Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”
Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.
Nguyễn Ngọc Hạnh chiêm nghiệm về thời gian từ trong cõi vô
thường:“Thời gian màu cỏ khô tàn úa/ dấu vết còn lưu trên mỗi phận người”. Ở
câu thơ này, nhà thơ lại chạm đến “màu” thời gian và “dấu vết” thời gian trong
vô tận. Nói đến “màu” thời gian thì trước Nguyễn Ngọc Hạnh đã có Đoàn Phú Tứ
“Màu thời gian không xanh/ Màu thời gian tím ngát”. Theo quan niệm của Đoàn Phú
Tứ thời gian có thể là màu buồn, cũng có thể là màu vui (tím là màu của tình
yêu) nhưng thời gian mang màu “cỏ khô tàn úa” trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh thì
tuyệt buồn. Thử hỏi có sự héo úa, tàn phai nào mà không buồn? Thi ảnh này về thời
gian trong cảm thức của Nguyễn Ngọc Hạnh là sự lụi tàn. Tác giả còn “đóng dấu”
sự lụi tàn này bằng hình ảnh “dấu vết còn lưu trên mỗi phận người”. Thật không
có gì thuyết phục hơn khi lấy đời người làm minh chứng cho sự tàn phai ấy: “Lạ
gì vô ngã sắc không/ Thời gian một giấc vô thường mong manh” (Vô thường). “Vô
ngã”, “sắc không”, mang nội hàm triết lý của vô thường trong tôn giáo nhà Phật,
về kiếp người. Vậy ra, với Nguyễn Ngọc Hạnh, thời gian cũng như đời người, cũng
vô thường, mong manh, cũng một đi không trở lại. Nhưng cũng có lúc Nguyễn Ngọc
Hạnh “phản biện” lại chính mình. “Nhìn dòng sông nước cuốn trôi/ Thời gian chảy
mãi về nơi vô cùng” (Hôn mình trên sông),“Thời gian như giếng nước đầy/ Múc cả
đời chưa cạn” (Giếng xưa). “Múc cả đời chưa cạn” là bởi “Có gì đâu bóng đời nhỏ
hẹp/ Thời gian rơi xuống chậm dần” (Vô thường), “Như con sông quê đầu nguồn/ Thời
gian trôi đi chầm chậm” (Giếng xưa). Nghịch lý vậy đó. Thời gian thì vô cùng,
thời gian thì trôi chậm mà đời người thì vô thường, mong manh. Cảm nhận thời
gian như thế nào đều phụ thuộc vào con mắt và tâm trạng của mỗi người. Nhưng có
một sự thật mà ai cũng phải thừa nhận là trên đời này có hai thứ không thể quay
trở lại đó là thời gian và tuổi trẻ. Bởi thế, phải biết quý trọng thời gian, cảm
nhận cho được vẻ đẹp của cuộc sống, biết yêu bản thân và sống có ý nghĩa là
cách lựa chọn của chủ thể trữ tình:
Thôi đừng bận bịu thời gian
Em cứ hát thì thầm nho nhỏ
Dẫu đã muộn có gì đâu mà vội
Ngọn gió chiều thổi suốt đến tinh mơ…
(Ngọn gió xuân)
“Dẫu đã muộn có gì đâu mà vội” nghe ra có vẻ trái ngược với
Xuân Diệu: “Mau với chứ thời gian không đứng đợi”, “Mau với chứ vội vàng lên với
chứ/ Em, em ơi, tình non sắp già rồi”. Không giục giã, không vội vàng bởi Nguyễn
Ngọc Hạnh đã chấp nhận cái “muộn” của tuổi chiều. “Dẫu đã muộn” nhưng “em” cứ
vui đi, cứ “hát” đi dù chỉ “thì thầm nho nhỏ”. Sống vui như thế hẳn là để quên
thời gian, quên đi tuổi xế chiều. Hình ảnh “Ngọn gió chiều” xuất hiện ở
đây đầy ám gợi. Phải chăng đó là ngọn-gió-thời-gian thổi qua đời người, nhanh
chóng đưa họ đến với “chiều”? Ví thời gian như ngọn gió không phải là cách nói
mới mẻ nên Nguyễn Ngọc Hạnh đã định danh ngọn gió bằng từ “chiều”. “Ngọn
gió chiều thổi suốt đến tinh mai” Mà đã có “ngọn gió chiều” thì tất nhiên phải
có “ngọn gió xuân” của thời thơ trẻ:
Làm sao cầm được ngọn gió xuân tràn về
Để nghe hơi ấm đầy sớm mai chớm lạnh
Gió chạm bờ vai em run rẩy
Như đang rụt rè hờn trách thời gian
(Ngọn gió xuân)
Một khi “Ngọn gió xuân” đã nhường chỗ cho “ngọn gió chiều’
chiếm ngự thì “Làm sao cầm được”, làm sao níu giữ được tuổi xuân! Một tiếng thở
dài bất lực trước ngọn gió thời gian, nên, “Thôi đừng bận bịu thời gian”, cũng
đừng “hờn trách thời gian” nữa mà hãy chọn cho mình thái độ sống vui, hãy yêu lấy
mình để bù lại một thời tuổi trẻ “chỉ yêu ai, đâu dám yêu mình/ Khi tóc bạc mới
thương ngày thơ bé/ Để bây giờ yêu muộn thuở còn xanh” (Muộn).
Nhưng với Nguyễn Ngọc Hạnh, sống vui không có nghĩa là hoàn
toàn vô tư, vô ưu khi trên vai còn nặng oằn chữ hiếu. Nỗi niềm này, ông giãi
bày rất xúc động:
Chữ hiếu lững lờ trôi mong manh
Con vừa chạm, đã tan rồi không kịp
Khi hiểu được thì đời con sắp hết
Dẫu muộn màng xin tạ lỗi cùng cha
(Cha)
Vì “đời con sắp hết” nên việc báo hiếu cha càng gấp gáp hơn
bao giờ. “Dẫu đã muộn vẫn còn kịp lúc/ Dẫu muộn màng xin tạ lỗi cùng cha”
là tiếng lòng hiếu thảo của người con ở tuổi chiều vọng động thâm sâu làm rung
động lòng người. Nên, suy cho cùng thì “Dẫu đã muộn có gì đâu mà vội” chỉ là
cách nói “xoa dịu” nỗi ám ảnh về thời gian thôi chứ thật ra chủ thể cũng “vội”
lắm vì quỹ thời gian đâu ưu ái cho tuổi chiều.
Viết về thời gian, không phải đến thơ Nguyễn Ngọc Hạnh ta mới
thấy. Trong Thơ Mới, Xuân Diệu cũng đã từng “nhìn đời bằng con-mắt-thời- gian”
(Đỗ Lai Thuý). Nhưng con-mắt-thời-gian của Xuân Diệu là con mắt của tuổi trẻ. Với
tuổi trẻ, sự tàn lụi phôi pha đang còn là dự cảm. Còn Nguyễn Ngọc Hạnh nhìn thời
gian bằng con mắt của tuổi chiều. Sự tàn lụi, phôi pha trong con mắt tuổi chiều
không còn là dự cảm mà là cảm nghiệm. Nếu trong thế giới thơ Xuân Diệu ngập
đầy những “giục giã”, “vội vàng”, “mau”, “gấp”, bởi thi nhân lo sợ lỡ làng, muộn
màng, không kịp thì thế giới thơ Nguyễn Ngọc Hạnh là tiếc nuối: “Ôi ngày qua tiếc
nuối/ Ôi đêm qua bồn chồn/ Kim đồng hồ thân xác/ Quay không kịp mùa xuân” (Cài
đặt).
Tất cả những hoài niệm, nhớ thương “Nhớ”, “Nhớ tôi”, “Nhớ đôi dép mẹ”, “Cứ nhớ hoài bếp lửa cời than/ nhớ ngọn khói chiều mồ côi nương rẫy/ nhớ tiếng chim lạc bầy gọi mẹ/ nhớ bờ ao cạn cháy cơn mơ”. Điều đó hoàn toàn phù hợp với người đã và đang đi về phía hoàng hôn của cuộc đời. Trong cảm thức thời gian của Nguyễn Ngọc Hạnh, “chiều” được nhắc đến rất nhiều (tính có 45 từ “chiều”, và 13 từ “hoàng hôn”). Chiều là thời điểm của một ngày tàn, dễ gợi buồn, gợi nhớ, gợi thương, mênh mang hoài niệm: “Mẹ nằm đây giữa núi non cao/ Rừng đã khép một đời giông tố/ Chiều tháng ba trời đầy gió bão (Chỗ ướt mẹ nằm). Hay trong bài Viếng mộ con”: “Có điều gì ẩn sâu trong ngực/ chiều cứ đi qua/ chiều xuống chậm dần/ tôi cùng với hoàng hôn/ tím ngắt”. Tưởng không gì hợp lý hơn khi nhà thơ để cho “Chiều tháng ba” nói hộ nỗi buồn đau mất mẹ và “chiều cứ đi qua/ chiều xuống chậm dần” “hoàng hôn/ tím ngắt” như để chia sẻ nỗi lòng người cha khi thăm viếng mộ con giữ một chiều xuân.
Buồn thương cứ lẩn khuất trong “chiều”, chỉ cần chạm nhẹ vào
“chiều” là ký ức buồn bung bật: “Có gì bất chợt đâu đây/ Có gì vừa chạm chiều
nay bất ngờ/ Cả đời nương tựa bơ vơ/ Mong manh ngọn cỏ đôi bờ lau khô” (Trả
vay ). Hoặc “Ai bày, nào có ai bày/ Mình tôi ra chợ chiều nay/ Ngồi chỗ mẹ ngồi
thuở ấy/ Mà sao đôi mắt cay cay” (Chợ quê).
Nhiều khi chiều trong ký ức nhà thơ là những kỷ niệm đẹp: “Cứ
là chiều, cứ mãi là tôi/ Cứ là em như thuở ban đầu/ Mãi là nhau của thời vụng
dại…”(Lời yêu). Tại sao “cứ là chiều”? Phải chăng “chiều” là thời điểm ghi
dấu một mối tình đẹp, một kỷ niệm đẹp về tình yêu”: “Đôi khi ngồi một
mình/ Nhớ hơi ấm chiều mưa quán nhỏ (Nhớ). Những buổi chiều như thế làm
sao quên được. Nên, hãy “cứ là chiều”, “cứ mãi là tôi”, “cứ là em” là vì thế. “Cứ
là” như lời tuyên chiến với thời gian, cố níu giữ cái “thuở ban đầu”, cái “thời
vụng dại” của “Nắng dậy thì”…
Tình yêu của tuổi chiều không còn cuồng vội như thời tuổi trẻ
nhưng vẫn rất “long lanh”: “Em hứng gì trên đôi bàn tay/ anh như vạt nắng chiều
còn sót lại/ giọt nước long lanh rơi qua kẽ lá/ làm sao níu được đoá vô thường”
(Đóa vô thường”. Tuy chỉ là vạt nắng chiều “còn sót lại” nhưng tình yêu
đôi lứa của tuổi chiều vẫn lung linh, lãng mạn. Mặc dù khẳng định vậy, nhưng
trong tâm cảm của chủ thể trữ tình, một nỗi lo sợ mơ hồ chiếm ngự. “Làm sao níu
được đoá vô thường” xuất hiện như một tiếng thở dài. Bởi, “chiều”, trong sâu thẳm
tâm hồn của nhà thơ đang hiện hữu phía hoàng hôn đâu còn là dự cảm của tàn
phai.
Nằm trong nội hàm của vẻ đẹp buồn, “Chiều” lại dẫn ta đến với
cảnh sắc phố phường: “Chiều nghiêng nửa phố chiều trông/ Phố như tranh vẽ xao
lòng đò ngang/ Chiều buồn phố rất nên thơ/ Qua sông mà cứ mong chờ
hoàng hôn/ Chiều lên nửa phố chiều trông/ Người đi từ phía bão giông chưa về”
(Lục bát qua sông). Phố có con sông vắt ngang, có đò ngang xuôi mái hẳn là phố
cổ Hội An, quê hương của tác giả. Trong mắt thi nhân, phố chỉ đẹp lúc “chiều
nghiêng”, “chiều lên”. Với nhà thơ, “Chiều” vốn buồn nhưng chính cái buồn đó mới
làm nên vẻ đẹp cho phố: “Chiều buồn phố rất nên thơ” “Chiều” ở đây có thấp
thoáng vẻ buồn trong “Chiều xưa” của Huy Cân. Vâng, đó là một vẻ đẹp buồn. Mà
nói đến Đẹp, có ai không khao khát, mong chờ? Nên, “Qua sông mà cứ mong chờ
hoàng hôn” là điều không lạ. Hình ảnh “hoàng hôn” trong nội hàm của vẻ đẹp
buồn lại tiếp tục xuất hiện “Sự tĩnh lặng chút nắng cuối ngày/ Không níu được
hoàng hôn trở lại” (Hạnh phúc). Đúng, hoàng hôn đẹp vậy nhưng “không níu được”,
cũng không thể giữ được cái “ngày đầu mới gặp”: Từ ánh nhìn ngày đầu mới gặp/ Có
điều gì bay qua như ánh chớp / Một bầu trời xanh rực sáng phía hoàng hôn” (Đoá
vô thường).
Cái “ngày đầu mới gặp” đã “bay” đi nhưng đọng lại trong lòng
người vẫn là hình ảnh “một bầu trời xanh rực sáng phía hoàng hôn”. Có
thể xem đây là hình ảnh thơ được xây dựng bằng thủ pháp dùng cái nghịch lý để
nêu thông điệp. “Phía hoàng hôn” xưa nay người ta chỉ thấy màu đỏ máu của ráng
chiều kiểu như “Ôi, những chiều lênh láng máu sau rừng/ Ta đợi chết mảnh mặt trời
gay gắt” (Thế Lữ) chứ có ai đã từng thấy “một bầu trời xanh rực sáng”
đâu. Một quan điểm thẩm mỹ mới được khơi lộ từ hình ảnh thơ này: hoàng hôn
kết thúc ánh ngày nhưng lại là tín hiêụ dự báo sự sống mới bắt đầu. Nếu không
có hoàng hôn thì sao có thể có bình minh rực sáng. Có phải vì vậy mà “hoàng
hôn” cứ nằm trong nỗi mong chờ của chủ thể: “Qua sông mà cứ mong chờ hoàng
hôn”.
Cũng cùng cách biểu đạt trên, ta bắt gặp:
Khi trời chiều bóng ngả về đông
Càng say đắm sợi tơ vàng lấp ló
Một chút sương mờ rơi trên cỏ
Thơm dịu dàng màu nắng tinh mơ
(Nắng dậy
thì)
Trong bài thơ Nắng dậy thì, Nguyễn Ngọc Hạnh có nói nhiều
đến “nắng sớm mai” với đặc tính “trong veo”, “thơm lùng”, “sợi tơ vàng”, “lấp
lánh” là để dẫn bạn đọc đến với hình tượng “Nắng dậy thì” biểu trưng cho sự phồn
nhiêu cảm hứng sáng tạo thi ca của tâm hồn thi sĩ: “Chạm hồn tôi nắng sớm dậy
thì”. Nhưng điều bất ngờ thú vị ở đây là tác giả lại đưa hình ảnh “trời chiều”
vào bài thơ trong cái nghịch lý “Khi trời chiều bóng ngả về đông”. “Trời
chiều” mà bóng lại “ngả về đông”, ngả về phía nắng mai. Phải chăng, “trời chiều”
chính là “ngọn gió chiều”, là “tuổi chiều”, là hiện thân của tác giả, một thi
sĩ tuổi đời đã ngả bóng hoàng hôn mà vẫn dạt dào cảm hứng sáng tạo nghệ thuật?
Đêm cũng là hình thái thời gian cho ngòi bút Nguyễn Ngọc Hạnh
chạm đến. Đêm hiện diện trong tập thơ dày đặc (73 từ). “Đêm” trong thơ Nguyễn
Ngọc Hạnh không phải là “Đêm huyền vi” của Hoàng Vũ Thuật mang vẻ đẹp lãng mạn
thần tiên của tình yêu đôi lứa, cũng không phải là đêm trăng trung thu ngời
sáng lung linh mà là “đêm mưa”, “đêm giông”, “đêm đen”, “trời khuya”… đầy hiểm
hoạ, hãi hùng: “Tôi xa làng từ ngày còn bé/ đêm mưa/ gió rét căm căm/ Ai gõ mạn
thuyền trên sông vắng/ Mà mái chèo cằn cựa đến xa xăm/ Tiếng dầm khuya lạnh buốt/
đêm giông/ Con nước cứ dùng dằng/ không chảy” (Bếp lửa chiều quê).
“Đêm” trình hiện trong những dòng thơ trên là thời gian mà
cũng là không gian đầy ám ảnh hãi hùng nằm trong ký ức buồn, ký ức đau thương của
chủ thể. Đêm cũng gọi dậy nỗi niềm của người con xa xứ: “Một chút nắng vàng rơi
rất chậm/ Đêm đông lòng rét đậm quê nhà”. “Đêm đông” trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh
cũng thấm đẩm buồn thương, nhớ nhung da diết của “người cô lữ đêm đông xa nhà”
như trong nhạc phẩm “Đêm đông” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Nhưng nỗi niềm của
người cô lữ, thi sĩ không trực tiếp biểu đạt mà lại để cho “lòng rét đậm quê
nhà”, bởi “Đâu ai biết đêm xứ người cô quạnh/ Một góc trời lặng lẽ cháy hoàng
hôn”. Một nỗi nhớ quê tái tê, bởi tình quê luôn cháy bỏng trong lòng kẻ tha
phương. Vô cùng ấn tượng với “đêm đông” xứ người trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh.
Nếu nói thơ tức là người thì những gì Nguyễn Ngọc Hạnh thể hiện
qua thơ chính là hình chiếu con người thi sĩ, một con người luôn sống trong
hoài niệm về ký ức. Ký ức của ông trải dài qua tập thơ là những ký ức buồn. Ký ức
về “Tuổi thơ lấp vùi/ Giữa dòng đời mưa bão/ lất lay” (Nhớ tôi). Ký ức về “một
đời mẹ cha khốn khó”. Ký ức về một làng quê nghèo lại trải qua thăng trầm,
giông gió. Ký ức về một thời xa làng, xa quê, anh em ly tán “cái ngày ly biệt ấy/
ngày anh em tôi tan tác lìa đàn” (Bếp lửa chiều quê)… Những ký ức buồn đó trầm
tích trong tâm hồn người thơ, kết tủa thành “chất liệu” để thơ ông cất tiếng. Ở
phần “Thay lời mở” của tập thơ này, Nguyễn Ngọc Hạnh bộc bạch: “Thơ là hơi thở,
là ngôi nhà tôi phải trở về cùng với nỗi buồn lưu cữu của mình. Cho đến tập thơ
này, nỗi buồn là nguồn mạch thơ tôi. Yêu cũng buồn. Ghét cũng buồn. Có được
phút giây hạnh phúc cũng buồn. Oan nghiệt càng buồn. Chỉ có nỗi buồn sâu sắc của
nghệ thuật mới tồn tại và lưu truyền qua thời gian”. Nếu xem nỗi buồn này của
ông là “Nỗi buồn sâu sắc của nghệ thuật” thì có thể nói hai hình thái thời gian
“chiều” và “đêm” chính là những tín hiệu nghệ thuật biểu trưng nỗi buồn riêng
biệt của chủ thể trữ tình.
Nắng dậy thì là tập thơ thứ tư của Nguyễn Ngọc Hạnh. Từ
tập thơ đầu đến nay, đã gần nửa thế kỷ, Nguyễn Ngọc Hạnh cày bừa trên cánh đồng
chữ nghĩa mà thơ ông vẫn vẹn nguyên vẻ mộc mạc, giản dị và cảm xúc người thơ vẫn
mãnh liệt chân thành. Và, để thơ mình được sống trong lòng bạn đọc, ông từng
tâm niệm “Tôi chỉ biết làm mới mình, bớt đi những thô ráp, quê mùa trên cánh đồng
chữ nghĩa”. Tư duy này đã soi chiếu mỗi bước chân ông đi trên con đường thơ của
mình. Thời gian trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh vốn là đề tài quen thuộc nhưng khi đọc
tập thơ “Nắng dậy thì”, chắc chắn bạn đọc không thấy nhàm chán bởi đã nhận ra dấu
vân tay Nguyễn Ngọc Hạnh để lại trên mỗi hình ảnh, mỗi ngôn từ.
Chú thích:
* Nắng dậy thì, thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, Nxb Hội Nhà Văn, 2023
11/12/2025
Tuệ Mỹ
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét