Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng
trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng
bậc nhất thế kỷ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến
tranh và thay đổi của thời đại.
Về thể loại, nó thường được đồng thuận là tiểu thuyết trưởng
thành (bildungsroman), nhưng bên cạnh đó nó cũng đồng thời là một khảo sát về
văn hóa, văn minh, tôn giáo, đạo đức và chủ nghĩa nhân văn thường được thảo luận
trong những năm đầu Thế chiến thứ nhất. Ngoài ra, nó cũng là một câu chuyện
châm biếm về những gì xảy ra khi các nhân vật bị giam cầm nhiều tháng liền
trong một dưỡng đường trên dãy núi Alps, bị cắt đứt khỏi cuộc sống “đồng bằng”
theo cả nghĩa đen (địa lý) lẫn nghĩa bóng (tinh thần/ hiện sinh).
Trên thực tế, Thomas Mann bắt đầu viết tiểu thuyết ngay sau
khi đến thăm vợ mình, Katia Mann, ở Davos – nơi bà đang hồi phục sau căn bệnh
phổi. Ngay lập tức ông bị ấn tượng bởi bối cảnh này, và định mang nó vào một tiểu
thuyết ngắn sẽ là “đối trọng” với Chết ở Venice. Nhưng theo thời gian,
Mann nhận thấy câu chuyện đang mở rộng vượt xa khuôn khổ bản thân dự tính.
Trong khi cuốn này dù ngắn nhưng nặng nề, u ám với những khát khao bi thảm, thì
Núi thần lại có dung lượng gần như sử thi, xoay quanh nhân vật Hans Castorp
thay vì dành 3 tuần tại dưỡng đường ấy như kế hoạch ban đầu, thì cuối cùng sẽ
“kẹt lại” đây lên đến 7 năm.
Cuốn sách có sức hấp dẫn vượt thời gian, rất hài hước và được
độc giả ở khắp mọi nơi yêu thích vì chứa đựng những tình tiết bất ngờ, kết hợp
với nghiên cứu khoa học, những cuộc tranh luận triết học phức tạp, nỗi ám ảnh
lãng mạn và từng trang sách là những mô tả vô cùng công phu về mọi thứ: từ dãy
núi Alps đến những trạng thái tâm lý phức tạp. Trong khi đó cốt lõi của nó là một
ý tưởng hấp dẫn mà nhân vật chính non nớt và người kể chuyện chán chường đã
dành ra hàng trăm trang để theo đuổi mà không có được bất kỳ câu trả lời chắc
chắn nào: ý nghĩa của thời gian. Cuốn sách đã quyến rũ nhiều thế hệ độc giả nói
tiếng Anh, một phần nhờ vào bản dịch xuất sắc của Helen Tracy Lowe-Porter
(1927) và John E. Woods (1995).
Mặc dù có thể đọc và thưởng thức Núi thần mà không cần hiểu
biết sâu sắc về bối cảnh lẫn chuyện “hậu trường”, nhưng những ai có khả năng
đào sâu hơn vào kho tàng tư liệu lịch sử và triết học sẽ hiểu được nó thêm phần
sâu sắc. Điều này đôi khi có thể gây bối rối cho những độc giả không am hiểu bối
cảnh văn hóa và chính trị của nước Đức trong những thập niên đầu thế kỷ 20. Mặc
dù có rất nhiều nghiên cứu học thuật xuất sắc về tiểu thuyết này, nhưng vẫn còn
thiếu một cuốn cẩm nang hướng dẫn trực tiếp cho tất cả mọi người ngoài giới học
thuật.
Trong đó The Master of Contradictions (tạm dịch: Bậc thầy mâu
thuẫn) của Morten Høi Jensen chính là tác phẩm mà những người nói tiếng Anh,
yêu thích tiểu thuyết của Mann, cần có. Nó không đơn thuần là một cuốn tiểu sử,
một tác phẩm lịch sử, hay một bài luận về tiểu thuyết này; nhưng lại cung cấp đủ
những yếu tố để độc giả của Núi thần có thể “nhập vai” vào đúng bối cảnh khi nó
được viết. Jensen nhìn nhận Mann như một hiện thân của thời đại: vừa là một tài
năng văn chương vĩ đại, vừa là một người bình thường (theo mọi nghĩa) đang vật
lộn để tìm kiếm định hướng trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt biến động của
nước Đức. Như ông đã chứng minh, những dấu vết của cuộc đấu tranh đó đã để lại
dấu ấn trên các trang sách.
Bắt đầu bằng mạch truyện tiểu sử, đặc biệt nhấn mạnh vào chuyến
thăm Davos đầu tiên của Mann, Jensen sau đó khảo sát những khía cạnh nổi bật
hơn trong hoạt động của nhà văn người Đức trong những năm trước đó, trùng khớp
với quá trình sáng tác cuốn sách. Những khía cạnh này bao gồm sự cạnh tranh
liên tục của Mann với anh trai Heinrich – một nhà văn sung mãn hơn nhiều, người
có quan điểm mạnh mẽ về trách nhiệm của người nghệ sĩ trong việc lên tiếng chống
lại những tệ nạn xã hội và bất ổn chính trị, người trái ngược hoàn toàn với em
trai vốn bảo thủ và kín tiếng hơn. Jensen đã vẽ nên những mối liên hệ sâu sắc
giữa các nhân vật và cốt truyện của Núi thần với những vấn đề mà Mann đang phải
trải qua trong cuộc sống của mình.
Ví dụ, tác giả này đã kết nối “sự đồng cảm với cái chết” được
gán cho Castorp với những dòng trong một bức thư Mann viết cho anh trai, trong
đó ông nói bản thân ghen tị với Heinrich vì có “quan điểm học thuật và chính trị
đúng đắn”, trong khi mình chỉ có “một sự đồng cảm ngày càng gia tăng với cái chết”.
Jensen cũng thảo luận về việc Mann sử dụng thuật ngữ “zivilisationsliterat” như
một cách khinh miệt để chỉ anh trai, mà nó có nghĩa là “người đàn ông của văn
minh”…
Xuyên suốt tác phẩm, Jensen đã khéo léo lồng ghép những cuộc
thảo luận về bản thân cuốn sách với bối cảnh lịch sử, và mặc dù ông đưa ra lời
cảnh báo rằng tiểu thuyết của mình “không có ý định cung cấp bất cứ phân tích
toàn diện nào về Núi thần” lẫn khẳng định bản thân “không phải học giả”,
nhưng ông vẫn đề cập đến những điểm quan trọng nhất của tác phẩm. Trên thực tế,
cách tiếp cận tiểu thuyết theo lối “đại chúng” của ông chính là điều mà hầu hết
độc giả sẽ thấy dễ hiểu và rất hữu ích: một cánh cửa mở về cuốn sách này mà
không hàn lâm như một chuyên khảo học thuật.
Người ta thường kết luận người sáng tác các chương đầu của
Núi thần vào năm 1912 không còn là cùng một người đó khi viết những trang cuối
vào năm 1924. Đối với những người dịch sách, điều này dẫn đến khá nhiều vấn đề,
bởi mặc dù cuốn sách có nghệ thuật viết tuyệt vời, có cấu trúc chặt chẽ khi các
mạch truyện gắn bó mật thiết, nhưng nó cũng chứa đựng những giọng điệu, mối bận
tâm và thậm chí là lập trường khác nhau. Sự bất hợp lý này chính là kết quả của
khoảng cách khá xa trong quá trình sáng tác cuốn sách, khi công việc của ông bị
gián đoạn đáng kể trong những năm chiến tranh.
Tuy nhiên, nói như vậy là đánh giá quá thấp tác động của chiến
tranh và hậu quả của nó đối với hầu hết mọi mặt của xã hội Đức và từng công
dân. Trọng tâm cuốn sách của Jensen là một bản tường thuật chi tiết về giai đoạn
đặc biệt phức tạp trong lịch sử quốc gia, từ sự bùng nổ mạnh mẽ của lòng yêu nước
(và tinh thần bài châu Âu) trước chiến tranh, đến sự xuất hiện lạnh lẽo của bạo
lực chính trị trong giai đoạn hỗn loạn, suy thoái đạo đức sau khi cuộc chiến kết
thúc. Là một nhà văn “tư sản” của thời kỳ này, Mann đã cố gắng tránh xa chính
trị, nhưng rồi nhận ra sự rút lui này thực chất là một động thái mang tính
chính trị hơn bao giờ hết.
Không thể tập trung vào Núi thần trong những năm tháng hỗn loạn
và cũng muốn tham gia tích cực hơn vào các cuộc tranh luận đương đại, Mann đã tạm
dừng việc viết lách ở đâu đó khoảng 1/6 cuốn sách, từ đó dành những năm chiến
tranh để sáng tác Reflections of a Nonpolitical Man đồ sộ, dài gần 600 trang để
nói về những thực tế chính trị diễn ra quanh mình. Lúc sách ra mắt cũng chính
là khi nước Đức tuyên bố bại trận vào năm 1918, vì vậy mà nó dường như không
còn giá trị. Do đó Mann đã viết thư cho biên tập viên để ngăn việc xuất bản nó.
Trở lại với Núi thần, ông đã ngồi xuống viết 3 chương cuối
dài khoảng 800 trang với những quan điểm giờ đã thay đổi, khi niềm tin vào sự ổn
định của các giá trị tư sản bị lung lay dữ dội, nhường chỗ cho cái nhìn bi quan
hơn. Đối với nhiều cuốn sách, sự thay đổi đáng kể về niềm tin cơ bản của tác giả
có thể dẫn đến hậu quả thảm khốc; nhưng ở đây, điều đó chỉ càng làm tác phẩm trở
nên thú vị. Nói thế bởi lẽ ở đó người ta có thể liên tục thấy những quan điểm
khác nhau bị thử nghiệm và bác bỏ, từ đó bản chất của thời đại hiện lên qua cuộc
chất vất của các nhân vật. Do đó không ngoa khi nói Thomas Mann chính là bậc thầy
của nghịch lý: của những niềm tin liên tục bị xô đổ, hình thành, thoái trào rồi
lại xuất hiện dưới một dạng mới. Và không đâu khác, Núi thần chính là tác phẩm
sở hữu trong mình đầy ắp mâu thuẫn ấy.
12/12/025
Ngô Minh
Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét