Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026

Nhà Trắng - Những chuyện chưa kể 1

Nhà Trắng - Những
chuyện chưa kể 1

Giới thiệu
Về tác phẩm
Các đệ nhất gia đình của Mỹ nằm trong số những nhân vật có cuộc sống công tư đan xen nhau chặt chẽ nhất thế giới. Từ sự bí ẩn bao trùm cặp đôi Kennedy quyến rũ, đến vụ lùm xùm xoay quanh Bill và Hillary Clinton trong thời gian tổng thống bị buộc tội, đến sự hiện diện lịch sử mang tính đột phá của Barack và Michelle Obama trong Nhà Trắng, mỗi một chính quyền mới đưa đến Nhà Trắng những cặp vợ chồng độc nhất vô nhị – cùng hàng loạt thách thức mới cho những con người rất mực trung thành và luôn chăm chỉ phục vụ họ: các nhân viên Nhà Trắng.
Không ai hiểu tổng thống Hoa Kỳ và gia đình hơn những người giúp vận hành Nhà Trắng mỗi ngày. Và đây là lần đầu tiên những câu chuyện về quãng thời gian năm mươi năm trong Nhà Trắng dưới mười đời tổng thống cùng vô số những cuộc khủng hoảng lớn nhỏ được kể lại trong Nhà Trắng – Những chuyện chưa kể. Bỏ ra hàng trăm tiếng đồng hồ để phỏng vấn các nhân viên phục vụ, hầu phòng, bếp trưởng, thợ cắm hoa, gác cửa và các nhân viên khác, cùng các cựu đệ nhất phu nhân và các thành viên khác của gia đình tổng thống, Kate Andersen Brower – người đưa tin về nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng thống Obama – cho ta một cái nhìn về một nhóm người chuyên sắp đặt những bữa tiệc tối thịnh soạn, luôn đứng chờ sẵn ở các cuộc họp với các quan chức cao cấp nước ngoài, chăm sóc cho các con nhỏ của tổng thống và đệ nhất phu nhân, và thỏa mãn mọi nhu cầu dù cao siêu hay lố bịch của vợ chồng tổng thống.
Qua giọng kể của chính các nhân viên làm việc trong tư dinh tổng thống, đôi lúc khôi hài châm biếm, thường xuyên chan chứa yêu thương, luôn hòa nhã và đầy tự hào, tôi xin giới thiệu cùng độc giả các câu chuyện của:
• Vợ chồng Tổng thống Kennedy – từ khoảnh khắc thân mật gần gũi trong đời sống hôn nhân của họ đến quãng thời gian hỗn loạn sau ngày Tổng thống Kennedy bị ám sát.
• Vợ chồng Tổng thống Johnson – nêu bật câu chuyện kỳ quái về nỗi ám ảnh của Tổng thống Johnson với hệ thống vòi sen trong Nhà Trắng.
• Vợ chồng Tổng thống Nixon – kể cả sự xuất hiện bất ngờ của ông Richard Nixon trong căn bếp Nhà Trắng buổi sáng ngày ông từ chức.
• Vợ chồng Tổng thống Reagan – từ đám cháy gây nguy hiểm cho ông Ronald Reagan ở cuối nhiệm kỳ hai của ông đến việc bà Nancy kiểm soát mọi chi tiết từ lớn đến bé trong Nhà Trắng.
• Vợ chồng Tổng thống Clinton – cặp vợ chồng khiến các gia nhân đứng ngồi không yên với những trận cãi vã ác liệt cùng những màn chén bay đĩa bay của họ.
• Vợ chồng Tổng thống Obama – cặp vợ chồng cùng khiêu vũ theo một bài hát của nữ ca sĩ da đen Mary J. Blige trong đêm đầu tiên dọn vào Nhà Trắng.
NHẬN XÉT
“Người Mỹ hiếm khi biết rõ cuộc sống bên trong Nhà Trắng thực sự ra sao. Những hình ảnh sinh động và gần gũi mà Kate Andersen Brower miêu tả về việc chăm sóc các gia đình tổng thống vì thế sẽ rất hấp dẫn các độc giả. Dù các bạn say mê chính trị hay lịch sử, hay là một fan trung thành của bộ phim truyền hình nhiều tập Downton Abbey, quyển sách này cũng sẽ giúp các bạn hiểu thêm về các vị tổng thống ở khía cạnh rất người của họ, điều mà cánh truyền thông chúng thường bỏ quên” – CHUCK TODD, người dẫn chương trình Meet the Press
.“Bằng văn phong tuyệt mỹ, Nhà Trắng - Những chuyện chưa kể cho ta một cái nhìn lôi cuốn có một không hai về những gì thực sự diễn ra bên trong cái thế giới riêng tư của Nhà Trắng. Một cuốn sách chắc chắn phải đọc!” – NORAH O’DONNELL, đồng dẫn chương trình truyền hình CBS This morning, cựu phóng viên chính đưa tin về Nhà Trắng cho CBS News.
TÁC GIẢ
KATE ANDERSEN BROWER có bốn năm đưa tin về chính quyền Obama cho hãng tin Bloomberg. Trước đây chị từng làm việc cho CBS News ở New York và Fox News ở Washington, D.C. Chị viết bài cho Washington Post, Bloomberg Businessweek và Washingtonian. Chị sống ở ngoại ô Washington, D.C., cùng chồng và hai con nhỏ. Chị có tài khoản Twitter tại địa chỉ: @katebrower.
NGUỒN THÔNG TIN VÀ CHÚ GIẢI CÁC CHƯƠNG
Để tìm tư liệu cho Nhà Trắng – Những chuyện chưa kể, tôi đã có những cuộc nói chuyện thẳng thắn với hơn một trăm người từng sống trong Nhà Trắng. Tôi đã phỏng vấn ba cựu đệ nhất phu nhân và con cái của bốn tổng thống, cùng với rất nhiều trợ lý của tổng thống. Nhưng những chi tiết tiết lộ nhiều điều nhất đến từ những cuộc nói chuyện của tôi với khoảng năm mươi nhân viên từng làm việc trong tư dinh và một nhân viên hiện vẫn đang làm ở đó, phần lớn bọn họ chưa từng nói với ai về những trải nghiệm làm việc của họ cho các đệ nhất gia đình nước Mỹ, đồng thời cũng chưa từng được phóng viên nào khác tiếp cận trước đây. Nhiều cuộc nói chuyện diễn ra trực diện. Trong một vài trường hợp hiếm hoi, người cung cấp thông tin yêu cầu không nêu danh tính vì tính nhạy cảm của vấn đề và tôi đã tôn trọng mong muốn của họ. Bên cạnh những câu chuyện nghe trực tiếp về cuộc sống trong dinh tổng thống, tôi còn thu thập nhiều thông tin từ các tài liệu lưu trữ, bao gồm sử liệu truyền miệng ở các thư viện tổng thống, hồi ký của các nhân viên trong tư dinh và của các trợ lý chính trị, và tiểu sử của nhiều người.
DÀN NHÂN VẬT CHÍNH
• James W.F. “Skip” Allen: Quản lý 1979–2004
• Reds Arrington: Thợ ống nước, tổ trưởng Tổ Nước 1946–1979
• Preston Bruce: Nhân viên gác cửa, 1953–1977
• Traphes Bryant: Thợ điện, giữ chó, 1951–1973
• Cletus Clark: Thợ sơn, 1969–2008
• William “Bill” Cliber: Thợ điện, 1963–1990; Tổ trưởng Tổ Điện, 1990–2004
• Wendy Elsasser: Nhân viên cắm hoa, 1985–2007
• Chris Emery: Quản lý, 1987–1994
• Betty Finney: Nhân viên làm phòng, 1993–2007
• James Hall: Nhân viên phục vụ bán thời gian, 1963–2007
• William “Bill” Hamilton: Nhân viên quét dọn, Quản lý kho, 1958–2013
• James Jeffries: Phụ bếp, Nhân viên phục vụ bán thời gian, từ 1959 đến nay
• Wilson Jerman: Nhân viên quét dọn, Nhân viên phục vụ, 1957-1993; Nhân viên gác cửa bán thời gian, 2003–2010
• Jim Ketchum: Quản lý Mỹ thuật, 1961–1963; Tổng Quản lý Mỹ thuật, 1963–1970
• Christine Limerick: Quản lý bộ phận phòng, 1979–2008 (gián đoạn từ 1986 đến 1991)
• Linsey Little: Nhân viên quét dọn, 1979–2005
• Betty Monkman: Quản lý Mỹ thuật, 1967–1997; Tổng Quản lý Mỹ thuật, 1997–2002
• Ronn Payne: Nhân viên cắm hoa, 1973–1996
• Nelson Pierce: Quản lý, 1961–1987
• Mary Prince: Bảo mẫu của Amy Carter
• James Ramsey: Nhân viên phục vụ, từ cuối chính quyền tổng thống Carter đến 2010
• Stephen Rochon: Tổng Quản lý, 2007–2011
• Frank Ruta: Bếp trưởng, 1979–1991 (gián đoạn từ 1987 đến 1988)
• Tony Savoy: Nhân viên/Giám sát Điều hành, 1984–2013
• Bob Scanlan: Nhân viên cắm hoa, 1998–2010
• Walter Scheib: Quản bếp, 1994–2005
• Rex Scouten: Quản lý, 1957–1969; Tổng Quản lý, 1969–1986; Tổng Quản lý Mỹ thuật, 1986–1997
• Ivaniz Silva: Hầu phòng, 1985–2008
• Herman Thompson: Nhân viên phục vụ bán thời gian, 1960–1993
• Gary Walters: Quản lý, 1976–1986; Tổng Quản lý, 198–2007
• J.B. West: Quản lý, 1941–1957; Tổng Quản lý, 1957–1969
• Lynwood Westray: Nhân viên phục vụ bán thời gian, 1962–1994
• Worthington White: Quản lý, 1980–2012
• Zephyr Wright: Đầu bếp riêng của gia đình Johnson
LỜI NÓI ĐẦU
Sống trong Nhà Trắng giống như đứng trên sân khấu, nơi bi hài kịch đan xen lẫn lộn. Và chúng tôi, những người giúp việc của Nhà Trắng, là dàn nhân viên hỗ trợ
– Lillian Rogers Parks, phục vụ phòng kiêm thợ may của Nhà Trắng, 1929–1961, Ba mươi năm giúp việc cho Nhà Trắng.
Sống trong Nhà Trắng giống như đứng trên sân khấu, nơi bi hài kịch đan xen lẫn lộn. Và chúng tôi, những người giúp việc của Nhà Trắng, là dàn nhân viên hỗ trợ – Lillian Rogers Parks, phục vụ phòng kiêm thợ may của Nhà Trắng, 1929 – 1961, Ba mươi năm giúp việc cho Nhà Trắng.
Preston Bruce đang ngồi nghe radio trong căn bếp ở Washington D.C trong lúc ăn trưa với vợ – bữa ăn trưa duy nhất họ cùng ăn với nhau mỗi ngày – thì đột nhiên người phát thanh viên ngắt ngang chương trình để thông báo một tin khẩn cấp: tổng thống bị bắn.
Ông lập tức chồm người khỏi ghế, đầu gối đập vào bàn ăn làm mấy cái đĩa văng xuống đất vỡ nát. Khoảng một phút sau, một thông báo khác phát ra với giọng kích động hơn: tổng thống bị bắn. Tổng thống đã được xác nhận là bị bắn. Hiện chưa ai biết tình trạng ông ấy thế nào.
Không thể thế được, Bruce nghĩ thầm, ông khoác vội chiếc áo, quên không lấy cái mũ trong tháng 11 lộng gió, và nhảy lên xe lao vút ra đường. Sau lưng ông, vợ ông, bà Virginia đứng chết lặng trong bếp giữa những mảnh đĩa vỡ tung tóe trên nền nhà.
Người đàn ông điềm tĩnh thường ngày đang luồn lách giữa dòng xe cộ trên phố với tốc độ 80 km/giờ – “Tôi không biết mình đang phóng rất nhanh,” sau này ông kể lại – thì đột nhiên nghe tiếng còi cảnh sát vang lên sau lưng. Một sĩ quan cảnh sát đi mô tô cập sát xe ông ở góc đường Sixteenth Street và Columbia Road và nhảy xuống tiến về phía cửa xe.
“Sao gấp thế?” Anh ta chẳng có vẻ như muốn nghe biện minh.
“Anh sĩ quan, tôi làm việc ở Nhà Trắng,” Bruce nói không kịp thở. “Tổng thống bị bắn rồi.”
Tiếp đó là một khoảng lặng bàng hoàng. Không phải ai cũng nghe được tin chấn động này. “Đi nào,” viên sĩ quan cảnh sát nói giọng hoảng hốt và nhảy lên mô tô. “Theo tôi!” Hôm đó Bruce vinh dự được cảnh sát hộ tống đến tận cổng tây nam Nhà Trắng.
Hầu hết những người Mỹ sống năm 1963 đều nhớ chính xác họ đang ở đâu khi nghe tin Tổng thống Kennedy bị bắn. Thế nhưng tin này đặc biệt tác động đến Bruce bởi với ông, Kennedy không chỉ là tổng thống mà còn là ông chủ của ông và hơn thế nữa, một người bạn. Preston Bruce là người gác cửa ở Nhà Trắng được mọi người yêu mến. Chỉ mới sáng hôm trước, ông còn tháp tùng tổng thống cùng đệ nhất phu nhân và John John, con trai họ, đến chiếc trực thăng của thủy quân lục chiến ở Bãi cỏ phía nam (South Lawn) để từ đó bay đến chỗ chiếc Air Force One ở Căn cứ Không quân Andrews. Sau khi rời máy bay, vợ chồng Kennedy sẽ tham gia chiến dịch tranh cử định mệnh kéo dài hai ngày tại năm thành phố của bang Texas. (Bé John–John, chỉ bốn ngày nữa là 3 tuổi, rất thích đi trực thăng cùng bố mẹ. Từ trước đến giờ, nó chỉ đến căn cứ Andrews là xa nhất, vì thế khi nghe nói mình không được cùng bố mẹ đi Dallas, cu cậu òa khóc nức nở. Đó là lần cuối cùng cậu bé nhìn thấy bố.)
“Tôi giao ông phụ trách mọi việc ở đây đấy,” Tổng thống Kennedy hét to với Bruce trong tiếng động cơ trực thăng ầm ĩ ở Bãi cỏ phía nam. “Ông cứ quản lý mọi thứ theo ý ông.”
Là con cháu những người nô lệ và con trai một tá điền ở South Carolina, Bruce giờ đây đã trở thành một thành viên danh dự của gia đình Kennedy, ông vẫn cùng xem phim với họ ở rạp chiếu phim của Nhà Trắng hay đứng nhìn tổng thống nô đùa với con. Ông nhăn mặt khi thấy Kennedy va đầu vào bàn trong lúc rượt đuổi bé John–John đang chạy lững chững quanh Phòng Bầu dục. (Bàn làm việc của JFK là một trong những chỗ ẩn nấp ưa thích nhất của John–John. Thỉnh thoảng Bruce lại phải lôi cậu bé ra khỏi gầm bàn trước khi bắt đầu một cuộc họp quan trọng.) Là một người trạc hơn năm mươi với dáng vóc cao gầy cùng mái tóc và cặp ria trắng sáng, Bruce thường mặc bộ complet đen gắn nơ trắng để đi làm mỗi ngày, ông tận tụy với công việc – bao gồm cả nhiệm vụ đưa các thực khách bỡ ngỡ ở các quốc yến [**] đến chỗ ngồi – đến mức tự tay thiết kế một chiếc bàn mang biệt danh “Bàn của Bruce” với mặt bàn hơi dốc để xếp các bảng tên lên đó dễ dàng hơn. Phát minh này của ông được sử dụng suốt mấy chục năm liền.
[**] (Dạ tiệc chiêu đãi cấp quốc gia.)
Ngày 22 tháng 11, Bruce chạy vội đến Nhà Trắng nhưng lòng vẫn chưa dám tin. “Cho đến hôm nay, tôi vẫn còn cảm nhận cú sốc lan truyền khắp cơ thể,” ông hồi tưởng lại.
Sau khi đến tòa hành pháp, ông chỉ nghĩ được một điều duy nhất, đó là “phải chờ phu nhân Kennedy về,” ông cùng các nhân viên khác xúm quanh chiếc tivi trong Phòng Quản lý. Tin tức trên tivi xác nhận những gì tất cả các nhân viên Nhà Trắng đang lo sợ. Nhiều năm sau ông viết: “Hầu hết chúng tôi vẫn luôn ý thức rằng bất cứ một vị tổng thống nào rời khỏi tòa nhà 18 mẫu Anh này cũng có thể quay về trong tình trạng giống Tổng thống Kennedy.”
Khi bà Jackie Kennedy trở về Nhà Trắng lúc 4 giờ sáng trong chiếc áo vest hồng đẫm máu và bám chặt vào tay cậu em chồng Robert F. Kennedy, mặt bà trắng bệch và bình tĩnh lạ thường. “Bruce, ông đợi chúng tôi về à,” giọng bà dịu dàng như đang cố trấn an ông. “Vâng, bà biết tôi sẽ ở đây đợi bà mà, thưa phu nhân,” ông trả lời.
Sau khi nhanh chóng hoàn thành một việc ở Phòng Đông (East Room), ông đưa đệ nhất phu nhân và ngài bộ trưởng tư pháp Hoa Kỳ lên khu nhà riêng ở tầng hai. Trong khoảnh khắc yên tĩnh bên trong thang máy cạnh hai người thân thương nhất của Tổng thống JFK, Bruce cuối cùng đã bật khóc. Jackie và Robert cũng ôm nhau khóc theo cho đến khi lên đến tầng hai. Vào đến phòng mình, Jackie nói với Providencia Paredes, cô hầu phòng riêng và cũng là người tín cẩn của bà: “Tôi nghĩ chúng có thể đã giết cả tôi.” Cuối cùng bà cũng cởi chiếc áo thấm đẫm máu chồng ra để đi tắm.
Kiệt sức, suốt thời gian còn lại của đêm hôm đó, Bruce chỉ ngồi thẳng lưng trên ghế trong căn phòng bé tí ở tầng ba. Ông cởi áo khoác và nơ ra, sau đó mở nút cổ áo chiếc sơ mi trắng hồ cứng, nhưng không để bản thân gục ngã vì mệt mỏi. “Tôi không muốn đi nằm vì sợ lỡ phu nhân Kennedy cần đến tôi.” Lòng trung thành của ông sau đó đã được đền đáp. Sau đám tang không lâu, đệ nhất phu nhân đem tặng ông chiếc cà vạt chồng bà đã đeo trên chuyến bay đi Dallas. “Tổng thống hẳn sẽ muốn ông giữ chiếc cà vạt này,” bà nói với ông (JFK đã thay cà vạt ngay trước khi bước vào chiếc xe được hộ tống, và chiếc cà vạt đó nằm trong túi áo khoác của ông khi ông bị bắn). Robert Kennedy cũng tháo đôi găng tay của ông ra đưa cho người bạn đau buồn: “Ông hãy giữ đôi găng này,” ông nói với Bruce, “và luôn nhớ rằng tôi đã đeo nó trong đám tang anh tôi.”
Mãi đến ngày 26 tháng 11, tức bốn ngày sau vụ ám sát, người gác cửa Nhà Trắng mới chịu rời nhiệm sở để quay về nhà với vợ. Sự tận tụy của Bruce đối với công việc và đối với đệ nhất gia đình có thể được xem là rất tuyệt vời, nhưng ta không thể trông chờ điều gì ít hơn từ những người làm việc trong tòa nhà này.
ÍT AI BIẾT về cuộc sống của các đệ nhất gia đình nước Mỹ. Sự riêng tư của họ được bảo vệ cẩn mật bởi các trợ lý khu Cánh Tây (West Wing) cùng một đội ngũ khoảng một trăm người nằm ngoài tầm mắt mọi người: các nhân viên làm việc ở tư dinh Nhà Trắng. Những người giúp việc này dành phần lớn thời gian của họ trên tầng hai và tầng ba của tòa nhà rộng khoảng năm ngàn mốt mét vuông này. Đây là nơi mà các đệ nhất gia đình có thể thoát khỏi áp lực nặng nề của văn phòng, dù chỉ là vài giờ quý báu, để ăn tối hay xem tivi. Trong khi khách tham quan đang di chuyển dưới tầng một và những thợ ảnh nghiệp dư đang tập trung ở hàng rào vòng ngoài để quay phim bằng điện thoại di động, thì các đệ nhất gia đình tự do tận hưởng cuộc sống riêng tư của họ.
Không giống hàng tá trợ lý chính trị hăng hái trả lời phỏng vấn và phát hành hồi ký sau khi rời Nhà Trắng, phần lớn các cô hầu phòng, các nhân viên phục vụ cùng các đầu bếp, quản lý, kỹ sư, thợ điện, thợ ống nước, thợ mộc và thợ cắm hoa đang điều hành tòa nhà nổi tiếng nhất nước Mỹ này không muốn ai biết đến họ. Một nhân viên nói với tôi rằng các đồng nghiệp của ông có chung “niềm đam mê ẩn danh”. Kết quả là cái thế giới ngầm của các nhân viên Nhà Trắng vẫn luôn tràn ngập bí ẩn.
Lần đầu tiên tôi để ý đến cái thế giới này là khi, với tư cách thành viên đoàn báo chí Nhà Trắng, tôi được mời đến dự bữa tiệc trưa do bà Michelle Obama tổ chức để thết đãi nhóm phóng viên chưa đến chục người trong căn phòng ăn ấm cúng ở Tầng Khánh tiết [**] của Nhà Trắng. Trở thành Phòng ăn Gia đình cũ (Old Family Dining Room) sau khi bà Jackie Kennedy xây thêm một phòng ăn riêng trên tầng hai, nơi các đệ nhất gia đình sau này thường hay sử dụng hơn, căn phòng này nằm khuất phía bên kia Phòng Quốc yến (State Dining Room), nơi tôi từng đến đưa tin cho hàng chục sự kiện. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy khu vực riêng phía bên này và thú thực là tôi cũng không biết căn phòng này tồn tại. Lối đi vào nhiều khu vực trong tòa nhà bị giới hạn nghiêm ngặt. Các phóng viên và thợ ảnh đến đưa tin ở các sự kiện chính thức – như tiệc chiêu đãi và tiệc tối ở Phòng Đông (East Room) – đều bị cách ly khỏi các khách mời Nhà Trắng bằng hàng rào dây (Hiện nay các sự kiện này thường được tổ chức trong một gian nhà trắng nguy nga ở Bãi cỏ phía nam). Và để chuẩn bị cho những bữa tiệc đông đúc này, Nhà Trắng thường tăng cường số nhân viên bằng cách thuê thêm nhân viên phục vụ bán thời gian và nhân viên dự bị.
[**] (State Floor – Nơi tổ chức các buổi chiêu đãi và đại tiệc cấp quốc gia.)
Chính vì thế mà vào ngày đến dự bữa trưa do đệ nhất phu nhân chiêu đãi, tôi đã ngạc nhiên khi được đưa vào căn phòng ăn tương đối nhỏ nhưng ấm cúng này, và được một quý ông ăn mặc lịch lãm phục vụ rượu champagne trên chiếc khay bạc sáng loáng. Thực đơn hôm đó có món xà lách rau xanh thu hoạch từ vườn rau Nhà Trắng cùng món cá mú rán trình bày đẹp mắt trên đĩa sứ Truman. Mỗi món ăn đều được dọn lên bởi một nhân viên phục vụ rõ ràng là rất thân thiết với đệ nhất phu nhân. Tất cả những hình ảnh đó thực sự rất giống trong Downton Abbey, tôi nghĩ. Trải nghiệm này khiến tôi tự hỏi không biết những người đó là ai mà thân thiết với gia đình quyền lực nhất thế giới đến thế.
Là một phóng viên chuyên đưa tin về Nhà Trắng cho Bloomberg News, tôi làm việc ở một trong nhiều căn phòng bé tí xíu không cửa sổ nằm phía dưới Phòng Họp báo James S. Brady. Cái không gian chật chội dưới tầng hầm này luôn quay cuồng với những phóng viên tất bật tới lui để đưa tin sự kiện, nói chuyện với người cung cấp thông tin, rồi vội vã quay về máy tính để gọt giũa câu chuyện. Trong suốt thời gian đưa tin về Nhà Trắng, tôi đã chu du khắp thế giới trên hai chiếc Air Force I và Air Force II (chuyên cơ của phó tổng thống) để mài giũa lại các báo cáo đến từ Mông Cổ, Nhật Bản, Ba Lan, Pháp, Bồ Đào Nha, Trung Quốc và Colombia, nhưng câu chuyện hấp dẫn nhất hóa ra lại nằm ngay trước mắt tôi mỗi ngày. Đó là câu chuyện về những người đàn ông và phụ nữ chăm sóc cho đệ nhất gia đình, những người rất mực trung thành với trụ sở của các tổng thống Mỹ. Mỗi một nhân viên phục vụ trong Nhà Trắng đều là chứng nhân lịch sử và đều có những câu chuyện lạ thường để chia sẻ.
Nhà Trắng là biểu tượng mang ảnh hưởng lớn và lâu dài nhất của tổng thống. Tất cả 132 căn phòng, 147 cửa sổ, 28 lò sưởi, 8 cầu thang và 3 thang máy được trải ra trên 6 tầng lầu – cộng thêm 2 tầng lửng không nhìn thấy – của một tòa nhà mà nhìn bên ngoài trông như chỉ 3 tầng. Tòa nhà này là nơi sinh sống của mỗi lần chỉ một gia đình danh tiếng, nhưng chính các thành viên của dàn nhân viên hỗ trợ tòa nhà mới là những người sống trường kỳ ở đó.
Chính các nhân viên làm việc trong dinh đã đưa tính nhân văn và giá trị của Thế giới cũ vào cái không gian rộng mười tám mẫu Anh nổi tiếng nhất thế giới này. Thức dậy từ tờ mờ sáng, họ hy sinh đời sống riêng tư để phục vụ cho đệ nhất gia đình với thái độ trang nghiêm hòa nhã đáng nể. Với họ, làm việc trong Nhà Trắng dù ở bất kỳ vị trí nào cũng là vinh dự lớn lao. Các cuộc bầu cử có thể đem đến những gương mặt mới, nhưng họ thì vẫn tiếp tục ở lại từ chính quyền này sang chính quyền khác và luôn cẩn thận giữ kín tư tưởng chính trị của mình. Công việc của họ chỉ có một, đó là giúp cho các đệ nhất gia đình nước Mỹ thấy thoải mái trong ngôi nhà công tư lẫn lộn của đất nước này.
Trong quá trình làm việc, nhiều người trong số những người đàn ông và phụ nữ đó từng chứng kiến các tổng thống và gia đình họ trong những khoảnh khắc đau thương nhất, nhưng chỉ vỏn vẹn vài người phát hành hồi ký để kể về quãng thời gian họ làm việc trong Nhà Trắng. Cuốn sách này đánh dấu việc lần đầu tiên rất nhiều người chia sẻ chuyện họ cống hiến cuộc đời của họ ra sao cho sự nghiệp chăm sóc các đệ nhất gia đình. Hồi ức của họ đi từ những hành động tử tế nhỏ nhặt nhất đến những cơn giận dữ và tuyệt vọng đậm chất riêng tư, từ những thói quen kỳ quặc và nhược điểm cá nhân đến những khoảnh khắc mà công việc hằng ngày của họ bị lấn át bởi những vui buồn của đất nước.
Từ chuyện nô đùa với bọn trẻ nhà Kennedy trong Phòng Bầu dục đến chuyện chứng kiến vị tổng thống Mỹ gốc Phi đầu tiên bước vào Nhà Trắng, từ chuyện bị bà Nancy Reagan bắt đặt trở lại 25 chiếc hộp nữ trang Limoge của bà về đúng chỗ cũ của từng chiếc sau khi nhấc ra lau chùi đến chuyện dành cho bà Hillary Clinton chút khoảnh khắc riêng tư khi chồng bà dính vào vụ bê bối tình dục và bị tố giác, các gia nhân đã chứng kiến những thăng trầm của các đệ nhất gia đình mà không ai khác có thể nhìn thấy.
Mặc dù chấp nhận kể cho tôi nghe những chuyên họ chưa từng kể, những người đã và đang làm việc ở dinh tổng thống vẫn tuân theo một quy tắc đạo đức lâu đời là kín tiếng và đặt việc bảo vệ sự riêng tư của các đệ nhất gia đình lên trên hết. Không giống phần lớn những người sống trong một tiểu bang bị ám ảnh bởi quyền lực như Washington D.C. và vẫn thường hay khoe nhau nơi mình làm việc ngay cả trước khi cho người khác biết tên, các nhân viên Nhà Trắng luôn tránh đề cập đến nghề nghiệp đặc biệt của họ. Họ thừa hưởng đạo lý này từ những thế hệ nhân viên đi trước, những người từng giữ kín chuyện Tổng thống Franklin Delano Roosevelt bại liệt bằng cách chỉ đưa khách vào phòng tiệc sau khi đã đặt ông ngồi sẵn trong đó và đưa xe lăn của ông ra khỏi tầm mắt mọi người – và đảm bảo rằng những câu chuyện lăng nhăng của Tổng thống John Fitzgerald Kennedy không bao giờ lọt ra khỏi cổng Nhà Trắng.
Do những người giúp việc trong dinh được đặc ân tiếp cận các bí mật này nên các trợ lý đương nhiệm ở Nhà Trắng không muốn họ nói chuyện với tôi. Một cựu nhân viên Nhà Trắng nói với tôi trong email rằng: “Tôi nghĩ rồi cô cũng thấy là bất cứ ai còn đang làm việc ở đó sẽ không muốn nói chuyện với cô vì họ không muốn mất việc. Vâng, đúng thế. Chúng tôi được huấn luyện để giữ những chuyện xảy ra trong Nhà Trắng ở lại với Nhà Trắng.”
Mặc dù lúc đầu một số người không muốn chia sẻ với tôi những gì họ từng trải qua ở nơi họ gọi là “nhà”, nhưng tất cả bọn họ đều rất tử tế lịch sự. Dù họ là người da trắng hay da đen, là nam hay nữ, là đầu bếp, thợ điện hay người hầu phòng, thì cả chục nhân viên đã hưu trí này cũng đều mời tôi ngồi xuống trò chuyện với họ ở chiếc bàn bếp hay trên chiếc ghế sofa phòng khách nhà họ (Lúc đó tôi đang mang thai bé thứ hai và không ngớt được họ ân cần hỏi han xem tôi có khỏe không, có muốn ăn gì không). Chẳng bao lâu sau, họ đã vui vẻ kể về hồi ức của họ trong suốt hàng chục năm làm việc cho nhiều đời tổng thống cùng gia đình họ. Nhiều người dường như đã quên mình từng có cuộc sống thật đặc biệt và chứng kiến những gì đi vào lịch sử. Tuy nhiên hồi ức của họ không phải lúc nào cũng nhất quán. Trong khi nhiều người nhớ về những gia đình mà họ hầu hạ bằng tất cả sự trìu mến thì những người khác lại kể những chuyện chẳng mấy hay ho về họ.
Làm họ chịu nói không phải lúc nào cũng dễ. Một số người chỉ mở lòng sau khi nghe tôi nhắc tên các đồng nghiệp đã được tôi phỏng vấn. Một số khác tỏ ra rất thận trọng cho đến khi chúng tôi trực tiếp gặp nhau. Giống như trường hợp của Tổ trưởng tổ điện William “Bill” Cliber, người đã kể cho tôi nghe nhiều câu chuyện hấp dẫn về Tổng thống Richard Nixon trong những ngày cuối cùng ở nhiệm sở, và trường hợp của Quản lý bộ phận phòng Christine Limerick, người đã kể về quyết định tạm thời nghỉ việc đầy đau lòng của bà chỉ vì không chịu nổi sự lăng mạ của một đệ nhất phu nhân nào đó.
Một số người như ông James Ramsey, nhân viên phục vụ được Tổng thống George W. Bush yêu mến nhất, thì lại chỉ muốn nói về những trải nghiệm tích cực của mình, ông thậm chí còn nói rằng ông sợ chính phủ sẽ lấy mất số tiền hưu mà ông làm việc cả đời để kiếm ra nếu như ông tiết lộ những chuyện không hay (mặc dù chẳng có dấu hiệu nào cho thấy chuyện này sẽ xảy ra). Ông thực sự rất yêu thương những gia đình ông từng phục vụ. ông mất năm 2014 nhưng tôi thấy mình rất may mắn quen biết ông cùng một số nhân viên khác, trong đó nhiều người đã qua đời trước khi có thể nhìn thấy những gì họ kể.
Tôi đã nói chuyện với những người làm việc ở Nhà Trắng trong thời kỳ được gọi là Camelot [**] – kể cả người đầu tiên nhận được tin Tổng thống Kennedy bị ám sát – cùng với các nhân viên phục vụ, nhân viên gác cửa và nhân viên cắm hoa làm việc cho gia đình Obama. Tôi đã nghe con cái các tổng thống kể chuyện họ lớn lên trong Nhà Trắng. Và tôi cũng từng chuyện trò cởi mở với các cựu đệ nhất phu nhân Rosalynn Carter, Barbara Bush và Laura Bush cùng nhiều trợ lý cấp cao của Nhà Trắng. Hầu hết mọi người đều nhiệt tình cho tôi biết về những người làm việc siêng năng và lặng lẽ phía sau hậu trường.
[**](Thời kỳ thịnh vượng dưới thời tổng thống Kennedy.)
Dù hy sinh và làm việc chăm chỉ đến đâu thì những người giúp việc trong dinh vẫn kiên trì lẩn tránh ánh đèn sân khấu – và không chỉ ở nghĩa bóng. “Theo luật bất thành văn thì chúng tôi phải ở trong hậu trường. Nếu nhìn thấy máy quay phim hay máy chụp hình, chúng tôi phải luồn trước lách sau để tránh né cho bằng được,” Quản lý James W.F. “Skip” Allen quả quyết. Những người giúp việc mà tôi phỏng vấn đều thể hiện sự thông minh pha lẫn nét tính cách khiến tôi càng muốn biết nhiều hơn về cuộc đời họ. Nhiều người trong số họ sở hữu tính hài hước pha chút châm biếm và thậm chí là ranh mãnh. Sau buổi phỏng vấn, bác phục vụ James Hall đã về hưu nhất định dẫn tôi băng ngang hành lang đông đúc của nhà hưu trí nơi ông ở với tốc độ rất chậm để tiễn tôi ra cửa. Ông công nhận mình làm thế không chỉ vì lịch sự mà còn vì muốn mọi người thấy ông đang đi cùng một phụ nữ trẻ. “Cứ như trong phim Peyton Place vậy!” ông phá lên cười.
Công việc tìm tòi nghiên cứu của tôi đã kéo tôi ra khỏi Washington cùng các vùng phụ cận. Nơi ông Allen lui về hưu trí là một trang trại rộng 550m2 mang phong cách kiến trúc của thế kỷ 19 ở Bedford, Pennsylvania. Chúng tôi vừa nhâm nhi món sandwich kẹp xà lách gà dưới cơn mưa phùn cạnh hồ bơi nhà ông vừa nghe ông kể về mối quan hệ thân thiết giữa tổng thống với các nhân viên (“chẳng có gì lạ nếu như một tổng thống biết ngày sinh nhật của ai đó”) và nói về gánh nặng của nghề làm tổng thống (“Cô thử kể tên một tổng thống bất kỳ xem. Không ai rời Nhà Trắng mà trông trẻ hơn khi họ bước vào.”)
Mặc dù không được ai để mắt đến trong các sự kiện long trọng và những chuyến viếng thăm cấp chính phủ nhưng những người giúp việc ở Nhà Trắng rất quan trọng với đời sống công và tư của tổng thống Mỹ. “Trên phương diện nào đó, tôi và gia đình tôi luôn xem họ như những đồng chủ nhà với tổng thống và đệ nhất phu nhân,” Tricia Nixon Cox, con gái lớn của Tổng thống Nixon nói với tôi. “Họ khiến mọi thứ trở nên rất đẹp đẽ ấm cúng.”
Đôi lúc họ còn giúp các cặp vợ chồng nổi tiếng nhất thế giới vượt qua cơn giông bão để bình tâm trở lại, dù chỉ vài giờ. Ở đỉnh điểm của vụ tai tiếng Monica Lewinsky, một số nhân viên cho tôi biết bà Hillary Clinton trông rất buồn phiền mệt mỏi. Họ nói họ thấy thương bà và biết bà đang rất cần một thứ mà bà không thể có lúc đó: sự riêng tư. Quản lý Worthington White nhớ mình đã cho hết khách tham quan Nhà Trắng ra về và tách các nhân viên mật vụ của đệ nhất phu nhân ra xa để bà có được vài giờ ngắn ngủi ngồi lặng lẽ bên hồ bơi. Có thể giúp được phu nhân Clinton “có ý nghĩa rất lớn đối với tôi”, ông White nói.

Những người làm việc trong dinh cũng thỉnh thoảng chứng kiến niềm hân hoan của một tổng thống mới nhậm chức khi đạt đến đỉnh cao chính trường Mỹ. Năm 2009, sau khi dạ tiệc khiêu vũ kết thúc, gia đình Obama bắt đầu chuyển vào sống đêm đầu tiên trong Nhà Trắng. Nhưng họ vẫn chưa sẵn sàng để ngủ lúc ông White lên lầu đưa một số giấy tờ lúc đêm khuya. Khi lên đến tầng hai, ông nghe được điều khác thường.
“Bất chợt tôi nghe tiếng Tổng thống Obama kêu lên, ‘Tôi làm được rồi, tôi làm được rồi. Tôi vào được đây rồi’, rồi tiếng nhạc đột nhiên vang lên và đó là bài hát của Mary J. Blige [**].” Các cư dân mới của tòa nhà đã cởi bỏ bộ y phục trang trọng của họ. Lúc này, tổng thống chỉ còn mặc sơ mi còn đệ nhất phu nhân mặc áo phông quần thể thao. Tổng thống tóm lấy đệ nhất phu nhân và “cả hai khiêu vũ với nhau” theo điệu hit “Real Love” của Blige, White nhớ lại. Người quản lý ngưng một lúc. “Đó là cảnh tượng đẹp đẽ đáng yêu nhất ta có thể tưởng tượng.”
[**](Một ca sĩ da đen.)
“Tôi cá là ông chưa bao giờ nhìn thấy điều gì giống vậy trong ngôi nhà này, phải không?” Obama hỏi khi vẫn đang khiêu vũ cùng vợ.
“Tôi thành thực thưa với ông rằng tôi chưa nghe ai chơi nhạc Mary J. Blige trên tầng này bao giờ,” White trả lời.
Ông không biết vợ chồng nhà Obama còn tiếp tục khiêu vũ ở đó bao lâu, nhưng rõ ràng là họ mong muốn tận hưởng giây phút này.
NHIỀU ĐỆ NHẤT gia đình nói rằng họ xem những người giúp việc ở tư dinh như những chủ nhân thực sự của Nhà Trắng. Tổng thống Carter gọi họ là “chất keo gắn kết ngôi nhà”. Một nhân viên gọi các đồng nghiệp của mình là “một nhóm người ăn uống ngủ nghỉ trong Nhà Trắng”.
Trong Nhà Trắng có khoảng 96 nhân viên làm việc toàn thời gian và 250 nhân viên bán thời gian, bao gồm các quản lý, bếp trưởng, nhân viên cắm hoa, nhân viên làm phòng, nhân viên phục vụ, nhân viên gác cửa, thợ sơn, thợ mộc, thợ điện, thợ ống nước, kỹ sư và nhân viên thư pháp. Ngoài ra còn có khoảng 24 nhân viên khác của Cục Quản lý Vườn Quốc gia (National Park Service) phụ trách chăm sóc khuôn viên Nhà Trắng. Những người làm việc trong tư dinh đều là công chức liên bang được tuyển dụng để phục vụ tổng thống.
Trung tâm hoạt động của các nhân viên trong Nhà Trắng là Phòng Quản lý nằm ở tầng Khánh tiết, gần lối vào Cửa Bắc (North Portico). Tổng Quản lý là người phụ trách nguồn ngân quỹ do Quốc hội cấp để vận hành tòa nhà, bao gồm tiền sưởi, tiền chiếu sáng, tiền máy lạnh và lương nhân viên. Năm 1941, khi số nhân viên phục vụ tòa nhà là 62 người thì ngân sách hằng năm chỉ có 152.000 đô la. Sau gần 75 năm, cùng với sự tăng vọt của số lượng nhân viên, chi phí điều hành, lạm phát và nhiều thứ khác, ngân sách hằng năm giờ đây đã là khoảng 13 triệu đô la (Đó là chưa tính số 750.000 đô la dành cho việc sửa chữa và trùng tu Nhà Trắng hằng năm).
Công việc của người tổng quản lý cũng giống như của một tổng giám đốc khách sạn, chỉ khác ở chỗ là phục vụ duy nhất một người. Vị tổng quản lý này kết hợp chặt chẽ với đệ nhất phu nhân để điều hành toàn bộ nhân viên trong tòa nhà. Dưới tổng quản lý là một phó quản lý cùng đội ngũ quản lý chịu trách nhiệm giám sát nhiều phòng ban khác nhau như Phòng Buồng hay Phòng Hoa. Các quản lý là những người mà khách tham quan Nhà Trắng, bao gồm cả khách mời riêng của gia đình tổng thống, liên hệ. Họ cũng là người ghi chép lại mọi hoạt động của tổng thống trong Nhà Trắng và những tư liệu này sẽ được chuyển vào các Thư viện Tổng thống để các thế hệ sau tham khảo.
Công việc của người tổng quản lý Nhà Trắng hiện nay phức tạp đến mức đòi hỏi ở người đảm trách vị trí này tính nghiêm khắc và kỷ luật của quân đội. Trước khi chuẩn Đô đốc Tuần duyên Hoa Kỳ Stephen Rochon được Tổng thống George W. Bush bổ nhiệm làm Tổng Quản lý năm 2007 – và trở thành người thứ tám, cũng là người Mỹ gốc Phi đầu tiên, chính thức đảm nhiệm vai trò này – ông phải trải qua tám đợt phỏng vấn và liên tục đi đi về về giữa trạm tuần duyên ở Norfolk, Virginia, và Nhà Trắng. Đợt phỏng vấn cuối cùng của ông là với tổng thống ở Phòng Bầu dục. Tổng thống Bush tự hỏi không biết ông Rochon có hài lòng với danh hiệu mới tưởng như khiêm tốn của ông không.
“Ông nghĩ gì về công việc tổng quản lý?” Ông Bush hỏi.
Rochon trả lời: “Thưa ngài tổng thống, có gì hay trong chức danh này?”
Rõ ràng là có rất nhiều thứ: Khi Rochon được tuyển vào làm, vị trí này được đặt tên lại là Tổng Quản lý Nhà Trắng và Giám đốc Dinh Hành chính, với một bản mô tả công việc rõ ràng ấn tượng hơn hẳn trước. Từ tháng 10 năm 2011, công việc này được đảm nhiệm bởi Angella Reid, cựu tổng giám đốc hệ thống khách sạn Ritz–Carlton ở Arlington, Virginia – người phụ nữ đầu tiên và người Mỹ gốc Phi thứ hai nắm giữ vị trí này.
Nhưng dù danh hiệu này có oai đến mấy thì mục đích của nó cũng chỉ đơn giản là cung cấp bất cứ thứ gì gia đình tổng thống cần. Với Tổng Quản lý J.B. West thì điều này bao gồm cả việc xới tung tòa nhà để tìm mấy con hamster thất lạc của cô bé Caroline Kennedy và huy động hàng chục chuyên gia chỉ để buộc họ đáp ứng yêu cầu cung cấp áp lực nước mạnh cho chiếc vòi sen của tổng thống. Bà Jacqueline Kennedy gọi West là “người đàn ông quyền lực nhất Washington sau tổng thống”.
Từ người giữ vị trí cao nhất cho đến người mới vào, để được tuyển vào Nhà Trắng không chỉ đơn giản là viết thư trả lời thông báo tuyển dụng hay xin việc qua mạng. “Công việc trong Nhà Trắng không được thông báo rộng rãi ra ngoài,” Tony Savoy, Trưởng phòng Điều hành Nhà Trắng cho đến năm 2013 cho biết. “Hầu như tất cả những người được tôi phỏng vấn đều do người thân trong gia đình hay bạn bè giới thiệu. Những người này phải chịu trách nhiệm về người họ đưa vào.” Hầu hết các nhân viên đều tiếp tục làm việc ở đó hàng chục năm, thậm chí hàng thế hệ. Gia đình Ficklin chẳng hạn, có đến chín người làm việc trong Nhà Trắng.
Mỗi chính quyền đều bổ nhiệm một thư ký phụ trách sự kiện xã hội riêng. Vị trí này trước đây vẫn rơi vào tay một người phụ nữ cho đến khi Jeremy Bernard được gia đình Obama bổ nhiệm năm 2011 để trở thành người đàn ông đầu tiên, cũng là người đồng tính công khai đầu tiên, giữ chức vụ thư ký phụ trách sự kiện xã hội. Thư ký xã hội hoạt động như một cầu nối giữa đệ nhất gia đình với những người giúp việc, và giữa khu Cánh Tây với khu Cánh Đông. Đây là vị trí liên quan đến việc giám sát việc sắp xếp chỗ ngồi cho khách dự tiệc và khách tham dự các sự kiện chính thức ở Nhà Trắng. Người thư ký phụ trách sự kiện xã hội sẽ phát bảng công tác cho các nhân viên trong tư dinh để họ biết có bao nhiêu người tham dự sự kiện và những phòng nào sẽ được sử dụng cho sự kiện này.
Người thư ký xã hội thường bị giằng co giữa hai phe bất đồng ý kiến. Letitia Baldridge, người phụ trách vị trí này dưới thời chính quyền Kennedy, từng viết cho tổng thống nhiều thư phản đối mái tóc dài của John John mà đệ nhất phu nhân rất thích. Khi tổng thống nhất định bắt con đi cắt tóc, bà Jackie Kennedy không thèm nói chuyện với Baldrige suốt ba ngày liền.
Các nhân viên làm việc trong dinh có thể giúp cho việc lèo lái vô số các bữa tiệc và việc tuân thủ các truyền thống lâu đời của người thư ký xã hội dễ dàng hơn rất nhiều. Julianna Smoot, thư ký xã hội của gia đình Obama từ năm 2010 đến năm 2011, tin rằng nhóm thư pháp viên Nhà Trắng làm việc trong căn phòng nhỏ dưới sảnh đối diện Phòng Xã hội ở Cánh Đông đã cứu cô thoát khỏi một trường hợp sơ suất trong thời gian cô làm việc ở đó. Vào một ngày cuối hè năm 2010, một trong ba thư pháp viên phụ trách phát hành một lượng lớn thiệp mời cho khách đến dự các sự kiện ở Nhà Trắng đến gặp cô và hỏi: “Cô đã nghĩ đến Giáng Sinh chưa?”
“Giáng sinh tháng 12 cơ mà. chúng ta có thể nói chuyện này sau khi gần đến đó được không?” Smoot nói. Cô nghĩ là còn lâu mới đến Giáng Sinh và từ đây đến đó có quá nhiều sự kiện cần tổ chức trước.
“Chúng ta hiện đã trễ so với kế hoạch,” nhân viên thư pháp lo lắng nói.
Smoot bàng hoàng. “Đúng là tôi không biết chuyện này,” sau này cô nhớ lại. “Lúc đó tôi rất hoảng sợ. Chúng tôi phải tìm chủ đề cho Giáng Sinh và viết thiệp Giáng Sinh. Tôi nghĩ sở dĩ chúng tôi có Giáng Sinh năm 2010 cũng là nhờ các nhân viên thư pháp.”
Người thư ký phụ trách sự kiện xã hội đôi khi còn phải đưa tin dữ đến các nhân viên thay cho đệ nhất phu nhân, vốn không muốn dính dáng đến chuyện này. Khi bà Laura Bush tuyển Lea Berman vào làm thư ký xã hội mới cho bà, Berman được giao nhiệm vụ kéo Quản bếp Walter Scheib ra riêng để nói ông ngưng phục vụ “món bình dân đó” cho gia đình tổng thống. Scheib nói ông chỉ làm đúng theo yêu cầu tổng thống, ngoài ra phần lớn những món ăn ông chuẩn bị không thể bị gọi là “món bình dân”. Mặc dù nó chẳng phải là món được tầng lớp trí thức ưa chuộng nhưng “Nếu tổng thống muốn ăn bánh mì phết bơ đậu phộng với mật ong thì chúng tôi sẽ làm món bánh mì bơ đậu phộng mật ong ngon nhất có thể,” Scheib nói. “Đó là món tổng thống muốn ăn, cô cẩn thận lời nói.” Khi Berman bắt đầu chìa cho ông xem những trang sách nấu ăn được nhiều người yêu thích của Martha Stewart, ông đã nổi điên lên.
Christine Limerick quản lý khoảng 20 nhân viên Phòng buồng từ năm 1979 đến năm 2008 (bà tạm ngưng công việc từ năm 1986 đến năm 1991), trong đó 6 người làm việc ở tầng hai và tầng ba, nơi gia đình tổng thống sinh sống (các cô hầu phòng cùng một người phụ trách hút bụi và di chuyển đồ vật nặng), 2 người chuyên việc giặt giũ, số còn lại phụ trách khu vực khách tham quan và Phòng Bầu dục (Đội ngũ này được bổ sung thêm nhân sự khi trong dinh có khách và có các sự kiện lớn như dạ tiệc ở cấp quốc gia).
Nhà Trắng cũng tuyển dụng một đội ngũ cắm hoa, dẫn đầu là một tổ trưởng tổ hoa. Nhiệm vụ của họ là mỗi ngày cắm sẵn các bình hoa trong Phòng Hoa. Căn phòng này nằm trong một không gian nhỏ ở Tầng Trệt, phía dưới con đường lái xe ra vào ở Cửa Bắc. Đội ngũ cắm hoa có trách nhiệm thiết kế những bình hoa độc nhất vô nhị phù hợp với sở thích của đệ nhất gia đình. Vào dịp lễ lạt và mỗi khi tổ chức yến tiệc, các nhân viên cắm hoa đều phải gọi thêm tình nguyện viên đến giúp. Nhà Obama thường nhờ các công ty tổ chức sự kiện ở Chicago đến giúp chuẩn bị quốc yến và trang trí lễ Giáng Sinh. Tổ trưởng tổ hoa chú trọng những nơi công chúng qua lại và giúp kiểm tra tất cả những bình hoa đã cắm. Các nhân viên Phòng Hoa cũng chia sẻ trách nhiệm trang trí toàn bộ tòa nhà phức hợp, từ khu nhà riêng ở tầng hai và tầng ba đến khu Cánh Tây, Cánh Đông và các phòng công cộng. Không một góc nào trong Nhà Trắng bị bỏ sót.
Reid Cherlin, phát ngôn viên của Tổng thống Obama, nhớ mình đã ngưỡng mộ công việc này đến thế nào. “Điều khiến tôi luôn ấn tượng chính là hoa. Buổi sáng khi bước vào khu Cánh Tây, nếu đến đúng lúc, ta sẽ được chứng kiến cảnh các nhân viên cắm hoa đang đưa các bình mẫu đơn tươi rói ra bài trí các nơi,” ông nói. “Có gì đó thật tuyệt vời trong việc đặt hoa tươi ở một nơi không nhất thiết có người qua lại. Trang trí hoa tươi trên bàn cà phê ở Phòng Bầu dục là một chuyện, nhưng đặt chúng ở những nơi chẳng ai tụ tập lại là chuyện khác.”
Bob Scanlan, làm việc ở Phòng Hoa từ năm 1998 đến năm 2010, cho biết tất cả mọi người đều chung tay làm việc để dinh tổng thống trông hoàn mỹ nhất có thể. “Nếu có một bông hoa rơi khỏi bình, chắc chắn người quản lý bộ phận phòng sẽ đến Phòng Hoa và nói: ‘Các anh hãy vào Phòng Đỏ (Red Room) mà xem, các cánh hoa rụng đầy trên bàn. Tôi đã nhặt nhưng có vẻ như chúng vẫn tiếp tục rơi rụng.’ Chúng tôi phải luôn xem chừng nhau bởi mỗi một chuyện xảy ra đều ảnh hưởng đến uy tín tất cả mọi người.”
Tòa nhà có 6 nhân viên phục vụ cố định, ngoài ra còn có hàng chục nhân viên phục vụ bán thời gian thường xuyên lui tới để giúp chuẩn bị quốc yến và tiệc chiêu đãi. Trong số 6 nhân viên phục vụ toàn thời gian, một người được chỉ định làm quản lý tổ phục vụ. Còn công việc chăm sóc nhu cầu riêng của tổng thống thì do những người hầu riêng của ông đảm nhiệm. Những người này lúc nào cũng túc trực cạnh tổng thống. Thường thì có hai người hầu riêng làm việc theo ca. Họ là người trong quân đội và phụ trách vấn đề y phục, chạy việc, đánh giày cho tổng thống, đồng thời cũng phải phối hợp làm việc với các cô hầu phòng. Ví dụ, nếu thấy giày của tổng thống cần đóng lại đế, người hầu riêng này phải thông báo cho một thành viên của tổ phòng buồng biết. Buổi sáng khi tổng thống đến Phòng Bầu dục, anh ta phải đứng ngay gần đó để phòng khi tổng thống cần thứ gì, cho dù đó là tách cà phê, bữa ăn sáng hay chỉ một viên kẹo ho. Khi tổng thống đi xa, anh ta phải sắp hành lý cho ông và ngồi vào đoàn xe hộ tống, trên tay cầm sẵn chiếc sơ mi hay chiếc cà vạt dự phòng để phòng khi vị tổng tư lệnh bị đổ thứ gì lên đó cần thay gấp.
Ngay ngày đầu tiên sau lễ nhậm chức, Tổng thống George W. Bush đã sốc khi gặp những người hầu riêng của ông. Bà Laura Bush cho biết: “Có hai thanh niên đến gặp George và tự giới thiệu họ là người hầu của ông ấy. Ông ấy vội vã đến gặp ba mình và nói: ‘Có hai cậu vừa đến gặp con và tự giới thiệu là người hầu riêng của con, nhưng con đâu cần người hầu. Con không muốn có người hầu.’” Tổng thống George H.W. Bush nói: ‘Rồi con sẽ quen thôi.’” Và đúng như thế thật. Sớm muộn gì, bất cứ tổng thống nào cũng sẽ biết ơn chuyện mình không phải lo lắng đến chuyện xếp dù chỉ là một chiếc sơ mi vào vali.
CÁC GIA NHÂN ở đó để giảm bớt gánh nặng cuộc sống hằng ngày cho gia đình tổng thống, vốn thường xuyên không có thời gian nấu nướng, mua sắm hay quét dọn. Họ cũng phục vụ trong điều kiện an ninh cao nhất có thể – có tòa nhà nào được cả một đội quân bắn tỉa liên tục canh chừng trên mái như tòa nhà này không? – và phải làm quen với một công việc rất ít sự riêng tư. Nhiều người nhận xét rằng sống trong Nhà Trắng không khác gì ở tù – mặc dù, như bà Michelle Obama ghi nhận, thì “đó là một nhà tù rất dễ chịu”.
Betty Finney (có biệt danh “Betty bé nhỏ” bởi dáng người nhỏ nhắn của bà), một người làm phòng lâu năm ở Nhà Trắng, nói rằng mức độ an ninh cao giúp những người làm việc ở đây và gia đình tổng thống thấy an toàn. “Ta biết các tay súng bắn tỉa đang ở trên đó bảo vệ cho ta, vậy cớ gì ta không thoải mái làm việc?” Bà nói. “Ta sẽ thắc mắc không biết họ ở đâu nếu không nhìn thấy bóng dáng họ.”
Tuy nhiên những sơ suất an ninh gần đây cho thấy tính dễ tổn thương của biểu tượng hùng mạnh của nền dân chủ Hoa Kỳ và của gia đình gọi nơi đó là nhà. Chúng cũng cho thấy công việc của một gia nhân đa dạng ra sao và mang tính quyết định thế nào. Là tổng thống da đen đầu tiên của Hoa Kỳ, ông Obama phải đương đầu với các mối đe dọa nhiều hơn gấp ba lần những người tiền nhiệm. Năm 2014, những người giúp việc đã hoảng kinh khi một người đàn ông mang dao trèo qua hàng rào Nhà Trắng, băng qua Bãi cỏ phía bắc (North Lawn) rồi tiến sâu vào tầng chính của dinh tổng thống, vượt qua mặt nhiều nhân viên mật vụ trước khi bị một nhân viên ngoài ca trực chặn lại. Trong một vụ đột nhập kinh hoàng khác xảy ra năm 2011, một cô hầu phòng đã vô tình trở thành một dạng thám tử tư khi là người đầu tiên nhìn thấy kính cửa sổ bị vỡ và một mảng bê tông trắng nằm trên sàn ban công Truman (Truman Balcony). Phát hiện của cô cho thấy có người đã bắn ít nhất bảy viên đạn vào tư dinh tổng thống vài ngày trước (Cơ quan mật vụ cũng biết về vụ nổ súng này nhưng lại nghĩ rằng các băng đảng đối nghịch bắn nhau chứ không nhắm vào tòa hành pháp). Các cô hầu phòng ở Nhà Trắng đều được huấn luyện để “biết cách quan sát” và báo cáo lại khi thấy có gì bất thường, Limerick nói, nhất là khi điều đó có thể gây nguy hiểm cho gia đình tổng thống.
Cuộc sống trong dinh tổng thống hẳn nhiên là chẳng thể bình thường cho dù các nhân viên có cố gắng cách mấy để tổng thống cùng gia đình được tự nhiên thoải mái. Ngoài những mối bận tâm về mặt an ninh, Nhà Trắng cũng không hề giống một căn hộ bình thường ở Mỹ. Ron, con trai của vợ chồng Reagan, kể cho tôi nghe chuyện hai vợ chồng anh đến thăm cha mẹ ở Nhà Trắng. Họ đến quá trễ để có thể ăn tối cùng gia đình nên quyết định sục sạo trong căn bếp trên khu nhà riêng để tìm ít trứng và cái chảo. Nghe tiếng sục sạo giữa khuya, một nhân viên phục vụ chạy vào với thái độ quan tâm.
“Tôi giúp gì được cho anh? Anh có muốn tôi gọi ai đó giúp anh không?”, anh ta sốt sắng hỏi.
“Không, cảm ơn,” Ron trả lời. “Nhưng anh có thể cho tôi biết trứng để ở đâu không? Với lại anh cất chảo ở đâu?”
Người nhân viên phục vụ tỏ vẻ không vui. Không một nhân viên nào ở đây mong muốn thấy mình vô dụng. Cuối cùng, Ron đành phải nhờ anh ta mang ít trứng ở căn bếp dưới Tầng Trệt lên vì trong bếp nhà Reagan không có trứng.
“Họ thực sự, thực sự rất muốn làm công việc họ đang làm. Họ không muốn trơ mắt đứng nhìn.”
Bà Hillary Clinton là một thành viên khác trong gia đình tổng thống muốn thỉnh thoảng có thể tự lo cho bản thân. Bà thiết kế một chỗ ăn trong căn bếp tầng hai để gia đình bà có thể cùng nhau dùng bữa một cách thoải mái.
“Tôi biết mình làm đúng khi Chelsea bị ốm tối hôm đó,” bà nói. Tối hôm đó, bà nhớ lại, người phục vụ đã như “phát cuồng” khi bà đích thân vào bếp khuấy trứng cho con.
“Ồ, chúng tôi sẽ đem trứng tráng dưới nhà lên cho bà,” người phục vụ nói.
“Không, tôi chỉ muốn làm ít trứng khuấy với sốt táo cho con tôi thôi. Đây là món mà tôi sẽ cho nó ăn nếu như chúng tôi đang sống ở bất cứ nơi nào khác trên đất Mỹ.”
Mặc dù gia đình tổng thống đôi khi cũng mong muốn quên đi sự uy nghi của tòa dinh thự, nhưng nhiều gia nhân nói họ tìm thấy sự khuây khỏa trong công việc của mình. “Nếu ta có một ngày không mấy vui với một thành viên gia đình tổng thống hay với nhân viên của họ, ta hãy bước ra khỏi đó và ngắm nhìn tòa nhà,” Limerick nói. “Nếu tôi nhìn thấy Nhà Trắng sáng đèn buổi tối, tôi sẽ nghĩ rằng Mình đang làm việc trong tòa nhà này và có phúc lắm mới được làm ở đây. Suy nghĩ này giúp tâm trí tôi thông thoáng hơn và tôi lại có thể tiếp tục đối phó với ngày hôm sau.”
NHÀ TRẮNG LÀ hiện thân vật chất của nền dân chủ Hoa Kỳ. Tòa nhà này tọa lạc trên một mảnh đất 18 mẫu Anh ở ngay trung tâm Washington D.C, nơi khuôn viên được Cục Quản lý vườn Quốc gia quanh năm chăm sóc. Tòa nhà chính, được biết đến dưới tên gọi chính thức là tòa hành pháp (executive mansion) được phân thành hai khu vực công và tư. Bề ngoài tòa nhà trông như chỉ ba tầng nhưng thiết kế của nó đánh lừa mọi người bởi nó thực sự có đến sáu tầng, tức thêm hai tầng lửng nhỏ nữa. Ngoài hai tầng dưới mặt đất ra thì có Tầng Trệt (Ground Floor), nơi đặt nhà bếp chính, Phòng Hoa và Phòng Mộc. Kế đến là Tầng Khánh tiết (State Floor), còn được gọi là tầng một. Rồi đến hai tầng lửng, nơi đặt văn phòng Tổng Quản lý và Bếp bánh ngọt. Còn tầng hai và tầng ba là khu nhà riêng của gia đình tổng thống. Bếp nhân viên và nhà kho nằm ở dưới tầng hầm. Ở Cánh Đông và Cánh Tây có những tầng bí mật, trong đó căn phòng nổi tiếng nhất là Phòng Tình huống (Situation Room) nằm bên dưới khu Cánh Tây. Căn phòng này đã trở thành biểu tượng quyền lực của tổng thống, nơi vị tổng tư lệnh tập hợp các cố vấn để giải quyết những khủng hoảng lớn và thực hiện những cuộc điện đàm không bị nghe lén với các lãnh đạo nước ngoài.
Các gia nhân có quán ăn tự phục vụ, phòng ăn, phòng khách và khu cất giữ đồ dùng riêng ở tầng lửng (thật ra là trọn cả một tầng) dưới tầng hầm bên dưới lối vào Cửa Bắc. Quán ăn tự phục vụ của họ nằm cách xa khu bếp chính Tầng Trệt, nơi chuẩn bị các bữa ăn cho đệ nhất gia đình và cho các sự kiện chính thức, bao gồm các bữa tiệc cấp quốc gia (Ngoài ra còn có một căn bếp nhỏ khác ở tầng hai của tòa nhà dành riêng cho các bữa ăn thân mật trong gia đình). Trước đây, những người giúp việc ở tư dinh vẫn thường tụ tập ở quán ăn tự phục vụ dưới tầng hầm để ăn uống, nói chuyện và nghỉ ngơi thư giãn. Suốt nhiều năm trời, họ đến đây để thưởng thức các món ăn truyền thống miền Nam nấu tại nhà, gồm gà chiên, bánh mì ngô với đậu tây, do một nhóm đầu bếp Mỹ gốc Phi phụ trách. Trong nhóm đầu bếp này có Miss Sally, một cô gái hay đội những chiếc nón cầu kỳ khi không phải làm việc và rất thích trêu chọc các đồng nghiệp và nhiều lúc còn chửi thề trong lúc phục vụ ăn uống cho họ. Mặc dù mới đây quán phải ngừng hoạt động để tiết kiệm chi phí – trước sự thất vọng của nhiều nhân viên – nhưng đây vẫn là nơi mọi người tụ tập, mang đồ ăn ở nhà đến ăn và tán gẫu.
Thỉnh thoảng các trợ lý chính trị hàng đầu cũng xuống đây ăn tối cùng những người giúp việc. Reggie Love, cựu trợ lý cá nhân của ông Obama – người được gọi là “tay chân” của Obama – thân với một số nhân viên phục vụ đến mức cuối tuần nào anh cũng vào bếp ăn chung với họ khi quán Navy Mess dành cho nhân viên khu Cánh Tây đóng cửa. Love rời Nhà Trắng năm 2011 nhưng mỗi khi lên thành phố, anh vẫn đến Nhà Trắng chơi bài với các nhân viên phục vụ.
CÁNH TÂY LÀ nơi đặt Phòng Bầu dục và văn phòng của các viên chức cao cấp của tổng thống. Cánh Đông là nơi đặt văn phòng của đệ nhất phu nhân và văn phòng của các nhân viên của bà. Thời gian đi bộ từ khu này sang khu kia bằng với thời gian băng ngang một sân bóng.
Mỗi sáng, các nhân viên phải trái thảm ra và đưa dây, cột đến khu vực khách tham quan ở Tầng Trệt và Tầng Khánh tiết. Mỗi chiều, sau khi hàng ngàn người ra về, họ phải quét dọn, mang các cây cột đi và cuộn thảm lại để nếu như gia đình tổng thống muốn xuống Tầng Khánh tiết thì nơi này sẽ trông không quá hào nhoáng như nơi dành cho khách tham quan.
“Cho đến khi tôi làm việc ở đó, tôi không thích việc tổng thống và đệ nhất phu nhân sống quá gần nơi du khách đến tham quan. Họ chỉ sống cách đó mỗi một tầng,” Katie Johnson, thư ký riêng của Tổng thống Obama từ năm 2009 đến 2011 nói. Trách nhiệm của cô là giúp tổng thống theo đúng lịch trình làm việc và phối hợp với đệ nhất phu nhân cùng các gia nhân. Cô cũng được chỉ định làm một công việc chẳng ai muốn làm là thông báo cho các nhân viên Cánh Đông biết hôm đó tổng thống có kịp về ăn tối với gia đình không.
Dinh thự này cho ta cảm giác “giống như một căn hộ rất rất cao cấp ở New York,” cô thẳng thắn nói. “Biết bao nhiêu chuyện xảy ra bên ngoài và xung quanh, nhưng một khi ta vào đến bên trong thì đó chính là nhà.”
Katie McCormick Lelyveld, thư ký báo chí thứ nhất của bà Michelle Obama thỉnh thoảng cũng đến làm việc trong văn phòng sát cạnh phòng chăm sóc sắc đẹp ở tầng hai. Trong trí nhớ của cô, các tầng đó yên tĩnh biết bao so với không gian ồn ào náo nhiệt bên dưới. “Có chưa đến mười hai người qua lại trong cái không gian riêng tư đó. Họ cố xem nơi đó như nhà riêng, ở đó, các đặc vụ không được đứng trong phòng mà phải đứng bên ngoài.”
“Nhà Trắng được xây theo quy mô con người,” Tricia Nixon Cox nói. Có một ngày, sau lễ tiếp đón quan khách ở Bãi cỏ phía nam, một hoàng thân Âu châu quay sang cô và nói: “Nơi này đúng thực là một ngôi nhà.” Ông ngạc nhiên trước quy mô nhỏ bé của tòa hành pháp khi so sánh nó với những lâu đài ông từng biết. “Với ông ấy thì tòa nhà này rất nhỏ!”
Tòa nhà này có thể không đồ sộ như một số lâu đài vua chúa nhưng không hề nhỏ. Sảnh vào rộng lớn ở phía bắc mở ra một bên là Phòng Đông (East Room) dài 24 mét, còn bên kia là Phòng Quốc yến, thường được sử dụng để tổ chức yến tiệc thiết đãi các nguyên thủ nước ngoài. Giữa hai phòng này còn có thêm ba phòng nữa là Phòng Lục (Green Room), Phòng Lam (Blue Room) và Phòng Đỏ (Red Room).
Các phòng riêng của gia đình tổng thống trên tầng hai và tầng ba được nối với một hành lang chính ở mỗi tầng, gồm 16 phòng và 6 phòng tắm ở tầng hai, 20 phòng và 9 phòng tắm ở tầng ba. Các cô hầu phòng và người hầu riêng của tổng thống nhiều khi cũng sống ở trên các tầng đó như con cái tổng thống. Phòng dành cho khách đến ngủ qua đêm không được đánh số trên cửa, nhưng vẫn được các nhân viên trong dinh gọi bằng số phòng như trong khách sạn. Hằng tuần, mỗi cô hầu phòng lại được phân công vệ sinh một số phòng. Tất cả bọn họ đều ghét phòng số 328.
Theo nhân viên phòng Betty Finney thì “Đây là căn phòng khó vệ sinh nhất!” Chiếc giường trong phòng 328 là loại giường có đầu giường và đuôi giường cao. “Rất khó làm. Mỗi khi làm giường, ta đều muốn nó trông gọn gàng ngăn nắp, nhưng với loại giường này thì rất khó làm gọn gàng. Tất cả chúng tôi đều biết mình phải làm chiếc giường đó, chỉ là chúng tôi sợ phải làm chiếc giường đó mà thôi.”
Ở mỗi tầng chính đều có một phòng hình bầu dục. Ở Tầng Trệt có Phòng Tiếp đón Phái đoàn Ngoại giao (Diplomatic Reception Room), nơi Tổng thống Roosevelt thường ngồi trò chuyện bên lò sưởi, cũng là nơi đệ nhất gia đình từ đó bước ra để đến khu nhà ở. Ở Tầng Khánh tiết có Phòng Lam nhìn xuống Bãi cỏ phía nam. Căn phòng này được đặc trưng bởi chùm đèn pha lê kiểu Pháp cùng những chiếc rèm xa-tanh xanh rực rỡ. Còn ở tầng hai thì có Phòng Bầu dục Vàng (Yellow Oval Room) dẫn ra Ban công Truman. Ban công này trước đây là một thư viện có lối đi riêng dẫn đến phòng làm việc của Tổng thống Lincoln, nay là Phòng ngủ Lincoln (Lincoln Bedroom). Phòng này được tạo ra để giúp Tổng thống Lincoln lẩn tránh đám đông đang chờ gặp ông ở phòng Hiệp ước (Treaty Room). Hiện nay, phòng này là phòng đọc sách của tổng thống. Mãi đến cả chục năm sau, khu Cánh Tây, nơi có Phòng Bầu dục, mới được xây lên. Cho tới lúc đó, dinh thự này được sử dụng làm nhà ở và văn phòng làm việc của tổng thống.
Tòa hành pháp có bốn cầu thang: cầu thang thứ nhất là cầu thang lớn (Grand Staircase) dẫn từ tầng Khánh tiết lên tầng hai. Cầu thang thứ hai nằm cạnh thang máy dành cho tổng thống và dẫn từ tầng hầm lên tầng ba. Cầu thang thứ ba là cầu thang xoắn ốc nằm cạnh thang máy nhân viên và dẫn từ tầng lửng ở tầng một, nơi có Bếp bánh ngọt, đến tầng hầm. Và cầu thang thứ tư, một “cầu thang sau” thực sự, dẫn từ tầng hai cạnh Phòng Nữ hoàng – Queen’s Bedroom (một căn phòng sang trọng màu hồng được đặt tên Nữ hoàng do đón tiếp nhiều vị khách hoàng gia) đến tận cuối tầng ba ở phía đông. Các cô hầu phòng thỉnh thoảng lại sử dụng cầu thang này khi cần lên dọn dẹp các phòng ở tầng hai nhưng không muốn xen ngang sinh hoạt của đệ nhất gia đình. Chiếc cầu thang này cho phép họ đi thẳng lên tầng ba rồi vòng xuống phía dưới.
Nhà Trắng được thiết kế bởi kiến trúc sư gốc Ireland James Hoban, người chiến thắng cuộc thi do Tổng thống George Washington và Ngoại trưởng Thomas Jefferson đặt ra. Thiết kế của tòa nhà được lấy ý tưởng từ Leinster House, một dinh cơ lớn mang phong cách Georgean ở Dublin được sử dụng làm tòa nhà Quốc hội Ireland. Các cư dân đầu tiên của Nhà Trắng than phiền tòa nhà quá lớn, điều mà ngày nay ta ít còn nghe thấy khi thỉnh thoảng căn bếp chật chội lại phải chuẩn bị đại tiệc cho hàng trăm khách mời, và khi hầu hết các phòng dành cho khách đều chật cứng bạn bè và gia đình tổng thống vào khoảng thời gian nhậm chức.
Tổng thống George Washington từng tiên đoán rằng Washington D.C. sẽ cạnh tranh với Paris và London về vẻ đẹp và sự vĩ đại. Tuy nhiên lúc đầu thành phố này vẫn bị các thủ đô châu Âu xinh đẹp bỏ xa. Năm 1800, khi Tổng thống John Adams và phu nhân Abigail trở thành cư dân đầu tiên của Nhà Trắng, tòa nhà chỉ có sáu phòng là ở được, và gia đình Adams cũng chỉ mang theo bốn người giúp việc. Ngôi nhà mới của họ còn lâu mới hoàn thành, còn thành phố Washington lại xa xôi, lầy lội và biệt lập đến mức gia đình tổng thống bị lạc suốt nhiều giờ trên đường từ Baltimore đến thủ đô. Khi cuối cùng đến được tòa nhà, họ phải bước qua mấy tấm ván gỗ mới vào được bên trong bởi các bậc thang trước nhà vẫn chưa được xây. Nằm lác đác ở nơi bây giờ là khu Cánh Tây là một phòng giặt cùng các chuồng ngựa, và chính quyền thành phố thậm chí còn phải đóng cửa một nhà thổ hoạt động ngay giữa các ngôi nhà tạm của các công nhân xây dựng Nhà Trắng. (Do các anh thợ mộc và thợ khắc đá rất bực bội chuyện này nên sau đó nhà thổ đã được chuyển đến một nơi khác kín đáo hơn trong thành phố).
Trong thư viết cho con gái, bà Abigail nói: “Tòa nhà không có hàng rào, sân vườn hay bất cứ một tiện nghi nào khác. Cầu thang chính chưa xây xong, và cũng sẽ chưa xong trong mùa đông này.”
Khi chuyển vào sống trong Nhà Trắng, bà Abigail Adams ước tính sẽ phải cần ít nhất ba mươi người giúp việc để vận hành tòa nhà một cách đàng hoàng (Hiện nay có gần một trăm người làm việc ở đây). Các đệ nhất gia đình thời đầu thường mang theo người giúp việc, đầu bếp và người hầu riêng của họ đến, đồng thời bỏ tiền túi ra để trả lương nhân viên. Những thập niên sau này, một số đệ nhất gia đình tuy cũng đem theo một hai nhân viên trung thành đã làm việc cho họ từ trước nhưng họ vẫn tin tưởng vào tay nghề của các nhân viên ở tư dinh.
Năm 1814, khoảng gần cuối cuộc chiến năm 1812, Nhà Trắng bị quân Anh thiêu trụi. Tổng thống James Madison phải nhờ kiến trúc sư Hoban giúp xây lại tòa dinh thự, lúc này đã là biểu tượng quốc gia. Kể từ đó, mỗi đời tổng thống đều tìm cách để lại dấu ấn riêng của mình lên tòa nhà. Suốt thế kỷ 19, tòa nhà lớn này được trang trí lại nhiều lần theo phong cách Victoria, nhưng đến năm 1902 thì Tổng thống Theodore Roosevelt thuê các kiến trúc sư nổi tiếng của New York là McKim, Mead & White trùng tu lại tòa nhà nhưng vẫn giữ phong cách tân cổ điển ban đầu. Roosevelt chuyển các phòng ngủ dành cho khách lên tầng ba và dỡ bỏ hàng loạt nhà kính khổng lồ – dùng để trồng trái cây và hoa cho đệ nhất gia đình – để lấy chỗ mở rộng khu vực bây giờ là Cánh Tây. Đến cuối năm đó, Roosevelt chuyển văn phòng của ông từ tầng hai xuống Cánh Tây. Người kế nhiệm ông, Tổng thống William Howard Taft, sau đó bổ sung thêm Phòng Bầu dục cho khu Cánh Tây. Văn phòng này được hoàn thành năm 1909.
Công cuộc đại trùng tu cuối cùng diễn ra dưới thời Tổng thống Truman sau khi mái nhà bị sập và ngôi nhà được nhận thấy có nguy cơ sụp đổ nghiêm trọng. Mọi thứ trở nên nguy hiểm đến mức có một lần, khi đệ nhất phu nhân đang tiếp các thành viên của Tổ chức Daughters of the American Revolution trong Phòng Lam thì chiếc đèn chùm to bằng cả cái tủ lạnh lắc lư dữ dội trên đầu những vị khách không hay biết, một phần vì lúc đó tổng thống đang tắm ngay trong căn phòng phía trên ở tầng hai. Đã vậy, cái sàn mục trong phòng khách của Margaret Truman [**] còn bị chân đàn piano của cô đâm thủng trong một buổi tập hát khá sôi nổi. Truman đã thay giàn khung gỗ ban đầu của tòa dinh thự bằng một kết cấu thép mới và thêm vào một không gian lộ thiên ở tầng hai nhìn xuống Bãi cỏ phía nam. Nơi này được gọi là Ban công Truman và cho đến nay vẫn là nơi nghỉ ngơi yêu thích nhất của các đệ nhất gia đình.
[**] (Con gái tổng thống Truman.)
Không có cư dân Nhà Trắng nào thay đổi tòa nhà này chắc chắn hơn Jacqueline Kennedy khi bà huy động nguồn tài lực trong quần chúng để tu sửa nội thất (bà ghét dùng từ trang trí lại) nhằm biến nơi này thành một “ngôi nhà hoàn hảo” nhất nước. Bà nhờ một người bạn của bà, nhà hảo tâm Rachel “Bunny” Mellon, thiết kế lại Vườn Hồng (Rose Garden) và Vườn Đông (East Garden) bằng cách thay màu hồng của đệ nhất phu nhân Mamie Eisenhower bằng màu xanh nhạt và trắng dịu. Bà tăng thêm công việc cho các nhân viên Nhà Trắng khi đưa về nhà trang trí nội thất hàng đầu Sister Parish để giúp đem “các kho báu” vào nhà và vứt bỏ “những thứ tởm lợm”. “Nếu có thứ gì đó tôi không chịu nổi thì đó chính là mấy tấm gương phong cách Victoria. Trông chúng thật gớm ghiếc. Vứt chúng xuống ngục tối thôi,” Jackie đùa và nhấn mạnh rằng “tất cả mọi thứ trong Nhà Trắng đều phải có lý do để nằm ở đó.” Chỉ trong vòng một tháng sau khi chuyển vào Nhà Trắng, bà đã đưa Henry Francis du Pont, một nhà sưu tập đồ nội thất thời kỳ đầu của Mỹ và là người thừa kế tài sản gia đình ông, vào chủ trì Ủy ban Bảo tồn Nghệ thuật Nhà Trắng do bà sáng lập. Các thành viên của Ủy ban này chịu trách nhiệm săn lùng các tác phẩm nghệ thuật giá trị trên toàn quốc và thuyết phục các chủ sở hữu tặng chúng lại cho Nhà Trắng. Bà cũng thành lập Phòng Quản lý Mỹ thuật (Curator’s Office) để đảm bảo mọi đồ đạc và tác phẩm nghệ thuật trong tòa nhà được kiểm kê và chăm sóc giữ gìn đàng hoàng. Khi bà lần đầu đưa tour tham quan Nhà Trắng lên sóng truyền hình, chương trình này thu hút tám mươi triệu người xem và giúp bà trở thành một trong những đệ nhất phu nhân được ưa thích nhất cả nước. Lúc đó bà chỉ mới 32 tuổi.
Nhà Trắng ngày nay vẫn còn mang nặng dấu ấn Jackie Kennedy. Bà đã biến cái dinh cơ tẻ nhạt suốt một thời gian dài thành một cơ ngơi sang trọng khi pha trộn ảnh hưởng lịch sử với nét thanh lịch hiện đại. Bà truyền phong cách lục địa cho các nhân viên Nhà Trắng khi tuyển một đầu bếp Pháp là René Verdon vào làm việc và đề cử Oleg Cassini làm nhà tạo mẫu thời trang chính thức. Sự quan tâm của bà cũng mở rộng ra khu nhà riêng: khi Phòng ăn Gia đình cũ ở dưới nhà được cảm thấy là quá trang trọng để làm nơi tụ tập cho gia đình trẻ của mình, bà lấy không gian ở tầng hai, nơi từng là phòng ngủ của Margaret Truman, để biến nó thành một gian bếp và phòng ăn riêng của họ.
Các nhân viên giờ đây nói về tòa nhà bằng sự tôn kính mà họ vẫn thường dành cho những đệ nhất gia đình được yêu mến nhất. Một nhân viên trong dinh nói rằng mỗi lần anh đưa bạn bè đi tham quan một vòng Nhà Trắng, anh luôn kết thúc chuyến đi bằng việc bảo họ nhìn kỹ xung quanh và đắm mình vào khung cảnh đó: “Các bạn đã đi qua những nơi tất cả các tổng thống đều đi qua kể từ khi John Adams làm tổng thống.”
Và lần nào anh cũng kết thúc bằng câu “Thật xúc động”.
CÁC NHÂN VIÊN Nhà Trắng rất thích thú khi được biết về từng xăng–ti–mét của tòa nhà, về những góc khuất ít người biết đến cùng những bí mật lịch sử. Các phòng thay đồ có tủ khóa dưới tầng hầm, nơi các nhân viên phục vụ cất những chiếc áo tuxedo hồ cứng và các cô hầu phòng cất đồng phục của họ (sơ mi màu nhạt và quần trắng), nằm không xa căn hầm trú ẩn bên dưới Cánh Đông, nơi được xây lên cho Tổng thống Franklin Roosevelt trong Thế chiến thứ Hai. Căn phòng này hiện là Trung tâm Ứng phó Khẩn cấp, có sức chịu đựng một vụ nổ hạt nhân. Công sự phòng thủ hình ống này là nơi tổng thống được đưa xuống trú ẩn trong trường hợp bị tấn công. Phòng Bản đồ (Map Room) ở Tầng Trệt từng là phòng bi-da trước khi được biến thành trung tâm kế hoạch tuyệt mật của tổng thống trong Thế chiến thứ Hai. Chính tại nơi đây, giữa các tấm bản đồ lần theo sự di chuyển của quân đội Mỹ và địch quân, Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã trù tính việc xâm lăng xứ Normandy. Rất ít người được phép nhìn vào bên trong nơi này. “Mỗi khi cần vệ sinh căn phòng,” Tổng Quản lý J. B. West viết, “người nhân viên an ninh lấy khăn che hết các tấm bản đồ lại và đứng ngay ở đó trong lúc người lao công lau nhà.” Nhiều thập niên sau, Bill Clinton lấy phòng này để cho lời khai (được truyền hình) trước bồi thẩm đoàn trong thời gian xảy ra vụ tai tiếng Lewinsky. Ngày nay, căn phòng này được sử dụng làm phòng chờ của khách đến ăn lễ trong lúc đợi đến phiên mình được chụp hình với tổng thống và đệ nhất phu nhân ở Phòng Tiếp đón Phái đoàn Ngoại giao bên cạnh.
Các phòng khác cũng có những câu chuyện riêng trải dài qua nhiều thế kỷ trong suốt chiều dài lịch sử nước Mỹ. Bà Abigail Adams lấy căn Phòng Đông rộng lớn nhưng lạnh lẽo – cũng là căn phòng rộng nhất Nhà Trắng với trần cao đến 6 mét – để làm chỗ phơi quần áo. Căn phòng này sau đó được dùng làm chỗ ở tạm cho binh sĩ trong thời gian Nội Chiến và hiện được sử dụng để tổ chức hầu hết các cuộc họp báo của tổng thống. Phòng Quốc yến, nơi thường được sử dụng để tổ chức các dạ tiệc cấp quốc gia liên quan đến những vụ ký kết thỏa thuận quân sự và thương mại lớn, từng là phòng làm việc của Tổng thống Thomas Jefferson. Phòng Lục, hiện là một phòng khách trang trọng trên tầng Khánh tiết, lúc đầu là phòng ngủ và phòng ăn sáng của Jefferson. Tổng thống James Monroe sau đó lấy phòng này làm phòng đánh bài. Đây cũng là nơi thi thể Willie, cậu con trai yêu dấu 11 tuổi của Tổng thống Abraham Lincoln được quàn với những bông trà trên tay và ánh nến hắt trên gương mặt. Phòng khách nhỏ Lincoln (Lincoln Sitting Room) mang phong cách Victoria ở tầng hai từng được sử dụng làm phòng điện tín ở cuối thế kỷ 19. Trong những ngày u ám nhất của vụ bê bối Watergate, đây là nơi Tổng thống Richard Nixon lui về ẩn náu giữa những tấm rèm nặng nề cùng những đồ nội thất tăm tối. Ông ngồi hàng giờ ở đó trong tiếng nhạc ầm ĩ, bên cạnh ngọn lửa cháy bừng bừng trong lò sưởi cùng chiếc máy lạnh mở hết công suất.
Trên tầng ba có một nơi nằm khuất tầm nhìn trên mái Cửa Nam (South Portico) nhìn xuống toàn cảnh công viên National Mall và Đài Kỷ niệm Washington. Căn phòng này được đệ nhất phu nhân Grace Coolidge thiết kế và đặt tên là “Sky Parlor”. Nơi ẩn náu thoáng mát hiện được biết đến dưới cái tên Solarium này được dùng làm phòng sinh hoạt của đệ nhất gia đình. Đây là nơi bé Caroline Kennedy theo học lớp mẫu giáo, nơi Tổng thống Reagan dưỡng bệnh sau khi bị bắn trong một cuộc mưu sát, và là nơi Sasha và Malia Obama vui đùa cùng các bạn đến ở qua đêm.
TRONG NHỮNG GIA nhân tôi phỏng vấn, chẳng ai bận tâm chuyện mình bị gọi là “người giúp việc”. Làm việc trong Nhà Trắng, dù là công việc gì, cũng chẳng có gì là hèn hạ. “Thật tuyệt vời khi ta không có khả năng mua nhưng lại được sống mỗi ngày giữa những món đồ và những bộ sưu tập đẹp nhất nước Mỹ,” nhân viên cắm hoa Ronn Payne nói.
Với Quản bếp bánh ngọt Roland Mesnier, việc chuẩn bị những món tráng miệng công phu cho năm vị tổng thống chính là đỉnh cao sự nghiệp của ông. “Nhà Trắng là đỉnh của đỉnh. Nếu Nhà Trắng không phải là đỉnh thì khi nào mới trở thành đỉnh?”
Chính việc tận tâm phục vụ và sự tự hào về vai trò của mình đã cho phép các đệ nhất gia đình nước Mỹ tự tin và an toàn sống và làm việc trong Nhà Trắng và tận hưởng những khoảnh khắc bình yên quý báu. Những câu chuyện của các nhân viên ở dinh tổng thống cho ta một cái nhìn thoáng qua về các tổng thống Hoa Kỳ cùng gia đình họ trong phạm vi nơi làm việc, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Những câu chuyện khó tin của họ – cái ấm lòng, cái vui nhộn, cái bi thương – xứng đáng chiếm một vị trí trong lịch sử nước Mỹ.
Chương 1
Sự hỗn loạn được kiểm soát
Việc thay đổi từ chính quyền này sang chính quyền khác trong tòa nhà đến đột ngột như cái chết. Ý tôi muốn nói là điều đó để lại cho ta sự trống rỗng khó hiểu. Mới buổi sáng ta còn phục vụ ăn sáng cho một gia đình ở sát cạnh ta suốt mấy năm trời, vậy mà đến trưa gia đình ấy đã ra khỏi cuộc đời ta và rồi xuất hiện những gương mặt mới, những tính khí mới, những yêu ghét mới
– Alonzo Field, nhân viên phục vụ và quản lý tổ phục vụ, 1931–1953. “21 năm của tôi trong Nhà Trắng, đây là lần duy nhất công việc bỏ tôi” – Walter Scheib, quản bếp, 1994–2005.
Cứ một hay hai lần mỗi thập niên, vào một ngày tháng Giêng lạnh buốt, người Mỹ lại bị cuốn vào sự chuyển giao quyền lực từ tổng thống này sang tổng thống khác. Hàng trăm ngàn người đổ về khu National Mall để xem vị tổng thống mới đắc cử tuyên thệ nhậm chức trong một nghi lễ thanh bình và tổ chức kỹ càng mà Phu nhân Bird Johnson gọi là “cuộc vui lớn bốn năm một lần của nước Mỹ”.
Tuy nhiên, bên trong hậu trường, cái nghi lễ yên bình này lại đi kèm một số lượng kinh hoàng những hoạt động cung ứng phức tạp. Bà Laura Bush gọi việc “chuyển giao gia đình” là “một kiệt tác nghệ thuật được thực hiện với một tốc độ khác thường”, và kiệt tác đó có thành công hay không là tùy thuộc vào kiến thức tổ chức và sự linh động của các nhân viên ở tư dinh. Vào ngày nhậm chức, Nhà Trắng bắt đầu hoạt động sớm hơn bình thường với các nhân viên đến làm việc từ tờ mờ sáng. Khi một ngày kết thúc thì cũng là lúc một kỷ nguyên mới trong lịch sử nước Mỹ bắt đầu.
Nhà Trắng thuộc về gia đình tổng thống sắp mãn nhiệm cho đến trưa, khi nhiệm kỳ của vị tổng thống mới bắt đầu. Buổi sáng ngày nhậm chức, tổng thống sắp mãn nhiệm mời đệ nhất gia đình mới uống cà phê. Ngay trước khi đệ nhất gia đình cũ rời Nhà Trắng, các nhân viên đến đứng chật cứng Phòng Quốc yến sang trọng, nơi họ từng phục vụ rất nhiều bữa tiệc, để nói lời từ biệt với gia đình tổng thống. Trong lòng họ trào dâng nhiều cảm xúc khác nhau khi phải thay một người chủ – với một số người thì đó là một người bạn – để đổi lấy một người khác trong quãng thời gian chỉ sáu tiếng đồng hồ. Nhiều người đã có tám năm gần gũi với cái gia đình sắp ra đi và chưa có thời gian để biết rõ về những cư dân mới. Ít ai cầm được nước mắt, mặc dù nhiều người có thể đang rất phấn khích với tương lai.

 “Khi vợ chồng Tổng thống Clinton xuống dưới nhà cùng với con gái Chelsea, họ không nói lời nào,” Tổng quản lý bộ phận phòng Christine Limerick nhớ về ngày nhậm chức năm 2001. “Đến bây giờ, tôi vẫn thấy xúc động khi nhớ lại chuyện Tổng thống Clinton nhìn thẳng vào mặt từng người và nói ‘Cảm ơn’. Cả phòng vỡ òa.”
Giây phút từ biệt, các nhân viên Nhà Trắng thường tặng cho gia đình tổng thống một món quà – đôi khi đó là lá quốc kỳ tung bay trên Nhà Trắng vào ngày tổng thống nhậm chức – đặt trong một chiếc hộp chạm tay rất đẹp do cánh thợ mộc trong Nhà Trắng thiết kế. Năm 2001, bà Limerick cùng Tổ trưởng tổ trang trí hoa Nancy Clarke và Tổng Quản lý mỹ thuật Betty Monkman đã tặng cho bà Hillary Clinton một chiếc gối lớn làm từ các mẫu vải mà trước đây bà đã chọn để trang trí cho các căn phòng khác nhau trong Nhà Trắng.
Mọi người có rất ít thời gian để hồi tưởng quá khứ. Đến khoảng 11 giờ sáng thì hai đệ nhất gia đình rời Nhà Trắng để đến điện Capitol. Từ lúc đó cho đến khoảng 5 giờ chiều – khi tổng thống mới và gia đình ông trở về nghỉ và chuẩn bị cho các buổi dạ vũ nhậm chức – các nhân viên phải kết thúc công việc đưa một gia đình ra và đưa một gia đình khác vào. Trong cái khoảnh khắc hiếm hoi ấy, khi mọi ánh mắt ở Washington và thế giới chuyển từ Nhà Trắng sang Điện Capitol, các nhân viên trong dinh cảm thấy biết ơn khi công chúng tạm thời chuyển hướng chú ý của họ ra khỏi các hoạt động náo loạn bên trong các bức tường Nhà Trắng.
Do việc thuê đội ngũ nhân viên chuyển nhà chuyên nghiệp trong một ngày đòi hỏi hàng loạt quy trình kiểm tra an ninh vô cùng bất tiện, nên các nhân viên trong dinh đành phải tự mình đảm nhiệm việc chuyển hành lý của vị tổng thống mới đắc cử vào và chuyển hành lý của vị tổng thống mãn nhiệm cùng gia đình ông ta ra. Họ không được phép nhờ người bên ngoài giúp đỡ. Suốt ngày hôm đó, trong khi vẫn phải tiếp tục duy trì vai trò truyền thống của họ, các gia nhân còn phải đảm nhiệm thêm công việc của đội ngũ chuyển nhà chuyên nghiệp và chỉ có sáu tiếng đồng hồ để hoàn thành chuyện đó. Do có quá nhiều đồ đạc cần chuyển ra và đòi hỏi rất nhiều sức lao động nên tất cả mọi người đều được huy động đến giúp một tay: trong khi các nhân viên rửa nồi niêu trong bếp phụ sắp xếp đồ đạc bàn ghế thì cánh thợ mộc xếp các khung hình lên mấy chiếc bàn trà. Công việc chuyển nhà nặng nhọc đến mức ngay cái ngày gia đình Clinton chuyển đến, một nhân viên bị chấn thương nặng ở lưng trong lúc nhấc chiếc sofa, và vì thế không thể quay lại làm việc suốt mấy tháng trời.
Với Tony Savoy, người phụ trách giám sát công việc điều hành Nhà Trắng, ngày tổng thống nhậm chức là ngày trọng đại nhất trong sự nghiệp của ông. Ban Điều hành thường phụ trách chuyện tiệc tùng, chiêu đãi, các sự kiện ngoài trời, đồng thời sắp xếp lại đồ đạc để quay các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, nhưng trong thời gian tổng thống nhậm chức, họ là đội quân “chuyển đồ ra và chuyển đồ vào”, Savoy cho biết. Khi các xe tải chở đồ đạc của gia đình mới đến, hàng chục nhân viên Nhà Trắng từ nhân viên điều hành, kỹ sư đến nhân viên xưởng mộc và xưởng điện đều đổ xô ra khuân đồ đạc từ trên xe xuống và chuyển chúng đến đúng vị trí mà nhà trang trí nội thất của đệ nhất gia đình mong muốn. “Việc chuyển đồ được gọi là thành công khi không có món đồ nào bị mất” và tiếp tục ở lại vị trí đó bốn năm nữa, Savoy pha trò để che giấu nỗi lo lắng trước nhiệm vụ lạ lùng này.
Trong vòng sáu tiếng đồng hồ, từ lúc gia đình tổng thống cũ đi ra cho đến khi gia đình tổng thống mới đắc cử dọn vào, các nhân viên phải trải thảm sạch ra, thay mới các tấm nệm và phần đầu giường, tháo tranh xuống và chủ yếu là trang hoàng lại các nơi theo phong cách ưa thích của gia đình sắp dọn vào. Họ dỡ hành lý của gia đình tổng thống ra, xếp quần áo thật phẳng phiu và cho vào các ngăn kéo tủ. Họ thậm chí còn xếp kem và bàn chải đánh răng lên kệ phòng tắm. Không một chi tiết nào bị bỏ sót.
Nhân viên cắm hoa Bob Scanlan từng phụ chuyển nhà khi Tổng thống Clinton dọn đi và Tổng thống George W. Bush dọn tới năm 2001. Việc sắp xếp đồ đạc cho gia đình Bush khá dễ dàng bởi họ biết rõ nơi này hơn phần lớn các tổng thống khác. Tổng thống George W. Bush vẫn thường đến Nhà Trắng chơi khi bố ông còn làm tổng thống. Gia đình Bush đã quen với việc có đông người giúp việc, và chính bà Laura Bush cũng công nhận rằng họ “có những thuận lợi rất lớn” so với các gia đình tổng thống khác vì có nhiều thời gian sống ở Nhà Trắng lúc Tổng thống Bush cha (người được các nhân viên gọi thân mật là “ông Bush già”) làm việc ở đây. “Chỉ có một gia đình khác có cha con đều làm tổng thống là John Quincy và Louisa Adams.”
Biết rõ Bush rất quen thuộc với Nhà Trắng và dàn nhân viên ở đây, Bill Clinton nói đùa rằng Bush thậm chí còn biết rõ các công tắc đèn nằm ở đâu. Trong khi đó Clinton chỉ mới đến Nhà Trắng vài lần trước khi nhậm chức: một lần khi ông là thành viên của tổ chức American Legion Boys Nation và được chụp hình bắt tay với Tổng thống Kennedy; một lần khi ông được gia đình Tổng thống Carter mời đến chơi năm 1977 (đây cũng là lần đầu bà Hillary Clinton đến thăm Nhà Trắng); và thêm vài lần khác khi ông đến dự các bữa tiệc tối chiêu đãi Hiệp hội Thống đốc Quốc gia (National Governors Association) trong thời gian ông làm thống đốc bang Arkansas. Trước khi chuyển vào Nhà Trắng, bà Hillary cho biết lần duy nhất bà lên tầng hai là khi được bà Barbara Bush dẫn đi tham quan một vòng các nơi sau khi chồng bà đắc cử. Bà thậm chí còn chưa nhìn thấy tầng ba. Khi chuyển vào đây sống, để hiểu rõ lịch sử Nhà Trắng, bà Hillary đã yêu cầu các nhân viên quản lý mỹ thuật sưu tầm hình ảnh Nhà Trắng từ thời kỳ đầu tiên để làm thành một quyển sách thể hiện rõ từng phòng trông ra sao trong suốt chiều dài lịch sử.
Tuy nhiên, Tổng thống Barack Obama mới là người thấy khó khăn nhất khi chuyển vào Nhà Trắng sinh sống, ông và gia đình đã phải chuyển từ nhà họ ở Hyde Park, Chicago vào thẳng Nhà Trắng. Gia đình Obama thậm chí còn ít quen với chuyện có người giúp việc hơn cả gia đình Clinton. Lúc ở Chicago, gia đình họ chỉ có mỗi một quản gia chứ không có bảo mẫu. Vì thế, trong suốt thời gian vận động tranh cử, họ phải giao hai cô con gái Sasha và Malia cho bà Marian, mẹ bà Michelle Obama, trông nom. Do không có lợi thế là con trai tổng thống, cũng chưa từng sống trong khung cảnh tương đối xa hoa của dinh thống đốc, nên Obama và gia đình ông phải mất một thời gian để cảm thấy thoải mái hơn với cuộc sống mới.
NGÀY 20 THÁNG 1 năm 2009, 1,8 triệu người tụ tập trong tiết trời –2°C để chứng kiến ông Barack Obama trở thành vị tổng thống Mỹ gốc Phi đầu tiên tuyên thệ nhậm chức. Đây không chỉ là đám đông lớn nhất tham dự lễ nhậm chức của một tổng thống, mà còn là lượng quần chúng lớn nhất chưa từng thấy ở bất kỳ sự kiện nào trong lịch sử của Washington D.C.
Hầu hết người Mỹ đều không biết đến Barack Obama cho đến năm 2004 khi ông đọc bài diễn văn then chốt đầy cuốn hút tại Đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ với tư cách thượng nghị sĩ Bang Illinois. Sự nổi lên nhanh chóng của Obama khiến gia đình ông không có nhiều thời gian chuẩn bị cho cuộc sống ở Nhà Trắng. Vì biết điều đó nên các nhân viên ở dinh muốn giúp đỡ để việc chuyển nhà của họ được dễ dàng hơn. Ông Obama hẳn phải có cảm giác rất lạ khi nghe người tổng quản lý nói “Xin chào ngài tổng thống, chào mừng ngài đến với ngôi nhà mới” khi ông lần đầu bước qua các cánh cửa đồ sộ ở Cửa Bắc trên cương vị một tổng thống. Trong khoảnh khắc yên tĩnh và ngắn ngủi từ trưa đến chiều hôm ấy, tức từ sau khi xem diễu hành trên đại lộ Pennsylvania đến trước lúc tham gia bữa tiệc khiêu vũ nhậm chức đầu tiên của họ, gia đình Obama chỉ ăn sơ trong Phòng ăn Gia đình cũ, nơi không một chi tiết nào bị bỏ sót.
Ngày hôm đó là kết quả của nhiều tháng trời lên kế hoạch cẩn thận từ trước. Với những người giúp việc trong dinh thì thời kỳ chuyển tiếp sang chính quyền mới đã bắt đầu khoảng 18 tháng trước khi tổng thống nhậm chức. Ngay từ lúc đó, người tổng quản lý đã phải bắt đầu chuẩn bị một số tài liệu để đưa cho vị tổng thống và đệ nhất phu nhân sắp dọn đến (cộng thêm với khó khăn là không biết những người sắp đến như thế nào), trong đó có sơ đồ chi tiết của Nhà Trắng, danh sách các nhân viên làm việc ở tư dinh, và tổng quan những gì được phép thay đổi trong Phòng Bầu dục.
Ngay từ trước khi một ứng cử viên được chọn ra cho cuộc tổng tuyển cử, ông Gary Walters, tổng quản lý trong giai đoạn 1986–2007 đã phải bắt đầu thu thập thông tin về các ứng cử viên trong các cuộc bầu cử sơ bộ. Điều này đặc biệt khó khăn khi Tổng thống Ford, Tổng thống Carter và Tổng thống George H. W. Bush thất bại trong nỗ lực ở lại nhiệm kỳ hai. “Mặc dù dinh tổng thống vẫn đang thuộc quyền sở hữu của gia đình đang ở đó nhưng ta phải chú ý xem chuyện gì sẽ xảy ra,” Walters nói.
Vào tháng 12, sau cuộc bầu cử và trước ngày nhậm chức, Walters phải sắp xếp để gia đình tổng thống mới được đương kim đệ nhất phu nhân dẫn đi tham quan một vòng Nhà Trắng. Đó cũng là lúc vị đệ nhất phu nhân sắp dọn đến được trao một cuốn sách, bên trong có tên và hình của tất cả các nhân viên trong tư dinh. Cuốn sách này sẽ giúp đệ nhất gia đình biết tên từng người làm việc trong tòa nhà, đồng thời cũng là một phần của biện pháp an ninh giúp gia đình mới phát hiện ra người lạ mặt và báo cho Cơ quan Mật vụ.
Đệ nhất gia đình sắp dọn đi phải thanh toán mọi chi phí chuyển đồ đạc cá nhân của họ ra khỏi Nhà Trắng. Vị tổng thống mới đắc cử cũng phải thanh toán chi phí chuyển đồ đạc cá nhân của họ vào nhà, và khoản tiền này có thể lấy từ két sắt cá nhân, từ quỹ vận động tranh cử hay chuyển giao. Công việc của gia đình sắp dọn đến là phối hợp với Cơ quan Mật vụ để đưa vật dụng cá nhân của họ vào Nhà Trắng buổi sáng ngày nhậm chức.
Một trong những thách thức lớn về hậu cần diễn ra trong ngày nhậm chức là việc chuyển đồ đạc và những vật dụng lớn của gia đình tổng thống mới đắc cử vào Nhà Trắng. Sau cuộc bầu cử năm 1960, Letitia Baldrige, thư ký phụ trách sự kiện xã hội của gia đình Kennedy đã gởi thư cho bà Jackie để cho biết là cô đã hỏi Mary Jane McCaffree, thư ký xã hội của gia đình Eisenhower, là “có thể đưa lén nhiều thứ vào nhà mà không để gia đình Eisenhower biết được không và cô ấy (McCaffree) đã đồng ý, vì thế ông tổng quản lý có thể cất mấy thùng các–tông, vali, v.v. ở một nơi khuất tầm nhìn và đợi đến 12 giờ trưa thì lôi chúng ra. Tuyệt quá phải không? Cứ hệt như truyện của Alfred Hitchcock vậy.” Baldrige nhớ cô đã lái xe đến Nhà Trắng với Providencia Paredes, người hầu gái của Jackie Kennedy, và George Thomas, người hầu riêng của Jack Kennedy, chở theo chiếc áo dạ hội mà bà Jackie sẽ mặc trong tiệc khiêu vũ nhậm chức và tất cả hành lý của gia đình Kennedy. Họ đến nơi khi mọi người đang tụ tập ở điện Capitol để dự lễ nhậm chức. Khu đất phía nam đầy tuyết lúc này đang tắm trong ánh mặt trời chói lọi. “Chúng tôi đã tính trước quãng thời gian đi từ Georgetown đến Nhà Trắng để không đến đó trước 12 giờ trưa, bởi vì đến đúng 12 giờ trưa vị tổng thống mới sẽ chính thức trở thành người sở hữu Nhà Trắng.”
Gần nửa thế kỷ sau, chuyện này vẫn không có gì thay đổi. Không lâu sau cuộc bầu cử, các cố vấn của gia đình Obama bắt đầu gặp gỡ những người giúp việc ở tư dinh, và đến tuần trước lễ nhậm chức, phần lớn đồ đạc của gia đình Obama được vận chuyển bằng đường biển đến Nhà Trắng và đưa vào cất trong Phòng Gốm sứ (china Room) ở Tầng Trệt để sau đó có thể nhanh chóng chuyển lên trên lầu. Trước đó, vợ chồng Tổng thống Bush đã nói với Tổng Quản lý Stephen Rochon rằng họ muốn làm sao để việc chuyển nhà dễ dàng nhất cho tất cả mọi người, nhưng Rochon không muốn làm vợ chồng Tổng thống Bush thấy như họ đang bị đẩy ra ngoài, “chúng tôi muốn đặt mấy thứ này ở nơi gia đình hiện tại không nhìn thấy. Không phải là họ không biết chúng ở đó, mà vì chúng tôi không muốn họ cảm thấy như chúng tôi đang đẩy họ ra ngoài.”
Các cố vấn khác của Obama cũng liên hệ tương tự với những người giúp việc trong dinh. Hơn hai tháng trước ngày nhậm chức, Tổ trưởng Tổ Hoa Nancy Clarke đã phải gặp nhà trang trí nội thất của gia đình Obama, Michael Smith, để bàn về chuyện trang trí hoa như thế nào cho các căn phòng mà bạn bè và người nhà của tổng thống sẽ lưu lại qua đêm trong ngày nhậm chức.
“Có rất ít thời gian để chuẩn bị mọi thứ cho tòa nhà, vì thế cả nhóm chúng tôi phải đảm bảo rằng tất cả mọi thứ đều hoàn hảo nhất có thể trong thời gian quy định,” Desirée Rogers, nhân viên thân tín của vợ chồng Obama từ khi còn ở Chicago và thư ký xã hội đầu tiên của họ, cho biết. Ngày nhậm chức, “chúng tôi phải có mặt ở Nhà Trắng từ rất sớm để sắp xếp và chuẩn bị mọi thứ, đặt quần áo vào từng phòng,” cô nhớ lại.
Ngay từ mấy tuần lễ trước ngày nhậm chức, Rogers đã phải gặp các nhân viên cắm hoa để bàn xem sẽ đặt những loại hoa nào trên các bàn tròn nhỏ, và sẽ sử dụng loại nến và chân nến nào cho những khoảnh khắc quý giá của đệ nhất gia đình để họ có thể tận hưởng môi trường mới mẻ đầy phấn khích ở xung quanh trước khi đi đến với các buổi dạ vũ.
“Tất cả những thứ nhỏ nhặt đó có thể khiến mọi người thấy thoải mái và thấy mình được chào đón,” nhân viên cắm hoa Bob Scanlan nói.
Phần lớn khu Cánh Tây được vị tổng thống mới lấp đầy với những trợ lý trung thành đến từ chiến dịch tranh cử tổng thống và từ thời kỳ đầu sự nghiệp chính trị của ông, trong đó có Robert Gibbs, người phát ngôn lâu năm được ông bổ nhiệm làm thư ký báo chí đầu tiên của ông tại Nhà Trắng, cùng người bạn thân Valerie Jarret mà ông chỉ định làm cố vấn cấp cao. Bà Michelle Obama cũng đưa nhóm trợ lý của bà vào, trong đó có nhiều người quen biết lâu năm. Chỉ vài ngày sau khi vào Nhà Trắng, Michelle đã tập hợp các nhân viên của bà ở khu Cánh Đông cùng toàn thể các nhân viên tư dinh lại trong Phòng Tây. Katie McCormick Lelyveld, thư ký báo chí của đệ nhất phu nhân lúc đó, nhớ bà chủ của cô đã cho mọi người biết rõ ai là người phụ trách ở đó.
“Đây là đội ngũ cùng tôi bước qua cánh cửa này,” đệ nhất phu nhân phất tay về phía dàn trợ lý chính trị của mình và nói với các nhân viên làm việc lâu năm trong tòa nhà. “Còn các anh chị là một phần của đội ngũ mới của chúng tôi,” bà bảo họ trước khi quay sang nói với các nhân viên của mình, bao gồm cả Lelyveld: “Trách nhiệm của các bạn là phải đảm bảo biết hết mọi người ở đây. Họ có mặt ở đây trước các bạn và là những người giúp vận hành nơi này. Chúng ta hiện đang ở trong địa bàn của họ.” Sau đó, các nhân viên của đệ nhất phu nhân đi vòng vòng quanh phòng để tự giới thiệu với mọi người.
“Việc chúng tôi cần làm lúc đó là tìm hiểu vai trò của họ là gì và vị trí của họ trong bức tranh toàn cảnh ra sao,” Lelyveld nói. “Chúng tôi chỉ là những đứa trẻ mới vào.”
Từ hôm đó trở đi, Lelyveld luôn trông chờ vào các chỉ dẫn của những nhân viên trong tư dinh. Khi cô muốn nghĩ ra cách gì hay để duyệt thực đơn cho bữa quốc yến đầu tiên, cô xuống bếp hỏi Quản bếp Cristeta “Cris” Comerford xem bà nghĩ cô nên bố trí Phòng Quốc yến như thế nào để giới truyền thông có thể thấy cô đang chuẩn bị nhưng không làm cô phân tâm. Khi cô yêu cầu các nhân viên phòng kỹ thuật và phòng điều hành sắp xếp lại bàn ghế để tiến hành quay một cuộc phỏng vấn ở Tầng Khánh tiết trên truyền hình, cô được nhắc nhở rằng Nhà Trắng không phải là ngôi nhà bình thường. “Ta đang làm việc trong phòng bảo tàng,” cô nói. “Hai chiếc ghế mà ta cần dùng cho buổi phỏng vấn không phải chỉ là ghế,” mà còn là “hai món đồ cổ có tuổi đời lớn hơn ta hàng thế kỷ và phải mang từ Phòng Lam ra. Do đó ta cần phải hỏi ý kiến các nhân viên phụ trách nơi đó.” (Đồ đạc trong Nhà Trắng quý giá đến mức một nhân viên tạp vụ bị sếp của anh ta cảnh cáo rằng nếu anh ta lỡ tay làm vỡ một cái đồng hồ mạ đồng của Pháp chưng trong Nhà Trắng từ năm 1817 thì đừng có mà tính đến chuyện có thể quay trở lại làm việc. Anh ta có làm cả đời cũng sẽ chẳng đủ tiền mua một cái khác thay thế.)
Thứ Sáu đầu tiên sau ngày nhậm chức, Tổng thống Obama mặc đồ giản dị đi khắp tư dinh để tự giới thiệu với các nhân viên. Khi đến căn bếp ở tầng hai, ông thấy mấy nhân viên phục vụ đang xúm quanh chiếc tivi. Ông vui vẻ đến đấm vào vai James Jeffries.
“Các ông đang xem gì thế?” ông hỏi họ.
“Chúng tôi đang xem những gì diễn ra ở Đài tưởng niệm Lincoln trước ngày nhậm chức,” Jeffries trả lời. “Chúc mừng ngài trở thành tổng thống.”
“Cảm ơn ông,” Obama nói với nụ cười ngoác tận mang tai rất đặc trưng của ông và bước ra khỏi bếp.
Vài phút sau, khi ông quay trở lại bếp, Jeffries lấy hết can đảm nói thêm: “Tôi vừa mới chúc mừng ngài. Vậy ngày mai, nếu tôi được gọi đến làm, ngài có thể chúc mừng tôi đã làm việc ở đây được 50 năm không?”
“Tôi sẽ không đợi đến ngày mai,” Obama lập tức trả lời. “Tôi có thể làm điều đó ngay bây giờ. Xin chúc mừng ông.”
Mặc dù Desirée Rogers mô tả mối quan hệ giữa các tổng thống với các nhân viên đơn giản là “rất, rất thân thiện” nhưng so với các tổng thống tiền nhiệm thì vị tổng thống mới này dè dặt hơn nhiều, cũng ít nói chuyện phiếm hơn. Một số nhân viên cho biết họ thấy nhớ tình cảm thân thiết dễ dàng của họ với các tổng thống Bush cha, Clinton và Bush con. “Gia đình Bush muốn chúng tôi thấy mình gần gũi họ,” Tổng Quản lý Rochon nói. Còn với gia đình Obama thì “chúng tôi phải giữ thái độ hoàn toàn chuyên nghiệp”. Tuy nhiên gia đình Obama cũng thân thiết với một số người làm việc trong hậu trường. Nhân viên phục vụ James Jeffries nói rằng giữa gia đình Obama với phần lớn nhân viên phục vụ Mỹ gốc Phi có sự thông hiểu và tôn trọng ngầm lẫn nhau do họ đều là người Mỹ da đen. Tổng thống Obama cũng thừa nhận điều này khi nói rằng một phần sự nhiệt tình của các nhân viên phục vụ đối với gia đình ông đến từ việc “họ nhìn Malia và Sasha và thấy rằng ‘con bé trông chẳng khác cháu tôi hay con gái tôi.’”
Suốt từ năm 1988 đến năm 2009, ông gác cửa Vincent Contee, 84 tuổi, đều đặn đến Nhà Trắng làm việc mỗi thứ Hai và thứ Ba và cùng tổng thống đi thang máy lên xuống Phòng Bầu dục. “Chúng tôi rất hợp nhau,” ông nhớ lại. “Sáng nào tôi cũng gặp ông ấy và được ông ấy hỏi han xem công việc của tôi hôm ấy thế nào.” Trong suốt 20 năm làm việc ở Nhà Trắng, Contee không để mình bị mê hoặc bởi người nổi tiếng. Ngoài việc thường xuyên nói chuyện với các tổng thống, ông cũng hay đi cùng thang máy với những nhân vật được nhiều người thần tượng như Nelson Mandela và Elizabeth Taylor để đến gặp tổng thống tại khu nhà riêng của gia đình họ. Ông cho biết ngay cả các tổng thống cũng lắm lúc không giấu được vẻ mệt mỏi. Đến một lúc nào đó, vị tổng thống mà ông hầu hạ sẽ quay sang ông trong khoảnh khắc ngắn ngủi trong thang máy và thở dài: “Tôi chỉ ước sao có thể quay trở về giường và ngủ cả ngày.”
Trên đường đến Phòng Bầu dục, ông Obama thường tán chuyện thể thao với Contee. “Ông ấy biết tôi là một fan bóng bầu dục. Tôi là fan của đội Redskins. Cô biết không, mỗi khi họ thua, ông ấy sẽ giải thích là vì họ không chơi như thế này hoặc phải chơi như thế kia.” Thỉnh thoảng Obama còn nhờ ông Contee dắt con Bo, con chó săn nước Bồ Đào Nha (Portuguese water dog) của gia đình ông, đi ra ngoài dạo quanh khuôn viên. Sau khi đi dạo về thì Contee đưa con Bo lên phòng ông ở tầng ba.
Mặc dù vậy, vợ chồng Obama vẫn tỏ ra rất dè dặt kín đáo và Tổng Quản lý Rochon cảm nhận được khoảng cách giữa các nhân viên với vị tân tổng thống. Vợ chồng Obama có vẻ “không thoải mái”, ông nói, vì “được quá nhiều nhân viên phục vụ và nhân viên làm phòng hầu hạ từng li từng tí.” Với một cặp vợ chồng chỉ vừa mới trả xong tiền vay học đại học thì mức độ phục vụ cá nhân của các nhân viên Nhà Trắng chắc hẳn phải khiến họ rất căng thẳng. “Ta phải cho họ sự riêng tư,” Contee nói với tôi. “Ta chỉ nên nói chuyện với họ trong giây lát rồi để họ đi đường họ, ta đi đường ta.”
Vợ chồng Obama đặc biệt rất muốn nuôi dạy con cái trong môi trường bình thường nhất có thể cho dù họ đang sống trong một tòa nhà có đến hàng chục đầu bếp, phục vụ và hầu phòng. Năm 2011, bà Michelle Obama nói với người phỏng vấn bà là cô con gái lớn Malia, lúc đó 13 tuổi, sắp phải tự giặt đồ của nó và bà Marian Robinson mẹ bà, hiện sống trong một phòng suite ở tầng ba, sẽ dạy con bé làm chuyện đó. “Mẹ tôi vẫn tự giặt đồ. Bà ấy không muốn người lạ động đến đồ lót của bà ấy.” Nhà tạo mẫu trước đây của đệ nhất phu nhân, Michael “Rahni” Flowers, xác nhận “Michelle là mẫu người mẹ rất nghiêm túc – cả mẹ bà cũng thế. Chỉ cần họ nhìn một cái là ta sẽ hóa đá và ngưng ngay công việc đang làm.”
Katie McCormick Lelyveld nhớ chuyện đệ nhất phu nhân xác định rõ các nguyên tắc cơ bản với các cô con gái như thế nào. “Mặc dù bà ấy rất cảm kích là trong nhà có các gia nhân chuyên lo những việc đó, nhưng bà cho rằng họ không phải ở đó để hầu hạ tụi nhỏ.” Michelle nhắc mấy cô con gái của mình là “Đừng quen thói để người khác dọn giường cho mình, đây là việc các con phải làm.”
Dù vậy, sau hai năm mệt mỏi theo đuổi chiến dịch tranh cử và chạy theo lịch làm việc điên cuồng, vợ chồng Obama rất cảm kích sự giúp đỡ của các nhân viên trong tư dinh. “Có một số thuận lợi khiến cho những ngày dài đằng đẵng trở nên dễ dàng hơn, chẳng hạn như có ai đó phụ trách kế hoạch ăn tối giúp ta,” Lelyveld giải thích.
Những gì thuộc về truyền thống khó có thể mất trong tòa hành pháp. Khi vợ chồng Obama nói với các nhân viên phục vụ rằng cuối tuần họ có thể thay chiếc áo vét–tông đen hồ cứng bằng sơ–mi để mở ở cổ và quần tây bình thường, không phải ai cũng chịu nghe theo. “Với một số nhân viên phục vụ lớn tuổi, tức khoảng bảy tám mươi tuổi, họ đã có sẵn nhiều bộ tuxedo mà họ đã quen mặc, vì thế bất cứ thứ gì khác sẽ đồng nghĩa với việc họ phải sắm đồ mới. Họ cảm thấy thoải mái hơn trong những bộ tux này,” Lelyveld nói. Khi nhiều nhân viên phục vụ nhất định không chịu rời bỏ bộ y phục trang trọng của họ, cô nói cô thấy mình lúng túng mỗi khi mặc quần kaki hay quần jean đứng cạnh họ mặc dù cô đã quen với cách ăn mặc thoải mái này trong thời gian vận động tranh cử. “Tôi tôn trọng sự tôn trọng của họ đối với những gì họ làm.”
Vợ chồng ông Obama rõ ràng rất nuối tiếc cuộc sống ở Chicago, ông Obama nói rằng “mỗi tổng thống đều ý thức sâu sắc rằng chúng ta chỉ là cư dân tạm thời” của Nhà Trắng, và nói thêm rằng “chúng tôi chỉ là những người ở trọ nơi này”. Sau hai chiến dịch tranh cử mệt mỏi, tổng thống Obama giờ đây từ chối vắng mặt ở bữa ăn tối gia đình hơn hai lần một tuần. Đó là những bữa tối được chuẩn bị bởi Sam Kass, người đầu bếp riêng của họ đưa từ Chicago đến, cho đến khi Kass rời khỏi vị trí đó để chuyển sang làm việc ở New York tháng 12 năm 2014.
Theo những gì Reggie Love, cựu trợ lý cá nhân của Tổng thống Obama nhớ thì mỗi sáng, trong lúc đi bộ từ khu nhà ở đến khu Cánh Tây, ông Obama đều yêu cầu Tổng Quản lý Stephen Rochon cập nhật cho ông biết những chuyện đơn giản trong nhà mà ai cũng phải biết xử lý, dù là đang sống trong tòa hành pháp hay trong một ngõ cụt ở ngoại ô. “Anh đang sống trong một tòa nhà và có ai đó chịu trách nhiệm bảo trì tòa nhà này. Vậy nếu áp lực nước không đủ mạnh hay hệ thống Wi-fi không hoạt động thì anh phải nói chuyện này với người đó, đúng không?”
Một trong những thứ được tổng thống rất mực quan tâm trong những ngày đầu mới đến là sân bóng rổ ở Nhà Trắng. Trong thời gian diễn ra chiến dịch tranh cử năm 2008, ông Obama thường chơi bóng vào những ngày diễn ra bầu cử sơ bộ hay những ngày họp đảng ở địa phương để cử ra người đại diện cho chức ứng viên tổng thống, chỉ hai lần ông không chơi bóng rổ, đó là lúc ở New Hampshire và Nevada khi ông thất bại ở hai bang này. Không bao lâu sau ngày nhậm chức, ông nói với Rochon rằng ông muốn biến sân tennis bị rặng thông che khuất ở Bãi cỏ phía nam thành sân bóng rổ. Thế là các vòng rổ được nhanh chóng lắp đặt, các vạch sơn được kẻ mới, và những quả bóng rổ mang ký hiệu Nhà Trắng được đặt làm. Tất cả nỗ lực này ngốn hết 4.995 đô.
Dự án này mất nhiều tháng để hoàn thành. Cuối cùng ông Obama mất kiên nhẫn và nói với Rochon trong lúc cùng đi bên nhau buổi sáng: “Sao thế Đô đốc, chuyện này có gì to tát lắm đâu.”
Một buổi sáng, không nghe Rochon nhắc đến sự tiến triển của sân bóng, tổng thống hỏi các vòng rổ của ông ấy đã đến đâu rồi. Rochon trả lời: “Thưa tổng thống, tôi rất vui mừng báo cho ngài biết là hôm nay mọi việc sẽ hoàn thành lúc 11 giờ 30.”
Mắt Obama sáng lên. Đến 10 giờ 30, một tiếng trước thời gian quy định là sẽ xong, ông chạy ra sân để chơi bóng với Love, người từng một thời là tiền đạo của đội Duke Blue Devils.
MICHAEL “RAHNI” FLOWERS, nhà tạo mẫu tóc của Michelle Obama, bắt đầu làm tóc cho bà từ khi bà là một cô bé tuổi teen và sau đó trở thành sự lựa chọn của đệ nhất phu nhân tổng thống mới đắc cử cho ngày nhậm chức. Mặc dù các nhà tạo mẫu tóc không thuộc đội ngũ nhân viên làm việc chính thức ở tư dinh nhưng họ cho ta một cái nhìn độc nhất vô nhị về những sự kiện xảy ra trong cái ngày khó quên đó.
Ngày làm việc của Flowers bắt đầu từ 4 giờ sáng ở Blair House, căn nhà phố sang trọng phía bên kia đường Nhà Trắng, nơi mà theo truyền thống vị tổng thống đắc cử và gia đình ông phải ở lại trước khi chính thức dọn vào tòa hành pháp. Sáng hôm đó, sau khi Flowers làm tóc cho Michelle cùng hai con gái và mẹ bà xong, ông đi cùng gia đình họ đến Đồi Capitol và ở đó suốt cả ngày. Tối đến, ông lại tiếp tục theo họ đến mười địa điểm tổ chức tiệc khiêu vũ nhậm chức.
Flowers lập tức nhận ra sự phấn khích của các nhân viên phục vụ, phần lớn là người Mỹ gốc Phi, đối với vị tổng thống mới đắc cử. “Có một nỗi tự hào vượt lên trên cả sự tự hào, điều mà cả cuộc đời họ mơ không thấy nổi,” Flowers, cũng là một người Mỹ da đen, nói. “Tôi nhìn thấy điều đó qua cách họ nói, cách họ đi. Nhìn gương mặt tươi cười hớn hở của họ, ta có thể nói rằng chuyện này vượt ra ngoài những mơ ước ngông cuồng nhất của họ.”
Theo Flowers, sáng hôm đó tất cả mọi người đều tỏ ra trầm tĩnh trừ bà Marian Robinson, mẹ của đệ nhất phu nhân. Bà Robinson sắp phải trải qua một thay đổi lớn trong cuộc đời. Bà chỉ mới thành lập một câu lạc bộ điền kinh cho người cao tuổi ở Chicago và chiến thắng một cuộc thi điền kinh cách đây không lâu, nhưng Michelle lại nhờ bà đến sống chung với họ ở Nhà Trắng để giúp trông nom các cháu. Giờ đây bà phải rời xa quê để đến với cuộc sống mới, lại là một cuộc sống có tổ chức rất nghiêm ngặt.
“Bà ấy là một phụ nữ rất độc lập,” Flowers nói. Ông tin rằng bà không chọn thay đổi vì bản thân mà vì “bà ấy cho tôi biết là Michelle muốn thế, với lại bà ấy cũng nghĩ đến mấy cháu”. Lúc rời xa quê hương Chicago yêu dấu, bà Robinson nói, “Chúng nó kéo tôi theo và tôi không thấy thoải mái chút nào, nhưng tôi sẽ làm những gì cần phải làm.”
Tuy nhiên vị tổng thống đắc cử lại không có vẻ gì bối rối trước thay đổi lớn và đột ngột này. Sau khi đọc một bài diễn văn nhậm chức đầy tham vọng – liệt kê hàng loạt mục tiêu chính sách như cải cách chế độ chăm sóc y tế và lặp lại lời hứa thay đổi những lập luận gây chia rẽ ở Washington – ông đã hỏi “Sao, tôi làm tốt chứ?”
“Barack luôn rất trầm tĩnh, ông ấy luôn kiểm soát được tâm trạng,” Flowers nói. “Còn Michelle thì thuộc tuýp người bộc trực hơn.”
Do gặp một trục trặc nhỏ trong kế hoạch làm việc (ai đó đã quên không tính thời gian ăn trưa theo truyền thống ở điện Capitol sau lễ tuyên thệ nhậm chức) nên gia đình Obama chỉ có 45 phút để chuẩn bị cho các buổi khiêu vũ tối hôm đó. Trên đường hối hả để kịp đến với các buổi dạ vũ, tổng thống ghé qua phòng chăm sóc sắc đẹp nhỏ nằm trên tầng hai của Nhà Trắng và hỏi ý kiến vợ xem nên đeo chiếc nơ nào.
“Anh muốn mình trông đẹp nhất vì em,” ông nói với vợ.
Khi ông bước ra ngoài, Flowers để ý thấy một bên cổ tay áo của ông không được thẳng thớm.
“Barack, kiểm tra lại cổ tay áo,” Flowers lưu ý ông.
“Ồ, đẹp rồi, ai thèm quan tâm,” Obama vui vẻ nói.

Khi Ikram Goldman, chuyên viên phục trang của đệ nhất phu nhân đồng thời sở hữu cửa hàng thời trang cao cấp mà Michelle Obama thường xuyên lui tới trước khi vào Nhà Trắng, nghe Flowers gọi tổng thống là ‘Barack’, cô nạt ông ta. “Cô ấy nói tôi phải gọi ông ấy là ‘Ngài tổng thống’,” Flowers nhớ lại. “Khi tôi gọi ông ấy là ‘Barack’, ông ấy chỉ cười. Tôi đã từng dự đám cưới hai vợ chồng họ, cũng đã từng gặp ông cụ thân sinh của Michelle, ông ấy đối với tôi không hề thay đổi,” Flowers nói, vẫn còn băn khoăn vì lời quở trách. “Tôi thấy gọi thế không tự nhiên.” Việc chuyển từ gọi tên riêng sang gọi chức danh là điều mà nhiều người bạn của các tổng thống tương lai phải làm. Thư ký phụ trách sự kiện xã hội của gia đình Kennedy, Letitia Baldrige – sau này trở thành nhân viên phụ trách nghi thức – quen biết hai vợ chồng họ từ khi họ còn là “Jack và Jackie”, nhưng lập tức sau cuộc bầu cử tổng thống tháng 11 năm 1960, họ liền trở thành “Ngài Tổng thống và Phu nhân Kennedy”. “Tổng thống và Phu nhân Kennedy có thể từng là bạn bè thời trẻ của tôi, nhưng giờ đây họ được bao bọc trong ánh hào quang của người quyền tước.” Rất ít người giờ đây còn gọi Tổng thống Obama bằng tên riêng của ông.
NGÀY NHẬM CHỨC – một sự kiện vĩ đại đối với bất kỳ vị tổng thống mới nào – bắt đầu vài giờ trước khi tiến hành tuyên thệ lúc 12 giờ trưa ở Điện Capitol. Ngay từ sáng sớm, tổng thống đã được cố vấn an ninh quốc gia của vị tổng thống sắp mãn nhiệm và cố vấn an ninh quốc gia của ông thông báo tường tận về tình hình an ninh trong nước. Sau phần thông báo, một sĩ quan cao cấp của văn phòng quân đội ở Nhà Trắng cho ông biết mật mã khởi động tấn công hạt nhân. Ngay sau khi tổng thống tuyên thệ nhậm chức, một người trợ lý cầm theo “quả bóng” – một chiếc cặp chứa mật mã – sẽ luôn theo sát cạnh ông (Sau khi tuyên thệ, tổng thống sẽ được trao một chiếc thẻ cho phép ông khởi động các cuộc tấn công). Tất cả những việc này sẽ diễn ra trước lễ nhà thờ buổi sáng.
Vị tổng thống mới vừa phải tự điều chỉnh cho phù hợp với gánh nặng của công việc mới, vừa phải tập thích ứng với cuộc sống trong dinh. Sau khi nhậm chức, ngày hôm sau Tổng thống Obama đến Phòng Đông để ra mắt các nhân viên. “Ánh mắt tổng thống lộ rõ vẻ kinh ngạc,” nhân viên cắm hoa Bob Scanlan nhớ lại. “Giống như là ‘Wow’, ông ấy không ngờ số nhân viên giúp việc cho Nhà Trắng lại đông đến thế.” Những nhân viên mà ông Obama chào ngày hôm đó không chỉ chịu trách nhiệm phục vụ cho khu nhà riêng mà còn phụ trách cả Tầng Khánh tiết, và dòng người tham quan Nhà Trắng không dứt.
Các nhân viên ở Cánh Tây, trong đó nhiều người đã quen với lối sống phi thể thức ở chiến dịch tranh cử, đột nhiên bị đẩy vào những vai trò mới nhưng lại không biết nhiều về các công việc này. Với Katie Johnson, thư ký riêng của ông Obama, thì ngày nhậm chức là một ngày “hoàn toàn hỗn loạn”. Khi cô đến Nhà Trắng sáng hôm đó, cô được thông báo là mình chưa được duyệt để bước vào Nhà Trắng. “Tôi phải tự học cách lo liệu mọi thứ,” cô nói (Trợ lý cấp cao của ông Obama là Denis McDonough cuối cùng cũng duyệt cho cô vào). Nhưng các rắc rối của cô chưa dừng lại ở đó. “Bây giờ nhìn lại, tôi thấy khu Cánh Tây rất nhỏ,” cô nói, “nhưng lúc đó, trông nó như một mê cung.” Sau khi đã ổn định công việc trong “Phòng Bầu dục ngoài” (Outer Oval), một văn phòng nhỏ nằm ngay bên ngoài Phòng Bầu dục, cô dành phần lớn thời gian trong ngày để học một khóa cấp tốc về cách sử dụng hệ thống điện thoại “cực kỳ phức tạp”. Trong mấy tuần đầu làm việc cho chính quyền mới, cô nhớ mình đã không tài nào chuyển được cuộc gọi của một viên chức cấp cao cho tổng thống trên Air Force I. Cô không thể nối máy thành công và cuối cùng đích thân ông Obama phải gọi điện trực tiếp cho người đó từ trên máy bay. “Lúc đó tôi rất hoảng sợ,” cô Johnson nhớ lại.
Với các nhân viên làm việc trong dinh, tất nhiên đây không phải lần đầu họ nhìn thấy cảnh này nên họ dễ dàng giúp cô dẹp tan cơn hoảng loạn. Do các nhân viên ở khu Cánh Tây phải dựa vào sự giúp đỡ của Phòng Quản lý để có thể ổn định công việc, nên Johnson liên tục hỏi các quản lý hết câu này đến câu khác, kể cả chuyện Phòng Hoa nằm ở đâu để cô xuống dặn các nhân viên ở đó đưa thêm táo Gala vào Phòng Bầu dục. “Có chuyện gì thắc mắc, tôi cũng gọi cho Phòng Quản lý,” cô nhớ lại. “Nếu có người muốn uống một loại rượu vang nào đó trong Phòng Bầu dục, tôi sẽ gọi cho Phòng Quản lý và họ sẽ tìm ra thứ rượu ấy.”
Thỉnh thoảng cô cũng cần đến sự giúp đỡ của các nhân viên quản lý và người hầu riêng của tổng thống để tìm các tài liệu nội bộ quan trọng của tổng thống, nhất là khi đó lại là một tài liệu mà các nhân viên khu Cánh Tây cần đến nhưng không ai tìm ra. “Mỗi khi tôi hoảng sợ vì tìm mãi thứ gì đó không ra – tổng thống lúc đó lại đang đi xa nên tôi không thể hỏi ông ấy – và tờ giấy đó lại được nói là có ghi một quyết định quan trọng, và Tổng thống nói là đã đưa nó cho tôi nhưng tôi thề là mình không giữ nó, tôi sẽ nhờ họ kiểm tra lại,” cô nói không kịp thở. “Họ sẽ đi tìm tờ giấy đó và số lần họ tìm được lên đến 90%.”
Reggie Love nhớ lại chuyện các nhân viên quản lý kiên nhẫn thế nào khi giúp anh “lèo lái hậu trường Nhà Trắng”. “Sảnh nào và phòng nào cũng có nickname,” anh nói.
Một vài ngày sau, vợ chồng Obama bắt đầu “đi thăm dần dần từng nơi trong tòa nhà”, Scanlan nhớ lại, thường là sau khi khách tham quan và hầu hết các gia nhân đã ra về. “Đây cũng là một quy trình mà họ phải thực hiện để biết mặt gần một trăm nhân viên làm việc ở đây, bởi họ không thể nhìn thấy tất cả các nhân viên cùng một lúc. Có thể mỗi lần họ chỉ gặp được mỗi một cô hầu phòng hay một nhân viên cắm hoa. Còn trên lầu thì chỉ có mỗi một người đầu bếp lo chuyện nấu nướng. Họ không biết mặt tất cả những người khác đang làm việc trong các phòng ban dưới nhà. Cuối cùng họ cũng gặp được tất cả nhân viên nhưng phải mất một thời gian dài.”
Và cuối cùng thì họ cũng quen với việc được giúp đỡ, hoặc ít ra cũng là học cách sống chung với điều ấy. “Tôi nghĩ các nhân viên Nhà Trắng rất biết cách giúp các gia đình tổng thống thích nghi và cảm thấy bình thường nhất có thể với cả chục người xung quanh, kẻ thì đưa hoa đến, người thì hút bụi, kẻ sửa sang cái nọ cái kia,” bà Michelle Obama nói. “Ta bắt đầu xem họ như người nhà về nhiều mặt, và đó chính là nét đẹp của nơi này.”
MỖI MỘT ĐỆ nhất gia đình đều có cách hành xử khác nhau với các nhân viên xung quanh. Gia đình Tổng thống Herbert Hoover ở cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930 thường không thích nhìn thấy người giúp việc xung quanh. Mỗi khi nghe thấy ba tiếng chuông của ông, tất cả các hầu phòng, phục vụ và lao công đều phải chạy biến vào các căn phòng nhỏ. Tổng thống Roosevelt và Tổng thống Truman thì thoải mái hơn khi bảo các gia nhân cứ tiếp tục làm việc khi họ bước vào phòng.
Sau này, mối quan hệ giữa các đệ nhất gia đình và nhân viên trở nên thoải mái hơn rất nhiều. Cô hầu phòng Ivaniz Silva cho biết các đệ nhất phu nhân thường thuộc hết tên mọi nhân viên trong vòng một tuần, hay ít ra cũng là tên của khoảng một chục nhân viên làm phòng và nhân viên phục vụ túc trực trên tầng hai và tầng ba.
Có một ngày, Silva kể, cô đang quét dọn thì bà Barbara Bush bước vào ngăn cô lại.
“Ồ, tôi chưa từng thấy cô trước đây,” phu nhân Bush nói.
“Nhưng tôi có hình trong sách mà,” cô khăng khăng nói.
“Cô có chắc không?” đệ nhất phu nhân liền đi lấy cuốn sách liệt kê tên các gia nhân Nhà Trắng do người tổng quản lý chuẩn bị. Vài phút sau bà quay trở lại.
“À, tấm hình trông không đẹp lắm nên tôi không nhận ra cô,” bà trêu.
Cùng với những đồ đạc mới và lớp sơn mới, mỗi đệ nhất gia đình còn đưa một tinh thần mới vào Nhà Trắng. Việc chuyển từ gia đình Eisenhower sang gia đình Kennedy là cả một sự thay đổi lớn lao về ngoại hình – từ cặp vợ chồng lớn tuổi hiện thân cho mẫu hình ông bà nội ngoại ở thập niên 1950 đến cặp vợ chồng trẻ đẹp với hai con nhỏ – lẫn về lối sống. Các nhân viên phải làm quen với phong cách tiếp khách thoải mái của vợ chồng Kennedy, chẳng hạn như đeo nơ đen thay vì nơ trắng, phục vụ rượu cocktail trước khi ăn tối, và cho phép khách hút thuốc ở mọi nơi. Ở các bữa tiệc tối trang trọng, gia đình Eisenhower thường chiêu đãi khách sáu món và xếp họ ngồi quanh một chiếc bàn tiệc khổng lồ hình chữ E. Nhưng gia đình Kennedy đã nhanh chóng thay chiếc bàn này bằng mười lăm chiếc bàn tròn tám hay mười chỗ, đồng thời giảm số món ăn xuống còn bốn.
Vốn quen với cuộc sống giàu sang và có đông đảo người giúp việc vây quanh nên bà Jackie Kennedy rất hồ hởi với việc điều hành tòa dinh thự 132 phòng này. Buổi sáng ngay sau ngày chồng bà nhậm chức, bà đến gặp Tổng Quản lý J.B. West. “Tôi muốn gặp toàn thể các nhân viên trong hôm nay,” bà bảo ông. “Ông có thể đưa tôi đi một vòng Nhà Trắng để gặp họ ở nơi làm việc được không?”
Do không muốn đưa đệ nhất phu nhân đến các phòng ban mà không thông báo trước, West đề nghị gọi từng nhóm ba người một đến gặp bà. Mỗi nhóm, từ quản lý và nhân viên phục vụ đến nhân viên làm phòng và đầu bếp đều vô cùng lo lắng trước kiểu kiểm tra trang trọng này. Nhưng khi bước ra khỏi thang máy, họ giật mình khi nhìn thấy đệ nhất phu nhân mặc quần tây (một cảnh tượng gây sốc vào thời đó) mang ủng nâu đứng đó với mái tóc rối bù. Trong lúc các nhân viên từng người một tự giới thiệu mình với đệ nhất phu nhân, ông West nhớ lại, Jackie tìm đủ cách để nhớ tên họ. Bà chầm chậm lặp lại từng tên một, và mặc dù không ghi xuống giấy nhưng bà vẫn nhớ tất cả các tên. Lucinda Morman, một trong những cô hầu phòng gặp bà ngày hôm ấy, là một thợ may rất khéo, đệ nhất phu nhân sau đó đã nhờ cô may cho bà những chiếc váy dạ hội độc nhất vô nhị của nhà thiết kế Oleg Cassini.
Jackie Kennedy là người thích sự hoàn hảo và can thiệp rất sâu vào hoạt động hằng ngày của Nhà Trắng. Mỗi tối bà đều tự ghi ra cho mình từng hạng mục công việc để kiểm tra, việc nào làm xong sẽ được bà xóa đi. Ngày nào bà cũng viết cho ông West vài dòng trên tập giấy nhỏ màu vàng mà đi đâu bà cũng cầm theo.
“Bà ấy lúc nào cũng có cả một danh sách công việc cho tôi,” West hồi tưởng. “Ai phụ trách việc gì, bà ấy cũng đều nắm tên và bên dưới từng cái tên ấy, bà ấy ghi chú tất cả những gì cần bàn bạc với họ.”
Phu nhân Kennedy để ý thấy một số gia nhân rất bất an khi làm việc cạnh gia đình tổng thống. Bà viết về các nhân viên làm phòng như sau: “Họ sợ làm việc trong Nhà Trắng và cạnh gia đình tổng thống đến mức cứng đờ cả người và trở nên hoảng loạn. Ngay cả Lucinda, mặc dù đã biết tôi rất rõ nhưng cô ấy vẫn cứ xin lỗi tới xin lỗi lui đến 10 phút nếu như đánh rơi một cái kẹp.” Để giúp họ vượt qua nỗi sợ hãi, bà gợi ý họ lên tầng hai và tầng ba làm việc thường xuyên hơn để quen với việc ở cạnh gia đình bà. “Tôi không thể chỉ bảo họ bất cứ điều gì – cũng không có thời gian – khi họ hoảng sợ đến vậy.”
ÔNG GÁC CỬA Preston Bruce đã quen với lối sinh hoạt có thể đoán trước của gia đình Eisenhower, như đi ngủ lúc 10 giờ chẳng hạn. Vì thế lúc vợ chồng Kennedy đi dự tiệc khiêu vũ nhậm chức về lúc 2 giờ sáng, ông chắc mẩm họ rất mệt mỏi. Thế nhưng ngược lại, họ còn đưa thêm bạn bè về Nhà Trắng và tiếp tục tiệc tùng thâu đêm trên tầng hai, không biết rằng các gia nhân phải ở lại chờ cho đến khi vợ chồng tổng thống lên giường an toàn mới có thể ra về. Mãi đến 3 giờ 15 phút sáng, Bruce mới tiễn vị khách cuối cùng ra khỏi cửa và tắt hết đèn ở Phòng khách Tây (West Sitting Hall). Nhưng khi ông đến phòng tổng thống thì không thấy ai ở đó.
“Phải ông đó không, Bruce? Tôi đang ở trong Phòng ngủ Lincoln,” vị tổng thống gọi với ra ngoài. Bruce không thể tin được. Các gia nhân đều nghĩ căn phòng này bị nguyền rủa. Kennedy gọi một lon Coca và nhờ ông Bruce mở cửa sổ để không khí lạnh tràn vào. Jackie gọi với ra từ Phòng Nữ hoàng phía bên kia hành lang để nhờ người gác cổng sốt sắng mang cho bà cốc rượu khai vị. Mãi đến sau 4 giờ sáng, Bruce mới được về nhà.
Mặc dù phải thức suốt đêm đầu tiên nhưng Bruce bắt đầu thấy yêu mến gia đình Kennedy, và vì ông làm việc ban đêm nên nhìn thấy được những cảnh riêng tư của gia đình này. Ông cười phá lên khi chứng kiến cảnh cặp vợ chồng trẻ đẹp chạy qua chạy lại phòng nhau trong đêm khuya lúc ông mang đồ uống lên cho họ sau bữa ăn tối. “Đừng lo, Bruce, chúng tôi biết ông cũng đã có gia đình rồi,” Jackie Kennedy nói, mắt long lanh.
Suốt từ năm 1953 đến năm 1977, ngày nào Bruce cũng đến Nhà Trắng từ lúc 3 giờ trưa, đón những nhân vật quyền quý ở cửa, trấn an những người khách lo lắng trước khi gặp tổng thống, hộ tống tổng thống từ Phòng Bầu dục về khu nhà ở mỗi buổi tối và chờ cho đến khi tổng thống lên giường mới về nhà mình, ông là một nhân viên xuất sắc của Nhà Trắng. Các nhân viên khác không tiếc lời khen ngợi vẻ lịch lãm của ông cùng khả năng giữ được sự điềm tĩnh dưới sức ép khổng lồ của công việc. Nhân viên phục vụ Lynwood Westray gọi ông là “nhà ngoại giao”.
“Đó là lý do ông được mọi người yêu mến. Có người có phong thái đó, có người không, ông có điều đó.”
Một ngày sau ngày Kennedy nhậm chức, Bruce hộ tống tổng thống và đệ nhất phu nhân lên lầu sau bữa ăn tối. Ông thở phào nhẹ nhõm khi nghĩ hôm nay mình có thể về nhà khá sớm. Nhưng “Bang! Cửa thang máy ở tiền sảnh phía bên kia Phòng Quản lý đột nhiên mở toang. Tổng thống nhào ra và chạy băng qua sảnh với các nhân viên mật vụ gấp rút đuổi theo sau lưng,” Bruce viết. Kennedy muốn ra ngoài dạo tối. Ông ấy ra ngoài cổng Tây Bắc và bước vào làn không khí lạnh giá, trên người không một chiếc áo khoác, “chỉ mới có 24 giờ ở Nhà Trắng mà ông ấy đã muốn trốn khỏi đó.”
Nhân viên mật vụ phải lôi Kennedy vào và bảo ông phải giới hạn việc đi dạo trong phạm vi 18 mẫu Anh bao quanh Nhà Trắng. Kể từ hôm đó, Bruce luôn chuẩn bị sẵn hai chiếc áo khoác, một cái để tổng thống mặc nếu muốn ra ngoài đi dạo bằng lối tầng một, còn cái kia để mặc khi chỉ loanh quanh ở Tầng Trệt. Lần nào ông đưa áo khoác và ủng đi mưa cho tổng thống cũng đều bị vị tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ phản đối. “Ông ấy như một cậu học trò nhỏ thích chạy vào làn không khí buốt giá mà không có áo ấm hộ thân.”
KHÔNG PHẢI GIA đình tổng thống nào cũng thích thú với việc đặt chân vào Nhà Trắng như gia đình Kennedy. Ngày thứ Hai sau cuộc bầu cử năm 1992, gia đình Clinton điện thoại cho nhà nội thất Kaki Hockersmith để nhờ cô thực hiện một nhiệm vụ khổng lồ: trang trí lại Nhà Trắng. Mặc dù đã từng giúp họ trang trí dinh thống đốc ở Arkansas nhưng bà không hề nghĩ sẽ có cuộc gọi này. Bà nhớ mình đã “rất, rất ngạc nhiên” nhưng cũng chấp nhận lời mời. Từ lúc diễn ra cuộc bầu cử đến lúc tổng thống nhậm chức, bà đến dinh thống đốc vài ba lần để đưa vợ chồng Clinton xem các mẫu vải khác nhau cùng những đồ đạc mà bà chọn cho dinh tổng thống.
“Lần đầu tôi đến, Tổng thống Clinton đang họp với đội ngũ chuyển giao quyền lực của ông nhưng bà Hillary gọi ông ra ngoài,” bà nói. Hockersmith bày các mẫu vải và mẫu thảm ra mặt bàn bếp cho ông xem (Clinton nằm trong số rất ít tổng thống quan tâm đến việc trang trí). Các tuần kế tiếp, bà đến Nhà Trắng vài lần để làm việc với các nhân viên quản lý mỹ thuật. Họ đưa bà đến một nhà kho khổng lồ có điều hòa nhiệt độ quanh năm ở Riverdale, Maryland, cách Washington khoảng 18 km, nơi cất giữ những đồ nội thất từng được trưng bày trong Nhà Trắng. Các gia đình tổng thống sắp dọn đến có thể chọn những món đồ họ thích trong kho để đưa trở về dinh.
Đồ nội thất ở Riverdale được cẩn thận phân thành từng loại một. Cạnh các dãy bàn làm việc và bàn viết là các tủ com–mốt cùng những tấm thảm từng nằm trong Phòng Bầu dục dưới nhiều chính quyền khác nhau. Mỗi một món đồ nội thất của từng thời đại khác nhau đều được mô tả và liệt kê trong danh bạ với nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Các quản lý mỹ thuật biết rõ vị trí của từng cái chân nến và từng chiếc bàn trà trong cái không gian rộng lớn đó. Ở đó còn có cả một phòng bảo tồn, bên trong trang bị máy X–quang để chụp hình từng món đồ nội thất đưa vào sách hướng dẫn. Nhà kho này khác xa với nhà kho cũ nát ở Fort Washington dọc bờ sông Potomac ở Maryland, nơi bà Jackie Kennedy đã rất bất ngờ và sốc khi nhìn thấy những món đồ cổ quý giá nằm lây lất trên sàn đất.
Bà Hockersmith luôn mang theo một sơ đồ chi tiết của các tầng lầu để nắm rõ vị trí muốn đặt những món nội thất có sẵn trong dinh và những món lấy từ nhà kho về. “Chúng tôi có một kế hoạch rất tốn kém,” Hockersmith nói với giọng mệt mỏi khi nhớ lại chuyện này.
Gia đình Clinton bắt đầu ngày nhậm chức bằng việc đi lễ nhà thờ và sau đó dừng chân một lúc ở Blair House. Khi họ đến Nhà Trắng thì đã 10 giờ 27 phút sáng, trễ 27 phút. Gia đình Bush đã đứng chờ sẵn ở Cửa Bắc để đón họ.
“Chào mừng cháu đến nhà mới,” Tổng thống George H.W. Bush nói với cô bé Chelsea 12 tuổi đang vuốt ve chú chó Millie giống springer spaniel của ông. Vị tổng thống sắp mãn nhiệm chúc người kế nhiệm may mắn và theo truyền thống, ông để lại trong ngăn kéo bàn làm việc ở Phòng Bầu dục một một bức thư ngắn ghi các lời khuyên dành cho người kế nhiệm (Khi Clinton rời nhiệm sở 8 năm sau, ông cũng để lại cho Tổng thống George W. Bush một bức thư ngắn kèm theo bức thư mà ông Bush cha để lại cho ông), chi tiết của những bức thư này không được công bố.
Vào ngày trọng đại đó, bà Hillary Clinton nói với Hockersmith rằng bà không muốn bà ấy vắng mặt ở buổi lễ nhậm chức, tổ chức tại mặt tiền phía Tây của tòa nhà Quốc hội Mỹ, tuy nhiên bà cần bà ấy quay lại Nhà Trắng ngay sau khi buổi lễ kết thúc.
“Chúng tôi phải tìm cách đưa cô ra khỏi cái nơi lộn xộn đó để nhanh chóng quay về Nhà Trắng,” bà Hillary nói.
Sau khi buổi lễ kéo dài cả giờ đồng hồ kết thúc, Hillary nói Hockersmith đi tìm một viên đại tá đang ngồi đâu đó trên một chiếc xe van để ông ta giúp bà nhanh chóng trở về Nhà Trắng trông coi việc trang trí.
“Tôi nghĩ không biết họ làm cách nào để lo chuyện đó,” Hockersmith nói.
Giữa đám đông đang reo hò ở Điện Capitol ngày 20 tháng 1 năm 1993, Hockersmith ngạc nhiên khi nhìn thấy chiếc xe van đang chờ bà. Mỗi khi họ đến rào chắn an ninh nào, người cảnh sát nơi ấy lại giở thanh chắn cho họ đi qua. “Chắc họ nghĩ chúng tôi là những nhân vật nổi tiếng.”
“Chúng tôi chạy đến Bãi cỏ phía nam và trên đường đi nhìn thấy hai cái xe tải lớn, bên hông ghi dòng chữ “Little Rock, Arkansas,” bà nói. “Một chuyến đi khá là hào hứng.”
Vợ chồng nhà Clinton bỏ ra khoảng 400.000 đô để trang trí lại Nhà Trắng, toàn bộ số tiền này đều do các cá nhân tài trợ. Nhưng nỗ lực này không được một số người bên trong và bên ngoài Nhà Trắng tán thành. Ngay cả những nhân viên bình thường vẫn rất thận trọng kín đáo cũng gọi các nỗ lực của bà Hockersmith là thiếu tổ chức và cho rằng kỳ vọng của bà quá cao.
Tổ trưởng tổ điện Bill Cliber, người từng tham gia dọn nhà cho chín lần chuyển tiếp, nói rằng gia đình Clinton là gia đình đem lại nhiều khó khăn nhất khi chuyển đến Nhà Trắng. Không lâu trước lễ nhậm chức, bà Hockersmith nói với ông rằng ông và các thợ điện khác phải gắn bảy chùm đèn trần mới, và ngay lập tức.
“Sao ta phải làm việc đó ngay bây giờ? Cứ để họ chuyển vào đây trước đã, rồi chúng tôi sẽ làm sau,” Cliber nói.
“Không, họ muốn tất cả đều phải được thay trước khi họ bước qua ngưỡng cửa này,” bà trả lời.
Cliber không còn cách nào khác. Ông đến Phòng Hiệp ước ở tầng hai, nơi Tổng thống Clinton sau này sử dụng làm phòng làm việc riêng, để bắt đầu thay một trong những chùm đèn trần.
Hầu như ngay khi gia đình Clinton vừa từ buổi lễ diễu hành mừng tổng thống nhậm chức trở về, bà Hillary đã xuất hiện ở Phòng Hiệp ước “Ông còn ở đây bao nhiêu lâu nữa?” bà hỏi Cliber.
“Nói thật, tôi nghĩ tôi cần thêm bốn tiếng nữa,” ông vừa nói với bà vừa loay hoay với chùm đèn pha lê cầu kỳ, lúc này đã được tháo rời từng mảnh trên sàn.
“Được, để chúng tôi xem sao,” bà nói và chạy ào ra ngoài.
Một lúc sau, Hockersmith thò đầu vào và bảo Cliber phải ra khỏi phòng trong vòng 20 phút nữa. Ông nói ông cần thêm chút thời gian để nhặt hàng trăm mảnh pha lê quý giá vương vãi trên sàn nhà. Bà trả lời: “Ông đừng lo chuyện đó. Ta có thể thay chúng bằng những thứ khác.”
“Không được đâu, thưa bà. Đây là những mảnh pha lê không thay thế được,” ông nói với giọng phẫn nộ.
Cliber bước ra khỏi phòng theo lời Hockersmith, để lại căn phòng Hiệp ước đầy các mảnh pha lê vương vãi. Nhưng ông không muốn chịu thua đệ nhất phu nhân hay nhà trang trí nội thất của bà. Ông nhờ Tổng Quản lý Mỹ thuật Rex Scouten, người được các nhân viên rất kính trọng (ông từng làm Quản lý rồi Tổng Quản lý từ năm 1969 đến 1986 trước khi chuyển sang làm Quản lý mỹ thuật), khóa chặt cửa phòng lại để bảo vệ chùm đèn cho đến khi ông có thể quay lại với công việc. Người thợ điện sau đó đã không được phép quay trở lại căn phòng này trong ba tuần lễ.
Gary Walters là người luôn thận trọng để không chỉ trích bất kỳ một chính quyền nào. Nhưng khi nghe tôi hỏi về chuyện chuyển nhà của gia đình Clinton, ông ngập ngừng một lúc lâu rồi mới nói tiếp: “Thời điểm khó khăn nhất là thời điểm chuyển từ một chính quyền này sang một chính quyền khác không cùng đảng phái.” Theo ông thì vợ chồng Clinton “không có chút khái niệm nào về Nhà Trắng”. Ngày nào ông cũng phải lên khu nhà ở nhiều lần để trả lời các thắc mắc của họ.
Quản lý Nancy Mitchell đang trực lúc sáng sớm thì vợ chồng tổng thống quay về nhà từ các buổi dạ vũ nhậm chức. “Tổng thống Clinton muốn gọi điện thoại nên tôi đi cùng ông ấy lên lầu. Bất chợt tôi nghe ông ấy gọi to tên tôi ‘Nancy!’ Tôi đáp ‘Vâng, thưa ông’, ông ấy hỏi: ‘Tôi phải làm sao để gọi được điện thoại?’” Chả là khi tổng thống nhấc điện thoại lên, âm thanh ông nghe được không phải là tín hiệu điện thoại mà là tiếng chào của nhân viên tổng đài Nhà Trắng, ông thấy sốc vì không thể tự mình gọi điện ra ngoài. Không bao lâu sau, toàn bộ hệ thống điện thoại đều được thay mới.
Nhưng chuyện này vẫn không ngăn được gia đình Clinton gọi bạn bè họ (còn gọi là Friends of Bill’s hay FOBs) ở Little Rock đến để giúp họ dỡ hành lý, khiến mọi chuyện trở nên phức tạp hơn.
“Chúng tôi đã làm việc này suốt 200 năm nay rồi,” Quản lý Chris Emery nói. “Thế mà họ còn nhờ đủ loại người đến giúp. Tất nhiên là chúng tôi bực bội rồi, bừa bộn không thể tả.” Emery, vốn quan hệ không tốt với gia đình Clinton và cuối cùng bị sa thải ngay dưới chính quyền này, nói rằng nhiều FOBs có tiền án tiền sự. Theo ông thì Cơ quan Mật vụ đã nhiều lần gọi điện cho Phòng Quản lý để thông báo việc một số khách mời từ Arkansas không được thông qua khâu kiểm tra lý lịch nên “không thể vào trong”. Emery phải thuyết phục các nhân viên mật vụ là “Tổng thống đang đợi họ. Mấy anh cho họ vào đi.” Cuối cùng họ phải cử các đặc vụ lên tất cả các tầng lầu để canh chừng: “Nếu ta đưa một người có ‘tì vết’ [trong lý lịch] vào trong thì ta phải theo sát họ.” Chẳng bao lâu sau, Emery buồn rầu chứng kiến một số người có “tì vết” ở trong dinh tổng thống.
Hockersmith tự tay trang trí lại một số thứ, bao gồm cả việc sắp đặt hình ảnh cá nhân của gia đình Clinton cùng mấy món đồ trang trí lặt vặt mà họ đem từ Little Rock về, trong đó có bộ sưu tập ếch rất đặc sắc. Hình như khi Hillary và Bill Clinton hẹn hò nhau, ông đã mê hoặc bà bằng một câu chuyện thời thơ ấu của ông. Điểm nút của câu chuyện này là: “Ta không thể biết con ếch nhảy xa đến đâu cho đến khi cho nó một cú hích.” Câu này có thể hiểu là: Ta không bao giờ biết mình có thể đi xa tới đâu cho đến khi thử làm điều đó – một giai thoại rất thích hợp với cặp vợ chồng trẻ đầy tham vọng này. Khi chồng bà lần đầu tiên tranh cử tổng thống, Hillary đã tặng ông một bức tranh vẽ con ếch bị đấm và đang nhảy vọt lên, bên dưới là câu nói bất hủ của ông. Năm 1993, Bill tặng sinh nhật vợ một con ếch đội vương miện bằng thủy tinh cùng dòng chữ đính kèm: “Con ếch này hẳn đã là anh nếu như em không xuất hiện.”
Với Hockersmith, lúc đầu khi chưa biết ý nghĩa tình cảm của những con ếch, những con vật này trông giống như một sự kết hợp lộn xộn của những món quà lựa chọn sai lầm. “Hẳn ai đó khi đến nhà sẽ nghĩ rằng ‘Ồ, chắc họ thích ếch lắm’, và thế là họ sẽ được tặng một con ếch vào ngày sinh nhật.” Bà đã cố sắp xếp để mấy con ếch đó trông đẹp mắt nhất.
Khi gia đình tổng thống trở về Nhà Trắng sau lễ diễu hành mừng ngày nhậm chức, Hockersmith nhớ lại, “cũng là lúc mọi người biến mất”. Những nhân viên làm việc cả ngày để khiến tòa nhà trở nên hoàn hảo lúc này đã quay trở về nơi làm việc của họ để gia đình tổng thống được hưởng một chút riêng tư mà họ rất cần.
Hockersmith sau đó trở thành nhân viên cố định của Nhà Trắng. Trong suốt 8 năm tại vị của ông Bill Clinton, thỉnh thoảng bà lại đến sống ở Phòng Nữ hoàng để tiếp tục công việc trang trí lại Nhà Trắng. Căn phòng của bà ở trên tầng hai chỉ cách khu sinh sống của gia đình tổng thống vài cánh cửa nhỏ ngăn cách đầu tây với đầu đông của tòa nhà. Bà cố làm căn nhà sáng sủa hơn khi chủ yếu tập trung vào việc biến phòng để đồ ăn [**] buồn tẻ của các nhân viên phục vụ thành một góc ăn nhỏ mà Chelsea có thể ngồi làm bài tập. Nhưng việc trang trí lại Nhà Trắng của Hockersmith vấp phải nhiều ý kiến khen chê lẫn lộn, đặc biệt là những món đồ nội thất cầu kỳ theo phong cách Victoria mà bà đưa vào Phòng khách Lincoln đã bị chỉ trích rất nặng nề.
[**](Phòng để đồ ăn (tiếng Anh: pantry): nằm giữa nhà bếp và phòng ăn, là nơi mà các món ăn chuẩn bị sẵn trong bếp được đưa ra để từ đó dọn lên phòng ăn.)
TRONG KÝ ỨC của những người nhìn lại quá khứ, không có sự chuyển tiếp nào gây sốc hơn biến cố dữ dội và bất ngờ giúp đưa Tổng thống Lyndon B. Johnson cùng gia đình ông bước vào Nhà Trắng. Các nhân viên ở tư dinh vừa phải giúp một đệ nhất phu nhân đau khổ tột cùng và hai con dọn ra ngoài, mặc dù bản thân họ cũng rất buồn, vừa phải giúp gia đình Johnson dọn vào. Và tất cả những điều này phải được thực hiện sao để không làm phu nhân Kennedy cảm thấy như mình phải gấp gáp dọn đi, hay làm cho gia đình Jonhson cảm thấy họ bị lơ là. “Tôi phối hợp làm việc với các thư ký xã hội khác và họ cố tỏ ra phấn khích khi đến đó,” thư ký xã hội của phu nhân Bird, Bess Abell, người có ngoại hình rất giống nữ diễn viên Katherine Hepburn, nói một cách trìu mến về gia đình Johnson. “Tôi vào Nhà Trắng trong một hoàn cảnh rất khác. Thay cho sự hứng khởi rộn ràng của ngày nhậm chức, chúng tôi bước vào một tòa nhà mà tất cả các chùm đèn và các cây cột đều trùm kín khăn đen.”
Đệ nhất phu nhân mới, Lady Bird Johnson, thường xuyên than phiền về tình cảnh khó khăn mà gia đình bà đột nhiên bị đẩy vào. “Mọi người mắt nhìn người sống nhưng miệng thì cầu nguyện cho người chết,” bà nói.
Để tỏ lòng tôn trọng người vợ góa của cố tổng thống, ông Lyndon B. Johnson, người bị các nhân viên của Kennedy căm ghét, chỉ chuyển vào Nhà Trắng ngày 7 tháng 12 năm 1963. Ông bắt đầu đến Phòng Bầu dục làm việc ngày 26 tháng 11. Trước ngày đó, ông làm việc ở Phòng 274 của Tòa nhà Văn phòng Hành chính Cũ (Old Executive Office Building) ngay sát cạnh Nhà Trắng. Một số cố vấn của Tổng thống Johnson biện luận rằng dọn vào Nhà Trắng ngày 7 tháng 12, tức ngày kỷ niệm 22 năm Trân châu Cảng bị tấn công, là điều bất kính. Một số khác chỉ đơn giản muốn cho phu nhân Kennedy thêm chút thời gian trước khi rời Nhà Trắng. Mọi động thái của vợ chồng Johnson hẳn đã gây không ít đau đớn bởi không việc gì họ làm có thể khiến các trợ lý đau khổ của Tổng thống Kennedy yêu thích họ.
Luci Baines Johnson, lúc đó mới 16 tuổi, nhớ có lần nghe được “màn tranh cãi duy nhất” của bố mẹ cô, điều mà từ trước đến giờ cô nhớ chưa từng xảy ra với họ. “Chúng ta phải chuyển vào đó ngày 7 tháng 12, Bird,” Johnson nói với vợ. “Anh Lyndon, ngày nào cũng được trừ ngày này. Bất cứ ngày nào cũng được trừ ngày này,” mẹ cô nài nỉ nhưng không tác dụng.
Khi gia đình Johnson cuối cùng dọn vào Nhà Trắng, cô con gái Luci của họ chở theo hai con chó beagle, một đực một cái, trên chiếc xe hơi mui trần của cô. Còn phu nhân Bird cùng với Bess và Liz Carpenter, nữ thư ký báo chí của bà, thì chở những món đồ dễ vỡ cùng chân dung của phát ngôn viên Hạ viện Hoa Kỳ Sam Rayburn, một người bạn đến từ Texas và cũng là cố vấn dày dạn kinh nghiệm của Tổng thống Johnson.
Lúc đầu gia đình Johnson vẫn còn ngại ngùng với Nhà Trắng, giống như thể họ đang xâm phạm một nơi thiêng liêng. Nhưng các nhân viên trong dinh, không giống như các trợ lý chính trị của Kennedy, không bao giờ làm họ cảm thấy như họ đang xía mũi vào chuyện người khác. “Tôi không bao giờ cảm thấy như ‘sao cô có thể có mặt ở đây?’” Lucia nói với tôi, mà là ‘Ồ, hẳn cô đã thấy rất khó khăn khi vào đây trong hoàn cảnh này. Chúng tôi có thể giúp gì được cho cô? Chúng tôi có thể chỉ dẫn gì được cho cô?’”
Không phải ai cũng chào đón gia đình Johnson. Sau khi Tổng thống Kennedy bị ám sát, Traphes Bryant, người thợ điện bắt đầu chăm nom cho đàn chó của tổng thống kể từ thời Kennedy (có lúc họ có đến 9 con chó) và tiếp tục công việc này cho đến thời kỳ Nixon, luôn cảnh giác với Tổng thống Johnson. “Tôi vừa mất đi một con chó thì nay lại có thêm một vị tổng thống không hề quen biết. Không những tôi không biết ông ta mà tôi cũng không nghĩ mình muốn biết ông ta. Ông ta không trẻ trung hay tử tế hoặc nhanh trí như Kennedy, đã thế tôi còn nghe ông ta la lối người giúp việc khi công việc không hoàn thành nhanh như mong muốn.” Bryant mô tả sự thay đổi bất ngờ ở Nhà Trắng để đón vị tổng thống mới như sau: “Mấy con terrier ra đi để mấy con beagle bước vào, màu hồng của bà Jackie ra đi để màu vàng của bà Lady Bird bước vào, món súp trai ra đi để món ớt bước vào,” ông chỉ hy vọng một thứ không thay đổi, đó là Tổng thống Johnson sẽ thích cách ông huấn luyện mấy chú chó chào mừng chủ nhân của chúng ở Bãi cỏ phía nam khi họ quay về trên chiếc trực thăng Marine One. Tổng thống Kennedy hoàn toàn thích việc này. Ông luôn toe toét chào đón mấy con chó đang chờ ông “như thể chúng là những vị chủ nhà cao quý”.
Sau sự ra đi đột ngột của gia đình Kennedy, Bryant đã viết những dòng thương cảm như sau: “Mấy đứa bé đang chập chững ra đi để mấy cô nàng tuổi teen bước vào” để nói về những đứa trẻ thay thế Caroline và John–John, tức Luci và Lynda, các cô con gái nhà Johnson. Tuy nhiên, cuối cùng, Bryant cũng dần dần yêu thương gia đình Johnson.
Trong hồi ký của mình, phu nhân Lady Bird Johnson mô tả việc thay thế Jackie là điều không thể và thán phục “tinh thần thép và sự bền bỉ” chảy trong huyết mạch của người tiền nhiệm của bà. Bà nói bà cảm thấy như mình “bất chợt phải vào một vai mà tôi chưa bao giờ tập dượt”.
Trong lúc vị tổng thống mới đang làm việc ở nơi ở tạm của ông thì các nhân viên Nhà Trắng lặng lẽ chuẩn bị cho sự chuyển tiếp, chỉ bốn ngày sau khi Kennedy bị ám sát, Tổng Quản lý J. B. West đến thăm bà Lady Bird tại dinh Washington của gia đình Johnson, được biết dưới tên gọi the Elms, để bàn xem gia đình Johnson sẽ đem những đồ đạc nào vào Nhà Trắng.
Chiều hôm đó, Phu nhân Johnson đến dùng trà với người vợ góa của ông Kennedy tại Nhà Trắng. Vị đệ nhất phu nhân sắp ra đi ân cần đưa người kế nhiệm của mình lên tham quan tầng hai để bà xem những món đồ nội thất của mình có hợp với phòng ngủ và căn phòng khách nhỏ mà Phu nhân Kennedy đã sống ở đó gần ba năm không. “Phu nhân đừng sợ ngôi nhà này. Quãng thời gian hạnh phúc nhất trong hôn nhân của tôi đã diễn ra ở đây, bà sẽ hạnh phúc khi sống ở đây,” Jackie nói. Lady Bird nói rằng Jackie đã liên tục nói câu đó trong lúc đưa bà đi tham quan ngôi nhà, đến mức bà cảm thấy như “bà ấy đang cố trấn an tôi”.
Jackie nói với bà rằng ông J. B. West và Quản lý Mỹ thuật Jim Ketchum là những người đáng tin cậy nhất trong số các nhân viên Nhà Trắng. Ketchum, từng giữ cương vị Tổng Quản lý Mỹ thuật của Nhà Trắng từ năm 1963 đến năm 1970, trìu mến nhớ lại lần đầu tiên gặp Phu nhân Lady Bird sau khi gia đình bà dọn vào Nhà Trắng. Là một trong số bốn nhân viên quản lý mỹ thuật, Ketchum chịu trách nhiệm lên danh bạ và bảo vệ từng món đồ nội thất và từng tác phẩm nghệ thuật trong bộ sưu tập riêng của Nhà Trắng, từ những kiệt tác của John Singer Sargent đến món đồ sứ thời George Washington.
Bà Lady Bird yêu cầu ông Ketchum sắp xếp thời gian để bà “vừa đi xem vừa học hỏi” sau khi chuyển vào Nhà Trắng, sao cho bà có thể cùng ông đến từng phòng để biết lịch sử của căn phòng đó và những đồ đạc bên trong. Bà nói bà cần có kiến thức về tòa nhà để có thể đưa khách khứa và bạn bè đi tham quan, một trong những nhiệm vụ của một đệ nhất phu nhân. Bà rất xem trọng vai trò mới của mình – một điều chẳng lạ khi bà bị gọi là người thế chỗ Jackie Kennedy trong chính quyền trước. Nếu có chuyện gì Jackie không cảm thấy muốn làm thì Lady Bird sẽ bước vào và thực hiện thật nghiêm túc.
Lần gặp mặt đầu tiên của Ketchum với tân đệ nhất phu nhân chẳng có gì là trang trọng. Khi bà Lady Bird điện xuống Phòng Quản lý Mỹ thuật gọi ông lên lầu, ông nhớ mình “đã nhìn thấy bà ấy trong căn phòng nhỏ chứa đồ nằm giữa phòng ngủ và phòng khách trong tư thế quỳ, hai tay chống xuống đất, trước mặt là một chiếc thùng các–tông để mở,” ông nói. Chung quanh bà là khoảng 20 con chim sứ, tất cả đều được gói ghém cẩn thận và đem từ the Elms đến. Ông ngồi xuống sàn và bắt đầu giúp bà tháo giấy gói cho từng con chim.
“Điều mà không ai trong hai chúng tôi nhận ra là đèn phòng được gắn trên khung cửa ngoài. Ngay khi chúng tôi bắt đầu tháo giấy gói và xếp các con chim lên sàn nhà thì Booner Arrington [người trưởng kíp mộc] và một người trong xưởng mộc của anh ta khiêng một chiếc ghế sofa đi ngang qua chiếc hành lang chật hẹp và tất nhiên là họ phải đóng cửa lại. Thế là chúng tôi phải lọ mọ trong bóng tối để cố bảo vệ mấy con chim và xem có cách nào đứng lên mà không giẫm lên chúng,” ông phá lên cười. Cuối cùng thì họ cũng tìm ra công tắc đèn mà không làm vỡ con chim nào.
Không bao lâu sau ngày dọn vào Nhà Trắng, tổng thống và đệ nhất phu nhân được mời đến ăn tối tại nhà Cố vấn Walter Jenkins. Sự vắng mặt của họ cho phép “các nhân viên Nhà Trắng đang phải tiếp tục công việc với tâm trạng nặng trĩu có một khoảng thời gian nghỉ ngơi,” Phu nhân Lady Bird nói.
Beth, con gái của gia đình Jenkins, là bạn thân của Luci. Tối hôm đó cô đến Nhà Trắng chơi và qua đêm tại đó. “Tất cả những gì tôi cảm nhận được là những thách thức và gánh nặng của sự chuyển tiếp này,” Luci nói với tôi.
Trong phòng cô ở Nhà Trắng có một lò sưởi và cô đốt lửa lên. “Tôi chưa bao giờ có thứ gì tuyệt vời hơn chiếc lò sưởi này trong phòng ngủ của mình,” cô nói. Nhưng vì hai cô bé đều không biết cách nhóm lửa lò sưởi nên chẳng bao lâu sau căn phòng đã tràn ngập khói. Luci cuống cuồng lấy một cốc nước và sau đó là cái thùng rác để dập tắt lửa. Cuối cùng, cô phải trèo lên trên bàn để mở cửa sổ ra cho khói bay ra ngoài – và hoảng hốt khi thấy một cảnh sát ở Nhà Trắng đang nhìn cô trong bộ đồ ngủ. Khi các gia nhân phát hiện chuyện gì xảy ra, họ vội vàng chạy vào giúp đỡ.
“Mẹ tôi muốn tôi phải phụ mọi người cọ rửa các vết khói bám trên tường phòng tôi ngay trong tuần lễ đầu tiên đó,” cô nói, giọng vẫn còn ngượng ngùng sau mấy chục năm. “Đây chính xác là cuộc thử lửa đầu tiên.” Cô cọ rửa các vệt khói trên tường cạnh các cô giúp việc nhưng không ai khiến cô cảm thấy mình có lỗi.
KHOẢNG HƠN MƯỜI năm sau, các nhân viên ở tư dinh lại một lần nữa đối đầu với một sự chuyển tiếp đột ngột không nghi thức, đó là khi Tổng thống Richard Nixon tuyên bố từ chức ngày 8 tháng 8 năm 1974.
“Sự chuyển giao quyền lực xảy ra quá đột ngột và không trật tự ôn hòa như sau vụ ám sát Tổng thống Kennedy,” ông gác cửa Preston Bruce viết. Mặc dù vụ bê bối Watergate làm mưa làm gió suốt hai năm và những lời kêu gọi Nixon từ chức dâng cao suốt mùa hè nhưng không ai trong Nhà Trắng trông đợi điều đó. Dù gì thì trước đây cũng chưa từng có tổng thống nào từ chức. Các nhân viên không biết tí gì cho đến khi bà Pat Nixon gọi điện xuống dưới nhà nhờ họ đem lên ít thùng các–tông để đóng gói đồ đạc.
Vào 7 giờ rưỡi sáng sau khi tuyên bố từ chức, Tổng thống Nixon được Quản bếp Henry Haller nhìn thấy ngồi một mình trong Phòng Bếp Gia đình trong bộ pyjama, chân không mang dép. Thường ngày ông vẫn dùng bữa sáng nhẹ với bột ngũ cốc, nước hoa quả và trái cây tươi, nhưng sáng hôm đó ông gọi món thịt bò bằm trộn ngô và trứng chần nước sôi.
Nixon tiến lại gần Haller và nắm lấy tay ông: “Bếp trưởng, tôi đã từng ăn ở khắp nơi trên thế giới nhưng những món ông nấu là tuyệt nhất”.
Trưa hôm đó, ngay trước khi ra chỗ chiếc trực thăng đậu ở Bãi cỏ phía nam và đưa hai ngón tay chữ V chiến thắng lên chào mọi người, Nixon đã có một bài diễn văn chia tay rất cảm động với các nhân viên của ông trong Phòng Đông. Lúc các nhân viên tập hợp ở đó, ông thợ sơn Cletus Clark thấy mình bất ngờ cũng bị kẹt trong sự kiện đầy xúc động này. “Lúc đó tôi đang sơn một chiếc bệ trong Phòng Đông. Tôi là nhân viên duy nhất trong tư dinh có mặt ở đó”, ông nói. “Khi tôi ngước mắt nhìn lên thì đã thấy mọi người bắt đầu bước vào Phòng Đông. Tôi không thể ra ngoài, vả lại sơn vẫn chưa khô”.
Ông dặn các nhân viên mật vụ đứng sẵn ở đó trước khi tổng thống đến là phải nhắc tổng thống cẩn thận không chạm vào sơn ướt.
“Căn phòng đầy dần lên. Tôi cầm lấy cái xô nhỏ của mình và đến đó hòa vào đám đông. Tôi đặt cái xô xuống giữa hai chân và đứng lại đó”.
Đứng đó trong bộ đồng phục trắng toát, Clark lắng nghe vị tổng thống thứ ba mươi bảy mở đầu lời từ biệt bằng lời ngợi khen những nhân viên làm việc ở tư dinh, như thường lệ vẫn đứng trong bóng tối. “Tòa nhà này có một trái tim vĩ đại và trái tim đó là của những người phục vụ nơi này. Tôi rất tiếc là họ không xuống đây. Chúng tôi sẽ lên lầu từ giã họ”, Nixon nói với giọng buồn bã. “Nhưng họ thật sự rất tuyệt vời. Tôi nhớ là sau mỗi lần la mắng họ, nhiều lúc khá dữ dội, tôi luôn suy nghĩ lại. Hoặc là sau một ngày mệt mỏi, mà một ngày của tôi thì thường khá dài, họ khiến tôi phấn chấn hơn. Dù tôi có cáu gắt với họ bởi lúc đó tôi có hơi xuống tinh thần, thì họ vẫn luôn mỉm cười với tôi”.
Ngày hôm đó, các gia nhân vẫn giữ vai trò dọn nhà mà họ đã quen thuộc. Họ sắp xếp hành lý cho đệ nhất gia đình và cố gắng thực hiện việc này một cách suôn sẻ và kín đáo nhất có thể trong hoàn cảnh đó.
Bà Barbara Bush, chồng bà lúc đó đang là chủ tịch ủy ban Quốc gia Đảng Cộng hòa, cho biết mình kinh ngạc ra sao khi chứng kiến cảnh Nhà Trắng được chuyển giao cấp tốc cho gia đình Ford. “Ngày Tổng thống Nixon từ chức, chúng tôi có đến Nhà Trắng. Từ lúc ông ấy tuyên bố từ chức đến lúc Jerry Ford tuyên thệ nhậm chức chỉ cách nhau một vài giờ. Chúng tôi vừa vẫy tay chào gia đình Nixon xong, quay trở vào bên trong đã thấy trên tường treo đầy hình ảnh của gia đình Jerry Ford. Trong lúc chúng tôi đang đứng ở chỗ trực thăng vẫy chào từ biệt thì trong nhà họ đã thay hình ảnh khác”.
PHONG CÁCH TRANG trọng của gia đình Nixon được thay thế bằng phong cách thoải mái hơn của ông Gerald và bà Betty Ford khi cho phép bốn đứa con của họ mặc quần jean đi khắp nơi trong Nhà Trắng. Lúc ba mẹ đi xa, Susan Ford thậm chí còn trượt pa-tanh trên sàn nhà sạch bóng ở Tầng Khánh tiết, điều mà giờ đây cô nói mình rất ngượng ngùng khi thú nhận điều đó.
Betty Ford là một người rất độc lập. Ngay từ lúc tham quan nơi sinh sống của gia đình tổng thống trên tầng hai, bà đã lập tức phản đối việc để cho hai vợ chồng ngủ khác phòng nhau. “Không cần phải thế”, bà nói với người tổng quản lý.
Bà nói bà không hiểu vì sao các nhân viên phòng và phục vụ lại quá lặng lẽ khi làm cạnh bà. Bà lo là họ không thích bà, nhưng rồi bà nhanh chóng phát hiện ra rằng Pat Nixon thích thế.

Ông thợ mộc Milton Frame rất ấn tượng với phong cách dễ gần của Betty Ford. “Phu nhân Ford đã mời tôi ngồi xuống dùng một tách trà”, ông nói với giọng trìu mến. Bà hỏi thăm quê ông ở đâu rồi nói chuyện phiếm với ông, một hành động tử tế mà người tiền nhiệm của bà chưa bao giờ làm.
Bà cũng thích trêu chọc các nhân viên. Trong lúc đi tham quan khu sinh sống của gia đình tổng thống, cô thư ký báo chí của bà là Sheila Rabb Weidenfeld nhìn thấy một bình hoa hình hai thiên thần gần chạm tay nhau, trên một bàn tay cài một điếu thuốc. “À, cái này hả”, đệ nhất phu nhân phá lên cười. “Tôi gài nó ở đó đấy. Đó là cách để kiểm tra xem các cô làm phòng có vệ sinh căn phòng này đàng hoàng không đó mà”.
CÁC GIA ĐÌNH mới không những phải làm quen với việc có rất đông nhân viên xung quanh, mà còn cả với việc thanh toán các hóa đơn hằng tháng cao ngất ngưởng. Trái với những gì mọi người thường nghĩ, gia đình tổng thống phải chi trả toàn bộ chi phí cá nhân. Và hầu như đệ nhất phu nhân nào cuối cùng rồi cũng phải nài nỉ ông tổng quản lý giữ cho giá đừng lên.
Gia đình tổng thống phải thanh toán chi phí giặt khô cho quần áo của họ. Công việc này được giao cho một cơ sở giặt khô địa phương do người đứng đầu bộ phận phòng hay chính gia đình tổng thống chọn. Theo lời Tổng quản lý bộ phận phòng Christine Limerick, dưới thời Tổng thống Bush thứ nhất và Tổng thống Clinton, họ thường sử dụng dịch vụ giặt ủi của Khách sạn Willard gần đó. Ngay cả dịch vụ cơ bản này cũng phải được tiến hành bí mật và các thành viên Ban Điều hành là người trực tiếp giao nhận quần áo của gia đình tổng thống.
Gia đình tổng thống cũng được yêu cầu chi trả toàn bộ chi phí ăn uống cá nhân, không chỉ cho mình họ mà còn cho cả khách của họ, bao gồm mấy chục bạn bè và người nhà của họ trong ngày nhậm chức hay trong các dịp lễ. Walters nói với tôi rằng tất cả các đệ nhất phu nhân, trừ Barbara Bush ra, đều ngạc nhiên và không mấy hài lòng khi biết chuyện này. Nhiều người yêu cầu đưa các loại thịt rẻ tiền hơn vào thực đơn của họ để giảm bớt chi phí khổng lồ hằng tháng. Gia đình Carter thậm chí còn yêu cầu cho họ ăn lại mấy món còn dư của ngày hôm trước.
Ngay cả bà Jackie Kennedy cũng dạy ông tổng quản lý nên “điều hành chỗ này như điều hành một nơi có vị tổng thống bủn xỉn nhất trên đời!” Bà nhỏ giọng nói thêm một cách hài hước: “Chúng tôi không có nhiều tiền như ông đọc thấy trên báo đâu!”
Ám ảnh bởi hóa đơn tiền ăn, chồng bà còn mô tả chi tiết cho các quản lý biết cách họ làm thế nào giữ cho hóa đơn tiền sữa không quá cao khi còn ở căn nhà của họ ở Hyannis. Nancy Tuckerman, thư ký phụ trách sự kiện xã hội của gia đình Kennedy, nói cô chưa bao giờ thấy tổng thống ngồi trầm ngâm lâu đến thế hay quan tâm đến vấn đề gì quá năm phút như thế. Hóa đơn tiền rượu tăng gấp nhiều lần trong suốt thời gian ông Kennedy ở Nhà Trắng, và đó là vì trước khi Kennedy nhận nhiệm sở, Nhà Trắng đã ngầm lấy rượu của Ban Điều hành Dịch vụ Chung (General Services Administration). Sau khi có quy định mới thì Nhà Trắng không thể tiếp tục làm chuyện này mà không công khai ra ngoài, vì thế tổng thống đã nhanh chóng ra lệnh chấm dứt việc này và nhờ Quản lý bộ phận phòng Anne Lincoln ra ngoài mua những loại rượu không quá đắt tiền. Ông Kennedy có một tủ rượu riêng đặt trong căn phòng nhỏ trên tầng ba, và chỉ có Anne Lincoln và người hầu riêng của ông là có chìa khóa vào đó. Ông vẫn luôn quan tâm đến chi phí sinh hoạt trong Nhà Trắng mặc dù không bị yêu cầu trả tiền cho một lượng lớn rượu, vì hầu hết số rượu này được dùng trong các bữa tiệc chiêu đãi chính thức.
Reggie Love, trợ lý của ông Obama, chỉ mới 27 tuổi khi bước vào Nhà Trắng. Anh nhớ đến lần đầu tiên Đô đốc Rochon đưa hóa đơn hằng tháng của gia đình Obama cho anh. “Khi nhìn thấy số tiền, tôi chỉ như là ‘thấy các con số và mọi khoản liệt kê trong đó, nhưng một người sống độc thân không con cái như tôi thì chẳng hiểu gì nhiều, vì thế tôi nói với ông ta là ‘Tôi cảm thấy là ổn’”.
Mỗi chủ nhật, người tổng quản lý đều gởi thực đơn của nguyên tuần sau lên cho đệ nhất phu nhân xem trước. Nếu thấy món nào mình không thích hoặc có giá quá cao cho một bữa ăn gia đình thì đệ nhất phu nhân có thể nói người đầu bếp tìm món khác thay thế.
Luci Baines Johnson kể rằng mẹ cô “liên tục” than phiền về chi phí sinh hoạt cao ngất ngưởng ở Nhà Trắng. Sau khi Luci kết hôn, có lần cô và gia đình đến Trại David [**] chơi trong dịp cuối tuần và rất ngạc nhiên khi nhận được hóa đơn ăn uống của cô trong thời gian cô sống ở đây.
[**] (Camp David – nơi được sử dụng làm nơi nghỉ ngơi ở nông thôn cho các gia đình tổng thống và khách mời của họ.)
“Đúng thế, chúng ta vẫn luôn bị tính tiền những gì chúng ta ăn, nhưng lúc con còn nhỏ và sống với bố mẹ thì bố mẹ đã trả khoản tiền này cho con”, bà Lady Bird Johnson nói với cô con gái lúc đó đang giận dữ.
“Mẹ tôi đã khá kinh ngạc khi thấy tôi kinh ngạc”, cô cười phá lên.
Dù thế nào đi nữa thì việc nhìn thấy một bản liệt kê tất cả các khoản tiền vào cuối tháng cũng khiến ta cảm thấy như số tiền này cao hơn so với việc mua đồ ăn ngoài chợ hay ra ngoài ăn. Susan, con gái của Tổng thống Ford – kể rằng cha cô đã vung vẩy hóa đơn tiền ăn ngay trước mặt cô và cảnh cáo cô rằng: “Con phải biết là khi con mời cả đống bạn đến chơi, ba sẽ biết ngay khi nhìn thấy cái này”.
Bà Rosalynn Carter vẫn còn nhớ rõ cái hóa đơn đầu tiên mà nhà bà phải trả là 600 đô. “Nghe có vẻ không nhiều lắm, nhưng vào năm 1976 thì đó là cả một khoản tiền khổng lồ đối với tôi”. Bà nghĩ rằng sở dĩ chi phí ở đây cao hơn so với việc sống bên ngoài Nhà Trắng là vì thực phẩm ở đây phải qua kiểm tra để đảm bảo không bị hạ độc.
Theo nhân viên cắm hoa Ronn Payne, hóa đơn tiền ăn không phải là chi phí duy nhất làm vợ chồng Carter lo lắng. Tổng thống Jimmy Carter cũng muốn trả tiền hoa ít hơn. Mặc dù đệ nhất gia đình không thường xuyên phải trả tiền hoa nhưng Tổng thống Carter cũng không chấp nhận chuyện chính phủ thanh toán chi phí cho những bình hoa lớn đầy công phu. “Chúng tôi phải ra ngoài hái hoa về trang trí tiệc tối”, Payne nhớ lại. “Chúng tôi thường đến các công viên trong thành phố hái hoa”, ông cùng các nhân viên khác đến tận Công viên Rock Creek để hái hoa thủy tiên và đến Thảo cầm viên Quốc gia tìm các loài hoa dại. “Cảnh sát đã có lần ngăn chúng tôi lại. Một nhân viên bị bắt và họ phải đến nhà giam đưa anh ta ra, tất cả cũng chỉ vì cái tội hái hoa thủy tiên trên sườn đồi Công viên Rock Creek để trang trí tiệc tối”. Nhà Trắng phải can thiệp để anh ta được thả ra, Payne nói.
“Với hoa khô thi chúng tôi ra chợ mua. Hoặc là mấy chị em phụ nữ trong câu lạc bộ làm vườn ở đây lấy hoa nhà họ đem phơi khô, và chúng tôi phải sử dụng số hoa đó”. Dưới thời các tổng thống khác, việc chi 50.000 đô tiền hoa cho một bữa quốc yến là chuyện bình thường. Có khi chỉ một bình hoa cũng mất đến mấy ngàn đô.
Bà Barbara Bush, một nữ gia chủ quý tộc đặc trưng, không hề đồng cảm với những đệ nhất phu nhân nào tỏ ra ngạc nhiên khi nhận hóa đơn ăn uống của gia đình hằng tháng, hoặc bất cứ loại hóa đơn nào. “Nếu họ bị sốc thì có nghĩa là có gì đó không ổn với họ”, bà nghiêm khắc nói. “Chúng tôi có rất nhiều khách, cả George W. Bush cũng vậy, và chúng tôi thanh toán mọi chi phí cho những khách mời cá nhân đó. Có một lần, tôi nhận được một hóa đơn ghi ở trên đó là ‘một quả trứng: 18 cents’. Một bà khách nào đó đã dùng một quả trứng với bánh mì nướng. Ăn ở Nhà Trắng rẻ hơn bên ngoài chứ”. Bà cũng chỉ rõ rằng tuy đệ nhất gia đình phải trả tiền ăn uống và tiền giặt khô nhưng họ không phải trả tiền điện, tiền máy lạnh, tiền hoa, tiền thuê nhân viên phục vụ, thợ ống nước hay thợ làm vườn, và điều này khiến cho chi phí sinh hoạt của họ khá hời – nhất là với một gia đình như gia đình Bush vốn đã quen có người giúp việc. “Tôi nghĩ sống ở Nhà Trắng rất rẻ!” Bà Barbara nói. “Tôi muốn quay về nơi đó sống và không phải chịu trách nhiệm gì cả”.
Mẹ chồng bà Laura Bush hẳn đã chuẩn bị sẵn tâm lý cho cô con dâu về chi phí sinh hoạt trong Nhà Trắng, thế nhưng bà Laura vẫn ngạc nhiên khi nhận hóa đơn đầu tiên. Bà nhận thấy chi phí tổ chức sinh nhật cho chồng bà quá cao bởi họ phải trả gấp rưỡi số tiền làm sau 5 giờ chiều cho các nhân viên ở lại làm tối.
Quản Bếp Walter Scheib cũng kể rằng thỉnh thoảng ông cũng bị Tổng Quản lý gọi điện đến nói rằng văn phòng đệ nhất phu nhân yêu cầu ông làm sao giữ cho tiền ăn đừng quá cao hoặc giảm số lượng nhân viên nấu ăn trong bếp đi.
“Bếp trưởng, ông có thực sự cần nhiều người nấu ăn đến thế cho sự kiện này không?” Tổng Quản lý Gary Walters hỏi Scheib.
“Có lẽ là không. Có lẽ chúng tôi sẽ bớt một hai người mà vẫn có thể xong chuyện”, người quản bếp trả lời, giọng không nhân nhượng. “Nhưng ông thử hình dung viễn cảnh này xem: chúng tôi phạm một lỗi nào đó ở Nhà Trắng và phải đến ngồi trước mặt bà Bush hay bà Clinton để cố giải thích vì sao tên các bà ấy lại bị các diễn viên hài lôi ra bàn tán, kiểu như ‘Chúng tôi có tin tốt cho bà đây, thưa bà Bush, có tin tốt cho bà đây, thưa bà Clinton: chúng ta đã tiết kiệm được 500 đô la’. Ông nghĩ rồi chuyện này sẽ đi đến đâu?”
Trên hết, ông nói, “Mục tiêu của chúng tôi là làm sao để gia đình tổng thống không bao giờ phải thấy bối rối”, bất kể chi phí ra sao.
KHI MỘT GIA đình mới dọn vào, các thói quen hằng ngày cũng lập tức thay đổi. Vợ chồng Tổng thống Obama thức dậy trễ hơn những người tiền nhiệm của họ một chút. Họ cũng thích tự tay tắt đèn phòng họ ban đêm hơn, đồng thời thích có thêm ít táo gala bên cạnh những bông hoa trong Phòng Bầu dục. Vì các quả táo mà các nhân viên cắm hoa có thêm một nhiệm vụ mới, đó là hằng ngày phải kiểm tra xem táo còn hay hết bởi ngài tổng thống thường khuyến khích mọi người ăn táo và khiến đĩa táo vơi đi rất nhanh. Các nhân viên cắm hoa phải rời Phòng Bầu dục trước 7 giờ 30 sáng, giờ mà Tổng thống Obama thường đến làm việc.
Mặc dù các yêu cầu của gia đình Obama không quá khác so với các gia đình trước đây, nhưng khi Desirée Rogers, thư ký xã hội của họ đến Nhà Trắng cùng với họ năm 2009, cô đã ra sức làm rung chuyển truyền thống bằng cách đưa nguồn sinh lực mới cùng những ý tưởng mới vào tòa hành pháp bảo thủ. Là một thạc sĩ quản trị kinh doanh tốt nghiệp đại học Harvard và hậu duệ của một nữ pháp sư voodoo [**] Creole [**], Rogers là thư ký xã hội Mỹ gốc Phi đầu tiên. Vì thế, chỉ riêng sự có mặt của cô ở đây thôi đã là một thách thức đối với truyền thống. Ngay trong 60 ngày đầu tiên giữ vị trí này, cô đã tổ chức hơn 50 sự kiện. Gấp đôi số sự kiện mà Tổng thống George W. Bush tổ chức trong cùng khoảng thời gian ở nhiệm kỳ đầu của ông, và vượt cả tốc độ tổ chức sự kiện của những người vốn yêu thích tiệc tùng như vợ chồng Clinton. Cô tìm cách thay đổi cách vận hành Nhà Trắng bằng cách kết hợp các bộ đĩa sứ của nhiều thời đại khác nhau lại ở các dạ tiệc trang trọng, và đưa các đảng viên Cộng hòa vào tất cả các sự kiện của Quốc hội. Cô cũng trực tiếp nhúng tay vào những việc lặt vặt mà các gia nhân thường đảm trách khiến một số người cảm thấy rất khó chịu.
[**] (Một hình thức văn hóa tâm linh dân gian phát triển từ truyền thống của cộng đồng người gốc Phi.)
[**] (Trong các xã hội có lịch sử thực dân, Creole là từ dùng để chỉ những người “sinh ra tại bản xứ”, phân biệt với những người đến từ mẫu quốc hay di cư từ các nước khác đến.)
“Khi cô ta bước vào đây, cô ta làm như thể đang ở trong lãnh địa của mình”, nhân viên cắm hoa Bob Scanlan nói. “Cô ta nói rõ là họ không thích những thứ chúng tôi đang làm và tìm kiếm cái gì đó khác lạ hơn. Không biết bao nhiêu lần chúng tôi nghe cô ta yêu cầu ‘cắm hoa kiểu Bốn Mùa’”, ông giải thích là Rogers yêu cầu cắm hoa theo kiểu hiện đại, nghĩa là đưa hoa vào một góc, thay vì cắm hoa theo dạng ốc đảo truyền thống, tức cắm hoa lá xum xuê lên một miếng xốp. Scanlan nói rằng ông và các đồng nghiệp của ông rất bực tức khi có một phụ nữ được đưa đến đó vài tuần để “chấn chỉnh lại Phòng Hoa” bởi vì, ông nói, nhân viên Phòng Hoa bị họ nói là mắc kẹt trong quá khứ.
Scanlan nói rằng ngay từ đầu nhiều nhân viên cắm hoa đã cho là Rogers thiếu tôn trọng truyền thống lâu đời của dinh tổng thống, chính vì thế họ rất vui mừng khi thấy cô phải ra đi 15 tháng sau (sau sự cố một số khách không mời lọt được vào bữa quốc yến đầu tiên của gia đình Obama). “Khi ta trở thành một phần của tòa nhà này và là thợ cắm hoa, ta phải tuân theo một yếu tố nào đó và một phong cách nào đó chỉ thuộc riêng về tòa nhà này. Hoa không chỉ để cho gia đình tổng thống thưởng thức mà còn cho cả công chúng nữa. Chúng tôi trang trí hoa cho cả nước”. Còn Rogers thì nhớ về cuộc tranh luận về hoa của họ khác hơn một chút. Cô nói cô không đòi hỏi họ phải thay đổi ngay lập tức và vẫn để họ cắm hoa kiểu truyền thống, ít nhất là vào ngày nhậm chức. “Trong cái nhà này có một kiểu cắm hoa cố hữu”, cô nói và sau đó bổ sung thêm rằng chẳng có gì mới được thực hiện trong ngày nhậm chức để thể hiện phong cách của gia đình tổng thống. “Trước khi họ bước chân vào tòa nhà này thì đã như thế rồi. Họ không có khả năng nói ‘chúng tôi thích cái này’ hay ‘chúng tôi thích cái kia’, hoặc ‘thêm cái này vào’ hay ‘bỏ bớt cái kia ra’. Họ chỉ biết cắm hoa theo cái kiểu đã được cắm suốt bao nhiêu năm nay”.
Khi tôi hỏi ông tổng quản lý, tức Đô đốc Rochon thấy thế nào khi làm việc với Rogers, ông nói đùa là mình có thể phải dùng đến Excedrin [**]. Rogers từng là một nữ doanh nhân thành đạt nhưng khi chuyển sang làm việc trong Nhà Trắng, cô có những kỳ vọng rất thiếu thực tế.
[**] (Thuốc nhức đầu.)
“Đây chẳng phải là chuyện yêu cầu cao mà là chuyện không thể làm được”, ông nói, vẫn bực bội khi nhớ lại chuyện xưa. Cô ta muốn là khi gia đình Obama quay về từ lễ diễu hành mừng ngày nhậm chức thì các bức tường đều phải sơn xong và phải thật khô, Rochon nhớ lại. “Chúng tôi phải thuyết phục họ rằng họ không thể sơn tường lúc đó mà chỉ có thể làm sau khi Tổng thống Bush đã ra khỏi đây”.
Gia đình mới không được phép thay đổi Tầng Khánh tiết và Tầng Trệt do chúng mang nặng dấu ấn lịch sử, nhưng họ có thể tự do sửa sang mọi thứ trên tầng hai và tầng ba sau khi dọn vào. Các nhân viên thậm chí còn xây một bức tường trong phòng Malia để bít chỗ dẫn ra một lối đi do cô gái tuổi teen này muốn có sự riêng tư hơn. Tuy nhiên, để thực hiện những thay đổi đó, họ phải chờ cho đến khi chiếc limousine chở gia đình vị tổng thống trước đi khuất mới có thể bắt đầu làm.
Quản bếp bánh ngọt Roland Mesnier có rất nhiều kinh nghiệm về ngành khách sạn do trước đây ông từng làm việc ở Khách sạn Savoy ở London và Khách sạn Homestead trong dãy núi Allegheny ở Virginia. Ông cũng nổi tiếng đoán ý tổng thống rất nhanh. Thay vì nghe theo các cố vấn chính trị của ông Obama, những kẻ tự xưng là biết hết những món ăn tổng thống và đệ nhất phu nhân ưa thích, ông kín đáo tiếp cận người nhà của họ khi họ đến thăm Nhà Trắng.
Một trợ lý của Tổng thống George W. Bush nói với Mesnier rằng ông không cần lo lắng phải làm những ổ bánh sinh nhật cầu kỳ. Thay vào đó, anh ta gợi ý, ông chỉ cần làm một ổ bánh bông lan thiên thần (angel food cake) với dâu tây là được. “Tôi chưa bao giờ làm bánh bông lan thiên thần với dâu tây trong khách sạn!” Mesnier, người đầu bếp Pháp hoạt bát vui tính có thân hình tròn trịa cùng đôi má đỏ hồng, nói. “Sau khi họ nhìn thấy những gì ta có thể làm, họ sẽ quên ngay những thứ họ từng ăn”.
SAU KHI CÁC cử tri Mỹ bầu ra một vị tổng thống mới, tất cả mọi ánh mắt đều hướng tới tương lai. Tuy nhiên, với những người giúp việc trong dinh, cuộc sống vẫn tiếp diễn. David Hume Kennerly, thợ ảnh Nhà Trắng của Tổng thống Ford và cũng là bạn thân của gia đình Ford, nói rằng làm việc ở Nhà Trắng cũng giống như xem hàng loạt các chương trình truyền hình: “Bộ phim này vừa hết, ta tiếp tục xem chương trình ca nhạc tiếp theo”.
Với các nhân viên ở tư dinh thì việc đối phó với hết gia đình này đến gia đình kia không phải lúc nào cũng dễ. Ngày nhậm chức đối với họ giống như là ngày bắt đầu bước vào một công việc mới, khi phải làm việc với gia đình quyền lực nhất thế giới nhưng lại không biết chắc họ trông đợi những gì. Họ không biết đệ nhất phu nhân, người trực tiếp tiếp xúc với các gia nhân nhiều hơn cả tổng thống, có không hài lòng với món ăn, cách cắm hoa hay cách làm giường nào đó hay không? “Hàng ngàn suy nghĩ chạy qua chạy lại trong đầu ta”, Scanlan thú nhận. “Ta không biết lúc nào bà ấy gọi ta lên lầu để nói là ‘Tôi ghét cái này’. Họ có thể làm bất cứ thứ gì họ muốn”.
Quản bếp Walter Scheib được Hillary Clinton tuyển dụng nhưng sau đó bị Laura Bush sa thải. Với ông, giai đoạn chuyển sang làm cho gia đình Bush quả thật rất khó khăn. Sau khi phục vụ gia đình Clinton những món ăn thượng hạng của Hoa Kỳ trong gần suốt hai nhiệm kỳ của họ, giờ đây ông không biết gia đình Bush trông đợi điều gì. Gần như chỉ qua một đêm, ông phải chuyển từ món rau xanh nấu sả và cà ri đỏ sang món Tex–Mex chex [**] và BLT [**]. (Tổng thống Clinton chỉ có thể thỏa mãn hầu hết các cơn thèm ăn những món không lành mạnh của mình trong các chuyến công du của ông, khi không có ánh mắt quan sát của đệ nhất phu nhân, người thậm chí còn yêu cầu các đầu bếp ghi cả lượng calo của từng món ăn lên thực đơn ăn tối của gia đình).
[**] (Món ăn nhẹ bao gồm ngũ cốc và các loại hạt.)
[**] (Sandwich thịt xông khói với xà lách và cà chua.)
“Đây là lần duy nhất công việc bỏ tôi: cũng vẫn cơ sở vật chất đó, nồi niêu xoong chảo đó, tủ lạnh đó, bếp lò đó, nhưng giờ đây ta không biết mình phải làm gì nữa. Ta phải học lại toàn bộ công việc của mình trong một buổi trưa”.
Mesnier mô tả việc từ biệt gia đình tổng thống sắp mãn nhiệm là “buồn như đưa đám”.
Việc rời khỏi môi trường hạnh phúc trong Nhà Trắng thường cũng chẳng dễ dàng gì hơn với gia đình tổng thống. Tổng thống George H.W. Bush đã bật khóc khi nhìn thấy các nhân viên tập trung trước mặt ông. Ông không thể nói nên lời. “Chúng tôi xúc động nghẹn ngào đến mức không thể nói ra cảm nhận của mình, nhưng tôi nghĩ họ biết tình cảm của chúng tôi dành cho tất cả bọn họ”, bà Barbara Bush hồi tưởng. Trước khi rời Điện Capitol, bà chạy qua Phòng Đỏ và Phòng Lam để ôm chặt từng nhân viên phục vụ. “Kể từ khi đó, mọi thứ đều hạ màn. Phần khó khăn nhất đối với tôi đã kết thúc”.
Việc trở về với cuộc sống thường dân rất khó khăn, dù cho tổng thống và đệ nhất phu nhân có nói họ khao khát trở về với đời sống riêng tư đi nữa. Khi vợ chồng Reagan từ biệt các gia nhân trong Phòng Quốc yến, tổng thống đùa rằng: “Các bạn có biết vấn đề duy nhất của tôi khi rời Nhà Trắng là gì không? Đó là sáng mai khi tôi thức dậy, tôi không biết làm sao để bật đèn. Tôi đã không làm chuyện này suốt tám năm. Các bạn đã làm điều đó cho tôi suốt ngần ấy năm. Tôi sẽ làm cách nào để bật đèn đây? Tôi không biết nữa”. (Bà Nancy Reagan nói chồng bà yêu sự xa hoa của tòa nhà này và gọi nơi đây là khách sạn tám sao. Bà đồng ý với những gì chồng nói. “Mỗi tối, khi tôi đang tắm thì một cô hầu phòng đến lấy quần áo của tôi đưa đi giặt ủi. Tấm phủ giường luôn được lật sẵn một góc [**]. Năm phút sau, Ronnie về nhà và treo quần áo ông ấy lên. Bộ y phục ngay sau đó được đem ra khỏi phòng để đưa đi giặt, ủi hoặc chải bụi”.)
[**](Trong các khách sạn, nhân viên làm phòng thường lật sẵn một góc của tấm phủ giường để khách dễ chui vào bên trong ngủ.)
Hồi ký của bà Barbara Bush cho ta một cái nhìn hiếm hoi về cuộc sống của đệ nhất gia đình sau nhiều năm được vây quanh bởi các đầu bếp, phục vụ và hầu phòng. Gia đình Bush được hầu hạ cả chục năm nên không quen với chuyện chợ búa. (Trong chiến dịch tái tranh cử năm 1992, ông Bush đã bị chế giễu sau khi trầm trồ chiếc máy đọc mã vạch ở siêu thị). Bà Barbara Bush cho biết không lâu sau ngày mãn nhiệm, chồng bà đến Sam’s Club lần đầu để “mua một hũ nước xốt spaghetti to tướng cùng một ít mì spaghetti” về ăn tối.
Trong lúc ông đang xem tin tức buổi tối trên tivi thì cựu đệ nhất phu nhân bắt đầu nấu ăn. Bà vô ý đánh rơi hũ nước xốt spaghetti khổng lồ xuống sàn bếp vỡ toang. Kế hoạch ăn tối tiêu tan, hai vợ chồng đành phải tìm giải pháp khác. “Đó là cái đêm mà George và tôi phát hiện ra một điều kỳ diệu, đó là ta có thể gọi điện đặt pizza đem tới”.
Đôi khi ngày chia tay lại rất tức cười. Con gái út của Tổng thống Lyndon Johnson là Luci, hiện 67 tuổi, chỉ bắt đầu vào nhà trẻ trong thời gian sống ở Nhà Trắng. Suốt nhiều tháng trời, cô bé cất cái nhau mèo dùng trong lớp giải phẫu trong tủ lạnh ở phòng Solarium trên tầng ba. Cô bé trìu mến gọi cái nhau mèo đó là “Crunchy” (giòn) vì nó được giấu trong một hũ bơ đậu phộng giòn [**]. Ngày cô bé rời Nhà Trắng, cô hầu phòng Clara mà Luci đặc biệt thân thiết đã nhét hũ bơ đậu phộng đó vào tay Luci và nói: “Đây là điều tốt duy nhất mà chị có thể nghĩ đến khi em ra đi”, rồi cả hai ôm nhau “khóc lóc thảm thiết”.
[**](Còn lẫn hạt, không mịn.)
“Tôi biết sẽ chẳng bao giờ như trước nữa”, Luci nói. “Tôi biết một khi tôi bước ra khỏi cánh cửa ấy, chị ấy sẽ nhanh chóng chuyển hết mọi sức lực, tâm ý và sự chiều chuộng đó sang các cô con gái nhà Nixon để giúp họ thấy thoải mái tự nhiên như ở nhà như chị ấy đã từng giúp tôi. Lòng trung thành của những người giúp việc trong Nhà Trắng đối với Nhà Trắng cũng như đối với gia đình tổng thống ở đó khiến ta thấy tự hào mình là người Mỹ”.
Traphes Bryant, người thợ điện kiêm người giữ chó ở Nhà Trắng, không mấy tin tưởng vào LBJ (Lyndon B. Johnson) khi vị tổng thống này bắt đầu chuyển vào Nhà Trắng trong quãng thời gian đầy sóng gió, nhưng đến khi gia đình Johnson quay về Texas năm 1969 thì ông hoàn toàn suy sụp. “Hết rồi. Đúng là hết thật rồi. Đúng là nhẹ nhõm. Đúng là không nhẹ nhõm. Như thể có ai đó nói với tôi rằng tôi sẽ chẳng bao giờ gặp một người thân trong gia đình nữa”, ông viết trong hồi ký. “Tôi quen với LBJ và thân thiết với ông ấy hơn cả anh em ruột. Nhưng nếu một ngày chúng tôi gặp lại, chúng tôi sẽ gần như người xa lạ. Tôi cảm thấy tuyệt vọng, nhưng rồi lại thấy mình tự do bởi tôi nhận ra rằng mình sẽ không còn phải chịu đựng sự điên khùng của ông ấy nữa”.
CÓ NHỮNG THỜI kỳ chuyển tiếp dễ dàng hơn những thời kỳ khác. Tổng thống George W. Bush và gia đình ông chỉ mang theo mỗi chiếc tủ com–mốt cùng một số hình ảnh gia đình bởi bà Laura Bush nói rằng “một trong những niềm vui” khi sống trong Nhà Trắng là đến nhà kho ở Maryland và chọn một số thứ trong bộ sưu tập đồ nội thất của Nhà Trắng để đem về trang trí cho tòa nhà. “Chỉ trong nháy mắt mọi việc đã xong”, Bob Scanlan nói về chuyện dọn vào Nhà Trắng của gia đình Bush.
Tuy nhiên, trước khi gia đình Bush có thể bắt đầu chọn lựa những món đồ nội thất, họ phải đối phó với một vấn đề phức tạp chẳng ai ngờ, đó là sự kiện kiểm lại số phiếu bầu năm 2000. Sự kiện này khiến cho kết quả của cuộc bầu cử phải được giữ kín cho đến ngày 12 tháng 12, tức hơn một tháng sau khi bỏ phiếu. Ngoài chính các ứng cử viên ra, có lẽ không ai theo sát cuộc bầu cử đầy kịch tính này hơn những người giúp việc trong tư dinh. Từ ngày bầu cử cho đến ngày Tòa án Tối cao xác nhận chiến thắng của ông Bush, Tổng Quản lý Walters liên tục săn lùng thông tin để biết xem ai là người mà họ sẽ hầu hạ: George W. Bush hay Al Gore. Sau khi quyết định được tuyên, bà Laura Bush chỉ còn không đến phân nửa thời gian so với bình thường để chuẩn bị chuyển nhà.
Sự kiện kiểm lại phiếu bầu này gây rất nhiều tranh cãi khi toàn bộ cuộc bầu cử quốc gia hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả bỏ phiếu ở Florida. Đến khi quyết định đưa xuống bất lợi cho Gore thì các nhân viên của Bill Clinton vô cùng phẫn nộ. Đặc biệt các trợ lý trẻ của Clinton lớn giọng khinh khi vị tổng thống sắp vào Nhà Trắng. Một nhân viên đã thét to với Bếp trưởng Mesnier là Bush sẽ chỉ có thể làm tổng thống được một nhiệm kỳ: “Chúng tôi sẽ đá văng hắn ra khỏi đây!” Anh ta gào lên với người đầu bếp. Để phù hợp với tôn chỉ phi chính trị của nhân viên phục vụ Nhà Trắng, Mesnier nói: “Tôi để mặc anh ta muốn nói gì thì nói, tôi chỉ im lặng”. (Ông cho biết ngay cả gia đình Clinton cũng không hài lòng với phản ứng của nhân viên họ dù những người này rất mực trung thành).
Dù ai là người đắc cử thì gia đình Clinton cũng không thích dứt áo ra đi. Bà Hillary Clinton nói rằng ngay cả sau khi đã sống trong dinh thự này 8 năm và trải qua nhiều quãng thời gian đau khổ tột cùng, bà vẫn nhìn Nhà Trắng “với sự tôn sùng mà tôi cảm nhận được khi còn là đứa bé gái áp sát mặt vào cánh cổng để nhìn rõ hơn”. Cả gia đình Clinton, bao gồm cả Chelsea, đã tận dụng phòng chiếu phim riêng của họ một lần cuối để xem bộ phim State and Main cho tới sau nửa đêm trước khi Tổng thống George W. Bush nhậm chức. Họ không muốn bỏ lỡ một giây phút khi tòa nhà vẫn còn thuộc quyền sở hữu tạm thời của họ. “Cuộc vui đêm đó làm họ mệt mỏi đến mức khi Barbara, Jenna và tôi liếc nhìn Bill trong lúc George đang đọc diễn văn nhậm chức, chúng tôi thấy ông ấy đang ngủ gật”, bà Laura Bush nhớ lại.
Sáng ngày nhậm chức, Tổng thống Clinton thú nhận với gia đình Bush rằng ông đã trì hoãn việc sắp xếp hành lý một thời gian dài, và chỉ đến phút chót ông “mới kéo ngăn tủ ra và vứt hết những thứ trong đó vào mấy cái thùng”.
Mặc dù Hillary Clinton luôn ngưỡng mộ sự uy nghiêm của Nhà Trắng nhưng bà vẫn hối tiếc nhiều thứ. Bà nói với bà Laura Bush rằng bà ước chi mình đã không khăng khăng đòi có một văn phòng ở Cánh Tây và không quyết định từ chối các lời mời chỉ vì chương trình làm việc của bà quá dày đặc. Bà đặc biệt cảm thấy áy náy chuyện mình từ chối lời mời đi xem ba–lê của bà Jackie Kennedy, bởi chỉ sau đó vài tháng thì Jackie qua đời. Bà khuyên bà Bush không nên bỏ qua những gì quan trọng.
CÁC NHÂN VIÊN luôn thấy mình hiện diện ở trung tâm các sự kiện thế giới. Betty Monkman, từng làm việc ở Phòng Quản lý Mỹ thuật từ năm 1967 đến năm 2002 và cuối cùng trở thành tổng quản lý mỹ thuật, là người chịu trách nhiệm giám sát những nhân viên treo và gỡ các tác phẩm nghệ thuật của từng gia đình tổng thống sắp dọn vào. Bà nhớ trong thời kỳ chuyển tiếp từ Tổng thống Carter sang Tổng thống Reagan, các nhân viên trong khắp tòa nhà đều bật tivi lên để vừa làm việc vừa xem cuộc khủng hoảng con tin đầy căng thẳng ở Iran kết thúc thế nào. “Tổng thống Carter thức trắng đêm trong Phòng Bầu dục với đội ngũ nhân viên của ông và chỉ ghé về nhà thay y phục để đi dự một sự kiện lúc 10 giờ sáng với Tổng thống đắc cử Reagan”, Monkman nói. “Không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra. Cả nước đều chờ đợi”. Iran đã thả nốt 52 con tin còn lại chỉ vài phút sau khi Reagan tuyên thệ để trở thành vị tổng thống thứ bốn mươi của Hoa Kỳ – một sự sỉ nhục cuối cùng dành cho Carter, người đã làm việc ngày đêm để các con tin được phóng thích trước khi nhiệm kỳ của ông chấm dứt.
Dù chuyện gì xảy ra bên ngoài Nhà Trắng thì các nhân viên cũng vẫn chỉ tập trung vào công việc chuyển nhà. “Chúng tôi luôn làm việc chăm chỉ”, Monkman nói. “Có một lần, dưới thời chính quyền Ford, khi các nhân viên đang loay hoay tháo rời cái gì đó trong phòng ngủ của Susan Ford thì tổng thống tình cờ đi ngang qua và chào họ. Ngay trước lúc xuống nhà, ông lại ghé qua một lần nữa để cảm ơn mọi người vì những gì họ làm. Đây là điều mà nhân viên chúng tôi rất cảm kích”. Ngay khi ông vừa đi khỏi, mọi người lại tiếp tục tất bật với công việc.
Dù đã cố gắng để không quá gắn bó với cái gia đình đang sống trong tòa hành pháp, các nhân viên thường vẫn mong muốn đương kim tổng thống được tái đắc cử, bất luận ông ấy thuộc Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa. Khi Bill Clinton đánh bại Tổng thống Bush thứ nhất ở cuộc bầu cử, Bếp trưởng Mesnier cảm thấy như đó là một “thảm họa thực sự”. Ông thân thiết với gia đình Bush đến mức ông không chắc mình có thể phục vụ một tổng thống khác. Nhưng chẳng riêng gì ông. Khi các nhân viên khác trong tư dinh cáo bệnh sau khi Tổng thống Clinton đắc cử, mọi người nói đùa rằng họ mắc “bệnh cúm Cộng hòa”.
Một phần nguyên nhân cũng là vì sự chuyển đến của một gia đình mới đồng nghĩa với việc các nhân viên phải quên đi những gì họ biết về từng thành viên của gia đình tổng thống sắp mãn nhiệm để bắt đầu lại từ đầu. Nhưng hầu hết mọi người đều đồng ý rằng sự thương yêu mà những người giúp việc trong tư dinh dành cho Tổng thống George H. W. Bush vượt quá mức bình thường. Tình cảm đó rất chân thật, gần như sâu đậm. Vợ chồng Bush nói chung rất dễ làm vừa lòng, vì thế các nhân viên nhanh chóng thấy thoải mái với họ. Theo lời kể của Tổng Quản lý Gary Walters thì ngay từ trước khi dọn vào Nhà Trắng, bà Barbara Bush đã trấn an ông rằng bà sẽ chẳng thay đổi gì trong nhà bếp hết. “Tôi chưa bao giờ ăn món gì dở ở đây, vì thế ông hãy nói với các đầu bếp là họ có thể đưa tất những gì họ muốn vào thực đơn tối. Chúng tôi sẽ được dịp ngạc nhiên với những gì được ăn mỗi tối”.
“Lỡ có món nào đó bà không thích thì sao?” Walters hỏi, ngỡ ngàng trước một đệ nhất phu nhân dễ dãi sau khi đã từng làm việc với Nancy Reagan.
“Thì tôi sẽ nói người đầu bếp đừng làm món đó nữa”, bà nói với ông.
NGÀY 11 THÁNG 11 năm 1968, vài ngày sau khi Richard M. Nixon đắc cử tổng thống, ông cùng Pat, vợ ông, được gia đình Johnson mời đến Nhà Trắng chơi. Tuy Johnson và Nixon là đối thủ trên chính trường nhưng họ rất vui vẻ với nhau trong suốt bữa ăn trưa kéo dài bốn tiếng. Johnson còn khiến vợ mình phải kinh ngạc trước cách cư xử lễ độ của ông. “Tôi thấy Lyndon rất rộng lượng và giống như một người cha”, bà Lady Bird nói. “Tôi nghĩ ông ấy không phải đang nói chuyện với Nixon mà là với vị tổng thống kế tiếp của đất nước này”.
Bà Lady Bird hướng dẫn vị đệ nhất phu nhân đắc cử đi tham quan tầng hai và tầng ba, và giúp bà ấy yên tâm về “hiệu quả, sự tận tâm cùng tính chuyên nghiệp không để tình cảm xen ngang” của các nhân viên trong dinh.
Trong thời gian chuyển tiếp đầy căng thẳng và áp lực đó, người ta thường nhìn thấy các đệ nhất phu nhân lặng lẽ vào buổi sáng ngày nhậm chức. “Ta tự hỏi không biết họ đang nghĩ gì”, Tổng Quản lý Bộ phận Phòng Christine Limerick trầm ngâm. Gia đình Johnson đặc biệt yêu thích cuộc sống trong Nhà Trắng. Lady Bird nhớ mình đã tha thẩn lên tầng hai và tầng ba trong chiếc áo choàng ngủ với tách cà phê trong tay vào sáng sớm ngày nhậm chức của tổng thống mới, cũng là ngày cuối cùng của bà trong Nhà Trắng. Chỉ mới hơn 5 năm trước, bà và gia đình còn buồn bã khi dọn vào Nhà Trắng, chiều ngày 7 tháng 12 năm 1963, ngay khi Jackie Kennedy dọn ra khỏi nhà, Lady Bird đã xúc động muốn khóc khi đọc bức thư ngắn mà cựu đệ nhất phu nhân để lại. “Chúc mừng bà dọn đến ngôi nhà mới, Lady Bird”, Jackie viết. “Hãy nhớ là bà sẽ hạnh phúc ở nơi này”. Sau bao nhiêu năm, nỗi buồn của quãng thời gian mới về Nhà Trắng hẳn đang quay trở lại.
Bà đứng trong Phòng Bầu dục Vàng và Phòng khách Lincoln, mong muốn đắm mình vào lịch sử phong phú của những căn phòng đó một lần cuối. Bà nói lời từ biệt cuối cùng với nơi mà bà và gia đình bà từng gọi là nhà suốt nhiều năm trời. “Phần việc mà tôi phải làm trên cương vị người nội trợ là xem có còn quên đồ đạc cá nhân ở đâu đó không”, bà nói, “nhưng phần lớn thời gian tôi lại chỉ biết đứng lặng im suy nghĩ”.
Bà Lady Bird ghé mắt nhìn vào căn phòng còn ngổn ngang những chiếc túi và thùng đang xếp dở của con gái Luci, và lướt qua cuốn sổ ghi tên tất cả các khách mời đến ở chơi với gia đình bà trong suốt các năm qua. Khi bước lên phòng Solarium, bà bất ngờ trước vẻ khác lạ của căn phòng khi không còn đồ đạc. “Cá tính của căn phòng đã bị lột mất, giờ đây nó trông trơ trọi lạnh lùng. Còn đâu căn phòng vui tươi của ngày xưa, thành trì của bọn trẻ”. Ở tầng Khánh tiết, bà có thể ngửi thấy mùi a–mô–ni–ắc trong lúc các nhân viên làm phòng, phục vụ và hầu hết các nhân viên Nhà Trắng đang hăng hái dọn dẹp để chuẩn bị cho gia đình Nixon dọn vào.
Trong lúc cuộc diễu hành mừng ngày nhậm chức đang diễn ra thì các nhân viên trong tư dinh thực hiện một yêu cầu khác thường. Vị tổng thống sắp mãn nhiệm là một tín đồ cuồng nhiệt của các bản tin thời sự tivi nên đã cho chất đầy tivi trong Nhà Trắng. Theo lời Bryant thì “Lyndon Johnson ngồi chễm chệ như một ông hoàng và bật cùng một lúc bốn cái tivi ra xem”. “Ông ngồi đó, vừa bình luận vừa chuyển âm hết cái tivi này đến tivi khác, hoặc là bật nhiều cái tivi cùng một lúc với âm thanh rất to”. Ngược lại, Tổng thống Richard Nixon nổi tiếng là không thoải mái với các phương tiện truyền thông. Sau khi ông đắc cử, các nhân viên trong dinh được lệnh đem gần hết số tivi ra khỏi nhà. Tuy nhiên một số cái vẫn được các nhân viên giữ lại để xem lễ diễu hành mừng ngày nhậm chức.
Cuối buổi sáng hôm đó, Tổng thống Johnson và Tổng thống đắc cử Nixon cùng đi xe đến điện Capitol, còn Phu nhân Lady Bird thì ngồi chung xe với Phu nhân Pat Nixon. Khi xe lăn bánh, hình ảnh cuối cùng Lady Bird nhìn thấy trong kính chiếu hậu là của Tổ trưởng Tổ phục vụ John Ficklin và Phục vụ Wilson Jerman đang nhìn theo gia đình bà. Bà gởi họ một cái hôn gió. Bà hẳn buồn vui lẫn lộn khi biết rằng lần sau khi trở lại ngôi nhà thân thương này, bà sẽ chỉ là một người khách như bao người khách khác.
Chương 2
Sự kín đáo
Bí mật, trung thành và kín đáo là nhiệm vụ của những kẻ bề tôi. Không phải trung thành với cá nhân người đương nhiệm mà là trung thành với tổ chức. Bầu không khí của tòa nhà sẽ không thể chịu nổi nếu như tổng thống phải nhìn tất cả những người giúp việc như những kẻ nghe lén, vì thế ông phải xem sự trung thành của họ là điều đương nhiên. Bí mật quốc gia và bí mật cá nhân tuy không được công khai, nhưng trong một ngôi nhà mà những gì riêng tư được thốt ra mỗi ngày, một số những điều đó hẳn cũng lọt vào tai của chí ít một nhân viên nào đó
– Irwin “Ike” Hoover, Tổng Quản lý, 1913–1933,
“Ai là ai, và tại sao, trong Nhà Trắng”, Saturday Evening Post, 10 tháng 2 năm 1934.
Hỏi: “Vì sao ông không có nhiều ảnh?” Trả lời: “Vì tôi biết các máy quay phim đặt ở đâu”
– Nelson Pierce, Tổng Quản lý, 1961–1987.
“Không nhìn điều xấu, không nghe điều xấu, không nói điều xấu”, những người giúp việc trong tư dinh tổng thống thường trả lời như thế khi được yêu cầu chia sẻ các tình tiết liên quan đến những khoảnh khắc riêng tư của các đệ nhất gia đình. Nếu như họ có một phẩm chất nào đó giống nhau thì đó chính là khả năng giữ kín các bí mật, nhất là khi họ vẫn còn đang làm việc. James Jeffries là nhân viên duy nhất còn đang làm việc chịu nói về những trải nghiệm của mình, còn các nhân viên về hưu khác thì thường từ chối gặp mặt vài lần rồi mới chấp nhận chia sẻ ký ức của họ, thậm chí một số người còn cố gắng che giấu những câu chuyện đau lòng hoặc những câu chuyện không hay bằng cách tô vẽ chúng với một màu sắc sáng sủa hơn mặc dù những lời lẽ đó rất gượng gạo. Những gì họ chia sẻ ở đây chỉ là những chuyện mà họ cảm thấy mình có thể tiết lộ, và trong hầu hết các trường hợp, những câu chuyện này phản ánh nỗ lực trình bày các trải nghiệm của họ một cách thấu đáo và thận trọng. Dù vậy, những hồi ức của họ cũng giúp vén tấm màn bí mật và cho ta một cái nhìn đầy mê hoặc và đôi lúc sửng sốt về tính cách của những người sống trong tòa hành pháp.
Các nhân viên phục vụ, làm phòng và những người hầu riêng là những người gần gũi nhất với đệ nhất gia đình. Họ cũng là những gia nhân khó mở lòng nhất vì muốn bảo vệ sự tin tưởng mà đệ nhất gia đình đặt vào họ. Họ là những người đầu tiên nhìn thấy đệ nhất gia đình vào buổi sáng và người cuối cùng nhìn thấy họ buổi tối. Những gia nhân đó – cùng một vài người khác, như đầu bếp gia đình chẳng hạn – đã nhìn thấy các tổng thống và đệ nhất phu nhân cãi cọ, cười nói, khóc lóc với nhau và là những cố vấn đáng tin cậy nhất của nhau. Và tất cả bọn họ chắc chắn sẽ đem theo rất nhiều bí mật xuống dưới mồ.
Một câu chuyện cho thấy tầm quan trọng của sự kín đáo của các nhân viên đã được kể lại không phải từ miệng một nhân viên mà từ một thành viên gia đình tổng thống. Ron Reagan nhớ mình đã đến thăm cha mẹ ở Nhà Trắng trong thời gian xảy ra vụ tai tiếng Iran–Contra, trước khi chính quyền của cha anh thú nhận là đã giúp bán vũ khí cho Iran để đổi lấy việc phóng thích các con tin và tài trợ cho các phiến quân Contra ở Nicaragua. Trong thời gian lưu lại đây, cậu con trai của tổng thống, lúc đó khoảng 24, 25 tuổi, cảm thấy ngạc nhiên trước việc nói năng vô tư của gia đình anh trước mặt người giúp việc. Chuyện là tối hôm đó, gia đình họ ăn tối cùng nhau trong Phòng ăn Gia đình ở tầng hai, sau đó họ chuyển sang Phòng khách Tây (West Sitting Room) ở tầng hai, một căn phòng ấm cúng thoải mái với một cửa sổ hình bán nguyệt kéo dài từ mặt đất lên đến trần nhà nhìn ra hành lang West Colonnade và khu Cánh Tây. Tại đây, cậu công tử nhà Reagan đã hối thúc cha kể về tình hình Iran–Contra.
“Đến một lúc nào đó, tôi bắt đầu hơi nổi nóng vì chuyện này”, anh nói, “và trong lúc tôi đang chỉ trích ba tôi gay gắt thì đột nhiên tôi nhận ra rằng có một người đang đứng đó với đĩa bánh trên tay. Tôi lập tức cảm thấy là ‘ôi trời, không xong rồi’, vì đã làm thế trước mặt người khác”. Nhưng rồi Ron kinh ngạc khi nhận ra rằng sự hiện diện của những người giúp việc “dường như chẳng khiến ba mẹ tôi quan tâm”. “Các nhân viên ở đó kín đáo đến mức ta không cần phải sợ họ vội vã chạy đi đưa tin cho báo chí”. Sự kín đáo đó là điều bắt buộc, Ron giờ đây nghĩ lại. Nếu tổng thống lúc nào cũng phải lo lắng chuyện nhân viên tiết lộ thông tin cho báo chí thì “cuộc sống sẽ gần như không chịu nổi. Ta cần một nơi để ẩn náu và không bị liên tục nhòm ngó”.
Để có thể đạt đến mức độ tin cậy đó có thể mất nhiều thời gian, mà mỗi chính quyền thì lại mỗi khác. Mỗi nhân viên đều biết đến khi nào thì họ được đệ nhất gia đình tin tưởng, Tổng Quản lý Gary Walters nói. Với Walters, thời điểm yêu thích nhất của ông khi làm việc dưới một chính quyền mới là lúc ông được tổng thống thân mật gọi bằng tên.
“Các nhân viên trong dinh biết rõ khi nào tất cả bọn họ có thể thở phào khoan khoái. Đó là khi các nhân viên phục vụ hay các quản lý bước vào một căn phòng trong lúc mọi người đang nói chuyện nhưng câu chuyện vẫn không ngưng lại mà vẫn tiếp tục. Điều này khiến tất cả chúng tôi thấy nhẹ nhõm, bởi chúng tôi biết mình đã chứng minh được rằng chúng tôi là những kẻ đáng tin”.
Tuy nhiên, vẫn có những lúc tổng thống cần có sự riêng tư. Như những gì nhân viên phục vụ Herman Thompson nhớ lại, ngay cả người thân thiện dễ gần nhất như Tổng thống George H. W. Bush cũng thỉnh thoảng nói câu “Cảm ơn anh nhiều” với một gia nhân. “Điều này đồng nghĩa với việc anh hãy xoay người lại và đi ra ngoài”.

Mỗi tổng thống đều có một người phục vụ ưa thích nhất, và với Tổng thống George W. Bush thì đó chính là James Ramsey, hay chỉ là “Ramsey” như tất cả mọi người trong tư dinh đều gọi ông một cách thân mật. Ông là một nhân viên phục vụ chuyên nghiệp và hoàn hảo nhưng lại rất thích “đối đáp” với Tổng thống George W. Bush và mối quan hệ này đã thực sự gắn kết họ với nhau. Ramsey là một trong rất ít nhân viên trong tư dinh được gia đình Bush mời đi cùng với họ trên chuyên cơ Air Force One để đến làm việc tại nông trại của họ ở Crawford, Texas. Ông hăng hái bảo vệ sự riêng tư của gia đình tổng thống khi chẳng bao giờ nói chuyện với báo chí hay khiến cho tổng thống nghi ngờ lòng trung thành của ông. Ông cũng luôn từ chối khi được mời ra ngoài nhậu nhẹt với các đồng nghiệp bởi cho rằng người khác “sẽ khiến ta gặp rắc rối”.
Ramsey cười rất tươi và rất hay cười, ông thực sự tôn sùng những gia đình ông hầu hạ suốt ba thập niên trên cương vị nhân viên phục vụ của Nhà Trắng. Reggie Love, chàng trợ lý cá nhân trẻ tuổi, đẹp trai và rất hòa đồng của Tổng thống Obama vẫn còn nhớ đến tính hài hước dễ lây của Ramsey. “Ông ấy trêu tôi: ‘Tôi hiện đã 70 tuổi. Khi nào cậu bằng tuổi tôi, tôi hy vọng là cậu sẽ phong độ bằng một nửa tôi’”.
Ramsey có bộ ria mép trắng sáng và chỉ cạo nó đi sau khi ông lui về nghỉ hưu năm 2010. Tất cả y phục của ông, kể cả áo lót, đều được ông đưa đi giặt khô, còn móng tay của ông luôn được cắt tỉa cẩn thận bởi người ta sẽ nhìn vào tay ông khi ông phục vụ cho họ. Ông không hề thấy xấu hổ về tính điệu đàng của mình: “Tôi muốn mình trông thật tươm tất về mọi mặt, từ móng tay đến mái tóc”, ông nói. “Tôi là một nhân viên phục vụ tại Nhà Trắng!”
Tự cho mình là tay sát gái, Ramsey hẹn hò với không ít phụ nữ sau khi ông ly dị và thậm chí còn giới thiệu một vài bạn gái của mình với Tổng thống George W. Bush tại các bữa tiệc thết đãi các nhân viên trong dịp lễ. Thỉnh thoảng ông cũng kể cho các cô con gái nhà Bush nghe về các cô bồ của ông. “Jenna và Barbara là những đứa trẻ tôi rất yêu quý. Chúng là bạn của tôi... Nếu chúng hỏi, tôi sẽ kể với chúng là ‘Tôi có một cô bạn gái. Tôi cũng chưa đến nỗi già quá, phải không?’”
Ông George W. Bush, người mà Ramsey gọi thân mật là “Bush con”, thường trêu chọc ông không thương tiếc và ông cũng đáp trả hết mình. Ông nhớ có một ngày khi ông đang phục vụ thức ăn nhẹ tại một cuộc chơi T-ball [**] trên Bãi cỏ phía nam thì Tổng thống Bush bước ra từ Phòng đón tiếp các phái đoàn ngoại giao. “Làm việc đi, Ramsey!” tổng thống pha trò. Mối quan hệ giữa họ là như vậy đó, ông nói. Họ luôn tự nhiên thoải mái với nhau mặc dù ai cũng biết rõ người nào mới là chủ.
[**](Bóng chày dành cho trẻ em.)
Tổng thống George W. Bush thích đùa nghịch với những người giúp việc trong tư dinh. Ông thường lật úp các khung hình lại khi các anh phục vụ và các cô hầu phòng không để ý, và vờ lấy cây vợt đập ruồi xua những con ruồi tưởng tượng khi thấy họ đi ngang qua. “Tổng thống rất thích trêu chọc các nhân viên phục vụ”, Andy Card, chánh Văn phòng Nhà Trắng của Bush nhớ lại.
“Tổng thống Bush”, Ramsey ngưng lại một lúc rồi nói tiếp. “Tôi sẽ không bao giờ quên gia đình ông ấy. Cho dù tôi có sống đến trăm tuổi, tôi cũng sẽ không bao giờ quên gia đình ông ấy”.
Trong căn hộ nhỏ của Ramsey, mà ông gọi là “cái chòi của anh chàng độc thân”, dán đầy những hình ảnh chụp ông với các tổng thống cùng những nhân vật lịch sử khác như Nelson Mandela (như để khoe với các cô bồ là “Ồ, anh quen với nhiều người như thế lắm cưng à”), cùng những bức thư ngắn mà Tổng thống Reagan và bà Hillary Clinton viết để cảm ơn ông đã giúp phục vụ cho bữa quốc yến. Có một tấm hình mang bút tích của Tổng thống Obama, ghi rằng: “Ông là một người bạn tốt, mọi người sẽ luôn nhớ đến ông”.
Ông hãnh diện với công việc ở Nhà Trắng của mình đến mức bạn ông, nhân viên phục vụ Buddy Carter đã trêu ông như sau: “Ramsey ấy à, ông ấy đến ngủ cũng đeo thẻ ra vào Nhà Trắng”.
Mỗi khi đệ nhất gia đình có mặt ở khu nhà riêng của họ trên tầng hai và tầng ba Nhà Trắng thì gần như lúc nào cũng phải có một nhân viên phục vụ túc trực ở gần đó hay trong phòng bếp tầng hai để chờ phục vụ. Các phòng trên tầng hai đều gắn chuông báo nối với phòng để đồ ăn để gia đình tổng thống gọi đem thức ăn đến, nhưng Ramsey hiếm khi nào cần đến chuông báo: “Mỗi khi họ cần gì, tôi đều cảm nhận được”.
Ta có thể dễ dàng hiểu vì sao Ramsey được thương yêu đến thế. Ông vẫn giữ chất giọng miền Nam ngọt ngào của những năm tháng trưởng thành ở Yanceyville, North Carolina. Cha dượng ông là một nông dân trồng cây thuốc lá (ông chưa bao giờ gặp cha ruột), vì thế phần lớn thời thơ ấu của ông được dành để cày ruộng thuốc lá với con lừa của gia đình.
“Công việc quá cực khổ nên tôi nói với cha tôi là ‘chừng nào học xong trung học, con sẽ đi. Con không thể ở lại đây’. Và khi cha tôi hỏi: ‘Vậy con sẽ sống ra sao?’ tôi trả lời: ‘Con phải liều thôi’. Khi tôi đến Washington, tôi chẳng quen biết ai ở đó”.
Ông đến Washington khi ông 20 tuổi. Ông chẳng có chỗ nào để ở cho đến khi tìm được một ông chủ trạm xăng dễ mến cho ông ngủ nhờ và tắm rửa ở đó. Cuối cùng ông cũng tìm được một căn phòng trên Đại lộ Rhode Island Tây Bắc với giá 10 đô một tuần. Trong thời gian ở đó, ông kết bạn với một người làm việc ở tòa nhà chung cư Kennedy Warren lộng lẫy ở tây bắc Washington. Ông nói với bạn là mình làm việc rất giỏi và được anh ta giới thiệu ông vào phỏng vấn. Ông được tuyển dụng ngay tức khắc.
Không bao lâu sau, tại một bữa tiệc, ông gặp một người làm việc trong Nhà Trắng, ông hỏi người này có thể giúp ông làm việc ở đó không. Và câu đầu tiên mà nhân viên Nhà Trắng đó hỏi ông là: “Anh có hồ sơ lý lịch không?”
“Không, tôi chẳng có hồ sơ nào cả” Ramsey trả lời.
“Nếu không có thì anh đừng mất công viết đơn xin việc”, người đó nói giọng hoài nghi. “Họ sẽ không tuyển anh nếu anh không có bất cứ giấy tờ nào”. (Giám sát điều hành Tony Savoy nhớ mình đã sốc khi biết nhiều người xin việc có tiền án tiền sự nghiêm trọng. “Tất cả những người đến đó đều nói lý lịch họ sạch cho đến khi ta kiểm tra các thông tin cơ bản về họ. Nhờ chuyện kiểm tra này mà tất cả mọi chuyện xấu xa đều được lôi ra ánh sáng. Có một thanh nhiên đến xin việc dưới thời chính quyền Clinton. Mãi đến phút chót cậu ta mới khai ra rằng mình từng bị bắt và kết án vì tội danh hiếp dâm. Mà chúng tôi thì lại đang có bé Chelsea 13 tuổi sống ở trên lầu. Thế là đơn xin việc của cậu ta bay thẳng vào sọt rác”).
Lý lịch của Ramsey không có chút tì vết nào, vì thế ông cứ điền vào đơn xin việc và chờ. “Tôi xin vào Nhà Trắng sau khi làm việc ở tòa nhà Kennedy Warren được khoảng hai ba năm và nhủ thầm là ‘không biết làm việc ở nơi này ra sao’”, ông vừa cười vừa nói. Nhưng phải đến mấy năm sau ông mới được Nhà Trắng gọi. Ngay khi Quản lý tổ phục vụ Eugene Allen và sau đó là Tổng Quản lý Rex Scouten gặp ông, họ nhận ông vào làm ngay ngày hôm đó.
Bắt đầu với công việc phục vụ dưới thời Tổng thống Carter, Ramsey làm việc ở Nhà Trắng suốt 30 năm cho sáu đời tổng thống: Jimmy Carter, Ronald Reagan, George H. W. Bush, Bill Clinton, George W. Bush, và Barack Obama, ông rất biết ơn ông Eugene Allen – “ông ấy nói với tôi như nói với con trai ông ấy” – vì đã khuyên ông giữ không để bị dính vào các rắc rối, và giữ kín mọi chuyện nghe được trong Nhà Trắng cho riêng mình. (Bộ phim Người phục vụ phát hành năm 2013 của đạo diễn Lee Daniel là bộ phim phỏng theo cuộc đời của Allen).
Thậm chí mấy chục năm sau, Ramsey cũng không làm trái lời dạy của Allen. Ông không bao giờ tiết lộ chuyện riêng tư của những người ông từng phục vụ cho người ngoài. “Cậu không làm việc ở McDonald hay Gino mà làm việc ở tòa nhà này”, Allen nói với Ramsey. “Nếu cậu gặp rắc rối hay nói gì bậy bạ, cậu sẽ tiêu ngay”.
Tuy nhiên, ông không cần áp dụng quy tắc im lặng này với các đồng nghiệp của mình. Tổng Quản lý Stephen Rochon nhớ rõ Ramsey là nhân viên phục vụ đầu tiên chúc mừng ông đến Nhà Trắng và kể cho ông nghe những chuyện đang xảy ra ở tầng hai và tầng ba.
TRÁCH NHIỆM GIỮ kín chuyện nội bộ gia đình tổng thống chưa bao giờ bị một gia nhân trung thành như Wilson Jerman, một ông lão 85 tuổi có giọng nói nhỏ nhẹ, lơ là khi ông được tôi phỏng vấn cách đây không lâu. Bắt đầu bằng công việc quét dọn năm 1957, ông trở thành một nhân viên phục vụ khi về hưu năm 1993. Nhưng đến năm 2003, ông đi làm trở lại (vì thấy nhớ “ngôi nhà này”) và giữ chân gác cửa bán thời gian cho đến năm 2010. Như mọi người gác cửa của bất cứ tòa nhà nào khác, ông nhìn thấy tất cả những người ra vào nơi đó và luôn giữ kín các bí mật của họ.
Jerman xem lòng trung thành của ông đối với đệ nhất gia đình và chuyện bảo vệ sự riêng tư của họ là sự đáp trả tự nhiên cho việc họ tin tưởng ông. “Tôi cảm thấy hạnh phúc khi có thể tự nhiên lên lầu và vào phòng đệ nhất phu nhân để lấy những thứ mà bà ấy nhờ tôi lấy”.
Katie Johnson, cựu thư ký riêng của Tổng thống Obama, cho biết cô rất thích chơi trò đố vui với các nhân viên phục vụ. Khi cô hỏi một nhân viên phục vụ rằng điều gì thay đổi nhiều nhất trong Nhà Trắng trong mấy chục năm ông làm ở đó, ông đã nói hai điều: đó là có nhiều phụ nữ hơn và không còn chuyện nhậu nhẹt trong bữa ăn trưa”.
“Lúc trước, mọi người thường uống rất nhiều vào giữa ngày”, ông cho cô biết. “Một trong những lý do họ có nhiều nhân viên đến thế là do họ cần người pha rượu martini cho các cuộc họp giữa ngày, bây giờ thì hết rồi”, cô nói. “Cô có thể tưởng tượng một người đến cuộc họp nội các và yêu cầu một ly rượu martini dry không?”
Nelson Pierce, một nhân viên quản lý từng làm việc ở Nhà Trắng 26 năm và đã qua đời năm 2014 ở tuổi 89, thường được yêu cầu đem các tài liệu “mật” đến cho tổng thống, tức những giấy tờ nhạy cảm mà chỉ riêng tổng thống mới được quyền xem. Tôi rất may mắn được phỏng vấn Pierce trước khi ông qua đời. Ông cho tôi biết là có một ngày, ông phải đưa thứ gì đó cho Tổng thống Lyndon Johnson ký trong bữa ăn trưa với Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk, Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara cùng ít nhất sáu cố vấn khác. Gần như chắc chắn là họ đang nói về tình hình Việt Nam lúc đó.
Pierce đang đứng cạnh tổng thống và nôn nóng chờ ông ấy ký tài liệu thì đột nhiên ông nghe thấy một điều bất thường: “Bộ trưởng McNamara hét lên với tổng thống. Ông ấy đang tức giận chuyện gì đó. Tôi không thể lặp lại những gì ông ta nói hay những gì tổng thống nói với ông ta, dù chỉ một câu. Tôi không hiểu đó là chuyện gì và tôi xin thề trên cả chồng Kinh Thánh là tôi không còn nhớ bất cứ từ nào họ nói ra bởi tôi đã xóa hết mọi thứ trong bộ nhớ. Dù có bị thôi miên đi nữa, tôi cũng không nghĩ họ có thể moi được gì từ tôi”.
Nhiều thập niên sau, chánh Văn phòng Nhà Trắng Andrew Card nói rằng trong các cuộc họp ở Phòng Bầu dục với Tổng thống George W. Bush, ông nhận thấy một số cố vấn của tổng thống tỏ ra rất bất an mỗi khi thấy các nhân viên phục vụ và những gia nhân khác bước vào.
“Họ cố gắng hết sức để không làm mọi người thấy khó chịu trong khi vẫn thực hiện công việc phục vụ của mình. Theo tôi thì người không thấy thoải mái với nhân viên phục vụ là những người khác chứ không phải tổng thống hay đệ nhất phu nhất. Họ không biết họ có nên ngừng nói không”.
Tuy nhiên, điều mà các nhân viên tự hào với bản thân nhất – tức khả năng làm mình trở nên mờ nhạt trước mắt người khác – lại có thể khiến họ bị phi nhân hóa. Việc được tổng thống tin tưởng vào khả năng gạt bỏ mọi chuyện ra khỏi trí óc khiến các nhân viên đôi khi cảm thấy như họ không hề tồn tại.
“Tôi rất ngạc nhiên khi thấy mọi người có thể nói bất cứ điều gì xung quanh ta”, Phục vụ Herman Thompson, nhân viên làm việc bán thời gian từ thời Kennedy cho đến cuối nhiệm kỳ đầu tiên của Bush nói. “Nhiều lúc nghe mọi người nói chuyện trong Phòng Quốc yến trong lúc ta đang phục vụ ở đó mà ta cứ tưởng như họ đang thì thầm điều gì đó. Gần giống như thể ta không có mặt ở đó vậy”.
Đôi lúc, cả tổng thống và đệ nhất phu nhân cũng dường như quên bẵng sự có mặt của các gia nhân ở gần đó. Nelson Pierce nhớ ông đã bối rối thế nào khi một buổi tối, lúc ông mang mấy túi hành lý lên phòng Tổng thống Reagan, ông nghe bà Nancy Reagan quát lên với chồng, người đàn ông quyền lực nhất thế giới, ngay trước mặt ông. “Bà ấy mắng chồng là để tivi không chịu tắt. Tổng thống nói: “Em yêu, anh đang xem tin tức mà”. Bà ấy vừa mới mở cửa phòng ra là đã nhào vào mắng chồng xối xả đến mức không tin được. Lại ngay trước mắt tôi. Tôi nghĩ là bà ấy chỉ nên nổi giận với chồng khi chỉ có riêng hai người, ông ấy đang xem bản tin 11 giờ nhưng bà ấy lại tưởng chồng đã ngủ. Tôi hơi ngạc nhiên, thế là tôi vội vàng bỏ hành lý xuống và chạy ra ngoài ngay khi có thể”.
Tổng thống Johnson thường cởi đồ trước mặt nhân viên và nổi tiếng với tật ra lệnh cho người khác khi đang ngồi trên bồn cầu. Có một lần, phóng viên Frank Cormier đã bị sốc khi nhìn thấy Paul Glynn, trung sĩ phục vụ trên Air Force One và cũng là người hầu riêng của ông Johnson, đang quỳ trước mặt tổng thống và rửa chân cho ông trong lúc họ đang ở trên không – điều này lại càng tệ hơn khi ông Johnson chưa một lần thừa nhận Glynn.
“Suốt thời gian nói chuyện, ông Johnson chẳng chú ý chuyện gì khác ngoài việc gác chân này sang hướng bên kia để Glynn rửa chân kia cho ông”, Cormier quan sát. Sau khi chứng kiến cảnh này, Cormier nói mình không còn thấy sốc khi biết Glynn cũng cắt cả móng chân cho Johnson.
Nhưng thường thì việc gần gũi với gia đình quyền lực nhất thế giới khiến các nhân viên thấy mình được kính nể. Và cũng vì lợi ích của chính mình mà họ luôn giữ kín bất cứ điều gì họ nghe thấy. Susan Ford, chỉ mới 17 tuổi khi cha cô lên làm tổng thống, nói rằng: “Họ đã không thể ở đây suốt từng ấy năm nếu họ nhiều chuyện”.
Thợ sơn Cletus Clark, từng làm việc suốt từ thời Nixon đến thời George W. Bush, không bao giờ để lọt một bí mật nào ra ngoài. “Tôi cứ như một bóng ma, luôn lảng tránh tất cả mọi người. Và tôi biết phân biệt phải trái”.
“Họ phục vụ hết đời tổng thống này đến đời tổng thống khác. Họ biết tất cả mọi gia đình và họ luôn kín miệng”, bà Laura Bush nói với tôi, giọng thận trọng hơn so với chồng bà. Ngay cả lúc trò chuyện với các đệ nhất gia đình, họ cũng vẫn rất kín đáo.
“Họ không nói về các tổng thống từng sống ở đây trước ta hay kể bất cứ chuyện gì về gia đình họ. Chúng tôi rất ngưỡng mộ và nể phục họ về chuyện này bởi chúng tôi đương nhiên cũng muốn họ đối xử với chúng tôi giống như vậy sau khi chúng tôi rời khỏi đây”.
Những hồi ức về cuộc sống hằng ngày mà hầu hết các gia đình trân quý được các đệ nhất gia đình đặc biệt quý trọng, chính vì thế họ thường xuyên rủ các nhân viên ở tư dinh tham gia cùng với họ mỗi khi những người này rảnh rỗi. Laura Bush cho biết chồng bà và nhân viên phục vụ Ron Guy đều có chung sở thích đi câu. “Mỗi khi các nhân viên phục vụ đến trang trại của chúng tôi khi chúng tôi tiếp đãi các nguyên thủ quốc gia ở đó, George và Ron Guy đều đi câu cá bất cứ khi nào họ rảnh. Tôi có một bức ảnh phóng lớn rất đẹp chụp George, Phó Tổng thống Cheney và Ron Guy đang câu cá trên chiếc tàu cá nhỏ của trang trại chúng tôi”.
“Có rất nhiều cách để chúng tôi biết từng người làm việc ở đó. Chúng tôi biết họ rất rõ”, bà Bush nói. “Harold Hancock, như tôi nhớ, là một trong những người gác cửa mà chúng tôi rất thương mến. Ông là một người hiền lành đáng yêu và qua đời khi chúng tôi đang ở đó. Tôi có một tấm ảnh tuyệt đẹp chụp ông ấy đứng trước cửa với con Spot, con chó của chúng tôi, để chờ tổng thống về. Họ luôn rất tử tế với tất cả các con vật. Họ làm như thể họ thực sự say đắm tất cả các con vật cho dù có thực hay không”.
Luci Baines Johnson nói cô rất thương Wilson Jerman và cho đến bây giờ vẫn còn nhớ rõ về ông sau gần 50 năm rời Nhà Trắng. “Ông ấy có nụ cười làm mềm lòng cả kẻ man rợ nhất”, cô nói với chất giọng miền Nam kéo dài chậm rãi.
Một ví dụ cuối cùng về sự kín miệng: Jerman tìm cách né tránh câu hỏi của người khác bằng cách không bao giờ thừa nhận nơi mình thực sự làm việc. “Tôi sẽ nói là ‘tôi làm việc ở số 1600 đại lộ Pennsylvania’ và 99% số người không biết chỗ đó là chỗ nào. Họ sẽ hỏi: ‘Đó là nhà kho nào? Đó là tòa nhà nào?’ Và tôi sẽ nói rằng ‘Nó ở dưới phố’”. Còn nếu như cho họ biết sự thật, ông sẽ không muốn trả lời hàng loạt câu hỏi tiếp theo.
Giống như Ramsey, Jerman lo sợ bị đuổi nếu tiết lộ điều gì, đến mức ông chẳng bao giờ nói về công việc của mình lúc còn làm việc ở đó. “Người ta sẽ hỏi rất nhiều thứ”, ông nói, vì thế ta phải làm như “thấy như không thấy, nghe như không nghe. Không biết gì hết”.
Ngay cả khi lịch sử đã hé lộ, Jerman cũng vẫn chỉ tập trung vào công việc của mình và chẳng hề quan tâm đến việc tiết lộ thông tin. Vào đầu giờ chiều ngày 15 tháng 4 năm 1986, Jerman và Bếp trưởng Frank Ruta đang chuẩn bị bữa tối cho gia đình Reagan thì tổng thống bước vào. Ông thường hay vào bếp nhưng lần này ông không chỉ ghé vào hỏi xem họ có khỏe không.
“Tôi muốn các anh biết rằng trong 5 phút nữa chúng ta sẽ bắt đầu bỏ bom Libya, nhưng tôi muốn các anh là người đầu tiên biết chuyện này”, Reagan tuyên bố.
“Hay quá, thưa tổng thống”, Jerman đáp, “nhưng ông muốn mấy giờ ăn tối?”
Reagan khựng lại, suy nghĩ một giây rồi nói: “Tốt nhất anh nên hỏi vợ tôi”.
Ruta cười phá lên khi nhớ đến ánh mắt ngạc nhiên của ông Reagan lúc đó. Chỉ một lúc sau, bà Reagan đã xua chồng ra khỏi bếp. Bà luôn cảnh giác với việc chồng nói chuyện quá nhiều với các nhân viên, nhất là những chuyện tiết lộ bí mật an ninh quốc gia.
Ruta chỉ mới 22 tuổi khi bắt đầu làm việc trong nhà bếp Nhà Trắng, nơi ông chuẩn bị hầu hết các bữa ăn gia đình cho gia đình Reagan. Ông nói với tôi rằng bà Nancy Reagan bảo vệ chồng một cách mãnh liệt – bà thực sự rất tận tụy với ông – nhưng bà chẳng cần phải lo từ phía các gia nhân. Ruta không bao giờ nhiều chuyện, cũng chẳng bao giờ yêu cầu các cô hầu phòng và các anh phục vụ chia sẻ mấy chuyện tầm phào với ông. “Sự riêng tư của họ cần được tôn trọng. Ta không phải ở đó để nhòm ngó chuyện của họ”.
Đôi khi các nhân viên cũng không tránh được việc chứng kiến các khoảnh khắc riêng tư. Mỗi tối, viên quản lý trực ca đêm đều lên lầu đưa cho tổng thống một tập báo cáo chứa các tư liệu nhạy cảm do các nhân viên ở khu Cánh Tây tập hợp lại để chuẩn bị cho tổng thống làm việc vào ngày hôm sau, rồi sau đó tắt đèn. Quản lý Chris Emery nhớ mình thường thấy gia đình Reagan tề tựu trong phòng khách sau bữa ăn tối khi ông đến đưa tập tin. “Có lúc họ xem vở hài kịch tình huống Ai là ông chủ và vặn tivi rất lớn vì tổng thống hơi bị lãng tai. Lúc đó là khoảng 8, 9 giờ tối. Với cặp kính đen to do chính phủ cấp nằm trong chiếc áo ngủ đỏ, tổng thống ngồi làm việc trên chiếc ghế bọc vải hoa, cạnh ông là một cái khay chất đầy giấy tờ. Phu nhân Reagan đứng sát cạnh ông, và nhiều lần khi tôi lên trên đó, tôi thấy họ đang nắm tay nhau. Không ai xung quanh nhìn thấy cảnh đó”.
Thợ sơn Cletus Clark nói ông luôn cố không quấy rầy gia đình tổng thống mặc dù điều này có nghĩa là khiến công việc của ông trở nên phức tạp hơn. “Họ thực sự không muốn chúng tôi quanh quẩn bên họ quá nhiều. Ta vẫn phải làm việc nhưng tránh làm phiền đệ nhất gia đình nhiều nhất có thể. Khi họ ở trong Phòng khách Tây mà ta lại cần xuống Phòng ngủ Nữ hoàng ở phía đông, ta phải lên tầng ba trước rồi đi đến cuối hành lang để xuống nhà bằng cầu thang sau. Ta vẫn phải tiếp tục làm việc”.
Sự trung thành của Clark với công việc rất rõ ràng khi ông được chỉ thị sơn một số thứ ở nhà Charles “Bebe” Rebozo, người bạn thân nhất của Tổng thống Nixon. Báo chí đã nhanh chóng nắm được câu chuyện này và chất vấn việc sử dụng nhân viên Nhà Trắng cho công việc cá nhân.
“Tôi chỉ làm những gì mình được yêu cầu”, Clark nói. “Tôi không hỏi bất cứ điều gì”.
Bà Barbara Bush nói các nhân viên “có lẽ ít ngồi lê đôi mách hơn người bình thường”. Đương nhiên là “vì gia đình chúng tôi là một gia đình hoàn hảo”, bà nói với giọng tinh quái.
Bà Rosalyn Carter đánh giá cao sự kín miệng của các nhân viên. “Tôi hoàn toàn tin tưởng ở họ. Tất cả bọn họ đều rất tốt. Tôi không nhớ mình đã từng che đậy chuyện gì chưa, nhưng tôi nhớ họ chưa bao giờ cố gắng lắng nghe chuyện gì. Họ vẫn làm việc xung quanh khi chúng tôi nói chuyện với nhau nhưng theo tôi nhớ thì họ không hề để ý lắng nghe”.
Các nhân viên rất ghét bị chú ý. Quản lý Nelson Pierce, một người mảnh khảnh với nụ cười hiền lành, không chụp nhiều hình trong thời gian ông làm việc ở Nhà Trắng, chủ yếu là vì ông hay lẩn tránh các tay thợ ảnh trong suốt 26 năm làm việc ở đó (từ năm 1961 đến năm 1987). “Tôi không phải ở đó để được chụp hình”, Pierce nói. “Tôi bị dính ba lần trên tivi: một lần khi tôi đang cắm đèn trang trí Giáng Sinh ở Cửa Bắc và các máy quay phim lẽ ra không được quay cảnh này nhưng tôi vẫn bị dính. Hai lần kia là khi tôi đang cầm ô, một lần che cho tổng thống, lần kia che cho đệ nhất phu nhân khi họ bước xuống máy bay”.
SỰ KÍN ĐÁO đặc biệt quan trọng khi liên quan đến việc bảo vệ cách thức cung ứng thức ăn cho đệ nhất gia đình. Khi cần đặt lượng thực phẩm lớn, Nhà Trắng sử dụng các công ty cung cấp thực phẩm đã được duyệt trước. Nhân viên của công ty đó cũng phải được FBI và Cơ quan mật vụ xem xét kỹ về mọi mặt. Những mặt hàng thực phẩm đều do các sĩ quan mật vụ lấy về rồi mới đem đến cho Nhà Trắng. Nếu như tổng thống thích một món ăn vặt nào mà ông tình cờ nếm được trong chuyến đi và muốn đem về Nhà Trắng thì các nhân viên phải thu xếp để gởi món đó về địa chỉ nhà của các gia nhân để không ai biết người nhận là tổng thống.
Tuy nhiên, với các bữa ăn hằng ngày của gia đình tổng thống thì thực phẩm tươi sống sẽ do các gia nhân giấu tên để mua nhằm đảm bảo sự an toàn. Quản lý kho William “Bill” Hamilton, nhân viên phục vụ lâu năm nhất cho Nhà Trắng trong lịch sử hiện đại (ông bắt đầu làm từ khi Tổng thống Eisenhower còn tại vị và nghỉ hưu năm 2013), là người chịu trách nhiệm mua thực phẩm cho các bữa ăn gia đình và thỉnh thoảng cho các bữa tiệc tối lớn. Ông lão 77 tuổi hói đầu, thanh mảnh trông vẫn còn rất trẻ này thường đến một cửa hàng thực phẩm địa phương để mua bất cứ thứ gì gia đình tổng thống cần, từ cuộn giấy vệ sinh cho đến quả táo. Cho đến bây giờ, ông vẫn không chịu tiết lộ tên cửa hàng thực phẩm ông hay lui tới vì “Cơ quan Mật vụ không cho tôi nói!”. Không tiết lộ danh tính khi mua hàng là điều rất quan trọng, bởi nếu không ai biết ông mua đồ cho đệ nhất gia đình thì sẽ không ai quan tâm đến việc cho thuốc độc vào thực phẩm ông mua.
Văn phòng của Hamilton nằm bên dưới Cửa Bắc, đối diện với khu bếp ở Tầng Trệt Nhà Trắng, nên rất tiện cho ông liên hệ với người quản bếp để biết ông ta cần gì để nấu ăn cho gia đình tổng thống. Đến giờ đi chợ, Hamilton thường leo lên một chiếc xe van của Cơ quan Mật vụ. Chiếc xe này đã được cải tạo lại để trông giống một chiếc suv bình thường chứ không như một trong những chiếc xe van đen bề thế trong đoàn xe hộ tống của Nhà Trắng. “Nó giống như bất cứ chiếc xe van bình thường nào ngoại trừ việc chúng tôi đã bỏ hết ghế ngồi cùng những thứ khác bên trong ra, nhưng nhìn bên ngoài nó trông giống hệt những chiếc xe van khác”.
Vì không có một gói đồ nào gởi qua đường bưu điện được chấp nhận đưa vào khu vực Nhà Trắng nên tất cả mọi thứ đều phải được Cơ quan Mật vụ kiểm tra trước tại một tòa nhà nằm rất xa thuộc tiểu bang Maryland. Mỗi khi có ai đó hỏi Quản bếp bánh ngọt Roland Mesnier là làm sao để gởi thứ gì đó đặc biệt cho tổng thống, ông đều nói họ đừng mất công. “Ông có thể gởi nếu muốn nhưng họ sẽ không nhìn thấy món quà đó. Nó sẽ bị hủy”.
Khi tổng thống ăn uống bên ngoài Nhà Trắng, một nhân viên quân đội sẽ được cử đi giám sát nhà bếp của chỗ đó trước xem món ăn được chuẩn bị ra sao, và nếm thử xem món đó có an toàn không. Jane Erkenbeck, một phụ tá của bà Nancy Reagan, cho biết căn phòng của bà trong khách sạn luôn ở sát cạnh phòng đệ nhất phu nhân, một phần cũng là để tiện cho phu nhân Reagan được phục vụ thức ăn đến tận phòng một cách an toàn và nhanh chóng. Đích thân Erkenbeck đặt món ăn và “món ăn đó luôn được giao cho tôi chứ không bao giờ giao cho bà ấy. Sau đó tôi mới đem nó sang phòng bà”.
NHỮNG NGƯỜI LÀM việc ở Nhà Trắng cũng được yêu cầu giữ thái độ bình tĩnh ở một mức độ nào đó khi xảy ra tình huống bất thường, cho dù nhân viên đó không nhất thiết tiếp xúc hằng ngày với gia đình tổng thống. Tổ trưởng Tổ Nước Reds Arrington và em trai ông, Bonner, tổ trưởng tổ mộc, đã được chú của họ, người giúp họ có được công việc này, cảnh báo trước về tầm quan trọng của chuyện giữ mồm giữ miệng.
“Họ rất kín tiếng”, bà Margaret Arrington, vợ góa của ông Arrington, cho biết. Giờ đây, sau một thời gian rất dài, bà mới thấy tự nhiên khi chia sẻ một số điều mà chồng bà nhìn thấy phía sau những cánh cửa đóng kín.
“Khi có gia đình tổng thống ở đó”, bà hồi tưởng, chồng bà cùng cậu em trai thường “biến đi” nơi khác. Nhưng “họ vẫn làm bất cứ điều gì được yêu cầu làm, trong đó có việc dời một số ghế giúp bà Jackie Kennedy. Họ vừa ra khỏi thang máy đã thấy bà ấy ngồi ở cuối hành lang nói chuyện điện thoại, hai chân gác cao và bắt tréo ở cổ chân, các ngón chân ngoe nguẩy như đang dạo nhạc”. Hình ảnh đệ nhất phu nhân mặc quần tây và tự nhiên như không khiến họ thấy bất ngờ. “Họ hoảng hồn nhìn thấy bà ấy ngồi đó trong tư thế không ra dáng quý bà, và thế là họ đâm nhào vào tường với chiếc ghế trên tay!” Họ va vào tường khá mạnh nên rất lo làm hư món đồ cổ vô giá trên tay.
Nếu đệ nhất phu nhân hay tổng thống đột ngột xuống nhà không thông báo trước, các nhân viên sẽ cố canh chừng cho nhau và ra hiệu trước cho nhau để đồng nghiệp của mình không bất ngờ bị bắt gặp. Theo Reggie Love thì Cơ quan Mật vụ và thư ký của tổng thống phải gọi cho Phòng Quản lý để báo cho họ biết là khi nào tổng thống về hay xuống thăm các phòng ban ở dưới lầu.
Theo những gì Cletus Clark nhớ thì vài phút trước khi bà Betty Ford xuống dưới tầng hầm để cảm ơn ông trước khi chồng bà mãn nhiệm, ông được Phòng Quản lý điện xuống nói rằng: “Đệ nhất phu nhân đang xuống, ông hãy cư xử phù hợp”.
Tổng quản lý bộ phận phòng Christine Limerick làm việc ở Nhà Trắng 34 năm và chỉ về hưu năm 2008. Khác với nhà của các đồng nghiệp bà, căn nhà ở nông trang sơn vàng của bà ở Delaware không phải là nơi trưng bày hình ảnh của những năm tháng làm việc trong Nhà Trắng. (Thay vào đó, bà dành cả một căn phòng trong đó cho bộ sưu tập gấu nhồi bông của mình). Dấu vết duy nhất của sự nghiệp huy hoàng của bà là tấm thiệp Giáng Sinh treo trong phòng ăn do gia đình Clinton viết. Là một người thân thiện với mái tóc trắng cắt sát, Limerick bắt đầu hẹn hò với Robert chồng bà khi ông đang làm kỹ sư trong Nhà Trắng. Bà hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ thân thiết của mình với các gia đình nổi tiếng nhất thế giới. Và bà được các nhân viên làm việc chung nhiều năm thương yêu.
 
CHRISTINE LIMERICK
Limerick “là sếp và cũng là bạn tôi”, Betty Finney, một nhân viên làm phòng ở Nhà Trắng từ năm 1993 đến năm 2007, nói. “Bà ấy sẽ làm mọi thứ trên đời để giúp ta nếu ta cần sự giúp đỡ”.
Betty bước vào tòa nhà số 1600 Đại lộ Pennsylvania một cách rất bất ngờ. Năm 1972, bà bỏ ngành lịch sử Trung Hoa ở đại học danh tiếng George Washington ở Washington D.C., để trở thành nhân viên phục vụ cocktail ở Khách sạn Mayflower sang trọng trên Đại lộ Connecticut. Cha bà đã buồn lại càng buồn hơn khi bà tham gia chương trình đào tạo quản lý bộ phận phòng ở khách sạn. Ông nói với bà rằng “Ba không nuôi dạy con gái để trở thành người cọ rửa bồn cầu”.
Tất cả mọi thứ sau đó đều thay đổi.
“Khi tôi được nhận vào làm việc ở Nhà Trắng, tôi đã gọi điện cho cha và nói rằng: ‘Con gái ba bây giờ đã là người cọ rửa bồn cầu cho Nhà Trắng. Ba thấy sao ạ?’”
Trong vai trò quản lý bộ phận phòng, Limerick phụ trách việc tuyển và sa thải các nhân viên phòng (sau khi hội ý với người tổng quản lý). Trong thời gian bà phụ trách công việc này, bà nhớ là đã có vài người hầu phòng rời bỏ công việc sau chỉ vài tuần làm việc. Hoặc là vì họ quá mê người nổi tiếng để có thể làm việc sát cạnh cặp vợ chồng quyền lực nhất thế giới, hoặc vì họ không đủ kín miệng.
“Ta phải biết cân bằng việc hầu hạ gia đình tổng thống với việc biết lúc nào nên tránh đi chỗ khác”, bà nói. “Một vài người trong số họ có thể chẳng phải là người làm giường giỏi nhất, có thể chưa bao giờ nhận được một giải thưởng nào đó cho việc này, nhưng họ biết khi nào gia đình tổng thống cần đến họ và khi nào họ cần tránh đi nơi khác”.
Gia đình Clinton là gia đình Limerick yêu thích phục vụ nhất. Bà nói họ là cặp vợ chồng sôi nổi nhất với nhiều giây phút thăng trầm diễn ra ở khu nhà riêng. Dưới thời vợ chồng Clinton, Limerick nhớ lại, làm việc ở Nhà Trắng giống như đi tàu lượn siêu tốc. Đôi vợ chồng này khi thì cãi nhau ầm ĩ và khiến các nhân viên bị sốc trước những lời chửi rủa nặng nề của họ, lúc lại chìm đắm trong những khoảnh khắc im lặng lạnh lẽo. Tuy nhiên, những lúc vui vẻ hơn, họ thường tản bộ xung quanh tòa nhà vào những đêm khuya không ngủ được để nói chuyện huyên thuyên và thể hiện sự ngây ngất của họ đối với tòa nhà.
Ivaniz Silva, trước đây từng làm việc với Limerick ở Khách sạn Mayflower, được bà tuyển vào Nhà Trắng năm 1985 để làm hầu phòng. Nghỉ hưu từ năm 2008, Ivaniz chuyển về sống ở gần trường đại học Howard với cô em gái Sylvia, lúc này vẫn đang làm hầu phòng ở Nhà Trắng. Trong thời gian làm việc ở Nhà Trắng, Ivaniz phải thức dậy từ 5 giờ 30 sáng và đón hai chuyến xe buýt để kịp bước vào ca trực lúc 7 giờ 30. “Nếu trời tuyết, tôi phải đi bộ”, bà nhớ lại. Bà cứ làm ca sáng ba tuần, từ 7 giờ 30 sáng đến 4 giờ chiều, thì lại chuyển sang làm ca tối một tuần, từ 12 giờ trưa đến khoảng 8 giờ tối.
Bà luôn thực hiện những gì được yêu cầu. Nếu có người khách nào nhờ bà làm một việc vượt ra ngoài nhiệm vụ bình thường của bà, như lên gấu một cái áo chẳng hạn, bà sẽ làm giúp. Bà thường khâu vá nhiều nhất cho gia đình Clinton và cho bà Laura Bush.
Limerick mô tả việc mà những người hầu phòng phải thực hiện để không quấy rầy đệ nhất gia đình như một điệu vũ tinh tế. “Chúng tôi đi sau họ hai bước chân”, bà hồi tưởng. “Nếu họ bước vào phòng và nhìn ta nói: ‘Cô có thể làm cho xong, không cần ra ngoài’ thì ta cứ làm tiếp công việc cần làm nhưng phải phát huy khả năng không nghe, không thấy, không hiểu. Nếu lúc đó họ đang họp hoặc tổng thống và phu nhân đang nói chuyện với nhau thì cho dù lúc họ có đang giận dữ hay nồng nhiệt, ta cũng chỉ được hỏi mỗi một câu: ‘Tôi có thể ở lại làm cho xong không?’ Ta chỉ làm đúng việc mình cần làm, còn những chuyện xung quanh thì hoặc ta quên nó đi hoặc xếp nó qua một bên. Ngay cả lúc gia đình tổng thống muốn ở một mình, các nhân viên thường cũng chỉ rời phòng này để chuyển sang làm việc ở phòng bên cạnh. “Nếu muốn có sự riêng tư, họ chỉ cần đóng cánh cửa kết nối với phòng tắm, chứ chúng tôi không đi ra ngoài”.
Limerick cho biết các nhân viên làm phòng cũng phải tuân theo quy tắc giống các nhân viên phục vụ, tức là: thấy như không thấy, nghe như không nghe. Họ không nói chuyện với người nhà hay khách mời của tổng thống trừ khi được những người đó hỏi chuyện. Họ cũng không bao giờ tiếp cận những người đó để xin xỏ chuyện cá nhân.
Đôi lúc, các nhân viên làm phòng cũng phải nhắm mắt làm ngơ trước hành vi sai trái của con cái đệ nhất gia đình, kể cả khi mấy cô cậu tuổi teen này uống rượu khi chưa đủ tuổi. Các gia nhân thường thông cảm với những đứa trẻ lớn lên trong Nhà Trắng và có quá ít sự riêng tư. “Lúc tôi 20, 21 tuổi, tôi cũng đâu phải thiên thần gì”, Limerick hồi tưởng và đặt mình vào vị trí mấy đứa trẻ. “Tụi nhỏ thích tiệc tùng và thích có bạn bè đến chơi, và thế là ta chứng kiến mọi chuyện”, bà nói. Nhưng hầu hết các gia nhân đều nghĩ rằng thà chúng uống rượu trong nhà còn hơn ra ngoài uống rượu, bởi điều này sẽ hủy hoại cả bản thân chúng lẫn thanh danh của cha mẹ chúng.
Chuyển vào Nhà Trắng từ khi còn là một thiếu niên, Susan Ford nhớ các gia nhân chỉ “nhẹ nhàng nhắc nhở” cô mỗi khi cô cư xử không phù hợp. Nhưng cô nói rằng những lời khiển trách của họ không có nhiều trọng lượng như lời la mắng của cha mẹ cô. Cô và các bạn mình vẫn làm một số chuyện như bắn pháo hoa trong khuôn viên Nhà Trắng vào ngày Độc lập (bị xem là bất hợp pháp ở Washington, D.C.), vì biết là mình sẽ không bị gì hết. “Có ai bước qua cổng Nhà Trắng để vào bắt ta đâu chứ?” Ford nói rằng trẻ con ở Nhà Trắng rất dễ uống rượu khi chưa đến tuổi bởi vì trong phòng Solarium có một chiếc tủ lạnh chất đầy soda và bia để mời khách. “Có đứa trẻ nào mà không uống bia nếu mấy chai bia được bày ngay trước mắt?”
Ba cậu con trai trưởng thành của Tổng thống Carter thường xuyên đến ở Nhà Trắng trong suốt thời gian cha họ làm tổng thống. Nhân viên cắm hoa Ronn Payne, người bắt đầu làm việc ở Nhà Trắng trong thời gian Nixon cầm quyền và rời khỏi đó dưới thời Clinton, nói rằng ông có nhiều việc phải làm hơn là giữ cho các bình hoa trong phòng các cậu con trai của gia đình Carter ở tầng ba tươi lâu. “Tôi phải thường xuyên lấy mấy cái boong [**] đi. (Chuyện hút cần sa trong nhà của tổng thống được một gia nhân yêu cầu giấu tên khẳng định). Nếu bất cứ cậu con trai nào của ông Carter bị phát hiện hút ma túy phi pháp ngoài đường, họ sẽ bị bắt, nhưng đằng này họ hút ngay trong Nhà Trắng nên chẳng sợ bất cứ hậu quả nào.
[**](Ống điếu dùng để hút ma túy, cỏ Mỹ.)
Mẹ của Tổng thống Carter, bà Lillian, cùng em trai ông, Billy, cũng sống cố định ở Nhà Trắng. Họ là những nhân vật rất lý thú: bà Lillian, ở tuổi 80, được biết là rất thích rượu bourbon (Tổng thống dặn các nhân viên không cho bà uống rượu, vì thế bà nhờ một nhân viên phục vụ đến một tiệm rượu trên Đại lộ Connecticut mua một chai Jack Daniel về và đem vào phòng cho bà), còn Billy thì dính đến nhiều vụ tai tiếng lúc anh mình làm tổng thống. Các gia nhân gọi cậu em của Tổng thống Carter là “bia Billy” theo tên loại bia mà ông ta hết lời quảng cáo. Mỗi khi ông ta say, các gia nhân phải đảm bảo là ông ta “sẽ không chạy ra ngoài đường”, Phục vụ Herman Thompson nói. “Nếu họ biết ta hay say xỉn mà ta lại là người thân của tổng thống, như anh em ruột hay anh em họ chẳng hạn, thì ta sẽ chẳng đi đâu được hết”.
Vào một ngày 4 tháng 7 dưới thời Tổng thống George W. Bush, sau khi hai cô con gái Jenna và Barbara của ông đã đủ lớn để được phép uống rượu, cha mẹ chúng đã để chúng lại Nhà Trắng một mình khi hai ông bà đến Trại David.
“Họ cho phép Jenna và Barbara tổ chức tiệc tùng trên tầng hai và chúng tôi phải đưa tất cả đồ đạc trong Phòng Bầu dục Vàng ra ngoài để có chỗ cho bọn trẻ nhảy nhót. Bọn chúng chơi trên đó suốt đêm”, Limerick mỉm cười nhớ lại. “Chúng tôi khóa cửa Phòng ngủ Lincoln và phòng ngủ Nữ hoàng lại nên chúng không thể vào đó, nhưng chúng có thể đến bất cứ nơi nào khác nếu muốn, chúng thoải mái vui chơi ăn uống trên đó, sáng hôm sau chúng tôi cho chúng ăn sáng muộn. Một số cô cậu thức suốt đêm không ngủ, một số vẫn còn hơi vật vờ vì ma men, nhưng dù sao cũng vẫn tốt hơn là chúng ở ngoài đường”.
Các nhân viên trong dinh thường giải vây cho đệ nhất gia đình khi tìm cách che chở họ khỏi ánh mắt soi mói của công chúng và giúp họ không phải lúng túng. Quản lý Skip Allen nhớ ông đã bị Cơ quan Mật vụ gọi khi một lính bắn tỉa trên nóc Nhà Trắng nhìn thấy có gì đó bất thường. Chả là các cô con gái của gia đình Bush và bạn bè đang tiệc tùng trong phòng Solarium, nhưng rồi bọn trẻ từ từ lấn ra ngoài lối đi và leo lên cả mái nhà, điều mà bọn chúng vẫn hay làm mỗi khi đẹp trời. Và hình như một vị khách của bữa tiệc đã thách bạn mình chạm vào cột cờ. “Đó không phải là nơi an toàn nhất dù đang giữa ban ngày. Ta có thể gặp nhiều bất trắc”, Allen nói. “Chỉ có mỗi một lối đi hẹp để leo lên mái nhà một cách an toàn, và ánh nắng chói chang chiếu thẳng vào cột cờ sẽ khiến những ai không quen lên trên đó bị lóa mắt”.
Những người lính bắn tỉa quyết định gọi một nhân viên trong dinh lên đó để xử lý tình huống khó xử và rất nguy hiểm này. Khi Allen lên đến mái nhà thì người khách dự tiệc say mèm kia đang đi xuống.
Allen chẳng nói lời nào.
TRONG MỘT TÒA nhà mà ngay cả những chuyện ngồi lê đôi mách nhỏ nhất cũng có thể được giật tít trên toàn quốc, Bill và Hillary Clinton có một khoảng thời gian rất khó khăn để học cách tin tưởng các nhân viên. Nguyên nhân khiến họ thay đổi hệ thống điện thoại ở Nhà Trắng là để đảm bảo không ai nghe lén những chuyện riêng tư của họ – một hành động gây bất bình cho các nhân viên quản lý do họ đã có sẵn từ trước một hệ thống điện thoại đáng tin cậy để chuyển các cuộc gọi.
Khi có một cuộc gọi đến cho một thành viên của đệ nhất gia đình, người trực tổng đài điện thoại sẽ gọi vào buồng điện thoại của Phòng Quản lý. “Nếu đó là một cuộc gọi dành cho đệ nhất phu nhân, chúng tôi sẽ cắm một chiếc khóa nhỏ vào khe điện thoại của bà. Nó sẽ reng lên và hiện ra mã số của bà để bà ở trên lầu có thể nhấc bất cứ chiếc máy điện thoại nào gần nhất lên và được nhân viên trực tổng đài nối máy”, ông Skip Allen giải thích. “Hệ thống này được thiết lập dưới thời chính quyền Carter. Do lúc đó có quá đông người sống ở Nhà Trắng nên mỗi người có một kiểu chuông báo khác nhau. Với tổng thống thì chỉ có một tiếng reng, với đệ nhất phu nhân là hai tiếng reng, còn Chelsea là ba tiếng reng ngắn”.
Sáng nào, tổng thống cũng được các nhân viên tổng đài điện thoại Nhà Trắng gọi điện đánh thức. Đa số các tổng thống thức dậy vào lúc 5 giờ 30 hay 6 giờ sáng, vì thế một nhân viên quản lý phải đến từ 5 giờ 30 sáng để phòng trường hợp tổng thống cần thứ gì.
Ngay sau ngày Tổng thống Clinton nhậm chức, kẻ nào đánh thức ông dậy sẽ phải ngạc nhiên bởi gia đình Clinton chỉ từ các buổi dạ vũ nhậm chức trở về lúc 2 giờ sáng. Khi một nhân viên quản lý đặt đồng hồ báo thức là 5 giờ sáng như họ vẫn làm mỗi ngày với người tiền nhiệm, Tổng thống Clinton đã rống lên: “Bộ không ai ở đây có thể ngủ yên sao hả?” (Tổng thống Clinton nổi tiếng là cú đêm, giống Tổng thống Johnson trước đây, và thói quen này của ông đã khiến các nhân viên khốn khổ: có nhiều đêm, các nhân viên quản lý mãi đến 2 giờ sáng mới được cho về).
Theo Allen, gia đình Clinton cho rằng “có quá nhiều người có thể nghe lén họ nói chuyện” trên hệ thống điện thoại cũ nên họ đã cho thay toàn bộ đường dây điện thoại ở Nhà Trắng thành đường dây nội bộ để nếu như đệ nhất phu nhân đang ở trong phòng ngủ còn tổng thống trong phòng làm việc thì bà có thể gọi điện cho ông từ phòng này sang phòng kia mà không phải qua tổng đài viên. “Đây là một dạng vô hiệu hóa sự an toàn của hệ thống điện thoại. Và rồi, bất cứ ai ở bất cứ phòng nào trên lầu cũng có thể nhấc điện thoại”, Allen nói, vẫn còn khó chịu với sự thay đổi trên.
Việc vợ chồng Clinton quan tâm đến chuyện giữ bí mật đời tư khiến cho mối quan hệ của họ với các nhân viên trở nên bị “xáo trộn” trong suốt tám năm ở Nhà Trắng, Allen nói. Nhưng ít ra cũng vẫn còn một nhân viên là cô thợ cắm hoa Wendy Elsasser cho rằng họ lo lắng là do quan tâm con cái: “Tôi cho rằng việc bảo vệ Chelsea có thể là nguyên nhân khiến họ dè dặt với nhân viên”.
Nhưng rõ ràng là gia đình Clinton không có lý do để lo lắng chuyện các nhân viên trong tư dinh làm rò rỉ các bí mật của họ. Ngay cả bây giờ, sau nhiều năm, hầu hết các nhân viên cũng vẫn giữ im lặng khi được hỏi về những gì xảy ra phía sau những cánh cửa đóng kín. Sự kín tiếng đã đi vào DNA của hầu hết mọi người. Họ biết rằng việc họ kiềm chế không nói ra là điều cần thiết để bảo vệ tổng thống, và nếu không có sự kín miệng ấy, cuộc sống trong tòa hành pháp sẽ không thể chịu nổi.
Chương 3
Lòng tận tụy
CARSON: Downton là một ngôi nhà tuyệt vời, ông Bates ạ, còn gia đình Crawley là một gia đình thật phi thường. Chúng ta sống theo một số chuẩn mực và những chuẩn mực này lúc đầu có vẻ khiến ta nản chí. BATES: Dĩ nhiên rồi. CARSON: Nếu ông thấy mình bối rối không biết nói gì trước mặt ngài ấy, tôi có thể đảm bảo với ông rằng cách cư xử và sự duyên dáng của ngài ấy sẽ nhanh chóng giúp ông thực hiện nhiệm vụ của mình một cách tốt nhất.
– DOWNTON ABBEY, TẬP 1, MÙA 1.
Đối với một quản lý Nhà Trắng thì “ngày chủ nhật và ngày lễ chỉ là trên danh nghĩa”, đó là nhận xét của Irwin “Ike” Hoover, từng là tổng quản lý từ năm 1913 cho đến khi ông qua đời năm 1933.
Các nhân viên trong dinh tận tụy với công việc của mình đến mức đôi khi họ không chịu về nhà dù được cho về. Bà Lady Bird Johnson bực bội với thói quen thức khuya của chồng đến mức một buổi sáng, bà gọi Tổng Quản lý J.B. West lên phòng trang điểm của mình bởi đêm hôm trước, các nhân viên phục vụ mãi đến nửa đêm mới được về nhà.
“Tôi rất buồn về việc các nhân viên phải ở lại quá khuya”, bà nói. Từ lâu tôi đã chịu thua chuyện không thể thuyết phục chồng tôi ăn tối sớm hơn. Chúng tôi có thể nào nhờ Zephyr [đầu bếp của gia đình Johnson] làm một món gì đó có thể giữ nóng lâu, hoặc tôi vào bếp hâm đồ ăn lại cho ông ấy, hay trong trường hợp tôi ngủ quên thì ông ấy có thể dễ dàng tự dọn ra ăn được không? Có thế, chúng tôi mới có thể cho các nhân viên phục vụ về nhà vào 8 giờ tối mỗi ngày”.
Khi West chuyển câu hỏi của đệ nhất phu nhân cho Tổ trưởng Tổ phục vụ Charles Ficklin, ông ta rất tức giận. Ông cho việc ở lại cho đến khi nào tổng thống còn cần đến họ là vinh dự của họ. “Tổng thống Hoa Kỳ mà phải tự dọn ăn tối lấy sao? Không bao giờ!”, Ficklin nói.
John, em trai của Charles, cũng đồng tình với anh. “Chúng tôi phục vụ từng bữa ăn cho các tổng thống và đệ nhất phu nhân theo đúng nghi thức từ rất lâu rồi. Cho dù đó chỉ là một cái sandwich kẹp phô mai, một bát ớt hay một quả trứng luộc. Đó là truyền thống”.
Khi West nói với bà Lady Bird rằng sẽ có một cuộc nổi loạn của toàn thể nhân viên phục vụ nếu họ bị cho về nhà sớm, bà trả lời rằng: “Tôi chưa bao giờ thấy cái nhà nào như cái nhà này. Đầu tiên, phải cần đến hai kỹ sư đốt lò sưởi vì họ không chịu để tôi tự làm. Còn bây giờ thì đến những người giúp việc không muốn về nhà buổi tối”.
Gary Walters, từng làm tổng quản lý từ thời Reagan đến thời George W. Bush, phụ trách việc tuyển dụng và sa thải nhân viên. Trong quá trình phỏng vấn, ông luôn cảnh báo họ rằng “đây chắc chắn không phải là công việc có thể ra về trong khoảng từ 5 giờ đến 9 giờ”. Bản thân ông cũng thấy nặng nề. Một trong những nguyên nhân khiến ông nghỉ hưu sớm là để có thể sắp xếp thời gian làm việc theo ý mình và cùng gia đình đi chơi xa.
“Tôi cho họ biết thời gian làm việc của họ là từ mấy giờ đến mấy giờ, nhưng tất cả bọn họ đều biết rằng vào những ngày mà tình hình thế giới buộc tổng thống làm việc nhiều hơn, thì bất cứ lúc nào họ cũng có thể được yêu cầu ở lại và làm việc hay đến thật sớm, hoặc đến chỗ làm vào phút chót và ở lại nhiều ngày liên tiếp, tùy thuộc vào lịch làm việc của tổng thống”.
Với Walters, cuộc sống gia đình của ông bị gián đoạn là chuyện xảy ra như cơm bữa. Năm 1991, ông chỉ vừa mới lái xe ra khỏi lối đi trong khuôn viên Nhà Trắng và đang hướng về sân bóng rổ của Đại học Maryland thì chợt nghe tin Mỹ và liên minh quốc tế bắt đầu oanh tạc lực lượng Iraq ở Kuwait. “Thế là tôi vừa lái xe ra khỏi cổng này, còn chưa kịp đi quá xa trên Đại lộ Pennsylvania thì đã phải vòng xe trở vào một cổng khác”.
Thợ sơn Cletus Clark, từng làm việc ở Nhà Trắng từ năm 1969 đến năm 2008, nói rằng ông đã hy sinh cuộc đời mình cho công việc trong suốt ngần ấy năm. Lúc nào ông cũng phải để máy bộ đàm ở chế độ bật, và thường xuyên bị gọi ra khỏi nhà để đi làm vào những ngày cuối tuần mỗi khi đệ nhất gia đình hứng lên muốn làm gì đó. “Nếu đệ nhất phu nhân muốn dời một bức tranh sang nơi khác và cần khoan một cái lỗ trên tường, họ sẽ ráo riết săn lùng tôi để đến làm việc đó”.
Bạn của Clark, Quản lý điều hành Tony Savoy, là người làm việc gần gũi với ông. Nếu đệ nhất phu nhân muốn thay đổi màu sơn của một thứ gì đó thì cả hai sẽ phải làm sao để cái nhiệm vụ lớn lao này trông như chẳng cần chút nỗ lực nào. “Chúng tôi phải mang hết đồ đạc ở tất cả các phòng ra. Nếu họ sơn phòng vào ngày thứ Sáu và thứ Bảy thì chúng tôi phải đến đó ngày chủ nhật để đưa đồ đạc về chỗ cũ”, Savoy nói. “Khi đệ nhất gia đình trở về nhà vào tối chủ nhật hay vào ngày thứ Hai, mọi thứ phải trông như họ chưa bao giờ đi khỏi nhà”.
Không ai muốn nói không với tổng thống hay đệ nhất phu nhân. Vả lại, đệ nhất phu nhân nào cũng thiếu kiên nhẫn. “Ai cũng sợ các đệ nhất phu nhân nên sẽ không nói thật với họ”, Clark nói. “Nếu bà ấy hỏi ‘Các anh có thể sơn toàn bộ Nhà Trắng trong một ngày không?’ thì họ sẽ trả lời là ‘Dạ được, thưa phu nhân’. Họ sẽ không nói không. Không ai muốn hủy hoại công việc của mình bằng cách nói thật”.
Clark nói ông chẳng bao giờ có thể làm điều gì một cách từ từ, dù đó là một công việc khó khăn như tìm ra đúng màu vàng đã sơn Phòng Bầu dục Vàng để làm mới căn phòng này. Không có bất kỳ sổ sách nào ghi lại những màu đã được sử dụng ở lần sơn trước cách đây nhiều năm. Vì văn phòng của Clark nằm dưới tầng hầm, thiếu ánh sáng tự nhiên, nên ông phải cầm các mẫu màu đi ra đi vào nhiều lần để xem chúng trông ra sao dưới ánh sáng tự nhiên. Sự tận tụy của ông đã không bị làm ngơ. Bà Laura Bush nói với ông là ông “được sinh ra để làm thợ sơn”, ông vênh mặt hãnh diện khi nhớ lại chuyện này.
Các sự kiện thế giới thường choán hết thời gian và tâm trí của tổng thống nên các nhân viên ở tư dinh phải xúm lại phụ giúp hết mình. Ông Jimmy Carter gần như lúc nào cũng lo âu kích động khi cả nước lâm vào tình trạng lạm phát ở mức hai con số, nhiều người phải xếp hàng dài mua xăng, và trước tình hình khủng hoảng năng lượng. (Rosalynn nói rằng chồng bà lúc nào cũng cho máy lạnh chạy hết cỡ – ông yêu cầu giữ nhiệt độ trong Nhà Trắng ở mức 65°F (khoảng 18°C) – đến mức các cô giúp việc phải mua quần áo lót dài cho bà vì thấy tội nghiệp bà).
Nhưng sự kiện làm Tổng thống Carter và những người hầu hạ ông thực sự kiệt sức chính là cuộc khủng hoảng con tin ở Iran. Trong suốt 444 ngày gian nan cực khổ, các nhân viên ở tư dinh phải thích nghi với lịch làm việc mới của tổng thống và thay đổi toàn bộ giờ giấc làm việc của họ do giờ của Mỹ và giờ Iran chênh nhau hơn tám tiếng. Khuya nào, các nhân viên nhà bếp cũng đều phải mang sandwich và bánh ngọt vào Phòng Bầu dục cho tổng thống và các nhân viên chính sách đối ngoại mệt lử của ông. Và vì sáng nào ông Carter cũng đến Phòng Bầu dục lúc 5 giờ, nên các gia nhân phải quét dọn và đem hoa tươi đến đó trước 4 giờ 45 phút sáng.
Bà Carter cho biết là các gia nhân đã rất chu đáo trong thời gian xảy ra khủng hoảng. “Họ rất lo cho chúng tôi”, Rosalynn nói với thái độ biết ơn. Các gia nhân cũng cho họ thời gian ở riêng với nhau, điều mà họ rất cần. Những lúc yên ổn, tổng thống và vợ lại ra ban công Truman nghỉ trưa. “Đó là quãng thời gian vui vẻ bình yên của chúng tôi”.
Ba mươi lăm năm sau, việc Carter bị bại dưới tay Ronald Reagan vẫn được xem như chuyện riêng tư, bà Carter hồi tưởng lại. Việc ở lại Nhà Trắng hơn hai tháng sau khi thất cử thực không thể chịu đựng nổi. “Ông ấy thất cử ngày 4 tháng 11 và chúng tôi phải chuẩn bị quay về nhà”. Nhân viên cắm hoa Ronn Payne nhớ lại sự đau khổ của gia đình tổng thống. “Họ khóc nức nở suốt hai tuần lễ liền. Ta không thể lên tầng hai mà không nghe tiếng họ khóc”.
LÀM VIỆC TRONG Nhà Trắng trở thành một lối sống. Quản lý kho Bill Hamilton về hưu sau 55 năm giúp việc cho Nhà Trắng. Không lâu sau ngày nghỉ việc, cuối cùng ông mới có thể đưa vợ ông, bà Theresa, đi London và Paris chơi để kỷ niệm 58 năm ngày cưới của họ. Họ có tất cả 7 con, 13 cháu và 4 chắt. Trước đây họ chưa từng đi châu Âu vì không có thời gian để đi.
“Vợ tôi là cô gái duy nhất tôi từng hẹn hò. chúng tôi quen nhau từ lớp năm”, ông nói đủ lớn để vợ ông ở phòng bên cạnh nghe thấy. “Khi tôi nói với mẹ tôi rằng đây là cô gái mà tôi sẽ lấy, mẹ tôi quay lại phát cho tôi một cái văng ra khỏi ghế... Bà ấy nói tôi còn nhỏ, biết gì mà nói”.
Hamilton được tuyển làm nhân viên quét dọn khi ông hai mươi tuổi. Như hầu hết các nhân viên khác ở Nhà Trắng, ông xin được việc này vì có người quen làm ở đây. Wilson Jerman, người bạn tốt mà ông quen khi còn làm ở Khách sạn Wardman Park tại Washington, là người đưa ông vào phỏng vấn. Đến bây giờ cả hai vẫn còn vài tuần một lần gọi điện cho nhau để đùa với nhau chuyện ai phục vụ Nhà Trắng lâu hơn.
Một nhân viên khác quá quen với những yêu cầu bất thường của công việc ở đây là ông thợ mộc Milton Frame, nay đã 72 tuổi. Ông Frame khởi đầu sự nghiệp tại Nhà Trắng năm 1961 bằng việc giúp đỡ Traphes Bryant chăm sóc đàn chó của gia đình Kennedy. Ba mươi sáu năm tiếp theo, mỗi ngày ông đều mất một tiếng rưỡi đồng hồ cho mỗi lượt đi hoặc về giữa nhà ông ở khu vực nông thôn Virginia với Phòng Mộc. Khi ông nghỉ làm tổ trưởng tổ mộc để về hưu năm 1997, ông sung sướng vì không còn phải thức dậy từ lúc 4 giờ sáng để đến chỗ làm lúc 6 giờ 30.
Cha của Milton là Wilford Frame cũng là thợ mộc ở Nhà Trắng. Mối quan hệ này giúp Milton thấy thoải mái với quy trình phỏng vấn hơn những ai không có thân nhân làm ở đây. Một buổi sáng chủ nhật, ông đến gặp Tổng Quản lý J. B. West.
“Anh có muốn làm việc ở Nhà Trắng không?” West hỏi.
“Tôi đang tìm việc, thưa ông”, Frame trả lời. Lúc đó ông đang làm thuê, ai sai gì làm nấy.
“Nếu tôi tuyển anh vào thì lúc nào anh bắt đầu được?”
“Bất cứ lúc nào ông muốn, thưa ông”.

Frame bắt đầu đi làm ngay ngày hôm sau, và ngay từ buổi đầu ông đã phải làm ngày làm đêm. Để đảm bảo nhân viên của mình có thể theo kịp tiến độ chiêu đãi khách liên tục của vợ chồng Kennedy, West huấn luyện họ bằng những công việc không thông báo trước. “Một buổi tối, chúng tôi trải qua một cuộc diễn tập”, Frame cười phá lên khi nhớ lại chuyện đó. “Chúng tôi phải mất cả đêm mới dựng xong cái sân khấu ở Phòng Đông nhưng vừa dựng xong thì ông West nói: ‘Dỡ nó xuống’”. West đứng cạnh họ canh đồng hồ xem mất thời gian bao nhiêu lâu để dựng một cái sân khấu. (Mất khoảng bốn tiếng đồng hồ để dựng lên và một tiếng rưỡi để dỡ xuống, Frame cho biết).
Ngày làm việc của nhiều nhân viên thậm chí còn dài hơn do mất thời gian đi lại trên đường. Hầu như ngày nào, khi trời còn chưa sáng, Quản lý điều hành Tony Savoy cũng được nhìn thấy đang ngồi trên xe của ông ở bãi đỗ xe để chờ cho đến khi Cơ quan Mật vụ cho vào lúc 5 giờ sáng. Ca trực của ông chỉ bắt đầu lúc 6 giờ 30, nhưng ông muốn đi sớm để tránh kẹt xe ở xa lộ vành đai. Ông thường làm thêm cả ngàn giờ mỗi năm, có khi cả tháng ông không nghỉ ngày nào. Ông về hưu năm 2013 và cho biết mình đang dự tính làm “bất cứ điều gì tôi cảm thấy muốn làm” – trong đó có cả việc “không làm gì cụ thể”, ông nói thêm.
KHI ĐƯỢC HỎI về những gì họ phải hy sinh vì công việc, ít ai đề cập đến chuyện tiền bạc. Các nhân viên ở tư dinh đều là công chức liên bang và lương của họ là “lương hành chính sự nghiệp” chứ không theo thang lương dịch vụ nhà nước. Lương của họ được trả theo kinh nghiệm và mức độ phức tạp của công việc. Một số nhân viên lãnh 30.000 đô một năm. Những người có mức lương cao nhất như tổng quản lý, quản bếp, quản bếp bánh ngọt, tổng quản lý bộ phận phòng và quản lý tổ phục vụ, có thể lãnh hơn 100.000 đô.
Quản bếp bánh ngọt Roland Mesnier đã từng từ chối nhiều công việc đem lại cho ông mức lương mấy trăm ngàn đô ở khách sạn Las Vegas và khách sạn Ritz ở Paris để làm việc cho Nhà Trắng. “Tôi đã có thể kiếm được gấp ba gấp bốn lần số tiền làm việc ở Nhà Trắng!”
Mesnier là người có chút tiếng tăm trong số các nhân viên Nhà Trắng. Ông bắt đầu làm việc cho Nhà Trắng năm 1979 và nghỉ làm năm 2006. Ông xem trọng công việc đến mức so sánh các món tráng miệng của mình với những tác phẩm nghệ thuật và đặt cho chúng những cái tên cầu kỳ hoa mỹ. Ai có thể cưỡng lại “Viên ngọc đen châu Úc”, một chiếc bánh hình vỏ sò bằng sô–cô–la trắng, bên trên là sô–cô–la rong biển cùng một con cá nhỏ bằng sô–cô–la mà ông chuẩn bị cho bữa quốc tiệc thết đãi các quan chức Úc? Hay “Khu vườn bonsai yên tĩnh”, món kem anh đào chua chua với mousse hạnh nhân, bánh hạnh nhân tí hon, rắc thêm ít kẹo nu–ga, đi kèm với đào và cherry tươi nhồi mứt quất, để vinh danh bữa tiệc dành cho Nhật Bản? Ông bỏ rất nhiều ngày để suy nghĩ cách kết hợp các thứ với nhau trong văn phòng mà ông sử dụng chung với quản bếp và phó bếp trên tầng ba. Thỉnh thoảng, do làm việc quá khuya, ông phải sử dụng căn phòng bên cạnh, nơi trang bị sẵn một chiếc giường và một chiếc sofa để dành cho những lúc cần ở lại qua đêm. Tình yêu công việc của Mesnier lây lan cho tất cả mọi người. Bảy năm sau ngày ông về hưu, ông nói với tôi rằng ông vẫn lo nghĩ cho gia đình tổng thống. Ngay cả bây giờ, mỗi khi nghe nói sắp tổ chức quốc tiệc là ông lại mơ thấy mình bắt đầu lên kế hoạch cho những món tráng miệng cầu kỳ.
Tuy nhiên, ngay cả những nhân viên nhiệt tình nhất cũng công nhận rằng họ phải trả giá cho cuộc sống ở Nhà Trắng. Mesnier thừa nhận rằng ông đã bỏ lỡ rất nhiều bữa tiệc sinh nhật và bữa ăn với gia đình. Ông thường lên kế hoạch cho bữa ăn tối cuối tuần cùng với vợ con nhưng rồi trên đường từ chỗ làm về nhà ngày thứ Sáu, ông lại phải gọi về để hủy kế hoạch chỉ vì gia đình tổng thống quyết định tổ chức một bữa tiệc sinh nhật hay một bữa tiệc cạnh hồ bơi vào ngày chủ nhật và ông biết mình cần có mặt ở đó. Cách mà ông giữ để mình không mất việc, ông nói, là phải luôn đặt Nhà Trắng lên hàng đầu. Ông cho biết những nhân viên nào không đặt công việc lên trên cuộc sống cá nhân của họ cuối cùng rồi cũng bị sa thải, vì gia đình tổng thống có quyền quyết định đuổi một nhân viên bất cứ lúc nào không cần giải thích.
“Gia đình tổng thống luôn biết mọi chuyện, tin tôi đi”, ông nói. Họ không cần ra phía sau nhà để kiểm tra mọi thứ, nhưng có người báo cho họ biết”. Nói cụ thể hơn thì các thư ký phụ trách sự kiện xã hội là liên lạc viên giữa các nhân viên và gia đình tổng thống.
Làm việc cho gia đình Clinton ảnh hưởng nặng nề nhất đến sức khỏe của người đầu bếp ưa thích sự hoàn hảo. Trong thời gian sống ở Nhà Trắng, họ tổ chức hai mươi chín đại tiệc cấp quốc gia, so với chỉ sáu bữa tiệc dưới thời Tổng thống George W. Bush, chỉ riêng tiệc mừng năm mới trong thiên niên kỷ mới, họ đã mời đến 1.500 người. Mesnier vì thế chỉ có thể ra về vào 7 giờ sáng hôm sau.
“Gia đình Clinton gần như giết tôi. Chân tôi đau nhức, rất đau nhức. Tôi không ngồi, không thể ngồi mà cứ phải liên tục đi đi lại lại. Suốt một ngày 16 tiếng đồng hồ, có lẽ tôi chỉ ngồi được có 20 phút. Ngay cả khi ăn tôi cũng phải đứng”.
Mesnier và vợ ông chọn ngày để ông nghỉ hưu sớm hơn bốn năm so với thời gian về hưu thực tế của ông.
Nhưng ngay cả khi đã nghỉ hưu, ông cũng không thể cắt đứt hoàn toàn với Nhà Trắng, và đã trở lại đó hai lần theo yêu cầu cá nhân của bà Laura Bush. “Tôi làm bánh sinh nhật [cho George W. Bush] rồi lại nghỉ tiếp. Nhưng sau đó hai tuần bà ấy lại gọi tôi trở lại lần nữa, và lần này tôi ở lại làm việc cho đến tháng 12 năm 2006. Tôi không nghĩ là chuyện này từng xảy ra với bất kỳ nhân viên nào khác”.
Các nhân viên chưa bao giờ phải chịu áp lực làm hài lòng gia đình tổng thống nhiều như dưới thời vợ chồng nhà Reagan. Bà Nancy Reagan thậm chí còn tự tay xếp thức ăn vào đĩa và khăng khăng muốn các gia nhân không được làm “những món ăn có màu sắc buồn tẻ” mà chỉ được chuẩn bị những bữa ăn nhiều màu sắc. Trước mỗi dạ tiệc cấp quốc gia, người quản bếp lại phải lấy ý kiến của đệ nhất phu nhân để lên kế hoạch cho từng món ăn. Rồi vài tuần trước khi tổ chức bữa tiệc, gia đình Reagan sẽ mời một nhóm bạn đến ăn thử và hỏi ý kiến của họ về từng món. Đệ nhất phu nhân sẽ nghiên cứu kỹ cái đĩa và chỉ cho người bếp trưởng cách bày thức ăn, đại loại như “‘Không, tôi nghĩ là phải để thịt bò nướng ở chỗ này’ hoặc là ‘tôi nghĩ nếu để đậu phía bên kia đĩa sẽ đẹp hơn’”, Quản lý Skip Allen hồi tưởng. Và nếu như bữa tiệc tối không đúng như ý bà muốn thì “hãy coi chừng đấy”, Allen nói. Ông kể rằng thỉnh thoảng bà lại gọi điện xuống Phòng Quản lý và yêu cầu được gặp người bếp trưởng trên tầng hai. “Nếu tình hình thực sự xấu, nếu món bà ấy trông chờ là măng tây nhưng lại được phục vụ đậu ve thì ta phải có lý do thật chính đáng để giải thích điều này”. Mesnier nhớ có lần ông đã phải làm hết món tráng miệng này đến món tráng miệng khác cho đến khi bà Nancy Reagan hài lòng.
Cho đến nay, ông vẫn còn bị ám ảnh bởi chuyện sau đây. Chỉ còn vài ngày nữa là đến thứ Ba, tức ngày tổ chức yến tiệc tôn vinh Nữ hoàng Beatrix và Hoàng thân Claus của Hà Lan. Lúc đó là tháng 4 năm 1982, bà Nancy Reagan đang ngồi ăn trưa với tổng thống ở chiếc bàn dài trong căn phòng Solarium mà bà yêu thích. Tổng thống ngồi ở đầu bàn bên kia, đối diện với bà. Sau khi bị phu nhân Reagan từ chối hai món tráng miệng, ông Roland quay lại với món thứ ba. Mỗi khi bà không vui, tất cả các gia nhân đều có thể nhận biết qua cách bà hơi nghiêng đầu sang bên phải và cười mỉm. Lúc này bà đang nghiêng đầu.
“Roland, tôi rất tiếc nhưng tôi không muốn ông làm lại món này nữa”.
“Vâng, thưa phu nhân”.
Từ phía đầu bàn bên kia, Tổng thống Reagan xen vào: “Em yêu, hãy để bếp trưởng yên. Món tráng miệng này rất đẹp. Ông làm món này đi, trông nó rất đẹp”.
“Ronnie, ăn súp của anh đi, đây không phải là việc của anh”, bà nói.
Ông cúi xuống cái chén của mình và im lặng ăn nốt chỗ súp.
Mesnier chịu hết nổi. “Tôi quay trở về bếp – tôi nhớ hôm đó là ngày Chủ nhật – tôi đi vòng vòng trong bếp và quả thực chỉ muốn tự tử cho xong”, Mesnier nói. “Tôi phải làm món gì đây? Tôi sẽ phải làm chuyện này bao nhiêu năm nữa? Tám năm sao? Tôi thực sự tuyệt vọng, hoàn toàn tuyệt vọng. Tôi đã nói là tôi không biết phải làm món gì, không biết phải làm gì. Và rồi chuông điện thoại reo lên. Bà ấy gọi tôi quay trở lên lầu gặp bà ấy”.
Bà ấy nói với Mesnier rằng cuối cùng bà đã quyết định xong món tráng miệng mà bà muốn ông làm. Đó là những chiếc giỏ bằng đường lộng lẫy, trong mỗi giỏ có ba bông hoa tulip bằng đường. Ông phải làm mười lăm giỏ hoa như thế cho bữa ăn tối, mỗi giỏ mất vài tiếng đồng hồ, đi kèm với hoa tulip, món tráng miệng trong mỗi giỏ và bánh quy ăn kèm.
“Đó là cái tôi muốn ông làm”, bà điềm tĩnh nói với ông, hài lòng với ý tưởng tuyệt vời của mình.
“Thưa phu nhân Reagan, món tráng miệng này rất hay, rất đẹp và tôi thực sự nghĩ rằng nó sẽ rất tuyệt, nhưng từ đây đến bữa tiệc tối chỉ còn có hai ngày”.
Bà mỉm cười và hơi nghiêng đầu sang phải: “Roland, ông có đến hai ngày và hai đêm trước khi đến bữa tiệc tối lận”.
Roland không còn sự lựa chọn nào khác. “Tôi chỉ còn biết nói ‘Cảm ơn phu nhân về ý tưởng tuyệt vời này’ rồi dập gót, xoay người và trở về với công việc”.
Ông bắt đầu làm việc cật lực ngày đêm. Sau bữa quốc yến, khi biết đệ nhất phu nhân hài lòng với kết quả, ông lái xe về nhà tối hôm đó trong tâm trạng hân hoan, ông đã vượt qua thử thách.
Bây giờ nhìn lại quá khứ, Mesnier đánh giá cao cách bà Nancy Reagan thúc ông làm việc mặc dù điều này đã khiến ông đau khổ biết bao vào thời điểm đó. Trên con đường dài về nhà tối hôm đó, ông nhớ lại, ‘Tôi nghĩ mình đã làm được điều đó. Đó là cách người ta đánh giá ta khi ta lâm vào thế kẹt. Họ sẽ xem ta làm thế nào để vượt qua khó khăn đó. Vì thế, ta phải làm hết sức mình”.
Ngày 8 tháng 10 năm 1987, vợ chồng Reagan tổ chức một yến tiệc mà mọi người đều trông chờ để thết đãi Mikhail Gorbachev và phu nhân Raisa. Đây là lần đầu tiên một lãnh tụ Xô–viết đến Washington kể từ khi ông Nikita Khrushchev đến Mỹ năm 1959. Một phần trách nhiệm nhằm giúp chuyến viếng thăm vô cùng quan trọng này thành công được đảm nhiệm bởi các nhân viên tư dinh.
“Bà Nancy Reagan cùng người thư ký phụ trách sự kiện xã hội của bà đến Phòng Hoa và nói với chúng tôi rằng bà muốn “làm bà Raisa lác mắt”, ông thợ cắm hoa Ronn Payne nói. “Và chúng tôi đã làm như bà ấy muốn. Chúng tôi thay từng cành hoa trong Nhà Trắng ba lần một ngày: buổi sáng lúc họ đến, vào giờ ăn trưa và trong bữa tiệc tối. Từng cành một, ba lần trong ngày, từng cành hoa”.
MỘT SỐ NHÂN viên cố hết sức vào vai một gia nhân tận tụy nhưng họ thường không trụ được lâu. Worthington White, một cựu cầu thủ cao một mét chín, nặng 182 ký của Đại học Virginia Tech từng làm quản lý ở Nhà Trắng từ năm 1980 đến năm 2012, cho biết sở dĩ ông trụ được lâu là vì ông biết lúc nào cần im lặng. Theo ông, việc các nhân viên cố gắng “cười ngặt nghẽo khi nghe những câu pha trò nhạt như nước ốc” hoặc tranh nhau “chường mặt mình ra trước mặt tổng thống và đệ nhất phu nhân” không bao giờ có tác dụng.
“Họ rất ghét điều đó”, White cho biết. “Tôi thường nói với các nhân viên mới vào làm là: điều tệ hại nhất mà các anh các chị có thể làm là cố gắng tỏ ra giả tạo. Họ là những chính trị gia tự tin nhất toàn cầu. Ta phải là chính mình. Họ thích ta hay không thích ta thì chưa biết, nhưng ta không gạt được họ”.
TUY CÔNG VIỆC phục vụ, làm phòng, cắm hoa và làm bếp có vẻ như là công việc quen thuộc của các gia nhân nhưng họ ý thức sâu sắc rằng mình cũng phải bảo vệ tổng thống và gia đình ông khỏi những mối đe dọa ngày càng nhiều hơn trên thế giới sau sự kiện 11 tháng 9. Theo những gì tờ Washington Post tường thuật thì một cô hầu phòng, chứ không phải một nhân viên mật vụ, là người đầu tiên phát hiện bằng chứng cho thấy có người bắn vào khu nhà ở của đệ nhất gia đình. Vào lúc 8 giờ 50 tối thứ Sáu ngày 11 tháng 11 năm 2011, một thanh niên 21 tuổi tên Oscar Ortega–Hernandez đậu chiếc xe Honda Accord đen đời 1998 của hắn trên Đại lộ Constitution, sau đó quay cửa kính phía bên hành khách xuống và dùng khẩu súng trường bán tự động bắn về hướng Nhà Trắng ở khoảng cách 640 mét xuyên qua Bãi cỏ phía nam. Có ít nhất bảy viên đạn trúng vào tầng hai và tầng ba của khu nhà ở của đệ nhất gia đình, làm vỡ kính cửa sổ bên ngoài Phòng Bầu dục Vàng, tức phòng khách trang trọng của gia đình tổng thống. Lúc xảy ra vụ nổ súng, tổng thống và phu nhân đang ở ngoài phố, cô con gái Malia của họ cũng ra ngoài chơi với bạn bè, nhưng Sasha, đứa con gái út của họ và bà Marian Robinson, mẹ của đệ nhất phu nhân, thì vẫn đang ở trong nhà. Một số nhân viên mật vụ nghe thấy tiếng súng nổ nhưng được lệnh rút lui. Những tiếng súng nổ này được kết luận sai lầm là do hai băng nhóm bắn nhau chứ không phải nhắm vào Nhà Trắng.
Bốn ngày sau, vào khoảng 12 giờ trưa thứ Ba ngày 15 tháng 11, một cô hầu phòng mời Phó quản lý Reginald Dickson đến gặp cô ở ban công Truman, nơi cô nhìn thấy tấm kính cửa sổ vỡ và miếng bê tông trắng trên sàn. Khi Dickson đến, ông phát hiện một lỗ đạn và một chỗ mẻ ở bậu cửa sổ nên vội vàng báo lại với Cơ quan Mật vụ. Không bao lâu sau, FBI bắt đầu mở cuộc điều tra. Họ tìm thấy một viên đạn trong khung cửa và những mảnh kim loại rơi ra từ bậu cửa sổ (các cửa sổ đều được gắn kính thường bên ngoài và kính chống đạn bên trong). Sáng hôm đó, tổng thống vẫn tiếp tục chuyến công du nhưng đệ nhất phu nhân quay về sớm hơn để ngủ một lúc. Lúc Dickson lên thăm hỏi bà, ông nghĩ bà đã được thông báo về vụ nã súng vào tòa nhà, nhưng bà không biết gì cả. Các trợ lý cấp cao của ông Obama trước đó đã quyết định sẽ thông báo câu chuyện đáng sợ này cho tổng thống trước và để tổng thống nói lại với vợ sau. Nhưng việc không thông báo với đệ nhất phu nhân hóa ra là một quyết định rất sai lầm.
Chẳng trách đệ nhất phu nhân đã nổi giận đùng đùng khi nghe tin này từ Dickson. Khi cựu giám đốc Cơ quan Mật vụ Mark Sullivan được triệu tập tới Nhà Trắng để thảo luận về vụ nổ súng, bà Michelle Obama giận dữ đến mức ai cũng nghe được giọng bà phía sau cánh cửa đóng kín. Nếu không nhờ cô hầu phòng tinh ý và người quản lý sốt sắng thì các viên đạn có thể sẽ được phát hiện trễ hơn hoặc không bao giờ được phát hiện.
Tổng Quản lý Stephen Rochon, đã nghỉ hưu vài tháng trước ngày xảy ra vụ nổ súng, là người đã tuyển Dickson vào vị trí này và nói Dickson đặc biệt thân thiết với đệ nhất gia đình. Vì thế Rochon không ngạc nhiên khi thấy Dickson và cô hầu phòng không rõ danh tính đóng vai trò quan trọng trong việc đưa vụ nổ súng ra ánh sáng. “Các viên được huấn luyện để luôn mở to mắt quan sát và báo lại với quản lý khi nhìn thấy điều gì bất thường, cho dù là kính cửa sổ vỡ hay một gói đồ để lại sau khi khách tham quan Nhà Trắng ra về. Các quản lý sau đó sẽ báo lên Cơ quan Mật vụ”. Ông nói thêm: “Chúng tôi không chỉ ở đó để lau dọn tòa nhà và phục vụ các bữa ăn”.
Trong một vụ vượt rào an ninh đáng sợ khác xảy ra ngày 19 tháng 9 năm 2014, một người đàn ông mang dao đã trèo qua hàng rào ở Bãi cỏ phía bắc và chạy qua mặt nhiều nhân viên mật vụ để xông thẳng vào Nhà Trắng. Khi vào đến bên trong, hắn ta khống chế một sĩ quan cảnh vệ và băng qua cầu thang dẫn lên tầng hai của khu nhà ở để vào Phòng Đông. (Phòng Quản lý được biết là đã yêu cầu tắt còi báo động gần lối vào chính của tòa nhà vì âm thanh tiếng còi quá lớn. Nếu còi báo động hoạt động bình thường, tất cả các sĩ quan cảnh vệ dưới mặt đất ắt đã được đánh động về vụ đột nhập). Kẻ đột nhập tên Omar Gonzalez cuối cùng đã bị một nhân viên mật vụ ngoài ca trực chặn lại ở gần cửa vào Phòng Lục.
Skip Allen, từng là một thành viên của đội cảnh vệ của Cơ quan Mật vụ suốt tám năm trước khi ông trở thành nhân viên quản lý năm 1979, đã kinh hoảng trước những vụ vượt rào an ninh này. “Tôi nhìn thấy một người nhảy rào lúc đang trong Phòng Quản lý”, ông nhớ lại. “Hắn ta chạy được đến giữa khuôn viên phía Bắc thì bị các sĩ quan mật vụ bao vây. Tôi chỉ không hiểu sao một người lại có thể chạy từ cổng trước đến tận Phòng Đông mà chẳng có ai làm gì được hắn”.
Nhiều vụ đe dọa đến tính mạng tổng thống cùng gia đình tuy không rõ ràng bằng nhưng không kém phần nguy hiểm. Quản Bếp Walter Scheib nói rằng mục đích của ông không chỉ là giữ cho đệ nhất gia đình mạnh khỏe mà còn là giữ mạng sống của họ. “Đây là không phải là chuyện nhỏ nếu xét đến số người ghét tổng thống vì bất cứ lý do nào, dù là trong nước hay ngoài nước”.
Ông Scheib, người từng làm việc cho gia đình Clinton và gia đình George W. Bush, nói rằng “không ai có thể đảm bảo an toàn sức khỏe cho tổng thống hơn bếp trưởng bánh ngọt và bếp trưởng”. Mesnier đồng tình. Ngay cả sau khi xảy ra sự kiện 11 tháng 9, trong bếp vẫn không có người nếm thử thức ăn. “Chúng tôi là người làm chuyện đó. Chúng tôi thực sự, thực sự tin rằng sẽ không có điều gì xảy ra”.
Tổng thống Lyndon Johnson vẫn hay lách các luật lệ quy định việc giao thức ăn cho Nhà Trắng, vốn ít chặt chẽ hơn trong thập niên 1960. Tổng thống rất thích món bánh blintz [**] do bà Margaret, phu nhân của Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara làm nên thỉnh thoảng bà lại bảo chồng đem một ít bánh đến cho tổng thống bằng cách nhờ một ai đó trong Nhà Trắng đưa hộ. Có một lần, McNamara đưa số bánh blintz đó cho một sĩ quan cảnh sát và người này đã giao nó cho Cơ quan Mật vụ. Toàn bộ chỗ bánh liền bị hủy. Khi ông McNamara hỏi ông Johnson xem có thích món bánh blintz mà vợ ông ta vừa gởi không, tổng thống đã nổi trận lôi đình.
[**](Bánh kếp cuộn phô mai hoặc mứt trái cây.)
“Không được động tới đồ ăn của tôi!” Johnson hét lên với người nhân viên mật vụ xui xẻo xuất hiện trên đường đi của ông ngày hôm đó. “Hãy vận dụng cái thứ được xem là chứa não trên chóp đầu của anh đi. Anh nghĩ Bộ trưởng Quốc phòng sẽ giết tôi sao?”
Mesnier chỉ tận dụng cách đó một lần duy nhất. Trong bữa tiệc tối chiêu đãi ông Mikhail Gorbachev của gia đình Reagan, Mesnier đã đưa phúc bồn tử vào món tráng miệng cầu kỳ của ông vì ở Nga phúc bồn tử “đắt như vàng, chẳng khác gì trứng cá caviar”. Vài ngày sau khi vị nguyên thủ quốc gia Xô viết quay trở về nước, khi Mesnier đang đứng trong bếp với một đầu bếp khác thì không biết làm sao một cái hộp nâu lớn do ông Gorbachev gởi tới lọt được vào đây. Ông biết rằng bất cứ thứ gì đựng trong hộp này cũng đều phải được hủy ngay lập tức, nhưng trước hết ông vẫn cứ mở hộp ra xem đó là gì cái đã.
Nhìn vào bên trong, ông phấn khích khi thấy hai hũ thiếc lớn, mỗi hũ đựng khoảng ba ký trứng cá caviar Nga tuyệt hảo nhất. “Tôi không quan tâm anh làm gì với phần của anh”, ông nói với đồng nghiệp, “Nhưng tôi sẽ mang phần của tôi về nhà. Tôi sẵn sàng chết vì nó”.
Khoảng thời gian dài mà các nhân viên đã bỏ ra cùng lòng tận tụy đến khó tin của họ đã không bị đệ nhất gia đình ngó lơ. Tổng thống Ford biết ông gác cửa Frederick “Freddie” Mayfield thích bơi nên có một ngày, tổng thống nói ông mang đồ tắm đến Nhà Trắng và cả hai bơi với nhau. Một lúc sau họ vui cười hớn hở quay trở vào nhà trong chiếc áo choàng tắm.
Các đệ nhất phu nhân thường ngầm để các gia nhân họ thương yêu nhất hiểu rằng họ sẽ được giúp đỡ khi gặp khó khăn. Năm 1986, cô hầu phòng của bà Nancy Reagan là Anita Castelo bị kết tội giúp đỡ hai đồng hương ở Paraguay buôn lậu 350.000 viên đạn dành cho súng nòng 22 sang Paraguay. Đệ nhất phu nhân liền cấp một tờ giấy chứng nhận Castelo vô tội. Cáo buộc chống lại Castelo thế là bị hủy bỏ ngay khi vụ bê bối Iran–Contra, liên quan đến việc buôn lậu vũ khí trên quy mô lớn hơn rất nhiều, bắt đầu được đưa tin trên toàn quốc. Tổng thống bị cáo buộc đã phê chuẩn việc bán vũ khí cho Iran để đổi lấy việc phóng thích các con tin và tài trợ cho phiến quân Contra ở Nicaragua. Nhà Trắng hẳn đã trông cho vụ cáo buộc Castelo lắng xuống khi câu chuyện Iran–Contra sắp nổ ra. Bà Nancy Reagan muốn Castelo ở lại đến mức sẵn sàng bất chấp ý kiến dư luận để giữ cô lại với bà.
LÒNG TẬN TỤY hiếm có của các nhân viên đối với Tổng thống George H. W. Bush và gia đình ông dường như xuất phát từ cách cư xử gần gũi của đệ nhất gia đình đối với họ. Gia đình Bush luôn khiến mọi người xung quanh thấy thoải mái. Bà Barbara Bush nhớ lại một chuyện trong thời gian diễn ra chiến tranh Vùng vịnh, lúc bà đang lo lắng xem thời sự trên tivi. Trong lúc bà đang chờ chồng vào phòng thì Quản lý tổ phục vụ George Hannie đến hỏi bà: “Phu nhân muốn uống gì? Và bà nghĩ Pops muốn uống gì?” (Mặc dù một số người trong giới truyền thông chỉ mới bắt đầu gọi Tổng thống George H. Bush là “Poppy” Bush kể từ khi con của ông lên làm tổng thống nhưng ông đã có biệt danh “Pops” ngay từ khi còn trẻ. Trong thời gian ông sống trong Nhà Trắng, không ai ngoài gia đình ông gọi ông bằng biệt danh này).
Bà cười khi nhớ lại chuyện này. “Tôi nói với ông ấy là ‘George, anh không thể gọi tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ như thế được”. Ông ấy biết tôi đang đùa, và tôi cũng biết ông ấy đang đùa. Chúng tôi thân nhau thế đấy.
Hannie lập tức đáp trả: “Tin tôi đi, phu nhân Bush, ở Nhà Trắng này, hết tổng thống này ra đến tổng thống khác vào. Chỉ có riêng George Hannie này là ở lại thôi”.
“Kiểu quan hệ của chúng tôi là như thế đó, có thể cười đùa với nhau. Nhưng khi có chuyện không hay xảy ra với bất cứ ai trong chúng tôi, chúng tôi đều giúp đỡ nhau”, bà Barbara Bush nói.
Nhân viên quét dọn Linsey Little cho biết Tổng thống Bush thứ nhất dễ gần hơn bất cứ vị tổng thống nào khác (kể cả con trai ông), “Ông Bush già khác hẳn những người khác. Còn ông Bush kia, miệng thì nói nhưng chân vẫn bước đi. Ông ta chẳng bao giờ trò chuyện, chẳng bao giờ làm gì. Trong khi ông Bush già lại rất dễ thương, cả ông ấy lẫn vợ ông ấy”.
Ra đời ở Robbinsville, North Carolina – một thị trấn chưa đến một ngàn dân – Little phải nghỉ học từ lớp bảy để phụ cha mẹ chăm sóc 6 em nhỏ. Cha ông là một nông dân lĩnh canh, nhưng Little bỏ công việc canh tác đậu phộng, bông và cây thuốc lá cực khổ để đi lên phía bắc và đến Washington vào đầu thập niên 1950.
Ông bắt đầu làm việc cho Nhà Trắng năm 1979 và thường phải rời nhà từ lúc 5 giờ sáng để có thể đến được chỗ làm lúc 6 giờ (Nhà ông nằm gần sân bóng đá FedEx Field đến mức ông có thể nghe thấy tiếng đám đông reo hò cổ vũ mỗi khi có trận đấu). Ông phải chuẩn bị sẵn sàng để Nhà Trắng mở cửa đón khách tham quan vào lúc 7 giờ 30 bằng cách giăng dây, lau sàn và trải thảm ra. Khi khách tham quan ra về, ông phải thu dọn mọi thứ để sáng hôm sau bắt đầu trở lại. Sau bữa ăn sáng vội vàng, ông thường được Quản lý bộ phận phòng Christine Limerick gọi báo cho ông và các đồng nghiệp của ông biết bao giờ đệ nhất gia đình thức dậy để họ có thể lên tầng hai hút bụi trong lúc các cô hầu phòng phủi bụi và làm giường.
Mối quan hệ giữa Little với Tổng thống Bush thứ nhất vượt xa công việc quét dọn quanh nhà. Little là một trong số rất ít gia nhân chơi ném móng ngựa (horseshoes) với tổng thống mỗi tháng vài lần và đôi lúc mỗi tuần hai ba lần.
Tổng thống và cậu con trai Marvin của ông vui vẻ đến sân chơi horseshoes cạnh hồ bơi để chơi với Little và người quản lý ông sau khi họ làm việc ra. Ai cũng say mê trò chơi này đến mức Little còn đặt in dòng chữ HOUSEMEN’S PRIDE (Niềm tự hào của những người quét dọn) trên mấy cái áo thun của ông.
“Đến cuối trận đấu, chúng tôi lúc nào cũng thắng ông ấy”, Little cười lớn. “Nhưng năm ngoái khi chúng tôi chơi thì ông ấy và Marvin dành được chức vô địch”. Bà Barbara Bush nói hai vợ chồng họ rất buồn khi rời Nhà Trắng vì họ biết gia đình Clinton ít có khả năng tiếp tục truyền thống này.
Có một lần, tổng thống đã gọi Little đến gặp ông trong Phòng ăn Gia đình ở tầng hai. “Ông ấy mời tôi ngồi ở bàn và thế là chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau”, Little lắc đầu.
“Ngồi cùng bàn nói chuyện với tổng thống! Không có một tổng thống nào khác làm thế”.
Ông Bush nhanh chóng tha thứ cho những nhầm lẫn mà nếu là các tổng thống khác hẳn sẽ nổi trận lôi đình. Vào một dịp cuối tuần mùa hè, ông ra ngoài chơi ném móng ngựa và nhờ một gia nhân xịt thuốc chống côn trùng cho ông. Người này đã phun thuốc khắp từ đầu đến chân ông trước khi nhận ra rằng mình lấy nhầm bình thuốc trừ sâu công nghiệp cực mạnh. Vài phút sau, khi sự nhầm lẫn được phát hiện, anh nhân viên này đã “chạy đúng nghĩa của chữ chạy” đến chỗ người bác sĩ luôn túc trực ở gần đó, Quản lý Worthington White nói.
“Lúc họ đến được chỗ bác sĩ thì mặt mũi của Tổng thống đã đỏ au”, White nói. Ông ấy phải “giải độc” dưới vòi nước.
“Vốn sẵn là một tổng thống rất tốt bụng từ trước đến nay, Tổng thống Bush nói: ‘Được rồi, được rồi, được rồi, chúng tôi chỉ muốn quay lại cuộc thi ném móng ngựa của chúng tôi thôi”. Không có ai bị sa thải vì chuyện này.
Gia đình Bush có vẻ như thực sự đánh giá cao sự hy sinh của các nhân viên, và để đáp lại các nhân viên cũng luôn cố gắng hết sức để làm hài lòng họ. Các nhân viên nhà bếp biết bà Barbara Bush ghét nghe mọi người hát bài “Happy Birthday to you”. “Trong thời gian vận động tranh cử, tôi đã nhận được bốn cái bánh sinh nhật trong một ngày từ những người chẳng hề có chút quan tâm nào đến tôi”, bà nói với tôi với thái độ thẳng thắn cố hữu của bà.
“Có một ngày, tôi về nhà ăn trưa và thấy món tráng miệng đặt trên đĩa – phải nói là Nhà Trắng cho chúng tôi ăn rất ngon. Đó là một chiếc bánh ga–tô vuông bé tí có các nốt nhạc của bài ‘Happy Birthday to you’ trên đó. Họ không nói chúc mừng sinh nhật, cũng không hát bài hát đó. Chỉ có những nốt nhạc”. Mesnier đã làm chiếc bánh này để bà có thể yên lặng thưởng thức nó trong lúc đọc sách trong bữa ăn trưa.
Hầu như sáng nào bà Barbara Bush cũng ghé xuống Phòng Hoa để chào mọi người, có lúc trên người chỉ khoác một chiếc áo bên ngoài đồ tắm trước khi ra ngoài bơi buổi sáng. Khi gặp ông Mesnier ở tiền sảnh, bà lấy chiếc bìa hồ sơ đập nhẹ vào người ông và trêu: “Ông làm gì ở đây thế? Sao chẳng có bánh trái gì vậy?”
Giám sát điều hành Tony Savoy nói bà Barbara đối xử với các nhân viên như một người bà. “Nếu ta đang ở trong thang máy, bà sẽ bước vào cùng thang máy với ta và nói rằng: ‘Ồ không, các cậu đừng ra khỏi thang máy. Tôi cũng lên lầu mà”.
Năm 1922, khi cơn bão Iniki tàn phá Hawaii, cô thợ cắm hoa Wendy Elsasser rất muốn đến gặp bố mẹ mình đang nghỉ hưu ở đó. Cô đã nhiều ngày không nghe tin gì của họ nhưng lại không muốn làm phiền vợ chồng ông Bush với mối bận tâm riêng của mình. Cuối cùng, vào một ngày Chủ nhật, trong lúc cô đang thay hoa trong khu nhà ở thì được bà Barbara Bush hỏi thăm cô có khỏe không.
“Tôi khỏe, thưa phu nhân Bush, cảm ơn bà”, cô trả lời, cố không lộ vẻ lo lắng trên mặt. Cô tiếp tục làm việc, nhưng chỉ vài phút sau, bà Barbara Bush lại ra đứng cạnh cô và hỏi: “Thực ra cô có chuyện gì? Cách cô nói không giống với một Wendy mà tôi biết”.
Mắt cô nhòa lệ. “Thưa phu nhân, bố mẹ tôi hiện đang kẹt trong trận bão đó, tôi lại không có tin tức gì của họ mấy ngày nay nên chỉ đang lo lắng thôi. Đầu óc tôi lúc nào cũng chỉ nghĩ về chuyện này”.
Bà Bush nói ngay không ngần ngại: “Wendy, nếu cô nghĩ tôi giúp gì được cô, tôi sẽ làm”. Đương nhiên là đệ nhất phu nhân chẳng giúp gì được nhưng Elsasser vẫn rất cảm động trước sự quan tâm của bà. Vài ngày sau, cuối cùng cô cũng được tin bố mẹ cô.
Quản lý Chris Emery nhớ mình đã “lặng người” sau khi nhận được một cuộc gọi bất ngờ từ gia đình Bush ngay ngày bố ông mất. Hôm đó là Lễ Tạ ơn và gia đình Bush đang nghỉ lễ ở Trại David. Chưa đầy 30 phút sau khi ông gọi báo cho sếp Gary Walters là bố ông mất, ông nhận được cuộc gọi từ nhân viên tổng đài điện thoại quân sự của Trại David nói rằng: “Chờ tôi chuyển máy cho Tổng thống”.
Tổng thống Bush “nói ông rất tiếc khi nghe tin bố tôi mất”, Emery nhớ lại, “và hỏi tôi xem ông ấy có thể làm gì”. Emery cảm ơn tổng thống và nói ông ấy không phải làm gì cả. Tổng thống ngưng một chút rồi nói tiếp: “Đợi đã, Chris. Bar (tức Barbara Bush) đang đứng ở đây, bà ấy cũng có vài lời muốn nói với anh”.
“Cô tưởng tượng nổi không?” Emery nói, giọng vẫn còn bàng hoàng.
Gia đình Bush đặc biệt quan tâm đến việc các nhân viên có thời gian ở cạnh gia đình. Khi Emery trực đêm, ông phải chờ đến khi tổng thống và phu nhân cho về mới được về. “Nếu là gia đình Reagan, hẳn họ đã nhấn hai tiếng chuông vào lúc 9 hoặc 10 giờ, có nghĩa là tôi phải lên lầu tắt hết đèn, sau đó gọi điện cho nhân viên hành chính trực tổng đài để báo cho họ biết là tôi sẽ về. Còn với gia đình Bush, phu nhân Bush thỉnh thoảng lại gọi điện cho tôi và nói: ‘Anh còn làm gì ở đây? Về nhà với gia đình đi!’. Lúc đó chỉ mới 8 giờ”.
Bà Barbara Bush và ông Emery hiện vẫn trao đổi email với nhau mỗi năm vài lần. Vị cựu đệ nhất phu nhân thường kết thúc lá thư với câu: “Thân ái, BPB”.
Chương 4
Những yêu cầu kỳ lạ
Tắm dưới làn nước vòi sen dày và mạnh là một trong những niềm vui ít ỏi của cuộc sống
– Luci Baines Johnson.
So với việc đối xử với những người khách khó chịu nhất thế giới của các khách sạn thì việc phục vụ đệ nhất gia đình còn khó hơn nhiều. Nếu họ muốn có những chiếc bánh kem napoleon mua từ tiệm bánh của Khách sạn Watergate (như Tricia Nixon vẫn thường đòi ăn) thì họ sẽ có ngay những chiếc bánh đó. Nếu họ cần có ai đó để lắng nghe họ nói về những quyết định đau lòng của họ mỗi ngày mà không phê phán họ thì sẽ có người lập tức cho họ mượn đôi tai. Tuy nhiên một số tổng thống lại đưa ra những yêu cầu không thể thực hiện được.
Tổng thống Lyndon Johnson là một nhân vật thô lỗ và dữ tợn. Ông ít khi vừa ý bất cứ chuyện gì. (“Đứng lên đi, đồ khốn, xách đít lên”, ông được nghe thấy hét lên như thế trong thời gian ông làm tổng thống. “Có nhanh lên không hả?”). Wilson Jerman nhớ là có một ngày ông phục vụ món cơm tôm creole cho tổng thống ở ban công Truman, trên đĩa cơm có hai cái nĩa để ăn cơm. “Ông ấy nhìn lên tôi và nói – Tôi sẽ không lặp lại chính xác những gì ông nói, nhưng đại khái là “Làm thế nào mà anh nghĩ tôi có thể ăn cơm với hai cái nĩa?” Tôi nói: “Tôi xin lỗi, thưa Tổng thống. Tôi sẽ lấy ngay một chiếc muỗng cho ông”.
Sự dữ dội và kiểu nói đầy dọa nạt của Johnson khiến cho nhiều nhân viên luôn tìm cách tránh mặt ông. “Dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy ông khác với các tổng thống khác đó là các tổng thống khác thường được nửa tá nhân viên cùng những kẻ bám đuôi tháp tùng từ Phòng Bầu dục về nhà”, cựu Tổng Quản lý Rex Scouten nói”. “Còn với Tổng thống Johnson thì chỉ có mỗi các nhân viên mật vụ là hộ tống ông về nhà”.
Bác gác cửa Preston Bruce đụng độ Johnson ngay từ ngày đầu tiên tổng thống dọn vào Nhà Trắng. Hôm đó, tổng thống mời hơn hai trăm người đến dự tiệc ở khu nhà riêng của gia đình, trong đó có cả các cựu cố vấn của Kennedy lẫn các nhân viên của ông. Ông Bruce đang một mình loay hoay ứng phó với chiếc thang máy thì đột nhiên thấy đèn thang máy nhấp nháy liên tục. Điều đó chỉ có một nghĩa duy nhất là tổng thống đang bấm thang máy và đang không vui.
Vừa lên đến tầng hai, Bruce đã nhìn thấy tổng thống đang nổi giận đùng đùng. “Ông ở đâu? Nãy giờ tôi cứ chờ và chờ cái thang máy này suốt”, tổng thống hét lớn, ngực phồng lên giận dữ và thân hình lù lù đe dọa. Chính thái độ này đã khiến ông nổi tiếng với tên gọi “The Treatment” (kẻ xử lý) và được ông sử dụng để làm các thành viên Quốc hội kinh hãi.
“Thưa Ngài Tổng thống”, Bruce không chịu thua, “Tôi đang cố gắng tiễn khách của ông ra về. Tôi biết cách làm chuyện đó, nhưng cần có thời gian”.
Ông Johnson tiếp tục gào thét với Bruce trước mặt hai nhân viên của Kennedy là Ted Sorensen và Ken O’Donnell. Bruce cảm thấy rất nhục nhã. “Bị đối xử thế này, tôi sẽ không làm ở đây nữa!” Tối hôm đó ông nói với Quản lý Nelson Pierce. “Tôi sẽ không bao giờ nguôi ngoai về cái chết của Tổng thống Kennedy”.
Ngày hôm sau, Johnson làm như chẳng có chuyện gì xảy ra, và Bruce quyết định rằng cách duy nhất để chế ngự vị tổng thống mới khó tính này là không nhượng bộ. “Tôi thấy rõ là một khi tôi bắt đầu khom lưng quỵ gối khi ông ta mất bình tĩnh thì đời tôi coi như xong”. Bruce ngay từ đầu đã biết Johnson hay bắt nạt người khác và cái mà ông ta khâm phục chính là sức mạnh. “Nếu tôi đúng và biết giữ vững lập trường của mình, tôi sẽ có một người bạn tri kỷ”. Bruce đã đúng. Trước khi Tổng thống Johnson rời nhiệm sở, ông đã ca ngợi người gác cổng, nói ông ấy là một trong những người giúp ông vượt qua công việc khó khăn này. Và tổng thống thứ ba mươi sáu này quả đúng là phức tạp.
Johnson thích nói chuyện tiếu lâm tục tĩu và luôn khiến mọi người cười ầm lên mỗi khi ông bắt đầu nói. Có một ngày ông làm vỡ chiếc bệ bồn cầu và “mọi chuyện trở nên ầm ĩ”, ông thợ điện kiêm giữ chó Traphes Bryant kể lại. Một chiếc bệ bồn cầu ngoại cỡ được đặt làm cấp tốc. Không chút ngượng ngùng, Johnson khoác lác với mấy ông bạn của mình về cái bệ mới mà mình đặt làm và khoe mình là chuyên gia về chuyện này. “Ông ấy khoe mình biết về ưu khuyết điểm của mọi loại bệ cầu ông ấy có thể có: bệ nhựa, bệ không phải nhựa, bệ tre, bệ in hoa, bệ kiểu Hy Lạp, hay bệ kiểu Mỹ xưa”.
Johnson nói với bạn bè ông ấy như thế này: “Bây giờ thì đố ai dám nói là bệ bồn cầu chỉ để cho vừa đít của nhân vật số một nước Mỹ”.
Là người khởi đầu sự nghiệp với công việc giáo viên trung học, ông Johnson thường lang thang khắp Nhà Trắng để chấm điểm tất cả mọi người, kể cả gia đình ông, cho những gì họ làm. Ông thường thò đầu vào các phòng dưới tầng hầm và nói to số điểm của từng nhân viên.
Có một lần ông thò đầu vào Phòng Điện và nói với Bill Cliber: “Hôm nay anh bị điểm F”. Cliber không nhớ vì sao mình bị điểm này.
Một lần khác, nhân viên phục vụ Herman Thompson kể: “Đôi lúc chúng tôi phải phục vụ tiệc tối và sau khi khách khứa ăn xong ra về, ông ấy vào bếp nói: “Này, các cậu, tối nay tất cả các cậu đều làm tốt đấy”.
Có thể lúc đầu Tổ trưởng Tổ Nước Reds Arrington (ông được gọi là Red vì có có mái tóc đỏ chói) thấy Johnson tức cười nhưng không bao lâu sau ông vô cùng khổ sở trước những yêu cầu lập dị của tổng thống. Arrington bắt đầu làm việc ở Nhà Trắng năm 1946 và về hưu năm 1979. Sau khi ông qua đời năm 2007, bà Margaret vợ ông đã viết sách kể lại nhiều câu chuyện về chồng mình. Bà nhớ lịch làm việc thay đổi xoành xoạch của Johnson đã ảnh hưởng đến cuộc sống của vợ chồng và ba cô con gái bà thế nào. “Chúng tôi đang ở trong nhà hàng tại Annapolis thì họ gọi đến nói rằng ‘Nhà Trắng gọi ông Arrington, Nhà Trắng gọi ông Arrington’. Tôi nghĩ chuyện này đúng là buồn cười vì Tổng thống Johnson chỉ đang muốn sửa cái tủ com–mốt của ông ấy”.
Johnson khiến Reds như bị tra tấn với nỗi ám ảnh về áp lực và nhiệt độ nước vòi sen của ông ta. Cho dù các nhân viên có làm cách gì thì nước cũng phun không đủ mạnh hoặc không đủ nóng để làm hài lòng ngài tổng thống. Mỗi khi tổng thống hứng lên chấm điểm các nhân viên thì lần nào hạng mục vòi sen cũng bị cho điểm F.
Việc điều chỉnh chiếc vòi sen của Tổng thống Johnson đã được thông báo ngay từ đầu cho các nhân viên đến nay vẫn còn buồn bực. Ngày 9 tháng 12 năm 1963, Tổng Quản lý J. B. West vừa mới quay lại làm việc sau ngày nghỉ phép đầu tiên của ông kể từ ngày Tổng thống Kennedy bị ám sát thì đã được gọi đến gặp Tổng thống Johnson lập tức ở chỗ đáp thang máy của Tầng Trệt. Gia đình Johnson chỉ mới chuyển vào Nhà Trắng được hai ngày, vậy mà tổng thống đã có chuyện gấp cần bàn bạc với ông.
“West, nếu anh không thể sửa cái vòi sen của tôi thì tôi sẽ quay trở về Elms ngay”, Johnson lạnh lùng nói và bỏ đi. Elms là ngôi nhà lớn của gia đình Johnson ở Washington D.C., trong đó trang bị một chiếc vòi sen mà chưa nhân viên nào từng thấy: nước từ các lỗ phun bắn ra mọi hướng với cường độ mạnh như kim châm cùng áp lực nước mạnh khủng khiếp. Một lỗ phun chĩa thẳng vào của quý của tổng thống và được ông đặt biệt danh là “Jumbo”. Một lỗ khác phun thẳng vào mông ông. Chuyện này bây giờ khiến ta thấy buồn cười nhưng việc sửa vòi sen lúc đó cho ông Johnson đã ảnh hưởng không ít đến mối quan hệ của ông với một số nhân viên.
Johnson muốn áp lực nước ở Nhà Trắng phải giống hệt áp lực vòi sen ở nhà ông – tức tương đương với áp lực nước của vòi chữa cháy – và ông muốn có một công tắc chuyển nhiệt độ nước từ nóng sang lạnh ngay lập tức, không được ấm.
Vài phút sau khi West bị tổng thống trách mắng, bà Lady Bird Johnson yêu cầu được nói chuyện với ông ở Phòng khách Nữ hoàng nhỏ trên tầng hai.
“Hình như ông đã nghe nói về chiếc vòi sen phải không?”, bà hỏi.
“Vâng, thưa phu nhân”.
“Với bất cứ việc gì đã làm hay phải làm ở đây, xin ông nhớ cho điều này: phải ưu tiên chồng tôi trước, rồi đến mấy đứa con gái của tôi, sau đó mới đến tôi”. (Bà cũng nói thế với Quản bếp Henry Haller: “Vai trò chính của ông là làm tổng thống vui”.)
Gia đình Kennedy chưa bao giờ than phiền về vòi sen nên các kỹ sư lúc này cảm thấy rất bối rối. Một nhóm kỹ sư được gởi đến tòa nhà Elms để nghiên cứu hệ thống ống nước ở đó, Reds thậm chí cũng được gởi đến nông trại của gia đình Johnson ở gần Stonewall, Texas (có biệt danh là “Nhà Trắng ở Texas”), mục đích là làm tăng áp lực và nhiệt độ nước ở Nhà Trắng đến mức gần như nóng bỏng. Khi biết chiếc vòi sen mới đòi hỏi phải thay ống mới và lắp đặt thêm một số máy bơm mới, Johnson yêu cầu quân đội thanh toán chi phí này. Cuối cùng, dự án tiêu tốn cả chục ngàn đô la này được chi trả bằng nguồn tiền dành cho mục đích an ninh, “Chúng tôi cuối cùng đã lắp 4 máy bơm, sau đó lại phải đổi các đường ống nước trong Nhà Trắng bằng những đường ống có kích thước lớn hơn để các nơi khác không bị hút cạn nước”, Arrington nói với tạp chí Life.
Bà Margaret Arrington nhớ lại chuyện tổng thống đích thân gọi cho Reds trong lúc ông ấy đang ở trong Phòng Nước dưới mặt đất, giữa Nhà Trắng và Cánh Tây. “Nếu tôi có thể điều động mười ngàn quân trong một ngày thì chắc chắn anh cũng có thể sửa cái phòng tắm theo bất cứ cách nào tôi muốn!”, Johnson gào lên, giọng ông vang dội khắp các hành lang Nhà Trắng.
Reds héo hon vì cái vòi sen suốt hơn 5 năm trời, đến mức phải nhập viện mấy ngày vì thần kinh suy sụp. Ông Johnson bị ám ảnh bởi chuyện này đến mức mỗi khi đi đâu xa, ông ta cũng mang theo cái đầu vòi sen của mình bên cạnh cả chục thùng whisky Cutty Sark. Johnson cũng muốn phòng tắm của mình luôn sáng trưng nên đòi phải gắn gương trên trần phòng tắm. Reds và nhóm thợ của ông lắp nhiều đèn đến mức họ phải lắp thêm cả quạt để đỡ nóng. Nhiệt độ nước vòi sen cao đến mức thường xuyên kích hoạt hệ thống báo cháy.
Có một ngày, bà Margaret kể, Reds đã phải thét lên khi nhìn vào tấm gương cạo râu của Johnson, “ông ấy có thể thấy rõ từng mạch máu trên gương mặt mình và nói điều đó thật đáng sợ”.
Ngày càng có nhiều người, kể cả nhân viên của Cơ quan chăm sóc vườn quốc gia, được gọi đến số 1600 Đại lộ Pennsylvania để giải quyết cuộc khủng hoảng vòi sen. Quản lý Rex Scouten thậm chí còn mặc đồ tắm nhảy vào để kiểm tra áp lực nước. “Áp lực nước vòi sen mạnh đến mức bắn văng ông ấy vào tường”, bà Margaret nói. “Còn Reds nói ông ấy đỏ như tôm luộc khi bước ra khỏi đó”.
Năm chiếc vòi sen đã được thay thế, trong đó có một chiếc được đặt làm ở cùng chỗ làm ra chiếc vòi sen ở Elms, nhưng chẳng có cái nào có tác dụng. Những người thợ ống nước thậm chí còn lắp một bồn nước đặc biệt có bơm riêng để tăng cường áp lực nước và thêm 6 lỗ phun ở độ cao khác nhau để nước có thể phun đều khắp người. Các máy bơm phun ra ba, bốn trăm lít nước mỗi phút, mạnh hơn cả vòi chữa cháy. Nhưng cũng vẫn chưa đủ mạnh.
Cliber, từng làm việc cho Nhà Trắng suốt 41 năm từ khi ông mới 20 tuổi, kể rằng có một lần Tổng thống Johnson gọi ông đến phòng tắm ông ấy để xem ông kiểm tra vòi sen.
“Anh đã sẵn sàng để kiểm tra trên người chưa?” tổng thống hỏi, người trần như nhộng trước mặt người thợ điện, một người trong số hàng chục nhân viên được đưa đến để giải quyết cuộc khủng hoảng nội bộ này.
“Lần này tôi sẽ phun nước vào người ông”, Cliber nói.
“Okay, nhớ phun mạnh hết cỡ đó”, Johnson vừa nói vừa nhảy vào chỗ tắm.
Khi Cliber bật vòi sen lên, ông Johnson kêu lên đau đớn bởi sức nước quá mạnh, “Whoa! Anh làm gì tôi thế này?” Nhưng chỉ một phút sau, ông ta đã hét lên sung sướng. “Đợi đã, đã quá! Whoa!” Sức nước đẩy bật ông vào tường và ông bước ra với cơ thể đỏ au.
Nhưng nó vẫn chưa hoàn toàn đúng ý ông.
Ngày cuối cùng Arrington nhìn thấy Johnson trong Nhà Trắng là lúc ngài tổng thống đang ngồi ở bồn cầu. Lúc đó Reds phải sửa chữa cái gì đó trong phòng tắm tổng thống và đang đứng bên ngoài để đợi ngài tổng thống đi ra.
“Vào đi”, Johnson la lớn.
Reds ngượng ngùng bước vào.
“Tôi chỉ muốn nói với anh rằng tắm vòi sen là niềm vui sướng của tôi, và tôi cảm kích mọi chuyện anh đã làm”.
Với Reds thì dấu hiệu biết ơn nhỏ nhoi đó cũng khiến cho những năm tháng căng thẳng của ông đỡ đau buồn hơn khi nhớ lại. Bà Margaret kể rằng Phu nhân Lady Bird đã mời vợ chồng bà đến thăm gia đình họ ở nông trại Texas sau khi ông Johnson qua đời. “Hôm đó thật tuyệt. Chúng tôi ăn tối ngoài trời và tôi được gặp các minh tinh màn bạc cùng các tướng tá trong quân đội. Tôi thực sự rất vui”.
Sau này, Lynda, con gái lớn của nhà Johnson đã đích thân cảm ơn hai vợ chồng Reds: “Khi ba tôi vui thì tất cả chúng tôi cũng vui. Tôi xin cảm ơn ông Arrington về chuyện đó!”
Khi tôi phỏng vấn Luci, em gái của Lynda, cô suy nghĩ nhiều hơn về nỗi ám ảnh vòi sen của ba cô. “Tắm dưới làn nước vòi sen dày và mạnh là một trong những niềm vui ít ỏi của cuộc sống”, cô nói với tôi. Cô ý thức rõ về di sản của ba cô và biết nó đã bị cuộc chiến ở Việt Nam ảnh hưởng ra sao. “Ba tôi có thể đã đưa ra những chỉ thị rất cụ thể và bộc lộ những mong đợi của mình một cách cứng rắn. Nhưng đây cũng chẳng phải là chuyện to tát gì khi ông là nhà lãnh đạo của thế giới tự do và muốn có một chút khuây khỏa và tiện nghi trong cuộc sống”.
Nhưng ngay khi Tổng thống Lyndon Johnson rời khỏi Nhà Trắng, chiếc vòi sen của ông cũng ra đi theo. Tổng thống Richard Nixon chỉ mới nhìn thoáng qua dàn vòi sen phức tạp là đã phán ngay: “Tống cái thứ này đi”.
MẶC DÙ CÓ những yêu cầu quái đản nhưng LBJ lại được các nhân viên trung thành tuyệt đối. Thư ký xã hội Bess Abell, người gọi Tổng thống Johnson là “sếp lớn” bằng cả sự thương yêu, từng có lần chịu sức ép dữ dội từ tổng thống. Sau khi Abell sinh con trai đầu lòng, ông Johnson gọi điện đến bệnh viện để hỏi bà đặt tên cho đứa nhỏ là gì. Khi bà nói tên cậu bé là “Daniel”, Johnson nói: “Tệ thật, nếu cô đặt tên nó là Lyndon, tôi sẽ cho nó một con bê cái”.
Sau chuyện đó, bà nói mình chắc chắn sẽ đặt tên cho cậu con thứ hai là “Lyndon”, “Ông ấy muốn tất cả mọi người đặt tên con theo tên ông ấy”, bà nói.
Lynda Bird Johnson Robb nói rằng ba cô “xem đó là lời khen ngợi lớn nhất dành cho ông” khi có ai đặt tên con họ theo tên ông. Và ông cũng chẳng bao giờ ngại ép mọi người làm điều đó. Một người bạn của Lynda kể cho cô nghe về cuộc nói chuyện giữa cô với ba của Lynda trước khi con trai cô ấy ra đời. “Cháu sẽ đặt tên cho đứa nhỏ là Lyndon chứ?”, Johnson hỏi, thân hình đồ sộ một mét chín của ông che hết cả người cô.
“Dạ không, chúng cháu đã chọn tên cho nó rồi”, cô lắp bắp.
Khi thấy vẻ thất vọng hiện rõ trên gương mặt ông, cô vội vàng nói thêm: “Nhưng chắc là bác biết chúng cháu yêu tất cả mọi người trong gia đình Johnson, vì thế chúng cháu sẽ lấy tên ‘Johnson làm tên đệm cho con trai chúng cháu”.
Lynda phá lên cười khi nhớ lại chuyện này. “Tôi không biết cô ấy có thực sự làm vậy vì chúng tôi không, hay chỉ vì muốn ba tôi vui hơn một chút”.
Khi Tổng thống Johnson mới nhận nhiệm sở, ông ra lệnh cho tất cả các phòng ban cắt giảm ngân sách. Tin rằng một lượng lớn điện bị lãng phí ở Nhà Trắng, ông khủng bố tinh thần tất cả những ai quên tắt đèn mỗi khi ra khỏi phòng. Trước đây, vợ chồng Eisenhower ra quy định là phải mở hết đèn ở các phòng trên Tầng Khánh tiết ra cho đến 12 giờ đêm nhưng Tổng thống Johnson yêu cầu chấm dứt ngay quy định này. Đích thân ông rảo khắp các hành lang để xem có ai vi phạm nội quy này hay không, và nếu như ông nhìn thấy ánh đèn ở một nơi nào đó mà ông không muốn đến tận nơi kiểm tra, ông sẽ điện cho Phòng Quản lý và yêu cầu họ tìm xem ai đang ở đó. Nếu trong phòng không có ai, ông sẽ vô cùng giận dữ.
Một buổi tối, anh thợ mộc Isaac Avery ở lại trễ và đang làm việc trong Phòng Mộc thì đột nhiên căn phòng trở nên tối thui. “Mẹ kiếp, ai tắt đèn đó?” Avery hét lên. Tiếp đó là một khoảng lặng.
“Tôi”, một giọng làu bàu vọng đến từ ngoài hành lang.
Avery bật đèn lên và đi ra ngoài hành lang xem thử ai. Anh thấy tổng thống đang đứng đó, hai bên là hai nhân viên mật vụ.
“Tôi không biết các cậu làm việc trễ vậy”, Johnson nói, giọng vui vẻ vì biết mình có lỗi.
“Tôi đang làm cho xong mấy cái khung cho những bức hình ông gởi đến”, Avery nói, ngơ ngác.
Một nhân viên khác thiếu may mắn hơn cũng đang bận lắp công tắc giật dây vào mấy cái đèn huỳnh quang trong Phòng Mộc thì bị Johnson bắt gặp anh đang bật đèn – ngay giữa ban ngày ban mặt.
“Ông ấy bám theo anh ta nói xa xả”, Bill Cliber nhớ lại mà vẫn còn rùng mình.
Cliber cho biết các nhân viên đi đâu cũng phải cầm theo đèn pin vì sợ bất chợt kẹt trong bóng tối.
Tổng thống Johnson còn có một yêu cầu quá đáng khác. Các bậc cầu thang đều được mở đèn để người đi được an toàn nhưng ngài tổng thống lại cho rằng làm như thế sẽ tiêu tốn quá nhiều điện.
“Anh phải tắt hết tất cả đèn ở các bậc cầu thang”, Johnson nói với Cliber.
“Thưa ngài tổng thống, ông không thể tắt đèn ở các bậc cầu thang. Đây là một tòa nhà lớn. Mọi người đều nghĩ Nhà Trắng chỉ có ba tầng nhưng bên trong có đến tám tầng (kể cả hai tầng lửng). Vả lại các bậc thang đều bằng đá hoa. Nếu trượt chân, ông sẽ bị thương”.
“Anh chắc không?”, Johnson vẫn rất muốn tắt tất cả đèn ở đó.
“Vâng, thưa ông. Tôi chắc chắn”.
“Được, vậy thì cứ để đèn ở các bậc thang”, Johnson đáp lại. Đây là một trong những lần rất hiếm hoi mà ông nhượng bộ. Tuy nhiên, thỉnh thoảng ông vẫn ghé vào phòng làm việc của Cliber dưới tầng hầm để kèo nài: “Anh vẫn bật đèn ở các bậc cầu thang đấy à?”
Người duy nhất thực sự dám đối đầu với Johnson (ngay cả ông gác cửa Preston Bruce cũng phải nói chuyện thận trọng với ông chủ của mình) là Zephyr Wright, người đầu bếp mà gia đình Johnson đưa từ dưới Texas lên cùng với họ. Ngay từ đầu cô đã nhận ra rằng mình phải “thuyết phục ông ấy” ngay từ trước khi ông trở thành tổng thống.
Một buổi tối, Tổng thống Johnson về nhà khoảng 11 giờ 30 và muốn ăn tối. Ngay cả với Johnson, bữa ăn tối này cũng là muộn bất thường, muộn đến mức Wright cũng đã xuống nhà đi ngủ. Khi ông gọi cô lên lầu dọn ăn cho ông, cô quên bẵng chuyện tắt đèn trước khi quay trở lên lầu. Khi thấy đèn dưới nhà vẫn mở, ông dọa sẽ trừ tiền điện vào lương cô.
Thế là cô nổi điên lên. “Được, ông cứ làm thế đi vì dù sao nếu tôi ở nhà, tôi cũng phải trả tiền điện của mình, chưa bao giờ có ai nói tôi phải tắt đèn. Nhưng nếu ông về nhà đúng giờ thì ông sẽ chẳng cần lo lắng chuyện tôi tắt đèn bởi đèn sẽ không được bật nếu như ông về nhà đúng giờ”.
Phương pháp của cô đúng là có tác dụng: “Tất nhiên là sau lần đó ông ấy không còn nói kiểu đó với tôi nữa”.
LYNDON JOHNSON KHÔNG phải là cư dân Nhà Trắng duy nhất thử thách thần kinh thép của các nhân viên. Ronn Payne nhớ có một ngày bà Nancy Reagan gọi ông vào Phòng khách Tây trên tầng hai. Khi ông đến nơi, bà đang ngồi dưới chiếc cửa sổ lớn hình bán nguyệt.
“Ronn, đèn”, bà phất tay lên phía trên một cách điệu đàng. “Chưa bật”.
Payne là thợ cắm hoa chứ không phải thợ điện. Ông nhìn quanh phòng và thấy cái công tắc đèn trên tường.
“Tôi tự nhủ là công tắc đèn nằm ngay ở đây. Mình có nên bật công tắc để làm bà ấy thấy mình lố bịch, hay là nói ‘tôi sẽ gọi thợ điện đến cho bà?’”
Ông quyết định nhấn công tắc bật hết các đèn trong phòng. Như thể mình là nữ hoàng, vị đệ nhất phu nhân nhìn lên ông nói “cảm ơn” mà chẳng hề có chút ngượng ngùng bối rối.
“Bà ấy được nuông chiều quá nên hóa hư”, Payne nhăn mặt. “Khi bà ấy muốn có thứ hoa mà tháng trước bà ấy cũng đã muốn có nó, và nếu ta thuyết phục bà ấy đổi từ lan Nam Phi trắng sang huệ trắng vì không phải nơi nào trên thế giới cũng có lan Nam Phi trắng, bà ấy sẽ nói rằng: ‘Rồi anh cũng sẽ tìm ra cách thôi’”. Và đúng như thế thật: các nhân viên cắm hoa cuối cùng cũng có được những cành hoa mà họ phải cho chở tuốt từ châu Âu sang trên chuyến bay đêm chỉ để làm vui lòng bà.
Tuy nhiên, cũng như Bếp trưởng Mesnier, Payne nói ông thích Phu nhân Reagan thẳng thắn nói ra những gì mình muốn. Và nếu ta làm theo những gì bà ấy yêu cầu, bà rất vui.
“Tôi nhớ có lần tôi nghe tiếng bà ấy gọi cô hầu phòng riêng của bà bằng một giọng mà nghe qua tôi đã sợ hết hồn. Tôi không bao giờ muốn làm đối thủ của bà ấy”, cô thợ cắm hoa Wendy Elsasser nói.
Giờ làm việc của Cletus Clark thường là từ 7 giờ 30 sáng đến 4 giờ chiều, nhưng ông nhớ lịch làm việc của mình đã nghẹt cứng thế nào khi bà Reagan quyết định trang trí lại tầng hai và tầng ba.
“Bà ấy không muốn tôi về nhà! Chúng tôi làm mỗi ngày mười tiếng, một tuần bảy ngày, vậy mà lúc tôi đến chào bà ấy khoảng 8 giờ tối, bà ấy còn hỏi: ‘Anh đi đâu vậy?’ Tôi trả lời: “Tôi phải về nhà, thưa bà”. Clark cho biết chuyện này tệ hại đến mức mỗi khi ông nhìn thấy bà trong Phòng khách Tây là ông lại đi xuống bằng lối cầu thang phía đông để bà không nhìn thấy ông ra về. “Tôi phải về nhà. Sau bảy ngày làm việc liên tiếp mỗi tuần, cơ thể tôi rã rời”.
Bà Nancy Reagan có những tật kỳ lạ gần ngang với Tổng thống Lyndon Johnson. Bà không chịu được phụ nữ để tóc dài và buộc các cô hầu phòng phải đính nhãn lên quần áo của bà, trên đó ghi rõ ngày mua và lần cuối cùng chiếc áo đó được mặc.
Bà cũng có nhiều món đồ sưu tập mà bà rất tự hào trưng trong Nhà Trắng, trong đó bộ hộp nữ trang Limoges nhỏ bằng sứ vẽ thủ công, gồm khoảng hai mươi lăm chiếc hộp cả thảy, được bà xếp kỹ lưỡng trên một chiếc bàn. Bà cũng có một bộ trứng bằng sứ và một bộ đĩa. (“Họ có vô số những món đồ lặt vặt, đó là vì họ không phải lau chùi chúng”, Tổng Quản lý bộ phận phòng Christine Limerick nở nụ cười gượng gạo). Ai mà xê dịch món đồ nào dù chỉ một li, bà Nancy Reagan cũng biết ngay. Tương tự, bà yêu cầu tất cả các khung bạc cùng những lọ nước hoa đắt tiền của bà phải được xếp hoàn hảo trên kệ phòng tắm, và phải được đặt trở lại đúng chỗ cũ sau khi lau chùi xong.
Mặc dù Limerick luôn tránh không nói xấu những chủ cũ nhưng bà dành ngoại lệ cho một Nancy Reagan “vô cùng khắc nghiệt”. Limerick vẫn nhớ như in điều khiến bà rời Nhà Trắng suốt 5 năm. “Vào đầu chính quyền của họ, có một số đồ vật bị vỡ. Một cái do Bộ phận Phòng làm vỡ, một cái do Cơ quan Mật vụ làm, một cái do Bộ phận Điều hành làm”. Bà Reagan đổ hết lỗi lên đầu Limerick. “Bà ấy mắng nhiếc tôi thậm tệ, thật đó!”
Bà xỉ vả Limerick dai dẳng đến mức cuối cùng Tổng Quản lý Rex Scouten phải lên tầng hai để can thiệp. “Chris, cô đi được rồi”, Scouten quay sang Limerick nói và tự nguyện đứng ra thế chỗ bà để nghe chửi rủa. Sau này ông cho Limerick biết là ông cứu bà vì “Cô nghe đủ rồi”. Đệ nhất phu nhân liền chuyển sang trút giận lên đầu Scouten, người mà bà sủng ái đến mức đã lấy tên Rex của ông để đặt cho chú chó spaniel Cavalier King Charles của bà. Bà thậm chí còn gọi Scouten là “người đàn ông quan trọng thứ hai trong đời tôi”. Nhưng tất cả những điều đó vẫn không đủ để bà tha không la mắng ông.
Đến hơn 20 năm sau, Limerick vẫn còn bàng hoàng khi kể lại chuyện này. Bà nhớ chính xác những thứ bị vỡ: “Một cái đĩa Limoges, một chân đèn cầy, và một lần khác một nhân viên mật vụ vấp phải cái bàn khiến một số thứ rơi xuống”. Tất cả chỉ là tai nạn. Nhưng đệ nhất phu nhân không cần biết chuyện đó. “Bà ấy đau buồn đến mức bắt tôi gói nhiều món đồ cá nhân đang trưng trên mặt lò sưởi trong khu nhà ở lại. Những món đồ này được gói kỹ suốt mấy tháng trời. Mãi đến khi mọi việc lắng xuống, chúng tôi mới mở các gói đó ra trở lại”.
Sau cơn giận dữ đó, Limerick quyết định áp dụng một phương thức mới để nắm những gì có khả năng xảy ra. Các nhân viên làm phòng vẫn quét bụi và sắp xếp mọi thứ ngăn nắp trong tòa nhà nhưng mỗi tháng họ phải làm sạch một phòng thật kỹ. Limerick thậm chí còn quyết định cho chụp hình phòng ngủ, phòng tắm, phòng khách và phòng làm việc của đệ nhất gia đình trước mỗi lần dọn dẹp trong tháng để có trong tay hồ sơ chứng minh mọi thứ đã được đặt trở lại chỗ cũ.
Điều khó khăn nhất đối với Limerick là phải làm việc gần gũi với đệ nhất phu nhân. Bà thậm chí còn phải giúp đệ nhất phu nhân gói quà tặng bạn bè. Mặc dù bị phu nhân Reagan trách móc nặng nề nhưng bà không thể tự bào chữa. Tất cả những gì bà có thể làm là tiếp tục cúi đầu xin lỗi.
“Trong suốt sự nghiệp của tôi, tôi chưa từng bị ai than phiền về chuyện khăn ga hay chuyện làm giường”, bà nói. “Mấy cô làm việc cho tôi có thể khiến tôi xấu hổ mặc dù tôi có thể làm giường khá tốt”.
Năm 1986, sau khi làm việc cho Nhà Trắng được 7 năm, Limerick nghỉ việc để quay về Khách sạn Mayflower. Sau đó bà đi Hawaii vài năm trước khi quay trở lại Nhà Trắng năm 1991. Bà thừa nhận là nguyên nhân khiến bà ra đi phần nào là do việc cố gắng theo kịp những yêu cầu của đệ nhất phu nhân khiến bà kiệt quệ. “Không phải vì phu nhân Reagan là người như thế mà bởi vì tôi thấy mình lúc nào cũng như sắp buột miệng cãi lại bà ấy”. Mà chuyện đó lại là một cái tội rất lớn ở Nhà Trắng, bà biết thế.
Trong 5 năm gián đoạn công việc của Limerick, người thế chỗ bà đã làm náo loạn Nhà Trắng. Người trưởng Bộ phận Phòng mới gặp khó khăn trong việc đương đầu với căng thẳng công việc, và những câu chuyện về thái độ kỳ lạ của bà cuối cùng cũng lọt đến tai Limerick. Theo ông Roland Mesnier thì người trưởng Bộ phận Phòng này “có lần vào kho yêu cầu mua mười ngàn con gấu bông cho trẻ em trên toàn thế giới”. Bà ấy quả thực đã viết đơn đặt mua thú nhồi bông, ông nói. Một lần khác, hai nhân viên cắm hoa Ronn Payne và Wendy Elsasser cho biết bà ấy đi làm mà trên mi mắt vẽ đầy hình tam giác màu ngọc lam tươi. Bà còn nổi tiếng với chuyện vừa đi dọc hành lang tầng hầm và xịt nước khử mùi bên ngoài phòng các nhân viên vừa la toáng lên là “chỗ này hôi quá”.
Các nhân viên nói Cơ quan Mật vụ muốn sa thải người phụ nữ ấy sau các biểu hiện đáng lo ngại của bà ta nhưng người kế nhiệm Limerick được phép ở lại. Limerick nghĩ sở dĩ bà ta có thể ở lại là nhờ Phu nhân Barbara Bush thông cảm với bà ấy. Elsasser cũng đồng ý với Limerick. Cô cảm thấy là Phu nhân Bush đã cho người nhân viên rối loạn tâm trí này rất nhiều cơ hội vì mong muốn bà ấy đỡ hơn. “Phu nhân Bush có tấm lòng rất nhân hậu”, Bếp trưởng Mesnier nói. (Khi được phỏng vấn cho cuốn sách này, bà Barbara Bush quyết định không nói về người kế nhiệm Limerick ngoài việc xác nhận rằng bà ta quả thực đã gặp khó khăn trong xử lý áp lực công việc).
Cuối cùng thì bà Bush cũng nhận ra rằng thái độ của người trưởng Bộ phận Phòng không hề thay đổi. Có một ngày, Skip Allen, viên quản lý được chỉ định phụ trách bộ phận này được gọi lên lầu khẩn cấp. Wendy Elsasser đang chuẩn bị thay các bình hoa ở lối vào sảnh trung tâm dẫn vào phòng ngủ của Jenna và Barbara Bush thì đột nhiên người trưởng Bộ phận Phòng chộp lấy chiếc gối (do đệ nhất phu nhân khâu tay) ném vào người cô và hét lên “Thật nhảm nhí!”. Jenna và Barbara đang đứng gần đó khi chuyện này xảy ra. Chúng rất sợ hãi. Không biết chuyện gì khiến bà ta nổi cáu lên như thế.
Một khi các cháu của mình bị kéo vào chuyện này, đệ nhất phu nhân quyết định cho người thay thế Limerick nghỉ ngay. Allen giúp hộ tống người phụ nữ vừa đi vừa la hét đó ra khỏi tòa nhà. “Bà ta không ra đi trong yên lặng”, ông nói.
KHI TRỞ LẠI Nhà Trắng, Christine Limerick được làm việc dưới trướng những chủ nhân dễ dàng hơn, đầu tiên là Phu nhân Bush, sau đó đến Phu nhân Hillary Clinton. Một số nhân viên cảm thấy làm việc với bà Clinton là một thách thức lớn nhưng Limerick thì lại nhìn thấy khía cạnh tích cực của bà ấy trong tư dinh.
“Hillary rất rất đồng cảm với nhân viên nữ. Bà rất vui vẻ với các cô hầu phòng và nói chuyện với tất cả bọn họ. Bà biết hết những mặt mạnh yếu của họ”. Limerick biết một số nhân viên nam không đồng ý với nhận định của mình nhưng cho rằng họ làm thế vì nhiều lý do khác nhau. “Một phần là do lỗi của họ”, Limerick nói về các nhân viên nam, nhưng đồng thời bà cũng thấy rằng điều này phản ánh mối quan tâm đặc biệt của đệ nhất phu nhân dành cho các nhân viên nữ. “Tôi nghĩ là bà ấy khó khăn với nam giới hơn là với phụ nữ. Bà ấy dễ khoan dung hơn khi chúng tôi làm sai”.
Có một lần, Limerick nhớ lại, Hillary nhờ bà nhuộm một màu khác cho bộ y phục màu ngọc lam của bà. “Thường thì tôi xử lý các bộ quần áo khá tốt”, bà cười khúc khích. “Đó là loại vải giặt được. Lúc chúng tôi bắt đầu nhuộm thì bộ y phục có size 10, nhưng đến khi tôi làm xong thì nó biến thành cỡ size 2. Vậy mà bà ấy chỉ thấy tức cười về chuyện này”.
Còn Bill Clinton thì không phải lúc nào cũng biết thông cảm. Tổng thống Clinton bị dị ứng gỗ thông nhưng đến Giáng sinh, đệ nhất phu nhân lại muốn trưng một cây thông thật vài ngày trong Phòng Bầu dục Vàng ở tầng hai. Theo kế hoạch thì cây thông sẽ được dựng lên ngày 19 tháng 12 vào hạ xuống ngày 28.
Công việc của Limerick là bày tất cả những đồ trang trí cá nhân của gia đình tổng thống ra, sau đó các nhân viên Phòng Hoa và Phòng Điện mới đến gắn đèn. Limerick biết tổng thống vẫn thích trang trí cây thông Noel với con gái Chelsea vì nó giúp ông thấy như mình đang mừng Giáng sinh với gia đình như mọi người cha khác, dù là chỉ vài giờ.
Tuy nhiên năm đó đệ nhất phu nhân lại muốn trang trí cây thông Noel sớm hơn. “Tối nay tổng thống có việc bận. Cô có thể treo gần hết mọi thứ lên cây trừ hai chục thứ này ra không?” Bà Hillary chỉ vào một hộp đồ trang trí và nói với Limerick. Người quản lý bộ phận phòng làm theo những gì được yêu cầu. Đến khi tổng thống lên tầng hai sau khi dự xong sự kiện về và nhìn thấy một số đồ trang trí treo sẵn trên cây, ông nổi điên lên.
“Ai đã làm chuyện này?”, ông hét ầm lên.
“Là cô Chris, nhân viên phòng”, một người phục vụ nói với ông.
Sau này, người phục vụ đó cho Limerick biết là tổng thống đã lầm bầm một câu gì đó đại loại như: “Cô ta liệu hồn có ngày mất việc”.
Đến khoảng nửa đêm, một nhân viên phục vụ gọi cho Limerick để kể chuyện gì đã xảy ra. Bà rất lo nhưng tin rằng bà Hillary sẽ bảo vệ mình. Sáng hôm sau, một ngày thứ Bảy, bà thông báo với tầng ba là bà sẽ lên trên lầu gói quà cho gia đình tổng thống.
Bà Clinton bước qua cửa, giọng bực bội: “Sẽ không có chuyện làm ơn mắc oán trong nhà này đâu. Tôi đã nói chuyện với Bill rồi, cô đừng lo”.
“Cảm ơn bà”, Christine thở phào nhẹ nhõm.
Một lần khác, Limerick nhận được một cuộc gọi từ người hầu riêng của tổng thống. Anh ta cho bà biết là tổng thống không thích một trong số các thợ may bà giới thiệu. Trước đó, bà cho ông danh sách bốn người thợ may. “Lúc đó mới 2 giờ sáng mà anh hầu riêng đã càm ràm chuyện tổng thống tức giận và tôi phải liệu hồn”, Limerick kinh ngạc.
Sáng hôm sau, vừa đến chỗ làm bà đã vội vàng điện cho văn phòng tổng thống. Bà quá chán phải nghe mọi chuyện qua một người khác, và ngờ rằng các nhân viên phục vụ và người hầu riêng của tổng thống đã làm mọi thứ trở nên tệ hại hơn khi chuyện bé xé ra to, thậm chí là thêu dệt mọi thứ để thêm phần bi tráng.
“Tôi biết mình đang gặp rắc rối vì tổng thống không thích người thợ may”, Limerick nói với Betty Currie, thư ký của Clinton.
“Cô chờ một chút, tổng thống đang ở ngay đây”, Currie nói và chuyển điện thoại cho tổng thống.
“Xin lỗi ông”.
“Có gì to tát đâu”, ông cười lớn.
Làm mình mất công sợ, Limerick nghĩ.
Theo Skip Allen, vợ chồng nhà Clinton không phải lúc nào cũng nhất quán trong các yêu cầu của họ. “Họ đòi một thứ gì đó nhưng đến khi ta đưa nó đến thì họ lại nói đó không phải là thứ họ thực sự muốn”, Allen nói. “Họ không biết cách nói rõ điều mình muốn nên cứ đòi thứ họ nghĩ là họ muốn nhưng thực ra lại không phải vậy”.
Allen nhớ có lần bà Hillary Clinton gọi điện cho ông để than phiền là nhà bếp làm một món gà nào đó quá thường xuyên và bà muốn người đầu bếp phải ngưng dọn cho họ món đó. “Thế là tôi gọi cho bếp trưởng và nói ông ấy đưa món gà đó ra khỏi thực đơn vì họ không muốn dùng món đó nữa. Vài tháng sau, tôi nhận được một cuộc gọi của đệ nhất phu nhân nói rằng “Anh hỏi bếp trưởng xem vì sao ông ấy không dọn món gà mà chúng tôi rất thích đó nữa?”. Ông thở hắt ra: “Họ cứ thế suốt 8 năm trời”.
Các nhân viên nói rằng vợ chồng Clinton trái ngược hẳn với vợ chồng Reagan. Họ mà còn thức đến một hai giờ sáng và không thể ngủ được là lại bắt đầu sắp xếp lại bàn ghế. Theo Allen, cũng là người phụ trách Phòng Quản lý Mỹ thuật, các nhân viên quản lý mỹ thuật xem việc xê dịch bàn ghế này là cơn ác mộng bởi năm nào họ cũng phải thống kê từng thứ một trong bộ sưu tập nội thất của Nhà Trắng. “Họ tự tiện chuyển cây đèn, cái bàn hay cái ghế từ phòng này sang phòng khác. Đến khi các quản lý mỹ thuật lên lầu kiểm kê, mặc dù trên hồ sơ ghi rõ là chiếc ghế này nằm trong phòng làm việc nhưng họ phải tìm kiếm nó khắp nhà vì gia đình Clinton đã chuyển nó lên phòng khách ở tầng ba... Chuyện này khiến mọi thứ rối tung”.
Vợ chồng Clinton dường như cũng quên bẵng những quy tắc liên quan đến giờ ăn, nhưng vì ai cũng sợ nên không dám nói với họ. Bếp trưởng John Moeller, từng làm việc trong bếp từ năm 1992 đến năm 2005, không bao giờ biết đệ nhất gia đình muốn ăn lúc nào hoặc ông phải nấu cho bao nhiêu người ăn. “Với vợ chồng Bush, chúng tôi lúc nào cũng được gọi điện báo trước là hôm nay “có hai người ăn trưa lúc 12 giờ rưỡi”. Còn với vợ chồng Clinton, chúng tôi chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra cho đến khi nó xảy ra rồi!”
Một tuần sau ngày gia đình Clinton chuyển vào Nhà Trắng, anh phục vụ Buddy Carter hoảng hốt chạy vào bếp nói với Moeller là gia đình tổng thống đã ngồi vào bàn và sẵn sàng dùng bữa tối – ngay bây giờ. “Đồ ăn đã có nhưng tôi phải hâm nóng lại, cho tôi một phút”, Moeller nói với anh ta. Kể từ ngày đó trở đi, ông phải luôn chuẩn bị sẵn mọi thứ trong khoảng thời gian ăn trưa và ăn tối”.
Các bạn bè và trợ lý chính trị của vợ chồng Clinton cũng thích tư vấn cho các gia nhân nhưng đôi khi lại tư vấn không đúng. “Họ nói với chúng tôi rằng bà Clinton dùng loại dầu gội đầu đó và chất khử mùi đó nên chúng tôi ra ngoài mua về khoảng hai mươi thùng”, Limerick phá ra cười khi nhớ lại chuyện này. “Tôi biết mình ngốc cỡ nào khi sau đó bà ấy [Hillary Clinton] nói với tôi rằng “Chris, tôi không thích loại đó”.
Đôi khi những nỗ lực làm vừa lòng gia đình tổng thống lại gây nguy hiểm cho các khách mời của Nhà Trắng. Mỗi năm đến mùa lễ là trong tư dinh lại xảy ra tranh cãi về chuyện nên trang trí tầng Khánh tiết làm sao cho đẹp nhất. Tổ trưởng Tổ Hoa Nancy Clarke thích trang trí cả chục ngọn nến trên bàn buffet nhưng Bếp trưởng Mesnier quả quyết rằng làm vậy có nguy cơ gây cháy. Nhưng bà Clinton muốn vậy, Clarke khăng khăng tuyên bố.

“Có một năm, trong số khách mời có một phụ nữ choàng khăn lông cáo ở cổ. Khi bà chồm người qua bàn để lấy bánh quy, lửa đèn cầy bắt vào chiếc khăn lông cáo. Ơn trời, một người phục vụ đứng ở đó đã nhanh tay giật chiếc khăn choàng ra khỏi người bà và dùng nước dập tắt ngọn lửa”, Mesnier hồi tưởng. “Tất nhiên là sau lần đó, không còn ngọn nến nào được trang trí trên mấy cái bàn của tôi nữa”.
Kate Andersen Brower
Nguyễn Thị Kim Anh dịch
Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Nhà Trắng - Những chuyện chưa kể 2

Nhà Trắng - Những chuyện chưa kể 2 Chương 5 Chuỗi ngày u ám Ông ấy nói mình thức dậy giữa khuya và va vào cửa phòng tắm nhưng chúng tôi ch...