Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
1. Giới thiệu chung
Trong thơ văn của các nhà Nho mười thế kỷ thời trung đại, có
thể thấy các vị chịu ảnh hưởng sâu đậm ba hệ tư tưởng của phương Đông bấy giờ
là Nho – Phật – Lão. Và cho dù các vị được đào luyện trong cửa Khổng sân Trình,
nhưng trong tư tưởng và quan điểm của các vị không chỉ thuần túy là Nho giáo,
mà các vị còn học tập, nghiên cứu và ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật
giáo, Lão – Trang và cửu lưu (chín trường phái tư tưởng triết học ở Trung Quốc
thời cổ đại), cùng văn hóa dân gian bản địa. Cụ Đồ Chiểu cũng không ngoại lệ. Ở
cụ Đồ, ngoài tư tưởng Nho giáo đã được học tập, cụ ít nhiều còn chịu ảnh hưởng
tư tưởng Phật và Lão – Trang cùng văn hóa dân gian. Trước đây, có vài ba bài viết
đã khẳng định cụ Đồ có chống đối, bài xích Phật giáo, nhất là trong tác phẩm
Dương Từ – Hà Mậu(1). Sự thật có đúng như thế không? Bài viết này sẽ đi sâu tìm
hiểu về cái nhìn/quan điểm của danh nhân văn hóa Nguyễn Đình Chiểu về Phật giáo
được thể hiện trong ba tác phẩm nổi tiếng: Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu, Ngư
tiều y thuật vấn đáp.
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước. Một nhà thơ đạo lý tỏa sáng đồng thời là ngọn cờ đầu của dòng văn học yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược hồi nửa cuối thế kỷ XIX; một thầy giáo mẫu mực với lý tưởng nhân nghĩa, đào tạo những con người trung hiếu tiết nghĩa vẹn tròn; một thầy thuốc ngời sáng coi trọng y đức. Văn nghiệp của cụ có thể chia thành hai giai đoạn sáng tác, lấy cái mốc là trước và sau khi Pháp xâm lược nước ta (1858) với sự chuyển hướng về tư tưởng nghệ thuật trong tác phẩm của cụ. Ở đây chỉ tập trung tìm hiểu về quan điểm của cụ đối với Phật giáo mà thôi.
2. Quan điểm về Phật giáo trong tác phẩm Lục Vân Tiên
Lục Vân Tiên là tác phẩm được cụ Đồ viết trước khi Pháp xâm
lược (1858). Tác phẩm chở đạo, ca ngợi đạo lý, cụ thể là trung hiếu tiết nghĩa,
những phẩm cách mà con người cần có theo lý tưởng của Nho giáo. Riêng về Phật
giáo, cụ nhìn Phật giáo theo nhận thức chung của dân gian, rất gần gũi với quan
niệm của dân gian: nhân quả báo ứng, nhân nào quả nấy, ở hiền gặp lành, gieo
gió gặt bão, được thể hiện rất rõ nét trong tác phẩm. Những người hiền lương
như Vân Tiên, Nguyệt Nga, Tiểu đồng, Vương Tử Trực, Hớn Minh dù gặp nhiều tai
ách, nhưng cuối cùng được bình yên, sống hạnh phúc. Trong khi đó những người
như vợ chồng Võ công tráo trở lật lọng thì sinh bệnh mà chết sớm (bất đắc kỳ tử);
mẹ con Võ Thể Loan thì bị cọp tha bỏ vào hang đá bịt bùng mà trước đây Võ công
đã lừa bỏ Vân Tiên vào đó. Trịnh Hâm, Bùi Kiệm thì bị quả báo, chết thảm.
Quan điểm này được thể hiện ở nhiều nhân vật trong truyện,
nhưng tập trung rõ nhất là ở hai nhân vật Kiều Nguyệt Nga và Lục Vân Tiên.
Chẳng hạn, Kiều Nguyệt Nga là người lương thiện, thảo ngay,
chung thủy nên được Phật Bà Quan Âm phù hộ độ trì, nhiều lần được tai qua nạn
khỏi. Trong tâm thức của người Việt xưa nay, Đức Phật Bà Quan Âm là biểu tượng
cho tình thương yêu mênh mông bao la như biển cả, như tấm lòng bao dung của người
mẹ hiền đối với con cái. Phật Bà luôn lắng nghe những âm thanh để cứu độ những
người thiện lương thoát khỏi những kiếp nạn tai ách. Mỗi khi bị nạn, người ta
thường niệm danh xưng của Phật Bà để cầu nguyện. Câu niệm “Nam-mô đại từ đại bi
cứu khổ cứu nạn linh cảm ứng Quán Thế Âm Bồ-tát” mà những người theo Phật hay
xưng tụng đã nói rõ điều vừa nêu.
Lần thứ nhất lúc nàng bị triều đình bắt đi cống sang nước Ô
Qua, đến biên ải (ải Đồng) nàng đã gieo mình tự vẫn: “Nguyệt Nga nhảy xuống giữa
vời/ Sóng thần đưa đẩy vào nơi bãi rày/ Bóng trăng vừa khuất ngọn cây/ Nguyệt
Nga hồn hãy chơi rày âm cung”(2). Liền ngay sau đó, Phật Bà Quan Âm ứng hiện
cứu giúp đưa nàng vào vườn hoa của nhà Bùi công: “Quan Âm thương đứng thảo
ngay/ Bèn đem nàng lại bỏ rày vườn hoa/ Dặn rằng: Nàng hỡi Nguyệt Nga/ Tìm nơi
nương náu cho qua tháng ngày/ Đôi ba năm nữa gần đây/ Vợ chồng sao cũng sum vầy
một nơi”(3).
Lần thứ hai, khi tá túc tại nhà Bùi công, nàng bị cha con nhà
này ép duyên lấy Bùi Kiệm, nàng tìm cách lần lữa để tính kế thoái thác, rồi lúc
canh ba nửa đêm, nàng trốn khỏi nhà Bùi công. Trên đường lẩn trốn trong cảnh “Hai
bên bờ bụi rậm rì/ Đêm khuya vắng vẻ gặp khi trăng lờ/ Lạ chừng đường sá bơ vơ/
Có bầy đom đóm sáng nhờ đi theo”(4). Nàng đi đến lúc rạng đông, đang ngồi nghỉ
chân thì gặp một bà lão theo lời Phật Quan Âm chỉ dẫn để đến giúp đỡ nàng, đưa
nàng về nhà lão ở Ô Sào: “Nguyệt Nga đi đặng hồi lâu/ Tìm nơi bàn thạch
ngõ hầu nghỉ chưn/ Người ngay Trời Phật cũng vưng/ Lão bà chống gậy trong rừng
bước ra/ Hỏi rằng: Nàng phải Nguyệt Nga/ Khá tua gắng gượng về nhà cùng ta/ Khi
khuya nằm thấy Phật Bà/ Người đà mách bảo nên già tới đây/ Nguyệt Nga bán tín
bán nghi/ Đành liều nhắm mắt theo đi về nhà/ Bước vào thấy những đàn bà/ Làm
nghề bô vãi lụa là mà thôi/ Nguyệt Nga đành dạ ở rồi/ Từ đây mới biết nổi trôi
chốn nào/ Hỏi thăm ra chốn Ô Sào/ Quan san mấy dặm đi vào tới nơi”(5).
Lần thứ ba, lúc trước, Phật Bà Quan Âm đã báo mộng cho Nguyệt
Nga, giờ đây đã thành hiện thực. Vân Tiên và Nguyệt Nga hội ngộ tại nhà bà lão.
Lúc này, Vân Tiên truy đuổi tướng giặc Cốt Đột rồi giết hắn, sau đó chàng bị lạc,
tình cờ vào nhà bà lão để hỏi đường, nhờ vậy mới gặp lại Nguyệt Nga, y như Ngưu
Lang và Chức Nữ gặp nhau trong đêm thất tịch mùng bảy tháng Bảy hàng năm nhờ bầy
quạ bắt cầu ô thước: “Đoạn này tới thứ Nguyệt Nga/ Ở đây tính đã hơn ba
năm rồi/ Đêm khuya chong ngọn đèn ngồi/ Chẳng hay trong dạ bồi hồi việc chi?/
Quan Âm thuở trước nói chi/ Éo le phỉnh thiếp lòng ghi nhớ hoài/ Đã đành đá nát
vàng phơi/ Đã đành xuống chốn dạ đài gặp nhau/ Khôn trông mồng bảy đêm thu, /
Khôn trông bầy quạ đội cầu đưa sao. / Phải chi hỏi đặng Nam Tào, / Đêm nay cho
đến đêm nào gặp nhau/ Nguyệt Nga gợn giải cơn sầu/ Xảy nghe lạc ngựa ở đâu tới
nhà/ Kêu rằng: Ai ở trong nhà/ Đường về quan ải chỉ ra cho cùng/ Nguyệt Nga ngồi
sợ hãi hùng/ Vân Tiên xuống ngựa thẳng xông bước vào/ Lão bà lật đật hỏi chào:/
‘Ở đâu mà tới rừng cao một mình?’/ Vân Tiên mới nói sự tình:/ ‘Tôi là quốc trạng
triều đình sai ra/ Đem binh dẹp giặc Ô Qua/ Lạc đường đến hỏi thăm nhà bà đây’/
Lão bà nghe nói sợ thay:/ ‘Xin ông chớ chấp tôi nay mụ già’/ Vân Tiên ngồi nhắm
Nguyệt Nga/ Lại xem bức tượng lòng đà sinh nghi/ Hỏi rằng: ‘Bức ấy tượng chi/
Khen ai khéo vẽ dung nghi giống mình/ Đầu đuôi chưa rõ sự tình/ Lão bà khá nói
tánh danh cho tường’/ Lão bà chẳng dám lời gian:/ ‘Tượng này vốn thiệt chồng
nàng ngồi đây’/ Tiên rằng: ‘Nàng xích lại đây/ Nói trong tên họ tượng này ta
nghe’/ Nguyệt Nga lòng rất kiêng dè/ Mặt thời giống mặt, còn e lạ người/ Ngồi
che tay áo hổ ngươi/ Vân Tiên thấy vậy mỉm cười một khi/ Rằng: ‘Sao nàng chẳng
nói đi/ Hay là ta hỏi động chi chăng là?’/ Nguyệt Nga khép nép thưa qua:/ ‘Người
trong bức tượng tên là Vân Tiên/ Chàng đà về chốn cửu tuyền/ Thiếp lăm trọn đạo
lánh miền gió trăng’/ Vân Tiên nghe nói hỏi phăn:/ ‘Chồng là tên ấy, vợ rằng
tên chi?’/ Nàng bèn tỏ thiệt một khi/ Vân Tiên vội vã xuống quỳ vòng tay/ Thưa
rằng: ‘May gặp nàng đây/ Xin đền ba lạy sẽ bày nguồn cơn/ Để lời thệ hải minh
sơn/ Mang ơn trước phải đền ơn cho rồi/ Vân Tiên vốn thiệt là tôi/ Gặp nhau đây
đã phỉ rồi ước mơ/ Nguyệt Nga bảng lảng bơ lơ/ Nửa tin rằng bạn nửa ngờ rằng
ai/ Thưa rằng: ‘Đã thiệt tên ngài/ Khúc nôi xin cứ đầu bài phân qua’/ Vân Tiên
dẫn tích xưa ra/ Nguyệt Nga khi ấy khóc òa như mưa/ Ân tình càng kể càng ưa/ Mảng
còn bịn rịn trời vừa sáng ngay”(6). Trong khi đó, Hớn Minh dẫn quân đi tìm
và gặp Vân Tiên, được biết sự tình, Hớn Minh đề nghị Vân Tiên cho mình ra mắt
chị dâu. Sau đó, cả hai hồi triều, sau khi Nguyệt Nga đề nghị Vân Tiên về triều
tâu sự tình lên nhà vua; còn Vân Tiên thì dặn dò Nguyệt Nga ở lại ít ngày, sau
khi tấu trình lên nhà vua xá tội thì sẽ rước nàng về.
Còn với nhân vật Lục Vân Tiên thì thông qua cuộc đời, số phận
của chàng, người đọc sẽ thấy rất rõ tư tưởng nhân quả, ở hiền gặp lành này. Có
thể tóm lược như sau:
1. Vân Tiên gặp Kiều Nguyệt Nga (câu 1-286): Vân Tiên là một
Nho sinh, chàng từ giã thầy lên kinh ứng thí (câu 1-90). Trên đường đi, chàng gặp
bọn cướp núi cướp của bắt người, chàng ra tay nghĩa hiệp đánh tan bọn cướp, giải
cứu hai cô trò Nguyệt Nga. Nguyệt Nga nguyền gá nghĩa trăm năm để tạ lòng chàng
(câu 91-286).
2. Vân Tiên bị tai nạn và được cứu giúp (câu 287-1264): Vân
Tiên ghé về thăm nhà (câu 287-330). Vân Tiên thăm gia đình Võ Công, người đã
đính ước gả Võ Thể Loan cho chàng (câu 331-418). Trên đường lên kinh, Vân Tiên
kết bạn với Vương Tử Trực, gặp ông Quán nghe ông nói về lẽ ghét thương, và gặp
Bùi Kiệm, Trịnh Hâm (câu 419-546). Đến kinh, chưa kịp thi thì Vân Tiên được tin
mẹ mất, chàng cùng tiểu đồng trở về nhà, trên đường về chàng mang bệnh bị mù mắt
vì khóc thương mẹ (câu 547-652). Tiểu đồng hết lòng chạy chữa thuốc thang cho
thầy, nhưng bị lừa, tiền mất bệnh còn (câu 653-844). Tiểu đồng bị Trịnh Hâm lừa
trói vào rừng, được “sơn quân” cứu, tưởng Vân Tiên đã chết, nguyện trọn bề “che
chòi giữ mả” (câu 845-930). Vân Tiên bị Trịnh Hâm hãm hại đẩy xuống sông, được
giao long và vợ chồng ông chài cứu sống (câu 931-1000). Vân Tiên bị cha con Võ
Thể Loan bội ước, đem bỏ vào hang Thương tòng, được “du thần” và ông Tiều cứu
(câu 1001-1118). Vân Tiên gặp lại Hớn Minh (câu 1119-1196). Võ công bị Vương Tử
Trực mắng nhiếc, xấu hổ sinh bệnh rồi chết (câu 1197-1264).
3. Nguyệt Nga bị cống Hồ, quyết một lòng chung thủy với Vân
Tiên (câu 1265-1664): Nguyệt Nga quyết giữ tiết trọn đời với Vân Tiên (câu
1265-1360). Nguyệt Nga bị triều đình bắt đi cống giặc Ô Qua, đến biên ải nàng
nhảy xuống sông tự tử, được Phật Quan Âm cứu đưa vào vườn hoa nhà Bùi công (câu
1361-1532). Nguyệt Nga bị Bùi Kiệm ép duyên, trốn khỏi nhà Bùi công, được Phật
Quan Âm báo mộng, bà lão trong rừng đến đưa nàng về ở với bà (câu 1533-1664).
4. Vân Tiên và Nguyệt Nga trùng phùng, nên nghĩa vợ chồng
(câu 1665-2082): Vân Tiên được thuốc tiên mắt lại sáng ra, về thăm nhà, đi thi
đỗ Trạng nguyên, đánh tan giặc Ô Qua, bị lạc vào rừng (câu 1665-1806). Vân Tiên
gặp Nguyệt Nga tại nhà bà lão trong rừng, trở về triều báo công, gặp lại tiểu đồng,
tạ ơn ông Ngư, ông Tiều, kẻ gian ác bị đền tội (câu 1807-2074). Vân Tiên cưới
Nguyệt Nga, sống ấm êm hạnh phúc đời đời (câu 2075-2082).
Qua lược thuật, có thể thấy Vân Tiên là người trung hiếu nhân
nghĩa thiện lương vẹn toàn. Những người hội đủ những phẩm cách này theo quan niệm
của dân gian là những người luôn được quý nhân phù trợ. Chính vì thế mà qua bao
lần bị nạn: bị bệnh mù mắt, bị gia đình Võ công bội ước, bị bắt bỏ vào hang, bị
Trịnh Hâm đẩy xuống sông…, nhưng cuối cùng Vân Tiên đã vượt qua tất cả là nhờ
cái đức độ, hiền lương của chàng. Nhân vật Vân Tiên là hiện thân và cũng là ước
mơ lý tưởng của cụ Đồ. Những người ăn ở thiện lương sẽ được Phật trời phù hộ độ
trì, trái lại những người sống bạc ác, tráo trở lật lọng sẽ bị quả báo. Đây là
quan niệm của dân gian về quả báo nhãn tiền, đồng thời cũng là quan niệm của Phật
giáo về nhân quả nghiệp báo. Vân Tiên đã được du thần, được giao long, được ông
Ngư, ông Tiều cứu giúp, được thuốc tiên chữa bệnh làm cho mắt sáng trở lại, rồi
đi thi đỗ Trạng, đánh giặc cứu nước, gặp lại Nguyệt Nga, được triều đình ban
thưởng, cuối cùng được sống ấm êm hạnh phúc trọn đời “Sinh con sau nối gót lân
đời đời” (câu 2082). Còn những người bạc ác, bất lương như gia đình Võ công,
Bùi Kiệm, Trịnh Hâm thì bị quả báo. Đây là chuyện nhân quả báo ứng. Dân gian
còn cho rằng lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt, cũng xuất phát từ quan
niệm trên.
Có thể thấy quan điểm của cụ Đồ Chiểu về Phật giáo trong truyện
thơ Nôm Lục Vân Tiên là bắt nguồn từ văn hóa dân gian có sự kết hợp với quan niệm
nhân quả nghiệp báo của nhà Phật theo nhận thức của người bình dân.
3. Quan điểm về Phật giáo trong tác phẩm Dương Từ – Hà Mậu
Tác phẩm được viết trước khi Pháp xâm lược (khoảng năm 1851)
và hoàn chỉnh sau khi Pháp chiếm đóng Nam kỳ (từ sau năm 1862 trở đi). Theo nhà
giáo Nguyễn Văn Nghĩa thì tác phẩm này được cụ Đồ đọc cho ông Nhiêu Cơ chép lại:
“Khi cụ Đồ Chiểu ở lại Tân Thuận Đông, tổng Duy Hòa Hạ trong hai, ba năm ở nhà
ông Nhiêu Lê Quang Hạ, kêu là Nhiêu Cơ. Ở đấy, muốn vui lòng ông bạn, lên tiếng
bênh vực đạo Nho, cụ Đồ Chiểu đọc quyển Dương Từ – Hà Mậu cho ông Nhiêu Cơ chép”(7).
Cũng như truyện thơ Lục Vân Tiên, truyện thơ Dương Từ – Hà Mậu
là tác phẩm được cụ Đồ viết ra nhằm mục đích chuyên chở và quảng bá đạo lý,
theo quan niệm “văn dĩ tải đạo”. Với cụ Đồ, “đạo” ở đây không chỉ là đạo lý của
Nho gia được ghi chép trong Thánh kinh hiền truyện, mà còn là đạo lý của nhân
dân Việt Nam. Truyện đề cao Nho giáo và cho rằng đạo Tiên nằm trong và thuộc về
đạo Nho, kịch liệt bài xích Công giáo, ít nhiều có nhắc Phật giáo. Đó là cái
nhìn của một nhà Nho đứng trên quan điểm lập trường dân tộc, cụ đã xem Công
giáo, Phật giáo là ngoại đạo, là dị đoan (khác mối) bởi ngoại nhập, nhất là
trong tâm thức của cha ông ta lúc bấy giờ đã nhận thức rằng Pháp đã dùng các
giáo sĩ sang truyền đạo để nắm tình hình, sau đó mang quân đi xâm lược nước ta,
nên cụ mới công kích, phê phán Kitô giáo (đạo đi trước, nhà nước theo sau), tiện
thể nhắc đến Phật giáo. Nhưng sự công kích bài xích này đối với nhà Phật, cụ Đồ
không hề phê phán tư tưởng giáo lý Phật-đà, mà cụ chỉ tập trung phê phán bài
xích đội ngũ sư sãi không nghiêm cẩn gìn giữ giới luật, làm những việc trái với
đạo lý nơi chốn thiền môn. Như vậy trong tác phẩm, cụ Đồ không phê phán giáo lý
tư tưởng Phật giáo mà chỉ phê phán Tăng đoàn. Theo tôi đây cũng là một sự phê
phán tích cực, nhằm bảo vệ Chánh pháp. Và chắc chắn rằng, với những bậc chân tu
phạm hạnh, sẽ rất đồng tình và ủng hộ sự phê phán này của cụ.
Có thể tóm lược câu chuyện như sau: Tác phẩm dài câu 3.456
câu(8) (theo văn bản của Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sĩ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên
khảo và chú giải), được chia làm 4 đoạn:
1. Dương Từ, Hà Mậu hoài nghi về đạo mà đi cầu mối đạo (câu
1-896): Hà Mậu theo đạo cầu Chúa cho có con, vợ nghi bị quỷ thai, bèn theo danh
y Châu Kỷ đến Tùng Lãnh cầu thuốc tiên của đạo sĩ Lý Tri Niên. Nam Tào, Bắc Đẩu
cho biết vợ Hà Mậu ốm nghén, sau sẽ sinh hai gái là Tuyết, Băng, và khuyên
Châu, Hà đừng lầm đường theo đạo Gia Tô. Hà Mậu về nhà thì vợ đã sinh hai gái,
thấy việc linh thiêng muốn tìm hiểu Tiên đạo. Dương Từ theo đạo Phật, vợ chồng
ra sức khấn vái, bố thí cầu con, sau vợ là Đỗ thị sinh được hai trai là Dương
Trân, Dương Bửu. Cảm ơn Phật tế độ, Dương Từ xuất gia đầu Phật ở Phù-đồ-sa, lấy
hiệu là Thiện Trai. Vợ con ở nhà sống nheo nhóc. Trưởng tộc đặt tên cho con Hà
Mậu là Xuân Tuyết, Thu Băng. Hà Mậu trở về, hoài nghi về đạo Thiên chúa, quyết
cầu Tiên đạo. Hà Mậu gặp Lý Tri Niên, được Lý đưa gặp sư phụ là Lão Nhan Tử Thất
tại chùa Linh Diệu. Dương Từ chán cảnh am vắng, xin đi vân du. Hà Mậu đi đến
đâu cũng bị người đời chỉ trích bọn sư sãi trốn nhiệm vụ, ươn hèn, lợi dụng nhà
chùa để làm xằng, đồng thời nêu gương cách mạng của nhân dân, tinh thần trung
kiên, quyết vì đời mà dẹp tan những bất công phi nhân phi nghĩa và biết giữ
mình trong sạch, không để thời thế khuất anh hùng, không để đời lợi dụng, lánh
cõi đời ô trọc, nhưng vẫn theo đời để chờ phen giúp đời, lấy hành động của mình
mà cải tạo đời cho đời ngày một tốt đẹp hơn. Sau cùng Dương Từ đến chùa Linh Diệu.
2. Dương Từ, Hà Mậu được Lão Nhan Tử Thất nói cho rõ lẽ chánh
tà của tôn giáo (câu 907-2266): Lão Nhan Tử Thất dùng phép cho hai người lên
Thiên đường và xuống địa ngục. Tại đây, Dương Từ, Hà Mậu không thấy ai cùng đạo
với mình được lên Thiên đường. Hai người chỉ thấy Khổng Tử cùng các đại biểu đi
dự hội. Tại địa ngục, Dương Từ gặp đủ các hạng người bất chính, lừa đảo nhân
dân bị trừng phạt, nào là thầy pháp, thầy địa lý, bọn cho vay nặng lãi, bọn thơ
lại ở cửa quan, bọn loạn luân, dâm bôn, trộm cướp, bọn thầy thuốc cùng các bà đỡ
bất lương. Dương Từ, Hà Mậu được Lão Nhan Tử Thất giảng giải lẽ nguy hại, tà vạy
của Công giáo và Phật giáo, khuyên hai người trở về chánh đạo, thực thi đạo lý
trong đời sống. Dương Từ, Hà Mậu nghe ra, quyết tâm đi theo Nho đạo.
3. Gia đình Dương Từ, Hà Mậu được những người chánh đạo giúp
đỡ. Con cái của họ trở nên trai tài gái tốt (câu 2267-3194): Xuân Tuyết, Thu
Băng quyết không theo đạo Thiên Chúa, bỏ nhà đi tìm cha. Tần Khanh phụng mệnh Tấn
vương đi giúp dân miền Dự Châu bị mất mùa, tình cờ gặp Xuân Tuyết, Thu Băng rồi
nhận hai trẻ làm con nuôi. Tần Khanh nhậm chức Tổng trấn Hà Đông. Gia đình
Dương Từ sa sút, được Đỗ Khoái là em vợ bao bọc. Dương Trân, Dương Bửu được
Trình Kiệt dạy dỗ. Dương Trân, Dương Bửu đi tìm cha, không gặp, trở về tiếp tục
học tập. Dương Trân, Dương Bửu đi thi, kỳ thi bị hoãn, buồn rầu trở về, đề thơ
sen nở muộn ở cổ miếu để giải bày tâm sự cùng cảnh ngộ. Tần Khanh dẹp yên giặc
Tây Châu trở về, thấy thơ Trân, Bửu ở cổ miếu, Tần Khanh truyền cho quan huyện
Trần Doan đứng ra làm mai cho Trân, Bửu kết duyên cùng Xuân Tuyết, Thu Băng.
Nhà vua mở khoa thi, Dương Trân đỗ Bảng nhãn, Dương Bửu đỗ Thám hoa. Hai người
vinh quy bái tổ, làm văn tế cha.
4. Dương, Hà hai họ kết tình thông gia. Dương Từ, Hà Mậu cùng
các tín đồ Công giáo, Phật giáo trở về vơi chánh đạo (câu 3195-3456): Dương Từ,
Hà Mậu trở về quê cũ. Lão Nhan Tử Thất báo cho hai họ biết hai họ sẽ kết tình
thông gia, lo giữ gìn nhân luân. Dương Từ trở về nhà cho con uống thuốc tiên khỏi
bệnh. Hà Mậu trở về nhà, vợ chết, con gái làm con nuôi Tần Khanh. Hà Mậu khuyên
con cháu từ bỏ đạo Thiên Chúa. Dương Từ, Hà Mậu được nhà vua mời vào triều hỏi
việc. Tấn Vương ban dụ cấm đạo Thiên Chúa, đạo Phật, truyền lệnh cho Tần Khanh
đứng ra lo việc chủ hôn cho hai họ Dương, Hà. Hai họ Dương, Hà kết tình thông
gia. Các tín đồ Công giáo, Phật giáo thấy báo ứng cha lành con thảo, cùng nhau
bàn luận, tự nguyện bỏ dị đoan theo đường nhân nghĩa.
Việc các nhân vật chính và các tín đồ tự nguyện từ bỏ dị đoan
theo đường nhân nghĩa thể hiện quan điểm lập trường của tác giả là đề cao Nho
giáo rõ nét. Với đạo Tiên, tức Đạo giáo như hiện nay thường gọi, thì theo cụ Đồ,
Nho và Tiên tuy hai mà một, cả hai bổ túc cho nhau. Trong truyện thơ, qua phát
ngôn của Lão Nhan Tử Thất khi trả lời câu hỏi của Dương Từ, Hà Mậu về đạo Nho
và đạo Tiên, cụ Đồ cho rằng đạo Tiên thuộc đạo Nho, nằm trong đạo Nho, dù mỗi đạo
có nhiệm vụ riêng nhưng bổ túc cho nhau: “Tôn sư thong thả đáp rằng:/ Đạo Tiên
cũng ở trong lòng đạo Nho/ Đạo Tiên theo việc nhàn du/ Dạo chơi non nước trầm
phù công danh/ Đạo Nho lo việc kinh doanh/ Giúp trong nhà nước cho minh cương
thường/ Tiên xưa ở chốn thơ đường/ Một câu Nho giáo lòng hằng chẳng quên/ Muốn
theo Tiên đạo cho bền/ Phải tìm Nho đạo mới nên đặng mình”(9).
Với đạo Chúa, dưới cái nhìn của cụ Đồ Chiểu hồi ấy, bất cứ
cái gì gắn với Tây dương là cụ căm ghét đến tận cùng. Nếu trong Văn tế nghĩa sĩ
Cần Giuộc (Văn tế sĩ dân Cần Giuộc), cụ viết: “Sống làm chi theo quân tả đạo,
quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; Sống làm chi ở lính mã tà,
chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ. Thà thác mà đặng câu địch khái,
về theo tổ phụ cũng vinh; Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ” được
đa số nhân dân đồng tình, thì trong sinh hoạt thường nhật của cụ, bà con thường
kể lại rằng cụ rất ghét Tây, không dùng xà phòng của Tây, không đi trên con đường
của Tây làm, v.v. dù xét đến cùng, quan điểm này có vẻ cực đoan. Cho nên trong
tác phẩm Dương Từ – Hà Mậu, cụ công kích Thiên Chúa giáo (Kitô giáo/ Công giáo)
rất kịch liệt, gay gắt cũng là lẽ đương nhiên. Cụ cho rằng, nước ta vốn đã nhiều
mê tín, dị đoan nay lại còn thêm các tôn giáo ở phương Tây du nhập vào nữa: “Dị
đoan xưa đã bời bời/ Lại thêm đạo Phật, đạo Trời lăng nhăng/ Thói đời nhiều việc
băng xăng/ Đố ai biết đặng đạo hằng quy ta/ Đua chen kính chuộng đạo tà/ Một
câu quả báo, muôn nhà đều tu”. Cho nên khi triều đình ra lệnh cấm đạo thì
cụ đồng tình ủng hộ: “Tấn vương dụ xuống khắp kinh/ Cấm theo đạo Phật, đạo
Trời chẳng nên/ Từ đấy trăm họ đều truyền/ Bao nhiêu tả đạo đều truyền đốt
kinh”. Rồi cụ Đồ nêu câu hỏi: Sao đạo của dân tộc mình không theo mà lại
theo đạo ngoại để mồ mả cha ông hoang tàn: “Cớ sao mình ở nước trung/ Lòng theo
nước ngoại còn mong đợi gì/ Ông bà mồ mả bỏ đi/ Gốc mình chẳng kính, lại vì gốc
ai?/ Cửa nhà làng xóm cách già/ Phận gần chẳng đoái, đoái hoài phận xa”. Mà
kết cục không phải như đã truyền tụng là đi tu để được lên Niết-bàn, lên Thiên
đàng. Khi Dương Từ, Hà Mậu được cho lên chiêm ngưỡng cảnh Tiên bồng thượng giới
đã ngạc nhiên không thấy bóng vị Hòa thượng hay người Hòa Lan nào ở đấy: “Rằng:
đi năm cửa Thiên đàng/ Cớ chi không thấy Hòa Lan người nào?/ Cũng không Phật Tổ
ra vào?/ Hay là còn ở nơi nào nữa chăng?”(10). Hóa ra cũng chỉ là lừa gạt
dân chúng mà thôi.
Với đạo Phật, trong tác phẩm Dương Từ – Hà Mậu, cụ Đồ đã có
những câu thơ bộc lộ quan điểm của mình như sau:
Trong Dương Từ – Hà Mậu phần thứ 11, cụ Nguyễn Đình Chiểu viết:
“Ta nghe Phật ở Tây phương/ Vốn người mọi rợ luân thường chẳng ưa”(11), và
“Trên vua dưới đến dân thôn/ Đua nhau kỉnh trọng một môn phù đồ/ Quỳ hương chẩn
tế nam-mô/ Tới lui Tăng đạo ra vô Phật đường/ Bao nhiêu theo đạo Tây phương/
Phước lành chưa thấy tai ương tới mình/ Trên thời nghiêng nước nghiêng thành/
Dưới thời nhà cửa tan tành xiết bao/ Phật linh mấy cứu ai nào/ Người nay sao
hãy lòn vào Thích gia?”(12).
Xin được khẳng định chỗ này là cụ Nguyễn Đình Chiểu đã nhầm,
nhầm đến hai chi tiết. Nguồn gốc đạo Phật ở Bắc Ấn Độ thuộc châu Á (Đông
phương) chứ không phải ở Tây phương. Và Đức Cồ Đàm Tất Đạt Đa (Gautama
Siddhattha) sinh năm 564 TCN là thái tử, con vua Tịnh Phạn (Shuddhodana) đang
cai trị vương triều ở thành Ca-tỳ-la-vệ. Như vậy, Đức Phật xuất thân từ dòng
dõi vua chúa (Sát-đế-lợi), chứ không phái “vốn người mọi rợ” hay “vốn người kẻ
chợ”. Sự nhầm lẫn này có thể là vì trước đó cụ Đồ đã đả kích Công giáo nặng lời
bởi đây là tôn giáo ngoại nhập, khác với chính thống, mà hồi ấy các nhà Nho gọi
là “dị đoan” (khác giềng mối), để đến đây, theo mạch lô-gic, tác giả tiếp tục
viết về đạo Phật như trên đã trích dẫn, bởi đạo Phật cũng là tôn giáo ngoại nhập.
Phần thứ 17 trong Dương Từ – Hà Mậu tác giả đã phê phán các
nhà sư: “Kể từ sống ở dương gian/ Sợ xâu trốn thuế tìm đàng đi tu/ Vô chùa làm
chước cạo đầu/ Trốn vua theo Phật trông cầu rảnh tay”, và “Miệng thời
niệm chữ nam-mô/ Mắt xem gắm ghé mấy cô đi chùa/ Áo cơm khỏi tốn tiền mua/ No
lòng ấm cật lại đua thói xằng/ Tham câu sắc dục ai bằng/ Lòng lang dạ cáo lăng
nhăng trọn đời/ Khi buồn cô vãi đỡ chơi/ Khi vui vợ khách cũng nơi thanh lầu/
Chẳng trừ thịt chó, thịt trâu/ Trối thây giới cấm mặc dầu no say/ Ngoài am giả
chước ăn chay/ Trong liêu rượu thịt ngày ngày liền xơi”(13). Việc phê phán
này là có căn cứ từ thực tế đời sống, không chỉ đến cuối thế kỷ XIX thời cụ Đồ
sống mới diễn ra, mà đã có ngay từ thời Lý – Trần, lúc đạo Phật nước nhà đang
phát triển cực thịnh. Do Nhà nước coi trọng đạo Phật, vua chúa quý tộc tin theo
Phật, cúng dường nhiều ruộng đất, vàng bạc; sư sãi thì được đặc ân không phải
đóng thuế hay sưu dịch và cũng được miễn đi lính, chính vì thế bấy giờ có rất
nhiều người lười biếng, nên vào chùa cạo đầu khoác áo cà-sa, không làm mà vẫn
có cái ăn nơi ở. Do xuất phát từ mục đích vào chùa không chân chính nên số sư
sãi này không tuân thủ giới luật, làm những điều xằng bậy. Sách Đại Việt sử ký
toàn thư, kỷ nhà Trần có chép lúc này “hơn nửa dân số là sư sãi”, do Tăng đoàn
đông đúc nên tệ nạn lộn xộn xảy ra là lẽ đương nhiên. Xưa cũng thế mà nay cũng
vậy. Từ đó các nhà Nho mới có phong trào bài Phật, mà văn bia của Đàm Dĩ Mông đời
Lý, lời bàn của sử gia Lê Văn Hưu “Lý gia sùng Phật luận” trong Đại Việt sử ký,
văn bia của Trương Hán Siêu “Khai Nghiêm tự bi ký” và “Dục Thúy sơn Linh Tế
tháp ký”, của Lê Quát “Thiệu Phúc tự bi ký” đã thể hiện(14). Nửa cuối thế
kỷ XIX ở Nam Kỳ, thời cụ Đồ sống cũng vậy. Cụ đã chứng kiến cảnh xô bồ tệ nạn của
Tăng đoàn trong chốn thiền môn, nên cụ đã viết ra để phê phán và cũng là nhằm
chấn chỉnh Tăng đoàn cần nghiêm cẩn giữ gìn giới luật. Tôi tin chắc những lời
phê phán này của cụ Đồ đã được các bậc chân tu cao tăng thạc đức lúc bấy giờ
hoàn toàn ủng hộ, bởi góp phần làm trong sạch cho Giáo hội như trên tôi có khẳng
định. Việc này ít nhiều cũng đã góp phần vào công cuộc chấn hưng Phật giáo nước
nhà diễn ra hồi những năm 20, 30 thế kỷ XX.
4. Quan điểm về Phật giáo trong tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn
đáp
Ngư tiều y thuật vấn đáp được cụ Đồ viết lúc gần cuối đời,
trước khi cụ về với tổ tiên. Tác phẩm dài 3.642 câu(15). Truyện thơ Nôm kể về
hai nhân vật chính là Bào Tử Phược và Mộng Thê Triền, sau khi thất bại trong cuộc
sống đã ẩn dật làm nghề chài lưới, nghề đốn củi, rồi được các bậc kỳ nhân truyền
thụ y thuật để trị bệnh cứu đời.
Với các cụ nhà Nho khi xưa, bên cạnh học tập Thánh kinh hiền
truyện, thì các vị còn học y, lý, số để phòng khi “tiến vi quan, thối vi sư”, đồng
thời còn học tam giáo, cửu lưu nhằm mở rộng kiến văn, chứ không riêng gì kinh
sách của Nho gia.
Ngư tiều y thuật vấn đáp chứa đựng kiến thức y học chuyên sâu
về mạch, chế dược, vận khí, thương hàn, sản phụ, nhi khoa và đề cao đạo đức người
thầy thuốc, phê phán lối hành nghề tham lam, vô trách nhiệm. Về giá trị, tác phẩm
đề cao y đức của người thầy thuốc, nhắc nhở thầy thuốc không hành nghề vì tiền
bạc hay danh lợi mà phải lấy việc trị bệnh cứu người làm đầu, đồng thời phê
phán răn đe những kẻ lang băm gây hại cho người bệnh. Tác phẩm đã cung cấp những
kiến thức y học sâu sắc, giúp thầy thuốc nắm vững hơn về cách bốc thuốc và điều
trị bệnh qua các phương thang. Bên cạnh, tác phẩm nhấn mạnh giá trị đạo đức của
người thầy thuốc, nhắc nhở người hành nghề phải có lòng thương người, chữa bệnh
không toan tính, không vụ lợi.
Bên cạnh thể hiện tri thức y học thì tác phẩm còn bộc lộ lòng
yêu nước thương dân. Về tư tưởng, tác phẩm thể hiện ba hệ tư tưởng của phương
Đông. Riêng cái nhìn về Phật giáo của tác giả trong tác phẩm, đó là cái nhìn
dung hòa, dung hợp trên cơ sở quan niệm “Tam giáo đồng nguyên”, “Tam giáo nhất
gia”, “Tam giáo nhất thể”. Đây cũng là quan niệm chung của các bậc thức giả Việt
Nam từ cuối thế kỷ II trở về sau. Có quan niệm dung hợp này là bắt nguồn từ tư
duy tổng hợp và triết học chủ toàn, nhất nguyên nhất thể của con người phương
Đông từ thời cổ đại đến trung cận đại.
Mở đầu tác phẩm, cụ Đồ viết: “Ngày nhàn xem truyện ‘Tam
công’/ Thương người hiền sĩ sinh không gặp đời/ Cuộc cờ thúc quý đua bơi/ Mấy
thu vật đổi sao dời, thương ôi!/ Kể từ Thạch Tấn ở ngôi/ U Yên mấy quận cắt bồi
Khiết Đan/ Sinh dân nào xiết bùn than/ U Yên trọn, cũng giao bàn về Liêu/ Theo
trong người kiệt rất nhiều/ Ôm tài giấu tiếng làm tiều, làm ngư/ Nước non theo
thú ẩn cư/ Thờ trên nuôi dưới, nên hư mặc trời/ Lại thêm Phật, Lão đua lời/
Nghĩ lòng người với đạo đời thêm thương!/ Nhà năm ba gánh cương thường/ Phận ai
nấy giữ, trọn giường thời thôi/ Đời vương đời đế xa rồi/ Nay Di mai Hạ biết hồi
nào an!/ Năm trăm vận ở sông Vàng/ Nước còn đương cáu, không màng Thánh nhân/
Đã cam hai chữ ‘tỵ Tần’/ Nguồn Đào tìm dấu, non xuân ruổi miền/ Có tên rằng Mộng
Thê Triền/ Tuổi gần bốn chục, nhân duyên năm lần/ Nhà nghèo ở núi Bạch Vân/ Dẹp
văn theo võ, tách thân làm tiều/ Ngày ngày đốn củi rừng Nghiêu/ Hái rau non Thuấn,
phận nhiều lao đao/ Đông Xuyên lại có người hào/ Tên rằng Tử Phược họ Bào, làm
ngư/ Trong mình ba chục tuổi dư/ Sinh con mười đứa bé thơ thêm nghèo/ Ngược
xuôi trên nước một chèo/ Nay doi mai vịnh, nghề theo lưới chài/ Họ Bào họ Mộng
hòa hai/ Trước theo nghề học đều tài bậc trung/ Chẳng may gặp buổi đạo cùng/
Treo kinh dẹp sử, lánh vòng loạn ly/ Người Nam kẻ Bắc phân đi/ Non sông rẽ bạn
cố tri bấy chầy/ Cách nhau mười mấy năm nay/ Tình cờ lại đặng một ngày gặp đây/
Ngư, Tiều mở tiệc vui vầy/ Ngâm thi, uống rượu, đều bày chí xưa”(16).
Và: “Tiều rằng: sinh chẳng gặp thời/ Thân đà đến ấy,
nghĩ thôi thêm phiền/ Lênh chênh chữ phận, chữ duyên/ Lỡ Tiên, lỡ Phật, lỡ nguyền
nho phong (…)/ Tiều rằng: Hỏi việc bất bình/ Xưa nay nhiều kẻ làm lành làm
duyên/ Những người cùng Phật, cùng Tiên/ Cất chùa, cất miễu, bạc tiền đua nhau/
Những người đắp sửa đường cầu/ Làm chay hát bội, của giàu thí ra/ Ta nghe làm
phúc nhiều nhà/ Cớ sao mắc họa lại ra bần xừ?/ Môn rằng: Đời lắm danh hư/ So
câu ‘tích thiện hữu dư’ sao nhằm?/ Cho hay Tiên, Phật rằng tu/ Cũng trong bảo
dưỡng đương đầu trổ ra (…)/ Ngư rằng: Thời vậy nài sao/ Dù Tiên, dù Phật, bề
nào cũng xong/ Nay ta còn chỗ nghi lòng/ Nghề y, nghề bốc, khác dòng nhau xa/ Cờ
sao ba tượng trong tòa/ Tiên thiên đồ ấy treo ra làm gì?”(17).
Trong tác phẩm, tác giả còn lên án các lang băm bốc thuốc hại
người, các đạo sĩ và tu sĩ làm phép thuật, bùa chú để lừa dối người, do vậy,
theo luật nhân quả báo ứng, những người này đã bị trừng trị thích đáng.
5. Lý giải sự chuyển hướng về quan điểm của cụ Đồ đối với Phật
giáo
Qua nội dung ba tác phẩm, có thể thấy rõ ràng là quan điểm của
cụ Đồ về Phật giáo có sự chuyển hướng. Ban đầu, nếu ở truyện thơ Lục Vân Tiên,
tác giả nhìn Phật giáo theo quan điểm của dân gian, của quảng đại quần chúng
nhân dân. Cái nhìn về Phật giáo ở đây rất gần gũi, có nét tương đồng của nhân
dân được thể hiện trong văn hóa dân gian với quan niệm “ở hiền gặp lành”, “gieo
gió gặt bão”, “hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân”, mà quan niệm này lại gặp gỡ
tư tưởng “nghiệp báo”, “nhân quả” của nhà Phật. Cho nên những người lương thiện,
chính trực, chung thủy, hiếu thảo như Vân Tiên, Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử trực,
Tiểu đồng… cũng đều thoát được bao nhiêu tai nạn; còn những người bất lương,
tâm địa hiểm ác, tráo trở như gia đình Võ Thể Loan, Bùi Kiệm, Trịnh Hâm… cuối
cùng phải nhận lấy quả báo bởi những nghiệp ác mà họ đã tạo ra.
Sang tác phẩm Dương Từ – Hà Mậu, tác giả đã đứng trên lập trường
dân tộc của một nhà Nho để bài xích, công kích đạo Gia-tô, nhân tiện bài xích
Phật giáo, bởi cho rằng cả hai đạo này là dị đoan, ngoại nhập, nhưng xét đến
cùng, tác giả không bài xích giáo lý tư tưởng Phật giáo, mà chỉ phê phán sư sãi
không gìn giữ giới luật nhà Phật, làm những điều xằng bậy trong chốn thiền môn.
Điều này người đọc cũng đã thấy trong các văn bản của phong trào bài Phật trong
văn học đời Trần, lúc Phật giáo còn thịnh đạt. Và chắc chắn rằng những cảnh báo
của cụ Đồ đã được các bậc chân tu chấp nhận, góp phần làm thức tỉnh Tăng đoàn,
và góp phần giúp cho Giáo hội Phật giáo chấn chỉnh kỹ cương, đây cũng là cơ sở
tạo nên phong trào chấn hưng Phật giáo hồi đầu thế kỷ XX mà Nam Kỳ là nơi xuất
phát đầu tiên.
Cũng cần lưu ý rằng, từ lúc Pháp xâm lược Sài Gòn, cụ đưa gia
đình về lánh nạn ở Cần Giuộc là quê vợ, buổi đầu gia đình cụ tá túc tại chùa
Tôn Thạnh, mà sư cụ trụ trì chùa là chỗ thân tình quen biết với cụ thân sinh
Nguyễn Đình Huy. Tại đây, cụ Đồ đã dạy học, bốc thuốc cứu người, và viết bài
Văn tế nghĩa sĩ dân Cần Giuộc nổi tiếng. Và có thể những năm tháng tá túc tại
chùa, cụ đã nghiền ngẫm, chiêm nghiệm về giáo lý Phật-đà về cuộc đời. Cho nên
nói cụ Đồ chống đối, bài xích, phê phán Phật giáo là nói oan cho cụ, dù trong
thơ, cụ đã có lời phê phán những tệ nạn của một số người khoác áo nhà sư nhưng
không nghiêm cẩn giữ giới, làm ảnh hưởng chốn thiền môn và Giáo hội.
Đến tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp (Ngư tiều vấn đáp nho y
diễn ca) là tác phẩm viết sau cùng, quan điểm về Phật giáo của tác giả có phần
rộng mở hơn, đó là quan điểm dung hợp, dung hòa với quan niệm Tam giáo đồng
nguyên, Tam giáo nhất gia, Tam giáo nhất thể. Đây cũng là quan niệm chung của
các danh sĩ trí thức Việt Nam từ thời Lý – Trần trở về sau.
Tóm lại, trong thế kỷ XIX, Phật giáo và Nho giáo cùng tồn tại
và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt. Trên tinh thần dân
tộc, Nguyễn Đình Chiểu đã tiếp thu và phát triển các giá trị đạo đức trong Nho
giáo, đồng thời thể hiện sự tôn trọng đối với Phật giáo trong các tác phẩm của
mình. Ở đây, cụ Đồ không hề bài xích hay phê phán giáo lý tư tưởng Phật giáo
như trước đây có vài nhà nghiên cứu đã nói, mà trái lại, cụ đã có thái độ tôn
kính và xem Phật giáo là một phần quan trọng trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng
của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm Lục Vân Tiên, Ngư Tiều y thuật vấn đáp của cụ ca
ngợi những giá trị đạo đức tốt đẹp, đồng thời chứa đựng những yếu tố Nho và Phật
– Đạo, cho thấy sự giao thoa và dung hòa giữa ba hệ tư tưởng này trong tác phẩm.
Cụ Đồ đã dung hòa các giá trị của Nho giáo và Phật giáo, Đạo giáo để tạo nên một
nền văn học dân tộc, phản ánh tinh thần yêu nước và lòng nhân ái của nhân dân.
Cụ đã hướng đến việc phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp trong xã hội và
trong lòng con người, thể hiện tinh thần yêu nước và trí thức yêu nước của mình
qua các tác phẩm văn chương.
Xét đến cùng cụ Đồ Chiểu trước sau vẫn là một nhà Nho chân chính, mang cốt cách Việt Nho, thấm đẫm tinh thần dân tộc.
Chú thích:
(1) Xin xem:
– Nguyễn Văn Nghệ. Nhắc lại chuyện cụ Nguyễn Đình Chiểu
bài xích Phật giáo. Nghiên cứu lịch sử. https://nghiencuulichsu.com 2.12.2019.
– Phạm Huy Thông. Quan niệm về các tôn giáo của nhà Nho yêu
nước Nguyễn Đình Chiểu.Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam. Ubdkcgvn.org.vn. Cập
nhật lúc 11:48 1.7.2022.
– Tiếng dân News 30-11-2019.
– v.v...
(2) Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ
Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB. Đại học và Trung học chuyên
nghiệp. Hà Nội. 1980. Tr.153 (câu 1517-1520).
(3) Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ
Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên
nghiệp. Hà Nội. 1980. Tr.153 (câu 1523-1528).
(4) Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ
Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên
nghiệp. Hà Nội. 1980. Tr.158 (câu 1641-1644).
(5) Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ
Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên
nghiệp. Hà Nội. 1980. Tr.159 (câu 1649-1670).
(6) Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ
Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên
nghiệp. Hà Nội. 1980. Tr.165-168 (câu 1807-870).
(7) Theo nhà giáo Nguyễn Văn Nghĩa, Báo Việt Nam Sài Gòn ngày
14-11-1936.
(8) Có bản chép tác phẩm dài 3.460.
(9) Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ
Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên
nghiệp. Hà Nội. 1980. Tr.358 (câu 2231-2240).
(10) Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ
Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên
nghiệp. Hà Nội. 1980.
(11) Câu thơ: “Ta nghe Phật ở Tây phương/ Vốn người mọi rợ
luân thường chẳng ưa” có vài dị bản: “Ta nghe Phật ở Tây phương/ Vốn người kẻ
chợ, luân thường chẳng ưa”, hoặc“Vả xưa Phật ở Tây phương/ Sống không biết lẽ
cang thường là chi”.
(12) Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ
Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên
nghiệp. Hà Nội. 1980.
(13) Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ
Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên
nghiệp. Hà Nội. 1980.
(14) Xem thêm: Nguyễn Công Lý. Văn học Việt Nam thời Lý – Trần.
Mục: Văn phê bình, Phong trào bài Phật. NXB.ĐHQG TP.HCM. 2018, tr.293-206.
(15) Có bản chép dài 3.644 câu.
(16) Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ
Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên
nghiệp. Hà Nội. 1980.
(17) Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ
Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên
nghiệp. Hà Nội. 1980.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ
Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên
nghiệp. Hà Nội. 1980.
2. Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 2. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ
Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên
nghiệp. Hà Nội. 1980.
3. Nhiều tác giả. Nguyễn Đình Chiểu tấm gương lao động và sáng tạo nghệ thuật. NXB.KHXH. Hà Nội. 1980.
15/12/025
Nguyễn Công Lý
Nguồn: NSGN
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét