụ vẫn còn mặc áo đuôi tôm để phục vụ các yến tiệc. Tuy nhiên, khi ngày càng có nhiều nhạc sĩ da đen như Duke Ellington và nhóm nhạc The Temptations đến biểu diễn ở Nhà Trắng và ngày càng xuất hiện nhiều khách mời Mỹ gốc Phi, các nhân viên phục vụ được dặn phải ngưng mặc áo đuôi tôm để tránh lộ rõ sự cách biệt xã hội giữa gia nhân và khách mời.
“Chúng tôi vẫn thường đùa rằng họ thay áo đuôi tôm bởi thế giới đang thay đổi. Nhiều lúc những người đến dự tiệc cũng không biết ai là khách, ai là nhân viên phục vụ”, ông cười tủm tỉm. “Các quý ông làm việc ở đó trông lịch sự đến mức mọi người phải nhìn kỹ mới biết ai là ai”. Thompson cho biết mình đã vài lần bị tưởng lầm là khách.
Mặc dù chứng kiến mọi thứ đang dần trở nên tốt hơn nhưng Thompson vẫn không khỏi sửng sốt khi lần đầu gặp đô đốc Stephen Rochon, vị tổng quản lý mới, tại đám tang của ông Eugene Allen. “Ta không thể ngờ một người da đen lại có thể nhận được công việc này!”
Rochon sinh năm 1950 và lớn lên ở New Orleans, thời điểm mà mười phần trăm người Mỹ vẫn chưa thể ngồi ăn ở chuỗi cửa hàng bách hóa Woolworth. Ông vẫn nhớ như in câu chuyện xảy ra khi ông 13 tuổi. Ông đang đi bộ đến một cuộc họp hướng đạo thì bất chợt một chiếc Chevrolet đỏ đời 1957 với lá cờ liên bang lớn ló ra từ cửa sổ sau trờ tới cạnh ông. Trên xe chở đầy thanh thiếu niên da trắng, chúng hét to “đồ mọi đen” và ném một chai Coca vào người ông. Chính vì trải nghiệm đau lòng này nên Rochon nói với các nhân viên Nhà Trắng rằng ông sẽ luôn lắng nghe những trăn trở của họ liên quan đến nạn kỳ thị. “Tôi không muốn có ai bị tổn thương như tôi trước kia”, ông nói.
Thỉnh thoảng ông cũng nghe các gia nhân tố cáo nạn phân biệt chủng tộc. Có một ngày, người nhân viên Mỹ gốc Phi duy nhất của một phòng ban đến gặp Rochon và nói với ông rằng anh ta nghĩ mình bị xem thường vì màu da của anh. Rochon lập tức cho gọi sếp của người nhân viên đó đến phòng ông và nói với ông ta rằng ông sẽ không tha thứ chuyện đó. “Mọi chuyện ở Nhà Trắng lan ra rất nhanh”, ông nói. “Tin tôi đi, chỉ cần điều gì xảy ra với một phòng ban, tất cả các phòng ban khác cũng đều biết”.
Các nhân viên trong Nhà Trắng được chia làm hai phe. Một bên là những người như Bill Hamilton và Herman Thompson, những người nhìn thấy rõ tình trạng kỳ thị ở Nhà Trắng và buộc mình phải đứng lên chống lại điều đó. Còn bên kia là Eugene Allen, Lynwood Westray và James Ramsey, những người cố gắng sống với những gì hiện có.
Phục vụ Alvie Paschall, hiện đã 93 tuổi, rất giống với người bạn Lynwood Westray của ông. Ông bắt đầu công việc hái bông vải ở Henderson, North Carolina, từ lúc 4 tuổi. Ông cùng sáu anh chị em của mình đã vượt qua thời kỳ Đại Khủng hoảng, và nói rằng cha mẹ ông dạy họ phải tôn trọng cấp trên. Là một người không sẵn lòng chia sẻ quá nhiều thông tin, ông đại diện cho thế hệ người Mỹ gốc Phi cao tuổi từng được dạy là không “bép xép” vì điều này có thể sẽ khiến họ mất việc, ông nói. “Ta ở đây chỉ vì mỗi một chuyện, đó là phục vụ. Ta phải đặt công việc lên hàng đầu”.
Bảnh bao trong chiếc quần dây đeo và chiếc cà–vạt lụa màu kem, Paschall nói với tôi rằng ông đã mang theo bài học đó đến Nhà Trắng, nơi ông bắt đầu sự nghiệp dưới thời Tổng thống Truman. Mỗi khi vợ chồng tổng thống cãi vã hay nói chuyện riêng mà ông biết mình không nên nghe, ông phải nhanh chóng quyết định xem có nên kín đáo rời khỏi phòng hay ở lại nhưng làm như không để ý. “Tôi đã làm vậy đó!” Ông phá lên cười.
Westray là người rất mực khoan dung. Thống đốc bang Alabama George Wallace, một người ủng hộ tư tưởng phân biệt chủng tộc, người mà bài phát biểu kêu gọi “kỳ thị chủng tộc hôm nay, kỳ thị chủng tộc ngày mai, kỳ thị chủng tộc mãi mãi” là một vết nhơ trong sự nghiệp chính trị của ông trong thập niên 1960, đã tìm cách chuộc lỗi với quần chúng sau khi sống sót sau cuộc mưu sát năm 1972. Westray nhớ ông ấy đã cố lấy lòng các gia nhân Mỹ gốc Phi trong những lần đến Nhà Trắng. “Sau khi George Wallace bị bắn, ta cứ nghĩ ông ấy là bạn của ta”, Westray lắc đầu. “Mỗi lần ông ấy đến Nhà Trắng, việc đầu tiên ông ấy làm là đến khu bếp của các nhân viên phục vụ và không ngừng quay đi quay lại nơi đó”. Cuộc mưu sát “làm ông ấy thay đổi hoàn toàn”, Westray nói. “Thiên chúa hành sự một cách rất bí ẩn. Chỉ cần một viên đạn để khiến ông ấy sửa đổi”.
Thay vì lạnh nhạt với Wallace, các nhân viên phục vụ da đen xúm lại cười đùa với ông. Chẳng phải vì họ kềm được nỗi oán giận trong lòng hay quên những lời lẽ xúc phạm của ông trong quá khứ, mà vì đây là công việc của họ, đôi khi đồng nghĩa với việc giữ mồm giữ miệng.
Charles, con trai người phục vụ kiêm quản lý tổ phục vụ Eugene Allen, nói rằng lúc cha anh là nhân viên đánh giày chơi golf ở Câu lạc bộ Kenwood danh giá ở Bethesda, Maryland, ở ngoại ô Washington, D.C., ông đã bị kỳ thị hơn rất nhiều so với khi làm trong Nhà Trắng. Không phải vì nạn phân biệt chủng tộc không tồn tại trong Nhà Trắng, mà bởi không ai muốn tổng thống có ấn tượng xấu về mình.
“Mọi người sẽ phải cẩn thận trong việc đối xử với ta bởi điều đó sẽ khiến đệ nhất gia đình có ấn tượng không tốt về họ. Họ có thể sẽ bị tống ra khỏi cửa nếu thiếu tôn trọng người khác”.
Lynwood Westray tán thành. Nhà Trắng “là nơi mà ta không gặp những chuyện ngu xuẩn đó”, ông nói. “Dù tất cả chúng tôi đều là nhân viên phục vụ da đen nhưng mọi người đánh giá chúng tôi cao hơn vì chúng tôi thường xuyên gặp gỡ các ông hoàng bà chúa”.
Nhưng khi ở bên ngoài Nhà Trắng thì lại là chuyện khác. Westray thích kể lại câu chuyện về người bạn già Armstead Barnett của ông, một người từng làm việc và sống trong Nhà Trắng khi Franklin Roosevelt làm tổng thống. “Có một ngày, ông ấy bắt taxi về nhà và nói với người tài xế rằng: ‘Anh đưa tôi đến địa chỉ 1600 Đại lộ Pennsylvania’. Anh tài xế taxi da trắng không muốn chở ông đi. ‘Trong Nhà Trắng không có người da đen’, anh ta nói. Nhưng cuối cùng, anh ta cũng chở. Khi họ đến cổng Nhà Trắng, Armstead bước ra khỏi xe và đi vào bên trong. Tất cả mọi người đều biết ông ấy, ông ấy thậm chí không cần xuất trình giấy tờ tùy thân”. Westray cười. “Khi ông ấy bước vào cổng và không quay trở ra, người tài xế taxi vẫn ngồi ngoài cổng chắc phải thắc mắc rằng ‘cái thằng cha này đi đâu vậy cà?’”
Tổng thống Kennedy từng chia sẻ khoảnh khắc lên ngôi của kỷ nguyên dân quyền với người gác cửa Preston Bruce. Chưa đầy ba tháng trước khi bị ám sát, Kennedy nói Bruce đến gặp ông ở phòng Solarium trên tầng ba để nghe mọi người hát vang ở buổi phát biểu lịch sử của Martin Luther King Jr. ở Đài tưởng niệm Lincoln. Đứng sát cạnh nhau, Bruce con trai một tá điền, và Kennedy một người thuộc dòng dõi vương quyền Hoa Kỳ, cùng lắng nghe đám đông hát vang bài “We shall overcome” (chúng ta sẽ vượt qua), một bài ca đấu tranh vì nhân quyền. Vị tổng thống bấu chặt tay vào bậu cửa sổ đến mức các đốt ngón tay của ông trắng bệch. “Ồ, Bruce”, ông quay sang người bạn của mình, “tôi ước gì mình ở ngoài kia với họ!”
Sự tôn trọng mà Kennedy dành cho những người giúp việc Mỹ gốc Phi được họ đền đáp lại. Eugene Allen chưa bao giờ nghỉ làm một ngày trong suốt 34 năm làm việc ở Nhà Trắng, cũng chưa bao giờ than phiền về những người làm chung hay về tổng thống và đệ nhất phu nhân, các chủ nhân của ông. Charles, con trai ông, kể rằng lần duy nhất anh thấy cha mình khóc là khi ông khoác áo lên người để quay trở lại Nhà Trắng làm việc sau khi Kennedy bị ám sát. “Lúc đó ông ấy vô cùng phiền muộn”, Charles trầm ngâm khi nhớ về cha. “Nếu dùng từ quân đội mà nói thì ông ấy đúng là một người lính bởi ông ấy nhanh chóng phấn khởi trở lại. Bi kịch duy nhất khiến ông ấy không thể tự vực dậy là khi mẹ tôi qua đời. Ông ấy không thể bình tâm trở lại sau sự kiện đó”.
Qua đời năm 2010, Allen chưa bao giờ muốn ai làm phim về cuộc đời mình. Ông là người hiền lành nhút nhát nên sẽ không bao giờ chấp nhận tiếp chuyện giới truyền thông nếu không phải là do bà Helen, người vợ 65 tuổi của ông, khuyến khích ông. Bà nói bà muốn mọi người công nhận đóng góp của chồng mình cho đất nước.
“Khi ông ấy bước qua cánh cửa đó, ông ấy không bao giờ than phiền về đồng nghiệp, cũng không bao giờ nói xấu cấp trên, ông ấy luôn giữ kín mọi chuyện cho riêng mình. Công việc đó là sinh kế của chúng tôi”.
James Ramsey cũng có thái độ tương tự. Ông trưởng thành trên những cánh đồng thuốc lá ở North Carolina và thỉnh thoảng cũng phục vụ ăn trưa trong quán ăn tự phục vụ ở trường “chỉ để được cho một đĩa thức ăn”. Ông vươn xa trong cuộc sống và biết ơn cuộc đời đã cho ông cơ hội làm việc trong “ngôi nhà” này. Ramsey nói ông rất ghét nghe chuyện các nhân viên phục vụ đi thẳng đến chỗ Tổng Quản lý để than vãn về điều kiện làm việc hay về những người làm chung với họ. “Chúng tôi không có vấn đề gì cả. Tất cả chúng tôi đều gắn bó với nhau”.
Ông cũng nói mình chưa từng chứng kiến tình trạng phân biệt chủng tộc, hoặc là ông chọn cách vượt lên trên điều đó. “Từ lúc tôi đến đây, mọi người đều rất tốt với tôi. Tôi thường phục vụ bán thời gian và gặp gỡ rất nhiều người. Phân biệt sao?” ông hỏi. “Chuyện đó không còn nữa rồi”.
Điều giúp Ramsey vượt qua nỗi bất mãn bị kỳ thị có lẽ là óc hài hước của ông. Bếp trưởng Frank Ruta nhớ có lần Ramsey đã đem chủng tộc ra đùa giỡn công khai khi ông thò đầu vào căn bếp gia đình trên tầng hai để hỏi Ruta, một người da trắng, xem ông ta muốn uống cà phê như thế nào: “Anh muốn uống cà phê giống tôi hay giống anh?”
Tuy nhiên James Ramsey có lối cư xử rất đàng hoàng cao quý, và biết ơn sự thay đổi trọng đại mà cuộc bầu cử năm 2008 đem lại cho Nhà Trắng. Khi được hỏi ông thấy thế nào khi là một người da đen làm việc cho một đệ nhất gia đình Mỹ gốc Phi đầu tiên, ông đáp:
“Rất tuyệt vời. Thật tuyệt vời”.
ZEPHYR WRIGHT THỰC sự là một phần của gia đình Johnson. Được phu nhân Lady Bird Johnson thuê vào làm từ khi cô còn là một sinh viên khoa Kinh tế Gia đình của Đại học Texas, Zephyr đã nấu ăn cho gia đình Johnson suốt 27 năm ở Texas và Washington, D.C., rồi sau đó theo họ đến sống ở Nhà Trắng.
Trên đường đi Washington, khi xe họ đi ngang qua miền Nam, nơi người da đen vẫn còn bị phân biệt đối xử, Lady Bird cho xe ngừng lại ở một khách sạn để qua đêm. Bà từ chối ở khách sạn nào mà Zephir không thể ở cùng.
“Cô có phòng cho chúng tôi nghỉ đêm nay không?”, bà Lady Bird hỏi một khách sạn.
“Có, tôi có một chỗ cho bà”, người phụ nữ sau quầy trả lời.
“À, còn hai người kia nữa”, bà Lady Bird khoát tay về phía Zephyr và một người Mỹ gốc Phi khác làm việc cho vợ chồng bà.
“Không. Chúng tôi chỉ thuê họ làm chứ không cho họ ngủ”, người phụ nữ trả lời.
Bà Lady Bird phẫn nộ. “Thật kinh tởm”, bà quay đầu lại nói trong lúc bước nhanh ra ngoài.
Sau sự sỉ nhục đó, suốt mười năm trời Wright không quay lại Texas, chuyến đi này là một trong những nhân tố khiến tổng thống và đệ nhất phu nhân nhiệt tình với bộ luật cải cách dân quyền. Sau khi Tổng thống Johnson đẩy mạnh Đạo luật Dân quyền và làm sụp đổ cái gọi là luật Jim Crow thông qua Quốc hội năm 1964, Wright đồng ý quay về thăm tiểu bang nơi cô ra đời. “Nơi đó bây giờ khác lắm rồi”, Tổng thống Johnson trấn an cô. “Cô có thể đi bất cứ chỗ nào cô muốn đi, dừng lại bất cứ chỗ nào cô muốn dừng”. Tổng thống Johnson cảm thấy tự hào là bộ luật do ông đề xướng đã tác động trực tiếp đến cuộc sống của người bạn ông.
Johnson nhờ Zephyr Wright lắng nghe và cho ý kiến về nỗ lực đấu tranh vì dân quyền của ông. Trong thời gian làm phó tổng thống, ông có lần hỏi cảm nghĩ của cô về cuộc tuần hành đến Washington của Martin Luther King Jr. Đến khi lên làm tổng thống và bổ nhiệm Thurgood Marshall làm thẩm phán tòa án tối cao Mỹ gốc Phi đầu tiên, ông cũng vội vã báo tin cho Wright hay. Johnson lúc nào cũng thấy lo lắng không biết người Mỹ gốc Phi có đánh giá cao những cải cách mà ông ban hành vì họ không, và thỉnh thoảng ông lại than phiền với Wright về chuyện này: “Tôi không hiểu sao họ không nhìn thấy những gì tôi cố gắng làm cho họ”. Từ lúc Johnson mất, ông bị cho rằng đã sử dụng từ “bọn da đen” dù ông là người đã đấu tranh để bộ luật cải cách dân quyền được thông qua. Một trợ lý của Johnson nói với tôi rằng tổng thống quả thực đã dùng những từ mang tính kỳ thị chủng tộc khi bày tỏ sự thất vọng của mình với một số lãnh tụ dân quyền Mỹ gốc Phi khi họ muốn cải cách mạnh tay hơn nữa. “Họ thật tồi tệ khi gây khó khăn cho ông ấy”, người trợ lý nói. Với một số người thì thay đổi đó vẫn là chưa đủ.
Một người khách thường xuyên ghé thăm Tổng thống Johnson ở Nhà Trắng là thượng nghị sĩ Richard Russell của bang Georgia, một trong những cố vấn dày dạn kinh nghiệm của Johnson ở Thượng viện nhưng cũng là kẻ thù lớn của phong trào dân quyền. Lúc đầu, Zephyr Wright chỉ xem ông ta như một vị khách bình thường. “Ông ấy là một người rất tử tế”, cô nói. Tuy nhiên, khi cuộc chiến dân quyền diễn ra công khai, cô nhìn rõ con người của Russell hơn. “Khi tôi đọc báo và nghe nói về những điều ông ta làm và nói ở Quốc hội, tôi bắt đầu nghĩ khác về ông ta”. Nhưng cô không bao giờ để lộ cảm nghĩ của mình ra ngoài “Tôi cảm thấy là ‘hiện mình đang làm việc cho Lyndon B. Johnson, mà những người này lại là bạn ông ấy. Tôi phải chấp nhận họ vì ông ấy chấp nhận họ, không còn cách nào khác’”.
Nhiều người làm việc gần gũi với vợ chồng nhà Johnson không hiểu vì sao tối ngày 31 tháng 3 năm 1968 ông lại tuyên bố không tái ứng cử. Thư ký xã hội Bess Abell chỉ phát hiện chuyện này khi bật tivi ra xem. Lúc đó Wright cũng đang ở nhà. Cô đã khóc khi nghe tin người chủ lâu năm của mình tuyên bố rời Nhà Trắng. Cô biết điều này đánh dấu sự kết thúc thời gian làm việc của cô với gia đình Johnson. Washington giờ đây đã là nhà của cô và cô muốn ở lại đó.
Wright ngưỡng mộ Johnson cả về chính sách cải tổ dân quyền của ông lẫn nỗ lực để chúng được Quốc hội thông qua. “Ông ấy vẫn luôn là một chiến binh”, cô nói. Cô thừa nhận sự nghiệp chính trị là “cả cuộc sống” của ông ấy, và cô tin rằng sở dĩ ông từ bỏ nó là vì cảm thấy thành tựu lớn nhất của sự nghiệp tổng thống của mình đang bị gánh nặng Việt Nam làm lu mờ.
Không nhân viên nào không biết đến sự thất vọng của Tổng thống Johnson. Một lần, gần khoảng thời gian ông tuyên bố không tái ứng cử, anh thợ điện kiêm giữ chó Traphes Bryant bước vào phòng khi Johnson đang lớn tiếng xỉ vả cuộc chiến ở Việt Nam. “Họ bắn gục tôi rồi. Khác biệt duy nhất giữa việc giết Kennedy và giết tôi là tôi vẫn còn đang sống và đang cảm nhận được điều đó”, ông than thở.
Theo Wright thì Johnson có vẻ thanh thản với quyết định rời Washington của mình. “Cuối cùng chúng tôi cũng về nhà”, ông nói với Wright sau một ngày tuyên bố không tái ứng cử. “Cô có đi với chúng tôi không?”
“Không, tôi ở lại đây”, cô nói với ông.
Ông sửng sốt. “Mọi thứ sẽ không như cũ nếu không có cô”, ông buồn bã nói.
Wright cũng buồn. Cô cảm thấy như mình bị bỏ rơi bởi quyết định của tổng thống. “Tôi thấy như mình mất đi một gia đình. Nhưng đó là điều ông ấy muốn”.
Sau khi quay về nông trại của mình ở Stonewall, Texas, Johnson bị bệnh tim nặng và trở nên trầm cảm. Luci gọi điện thăm cha và hỏi xem mình có thể giúp gì được cho ông. “Con không làm gì được đâu”, ông nói với cô. “Chỉ là bố đang cảm thấy nhớ một số tiện nghi trong cuộc sống”, đặc biệt là món bánh sữa trứng mà mẹ ông và Zephyr trước đây thường làm cho ông.
“Con có thể giúp bố”, cô đề nghị.
“Không, con không giúp được đâu. Mẹ con không biết nấu ăn. Bà nội con cũng mất rồi, còn cô Zephyr thì lên mặt và bỏ bố”, Johnson than thở.
“Zephyr lên mặt và bỏ bố?” Luci kinh ngạc lặp lại lời bố. Thật vô lý khi cha cô, một quán quân của phong trào dân quyền, lại đi giận Wright vì cô ấy đeo đuổi ước mơ của đời mình và ở lại nơi cô ấy thấy thoải mái nhất. “Bố đã dốc cạn sức để cố cho cô ấy nhiều cơ hội hơn trong cuộc sống, nhưng đến khi bố rời Washington, cô ấy lại chọn ở lại cái cộng đồng đó chỉ vì cô ấy tìm thấy nhiều cơ hội ở Washington, D.C. hơn ở Texas”.
Cha cô công nhận mình ích kỷ nhưng ông nói ông vẫn thấy nhớ món bánh sữa trứng cùng những món ngon khác của Wright. Luci đề nghị giúp đỡ cha. “Bố à. Zephyr từng nói với con rằng hoặc con cút ra khỏi căn bếp của cô ấy hoặc con phải học cách nấu ăn. Vậy bố có muốn ăn món gì mà cô ấy từng làm cho bố không? Con có thể làm món đó và lái xe từ Austin đến đưa cho bố mỗi ngày”.
Vị cựu tổng thống vội vàng liệt kê hàng loạt món ăn ra và hỏi con gái có làm được không. Khi cô nói được, “Bất thình lình tôi trở nên một người quan trọng. Điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với tôi, mặc dù tôi chắc chắn nó sẽ chẳng có mấy ý nghĩa với vị bác sĩ chữa bệnh tim cho cha tôi”.
NĂM 1959, JAMES Jeffries chỉ mới 17 tuổi khi ông tiếp nối truyền thống gia đình để bước vào căn bếp Nhà Trắng. Các cậu của ông là Charles John và Sam Ficklin luôn ở gần đó để phòng trường hợp ông cần đến họ. “Khi tôi làm việc ở dưới đó, mỗi ngày họ đều đưa cho tôi một xô kem gần hai mươi lít, thế là tôi ăn kem cả ngày. Họ đang cố vỗ béo tôi!”
Công việc của ông là làm món tráng miệng: “Thời đó không có những món tráng miệng cầu kỳ như bây giờ mà chỉ có kem vani rắc sô cô la bên trên. Tôi rất vui khi làm chuyện này”, ông làm trong bếp khoảng một năm thì chuyển lên trên lầu phụ việc trong phòng để đồ ăn.
Jeffries ra đời ở Virginia và hiện đã 74 tuổi. Mẹ ông phải lái xe từ nhà họ ở gần Warrenton để đến Bệnh viện Freedmen sinh ông vì đây là nơi chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng Mỹ gốc Phi trong vùng. Ông ý thức được rằng dư âm của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc vẫn còn tồn tại trong Nhà Trắng. “Lúc đó, những người da trắng luôn nghĩ vị trí của họ cao hơn người da đen”, Jeffries nói khi được phỏng vấn ở nhà ông ở Washington. “Nhưng tôi không để cho ai nói với tôi bằng giọng kẻ cả”.
Mỗi cuối tuần, Jeffries đều phải đưa cho Quản bếp Henry Haller ký phiếu ghi số giờ làm việc của ông để ông có thể lãnh lương. “Một đầu bếp làm bán thời gian đã lấy phiếu đó xem và thấy tôi kiếm nhiều tiền hơn hắn ta”, Jeffries nói. Thế là tên da trắng mới vào làm đó chạy ngay đến chỗ Tổng Quản lý Gary Walters để hỏi vì sao một thằng cha da đen rửa xoong nồi lại có thể lĩnh nhiều tiền hơn hắn.
Jeffries giận điên lên khi biết hắn phàn nàn chuyện này. Câu trả lời thật đơn giản: “Tôi làm việc nhiều giờ hơn. Rất nhiều lần khi mọi người về hết, tôi vẫn phải ở lại làm thêm hai ba tiếng nữa”, ông liền đến gặp ông Haller và nói: “Henry, ông nghĩ sao nếu có một thanh niên đến đây làm việc với mức lương khởi điểm bằng lương ông? Tôi đã làm ở đây lâu hơn anh ta có thể tưởng tượng. Tôi không muốn thấy lương tôi đi giật lùi”.
Haller trả lời: “Anh nói đúng”.
Jeffries vẫn còn nhớ như in cái cảnh xảy ra mấy chục năm trước. “Thật nực cười, hôm đó trên sàn có trải mấy tấm thảm chùi chân dày khoảng hai phân rưỡi. Hắn đong đưa người trên rìa thảm và nói: ‘Jimmy, để tôi suy nghĩ chuyện này’. Hắn bước lại chỗ bếp lò và nói: ‘Jimmy, làm sao anh có thể nghĩ là anh có quyền nói với tôi bằng cái giọng anh đang nói với tôi hiện giờ?’”
“Cách tôi mặc quần đâu có khác cách cậu mặc quần. Sao tôi lại không được nói với cậu? Tôi thích nói thế nào thì nói thế ấy”, Jeffries trả lời.
Haller nhìn hắn ta và nói: “Jimmy, anh không cần phải lo chuyện tiền bạc của anh, nhất là khi tôi còn ở đây”. Và ông ấy đã làm như lời mình hứa.
NHÀ TRẮNG ĐÃ từ lâu được sử dụng để quảng bá cho tài năng Mỹ. Vợ chồng Kennedy từng mời Nhà hát ballet Hoa Kỳ đến biểu diễn ở Phòng Đông, và trong thời gian gia đình Clinton làm việc ở Nhà Trắng, Eric Clapton, B.B. King và Yo-Yo cũng đã trình diễn ở đó.
Năm 1969, Tricia Nixon, lúc đó 23 tuổi, mời The Temptations, nhóm nhạc bán được nhiều CD nhất của hãng thu âm Motown, đến biểu diễn ở Nhà Trắng. Jeffries nhớ là mỗi khi không lên sân khấu, những người trong ban nhạc đều thích nấn ná trong Phòng ăn Gia đình cũ với các nhân viên phục vụ vì “họ có thể kể chuyện và nói chuyện riêng với chúng tôi”.
“Tôi được nhìn thấy họ, bắt tay họ và ăn uống với họ”, Jeffries nói. “Họ không ở lại trên phòng khách mà ra sau bếp bởi lúc đó hầu hết các nhân viên phục vụ ở sau bếp đều là người da đen”, ông nói. “Cả ca sĩ James Brown và ban nhạc The Flames lừng danh đều ra sau bếp”. Và các gia nhân đã dành cho các ngôi sao ca nhạc này những giây phút còn hơn cả sự chào đón thông thường. “Bất cứ món nào chúng tôi có trong bếp, họ cũng đều có thể lấy ăn uống thoải mái”. Buổi tối năm 1969 đó, trong lúc trò chuyện, ban nhạc đã ngỏ lời mời Jeffries và các con ông đến chơi ở bể bơi khách sạn họ ở tại Rockville, Maryland, bên ngoài Washington. “Tôi đã không đến, đó là điều duy nhất tôi hối tiếc. Lúc đó tôi bận quá”.
Otis Williams, người cuối cùng còn lại của của nhóm nhạc huyền thoại Motown, nói với tôi rằng nguyên tắc của họ là không bàn chuyện chính trị khi đến Nhà Trắng biểu diễn, “Chúng tôi quan niệm là mình đến đó chỉ để giải khuây cho mọi người, chúng tôi không đến đó với tư tưởng chính trị trong đầu. Chúng tôi chỉ đến đó để biểu diễn”.
Williams không nhớ cụ thể những gì diễn ra buổi tối năm 1969 – ông biểu diễn ở Nhà Trắng ít ra cũng năm, sáu lần – nhưng ông nhớ mình đã quan sát các nhân viên Mỹ gốc Phi làm việc. “Họ không hề tỏ ra khó chịu với cách họ bị đối xử. Họ thực sự rất chuyên nghiệp”. Mặc dù ông và các thành viên trong ban nhạc của ông chắc chắn đã từng nếm trải mùi bị kỳ thị ở bên ngoài Nhà Trắng, người ca sĩ nhớ lại, nhưng ông không cảm nhận được điều đó khi trình diễn ở đây.
Williams nói rằng trình diễn trước mặt Tổng thống Obama là một vinh dự đặc biệt của ông: “Cả cuộc đời, chúng tôi không bao giờ nghĩ rằng có thể nhìn thấy một người da đen làm tổng thống”.
Với Jeffries, việc gia đình Obama sống trong Nhà Trắng là động lực khiến ông muốn tiếp tục làm việc: “Điều đó khiến tôi cảm thấy như ‘Được rồi, mình sẽ thường xuyên đến đó làm việc khi nào còn có thể’”.
Chương 8
những chuyện ngồi lê đôi mách
và những trò tinh quái trong hậu trường
Tôi trung thành với công việc phục vụ gia đình tổng thống, nhưng tôi sẽ quay trở lại để nói rằng: “Anh có biết hôm nay họ đã làm gì không? Tôi không tin được là họ nói thế”
– Bill Hamilton, Quản lý Bộ phận quét dọn và kho, 1958–2013.
Các nhân viên tuy kín đáo nhưng vẫn là con người. Lẽ tự nhiên là họ trao đổi các câu chuyện với nhau trong giờ ăn trưa. Họ không chỉ chia sẻ những thông tin quan trọng mà còn trở nên thân thiết hơn nhờ kể cho nhau nghe những chuyện khó tin mà họ chứng kiến, và thỉnh thoảng những tình huống buồn cười mà họ bị mắc vào.
Một trong những câu chuyện ưa thích nhất của Thư ký Xã hội Bess Abell liên quan đến bộ đồ sứ của Nhà Trắng. Năm 1966, gia đình Johnson quyết định đặt làm bộ đĩa sứ mới. Phu nhân Lady Bird phối hợp chặt chẽ với các nhà thiết kế của Tiffany & Company và nhà sản xuất đồ sứ Castleton China để tạo ra những mẫu thiết kế phản ánh cam kết làm đẹp những con đường và công viên nước Mỹ của bà. Trên bộ đĩa dùng ăn tối có hình một con ó, còn mỗi viền đĩa thì được trang trí bằng hình những bông hoa dại khác nhau ở Hoa Kỳ. Đĩa ăn tráng miệng thì thể hiện hình ảnh của từng loài hoa tiêu biểu cho mỗi tiểu bang trong số năm mươi tiểu bang của Hoa Kỳ.
Khi bộ đĩa sứ được giao cho Nhà Trắng, trông chúng đẹp mê hồn, Abell hồi tưởng lại – trừ bộ đĩa ăn tráng miệng. Hình các bông hoa đặc trưng các tiểu bang trông rất xấu xí khó coi. “Chúng trông giống như bị mấy con cún ngồi đè lên”. Cô phá ra cười, như thể chỉ mới nhìn thấy chúng ngày hôm qua. Nhưng lúc đó thì chẳng có gì tức cười. Abell kinh hoàng khi nhìn thấy bộ đĩa. Cô vội chạy đến chỗ ông J.B. West để đưa cho ông xem. (West là người được lòng cả Abell và Jacqueline Kennedy. “Ông ấy rất tuyệt”, Abel nhớ lại. “Ông ấy pha món daiquiri lạnh [**] ngon chưa từng thấy, và đó là một trong những lý do khiến ông ấy và phu nhân Kennedy rất hợp ý nhau”).
[**](Hỗn hợp rum, nước chanh và đường ướp lạnh.)
Món rượu daiquiri của West “đã châm ngòi cho một trò chơi ngông rất tuyệt” trong Nhà Trắng, Abell nói. Vì tiêu chuẩn đòi hỏi tất cả những gì không hoàn hảo đều phải bị hủy nên chúng tôi đã đặt một bộ đĩa khác thay thế, sau đó thì các nhân viên tìm ra một cách tuyệt vời để hủy những chiếc đĩa hư. Thay vì ném chúng xuống sông Potomac (từ lâu vẫn được dùng làm mồ chôn đồ sứ vỡ của Nhà Trắng), họ quyết định chơi một trò rất vui. Abell, West và một vài người khác mang số đĩa đó cùng một bình daiquiri xuống hầm trú ẩn. Họ treo một cái bia tập bắn lên tường, trên đó ghi tên – và trong một vài trường hợp, cả hình biếm họa – của những nhân viên khu Cánh Tây ít được ưa thích nhất, rồi lấy đống đĩa ném vào mấy cái tên đó.
“Còn vui hơn cả đám cưới Hy Lạp”.
NĂM 1975, CỰU nhân viên Traphes Bryant trở thành một trong những người đầu tiên trong Nhà Trắng phơi bày lối sống trác táng có tiếng của Tổng thống Kennedy trong một cuốn sách. Hầu hết các nhân viên thời đó đều biết chuyện này nhưng họ quyết giữ kín sự thật để bảo vệ thể chế tổng thống Mỹ. Theo Pierre Salinger, thư ký báo chí của gia đình Kennedy, các nhân viên được yêu cầu một cách dứt khoát là “không công khai những gì có thể làm mất uy tín của Nhà Trắng trên cương vị một di tích quốc gia”. Và mặc dù ông thợ mộc Milton Frame nói mình chưa bao giờ ký một thỏa thuận bảo mật thông tin nào nhưng ông vẫn nhớ là “khi tôi được tuyển vào làm, chúng tôi được yêu cầu không tiếp xúc với báo chí hay các phương tiện truyền thông đại chúng”. Một nhân viên khác được yêu cầu ký giấy cam kết vào ngày ông nghỉ hưu là sẽ không viết hồi ký cho đến khi hết thời gian quy định (Nhà Trắng để xuất thời gian rất dài, lên đến 20 năm).
Như đã tiết lộ trong cuốn sách của Bryant, Tổng thống Kennedy luôn tận dụng những lần vắng mặt trong thời gian dài của vợ. Phu nhân tổng thống vẫn luôn tìm cách thoát khỏi sự tù túng bên trong Nhà Trắng lâu nhất có thể bằng cách đến Glen Ora, một trang trại rộng 400 mẫu Anh do hai vợ chồng bà thuê ở vùng đất chuyên về ngựa ở Virginia. (Sau này họ xây nhà gần đó. Ngôi nhà được bà đặt tên là Wexford, theo tên một hạt ở Ireland, nơi quê cha đất tổ của tổng thống).
Mỗi khi vợ vắng nhà, tổng thống lại thích khỏa thân vùng vẫy trong hồ bơi được sưởi ấm bên trong Nhà Trắng. Được xây lên năm 1933, hồ bơi này là một phần của chế độ điều trị bệnh bại liệt của Tổng thống Roosevelt. Đây là nơi ông Kennedy thường hẹn hò với các cô nhân tình của ông, trong đó có vài người là thư ký trong Nhà Trắng. Khi ông thấy các nam nhân viên nhìn ra hồ bơi qua khung cửa kính, ông liền cho làm mờ mặt kính. (Tổng thống thường yêu cầu các đầu bếp chuẩn bị sẵn một ít đồ ăn và thức uống – xúc xích nhỏ, thịt xông khói và rượu daiquiri – rồi cho họ về. Xúc xích được giữ nóng trong bình giữ nhiệt, còn bình rượu daiquiri được làm lạnh sẵn trong tủ lạnh để khách có thể tự phục vụ. “Tôi có thể lo chuyện này”, ông nói với các nhân viên bếp).

Có một lần, một nhân viên được viên quản lý yêu cầu sửa chữa cái gì đó ở hồ bơi. Vì công việc này thường được làm khi gia đình tổng thống không có ở đó nên người nhân viên cho rằng vào giờ đó không có ai ở hồ bơi. Nhưng khi mở cánh cửa dẫn vào hồ bơi ra, anh bị sốc khi nhìn thấy Dave Powers, cố vấn và cũng là bạn thân của Tổng thống Kennedy đang ngồi bên hồ bơi – không một mảnh vải che thân – cùng với hai cô thư ký của ông Kennedy. Anh nhân viên xấu hổ chạy trở ra ngoài và nghĩ rằng mình sẽ lập tức bị sa thải. Nhưng sau đó chẳng ai đả động đến việc này và câu chuyện vẫn tiếp tục là một bí mật gia đình trong suốt nhiều năm trời.



Các nhân viên đều biết rằng mỗi khi bà Jackie Kennedy đi vắng thì mọi người bị cấm lui tới tầng hai. Tuy nhiên, Bryant đã quên bẵng chuyện này khi một buổi tối ông đi thang máy lên tầng ba để kiểm tra một thiết bị. Chiếc thang máy tình cờ dừng lại ở tầng hai. “Tôi nghe được tiếng rủ rỉ rù rì của đôi uyên ương”, ông nói. Một đồng nghiệp khác của ông nhìn thấy một phụ nữ khỏa thân từ trong bếp đi ra khi anh ta lên lầu xem đã tắt ga chưa. “Khi bà Jackie vắng nhà, đi thang máy lên lầu là một chuyện rất nguy hiểm”, Bryant hồi tưởng.
Tất cả các gia nhân đều rất sốc khi nghe nói một nhân viên nữ của Phòng Chính trị đưa gia đình cô ta lên tham quan tầng hai. Khi đến phòng của tổng thống, cô ta “làm ra vẻ như không biết đó là chỗ nào và chưa nhìn thấy nơi đó bao giờ”. Thực ra, cô ta đã đến đó nhiều lần rồi.
Bryant chưa bao giờ tiết lộ với bất kỳ ai bên ngoài Nhà Trắng, kể cả vợ ông, về chuyện ngoại tình của Kennedy khi tổng thống còn đang tại chức. Nhưng các nhân viên ở dưới nhà thì không thể không xì xào bàn tán. Họ cần biết mình phải xử sự ra sao, và việc chia sẻ các thông tin cho nhau giúp họ biết được những khu vực hành lang nào cần tránh.
Cả Tổng thống Johnson cũng khiến các nhân viên xì xào bàn tán chuyện ông thích dồn các cô gái đẹp đến dự tiệc vào góc phòng và cố hôn lên má họ. Khi bữa tiệc tối kết thúc, trên mặt ông thường đầy vết son môi. Nhiều lúc Phu nhân Lady Bird, lúc đó cũng có mặt trong phòng, phải bối rối nói với chồng là: “Lyndon, mọi người đang tìm anh ở bên ngoài kìa. Anh không được bỏ mặc bạn bè”.
Mọi người đồn rằng ông Johnson “thừa kế” hai cô phóng viên mà ông Kennedy để lại. “Ông ấy nhắc đến cô này hay cô kia như là một người “nữ tính” hoặc “rất nữ tính”, thậm chí còn dành cho họ những lời khen “có cánh” khi nói với tôi rằng họ “xinh như hồ ly”, câu mà ông thường chỉ dành để khen tặng con chó Yuki yêu thích nhất của mình”, Bryant viết. Bà Lady Bird chỉ biết đứng cạnh cắn răng chịu đựng khi bị chồng trắng trợn sỉ nhục trước mặt mọi người.
Trớ trêu thay, ông Johnson lại thuộc dạng chồng chiếm hữu, chỉ muốn vợ biết một mình mình. Có một ngày, Bryant, lúc đó còn đang là thợ điện, được yêu cầu đến phòng bà Lady Bird để nối dây cho chiếc bàn nail của bà. Nhưng ổ cắm lại nằm phía sau chiếc bàn trang điểm, nơi đệ nhất phu nhân đang ngồi. Vì thế, Bryant phải nằm dài xuống sàn, gần như ngay bên dưới đệ nhất phu nhân để cắm dây vào ổ điện.
Vừa lúc đó, Johnson lên lầu và bước vào phòng. Tổng thống “há hốc mồm” khi nhìn thấy cảnh đó và trông đúng dạng “một lão chồng đang ghen”. Bryant lắp bắp: “Thưa ngài tổng thống, tôi đang nối dây cho bàn nail của phu nhân”.
Bà Lady Bird có vẻ thích thú khi được một lần lật ngược thế cờ.
THỈNH THOẢNG, CÁC khách mời Nhà Trắng lại muốn đem về nhà một chút gì đó mang giá trị lịch sử.
Mỗi khi có tiệc tối cấp quốc gia, Quản lý Skip Allen thường đến góc phía nam của Phòng Quốc yến để kiểm tra xem có ly nào chưa rót rượu không. Ông cũng luôn chuẩn bị sẵn một bộ dao nĩa bạc cùng một ít khăn ăn khác để lỡ có ai làm rơi nĩa thì ông sẽ có thể gần như lập tức đưa một chiếc nĩa mới cho họ. Và thỉnh thoảng ông lại bắt gặp một người khách lén lút nhét thứ gì đó vào túi xách của họ.
Các gia nhân không bao giờ hỏi trực tiếp khách xem họ có lấy một món đồ sứ hay món đồ bạc nào đó không. Họ chỉ khiến người khách đó cảm thấy xấu hổ mà đưa trả lại cho họ bằng cách giả vờ ngớ ngẩn và lịch sự hỏi họ những món đó đâu. “Khi ta thu dọn đĩa, ta bảo họ cho ta dọn dao nĩa và nếu như dao hay nĩa không có ở đó, ta sẽ vờ như ‘Ồ, có lẽ ông/bà đã đánh rơi nó dưới đất’ và dáo dác tìm quanh trên sàn nhà. Và thường thì họ sẽ nói ‘À, nó đây này’”.
Là trợ lý phụ trách trang phục của Jackie Kennedy, Anne Lincoln từng giúp đệ nhất phu nhân sắp xếp các cuộc hẹn với thợ làm tóc và mua y phục cho bà trước khi cô được thăng chức quản lý bộ phận phòng và được giao cho một công việc khó khăn là giữ không cho giá thực phẩm lên cao. Dưới thời Kennedy, việc lấy trộm một vật kỷ niệm rất thường xuyên xảy ra. Cô nhớ có lần khi đến cuối bữa tiệc trưa, có đến mười lăm chiếc muỗng bạc, hai con dao bạc và bốn cái gạt tàn bạc không cánh mà bay. “Nhiều người đến đây với suy nghĩ là thứ đó thuộc về họ và tự tiện lấy nó đi”. Cô nhớ có một lần, vị đệ nhất phu nhân bình thường vẫn ăn nói dịu dàng đã phải tỏ thái độ. “Một tối, bà ấy nhìn thấy một người khách nhét con dao bạc mạ vàng vào túi quần ông ta”, Lincoln nói. Sau khi mọi người ăn xong nhưng trước khi khách khứa ra về, bà bảo Quản lý Tổ Phục vụ Charles Ficklin kiểm lại từng món trong bộ đồ ăn. Khi Charles báo lại là thiếu mất một con dao, phu nhân Kennedy đi thẳng tới chỗ người khách đang đứng sững sờ và hỏi xin lại con dao. Ông ta đưa ngay cho bà không chút chần chừ.
Jackie biết cách trình bày bàn ăn và chọn món ăn ngon nhưng không biết nấu nướng. Lincoln chưa thấy bà vào bếp chuẩn bị bữa tối hay bữa ăn nhẹ ban đêm bao giờ. Tổng thống Kennedy cũng chẳng biết gì về bếp núc. “Tổng thống thích dùng súp trước khi đi ngủ nên chúng tôi để sẵn một cái mở đồ hộp trên tầng hai – tôi nghĩ là ông ấy đã mất khoảng tám tháng mới học được cách sử dụng nó”, Lincoln nói. “Tôi cũng không nghĩ đệ nhất phu nhân biết cách sử dụng cái mở đồ hộp”. Các nhân viên phục vụ đã phá lên cười khi nói với Lincoln sáng hôm sau: “Tội nghiệp tổng thống. Tối hôm qua ông ấy lại gặp rắc rối với cái mở đồ hộp”.
Giữa tháng 10 năm 1963, vài tuần trước khi chồng bị ám sát và không lâu sau ngày bé Patrick bị sinh non và mất vào mùa hè năm đó, Jackie gọi người tổng quản lý vào phòng bà. “Ồ, ông West”, bà thì thào bằng giọng trẻ thơ, “Tôi đang có chuyện rắc rối. Ông giúp tôi giải quyết việc này được không?” Số là bà lỡ ngỏ lời mời một vị công chúa đến chơi và ở qua đêm trên tầng hai, nhưng sau đó hai vợ chồng bà thay đổi ý định và muốn dành thời gian cho nhau. Sự ra đi của cậu con trai khiến họ trở nên khăng khít hơn. “Ông có thể giúp chúng tôi nghĩ ra chuyện gì đó để bà ấy không ở lại không?”, bà năn nỉ.
Jackie đã lên kế hoạch thật tỉ mỉ để không phải tiếp khách. Bà nhờ ông West làm sao cho Phòng Nữ hoàng và Phòng Lincoln, hai phòng ngủ duy nhất thích hợp cho các hoàng thân quốc thích ở lại qua đêm, trông giống như đang trong quá trình trang trí lại để vị khách đó không thể ở lại Nhà Trắng.
“Mắt bà ấy ánh lên vẻ tinh quái khi tưởng tượng ra trò lừa gạt tinh vi ấy”, West viết.
West gọi điện cho cậu em trai của Reds là Bonner Arrington ở Phòng Mộc và trình bày kế hoạch cho anh ta:
“Cậu mang một ít bạt che bụi lên Phòng Nữ hoàng và Phòng Lincoln, sau đó cuộn thảm và che toàn bộ rèm cửa, chân đèn và tất cả đồ đạc lại. Phải rồi, đem cả thang xếp lên đó nữa”.
Sau đó, ông gọi cho cánh thợ sơn và kêu họ đem lên mỗi phòng sáu thùng sơn, trong đó có hai thùng (không) sơn trắng nhạt cho mỗi phòng, cùng mấy cây cọ đang sơn dở. Ông cũng đem lên đó vài chiếc gạt tàn chứa đầy các mẩu thuốc lá hút dở để trông như các thợ sơn ở đây đang làm việc cật lực. Để chứng minh các nhân viên ở Nhà Trắng biết tuân lệnh cấp trên và tin tưởng lẫn nhau, tất cả những ai liên quan đến cái kế hoạch phức tạp này đều không được đặt câu hỏi.
Khi công chúa đến, cô được tổng thống dẫn đi tham quan một vòng Nhà Trắng. Khi đến Phòng Nữ hoàng, ông Kennedy chỉ vào mấy thùng sơn cùng mấy tấm bạt che bụi ở đó và nói: “Đây là nơi Công chúa sẽ ở qua đêm nếu Jackie không cho trang trí lại”, ông thở dài thườn thượt.
Sáng hôm sau, đệ nhất phu nhân gọi điện cho West và rúc rích cười cảm ơn ông. “Tổng thống suýt phá ra cười khi nhìn thấy mấy cái gạt tàn thuốc đó”, bà nói.
VỢ CHỒNG ARRINGTON chưa kịp mừng kỷ niệm 60 năm ngày cưới của họ thì Reds đã qua đời năm 2007. “Chúng tôi đã sống rất hạnh phúc”, bà Margaret, vợ ông, trìu mến nói.
Những câu chuyện ông kể cho bà nghe về thời gian 33 năm làm thợ ống nước ở Nhà Trắng dưới bảy đời tổng thống, bà rất thích kể lại chúng vì chúng giúp hồi ức về ông luôn sống động. Một số chuyện liên quan đến thói quen kỳ quặc của các tổng thống, chẳng hạn như Tổng thống JFK có thói quen nhờ Reds vặn sẵn nước vào đầy bồn tắm từ tối hôm trước để sáng hôm sau ông có thể tiết kiệm thời gian bằng cách chỉ vặn thêm nước nóng bên trên. Hay chuyện cô bảo mẫu của gia đình Kennedy, Maud Shaw, cuống cuồng gọi cho Reds sau khi lỡ giật nước bồn cầu làm cái tã của John–John bị cuốn trôi.
Trước khi mất, Reds kể lại trong một cuộc phỏng vấn việc ông suýt gánh cơn thịnh nộ của Lyndon Johnson và nếu như không có sự can thiệp của người hầu riêng của tổng thống thì có lẽ ông đã bị mất việc. Một tối, Reds ở lại trễ để chữa hệ thống bơm cho chiếc vòi sen nổi tiếng của LJB bằng keo làm khít ống nước. Sáng hôm sau, ông nhận được một cuộc gọi từ người hầu của ông Johnson.
“Reds, anh và nhân viên của anh liệu hồn lên đây làm sạch các đầu vòi sen liền đi. Sáng nay lúc tổng thống tắm xong, khắp lưng ông ấy đầy màu xanh của keo ống nước”. Rồi anh nói thêm: “Tôi chưa nói gì với ông ấy, chỉ lấy khăn lau khô người cho ông ấy thôi”. Nhưng vì tổng thống vẫn thường hay mát–xa mỗi sáng nên anh người hầu phải gọi điện cho nhân viên mát–xa để dặn anh ta không nói bất cứ chuyện gì khi thấy lưng tổng thống dính đầy màu xanh. “Anh đừng có hỏi ông ấy về những cái vết trên lưng ông ấy nhé”, anh người hầu dặn. “Anh chỉ cần dùng cồn hay thứ gì đó lau sạch là được, ông ấy mà biết trên lưng ông ấy dính keo đường ống thì tất cả thợ ống nước sẽ bị đuổi ngay”. Reds rất biết ơn vì ông Johnson đã không bao giờ phát hiện chuyện này, nhờ đó ông mới có thể tiếp tục làm việc thêm nhiều năm nữa ở tòa nhà mà ông yêu mến.
Reds kể cho vợ nghe rằng lúc Nữ hoàng Elizabeth Đệ nhị đến thăm Nhà Trắng, các thợ ống nước phải làm cho bà một chiếc ghế đặt khít trên mặt bồn cầu, trông gần giống như chiếc ngai vàng. “Reds nói đó mới đúng là ‘thùng phá sảnh’” [**], bà cười khúc khích.
[**](Nguyên văn tiếng Anh là Royal flush – trong chơi bài poker, xấp bài trên tay một người chơi có cùng một hoa từ con ách trở xuống. Thùng phá sảnh là đỉnh cao của bài poker.)
Trước khi Nữ hoàng đến thăm Washington năm 1976, bà đã là một vị khách thường xuyên của Nhà Trắng nên hầu hết các nhân viên trong Nhà Trắng không còn thấy bối rối khi có mặt bà. Trước khi bắt đầu dự quốc yến, theo truyền thống, vợ chồng Tổng thống Ford ra đón Nữ hoàng và Hoàng thân Philip ở lối vào Phòng Tiếp đón Phái đoàn Ngoại giao và đưa cặp vợ chồng hoàng gia này đến thang máy. Trên đường đi, họ ngừng lại ít phút ở khu nhà ở để trò chuyện với nhau trước khi dự tiệc tối.
Trong lúc đứng chờ thang máy để lên lầu thì cửa thang máy bật mở. Xuất hiện trước mặt họ là cậu con trai 24 tuổi của tổng thống, Jack Ford, trong bộ quần jean áo thun, kiểu trang phục không mấy phù hợp để chào đón các vị khách hoàng tộc. Không chút chần chừ, Nữ hoàng quay sang bà Betty Ford nói: “Đừng lo, Betty, ở nhà tôi cũng có một người như vậy”. Dĩ nhiên người bà muốn ám chỉ ở đây là Thái tử Charles, con trai bà.
NGÀY 21 THÁNG 12 năm 1970, có một vị khách bất ngờ ghé thăm Nhà Trắng theo một kiểu khác thường, một chuyện chẳng thể nào xảy ra với tình hình cảnh giới an ninh cao như ngày nay. Đó là ngày Elvis Presley ngẫu hứng muốn gặp mặt Tổng thống Nixon (anh ta có một yêu cầu kỳ lạ là trở thành một nhân viên Liên bang chìm) nhưng không biết làm sao lại đi nhầm vào một văn phòng lúc đó đang tổ chức một bữa tiệc nhỏ.
Bill Cliber cùng một nhóm nhân viên đang hát bài “Happy Birthday to You” để mừng sinh nhật một nhân viên quản lý mỹ thuật trong căn phòng làm việc bé xíu ở tầng trệt thì bất chợt nhìn thấy Elvis cùng đám cận vệ của anh ta đứng ở ngưỡng cửa.
 
IVANIZ SILVA
“Tôi chỉ muốn chúc mừng sinh nhật thôi!” siêu sao giải trí của Mỹ nói.
Cả phòng im bặt, miệng há hốc.
“Tất cả mọi người đều chết lặng”, Cliber nhớ lại, lắc lắc đầu như không thể tin vào chuyện đó.
Một phút sau, một sĩ quan cảnh sát Nhà Trắng đến vỗ vai Presley và hỏi anh ta xem có ai trong số các cận vệ của anh ta mang súng không.
“Có”, Presley trả lời.
“Anh có thể để khẩu súng đó lại chỗ tôi trong khi đi gặp ngài tổng thống được không?”
“Tất nhiên”, Presley nói giọng thoải mái. “Ralph, đưa súng của cậu cho ông ấy”. Tuy nhiên, chẳng biết làm sao mà Presley vẫn lén đưa được một khẩu Colt 45 vào trong và đem tặng nó cho vị tổng thống bối rối.
Bà hầu phòng Ivaniz Silva gần như lúc nào cũng chỉ làm việc trên tầng hai và tầng ba, khu sinh sống của gia đình tổng thống. Bình thường, mọi thứ vẫn diễn ra suôn sẻ bởi các nhân viên làm phòng luôn nắm rõ lúc nào tổng thống và phu nhân không có mặt ở tầng hai và tầng ba để họ có thể lên đó làm việc mà không làm phiền đến họ. Nhưng một buổi chiều, mọi chuyện diễn ra không như họ tính.
Thường thì Nhà Trắng giao cho khoảng bốn nhân viên làm phòng phụ trách khu nhà ở: hai người làm sáng, hai người làm chiều. Có một ngày Silva, nay đã 76 tuổi, vào phòng ngủ của Tổng thống Reagan sau 5 giờ 30 để chỉnh trang giường ngủ và kéo rèm cửa lại. Nhưng khi bước vào căn phòng khách nhỏ trong phòng ngủ, bà không tin vào mắt mình khi nhìn thấy tổng thống đang ngồi đọc báo, trên người không mảnh vải che thân.
“Tôi đi vào phòng khách và thấy ông ấy trần truồng ngồi đó giữa đống báo chí”, bà nói. Bà đỏ mặt chạy ào ra ngoài trước khi tổng thống kịp nói lời nào. Ông hẳn cũng ngạc nhiên không kém gì bà.
Một lúc sau, khi bà đi ngang qua ông trong hành lang, Reagan nháy mắt nhìn bà. “Này, cái gã đó là ai thế?”, ông hỏi.
“Tôi không biết, thưa ngài”, bà cười ngượng nghịu.
Đến bây giờ, Silva vẫn còn thấy bối rối vì chuyện này. “Ông ấy biết tôi nhìn thấy ông ấy khỏa thân nên phải nói cái gì đó”.
Reagan có thể hơi bối rối lúc đó, nhưng theo những gì người ta nói thì ông khá thoải mái với chuyện trần như nhộng, ngay cả khi chuyện này làm các nhân viên rất nản. Khoảng một tháng sau khi Reagan nhậm chức, Quản lý Skip Allen hoàn thành khóa đào tạo của ông và được phép làm việc một mình. Có một lần, khi đang trực một mình, ông nhận được một bưu phẩm gởi riêng cho Tổng thống Reagan buộc ông phải lên lầu đưa gấp cho tổng thống ký.
Allen lên tầng hai tìm tổng thống. Không thấy ông ấy đâu, ông liền đi tìm anh người hầu của ông Reagan để hỏi xem tổng thống ở đâu.
“Ông ấy ở trong đó”, anh người hầu chỉ vào một cánh cửa đóng kín. Allen tiến đến gõ cửa.
“Ai đó?”, Reagan hét vọng ra.
“Tôi là Skip Allen ở Phòng Quản lý. Tôi có một bưu phẩm cá nhân cho ngài”.
“Vào đi”.
Khi mở cửa ra, Allen mới nhận ra đây là phòng tắm của tổng thống. Ông Reagan đang bước ra khỏi vòi sen.
“Người ông ấy vẫn còn sũng nước”, Allen nhớ lại.
“Đem lại đây”, Reagan nói. Tổng thống ký tên vào giấy và đưa cho Allen cầm xuống nhà.
Một lát sau, tức khoảng 9 giờ tối hôm đó, một gói bưu phẩm cá nhân khác lại được gởi đến cho tổng thống. Allen đã được dặn là tổng thống và phu nhân thường đi ngủ lúc 9 giờ nhưng ông không có sự lựa chọn nào khác, đành phải quấy rầy họ.
Ông e dè bước lên lầu tìm tổng thống một lần nữa. Nhìn thấy trong phòng ngủ của vợ chồng Reagan có ánh đèn, ông run tay gõ cửa phòng họ.
“Ai đó?”, bà Nancy Reagan hỏi.
“Tôi là Skip Allen ở Phòng Quản lý. Tôi có một gói bưu phẩm cho tổng thống”.
“Vào đi”.
Đúng lúc đó tổng thống bước ra khỏi phòng thay đồ, trên người chỉ mặc mỗi chiếc quần lót.
“Ồ, Ronnie, ít nhất anh cũng phải khoác cái áo ra ngoài chứ”, bà Nancy trách chồng.
Tổng thống nhìn vợ. “Mẹ nó à”, ông thân mật gọi vợ. “Bà khỏi lo. Hôm nay ông ấy thấy tôi khỏa thân một lần rồi. Bây giờ chúng tôi đã là cố nhân của nhau”. Tất cả mọi người đều cười nắc nẻ.
Ron, con trai nhà Reagan, nói rằng có lẽ bản tính thoải mái, không chú ý đến những người giúp việc xung quanh của bố mẹ anh khiến mọi người làm việc dễ dàng hơn. Gia đình Reagan đã quen với việc có các gia nhân làm việc xung quanh và không bao giờ lo lắng những người giúp việc đó nghĩ gì về họ. “Ta sẽ khó đảm nhiệm vai trò của một nhân viên phục vụ hay của một ai khác nếu người mà ta hầu hạ ý thức rõ sự hiện diện của ta. Nhưng bố mẹ tôi không phải người như vậy”.
Tuy nhiên Ron cũng thừa nhận rằng thái độ bàng quan của bố mẹ anh có thể bị cho là phi nhân hóa các gia nhân. “Thái độ đó như muốn nói rằng họ chẳng là cái thá gì bởi họ không đáng để người khác thấy ngại ngùng vì sự hiện diện của họ”. Dường như có một sự khác biệt giữa thái độ dửng dưng của vợ chồng Reagan với các nhân viên, và thái độ thoải mái không kém của ông bà George và Barbara Bush nhưng thể hiện sự tôn trọng các nhân viên hơn. Mỗi khi Tổng thống Reagan dừng lại trò chuyện với các nhân viên, ông thường chỉ nói về mình hoặc pha trò cho vui. Còn vợ chồng Tổng thống Bush thì quan tâm hơn đến đời sống các nhân viên bên ngoài cánh cửa Nhà Trắng khi thường xuyên hỏi han về gia đình họ và muốn biết họ có nhiều thời gian ở cạnh gia đình không – một hành động có thể không có ở vợ chồng Reagan.
Nếu suy nghĩ lại thì một số chuyện ở Nhà Trắng có thể mang một ý nghĩa khác. Vào khoảng cuối nhiệm kỳ tổng thống của Reagan, một người phục vụ nhớ lại, tổng thống tỏ ra không ý thức được những gì xảy ra chung quanh tại một thời điểm cấp thiết. “Tổng thống là nhân vật chính trong câu chuyện”, anh nói, “còn tôi thì lúc đó đang ở trong bếp. Đến khi nhìn ra xung quanh thì tôi đã thấy khói từ các lỗ thông hơi bay ra mù mịt”. Một người phục vụ phụ trách lò sưởi đã quên mở van khói khiến khói cuồn cuộn tràn vào căn phòng ông Reagan đang ngồi. “Tôi nghe thấy tiếng xe cứu hỏa đến và tiếng chân người chạy rầm rập lên tầng hai”.
Một lát sau, một nữ nhân viên cứu hỏa chạy xuống dưới nhà cười sặc sụa. “Có gì mà cô vui thế?” người phục vụ hỏi, ngạc nhiên khi thấy cô chẳng chút lo âu.
Khó khăn lắm cô mới trả lời được cho anh trong tiếng cười: “Anh có biết là tổng thống ngồi trên đó xem tivi và đọc báo như không có chuyện gì xảy ra không?”
“Ông ấy thậm chí còn không biết chuyện này”, người phục vụ hồi tưởng.
Lúc đó, không ai biết là tổng thống có thể đang trong giai đoạn đầu của căn bệnh Alzheimer. Các nhân viên chỉ tưởng đó là một tật kỳ lạ khác của vị tổng thống hiếm khi lo âu bấn loạn.
MỘT SỐ CHUYỆN nói xấu nhau dai dẳng nhất lại đến từ những nhân viên không ăn rơ với nhau. Làm việc ở Nhà Trắng đôi khi tạo ra những cái tôi quá lớn và nuôi dưỡng những cá tính mạnh mẽ. Nhiều nhân viên được tuyển vào, nhất là các đầu bếp, là những người có tay nghề xuất sắc. Vì thế họ luôn cho những gì mình làm là nhất thiên hạ. Tinh thần cạnh tranh đó có thể biến họ thành đối thủ của nhau trong chuyên môn, mà trường hợp điển hình gần đây nhất chính là sự hiềm khích công khai giữa Quản bếp Walter Scheib và Quản bếp bánh ngọt Roland Mesnier.
Quãng thời gian 11 năm làm việc cạnh nhau vẫn không thể làm giảm sự hằn thù giữa hai con người này, và tình trạng đó hiện vẫn tiếp diễn sau một thập niên họ rời Nhà Trắng. Mesnier, 70 tuổi, hiện đang được gia đình Carter thuê làm việc cho họ. Còn Scheib, trẻ hơn Mesnier 10 tuổi, hiện cũng đang làm việc cho gia đình Clinton. Họ ghét nhau đến nỗi thường xuyên từ chối bàn luận với nhau về những món ăn họ phải chuẩn bị. Scheib thường chỉ đưa cho Mesnier thực đơn trong tuần để Mesnier tự quyết định xem sẽ làm món tráng miệng nào đi kèm với các món ăn trong thực đơn. Scheib thừa nhận ông ít thích giao du bè bạn hơn Mesnier, và điều hành căn bếp của mình giống như một chỉ huy quân đội hơn. (“Nếu tôi muốn có bạn”, ông nói, “tôi sẽ làm tình nguyện viên trong một đoàn thể thanh niên”). Trong khi đó, Mesnier, một người Pháp đầy chất nghệ sĩ, thì lại luôn trình bày các tác phẩm của mình với tất cả sự thích thú. Giáng sinh năm nào, ông cũng làm mấy chục cái bánh đủ loại để tặng cho tất cả các đồng nghiệp dựa theo ý thích của mỗi người. “Với tôi, các nhân viên không chỉ là những người giúp việc”, ông nói. “Họ còn là gia đình của tôi”.
Scheib khinh thường Mesnier vì cho rằng Mesnier “ôm mộng trở thành người nổi tiếng” khi thường xuyên viết sách và xuất hiện trên truyền hình, “ông ta muốn làm mình vĩ đại hơn các gia đình tổng thống, đúng là khốn khổ”. Còn Mesnier thì tuyên bố rằng sở dĩ một người gọn gàng chải chuốt như Scheib (trông giống một nhân viên kinh doanh hơn một đầu bếp) được tuyển là vì ông ta có vẻ ngoài lôi cuốn và khả năng ăn nói lưu loát, xứng đáng làm phát ngôn viên cho bà Hillary Clinton trong chiến dịch quảng bá nền ẩm thực lành mạnh của Mỹ. “Tôi và Walter không hợp nhau vì tôi biết anh ta không thể nấu ăn”, ông nói với giọng khinh bỉ.
“Các nhân viên quản lý nói đùa rằng nếu có ai mà thấy tôi và Roland cùng nhau uống bia ở đâu đó thì tất cả mọi người sẽ phải quỳ xuống cầu nguyện bởi ngày tận thế đã gần kề”, Scheib nói.
Mesnier rất yêu mến người tiền nhiệm của Scheib, bếp trưởng người Pháp Pierre Chambrin. Nhưng vợ chồng Clinton đã sa thải Chambrin sau khi ông từ chối thay những món ăn Pháp nặng bụng của ông bằng một thực đơn lành mạnh hơn của nền ẩm thực Mỹ. Bà Hillary Clinton muốn quảng bá những thức ăn tốt cho sức khỏe của Mỹ, đặc biệt khi bà đang trong giai đoạn bắt tay điều chỉnh hệ thống chăm sóc sức khỏe ở nước này. Nhưng Chambrin nói rằng lý do thực sự khiến ông bị sa thải là vì ngoại hình của ông chứ không phải vì nền ẩm thực. “Tôi là người Pháp, tôi rất béo và tiếng Anh của tôi thì dở tệ. Tôi không phù hợp với hình ảnh họ muốn đưa ra cho người Mỹ”.
Với gia đình Clinton thì “thực phẩm chỉ là nhiên liệu” không hơn không kém, Chambrin nói với tôi. “Ngay từ đầu, tôi đã biết mình sẽ tiêu đời với vợ chồng Clinton. Tôi đã làm mọi thứ họ muốn. Tôi thậm chí còn cố làm vừa lòng họ bằng một thực đơn không bơ, không chất béo và không ghi tiếng Pháp trong đó. Nhưng làm sao mà ta có thể nói món sauté (chiên xào) mà không xài từ sauté chẳng hạn?”
Chambrin căm ghét sự hờ hững của gia đình Clinton đối với thức ăn. Khác với gia đình Bush, gia đình Clinton muốn ăn ở trong bếp. “Khi chúng tôi đổi từ gia đình Bush sang gia đình Clinton, cứ như chúng tôi chuyển từ người giàu sang người mạt hạng”.
Khi Scheib được đưa vào thế chỗ Chambrin, căn bếp tù túng ở Tầng Trệt trở thành một nơi rất khó làm việc. Bằng một giọng không chút hài hước, Bếp trưởng John Moeller, người bắt đầu đến làm ở Nhà Trắng không lâu sau ngày Mesnier có một căn bếp bánh ngọt nhỏ của riêng ông, nói rằng: “Nếu ông ấy mà còn ở lại căn bếp chính và làm việc sát sườn với chúng tôi, chắc có ngày sẽ có người đổ máu”.
Chương 9
lớn lên trong nhà trắng
Ông hãy nghĩ về tác động của việc chúc một cậu bé ngủ ngon ở cửa Nhà Trắng trong ánh đèn pha chói lọi và dưới ánh mắt của một nhân viên mật vụ thử xem. Ta sẽ chẳng thể làm gì khác hơn là bắt tay và không cách nào nói chuyện thân thiết hơn
– Margaret Truman.
Khi cô bé Chelsea Clinton 12 tuổi chuyển vào sống trong Nhà Trắng năm 1993, Steve Ford đã gởi một lá thư khuyên cô nên làm thân với các nhân viên mật vụ bởi họ có thể trở thành mối liên kết duy nhất giữa cô với thế giới bên ngoài. Cậu nói cậu đã làm thế khá dễ dàng vì có đông anh chị em chia sẻ kinh nghiệm. Tuy nhiên với Chelsea, do là con một nên việc sống trong Nhà Trắng khó hơn nhiều. Và quả đúng như thế. Cô bé đã phải gánh nỗi hổ thẹn khi chuyện của cha mình bị phanh phui nhưng lại không có bất kỳ anh chị em nào ở bên cạnh để chia sẻ gánh nặng ấy với cô. “Tôi nghĩ tình cảnh cô ấy luôn khó khăn hơn rất nhiều so với các gia đình có hai hay ba anh chị em”. Thế nhưng nhìn lại quãng thời gian Chelsea sống trong Nhà Trắng, Ford nói rằng: “Tôi nghĩ cô ấy đã xoay xở rất tốt”.
Khi có trẻ con đến sống trong Nhà Trắng, các nhân viên luôn muốn bảo vệ chúng. Họ đã nhìn thấy những đứa trẻ khác trưởng thành như thế nào trong tòa nhà này và muốn giúp chúng có một tuổi thơ bình thường nhất có thể. Thế nhưng, cùng với việc chịu thêm trách nhiệm chăm sóc mấy đứa trẻ, các nhân viên thường vẫn thích một đứa bé ồn ào náo động hay một học sinh trung học ham vui ở cạnh mình hơn. Các con của tổng thống có thể đem lại sự ấm áp hồn nhiên cho ngôi nhà và làm cho bầu không khí thường xuyên căng thẳng của tòa hành pháp trở nên nhẹ nhàng hơn.
Quản lý kho Bill Hamilton từng quan sát con cái của nhiều đời tổng thống học cách sống trong cái bong bóng Nhà Trắng. Ông nói những đứa trẻ càng nhỏ tuổi càng dễ tự điều chỉnh để thích nghi với cuộc sống mới tù túng của chúng hơn. Caroline và John John Kennedy hòa nhập khá dễ dàng với cuộc sống trong dinh, chúng còn quá nhỏ khi đến Nhà Trắng nên không thực sự cảm nhận điều khác biệt. Còn với Chelsea Clinton, cũng như Sasha và Malia Obama, thì việc là một đứa trẻ tuổi teen trong Nhà Trắng cũng đồng nghĩa với chuyện phải đối phó với cảm giác lo sợ bị mọi người chú ý của tuổi mới lớn. Theo Hamilton thì những đứa trẻ lớn hơn như các con nhà Ford, Luci và Lynda Johnson, Barbara và Jenna Bush mới cảm thấy khó khăn nhất khi nhận ra rằng chúng phải từ bỏ một mức độ tự do nào đó mà chúng đã quen thuộc, và sẽ không thể có lại sự tự do ấy cho đến khi cha chúng rời nhiệm sở.
“Khi chúng đến tuổi có thể ra ngoài uống bia, chạy nhảy với bạn bè, tham gia tiệc tùng và nhiều thứ khác, ta mới thấy được sự khác biệt lớn”, ông nói.
Các cô con gái của Tổng thống George W. Bush, mà bà nội Barbara Bush của chúng mô tả là “những đứa bé gái hoang dã” khi chúng còn bé, đã quen thuộc với Nhà Trắng từ trước khi cha chúng đắc cử. Chúng đã từng chơi trò trốn tìm lúc ông bà nội chúng sống ở đó, và cũng từng đến Phòng Hoa để học cắm hoa. Trong thời gian cha chúng làm tổng thống, chúng thường tâm sự với Quản lý Nancy Mitchell về những vấn đề của chúng với bạn trai. (Sau này Jenna thừa nhận là mình đã từng “mùi mẫn đôi chút” trên nóc Nhà Trắng). Các nhân viên nói rằng bọn trẻ có những hành động điển hình của các thiếu nữ tuổi mười chín.
Jenna gắn bó với các nhân viên đến mức cô đã nhờ Tổ trưởng Tổ Hoa Nancy Clark trang trí hoa cho tiệc cưới của cô ở Texas.
Tuy nhiên cuộc sống bên trong chiếc bong bóng đặc biệt đó vấn luôn bị một số kiềm chế. “Đó quả là một cuộc sống khốn khổ cho một thanh thiếu niên”, Quản lý Nelson Pierce nói. “Bọn trẻ đúng là rất khó khăn khi bị giam hãm nơi đó, biết rằng chúng chẳng thể làm gì khi lúc nào cũng có người [cơ quan mật vụ] kè kè sau lưng”.
CHẲNG PHẢI TỪ khi gia đình Kennedy ra đi mới có những đứa trẻ như thế đến sống ở Nhà Trắng. Khi gia đình Obama dọn vào, Malia chỉ mười tuổi còn Sasha mới lên bảy. Bây giờ hai cô bé, một mười sáu, một mười ba, đã có sáu năm lớn lên cùng nhiều nhân viên làm phòng, phục vụ và làm bếp trong một ngôi nhà có rạp chiếu phim riêng, sân tennis và sân bóng rổ riêng, hồ bơi riêng. Tuy nhiên, cuộc sống hằng ngày của chúng chỉ có thế. Nó không bao gồm các bữa tiệc tối trang trọng và những bữa tiệc buffet mà chúng thỉnh thoảng được dự, cũng không bao gồm ban nhạc Jonas Brothers như buổi tối ngày cha chúng nhậm chức lần thứ nhất.

Trước khi ra khỏi Nhà Trắng, Barbara và Jenna Bush, đã tốt nghiệp trung học vào năm cha họ đắc cử, dẫn Malia và Sasha đi tham quan một vòng Nhà Trắng và dừng lại ở một vài chỗ như rạp chiếu phim, đường băng bowling và một vài hành lang bí mật. Thích thú trước việc có một cặp chị em nhỏ tuổi hơn thay thế chỗ họ, Barbara và Jenna còn xúi Malia và Sasha thỉnh thoảng trượt xuống thành cầu thang, một lời khuyên khiến cô bé Sasha Obama, vốn sôi nổi hơn chị, vô cùng thích thú.
Giống như vợ chồng Kennedy, vợ chồng Obama muốn các con họ có một cuộc sống bình thường. Nhân viên cắm hoa Bob Scanlan, về hưu năm 2010, nói ông nhìn thấy các tấm nệm hơi bỏ lại trên sàn phòng Solarium sau khi đã được sử dụng qua đêm, một cảnh tượng vẫn thường xảy ra trong các gia đình Mỹ vào những sáng chủ nhật.
Các cô bé chỉ được phép ăn tráng miệng vào cuối tuần, nhưng mỗi khi bà ngoại Marian của chúng phụ trách nấu ăn thì chúng ăn kem và bỏng ngô thoải mái. Bà ấy “thực sự tôn trọng sự riêng tư của gia đình họ. Bà ấy sống phần lớn thời gian trên tầng ba, và lúc tôi ở đó, tôi thấy bà ấy ăn riêng. Mấy đứa con gái ăn với bố mẹ chúng trong không gian riêng của họ ở tầng hai còn bà Robinson ăn trên tầng ba”, Scanlan nói. “Mẹ về đây”, bà Marian thường từ giã họ trước giờ ăn tối rồi quay trở về phòng mình ở trên lầu để con gái bà có thời gian ở cùng chồng con.
“Phòng khách và phòng ngủ của bà luôn có hoa tươi. Bà ấy rất tử tế, rất hòa nhã và luôn cảm kích những gì bà nhận được”. Mỗi khi Scanlan đến phòng bà để thay hoa mới, bà thường nói ông đừng quá bận tâm: “Được rồi, nhưng tôi thấy mấy bình hoa khác vẫn còn rất đẹp mà”.
Bà Michelle Obama yêu cầu các nhân viên cắm hoa ghi lại tên tất cả các bông hoa trưng ở khu nhà riêng của họ để bà và mấy cô con gái có thể học được tên các loại hoa khác nhau. Biết Smile “Smiley” Saint–Aubin, người phục vụ lâu năm mà họ yêu mến đến từ Haiti và nói tiếng Pháp rất giỏi, đệ nhất phu nhân đã yêu cầu ông nói tiếng mẹ đẻ của mình khi dọn thức ăn cho các cô con gái để chúng có thể bắt đầu học hỏi đôi chút về ngôn ngữ đó. (Ông qua đời năm 2009).
Để gia đình Obama có một mùa Giáng Sinh đầu tiên thật đặc biệt ở Nhà Trắng (họ mừng Giáng Sinh ở Hawaii), Scanlan đã làm mấy cây Giáng Sinh bằng gỗ hoàng dương và đặt một cây lên tủ com–mốt phòng Malia, còn cây kia trên mặt lò sưởi phòng Sasha.
Malia đặc biệt rất thích cây Giáng Sinh của mình. Lúc Scanlan vào phòng cô xem lại cây Giáng Sinh, ông nhìn thấy một mẩu giấy viết cho ông đính trên mặt tủ: “Bác cắm hoa, cháu thực sự rất thích cái cây của cháu. Nếu không có gì quá đáng, cháu có thể nhờ bác gắn đèn lên đó được không ạ? Nếu không cũng không sao”. Phía dưới là một hình trái tim. Scanlan đem mảnh giấy xuống dưới Phòng Hoa. “Cô nói thử xem, làm sao tôi có thể không gắn đèn lên cái cây ấy được chứ?” ông cười lớn.
Các nhân viên chăm chút cho các cô bé nhiều hơn bình thường vì biết chúng chịu sự nhòm ngó của nhiều người. Năm 2014, Sasha và Malia bị một nhân viên của Đảng Cộng hòa tấn công trong ngày lễ xá tội gà tây [**] diễn ra hằng năm ở Nhà Trắng. “Hãy ăn mặc để mình xứng đáng được tôn trọng, chứ không phải như trong một quán bar”, Elizabeth Lauten viết như thế trên Facebook cá nhân của bà ta. Cái mà bà Lauten, giám đốc truyền thông của Stephen Fincher, người đại diện cho Đảng Cộng hòa, muốn ám chỉ ở đây là chiếc váy ngắn của các cô gái. Lời bình luận mang tính miệt thị của bà bị cả phe Dân chủ lẫn phe Cộng hòa chỉ trích. Đa số đều đồng ý rằng con cái của tổng thống đương nhiệm phải được hưởng ngoại lệ. Lauten sau đó phải từ chức dưới áp lực của cơn bão truyền thông. Sự kiện này càng khiến cho việc trưởng thành trong Nhà Trắng dưới ánh mắt không ngừng giám sát của mọi người trở nên căng thẳng hơn. Sự chú ý của công chúng đến đời tư cá nhân chỉ ngày càng tăng lên từ khi các mẩu tin liên tục được lặp đi lặp lại và mạng truyền thông xã hội lên ngôi.
[**](Turkey pardon ceremony – một truyền thống từ năm 1800 của các tổng thống Mỹ vào dịp lễ Tạ ơn.)
CAROLINE VÀ JOHN–JOHN Kennedy là những đứa trẻ nhỏ tuổi nhất sống trong Nhà Trắng kể từ sau khi đám nhóc của Tổng thống Theodore Roosevelt quậy phá tan tành nơi này hồi đầu thế kỷ 20. Caroline chỉ mới ba tuổi và em trai cô mới hai tháng khi cha mẹ chúng chuyển vào Nhà Trắng. Jackie Kennedy luôn cố dạy con cho thật ngoan. Bà dạy chúng ký tên vào thư cảm ơn sau mỗi lần được mời đến ăn tiệc tại nhà những đứa trẻ khác (John–John lúc đó vẫn chưa viết thạo). Và sau khi tiệc sinh nhật của chúng kết thúc, bà luôn dẫn chúng xuống bếp để cảm ơn các nhân viên ở đó. Caroline và John–John học được ý nghĩa của chữ “không” khi chỉ mới hai tuổi, Letitia Baldrige nói. Khi được giới thiệu với vợ của Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, chúng nhìn thẳng vào mắt bà ấy và nói: “Hân hạnh được biết bác, bác McNamara” (mặc dù cách phát âm của John–John lúc đó giống như “bác McNama” hơn).
“Từ sáng đến tối, chúng cứ liên tục lặp đi lặp lại câu này, không phải chỉ với bạn bè của bố mẹ chúng mà còn cả với các nhân viên quản lý, phục vụ, hầu phòng, cảnh sát, mật vụ, làm vườn và những người làm việc trong nhà bếp và trong phòng để đồ ăn – bất cứ ai mà chúng tình cờ đi ngang qua”, Baldrige nói.
Khác với các đệ nhất phu nhân trước, Jackie Kennedy không cho phép con gọi các nhân viên phục vụ bằng tên cộc lốc. Bà cho như vậy là rất thô lỗ, nhất là khi những người chúng đang nói chuyện đều là những quý ông cao quý, lớn tuổi hơn chúng, và nhiều người đã làm cho Nhà Trắng suốt mấy chục năm. Chúng phải gọi họ là “ông Allen”, Quản lý Mỹ thuật Jim Ketchum nói về Eugene Allen. “Chúng gọi Preston Bruce là ‘ông Bruce’. Mẹ chúng không cho chúng gọi họ bằng cái tên ‘Bruce’ hay ‘Allen’ ngắn ngủn”.
Tuy nhiên, thỉnh thoảng, khi Jackie không có mặt ở đó, Caroline và John–John đối xử với các nhân viên bằng thái độ suồng sã mà mẹ chúng hẳn sẽ không tán thành. Hồi ức đẹp nhất mà quản lý Nelson Pierce lưu lại trong hai mươi sáu năm làm việc ở Nhà Trắng chỉ đơn giản là đọc truyện cho John–John nghe. “Chiếc máy hát của Phu nhân Kennedy có chút trục trặc nên tôi phải đưa một người bên binh chủng thông tin lên trên lầu để sửa”, ông hồi tưởng. “Nhìn thấy tôi, bé John–John lấy một cuốn sách đem đến chỗ tôi và nói tôi đọc cho nó nghe”.
Pierce làm theo lời cậu bé và ngồi xuống mép ghế sofa, ông nghĩ một cậu bé hiếu động như John–John chắc không thể ngồi lâu nghe ông đọc hết cuốn truyện. “Tôi tưởng thằng bé sẽ đứng cạnh tôi lúc tôi đọc, nhưng không, nó đứng lên rồi lại ngồi xuống và vừa lấy tay đẩy vào ngực tôi nó vừa nói ‘Xích vào! Xích vào!’. Và thế là tôi quàng tay qua người cậu bé và chúng tôi cùng đọc sách. Ngay khi tôi vừa đọc xong cuốn truyện, cậu bé nhảy xuống ghế và cầm cuốn sách đặt lại chỗ cũ”. Với Nelson, khoảng thời gian ở cạnh bọn trẻ là giờ giải lao rất ưa thích của ông và nhắc ông nhớ đến bốn đứa con ông ở nhà.
Một buổi tối, Maud Shaw, cô bảo mẫu của gia đình Kennedy gọi xuống dưới nhà nhờ Pierce lên giúp một tay. Cô đang ở trong Phòng ăn Gia đình ở tầng hai và John–John vẫn chưa ăn xong bữa tối. Caroline thì ăn xong rồi và đang nằm dài dưới đất cố lộn người ra sau nhưng không được. Shaw ngẩng lên nhìn Pierce khi ông bước vào.
“Ông Pierce à, thật là kinh khủng, tôi hết chạy qua phải đến chạy qua trái”.
“Caroline, cháu cố gắng đưa chân thẳng qua khỏi đầu xem nào”, Pierce nói với cô bé.
Cô bé thử làm lại và lần này có tiến bộ hơn.
“Bác Pierce, bác lộn chung với cháu đi”, bé năn nỉ.
Pierce cười phá lên khi nhớ lại chuyện đó. “May là có Maud Shaw giải cứu nên tôi mới không phải chơi trò lộn mèo với Caroline trên sàn phòng ăn!”
Mấy thập niên sau, Bếp trưởng Walter Scheib cho biết các gia nhân nghĩ về gia đình tổng thống như thế nào. “Mặc dù quốc yến là việc ta cần quan tâm nhất, nhưng đúng cái ngày ta đang chuẩn bị tiệc mà nhận được một cuộc gọi từ khu nhà ở nói rằng Chelsea hay một trong hai đứa sinh đôi của nhà Bush muốn ăn yến mạch, việt quất hay một thứ gì đó thì cái món đó đột nhiên sẽ trở thành việc ta ưu tiên cần làm. Đây không phải là vấn đề nấu nướng mà là cho đệ nhất gia đình một chút gì đó bình thường bên trong cái thế giới quái quỷ này”.
Đôi khi, cái mà gia đình tổng thống muốn lại là một thứ gì đó rất tầm thường khiến các đầu bếp tài năng phải bực dọc, nhất là khi trong nhà có trẻ con. John Moeller nhớ đến buổi sáng mà ông và người đầu bếp mới làm bánh kếp cho Chelsea Clinton. Khi người đầu bếp mới lấy chai xi-rô cây thích (maple syrup) thật trong tủ lạnh ra, Moeller nói với ông ta rằng Chelsea thích loại xi-rô cây thích giả mà phần lớn bọn trẻ thích ăn hơn. Người đầu bếp mới cãi lại và khăng khăng nói rằng xi-rô thật vẫn ngon hơn. Cuối cùng, Moeller đành nhượng bộ và kêu người phục vụ đem cái xi-rô cao cấp đó lên lầu. Hai phút sau, chai xi-rô bị trả trở lại kèm theo lời yêu cầu muốn ăn xi-rô giả của con gái tổng thống. Sở thích của đệ nhất gia đình quan trọng hơn bất cứ thứ gì khác.
Các nhân viên trong tư dinh phải là một nơi an toàn để các con tổng thống có thể giãi bày tâm sự. Cô con gái lớn của Tổng thống Johnson, Lynda Bird Johnson Robb, nhớ mình đã tìm thấy sự an ủi nơi các nhân viên trong dinh vào thời điểm cô không thể hoàn toàn tin tưởng vào người ngoài. “Những người làm việc ở đó rất tuyệt vời. Tôi chắc chắn là tất cả những ai từng sống ở đó cũng đều yêu thích họ, và tôi nghĩ chúng tôi rất may mắn được ở cạnh những người muốn giúp chúng tôi chứ không phải cố xin xỏ chúng tôi điều gì. Họ sẽ không phản bội chúng tôi”.
Lynda gặp chồng cô, Charles “Chuck” Robb, khi anh là trợ lý xã hội quân đội ở Nhà Trắng. Công việc của anh là khiến các khách mời của tổng thống thấy thoải mái tại tiệc chiêu đãi và tiệc tối bằng cách trò chuyện với những ai không tự tin khi gặp tổng thống và đệ nhất phu nhân, và hướng dẫn họ đến chỗ ngồi. Ngoài các nhân viên trong dinh ra, không ai biết Lynda và Robb hẹn hò với nhau. Mỗi khi xong việc, Robb lại vội vã đến phòng Solarium để chơi bài bridge với Lynda. Dĩ nhiên là các nhân viên phục vụ nhìn thấy họ nhưng họ tuyệt đối bảo vệ sự riêng tư cho Lynda.
Robb đứng đầu Trường huấn luyện cơ bản sĩ quan thủy quân lục chiến ở Quantico, Virginia. Anh nhận được huân chương anh dũng bội tinh (Bronze Star Medal) ở Việt Nam, sau đó tiếp tục thăng tiến để trở thành thống đốc bang Virginia và phục vụ hai nhiệm kỳ trong Thượng viện. Khi Robb được điều động thì Lynda đang có thai đứa con đầu tiên của họ, Lucinda. Những đêm trằn trọc không ngủ vì lo lắng cho chồng, cô nghe thấy tiếng la hét phản đối chiến tranh Việt Nam vọng vào từ bên ngoài cửa sổ phòng mình.
Lynda sống ở căn phòng mà trước đây Caroline Kennedy từng ở, nhìn ra Đại lộ Pennsylvania, vì thế không có chỗ nào để trốn. Còn Luci, em gái cô, thì sống ở phòng John–John trước đây. Giữa hai phòng của họ là một căn phòng nhỏ từng thuộc về Maud Shaw và được họ sửa lại thành nơi cất giữ quần áo qua mùa.
Phòng của tổng thống và phu nhân Johnson nhìn ra Bãi cỏ phía nam, vì thế họ không nghe rõ tiếng la ó ngoài đường, nhưng Lynda và em cô thì run bắn lên khi nghe những tiếng la hét phản đối đầy căm phẫn. “Tôi và Luci rất đau khổ khi ngày đêm nghe tiếng mọi người la hét phản đối chiến tranh bên kia đường, nhất là lúc có cả chồng tôi và chồng cô ấy ở đó. Họ đang chịu nhiều mất mát nên có nhiều lời lẽ xúc phạm bố tôi, mà tôi thì lại đang mang thai. Tôi biết bố tôi mong muốn chấm dứt cuộc chiến như thế nào”.
Quản lý mỹ thuật Betty Monkman nhớ là các nhân viên tụ tập ở Phòng Quản lý để nhìn ra ngoài xem mọi người biểu tình. Lúc đó bà đã quay sang các đồng nghiệp và nói: “Những người đang đứng ngoài công viên kia có thể là con cái chúng ta”.
“Ta không thể trốn khỏi những gì đang xảy ra chung quanh”, bà nói. “Cứ như ta đang ở trong cái kén nhỏ nhưng vẫn nhận biết rõ mọi chuyện bên ngoài”. Vào một ngày lạnh giá, tuyệt vọng vì không thể dập tắt sự căm phẫn của những người phản đối chiến tranh, Tổng thống Johnson nói các nhân viên phục vụ đem cà phê nóng cho tất cả mọi người.
“Lúc đó tôi còn khá trẻ, chưa đến 30 tuổi”, Monkman hồi tưởng. “Mỗi lần tiệc tùng ăn uống ở đâu, tôi không dám nói cho mọi người biết tôi đang làm ở đâu, bởi nếu tôi nói ra họ sẽ phản ứng không hay với tôi. Cho nên tôi chỉ nói ‘tôi làm ở Cục quản lý vườn quốc gia’ bởi có thế họ mới thoải mái nói về chính kiến của mình. Có thể tôi cũng cảm nhận giống họ, nhưng tôi không muốn nghe họ nói!”
Từ thứ Ba đến thứ Bảy, một phần Tầng Trệt và Tầng Khánh tiết được mở ra cho công chúng đến tham quan. Suốt mấy năm trời nghe những tiếng hô hào phản đối của công chúng, Lynda ngày càng không chịu nổi vì thiếu sự riêng tư. “Ngay cả sau vụ ám sát, chúng tôi cũng vẫn không có được sự yên ổn mà lẽ ra chúng tôi phải có, vì ngay từ sáng sớm đã có du khách đứng ngay dưới cửa sổ phòng chúng tôi”, cô nói. Họ đứng ngay dưới cửa sổ phòng tôi và ơi ới kêu nhau ra đứng chỗ này chỗ kia để chụp hình trong lúc tôi đang cố dỗ giấc ngủ”.
Bà Nellie Connally, thống đốc phu nhân của bang Texas, có lần nói với Lynda rằng đã nhiều lần bà muốn ném một quả bong bóng nước xuống đầu các du khách từ cửa sổ dinh thống đốc.
“Tôi phá lên cười và nói với bà ấy rằng tôi cũng muốn làm tương tự”, Lynda nói. “Nhưng tôi không bao giờ làm”.
Tuy nhiên, các du khách lịch sự nhã nhặn không phải là vấn đề thực sự, mà chính những người bất bình trước cuộc chiến kéo dài mới khiến cuộc sống ở Nhà Trắng trở nên khó khăn đến vậy. Quản lý Nelson Pierce nhớ có lần “bọn nhóc” đến tham quan đã ném những lọ thủy tinh nhỏ chứa máu của chúng vào Phòng Quốc yến trong ngôi nhà yêu dấu của các nhân viên, “chúng tôi phải đem màn cửa đi giặt khô”. Thỉnh thoảng khách tham quan còn thả gián vào Nhà Trắng, “chúng tôi phải huấn luyện cho các nhân viên tạp vụ biết phải làm gì khi trường hợp đó xảy ra”, Monkman nói.
Thời điểm quyết định của Johnson diễn ra khi Lynda chạy vào phòng ông ngay giữa khuya trong nước mắt sau khi tiễn chồng đi Việt Nam và hỏi ông rằng tại sao Robb phải tham gia chiến tranh. Vị tổng thống ấp úng và nhận ra rằng mình không có câu trả lời. Không bao lâu sau, Johnson tuyên bố không tái ứng cử.
THÁNG 8 NĂM 1974, khi Steve Ford chỉ còn vài tuần nữa là bắt đầu vào năm thứ nhất Đại học Duke thì cha anh đột nhiên bị buộc nhận chức tổng thống.
“Đột nhiên chúng tôi có mười nhân viên mật vụ đi theo, và cuộc sống thế là thay đổi. Tin tôi đi, khi ta 18 tuổi, đây chẳng phải là nhóm người ta muốn đi chơi chung”.
Ford quyết định bỏ học đại học và chuyển đến Montana làm việc trong một trại gia súc để tránh sự chú ý của mọi người. Tuy nhiên, anh cũng đã có lần đến sống hai tháng với cha mẹ trong một căn phòng ở tầng ba, cùng tầng với ba anh em của anh.
“Các nhân viên mới thực sự là chủ nhân Nhà Trắng bởi họ đã từng làm việc cho bốn, năm, sáu chính quyền ở đó”, anh nói. “Gia đình tổng thống chỉ là ở tạm, một số gia đình ở đó ít hơn những gia đình khác”. (Cha anh sống ở Nhà Trắng chưa đầy ba năm thì rời khỏi đó vào năm 1977). Nhưng Ford vẫn nhớ rất rõ những năm tháng đó. “Sống ở đó thực sự giống như sống trong viện bảo tàng”, anh nói. “Tất cả mọi thứ đều từ thời Lincoln hay thời Jefferson. Tôi nhớ lúc mình vào sống ở đó, khi tôi tính gác chân lên bàn – tôi vẫn hay gác chân lên bàn khi chúng tôi sống ở Alexandria – mẹ tôi liền nói: ‘Đừng gác chân lên đó! Đấy là cái bàn thời Jefferson!’”
Với gia đình Ford thì việc chuyển vào Nhà Trắng là một sự thay đổi kinh thiên động địa. Gần 20 năm trời, khi Gerald Ford còn làm trong Quốc hội và ngay cả khi ông làm phó tổng thống, gia đình họ vẫn sống trong một ngôi nhà gạch đỏ bốn phòng ngủ, hai phòng tắm. Ngôi nhà này được xây theo phong cách kiến trúc thuộc địa trên một thửa đất rộng khoảng 1000m2 đường Crown View ở Alexandria, Virginia, nhìn qua Nhà Trắng phía bên kia sông Potomac.
Khi Ford trở thành phó tổng thống tháng 12 năm 1973 sau khi Spiro Agnew từ chức, cái garage hai xe của nhà ông biến thành chỗ ở của người nhân viên mật vụ đặc cách theo bảo vệ ông, đồng thời một tấm kính chắn đạn được lắp trong phòng ngủ chính nhà họ. (Mãi đến năm 1977, Đài Thiên văn Hải quân Hoa Kỳ (US Naval Observatory) mới trở thành nơi ở chính thức của phó tổng thống).
Theo những gì Tổng Quản lý Gary Walters sau này nhớ lại thì các thành viên nhà Ford rất thân thiện. Một lần, tổng thống gọi điện thoại nhờ ông cho người đến xem vì sao chiếc vòi sen trong phòng tắm ông ấy không có nước nóng. Tình trạng này đã xảy ra từ mấy ngày trước và tổng thống đã phải sử dụng chiếc vòi sen trong phòng tắm của vợ. Thế nhưng Ford vẫn nói với ông là không cần phải gấp.
Sau khi cha họ trở thành tổng thống, các thành viên nhà Ford phải chờ bảy ngày mới dọn được vào Nhà Trắng vì gia đình Nixon cần thời gian chuyển đồ đạc của họ ra ngoài. Khi cuối cùng dọn được vào Nhà Trắng, tổng thống và đệ nhất phu nhân đem theo những chiếc ghế họ ưa thích nhất – ghế ưa thích của tổng thống là một chiếc ghế da ngồi rất thoải mái – và đặt chúng trong phòng khách riêng bên ngoài phòng ngủ của họ.
Susan Ford, cô con gái út trong số bốn người con của tổng thống nhớ mình đã năn nỉ bố mẹ cho cô trang trí lại phòng mình và thay tấm thảm xanh nhưng họ không chịu vì chi phí này sẽ phải lấy từ tiền túi của họ.
“Bố tôi không tin vào chuyện thế chấp, ông ấy đúng là sinh trong Thời kỳ Suy thoái”, cô nói với tôi.
Như hầu hết những đứa trẻ bình thường khác, bốn đứa trẻ nhà Ford – tất cả đều ở lứa tuổi teen hay vừa bước qua ngưỡng hai mươi – không mất thời gian lâu để bắt đầu gây rối. Ngay cái ngày dọn vào Nhà Trắng, Steve Ford đã gọi cho cậu bạn thân Kevin Kennedy sống ở phía bên kia góc đường nhà anh ở Alexandria. “Kevin, nhà tớ cuối cùng cũng đã dọn vào rồi. Cậu phải đến đây, phải nhìn thấy chỗ này”.
Anh dặn các nhân viên an ninh cho bạn mình vào và dẫn cậu ta đi tham quan một vòng. Anh đưa bạn đến xem phòng mình ở tầng ba rồi đưa cậu ta đến phòng Solarium, nơi có lối đi dẫn lên mái nhà. Họ lôi một cái máy hát ra và mở bài “Stairway to Heaven” của Led Zeppelin ầm ĩ trên nóc Nhà Trắng. “Đó là đêm đầu tiên của tôi ở Nhà Trắng”, Ford nói. “Eugene, người phục vụ, biết những việc chúng tôi làm và tôi rất cảm ơn ông ấy đã không mách chuyện này với bố mẹ tôi. Các nhân viên ở đó biết tất cả những gì ta làm”.
Nhưng họ cố gắng không xét đoán, Ford nói. Một phần bởi họ thông cảm với tất cả những đứa trẻ lớn lên trong Nhà Trắng. “Không có chuyện họ giảng ‘đạo đức’ cho chúng tôi”.
VỚI NHIỀU THẾ hệ con cái tổng thống, sống trong Nhà Trắng vừa là phúc vừa là họa. Margaret Truman gọi tòa nhà hành pháp là “nhà tù trắng tuyệt vời”, một số đứa trẻ khác thậm chí còn cố thoát ra khỏi đó.
Susan Ford nhớ có lần cô đã lén trốn khỏi đó, khiến cho cả người cha nổi tiếng dễ mềm lòng của cô cũng phải nổi giận. Trong một lần chơi khăm các nhân viên mật vụ, Susan không hiểu bằng cách nào đã lấy được chiếc xe của mình ra khỏi khu đỗ xe hình bán nguyệt ở Bãi cỏ phía nam (“Ta phải luôn cắm chìa khóa ở xe để lỡ họ muốn dời xe sang chỗ khác”, cô nói) và chạy thẳng ra cổng Nhà Trắng. Các nhân viên mật vụ đặc trách bảo vệ cô không thể đóng cổng hoặc đuổi theo cô bởi lúc đó xe của mẹ cô đang vào.
Susan đến đón một người bạn rồi cả hai chạy ra bãi đỗ xe Safeway làm sáu chai bia. Cuối cùng cô ra buồng điện thoại công cộng gọi về cho các nhân viên mật vụ và nói với họ là cô sẽ trở về Nhà Trắng lúc 7 giờ tối. (Cô phải về nhà để lấy vé đi xem ban nhạc Hall & Oates biểu diễn). Ngay khi cô vừa về đến nhà, cha cô đã muốn gặp cô.
“Cuộc vui đã tàn”, cô nghĩ thầm. “Đến lúc đối diện với thực tế rồi đây”.
Tổng thống cho biết ông rất thất vọng về cô. Ông chắc hẳn phải rất tức giận bởi tổ chức Symbionese Liberation Army (nhóm người đã bắt cóc nữ thừa kế Patty Hearst) từng đe dọa bắt cô làm con tin. Susan là đứa con duy nhất của Ford được Cơ quan Mật vụ bảo vệ trước khi cha cô trở thành tổng thống. Một chuyến phiêu lưu vui vẻ có thể trở thành một cuộc khủng hoảng trong nước nếu cô bị bắt cóc. (Susan rõ ràng là không hề e ngại Cơ quan Mật vụ. Sau này cô còn kết hôn với một cựu thành viên đội bảo vệ của cha cô).
Giống như em gái, Steve Ford cố sống một cuộc sống bình thường nhưng không phải lúc nào anh cũng thành công. “Lúc chúng tôi dọn về đó, tôi có một chiếc xe Jeep vàng do tôi tự lái”, anh phá lên cười về sự khờ khạo của mình. “Tôi chạy vào đó và đỗ xe ngay trước lối vào nơi tiếp phái đoàn ngoại giao. Tôi chỉ mới chạy lên lầu, nhìn ra cửa sổ đã thấy xe biến mất”. Các nhân viên không nghĩ chiếc Jeep là loại xe thích hợp để đỗ trước cửa Nhà Trắng. “Cứ mỗi lần tôi về nhà, họ lại đưa xe ra phía sau như muốn giấu nó đi vậy. Tôi bực quá nên chạy xuống nhà đưa nó ra phía trước trở lại, nhưng họ lại chuyển nó ra phía sau”.
AMY CARTER VÀO sống trong Nhà Trắng lúc 9 tuổi và để lại dấu ấn đúng nghĩa của mình ở đó. Tên cô bé được viết bằng Magic Marker (bút lông đầu lớn) lên tường, giữa đường thông thang máy với thang máy dành cho nhân viên ở tầng hai. “Amy mở cửa thang máy ra và đút tay vào giữa đường thông thang máy để viết tên mình lên đó”, Giám sát điều hành Tony Savoy nói.
Amy không muốn lúc nào cũng ở tịt trên lầu, Savoy nhớ lại. Cô bé muốn thăm dò khắp nơi. “Con bé rất tò mò, kiểu như mình có căn nhà to và đẹp quá, có nhiều cửa quá. Để xem có cái gì sau mấy cánh cửa đó”.
Vợ chồng nhà Carter cho con gái đi học trường công ở Washington D.C. Rất khó để một đứa con gái có thể hòa hợp với môi trường đó khi lúc nào cũng có nhân viên mật vụ kè kè theo sau. Đã vậy, đến giờ ra chơi, cô giáo cô bé lại còn luôn bắt nó ở lại trong lớp trong nỗ lực bảo vệ nó một cách sai lầm. Lúc gia đình họ đến Nhà Trắng, bà Rosalynn nhớ lại, Amy đứa con thứ tư và cũng là con gái độc nhất của họ vẫn quen nghĩ mình là người ngoài. “Con bé chỉ mới ba tuổi khi chúng tôi chuyển đến dinh thống đốc nên lúc đó nó không thấy có gì khác biệt. Cô Mary cũng đến đó với chúng tôi. Cuộc sống con bé chỉ cần có thế”.
Cô bảo mẫu Mary Prince giúp Amy thấy thoải mái hơn với mọi thứ, bà Rosalynn nói, nhưng đứa con gái mặt đầy tàn nhang này biết cuộc sống của mình bây giờ đã khác. Lúc còn ở dinh thống đốc ở Georgia, cô bé thậm chí còn ít có sự riêng tư hơn: mỗi lần muốn đến nhà bếp, cô bé phải đương đầu với cả một làn sóng du khách. Nhưng Amy là một đứa bé rất bình tĩnh, bình tĩnh đến mức chẳng hề để ý đến người ngoài. “Khi con bé 3 tuổi”, mẹ cô bé nói, “tất cả mọi người đều nhốn nháo khi nhìn thấy nó, nhưng con bé vẫn đi thẳng và nhìn thẳng phía trước. Tôi nhớ ngày đầu tiên con bé đi học ở Washington, tất cả mọi người đều thấy buồn vì Amy trông rất lẻ loi. Đó là cuộc sống bình thường của nó”.
Khi họ mới dọn vào Nhà Trắng, bà Rosalynn kể, Amy thỉnh thoảng cũng xuống dưới Tầng Khánh tiết trong lúc khách đang tham quan, nhưng khi “mọi người nhốn nháo khi nhìn thấy nó”, con bé đứng lại và chờ cho đến khi các tour tham quan kết thúc mới quay trở lại đó để trượt pa-tanh trong Phòng Đông.
Các nhân viên rất yêu mến cô bé linh hoạt mạnh mẽ này. Mary Prince thường gọi đến bàn làm việc của Nelson Pierce để xem khi nào ông có thể ghé qua chỉnh đàn violon cho Amy (“Âm nhạc và bóng chày là cuộc sống của tôi”, Pierce nói). Phục vụ bàn James Jeffries kể rằng Amy thỉnh thoảng vẫn nhờ ông giúp con bé làm bài tập mỗi khi ông lên căn bếp gia đình ở trên lầu. Cuộc sống trong nhà chính phủ, dù cho đó là một tòa nhà chính phủ rất sang trọng, là tất cả những gì Amy biết, và các nhân viên ở đây đều như người nhà của cô bé. Có một ngày, cô bé đi cùng với người nhân viên mật vụ của cô đến tất cả các phòng ban trong dinh để quyên tiền cho chương trình đi bộ từ thiện của cô, Quản lý Mỹ thuật Betty Monkman kể. “Chúng tôi là hàng xóm của con bé, vì thế con bé đến quyên tiền chúng tôi. Chúng tôi cam kết góp một khoản tiền và sau đó nó quay lại lấy”. Monkman nói. “Con bé không thể ra đường làm chuyện đó”.
Vợ chồng Tổng thống Carter cố gắng đem lại cho Amy cảm giác ổn định và bình thường. Monkman nhớ có một ngày khi bà đi ngang qua Phòng Đồ sứ nằm cạnh Phòng Quản lý Mỹ thuật, bà nhìn thấy Amy và các bạn đang khoét mấy quả bí đỏ, “Tổng thống Carter cũng ngồi bệt dưới đất với chúng”.
Mary quả quyết là Amy không bị sự nổi tiếng làm hư, ngược lại với một số lời đồn đãi là cô bé đã xúc phạm các khách nước ngoài khi đọc sách trong một bữa quốc yến. “Con bé không phải là đứa trẻ hư. Nó không bao giờ cư xử tùy tiện. Nó chỉ là một đứa bé ham vui”.
Bếp trưởng Mesnier mô tả Amy như là một cô bé tính khí thất thường và không bị choáng ngợp trước sự uy nghi của Nhà Trắng. Sau khi đi học về, cô bé thỉnh thoảng lại chạy xuống bếp để hỏi xin ông công thức làm món bánh quy đường mà nó ưa thích nhất. Nó muốn tự tay làm món bánh ấy trong căn bếp ở tầng hai để hôm sau đem đến trường ăn. Nhưng có nhiều lúc, sau khi cho bánh vào lò xong, cô bé quay sang trượt pa-tanh hay chơi trong căn nhà chòi trên cây đến mức quên khuấy mẻ bánh. Khi mùi bánh khét bay ra khắp hành lang, các nhân viên mật vụ vội vàng chạy vào bếp bánh ngọt vì tưởng vấn đề xuất phát từ đó. Mesnier nhìn mấy người làm phiền mình rồi chỉ tay lên lầu. Thế là họ vội vàng phóng lên tầng hai để mở hết cửa sổ ra và giải cứu cho mẻ bánh hỏng. Sáng hôm sau, Amy xuống bếp và nói với người đầu bếp rằng nó muốn đem bánh đến trường nhưng không biết phải làm sao. Khi Mesnier hỏi chuyện gì đã xảy ra với công thức bánh ông cho hôm trước, cô bé đỏ mặt trả lời là “đã xảy ra một tai nạn nhỏ”. (Ông đã quen với chuyện này đến mức mỗi khi Amy vào bếp sáng hôm sau để xin ít bánh đến trường, ông đều chuẩn bị sẵn một mẻ bánh cho cô bé đem đi).
Những đứa con nhà Carter đã có cuộc sống sung sướng từ trước khi chúng đến Nhà Trắng, cha chúng là một nông gia thành đạt và từng là nghị viên bang Georgia trong hai nhiệm kỳ, rồi thống đốc bang Georgia một nhiệm kỳ. Nhiều lúc chúng giống như hoàn toàn tách khỏi thế giới thực, không biết gì về những kẻ hầu hạ chúng mỗi ngày.
Một người phục vụ nhớ ông có lần nói chuyện với một cậu con trai nhà Carter, lúc đó đã hơn hai mươi tuổi. Cậu ấy ngồi xem báo trong căn bếp gia đình. Khi đọc thấy tin giá thuê nhà tăng cao ở Washington, cậu ngước mắt nhìn người phục vụ và nói: “Tôi rất mừng vì mình được phép ở trong Nhà Trắng”.
Người phục vụ quay sang cậu và nói: “Đúng vậy. Đó là lý do tôi đến đây làm việc. Tôi phải làm hai công việc vì tiền thuê nhà quá cao, tôi phải xoay sở cật lực”. Cậu con trai nhà Carter bị sốc vì không thể tin rằng người đàn ông chững chạc đường hoàng này lại phải làm hai việc chỉ để trả tiền thuê nhà.
“Cậu ra ngoài đến sống với tôi đi rồi sẽ thấy”, người phục vụ nói.
VỢ CHỒNG CLINTON bảo vệ sự riêng tư của cô con gái Chelsea một cách rất quyết liệt khi yêu cầu giới truyền thông chi đưa tin về cô trong phạm vi các sự kiện cộng đồng, điều mà các nhà báo nói chung đều tuân thủ. Nhưng giới truyền thông vẫn có cách khác để nhét tên cô vào các bản tin. Trong vở kịch châm biếm “Wayne’s World” của chương trình Saturday Night Live, Mike Myers, người vào vai anh chàng Wayne ngốc nghếch đã giễu cợt là “tuổi thanh niên của Chelsea đúng là không dễ chịu chút nào”, đồng thời nói thêm rằng “Chelsea Clinton không còn là em bé”. Vở hài kịch này khiến vợ chồng Clinton nổi giận, và lời nhận xét đó đã bị lược bỏ khi phát sóng lại. Diễn viên Meyers thậm chí còn phải viết thư xin lỗi gia đình Clinton.
Giống như vợ chồng nhà Obama và nhà Kennedy, vợ chồng Clinton rất xem trọng chuyện không để con trở nên hư hỏng khi sống trong Nhà Trắng. Và quả thực là Chelsea vẫn thường nói với người bếp trưởng là đừng bận tâm đến chuyện nấu ăn cho cô. Cô sẽ tự chuẩn bị bữa tối cho mình với món nui Kraft và phô-mai.
Nhìn chung, Chelsea rất được các gia nhân yêu mến. Bà hầu phòng Betty Finney nói họ xem Chelsea như con gái và thấy cần phải bảo vệ cô. “Bọn trẻ tuổi teen thường rất hỗn hào. Nhưng Chelsea không như thế. Tôi chưa bao giờ thấy con bé xấc láo với ai trong suốt thời gian tôi làm việc ở đó”, Finney nói. “Con bé luôn viết thư cảm ơn tôi mỗi khi tôi giúp việc gì. Đó là tính cách của con bé”.
Tuy nhiên ở một số mặt, Chelsea vẫn là một thiếu niên “bình thường” như mọi thiếu niên khác. Trước hết, cô hầu như chẳng bao giờ làm giường của mình. Và như mọi thanh thiếu niên khác, cô thích đi chơi với bạn.

Ngay từ trước khi bộ phim Downton Abbey chiếu cảnh Lady Sybil học làm bánh với bà đầu bếp Patmore thì Chelsea Clinton và một số bạn học của cô ở trường Sidwell Friends, một ngôi trường tư sang trọng, đã tập làm công việc nhà một cách không chính thức với các nhân viên trong dinh tổng thống. (Nhiều năm trước, bà Jackie Kennedy cũng từng đưa cô con gái Caroline 5 tuổi đến phòng bếp trong Nhà Trắng để nướng những chiếc bánh cupcake tí hon làm từ bộ nướng bánh đồ chơi mà Caroline nhận được trong ngày sinh nhật của cô bé). Mỗi ngày, Chelsea và các bạn đều dành thời gian xuống từng phòng ban để học cách nấu ăn, lau chùi dọn dẹp và cắm hoa. Cô tự hào khoe cha mẹ bình hoa cô cắm – sau đó trưng nó trong Phòng Đỏ – và cho họ nếm thử một số món ăn cô đã học được.
“Phu nhân Clinton muốn Chelsea biết tự lo cho mình hơn một chút, không nhất thiết tối nào cũng xuống phòng ăn hay đi ăn nhà hàng”, Quản bếp Walter Scheib nhớ lại. “Vì thế tôi được phu nhân Clinton gọi đến để nhờ tôi dạy nấu ăn cho Chelsea”. Còn một lý do khác nữa: Chelsea ăn chay và mẹ cô muốn đảm bảo là cô có thể tự chuẩn bị cho mình những món ăn tốt cho sức khỏe khi vào đại học. Kỳ hè năm cuối bậc trung học, trước khi bước vào Đại học Stanford, Chelsea thường hay xuống bếp để học một khóa sơ cấp và trung cấp nấu ăn chay.
“Cô ấy học rất nhanh và như mọi người đều biết, cô ấy rất, rất sáng dạ”, Scheib nói. Ngay từ lúc 17 tuổi, Scheib nói, Chelsea đã ý thức rất rõ về sự hy sinh của các nhân viên. “Cô ấy rất mạnh mẽ và không hề xem nhẹ cơ hội học hỏi này. Cô ấy rất cảm kích chúng tôi đã bỏ thời gian cho cô ấy”.
Đến cuối khóa học, Scheib tặng cho Chelsea một cái áo bếp trưởng trên áo in dòng chữ: CHELSEA CLINTON, ĐỆ NHẤT TIỂU THƯ. Các thư pháp viên Nhà Trắng thậm chí còn làm cả cho cô một tấm bằng tốt nghiệp, trên đó ghi: “Lớp học nấu ăn ở Nhà Trắng của Walter Scheib”. Sau đó, Chelsea đã gởi cho Scheib một bức thư viết rằng “Cảm ơn bác đã dành thời gian cho cháu. Cháu hy vọng không làm phiền bác quá nhiều”.
“Nhìn lại lúc trẻ, tôi nghĩ không biết mình sẽ như thế nào nếu là con trai tổng thống ở tuổi 17”, Scheib nói. “Lúc đó, tôi là đứa chả ra gì. Còn cô ấy rất khiêm tốn, tinh tế và luôn biết ơn mọi chuyện chúng tôi làm. Tôi nhớ có lần Chelsea gọi xuống nhờ tôi chuẩn bị bữa ăn sáng và nói rằng ‘nếu chuyện này không làm phiền bác quá...’ và tôi đã trả lời rằng ‘Chelsea, không có gì là phiền cả. Đây là công việc của tôi’”.
Các nhân viên phục vụ sau đó nói lại với Scheib rằng họ nghe Chelsea kể với mẹ về những gì cô học được từ ông ngày hôm đó trong bếp. “Bà Clinton và Chelsea rất thân thiết với nhau, đệ nhất phu nhân thậm chí có thể thay đổi lịch làm việc nếu Chelsea có thời gian ăn cơm với bà”.
Các nhân viên trong dinh vẫn thường nhìn thấy khía cạnh mềm mại này của bà Hillary, khác với tính cách hung hăng quyết đoán của bà trước công chúng. “Trong gia đình, bà là một người mẹ rất mực chu đáo và yêu thương con cái. Với bà, Chelsea là tất cả”.
Với Scheib, việc gần gũi các đệ nhất gia đình khiến cho công việc của ông trở nên đặc biệt dù rất mệt mỏi. “Làm việc cho Nhà Trắng là thế. Một số người sẽ nói về ‘cái bánh tôi làm’, hay ‘món súp tôi nấu’ hoặc ‘những bông hoa tôi cắm'. Đó chẳng phải là ý nghĩa của công việc, vẻ đẹp thực sự của công việc là được nhìn thấy những mối quan hệ đó. Y nghĩa của công việc không nằm ở những gì chúng tôi làm. Nó không nằm ở chỗ anh là một đầu bếp bánh ngọt, một bếp trưởng, một thợ cắm hoa hay một thợ làm vườn. Nó nằm ở yếu tố gia đình”.
CHO DÙ CÁC nhân viên có thân thiện với những đứa trẻ trong dinh tổng thống đến đâu thì ranh giới giữa các nhân viên với gia đình tổng thống vẫn luôn rất rõ ràng. “Dù các danh hiệu có hoa mỹ đến mấy thì chúng tôi cũng chỉ là người giúp việc, chúng tôi phải nhớ rõ vị trí của mình”, Scheib nói. Trong những năm làm việc cho gia đình Bush, ông nói: “Công việc duy nhất của chúng tôi là đảm bảo cho Jenna và Barbara ăn đúng những món họ muốn ăn trong bữa trưa, hoặc đảm bảo rằng bữa ăn đem từ nhà thờ về cho tổng thống vào ngày chủ nhật phải là những món ông ấy muốn ăn”.
Các nhân viên luôn muốn gây ấn tượng cho đệ nhất gia đình. Vào ngày sinh nhật thứ 50 của bà Hillary Clinton, ông Mesnier đã làm một chiếc bánh trên cả tuyệt vời. Đó là một cái bánh kết bằng đường – cùng một bản vẽ tay mô phỏng cuốn sách best seller mang tựa đề It Takes a Village của bà Hillary.
Đến ngày sinh nhật thứ mười sáu của Chelsea, ông moi óc tìm một thứ gì đó có thể khiến cô bé và bố mẹ cô ngây ngất. Ông nghĩ mãi chưa biết làm gì và dứt khoát từ chối, bằng một giọng nặng tiếng Pháp, “làm một chiếc bánh trang trí bông kem cho một thiếu nữ 16 tuổi. Tôi muốn thứ gì đó có ý nghĩa hơn!”
Hai ngày trước ngày sinh nhật Chelsea, Mesnier vẫn chưa có ý tưởng dứt khoát cho ổ bánh. Nhưng sau đó, trên đường đi làm, ông nghe trên radio nói rằng Chelsea muốn có một chiếc ô tô và bằng lái cho ngày sinh nhật. Vấn đề đã được giải quyết. Ông tự tay làm một tấm bằng lái mang biển số Washington, D.C và một chiếc xe hơi bằng đường. Nhưng do ông bà Clinton tổ chức sinh nhật cho cô ở Trại David tại Catoctin Mountain Park thuộc bang Maryland, cách Nhà Trắng gần 100 km về phía bắc, nên ổ bánh phải được gởi đến đó. Mesnier lo lắng cho chuyến đi đến nỗi đích thân ông mang ổ bánh đặt lên xe và căn dặn kỹ người tài xế cách giữ ổ bánh để nó không bị gì trên đường đi. “Anh liệu hồn nếu không nghe lời tôi”. Sau đó, ông còn bắt người lái xe hứa chụp hình ổ bánh sau khi đến nơi.
TUY LÀ MỘT số con cái tổng thống thấy khó thích nghi với cuộc sống trong Nhà Trắng, nhưng các nhân viên trong dinh tổng thống vẫn luôn hạnh phúc khi nhìn thấy chúng. Chúng đem lại sự nhẹ nhàng vui tươi cho những căn phòng thanh lịch và trang nghiêm buồn tẻ. Tầng hai và tầng ba rộn ràng vui vẻ hơn khi có những nhóc tì chạy ra chạy vào các hành lang. “Lúc tôi mới đến đó làm, mọi người đều đã lớn tuổi”, Bill Hamilton nói về thời gian ông mới vào làm việc trong Nhà Trắng dưới thời Eisenhower. Tuy nhiên, khi gia đình Kennedy dọn đến, sự khác biệt như ngày và đêm. Ông nhớ mình nhìn thấy Caroline và John–John chơi đùa với đám thú cưng của chúng, trong đó có con ngựa con tên Macaroni mà Caroline thường hay cưỡi ở Bãi cỏ phía nam. “Thật vui khi nhìn thấy cảnh ấy. Tôi không bao giờ nghĩ là sẽ có cảnh ấy ở Nhà Trắng”.
Chương 10
đau thương và hy vọng
Tôi vẫn chưa thể nói về chuyện đó
– Wendy Elsasser, Thợ cắm hoa, 1985–2007, vẫn đang làm việc trong Nhà Trắng ngày 11 tháng 9 năm 2001.
“Pierce, đến văn phòng nhanh lên. Ông chủ bị bắn rồi”, một nhân viên mật vụ sợ hãi quát lên với Nelson Pierce khi ông đang rảo bước qua các cánh cổng Nhà Trắng để bắt đầu ca trực của mình trưa ngày 22 tháng 11 năm 1963.
Hơn năm thập niên trước, Pierce nhớ rõ từng giây từng phút của cái ngày năm 1963 đó. Vừa qua khỏi cổng, ông đã chạy vội đến tòa nhà và nhảy bổ vào Phòng Quản lý, nơi một nhóm nhân viên đang kinh hãi xúm quanh cái tivi.
Không như người dân cả nước, Pierce không có thời gian thương tiếc tổng thống bởi ông có việc phải làm. Như hầu hết các nhân viên trong dinh, hôm đó ông không thể hiện nhiều cảm xúc. Tất cả các nhân viên Nhà Trắng tiếp tục làm việc như cái máy, Quản lý Mỹ thuật Jim Ketchum nói. “Hầu hết chúng tôi đều dốc sức làm tiếp việc của mình”.
Là người phụ trách quản lý tòa nhà trong cái ngày khủng khiếp đó, Pierce được một nhân viên mật vụ gọi đến từ Bệnh viện Parkland ở Dallas để chính thức khẳng định là tổng thống đã chết.
Pierce phải lèo lái con thuyền trong một hoàn cảnh chưa từng xảy ra trước đây. Chưa có ai trong các tổng thống sau này bị ám sát, và từ trước đến nay cũng chưa từng có một cảnh tàn khốc về một sự kiện nào được chiếu đi chiếu lại trên tivi.
Đó là khởi đầu của một tuần dài suy kiệt cảm xúc. Pierce bước vào cổng Nhà Trắng ngày thứ Sáu và ở không rời khỏi đó cho đến tối thứ Tư tuần sau. Có quá nhiều việc phải làm. Việc đầu tiên ông làm trong trạng thái vẫn còn choáng váng là gọi điện cho các kỹ sư và ra lệnh cho họ kéo lá cờ trên nóc Nhà Trắng xuống lưng chừng cột cờ. Ông chỉ để mình suy sụp đúng một lần, đó là khi nhìn thấy lá cờ đang được kéo xuống. Sau khi trấn tĩnh lại, ông gọi điện cho Trung tâm Kiểm soát của Cục Quản lý Công sản (General Services Administration) để báo cho tất cả các sứ quán Mỹ và các tàu ngoài khơi biết phải treo cờ rủ.
Không quá mười phút sau khi rời Dallas, thư ký riêng của Phu nhân Kennedy, Mary Gallagher gọi điện cho Pierce từ chuyên cơ Air Force One để nói với ông rằng bà Jackie muốn đám tang chồng bà được tổ chức giống đám tang Tổng thống Lincoln tối đa. Pierce không biết điều này sẽ dẫn đến chuyện gì nhưng ông lập tức bắt tay vào việc. “Chúng tôi không được huấn luyện cho những tình huống như thế này. Đây là một tình huống ta tự nhiên rơi vào, vì thế chúng tôi chỉ làm theo những gì đệ nhất phu nhân muốn”, ông nói. ông lập tức liên hệ với Phòng Quản lý Mỹ thuật và đến lượt phòng này làm việc với Thư viện Quốc hội (Library of Congress) để tìm hiểu xem có cách nào sao chép lại nghi thức quàn linh cữu và đám tang của Tổng thống Lincoln một cách tốt nhất.
Quản lý Mỹ thuật Jim Ketchum tìm thấy một bản in khắc cũ thể hiện hình ảnh Phòng Đông treo đầy khăn đen ở đám tang Tổng thống Lincoln. Để tái tạo ấn tượng này, West gọi cho Lawrence Arata, người phụ trách màn thảm ở Nhà Trắng và được Arata đề nghị sử dụng vải cambric đen, một loại vải đen mỏng dùng lót mặt dưới ghế ngồi để che phần lò xo bên trong ghế. Vì chuyện này mà vài ngày trước Arata đã đặt mua một cây vải mới dài 100 thước Anh (khoảng 90 mét).
Arata và vợ ông nhanh chóng bắt tay vào việc treo số vải này lên theo hướng dẫn của ông Sargent Shriver, em rể tổng thống, người được ông Robert Kennedy nhờ giám sát khâu chuẩn bị tang lễ. Vợ chồng Arata treo vải đen lên đèn trần, ô cửa và cửa sổ. Với sự trợ giúp của các đồng nghiệp, họ làm việc suốt từ tối hôm trước cho đến khi thi hài tổng thống được đưa về sáng sớm hôm sau.
“Nhiều người tưởng đó là lụa nhưng đó chỉ là vải cambric đen trơn, phu nhân Kennedy muốn đám tang chồng thật bình thường như đám tang Tổng thống Lincoln chứ không hào nhoáng”, Arata nói. “Tôi ghim vải cambric lên các tấm màn cửa và cố che kín lớp vải màn lại để trông như chúng được đặt may”.
Trong tâm trạng đau buồn, Preston Bruce đưa bạn bè và người nhà tổng thống vào để họ bắt đầu chuẩn bị lễ tang cho tổng thống. Ông phụ treo vải đen ở khu tầng chính của Nhà Trắng theo lời căn dặn của đệ nhất phu nhân, ông cũng cùng với Quản lý tổ phục vụ Charles Ficklin xếp những dãy nến dài – loại nến cao và thuôn – ở gần bục đỡ quan tài tổng thống trong Phòng Đông. Từ lúc Bruce đến Nhà Trắng lúc 2 giờ 22 của trưa ngày 22 tháng 11 cho đến khi chiếc xe tang ngừng ở phía dưới lối vào Cửa Bắc sau 4 giờ sáng hôm sau, Bruce nói “trong đầu tôi chỉ có một suy nghĩ duy nhất, đó là chờ phu nhân Kennedy về. Tôi muốn có mặt ở đó khi bà ấy quay về Nhà Trắng”.
Tổng Quản lý J. B. West đang ở nhà thì nghe được tin dữ trên radio. Ông vội vàng chạy đến văn phòng. Trong hồi ký của mình, ông liệt kê những giờ sau: ông nói các nhân viên phục vụ chuẩn bị cà phê và chỉ thị cho các nhân viên làm phòng chuẩn bị sẵn phòng ốc để đón khách: “Hành động nhỏ, ý nghĩa nhỏ nhưng là dấu hiệu cho thấy chúng tôi vẫn phải tiếp tục làm việc”.
“Lúc đầu chúng tôi nghe nói thi hài tổng thống sẽ về đến Nhà Trắng khoảng 10 giờ tối. Nhưng đến 10 giờ, chúng tôi nhận được một cuộc gọi nói rằng họ không biết chừng nào mới đưa thi hài về được. Mãi đến khoảng 4 giờ 25 sáng, thi hài tổng thống mới về đến Nhà Trắng”, Pierce nói, mặt thoáng buồn, “chúng tôi thức suốt đêm và suốt ngày hôm sau”.
Pierce giúp các nhân viên phục vụ bố trí phòng ở cho các thành viên gia đình Kennedy trong tòa nhà. Suốt bốn đêm sau đó, ông và các nhân viên quản lý khác phải ngủ trên giường xếp dưới tầng hầm. Ở dưới đó có một khu được họ sử dụng để thay tuxedo trước khi phục vụ cho quốc yến, trong đó có ít nhất một phòng tắm bồn và một phòng tắm sen dùng chung cho mọi người.
Khi Pierce lần đầu nhìn thấy Jackie sáng sớm ngày 23 tháng 11, người ông gần như đông cứng lại. “Khi phu nhân Kennedy, Ted và Robert từ khúc quanh hành lang tiến đến chỗ thang máy, tôi tự nhủ không biết sẽ nói gì với bà ấy. Khi bà vừa đến, ánh mắt chúng tôi chạm nhau và có một cái gì đó giữa chúng tôi mà tôi chưa từng cảm nhận với ai khác khiến tôi hiểu rằng tôi không cần nói bất cứ điều gì”, ông nhớ lại, nước mắt rưng rưng khi nhìn thấy chiếc áo khoác thấm đẫm máu chồng của bà. Lúc đó, vị đệ nhất phu nhân đau khổ ấy chỉ mới 34 tuổi. “Chúng tôi đã mất một người bạn, một người bạn thân thiết”, Pierce nói, nhớ lại tâm trạng đau buồn của các nhân viên trong cái ngày định mệnh. Thư ký xã hội Letitia Baldrige nhớ mình được Robert Kennedy nhờ chọn quan tài cho tổng thống. Bà chọn một cỗ quan tài có giá trung bình bởi nó sẽ luôn bị che khuất dưới lá quốc kỳ Mỹ.
“Hàng trăm người lặng lẽ và buồn bã đi quanh các hành lang”, bà hồi tưởng. “Những hành lang đó đã từng rất vui vẻ, náo nhiệt và ồn ào. Giờ đây, ai nấy đều di chuyển chậm chạp, đầu cúi gầm, và khi họ cất tiếng nói, giọng họ thì thào như thể sợ cảm xúc bùng lên”.
Trong vòng mười lăm tiếng, cho tới lúc thi hài tổng thống được đưa về Nhà Trắng, các gia nhân đã thu xếp xong việc đặt cỗ quan tài lên cùng chiếc bục đặt linh cữu Tổng thống Lincoln gần một trăm năm trước. Thi hài Tổng thống Kennedy được trả về sau nhiều giờ nằm ở Bệnh viện Hải quân Bethesda, nơi tử thi tổng thống được khám nghiệm trong lúc bà Jackie đi qua đi lại bên ngoài hành lang với điếu thuốc trên môi. Đại diện từng quân chủng khiêng quan tài lên cầu thang ra Cửa Bắc. Cha John Kuhn của nhà thờ St. Matthew đọc một bài kinh cầu nguyện ngắn, chỉ sau khi cỗ quan tài phủ cờ tổ quốc đã an vị trong Phòng Đông, đệ nhất phu nhân mới rời khỏi thi hài chồng. Bà đặt vào quan tài một lá thư viết cho chồng, một cặp khuy măng–sét vàng mà bà đã tặng ông, một con dấu tổng thống khắc từ răng cá voi, và một bức thư ngắn của Caroline và John–John viết cho cha.
Với Phu nhân Kennedy, sự ra đi của tổng thống càng đau buồn hơn khi hai vợ chồng chỉ vừa mới gần gũi trở lại sau khi đứa con bé bỏng của họ, Patrick Bouvier Kennedy, qua đời ngày 9 tháng 8 năm 1963, tức chưa đầy bốn tháng trước khi tổng thống bị ám sát. Khoảng mười ngày trước khi Patrick sinh non, Jackie viết thư cho Trưởng bộ phận Phòng Ann Lincoln để nhờ bà ra ngoài mua một ít móc áo em bé. Lincoln chần chừ chưa đi vội vì nghĩ rằng còn mấy tuần nữa đứa bé mới chào đời.
Cậu bé sinh sớm năm tuần rưỡi và mất sau khi sinh hai ngày. “Cả căn phòng đã được sửa sang lại, và ngay khi biết tin Patrick mất, chúng tôi phải chạy ngay đến đó để đem mọi thứ ra ngoài đưa đi chỗ khác”, bà nhớ lại. Họ không muốn căn phòng này gợi cho tổng thống và đệ nhất phu nhân nhớ đến sự mất mát to lớn của họ khi trở về nhà. Ông J. B. West lập tức gọi điện cho Phòng Mộc sau khi nghe tin Patrick mất và ra lệnh cho họ tống khứ hết thảm, rèm cửa và cũi em bé trong căn phòng trang trí hai màu xanh trắng đó đi. Giờ đây, Jackie lại phải chịu một sự mất mát khác làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống của bà.
Bill Cliber đến Nhà Trắng làm thợ điện đúng ngay năm đó. Ông giúp phủ vải đen lên các chùm đèn trần, và khi Jackie Kennedy đến xem lại thi hài của chồng, ông lặng lẽ đi xuống cuối phòng để cho bà chút riêng tư.
“Chúng tôi biết lúc nào nên biến mất”, ông nói. Và đó chính là lúc các gia nhân ý thức về nhu cầu được ở riêng của đệ nhất phu nhân.
Trong suốt hai mươi bốn tiếng, thi hài tổng thống được gia đình và bạn bè đến viếng trong Phòng Đông. Đến ngày thứ Bảy, sau một lễ cầu nguyện nhỏ, bà Jackie tiến đến chỗ Tổng Quản lý J. B. West và vòng tay ôm lấy ông. “Tội nghiệp ông West”, bà thì thầm vào tai ông.
“Tôi không nói được câu nào. Đó là tất cả những gì tôi có thể làm để có thể trụ vững”, West nói. “Tôi chỉ ôm bà ấy trong giây lát”.
Biết mình và các con sẽ phải nhanh chóng rời Nhà Trắng, Jackie nhờ ông dẫn bà đến nhìn lại Phòng Bầu dục lần cuối. Thật tệ là mọi thứ trong đó đã bị dọn sạch. Các mô hình tàu thủy, sách vở và cả chiếc ghế bập bênh của tổng thống cũng đang được các gia nhân chuyển ra ngoài. “Tôi nghĩ chúng ta đang làm vướng bận mọi người”, bà thì thầm cố gắng lưu giữ từng chi tiết cuối cùng của căn phòng.
Bà đi đến Phòng Nội các ở gẩn đó và ngồi vào chiếc bàn gỗ gụ bề thế “Các con tôi, chúng là những đứa trẻ ngoan, phải không ông West?”, bà hỏi người tổng quản lý mà bà xem như bạn.
“Chắc chắn rồi”.
“Chúng không hư chứ?”
“Không đâu”.
“Ông West à, ông có thể làm bạn cả đời với tôi không?” Vị đệ nhất phu nhân mà mới chỉ một ngày trước dường như còn nắm giữ mọi thứ trong tay khẩn khoản.
Ông quá đau buồn để có thể thốt nên lời. Ông chỉ biết gật đầu. Chủ nhật đầu tiên sau ngày tổng thống bị ám sát, cỗ quan tài phủ lá quốc kỳ được cỗ xe ngựa từng chở thi hài Tổng thống Lincoln, Tổng thống Roosevelt và một người lính vô danh khác, được đưa đến khu Nhà tròn của Điện Capitol và được đặt ở đây 21 tiếng đồng hồ để mọi người đến viếng. Đám tang của ông Kennedy được sao chép giống hệt đám tang Tổng thống Lincoln, đến mức có cả một con ngựa đen không người cưỡi giống như cách đây gần 100 năm trước. Có 250.000 người đến viếng linh cữu tổng thống. Quốc tang tổng thống được tổ chức vào ngày thứ Hai, 25 tháng 11.
“Chúng tôi đứng bên ngoài lối vào Cửa Bắc. Hôm đó là một ngày yên tĩnh, những âm thanh duy nhất nghe được là tiếng lộc cộc phát ra từ các con ngựa”, Wilson Jerman, một người giúp việc lâu năm nhớ lại. “Một ngày rất buồn”.
Ngay trước đám tang, Quản lý Rex Scouten gọi ông Preston Bruce vào văn phòng. Robert Kennedy đã đợi sẵn ở đó. Ông Kennedy nói với Bruce là bà Jackie muốn ông theo đoàn người đưa tang đến Thánh đường St. Matthew. Sau đó, sẽ có một chiếc xe hơi chở ông đến nghĩa trang tham dự lễ an táng tổng thống.
Đám tang “diễn ra như trong mơ”, Bruce hồi tưởng, ông nhớ mình nhìn thấy John–John chào quan tài cha và nhớ chuyện Jackie chuẩn bị bánh, kem và đèn cầy cho bữa ăn tối của cậu bé tối hôm đó để mừng con tròn 3 tuổi.
Là người có tổ tiên là nô lệ, Bruce chưa bao giờ được đến trường. Chính vì thế, ông vô cùng sửng sốt khi thấy mình được đứng sát cạnh Tướng Charles de Gaulle và Hoàng đế Ethiopia Haile Selassie trong bộ lễ phục gắn đầy huy chương tại đám tang Tổng thống Kennedy ở Nghĩa trang Quốc gia Arlington. Họ chỉ mới là vài người quyền cao chức trọng trong số các quan chức đến Washington từ hơn 100 quốc gia để chia buồn với nước Mỹ. Đối với Bruce, Jackie Kennedy là người đã ban cho ông vinh dự cả đời khi đặt ông đứng cạnh các nguyên thủ quốc gia và khi xếp ông vào số các thành viên của gia đình tổng thống cùng những bạn bè thân thiết nhất.
JIM KETCHUM VỪA rời khỏi Phòng Bầu dục, nơi ông làm việc suốt sáng với nhóm nhân viên của viện Smithsonian. Còn gần một năm nữa mới đến cuộc bầu cử tổng thống năm 1964, vậy mà Kennedy đã lên kế hoạch cho thư viện tổng thống của mình để phòng khi ông thất cử. Tổng thống nhất quyết muốn thư viện của mình phải có một phiên bản của chiếc bàn Resolute [**] làm từ gỗ con tàu thám hiểm Bắc cực của Anh mang tên H.M.S. Resolute. Kennedy là vị tổng thống đầu tiên đặt chiếc bàn này trong Phòng Bầu dục, và chiếc bàn này trở nên nổi tiếng thế giới nhờ tấm hình chụp John–John đang thò đầu từ dưới gầm bàn trong lúc ba mình đang làm việc. Sáng hôm đó, Ketchum và đội ngũ nhân viên viện Smithsonian đến quan sát chiếc bàn mang tính biểu tượng này thật tỉ mỉ.
[**](Bàn lớn phong cách thế kỷ 19 thường được các tổng thống chọn làm bàn làm việc trong Phòng Bầu dục.)
Ketchum vừa mới quay về văn phòng mình thì đã nghe tiếng một sĩ quan cảnh sát nói chuyện ngoài hành lang: “Chúng tôi được tin từ Dallas là đoàn xe hộ tống tổng thống bị bắn trúng và chúng tôi nghĩ tổng thống đã trúng đạn”.
Ketchum và hai nhân viên khác của Phòng Quản lý Mỹ thuật vội vàng đi thang máy lên tầng ba và tìm một phòng có tivi để chạy vào xem tin tức. Không bao lâu sau, Ketchum được phu nhân Kennedy gọi điện từ Air Force One. Bà lặp lại những gì thư ký bà đã căn dặn các quản lý: bà muốn ông lục tìm các cuốn sách mô tả cách trang hoàng Phòng Đông trong đám tang của Tổng thống Lincoln.
Trời đã nhá nhem tối khi những chiếc trực thăng bắt đầu nối đuôi nhau hạ cánh xuống bãi cỏ Nhà Trắng. Nhìn lại cái ngày khủng khiếp ấy, Ketchum nói với tôi rằng ông chỉ có thể so sánh hình ảnh đó với các cảnh trong Apocalypse Now, một bộ phim quy mô lớn về chiến tranh Việt Nam công chiếu nhiều năm sau. Trên các phi cơ bay từ Căn cứ Không quân Andrews đến, có một số người đến từ Dallas và một số người khác do ông Johnson yêu cầu gặp mặt để bàn chuyện chuyển giao. Ketchum mất vài giờ đồng hồ sau đó để chuẩn bị Phòng Đông. Mãi đến sáng Chủ nhật, ông mới có thể rời Nhà Trắng để trở về căn hộ của ông ở phía bắc Virginia. Nhưng chỉ mới nghỉ ngơi được vài tiếng, ông đã nhận được một cuộc gọi của Phu nhân Kennedy. Lúc đó là khoảng 6 giờ 30 sáng thứ Hai, tức ngày tổ chức quốc tang cho tổng thống. “Bà ấy hầu như không ngủ”, ông nói. Bà ấy gọi đến chỉ để nói về một chi tiết nhỏ, điều này cho thấy bà gần như chỉ tập trung vào hình thức của lễ tang ngay cả khi đang đối diện với nỗi đau mất chồng.
“Bà ấy sẽ tiếp hầu hết quan khách đến viếng trong Phòng Đỏ, riêng với Tổng thống de Gaulle của Pháp cùng một số cá nhân thuộc hàng chức sắc cao cấp nhất thì bà ấy muốn tiếp họ ở Phòng Bầu dục Vàng, ngay phía trên Phòng Bầu dục Lam”, ông nói.
Jackie lo những vị khách này sẽ nhìn thấy bức tranh trường phái hậu ấn tượng của danh họa Pháp Paul Cezanne trong Phòng Bầu dục Vàng. “Tôi thực sự muốn có thứ gì đó đặc trưng cho nước Mỹ hơn để họ nhìn vào”, bà kiên quyết nói với Ketchum. “Ông có thể đến Nhà Trắng càng sớm càng tốt để tháo bức tranh Cezanne đó xuống được không?” Đến 8 giờ 15 sáng hôm đó, bức tranh Cezanne đã được thay bằng một bộ tranh mới khổ lớn in hình các thành phố Hoa Kỳ. “Một sự thay thế thật hoàn hảo”, Ketchum nói với giọng tự hào.
Ketchum ngạc nhiên khi thấy Tổng Quản lý J. B. West không bộc lộ nhiều cảm xúc sau vụ ám sát mặc dù ông rất thân thiết với Phu nhân Kennedy. West giải thích với Ketchum: “Tôi mới đến Nhà Trắng năm 1941 thì tháng Tư năm 1945 tổng thống của tôi [Roosevelt] qua đời. Trải nghiệm về sự ra đi của người tổng thống đầu tiên ta phục vụ ở Nhà Trắng thực sự khó chịu hơn rất nhiều so với các lần sau”.
Khi Tổng thống Kennedy mất, Ketchum nói, ông mới hiểu những gì West muốn nói. Các nhân viên luôn được trông chờ giữ bình tĩnh ở một mức độ nào đó. Khi vị đệ nhất phu nhân cam chịu không ca thán, những người khác cũng sẽ làm y như vậy. Nếu như vợ của tổng thống có thể giữ bình tĩnh thì một nhân viên quản lý mỹ thuật không biết rõ về tổng thống chắc chắn cũng phải giữ thái độ tương tự.
West rất ngạc nhiên khi thấy Phu nhân Kennedy, một người rất ghét tham gia vận động tranh cử, lại muốn tháp tùng chồng đến Dallas, nhưng rồi ông nhớ ra rằng hai vợ chồng họ đã gắn bó hơn từ lúc Patrick qua đời vào tháng 8. Sau này, Jackie nói với West rằng bà rất vui vì đã có mặt bên chồng trong giây phút cuối cùng của ông ấy: “Cứ nghĩ đến việc tôi gần như không định đi. Ồ, ông West, nếu lúc đó tôi ở nhà cưỡi ngựa đi dạo ở Wexford (ngôi nhà của họ ở Virginia) hay đang ở một nơi nào đó thì sẽ thế nào đây... Tạ ơn chúa đã để tôi đi cùng ông ấy”.
Phu nhân Kennedy thương yêu West và biết ơn sự tử tế của ông đối với bà trong khoảng thời gian u ám đó đến mức khi ông qua đời năm 1983, bà đã xin bà Nancy Reagan cho ông được an táng ở Nghĩa trang Quốc gia Arlington, mặc dù nơi đó chỉ dành cho những người theo đuổi sự nghiệp quân đội cùng gia đình họ. Vợ chồng Reagan chấp thuận.
CÔ BẢO MẪU Maud Shaw là người thông báo cái chết của tổng thống cho mấy đứa trẻ. Chỉ năm ngày nữa là đến sinh nhật thứ sáu của Caroline khi cha cô bé bị ám sát. Còn John–John lúc đó chỉ mới bước qua ba tuổi được ba ngày. Khi những chiếc trực thăng ồn ào đáp xuống Bãi cỏ phía nam, Caroline chỉ vào từng chiếc và hỏi đó có phải là chiếc trực thăng đưa ba của bé đi công tác về không. Shaw thận trọng từng lời nói: “Đã xảy ra một vụ tai nạn và bố các con đã bị bắn”, Shaw nói giọng ngập ngừng, gần như không thể kiểm soát sự đau buồn của mình. “Chúa đã đưa bố các con về thiên đàng bởi bệnh viện không thể chữa khỏi cho ông ấy”.
Shaw nói với Caroline rằng sau này bé sẽ được đoàn tụ với cha và em Patrick trên thiên đàng, nhưng từ đây đến đó, cha bé ở trên trời sẽ dõi theo bé, mẹ bé và em trai bé. Lúc này Caroline đã đủ lớn để hiểu và bật khóc.
John–John còn quá nhỏ nên Shaw chỉ cho bé đi ngủ mà không nói lời nào. Tuy nhiên, sau đó không lâu cậu bé cũng đủ hiểu để nói rằng: “Mẹ đang khóc kìa. Mẹ khóc vì bố đã ra đi”.
LÚC ĐẦU, LADY Bird Johnson nghĩ là ai đó đốt pháo. Điều này hoàn toàn phù hợp với bầu không khí lễ hội của ngày hôm đó khi những đứa trẻ không ngừng giơ tay vẫy, còn mọi người liên tục tung confetti và nhoài người ra ngoài cửa sổ cao ốc văn phòng để vẫy chào cặp vợ chồng tổng thống đẹp đôi.
Vào ngày 22 tháng 11 năm 1963 đó, xe của vợ chồng Johnson chỉ chạy cách sau xe vợ chồng Kennedy hai chiếc. Giống như cuộc sống của gia đình Kennedy, cuộc sống của họ đã bị sự kiện ngày hôm ấy thay đổi hoàn toàn.
Phu nhân Johnson không tin là tổng thống bị bắn cho đến khi xe của họ dừng lại trước bệnh viện. Bà nhìn qua xe vợ chồng Kennedy và thấy “một đống gì đó hồng hồng, giống như những cánh hoa trôi, trên băng ghế phía sau. Đó là phu nhân Kennedy đang nằm đè lên thi thể tổng thống”.
Khi Lady Bird gặp đệ nhất phu nhân bên ngoài phòng phẫu thuật, bà kinh ngạc trước dáng vẻ lẻ loi của bà ấy. “Ta cứ nghĩ một người như bà ấy sẽ luôn được che chắn bảo vệ”, bà viết trong nhật ký. Lady Bird ôm Jackie và thì thầm: “Lạy chúa, xin giúp đỡ tất cả chúng con”.
Trên chuyến bay quay về Washington với quan tài của Tổng thống Kennedy đặt trong hành lang máy bay, Lady Bird đến gặp Jackie một lần nữa. Jackie nói với Lady Bird giống như bà nói với West sau này, đó là bà rất vui vì đã ở cạnh chồng trong giây phút cuối cùng của ông. “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi không ở đó?”, bà lớn giọng tự hỏi.
Khi Lady Bird hỏi Jackie có thể nhờ ai đó giúp bà thay chiếc áo khoác đẫm máu không, Jackie từ chối “gần như quyết liệt – nếu như một người nhẹ nhàng, cao quý như bà ấy có thể được cho là có phẩm chất ấy”. Cảnh tượng đáng sợ ấy trông thật thương tâm. Quả là cú sốc lớn khi nhìn thấy “người phụ nữ hoàn hảo không chút tì vết đó trong chiếc áo đẫm máu”.
“Tôi muốn bọn chúng nhìn thấy những gì bọn chúng đã làm với Jack”, Jackie nói với Lady Bird bằng giọng thách thức. (Chiếc áo khoác màu hồng dâu là một phiên bản giống hệt với mẫu thiết kế của Chanel do một thợ may nhỏ ở Mỹ may. Đệ nhất phu nhân chọn mặc chiếc áo này để không bị chỉ trích là mặc quá nhiều quần áo hàng hiệu đắt tiền nước ngoài).
Cả nước đều đau buồn và hoảng sợ. Luci Baines Johnson, lúc đó 16 tuổi, sợ rằng tin tức mà cô nghe được qua người khác không đầy đủ và bố mẹ cô cũng bị thương. Cô đang trong giờ học tiếng Tây Ban Nha tại trường National Cathedrale ở Washington thì nghe giáo viên thông báo vụ ám sát. “Không ai đả động đến bố mẹ tôi”, cô nhớ lại. Lớp học lập tức được giải tán và Luci một mình đi ra sân trường trong trạng thái mụ mẫm. “Khi tôi nhìn lên và thấy người đàn ông quen mặt mà bên mật vụ gởi tới, một trong những cận vệ của bố tôi, tôi quay người chạy về hướng khác, như thể tôi có thể tránh được điều không thể tránh”. Nhưng dĩ nhiên là tôi không thể chạy nhanh hơn một nhân viên mật vụ. Ông ấy giữ cô lại và nói: “Tôi xin lỗi, tôi rất xin lỗi, cô Luci”. Cô đấm vào ngực ông và gào lên “Không!”. Ông ấy không hề nói tổng thống đã chết, Luci nói, “bởi đó là những lời không thể thốt ra”. Chỉ đến khi cô hỏi “Còn bố mẹ tôi thì sao?”, cô mới biết cha mẹ mình vô sự.
Đúng 99 phút sau khi Tổng thống Kennedy được tuyên bố từ trần, Phó Tổng thống Lyndon Baines Johnson tuyên thệ nhậm chức trên chuyên cơ Air Force One. Khi Johnson bước xuống máy bay tại Căn cứ Không quân Andrews, lần này là trên cương vị một tổng thống, ông nói với cánh báo chí đang chờ sẵn: “Chúng ta đang chịu một mất mát lớn không gì sánh nổi. Với tôi, đây là một bi kịch lớn của cá nhân. Tôi biết cả thế giới hiện đang chia sẻ nỗi buồn này với Phu nhân Kennedy và gia đình bà. Tôi sẽ làm hết sức mình. Đó là tất cả những gì tôi có thể làm. Tôi xin nhờ vào sự giúp đỡ của mọi người – và của Thiên chúa”.
Bóng ma của tấn thảm kịch đó đeo bám gia đình Johnson suốt những tháng đầu tiên ở Nhà Trắng. Việc họ chuyển vào đó sống càng trở nên tồi tệ hơn khi một số nhân viên trung thành với gia đình Kennedy không tin tưởng vào vị tổng thống mới, người mà họ xem như một gã côn đồ ồn ào thô lỗ. (Ngay cả Jackie Kennedy cũng gọi Johnson là “Thượng nghị sĩ nông dân” khi nhắc đến ông ở chiến dịch tranh cử).
Cuộc sống của Caroline Kennedy có thể sẽ thay đổi mãi mãi nhưng mẹ cô mong muốn sinh hoạt hằng ngày của cô bé tiếp tục kéo dài càng lâu càng tốt. Theo yêu cầu của Phu nhân Kennedy, Phu nhân Lady Bird Johnson cho phép cô bé và nhóm bạn của bé tiếp tục theo học lớp mẫu giáo tổ chức trên phòng Solarium ở tầng ba cho đến khi kết thúc học kỳ một vào giữa tháng Giêng. Mỗi sáng Caroline được thả xuống Cửa Nam và đến trưa thì được đón về. Sau đó cô bé và các bạn cùng lớp đi thang máy để lên lớp học lót sàn bằng vải sơn và trang bị sẵn bảng đen cùng các hộc đồ chơi. Các bé học sinh khác đều là con cái những người bạn lâu năm của vợ chồng tổng thống. Lớp ba lê của Caroline thỉnh thoảng vẫn tập dượt ở Bãi cỏ phía nam, nơi bọn trẻ “phấp phới như những bầy chim nhỏ trong chiếc áo hồng, váy xòe và giày ballet”, thư ký xã hội Letitia Baldrige nhớ lại.
Sau khi cha mất, Caroline không bao giờ ngừng lại ở ở tầng hai để nhìn lại căn phòng cũ của mình hoặc nhảy trên tấm bạt lò xo nữa, ông J. B. West nói. “Ngoài một vài người giúp việc giàu tình cảm ra, số còn lại đều lơ là cô bé. Giờ đây, Lynda và Luci (hai cô con gái tuổi teen của nhà Johnson) mới chính là những nàng công chúa”.
Với Nelson Pierce, được nhìn thấy Caroline mỗi ngày khiến ông thấy an ủi chứ không buồn phiền. “Chúng tôi vui mừng khi thấy con bé được học tiếp với bạn bè”, ông nói với tôi. “Dĩ nhiên là con bé còn quá nhỏ để cảm thấy nhớ cha, nhất là trong giờ học. Nó hòa vào những đứa trẻ khác và chơi đùa vui vẻ”. (Sau khi Caroline kết thúc học kỳ một, Luci và Lynda biến Solarium thành hang ổ của tuổi teen bằng cách đưa vào đó một quầy nước ngọt, chiếc tivi và hai cái máy hát).
Ngay sau vụ ám sát, an ninh Nhà Trắng được tăng cường. Phục vụ Lynwood Westray cho biết tất cả những người giúp việc trong dinh đều bị kiểm tra lý lịch lại theo quy định pháp luật. Nhân thân và gia cảnh của họ bị đào xới, bạn bè và gia đình của họ bị truy vấn. “Một hai người không đạt yêu cầu lý lịch dù trước đây đã được thông qua”, ông nói. “Sau chuyện này, họ bị buộc nghỉ việc ở đó”. Westray cho biết điện thoại của ông bị nghe lén sau khi xảy ra vụ ám sát. “Họ muốn chắc chắn rằng những người ở đó chỉ làm những gì họ cần làm”.
Cái chết của Kennedy thay đổi tiến trình lịch sử và để lại ảnh hưởng sâu xa lên những nhân viên rất mực yêu quý ông. Sự vô tư giờ đây đã hoàn toàn vắng bóng trong các hành lang của tòa hành pháp.
GẦN 40 NĂM sau, một sự kiện đau buồn kiểu khác đã làm rung chuyển Nhà Trắng. Một sáng cuối hè, dưới bầu trời xanh biếc không một áng mây, dinh tổng thống vô cùng nhộn nhịp với các hoạt động. Như hằng năm, gia đình Bush tổ chức một bữa tiệc ngoài trời để thết đãi các thành viên Quốc hội và gia đình họ. Một trăm chín mươi chiếc bàn ăn được xếp đầy Bãi cỏ phía nam. Tổng Quản lý Walter Scheib đang bàn với Tom Perini, nhà tổ chức tiệc yêu thích nhất của gia đình tổng thống đến từ Buffalo Gap, Texas, về chuyện tổ chức nấu nướng các món ăn ngoài trời theo phong cách Texas cho 1.500 khách mời, kết thúc với các món đồng quê nấu tại chỗ trên các xe chuckwagon, ớt xanh và thịt hầm bánh ngô.
Bữa tiệc barbecue trưa hôm đó được dự báo sẽ diễn ra trong tiết trời ấm áp và bầu trời quang đãng. Các cô hầu phòng đang quét dọn Phòng Nữ hoàng trên tầng hai, nơi ông George H. W. Bush và bà Barbara qua đêm ngày hôm trước. Vị cựu tổng thống và vợ đã rời Nhà Trắng lúc 7 giờ sáng để quay về trên chuyến bay sớm. Còn Tổng thống George W. Bush thì đang viếng thăm trường tiểu học Sarasota ở Florida.
Với tất cả những hoạt động nhộn nhịp diễn ra xung quanh, bà Laura Bush dường như trơ trọi trong Nhà Trắng vào buổi sáng ngày 11 tháng 9 năm 2001 đó. Vừa lặng lẽ thay đồ trong phòng ngủ ở tầng hai, bà vừa nhẩm lại bài phát biểu mà bà sẽ trình bày trước ủy ban Giáo dục ở Thượng viện sáng hôm đó. Bà thấy lo lắng khi phải đến Đồi Capitol, nơi bà sẽ tóm tắt lại cho ủy ban thượng viện về nội dung của hội nghị phát triển trẻ em lứa tuổi mầm non mà bà tổ chức hồi đầu hè.
Cả đệ nhất phu nhân lẫn các gia nhân – từ các nhân viên làm phòng, phục vụ, cắm hoa cho đến các đầu bếp đang chuẩn bị cho bữa tiệc picnic hằng năm – đều bị cuốn vào các hoạt động của một ngày bận rộn điển hình. Nhưng ngày hôm đó không hề là một ngày điển hình. “Nếu lúc đó tôi bật tivi thì có lẽ đã nghe được bản tin nhanh đầu tiên nói về chiếc máy bay đâm vào tòa Tháp Bắc (North Tower)”, bà Laura Bush nói.
Sau 9 giờ sáng vài phút, bà Laura bước lên chiếc xe đang đợi bà ở Cửa Nam để đến Tòa nhà văn phòng Thượng viện Russell, cách Nhà Trắng chưa đầy 3 km. Người cận vệ trưởng của bà cho bà biết là một chiếc máy bay đã đâm vào một tòa tháp ở Trung tâm Thương mại Thế giới. Tổng quản lý Gary Walters lúc đó đang đứng phía sau anh ta cũng mới nghe tin này lần đầu. Làm sao một chiếc máy bay lại có thể đâm vào Trung tâm Thương mại Thế giới vào một ngày quang đãng như thế này?, ông lớn tiếng tự hỏi.
“Gary, ông vào nhà bật tivi xem thử đi”, người cận vệ nói với ông.
Đoàn xe của đệ nhất phu nhân lao nhanh ra đại lộ Pennsylvania để đến Điện Capitol. Còn Walters quay trở vào trong và đến phòng mật vụ ở Tầng Trệt, ngay phía dưới thang máy của tổng thống, nơi ông biết là có một chiếc tivi. Nhưng khi nhìn thấy căn phòng đầy nghẹt người trước màn hình tivi, ông liền đi sang Phòng Quản lý. Giữa đường, ông gặp một số nhân viên trong tư dinh nên đứng lại chỉ đạo nhanh cho họ cách sắp xếp bữa tiệc ngoài trời. Lúc này ông vẫn chưa biết gì về mức độ phá hủy tòa tháp.
Khi ông về đến phòng làm việc của mình, tách biệt với Phòng Quản lý, thì thấy rất nhiều người đang bu quanh chiếc tivi. Ông bước vào đúng lúc chiếc máy bay thứ hai đâm vào tòa Tháp Nam (South Tower).
“Làm thế quái nào mà họ đưa được cảnh này lên tivi?”, ông hỏi, giọng sững sờ.
“Bởi vì đây là chiếc máy bay thứ hai”, có ai đó trả lời.
Khi Walters nhận ra sự kiện này không phải là một tai nạn riêng lẻ, ông lập tức gọi cho Catherine Fenton, thư ký xã hội của gia đình Bush. Họ quyết định hủy bữa tiệc ngoài trời. Walters quay lại Cửa Nam, nơi ông vừa tiễn Phu nhân Laura Bush đi ít phút trước. Mọi việc còn còn quá hỗn độn và chưa chắc chắn nhưng ông không thể lãng phí thêm giây phút nào.
Giống như sau khi Tổng thống Kennedy bị ám sát, các nhân viên lúc này chỉ dốc sức làm việc. Walters phối hợp với Cục Quản lý Vườn quốc gia, nơi chịu trách nhiệm chăm sóc khuôn viên Nhà Trắng, để quyết định xem ai sẽ phụ trách dẹp các bàn tiệc ngoài trời và vệ sinh các xe bếp di động.
“Vừa ra khỏi Cửa Nam, tôi đã nhìn thấy lửa khói bốc lên dữ dội ở Lầu Năm Góc”, Walters nhớ lại. Ông chợt nhận ra rằng Nhà Trắng có thể sẽ là nơi kế tiếp bị tấn công.
Mặc dù mọi người đã bắt đầu sơ tán khỏi Nhà Trắng nhưng Walters biết mình sẽ phải ở lại: “Trách nhiệm của tôi là ở Nhà Trắng”.

Công việc của ông là giúp vận hành tòa nhà bằng mọi giá, dù lúc này đây ông có cảm tưởng như mình đang ở ngay tâm điểm của cuộc tấn công. Nhưng ông lại không thể làm được gì một mình. Ông yêu cầu đơn vị sắc phục của Cơ quan Mật vụ cho phép Quản bếp Walter Scheib, đã được cho sơ tán, quay lại Nhà Trắng. Ông cũng lôi một vài nhân viên khác lại, trong đó có Tổ trưởng Tổ Điện Bill Cliber, và mặc cho các nhân viên mật vụ hò hét kêu gọi mọi người ngưng mọi thứ lại để thoát thân, ông nói với họ rằng họ cần ở lại để giúp ông dọn hết số bàn ghế ngoài trời. “Tôi được bảo là mọi người sơ tán nhưng chúng tôi có việc phải làm”, Walters nói.
Lúc này, con gái của Walter, một sinh viên trường Đại học Boston, đang theo dõi tin tức trên tivi và lo lắng cho cha sau khi nghe ai đó nói nhầm là máy bay đâm xuống Nhà Trắng thay vì Lầu Năm Góc. Walters và nhóm nhân viên của ông do quá tập trung dọn chỗ cho trực thăng tổng thống đáp xuống nên quên không gọi điện về nhà.
Bà Bea, vợ ông Cliber, lúc đó cũng đang ở nhà xem truyền hình với họ hàng. Bà lo lắng không biết chồng mình có sao không. “Cả thị trấn đều hoảng loạn”, bà nhớ lại. “Chúng tôi chỉ biết ngồi đợi”. Mãi đến 8 giờ tối hôm đó bà mới nhận được tin ông.
Trên đường đi ra đường lái xe vào dinh và nhất là trên đường trở về nơi nguy hiểm đó, Scheib không ngừng hò hét hối thúc các đồng nghiệp đang đổ ra từ Nhà Trắng rời khỏi đó càng nhanh càng tốt. Gặp các nhân viên của tổng thống và đệ nhất phu nhân chạy ra từ Cánh Tây và Cánh Đông, ông cũng la to cảnh báo họ là cảnh sát vừa thông báo có một máy bay khác đang hướng về Nhà Trắng.
“Tất cả những người làm việc cho tôi ở Cánh Đông – chủ yếu là những phụ nữ trẻ kỳ vọng vào một công việc hấp dẫn ở Nhà Trắng – được bảo là phải vứt giày cao gót mà chạy”, bà Laura Bush nhớ lại. “Cô thử tưởng tượng họ cảm thấy thế nào khi đang làm việc thì đột nhiên được báo là phải chạy”.
Walters và những người khác di dời hết 190 bàn tiệc ngoài trời, mỗi cái nặng bốn năm chục ký, ra khỏi khu vực Bãi cỏ phía nam. “Hai đầu gối tôi liên tục va vào nhau côm cốp”, Walters nói. Tin đồn sắp có những cuộc tấn công khác tiếp tục bay về nhưng chúng tôi bỏ ngoài tai. “Công việc của chúng tôi, chúng tôi phải làm”, Cliber nói.
Ngay cả lúc đó, khi thế giới tưởng như hoàn toàn đảo lộn, các nhân viên vẫn tập trung giữ cho ngôi nhà yêu quý của họ tiếp tục vận hành và không để lộ bất cứ bí mật nào. Khi một số phóng viên nhìn thấy họ cuống cuồng dọn dẹp khu vực phía Nam, họ chạy tới hỏi thăm xem có phải tổng thống sắp quay về Washington không. “Chúng tôi không nghe nói gì cả”, Cliber nói dù biết rằng mọi người làm việc này là để giúp thúc đẩy nhanh sự trở về của tổng thống.
Xe của đệ nhất phu nhân đang bon bon trên đại lộ Pennsylvania hướng về Đồi Capitol thì nghe tin chiếc máy bay thứ hai đâm vào một tòa tháp khác ở Trung tâm Thương mại Thế giới. “Cả xe im bặt. Chúng tôi ngồi chết lặng trong xe, không tin vào tai mình”, bà viết trong hồi ký. “Một chiếc máy bay còn có thể nói là tai nạn, nhưng hai chiếc thì rõ ràng là một cuộc tấn công”.
KHI BETTY FINNEY bắt đầu đến làm việc ở Nhà Trắng năm 1993, bà không có chút kinh nghiệm làm phòng nào ngoại trừ trông nom căn nhà mà bà đang sống với chồng và hai cô con gái. Chồng bà đột ngột qua đời khi bà đang làm việc trong một tiệm thịt nướng ở Myrtle Beach, South Carolina. Vì thế bà cần kiếm gấp một công việc. Như hầu hết các vị trí trong Nhà Trắng, vị trí mà bà có được là nhờ quen biết. Con gái bà quen với Tổng Quản lý Bộ phận Phòng Christine Limerick, và bà ấy đã đưa bà vào làm.
Tám năm sau ngày được tuyển vào làm, đến một ngày Betty cảm thấy lo sợ cho tính mạng của mình.
Lúc đó, bà đang quét dọn phòng Nữ hoàng ở tầng hai, nơi hai vị thân sinh tổng thống vừa qua đêm ngày 10 tháng 9. Lúc hai ông bà Bush rời Nhà Trắng ra sân bay, họ quên không tắt tivi, thế nên giờ đây Finney đang cùng vài đồng nghiệp khác kinh hoàng xúm quanh chiếc tivi và chứng kiến cảnh tòa tháp thứ hai bị đâm vào. Như rất nhiều tấn thảm kịch ảnh hưởng đến chiếc ghế tổng thống, các gia nhân tuy làm việc ở ngay nơi xảy ra câu chuyện nhưng chỉ đến khi xem tivi họ mới biết chuyện gì đang xảy ra.
“Tôi chạy đến Phòng Bầu dục Vàng và nhìn ra ngoài cửa sổ. Mặc dù từ đó không thể nhìn thấy Lầu Năm Góc nhưng tôi thấy khói bốc lên”, bà nói. “Tôi trở về Phòng Nữ hoàng và tính chạy lên lầu làm gì đó”.
Nhưng chưa lên đến tầng ba, bà đã nghe một nhân viên mật vụ hét lớn: “Ra khỏi nhà! Ra khỏi đây mau!” Vậy là, chưa lên được tầng trên, bà đã phải chạy xuống. “Tôi không biết chuyện gì đang xảy ra. Tôi không biết là họ đã bắt đầu cho mọi người sơ tán ra khỏi đó. Khi chúng tôi chạy ra ngoài thì đã thấy tất cả mọi người đang đứng ngoài đường. Tôi quả thực rất sợ. Mỗi người chạy một hướng, đâu cũng được miễn là thoát khỏi đó”.
 
BETTY FINNEY
Khi đến Đồi Capitol, bà Laura Bush xuống xe gặp Thượng nghị sĩ Edward Kennedy, người chủ trì ủy ban Giáo dục. Cả hai biết rằng sẽ chẳng có buổi tường trình nào ngày hôm ấy. Ông đưa bà tới văn phòng của ông.
Lạ lùng là cả đến chiếc tivi cũ kỹ nằm ở góc phòng cũng đang ra rả bản tin kinh hoàng từ New York. Thay vì nhìn vào màn hình, ông Kennedy lại đưa bà đi một vòng quanh phòng để giới thiệu những món đồ lưu niệm của gia đình ông, bao gồm cả lá thư ngắn lồng khung mà cậu em Jack của ông đã gởi mẹ ông khi còn nhỏ, trong đó có câu: “Anh Teddy béo ra”.
“Suốt thời gian đó”, đệ nhất phu nhân nói, “tôi không ngừng liếc nhìn vào màn hình tivi đang bật sáng. Gai ốc tôi bắt đầu nổi lên. Tôi chỉ muốn ra khỏi đó để tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra, để giải quyết những gì tôi đang nhìn thấy, nhưng lại kẹt cứng trong hàng loạt chuyện hài mãi không chịu dứt”. Sau này bà tự hỏi không biết có phải ông Kennedy đã chứng kiến quá nhiều cảnh chết chóc trong cuộc đời nên không thể đương đầu với một thảm kịch khác hay không, nhất là khi tấn thảm kịch đó lại ở quy mô lớn đến thế.
Sau khi tuyên bố với các nhà báo rằng buổi tường trình sẽ không diễn ra và nói vài câu thể hiện sự quan tâm đến các cuộc tấn công, Phu nhân Bush tiến về phía cầu thang và ra xe quay về Nhà Trắng. Người trưởng ban mật vụ bất ngờ chặn bà và các nhân viên của bà lại và bảo họ xuống hầm. Quá lo lắng cho sự an toàn của chồng, bà cùng một người bạn là Nghị viên Judd Gregg, một đảng viên Cộng hòa thâm niên làm việc ở Ủy ban Giáo dục, vào đợi trong phòng làm việc riêng của ông ở bên dưới Điện Capitol. Họ túm tụm ở đó và gọi điện cho các con để biết chắc là chúng an toàn. Báo cáo từ khắp nơi đổ về, thực hư lẫn lộn, trong đó có một tin nói rằng Trại David bị tấn công và một tin khác cho biết có một máy bay bay vào nông trang của gia đình Bush ở Crawford, Texas.
Không lâu sau khi chiếc máy bay thứ hai đâm vào tòa Tháp Nam, Christine Limerick chạy lên phòng cất khăn ga ở tầng ba và nói các nhân viên ngưng toàn bộ công việc ở đó lại và ra khỏi Nhà Trắng. Ngay lập tức.
Bà nghe thấy tiếng chuyến bay 77 của Hãng hàng không American Airlines lao vào Lầu Năm Góc. “Nghe như một tiếng nổ lớn”, bà nhớ lại.
Đến khi quay về văn phòng, bà mới nhớ là mình không nhìn thấy cô hầu phòng Mary Arnold đâu. Bà tính quay trở lên lầu tìm cô nhưng bị nhân viên mật vụ chặn lại. Họ nói bà có hai phút để ra khỏi Nhà Trắng bởi có một máy bay đang bay đến.
“Không ai chất vấn họ khi đang trong tình trạng phong tỏa”, bà nói. Bằng cách nào đó, Arnold cũng ra được khỏi Nhà Trắng và có đủ tiền để về nhà.
Limerick nhớ mình đã rất lo lắng khi nhận ra rằng không phải ai cũng được phép sơ tán khỏi cái mục tiêu nhiều khả năng bị tấn công này. “Tôi không bao giờ quên vẻ mặt các nhân viên mật vụ khi họ được bảo phải ở lại”, bà nói.
Các nhân viên cho biết Sở mật vụ kêu tất cả mọi người đi về hướng bắc vì nghĩ rằng máy bay sẽ đến từ hướng nam, nơi đường bay đến Nhà Trắng ít bị cản trở hơn. Từ các đầu bếp, nhân viên phục vụ, cho đến các thợ mộc, nhân viên làm phòng, tất cả đều chạy túa ra ngoài thoát thân. Một số nhân viên của bếp bánh ngọt lội bộ qua cầu Arlington Memorial Bridge rồi cùng nhau băng qua bên kia sông Potomac và tập trung ở nhà một người sống gần đó nhất.
Finney cùng năm sáu đồng nghiệp của bà đến nhà một nhân viên cắm hoa trên Đồi Capitol và xúm quanh chiếc tivi trong tâm trạng hoài nghi. Tất cả bọn họ thoát thân quá nhanh đến mức không kịp lấy cả túi, ví. Tối hôm đó, bọn họ phải cuốc bộ nhiều cây số để quay về Nhà Trắng và lấy xe về nhà, nhiều người vẫn chưa hết bàng hoàng.
Một số người không kịp phát hiện chuyện này để có thể sơ tán. Một vài nhân viên phục vụ trên tầng hai và tầng ba đang bận chuẩn bị thức uống cho bữa tiệc ngoài trời – gọt vỏ chanh và cắt các khoanh chanh để cài lên thành ly – nên không biết chuyện gì xảy ra cho đến khi mọi người trong nhà đã sơ tán được gần một tiếng. Một vài kỹ sư mắc kẹt hàng giờ dưới tầng hầm và hoàn toàn không hay biết về tình hình hoảng loạn phía trên và mối nguy hiểm đang rình rập họ.
Giữa mớ hỗn loạn đó, một người phục vụ chạy xuống ngăn tủ của mình dưới tầng hầm để thay y phục trước khi lên xe máy chạy về nhà. Nhưng cánh cổng đã đóng sập lại nhốt anh ta bên trong. Anh không thể ra ngoài cho đến khi một sĩ quan mật vụ nhận ra anh và mở cổng để anh đi.
SAU 10 GIỜ sáng hôm đó một chút, vài phút trước khi tòa Tháp Nam ở Trung tâm Thương mại Thế giới đổ ập xuống và khoảng 20 phút trước khi tòa Tháp Bắc đổ theo, đệ nhất phu nhân được các nhân viên mật vụ và đội phản ứng khẩn cấp mặc đồ đen mang súng đến đón ở văn phòng Nghị viên Gregg. “LÙI LẠI!” Họ quát lên với các nhân viên Đồi Capitol để mở đường đưa đệ nhất phu nhân chạy ra chiếc xe đang đợi sẵn. Cũng khoảng thời điểm đó, chuyến bay 93 của hãng United Airlines rơi xuống một cánh đồng gần Shanksville, Pennsylvania, khi một nhóm hành khách dũng cảm cố giành giật quyền điều khiển máy bay với bọn khủng bố. Nếu họ không phản ứng, chiếc máy bay đó hẳn sẽ lao thẳng đến Điện Capitol hay Nhà Trắng. Nhiều nhân viên làm việc trong Nhà Trắng rất biết ơn các hành khách trên máy bay đã cứu mạng họ.
Nhiều cuộc tranh cãi nổ ra xung quanh việc sẽ đưa đệ nhất phu nhân đi đâu trong quãng thời gian bấn loạn đó. Cuối cùng Cơ quan Mật vụ quyết định đưa bà đến tổng hành dinh của họ, cách Nhà Trắng vài dãy nhà. Suốt nhiều giờ liền, bà ngồi trong căn phòng hội nghị không cửa sổ dưới tầng hầm, mắt dán vào những hình ảnh lặp đi lặp lại của tòa tháp đôi đang đổ sụp xuống trên cuộn phim video.
Tất cả đường dây điện thoại ngày hôm đó đều bị kẹt cứng do người nhà các nhân viên liên tục gọi đến để đảm bảo người thân của họ được an toàn. Ngay cả tổng thống cũng gặp khó khăn khi gọi cho vợ từ chuyên cơ Air Force One sau khi máy bay cất cánh từ Florida. Mãi đến gần 12 giờ trưa, sau ba lần điện thoại không thành công, vợ chồng Tổng thống Bush mới kết nối được với nhau. Bà cho ông biết là bà đã đến chỗ các con và họ hiện đã an toàn.
Trong lúc đó, cả chục nhân viên vẫn đang mặc đồng phục tụ tập ở Quảng trường Lafayette đối diện Nhà Trắng, phía bên kia đại lộ Pennsylvania. Bếp trưởng John Moeller mô tả hậu quả của cuộc tấn công Lầu Năm Góc như sau: “Tôi nhìn thấy những cột khói lớn đen nghịt bay cuồn cuộn lên trời – hôm đó là một ngày đẹp trời. Những cuộn khói cứ thế bay lên ngút trời. Cả đời tôi chưa từng thấy vụ nổ nào lớn đến thế”. Cuối cùng, một nhóm nhân viên quyết định đi bộ đến khách sạn Capital Hilton gần đó để tắm rửa, gọi điện thoại và theo dõi diễn biến trên tivi.
Khu phố thương mại nhộn nhịp trên đại lộ Connecticut gần đó cũng đang náo loạn. Lo sợ bị kẹt trong cuộc tấn công, nhiều người bỏ xe chạy tán loạn trên đường. “Tất cả mọi người đều như điên loạn”, Walter Scheib nhớ lại. “Tôi nhớ mình đi ngang một chiếc xe BMW 700 bỏ lại giữa đại lộ Connecticut, cửa xe mở tung và máy vẫn nổ nhưng không có ai trong xe”.
Laura Bush không nhìn thấy tất cả cảnh này. Sau khi ngồi hàng giờ trong căn phòng hội nghị không cửa sổ, cuối cùng bà được đưa đến Trung tâm Hoạt động Khẩn cấp nằm bên dưới Nhà Trắng. Phó Tổng thống Dick Cheney và các nhân viên cấp cao khác đã tụ tập ở đó từ sáng. Để đến được Trung tâm chỉ huy xây cho Tổng thống Franklin Roosevelt trong Thế chiến thứ hai này, phải đi qua hàng loạt hành lang chưa hoàn thiện dưới lòng đất, nơi nhiều đường ống thòng xuống từ trên trần nhà. Bà sẽ phải chờ ở đó để được đoàn tụ với chồng.
Trong Phòng Hoa bên dưới Cửa Bắc, Bob Scanlan đang chỉnh lại lần cuối những bình hoa dùng để trang hoàng các bàn tiệc ngoài trời thì được một người bạn gọi đến cho ông biết tin. Sửng sốt, ông tháo chạy đến Trung tâm mua sắm Freedom Plaza cách Nhà Trắng vài dãy nhà.
Trong lúc đang loanh quanh ở đó cùng vài đồng nghiệp, ông nghe tiếng chuyến bay 77 của American Airlines đâm vào Lầu Năm Góc. “Chúng tôi quyết định không ở lại đó”, ông nói. “Chúng tôi như mất phương hướng”, ông cùng một đồng nghiệp đi bộ hơn ba cây số để về nhà họ ở Đồi Capitol.
SAU KHI GIÚP di dời tất cả các bàn tiệc ngoài trời, Scheib và một nhóm gia nhân vào bếp và túc trực ở đó từ 2 giờ trưa đến 9 giờ tối để phục vụ ăn uống (đa số các món ăn đã được chuẩn bị trước cho bữa tiệc barbecue) cho các nhân viên mật vụ, vệ binh quốc gia, cảnh sát D.C, cùng các nhân viên ở lại Nhà Trắng. Phần đồ ăn còn dư được ông gởi tới đội cứu viện ở Lầu Năm Góc. “Chỉ có bốn gia nhân để phục vụ trên 500 phần ăn cho các nhân viên bên trong và xung quanh Nhà Trắng”, Walters nói.
Khi được cảm ơn về bữa ăn, Scheib nói: “Ông làm sao giữ cho những chuyện bên ngoài chỉ ở bên ngoài thôi, được chứ?”
Sau khi dọn quang bãi cỏ, Cliber cùng một vài người khác tính ra khỏi Nhà Trắng nhưng mọi cánh cửa thoát nạn đều bị khóa kín. Do có một chiếc máy bay được phát hiện đang bay trên đầu họ nên các nhân viên mật vụ ra lệnh cho mọi người chạy xuống hầm trú ẩn, một hành lang kéo dài từ tây sang đông bên dưới Nhà Trắng. Họ ở lại trong hầm trú ẩn cũ cho đến khoảng 8 giờ tối hôm đó. (Chiếc máy bay quần trên đầu họ hóa ra là máy bay quân sự Mỹ).
Khi biết tin số người tử vong ngày hôm ấy lên đến gần ba nghìn người, những người làm việc ở tòa nhà nổi tiếng nhất nước Mỹ chỉ nghĩ được mỗi một điều là Đó có thể là chúng tôi.
Chiều hôm đó, đệ nhất phu nhân cuối cùng cũng gặp lại chồng ở Trung tâm Hoạt động Khẩn cấp.
Cơ quan Mật vụ khuyên vợ chồng tổng thống nên ngủ lại trên chiếc giường cũ dưới tầng hầm nhưng họ không chịu. “Tôi phải ngủ trên giường chúng tôi”, tổng thống nói. Với vợ chồng Bush, Nhà Trắng là nhà của họ. Họ thậm chí càng gắn bó với nơi ấy mãnh liệt hơn trong thời khắc nó suýt bị hủy diệt hoàn toàn.
SAU CUỘC TẤN công, Cơ quan Mật vụ muốn đóng cửa các tour tham quan Nhà Trắng. Sáng sớm ngày 12 tháng 9, Tổng Quản lý Gary Walters đến Phòng Bầu dục gặp tổng thống để thuyết phục ông tiếp tục mở cửa Nhà Trắng cho khách tham quan. “Thưa tổng thống, tối qua ngài đã nói là tất cả mọi người phải trở về với hoạt động bình thường. Một trong những hoạt động bình thường đó là mở cửa Nhà Trắng cho khách đến tham quan và điều này sẽ được canh chừng cẩn mật”.
Tổng thống ngập ngừng một lúc rồi trả lời: “Ông nói đúng”.
Tuy nhiên, ngay sau các vụ tấn công, đã có quyết định kết thúc việc tham quan Nhà Trắng. Cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến quyết định này. Một tuần lễ sau khi xảy ra cuộc tấn công, những lá thư chứa mầm bệnh than được gởi đến văn phòng của nhiều nhân vật trong giới truyền thông và văn phòng hai thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ. Walters cho biết là một số nhân viên Nhà Trắng cũng được cho uống thuốc ngừa để đề phòng phơi nhiễm bệnh than.
Sau ngày 11 tháng 9, Bill Cliber không còn như trước. Ông đã biết cảm giác sợ hãi là như thế nào khi mỗi ngày đến chỗ làm. Dù gì đi nữa thì sự nghiệp ở Nhà Trắng của ông cũng đã bắt đầu trước khi Kennedy bị ám sát không lâu. Nhưng lần này thì khác.
“Chuyện này làm tôi rất sợ. Tôi đã đủ thời gian làm việc ở đây”, ông nói, ám chỉ số năm làm việc mà một nhân viên chính phủ cần hoàn thành để có thể nhận khoản tiền hưu trí cao. Tuy nhiên ông vẫn không nghỉ vì từng hứa với lòng sẽ làm việc cho Nhà Trắng 40 năm, vì thế ông tiếp tục làm việc.
Thế nhưng sau ngày 11 tháng 9, tất cả mọi người đều nhận thấy bầu không khí Nhà Trắng thay đổi. Phòng Quản lý Mỹ thuật lấy lời khai một số nhân viên, yêu cầu họ kể những gì họ làm ngày hôm đó để đưa vào hồ sơ của họ. Sức hấp dẫn của công việc ở Nhà Trắng đã bị lấn át bởi sự sợ hãi. Quản bếp Roland Mesnier nói rằng sở dĩ ông và nhân viên của ông hoàn toàn không biết vì sao họ bị buộc sơ tán gấp là vì trong bếp không có tivi. Sau chuyện này, ông yêu cầu cho họ một chiếc tivi trong phòng bếp. Sau ngày 11 tháng 9, đa số nhân viên quyết định để một ít tiền mặt và thẻ ra vào Nhà Trắng trong người để khi cần có thể nhanh chóng ra khỏi Nhà Trắng.
Betty Monkman, người phụ trách bảo tồn và liệt kê mọi tác phẩm nghệ thuật quan trọng trong Nhà Trắng, không chỉ lo cho tính mạng của mình mà còn phải nghĩ xem phải giải cứu những tác phẩm nghệ thuật mang tính lịch sử nào trong trường hợp khẩn cấp. Bức chân dung Tổng thống George Washington ở Phòng Đông và Bài diễn văn Gettysburg trong Phòng ngủ Lincoln nằm trong số những tác phẩm ưu tiên giải cứu hàng đầu. Nghĩ lại cái ngày kinh khủng ấy, Monkman nói cô vẫn còn tức giận vì kế hoạch sơ tán nhân viên trong tòa nhà ngày hôm ấy không rõ ràng, bởi chỉ có mỗi “một nữ nhân viên làm việc ở Phòng Quản lý chạy ngang qua phòng chúng tôi và nói mọi người ra ngoài. Và trong khi cảnh sát Nhà Trắng nói ‘chạy hướng nam’ thì một số người khác lại nói ‘đi hướng bắc’. Mọi thứ đều rất hỗn loạn”.
Sáng hôm đó, Monkman định xuống hầm tránh bom nhưng đi được nửa chừng, cô lại nghĩ: “Chúa ơi, nếu bọn chúng bỏ bom, chúng ta sẽ bị chôn vùi dưới đống gạch vụn mất”. Thế là cô quay ngược lên trên và chạy ra Quảng trường Lafayette. Đến nơi, cô nhìn thấy nhiều xe cứu thương và xe cứu hỏa chạy ngang qua cô về hướng Lầu Năm Góc.
Scheib nói rằng các nhân viên không phải là thành phần được ưu tiên cứu giúp khi xảy ra khủng hoảng và đừng ai kỳ vọng Cơ quan Mật vụ lo lắng cho họ. “Chúng ta chỉ là người giúp việc chứ chẳng phải là ai quan trọng”, ông nói. “Nếu ta ở đó thì phải hiểu rằng mỗi người làm việc trong Nhà Trắng đều là mục tiêu tấn công”.
Scheib rất buồn khi thấy quy mô to lớn của cuộc tấn công đè nặng lên vai tổng thống, ông Bush trông như thể “đang gánh sức nặng của cả thế giới trên vai”. Biết rằng thực phẩm ảnh hưởng đến tâm trạng, Scheib đã chuyển từ việc sáng tạo các món ăn mới sang việc chuẩn bị các món ăn ngon cho tổng thống cùng vô số những lãnh tụ thế giới đến để chia buồn với nước Mỹ và vạch kế hoạch trong những tuần lễ tiếp theo các cuộc tấn công khủng bố. “Tôi quay trở lại với các món ăn của mẹ tôi”, Scheib nói.
Các tư vấn viên của Bệnh viện Hải quân Bethesda đến Nhà Trắng để nói chuyện với các nhân viên về những tổn thương tinh thần họ đã trải qua. Cliber nói chuyện với một tư vấn viên, nhưng chẳng ai có thể cho các nhân viên một lời khuyên nào bởi “chưa ai từng trải qua điều đó”.
Nhân viên cắm hoa Wendy Elsasser nói rằng cho đến tận bây giờ cô vẫn không thể nhắc về cái ngày ấy mà không khóc. Suốt mấy tháng trời, Mesnier đều thấy sợ hãi mỗi khi tắm sáng. Vợ con ông năn nỉ ông đừng quay lại Nhà Trắng làm việc, ông cũng lắng nghe khi Gary Walters tập hợp các nhân viên lại khoảng một tuần sau ngày 11 tháng 9 để nói với họ rằng họ nên nghỉ việc nếu thấy không chịu nổi áp lực này.
Nhưng cũng giống như Bill Cliber, Mesnier không thể ra đi. “Cô phải hiểu rằng tôi tin công việc này được tạo ra cho tôi”, ông nói. “Đây là cuộc sống của tôi”.
Đệ nhất phu nhân Laura Bush thấy an ủi khi không có ai vì sợ hãi mà nghỉ việc. Bà nói với tôi rằng nhìn thấy các nhân viên trong tư dinh trở về với công việc khiến bà thấy thoải mái hơn khi sống ở Nhà Trắng. “Chúng tôi biết mình sẽ ở đó và chúng tôi tin mình sẽ an toàn, nhưng mặt khác họ có thể chọn một công việc khác hoặc nói rằng: ‘Bà biết không, chúng tôi hiện rất căng thẳng. Tốt nhất là tôi nên đi’”, bà nói. “Nhưng họ đã không rời khỏi đây. Không ai rời khỏi đây”.
LỜI KẾT
Chúa ơi, bà ấy hẳn sẽ rất tự hào về tôi
– Nhân viên phục vụ James Ramsey nghĩ về phản ứng của mẹ ông với sự nghiệp ở Nhà Trắng của ông nếu như bà còn sống để chứng kiến đều ấy.
Lúc này đang là 37°C, một ngày hè nhớp nháp khác ở Washington. Một toán thợ làm cửa sổ đang làm ngoài giờ trong căn nhà ba phòng ngủ bằng gạch đỏ ở đông bắc Washington. Phục vụ James Jeffries đã mua nó năm 1979. Ông vội vàng xin lỗi tôi về các bức tường sơn dở trong phòng khách. “Tất cả lẽ ra phải sơn xong trước Lễ Phục sinh, nhưng vì tôi đã 72 tuổi nên rất chóng mệt”.
Mặc cho chiếc tivi ầm ĩ phát kênh lịch sử ở phía sau và cậu cháu trai tuổi teen gầy nhẳng và cao lêu khêu hết đi ra rồi lại đi vào (“lúc nhỏ, tôi trông giống hệt nó”), chúng tôi ngồi xuống chiếc bàn chưng đầy hình ảnh con cháu ông Jeffries, và ông kể cho tôi nghe là làm thế nào Nhà Trắng cho nhiều thế hệ trong gia đình ông làm việc nơi ấy. Bằng một giọng chậm rãi và thận trọng, ông giải thích mình có quan hệ hay quen biết thế nào với phần lớn những người điều hành tư dinh tổng thống trong 50 năm qua. Tên của ông có thể là Jeffries nhưng ông thuộc dòng họ Ficklin, một dòng họ có chín người làm việc ở đó.
Ngay cả những nhân viên không thực sự liên quan đến Jeffries cũng trở thành gia đình ông. Ông xem Eugene Allen, người đảm nhiệm vị trí quản lý tổ phục vụ sau khi cậu John Ficklin của ông về hưu, “không khác cậu của mình”. Ông cũng xem bác gác cửa Preston Bruce, sống cùng khu nhà với dì ông, như một người cha.
“Ông West và ông Scouten chỉ đứng phía sau chỉ đạo, còn cậu tôi (John) mới là người điều hành Nhà Trắng”, Jeffries nói, tự hào về nhóm nhân viên Mỹ gốc Phi đầy gắn bó đã giúp Nhà Trắng vận hành. Gia đình ông truyền tai nhau rằng chính bác Charles của ông là người đã giúp cả gia đình có chỗ đứng trong Nhà Trắng bằng cách gây ấn tượng cho Tổng thống Franklin Roosevelt trong thời gian ông ấy làm việc trên một tàu chiến hải quân. Khi ông Roosevelt nhờ bác Charles lên sơ đồ bố trí bàn ăn, ông ấy đã ngồi xuống và vẽ thật thành thạo. Vài năm sau, bác Charles được yêu cầu đến Nhà Trắng phỏng vấn.
Jeffries nối tiếp truyền thống gia đình và bắt đầu làm việc ở Nhà Trắng năm 1959, khi ông mới 17 tuổi, ông nhớ chính xác ngày ông đặt chân vào Nhà Trắng là ngày 25 tháng 1. Hiện con trai ông cũng đang làm nhân viên phục vụ ở đó, và mặc dù bản thân ông cũng đã bước qua tuổi nghỉ hưu nhưng ông vẫn làm việc bán thời gian ở “ngôi nhà” đó với số tiền thù lao 25 đô một giờ. “Mọi người ở đó giúp tôi rất nhiều. Họ không để tôi mang vác đồ nặng”.
Jeffries là một chứng nhân của lịch sử Mỹ. Ông là một trong số rất ít người còn sống và nhớ mình từng làm việc ra sao trong Nhà Trắng dưới thời Kennedy, khi một thế hệ mới và một nền công nghệ mới đưa tư dinh tổng thống vào các phòng khách nước Mỹ. Ông cũng nhớ đến một nét tính cách của vị đệ nhất phu nhân mà ít người nhìn thấy.
“Tôi nhớ thỉnh thoảng phu nhân Kennedy lại xuống dưới nhà nhờ chúng tôi đem một cái ghế lên trên lầu hoặc đưa một cái ghế ra khỏi phòng, nhưng chỉ 15, 20 phút sau, bà ấy lại muốn chúng tôi đưa nó trở về chỗ cũ”. Ông cười phá lên. “Chỉ có tôi và một người khác chịu làm chuyện ấy vì lúc đó chúng tôi còn trẻ, còn mấy người lớn tuổi thì trốn mất dạng. Tôi không bao giờ trốn, chỉ muốn ở đó với bà ấy. Tôi đến đứng cạnh bà ấy và làm mọi việc bà nhờ. Nếu tôi có thể một mình khiêng cái món đồ đó thì tôi sẽ làm”.
Nhiều năm sau, vào một buổi tối, Jeffries được lệnh ngưng rửa chén đĩa để lên tầng hai phụ Phu nhân Betty Ford làm gì đó. Khi ông lên lầu thì nghe bà Ford hỏi “Mấy anh phục vụ đâu?”. Hóa ra bà ấy đang tìm các nhân viên phục vụ toàn thời gian.
“Họ mới vừa xuống nhà. Tôi có thể đi gọi họ đến cho bà”, ông vừa nói vừa bấm nút thang máy để đi xuống dưới nhà.
“Cái tôi cần là một người đàn ông”, bà nôn nóng gọi với theo từ Phòng ăn Gia đình.
Ông nháy mắt cười với tôi. “Lúc đó tôi tự hỏi mình là ‘Đợi đã, vị phu nhân này đang tính lôi mình vào chuyện gì thế nhỉ?’ Thế là tôi tò mò đi xem bà ấy muốn gì, và điều mà bà ấy muốn là đưa cái tivi 19 inch vào phòng ngủ!”
Như nhiều đồng nghiệp khác, Jeffries nhớ rất rõ về sự tử tế của Tổng thống George H. W. Bush: “Ông Bush già cho tôi cái cảm giác mình là một con người, giống như ông ấy. Tôi rất mừng là mình đã xem bóng đá, bởi ngay vào ngày hôm sau hoặc một ngày nào đó trong tuần sau trận bóng, lúc tôi lên tầng hai hỏi ông ấy và các vị khách khác uống gì thì ông ấy chợt hỏi tôi nghĩ gì về trận bóng. Tôi cho ông ấy biết ý kiến của tôi. Sau đó tôi nhận lệnh đặt nước và quay trở xuống lầu. Khi tôi trở lên, ông ấy lại tiếp tục nói với tôi một chuyện khác về trận bóng”.
Jeffries cũng nhớ đến lần ông phục vụ nước cho vợ chồng nhà Clinton và bạn bè họ vào tối hôm trước ngày diễn ra bữa tiệc tối. Trên đường đến phòng Solarium, ông gặp Tổng thống Clinton. Trông ông ấy rất mệt mỏi. Clinton tâm sự với ông rằng “nếu vị khách này không phải là Robert Mitchum thì tối nay tôi đã chẳng thèm xuống nhà tiếp ông ta”.
Jeffries thấy thương cho vị tổng thống mệt mỏi. “Ngài cần nghỉ một chút”, ông nói với Clinton.
Những người trân trọng ký ức cá nhân về gia đình Kennedy, gia đình Johnson, gia đình Nixon, Ford, Carter và Reagan, đang dần dần biến mất khỏi cuộc sống. Những hồi ức của họ cho ta cái nhìn hiếm hoi và riêng tư về những nhân vật đặc trưng cho nước Mỹ. Trong những khoảnh khắc rất ngắn ngủi của cuộc sống, những người giúp việc ấy đã thoáng thấy được những khía cạnh rất người ở các tổng thống và đệ nhất phu nhân, những tính cách thực mà không dễ có ai bên ngoài các bức tường Nhà Trắng hay biết. Giống như bất kỳ ai khác, các lãnh tụ Hoa Kỳ cũng có giây phút lưỡng lự, mệt mỏi, thất vọng, hân hoan.
Bây giờ, các cựu nhân viên Nhà Trắng chỉ còn gặp nhau ở các buổi tiệc chia tay để về nghỉ hưu hay trong tang lễ. Họ cố giữ liên lạc với nhau qua Facebook và e-mail, tuy nhiên vì những người lớn tuổi không thường xuyên vào mạng nên nhiều khi các đồng nghiệp của họ qua đời đã lâu, họ mới biết tin.
Trong lúc trò chuyện, tôi ghét phải nhìn thấy vẻ đau đớn thoảng qua trên gương mặt họ khi nghe tôi vô tình nhắc đến sự ra đi của một người đồng nghiệp mà không biết rằng họ chưa biết chuyện ấy.
Nhưng cũng có những lúc rất vui. Trong quá trình đi tìm thông tin cho cuốn sách này, thỉnh thoảng tôi lại có dịp giúp những người mất liên lạc lâu năm kết nối lại với nhau. Tôi cho Quản lý Chris Emery địa chỉ e-mail của Tổng Quản lý bộ phận phòng Christine Limerick, còn Nelson Pierce thì xin tôi số điện thoại của Bill Hamilton.
“Tôi phải gọi cho thằng cha gà tây đó mới được”, James nói, mắt lấp lánh, khi hỏi xin tôi số điện thoại của ông bạn già đầu bếp Mesnier.
Những người giúp việc trong dinh kiên nhẫn đứng nhìn từng đệ nhất gia đình mới đến học cách sống bên trong Nhà Trắng. Họ biết rằng không trước thì sau lòng trung thành và sự kín đáo của họ cũng sẽ trở thành cứu cánh giúp tổng thống và đệ nhất phu nhân vượt qua mọi khó khăn. Dù gì thì họ cũng là những người duy nhất ở Nhà Trắng không có một động cơ nào khác ngoài việc hầu hạ gia đình tổng thống và giúp họ thấy thoải mái.
Đệ nhất gia đình và các trợ lý của họ sở dĩ trông cậy vào những người giúp việc trong dinh, một phần vì những người này biết rất rõ cuộc sống các đệ nhất gia đình. “Nói về chuyện này – không chỉ với tôi mà còn với phần lớn những người giúp việc ở đó – thì không có một thành tích nào trong quá khứ, không một kiến thức hay kỹ năng nào học được nơi làm việc” có thể giúp ta làm được việc này, cựu trợ lý Reggie Love của ông Obama nói. “Ta đơn giản là bắt đầu mọi thứ lại từ đầu mà không có bất kỳ sách vở nào có thể hướng dẫn”.
Mặc dù đã nghiên cứu kỹ các tài liệu lưu trữ trước khi tiến hành phỏng vấn, tôi vẫn không biết mình có thể trông đợi điều gì khi bắt đầu ngồi xuống nói chuyện với những người giúp việc trong Nhà Trắng, mặc dù rất nhiều người trong số họ mở rộng cửa đón chào tôi. Tôi vui mừng phát hiện ra rằng thứ ta thấy cũng là thứ ta nhận được. Phần lớn bọn họ không chỉ trích hay cạnh tranh nhau như những người hoạt động chính trị ở Washington. Việc họ mong muốn đóng góp một vai trò nhỏ nhưng cần thiết cho hoạt động của nền dân chủ Mỹ là chân thật. Họ có thể không tác động đến chính sách nhà nước, nhưng những công việc họ làm có thể nói là quan trọng chẳng kém công việc của những viên chức do tổng thống bổ nhiệm. Không có họ, Nhà Trắng sẽ là một nơi không thể sống.
Từ việc chuẩn bị những bữa ăn yên tĩnh cho đệ nhất gia đình cho đến việc phục vụ các nhân vật nổi tiếng cùng các nghị sĩ Quốc hội và những nhà lãnh đạo thế giới, họ luôn thể hiện đẳng cấp phục vụ hàng đầu nước Mỹ đi cùng phong cách ngoại giao của riêng họ. Và những nỗ lực đó của họ, dù âm thầm hay lộ liễu, cũng đều được những người đàn ông và những phụ nữ quyền lực nhất trái đất đền đáp lại bằng tất cả tấm lòng biết ơn.
ĐÔ ĐỐC STEPHEN Rochon trở thành tổng quản lý năm 2007, chỉ vài tháng trước khi Nữ hoàng Elizabeth Đệ nhị thực hiện một trong số rất nhiều chuyến viếng thăm cấp quốc gia của bà. “Chúng tôi khiến Nữ hoàng ấn tượng đến mức bà mời tôi cùng một vài nhân viên của tôi đến Điện Buckingham để xem người Anh phục vụ ra sao”.
Khi Rochon đến điện Buckingham, ông ngạc nhiên khi nhìn thấy Nữ hoàng băng qua ‘Tầng Khánh tiết của họ’ để đến thẳng chỗ ông đứng. “Anh là ai thế, cậu thanh niên?”, bà hỏi ông.
“Thưa Nữ hoàng, tôi là Đô đốc Rochon, tổng quản lý của Nhà Trắng”, ông nói với bà. “Chúng tôi đã tiếp đãi bà trong chuyến viếng thăm cấp nhà nước của bà”.
Gương mặt Nữ hoàng bừng sáng. Bà vẫy tay gọi chồng, “Ồ, Philip, Philip, ông lại đây nhanh lên”.
Một trong những nguyên nhân khiến các nhân viên Nhà Trắng để lại ấn tượng khó phai với Nữ hoàng là vì họ khiến mọi thứ trông thật dễ dàng tự nhiên. “Cách họ thoăn thoắt đi lại để phục vụ món ăn vừa nhẹ nhàng vừa uyển chuyển. Ta cầm món ăn trên tay mà không biết đã lấy nó từ lúc nào”, Sheila Rabb Weidenfeld, thư ký báo chí của bà Betty Ford nhớ lần đầu bà dự quốc yến. “Mọi thứ đều hoàn hảo và mọi người đều ăn mặc đẹp đẽ lịch sự, bởi họ là một phần của cái khung cảnh sang trọng đẹp đẽ nhất thế giới đó”.
Mỗi khi có khủng hoảng hay bi kịch xảy ra, họ luôn cư xử đúng đắn. Trong cuộc khủng hoảng con tin ở Iran, “họ đặc biệt rất ân cần chu đáo trong quãng thời gian đó vì họ quan tâm đến chúng tôi”, đệ nhất phu nhân Rosalynn Carter nói với tôi.
Những người giúp việc trong dinh hoàn toàn hòa mình vào cái gia đình mà họ hầu hạ. Họ làm hầu hết mọi chuyện cho gia đình đó, dù có phải thường xuyên hy sinh đời sống hôn nhân, thời gian bên cạnh con cái và như trường hợp đau buồn của Freddie Mayfield, cả cuộc sống của mình. “Họ là những kẻ lừa đảo tài ba nhất thế giới vì đã khiến chính quyền nào cũng cảm thấy như họ thương yêu mình nhất”, Luci Baines Johnson pha trò.
Mà đúng vậy thật. Nhân viên phục vụ James Ramsey biết lúc nào Tổng thống George W. Bush cần được cười thoải mái. Tổng Quản lý Bộ phận Phòng Christine Limerick biết kềm lại khi bị bà Nancy Reagan nhiếc móc. Còn đầu bếp bánh ngọt Roland Mesnier biết chính xác khi nào bà Hillary Clinton cần ăn một lát bánh kem moka bà ưa thích nhất.
Ramsey trông không có vẻ gì là cận kề cái chết lúc tôi phỏng vấn ông. Ông biết mình đang bệnh – căn bệnh ung thư ruột kết đã di căn đến gan – và liên tục thoái thác lời mời gặp nhau ăn trưa dai dẳng của tôi: “Cô rất dễ thương, con gái à. Chúng ta sẽ gặp mà. Tôi sẽ gọi cho cô”.
Ông luôn tỏ ra vui tính và không bao giờ để lộ ra là mình đang rất đau. Ông luôn lạc quan trước cuộc sống và tương lai khi sôi nổi mô tả các buổi hẹn hò ăn tối cùng cô bạn gái mới và khi nói về chuyến đi Las Vegas mà ông hy vọng sẽ thực hiện với Quản lý Kho Bill Hamilton.
Sau này tôi được con gái ông cho biết là ông đã chuyển sang điều trị bằng thảo dược để chống lại căn bệnh ung thư đang tàn phá cơ thể.
Khi ông qua đời ngày 19 tháng 2 năm 2014, những gia đình tổng thống mà ông rất mực yêu thương đã đáp trả tấm chân tình của ông: bà Laura Bush đọc điếu văn tại lễ tang ông trước sự chứng kiến của hàng chục đồng nghiệp của ông ở Nhà Trắng, thư của Tổng thống Obama và Tổng thống Clinton cũng được đọc lớn ở đám tang ông. Những người khiêng quan tài ông đều là bạn bè làm phục vụ ở Nhà Trắng.
“Ông ấy luôn biết khi nào chúng tôi cần ông ấy pha trò để giúp chúng tôi lên tinh thần, một điều rất thường xảy ra ở Nhà Trắng”, Tổng thống Clinton viết. “Cả Hillary, Chelsea và tôi đều giữ những ký ức về Ramsey. Những câu chuyện ông ấy kể và những ý kiến của ông ấy về các sự kiện từ chính trị đến thể thao đều rất hài hước”. Vợ chồng nhà Obama thì khen ngợi “lòng yêu nước kiên định” của ông.
“James đã chứng kiến những thời khắc vĩ đại của lịch sử dân tộc”, họ nói.
Bà Laura Bush dẫn cả con gái Jenna đến dự lễ tang ông Ramsey, tổ chức tại Nhà thờ Baptist Trinidad ở đông bắc Washington, D.C. Tại đây, cựu đệ nhất phu nhân đã đọc điếu văn ca ngợi người nhân viên phục vụ đã nhiều lần giúp chồng bà cảm thấy nhẹ nhàng hơn vào những lúc thế giới xung quanh ông tưởng như đang đổ sụp. (“Bà ấy làm tôi muốn khóc”, cô con gái Valerie của Ramsey nói). Ramsey không chỉ là một nhân viên, Phu nhân Bush nói, mà còn là một người bạn tận tụy. Và như mọi đồng nghiệp khác, ông sở hữu đức tính trung thành cùng tấm lòng tận tụy và sự kín đáo, những phẩm chất không thể có từ sự học hỏi.
Bà nói với giáo đoàn rằng Ramsey đã làm nhiều việc hơn là nuông chiều các tổng thống, “ông ấy làm họ cười, khích lệ họ, giúp cuộc sống của họ vui vẻ hơn”. Thay mặt toàn thể gia đình Bush, bà nói, “chúng tôi cảm ơn Thượng đế đã cho James Ramsey hiện diện trong cuộc đời chúng tôi”.
Với Ramsey, việc phục vụ các đệ nhất gia đình nước Mỹ giúp cuộc sống của ông có ý nghĩa và có mục đích hơn. Khi tôi hỏi ông cảm thấy thế nào khi lần đầu tiên đặt chân vào dinh tổng thống nhiều thập niên trước, ông nói bằng giọng nuối tiếc: “Ôi trời, tôi vui lắm”.
LỜI CẢM ƠN
Sau khi Charlotte, con gái của chúng tôi ra đời được vài tuần, tôi đi ra ngoài nhà để hứng chút không khí trong lành và nhân tiện kiểm tra thùng thư. Tôi ngạc nhiên khi thấy một phong thư trắng cứng, ở phần địa chỉ người gửi ghi 1600 Đại lộ Pennsylvania. Bên trong là bức thư ngắn chúc mừng bé Charlie ra đời ký tên vợ chồng Obama. Dạng thư này thường chỉ gởi cho các VIP cùng bạn bè và gia đình các nhân viên Nhà Trắng, vì thế tôi không đoán ra là ai đã làm chuyện này cho chúng tôi. Không phải vì tôi không quen ai chịu cất công làm việc này, mà bởi vì có quá nhiều người chu đáo để tôi lựa chọn.
Trong quá trình tìm kiếm thông tin cho cuốn sách, tôi đã phỏng vấn trên một trăm người, bao gồm các nhân viên giúp việc cho Nhà Trắng, các trợ lý tổng thống và các thành viên của các đệ nhất gia đình, và rất nhiều người trong số họ vô cùng tốt bụng. Cuối cùng, tôi thu hẹp phạm vi lựa chọn của mình lại và đi đến kết luận rằng người gởi thơ cho tôi là cựu quản lý kho Bill Hamilton, người bắt đầu sự nghiệp trong tòa nhà hành pháp dưới thời Tổng thống Eisenhower. Khi tôi gọi điện cảm ơn ông, Hamilton nói ông “xin lỗi vì đã không gởi cho cô sớm hơn”. Đó chính là phong cách của họ. Họ dành cả sự nghiệp để chăm sóc đệ nhất gia đình và không hề thuộc nhóm tinh hoa vị kỷ của thành phố này. Trên thực tế, họ dường như vẫn tiếp tục làm công việc chăm sóc chuyên nghiệp cho các gia đình trong suốt phần đời còn lại của họ.
Quyển sách này đưa tôi vào một cuộc hành trình khởi đầu vào tháng 10 năm 2012, khi tôi đang ngày đêm bận bịu chăm sóc Graham, cậu nhóc mới sinh của vợ chồng chúng tôi. Mắt đờ đẫn vì buồn ngủ, tôi bắt đầu xem bộ phim truyền hình nhiều tập Downton Abbey và dần dần bị hút vào mối quan hệ phiền toái giữa hai nhóm người khác hẳn nhau về mọi mặt mặc dù họ sống sát cạnh nhau trong cùng một không gian vật lý. Tôi lập tức nhớ đến bữa ăn trưa thân mật của cánh phóng viên chúng tôi với đệ nhất phu nhân Michelle Obama. Tôi nhớ đến những bình hoa tươi thắm cùng tiếng cụng ly champagne ngay giữa ban ngày – với một phóng viên thường chỉ gặm bánh mì trong cái văn phòng bé xíu nằm dưới tầng hầm Nhà Trắng thì điều này quả thực rất xa hoa. Nhưng trên hết, tôi nhớ đến người phục vụ lặng lẽ ra vào phòng ăn.
Tôi sắp xếp để gặp mặt những con người đã giúp vận hành tòa dinh thự ấy và rất bất ngờ khi nghe được những chuyện không ai tưởng tượng nổi. Tôi đã may mắn phỏng vấn được những gia nhân từng chứng kiến nét tinh nghịch của Jackie Kennedy khi bà đang thư giãn trong khu nhà riêng của gia đình. Tôi cũng phỏng vấn được người thợ điện ở Nhà Trắng đã đi cùng Tổng thống Richard Nixon từ Phòng Bầu dục về tư dinh sau khi tổng thống tuyên bố từ chức.
Tất cả những việc này sẽ không thành hiện thực nếu không có sự giúp đỡ của các nhân viên ở tư dinh tổng thống, nhiều người trong số họ đã mở rộng cửa nhà và mở rộng tấm lòng để đón tiếp tôi. Đó là Christine Limerick, Lynwood Westray, Skip Allen, Betty Finney, Bob Scanlan, Bill Hamilton, James Jeffries, Roland Mesnier, Nelson Pierce, Frank Ruta, Cletus Clark, Stephen Rochon, Bill Cliber, Linsey Little, Wendy Elsasser, Chris Emery, Ronn Payne, James Hall, Wilson Jerman, Worthington White, Gary Walters, Betty Monkman, Mary Prince, Walter Scheib, Vincent Contee, Milton Frame, John Moeller, Jim Ketchum, Tony Savoy, Ivaniz Silva, Nancy Mitchell, Providencia Paredes, Ann Amernick, Pierre Chambrin, Alvie Paschall, và Herman Thompson. Bên cạnh đó, Margaret Arrington cũng chia sẻ những câu chuyện về Reds, người chồng quá cố của bà; và Charles Allen kể chuyện về cha anh, ông Eugen, bằng tất cả sự thương yêu. Tôi đặc biệt cảm ơn James Ramsey, người có nụ cười tỏa sáng khắp căn phòng. Tôi rất trân trọng quãng thời gian ở cạnh ông ấy.
Công việc này chắc chắn sẽ không thể thực hiện nếu không có sự giúp đỡ của Howard Yoon, đại diện của tôi. Ngay từ đầu, Howard đã rất tin tưởng tôi và có mặt trên từng cây số trong suốt quá trình này. Không chỉ là một đại diện tài ba, anh còn là một người bạn tốt đã cho tôi rất nhiều lời khuyên sáng suốt trong suốt các năm qua. Tôi cũng rất cảm ơn Gail Ross, một người vô cùng nổi trội, và Dara Kaye, một thành viên không thể thiếu của văn phòng đại lý Ross Yoon. Phương châm của họ là “Sách thay đổi cuộc đời”. Vâng, chắc chắn họ đã thay đổi cuộc đời tôi và tôi rất biết ơn họ về điều đó.
Tôi rất vui được làm việc với anh Cal Morgan giỏi giang của Nhà Xuất bản HarperCollins. Những chỉnh sửa của anh đã giúp bản thảo sống động và rõ ràng hơn. Và tôi cảm ơn cô bạn tài năng Emily Cunningham đã bỏ rất nhiều sức lực vào dự án này và giúp nó trở nên hoàn hảo nhất có thể. Tôi cũng rất biết ơn sự hỗ trợ của một người có tầm nhìn xa như Jonathan Burnham, và sự hướng dẫn của biên tập viên đầu tiên của tôi, anh Tim Duggan, người lan truyền sự say mê đề tài này cho rất nhiều người. Cảm ơn cô, Robin Bilardello đã thiết kế bìa sách vượt qua sự mong đợi của tôi, và cảm ơn Beth Silfin đã cho lời khuyên về mặt chuyên môn.
Tôi cũng xin cảm ơn Brooke, chồng tôi, người tôi luôn mong muốn nhìn thấy nhiều hơn mỗi ngày và khiến cuộc đời tôi rất đỗi ngọt ngào, và những đứa con tuyệt vời của chúng tôi, Graham và Charlotte, vì đã khiến chúng tôi vô cùng hạnh phúc. Tôi cũng cảm ơn mẹ tôi, Valerie, người phụ nữ khôn khéo đằm thắm nhất tôi từng biết. Bà cũng là một biên tập vô cùng tài năng đã giúp tôi sắp xếp các câu chuyện và thể hiện suy nghĩ của mình. Tôi cũng cảm ơn người cha tuyệt vời của tôi, Christopher. Ông là tấm gương tôi luôn noi theo, là người đem lại sự tự tin cho tôi và em gái Kelly của tôi. Kelly, chị thật vui khi nhìn thấy em lớn lên thành một phụ nữ thông minh tốt bụng. Và xin cảm ơn Nancy Brower (còn gọi là Mom Mom), đại gia đình của vợ chồng chúng tôi, cùng với Mini và Elizabeth. Tôi vẫn luôn ao ước chúng tôi có nhiều thời gian hơn với Bill Brower, một người đàn ông tốt, một người cha vĩ đại, một Pop Pop yêu dấu.
Những đệ nhất phu nhân mà tôi phỏng vấn mong muốn giúp tôi hiểu rõ hơn về những người đã giúp cuộc sống họ dễ thở hơn trong Nhà Trắng. Tôi rất cảm kích họ đã dành thời gian cho tôi và biết ơn họ đã giúp tôi nhìn thấu bên trong sự việc với tư cách là những người sống trong Nhà Trắng. Bà Laura Bush nói với tôi về nỗi kinh hoàng ngày 11 tháng 9 và quá trình hồi phục của bà với các nhân viên. (“Ta không chọc ghẹo những người mình không thích. Ta chỉ chọc ghẹo những người mình thích... Họ chọc ghẹo lại tôi, và tôi thấy mình xứng đáng được như thế”). Bà Rosalynn Carter khen ngợi các nhân viên đã giúp gia đình bà thấy thoải mái hơn trong cuộc khủng hoảng con tin ở Iran kéo dài 444 ngày căng thẳng. Bà có vẻ thực sự cảm động trước sự ân cần tử tế của họ đối với bà. Tricia Nixon, Lucy và Lynda Johnson, Steve và Susan Ford, và Ron Reagan cho tôi biết cuộc sống trong cái “nhà tù trắng thú vị đó” thực sự như thế nào.
Tôi cũng rất thích nói chuyện với các cựu thư ký xã hội Amy, Zantzinger, Desirée Rogers, Julianna Smoot và Bess Abell, đồng thời đánh giá cao sự giúp đỡ của Sally McDonough, Kaki Hockersmith, Melissa Montgomery, Deanna Congileo, và Wren Powell. Xin cám ơn các trợ lý tổng thống Anita Dunn, Reggie Love, Katie Johnson, Katie McCormick Lelyveld, Reid Cherlin, Adam Frankel, Julianna Smoot, Andy Card và Anita McBride đã giúp tôi hiểu rõ mối quan hệ giữa các nhân viên làm việc trong guồng máy chính trị và những người giúp việc ở tư dinh. Tôi xin cảm ơn Pete William, người đoạt giải Emmy, đã giúp chụp ảnh bìa cho cuốn sách của tôi và làm tôi cười suốt trong quá trình chụp ảnh. Tôi cũng biết ơn Phòng Mỹ thuật Nhà Trắng, Hiệp hội Lịch sử Nhà Trắng, cùng các nhân viên làm việc tại Thư viện và Bảo tàng Tổng thống John F. Kennedy, Thư viện và Bảo tàng tổng thống Lyndon Baines Johnson, Thư viện và Bảo tàng Nixon, Quỹ Tài trợ Richard Nixon, Thư viện Tổng thống Gerald R. Ford, Thư viện và Bảo tàng Tổng thống Jimmy Carter, Thư viện và Bảo tàng Tổng thống Ronald Reagan, Thư viện và Bảo tàng Tổng thống George Bush, Thư viện và Bảo tàng Tổng thống William J. Clinton, và Thư viện và Bảo tàng Tổng thống George W. Bush.
Sau nhiều tháng trời phỏng vấn và tìm kiếm thông tin, tôi đã được Gayle Tzemach Lemmon cho một lời khuyên đơn giản và cần thiết, đó là “Ngồi xuống và bắt đầu viết!” Là một tác giả có nhiều sách bán chạy và một nhà báo tài năng, Gayle luôn chịu khó lắng nghe và góp ý cho tôi trong suốt cuộc hành trình này. Tôi cũng xin cảm ơn Christina Warner và Annie Kate Pons. Annie, tôi cũng rất thích “đồng hành với cô trong cuộc sống” mặc dù chúng ta có quan điểm ngược nhau.

Tôi vô cùng biết ơn nhà báo chuyên mục Al Hunt của hãng truyền thông Bloomberg đã cho tôi cơ hội để đời khi chỉ định tôi phụ trách đưa tin về Nhà Trắng, và cũng rất biết ơn các biên tập viên Joe Sobczyk, Steve Komarow, Jeanne Cummings, và Mark Silva đã giúp tôi khám phá niềm vui đưa tin.
Kate Andersen Brower
Nguyễn Thị Kim Anh dịch
Theo http://vnthuquan.net/



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét