Mồ hôi của đá
Lời nhà xuất bản
Với Mồ hôi của đá, Nhật
Tiến lại đi được một bước nữa trong tiến trình sáng tác của ông ở hải ngoại. Là
một nhà văn có kỷ luật, sung sức và đều tay, nhà văn Nhật Tiến đã cống hiến cho
chúng ta hai tập truyện rất nổi từ ngày ông sang Mỹ: tập Tiếng kèn do nhà xuất
bản Văn Học in ra năm 1982 (và mới tái bản gần đây do nhà xuất bản Văn Nghệ) và
tập Một thời đang qua do Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ tung ra vào năm 1985.
Song vì là truyện ngắn nên hai tập trên không nói được lên những ý tưởng lớn,
những suy nghĩ có tầm vóc mà tác giả hằng ấp ủ. Phải đợi đến Mồ hôi của đá,
truyện dài đầu tiên của ông hoàn tất ở xứ người, ta mới có dịp được biết trong
thâm tâm ông nghĩ gì về hiện tình đất nước, một sự đổi đời không tiền khoáng hậu,
và đặc biệt là về một giải pháp mà ông mới phác họa ra cho ta thấy vào những
trang cuối của tác phẩm.
Là một tác giả cổ điển -
theo nghĩa là bị ảnh hưởng không ít bởi những kỹ thuật viết văn như của Tự Lực
Văn Đoàn - Nhật Tiến kết thúc cuốn sách của ông chỉ bằng vài nét đan thanh
nhưng với nhiều gợi ý. Có thể câu chuyện mới còn tiếp nối trong đầu óc chúng ta
khi ta xếp sách lại. Có thể giả thuyết Nhật Tiến về một hướng đi tương lai cho
dân tộc mới có thể đem ra bàn rộng rãi trong lúc này, ngay trong lúc chính quyền
Cộng Sản đang thảm bại ở quê nhà và ngày phục hưng tất yếu của dân tộc sẽ không
còn bao xa. Chính lúc này là lúc chúng ta cần phải mường tượng đến một Việt Nam
xây dựng lại từ thời kỳ «đồ đá» mà Cộng Sản đã đày đoạ 64 triệu dân ta.
Cái đáng yêu của giải
pháp mà tác phẩm đem ra đề nghị với chúng ta nằm ở chỗ đó là một giải pháp nhân
bản, một giải pháp có chỗ cho tất cả những thành phần còn nặng tình dân tộc -
những thành phần còn đủ rộng rãi con tim để có thể vượt lên những lằn ranh suy
tưởng của ngày hôm nay, những bức vách dựng lên bởi hận thù để ngăn cản một cái
nhìn bao quát, bao dung và tổng hợp. Song cũng có thể vì đề nghị đó rộng rãi
quá mà có người sẽ cho là không tưởng.
Cũng như có người sẽ
không nhất thiết đồng ý với quan điểm này hay quan điểm khác được bày tỏ do các
nhân vật ở trong truyện - đặc biệt nếu độc giả lại còn nghi ngờ đó cũng là những
ý nghĩ mà tác giả chia xẻ. Về phương diện này, nhà xuất bản cho rằng vị trí của
chúng tôi không nên - và không bao giờ có thể là để thay thế độc giả mà tiền
phán xét về một tác phẩm được.
Tủ Sách Cành Nam, do đó,
rất hân hạnh được đem giỏi thiệu đến độc giả Việt Nam trên khắp năm châu (và lẽ
dĩ nhiên là gồm cả những độc giả ở trong nước, ngày nào mà đồng bào chúng ta có
hoàn cảnh để đọc những tác phẩm tự do) tác phẩm dài hơi đầu tiên của nhà văn Nhật
Tiến kể từ ngày ông bỏ nước ra đi. Nhìn từ quan điểm vật chất, viết được một
tác phẩm dài hơi là chỉ hiệu của một sự ổn định trong đời sống mà tác giả đã gầy
dựng lại được ở xứ người. Là độc giả, chúng ta chia xẻ với ông sự vui mừng là
nay ông đã có điều kiện để sáng tác dài hơi trở lại, ít gì cũng có điều kiện
hơn mấy năm trước khi ông còn ở trại tỵ nạn Thái Lan hay mới qua Mỹ.
Như vậy, chúng ta có thể
còn trông mong được nhiều hơn nữa với những tác phẩm dài hơi và giá trị khác, từ
ngòi bút của một nhà văn mà không ít người trong chúng ta đã từng theo dõi từ gần
40 năm nay.
Tủ Sách Cành Nam
Lời Tác Giả
Tôi khởi thảo tập truyện
dài MỒ HÔI CỦA ĐÁ này tại trại tị nạn Songkla miền Nam Thái lan từ tháng
6-1980. Viết được một phần thì tôi rời trại đi định cư tại Hoa Kỳ (tháng
9-1980). Do nhu cầu ổn định cuộc sống, ngoài hai tập truyện ngắn đã viết và xuất
bản, tôi không còn đủ thì giờ để hoàn tất một tác phẩm dài mặc dù đề tài của tập
truyện là một ám ảnh thường xuyên trong ý nghĩ của tôi.
Tuy nhiên, sự chậm trễ
này lại là một điều tốt cho tác giả. Bởi nhờ thế, tôi đã có dịp suy nghĩ thêm về
thực trạng của quê hương, về những nguyên nhân và hoàn cảnh làm thay đổi lịch sử,
và nhất là thời gian đã cho tôi nhìn thấy một cách rõ nét hơn về những biến
chuyển tâm thức của mỗi loại nhân vật tiêu biểu mà tôi có ý định đưa ra trong
tác phẩm, đồng thời cũng giúp tôi gạn lọc được bớt những phần chủ quan, thiên
kiến của mình, khi nhìn lại những sự kiện, những hoàn cảnh, những tâm tình, những
dị biệt v. v. mà từ đó, câu chuyện được xây dựng nên.
Đã đành rằng, cứ xét cho
đến cùng thì không có điều gì được gọi là hoàn toàn khách quan cả, vì tùy theo
mỗi vị trí, hoàn cảnh, trình độ của mỗi người mà sự việc được mô tả với nhiều
điểm dị biệt. Nhưng trên một bình diện tương đối nào đó, tôi hiểu rằng sự khách
quan bao hàm ý nghĩa không thiên lệch, không khăng khăng chỉ có một cách nhìn
duy nhất, mà mang một phần nào tính chất của sự cảm thông, đặt mình vào vị trí
người, để suy xét hoàn cảnh của người, không chỉ lấy cái ta đã có hoặc đang có
để làm thước đo cho mọi giá trị.
Dựa trên những suy nghĩ
này, tôi muốn nhìn lại một vài hoàn cảnh, một vài tâm tư, một vài nhận thức
trong số muôn vàn những hoàn cảnh, tâm tư, nhận thức kể từ sau ngày Sài gòn sụp
đổ vào tháng 4-1975.
Tác phẩm này, do đó không
có tham vọng dựng lại cả một thời kỳ đổi thay lịch sử vừa qua, và có lẽ chẳng
thể có một tác phẩm của một nhà văn nào đó đủ rộng lớn để nói lên mọi khía cạnh
của một xã hội vừa đi vào khúc quanh cực kỳ khốc liệt, ở đó đã bao gồm biết bao
nhiêu điều trái nghịch, có phấn khởi, có ê chề, có những nỗi đớn đau vì chia
ly, có những sự ngỡ ngàng vì đoàn tụ, có những niềm hy vọng nhen nhúm, có những
nỗi thất vọng não nề... v. v...
Tập truyện này chỉ mong đề
cập đến một phần rất nhỏ của đời sống trong cái bối cảnh cực kỳ hỗn độn đó mà
thôi. Nhưng tác phẩm tuy là nhỏ, người viết lại có ước muốn gửi gấm ở đây những
tâm tình, những gợi ý, những vấn đề vốn có mà chưa mấy ai đặt ra, để hy vọng
chia xẻ với bạn đọc về những lời giải đáp cho nhiều sự kiện trong vô vàn sự kiện
đã từng xẩy ra trên quê hương.
Chẳng hạn, trong xã hội
miền Bắc, sau hơn 30 năm xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội, dưới những phương tiện
tuyên truyền dồi dào và những biện pháp bạo lực triệt để, con người đích thực với
tất cả những nét hiền hòa, giản dị vốn có từ ngàn xưa, nay đã còn lại gì ?
Chẳng hạn, trong số những
người đã từng tham gia cuộc chiến, đứng ở phía bên kia, đặc biệt là những người
ở trong hàng ngũ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, có phải cho đến nay, vẫn
là những con người tận tụy phục vụ cho chủ nghĩa Cộng sản, hay là trong số đó
đã có những người đổi thay về nhận thức khi họ nhìn lại cả chặng đường gian khổ
vừa đi qua, chỉ thấy một tâm trạng não nề do ở sự mình đã quá xa rời con đường
«dân tộc» hoạch định từ lúc khởi đầu ?
Thật là một việc hết sức
dễ dàng khi ta chỉ đưa một cái nhìn tổng quát (đôi khi lười biếng suy nghĩ hoặc
đã bị sự chủ quan, thiên kiến ngự trị) vào cả một tập thể phức tạp rồi đi đến một
kết luận chung chung cho cả tập thể ấy. Điều này hầu như đã từng xẩy ra và có
thể đang còn là một thói quen phổ biến.
Tôi muốn được nêu lên một
câu hỏi rằng, trong cuộc chiến tranh chống lại bạo quyền Cộng sản, một cung
cách phân loại bạn thù chung chung và giản dị như thế có lý do để tồn tại mãi
hay không, trong khi chúng ta vẫn nhìn nhận rằng vấn đề của quê hương bây giờ
là vấn đề của dân tộc, của chung, tất cả những người cùng chia xẻ với nhau một
ước mơ là xây dựng lại trên quê hương một xã hội tự do, công bằng, hạnh phúc,
không phân biệt những ai đến từ đâu, miền Nam hay miền Bắc, đã từng phục vụ ở
bên này hay bên kia.
Một tập hợp như thế,
không thể mang danh nghĩa của sự Chiêu Hồi, một từ ngữ đã từng bị những chính
phủ tham nhũng, thối nát, không đại diện cho tuyệt đại đa số quần chúng làm cho
hư hỏng đi kể từ trước năm 1975.
Thành quả của công tác
Chiêu Hồi trước đây, nếu có, thì chỉ là loại bởi ra khỏi hàng ngũ bên kia một số
người đang tham gia cuộc chiến, nhưng không biến đổi họ thành những người có
cùng chung với ta một chính nghĩa sáng tỏ. Chính nghĩa của chúng ta không thể
sáng tỏ được khi mà miền Nam có đầy rẫy những bất công, những thối nát, những
con buôn chính trị, những kẻ làm giàu trên mồ hôi nước mắt của quần chúng và
trên xương máu của chiến sĩ. Công tác Chiêu Hồi, theo tôi, đã cáo chung theo những
thể chế chính trị đã từng được dựng lên và đã sụp đổ sau ngày 30-4-1975. Bây giờ,
lịch sử đã qua một trang khác.
Hoài vọng khôi phục lại một
miền Nam gọi là một miền Nam Tự Do như trước đây là một hoài vọng không chính
đáng. Hoài vọng khôi phục ấy phải được đặt trên một kích thước rộng lớn hơn,
mang đích thực tầm vóc lớn lao của dân tộc hơn, và do đó cần phải có những yếu
tố tập hợp thích nghi hơn, ngõ hầu hàng ngũ của chính nghĩa tự do có thể qui tụ
được nhiều người, nhiều phía vốn đã từng là nạn nhân của Cộng sản của độc tài,
của bạo lực, của tham nhũng, bóc lột, của những ý đồ đen tối chính trị và những
tham vọng cá nhân. Những người ấy đã tới thời điểm nhận thức được chỗ đứng của
mình, hiểu rõ ước muốn của mình, nhìn ra được con đường phải đi của mình trong
một vận hội mới nhằm phục hồi và xây dựng lại quê hương đang điều tàn, đen tối
và đầy rẩy nhục nhằn như hiện nay.
Tôi nghĩ rằng, văn hóa
nói chung, Văn Học Nghệ Thuật nói riêng, có khả năng góp phần vào công cuộc tạo
dựng những điều kiện qui tụ tốt đẹp kể trên, trong công cuộc hình thành một sức
mạnh tổng hợp, cả trong nước, lẫn ngoài nước, để hoàn thành sứ mạng giải phóng
quê hương.
Văn Học Nghệ Thuật, do đó
sẽ có thêm một hướng đi mới, bên cạnh những hướng đi đã có, đã từng góp phần
tích cực vào công cuộc tiếp nối truyền thống văn hóa của dân tộc ở hải ngoại.
Chấp nhận một chiều hướng
sáng tạo như thế, trong khung cảnh còn đầy rẫy những ngộ nhận như hiện nay, là
chấp nhận một sự thử thách.
Sự may mắn của người cầm
bút lưu vong là ở chỗ họ đang sinh sống ở một xã hội cho họ có những điều kiện
để có thể thử thách, trái ngược hẳn với anh chị em cầm bút ở quê nhà hiện nay,
muốn viết lên những tâm tư nguyện vọng của mình mà không viết được. Tác phẩm của
họ, nếu có, sẽ chỉ mãi mãi là những tác phẩm lén lút, và phổ biến trong vòng hết
sức hạn hẹp.
Tôi nghĩ rằng, chỉ riêng
một sự kiện đó cũng đáng đủ để cho tôi mạnh dạn hoàn tất tác phẩm nhỏ bé này.
Dĩ nhiên, sự phê phán và đánh giá vẫn là quyền tự do của bạn đọc.
Beaverton, Oregon ngày
26-3-1988
Nhật Tiến
Chương I
Hồng Phát là một nhà in cỡ
lớn ở Sài gòn. Cái tiếng lớn ở đây không phải ở chỗ nhà in có nhiều máy móc tân
kỳ, hiện đại hóa nhưng là lớn theo ý nghĩa bề rộng, số nhân viên đông đảo, và số
lượng ấn loát hàng ngày thật dồi dào của nó. Máy móc được sử dụng ở đây thuộc đủ
loại, đủ mọi thế hệ. Cũ nhất là máy chạy bằng bản đúc chì. Cái lò nấu chì lúc
nào cũng đỏ rực tuôn ra mù mịt một lớp khói đặc sệt đượm mùi khét của mực, của
chì, của bột khuôn hay giấy cháy xém. Thứ đến là loại máy chạy bằng những trang
chữ được xếp lại từ những mảnh chữ rời. Rồi đến loại tối tân nhất là loại máy
chạy bằng bản kẽm lớn, có bộ phận hút giấy lên tự động. Tổng cộng tất cả các loại
máy in từ lớn đến nhỏ cũng phải ngót nghét ba chục cái. Chúng không được xếp
vào một khu vực riêng rẽ theo đúng lề lối tổ chức theo khoa học, nhưng lại nằm
rải rác ở nhiều nơi. Lý do dễ hiểu là cả cái cơ xưởng này lúc đầu kiến trúc
không phải để dành cho ngành in. Thoạt tiên nó là một tiệm chạp phô có mặt tiền
cửa sắt trông ra đường phố, cửa tiệm tuy hẹp bề ngang nhưng dài và sâu hun hút,
bên trong vừa là chỗ ở vừa là kho chứa đủ loại đồ hàng. Lúc khởi sự làm nhà in,
ông Hồng Phát trang bị một số máy móc vừa đủ cho diện tích của một căn tiệm như
thế. Về sau phát triển thêm, ông mua căn bên cạnh nữa, căn nữa, cuối cùng tuy
nó là một cơ sở in có vẻ bề thế bên ngoài, nhưng bên trong là cả một sự bề bộn
luộm thuộm. Kho giấy chỉ là những khoảng trống đặt vừa những cái kệ gỗ ở trên xếp
đầy những ram giấy từ mặt đất lên đến tận trần nhà. Phòng rửa phim, tráng kẽm thì
đặt ngay cạnh bể nước, quanh năm sàn xi măng ướt nhẹp với những bàn chải, vòi
nước, các lọ hóa chất, các thùng kẽm, các dây phơi trông ngổn ngang mất trật tự
như một cái nhà giặt công cộng. Chỉ riêng có khu vực xếp chữ là được tập trung ở
riêng một nơi, trong một căn phòng dài như một cái hộp, chật chội, nóng bức
không có lấy một cái quạt dù chỉ là quạt trần.
Lúc đó mọi sinh hoạt
trong phòng xếp chữ vẫn đang tiếp tục một cách bình thường. Nắng gần xế trưa bắt
đầu hắt xuống một cách oi ả từ mái trần thấp. Kệ gỗ xếp chữ của Toàn đặt ở
chính giữa gian phòng nên đứng ở đó Toàn có thể nhìn thấy hết mọi quang cảnh
chung quanh. Những công nhân xếp chữ đi lại lố nhố. Mọi người cử động như những
cái máy và chẳng ai buồn mở miệng cất nên lời. Toàn chỉ nghe thấy những mảnh chữ
chỉ kêu lách tách khi được bàn tay những cô thợ trẻ xếp thoăn thoắt vào những
cái «galet» gỗ. Thỉnh thoảng tiếng hộc chữ được kéo ra những âm thanh nghe vừa
khô khan, vừa nặng nề. Lâu lâu lại có tiếng người nào đó cất giọng húng hắng
ho. Đã lâu lắm rồi ở đây vắng bặt tiếng cười đùa, nô rỡn, nghĩa là kể từ khi
Chi Đoàn Thanh Niên phát động chiến dịch «chấn chỉnh tác phong làm việc của
công nhân», một trong những mục tiêu hàng đầu của kế hoạch công tác ngay từ buổi
đầu Chi Đoàn mới thành lập.
Nguyệt thuộc bên phòng
«montage» vắng bóng hơn ba tháng trời, bỗng nhiên xuất hiện trở lại với danh
nghĩa Bí Thư Chi Đoàn. Điều này khiến ai cũng sửng sốt, ngạc nhiên và nhìn Nguyệt
với đôi mắt e dè. Nàng làm ra gọn ghẽ, nhanh nhẹn như mọi ngày nhưng vẫn không
dấu được vẻ mệt mỏi. Chỉ có đôi mắt của nàng là có nhiều thay đổi. Toàn có cảm
giác như nó sắc hơn trước, lạnh lùng hơn trước và đôi khi có vẻ dữ dằn. Hôm triệu
tập phiên họp đầu tiên chỉ có thành phần công nhân trẻ được tham dự, Nguyệt ngồi
xếp xuống đất ngay trước một cái bàn thấp. Chung quanh nàng đám công nhân cũng
lố nhố ngồi trên sàn gạch, chen chúc vòng trong vòng ngoài. Toàn cũng có mặt
trong buổi họp đó, nhưng ngồi thật xa. Chàng cố quan sát những nét thay đổi của
người bạn gái sau một thời gian vắng bóng, nhưng chàng chẳng nhận thức được gì
ngoài cái cảm giác chua xót, tê dại khi thấy những kỷ niệm êm đềm ngày xưa giữa
chàng và Nguyệt như đang bị dìm trong một cơn mê rối, hỗn loạn. Nguyệt nói năng
hết sức lưu loát, không phải cái lưu loát của một kẻ đã chỉ thuộc bài lâu lâu
mà còn nắm vững vấn đề, biết phân tích, đối chiếu, biết gợi lên những thí dụ cụ
thể, và trên hết cả là sự duyên dáng biết điểm vào câu chuyện những nụ cười, những
ánh mắt, những cung cách ngắt câu, những lúc đổi giọng, và những cử chỉ phụ thuộc
khác nữa, tất cả đã làm đám công nhân trẻ chỉ biết trố mắt ra nhìn, nhiều kẻ
còn giở sổ tay ra hí hoáy ghi chép để chứng tỏ một thiện chí tối đa trong các
giờ sinh hoạt.
Riêng Toàn thì không bao
giờ có thể nhớ nổi Nguyệt đã thao thao những gì trong một buổi họp kéo dài ba
giờ đồng hồ như thế. Chàng chỉ có cảm giác như tâm hồn của mình luôn luôn bị quằn
quại dưới những âm thanh sắc, gọn, kéo dài tưởng như bất tận, chẳng khác gì
chàng đang phải chịu đựng một trận mưa rơi. Đã có lúc chàng thấy mình bị ngộp
thở đến độ có thể gục xuống mãi mãi ở đó. Chàng cố đưa cái cổ của mình lên cao
hơn nữa để với tới gần khuôn cửa sổ nhỏ hẹp, nhìn qua bên kia là một con hẻm nhỏ.
Con hẻm bây giờ không còn những âm thanh ồn ào quen thuộc như ngày xưa. Mọi sự ở
đây đã thay đổi hết, thay đổi toàn diện như tất cả đã vừa trải qua một cơn lốc
phũ phàng, khốc liệt. Chỉ trừ những kẻ đã ra đi, một thiểu số hiếm hoi, như khi
cánh cửa bẫy vừa sập xuống thì chỉ có một vài con chim còn ở bên ngoài hốt hoảng
vụt cất cánh bay lên trời cao, còn bao nhiêu lọt vào vòng kiểm tỏa hết. Số phận
của những người có may mắn vượt thoát được sẽ ra sao, Toàn không thể hình dung
được, nhưng chẳng cần mường tượng chàng cũng đã thấy nó khác biệt ra sao đối với
những con người còn ở lại như chàng. Hai chữ tự do mặc dù đã nghe, đã nói, đã
nhắc nhở hàng mấy chục năm trời, nhưng bây giờ nó mới thực sự thấm thía đối với
chàng. Dĩ nhiên là chàng hối tiếc. Hôm gặp Trí hớt hải phóng xe gắn máy trên đường
Công Lý, nó cố gắng quanh xe lại vừa thở vừa nói :
– Mày đi không ? Cơ hội
cuối cùng !
Toàn nghĩ ngay tới Nguyệt,
và buổi gặp gỡ với Nguyệt hồi sáng. Nàng đã cho Toàn biết là gia đình nàng
không đi vì ba mẹ của nàng không muốn xa Sài Gòn. Rồi Nguyệt nhìn Toàn với một
cái nhìn đầy ý nghĩa và nhoẻn miệng cười :
– Còn anh, anh đi không ?
Dĩ nhiên là Toàn lắc đầu.
Chàng còn muốn nói thêm một câu nữa, đó là «ở đâu có em thì ở đó có anh», nhưng
trong bầu không khí chán chường của cơn sụp đổ toàn diện, Toàn không thấy tha
thiết nói gì thêm, ngay cả một câu tỏ tình. Sau đó, Toàn chào Nguyệt rồi vội vã
bỏ về. Biến cố sụp đổ Sài Gòn ùa đến nhanh chóng quá làm chàng tê liệt hết mọi
cảm nghĩ. Chàng đã tìm tới Vinh, một người bạn thân để khóc vùi với nó. Bây giờ
gặp Trí ở giữa đường, Toàn chỉ nắm lấy tay nó và nói :
– Thôi, chúc mày nhiều
may mắn.
Trí không còn kịp suy
nghĩ gì hơn, quầy quả phóng xe chạy tiếp. Bây giờ nó đang ở Mỹ và Toàn thì đang
ở đây, trong căn phòng ngập ngụa mùi mồ hôi, mùi hơi người và mùi thuốc lá khét
lẹt. Ở phía trước mặt, Nguyệt vẫn tiếp tục nói. Hình như nàng đang phân tích về
những thủ đoạn bóc lột công nhân của giới chủ tư sản khởi đi từ sự đề cao tuyệt
đối vai trò của lao động làm ra của cải vật chất. Những của cải vật chất đó, phần
vào tay công nhân thì hết sức hạn hẹp, nó không đủ để tạo cho công nhân một chỗ
làm thoải mái, an toàn lao động và bảo hiểm tối thiểu cho những khi ốm đau tật
bệnh. Còn cái thặng dư đó, nó đã biến thành những nhà lầu, những xe hơi, những
vòng vàng, những chiếc nhẫn hột soàn trên tay những bà chủ chỉ biết ăn không ngồi
rồi, đi mua sắm và đánh bạc. Nguyệt thao thao nói bằng cả nhiệt tình hàng hải của
mình. Nói cho ngay, những điều mà Nguyệt vừa nói ra không phải là những sự kiện
bịa đặt. Nó hiển nhiên ngay trong quang cảnh lụp sụp, tối tăm, hỗn độn ở cái
nhà in này. Bác Định già suốt đời hút mùi khói chỉ ở lò đúc mà không có lấy một
dụng cụ bảo vệ lao động. Những người làm việc ở khu lò đúc luôn luôn được nghe
thấy tiếng bác húng hắng ho. Tiếng ho ấy ai mới nghe lần đầu thì cảm thấy lấn cấn,
khó chịu nhưng riết rồi cũng quen đi như tiếng xành xạch của máy chạy, như tiếng
vòi nước tuôn xối xả trong phòng rửa kẽm, như tiếng đạo bàn xén giấy chạy sầm sầm
từ trên cao đổ xuống cắt ngọt lịm những chồng giấy, chồng sách cao ngất ngưởng.
Trong nhà in không có lấy được một tủ thuốc. Người công nhân hôm nào ốm đau bệnh
tật thì phải nghỉ và tự lo liệu lấy, không được trả lương. Và dĩ nhiên ở những
hãng xưởng tư, không hề có chế độ hưu dưỡng lúc tuổi già. Một vài dữ kiện kể
trên dĩ nhiên là không thể diễn tả hết đời sống tối tăm, không có gì bảo đảm
cho tương lai của mỗi công nhân. Nhưng hầu như chưa có ai ở đây đặt những chi
tiết ấy trở thành những vấn đề. Mọi sự cứ thế diễn tiến trong nhiều năm qua,
như một sự kiện đương nhiên, như số kiếp những kẻ nghèo khổ vốn đã là như thế,
trong khi ông Hồng Phát đã giàu lại giầu thêm, xưởng in của ông đã bành trướng
lại bành trướng thêm. Toàn đã nhận thấy điều đó, nhưng lòng chàng vẫn ấm ức một
điều, phải chi những lời tố cáo ấy phát xuất từ cửa miệng một anh công nhân, một
chị cán bộ, có lẽ Toàn dễ chấp nhận hơn là từ một thiếu nữ Sài gòn, gốc «ngụy»
một trăm phần trăm như Nguyệt. Đối với chàng điều đó có vẻ trái khoáy. Nó giống
như
Nguyệt đang chường ra trước
mặt chàng chân dung của một kẻ phản bội. Xã hội miền Nam đã cưng chiều, nuôi dưỡng
nàng trong ngần ấy năm không phải để cho nàng nói lên những lời tố cáo khốc liệt
đến như thế.
Những buổi họp tương tự
thường kéo dài từ ba đến bốn giờ. Do đó bao giờ khi tan họp thì trời cũng đã tối
hẳn. Đám công nhân trẻ ùa ra khỏi phòng cười nói ồn ào như học trò vừa tan khỏi
một lớp học. Dư âm của mỗi buổi họp vẫn còn gây xôn xao ở nhóm này, nhóm kia, tụm
năm tụm ba ở dọc hè phố hay chỗ để xe của công nhân. Riêng Nguyệt thì chẳng bao
giờ ra về cùng một lượt với mọi người. Nàng còn bận bịu thảo luận thêm với một
nhóm nhỏ cốt cán, thu hẹp trong vòng năm ba người. Nhiều khi nàng ra về thì phố
xá đã vắng tanh. Có hôm nàng ngủ lại ở ngay trong nhà in, trên những đống giấy
chất cao. Nàng có tác phong của một cán bộ thực thụ.
Những cố gắng của nàng đã
đem lại ở đây nhiều sự thay đổi thấy rõ. Phòng ốc được tổng vệ sinh trong hai
chủ nhật liền với sự tham dự của tất cả mọi công nhân. Hình ảnh, cờ quạt, khẩu
hiệu được treo la liệt khắp mọi chỗ. «ĐÂU CẦN THANH NIÊN CÓ, ĐÂU KHÓ CÓ
THANH NIÊN», chính cái khẩu
hiệu này Toàn đã được giao nhiệm vụ đem đóng nó trên tường. Nền trắng, chữ đỏ,
kẻ bằng sơn bóng. Ánh nắng ở những lỗ thông hơi trên trần nhà hắt xuống làm
Toàn thấy chói mắt mỗi khi ngước lên nhìn. Đối với Toàn, tất cả những thứ đó chỉ
làm cho chàng thêm mệt mỏi suy sụp. Chàng thèm nghe một giọng hát nghêu ngao, một
tiếng cười rúc rích, ngay cả một câu văng tục vì những chuyện cãi vã không đâu
về một cảnh trên đài truyền hình tối hôm trước, về một phim đang chiếu ở Sài
Gòn hay một cuộc đi chơi ngày chủ nhật mà dư âm của nó còn kéo dài tới cả tuần
sau. Những thứ ấy đã lui vào dĩ vãng tưởng như hết sức xa xăm. Bây giờ, đến
ngay như loại lém lỉnh, xí xọn nhất như Ngọc, như Hà, như Thủy cũng bỗng nhiên
trở thành câm nín như một lũ hến. Trông căn phòng này, ai bước vô cũng chỉ còn
nghe thấy những tiếng mảnh chữ kêu rào rào lúc chúng được bốc từ học xếp chữ
vào những cái galet gỗ cầm ở tay, tiếng những thanh filet chì bị chặt theo đúng
ni tấc nghe sắc và gọn từ một cái máy nhỏ để ở góc phòng và lâu lâu mới nghe thấy
tiếng hỏi han về công việc của bác Phong, người chef typo già làm việc như một
cái bóng ở phía bàn mise.
Chỉ có lúc Nguyệt bước
vào phòng là sự im lặng lúc đó mới được phá vỡ. Nàng vẫn có giọng nói ồn ào,
sôi nổi và tiếng cười ròn rã ngày nào. Nhưng bây giờ nàng đã ở một vị thế khác.
Như một kẻ vừa rời khỏi một tập thể quen thuộc để bước qua một lằn ranh.
Tại chỗ đứng mới này,
nàng có quyền ra những mệnh lệnh mà chẳng ai dám bàn cãi hay muốn bàn cãi, cho
dù Nguyệt đã sử dụng giọng nói ngọt ngào để diễn tả ý muốn của mình một cách vồn
vã, thân thiện :
– Cái biểu ngữ này còn thấp
quá phải không bà con.
Thôi đề nghị anh Thanh với
chị Hà sửa lại giùm đi.
Rồi Nguyệt tiến lại phía
Toàn một cách làm ra vẻ tự nhiên. Nàng ngó lên trang sách mà Toàn đang gắn ở
trước mặt để xếp chữ. Cuốn sách đầy rẫy những ký hiệu toán học nhức mắt. Nguyệt
bông đùa :
– Cẩn thận nghe anh Toàn.
Anh mà lộn, bên dàn montage tụi tôi phải cắt dán ná thở đó.
Toàn không ngừng đầu lên.
Chàng thấy rõ một nỗi chua xót đang tràn ngập trong lòng. Bấy lâu nay, em chỉ
có ngần ấy điều để nói với anh sao ? Mà Toàn cũng đâu chờ đợi gì ở nàng một câu
nói. Chỉ nhìn ánh mắt của nàng là đủ. Nó không còn là ánh mắt trìu mến dành
riêng cho chàng mỗi lần gặp chàng dù ở ngay giữa đám đông. Tình cảm riêng tư hầu
như đã chấm dứt. Nàng không bầy tỏ một cử chỉ nào dù chỉ thoáng qua để tạo cho
chàng một sự yên ổn, một cảm giác êm dịu như một luồng gió mát thoảng qua.
Không. Từ lâu lắm rồi Toàn không còn tìm được ở nàng bất cứ một dấu hiệu tình cảm
nào. Nàng đã hoàn toàn lột xác, thản nhiên, tàn nhẫn như nàng mới chỉ vừa thay
xong một lớp áo ngoài.
Bây giờ thì Nguyệt đã bước
tới dàn của mấy cô đang ngồi xếp những trang tiểu thuyết. Nàng reo lên :
– A ! Đã xếp chữ đến cuốn
«Thép đã tôi thế đấy» rồi hả. Cuốn này là sách gối đầu giường của thanh niên
Liên Xô đấy.
Giọng nói của nàng lọt thỏm
vào khoảng im lặng mênh mông. Những kẻ không ưa Nguyệt thì cúi thấp hơn nữa
trên những trang chữ. Những kẻ muốn lấy điểm với nàng thì ngước nhìn lên với
ánh mắt làm như tươi cười. Nhưng không ai nói lên điều gì cả vì tất cả đều lúng
túng, ngượng nghịu khi phải phát biểu những điều ca tụng hay vuốt đuôi về những
sự kiện hoàn toàn xa lạ đối với họ. Sự im lặng này cứ kéo dài mãi ra khiến cho
bầu không khí mỗi lúc một mang thêm vẻ ngột ngạt, trơ trẽn. Nguyệt cũng thấy rõ
điều đó nên chỉ sau một lúc cố gắng gây ồn ào, tạo vẻ thân mật, nàng cũng vội
vã bỏ đi. Mái tóc dầy, óng ả buông lơi trên tấm lưng thon nhỏ. Nguyệt vẫn đẹp
như bao giờ. Vẻ đẹp tuy đã dấu diếm trong chiếc áo bà ba giản dị, nhưng chính
cung cách ăn mặc này, nó lại làm cho nước da của nàng trở nên trắng hơn, hai bờ
vai tròn trĩnh và bộ ngực như căng hơn sau lớp áo phin mỏng.
Tuy ăn lương bên dàn
montage, nhưng Nguyệt dành tất cả thì giờ cho công tác tổ chức. Hôm tốt nghiệp
khóa học cấp tốc ở Thành Đoàn Thanh Niên về, nàng trao cho ông Hồng Phát một mảnh
giấy giới thiệu nhỏ. Chẳng ai biết được mảnh giấy chứa đựng những gì trong đó,
nhưng ông Hồng Phát đã vội vã ra lệnh cho công nhân quét dọn căn phòng làm việc
của chính ông để chuẩn bị bàn giao cho nàng. Nhưng Nguyệt cương quyết từ chối
ơn huệ đó. Nàng tươi cười :
– Chỗ làm việc của bác
xin bác cứ tiếp tục sử dụng.
Cháu chỉ xin một cái bàn
nhỏ thôi đủ rồi.
Sau đó nàng tự ý kê dọn
chỗ làm việc của mình, gồm một cái bàn gỗ nhỏ có nhiều ô kéo, một cái ghế đẩu
xinh xinh tất cả kê vừa đúng cái khoảng trống ở chân cầu thang lối lên một căn
gác xép dùng làm kho chứa hình ảnh, bản kẽm và phim chụp đã dùng rồi. Hàng ngày
đi làm, Nguyệt sử dụng chiếc xe đạp mà nàng vẫn dùng khi còn là sinh viên ở Văn
Khoa. Chỉ có chiếc cặp táp bằng da có khóa đồng sáng loáng khi trước thì đã được
thay thế bằng một cái túi vải đeo vai màu xanh đậm. Mọi hồ sơ, giấy tờ, tài liệu
học tập, Nguyệt đều nhét vô cái túi đó, cộng thêm một cái lon guigoz chứa đầy
thức ăn trưa mà hầu như công nhân nào ở đây cũng đều chuẩn bị bữa trưa như thế.
Nói chung lại, mọi thứ ở Nguyệt đều giản dị, đơn sơ mặc dù trong cái đơn sơ và
giản dị ấy vẫn hàm chứa một vẻ thanh cao, kiêu kỳ ở khuôn mặt thanh tú của
nàng, ở mái tóc mây bồng bềnh của nàng, ở đôi môi chín mọng, không phấn son mà
vẫn đỏ ủng như hoa đào nổi bật trên làm da mịn màng, trắng muốt.
Ngồi ở chỗ làm việc, nàng
có thể kín đáo quan sát được một phần lớn sinh hoạt ở nhà in : phía bên phải của
nàng là văn phòng của ông Hồng Phát, cạnh đó là khu bàn giấy của các nhân viên
văn phòng. Phía bên trái của nàng là dàn xếp chữ dàn montage và những kệ giấy
cao ngất ngưởng. Bên kia những kệ giấy là những cái máy in chạy với tiếng xành
xạch của máy cũ, tiếng ù ù của máy mới, tiếng sầm sập của những máy in rập kiểu
cổ, tất cả tạo thành những âm thanh ầm ĩ huyên náo tối ngày, sáng đêm.
Kể từ ngày nhà in hoạt động
trở lại khoảng hai tháng sau ngày 30 tháng 4, ông Hồng Phát lúc nào cũng có
thái độ của một con mèo bị bẹp tai. Ông bãi bỏ hẳn những buổi dẫn lũ lượt vợ chồng
con cái đi ăn điểm tâm buổi sáng ở ngoài tiệm. Ông cũng không dám sắm cho mình
một chiếc xe Honda mới để thay thế cho chiếc xe hơi bóng lộn giờ này đang nằm
phủ bụi trong garage. Mỗi lần phải chạy công việc, ông chỉ sử dụng chiếc
mobylette cũ kỹ mà lúc nổ máy, ông phải dựng nó lên, còng lưng đạp sợi dây xích
đến năm bẩy vòng. Mỗi lúc như thế, mặt của ông đỏ rần, mồ hôi vã ra đầm địa
trên vai áo, cái bụng phì nộn của ông như muốn thắt lại, nó làm cho ông có cái
cảm giác đau đớn như bị ai bóp ở chính giữa khúc ruột. Tình cảnh ấy làm ông muốn
phát khóc nhưng ông lại phải cố nở một nụ cười. Cái cười nửa chừng, nửa đoạn ấy
nó làm cho hai bên má của ông rúm lại, vành môi trở nên méo sẹo đi. Ông cũng biết
nó là vô duyên nhưng đâu có cách nào hơn. Ông tự nghĩ cách mạng đã về rồi, nhăn
nhó, than phiền là có thái độ chống phá. Cái dĩ vãng giàu có của ông luôn luôn
ám ảnh ông và bắt ông phải chịu đựng ngay cả những cái mà nhiều người khác
không thấy cần phải đặt thành vấn đề.
Ở trong nhà in, mọi công
việc bây giờ gần như đều có bàn tay của Nguyệt nhúng vào. Nhiều lúc bận rộn,
nàng không muốn thế, nhưng bao giờ ông Hồng Phát cũng đẩy việc qua phía nàng :
– Cái này phải hỏi ý kiến
cô Nguyệt.
– Cái này phải được cô
Nguyệt thông qua.
Bề ngoài thì Nguyệt cứ
làm bộ dẫy nẩy lên, nhưng bên trong nàng không khỏi che dấu được sự thỏa mãn, vừa
trên phương diện quyền hành, vừa trên phương diện nhiệm vụ. Hôm chia tay ở
Thành Đoàn, Vũ đã ân cần dặn Nguyệt :
– Cô phải tranh thủ thấu
triệt mọi cơ cấu điều hành ở nhà in Hồng Phát, càng đi sâu được chi tiết chừng
nào tốt chừng đó, rồi từng bước giành lấy quyền chủ động trong mọi khâu quản
lý, sản xuất và phân phối. Bên cạnh đó là phải nắm vững tình hình, tư tưởng và
tác phong của các công nhân, đặc biệt là thành phần công nhân trẻ để chuẩn bị địa
bàn cho việc tiến tới thành lập chi đoàn Thanh Niên. Nhiệm vụ của cô cực kỳ khó
khăn, nhưng tôi tin chắc cô sẽ làm được.
Nói rồi Vũ xòe tay ra nắm
lấy bàn tay mịn màng có những ngón thuôn dài trắng muốt của Nguyệt. Đôi hàng mi
của Nguyệt chớp mau và trong một thoáng, nàng chợt bắt lại mối cảm xúc đã chôn
vùi trong vùng kỷ niệm sâu thẩm của lòng nàng.
Hồi đó Nguyệt mới chỉ là
cô nữ sinh lớp đệ nhị của trường trung học tư thục Nguyễn Bá Tòng. Vũ đang theo
học năm thứ ba ở trường y khoa. Hai người quen nhau do một đêm đại hội văn nghệ
tất niên tổ chức ở trường Luật. Mối giao hảo mới chỉ trong vòng e lệ, tìm hiểu
nhau bước đầu thì đột nhiên Vũ có quyết định bỏ học ra bưng. Thì ra chàng đã có
dính líu sâu đậm với một nhóm sinh viên thiên tả và việc rũ bỏ mọi dính líu đến
đời sống phồn vinh ở Sài Gòn chỉ là một bước tất yếu phải đi tới. Hôm từ giã
Nguyệt lần cuối cùng, Vũ cũng nắm lấy bàn tay búp măng thuôn dài của Nguyệt và
nói :
– Anh rất tiếc không thể
chia xẻ với Nguyệt tất cả những ý nghĩ của anh. Nhưng anh tự cho rằng việc rời
bỏ Sài Gòn là một quyết định sáng suốt. Bởi ít ra nó cũng tước bỏ cho anh những
cảm giác ngột ngạt, những đêm ray rứt mất ngủ và thỏa mãn phần nào chí hướng mà
anh quyết định theo đuổi. Anh chúc Nguyệt ở lại bình an, và may mắn trong mọi dự
định xây đắp hạnh phúc cho cá nhân mình.
Bẵng đi hơn sáu năm, Vũ mới
trở lại Sài Gòn, giữa bầu không khí ngột ngạt của một thành phố vừa sụp đổ.
Chàng tìm gặp lại Nguyệt ở giờ tan sở làm và kéo nàng vào một quán cà phê ở một
khu phố khuất nẻo. Trông Vũ hơi già hơn trước, nước da sạm nắng, dầy dạn phong
sương, với đôi mắt sáng hơn trước và nụ cười thì vẫn tươi tắn, ngạo nghễ như
ngày nào. Nguyệt nói ngay :
– Em cứ tưởng anh đã quên
phứt em rồi ấy chứ.
Làm gì có chuyện ấy, mà
trái lại anh luôn luôn mang theo hình ảnh của em trên đường công tác. Em không
thể biết được rằng những lúc anh phải trực diện với những nỗi khó khăn, những
gian lao, cực khổ, chính hình ảnh của em đã an ủi anh rất nhiều.
Nguyệt cười reo lên :
– Anh đừng có bày đặt mầu
mè với em nhé. Những người đã đi làm cách mạng, làm gì còn có chỗ chứa đựng
tình cảm riêng tư.
Mặt Vũ hơi sầm lại. Chàng
nói bằng giọng gay gắt :
– Em quan niệm thế nào là
một con người cách mạng. Bộ họ là gỗ, là đá, hay là thú vật hay sao mà không có
tình cảm riêng tư.
Nguyệt hơi sợ hãi trước
cơn nóng nảy ùa đến bất tử của chàng. Nàng đang định tìm một lời nào đó để chống
đỡ nhưng vì kiếm không ra nên đành cứ ngồi lặng đi, giương đôi mắt thật to với
những tia bối rối lên nhìn chàng. Nhưng vẻ mặt của Vũ đã dịu xuống, trong ánh mắt
của chàng thoáng một vẻ hối tiếc, rồi trầm ngâm một lát, chàng mới cất tiếng :
– Thế hệ của chúng ta, dưới
ảnh hưởng của những thế lực chính trị, đã tràn đầy những ngộ nhận, thậm chí còn
nhìn nhau như những kẻ thù. Nhưng bây giờ đất nước đã hoàn toàn được giải
phóng, mọi thế lực phản động trên cơ bản đã bị quét sạch, do đó chúng ta còn có
đủ thì giờ và điều kiện để xây dựng lại tất cả những cái gì đã đỗ vỡ.
Nguyệt hỏi :
– Anh dùng chữ «chúng ta»
theo ý nghĩa nào ? Đương nhiên là không thể có em trong đó, bởi lẽ dễ hiểu là
em chẳng hề đóng góp một chút gì cho Cách mạng cả.
Vũ xoay lại tư thế ngồi của
mình, chàng nhích cái ghế tới gần mép bàn hơn, và chàng say sưa nói :
– Đấy là một nhận thức vô
cùng lầm lẫn mà chúng mình phải thảo luận cho ra nhẽ. Có một điều hết sức khẳng
định mà em cần phải ghi nhớ, đó là đất nước này, quê hương này không phải của
riêng ai. Nó là tài sản chung của tất cả mọi người và ai cũng có phần trách nhiệm
của mình ở trong đó, tùy theo cương vị và khả năng của mỗi người. Những người
đi làm cách mạng cũng chỉ là đóng góp phần trách nhiệm của mình. Sau bao nhiều
năm gian khổ, họ đã đem lại cho quê hương được một số thành quả. Trước mắt là
chiến tranh đã chấm dứt, các thế lực phản động đã cuốn gói bỏ chạy, bây giờ
mình đã thực sự làm chủ đất nước của mình. Nhưng còn biết bao nhiêu là điều khó
khăn đang tồn tại, những nỗi khó khăn còn chồng chất gấp bội so với thời kỳ phải
cầm súng chiến đấu. Và như thế, đã đến lúc tất cả mọi người đều phải góp phần của
mình để dần dà từ bước một giải quyết những khó khăn đó.
– Nói như anh thì tất cả
những người thuộc chế độ cũ đều có một chỗ đứng trong xã hội mới hay sao ?
Vũ đập tay nhẹ xuống bàn
như để tiếp sức cho lời nói khẳng định của mình :
– Cơ bản là như thế !
Nhưng có một điều phải chỉ rõ ra ngay để em nắm vững. Đó là sự kết hợp mọi nỗ lực
của toàn thể mọi người phải được chỉ đạo rõ rệt, có tổ chức, có mức độ, chứ
không phải là một sự kết hợp ôm đồm, bừa bãi, mất cảnh giác. Thành quả cách mạng
tuy hết sức to tát, rực rỡ nhưng vẫn còn non yếu. Em hẳn đã thấy rõ điều đó.
– Và đó là lý do mà chính
quyền cách mạng bắt tất cả mọi quân nhân, công chức đi học tập cải tạo ?
– Phải nói là họ «được»
đi học tập cải tạo thì đúng hơn. Có ba điều lợi ích cơ bản cho chính cá nhân họ:
một là họ có cơ hội được học tập về đường lối, chủ trương và cơ cấu tổ chức của
xã hội mới qua đó họ có thể xác định vị trí thuận lợi của mình trong việc đóng
góp khả năng vào công cuộc xây dựng xã hội mới; hai là thông qua quá trình lao
động sản xuất, họ có cơ hội gỡ bỏ những tàn tích cũ để tạo thuận lợi cho sự
chuyển hóa nhận thức của mình; ba là sau học tập họ không còn bị ràng buộc bởi
những mặc cảm tội lỗi để sẵn sàng một tâm lý hồ hởi, bước vào cuộc sống mới
chung vai góp sức với tất cả mọi người.
Nguyệt rụt rè :
– Em nghe nói sẽ có một
cuộc tắm máu vĩ đại.
Vũ lại đập tay lên bàn, lần
này còn mạnh mẽ hơn lần trước.
– Tầm bậy ! Đó chỉ là lời
lẽ đồn đại xuyên tạc của những tàn dư phản động cố gắng vớt vát phá hoại trên
đường tháo chạy. Rồi em sẽ thấy Cách mạng V.N. rất sáng suốt, sáng suốt gấp bội
lần cách mạng tắm máu của Kampuchia, hay Cách mạng Văn hóa của Trung quốc.
Câu chuyện giữa hai người
cứ thế xoay quanh những đề tài đang còn nóng hổi trước mắt, và Vũ đã lần lượt
trả lời tất cả những câu hỏi nhất thời Nguyệt có thể đặt ra trong lúc đó. Lúc
chia tay, trời đã tối mịt. Vũ dúi vào tay Nguyệt một xấp tài liệu và căn dặn
nàng hãy để thì giờ đọc cho kỹ lưỡng. Đó là một tập giấy in ronéo đã cũ kỹ, dầy
khoảng chừng hơn tám chục trang, có tựa đề «Từ cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân đến cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa».
Đêm hôm ấy, Nguyệt chong
đèn thâu đêm để nghiền ngẫm nội dung xấp tài liệu này. Bản chất ham đọc sách,
ham tìm hiểu vốn đã có sẵn ngay từ khi nàng còn đi học. Cho đến ngày Sài Gòn sụp
đổ, nàng vẫn đang còn là một sinh viên, lòng đầy nhiệt thành, có một đôi chút
lý tưởng, quá khứ không bị quyền lợi hay danh vọng nào ràng buộc. Quả thực Vũ
đã chọn đúng đối tượng để gieo lên những nhân tố chuẩn bị cho công cuộc xây dựng
một xã hội mới. Hơn thế nữa, Nguyệt lại đang sinh hoạt trong một cơ sở ấn loát
với tư cách của một nữ công nhân. Cái này là do công lao sắp xếp của Toàn. Toàn
quen Nguyệt trong một buổi đại hội cuối năm do đại học văn khoa tổ chức. Hồi đó
Nguyệt đang là sinh viên. Còn Toàn thì thuộc thành phần Thiếu úy bộ binh, bị
thương và giải ngũ trước ngày Sài Gòn sụp đổ hơn ba năm. Đó là lý do Toàn không
phải trình diện học tập cải tạo. Hồi mới xuất ngũ, Toàn nhờ quen biết gia đình
ông Hồng Phát nên được đưa vào học nghề sắp chữ ở nhà in. Chàng vừa đi làm vừa
học thêm ở đại học luật. Toàn có giọng ngâm thơ rất quyến rũ nên rất dễ «nổi»
trong đám đông. Tình bạn nẩy nở giữa hai người chẳng mấy chốc trở thành tình
yêu. Nguyệt thấy rõ hình ảnh của Vũ (người đã có thời làm trái tim của Nguyệt
xao động) nay đã trở thành một cái bóng mờ. Tình yêu ấy kéo dài được gần hai
năm thì xẩy ra biến cố 30 tháng 4. Lúc đó, đại học văn khoa ngừng giảng dạy,
sinh viên chỉ lui tới để học tập hay sinh hoạt. Còn Toàn thì vẫn tiếp tục công
việc ở nhà in. Nguyệt than thở với Toàn:
– Em chán lui tới cái
ngôi trường Văn Khoa ấy rồi. Ngành nghề gì thì chế độ mới cũng còn có thể chấp
nhận được, chứ cái ngành Văn Khoa thì chắc chắn sẽ bị liệt vào đầu sổ bị tém dẹp.
Toàn liền rủ Nguyệt đi
làm ở ngành in :
– Anh có thể nói với ông
Hồng Phát cho em một chỗ làm ở dàn montage. Công việc chỉ là ráp nối những hình
ảnh, những cột bài vào chung một tấm nền bằng nylon cỡ lớn trước khi đem nó in
ra bản kẽm. Việc này chỉ cần khéo tay và có óc mỹ thuật là đủ, mà những thứ đó
thì em dư sức qua cầu.
Thế là Nguyệt nghiễm
nhiên trở thành công nhân của nhà in Hồng Phát cho đến khi Vũ đến tìm gặp và
đưa nàng vào khúc quanh của thế giới nhận thức mới. Nàng đã gặp Vũ nhiều lần,
thường thì ở ngay tại căn nhà xinh xắn của Nguyệt nơi nàng sống với cha mẹ và một
đứa em trai. Ba của Nguyệt là một công chức đã hồi hưu. Mẹ của Nguyệt có một sạp
bán vải trong chợ Bến Thành. Gia đình vẫn được kể là sung túc vì cho tới lúc
đó, ủy ban quân quản thành phố chưa đả động gì tới chuyện kiểm kê. Nguyệt có đầy
đủ điều kiện để làm công việc «ăn cơm nhà vác ngà voi» mà không phải bận tâm gì
đến sinh kế cả.
Nàng đã tiến hành mọi
công tác theo đúng chỉ thị của Vũ với những thành quả phải được kể là xuất sắc.
Nhà in Hồng Phát hoàn toàn thay đổi từ hình thức đến nội dung. Lực lượng công
nhân trẻ đã đứng lên nắm quyền làm chủ cơ sở này. Họ đã có được một chi đoàn
Thanh Niên, một đội phòng hỏa cứu hỏa, một ban văn nghệ nghiệp dư và một đội
ngũ thể thao vừa bóng đá, vừa bóng truyền. Tuy nhiên, Vũ đã nói với Nguyệt :
– Đấy mới chỉ là những bước
sơ khởi buổi đầu, bước chuẩn bị để đưa cơ sở này vào quỹ đạo của Xã Hội Chủ
nghĩa.
Nguyệt ngây thơ hỏi :
– Ủa ! Thế mọi sắp xếp, mọi
tổ chức mình đã thực hiện cho tới nay chưa gọi là «làm xã hội chủ nghĩa à» ?
Vũ bật cười :
– Rõ ra là từ bước nhận
thức cho tới bước vận dụng nhận thức vào sự thực hành còn là một bước khá dài.
Em đã đọc bao nhiêu tài liệu học tập mà còn chưa nhận ra rằng sự tồn tại của một
cơ sở trong hoàn cảnh như thế này là một chướng ngại cho công cuộc xây dựng Xã
hội chủ nghĩa à.
Mặt Nguyệt nghệt ra một
cách thành thực. Tuy nhiên, Nguyệt đủ tinh tế để vận dụng một ánh mắt long
lanh, một nụ cười rất hồn nhiên để biến cái ngu si, yếu kém của mình thành một
trạng thái ngây thơ vô tội. Vũ hình như không đủ nhạy bén để nhận ra điều đó,
chỉ tiếp tục giảng giải :
– Như em đã học tập về những
đặc điểm của nền kinh tế Xã hội Chủ nghĩa thì phải biết rằng chế độ công hữu Xã
hội Chủ nghĩa về tư liệu sản xuất sẽ tồn tại dưới hai hình thức : sở hữu toàn
dân và sở hữu tập thể.
Nguyệt reo lên như một cô
học trò được thầy giáo truy bài đúng cái «tủ» mà mình đã chuẩn bị sẵn. Nàng tiếp
lời Vũ một cách thao thao :
– Phải rồi, những tư liệu
sản xuất trong các ngành có tính cách quyết định như năng lực, vận tải, giáo dục...
thì nhất thiết phải tập trung dưới hình thức sở hữu của toàn dân mà chế độ cũ gọi
là quốc hữu hóa. Còn những tư liệu sản xuất thuộc những ngành nghề khác thì có
thể «du di» hoặc toàn dân, hoặc tập thể như kiểu Hợp Tác Xã hay Tổ hợp.
Vũ nheo mắt với Nguyệt và
nói :
– Thế thì theo em, các cơ
sở ấn loát là sở hữu toàn dân hay sở hữu tập thể ?
Nguyệt suy nghĩ một giây
rồi đáp :
– Ấn loát là một khâu
quan trọng trong công tác tuyên truyền, giáo dục. Em không rõ là...
Vũ đáp lời ngay :
– Em không rõ cũng phải,
vì đây là vấn đề sách lược. Các đồng chí ở trên nhận định rằng khi cuộc cách mạng
đã thành công, thì nhiệm vụ tổ chức, quản lý xã hội so với nhiệm vụ trấn áp sự
phản kháng của giai cấp bóc lột và sự đấu tranh để xóa bỏ những giai cấp ấy,
còn to lớn hơn và phức tạp hơn nhiều. Điều đó có nghĩa là phải tổ chức lại toàn
thể cơ cấu xã hội cũ, tạo ra những hoàn cảnh, những điều kiện, những biện pháp,
những lực lượng để cho giai cấp tư sản không thể tồn tại được và cũng không thể
tái sinh được.
Nguyệt rụt rè :
– Nghĩa là sẽ có đấu tố,
bắt bớ, giam cầm...
Vũ nhích một nụ cười mang
đầy một vẻ lạnh lùng, bí hiểm :
– Ở một mức nào đó thì
đúng, nhưng cái này thì phải chờ những kế hoạch, những chỉ thị cụ thể. Trước mắt
là ta phải tạo những điều kiện thuận lợi để chuẩn bị cho công cuộc tiến hành những
chỉ thị, những kế hoạch do trên sẽ đề ra. Nói riêng, trong phạm vi nhà in Hồng
Phát, thời gian vừa qua, ta chỉ mới tạo được một chi đoàn thanh niên, tức là một
mũi nhọn xung kích trong tay những thành phần trẻ. Bước đi tới là phải mở rộng
tổ chức để quy nạp mọi lứa tuổi, không phải là tuổi thanh niên. Nói cụ thể hơn,
là đã tới lúc ta phải thiết lập một đơn vị của Công đoàn gọi là Công đoàn cơ sở.
Nguyệt bỗng cảm thấy tim
đập rộn lên như một kẻ đang đi trên một con đường xa lạ bỗng gặp một khúc quanh
mới. Vũ tiếp :
– Trên đánh giá rất cao
những thành quả do em đã đạt được trong thời gian qua. Vì thế, em lại được trao
nhiệm vụ hợp tác với Công Đoàn để tiến hành công tác thành lập công đoàn cơ sở
này.
Nguyệt kêu lên một cách
thành thực :
– Em có biết một tí gì về
công tác công đoàn đâu.
Vũ mỉm cười :
– Đừng lo. Em sẽ tham dự
một khóa huấn luyện do Công đoàn Quận tổ chức. Sau đó, mình sẽ phối hợp để hoạch
định những công tác cụ thể. Theo chỉ thị của trên, công tác thành lập công đoàn
cơ sở phải hoàn tất vào cuối tháng sáu năm nay.
Nguyệt ngần ngừ :
– Anh có thể cho em thì
giờ để em suy nghĩ được không ?
– Còn suy nghĩ gì nữa...
Con đường đi tới của em đã mở rộng.
– Chính vì thế mà em thấy
sợ. Thú thật với anh, em mới chỉ đặt chân vào công tác hoạt động đoàn thể trong
vòng mấy tháng nay. Trình độ nhận thức cũng như kinh nghiệm công tác em hoàn
toàn non kém...
Vũ vỗ nhẹ lên vai nàng :
– Đừng lo ! Mọi sự «trên»
đã tính toán hết. Vả chăng em đâu có sinh hoạt một mình. Còn có tổ chức hỗ trợ.
Còn có anh...
Lúc chia tay với Vũ, Nguyệt
vẫn không ngớt hoang mang, hồi hộp. Nàng ra bờ sông ngồi thừ trên ghế đá để suy
nghĩ về chính mình. Nàng tự kiểm điểm lại những công tác đã thực hiện và tự
đánh giá về khả năng của chính mình. Nói chung, nàng tự thấy chưa có một công
tác nào vượt quá khả năng của nàng. Lý luận công tác thì chỉ ngần ấy. Những tài
liệu học tập nàng đã đọc qua thừa đủ giúp nàng số vốn liếng trình bày trước đám
đông mà không sợ đi ra ngoài lập trường cơ bản. Chỉ có một thắc mắc lớn lao mà
Nguyệt đã nhiều lần tra vấn nhưng chưa bao giờ nàng tìm được câu trả lời thỏa
đáng. Đó là tại sao nàng dấn thân một cách dễ dãi vào công việc mà nhiều người
không thích nhảy vô, kể cả Toàn. Bị Vũ lôi cuốn chăng ? Hay là trước một khung
cảnh hoàn toàn đổi mới của quê hương sau những năm dài chiến tranh, Nguyệt mong
muốn đóng góp một cái gì cho đất nước ? hay là nàng đã bị lôi cuốn bởi tiếng gọi
của quyền lực ? Điều khiển và nắm quyền sắp xếp, chỉ định toàn bộ công nhân
trong một cơ sở ấn loát cũng là một thứ quyền lực đấy chứ ! Chưa bao giờ Nguyệt
tìm ra một câu trả lời đích đáng cả, và nàng cho rằng có lẽ tất cả những lý do
nêu ra ở trên đều đúng. Mỗi thứ góp phần vào sự chọn lựa của nàng. Và đây, giờ
thì Nguyệt biết chắc một điều là nàng đã nhập cuộc, đã lọt vô guồng máy, và
đang bị guồng máy đó kéo đi. Đi đến đâu, Nguyệt không thể biết. Nàng chỉ có cảm
giác như mình đã dại dột cầm lên một lưỡi dao sắc lẻm trong tâm trạng của một kẻ
nửa tự tin ở chính mình, nửa thì lo sợ vẩn vơ. Nguyệt cố trấn áp chính mình để
đè nén với nỗi lo sợ vẫn vơ đó. Nàng chép miệng :
– Kệ ! Tới đâu thì tới
CHƯƠNG II
Người phụ trách giảng dạy
đề tài chính trong lớp huấn luyện ở Quận Đoàn mà Nguyệt tham dự là ông Sáu Thu.
Ông này cao rong rỏng, cử chỉ nhanh nhẹn, miệng luôn luôn tươi cười, cặp mắt có
lúc rất sắc, rất dữ, có lúc lại đầy một vẻ khoan hòa, ngu ngơ, điều mà có lần
Nguyệt đã tự nhủ thầm «Cán bộ Cộng sản trung kiên có chung nhau một đặc điểm là
ở cặp mắt. Nói là láo liên thì không đúng hẳn, nhưng chất chứa đầy một vẻ bí hiểm
và có ý đồ». Ở đây, Ông Sáu Thu cũng thế. Ông ta bước lên bục giảng, nhìn mọi
người với ánh mắt tươi cười nhưng khó che dấu được những ánh chớp rất nhanh đảo
qua một lượt từ học viên ngồi ở hàng ghế đầu đến hàng ghế cuối, khiến cho Nguyệt
có cảm giác như trong một giây đồng hồ thoáng qua, ông ta đã ghi gói được nhiều
điều đánh giá sơ khởi về đám động tạp nhạp đang ngồi im phăng phắc chờ đợi ông
ta cất lời.
Ông ta gọi mọi người là
«các đồng chí». Điều này chứng tỏ thành phần tham dự lớp học là những người đã
được chọn lọc. Ngồi ở hàng ghế thứ nhì, Nguyệt thử liếc mắt ra xung quanh để
quan sát những người «được chọn» như mình. Có vài ba ông già bà già, một số
thanh niên thiếu nữ trẻ, còn kỳ dư là những công nhân như hầu hết các công nhân
ở Sài Gòn trước đây mà Nguyệt đã từng gặp. Trên hàng ghế đầu, còn có vài ba người
khác, cổ quàng khăn rằn ri, một dấu hiệu phân biệt rõ rệt nhất họ là thành phần
mới ở khu về. Chắc họ là quan sát viên hay thuộc ban tổ chức lớp học.
Giọng của ông Sáu Thu rõ
ràng, rành mạch. Có thể nói là sang sảng, biểu lộ một sự vừa tự tin vừa kiêu
hãnh. Không kiêu hãnh sao được, khi ở đây, ông ta là đại diện cao cấp duy nhất
của phe vừa chiến thắng. Không một mảnh giấy trong tay, ông ta nói liên tục,
nói dễ dàng như một nguồn nước tuôn chảy. Là đại diện của Công đoàn, dĩ nhiên đề
tài thuyết trình xoáy mạnh vào vai trò và nhiệm vụ của giai cấp công nhân, nào
là công nhân là giai cấp tiên tiến nhất, có tinh thần cách mạng triệt để nhất,
có ý thức tổ chức, kỷ luật cao nhất, và do đó có khả năng lãnh đạo toàn thể
nhân dân lao động trong tất cả mọi cuộc đấu tranh giành chính quyền và xây dựng
Chủ nghĩa Xã Hội.
Nguyệt hí hoáy ghi chép
như một cô học trò chăm chỉ. Điều này vô tình khiến cho nàng tự nhiên nổi bật
giữa đám người lố nhố ngồi chung quanh. Bởi vì mọi người quanh nàng, không ai
có ghi chép cả, hay nói đúng hơn, không có ai có khả năng ghi chép cả. Giai cấp
công nhân là giai cấp «tiên tiến» nhất như ông Sáu Thu vừa hô hoán lên, ở đây,
chỉ là những ông bà cụ hiền lành, ngơ ngác, những bác, những dì, quanh năm làm
lụng vất vả, có lẽ trong đời ít có cơ hội cầm đến mảnh giấy hay cây bút. Cho
nên những điều mà ông Sáu Thu thao thao giảng dạy, áp dụng vào hoàn cảnh ở đây,
có vẻ mang một tính cách gì trái khoáy. Ông ta đã giảng một bài học với những từ
ngữ rổn rảng vượt lên trên trình độ của mọi người, trừ Nguyệt. Mà truy cho
cùng, Nguyệt đâu có phải là một kẻ xuất thân từ giai cấp công nhân ! Nhưng hình
như ông Sáu Thu không nhận ra được điều đó. Sự chăm chỉ ghi chép của Nguyệt
(hay sắc đẹp rực rỡ của Nguyệt ?) đã khiến cho ông càng ngày càng cao hứng hơn.
Cái nhìn của ông xuống hàng cử tọa trước còn trải đồng đều, nay đã có khuynh hướng
cứ dần dần tập trung về mỗi một phía có Nguyệt ngồi. Ngôn ngữ của ông cứ mỗi
ngày một hoa mỹ hơn, kêu rổn rảng hơn. Ông nói :
Trong tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản, Mác và Ăng ghen đã chỉ rõ rằng «trong tất cả các giai cấp đối lập với
giai cấp tư sản, chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự làm cách mạng». Điều
này tuyệt đối đúng, vì dưới chủ nghĩa tư bản, sự phát triển của nền đại công
nghiệp làm cho giai cấp nông dân, và những người sản xuất nhỏ ngày càng phá sản
và số đông bị đẩy xuống hàng ngũ của giai cấp vô sản. Trong khi đó, giai cấp vô
sản chúng ta ngày càng lớn mạnh về cả số lượng lẫn chất lượng. Chúng ta là sản
phẩm của nền công nghiệp lớn và gắn liền với sự phát triển của công nghiệp lớn.
Chúng ta sẽ là người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản và sáng tạo nên nền văn minh
mới Xã Hội Chủ Nghĩa.
Cho đến bây giờ, do ý thức
bén nhọn thiên phú của một người đàn bà thông minh, Nguyệt đã biết rằng ông Sáu
Thu đã mê mệt vì sắc đẹp của nàng. Chắc chắn ông ta thừa hiểu những ngôn từ đại
loại như vừa kể trên không mảy may đáp ứng được gì cho những đối tượng hiền
lành, chất phác, ít học đang ngồi há hốc ra nghe mà không hiểu được gì. Như thế,
ông nói chỉ để có một mình Nguyệt nghe, và ông ta rất hài lòng khi thấy Nguyệt
chịu khó ghi chép lia lịa.
Đến phần nêu câu hỏi,
Nguyệt thành thực bầy tỏ thắc mắc của mình :
– Thưa giảng viên, như
tôi được nghe giảng viên trình bầy, giai cấp công nhân vô sản là sản phẩm của nền
đại công nghiệp. Tuy nhiên, ở nước ta, chúng ta đã có một nền đại công nghiệp
hay chưa ? Ngoài miền Bắc thì tôi chưa biết thế nào, nhưng ở miền Nam tuyệt đại
đa số thuộc lãnh vực sản xuất, vẫn là sản xuất nhỏ, manh mún, tản mạn. Như vậy
thì những công nhân ở miền
Nam được xếp vào vị trí
nào, họ đã được coi là những người trong hàng ngũ vô sản hay chưa ?
Ông Sáu Thu là một người
có bản lãnh. Ông che dấu được một cách tuyệt đối cái sự choáng váng vì vừa bị một
con nhỏ xinh như mộng của miền Nam táng một búa vào bài giảng thao thao mà ông
vừa chấm dứt. Ông khởi sự trả lời câu hỏi Nguyệt bằng một tiếng cười khà nghe đầy
vẻ bình dị và thoải mái. Rồi ông nhìn thẳng về phía Nguyệt. Đấy là lần đầu tiên
ông được nhìn Nguyệt một cách tự nhiên mà không sợ ai có một thắc mắc lợn cợn
nào. Rồi ông trả lời Nguyệt, với một giọng cố gắng che dấu sự lúng túng của
mình :
– Đồng chí... đồng chí gì
nhỉ ?
– Dạ, Nguyệt.
– Đồng chí Nguyệt vừa nêu
một câu hỏi hết sức xác đáng và gắn bó sâu sát với đề tài học tập hôm nay. Đúng
là miền Nam chưa có nền sản xuất lớn. Làm sao có nền sản xuất lớn được khi mà Mỹ,
Ngụy dồn tất cả tài nguyên cho chiến tranh.
Nguyệt ngắt lời :
– Ngoài miền Bắc cũng
dành mọi nỗ lực cho chiến tranh vậy.
– Đúng về hiện tượng
nhưng khác về bản chất. Trong Nam, Mỹ và những đồng minh tay sai nếu có chi viện
cho chính phủ bù nhìn Sài Gòn thì chỉ là sự chi viện nhằm tiến hành chiến tranh
xâm lược. Còn ở miền Bắc, các nước xã hội chủ nghĩa anh em chi viện cho chúng
ta vì những mục tiêu cao quí hơn nhiều. Một mặt thì vẫn tiến hành cuộc chiến
tranh chống Mỹ xâm lược, một mặt thì vẫn ra sức giúp ta xây dựng tổ quốc Xã hội
chủ nghĩa. Thế cho nên miền Bắc mới có khả năng xây dựng nền sản xuất đại công
nghiệp, mặc dù mới chỉ là bước đầu, nhưng chúng ta cũng đã có những công trình
như Thủy Điện Sông Đà, Kỹ nghệ Thép Thái Nguyên, Xí nghiệp Cao Su Sao Vàng, và
nhiều cơ sở khác nữa đang bước vào nền sản xuất lớn Xã Hội chủ nghĩa. Tuy nhiên
không phải vì miền Nam chưa có nền sản xuất đại công nghiệp như miền Bắc mà ở
đây chưa có giai cấp công nhân. Có chứ : các bác, các dì, các anh chị em ở đây
là thuộc về giai cấp công nhân chứ. Nhưng các công nhân ở vùng mới giải phóng
còn cần phải học tập, nghiên cứu, trao đổi nhiều để nâng cao trình độ nhận thức
của mình.
Thế là ông Sáu Thu chuyển
được câu trả lời của mình sang một hướng mới. Ông lại bắt đầu thao thao bất tuyệt
về nhu cầu học tập và lao động để mọi người có thể nâng cao trình độ nhận thức
và trình độ giác ngộ cách mạng của mỗi người.
Lúc tan buổi học, cả Nguyệt
lẫn ông Sáu Thu đều cố ý nán lại để có cơ hội trao đổi thêm. Ông ta khen Nguyệt
:
– Thắc mắc của Cô rất
hay. Nội dung của mỗi thắc mắc thường biểu lộ trình độ của mỗi người.
Nguyệt nhoẻn một nụ cười
rất xinh :
– ... Cháu chả có trình độ
gì hết đâu. Không biết thì cứ hỏi... đại à !
– Sao lại xưng cháu, tôi
có già lắm không hả cô Nguyệt.
Nguyệt đỏ mặt, tránh cái
nhìn soi mói hơi có vẻ sỗ sàng của Ông ta, và ấp úng :
– Ông thì không già,
nhưng trước người lạ... Nguyệt xưng cháu quen đi rồi.
Ông Sáu Thu làm ra vẻ bùi
ngùi :
– Cô có cái tên thật hay
và làm tôi nhớ tới đứa em gái của tôi. Nó cũng tên Nguyệt. Nó đã bỏ mình vì bom
Mỹ trong trận Điện Biên Phủ trên không ở Hà nội năm 1972.
Lời nói này khiến Nguyệt
thừa hiểu cái hàm ý là muốn ám chỉ Nguyệt chỉ đáng tuổi em của ông ta mà thôi.
Tuy nhiên nàng cũng nói một cách trống không :
– Tại có quá nhiều thắc mắc
mà nhiều khi không biết hỏi ai. Lại cũng có khi nêu thắc mắc ra rồi, người ta
không hiểu, lại cứ tưởng mình cố tình phản động.
Ông Sáu Thu trợn mắt :
– Đâu mà lại có thể đánh
giá một cách giản đơn như vậy được. Người nêu thắc mắc là người có thiện chí muốn
học hỏi. Vả chăng càng nêu thắc mắc thì người giảng viên càng có cơ hội giúp học
viên đào sâu trình độ nhận thức của mình. Cô Nguyệt đừng ngại, bất cứ lúc nào,
bất cứ thắc mắc gì mà cô thấy lấn quấn, cứ việc tìm tôi mà hỏi.
Nói rồi ông ta sốt sắng lấy
giấy bút ghi cho Nguyệt cái địa chỉ liên lạc. Nét chữ của ông ta rõ ràng, sắc sảo.
Nguyệt không chú ý đến cái địa chỉ, số nhà và số dây nói bằng cái danh vị của
ông ta : Sáu Thu, bí thư Quận Đoàn. Sau này, Nguyệt còn được biết thêm, ông ta
là người của Thành Ủy gửi xuống để tiến hành công tác tổ chức Công Đoàn cấp Quận.
Có nghĩa là, ông ta thuộc giới lãnh đạo cấp cao, cao hơn Vũ một khoảng rất xa.
Điều này dễ hiểu, vì ông ta là người từ miền Bắc đi vào và cũng là người tham
gia cách mạng từ hồi năm 1945. Trong đa số cán bộ mà Nguyệt có cơ hội được tiếp
xúc, nàng đánh giá Sáu Thu là một người trí thức. Ông ta có chiều sâu của một
người được đào luyện trong cả hai chế độ : nền giáo dục của Pháp trước năm 45
và nền giáo dục của Xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa. Điều này lộ ra rõ ràng nhất ở cung
cách ông ta ăn nói, từ ngữ mà ông ta dùng và nhất là sự nhạy bén, tế nhị của một
con người rất hiếm thấy trong hàng ngũ của các cán bộ. Tuy nhiên, cảm tình của
Nguyệt dành cho ông ta giảm đi rất nhiều vì đôi mắt vừa sắc vừa gian của ông.
Khi cần đóng kịch, ông ta là một người hoàn toàn. Nhưng khi trở lại bản chất của
chính mình, ông ta xuất hiện nguyên hình của một kẻ tàn nhẫn, trí trá và đầy
tham vọng. Nguyệt rất khó chịu và bứt rứt mỗi khi bắt gặp ánh mắt của ông ta
nhìn chòng chọc vào bộ ngực căng phồng lên sau lần áo mỏng của mình. Điều này
khiến cho Nguyệt bị mất đi rất nhiều sự tự nhiên và nó đào một khoảng cách rõ rệt
giữa hai người, mặc dù trong thâm tâm Nguyệt rất muốn làm quen với một nhân vật
cỡ như ông ta. Trong xã hội mới đầy xa lạ và bất trắc này, càng giao du được rộng
bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Tuy nhiên Nguyệt cũng đủ thông minh để nhận thấy
chẳng có tình thân thiết đúng nghĩa nào nẩy nở được trong xã hội này. Mỗi người
tự đi trên sợi dây của chính mình. Kẻ tốt lành thì cố kìm giữ cho đứng vững, kẻ
bất lương thì tệ mặt hơn ở chỗ còn tìm cách xô ngã người khác. Nguyệt vụt tìm
ra nguồn gốc của những cơn sợ hãi vẩn vơ của mình. Nó đúng là cái cảm giác của
một kẻ thấy rõ mình đang đứng trên một sợi dây mà lại không phải là một kẻ
chuyên nghiệp đi dây. Nguyệt mới chỉ là một người tập sự chưa có một vốn liếng
kinh nghiệm nào. Nguyệt tự nhủ, cung cách hay nhất là hãy dấu diếm những góc cạnh
của mình đi để cứ tiếp tục đóng vai trò của một người ngu ngơ mới bước chân chập
chững vào xã hội mới. Về điểm này, nàng hoàn toàn chinh phục được lòng tin cậy
của Vũ và Vũ rất chăm chỉ, tận tình chỉ dẫn cho nàng đến cả những tiểu tiết sơ
đẳng nhất. Anh chàng đôi lúc tỏ ta si mê nhưng đều bị Nguyệt chặn lại đúng lúc.
Trước cơn xáo động dữ dội của đời sống, Nguyệt có nhiều cái phải suy nghĩ, đối
phó và hành động. Nàng không thấy cần thiết phải mắc miu trong một mối tình.
Cho nên, biết Toàn xa lánh, Nguyệt không tìm cách hàn gắn những đổ vỡ. Biết Vũ
vẫn tạo dịp để bày tỏ nỗi lòng, Nguyệt chặn lại không để mối liên lạc giữa hai
người bị đẩy đi xa hơn. Về một khía cạnh nào đó, Nguyệt cũng phải tự nhận ra rằng
mình cũng có điểm lạnh lùng, tàn nhẫn và có tham vọng. Duy có điều tham vọng của
nàng, cho tới nay, chưa hiện ra rõ rệt. Nàng cũng không biết rằng hiện nay nàng
đang làm gì và nhắm tới điều gì. Đấy phải chăng là một đặc tính của tuổi trẻ.
Lăn xả vào công việc mà không cần nghĩ đến sự đền bù. Cùng lắm, nếu có thất bại
thì cũng là một cung cách để làm giầu kinh nghiệm cho chính mình. Có lẽ chỉ có
cách nhìn đó mới giải thích được hoàn cảnh có rất đông các thành phần thanh
niên, nam nữ tham gia nồng nhiệt vào các sinh hoạt đoàn thể ở Thành đoàn vào những
ngày đầu, sau khi Sài gòn sụp đổ. Tuyệt đại đa số đều tham dự bằng tất cả lòng
hăng say và nồng nhiệt. Họ khao khát một bầu không khí sinh hoạt mới và họ nghĩ
rằng xã hội mới đã đem lại cơ hội cho họ đóng góp được khả năng của chính mình.
Đó là tâm tình của họ vào thời điểm ấy. Còn sau này, thực tế trả lời họ ra sao,
lại là chuyện khác.
* * *
Sau khóa học, Quận đoàn cử
thêm một cán bộ Công đoàn về trực tiếp tham gia công tác tổ chức ở cơ sở nhà in
Hồng Phát. Người ấy là ông Năm Tỏa. Ông này là người ở Khu về. Bệnh hoạn. Ốm yếu.
Bản tính xuề xòa, dễ mến. Tuy nhiên, ông ta không phải là loại công nhân chất
phác thuần tuý. Cứ theo cung cách nói năng và thái độ cư xử của ông, Nguyệt
đoán rằng ông ta phải xuất thân từ thành phần có tây học. Hôm họp tất cả công
nhân trong nhà in lại để nghe ông ta phát động công tác tổ chức công đoàn, ông ấy
nói :
– Thế này nhé, ngày trước
thì giai cấp bóc lột không bao giờ quan tâm đến đời sống công nhân và tạo dựng
những điều kiện để làm thăng tiến đời sống công nhân. Anh chị em ta nếu ai có ốm
đau, bệnh tật thì chủ nhân xí nghiệp cũng chẳng thèm biết tới. Mà hễ cứ nghỉ
ngày nào, thì trừ lương ngày đó. Đó là tại sao ? Là tại vì họ chỉ nghĩ đến lợi
nhuận. Mục tiêu của họ là càng thu về nhiều lợi nhuận bao nhiêu, càng tốt bấy
nhiêu. Bây giờ thì khác, cách mạng thành công đem lại cơ hội cho chúng ta làm
chủ chính mình. Nhưng làm chủ ở đây không phải là ta đã là ông chủ rồi thì ta
khỏi phải lao động gì hết, mà vẫn được ăn trên ngồi chốc. Nói như thế thì có
khác gì ta xóa cái chữ chế độ bóc lột cũ để xây dựng thêm một chế độ bóc lột mới.
Cái ý nghĩa «làm chủ» của chúng ta nói ở đây là chúng ta có quyền hoạch định mọi
công tác, mọi tổ chức để làm thăng tiến đời sống của tập thể nhân dân lao động,
điều mà trước đây, dưới chế độ cũ, chúng ta không bao giờ được làm. Muốn tiến
hành có kết quả tốt đẹp mục tiêu đó, chúng ta phải có tổ chức. Mọi hành vi, mọi
hoạt động, mọi sáng kiến đều phải được thông qua tổ chức, bởi không có tổ chức
thì mạnh ai nấy làm, có khi trống đánh xuôi, kèn thổi ngược dễ đi đến chỗ hỗn
loạn. Công đoàn là tổ chức của các công nhân trong xí nghiệp. Mỗi xí nghiệp có
một công đoàn cơ sở. Nhiệm vụ của công đoàn cơ sở là phát huy quyền làm chủ tập
thể của các công nhân, tổ chức học tập để nhằm nâng cao trình độ của công nhân,
đấu tranh để khắc phục những tàn dư, tập quán còn tồn tại của nền sản xuất nhỏ
như chây lười, khinh lao động, thích sống ăn bám, coi thường kỷ luật, nói dối,
làm dối. Nói chung là đào luyện công nhân để trở thành những người biết lao động
một cách có kỷ luật, có kỹ thuật, có sáng tạo và đạt năng suất cao...
Như hầu hết các buổi học
tập diễn ra ở mọi nơi sau ngày 30 tháng 4 năm 75, người nói cứ nói, người nghe
cứ nghe, và ít có ai dám nêu thắc mắc ngoại trừ việc phát biểu chung chung, nói
xuôi theo lập luận của thuyết trình viên. Công việc tiến hành tổ chức Công Đoàn
Cơ sở diễn ra nhẹ nhàng, xuôi chẩy như đã được dự tính. Ý của Nguyệt là muốn
đưa Toàn ra nắm chức vụ Thư Ký Công Đoàn, Nguyệt biết Toàn dư khả năng làm công
tác đó. Nhưng hôm trước, lúc nàng vừa ngỏ ý thì đã bị Toàn hỏi sẵng giọng :
– Tại sao lại là tôi nhỉ
!
Mặt Toàn như đanh lại.
Ánh mắt của chàng long lên. Điều này nói lên sự đổ vỡ giữa chàng và Nguyệt đã tới
chỗ khó có thể hàn gắn. Có điều lạ là Nguyệt không hề cảm thấy đau xót về sự đổ
vỡ này. Tình yêu gắn bó giữa nàng và Toàn như cất cánh bay đi từ lúc nào,
Nguyệt không nhận ra. Có
thể vì nàng quá bận rộn. Có thể vì nàng đã chọn lựa một niềm say mê mới : chạy
theo những quyền lực mà trước đây, chưa từng bao giờ nàng có được. Nhưng chắc
chắn sự sấc sược của Toàn đã đem lại cho nàng một va chạm nặng nề đến lòng tự
ái. Điều này khiến mặt nàng trở nên lạnh tanh. Rõ ra là hai kẻ thù nghịch đang
đối diện nhau chứ không còn một đôi uyên ương gắn bó thiết tha chỉ trước đây mới
có vài tháng. Giọng Nguyệt như rít lên ở hai hàm răng cố nghiến chặt :
– Anh không bằng lòng thì
thôi nhưng đừng có cái thái độ phủi vào mặt kẻ đã có nhã ý với mình.
Toàn cười khẩy :
– Cám ơn cái nhã ý ấy của
Cô. Nhưng cô nên nhớ, tôi không phải là một kẻ phản bội.
Dằn mạnh xong hai chữ phản
bội, Toàn lập tức quay người đi, không để cho Nguyệt kịp có phản ứng gì chống đối
lại. Một việc như thế, thật quá sức chịu đựng của chàng. Toàn thấy đầu óc của
mình nóng ran lên, ngực bị dồn ép, đến như bị ngộp thở, cổ họng của chàng se đắng
lại. Nhưng chàng không hối tiếc việc mình vừa làm. Chàng có đầy đủ lý do để tự
bằng lòng với mình về thái độ ấy. Tuy nhiên, sau khi đã làm xong, cơn buồn bã
mênh mang úp chụp lấy chàng làm chàng ngơ ngẩn như một kẻ mất hồn. Toàn đã đạp
xe đi lang thang hết phố này qua phố khác mà không để ý đến những hoạt động
huyên náo ở chung quanh. Thành phố này không còn gì để chàng lưu luyến, gắn bó.
Khung cảnh êm đềm, ấm cúng, khi trước nay đã thay thế bằng một vẻ tuy vẫn nhộn
nhịp đấy nhưng là sự nhộn nhịp ẩn chứa một vẻ bàng hoàng, lo âu, ngỡ ngàng, tuy
vẫn tràn đầy sinh hoạt đấy nhưng vẫn ẩn chứa một vẻ tan hoang, sa sút, nghèo
nàn. Đạp xe lang thang từ lúc trời chưa tắt nắng cho đến lúc phố xá đã lên đèn,
Toàn mới khám phá ra rằng mình đang lên cơn sốt nặng. Cổ họng chàng khô khan.
Trán nóng hôi hổi, hai bàn tay chàng cầm tay lái mà thấy run lẩy bẩy. Toàn hối
hả đạp xe quay về nhà, quên cả chào mẹ và lên gác nằm thiếp đi trong cơn đầy mộng
mị.
Ngày hôm sau, Toàn không
đến sở làm. Ngày hôm sau nữa cũng vậy. Ở nhà in Hồng Phát, mọi người nhao lên về
sự vắng mặt bất thường của chàng. Người lo lắng nhất là ông Hồng Phát. Ông ta dẫy
nẩy lên và than thở với một vài công nhân cũ quen thuộc :
– Ông ấy nghỉ thế này là
chít ngộ rồi. Đến hạn kỳ phải giao sách toán cho kịp ngày khai giảng niên học mới
mà không xong thì các ông cách mạng nó giết ngộ, nó đem ngộ trôi sông.
Tình hình khẩn trương này
được báo cáo lên ông Năm Tỏa. Ông ta có vẻ không bằng lòng khi được biết rằng
chỉ có một mình Toàn là người duy nhất có khả năng xếp chữ được những trang
sách toán với những ký hiệu chằng chịt. Ông ta trách Nguyệt :
– Sao đồng chí lại ỷ lại
về một khâu như thế vào tay có mỗi một người. Trong công tác tổ chức, đấy là một
khuyết điểm quan trọng không thể chấp nhận được.
Nguyệt ấp úng :
– Cháu cũng đã có kế hoạch
đào luyện thêm nhân sự vào tổ xếp chữ môn Toán. Chỉ hiềm vì số công nhân có
trình độ một chút hãy còn hiếm hoi quá.
Ông Năm Tỏa lấy ngay sổ
tay ra hí hoáy ghi chép rồi nói :
– Tôi sẽ đặt vấn đề này
lên quận để giúp đồng chí giải quyết mau chóng tình trạng thiếu sót đó. Trong
khi chờ đợi, đồng chí cũng nên tiếp xúc, tìm hiểu xem cá nhân anh Toàn có điều
gì lấn cấn, không khắc phục được.
Lần đầu tiên, Nguyệt nói
dối ông ta và may cho nàng, lời nói dối ấy lại trùng với sự thực :
– Anh ấy chỉ đau ốm thôi,
chứ chắc không có gì lấn cấn cả.
Ông Năm «à» lên một tiếng
thỏa mãn và nói tiếp :
– Nếu chỉ ốm đau thôi thì
tốt ! Để tôi thử đi tiếp xúc và tìm hiểu coi sao.
Thế là ông ta xách xe đạp
đi tìm đường đến địa chỉ của Toàn. Hôm ấy, Toàn đã ốm khỏi và đang loay hoay
tra dầu mỡ vào ổ bi của chiếc xe đạp dựng ở ngay trước sân. Rõ ràng là Toàn đã
có thái độ chọn lựa : Chàng không thể nào quay lại nơi chốn mà ở đó, tình yêu của
chàng đã bị bầm giập, não nề.. thành ra khi thấy bóng dáng của ông Năm Tỏa hiện
ra ở khung cửa gỗ ngoài hàng rào, Toàn không lấy thế làm bối rối. chàng thản
nhiên đứng dậy, vừa chùi tay vào mảnh giẻ rách đầy dầu mỡ, vừa tiến ra mở cổng
:
– Chào ông Năm. Tôi không
ngờ lại được ông tới thăm.
– Đáng lẽ ra tôi phải tới
thăm anh lâu lắm rồi ấy chứ. Mà điều công việc bề bộn quá. Sao, hôm nay anh thấy
khỏe khoắn lai chưa.
– Cám ơn ông, tôi đã bình
phục hoàn toàn. Cảm sốt lăng nhăng, có gì đâu mà ông phải bận tâm.
Đến giây phút ấy thì ông
Năm Tỏa nhận ngay ra được sự vắng mặt của Toàn đã phải có điều gì bất thường.
Ông muốn kéo dài thời gian suy nghĩ của mình trước khi trực diện với cái bất
thường đó, nên ông chỉ mỉm cười nói lảng qua chuyện khác :
– Anh ở đây yên tĩnh quá
nhỉ. Mùa hè mà có giàn hoa giấy này chắc mát.
Toàn lẳng lặng bước vô
nhà, kéo ghế mời ông ta ngồi rồi xin phép đi sửa soạn nước uống. Trong khi Toàn
vắng mặt, ông Năm Tỏa tự do nhìn khắp quang cảnh chung quanh. Cái bàn kính dài,
có sáu chiếc ghế, nơi ông đang ngồi kê ở sát vách tường phía bên phải. Sau lưng
ông là khuôn cửa sổ nhìn ra sân trước, chỗ Toàn vừa lúi húi sửa xe. Trước mặt
ông là một tấm vách ngăn đôi phòng khách bên ngoài với gian bên trong. Dựa lưng
vào tấm vách này là một cái kệ sách trong để lưa thưa vài cuốn tự điển và một số
sách mà ông không nhìn rõ nhan đề ở sau gáy. Phía trên kệ sách là hai bức tranh
sơn dầu cũ kỹ, một vẽ tĩnh vật với vài quả cam, quả táo, xếp hỗn độn bên cạnh một
bình hoa và một vẽ cảnh phố nghèo, nhà cửa lụp sụp với hậu cảnh là những dẫy
building rực rỡ ánh đèn ở phía xa. Ông Năm Tỏa giả bộ tiến về phía kệ sách để
nhắm nghía một cách kỹ lưỡng bức tranh, nhưng mắt ông đã không bỏ qua những cuốn
sách trong kệ mà vừa mới đây, ông chưa nhìn thấy rõ gáy sách. Đó là một vài cuốn
tiểu thuyết mới xuất bản gần đây, như cuốn Thép đã tôi thế đấy, của Boris
Polevoi, cuốn Vùng Trời của Hữu Mai, cuốn Con đường đau khổ của Alexei Tolstoi,
xếp bên cạnh cuốn sách giáo khoa về Hình Học, về Đại Số Học, có cả một cuốn
truyện Kim Vân Kiều do một nhà xuất bản của Sài Gòn cũ ấn hành nữa.
Lúc Toàn bưng nước ra mời,
ông Năm Tỏa chỉ tay vào bức tranh sơn dầu và nói :
– Ngày trước địch nó cũng
để cho tự do treo những loại tranh này sao ?
Toàn ngạc nhiên :
– Thưa ông, có gì đâu ?
– Bức tranh vẽ nhà cửa lụp
sụp tồi tàn ngay ở giữa những khu phố có nhiều cao ốc đèn đóm sang trọng, nội
dung đã tố cáo một xã hội đầy bất công, chênh lệch.
Toàn bật lên cười :
– Hồi trước, chúng tôi chỉ
nhìn một họa phẩm theo khía cạnh nghệ thuật, không nhìn theo quan điểm chính trị.
Ông Năm cũng mỉm cười,
nhưng đầy vẻ chế riễu :
– Nghệ thuật nào mà không
có nội dung chính trị. Tách nghệ thuật ra khỏi chính trị là quan điểm ngây thơ,
ấu trĩ.
– Có những tác phẩm nghệ
thuật vượt qua được mọi không gian và thời gian. Giá trị của nó không bị lệ thuộc
vào bất cứ một khuynh hướng chính trị nào.
– Thí dụ ?
– Như truyện Kiều của ta
chẳng hạn.
– Ô ! Truyện Kiều có một
nội dung hiện thực phê phán rất là cao. Nó tố cáo cả một xã hội phong kiến thối
nát, đầy rẫy những bất công tham nhũng của giai cấp thống trị.
– Theo ý tôi, đó chỉ là dấu
vết đương nhiên của xã hội ở vào thời kỳ mà tác phẩm ấy đã được ra đời. Nhưng
chân giá trị của truyện Kiều không phải ở chỗ đó. Phải xét nó trên lãnh vực văn
chương.
– Văn chương chỉ là một bộ
phận sinh hoạt của xã hội, và không có một loại văn chương nào mà lại không
mang dấu vết của những khuynh hướng chính trị trong xã hội đó. Một là nó phục vụ
cho giai cấp thống trị, hai là nó làm đòn bẩy cho giai cấp bị trị thống khổ biết
vùng lên. Đó là quan điểm đấu tranh giai cấp không thể nào phủ nhận được.
Toàn chỉ lên bức tranh
tĩnh vật ở gần chỗ ông Năm ngồi và hỏi :
– Vậy thì theo ông, bức
tranh tĩnh vật này phục vụ cho giai cấp bị trị hay thống trị ?
Ông Năm xoay hẳn người lại,
nhìn ngắm những quả táo đỏ ửng trong bức vẽ rồi mỉm cười :
– Ở vào thời kỳ mà những
bức công áp bức còn tồn tại trong xã hội thì bất cứ một tác phẩm nghệ thuật nào
làm cho người ta quên đi hiện tại đau khổ mà người ta đang phải chịu đựng, đều
thuộc về loại tác phẩm phục vụ cho giai cấp thống trị.
– Nếu cứ xét theo quan điểm
đó của ông thì những sách vở của miền Bắc mà tôi được đọc sau này, tôi thấy chỉ
toàn tô hồng cho đời sống, trong khi đó hẳn ông cũng đã rõ là dân chúng vẫn thiếu
thốn, khổ cực. Như vậy những sách đó đã chỉ phục vụ cho giai cấp thống trị mà
thôi sao ?
Ông Năm Tỏa vừa nhìn thẳng
vào mắt Toàn vừa chợt thốt lên :
– Ôi chà ! Mình bỗng
nhiên đụng tới một vấn đề đáng gọi là căng đây. Nó căng không phải chỉ giữa anh
và tôi, giữa người đã từng tham gia cách mạng và người đang ở vùng mới giải
phóng mà còn căng ngay cả ở trong giới cầm bút ngoài miền Bắc. Tuy nhiên tôi thử
cố trình bày để mong có thể giúp anh soi sáng thêm được gì không gọn gàng. Ngừng
một lát, ông Năm Tỏa nói tiếp :
– Có hai điều phải nêu rõ
trong câu thắc mắc của anh. Một là đích thị những tác phẩm văn học ở miền Bắc
đang phục vụ cho giai cấp thống trị, hiểu như giai cấp đang nắm chính quyền.
Hai là sử dụng từ ngữ giai cấp thống trị, vốn mang ý nghĩa xấu xa cho chế độ miền
Bắc, là không đúng. Bởi vì đó là chế độ phục vụ cho lợi ích của nhân dân lao động
là thành phần chiếm tuyệt đại đa số trong quần chúng.
– Nếu con đường của nghệ
sĩ đã vạch rõ ra như thế rồi thì người nghệ sĩ đâu còn chút tự do gì để sáng tạo
nữa ?
Ông Năm lại mỉm cười :
– Cái này lại là một vấn
đề khác nữa phải nhìn cho rõ. Anh vừa sử dụng hai chữ tự do. Nhưng bản chất hai
chữ tự do là gì ? Chúng tôi quan niệm rằng tự do không phải là ai muốn nghĩ gì
thì nghĩ, làm gì thì làm, mà tự do phải nằm trong ý niệm hiểu được sự tất yếu
trong quá trình đi làm của lịch sử loài người. Sau tư bản chủ nghĩa, tất yếu là
phải đi tới Cộng sản chủ nghĩa mà bước trung gian là xã hội chủ nghĩa. Người
nghệ sĩ nhận thức rõ được điều tất yếu đó thì tha hồ tự do sáng tạo để góp phần
thúc đẩy cho cái tất yếu đó mau chóng được thực hiện. Tôi hiểu rằng đây là bước
nhận thức rất cam go, không phải dễ gì ngày một ngày hai mà anh tiếp thu được.
Anh cứ việc thắc mắc, cứ việc trăn trở. Sự thắc mắc, trăn trở là những bước tất
yếu ai cũng phải trải qua. Không qua giai đoạn đó mà chấp nhận bừa bãi thì chỉ
là những kẻ giả dối bề ngoài, những bọn cơ hội chủ nghĩa. Nhưng có một cách tốt
nhất giúp anh mau chóng tiếp thu tư tưởng mới, đó là quá trình chuyển hóa trong
lao động. Lao động thật tốt sẽ giúp anh dần dà nhận thức ra được cái chân lý
đó.
Ông Năm nói một hơi không
nghỉ. Toàn có cảm giác như mình vừa đụng phải một cái nút bấm trong con người của
ông. Cái nút làm vận chuyển một cuốn băng đã được thu sẵn, bất cứ lúc nào cũng
có thể phát ra, đầy đủ, trọn vẹn những ý nghĩ không xoay chuyển được đó. Toàn
cũng rất muốn trình bày những lý lẽ của mình để vạch ra rằng cái tất yếu tiến
lên xã hội chủ nghĩa mà ông ta vừa trình bày đã hoàn toàn lạc hậu ở thời đại
100 năm sau Karl Marx, bởi vì giai cấp bóc lột thời Marx không giữ nguyên vĩnh
viễn cái tính chất tàn khốc lúc ban đầu, mà chính nó cũng đã tự chuyển hóa, tự
thích ứng để tồn tại. Kết quả là đời sống của các công nhân ở các quốc gia tự
do đã được nâng cao, giờ giấc làm việc ngày một giảm đi, các tổ chức nghiệp
đoàn được thành lập để quân bình thế lực giữa hai giới chủ nhân và công nhân
trong xí nghiệp. Sự bóc lột đương nhiên bị giảm thiểu. So với thực tế, đời sống
người công nhân trong xã hội chủ nghĩa còn thấp kém hơn công nhân ở xã hội tư bản
rất nhiều. Nhưng Toàn cũng biết thừa ra rằng nếu có đem những điều đó ra để
trình bày, thì ông Năm cũng sẽ có đủ lý luận để bào chữa. Ông ta sẽ nói rằng những
cái mà công nhân ở nước tư bản thí cho, chỉ là một phần nhỏ so với những nguồn
lợi kếch sù do chính bàn tay lao động của giai cấp công nhân tạo dựng nên. Mặt
khác, những tiện nghi mà Toàn nói đến cũng chỉ là tiện nghi của thành phần công
nhân quí tộc, một tầng lớp công nhân phản bội quyền lợi giai cấp của mình để
câu kết với giai cấp thống trị. Bên cạnh đó, tuyệt đại đa số công nhân trên thế
giới, vẫn còn lầm than, cơ cực. Bởi thế mới có khẩu hiệu «Vô sản trên toàn thế
giới, đoàn kết lại !» Những lập luận này đầy rẫy trong sách vở, chẳng cần nghe
ông Năm nói, chàng cũng đã đọc thấy được rồi.
Rút cục, Toàn không cảm
thấy hứng khởi gì trong một cuộc tranh luận không có lối thoát như thế. Chàng
chỉ khẳng định với ông về quan điểm của chính mình :
– Theo ý tôi, nghệ thuật
chỉ là một ý niệm chung của xã hội. Khi đã nói nghệ thuật thì nó thuần túy là
nghệ thuật mà chẳng bao hàm bất cứ một ý niệm nào khác ngoài nó cả.
Ông Năm Tỏa nhìn Toàn
chăm chú, cố ý kéo dài tia nhìn ấy trong một giây rồi mới thong thả chậm rãi
nói :
– Đó là một cái nhìn
chung chung về nghệ thuật thể hiện tính chất trên không chằng, dưới không rễ của
giai cấp tiểu tư sản vốn là một thành phần dễ dàng chao đảo. Người vô sản chúng
tôi quan niệm rằng nghệ thuật phản ảnh hiện thực theo lập trường của một giai cấp,
một tập đoàn xã hội nhất định. Do đó khi miêu tả cuộc sống, người nghệ sĩ thể
hiện thế giới quan và nhân sinh quan của giai cấp mình trong tác phẩm.
Toàn mỉm cười hơi mang vẻ
châm biếm, ngạo mạn :
– Thế thì nghệ sĩ của các
ông thể hiện cái gì trong tác phẩm.
– Ô ! đời sống có vô số
những thực tế sinh động. Người nghệ sĩ vô sản đề cao, ca ngợi cái đẹp nẩy nở
trong lao động và trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột. Bởi vì vai trò của
Nghệ Thuật không những chỉ thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của quần chúng mà còn phải
xây dựng quan điểm thẩm mỹ lành mạnh cho quần chúng nữa.
Toàn bật lên :
– Hèn chi !
Ông Năm Tỏa nhìn Toàn như
tìm hiểu tiếng vừa thốt lên của Toàn, nhưng Toàn đã giải thích :
– Hèn chi mà tôi thấy từ
ngày Cách mạng vào Sài gòn, nghệ thuật của Cách mạng thường đi sát với công tác
tuyên truyền.
Ông Năm Tỏa nhún vai :
– Có gì lạ đâu ! Tuyên
truyền đạt tới mức cao đó thì trở thành nghệ thuật, và ngược lại Nghệ thuật thể
hiện công tác tuyên truyền ở mức cao độ nhất ! Công tác tuyên truyền, tự nó
không có điều gì xấu cả. Nó chỉ trở nên xấu xa tồi tệ khi người ta sử dụng nó để
truyền đạt những ý đồ mờ ám, không có chính nghĩa.
Đến đây thì Toàn lại có
thêm một vài ý niệm mới nữa về người đàn ông này. Ông ta có vẻ như một con người
chỉ tin theo sách vở. Sự suy nghĩ và lập luận của ông chỉ dựa vào sách vở mà
không có cơ sở thực tế. Bởi nếu ông thực sự đụng chạm đến những vấn đề thực tế
thì hẳn ông đã nhìn thấy cái chính nghĩa mà ông vừa khẳng định, nó chẳng có
chính nghĩa một chút nào. Hoặc giả, chính ông là người đã nhìn nhận ra con đường
mà ông đang theo đuổi đã chệch ra quá xa cái mục tiêu khởi đầu, nhưng ông đã
khôn ngoan che dấu được thảm kịch sụp đổ trong tâm hồn của ông, để tự vệ. Xã hội
này đã chẳng bao gồm biết bao nhiêu con người lúc nào cũng đề cao cảnh giác, vì
địch thì ít nhưng vì đồng chí thì nhiều đó sao. Một lát sau, ông Năm Tỏa đổi
qua một đề tài khác :
– Hôm nay tôi đến đây,
trước là để thăm hỏi xem anh ốm đau ra sao. Sau nữa để tìm hiểu xem anh có vấn
đề gì khó khăn ở sở làm mà không giải quyết được.
Toàn chối :
– Tôi có bị khó khăn gì
đâu.
Ông Tỏa nhìn thẳng vào mắt
Toàn, mặt ông thoáng một vẻ nghiêm nghị nhưng rồi lại dịu ngay xuống với những
nét hiền hòa :
– Nếu vậy thì tốt ! Ngày
mai anh tiếp tục đi làm lại chứ.
Toàn suy nghĩ rồi ngập ngừng
:
– Tôi có những vấn đề
riêng thuộc về gia đình chứ không phải vì sở làm. Tôi nghĩ rằng tôi cần một thời
gian để giải quyết.
Ông Năm Tỏa móc túi ra
gói thuốc, vừa mời Toàn vừa châm cho mình một điếu. Cử chỉ chậm chạp kéo dài của
ông, cộng với vầng trán cao hơi nhăn lại và ánh mắt đăm chiêu, biểu lộ một cách
cố ý cho Toàn thấy là ông cũng đang quan tâm và chia xẻ với Toàn về những nỗi
khó khăn riêng tư. Sau đó, ông mới chậm rãi nói :
– Anh Toàn ạ, tôi cảm
thông với anh về sự khó khăn mà tôi chắc anh đang phải phấn đấu ghê gớm lắm. Nếu
anh cảm thấy tôi có thể giúp được gì cho anh, xin anh cứ nói. Mặt khác, tôi
cũng đề nghị anh lưu tâm tới tình hình khẩn trương mà chúng ta đang phải đối
phó ở nhà in. Hàng triệu các cháu học sinh các cấp lớp đang trông chờ những cuốn
sách phải được in ra cho kịp thời điểm khai giảng niên học mới. Thành Ủy rất
quan tâm đến vấn đề này. Chắc anh hiểu chứ ?
Toàn hiểu ngay ông ta
đang đem Thành ủy ra dọa mình. Tuy nhiên, lòng Toàn lạnh băng mà không có đôi
chút cảm giác sợ hãi. Sự chán chường, mệt mỏi dẫn Toàn tới thái độ buông xuôi.
Mặc kệ ! Muốn tới đâu thì tới ! Do đó, chàng cố tình kìm giữ để không phải nói
với ông Năm một lời gì, dù từ chối hay hứa hẹn. Thấy chàng im lặng, ông Năm đứng
dậy ra về sau khi tươi cười (vẻ tươi cười gượng gạo mà Toàn nhìn thấy rõ) :
– Vậy anh ráng đi nhé.
Chúng mình còn vô số cơ hội để trao đổi với nhau, về đủ loại vấn đề.
Khi ông Năm đi khỏi, Toàn
có cảm giác nhẹ nhõm như kẻ vừa chui thoát ra được một căn đường hầm đầy ám khí
nặng nề. Chàng nghĩ đến một ngày tự do, thong thả trước mặt. Đã lâu lắm chàng rồi
chưa đến thăm một vài người bạn thân mà chàng biết rõ chúng nó kẹt lại, đi
không được.
Chương trình phác họa
trong đầu chàng là xuống bếp chuẩn bị bữa cơm trưa thay cho mẹ chàng hôm nay
cũng cảm sốt không dậy được. Sau đó chàng sẽ đạp xe xuống Trường đua Phú thọ để
thăm Nghĩa, cái anh chàng nhà văn, một vợ hai con này, không biết từ ngày Cách
mạng vô, đã làm gì để nuôi sống gia đình. Chàng tự nhủ nếu không gặp Nghĩa thì
mình sẽ quay về Lăng Ông Bà Chiểu để tìm gặp Hoành. Hoành nghe nói đã đăng ký
trở lại để đi dạy học. Tuy nhiên bây giờ năm học chưa khai giảng, chắc cả hai sẽ
có thì giờ để hàn huyên. Toàn chợt khám phá ra rằng trong mọi sự tính toán sắp
xếp, chàng không hề bận tâm gì tới Nguyệt cả.
Nàng đã xa lắc trong ý
nghĩ của chàng. Một cuộc tình đã sang trang mà không lưu lại dấu vết đau thương
nào. Toàn cầu mong được như thế. Nhưng biết đâu, sẽ có lúc nó trỗi dậy, nghiền
nát trái tim bầm giập của chàng. Lúc lui cui trong bếp, Toàn mới có dịp trực diện
với những vấn đề nhỏ nhặt trong đời sống, điều mà từ trước tới nay, qua bàn tay
bảo bọc của mẹ già, chẳng bao giờ chàng quan tâm tới. Gạo hết. Củi hết. Thức ăn
trong trạn chỉ lỏng chỏng một dĩa dưa muối và mấy cọng đầu tôm rang mặn. Đời sống
thực tế thiếu thốn hiện lên rõ trong quanh cảnh lạnh tanh của những chiếc rổ rá
sút cạp treo trên vách tường ám đen muội khói và những cái bếp xếp bằng những
viên gạch nung bao quanh bởi đám tro tàn.
Bỗng Toàn nghe tiếng gọi
cổng và khi chạy ra, chàng ngạc nhiên thấy người khách lạ tới thăm lại là ông Hồng
Phát. Đây là lần đầu tiên, ông ta tìm tới căn nhà khuất nẻo trong ngõ hẻm này của
Toàn. Tuy con người của ông vẫn còn phốp pháp, phì nộn, nhưng so với thời kỳ
vàng son thuở xa xưa, ông bây giờ sọm đi thấy rõ. Nhớ lại hồi mấy tháng trước,
khi được Nguyệt đánh giá cho ông là thuộc thành phần Tư Sản Dân Tộc, tuy không
hiểu ngô khoai thế nào, nhưng dính được vào hai chữ «dân tộc» ông cũng yên tâm
phần nào. Ông tự nhủ phải giữ thân tối đa để mong «Cách Mạng» giảm thiểu tội lỗi
cho mình mặc dù trong thâm tâm, ông chẳng thấy mình có tội gì cả. Trong những
ngày đầu, nhà in bắt đầu hoạt động trở lại, ông tránh tối đa để không ngồi vào
cái bàn giấy bằng gỗ gụ ở văn phòng với chiếc ghế đệm da kềnh càng có thể xoay
đủ bốn phía. Một đôi lần ông ngỏ ý nhường chỗ làm việc đầy tiện nghi cho Nguyệt,
nhưng nàng chỉ cười ngỏn ngoẻn :
– Không sao đâu bác. Cháu
kê cái bàn bên phòng chứa giấy làm việc được rồi. Ở đây là phần hành của Ban Quản
Đốc mà.
Rồi như cảm thông với
thái độ tần ngần của ông, Nguyệt an ủi thêm :
– Bác cứ yên tâm đi.
Chính sách của «trên» đã rõ ràng. Bác là tư sản dân tộc, tuy đối với Cách Mạng
cũng có vấn đề, nhưng không đến nỗi. Đối tượng chính của nhà nước bây giờ là bè
lũ tư sản mại bản kia.
Nói rồi, Nguyệt bỏ đi.
Hình như chính nàng cũng không tin tưởng ở lời giải thích của mình, cho nên tốt
hơn hết là không nên nhiều lời. Hứa hẹn với ông ta nhiều, mai mốt nhỡ có khác
đi, khó ăn khó nói. Âu đó cũng là cái bản chất có hậu của những người đã sống ở
vùng tự do, chứ không quay quắt, trở mặt trắng trợn như con người cộng sản
chính hiệu sống theo chủ trương cứu cánh biện minh cho phương tiện, có thể làm
bất cứ cái gì miễn là đạt được đến mục đích cuối cùng. Ông Hồng đem mối ưu tư của
mình thuật lại với Toàn, chàng cũng chỉ biết giải thích thêm qua những tài liệu
đã học tập :
– Tư sản mại bản là toàn
thể những người trước đây thuộc ngành nghề xuất nhập cảng. Họ bị kết tội cấu kết
với tài phiệt nước ngoài để lũng đoạn kinh tế và bóp chết các ngành sản xuất
trong nước. Kỳ dư những người làm ăn buôn bán khác, có đôi chút máu mặt thì được
gọi chung là tư sản dân tộc. Lớp này tội tuy không nặng bằng tư sản mại bản,
nhưng cũng có vấn đề tùy theo từng đối tượng. Nhìn chung, theo cách đánh giá của
cán bộ giảng huấn, thì họ đều mang tính cách bóc lột, làm giàu trên sức sản xuất
của giai cấp công nhân.
Ông Hồng kêu lên :
– Vậy là tôi cũng bị liệt
vào thành phần bóc lột.
– Đương nhiên
– Nhưng tôi thuê thợ có
trả lương. Họ cũng bằng lòng làm việc theo số lương đó.
– Số lương mà ông trả cho
họ bằng một phần mười số lời mà ông kiếm được. Vậy là khi không, ngồi mát ăn
bát vàng, ông đã làm giàu trên sức lao động của người khác, mặc dù vì sinh kế,
họ phải thỏa thuận để có chỗ làm việc.
– Họ làm sao mà bì được với
tôi. Họ là thợ, tôi là chủ. Họ tay không đến làm việc. Còn tôi, tôi có nhà máy,
có cơ xưởng, có vốn bỏ ra để điều hành.
– Hãy chưa nói gì đến nguồn
gốc của cái vốn mà ông bỏ ra để trang bị toàn bộ cho xí nghiệp, nếu truy đến
cùng thì nó cũng chỉ được là tạo dựng nên từ cơ sở của sự bóc lột. Nhưng ngay từ
thực tế cái xí nghiệp này, ông cũng chỉ được hưởng một phần số lời do chính sức
làm việc của ông. Kỳ dư là của công nhân, vì họ cũng làm việc như ông. Ông hưởng
trên số đó tức là đã xâm phạm vào cái giá trị thặng dư của công nhân. Họ kết tội
ông là bóc lột.
– Còn máy của tôi, nhà của
tôi, vốn của tôi ?
– Nhà ấy, máy ấy, vốn ấy,
ông lấy ở đâu ra, nếu không phải là sự tích lũy lâu dài của bóc lột, có khi cả
đời ông, cha của mình dồn lại nữa kia. Cho nên «tước đoạt lại của kẻ đi bóc lột»
là chính sách chuyên chính vô sản của công nhân.
– Nói vậy thì còn lý luận
phải quấy mẹ gì nữa.
– Vậy đó ! Cháu nói theo
lập luận của cán bộ để ông biết con đường mà mình sẽ phải đi qua. Đừng có ảo tưởng
khi thấy họ gắn cho mình hai chữ «dân tộc» trong danh nghĩa «tư sản dân tộc».
Đó chỉ là chính sách giai đoạn ta dần từ thành phần này, qua thành phần khác để
không gây xáo trộn toàn bộ sinh hoạt xã hội. Thế thôi !
– Vậy thì tôi cúng hết
nhà máy cho họ, rồi về dưỡng già cho rồi.
– Ấy, đâu được ! ông làm
thế, họ cho là có tinh thần bất hợp tác, phá hoại công tác sản xuất. Tội phản động
còn nguy hơn.
Ông Hồng kêu lên :
– Biết mình sẽ bị kết tội,
vậy mà vẫn phải tận tụy làm việc, thế thì có khác gì mình là con trâu, ngày mai
bị chọc tiết, mà hôm nay vẫn phải ra sức đi cầy.
– Thấy rõ cái ấy là ông
đã hiểu vấn đề rồi đó.
Mặt ông Hồng bạc nhược hẳn
ra. Mồ hôi đổ lấm tấm trên vầng trán cao và hói. Ông nhìn Toàn bằng ánh mắt
hoàn toàn tuyệt vọng khiến Toàn liên tưởng tới ánh mắt của con trâu lúc sắp sửa
biết mình bị đem ra thọc huyết.
Cái ánh mắt này, cùng với
biết bao nhiêu ánh mắt khác mà Toàn đã từng được trông thấy kể từ sau ngày 30
tháng tư, tuy nó không giống hệt nhau về mỗi hoàn cảnh, nhưng lại đồng dạng với
nhau ở chỗ như cùng nói lên một tâm trạng bị thương, tuyệt vọng của những kẻ đã
bị dồn tới nước đường cùng, như ánh mắt của người lính cộng hòa trút bỏ bộ quân
phục vứt rải rác trên đường Trương Minh Giảng; như ánh mắt của những người thân
thiểu não xách cái bị nhỏ từ giã vợ con lên đường học tập cải tạo hay như của
những người có tội giàu có như ông Hồng Phát.
Những ánh mắt ấy đã trở
thành một nỗi ám ảnh đối với Toàn trong những đêm dài mất ngủ. Nó như thường trực
nhắc nhở với chàng rằng từ nay, tất cả là tan hoang, là sụp đổ, là chia lìa
vĩnh viễn với quá khứ êm đềm xa xưa.
Toàn rất thương xót ông Hồng
Phát, mặc dù có lúc chàng cũng thấy sự thương xót này không mấy chính đáng, nếu
xét trên lý luận, nhưng Toàn không thích lý luận, chàng chỉ suy nghĩ hoàn toàn
dựa trên tình cảm mà thôi. Cho nên khi thấy ông đột nhiên tới chơi nhà, chàng hết
sức đon đả :
– Có chuyện gì mà ông chủ
phải tìm tới tôi vậy ?
Ông Hồng Phát vừa thở phì
phò sau cơn mệt của một con người phì nộn đã ngồi trên chiếc xe gắn máy cũ kỹ
long sòng sọc vượt qua những đoạn đường ngoắt ngoéo đầy ổ gà, vừa nói trong hơi
thở :
– Thôi đi ông Toàn ơi, giờ
này mà còn kêu tôi bằng ông chủ là chít tôi rồi. Cách mạng nó ghét tiếng ông chủ,
ông chủ lắm đó.
Toàm mỉm cười :
– Có gì mà ông phải lo.
Nhà in thì đã cúng hết rồi.
Ông biết cúng nhà in là
ông khôn lắm đó.
Ông Hồng Phát trợn mắt :
– Cúng rồi đó ! Mà điều
nó đâu đã chịu lấy ! Nó cứ làm bộ «hổng sao», «hổng sao». Rồi nó cứ bắt tôi ngồi
làm vì, ngồi hổng được, mà rút cũng hổng xong. Cái này, cách mạng chơi khó, âm
mưu cái gì, ai mà biết.
Rồi ông đổi giọng nghe rất
bi thương :
– Ông Toàn ơi ! Ông mà
không giúp tôi chuyến này, cách mạng nó thủ tiêu cả gia đình tôi mất.
Toàn ngạc nhiên :
– Chuyện gì mà ghê gớm vậy
kìa !
– Thì chuyện in sách giáo
khoa cho cái sở giáo dục đó ! Cả cái dàn xếp chữ, có mình ông là xếp được sách
toán học. Nay ông nghỉ đi, sách nó ra hổng kịp, nó kết tội tôi là âm mưu chống
phá cách mạng, thế là chết cha tôi rồi.
– Nó dọa ông đấy ông ơi.
Đừng lo ! Vả chăng nếu có kết tội thì tôi mới đích danh là thủ phạm chớ đâu phải
ông.
Ông Hồng Phát xua tay :
– Ông nói vậy là ông hổng
biết Cách Mạng là cái gì hết đó. Nó đang rình tôi, tôi thấy hết mà.
– Nó rình ông làm cái gì
! nhà in ông cúng rồi thôi.
– Cúng nhà in đâu đã hết
chuyện. Nó nghĩ tôi còn vàng, còn bạc, mà trời ơi, vàng bạc ở đâu ra nữa chứ.
Tôi đi cái xe gắn máy cũ kỹ này nó không thấy sao !
– Như vậy thì ông còn có
cái gì để lo nữa chứ. Cùng lắm thì cũng đi lao động làm ăn như mọi người.
– Nói vậy mà không phải vậy
đâu ông ơi. Thôi, tôi năn nỉ ông Toàn. Ông trở lại làm việc cho gia đình tôi được
an toàn.
Vừa nói ông Hồng Phát vừa
rụt rè moi ở trong túi quần tây xệ xuống dưới cái bụng phì nộn vĩ đại, một bọc
giấy dầu. Ông ta tiếp :
– Cái này là biếu riêng
ông Toàn. Mình san xẻ với nhau chút đỉnh ấy mà.
Toàn vừa ngạc nhiên vừa cảm
thấy hổ thẹn khi lần đầu tiên phải trực diện với vấn đề lo lót. Chàng kêu lên :
– Tôi đâu có nỡ lấy tiền
của ông trong tình thế này. Ông không hiểu tôi. Tôi có vấn đề riêng của tôi. Chứ
đâu phải tôi cố tình làm khó ông đâu.
Ông Hồng Phát rối rít :
– Tôi hiểu. Tôi hiểu. Có
ai biểu ông Toàn làm khó ai đâu. Mà điều cái này gọi là chia xẻ mà. Còn cái
chuyện ông Toàn cứu sống gia đình tôi lại là chuyện khác.
Toàn buông một tiếng thở
dài khi nghĩ đến mọi dự tính của mình đột nhiên bị ngưng trở. Tuy nhiên, sự lo
lắng của ông Hồng Phát lúc này không phải là không có cơ sở. Hoàn cảnh hiện tại
của ông ta là hoàn cảnh của một con cá đang nằm sẵn sàng trên thớt. Ông ta có đầy
đủ lý do để sợ hãi bất cứ một sự kiện nào có thể giàng buộc ông ta là âm mưu chống
phá cách mạng. Toàn không muốn trở thành một trong những nguyên nhân gây ra
tình trạng đó. Cuối cùng, chàng đành chép miệng :
– Thôi được, ông đi về
đi. Tôi sẽ trở lại để hoàn tất đợt in sách giáo khoa kỳ này. Nhưng chỉ kỳ này
thôi đấy. Tôi không thể làm mãi ở nhà in của ông được.
Mặt ông Hồng Phát tươi
lên. Ông nhoẻn một nụ cười thỏa mãn hiếm có kể từ ngày Sài gòn sụp đổ. Ông vội
vã từ biệt Toàn và hối hả quay ra. Toàn chận lại :
– Ông cất giùm cái bọc
này đi. Ông Hồng Phát xua tay lia lịa :
– Ăn nhằm gì. Ăn nhằm gì.
Tôi đã nói là mình chia xẻ với nhau mà.
Sự cương quyết của ông
làm nổi bứt rứt của Toàn vơi đi một nửa. Chàng lại cũng liên tưởng tới cơn cùng
quẫn về vật chất đang đe dọa đời sống gia đình. Cuối cùng chàng tặc lưỡi để cho
ông Hồng Phát ì ạch đẩy cái xe ra khỏi ngõ một cách khó khăn và nặng nề.
Lúc ông ta đi rồi, Toàn mới
cầm bọc giấy dầu lên tay, và cảm thấy mình run rẩy. Chưa bao giờ Toàn có dịp được
làm chủ một món tiền to tát đến như thế. Chỉ tiếc rằng nó đã đến với chàng
trong tình cảnh của một sự mờ ám. Lương tâm chàng như vọng lên một lời kết tội
rằng chàng đã vừa đi bóc lột của một kẻ đang ở chốn đường cùng. Nhưng rồi chàng
lại tự bào chữa :
– Ông ấy tự ý đem lại chứ
mình đâu có đòi hỏi. Vả chăng cái tài sản kếch xù mà ông ta gây dựng được nhanh
chóng trong nhiều năm qua hẳn cũng mang nhiều sự kiện mờ ám, phi nhân. Vậy, có
lấy đi một số thì đâu có tội tình gì.
Nghĩ đến đó Toàn chợt giật
nẩy mình khi phát giác ra rằng mình vừa sử dụng một lối lý luận thuần túy Mác
xít mà chàng đã nghe nhàm tai trong các buổi học tập và nay đã lẩn vào trong tiềm
thức : Đó là bóc lột của kẻ đi bóc lột là một chuyện đương nhiên, hợp lý, không
mảy may liên hệ gì đến vấn đề đạo đức con người !
CHƯƠNG III
Sau khi các cơ sở Công
đoàn đã được thiết lập dù trong hoàn cảnh hết sức vội vã với nhiều luộm thuộm
thiếu xót, Thành phố Sài Gòn đi vào công tác cải tạo Thương Nghiệp tư bản, tư
doanh. Nói trắng ra là kiểm kê và tịch thu tài sản của tất cả những thương gia
thuộc đủ mọi ngành nghề, ngoại trừ những người buôn thúng bán mẹt. Nguyệt được
biết kế hoạch này từ trước qua sự trình bày mơ hồ, hết sức tổng quát của Vũ.
Vũ nói :
– Sau ngày cách mạng
thành công, giai cấp tư sản và các phần tử bóc lột khác tuy đã bị đánh đổ nhưng
chưa bị xóa bỏ. Chúng nó còn tài sản, còn những liên hệ đối với nền kinh tế cũ
chưa được cải tạo, còn tiếp tục âm mưu ngóc đầu dậy để thu hồi lại «thiên đường»
vừa bị mất. Do đó, cuộc đấu tranh giữa Cách Mạng với các thành phần này còn gay
go quyết liệt. Nhiệm vụ trước mắt là phải tiến hành công tác cải tạo song song
với công cuộc bảo vệ và xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội.
Nguyệt liên hệ ngay đến số
phận bị bắt đi cải tạo của các cấp Sĩ Quan trong Quân Đội nên tròn mắt lên hỏi
:
– Nghĩa là tất cả các
thương gia đều bị bắt hết à ?
Vũ mỉm cười bí mật :
– Cũng còn tùy ở mức độ
và thiện chí của từng người. Nói đúng ra, những bọn tư sản mại bản có liên hệ
nhiều đến việc xuất nhập cảng, giao dịch với nước ngoài thì cũng đã bị bắt hết
rồi. Lần này, nếu có tiến hành công tác cải tạo thì cũng chỉ ở mức độ «nhẹ»
hơn.
Cái nhẹ hơn mà Vũ nói thật
ra cũng đã làm trời long đất lở và khiến cho toàn dân ở Sài Gòn cũng như các đô
tỉnh thị phải rúng động bàng hoàng.
Trước hôm kiểm kê độ năm
ngày, Nguyệt được biết một cách rõ nét hơn về một «công tác to lớn và cực kỳ
quan trọng» sắp tới. Nàng đi giữa thành phố Sài Gòn ồn ào, nhộn nhịp với tâm trạng
của một kẻ biết trước tai họa sẽ xẩy ra cho mọi người mà ai nấy vẫn còn đang nhởn
nhơ. Những sạp vải ở quanh chợ vẫn đầy nhóc hàng hóa. Dọc đường Trần Hưng Đạo,
Lê Lợi, Đồng Khánh, Nguyễn Trãi, những tiệm buôn vẫn tiếp tục mở cửa đón khách
ra vô nườm nượp, phần đông vẫn là những cán bộ, công nhân viên ở miền Bắc vào
công tác đi mua sắm trước khi trở ra. Giới thương gia vẫn còn tiếp tục hốt bạc
nhờ nguồn khách hàng cứ mỗi lúc một đông này. Thực ra, tin tức về kiểm kê đã được
lọt ra ngoài từ mấy tháng trước. Lúc đầu, dư luận đồn nháo lên. Sau không thấy
gì thì nghe ngóng, bàn tán. Rồi lại nháo lên nữa. Một vài lần xẩy ra như vậy,
riết đâm nhàm. Mọi người trở thành ngủ quên trong niềm tin dễ dãi; chỉ toàn tin
đồn nhảm.
Riêng lần này thì Nguyệt
biết chắc công cuộc kiểm kê sắp sửa xẩy ra. Một số thanh niên nòng cốt trong
chi đoàn đã được gửi đi học tập với nhiệm vụ lệnh không ghi rõ ngày trở về.
Nhìn nét mặt đăm chiêu, hối hả, nghiêm trang của những cán bộ tổ chức mà Nguyệt
có cơ hội tiếp xúc, nàng đoán được ngay cái ngày «trọng đại» sắp sửa diễn ra.
Trong khi đó, mẹ của nàng
vẫn tiếp tục tung vốn để mua vào đủ loại mặt hàng. Sạp vải của bà ở chợ Bến
Thành là một trong những sạp bề thế nhất. Nguyệt đã phải đấu tranh tư tưởng dữ
dội với chính mình để tự hỏi xem rằng có nên cho mẹ biết rõ sự thực hay không.
Nói cho ngay, nàng không phải là người thuộc loại cơ hội chủ nghĩa. Thoạt tiên,
nàng tham gia công tác đoàn thể với mục đích ham vui, cộng với hình ảnh sương
gió thu hút của Vũ mang phần nào tính cách lãng mạn, tiểu thuyết. Rồi thông qua
học tập, nàng chợt tìm thấy những điều mới lạ phù hợp với bầu nhiệt huyết đầy
lý tưởng của tuổi thanh niên. Vũ đã từng nói với nàng bằng một giọng sôi nổi :
– Đất nước bây giờ đã hòa
bình. Đây là cơ hội tốt nhất để tất cả mọi người cùng nhau góp phần gây dựng lại
quê hương đã đổ vỡ và đầy rẫy những điêu tàn.
Nguyệt tin Vũ. Mãi mãi
nàng vẫn còn tin Vũ vì trực giác nhạy bén của nàng cho nàng biết là Vũ đã nói
thật về chính ước mơ của chàng. Mà số người mang cùng một ước mơ như Vũ không
phải là nhỏ. Nàng nhớ đến chị Bảy, chị Chín ở tòa soạn báo Phụ Nữ Giải Phóng,
do nhu cầu công tác, đã cho nàng nhiều cơ hội tiếp xúc. Đấy là những người đàn
bà bình dị, hiền hòa. Họ đã trải qua nhiều năm sinh hoạt trong rừng sâu nên
thân thể gầy gò, ốm yếu, lúc nào cũng húng hắng ho, phải mang trên mình một cái
áo len mỏng dù tiết trời đang ở mùa hạ. Các chị ấy đã vẽ ra một tương lai tốt đẹp
cho quê hương sau ngày giải phóng :
– Bây giờ chúng ta đã làm
chủ trên chính quê hương của mình. Chúng ta sẽ tự do xây dựng một xã hội theo
đúng như mọi người mơ ước : không còn tham nhũng thối nát, không còn cường hào,
ác bá bóc lột. Cái xã hội bảo đảm được các quyền công dân, bảo đảm sự phát triển
phong phú của nhân cách, bồi dưỡng và phát huy được sở trường và năng khiếu của
cá nhân, tạo điều kiện cho mọi người tự do tìm tòi và sáng tạo trên các lãnh vực
sản xuất, khoa học, kỹ thuật, văn hóa nghệ thuật...
Một xã hội như thế, ai mà
không mơ ước ! Phải chăng, mấy trăm ngàn sĩ quan các cấp thuộc quân lực cũ sẵn
sàng đi trình diện học tập trong khi guồng máy công an, cảnh sát của chế độ mới
hãy còn ở giai đoạn phôi thai chưa đủ khả năng ruồng bắt, tóm gọn, ấy cũng là
vì xuất phát từ một tấm lòng tha thiết muốn được góp phần vào công cuộc xây dựng
lại quê hương sau bao nhiêu năm hoang tàn vì chiến tranh.
Việc tham gia công tác
đoàn thể của Nguyệt, do đó dần dần mang tính cách của một con người phục vụ cho
lý tưởng. Nàng miệt mài làm việc, có khi quên ăn, quên ngủ. Nàng tham dự vào những
cuộc đấu tranh tư tưởng dựa trên một số kiến thức về lý luận mới thu thập được,
cộng với chính những cảm nghĩ xuất phát từ tấm lòng bồng bột, hăng say của nàng
mà ra.
Vụ học tập về trường hợp
của Lê văn Nam ở nông trường Lê Minh Xuân là một thí dụ điển hình.
Lê văn Nam thuộc thành phần
thanh niên xung phong ở khu kinh tế mới Lê Minh Xuân. Anh ta lao động cật lực
như tất cả các thanh niên khác, và không ai được cung cấp đầy đủ thực phẩm để bồi
dưỡng. Người có gia đình thì còn được tiếp tế. Nam chẳng có thân bằng quyến thuộc
nào nên đói thưởng xuyên. Một hôm, đói quá, Nam đã cất giấu mấy củ khoai mì ở
dưới luống, sau khi đã đổ mồ hôi để đào mà gom lại nộp cho Ban điều hành nông
trường.
Đến tối mịt, anh ta trở lại
luống mì, đào lên mấy củ đã cất dấu và ăn sống nuốt tươi trong bầu không khí
nhá nhem thê lương của nông trường. Việc làm vụng trộm của anh bị phát giác và
anh bị lôi ra trước tập thể để làm kiểm thảo. Sui cho anh, sự việc xẩy ra lại
rơi đúng vào thời gian toàn thành phố đang phát động chiến dịch đấu tranh tránh
sai trái, chống tẩu tán tài sản của Xã Hội Chủ Nghĩa. Thế là phóng viên tờ Tuổi
Trẻ, cơ quan ngôn luận của Thành Đoàn Thanh Niên đưa vụ này lên mặt báo làm trường
hợp điển hình. Đơn vị của anh Nam được tuyên dương ầm ĩ.
Là một bí thư chi đoàn,
Nguyệt có bổn phận phải khai triển vụ điển hình này để cho các thanh niên trong
cơ sở nhà in Hồng Phát được học tập. Nhưng thay vì cổ võ việc làm của đơn vị
anh Lê văn Nam, trái lại Nguyệt thực sự nổi giận. Nàng tức tốc đi tìm Vũ và nói
với chàng :
– Các anh hết sức sai lầm
khi đem vụ này ra học tập. Các anh thử nghĩ coi, một người lao động trên luống
mì đến không đủ no, phải ăn cắp rồi ăn tươi nuốt sống ngay chính trên sản phẩm
lao động của mình. Một trường hợp như thế ta không lấy làm đau lòng hay sao ?
Cái lỗi của anh Nam thì có, nhưng nhỏ, nhưng cái bất nhân của chế độ điều hành
nông trường kiểu đó còn to lớn hơn nhiều.
Vũ chia xẻ ngay với sự phẫn
nộ của nàng. Chàng hứa sẽ đặt vấn đề với toà soạn báo Tuổi Trẻ. Chẳng rõ việc đặt
vấn đề này dẫn tới kết quả ra sao, nhưng ít nhất, Vũ cũng đã chấp thuận để Nguyệt
bỏ qua một vụ học tập điển hình có tính cách «bất nhân» này.
Cũng có thể hiểu rằng, vụ
Lê văn Nam chỉ là một vụ nhỏ, không động chạm gì đến những vấn đề cốt tử của chế
độ. Do đó, hành động của Nguyệt được dễ dàng chấp thuận. Nhưng còn những vụ bắt
bớ, giam cầm, tịch thu tài sản có khi thì diễn ra âm thầm, có khi thì ồn ào sôi
nổi thì sao ? Nguyệt có đủ thông minh để không dại gì húc vào những lãnh vực to
tát như thế. Can đảm lắm thì Nguyệt cũng chỉ nêu lên những câu hỏi để trấn át sự
lợn cợn trong lòng mình :
– Anh Vũ, mình có cần phải
bắt bớ hết, giam cầm hết những thương gia làm nghề Xuất nhập cảng trước đây hay
không ?
– Tại sao không ! Đó là
thành phần Tư sản mại bản, nặng nề hơn thành phần tư sản dân tộc.
– Nhưng dưới chế độ cũ, họ
cũng là người làm ăn buôn bán lương thiên.
– Không thể lương thiện
được khi nhìn dưới góc độ của con người Cách mạng. Trước hết là họ cấu kết với
tư bản ngoại quốc để bóp chết những thành phần sản xuất những hàng nội hóa. Sau
nữa là họ đầu cơ để thao túng thị trường làm giầu trên mồ hôi, nước mắt của tập
thể nhân dân lao động, họ đã trở thành những vua đường, vua sữa, vua gạo, lại
có cả vua kẽm gai nữa. Họ có nợ máu đối với nhân dân.
– Những «vua» ấy thì có,
nhưng đâu phải tất cả. Thành phần còn lại, tưởng chỉ cần tịch thu tài sản là đủ
rồi chứ.
– Em lại sắp rơi vào chủ
nghĩa chung chung mà xa rời tính cách triệt để của bạo lực cách mạng rồi. Làm
cách mạng mà không triệt để thì các phần tử xấu sẵn sàng lúc nào cũng cấu kết với
nhau, ngóc đầu dậy, chống phá, lũng đoạn có khi làm tiêu tan cả thành quả phôi
thai mà cách mạng vừa đoạt được. Cho nên phải dứt khoát rũ bỏ tình thương chung
chung. Nó không đem lại một điều gì lợi ích cụ thể mà có khi còn hại cho chính
bản thân của em sau này.
Sau lời nói đó, Nguyệt
không còn muốn đề cập gì thêm với Vũ nữa. Nàng biết rằng có trao đổi thì vấn đề
cũng đứng lại ở lằn mức như vậy. Lằn mức mà ở đó, Nguyệt chưa đủ nhẫn tâm để vượt
qua. Lằn mức mà ở đó, lòng nhân bản của Nguyệt không cho phép nàng chấp nhận
quan điểm đem sắt máu trấn áp những người thuộc chế độ cũ dù người đó thuộc vào
bất cứ thành phần gì trong xã hội. Rút cục, Nguyệt ẩn dấu trong lòng một tâm sự
sâu kín, nó khiến cho nàng không thoải mái trong rất nhiều sự kiện đang liên tục
diễn ra ở chung quanh. Lần đầu tiên từ ngày Sài Gòn sụp đổ, Nguyệt cảm thấy cô
đơn trên con đường mình vừa chọn lựa. Danh từ Cách Mạng nghe đầy vẻ sôi nổi, hấp
dẫn nhưng nó vẫn hàm chứa một cái gì ghê gớm, tàn bạo, lạnh lùng mà nàng không
thể nào vượt qua được. Nhưng công việc bận rộn mù mịt không cho Nguyệt nhiều cơ
hội để suy nghĩ, đặt vấn đề. Gần tới ngày thực sự kiểm kê, Nguyệt chỉ nói với mẹ
:
– Con nghĩ rằng dưới chế
độ mới, việc mua bán không thể kéo lâu dài.
Mẹ nàng đáp :
– Được ngày nào hay ngày
đó chứ. Nếu không, lấy gì mà ǎn.
– Nhưng tính làm ăn tạm bợ
như vậy, sao mẹ buôn thêm vào làm chi lắm mặt hàng thế.
– Buôn bán thì phải vậy
chứ. Đã gọi là sạp hàng thì cũng phải cho đầy đủ. Với lại tiền Cách Mạng như giấy
lộn, để hàng thì còn đó, để tiền trắng tay lúc nào không biết.
Nguyệt nói xa xôi :
– Nhưng hàng có thể bị kiểm
kê bất cứ lúc nào. Mẹ không thể nghĩ rằng bất chợt, nhà nước có thể ra lệnh
niêm phong, kiểm kê hết sao.
Bà cụ chép miệng :
– Ôi dào ! Nghe làm gì mấy
cái tin đồn. Nhà nước họ còn cả nghìn thứ việc, rỗi hơi đâu mà họ đi lo mấy cái
sạp vải lăng nhăng.
Nguyệt phấn đấu tư tưởng
dữ dội lắm, nhưng rút cục nàng nhận thấy không thể không cho mẹ biết về những dữ
kiện đang âm thầm xảy ra :
– Lần này không phải tin
đồn đâu mẹ. Con biết chắc rằng việc kiểm kê chỉ xẩy ra trong vài ba hôm nữa. Họ
chuẩn bị xong hết rồi.
– Lần nào tao cũng nghe
nói chuẩn bị hết rồi mà có thấy gì đâu. Nhưng thôi, để bán xong mớ hàng này rồi
tao tính.
– Mẹ tính thế nào thì
tính, nhưng nếu có bị niêm phong, mẹ đừng có trách con là không nói trước.
Bà cụ bật cười :
– Con mẹ mày ! Có bao giờ
tao trách mày đâu. Thông báo xong với mẹ, Nguyệt thấy nhẹ người.
Nàng tự cho như thế đã là
quá mức của nàng. Và nàng biết chắc, chỉ trong thời gian ngắn nữa, mẹ nàng sẽ mất
hết. Nhưng mất thì mất, đó là con đường chung mà tất cả mọi người phải đi qua.
Rồi đây, ai ai cũng như nhau, cùng một điều kiện sống, cùng một hoàn cảnh và
cùng nắm tay nhau khởi đầu trong một ván bài đi làm lại. Nàng cảm thấy hoàn
toàn yên tâm khi nhớ đến một đoạn trong bài giảng thuộc một khóa học ở Thành
đoàn Thanh niên :
– Rồi đây chúng ta sẽ tạo
ra lực lượng sản xuất mới lẫn quan hệ sản xuất mới, tạo ra cơ sở kinh tế mới lẫn
kiến trúc thượng tầng mới, tạo ra cả đời sống vật chất mới lẫn đời sống tinh thần
và văn hóa mới.
Nàng lấy làm ngạc nhiên
sao một con người hiểu biết, có tâm hồn hướng thượng như Toàn, lại không thể
chia xẻ một mảy may nào với nàng về một viễn tượng tương lại tốt đẹp như thế.
Từ hôm đi làm trở lại,
Toàn có một thái độ chăm chỉ hơn, tích cực trong công việc xếp chữ những trang
Toán của chàng hơn, nhưng đồng thời chàng lại có vẻ lạnh lùng, câm nín hơn.
Nguyệt không thể biết được rằng sự chăm chỉ ấy đã do bàn tay của ông Hồng Phát
nhúng vào. Còn nhiều điều khác nữa ở trong cái cơ sở in này. Nguyệt cũng không
hề hay biết. Nàng là một con người có khả năng nhạy bén về tài liệu sách vở, và
có óc tổ chức rất sáng suốt, linh hoạt, tuy nhiên tất cả những cái đó chẳng qua
cũng chỉ là lý thuyết, mang hoàn toàn tính cách hình thức trang trí. Đi vào đời
sống thực tế, Nguyệt chẳng có qua một chút kinh nghiệm nào. Cho nên trong lúc
nàng lo hăng say sắp đặt lại khâu này, tái phối trí lại khâu kia, thì những
nhân sự bề ngoài có vẻ tuân theo chỉ thị của nàng một cách răm rắp, nhưng bên
trong lại đầy những âm mưu, lén lút ở những chỗ không bao giờ Nguyệt để mắt tới.
Vụ in giấy đi đường giả
là một thí dụ nhỏ. Dưới chế độ mới, việc di chuyển từ tỉnh này đến tỉnh kia phải
có sự chấp thuận của cơ quan. Đương sự thuộc cơ quan nào thì nơi đó cấp giấy.
Còn diện nhân dân di chuyển thì phải qua công an Phường, Quận. Đi xa hơn nữa,
qua khỏi ranh giới Huế ra Bắc, thì phải cứ sự chấp thuận của Công an cấp Thành.
Hình thức đặt ra trông có
vẻ như là một sự kiểm soát chặt chẽ. Nhưng trong thực tế, đó là một duyên cớ
béo bỏ để đủ loại người có thể xúm lại làm ăn. Một lần, nhân ngồi rủ rỉ tâm sự
với một vài nhân viên thân tín cũ, (mà hiện nay vẫn còn tiếp tục nhận tiền rấm
rúi của ông Hồng Phát để bù đắp vào đồng lương chết đói do Cách mạng qui định
cho công viên), ông Hồng Phát gợi ý :
– Cái giấy đi đường thì tụi
bây in nhấp nháy là xong chớ gì.
Một anh thì thào :
– Xếp chữ dễ, in mới
khó... Máy nó chạy xoành xoạch, đứa nào cũng thấy.
Ông Hồng Phát cười rung cả
hai má núng nính :
– Mầy lâu trong nghề mà
ngu. Ba cái giấy vật ấy đâu cần lên khuôn cho máy chạy. Xài cái bàn lăn vẫn để
vỗ bài «bông» ấy chớ.
Mấy người ngồi quanh reo
lên :
– Chịu ông thầy ! Lăn cái
đó chỉ mười lăm phút một ngày là dư giấy phép đem xài.
Thế là dịch vụ in giấy đi
đường giả tiến hành trước mũi của Nguyệt mà nàng không hề hay biết gì cả. Kẻ chủ
chốt xếp chữ là Hùng, một thanh niên đã được kết nạp vào Đoàn, lại vừa được
Nguyệt đề nghị cấp giấy khen về thành tích tiên tiến nữa ! Rồi từ giấy đi đường
giả, được trớn, Hùng và nhóm thân tín in luôn giấy chứng minh giả, giấy bầu cử
giả, giấy nghỉ phép giả, Hùng có đủ lý do «chắc nịch» để bào chữa cho hành động
của mình :
– Vừa có tiền xài, vừa
giúp đỡ bà con tránh khỏi nạn kềm kẹp !
Sự việc mờ ám bỗng nhuốm
một mầu sắc ái quốc, mặc dầu ngân quỹ phục quốc chẳng hề được hưởng một đồng xu
teng nào. Cũng như trong thời gian đó, cái tệ đoạn cướp giật, tráo đồ, ăn gian
nói dối, lừa gạt tráo trở xẩy ra đầy rẫy ở những khu chợ trời, mà nạn nhân phần
đông là những anh bộ đội ngu ngơ (nhiều khi rất hiền lành) đều đã được những kẻ
chủ mưu tự khoác cho mình nhãn hiệu yêu nước để giải tỏa cái mặc cảm bất lương
nếu có, của mình :
Mấy thằng bộ đội cho nó
chết luôn ! Mình «ngụy» mà !! Chữ Ngụy bỗng nhiên trở thành một bình phong che
dấu rất nhiều hành vi tồi tệ. Chợ trời Sài Gòn, trong tình thế ấy, như lên một
cơn sốt kinh niên. Chẳng ngày nào lại không xẩy ra vài trường hợp có những anh
cán bộ, bộ đội đứng ở giữa chỗ đông người vừa mặt xanh không còn hạt máu, vừa
gào mồm lên văng tục, nói bậy, đào mồ ông mồ cha bọn ngụy lên mà chửi vì phút
chốc vốn liếng cả đời đổ vào cái đài, cái đổng, cái xe nay bỗng tiêu tan vì bị
cướp giật bằng đủ mọi loại hình thức.
Ở nhà in Hồng Phát, những
cơn sốt âm ỉ, trái ngược cũng vẫn đang âm thầm diễn ra. Trong khi ở căn nhà dưới
về khuya, những anh thợ làm ca đêm vừa chạy máy in sách giáo khoa, vừa thay
nhau canh chừng để in lậu những giấy tờ giả mạo, thì ở tầng xét trên, Nguyệt và
một vài thành phần thu hẹp chụm đầu thì thào thảo luận với ông Năm Tỏa về những
biện pháp sắp đem ra áp dụng cho ông Hồng Phát một khi cuộc cải tạo tư bản tư
doanh bùng nổ toàn thành phố. Cứ chiếu theo tập hồ sơ thu thập được từ nhiều
nguồn tin tức khác nhau đánh giá về quá trình sinh hoạt bản thân của ông Hồng
Phát, thì ông ta là một người có nhiều... nợ máu ! Buôn lậu, chợ đen, đầu cơ
tích trữ, bóc lột đời sống công nhân để có một tài sản kếch sù, thôi thì đủ thứ
tội tình mà dưới chế độ mới, ít lắm ông ta cũng bị lôi đi cải tạo vô thời hạn
song song với biện pháp tịch thu toàn bộ tài sản. Nói cho ngay, những hồ sơ này
không phải là những thứ bịa đặt, chụp mũ. Ông Hồng Phát là một thương gia, đúng
nghĩa hiểu theo quan niệm của xã hội cũ. Buôn đi, bán lại không phải là một tội
tình. Ông chỉ bước thêm một bước quá trớn, vượt qua khỏi lằn ranh buôn bán đúng
nghĩa bằng cách sử dụng tiền bạc có sẵn để giam hàng hóa lại một thời gian
thích hợp trước khi bán ra. Nghĩa là đầu cơ, tích trữ. Luật pháp của chế độ cũ
không dung dưỡng cho loại hoạt động phi pháp này. Nhưng đó chỉ là lý thuyết.
Trong thực tế, nó đã được hỗ trợ ngầm bởi nhiều phía có quyền lực, vì có sự ăn
chia. Rút cục chỉ khổ cho lũ dân chúng lao động nghèo khổ, sống bằng đồng lương
cố định hoặc giật vá tiền bạc từng ngày. Họ đã trở thành con mồi cho gian
thương xiết họng. Hộp sữa, ký đường hôm nay một giá, tuần sau lên một giá khác.
Những hàng nhu yếu phẩm thoắt biến, thoắt hiện trên thị trường nhịp nhàng như
chịu ảnh hưởng dưới bàn tay của những tên phù thủy. Dân cứ nghèo, cứ than,
nhưng gian thương và bọn quyền thế cứ ních đầy túi tham một cách không bao giờ
thỏa mãn.
Ông Năm Tỏa đã nghiên cứu
hồ sơ cá nhân của ông Hồng Phát với một vẻ mặt lạnh lùng và những tia mắt đầy
thù hận. Rồi ông cùng ký tên với Nguyệt vào bản phúc trình mật sau khi buông gọn
một câu :
– Tất yếu là phải như vậy
thôi !
Dưới mắt Nguyệt, số phận
của ông Hồng Phát coi như đã được an bài. Khi tới ngày G, giờ X, mọi thân bằng
quyến thuộc sinh sống trong gia đình ông sẽ bị cấm chỉ ra vô. Mọi đồ đạc, ngăn
kéo, tủ kệ và két sắt sẽ bị niêm phong. Riêng ông sẽ phải ra đối chất với toàn
thể công nhân nhà in Hồng Phát về mọi hành vi mà ông đã làm trong quá khứ (Nguyệt
đã chuẩn bị một số đoàn viên làm nòng cốt trong việc đối chất này). Rồi nhà in
Hồng Phát sẽ chánh thức chuyển sang tay công nhân dưới hình thức làm chủ tập thể.
Ông sẽ bị còng tay và dẫn đi học tập cải tao.
Nói chung, số phận của
ông sẽ giống y chang như những người đã bị liệt vào thành phần tư sản mại bản
đã bị quản chế trước đây. Hồi đó, Nguyệt được giải thích :
– Cách Mạng rất sáng suốt,
chỉ áp dụng bạo lực với thành phần tư sản mại bản cấu kết với bọn nước ngoài mà
thôi. Còn thành phần tư sản dân tộc, nói chung là những thương gia không có
liên hệ với nước ngoài, thì ít nhiều gì cũng có những điểm tốt, nên không sao,
cứ khuyến khích họ bình tĩnh, yên tâm làm ăn.
Nay thì lời trấn an đó đã
hoàn toàn trở thành vô nghĩa. Nguyệt học thêm được một điều là trong chế độ mới,
chỉ thị, nghị quyết, biện pháp gì gì đi chăng nữa, tất cả đều chỉ có tánh cách
giai đoạn. Chuyện này được bỏ qua trong hiện tại, nhưng không có nghĩa là sẽ được
bỏ qua trong tương lai. Như một con thú đói khát đứng trước một con mồi ngon
lành, nó sẽ ngoạm dần từ miếng đầu tới miếng chót. Điều này. Nguyệt phải hiểu
đó là sự đương nhiên, vì nàng đã được học tập rằng : Giai cấp bóc lột không những
rèn ra vũ khí để sẽ giết chính mình mà còn sinh ra những người sử dụng cái vũ
khí đó, tức là những kẻ đã từng ở giai cấp bị bóc lột ! Cái quan niệm bạo lực sắt
máu đó sẽ không bao giờ dành một chỗ dung thân cho những con người như ông Hồng
Phát cả.
Bây giờ, thời điểm ấy đã
tới. Mọi sự xếp đặt đã được hoàn tất ở phần vụ cơ sở, chỉ còn cần một sự duyệt
xét và thông qua của cấp có thẩm quyền cao hơn.
Ông Năm Tỏa thỏa thuận để
Nguyệt mang toàn bộ hồ sơ đến hội ý và xin quyết định cuối cùng của ông Sáu
Thu. Nàng liên lạc với ông qua số dây nói ở nơi làm việc, nhưng lại được ông hẹn
ở nhà riêng với lý do cần sự bảo mật. Ông Sáu Thu được sở nhà đất thành phố cấp
cho một căn biệt thự ở đường Công Lý. Căn nhà rộng rãi, tĩnh mịch có lầu trên,
có dãy nhà ngang ở dưới, có cây cối um tùm bao quanh, nhưng vì chỉ có một mình
ông và một anh bảo vệ nên trở thành tuênh toang, trống trải. Theo sự hiểu biết
của Nguyệt, thì ông Sáu Thu đã có vợ, có con ở Hà Nội. Chương trình dự liệu của
ông là sau một thời gian ổn định, ông sẽ đón tất cả mọi người vào Nam. Nhưng
hình như thời gian «ổn định» đó chưa tới, nên chưa thấy dấu hiệu gì có vẻ như
ông đang sắp xếp, chuẩn bị nơi ăn chốn ở cho người thân cả. Căn phòng khách ở
phía ngoài, ngoài bộ sa lông và một cái tủ kính đựng ly, tách, hãy còn nhiều chỗ
trống chưa có đồ đạc, hay cây cảnh trang trí. Trên vách tường cũng vậy, những bức
tranh cũ (chắc là mang dấu vết của sự đồi trụy) đã được gỡ ra, bỏ lại những khoảng
trống mang mầu sắc đậm hơn so với màu tưởng đã cũ kỹ theo thời gian.
Ông Sáu Thu tiếp Nguyệt
trong một bộ pyjama còn nguyên nếp phủ bên ngoài bằng một cái áo kimono màu đỏ
tía. Trông ông hoàn toàn diêm rúa và thật tương phản với với bộ quần áo màu
xanh bộ đội ông mới mặc hôm nào khi đứng trên bục thuyết trình tại khóa đào luyện
Cán bộ Công đoàn Cơ sở. Mặt mũi của ông cũng nở nang và có khí sắc hơn so với
nước da mai mái, đen sạm của ông mới chỉ trước đó vài tháng. Trông thấy Nguyệt,
ông nở một nụ cười thật tươi và chạy lại vồn vã, ôm lấy ngang bờ vai tròn trĩnh
sau lần áo cánh bằng phin mỏng của nàng. Ông nói cười ồn ào :
– Sao cô Nguyệt, công tác
tốt không ? Có gì căng lắm không ? Nhà cửa của tôi còn luộm thuộm lắm, cô đừng
chê nhé. Rồi ông tự tay đi lấy ly tách đem vào phòng trong sửa soạn để bưng ra
ngoài cho nàng một ly nước cam đầy ắp. Riêng về phần ông, ông pha cho mình một
ly soda trong có chế một ít rượu mạnh Cognac, Whisky gì đó, độ rượu không mạnh
lắm nhưng cũng đủ để cho mặt ông trở nên hồng hào sau khi nhâm nhi một vài ngụm.
Trong lúc ông chạy loay hoay đứng lên, ngồi xuống làm đủ thứ chuyện, thì Nguyệt
vẫn ngồi khép nép ở một ghế salon, lòng không khỏi so sánh hình ảnh của ông với
ông Năm Tỏa để thấy rõ sự khác biệt giữa hai con người đang cùng đi chung với
nhau trên một con đường. Con đường Cách mạng !
Ông Năm Tỏa quanh năm xuê
xòa với bộ quần áo kaki đã bạc mầu. Từ ngày Vô Thành phố, ông ta vẫn lê đôi dép
râu cùn mòn mà lâu lâu ông cứ phải cúi xuống buộc lại cái quai hậu thỉnh thoảng
bị tuột ra. Ông nghiện thuốc lá, mỗi lần ông châm điếu thuốc, Nguyệt thấy ông
dùng cái bật lửa cũ kỹ mà nước kền mạ ngoài đã bị mài mòn đến độ để lộ ra màu đồng
ở trong cũng đã lên nước sáng bóng. Thường thì ông phải bật đi bật lại năm bảy
lần cái bấc mới bắt lửa. Đầu ông hơi nghiêng, cặp mắt với đôi lông mày rậm đã
ngả mầu đốm bạc hơi nhíu lại, đôi môi dày và thâm của ông chu lại để ngậm điếu
thuốc đang được mồi. Cử chỉ ấy của ông trông tội nghiệp như cuộc đời thanh đạm,
thiếu thốn của ông. Công tác gần gũi với ông lâu ngày, Nguyệt coi ông như một
ông chú. Nàng rất quý ông ở tính tình xuề xòa, đơn giản của ông. Trong công
tác, ông là một cán bộ trung thành với đường lối kinh điển. Ngoài đời sống, ông
vui vẻ, dễ hòa hợp với mọi người. Ông tin tưởng ở con đường mà ông đã đeo đuổi.
Ông hay say sưa kể cho Nguyệt nghe về những ngày mà ông cho là vẻ vang khi còn
chiến đấu thiếu thốn ở ông trong rừng. Sự say sưa nhắc lại quá khứ của ông chợt
có lúc Nguyệt khám phá ra rằng ông đang ở cái tâm trạng chỉ hoài niệm về những
huyền thoại đã đi qua không bao giờ trở lại. Có lần nàng hỏi ông về những chuyện
hiện tại, bây giờ, những gì đang diễn ra sôi nổi ở chung quanh, thì ông trả lời,
giọng đăm chiêu, xa vắng :
– Cả cuộc đời tôi đi làm
Cách mạng, đâu phải để thể hiện một cái xã hội như thế này.
Đấy là một lần duy nhất,
ông Năm Tỏa thổ lộ những ý nghĩ sâu kín nhất của ông. Nhưng ông không còn cách
nào khác hơn là buông xuôi phó mặc đời sống cho guồng máy đang rầm rộ vận chuyển.
Kẻ ở vị thế này, người ở hoàn cảnh khác. Những khuôn mặt có thể đồng dạng với
nhau khi cùng đồng lao cộng khổ, nhưng đến lúc có cơ hội để thụ hưởng thì vô số
những khác biệt mới lộ ra.
Như ông Sáu Thu là một
trường hợp điển hình. Ông đã miệt mài đấu tranh để loại bỏ một giai cấp, nhưng
ông lại đang ở trên đà trở thành kẻ thay thế lớp người cũng ở giai cấp đó. Nói
khác đi, Cách mạng đâu có xóa bỏ nổi giai cấp áp bức, bóc lột. Nó chỉ thay thế
lớp người đi làm công cuộc áp bức, bóc lột đó thôi. Nguyệt nhận thấy, lần đầu
tiên mình manh nha ý nghĩ này qua cuộc đối thoại với ông Sáu Thu buổi tối hôm
đó. :
– Hôm nay Em đại diện Cơ
Sở lên xin ý kiến chót của Ông về trường hợp của ông Hồng Phát.
Sáu Thu nhíu mày :
– Hồng Phát nào nhỉ ?
– Dạ, ông ấy là chủ cũ của
cơ sở in Hồng Phát.
Ông Sáu Thu «à» lên một
tiếng như người vừa chợt nghĩ ra, rồi ông nói :
– Tôi biết. Tôi cũng đã
có những báo cáo về trường hợp của tên này. Còn ý kiến của Chi đoàn và Công
đoàn
Cơ sở ra sao ?
Nguyệt đẩy tập hồ sơ về
phía ông :
– Thưa, mọi dữ kiện, mọi
phân tích, mọi đề nghị đều đã ghi trong hồ sơ này.
– Vậy cô để đấy tôi sẽ đọc
và cho ý kiến sau.
Quen với cung cách làm việc
tại chỗ, giải quyết tại chỗ, Nguyệt ngơ ngác hỏi :
– Vậy là em phải chờ tới
hôm khác ? Em nghĩ là thời gian khẩn trương lắm rồi.
Ông Sáu Thu cười :
– Có gì mà khẩn trương đến
thế. Trường hợp của Hồng Phát «nhẹ» mà, đâu có gì gấp gáp.
Nguyệt tròn mắt lên nhìn
Sáu Thu như không tin ở tại nghe của mình. Nhưng nàng không thấy gì khác hơn
trên khuôn mặt của ông ta ngoài ánh mắt đĩ thõa đang nhìn xuống đôi gò ngực
căng phồng dưới làn áo phin mỏng. Mặt Nguyệt hơi đỏ lên. Nàng vờ làm một động
tác để thay đổi thế ngồi, rồi nói :
– Thưa Ông, Công đoàn cơ
sở và Chi Đoàn Thanh Niên đã hết sức khách quan trọng công việc thu thập những
dữ kiện về đời sống quá khứ của đương sự. Nhiều trường hợp có cả những dữ kiện
và nhân chứng cụ thể.
Sáu Thu đổi giọng nói :
– Đồng ý ! Đồng ý ! Tôi
không nói là các đồng chí làm sai. Nhưng Cách Mạng xử sự bất cứ việc gì cũng phải
có lý, có tình. Cô không thấy là Hồng Phát đã chứng tỏ thiện chí cung hiến nhà
in ngay từ phút đầu Cách mạng vào thành à ?
– Thưa ông, đấy đâu có phải
là một biệt lệ. Tất cả mọi thương gia thuộc mọi ngành đều sẵn sàng cung hiến cơ
sở của họ ngay sau ngày 30 tháng tư.
– Sự kiện thì đúng, nhưng
động cơ thì khác nhau. Có kẻ cung hiến vì sợ sệt, vì đã tẩu tán tài sản chỉ còn
để lại một cái cơ sở rỗng không, có kẻ thì cung hiến vì... vì thiện chí, vì muốn
đóng góp với Cách Mạng. Thế cho nên, không thể phân đoạn sự kiện theo kiểu
chung chung, cá mè một lứa được.
Nguyệt lặng người đi một
giây. lát sau nàng mới nói :
– Cái đó là tùy ở trên định
đoạt. Ở dưới Cơ Sở chung em chỉ làm nhiệm vụ tổng kết, đánh giá và nêu ý kiến
thôi.
– Nhân danh Đảng Ủy, tôi
rất cám ơn các đồng chí đã hăng say và hoàn tất nhiệm vụ một cách xuất sắc. Tuy
nhiên, kết luận tối hậu thế nào, tôi sẽ cho biết sau.
Rồi ông đổi giọng :
– Thôi. Bây giờ công tác
xong rồi. Cô Nguyệt uống nước cam đi kẻo đá nó tan ra hết. Ngoài ra, tôi muốn hỏi
riêng cô về môi trường cô đang làm việc. Cô thấy thể nào, có thoải mái không,
có căng lắm không.
Nguyệt đáp :
– Dạ, cũng thường thường.
Lúc đầu thì có căng, nhưng sau cũng quen đi.
– Nguyệt ạ, tôi đã nghiên
cứu kỹ quá trình làm việc của em rồi. Tôi thấy em có nhiều khả năng, nhiều sáng
kiến, lại có trình độ nhận thức rất cao. Một cán bộ như thế mà chỉ đặt ở một cơ
sở ấn loát thì không đủ môi trường hoạt động để thi thố hết tài năng. Em có ý định
rời chỗ ấy để làm việc ở một nơi khác cao hơn không ?
– Thưa Ông, đã phục vụ
thì ở đâu cũng thế. Ông Sáu kêu lên :
– Thế sao được ! Mỗi người
một hoàn cảnh, một địa vị, một chức năng làm việc khác nhau chứ. Tôi, sau vụ cải
tạo này chắc sẽ về Bộ. Tôi đề nghị lấy Nguyệt về, em có chịu không ?
Nguyệt đáp ngay :
– Thưa Ông, Thanh Niên là
môi trường sinh hoạt dễ thích hợp với em hơn.
– Đành là thế, nhưng
không lẽ cứ chết rí ở cái nhà in tùm hụp đó. Em theo tôi đi, mình sẽ có tương
lai hơn nhiều.
Vừa nói, Ông vừa thò tay
ra nắm lấy bàn tay có những ngón búp măng thuôn dài và trắng muốt của Nguyệt.
Nàng hoảng hốt như tay mình vừa đụng phải làn da nhão nhoẹt của một con rắn.
Nàng vội vã đứng phắt dậy, cố tình không nhìn vào mặt ông để tránh khỏi phải chứng
kiến cái vẻ ngỡ ngàng, tiu nghỉu mà dù chỉ tưởng tượng thoáng qua, nàng cũng thấy
mình bị lợm giọng. Nàng bước nhanh ra ngoài cửa và nói :
– Thôi chào ông, tôi về.
Không để cho ông ta kịp
chạy theo đưa tiễn hay nói năng vớt vát lại điều gì, nàng đi vội xuống sân nhỏ
và bước như chạy ra khỏi cổng. Anh bảo vệ đang ngồi hút thuốc trên một chiếc ghế
gỗ kê ở gần hàng rào, thấy Nguyệt chạy qua, vội đứng dậy. Anh ta chưa kịp có ý
định về mình sẽ phải làm gì thì ở trên hành lang đã có tiếng tác xác của Sáu
Thu :
– Thằng Bẩy đâu ! Bảo vệ
mà trốn mất mặt mất mũi thì còn bảo vệ cái nỗi gì nữa.
Anh công an hốt hoảng nhảy
bổ ra chỗ có ánh sáng, định cất giọng phân trần thì Sáu Thu đã quay ngoắt trở
vào. Dưới ánh mắt đầy vẻ sợ hãi của anh, anh chỉ còn kịp nhìn thấy ông Sáu Thu
trong chiếc áo kimono màu đỏ chói đi thẳng vào phòng trong và có tiếng cánh cửa
đóng sập thật mạnh. Cổ họng của anh như nghẹt lại. Anh có cảm giác như mình vừa
vi phạm phải một tội lỗi tày trời, dù anh chẳng biết là tội lỗi gì, nhưng chắc
chắn là «nó» không thể được tha thứ. Chả biết ngày xưa, bọn phong kiến bóc lột
đối xử với lũ nô lệ, tôi tớ thế nào, nhưng bây giờ ở đây, anh bảo vệ chỉ thấy đồng
chí Sáu Thu là một cái gì cao vòi vọi mà suốt đời anh không thể với tới, suốt đời
anh phải tận tâm phục vụ.
* * *
Nguyệt gặp lại ông Năm Tỏa
ở căn phòng hội họp trong nhà in. Nàng dấu diếm những điều mà Sáu Thu vừa đề
nghị với nàng, và chỉ nói :
- Có lẽ trên sẽ duyệt lại
những biện pháp đề nghị của mình. Trường hợp của ông Hồng Phát có lẽ «nhẹ».
Ông Năm Tỏa cũng không dấu
được sự ngạc nhiên của mình :
– Cô nói sao ? Đồng chí
Sáu Thu cho rằng đó là một trường hợp «nhẹ» à ?
Nguyệt tần ngần :
– Có lẽ vậy ! Cháu chỉ
nghe ông ấy nói như thế.
Ông Năm Tỏa hít một hơi
dài vào lồng ngực như để trấn an những tư tưởng gay go vừa thoáng hiện trong đầu
của mình. Rồi ông ta lặng lẽ bước tới bước lui trong căn phòng chật hẹp, mỗi bề
không tới bốn thước mà không nói năng thêm câu nào cả. Tôn trọng sự suy nghĩ của
ông, Nguyệt khép nép ngồi xuống mở chồng hồ sơ cao ngất nghểu để trên mặt bàn.
Nàng lật qua vài trang của tập tài liệu trên cùng mà thật ra nàng chẳng tiếp
thu được một chữ nào trong đó cả. Đầu óc nàng cũng đang làm việc dữ dội. Nàng
đoán chắc ông Hồng Phát đã lén lút tung tiền ra mua đứt Sáu Thu. Cái gì chớ nghệ
thuật lo lót của ông phải kể là siêu đẳng. Ngày xưa, lo lót là một mánh khỏe cần
thiết trong nghề nghiệp. Nó công khai nhưng khó, vì cần phải đánh giá đúng mức
độ mà đối tượng có thể đòi hỏi. Nhiều khi là một khối vàng khổng lồ hay là cả một
va li bạc. Bây giờ, nó quá dễ vì có thể mua cán bộ cách mạng với một giá rẻ rề.
Nguyệt không thể biết được ông Hồng Phát đã mua được ông Sáu Thu bằng giá bao
nhiêu, nhưng sự thể diễn ra cho nàng kết luận một cách chắc nịch rằng ông Hồng
Phát đã thi hành thủ đoạn một cách chót lọt. Hèn chi mà hồi này ông ta không
còn giữ vẻ mặt của một con mèo bị bẹp tai như trước nữa. Ông ta đã bắt đầu đi
lên, đi xuống quanh trong phạm vi của nhà in như một khách nhàn tản thăm viếng
một cơ sở đang hoạt động. Đôi khi ông còn đứng lại bông đùa với một vài tay đàn
em thân tín cũ. Ông đang có vẻ lấy lại sự thăng bằng của một kẻ thất thế vừa
ngã xuống bùn đen. Bây giờ, Nguyệt mới thám thía câu nói trong một tài liệu học
tập :
Bọn bóc lột tuy đã bị
đánh đổ nhưng chúng vẫn còn sức mạnh. Sức mạnh đó là ở chỗ chúng còn có tài sản,
còn có mối liên hệ với nền sản xuất nhỏ, chưa được cải tạo, còn ở những tập
quán xấu của xã hội cũ chưa bị quét sạch, như móc ngoặc, tham nhũng, hối lộ, hủ
hóa cán bộ. Nói chung, chúng vẫn còn nhiều khả năng để không từ bỏ ý đồ khôi phục
lại «thiên đường» mà chúng vừa bị mất.
Một lát sau, ông Năm Tỏa
trở lại bàn ngồi. Ông lại dùng cái bật lửa cũ kỹ của mình để châm cho điếu thuốc
nhầu nát cuối cùng, không có vỏ bao, nằm sâu kẹt trong túi áo trên của ông. Tuy
ông không nói, nhưng Nguyệt cũng đã mường tượng ra cơn thất vọng, cay đắng đang
đổ vỡ trong lòng ông. Nàng nhớ đến lời ông than thở khi trước :
– Cả một đời tôi đi làm
Cách Mạng, đâu phải để thể hiện một cái xã hội như thế này.
Nhưng có lẽ, lần này là lần
ông thấm thía nhất về chính câu nói đó của ông. Người ông nom bạc nhược hẳn ra.
Trong ánh sáng lợn cợn nhấp nháy của ngọn đèn nê-ông không đủ điện để được thắp
sáng đúng mức, nước da của ông đã xám trông càng thêm xám ngoét. Ông ngồi thừ
ra như thế rất lâu, rồi bỗng ông lên tiếng :
– Thôi Nguyệt a, đừng
loay hoay làm gì cho mất công. Cái đời chó đẻ này, ở đâu cũng thế. Lý thuyết một
đằng, thực hành lại đi một đằng khác. Như tôi, đấu tranh gần cả một đời người,
gian nan nào cũng vượt, khó khăn nào cũng qua, ấy thế mà, lúc cầm được vinh
quang trong tay lại là lúc chao đảo niềm tin một cách não nề nhất. Chẳng phải
chỉ có một mình Sáu Thu đâu, chúng nó mất phẩm chất la liệt. Trước thì còn nghĩ
được rằng đó chỉ là hiện tượng, nhưng rồi không thể chối cãi được rằng hiện tượng
đó đã trở thành bản chất mất rồi
CHƯƠNG IV
Cuộc kiểm kê diễn ra
trong thành phố Sài Gòn vào đúng ngày Nguyệt đã được biết trước. Hôm ấy, mọi
sinh hoạt thường nhật gần như hoàn toàn tê liệt. Thành phố mất đi vẻ ồn áo náo
nhiệt nhưng lại bao trùm một bầu không khí u uất, nặng nề, nhuốm vẻ nghiêm trọng.
Tin đồn thổi chạy từ khu này qua khu khác mỗi lúc một nhiều và nhanh như điện sẹt.
Người ta nói chỗ này có kẻ nhẩy lầu tự tử, chỗ kia có kẻ điên khùng, mất trí.
Có cả tin đã có những cuộc phản kháng tích cực, như người này thì thủ sẵn lựu đạn
để cho nổ banh xác luôn cả kẻ bị kiểm kê lẫn kẻ đi kiểm kê, người khác thì hoảng
loạn mang dao, mang búa ra rượt chém cán bộ. Tuy nhiên, tất cả chỉ là tin đồn
mà không ai có điều kiện để kiểm chứng. Báo chí sau ngày 30 tháng tư đã mất đi
hoàn toàn chức năng thông tin của nó ngoại trừ việc thông tin về những qui chế,
luật lệ hay nghị quyết của nhà nước. Mà việc này lại có vẻ hơi thừa, vì nếu
không có báo chí, thì các cơ quan thông tin văn hóa phường quận cũng đã sẵn
sàng bắc loa vào khắp các hang cùng ngõ hẻm để phổ biến, giải thích hướng dẫn tận
tình cho toàn thể bà con, đồng bào rồi.
Một số trường hợp xẩy ra
hết sức cụ thể và đồng loạt ở nhiều nơi, khiến nhiều người cùng nói tới thì
không còn thuộc loại tin đồn nữa.
Như thể đúng 0 giờ ngày
khởi sự kiểm kê, nhiều xe bít bùng đã đi hốt trọn một số (không thể kiểm chứng
được là bao nhiêu) những gia đình được Cách mạng đánh giá là có nợ máu với nhân
dân. Họ là những người, trước đây được xếp vào loại thành phần tư sản dân tộc
và được trấn an là không có vấn đề gì phải lo âu thắc mắc. Đó là giai đoạn Cách
mạng còn đang bận tay đối phó với những loại được gọi là Tư Sản Mại Bản. Nay
thì Tư Sản Mại Bản đã dẹp xong, Cách mạng chĩa mũi dùi vào đám đông mà lời trấn
an họ đưa ra chưa được ráo mép. Người Sài Gòn nhìn thấy ngay số phận của mình
mà chẳng cần chờ có kẻ cầm dao kề cổ khi tới lượt. Sau Tư Sản Dân Tộc hẳn sẽ tới
giới tiểu thương. Sau giới tiểu thương sẽ tới giới buôn thúng bán mẹt. Nhiều
người từ Hà nội vào đã chẳng nói rằng ngay giới buôn thúng bán mẹt cũng đã bị
kiềm chế chặt chẽ đó sao. Như thể đăng ký bán chè thì chỉ được bán chè, bán xôi
thì chỉ được bán xôi. Nếu bán cả xôi lẫn chè thì lại phải có quy chế riêng, xem
sự kinh doanh đến mức độ nào.
Nhà nước cộng sản rất sợ
«chế độ tư hữu sẵn sàng ngóc đầu dậy» thông qua những hoạt động buôn bán cá thể.
Vì thế. họ đã chèn ép toàn dân miền Bắc trong bao nhiêu năm đến độ không còn mầm
mống để giới tiểu thương có thể nẩy nở. Trên phương diện lý thuyết, thì mục
đích của những cuộc chèn ép này nhằm thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản
xuất. Nó được vẽ ra một tương lai mà ở đó lợi ích cá nhân và gia đình gắn liền
với lợi ích xã hội. Nếu cá nhân và gia đình đóng góp công lao của mình vào xã hội,
thì ngược lại xã hội mà đại diện là nhà nước phải chăm lo hạnh phúc của mỗi cá
nhân, mỗi gia đình, bảo đảm quyền lợi và nâng cao đời sống của mỗi người mỗi
ngày một tốt đẹp hơn.
Hơn ba mươi năm xây dựng
Xã Hội Chủ Nghĩa ở miền Bắc, đã quá đủ thời gian để cho người ta thấy cái lý
thuyết ở trên chỉ là một cái bánh vẽ ! Chưa bao giờ đời sống dân chúng lại có
thể bần cùng đến như thế. Người già thiếu thốn cơ cực, trẻ em thất học, thiếu
dinh dưỡng, người khỏe mạnh thì hết cuộc thi đua này đến chiến dịch khác khai
thác sức lao động của họ cho đến lúc sức cùng, lực kiệt. Tuyệt đại đa số quần
chúng, lớp người được tôn lên là kẻ làm chủ tập thể Xã Hội Chủ Nghĩa mặc nhiên
trở thành nạn nhân của một giai cấp bóc lột mới : giai cấp của những kẻ nắm trọn
trong tay mọi phương tiện của bạo lực. Vì nắm trọn bạo lực trong tay, nên bọn
quyền lực trong chế độ mới đã là những kẻ thực sự làm chủ các công cụ sản xuất,
làm chủ việc phân phối sản phẩm. Bọn này giành lấy phần thơm tho nhất trong của
cải của Xã Hội, trong khi nhân dân được gì trong số thành quả lao động do chính
mình làm ra ? Một ít gạo. Một rúm đường. Quanh năm không biết mùi vị của miếng
thịt. Có những làng đánh cá ở ven biển, dân chúng suốt đời chỉ ăn muối ! Miền Bắc,
dưới ánh sáng của Chủ Nghĩa Xã Hội, đã trở nên điêu tàn, con người sinh sống
trong những điều kiện dưới cả những điều kiện tối thiểu để làm người, kể cả
tinh thần lẫn vật chất.
Sau cuộc kiểm kê, nhà in
Hồng Phát được đổi tên thành Cơ Sở Ấn Loát Số 10. Không ai buồn thắc mắc là tại
sao lại số 10. Hầu hết đã có được thói quen là ở trên đưa xuống cái gì thì tuân
theo cái đó. Những ý nghĩ hồ hởi phấn khởi, những ảo tưởng rằng kể từ khi «Mỹ
cút, Ngụy nhào» thì công nhân sẽ làm chủ tập thể xí nghiệp của mình, đã tan xèo
sau một vài kinh nghiệm kiểm chứng. Ông Hồng Phát, sau cuộc kiểm kê, đã thoát
được biện pháp cải tạo. Ông lại còn được phối trí để làm việc lại trong khâu kiểm
phẩm. Ông ba hoa với mấy đứa đàn em thân tín :
– Cách mạng nó sáng suốt
lắm mà. Ngộ lương thiện, ngộ đâu có sợ !
Nhưng nói vậy thì nói,
ông vẫn cảm thấy lợn cợn mỗi khi đụng phải cái nhìn đăm chiêu, lầm lì của ông
Năm Tỏa. Vẻ mặt của ông càng lầm lì đối với ông Hồng Phát hơn nữa sau vụ cái tủ
lạnh xẩy ra trước đó một tuần. Nguyên hôm đó vào buổi ăn trưa, lúc mở cái lon
guigoz của mình ra, ông Năm Tỏa phát giác thức ăn của mình lên mùi thiu dữ dội
vì bữa đó, ông được vợ làm cho một khoanh cá. Cá lãnh ở hợp tác xã về đã ươn thối,
bà lại bận công chuyện để mãi đến chiều mới đem ra làm. Nó bốc mùi um lên. Bỏ
thương, vương tội, nhưng lâu lâu mới có chút vị đậm đà, bà đem om mặn lên rồi
trút vào lon của chồng để hôm sau làm bữa trưa. Mùi cá lợm giọng đồn ra làm cả
nhà in ai cũng biết. Ông Hồng Phát chớp ngay lấy cơ hội ấy để mua chuộc người
cán bộ già. Ông ta xuất tiền mua một cái tủ lạnh mới, đem chở thẳng về nhà ông
Năm Tỏa lúc ông còn đang ở sở làm. Bà Năm Tỏa là một người quê mùa, trông thấy
cái tủ lạnh mới cắt chỉ được khuân vào cứ ngạc nhiên há hốc miệng ra nhìn. Cả một
đời bà, chưa bao giờ bà dám mơ ước có một đồ dùng quí giá như thế. Hỏi ra, bà
được mấy anh công nhân nhà in lãnh việc chuyên chở, trả lời :
– Cái này của ông Năm. Bà
Năm cứ xài, đừng băn khoăn, thắc mắc gì hết.
Rồi họ tận tình ráp nối
đường dây, chỉ dẫn bà Năm cách xài, chỗ này làm đá cục, chỗ kia để rau, để thịt,
để nước ngọt, la de. Họ cứ làm như bà Năm lúc nào cũng sẵn sàng có tất cả những
thứ ấy để dự trữ. Khi đám công nhân ra về, bà Năm hồn nhiên chạy đi khoe bà con
lối xóm để kéo mọi người qua trầm trồ, ngắm nghía cái vật dụng mà nhà ai cũng ước
mơ.
Nhưng đến lúc ông Năm trở
về thì có một cuộc cãi vã dữ đội xẩy ra. Mọi người nghe thấy ông Năm to tiếng :
– Ai cho bà nhận ! Bà đã
hỏi tôi chưa mà bà cho phép chúng nó khuân vào.
Tiếng bà Năm lí nhí :
– Thì người ta nói đó là
của ông thì tôi mới nhận chứ.
– Của nào là của tôi ! Bà
không biết đồng lương của tôi thế nào sao mà nghĩ rằng tôi có thể mua được cái
đồ mắc tiền đó.
– Vậy sao người ta chở tới
?
– Chúng nó chở tới là
chúng nó muốn mua chuộc tội. Bà muốn tôi sống đường hoàng lương thiện hay là
móc ngoặc với bọn bóc lột để bôi đen con người của mình.
Bà Năm bùi ngùi, giọng
pha một đôi chút tiếc rẻ :
– Ông không nhận thì gọi
họ đến mà trả. Nhưng có cái tủ này chứa đồ ăn thì cũng tốt lắm đó.
– Muốn tốt thì để dành tiền
mà mua. Cả đời, không bao giờ tôi nhận hối lộ của ai hết.
Nói xong câu đó, ông Năm
biết mình nói chỉ để mà nói. Làm sao cả đời ông lại có thể dành dụm mà mua được
tới một cái tủ lạnh. Nó là thứ vật dụng đi ra ngoài ước mơ của tất cả những con
người cán bộ như ông, trừ khi làm việc phi pháp. Nhìn bà năm lủi thủi đi vào buồng
trong, ông bỗng mủi lòng, và cảm thấy tràn ngập thương xót. Ông đứng sững ở giữa
nhà, hai môi của ông mím chặt lại, hai cánh mũi phập phồng, mắt ông long lanh,
cay sè như muốn khóc. Nhưng phút yếu lòng đó trôi qua rất nhanh. Ông trở lại
con người phản ứng lanh lẹ thường ngày. Ông tức tốc đạp xe quay trở lại nhà in
và nói với Nguyệt :
– Cô bảo thằng Hồng Phát
đến nhà tôi chở cái tủ lạnh về. Nó đánh giá tôi quá thấp.
Sau lần đó, ông Hồng Phát
lúc nào gặp ông Năm Tỏa cũng len lét như rắn mồng năm. Trước mặt thì sợ đấy,
nhưng sau lưng, ông Hồng Phát vẫn thì thào với đàn em:
– Để coi ai thắng ai
trong cái cơ sở này. Ngộ sẽ cho nó đi cái một.
Ông Hồng Phát không phải
là kẻ chỉ nói chơi. Trong vòng hai tuần lễ sau đó, ông Năm Tỏa nhận được giấy
thuyên chuyển công tác. Ông ra đi lầm lũi không chào ai. Ông chỉ nói riêng với
Nguyệt :
– Cháu cẩn thận giữ mình,
nghe cháu. Thời buổi này chưa phải là thời cháu thi thố được cái gì đâu.
*
Những chuyện xẩy ra ở nhà
in như thế, bao giờ Nguyệt cũng báo cáo lại cho Vũ biết. Sau cuộc kiểm kê đánh
tư sản, Vũ gầy sọp hẳn đi. Chàng có vẻ đăm chiêu nhiều hơn so với thời gian trước,
lúc nào Vũ cũng nhanh nhẹn, hoạt bát và trên môi luôn luôn có nụ cười tươi tắn.
Chàng trấn an Nguyệt, nhưng cũng là để trấn an mình :
– Thật ra, những vụ cán bộ
mất phẩm chất không phả chỉ vài trường hợp cá biệt. Em có biết trong khám Chí
Hòa hiện nay có bao nhiêu đồng chí ta bị giam cầm vì hủ hóa không ?
Chờ cho Nguyệt biểu lộ vẻ
bất lực trong việc suy đoán về câu trả lời, Vũ mới giằn giọng nói :
– Ba chục nghìn ! Em nghe
rõ chưa, ba chục nghìn ! Thật là con số không thể tưởng tượng nổi và cũng vô
cùng đau xót. Những đồng chí ấy trước đây không gục ngã trong gian lao, cực khổ
vì chiến tranh, vậy mà đã ngã thảm thê trong tiện nghi vật chất của Sài Gòn.
Tuy nhiên, không phải vì thế mà ta không kiên trì. Ta đã có thành quả chiến thắng
«một ngày bằng hai mươi năm» thì ta không thể vì thiếu cảnh giác, thiếu tinh thần
triệt để mà làm tiêu vong cái thành quả vĩ đại đó.
Vũ cứ nhắc đi nhắc lại
mãi về những thành công mà Cách mạng đã đạt được. Chàng làm như thể, khi đã có
những cái ấy trong tay rồi thì mọi nhược điểm, yếu kém đang xảy ra ở chung
quanh đều có thể chấp nhận được. Cái lý luận rằng đó chỉ là hiện tượng chứ
không phải bản chất đã giúp chàng một chỗ ẩn náu an toàn mỗi khi chàng bị những
mũi dùi thực tế xuyên thấu vào tâm can mạnh đến nỗi, chính chàng cũng có lúc
hoang mang, chao đảo. Tình trạng hoang mang chao đảo này không chỉ riêng ở
chàng mà đã có cơ hội trở thành phổ biến. Nhiều cán bộ khi mới vào thành, có lời
nói lớn lối, có niềm tin hăng say, nồng nhiệt, thì bây giờ, nhiều người đã trầm
tĩnh xuống hơn, đôi mắt mang nhiều tâm trạng u uẩn hơn, sự nói năng cũng theo
đà đó chậm lại, dè dặt hơn. Nhiều người bây giờ công khai rượu chè be bét và đã
bắt đầu nói đổng. Nhiều người lén lút, sợ hãi khi phải đối diện với người thân
thích ruột thịt và bị cật vấn về đủ mọi vấn đề : Cách mạng về rồi, sao đời sống
ngày cứ càng thấp kém đi, Cách Mạng chủ trương xóa bỏ giai cấp bóc lột sao đời
sống lại cứ ngày một thêm những kẻ giàu có hưởng thụ, với nếp sống xa hoa, chả
kém gì sự xa hoa trước đó đã từng bị lên án là phồn vinh giả tạo. Rồi vấn đề
kinh tế mới, vấn đề kiểm kê, vấn đề công chức, quân nhân đi cải tạo vô thời hạn
mà trong số đó có vô số những người có liên hệ ruột thịt với các tầng lớp cán bộ.
Phút hăng say, cuồng nhiệt
với những điều mới mẻ qua đi như một cơn gió thoảng để lại một thực tế xã hội hết
sức bầy nhầy rối rắm. Người dân lao động, sau một cơn mơ những tưởng thời của
mình đã tới, nay càng thất vọng hơn. Vì không có gì để mất, những người này đã
là những kẻ tiền phong, công khai chỉ trích chế độ, thông qua hàng ngũ cán bộ
mà họ có cơ hội tiếp xúc. Cán bộ trở thành những mục tiêu để mọi người đàm tiếu.
Trong hoàn cảnh đó, mỗi
người cán bộ có một cung cách phản ứng khác nhau. Lì lợm có mà lẩn tránh cũng
có. Có người bỏ cuộc trở về với đời sống âm thầm. Có kẻ bấu víu để cố vớt vát lại
công lao nhờ đôi chút hào quang mà mình đã có. Vũ có thể thuộc loại tâm trạng
này. Chàng không ngừng níu lấy cái thành quả vĩ đại để biện minh cho chặng đường
tiếp tục của chàng, mặc dù chàng biết, nó chẳng hứa hẹn tới đâu, nhưng ít nhất
cũng giúp cho chàng còn địa vị, còn quyền hạn, trong một số lãnh vực nào đó.
Trên căn bản chàng đã hành động không giống như ông Năm Tỏa.
Đó là lý do sau này, mỗi
khi gặp Nguyệt, Vũ vẫn còn giữ được cái vẻ sôi nổi của mình. Một lần, chàng hối
hả đến gặp Nguyệt và nói :
– Nói để cho em mừng. Bên
cạnh những kẻ thiếu đạo đức cách mạng, mất phẩm chất, hủ hóa như thế, ta vẫn
còn những đồng chí có trình độ giác ngộ rất đáng đề cao. Kỳ này, Thành Đoàn sẽ
phát động những chiến dịch học tập về những người tốt, việc tốt, lấy trường hợp
của Huỳnh Quang Huy làm trường hợp điển hình để phát động sâu rộng về phía quân
chúng.
Huỳnh Quang Huy là con một
chủ tiệm vàng giàu kếch sù ở đường Khổng Tử, Chợ Lớn. Lúc Cách mạng vào thành
phố, Huy mới chỉ là một học sinh lớp mười.
Anh ta tham gia ngay công
tác đoàn thể và sau một thời gian tích cực, đã được kết nạp Đoàn. Trong thời kỳ
vận động các thành phần tư sản khai báo của cải, tài sản, Huy đã cố thuyết phục
ba, má của mình đem toàn bộ tài sản ra cung hiến. Nhưng ba má của Huy bề ngoài
thì giả bộ thành khẩn khai báo tích cực, nhưng bên trong đã chôn cất hai trăm lạng
vàng ở một chỗ bí mật trong nhà. Huỳnh Quang Huy biết được sự kiện này. Trong
chiến dịch kiểm kê, đích thân Huy đứng ra tố cáo chỗ cha mẹ mình cất giấu vàng
bạc. Nhờ hành động này, chiến dịch kiểm kê đã thu hồi lại toàn bộ tài sản mà
cha mẹ Huy tẩu tán. Thành Đoàn đánh giá rất cao «trình độ giác ngộ Cách mạng» của
Huy. Bên Thành ủy cũng gửi văn thư sang ngợi khen nhiệt liệt. Đó là cơ hội để
các đoàn viên thanh niên được đem trường hợp của Huy ra học tập. Một chiến dịch
rầm rộ sau đó đã được mở ra. Huy được mời lên Quận, lên Thành phát biểu và nói
lên tình cảm của mình đối với những công tác cách mạng.
Báo chí, truyền thanh,
truyền hình cũng phổ biến rầm rộ hình ảnh, tác phong, đạo đức cách mạng của một
thanh niên trẻ đã «vươn lên từ hoàn cảnh bùn nhơ của một gia đình tư sản bóc lột
để phấn đấu trở thành con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa.»
Khi trở về sinh hoạt ở Cơ
Sở số 10, Nguyệt đã chuẩn bị công phu đợt học tập này cho toàn thể các công
nhân, cả bên Chi đoàn lẫn Công đoàn cơ sở. Những khẩu hiệu, những bích chương,
những câu ca dao lục bát đề cao «con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa» được dán la liệt
ở tất cả mọi chỗ trống có thể dán được trong nhà in. Nguyệt cũng mở lại những đống
tài liệu học tập để nhuần nhuyễn thêm về cái gọi là mẫu người mới Xã Hội Chủ
Nghĩa được hoạch định theo những lý luận kinh điển. Vào những đêm chong đèn
thao thức sửa soạn chiến dịch, có lúc Nguyệt chợt phát giác ra rằng nàng đổ
công vào đợt học tập này không phải chủ yếu là nhắm tới những đối tượng thanh
niên, đang làm việc ở đây, mà thực sự là cho chính mình. Tiềm thức đã thúc đẩy
nàng đi tìm một sự trấn an cho những tư tưởng đang mơ hồ, manh nha chao đảo của
mình. Niềm tin của nàng về một vận hội mới, ở đó, «mọi con người đều có cơ hội
chung vai góp sức xây dựng lại quê hương đã vô cùng điêu tàn», đang bị những thực
tiễn trước mắt làm cho sứt mẻ. Đó là hình ảnh diêm dúa, tác phong hưởng thụ,
quan liêu, cửa quyền của những người cán bộ cỡ lớn như Sáu Thu.
Đó là sự đi ra, đi vào, bắt
đầu vênh váo và có thái độ mục hạ vô nhân của ông Hồng Phát. Rồi hoàn cảnh của
những sĩ quan chế độ cũ được hứa hẹn đi học tập
30 ngày nhưng sau đó là
đi biền biệt. Rồi sự thuyên chuyển nhanh chóng, bất ngờ của ông Năm Tỏa. Nhất
là lời của ông dặn dò lại với Nguyệt : «Thời buổi này, chưa phải là thời cháu
có thể thi thố được cái gì đâu». Tất cả những cơn sóng tấn công vũ bão vào niềm
tin của nàng. Nguyệt muốn níu lấy lòng kiên trì của Vũ để làm chỗ bấu víu cho lập
trường hoạt động của nàng. Nàng rất cần một vỏ bọc vững chắc để hứng chịu vô số
những mũi dùi đã và đang còn chĩa vào công việc mà nàng đang theo đuổi. Ở gia
đình, mẹ nàng chì chiết bất cứ lúc nào hai người có dịp đối diện nhau. Lý do dễ
hiểu vì bà đã mất gần trọn vẹn số vốn đã đầu tư cho sập vải. Dù Nguyệt đã báo động
trước, và dù bà đã tự nói ra rằng : «Con mẹ mày ! Có bao giờ tao trách mày ở
đâu», nhưng trước sự mất mát quá lớn lao, lại cảm thấy con gái đánh đu với những
thành phần cách mạng, mà bà ghét cay ghét đắng, bà không thể không có thái độ
truy kích con gái mình được. Sau nhiều lần cãi vã tổn thương trầm trọng đến
tình mẹ con, Nguyệt manh nha ý định thoát ly gia đình.
Trong khi đó, ở Sở làm,
thái độ khang khác của nhiều thanh thiếu nữ, ngay cả những kẻ đã được kết nạp
Đoàn, đã gieo vào lòng nàng một cảm giác mơ hồ, bất ổn. Thật ra, chưa có ai ở
đây trực diện đối nghịch với nàng (trừ lần Toàn nói độp vào mặt nàng rằng : Tôi
không phải là kẻ phản bội). Nhưng sự thông minh, nhạy bén cho nàng thấy đang có
chuyển hướng về sự suy nghĩ của thành phần thanh niên ở trong nhà in mà nàng vẫn
đánh giá là ưu tú. Họ như những kẻ đang khao khát một lý tưởng phù hợp với tâm
hồn trong sáng và nhiệt huyết của thanh niên, tìm đến cách mạng như tìm thấy một
cái phao, nhưng lúc túm lấy được phao rồi thì thực tế, nó chỉ là một đám bọt giữa
dòng. Nhưng cũng phải kể rằng đã có những thành phần thực sự «ba mươi». Đây là
loại nói năng bẻo lẻo nhưng mang một tâm trạng phản trắc, đòn sóc hai đầu. Bọn
họ tuy đã giúp Nguyệt trong một số công tác, nhưng thâm tâm, Nguyệt rất khinh bỉ.
Họ tố cáo với Cách mạng về người này, người kia, nhưng sau lưng khi có dịp, họ
cũng chửi bới Cách mạng không hết lời. Đấy là bọn cơ hội chủ nghĩa, không hơn
không kém. Không đáng để Nguyệt phải bận tâm. Nhưng cũng có nhiều tâm trạng
thanh niên mà Nguyệt không thể không suy nghĩ tới. Như Thanh là một trường hợp
điển hình. Trước năm 75, gia đình Thanh thuộc loại nghèo. Ba của Thanh là một
Thiếu Úy già, loại sĩ quan leo mòn mỏi cả một đời người mới được từ cấp binh sĩ
lên hàng ngũ sĩ quan. Ông ta cũng bị đi học tập cải tạo như những người khác.
Thanh tin tưởng ở lời hứa hẹn của nhà nước :
– Sĩ quan chỉ phải học tập
có ba mươi ngày.
Lúc ra đi, ông mang theo
vỏn vẹn có một nắm cơm và một lọ thịt bông mặn. Ông từ chối cả chiếc áo len mà
mẹ Thanh cứ nhất mực nhét vào cái túi xách nhẹ tênh. Ông nói :
– Bà làm như tôi bị phát
vãng không bằng. Ba mươi ngày nhấp nháy là tôi trở về, đâu cần gì tới áo len.
Bây giờ, trong cái lạnh lẽo
của núi rừng, và những cơn đói rét, bệnh tật, hẳn ông đang hối tiếc vì đã không
để cho vợ mình xếp vào túi một cái áo len. Thanh lao vào công tác đoàn thể với
một ước mơ làm đổi mới xã hội. Anh ta hoàn toàn bị chinh phục vì những lý luận
của cán bộ đoàn thể ở những ngày khởi đầu :
Sài gòn quả có hoa lệ thật,
nhưng bao nhiêu người được hưởng những tiện nghi hoa lệ đó. Bên cạnh những
building bảy tám từng thì vẫn có những nhà cửa chui rúc như ổ chuột, ở những
xóm lao động nghèo. Trong khi bọn lãnh đạo, bọn có quyền thế, bọn làm giàu trên
xương máu của nhân dân hưởng thụ phè phỡn thì vẫn có những thiếu nữ, phụ nữ, phải
bán mình đi để nuôi sống gia đình, trong đó có cả thành phần gia đình của lính,
những con người bị thiệt thòi nhất của xã hội cũ.
Rồi cách mạng vẽ ra đủ thứ
hình ảnh đẹp làm chóa mắt tâm hồn người thanh niên trẻ :
– Khác với tất cả các chế
độ trước kia trong lịch sử, chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa nhằm mục đích chăm lo đến mỗi
gia đình, xây dựng các gia đình ấm no, hạnh phúc chính là để mỗi gia đình có thể
góp sức nhiều hơn trong việc xây dựng xã hội mới. Mỗi người không chỉ chăm lo đến
đời sống hạnh phúc gia đình mình mà còn phải chăm lo đến hết thấy mọi người
trong xã hội. Vì thế, chế độ mới xây dựng con người Xã Hội Chủ Nghĩa theo tiêu
chuẩn : «Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người».
Thanh sớm «giác ngộ» được
sự thực trong chiêu bài bánh vẽ này, qua một số thân nhân ở miền Bắc vào Nam
thăm viếng :
– Đừng tin những gì chúng
nó nói, cháu ơi. Xã Hội miền Bắc sau gần 30 năm tiến hành xây dựng Xã Hội Chủ
Nghĩa, đời sống vật chất ngày càng nghèo đi, mà đời sống tinh thần cũng theo đó
mà suy sụp theo nữa. Con người không còn tâm trí nào khác hơn là lo toan đến những
nhu cầu vật chất tối thiểu. Như một đàn cừu dưới lằn roi vọt, con thì được chia
nhiều cỏ hơn, con thì được ít hơn. Nhưng chung qui vẫn chỉ là những con cừu thụ
động đi theo sự hướng dẫn của Đảng và nhà nước. Đó là đỉnh cao trí tuệ của văn
minh loài người.
Thanh thực sự choáng váng
trước hình ảnh đàn cừu khốn khổ đã được vẽ ra. Hình ảnh này lại càng sinh động
hơn nữa khi chính mắt Thanh được nhìn thấy những con người từ miền Bắc đi ra,
đi vô chen chúc nhau trên đường phố Sài gòn, ở những bến xe, trên những toa
tàu, trong các cơ quan xí nghiệp. Họ nghèo túng rõ rệt. Họ mất bản sắc rõ rệt. Ở
giữa đám đông, không ai dám biểu lộ ý kiến riêng tư của mình, nhất là trong
lãnh vực chính trị. Họ đã được đào tạo trở thành thói quen như những cái máy. Từ
lời nói, cử chỉ, cung cách bầy tỏ thái độ cho đến quần áo, ăn mặc tất cả đều giống
nhau như được rập ra từ một khuôn, được sản xuất ra từ một lò. Phút nói thật chỉ
diễn ra trong phạm vi gia đình, thân thích ruột thịt, và trước khi nói, dù
chung quanh chẳng có ai xa lạ, họ cũng sớn sác nhìn quanh như bị ám ảnh bởi một
bóng ma quyền lực vô hình. Chế độ cộng sản bạo ngược tinh thần con người tàn bạo
nhất ở chỗ nó có tính cách đều khắp, không một ai có thể thoát khỏi, và triền
miên vì nó kéo dài cho cả một đời người.
Thanh bị giao động một thời
gian thì tìm ra con đường giải thoát cho mình : phải tìm cách ra đi. Trong khi
chờ đợi cơ hội thuận tiện, anh ta sinh hoạt một cách bình thường. Công tác nào
được giao cho thì làm, nhưng không còn tinh thần xung phong hăng hái như trước
nữa. Nguyệt rất tinh ý, nên chỉ cần nhìn thoáng qua vẻ mặt của Thanh là nàng đã
linh cảm thấy có sự thay đổi bất thường trong tư tưởng của anh ta. Nàng sợ hãi
với ý nghĩ tới bao giờ thì sẽ đến lượt nàng. Nhất là trong sinh hoạt học tập,
nàng (cũng như toàn thể Thành đoàn) bị một vố quá nặng. Số là cả thành phố xì
xào tin đồn Huỳnh Quang Huy, người thanh niên được đem lên diện điển hình vì có
công tố cáo chỗ chôn dấu vàng bạc của cha mẹ, đã cùng gia đình vượt biển thành
công. Thì ra đó chỉ là một màn kịch lớn dưới bàn tay đạo diễn tài tình hơn cả
những chuyên viên thượng thặng bên Thành Ủy. Số vàng mà Huy tố cáo chỉ là một số
lượng nhỏ so với tài sản mà cha mẹ Huy cất dấu. Sự tố cáo của Huy có tác dụng
làm lạc hướng soi mói, tìm tòi của những người làm công tác kiểm kê. Rõ ra là vỏ
quít dày thì có móng tay nhọn. Sự suy sụp tinh thần của các thanh niên trong
chi đoàn đem lại cho ông Hồng Phát và những tay em cái cơ hội «ngóc đầu dậy».
Công cuộc làm ăn mờ ám
qua các dịch vụ của nhà in, tuy vẫn diễn ra âm thầm nhưng có vẻ bớt dè dặt hơn
trước. Chẳng rõ ông Hồng Phát đã phải mua Sáu Thu bao nhiêu, nhưng ông có vẻ ra
sức mánh mung để thâu hồi số vàng bạc đã tiêu hao trong việc lo lót. Cho đến
bây giờ, ông đã nắm vững một chân lý mới trong đời sống của xã hội mới. Đó là bốn
chữ Đạo Đức Cách Mạng chỉ là những ngôn từ hoàn toàn rỗng tuếch. Trước đây, người
ta tưởng Cán bộ Cách Mạng là một cái gì sắt đá, bền vững lắm. Nhưng bây giờ, rõ
ràng nó đã nằm trong vòng kiểm soát dưới khả năng vung vít tiền bạc của ông. Điều
này dễ hiểu thôi, vì ai cũng là con người. Những kẻ chưa mua được không có
nghĩa là không mua được. Một khi tham nhũng, hủ hóa đã trở thành quá phổ biến
trong xã hội, thì kẻ kiên trì cách mấy cũng có lúc phải lung lay. Thời nào cũng
thế, chế độ chính trị nào cũng vậy. Mỗi lần hoàn tất một vụ trao đổi, ông lại
nheo mắt với các tay em và cười khà khà:
– Kinh tế quyết định mà,
đó là sách của mấy ổng !
CHƯƠNG V
Vào thời gian đó, có một
nhà văn miền Bắc lui tới để sửa chữa bản in cho một tờ báo phát hành ở miền Bắc.
Mọi người gọi ông ta là ông Hoàng chiếu theo bút hiệu trên bài vở là Phạm Ngọc
Hoàng. Hoàng thuộc lớp nhà văn trung niên, nổi danh sau thời kỳ Nhân Văn Giai
Phẩm, và hiện là Hội viên Hội Văn Nghệ Việt Nam, vừa là biên tập viên của tuần
báo Văn nghệ, xuất bản ở Hà Nội. Hoàng gốc gác tiểu tư sản. Trước năm 1954, khi
hiệp định Genève được ký kết, chàng mới chỉ là học sinh lớp đệ tam trường trung
học Chu văn An. Gia đình chàng không di cư vào Nam. Khi Cộng sản chiếm Hà Nội,
chàng bước vào sinh hoạt đoàn thể với một lý lịch rất đơn giản : học sinh. Cậu
học sinh Hoàng rất say mê và ngưỡng mộ hầu hết các nhà văn trong phong trào
Nhân Văn Giai Phẩm, đặc biệt là Phan Khôi và Trần Dần. Cậu coi văn nghệ sĩ như
những người có nhiều khả năng để cải tạo xã hội. Dưới sức nặng những bài viết của
họ, tiếng nói của những người bị áp bức được cất lên. Rồi quần chúng tích cực hỗ
trợ bằng cách phổ biến rộng rãi tiếng nói của họ nhưng cũng là tiếng nói của
chính mình. Một phong trào chống đối nổi lên, một thời kỳ tự do ngắn ngủi duy
nhất trong hơn ba mươi năm xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội. Đảng run sợ. Đảng tạm
lùi. Nhưng rồi Đảng phản công quyết liệt. Những người đầu não của phong trào bị
truy kích đến suốt cuộc đời của họ. Những tên tuổi lẫy lừng Phan Khôi, Trần Dần,
Phùng Quán, v. v... Như những ngôi sao rực rỡ chỉ lóe lên một thời ngắn ngủi rồi
vĩnh viễn tắt lịm trong bầu trời Văn Học Nghệ Thuật của Cộng sản. Những thành
phần độc giả của họ cũng bị chiếu cố ráo riết, đặc biệt là giới sinh viên, học
sinh. Nhiều đợt học tập đường lối chính sách của Đảng và nhà nước được tung ra
nhằm tẩy rửa tàn dư của «Nhóm văn nghệ phản động» trong trí não của những con
người trẻ. Mầm mống lãng mạn tiểu tư sản, tình yêu chung chung, lòng nhân ái
chung chung, quan điểm giai cấp lệch lạc, phản động đều bị truy nã ráo riết đến
độ nhiều sinh viên, học sinh bị o ép, dồn nén quá mức đã khóc òa ngay trên bản
tự kiểm của mình trong những buổi sinh hoạt học tập.
Bài học sâu sắc mà mọi
người thu nhận được sau phong trào Nhân Văn Giai Phẩm là nhìn ra chân tướng sắt
máu của từ ngữ «chuyên chính vô sản». Nó đã được Karl Marx khẳng định : «Giữa
xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là thời kỳ cải biến cách mạng
từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ
chính trị, trong đó nhà nước không thể là cái gì khác hơn là chuyên chính vô sản».
Cho nên nhà nước chuyên
chính vô sản là công cụ bạo lực để giai cấp vô sản trấn áp, đè bẹp sự phản
kháng của giai cấp tư sản. Giai cấp vô sản thiết lập nhà nước của mình không phải
để đảm bảo quyền tự do «cho tất cả mọi người» không phân biệt giai cấp, mà là để
trấn áp kẻ thù của mình và những kẻ không chịu qui phục giai cấp vô sản. Trên
cơ sở luận lý này, Đảng và nhà nước tha hồ «phóng tay» tạo nên những thời kỳ trời
long đất lở, như vụ cải cách Nông Nghiệp với những màn đấu ốổ làm rung chuyển
miền Bắc năm 1953, vụ trấn áp phong trào Nhân Văn Giai Phẩm năm 1958, hay vụ cải
tạo Thương nghiệp tư bản tư doanh ở Hà Nội, xẩy ra tương tự như vụ cải tạo
thương nghiệp ở Sài Gòn sau năm 1975. Và đấy mới chỉ là những vụ sôi nổi bên
ngoài, có tính cách liên hệ trực tiếp đến đời sống của quần chúng. Ngoài ra,
trong âm thầm lén lút, còn có biết bao nhêều đảng phái, nhân sĩ, trí thức, văn
nghệ sĩ và những thành phần tiểu tư sản chống đối nhà nước đã bị bắt cóc, thủ
tiêu, hay tù đày rồi bỏ xác ở những vùng rừng sâu núi thẳm.
Thấm nhuần bài học
«chuyên chính vô sản», toàn thể quần chúng miền Bắc trở nên len lét như rắn mồng
năm. Thêm vào đó là chế độ phân phối thực phẩm theo qui chế hộ khẩu, một hình
thức xiết bao tử để cai trị, đã khiến cho mầm mống chống đối không có cơ hội để
nẩy nở. Như một cục đất sét đã bị nghiền cho nhão nhoét, tâm tư tình cảm của quần
chúng đã bị Đảng và nhà nước uốn nắn theo đúng đường lối chính sách của mình. Bầu
trời miền Bắc như phủ một màn tang u uất. Bên cạnh sự thiếu thốn đói khổ là một
đời sống tinh thần nghèo nàn, vô vị. «Thứ nhất ngồi lì, thứ nhì đồng ý» trở
thành một triết lý sinh tồn khi con người biết rõ thực tế mà không còn muốn suy
nghĩ sâu xa, hay nếu có suy nghĩ sâu xa thì cũng không dám nói lên những ý nghĩ
của mình. Điều này đã tạo nên điều kiện thuận lợi để nhà nước bưng bít những sự
thực đã xẩy ra ở miền Bắc, đối với quần chúng «giác ngộ cách mạng» ở miền Nam,
hiểu như là thành phần đi theo Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng. Có bao nhiêu người
trong hàng ngũ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng hiểu rõ được danh từ «dân tộc» mà
người cộng sản đưa ra làm chiêu bài lôi cuốn các tầng lớp quần chúng. Có bao
nhiêu người hiểu được rằng hai chữ «dân tộc» ở đây đã ẩn dấu một ý nghĩa mới:
đó là dân tộc Xã Hội Chủ Nghĩa. Chính sách vở kinh điển của Hà nội đã nhắc đi
nhắc lại nhiều lần quan điểm của Marx và Engels : «Giai cấp vô sản trước hết phải
giành lấy sự thống trị chính trị, phải vươn lên địa vị một giai cấp dân tộc, phải
tự mình trở thành dân tộc, cho nên do đấy, họ vẫn còn tính chất dân tộc tuy
hoàn toàn không phải hiểu theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu. Người tư sản
hiểu dân tộc là một tập thể quần chúng gắn bó với nhau trong những giai đoạn
thăng trầm của lịch sử, cùng có chung với nhau một truyền thống văn hóa, cùng
chia xẻ chung với nhau những di sản tinh thần đã được truyền lại qua nhiều thế
hệ.
Người vô sản quan niệm
dân tộc phải là dân tộc xã hội chủ nghĩa, một loại hình thức dân tộc mới, xuất
hiện cùng với sự thiết lập chuyên chính vô sản. Dân tộc Xã Hội Chủ Nghĩa trước
hết nó có nền kinh tế thống nhất với chế độ công hữu Xã Hội Chủ Nghĩa về tư liệu
sản xuất, và được đặt dưới sự lãnh đạo của nhà nước chuyên chính vô sản. Nói
khác đi, dân tộc Xã Hội Chủ nghĩa công nhận sự xóa bỏ chế độ tư hữu và chấp nhận
sự lãnh đạo của giai cấp vô sản.
Đấy là bản chất của vấn đề
dân tộc mà rất đông những người đi theo Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam
không biết tới hoặc khi đã biết tới rồi thì đã quá trễ !
Cho nên đừng vội tin những
chiêu bài dân tộc mà người cộng sản tung ra với đầy đủ những hỏa mù dễ làm lóa
mắt những người nặng lòng với quê hương, chả hạn như ca vũ dân tộc đề cao những
phong tục tập quán cổ truyền, khơi lại hình ảnh những anh hùng dân tộc như Hai
Bà Trưng, Lê Lợi, Quang Trung... «Dân tộc» chỉ là vỏ đường bọc ngoài. «Dân tộc
Xã Hội Chủ Nghĩa» mới thực sự là thuốc đắng bên trong. Nếu họ chưa công khai phổ
biến từ ngữ Dân tộc Xã Hội Chủ Nghĩa thì chẳng qua tình hình chưa chín mùi đó
thôi.
* * *
Do kinh nghiệm của vụ
Nhân Văn Giai Phẩm, Hoàng biết rõ thân phận của Văn Nghệ Sĩ dưới chế độ Xã Hội
Chủ Nghĩa. Nhưng cũng từ vụ Nhân Văn Giai Phẩm, Hoàng bị lôi cuốn vào thế giới
sáng tạo của người cầm bút. Những ngôi sao sáng chói như Phan Khôi, Trần Dần,
Phùng Quán v. v... tuy đã tắt, nhưng hào quang của họ vẫn còn làm lóa mắt những
tâm hồn trẻ ngấp nghé ngoài ngưỡng cửa của văn chương. Thêm vào đó, viết văn
trong xã hội chủ nghĩa miền Bắc là một hình thức thoát ly thực tại đen tối, u
buồn. Hôm nay, ở đây, trên bàn viết dù chỉ lỏng chỏng có ly trà loãng nguội ngắt
và đôi ba điếu thuốc hút dè cho một ngày, hai ngày, nhưng người cầm bút vẫn có
thể phóng trí tưởng tượng của mình lên một tương lai tốt đẹp, nơi đó người người
ấm no, nhà nhà hạnh phúc, hay ít ra là cũng bắt vít niềm tin của độc giả của
mình vào đường lối chính sách của chế độ, để giải tỏa cho chính mình những nỗi
chán chường, mệt mỏi. Hoặc giả, người cầm bút dưới chế độ xã hội chủ nghĩa cũng
có thể dấu mình vào những vụ đấu tranh chống sai trái, mà đối tượng là những
cán bộ tép riu, những lỗi lầm vặt vãnh bên ngoài phạm vi húy kỵ của Đảng như những
thói hư tật xấu của chính tầng lớp nhân dân lao động chỉ vì đời sống đói khổ,
thiếu thốn mà sinh ra. Không bao giờ còn những loạt bài sấm sét đánh trúng yếu
huyệt của chế độ mới như thời Nhân Văn Giai Phẩm nữa. Điều này về sau giới văn
nghệ sĩ trẻ quay ra oán thán những người đi trước.
– Cho nổ vụ Nhân Văn Giai
Phẩm quá sớm, để chưa làm được gì nhiều đã bị dẹp tan và làm cho giới lãnh đạo
văn nghệ áp đặt những biện pháp vô cùng khắt khe lên sinh hoạt văn học nghệ thuật.
Nói khác đi, vụ Nhân Văn
Giai Phẩm đã dạy cho giới lãnh đạo một bài học về sự cảnh giác đối với hàng ngũ
văn nghệ sĩ. Phải triệt để và không khoan nhượng. Phải thường xuyên treo lên cổ
bọn viết lách một con dao biểu trưng cho sức mạnh của chuyên chính vô sản. Phải
Hồng trước Chuyên sau. Phải không còn tạo cơ hội cho vụ Nhân Văn Giai Phẩm xẩy
ra lần thứ hai dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Và còn cả ngàn thứ «phải» khác nữa
đã biến thành những sợi dây xích trói buộc để giới cầm bút không được tự do viết
theo ý muốn của mình.
Vậy thì còn cái gì để khiến
cho những người như Hoàng tiếp tục con đường văn chương chữ nghĩa ? Hoàng và những
bạn của Hoàng lý luận :
– Từ khước phương tiện
văn chương chỉ là một thái độ tiêu cực. Điều đó có nghĩa là phó mặc mọi việc nước
cho một thiểu số mặc sức tung hoành. Kết quả, kẻ đứng ngoài cũng vẫn chịu ảnh
hưởng đến đời sống của mình chứ không phải vì thế mà tránh thoát. Cho nên hãy cứ
xông vào, chấp nhận qui luật của chế độ mới để tạo dựng một đất đứng cho mình.
Dần dà, số người tham gia sẽ trở thành những nhân số tích cực, ảnh hưởng vào cơ
chế mới, khiến cho nó thay đổi. Nhân số tích cực càng nhiều thời gian thay đổi
càng rút ngắn.
Đó là quan điểm phổ biến
của nhiều người cầm bút miền Bắc, ngoại trừ một số lăn xả vào ca ngợi chế độ một
cách nhiệt tình, không băn khoăn thắc mắc do động cơ đã được chế độ dành cho một
vài ưu đãi tương đối đặc biệt hơn những kẻ khác. Loại này được mệnh danh là giới
cầm bút chính thống, phân biệt với giới không được chế độ tin cậy, gọi là bàng
thống.
Dân bàng thống rất đông đảo,
ít có cơ hội xuất bản được tác phẩm của mình, sinh hoạt viết lách tập trung vào
những tờ báo, đa số là báo của các cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp, không phải là
báo Đảng.
Hoàng thuộc dân bàng thống.
Chàng chưa có một tác phẩm nào được in, nhưng đã có nhiều truyện ngắn được đăng
rải rác trên nhiều tạp chí, nhất là tờ Phụ Nữ Việt Nam, cơ quan ngôn luận của Hội
Phụ Nữ. Chàng vào Sài Gòn kỳ này dưới sự bảo trợ của tờ Phụ Nữ, xuất xứ từ đề
cương đã được Hội chấp thuận : «Vai trò của người Phụ Nữ ở vùng mới giải phóng
trong công cuộc xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa». Đó là mặt nổi, lý do bên ngoài.
Trong thâm tâm, Hoàng muốn được tham quan, tìm hiểu tình hình sinh hoạt và tâm
tư, tình cảm của quần chúng miền Nam, đặc biệt là dân Sài Gòn. Đối tượng tiếp
xúc của chàng không chỉ là phụ nữ. Chàng la cà, trò chuyện với đủ mọi loại người,
từ họ hàng thân thích cho tới những người mới quen một cách tình cờ. Đi đâu
chàng cũng được nghe những lời than van về sự mất mát : mất tiện nghi về đời sống,
mất xe hơi, nhà lầu, mất những nguồn lương thực, thực phẩm dồi dào phong phú, mất
tiền bạc địa vị.
Có một ông bác của Hoàng
đã giơ cánh tay lên chỉ chiếc đồng hồ vỏ vàng, dây vàng sáng chói và nói :
– Cả đời cán bộ các anh
đã mua nổi chiếc đồng hồ này chưa ?
Hoàng nhỏ nhẹ :
– Thưa bác làm sao mà có
được ! Ông bác cười khẩy :
– Đúng đấy ! Dân Bắc toàn
ăn mắm mút dòi làm sao mà rớ tới được những thứ như thế này.
Hoàng không giận ông ta
mà chỉ thương hại. Điều thương hại thứ nhất là ông ta chỉ có cái nhìn hạn hẹp đứng
trên quan điểm giai cấp của mình. Để có được cái đồng hồ toàn bằng vàng tây 18
carat đó, trong tổng số tài sản kếch sù mà ông đang có, hẳn ông ta không tham
nhũng móc ngoặc thì cũng làm giàu bằng chợ đen chợ đỏ hoặc đầu cơ tích trữ trên
xương máu của nhiều người. Sau ngày Sài gòn được giải phóng, Hoàng đã chứng kiến
những con người sống chui rúc, lầm than ở những khu tối tăm, nghèo nàn bên cầu
Khánh Hội. Họ là đa số, còn những người no đủ, phè phỡn như ông bác của chàng
là thiểu số. Vậy bản chất của xã hội miền Nam cũ vẫn là bất công xã hội, so với
miền Bắc, cũng chả ưu việt gì. Thứ hai nữa, do kinh nghiệm có thừa ở miền Bắc,
Hoàng biết rõ ông bác của chàng chẳng thể thụ hưởng những tiện nghi như chiếc đồng
hồ vàng ông đang đeo trong bao lâu nữa. Liệu ông có đủ khả năng để chịu đựng được
những ngày đen tối sắp tới. Chắc chắn sẽ là những ngày đen tối mặc dù mỉa mai
thay, đất nước đã hoàn toàn được «giải phóng».
Bà vợ của ông bác thì
quan tâm đến những vấn đề thực tế hơn. Bà riếc móc chế độ (bà nghĩ như Hoàng là
người đại diện của chế độ) về cái sự giải phóng về rồi, ai cũng phải xếp hàng cả
ngày. Hoàng giải thích :
– Thưa bác, sau chiến
tranh, bao giờ cũng khó khăn...
Bà bác trợn mắt lên, xổ
ra một thôi một hồi tất cả những chất chứa trong lòng bà :
– Tôi chán nghe những luận
điệu ấy từ lâu rồi. Buổi học tập, trong khóm, trên phường, anh cán bộ chó nào
cũng đổ lỗi cho chiến tranh. Thế tại sao khi còn chiến tranh, miền Nam vẫn sung
túc, đầy đủ, có ai phải xếp hàng ngày nào đâu...
Hoàng mỉm cười, kiên nhẫn
chịu đựng sự nổi đóa của bà bác. Thật khó mà giải thích cho những người đang mất
mát hiểu được những lý luận dù là lý luận hợp lý. Sau đại chiến thế giới lần thứ
hai, có xứ nào lại không phải xếp hàng kể cả Pháp lẫn Đức. Nhiều phụ nữ phải
bán mình để đổi lấy một thẻ chocolat hay một hộp sữa. Như vậy, xếp hàng là một
thực tế tất yếu phải xẩy ra. Nó không phải là nhược điểm của chế độ. Cái nhược
điểm của chế độ chính là vấn đề phải xếp hàng như thế trong bao lâu. Ba năm,
năm năm, mười năm hay mãn đời mãn kiếp. Nếu một chế độ cử phải mãi mãi duy trì
tình trạng xếp hàng mà không cho thấy một chút ánh sáng nào ở cuối đường hầm,
thì chế độ đó đã đi ngược lại quyền lợi của quần chúng, nó phải được thay thế bằng
một chế độ tốt đẹp hơn, dù nó đã được che dấu bằng đủ loại lý luận hấp dẫn nhất
trên đời.
Hoàng lấy làm tiếc rằng
chưa có mấy ai ở miền Nam, những người mà chàng đã tiếp xúc đánh được Cộng sản
trúng khía cả. Đâu đâu cũng chỉ là than van bị mất mát, những lời chửi bới «Nam
nhận họ, Bắc nhận hàng».
Đi đâu, chàng cũng chỉ
nghe một kiểu lập luận chống cộng mà theo chàng, nó hết sức ấu trĩ. Như thể cán
bộ nghèo đói, ngu dốt, bộ đội răng đen mã tấu với những ngôn ngữ quê mùa, cục mịch
của họ như cái phin cà phê là cái nồi ngồi trên cái cốc... v. v... Chưa mấy ai
nhìn được ra rằng tất cả những sự nghèo đói, ngu dốt, quê mùa ấy đều là sản phẩm
của một chế độ ngu dân, cực kỳ phong kiến hơn cả thời đại cực thịnh của phong
kiến : Bởi nếu nhìn được như vậy, người ta sẽ thấy những loại cán bộ, bộ đội ấy
đều chỉ là nạn nhân của một đường lối cai trị tập trung quyền hành vào một thiểu
số lãnh đạo, và do đó, họ không đáng mỉa mai, chê cười nếu không muốn nói là
đáng thương xót.
Tuy nhiên, trong cương vị
một cán bộ đến từ miền Bắc, Hoàng không thể giãi bày những ý nghĩ này với bất cứ
ai. Chàng chỉ tự nhủ thầm, với một tình cảm xót xa rằng trong một thời gian nữa,
miền Nam này, nếu cứ ấu trĩ vậy hoài, rồi cũng sẽ đi vào con đường miền Bắc đã
đi. Nghĩa là rồi cũng sẽ nghèo đói, lạc hậu, quê mùa cục mịch và chậm tiến so với
trình độ tiến triển không ngừng ở thế giới bên ngoài, với những con người đã có
cơ hội đi được ra nước ngoài. Thật là một cái vòng lẩn quẩn.
Trước đây, người miền Nam
miệt thị dân miền Bắc chỉ quan tâm đến vấn đề xin xỏ, lượm một đủ thủ đồ để ùn
ùn cho về Bắc. Nhưng hiện nay, tình trạng kiệt quệ về đời sống đã đẩy mọi người
tới một hoàn cảnh tương tự. Biết bao nhiêu người đã chờ trông nguồn tiếp tế của
thân nhân hải ngoại. Vậy thì, những điều chê bai, miệt thị ấy không phải là những
vũ khí có thể đem dùng để chống cộng một cách hữu hiệu. Chỉ nói cho sướng miệng
thôi, nhưng Cộng sản không sứt mẻ gì.
Hoàng ước mong giữa những
con người và con người đang bị bủa vây bởi hoàn cảnh khắc nghiệt, sẽ nhìn được
rõ thân phận của nhau, có một tấm lòng bao dung hơn, cảm thông hơn, vì chỉ ở đó
mới nẩy sinh được những tình cảm trong sáng, không bị che mờ bởi những sự mất
mát thua thiệt sau cơn sụp đổ kinh hoàng. Nếu được như thế, thì sẽ chẳng còn xẩy
ra những câu chuyện mủi lòng như trường hợp một cụ già người miền Bắc đi vào
thăm con. Bằng một tình thương sâu xa ở trong lòng, cộng với những dữ kiện
thông tin xuyên tạc mà chế độ miền Bắc tung ra triền miên từ trước ngày chính
phủ miền Nam tháo chạy, bà cụ hình dung ra hình ảnh thiếu thốn cơ cực của con
mình dưới sự kìm kẹp của Mỹ, Ngụy. Khi có cơ hội vào Nam thăm con, cháu, bà cụ
đã chắt chiu tài sản của mình gồm những thước vải thô quí báu, những chiếc bát,
đĩa hiếm hoi trong đời sống nhân dân miền Bắc để đem vào tặng con, cháu. Đến
lúc gặp gỡ thì hỡi ôi, bà cụ không thể ngờ con cái của mình lại đang ở một căn
biệt thự sang trọng như thế, với những đồ đạc trong nhà lộng lẫy, quí giá như
thế. Chồng bát đĩa thô sơ của bà cụ đã bị ném vào sọt rác với lời tuyên bố hể hả,
châm biếm của vợ chồng đứa con trai :
– Tụi con sẽ tặng má cả
trăm cái bát còn quí giá, sang trọng gấp ngàn lần loại bát đàn thổ tả này.
Không mấy ai nhìn ra tấm
lòng yêu thương của bà mẹ gói ghém trong món quà «thổ tả» đó. Chưa thấy ai lên
án cái hành vi ném cả chồng bát đã vượt qua bao nhiêu gian nan khổ ải, chứa đựng
đầy lòng yêu thương đó vào trong sọt rác. Sự mất mát to lớn đã che mờ sự suy
nghĩ sáng suốt của nhiều người. Hoàng cảm thấy bùi ngùi khi nghĩ đến sự cách biệt
giữa dân chúng hai miền hãy còn quá xa. Chàng tự nhủ phải cần có thời gian để
cho những cơn xáo động lắng xuống, những tình cảm tức giận, oán ghét, chống đối
hời hợt nguội đi nhường chỗ cho những nhận thức sáng suốt hơn, thì lúc đó mới
thăng hoa được những quan điểm sâu sắc, sáng suốt, gây nên được những tác động
hữu hiệu trong đời sống. Miền Bắc, sau gần ba mươi năm kìm kẹp, không thể trông
mong gì được về một phong trào chống đối nào. Mọi người đã kiệt quệ, mòn mỏi.
Tuổi trẻ thì khi sinh ra đã ở trong lòng chế độ. Họ hoàn toàn xa lạ với những
tin tức bên ngoài và những tư tưởng tự do. Họ không đủ yếu tố để trở thành những
hạt nhân của sự suy nghĩ mới. Xã hội bế tắc nhưng vẫn tồn tại. Tồn tại trong những
điều kiện thấp kém nhất của nhu cầu tối thiểu làm người.
Hoàng hưởng về quần chúng
miền Nam với một ước vọng thầm kín. Lịch sử không thể tái diễn đối với phần đất
đã từng có hơn 30 năm tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Đảng và nhà nước có trấn
áp, có tiêu diệt, có áp dụng triệt để bạo lực cách mạng thì những gì đã xẩy ra ở
miền Bắc vẫn không thể xẩy ra trọn vẹn ở miền Nam. Như một đứa con đã quen sống
phong lưu buông thả, nay bị lôi cổ về với nếp sống gia đình cổ hủ, miền Nam vẫn
có phong cách riêng của nó, thái độ suy nghĩ của nó, cung cách tham dự và công
cuộc xây dựng xã hội riêng của nó. Đảng và nhà nước tuy thắng lớn về mặt quân sự,
nhưng đã thua to ở mặt trận tinh thần. Người ta tiêu cực chống đối nhà nước, nhất
là thành phần vô sản. Không thể gọi toàn thể quần chúng lao động miền Nam là vô
sản lưu manh được, vì họ thực sự là thành phần bị bóc lột ở chế độ cũ, nhưng họ
vẫn tiếp tục bị bóc lột, tàn nhẫn hơn, trắng trợn hơn ở chế độ mới. Họ chỉ là
cái cớ để chế độ treo lên cái chiêu bài Xã Hội Chủ Nghĩa của mình. Nhân dân lao
động miền Bắc chịu đựng làm cái đinh cho chế độ treo lên những đồ trang trí mà
không dám phản ứng gì, nhưng chỉ mới vài năm sau ngày giải phóng, quần chúng
lao động miền Nam đã dứt khoát lựa chọn cho mình một thái độ : Không chấp nhận
cái gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa.
Tuy nhiên từ ý thức đến
hành động là một khoảng cách biệt lâu dài. Nó cần đến những nhân tố tác động, để
hình thành một lực lượng mới, trong đó thống hợp được đủ mọi loại thành phần,
không phân biệt miền Nam hay miền Bắc, quần chúng hay Cán bộ, Đoàn viên, quá khứ
chính trị là «Ngụy quyền» hay «Cách mạng», miễn là cùng chung nhau một nhận thức
mới : Con đường tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa chỉ là con đường bế tắc, đem lại nhiều
đau thương, nghèo khó, điêu tàn hơn là xây dựng được một xã hội ấm no, hạnh
phúc. Nhận thức đó cũng không phải là một nhận thức quay về phục hồi một miền
Nam bất công, thối nát cũ. Nó phải tước bỏ lằn ranh chia cắt Bến Hải vốn đã rút
khỏi sân khấu chính trị kể từ sau ngày 30-4-75. Nó phải rộng rãi để nhìn thấy vấn
đề quê hương bây giờ là vấn đề của toàn thể dân tộc vốn đã từng có mối liên hệ
trải dài từ Nam Quan cho đến Cà Mau. Dân tộc ấy đã phải chịu nhiều đau thương,
mất mát, qua các cuộc thử nghiệm của các chế độ chính trị. Bây giờ sẽ là thời của
chính họ, những nạn nhân của cả hai miền, nếu mọi người biết gỡ bỏ hàng rào
ngăn cách vốn đã được dựng lên vì những nhu cầu chính trị. Cho nên không thể
buông xuôi được mà vẫn phải tiếp tục đi tới. Buông xuôi nửa chừng là tiếp tay
cho bạo lực, thanh toán kẻ thù rồi chính mình chịu trở thành nạn nhân của bạo lực.
Miền Bắc đã diễn ra thảm cảnh này, nhưng miền Nam không thể như thế vì điều kiện
xã hội, chính trị, và hoàn cảnh lịch sử của nó. Sau ba mươi tháng tư, nhiều người
miền Bắc đã khóc òa trong tuyệt vọng vì thấy nguồn hy vọng duy nhất của họ là
miền Nam đã bị sụp đổ. Nhưng đấy chỉ là cơn xúc động nhất thời dẫn đến những sự
suy nghĩ nhất thời. Miền Nam sụp đổ không có nghĩa là mọi khả năng của nó đã bị
hủy diệt. Đứng trên một khía cạnh lạc quan nào đó mà xét, thì sự sụp đổ này
cũng đã đem lại những điều kiện tốt cho một cuộc cách mạng mới. Ngày trước, do
hoàn cảnh chia cắt, mọi người chưa bao giờ có cơ hội nhìn thấy bản chất của chế
độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Nhiều người nếu đã biết thì chưa biết tường tận. Nhiều người
chưa biết thì thờ ơ, ích kỷ trong cuộc chiến chống lại sự lan tràn của chế độ ấy.
Lại cũng có nhiều người chóa mắt vì những luận điệu ve vãn, núp dưới chiêu bài
yêu nước, để rồi đi theo con đường cách mạng mà không biết rõ những gì xẩy ra
sau khi «Cách mạng đã thành công». Như thế, biến cố 30-4-75 tuy là một biến cố
đau thương, kinh hoàng nhưng cũng là một dịp để cho tất cả mọi người nhận ra được
chân tướng của Xã Hội mới. Vấn đề là ở chỗ sau đó sẽ phải làm gì ? Chấp nhận
khuôn mẫu như đã thực hiện ở miền Bắc hay tiếp tục đấu tranh để hình thành một
cơ cấu xã hội khác tốt đẹp hơn. Chỉ thời gian mới có thể trả lời, tùy thuộc vào
vấn đề nhận thức của mọi tầng lớp quần chúng, kể cả những người đã từng tham
gia Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng miền Nam với lòng yêu nước chứ không phải vì
yêu Chủ Nghĩa Xã Hội.
Hoàng mang cái tâm trạng
này khi xách khăn gói lên đường vô Nam. Chàng dự định làm một cuộc thăm dò
trình độ nhận thức của mọi người. Nhiều người đã khiến cho Hoàng thất vọng sâu
xa. Khoảng cách biệt còn quá lớn. Nhiều người còn quá nông cạn, ấu trĩ. Những
người khác không ấu trĩ thì lại bị sự mất mát làm che mờ sự suy nghĩ của họ.
Còn cần phải nhiều năm nữa những tư tưởng mới, mới có thể hình thành. Hoàng buồn
bã nghĩ vậy, nhưng chàng không bỏ qua những cơ hội để gieo trồng mầm mống suy
nghĩ mới.
Tại nhà in Hồng Phát,
Hoàng vừa tìm hiểu những hoạt động của Nguyệt vừa chú ý đến Toàn, anh công nhân
hình dáng rất trí thức, lúc nào cũng buồn bã cắm đầu xuống những trang chữ chằng
chịt ký hiệu Toán học. Một buổi nghỉ trưa, Hoàng lân la làm quen với Toàn ở
quán cà phê ngay kế của nhà in. Hoàng hỏi :
– Ngày trước, anh đã theo
học trên đại học ? Toàn đáp :
– Phải. Tôi đang chuẩn bị
thi Toán Đại Cương.
– Hèn gì mà cơ sở giao
cho anh xếp chữ môn Toán. Học toán chắc là anh không thích văn chương nghệ thuật
lắm nhỉ.
– Trái lại là đằng khác.
Tôi không thấy có sự cách biệt nào giữa khoa học và văn chương.
– Tại sao vậy ?
– Thì Văn chương phải
khúc chiết, phải rõ ràng, mạch lạc. Cái đó chẳng phải là những đặc điểm của
tinh thần khoa học sao ,
– Anh thấy văn chương Xã
Hội Chủ Nghĩa thế nào ?
– Tôi đọc rất ít nên xin
miễn có ý kiến.
– Đọc rất ít nghĩa là
cũng có đọc chứ.
– Phải. Như cuốn Vùng Trời
của Hữu Mai. Một bộ hai cuốn, tôi chỉ đọc có một.
– Sao thế ?
– Tại tiêu không nổi quan
điểm viết lách của giới cầm bút Xã Hội Chủ Nghĩa. Cặp tình nhân yêu nhau, xa
nhau, đến ngày đi phép được gặp gỡ, rủ nhau đi dạo mát, lại phải đứng bên hàng
rào nhìn về căn nhà Hồ Chủ Tịch, nơi ông đang làm việc để phát biểu cảm nghĩ rằng
trong lúc Bác đang cặm cụi lo lắng việc nước thì mình lại nhởn nhơ, vui thú. Thế
là mặc cảm tội lỗi nổi lên. Thế là người hùng tự cắt bớt ngày nghỉ phép, từ giã
người yêu để trở về đơn vị phục vụ.
Hoàng mỉm cười :
– Những tâm tình ấy cũng
có thể có chứ sao không ?
Toàn nhìn thẳng vào mắt
người mới quen, hỏi dằn giọng :
– Anh là người trong giới
viết lách. Anh có tin là có những mẫu người ấy trong xã hội miền Bắc không ?
– Có hay không, điều đó
không quan trọng. Miễn là tác giả đưa ra được một nhân vật điển hình, một khuôn
mẫu tốt để mọi người noi theo.
– Cái đó, ở trong Nam khi
trước gọi là giả tạo. Một tác phẩm giả tạo là một tác phẩm khô cứng, không hồn,
một tác phẩm chết !
– Cũng còn tùy thuộc ở
cái nhìn của người đọc khi đứng dưới góc độ nào, ở dưới thể chế chính trị nào.
– Ngày trước, văn nghệ sĩ
miền Nam độc lập với chính mình.
Nguyệt hỏi :
– Còn về phần bác, bác sẽ
làm gì trong hoàn cảnh hiện nay ?
– Bác có nhiều bạn bè, đồng
chí. Bác vẫn đang thực hiện công cuộc kết hợp những người cùng chung một ý hướng
như mình.
Nguyệt vui mừng :
– Cháu tin là sẽ đông đảo
lắm.
– Nhìn về tương lai thì sẽ
đúng như thế. Bởi vì có mấy ai chấp nhận một xã hội đen tối, suy sụp như thế
này ngoại trừ thành phần cam tâm hưởng thụ trên sự đen tối, suy sụp đó. Nhưng
cuộc chiến đấu sẽ là cuộc chiến đấu trường kỳ, còn vô vàn khó khăn chứ không dễ
dãi gì đâu.
Rồi ông Năm đổi giọng :
– Nhưng trước mắt hãy suy
nghĩ về hoàn cảnh hiện nay của cháu đã. Cháu dự tính ra sao về đề nghị gặp gỡ của
Sáu Thu.
Nguyệt ngập ngừng :
– Cháu bối rối quá cũng
chưa biết tính ra sao. Cháu định đến xin ý kiến của bác.
– Thằng ấy nguy hiểm lắm.
Nó có thể muối mặt làm bất cứ điều gì để thỏa mãn tham vọng của mình. Nó tiêu
biểu cho một giai cấp bóc lột mới.
– Cháu hiểu vậy. Nhưng
ông ta là người có cánh tay dài với tới cả Sở Công An thành phố.
– Nghĩa là cháu có ý định
cư tới gặp Sáu Thu trước đã.
– Vâng ! Để coi vụ giấy tờ
in giả mạo bị đẩy đi tới đâu.
– Thế cũng được. Nhưng đừng
nghe theo bất cứ lời khuyên hay gợi ý nào của nó. Bất quá thì cháu bỏ thành phố
về quê. Bác có nhiều chỗ quen biết để cháu có thể tạm dung thân.
– Cháu cảm ơn bác rất nhiều.
Nói chuyện với bác, cháu cảm thấy yên tâm hơn. Bây giờ cháu phải về.
– Cẩn thận giữ mình, đừng
bao giờ hấp tấp vội vã.
Đường đi còn dài nghe
cháu.
CHƯƠNG VI
Khi bước qua ngưỡng của
căn biệt thự xinh đẹp của Sáu Thu, Nguyệt thấy lòng bình thản lạ lùng.
Lần tới trước, Nguyệt rụt
rè, bỡ ngỡ và nhỏ bé như một cô học trò mới vừa bước đầu lên trung học đi đến
thăm nhà thầy. Hồi đó, Nguyệt nhìn Sáu Thu như một con người cao vòi vọi. Họ
gian khổ, họ chiến đấu, và họ chiến thắng để thực hiện một xã hội mà Nguyệt vẽ
ra ở trong đầu qua tài liệu sách vở.
– Cách mạng xã hội chủ
nghĩa xóa bỏ mọi hình thức bóc lột, mọi sự thống trị giai cấp, xây dựng một xã
hội không còn giai cấp và chế độ người bóc lột người.
Cuộc giao thương giữa hai
miền Nam Bắc sau ngày 30 tháng 4 đã cho thấy cái thực chất của cuộc Cách mạng
này sau bao nhiêu năm bị bưng bít vì hoàn cảnh chia cắt. Nguyệt đã được nghe
nhiều bà con, họ hàng kể lại những gì đã xẩy ra trong đời sống dân chúng, kể cả
dân chúng ở Hà nội. Tại thủ đô của đỉnh cao văn minh trí tuệ loài người, con
người sống chui rúc trong những ổ chuột. Một căn nhà bình thường, trước đây
dành cho một gia đình, nay được chia năm xẻ bảy. Mỗi «nhà» kê đủ vỏn vẹn có một
cái giường và một cái bàn nước trên để đủ mọi thứ đồ đạc linh tinh. Nhà nọ cách
nhà kia chỉ có một tấm màn bằng vải thô mỏng. Vợ chồng đã ly dị nhau rồi thì vẫn
cứ ở nguyên trên cái giường đó sau khi chăng thêm một cái màn vải thô nữa để
chia đôi cái giường thành hai đơn vị gia đình riêng tư. Khu nhà tập thể ở Giảng
Võ, một loại buyn đinh bốn từng lầu thì rung rinh sẵn sàng đổ sụp vì khi xây cất,
một phần do các thợ chuyên môn đã lên đường làm nghĩa vụ quân sự nên phải giao
phó cho những thợ trẻ tay mơ, một phần khác do ở sự ăn cắp xi măng, ăn cắp vật
liệu, nên sự xây cất bôi bác, không đủ tiêu chuẩn. Vậy mà người ta vẫn chen
chúc ở đó, chờ đợi nhiều năm để được cứu xét hoàn cảnh, cứu xét công lao đã từng
đóng góp cho Cách mạng để được dọn vô ở đó. Một chuyên viên cư ngụ tại đó đã
than thở :
– Chúng tôi sống ở đây
như sống «dưới giá treo cổ». Gặp ngày có bão lớn, tất cả mọi người đều phải di
tản ra ngoài ngồi chờ cho đến khi bớt gió. «Nó» có thể sập xuống bất cứ lúc
nào.
Đời sống tinh thần cũng
không có gì khá hơn. Nghi kỵ lẫn nhau là tình trạng phổ biến. Người ta nghĩ một
đằng, nói một nẻo để giữ vững quan điểm, lập trường :
Ngang lưng thì thắt
phương châm Đầu đội nghị quyết, tay cầm chủ trương.
Trang bị kỹ lưỡng như thế
mà người ta vẫn còn sợ sơ xẩy, mắt thì nhìn trước ngó sau, giọng thì nhỏ to xì
xào, nỗi ám ảnh vì sợ đi cải tạo, sợ cúp hộ khẩu, sợ mất tem phiếu đã làm cho
con người bần tiện đi, bạc nhược ra, và cam chịu một kiếp người nô lệ cho một đẳng
cấp bóc lột mới.
Mọi sự nghèo khó, khốn khổ
kể trên cũng có thể chấp nhận được nếu như sự nghèo khó san sẻ đồng đều trên cả
nước do hoàn cảnh khó khăn của «thời kỳ quá độ».
Nhưng bốn chữ này, chỉ là
bình phong che dấu những nhược điểm không thể sửa chữa được, do ở sự một nhóm
người mới, một giai cấp mới đã được hình thành. Đem áp dụng lý thuyết sách vở
kinh điển của Mác-Lênin vào bọn này thì cũng đúng y chang như chính Engels đã
lên án «bọn tư sản bóc lột» : «Mỗi bước tiến của sản xuất đồng thời cũng đánh dấu
một bước lùi trong tình cảnh của giai cấp bị áp bức, nghĩa là của đại đa số người.
Cái mà người này cho là phúc lợi thì đối với người kia nhất định phải là tai họa.
«Mỗi cuộc giải phóng mới của một giai cấp này đều là do một sự áp bức mới đối với
một giai cấp khác.»
Hãy cứ nhìn vào thành phần
bị áp bức, bóc lột, rên xiết ở miền Bắc sau 1954 và miền Nam sau 1975, xem họ
là thành phần thiểu số hay đa số trong xã hội. Nếu họ là thành phần đa số (chưa
nói đến tuyệt đại đa số) thì cuộc Cách Mạng xã hội chủ nghĩa đang thực hiện chỉ
là cuộc cách mạng đáng đem vứt vào sọt rác vì nó đã gây tai họa, đau khổ, chết
chóc, khốn cùng cho biết bao nhiêu con người trải qua bao nhiêu là thế hệ.
Càng suy nghĩ, Nguyệt
càng thấy gần gũi với những tư tưởng gậm nhấm của ông Năm Tỏa. Xã hội càng khốn
cùng ông càng mang mặc cảm tội lỗi vì đã tiếp tay cho bạo lực, dù dưới bất cứ
danh nghĩa gì. Khác với những người ở chế độ cũ bị kẹt lại, đời sống hiện tại
càng tồi tệ, người ta càng hãnh diện với quá khứ của mình mặc dù cái quá khứ đó
chẳng có nhiều điều đáng để hãnh diện. Do xuất phát từ cái tâm lý của kẻ thắng
trận, hay thua trận nên người ta chỉ chọn lựa hoặc đứng bên này hay đứng bên
kia. Chưa mấy ai có tư tưởng đi tìm một chỗ đứng mới, chẳng bên này cũng chẳng
bên kia, một chỗ đứng chung cho toàn thể những kẻ bị áp bức dù dưới bất cứ một
xuất xứ nào, một chỗ đứng trở về với dân tộc, hai chữ dân tộc với đầy đủ ý
nghĩa trong sáng, nhân ái nhưng cũng anh dũng bất khuất, vốn có từ ngàn xưa, thời
kỳ chưa bị tha hóa bởi bất kỳ chủ nghĩa chính trị ngoại lai nào.
Tư tưởng này chưa là tư
tưởng phổ biến. Nó mới manh nha đâu đó ở nhiều nơi, âm thầm trong ý nghĩ của
nhiều người, nhưng nó cần phải được khơi dậy như một sinh lộ mới. Nó là con đường
ngắn nhất, đúng đắn nhất đem lại sự đoàn kết và sức mạnh của dân tộc.
Nguyệt như lớn lên và cảm
thấy tự tin hơn nhiều sau những cuộc gặp gỡ với ông Tỏa. Nàng bước qua ngưỡng cửa,
nơi có người lính bảo vệ ôm khẩu AK ngồi gác trong tư thế ngủ gà ngủ gật, mà
lòng hết sức bình thản. Nàng tặc lưỡi, ra sao cũng được, vì cùng lắm là ngồi
tù, tra tấn và chịu đủ mọi hình thức cải tạo. Đó là con đường tồi tệ nhất mà
nàng có thể hình dung ra. Nhưng trước đó, nàng muốn biết tường tận chi tiết, mọi
diễn biến cụ thể kể từ ngày Huấn bị đánh sưng tím mặt ở Sở Công An và được dẫn
về nhà in tìm những dụng cụ in ấn giả mạo đã cất dấu. Đó là lý do duy nhất để
Nguyệt tìm đến Sáu Thu. Nàng tự nhủ : nhất định ta không hèn hạ, không xin xỏ,
không nhờ vả bất cứ một ơn huệ nào.
Sáu Thu tiếp nàng lần này
với một vẻ mặt nghiêm trọng, lầm lì. Dù đã có định kiến trước, Nguyệt vẫn cảm
thấy mình nhỏ bé, khờ dại trước con người như Sáu Thu. Ông ta như một con mèo
đang chờn vờn miếng mỡ để trước mặt. Con mèo tuy bấn loạn ở trong lòng nhưng vẫn
cố gìn giữ vẻ hiền từ, khoan thai, như một triết gia bỏ ra ngoài mọi hệ lụy
trên đời.
Hôm nay Nguyệt ăn bận hết
sức giản dị. Nàng cố tình không trang điểm để che dấu những nét quyến rũ của
nàng. Nhưng càng không trang điểm, Nguyệt càng có vẻ đẹp thùy mị, ở đôi mắt ướt
như nhung của nàng, ở vành môi hồng ửng màu hoa đào, ở cái cổ trắng ngần chạy
xuống đôi bờ vai tròn trĩnh và đôi gò ngực căng lên sau lớp áo lụa trơn bóng được
ủi phẳng phiu còn nguyên nếp của nàng. Sáu Thu chậm rãi rót ra hai ly nước ngọt,
đẩy một ly về phía Nguyệt rồi nói :
– Cô Nguyệt đến đúng lúc
đó. Tôi chỉ còn giữ hồ sơ vụ này cho tới ngày mai. Trưa mai tôi phải hoàn trả
bên Sở Công An rồi.
Vừa nói ông ta vừa mở một
tập hồ sơ đã để sẵn ở trên mặt bàn kính. Hồ sơ mang số hiệu mật A 37, và ghi
rõ: «Vụ phản động tình báo chiến lược tại cơ sở ngành in số 10». Nguyệt thốt
lên :
– Tình báo chiến lược ?
Sáu Thu giữ một vẻ mặt
nghiêm trọng :
– Đấy là một phát hiện hết
sức lớn lao do khả năng điều tra của các đồng chí bên Sở Công An. Vụ này không
chỉ thuần túy tiền bạc như cô nghĩ đâu.
Cổ họng Nguyệt như se lại.
Miệng nàng khô đắng. Nàng đã dự liệu mọi sự bất ngờ, nhưng nàng không thể tưởng
tượng được rằng câu chuyện lại đẩy xa đến như thế. Nàng cố gượng gạo :
– Tôi nghĩ rằng các can
phạm bị tra tấn đau quá nên nhận lỗi bừa. Họ có khả năng gì mà tiến hành công
tác tình báo chiến lược ?
– Cô khờ lắm. Cô lại dễ
tin người. Những người do chính cô đã kết nạp, cô tưởng họ đã giác ngộ cách mạng
rồi à ? Bọn đế quốc tinh ma lắm, khi rút đi rồi, nó đâu có dại gì mà không gài
người vào các cơ quan, đoàn thể.
Sáu Thu nhấn mạnh ở những
chữ «những người do chính cô kết nạp» để trói nàng vào nội vụ và ngầm bảo cho
nàng biết, chính nàng cũng đang là kẻ ở trong cuộc. Sau đó, ông ta tiếp :
– Với tôi, tôi có thể
thông cảm được với cô. Nhưng các đồng chí bên Sở Công An thì họ không thiên vị,
cứ chiếu việc họ làm.
Nguyệt nhìn lại tập hồ
sơ, rồi lại nhìn Sáu Thu. Nàng có cảm giác đang đi chông chênh giữa bờ vực thẳm.
Rồi nàng hỏi bằng một giọng khó khăn, mất vẻ ròn rã, đằm thắm lúc bình thường :
– Ông cho rằng tôi sẽ bị
liên đới, bị điều tra ?
Sáu Thu chỉ trả lời Nguyệt
bằng một cái nhìn thật lâu rồi bằng một cái gật đầu thật khẽ. Chờ cho Nguyệt đã
thấm cơn sợ hãi vào đến tận tim óc, ông ta mới nói :
– Tôi chỉ có thể gỡ được
cho cô bằng cách... bằng cách... nhận cô là người của tôi. Tôi bảo đảm cho cô bằng
chính quá trình Cách mạng của tôi, may ra thì mới xong vụ này.
Nguyệt nhún vai :
– Tôi không muốn làm phiền
ông nhiều như thế. Vả lại tôi tin tưởng ở Cách mạng. Tôi không làm bất cứ điều
gì sai trái.
Sáu Thu đứng dậy, đi lại
chậm rãi ở quanh trong phòng. Một lát, ông ta nói :
– Cô Nguyệt a. Tôi phải
thành thực nói với cô rằng Cô hãy suy nghĩ kỹ đi. Cách mạng sáng suốt thật,
nhưng Công an chỉ là thành phần thi hành một cách triệt để và không khoan nhượng.
Tôi e rằng ở bên đó, cô sẽ không chịu nổi mọi sự dày vò. Cô không thể giữ cho
cô trinh trắng mãi được.
Lời nói trắng trợn của
Sáu Thu như một gáo nước tạt vào mặt nàng khiến nàng nhợt nhạt hẳn ra và có cảm
giác như muốn xỉu ngay tại chỗ. Chẳng cần hình dung, Nguyệt cũng đã thấy số phận
của mình ra sao giữa lũ đầu trâu mặt ngựa. Nàng rùng mình khi nghĩ đến quang cảnh
một nữ tù bị tra tấn bằng đủ loại trò dã man, bẩn thỉu nhất. Mới chỉ nghĩ
thoáng qua, Nguyệt đã thấy người như lên cơn sốt và cổ họng đã đắng, càng đắng
thêm.
Lúc này Sáu Thu đã tiến lại
bên nàng, cúi xuống đẩy ly nước về phía nàng rồi dịu dàng :
– Cô uống ly nước cho tỉnh
táo rồi suy nghĩ lại đi. Chấp nhận là người của tôi, cô sẽ có đủ thứ. Từ chối,
cô sẽ mất đủ thứ, kể cả tấm thân ngàn vàng của cô.
Nguyệt nổi giận cầm ly nước
định hắt cả vào mặt Sáu Thu. Nhưng nàng tự kiềm chế ngay được. Trong hoàn cảnh
này, tạo thêm một kẻ thù, lại là kẻ thù nguy hiểm như Sáu Thu là điều không
nên. Cho nên thay vì hắt ly nước, Nguyệt lại bưng lên miệng nhấp. Giòng nước
mát lạnh khiến cho nàng tỉnh táo lại, cơn sợ hãi lúc trước giảm hẳn đi nhiều phần.
Nguyệt trở lại trạng thái hoàn toàn tự chủ của mình. Nàng nhớ đến lời ông Năm Tỏa
: «Bất quá thì cháu bỏ thành phố về quê. Bác có nhiều chỗ quen biết để cháu có
thể dung thân».
Lời hứa của ông Năm Tỏa
khiến cho Nguyệt mừng rỡ như một kẻ đang đắm đuối giữa dòng chợt vớ được cái
phao. Nàng đã phác họa trong đầu những gì sẽ phải làm cấp tốc ngay trong đêm
nay. Giã từ nhà in. Giã từ đoàn thể. Giã từ thành phố. Giữ từ bầu không khí ngột
ngạt hồ hởi xen lẫn giả trả, nồng nhiệt xen lẫn chán chường, vồn vã xen lẫn
nghi kỵ. Bầu không khí vẩn đục. Bầu không khí nhiễm độc. Sản phẩm của một cuộc
cách mạng nửa với mà thành quả của nó là một cơn xáo trộn tuy ghê gớm nhưng
không cần thiết phải trả với từng cây giá đau thương.
Tuy nhiên trước hết là
nàng phải giữ thái độ bình thản, hòa dịu đối với Sáu Thu. Nàng tự nhủ, chỉ một
sơ sẩy không thôi, hắn có thể sẽ phá vỡ mọi dự tính của nàng. Nghĩ vậy, Nguyệt
đổi lại thế ngồi, nhìn ông ta bằng đôi mắt không ác cảm, và nói bằng một giọng
cố giữ cho từ tốn, tự nhiên :
– Thưa ông Sáu, cháu rất
cảm ơn nhã ý của ông giúp cháu qua cơn hoạn nạn này. Tuy nhiên, cháu còn cần
thì giờ về thu xếp công việc đoàn thể ở bên cơ sở ngành in...
Sáu Thu nhíu mày nhìn
Nguyệt như đánh gia tầm mức thành thực của nàng. Cử chỉ ấy, ông ta chỉ để lộ
thoáng qua một giây, rồi vẻ mặt trở lại hết sức vồn vã, đượm nhiều nét vui mừng
:
– Thế thì tốt cô Nguyệt ạ.
Tôi mừng vì có có quyết định sáng suốt. Trong khi chờ đợi cô, mời cô uống ly nước
này để chúc mừng sự việc tai qua nạn khỏi.
Ông ta nâng ly nước lên
chờ đợi Nguyệt. Rồi cả hai uống cạn ly. Lúc Nguyệt đặt cái ly xuống bàn, nàng
có cảm giác xây xẩm. Trong một giây thoáng qua, nàng rợn người lên vì một cảm
giác sợ hãi chợt ùa đến, sợ hãi hơn cả lúc nàng hình dung ra quang cảnh một lũ
đầu trâu mặt ngựa quây quần xâu xé nàng. Toàn thân của Nguyệt như đóng băng lại.
Nàng cố để cho mắt không hoa lên. Nàng cố vận dụng mọi khả năng còn sót lại để
điều khiển chân tay như đang bắt đầu thoát ly khỏi sự kiểm soát của nàng. Nhưng
nàng bất lực. Nàng thấy mọi vật quanh nàng quay đảo rồi tối sầm. Bên tai loáng
thoáng, nàng chỉ còn nghe được tiếng cười hể hả của ông Hồng Phát, lúc đó vừa mở
cửa ở căn phòng bên bước ra
CHƯƠNG VII
Đã hơn hai tuần nay, Nguyệt
không ra khỏi nhà.
Nàng cũng không bước ra
khỏi căn phòng xinh xắn của nàng ở lầu trên. Mẹ nàng tưởng nàng ốm nên sau khi ở
chợ về, bà cụ vẫn lên săn hỏi tình hình sức khỏe của nàng. Nhìn vẻ mệt mỏi, rã
rượi của Nguyệt, bà cụ dần dà không tin là Nguyệt ốm. Bà có cảm giác con gái
đang gặp chuyện gì bất thường. Nhưng vốn Nguyệt ít nói. Từ khi tham gia công
tác đoàn thể, nàng hay có thái độ lầm lì. Biết tính con như vậy, nên bà cũng
không muốn tọc mạch đi sâu vào những việc riêng tư của nàng. Trên đầu giường,
bà cụ chất đầy cam, táo cho Nguyệt. Sau cuộc đánh tư sản, bà mất nhiều nhưng
không mất hết. Chợ trời sau một thời gian vắng bóng, nay lại họp trở lại, đông
hơn xưa, nhiều hàng họ hơn xưa. Bây giờ, môi trường buôn bán của bà là ở đấy, dễ
chịu, thoải mái, làm giàu còn nhanh chóng hơn trước. Cuộc cách mạng về quan hệ
sản xuất mà thành ủy gọi là triệt để và không khoan nhượng chỉ đem lại cái
thành quả thay bậc đổi ngôi : Dân hưởng thụ, tung tẩy mua sắm khi trước nay lui
xuống làm dân chợ trời. Còn thành phần tung tẩy đi mua sắm bây giờ, là hàng ngũ
của giai cấp mới, giai cấp có quyền lực, và những vợ con của những cán bộ quyền
lực nằm trong giai cấp ấy. Chỉ chết có thành phần nhân dân lao động và những
công nhân viên chức tép riu thuộc những xí nghiệp, những tổ hợp, những trường học
và cả các cơ quan hành chánh nhà nước. Lớp người này, vì hãi hùng đời sống khủng
khiếp của những vùng được gọi là kinh tế mới, vì cố bày tỏ thiện chí với chế độ
mới mong hồ sơ được xóa bỏ nguồn gốc cũ của mình, tất cả đã cố bíu lấy đời sống
rách nát ở Sàigòn qua đồng lương chết đói mà nhà nước qui định. Đi làm bây giờ
không có nghĩa là để nuôi sống bản thân (đừng nói chỉ nuôi gia đình) nhưng là để
có an ninh cho bản thân. Khi được chấp nhận hợp pháp rồi, người ta mới bung ra
ngoài xã hội để kiếm sống bằng đủ loại ngành nghề : chạy mối, buôn lậu, sửa xe,
đạp xe, bán quán, hoặc ngay cả làm điếm nữa. Sà igòn quả có khác Hà nội. Khác rất
xa. Nếu ngày xưa, sau công cuộc cải tạo, Hà nội như một con bệnh bị rút hết máu
khỏi cơ thể, và sau đó cứ tồn tại trong sự thoi thóp thở với thể xác gầy mòn,
xanh xám của mình, thì bây giờ, sau những ngày cải tạo, Sàigòn vẫn ồn ào, náo
nhiệt như bao giờ, nhờ nguồn tiếp tế không ngưng nghỉ của những người đã sống
lưu vong ở nước ngoài.
Nền kinh tế tư sản đã
ngóc đầu dậy. Đúng thế, nó phải ngóc đầu dậy để nuôi sống tình cảnh èo uột, thảm
hại của nền kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa. Đó là một sự thực, có vẻ trái khoáy,
nhưng không ai có thể chối cãi được.
Trên đầu giường của Nguyệt
có đầy đủ mọi loại hoa quả và thuốc men, nhưng nàng không muốn nhúc nhích đến cả
ý nghĩ của nàng. Nguyệt như nghe toàn thân rũ liệt. Nguyệt nghe như sự ô uế, nhờm
gớm đang gậm nhấm từng tế bào, từng đường gân, thớ thịt của nàng. Có những lúc
cơn giận bỗng bùng dậy, nàng thấy như máu của mình sôi lên, nàng muốn la hét,
muốn đập phá, muốn thiêu đốt, muốn hủy diệt chính mình. Nhưng phút ấy chỉ thoảng
qua, như một cơn gió nóng thổi vào tâm hồn lạnh băng của nàng, rồi sau đó nàng
lại trở về trạn thái rũ liệt, tức tủi, thầm lặng.
Nguyệt đã chịu đựng cơn
xúc động, ê chề ấy trong gần hai tuần lễ. Nàng không tiếp xúc với ai. Không
nghĩ ngợi gì đến công việc đang dang dở ở nhà in, ở đoàn thể, đến cả vụ «Phản động
tình báo chiến lược» đã đưa nàng tới tình trạng tủi nhục như hiện nay.
Nàng không chờ đợi ai, và
mong đừng có ai nhớ đến mình. Nàng muốn biến khỏi cuộc đời này, biến khỏi luôn
trong cả trí nhớ của mọi người. Nhưng cơn xúc động cùng cực ấy cũng phải có lúc
nguôi ngoai. Nguyệt nằm một chỗ nên có cơ hội suy ngẫm về mọi sự đã xẩy ra từ
ngày Sàigòn bị sụp đổ. Nàng đang tự lột xác thêm một lần nữa. Toàn là người đã
băn khoăn thắc thỏm về nàng nhiều nhất. Mấy ngày đầu vắng mặt Nguyệt, Toàn thản
nhiên như không có chuyện gì xẩy ra. Rồi một tuần lễ trôi qua, Nguyệt vẫn không
trở lại làm việc. Toàn bắt đầu lo. Chàng hình dung ra đủ mọi loại trường hợp để
cắt nghĩa sự vắng bóng của Nguyệt, và bao giờ Toàn cũng rợn người khi nghĩ đến
Nguyệt có thể đã bị giam giữ để điều tra.
Sau cùng, Toàn tìm đến
nhà Nguyệt. Nhờ quen biết từ trước, Toàn được trong nhà ra mở cửa và được cho
biết Nguyệt đau từ hai tuần nay, không muốn tiếp bất cứ một ai.
Từ hôm đó, ngày nào đi
làm về, Toàn cũng ghé nhà Nguyệt. Trước thì chàng chỉ ngồi một mình trên ghế
salon, hút thuốc liên miên rồi lủi thủi ra về. Một hôm cuối tuần, Toàn không thể
chịu đựng được nữa, đã nhờ đưa một mảnh giấy lên lầu. Chàng viết : «Em ơi ! Dù
thế nào thì em cũng cho anh gặp em, thăm hỏi sức khỏe của em. Anh vẫn yêu em
như ngày nào. Anh đã rất hối tiếc về những gì đã xảy ra trong thời gian qua.
Anh mong em tha lỗi cho anh. Toàn».
Lần ấy, Toàn cũng chưa được
gặp Nguyệt nhưng đã được nàng hẹn trở lại ngày hôm sau. Nguyệt đã qua cơn khủng
hoảng của nàng. Nàng đã trở lại với con người hoạt động mọi ngày. Nàng chỉ có một
vài thay đổi trong tâm tình. Ý nghĩ của nàng lạnh lùng hơn, sắt đá hơn, và nàng
che dấu một mối căm thù chỉ có một mình nàng hiểu rõ. Nàng đã lựa chọn cho mình
một con đường.
Hôm gặp Toàn, Nguyệt vẫn
đẹp rực rỡ như ngày nào, mặc dù nàng vẫn còn đôi chút mệt mỏi. Nàng tiếp người
yêu cũ với một vẻ bình thản đến độ chính nàng cũng không ngờ. Còn Toàn thì mừng
rỡ ra mặt. Chàng chạy bổ lại phía nàng, vừa nắm lấy tay nàng vừa thốt lên :
– Em Nguyệt !
Nguyệt gỡ tay chàng ra và
đẩy chàng ngồi xuống ghế. Hai người đối diện nhau. Đã lâu lắm họ mới ngồi gần
nhau mà lòng không vướng bận về sự hậm hực hay chán chường. Toàn nhận ra rằng
tình cảm giữa chàng và Nguyệt vẫn còn hoàn toàn nguyên vẹn. Những ngày không gặp
Nguyệt, Toàn thấy nhớ nhung. Những hôm ngồi chờ Nguyệt ở căn phòng phía dưới,
Toàn xót xa khi nghĩ đến cơn bệnh tật mà nàng phải chống trả. Có nhiều hôm buồn
quá, Toàn chạy đi tìm Hoàng. Chàng thổ lộ :
– Tôi có nhiều mâu thuẫn
thật là khó hiểu. Nhiều khi tôi yêu Nguyệt đến độ có thể chấp nhận bất cứ chuyện
gì nàng đã làm, bất cứ quan điểm nào nàng đã có. Nhưng cũng có lúc, tôi lại
nhìn nàng mà không xóa bỏ được ý nghĩ nàng là kẻ phản bội.
Hoàng hỏi lại :
– Xã hội cũ, một xã hội đảng
duy trì lại lắm sao ? Vả chăng, đâu phải chờ đến bây giờ mới có vấn đề phản bội
đúng nghĩa chữ phản bội. Trước kia, dưới chế độ cũ đã có thiếu gì người phản bội
ngay chính hàng ngũ của họ, tỷ như bọn buôn súng, buôn gạo, buôn thuốc tây bán
cho CS. Họ lại là những kẻ có quyền thế trong xã hội. Họ đáng bị kết án phản bội
hơn bất cứ ai khác, tại sao cậu không đề cập tới mà lại chỉ chĩa mũi dùi vào những
người trẻ, có lòng như Nguyệt.
Toàn không trả lời được
câu này. Nhưng chàng cũng không thấy thoải mái khi chấp nhận điều mà Hoàng vừa
gợi ý ra. Tâm trạng của Toàn hoang mang, dao động, như một kẻ đối diện với sự
thực mà không muốn chấp nhận sự thực. Hoàng tiếp tục nói :
– Phải công bằng mà xét,
những người chấp nhận hợp tác với chế độ mới từ những ngày đầu, không phải chỉ
xuất phát từ có mỗi một động cơ. Hoạt đầu có, cơ hội chủ nghĩa có, ham vui có,
mà lý tưởng thì cũng có chứ. Tại sao cậu không thể có ý nghĩ rằng Nguyệt là một
con người lý tưởng. Nàng không bị giàng buộc nhiều với quá khứ nên rất dễ dàng
rũ bỏ cái quá khứ đầy dẫy những điều tồi tệ ấy để mong xây dựng được một cái gì
tốt đẹp hơn. Chiến tranh là một cái gì đè nặng lên tất cả mọi người. Khi chiến
tranh chấm dứt, người ta dễ dàng chấp nhận một cuộc hành trình đi vào một ngã rẽ
mới, bất kể sự tìm hiểu cái ngã rẽ đó sẽ đưa mình tới đâu. Nguyệt là một trong
những mẫu người đó.
Toàn suy nghĩ rồi đáp :
– Tôi không có lập luận
gì để lên án cung cách chọn lựa của nàng. Tôi chỉ thấy một điều, là Nguyệt sinh
ra không phải để đặt mình vào những môi trường hoạt động ấy. Nàng hoàn toàn
không thích hợp với những nhiệm vụ như thế.
Hoàng mỉm cười :
– Thế thì nhận định của cậu
mới chỉ ở bước đầu trong tiến trình nhận thức, tức là nhận thức cảm tính. Căn cứ
vào nhận thức cảm tính mà không phán đoán, không phối hợp với thực tiễn để kiểm
chứng thì làm sao cậu có thể kết luận một cách chắc nịch như thế được.
Toàn trả lời :
– Kể ra cũng có nhiều khi
tôi lờ mờ cảm thấy mình đã suy nghĩ bất công cho nàng. Nhưng tôi không ưa lý luận,
tôi chỉ nghe theo tiếng nói của trái tim.
– Thế thì cậu phải đọc
nhiều về lô-gích biện chứng. Ở cái xã hội này, dù muốn hay không, cậu cũng phải
đương đầu với nhiều vấn đề, nhiều hoàn cảnh, nhiều sự việc. Nếu không trang bị
cho mình một lề lối lý luận, cậu sẽ bị thiệt thòi rất nhiều.
– Tôi đâu có tranh chấp với
ai mà nói chuyện thiệt thòi. Chỉ những người lăn xả vào xã hội như Nguyệt thì mới
cần trang bị lý luận mà thôi.
– Thì cậu đang chịu đựng
sự thiệt thòi đấy, khi cậu xa cách với Nguyệt mà không có cơ nguyên chính đáng.
Chưa chịu tìm hiểu rõ ràng mà đã vội vã quyết định hành động, thể có phải là một
sai lầm đáng trách không.
Sự gợi ý của Hoàng khiến
cho Toàn như thoát ra khỏi tâm tình u tối mà chàng cứ ôm lấy mãi trong thời
gian qua. Xét cho cùng, Nguyệt vẫn chưa làm điều gì có hại cho những người làm
việc chung với nàng.
Trong cơ sở ngành in,
chưa hề có ai bị tố cáo mặc dù đã có nhiều người phát ngôn hết sức phản động.
Những nổ lực mà Nguyệt đã dành cho mọi công tác ở đây đều là những nổ lực làm đẹp
cho cơ sở : tình trạng vệ sinh khá hơn, vấn đề bảo toàn lao động được áp dụng tối
đa trong phạm vi khả năng có thể làm được, công nhân có chỗ làm việc thoáng khí
hơn, rộng rãi hơn, các quy trình làm việc hợp lý hơn, đặc biệt là phong trào thể
dục, thể thao lên rất cao, điều mà trước đây chưa một cơ sở in nào trong thành
phố đặt ra cả. Ngần ấy thứ, nếu có tinh thần khách quan, phải kể là công lao của
Nguyệt.
Xét cho cùng, Nguyệt chỉ
có một điều sai lầm là nàng đã quá vội vã tin theo con đường mà nàng chọn lựa
trước khi biết rõ thực chất của nó. Nhưng đó không phải là lỗi ở Nguyệt. Nàng
chỉ có lỗi khi nàng cứ bám chặt lấy con đường ấy ngay cả khi đã nhìn ra bản chất
tồi tệ của nó. Như vậy, nàng cần có thời gian để «trắng mắt» ra. Mà muốn đốt thời
gian cho ngắn lại, Nguyệt cần sự giúp đỡ, gợi ý và ngay cả những kinh nghiệm của
những người đã kinh qua. Toàn cho rằng không ai đem lại cho nàng những bài học
thực tiễn bằng Phạm Ngọc Hoàng. Hoàng sẽ kéo nàng ra khỏi cơn mê muội, sẽ cho
nàng thấy con đường nàng đang theo đuổi đã có một cái đích vô cùng rõ rệt mà
nàng có thể thấy trước: đó là những quang cảnh điêu tàn, đen tối ở miền Bắc.
Chưa đi hết quãng đường mà đã nhìn thấy cái đích tồi tệ rồi thì còn tiếp tục cố
gắng làm chi nữa cho mất công !
Đã lâu không ngồi tâm
tình riêng với Nguyệt, Toàn cảm thấy lúng túng. Hai người như có một khoảng
cách mà Toàn cố gắng tìm cách để vượt qua. Sau cùng, chàng lên tiếng :
– Nguyệt ạ. Anh rất hối
tiếc vì thái độ của anh đối với em trong thời gian qua.
Nguyệt nhìn Toàn đáp :
– Như thế là phải chứ.
Còn hơn là anh vẫn cứ tới với em, nhưng lòng đầy giả dối.
Toàn ngẫm nghĩ một lát rồi
ngập ngừng :
– Nhiều khi anh cảm thấy
mình đầy mâu thuẫn. Có lúc anh ghét em thậm tệ. Nhưng cũng có lúc anh thấy em
thật tuyệt vời trong những việc em đã làm ở nhà in Hồng Phát. Anh cũng không hiểu
tại sao nữa.
Nguyệt mỉm cười :
– Đó là vì anh không chịu
chấp nhận rằng dưới chế độ mới, nó cũng có cái hay, cũng có cái dở của nó. Đối
với anh, bất cứ cái gì thuộc về nó cũng đáng đem sổ toẹt hết.
Toàn bào chữa :
– Nhưng hay ít mà dở nhiều.
Và nhìn chung đại thể thì đáng sổ toẹt. Anh nói thế, em có giận anh không.
Nguyệt đáp :
– Anh làm như chỉ có một
mình anh là biết nhận xét, còn thiên hạ mù cả.
Toàn ngạc nhiên :
– Thế nghĩa là... ?
– Nghĩa là Nguyệt cũng
nghĩ như anh vậy. Nhưng Nguyệt không cực đoan, một chiều như anh. Giữ thái độ
như của anh, anh sẽ không học hỏi được điều gì cả. Nếu anh già lụ khụ thì không
nói, nhưng anh còn trẻ mà ù lì mới là chuyện đáng ngạc nhiên.
– Vậy với em thì em đã học
được cái gì ?
– Có vô vàn điều có thể học
hỏi được, kể cả sự học qua cái hay cũng như qua cái dở. Đời sống chung quanh
ta, dù ta không chấp nhận nhưng nó vẫn diễn tiến, vẫn ảnh hưởng trực tiếp đến
chính ta. Vậy mà cứ thụ động nhắm mắt quay đi thì có khác gì con đà điểu rúc
vào đống cát để tránh gió bão.
– Nhưng học hỏi từ chế độ
mới không có nghĩa là chấp nhận chế độ mới, phục vụ cho nó, làm cho nó mạnh
lên, và nó tiếp tục cưỡi lên đầu lên cổ chính mình.
– Anh đầy thành kiến và
lý luận đơn giản như con nít. Với anh, thì A là A, B là B. Vấn đề đời sống nó
đâu có dễ dãi như vậy.
Thấy Toàn im lặng, biểu lộ
sự không đồng ý với ý kiến của mình, Nguyệt tiếp :
– Bây giờ cứ giả thử là
cái chế độ này nó đang cưỡi lên đầu lên cổ chúng mình. Vậy Nguyệt hỏi anh, thái
độ thụ động, im lặng của anh có góp được chút gì vào công cuộc thay đổi tình trạng
ấy hay không ?
Toàn cãi :
– Đồng ý là không. Anh
không có khả năng làm xoay chuyển được tình thế, nhưng ít ra anh cũng không làm
cho cái tình thế ấy trở nên tồi tệ hơn bằng cách tham gia, hợp tác để giúp cho
chế độ trở thành vững mạnh.
– Anh đã khơi đúng vào vấn
đề đấy. Nhưng anh cũng phải khách quan để mà hiểu được rằng sự giúp hay không
giúp cho chế độ hoàn toàn tùy thuộc vào nhận thức của mỗi người tham gia. Có những
kẻ nhắm mắt tận tụy phục vụ vô điều kiện, mà không hề băn khoăn, thắc mắc gì.
Nhưng cũng có người tham gia một cách ý thức, họ vừa học hỏi, vừa chiếm lĩnh những
chỗ đứng trong guồng máy. Nếu số ấy đông đảo, ta sẽ có một lực lượng có khả
năng làm xoay chuyển được guồng máy đó.
– Thay đổi đường lối,
chính sách của Cộng Sản là một chuyện không tưởng.
– Em không lạc quan đến độ
cho mình có khả năng làm được công chuyện thay đổi đó, mặc dù em không nghĩ đó
là chuyện không tưởng. Nhưng ít nhất, cũng đem lại được những điều dễ chịu hơn
cho nhiều người. Thì hãy cứ đi từ cái ước mơ nhỏ đó trước. Biết đâu cả triệu ước
mơ nhỏ đó sẽ chẳng hợp thành được cái ước mơ lớn.
Ngưng một lát, Nguyệt tiếp
:
– Bao nhiêu năm nay, em
đã biết người dân miền Nam trông chờ một lực lượng phục quốc nổi lên lật đổ chế
độ này. Đó là nguyện vọng chính đáng và là cung cách tốt nhất để giải phóng những
con người nô lệ ở cả miền Bắc lẫn miền Nam. Nhưng sự chờ đợi ấy cho đến nay đã
mòn mỏi, trong khi đời sống khắc nghiệt cứ bám sát họ từng ngày từng giờ. Không
ai có thể nhịn đói mãi mãi để trông chờ một phép lạ thay đổi. Anh có thấy rằng,
ở đây, trong cái xã hội này, bây giờ người ta không còn tin tưởng ở cái phép lạ
ấy mà chỉ dám mong những thay đổi nhỏ, những thay đổi có ảnh hưởng trực tiếp đến
đời sống của họ. Trước thì người ta chống đối, nguyền rủa chế độ, nay thì chỉ
có một chút biện pháp cải cách kinh tế của chế độ như thể cho phép duy trì một
số hình thức buôn bán cá thể, mọi người đã vui mừng, hân hoan. Em có cảm giác
như anh là kẻ chỉ ngồi trông chờ phép lạ xẩy đến để thay đổi toàn diện, còn em
thì chỉ mong cho mọi người được chút vui mừng hân hoan, nhiều chừng nào tốt chừng
đó, vì đời sống đã vô cùng khốn quẫn rồi. Chúng mình không gặp nhau là ở chỗ
đó.
Toàn mỉm cười :
– Hồi này em lý sự quá.
Làm sao anh tranh cãi nổi với một bí thư chi đoàn Thanh niên.
Nguyệt đứng dậy, vừa đi
rót nước, vừa nói :
– Anh cãi không được
không phải vì anh không có lý luận, nhưng vì anh đứng trên một lập trường vốn
đã thua thiệt từ căn bản.
Khi trở lại chỗ ngồi,
Nguyệt nói tiếp :
– Để em nói rõ cho anh hiểu
thêm về những ý nghĩ của em. Khi em đả kích anh như vậy, không phải là vì em phủ
nhận những ước mơ mà anh ấp ủ. Kháng chiến, giải phóng, lật đổ chế độ, điều đó
mà thực hiện được thì còn có gì để mà bàn cãi. Đó là giải pháp number
one mà mọi người cùng mong muốn. Nhưng mong muốn là một chuyện, dám
nhìn thẳng vào thực tế lại là chuyện khác. Anh có nghĩ rằng dân chúng bây giờ
chấp nhận thêm một cuộc chiến kéo dài hai mươi năm nữa để giải phóng đất nước
không ? Người ta vừa sống chui rúc, đày đọa ở thành phố, vừa tỏ lòng mong ngóng
những lực lượng ở rừng về. Nhưng nếu có người rủ chạy ra rừng để chiến đấu thì
có mấy ai dám bỏ thành phố để đi theo, dù rằng đời sống ở đô thị giờ bây tồi tệ
đến dưới mức tối thiểu làm người. Nhưng nói như vậy, không có nghĩa là hiện nay
không có những lực lượng chống đối ở đâu đó rải rác trong rừng. Em rất kính phục
những con người có can đảm tiếp tục chiến đấu. Họ cũng nắm giữ một vai trò
trong cuộc chiến đấu chung, nhưng đó không phải là vai trò duy nhất.
Ngừng một lát, Nguyệt đổi
đề tài nói chuyện qua vấn đề khác. Nàng hỏi :
– Anh Toàn ! Khi anh quay
trở lại thăm em, anh chờ đợi gì ở em ?
– Sao em đặt câu hỏi gì kỳ
quái vậy. Anh thăm em là để thăm em, không đủ sao mà còn phải có sự chờ đợi ở
em cái gì.
Nguyệt nghiêm giọng :
– Em cảm ơn nhã ý ấy của
anh. Nhưng em hết sức nghiêm chỉnh chứ không phải rỡn chơi. Em nhận thấy phải
nói thẳng với anh ngay từ bây giờ rằng giữa chúng mình từ nay chỉ còn tình bạn.
Toàn tê tái, lặng điếng
người tưởng như vũ trụ xung quanh vừa sụp đổ. Phải mất một lát sau, chàng mới cất
được tiếng :
– Sao vậy em ? Em không
cho anh cái cơ hội hàn gắn những sứt mẻ giữa anh và em trong thời gian qua hay
sao ?
Nguyệt bỏ chỗ ngồi của
mình, tiến lại bên Toàn, nắm lấy tay chàng, giọng đầy xúc động :
– Anh Toàn ! Em xin lấy
danh dự của em mà nói rằng em không giận gì anh về những chuyện đã qua cả, mặc
dù có đôi lúc em cũng thất vọng ghê gớm lắm. Nhưng đó không phải là một lý do,
khiến cho em đi tới quyết định ngày hôm nay.
Toàn nói như nghẹt thở :
– Em đã có người yêu khác
? Nguyệt mỉm cười lắc đầu :
– Lại càng không phải nữa.
Hình ảnh người tình duy nhất trong tim em bây giờ, vẫn là anh !
Toàn như người vừa có đôi
cánh bay bổng được lên trời xanh. Chàng reo lên mừng rỡ như một đứa trẻ được hứa
hẹn cho quà. Giọng chàng rối rít :
– Như thế thì còn có cái
gì có thể ngăn cách chúng mình được. Anh cũng thề danh dự với em rằng người
tình duy nhất trong tim anh là em. Anh chỉ yêu em và sẽ yêu em mãi mãi.
Nguyệt trở lại chỗ ngồi của
mình. Nàng nhìn Toàn rất lâu với sự xúc động mà nàng hết sức kìm giữ để cho nước
mắt không trào ra khỏi đôi mi mọng ướt. Lát sau, nàng đổi giọng lạnh lùng :
– Anh Toàn ạ ! Em có vấn
đề của riêng em. Em xin anh đừng hỏi thêm xem nó là vấn đề gì. Sẽ có một ngày
kia, em có thể nói hết cho anh nghe. Nhưng bây giờ, em đã quyết định rồi. Giữa
chúng ta chỉ còn là tình bạn !
Toàn nhìn Nguyệt, vẻ băn
khoăn, thương xót. Rồi chàng nói :
– Anh tôn trọng những điều
riêng tư của em. Nhưng anh vẫn có quyền của riêng anh. Quyền chờ đợi cho đến
khi em đổi ý.
– Em sẽ không bao giờ đổi
ý.
– Mặc kệ em ! Anh cứ chờ
!
– Anh sẽ thất vọng. Thất
vọng sâu xa. Và khi đó, anh sẽ thấy anh uổng công chờ đợi.
– Em không là anh, làm
sao em biết được rằng anh sẽ thất vọng. Anh có thể khẳng định với em rằng, dù
trong bất cứ hoàn cảnh nào, bất cứ một sự oan trái nào, anh cũng vẫn yêu em.
Nguyệt mỉm cười chua chát
:
– Em cảm ơn tình yêu đó của
anh. Nhưng nó cũng sẽ không thay đổi gì được cả đâu. Mà thôi, chuyện cần nói,
em đã nói với anh rồi. Em rất vui khi nghĩ rằng còn có anh là bạn.
Toàn nhanh nhẩu :
– Anh sẽ là bạn của em suốt
đời.
Rồi chàng mỉm cười tiếp :
– Cái đó gọi là «bạn đời»
đó em.
Nguyệt bật lên cười. Nụ
cười hồn nhiên cố hữu của nàng đã trở lại lần đầu tiên sau hơn hai tuần nay.
Khuôn mặt của nàng mang vẻ rạng rỡ, như tâm hồn của nàng vừa hé qua khỏi đám
mây u uất đề chĩu từ nhiều ngày qua. Lát sau, Toàn nói :
– Nhân nói tới bạn, anh
muốn giới thiệu em với một người bạn mới. Một người vừa có trình độ, vừa có thể
tin cậy được.
– Ai thế ?
– Nhà văn Phạm Ngọc
Hoàng.
– A ! Ông nhà văn miền Bắc
vào Nam tham quan với đề cương nghiên cứu : «Vai trò của người Phụ nữ tại vùng
mới giải phóng trong công cuộc xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội». Ai thì em không kể,
chứ anh mà lại nói tin cậy được một người đến từ miền Bắc thì là chuyện lạ !
– Anh cũng cho là lạ,
nhưng đó là chuyện thực đã xẩy ra. Anh và Hoàng đã trao đổi với nhau đủ mọi vấn
đề. Thẳng thắn, cởi mở, và không dấu diếm nhau điều gì cả.
– Cái gì đã khiến cho anh
tin tưởng đó là những điều thành thật ?
Toàn đáp ngay :
– Một tấm lòng ! Hoàng là
kẻ rất có lòng. Anh ta đầy nhân bản, dù được nhào nặn trong xã hội Xã Hội Chủ
Nghĩa.
Rồi Toàn kể cho Nguyệt
nghe tất cả những gì mà chàng biết được về Hoàng, kể cả quan điểm của Hoàng đối
với chế độ. Chàng nói tiếp :
– Càng ngụp lội trong xã
hội miền Bắc, con người càng thấy rõ thân phận của mình. Họ hiểu Cộng sản hơn
mình hiểu. Họ biết rõ đời sống riêng tư của những lãnh tụ hơn mình biết. Họ
khát khao thay đổi hơn mình khát khao. Nhưng khát khao không thôi, chưa đủ. Họ
biết thế nhưng họ không thể làm được gì khác hơn. Cái khuôn Xã Hội Chủ nghĩa ở
miền Bắc đã khô cứng và giam chết những ước vọng của từng cá nhân trong xã hội
rồi. Như thể những hạt giống nằm giữa một khuôn đổ xi măng. Chỉ héo hon, rồi
tàn lụi. Nhưng sau ngày 30 tháng tư, miền Nam đem lại cho họ một niềm hy vọng mới.
Anh ta khẳng định : miền Nam không giống miền
Bắc. Ở đây, những hạt giống
ước mơ có thể nẩy mầm. Theo em, nhận xét đó đúng hay không ?
Nguyệt đáp :
– Điều đó đúng ! Em cũng
thấy điều đó, và nhiều người mà em đã tiếp xúc, cũng thấy điều đó. Ông Năm Tỏa
là một thí du.
Toàn reo lên :
– A ! Ông già cán bộ miền
Nam, đại diện Công Đoàn Quận, do Sáu Thu cử về.
Hai tiếng Sáu Thu vừa được
Toàn nhắc đến khiến cho Nguyệt xây xẩm. Nàng chợt thấy lạnh ngắt cả chân tay,
và cổ họng dợm dợm muốn ói. Nàng bấu lấy hai tay ghế với vẻ mặt đang hồng hào
chợt nhợt nhạt đi. Toàn nhận ra được sự thay đổi ấy vội vàng nói :
– Hình như em bị trúng
gió. Có làm sao không ? Nguyệt trả lời mệt mỏi :
– Tại em vừa ốm dậy, nên
ngồi nói chuyện lâu sinh ra như thế.
– Thôi để anh về cho em
đi nằm nghỉ.
Nguyệt không đáp, gắng gượng
đứng dậy khỏi ghế. Lúc Nguyệt tiễn chàng ra đến cửa, Toàn nắm tay Nguyệt nói :
– Em Nguyệt ! Anh rất vui
khi thấy mình không vì những sự sứt mẻ vừa qua mà không còn nhìn mặt nhau. Xin
em ghi nhớ một điều : Anh yêu em. Mãi mãi yêu em.
Nguyệt nở một nụ cười gượng
gạo trên vành môi nhợt nhạt. Nàng đang mang tâm trạng của một kẻ đã vĩnh viễn
đánh mất cuộc sống êm đềm, tươi đẹp của một con người bình thường với những ước
mơ bình thường. Chuyến tàu hạnh phúc duy nhất của mỗi đời người đã rời bến đi
xa. Để lại một mình nàng trên ga vắng với cả một cõi lòng băng giá...
CHƯƠNG VIII
Vũ đang chuẩn bị đi gặp
Nguyệt thì chính nàng đã tìm đến chàng ở trụ sở Thành Đoàn. Thấy
Nguyệt, Vũ reo lên :
– Trời ơi Nguyệt ! Anh
đang định đi tìm em ? Nguyệt lạnh lùng :
– Em vắng mặt hai tuần.
Sao bây giờ anh mới định đi tìm em.
Vũ lúng túng :
– Ờ... cũng có nhiều vấn
đề... cũng có nhiều công việc phải giải quyết.
Nguyệt mỉm cười chua chát
:
– Chứ không phải anh
tránh né cái vụ lộn xộn ở cơ sở ngành in số 10 hả.
Vũ kêu lên :
– Trời ơi ! Sao em lại
nghĩ thế. Suốt hai tuần nay anh đôn đáo để gỡ vụ này cho em.
Nguyệt sừng sộ :
– Tại sao lại gỡ cho em.
Anh dư biết em không hề dính líu trong vụ đó.
Vũ buột mồm :
– Thì chính vì vậy anh mới
phải dụng công biện minh cho quá trình hành động của em.
Nàng mai mỉa :
– Phải rồi ! Chứ nếu
không thì sức mấy, anh phải lo cho thân anh trước đã.
Vũ vò đầu bứt tai :
– Khổ quá, em cứ cái giọng
trách móc ấy hoài. Em phải nhìn vào thực tế. Vấn đề nó quá tế nhị chứ đâu có
đơn giản như một với một là hai được.
Rồi chàng đổi giọng vui mừng
:
– Nhưng xong hết rồi. Anh
được lệnh liên lạc với em để em hoàn toàn yên tâm trong công tác.
Nguyệt nổi giận :
– Bao giờ em cũng hoàn
toàn yên tâm trong công tác hết, đâu phải chờ lệnh trên ban phát cho thì mới có
được điều kiện ấy.
Vũ nài nỉ :
– Thôi mà em. Thì cứ coi
như ách giữa đàng. Cơn xui xẻo nó đến thì phải chấp nhận vậy. Nhưng trong cái rủi,
có cái may. Em được lệnh thuyên chuyển công tác.
Nguyệt hất hàm :
– Đi đâu ?
– Đố em biết. Nhưng chắc
chắn kỳ này em sẽ được đề bạt ở chỗ tốt hơn, nhiều tương lai chính trị hơn.
Nguyệt nhún vai :
– Em không màng. Em công
tác ở đâu thì cũng thế. Vũ cười :
– Đó là vì em chưa biết
chỗ mới này đó thôi. Em sẽ được hoạt động gần gũi với những thủ trưởng cao cấp.
– Ai ?
– Đồng chí Sáu Thu ! Em
nhớ đồng chí Sáu Thu chứ. Nguyệt không nhịn được nữa, rít lên :
– A ! Sáu Thu hả ! Em nhờ
anh nói với nó là khôn hồn thì hãy tránh mặt em ra. Nếu không, em sẽ tát vào mặt
nó rồi đến đâu thì đến.
Vũ vừa sợ hãi, vừa ngơ
ngác :
– Chết ! Chết ! Chuyện gì
thế em ?
– Chuyện gì, anh không cần
biết. Nhưng không bao giờ em còn nhìn mặt nó, chứ đừng nói là tới làm việc
chung với nó.
Vũ lôi tay nàng đi xuống
cầu thang để tránh sự tò mò của mọi người. Chàng dẫn Nguyệt xuống Câu Lạc Bộ, gọi
nước uống rồi thì thào nói với Nguyệt :
– Anh chắc có sự hiểu lầm
nào đây. Nhưng em phải biết rằng, người dụng công nhiều nhất trong việc gỡ rối
cho em ở bên Sở Công An là đồng chí Sáu Thu. Em mà không nhận công tác mới này
thì rầy rà to.
Nguyệt đanh mặt lại :
– Rầy rà nghĩa là làm sao
?
Vũ đổi sắc mặt lạnh lùng.
Chàng có cảm giác như Nguyệt là quân vừa mới được cấp trên đánh giá cao một
chút đã lên mặt làm bộ. Tính chất của Bọn tiểu Tư Sản vẫn là như thế. Vũ nói :
– Em vẫn chưa đánh giá hết
tầm mức quan trọng của vụ phản động xẩy ra ở cơ sở ngành in số 10. Việc bây giờ
tạm yên đấy, nhưng không có nghĩa là đã hoàn toàn yên hẳn. Đồng chí Sáu Thu sẽ
rất cần thiết cho em để qua khỏi vụ này.
Nguyệt nghiến răng ken
két. Nàng cố giữ bình tĩnh và rán hết sức để cho giọng nói được bình thường :
– Ông ta đã nói gì với
anh ?
– Không nói gì nhiều,
nhưng đại khái vấn đề là như thế. Đồng chí ấy muốn thu dụng em làm một chức vụ
mới vì đồng chí ấy đánh giá cao trình độ học tập của em trong khóa học về Công
Đoàn vừa rồi.
– Ý anh thế nào ? Vũ ngập
ngừng :
– Anh thấy là nên nhận.
Trước hết là để bên Sở Công an đỡ rắc rối. Sau nữa, đây là một dịp tiến thân của
em. Không dễ gì mà được đề bạt lạm việc bên cạnh đồng chí Sáu Thu.
– Còn nếu không nhận thì
sao ?
Vũ không dấu được vẻ bối
rối của mình :
– Cái này rầy rà. Cả cho
anh lẫn cho em. Nguyệt tức giận :
– Tại sao lại dính anh
vào đó ?
Nghĩ đến kỳ hạn mà Sáu
Thu giao phó, Vũ cảm thấy cần phải xuống nước với Nguyệt. Chàng nài nỉ :
– Anh không biết đã có vấn
đề gì xẩy ra giữa em và đồng chí Sáu Thu, nhưng dù thế nào thì chắc cũng có thể
dàn xếp ổn thỏa, trong tình đồng chí cả. Vấn đề là phải quan tâm đến chuyện
công tác trước mắt. Hình như đồng chí Sáu Thu chỉ có một thời gian nhất định để
hoàn tất công việc sắp xếp trên Bộ. Nếu em dùng dằng thì trễ hết mọi công việc.
Rồi chàng đổi giọng dọa nạt
:
– Vả chăng, vấn đề ở cơ sở
ngành in số 10 chưa hoàn toàn được giải quyết hẳn, nếu đồng chí Sáu Thu không
tiếp tục đóng góp phần ý kiến của mình. Tình hình như thế, em phải sáng suốt nhận
định.
Nguyệt đứng dậy, giọng lạnh
nhạt :
– Đó là vấn đề của riêng
em, anh không cần phải lo ngại. Em sẽ trả lời dứt khoát, sau khi đã suy nghĩ...
Vũ cố níu :
– Thì vấn đề của em cũng
là vấn đề của anh chứ. Bao giờ anh cũng hết lòng chia xẻ với em. Anh mong em sẽ
có quyết định đúng.
Nguyệt nhìn Vũ bằng một
cái nhìn mai mỉa. Nàng khẽ nhún vai rồi đi thẳng ra cửa. Nàng biết Vũ đang nhìn
theo mình. Hẳn chàng cũng đã nhận thấy điều gì bất ổn đã xảy đến giữa hai người.
Riêng Nguyệt, nàng biết rõ kể từ nay nàng sẽ mất Vũ. Chàng có nhiều điểm dễ
thương nhưng không thể là người đồng hành với mình. Bởi vì Vũ đã đi được một chặng
đường, và bây giờ chàng đứng lại, với thân phận của một kẻ hoàn toàn bị động
như một thứ tay sai. Còn Nguyệt thì khác. Nàng có cảm giác như mình mới chỉ ở
giai đoạn khởi hành !
Ở trụ sở Thành đoàn ra,
Nguyệt đạp xe lang thang đi khắp mọi nơi. Đã lâu lắm nàng mới có một ngày rảnh
rỗi để nhìn ra mọi sinh hoạt trong thành phố. Những ngày dài dằng dặc chúi mũi
vào công việc, Nguyệt như người cắt đứt mọi liên lạc với thế giới bên ngoài.
Nàng có cảm giác như người đi xa vừa mới trở về. Chung quanh nàng, cái gì cũng
đổi mới, cũng khác lạ. Không. Nói đúng hơn, mọi sự khác lạ có lẽ bắt nguồn từ
tâm hồn đổi mới của nàng. Những ngày trước, khi đi ngang qua khu bùng binh chợ
Bến Thành Sàigòn, Nguyệt thấy nhiều người nằm la liệt trên hè phố, nàng chỉ băn
khoăn tự hỏi tại sao những người này không chịu đi về vùng Kinh Tế mới. Theo
trí tưởng tượng của nàng, vùng kinh tế mới là một nơi chốn ở đó con người có thể
gây dựng lại cuộc đời của mình với hai bàn tay trắng và sự cần cù, chăm chỉ. Đất
hoang sẽ được khai phá. Những khu trù mật sẽ được dựng lên. Những tàn tích chiến
tranh sẽ bị xóa bỏ. Đất nước thanh bình. Người người ấm no. Một con đường giản
dị như thế tại sao người ta chối bỏ? Bây giờ Nguyệt mới thấy sự thảm hại của những
con người chỉ ôm lấy một mớ lý thuyết. Trong những ngày đầu tham gia sinh hoạt
đoàn thể, Nguyệt như người ở trong một cơn sốt hối hả về hội họp và học tập. Họp
liên miên và tài liệu học tập thì hết xấp này đến xấp kia. Người ta nghiên cứu,
thảo luận, đưa ra những biện pháp hoàn toàn chỉ dựa trên giấy tờ. Giấy tờ ở
Thành. Giấy tờ ở Quận. Giấy tờ ở Phường, Khóm. Cuối cùng là nhân dân lao động
là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp của đời sống thực tế. Họ đã tình nguyện
đi kinh tế mới ở những đợt đầu tiên vì tin theo những lời hứa hẹn của giấy tờ.
Rồi người ta trốn về. Rồi người nọ truyền tai người kia. Vùng Kinh Tế Mới bỗng
trở thành một nơi khủng khiếp, chỉ dùng để đầy ải những kẻ có «vấn đề» đối với
chế độ mới.
Hôm nay, nhìn lại những
đám người sống lúc nhúc trên hè phố với những manh chiếu rách, những mảnh quần
áo vá chằng vá đụp giăng đầy ở cột đèn, ở bờ tường, ở trước ngưỡng của những cửa
tiệm đã đóng kín, Nguyệt mới thấy cái hố thảm cách biệt giữa thực tế và lý thuyết,
giữa đời sống của quần chúng và của những kẻ chơi trò Cách mạng. Bây giờ thì
Nguyệt đã cháy. Cháy một cách thảm hại kèm theo sự thua thiệt lớn lao nhất, vượt
quá sức tưởng tượng của chính nàng. Nàng đã phấn đấu rất nhiều trong những đêm
dài trằn trọc để cố gắng giải thoát khỏi ý nghĩ đi kiếm một liều độc dược. Chết.
Điều đó quá dễ, nhưng thà chết cho một ý nghĩa nào đó, chứ không phải chết
trong hận thù, trong cay đắng tủi nhục. Nhưng sống mà kéo dài kiếp sống cay đắng,
tủi nhục cũng không phải là đời sống đáng sống. Nàng tiếp tục đào sâu về sự mất
mát của mình. Thật ra, chung quanh nàng đã có đầy rẫy những mất mát, nhiều khi
còn to lớn sự mất mát của nàng gấp bội. Gia đình tan vỡ. Sự nghiệp tiêu tan. Vợ
chồng, con cái chia lìa. Bạn bè gặp nhau ngỡ ngàng, nghi kỵ. Những mất mát ấy nếu
đem lại cho quê hương một sự đổi mới tốt đẹp hơn, (như Nguyệt đã từng suy nghĩ
từ những ngày đầu tham gia sinh hoạt đoàn thể) thì cũng có thể chấp nhận được,
coi như một sự hy sinh vì tương lai của xứ sở. Nhưng thực chất đó không phải là
sự hy sinh đúng nghĩa. Đó chỉ là thảm cảnh những nạn nhân của hận thù, là hậu
quả của một loại ý thức cuồng tín, tin vào sách vở hơn là nhìn vào thực trạng của
quê hương. Chủ nghĩa đã khô cứng từ hàng trăm năm nay, nhưng đời sống thì vẫn
thay đổi từng giờ, từng phút. Nó đang thay đổi và sẽ còn thay đổi, nói theo kiểu
duy vật biện chứng thì bất cứ sự vật nào, hiện tượng nào, kể cả những hiện tượng
tự nhiên cho đến xã hội loài người đều ở trong trạng thái vận động. Vận động
không chỉ đơn thuần ở sự đổi vị trí mà còn là chuyển hóa, là nẩy sinh, là phát
triển. Những người tôn thờ chủ nghĩa Marx Engels đã phản bội ngay chính lý thuết
của họ khi họ trở thành những kẻ mù quáng, tín điều, bảo thủ, cực đoan và trì
trệ. Xã hội miền Bắc sau 30 năm được «soi đường bởi ánh sáng của chủ nghĩa
Marx-Lénine» là một chứng minh cụ thể. Chuyển hóa ở đâu ? Nẩy sinh ở đâu ? Phát
triển ở đâu ? Nếu có chuyển hóa, có nẩy sinh, có phát triển thì nước Việt Nam
bây giờ đã chẳng đứng vào hàng ngũ của những nước kém phát triển và chậm tiến
nhất thế giới.
Nhưng đó là vấn đề của giới
lãnh đạo miền Bắc. Không phải giới lãnh đạo cứ sai lầm thì nhân dân lao động phải
câm nín, khuất phục và cam chịu thân phận nạn nhân của mình. Chỉ khi nào người
dân thoát ra khỏi cái tâm lý thụ động, nhận chân được rằng quyền làm người phải
do chính mình định đoạt chứ không phải là một ân huệ trông chờ ở Đảng hay nhà
nước ban phát. Thì khi đó đời sống mới thực sự thay đổi.
Nếu trước đây, đã có nhiều
người lên đường đi làm Cách mạng để tranh đấu lấy quyền làm người đã từng bị thực
dân, phong kiến tước đoạt, thì chính họ phải hiểu được rằng lý tưởng chính đáng
của họ chưa hoàn tất. Tuyệt đại đa số quần chúng trong xã hội Cộng sản
chưa ai có quyền làm người cả. Thành quả của cuộc đấu tranh gian khổ của
đông đảo hàng ngũ Cán bộ, chiến sĩ sau bao nhiêu năm vẫn chỉ là sự chuyển hóa
cái quyền tước đoạt từ ách thống trị này qua ách thống trị khác. Chấp nhận
buông xuôi bây giờ là tự xóa bỏ lý tưởng đấu tranh của mình, là tiếp tay cho cường
quyền, bạo lực chứ không phải tiêu diệt cường quyền bạo lực.
Nhận thức này thực ra
không mới mẻ gì. Nó đã nảy sinh, tản mạn, rải rác ở nhiều tầng lớp quần chúng
cũng như Cán bộ. Nó là những đốm sáng hiu hắt trong tâm tưởng mọi người giữa chế
độ cùm kẹp, thủ tiêu, tù đày ở xã hội miền Bắc, nhưng đã trở thành những tia lửa
nhen nhúm trong xã hội miền Nam kể từ sau ngày 30-4- 1975. Những tia lửa nhen
nhúm ấy cần thời gian để tỏa rộng. Nó chắc chắn sẽ tỏa rộng, vì không có điều
gì tồn tại vĩnh cữu, kể cả chủ nghĩa Cộng sản và những quái thai phát sinh từ
chủ nghĩa đó.
Con người, với những vốn
liếng kiến thức về hai chữ Tự Do của thế kỷ 20 không dễ gì chịu khuất phục, cam
phận làm thân trâu ngựa. Trong bóng tối đầy đọa, họ sẽ biết nhìn nhận ra nhau,
biết chia xẻ với nhau những ước mơ lớn. Và một ngày không xa, họ sẽ biết đứng dậy,
để làm lại lịch sử. Đó là một điều khẳng định !
* * *
Nguyệt đã tiến tới nhà
ông Năm Tỏa trong tâm trạng hoang mang, buồn chán và thất vọng của mình. Sau
nhiều ngày không gặp gỡ, ông kêu lên :
– Cháu xuống sắc dễ sợ !
Bác chẳng được tin tức gì của cháu cả.
Tự nhiên Nguyệt òa lên
khóc. Cơn dồn nén, tức tủi trong bao nhiêu ngày qua, chưa làm nàng chảy một giọt
nước mắt, mà bây giờ, ở đây, Nguyệt không cầm giữ được. Nàng ôm lấy ông Năm, gục
đầu vào vai ông nức nở như một đứa con nít. Ông cứ để mặc sức cho Nguyệt trút hết
cơn phẫn hận của mình, mặc dầu lỏng ông tê tái, xót xa. Chẳng cần Nguyệt nói
ra, ông cũng đoán được sự thực tồi tệ đã xẩy ra cho Nguyệt. Ông lấy làm tiếc rằng
sự tiên liệu của ông quá đơn giản và hạn hẹp. Nếu sáng suốt hơn, ông đã chẳng để
Nguyệt sa phải cơ sự chua xót như thế này.
Hồi lâu, khi Nguyệt đã kiềm
chế được cơn xúc động của mình, nàng lau khô nước mắt rồi hỏi :
– Theo ý bác, cháu phải
làm gì bây giờ ? Ông Năm đáp :
– Trốn tránh khỏi nanh vuốt
của thằng Sáu Thu. Nó chưa tha cho cháu đâu.
– Cháu cũng nghĩ như vậy.
Nên cháu đã hoãn binh lời đề nghị thuyên chuyển công tác do Thành đoàn sắp xếp.
– Hoãn binh là khôn
ngoan. Cháu sẽ có đủ thì giờ để biến ra khỏi Sàigòn. Cháu ở lại ngày nào nguy
hiểm cho cháu ngày đó.
Thấy Nguyệt không đáp,
ông Năm Tỏa nói tiếp :
– Sao không ! Sáu Thu sẽ
giở mọi thủ đoạn để chiếm đoạt được cháu. Không thỏa mãn, nó sẽ đẩy cháu vào tù
vì vụ xẩy ra ở cơ sở ngành in số 10. Nó có đủ lý do che đậy cho âm mưu thâm độc
của nó.
Ngừng lại để suy nghĩ một
lát, ông Năm tiếp :
– Cháu Nguyệt ! Tại sao
cháu chưa «đi» ?
– Cháu đã thưa với bác rồi,
vượt biên là giải pháp cuối cùng cháu nghĩ tới. Hồi trước đã thế, bây giờ sau
cơn hoạn nạn, cháu lại càng kiên quyết hơn. Cháu có thể làm bất cứ cái gì để
góp phần vào cuộc thay đổi cái xã hội tồi tệ này. Chỉ như thế, cháu mới cảm thấy
bớt đi cái đau đớn mất mát mà cháu đang phải chịu đựng.
– Đấu tranh là một chặng
đường dài cực kỳ gian khổ. Cháu không phải là loại người sinh ra để làm công việc
ấy.
– Nhưng nếu sống an nhàn
để mà gậm nhấm nỗi tủi nhục này thì còn đau khổ nhiều hơn. Cháu đã suy nghĩ kỹ
rồi. Nếu có làm được gì, bác cho cháu đi theo.
– Cháu đừng hứa hẹn vội
vàng về một điều gì. Hãy tự thử thách chính mình một thời gian trước đã. Đấu
tranh không phải là một trò chơi, một chọn lựa bốc đồng, nhất thời hay vì bó buộc
do hoàn cảnh cá nhân thúc đẩy. Nó phải được trang bị bằng một lý tưởng.
– Cháu biết rõ điều đó.
– Vậy thì tốt. Nhưng trước
mắt là phải nghĩ tới hoàn cảnh hiện nay của cháu đã. Rời Sài gòn là điều phải
làm, nhưng không phải là rời vĩnh viễn. Do đó phải chuẩn bị những điều kiện để
khả dĩ sau này cháu có thể trở lại sinh hoạt bình thường.
– Bác là người có cái
nhìn rất xa. Cháu không nghĩ ra điều ấy.
– Vậy bác phác họa thủ kế
hoạch sơ khởi như thế này: cháu về nhà chuẩn bị y như cháu chuẩn bị để vượt
biên. Động cơ mà cháu biến khỏi Sàigòn là động cơ vượt biên. Nó là chuyện phổ
biến ngay cả trong hàng ngũ cán bộ, công nhân viên chức, do đó không có gì nguy
hại.
Nguyệt hồi hộp chờ ông
Năm suy nghĩ. Rồi ông nói tiếp :
– Bác có nhiều nơi để
cháu có thể trốn tránh. Mai mốt, đánh giá tình hình thấy cháu trở lại được,
cháu sẽ có giấy trả tự do sau khi bị giam giữ vì tội vượt biên không thành.
Nguyệt reo lên :
– Hay quá !
Ông Năm mỉm cười :
– Vấn đề là cháu có chịu
nổi kham khổ trong thời gian lánh mặt không đã.
– Cháu cam quyết với bác
rằng đó không phải là vấn đề. Chỉ mong rằng bác đừng «nhốt» cháu lâu quá, không
hoạt động được gì, cháu sốt ruột.
– Cháu hiểu lầm rồi.
Không phải bác dàn cảnh để đem nhốt cháu vào tù đâu. Cháu sẽ được đưa đến một
chỗ để cháu có cơ hội học hỏi nhiều hơn. Cháu sẽ gặp gỡ nhiều người, cùng chí
hướng. Cháu sẽ thấy mình không cô đơn.
Nguyệt hoan hỉ :
– Cháu hoàn toàn yên tâm
theo sự sắp xếp của bác.
– Vậy cháu về đi. Hẹn
cháu ba ngày nữa, bác sẽ cho cháu biết những chi tiết cuối cùng.
Lúc Nguyệt đi ra, ông Năm
Tỏa dặn với :
– Cháu nhớ trả lời với
Thành Đoàn là cháu chấp nhận công tác mới. Mình sẽ rảnh rang thì giờ để thu xếp
công việc hơn.
CHƯƠNG IX
Đã lâu lắm, Nguyệt mới lấy
lại được sự thanh thản và niềm vui khiến nàng xao động trong lòng. Nàng trở lại
cơ sở ngành in số 10 với một vẻ tự nhiên, vui vẻ như một kẻ ốm dậy nay trở về với
công tác thường ngày. Nàng đã gặp lại mọi người, từ các công nhân trẻ đến bác
thợ in già. Ai cũng vồn vã hỏi thăm nàng sau những ngày vắng mặt. Trừ ông Hồng
Phát, dĩ nhiên. Ông ta lẩn mặt nàng thấy rõ. Mà thật ra, nghĩ đến ông, Nguyệt
thấy máu của mình sôi lên. Đúng là một thứ ký sinh trùng, sống dai dẳng ở bất cứ
thời đại nào, kể cả thời đại Xã Hội Chủ Nghĩa. Nhờ luồn lọt và vung vãi tiền bạc,
ông ta trở nên quen nhiều, biết rộng, địa bàn hoạt động mánh mung mở sang nhiều
lãnh vực khác chứ không chỉ thuần túy trong ngành in. Khi được tin Nguyệt họp
các đoàn viên trong chi đoàn lại để thông báo về việc nàng sẽ thuyên chuyển
công tác, ông hết sức sợ hãi. Ông suy luận rằng khi Nguyệt trở thành cộng sự
viên đắc lực của Sáu Thu (và tình nhân của Sáu nữa) thì lúc đó, ông sẽ trở
thành con chó dưới chân bà chủ mới. Nếu Sáu Thu hớ hênh tiết lộ ra rằng việc
làm mờ ám vừa qua đã có sự tiếp tay, sắp xếp của ông thì số phận của ông sẽ như
trứng để đầu đảng. Nguyệt là con người có dư thủ đoạn để sai khiến Sáu Thu làm
cho cuộc đời của ông tàn mạt. Ông chỉ cầu mong sự việc ấy đừng sớm xẩy ra, để
ông có thì giờ leo cao hơn nữa trên nấc thang liên hệ với những cán bộ Cách Mạng.
Ngày nào ông móc nối được với những giới chức có thẩm quyền cao hơn thì ngày ấy
đến Sáu Thu cũng chẳng là gì đối với ông chứ đừng nói chi tới Nguyệt. Đối với
ông, chuyện ấy chỉ là vấn đề thời gian. Cán bộ cách mạng mua dễ hơn «ngụy». Ít
ra, kinh nghiệm của ông, cho tới lúc đó, đã khiến ông kết luận như vậy.
Họp xong ban chấp hành
Chi đoàn, Nguyệt đi ngay chỗ Toàn, khẽ rỉ tai :
– Em muốn được gặp anh.
Toàn ngừng tay xếp chữ,
nhìn Nguyệt dò hỏi. Nguyệt tiếp :
– Không có chuyện gì quan
trọng đâu. Em muốn chúng mình thả rong, tán chuyện gẫu một lần.
Toàn ngạc nhiên, nhưng
cũng mỉm cười :
– Anh đã chờ đợi chuyện ấy
từ lâu. Bao giờ ?
– Tối mai đi ! Anh có thể
rủ cả anh bạn nhà văn miền Bắc của anh.
Toàn tiu nghỉu :
– Ủa ! Anh tưởng chỉ thả
bộ hai đứa ? Nguyệt mỉm cười :
– Anh không nhớ sao ? Bây
giờ mình là bạn mà. Bạn đâu chỉ cần có hai đứa.
Mặt Toàn buồn thiu. Chàng
ngẫm nghĩ rồi nói :
– Thôi thế hẹn tối mai ở
nhà anh. Anh nhờ mẹ nấu cái gì cho chúng mình ăn luôn thể.
Nguyệt vui vẻ :
– Thế lại hay ! Mình sẽ gặp
nhau tối mai, khoảng bẩy giờ.
*
Đấy là lần đầu tiên Nguyệt
chính thức gặp gỡ Phạm Ngọc Hoàng, mặc dầu nàng đã nhiều lần chào hỏi một cách
xã giao khi anh ta tới nhà in làm việc. Hoàng trạc gần bốn mươi, nước da trắng
trẻo, vẻ mặt thanh tú với vầng trán thật cao có những sợi tóc rủ lòa xòa trông
đầy vẻ nghệ sĩ. Hoàng đeo kính cận, gọng kính mầu đen che gần lấp đôi lông mày
rậm và cong. Miệng Hoàng tươi tắn, nụ cười luôn luôn nở trên vành môi hơi dầy,
đượm đôi chút ngạo nghễ. Chàng có đôi mắt thật sáng, nhìn ai như xoáy vào tâm hồn
người ta, khiến nhiều người đối diện nếu nhút nhát sẽ cảm thấy bối rối, ngượng
nghịu. Sự xuất hiện của Nguyệt càng làm cho đôi mắt của
Hoàng sáng hơn. Chàng lộ
vẻ sững sờ ra mặt khi thấy Nguyệt bước vào. Mái tóc của Nguyệt bồng bềnh như
mây. Những sợi tóc xỏa xuống đôi bờ vai thon và phủ ngang thân hình mềm mại, uyển
chuyển. Hôm nay Nguyệt cũng chỉ trang điểm một cách kín đáo với một lớp phấn mỏng
nên hai gò má vẫn trắng mịn màng và đôi môi mọng chỉ phơn phớt màu anh đào. Khi
nàng cười, hai hàm răng của nàng đều đặn, trắng muốt. Quả thật, Nguyệt đã khiến
Hoàng ngơ ngẩn. Kể từ khi vào miền Nam, Hoàng đã gặp và tiếp xúc với nhiều người
đẹp, nhưng Nguyệt là người đẹp nhất theo ý chàng. Điều này khiến chàng trở nên
lúng túng, ngượng nghịu mất đi vẻ hồn nhiên hoạt bát mọi ngày. Toàn giới thiệu
xong thì đi vào nhà trong để chuẩn bị đồ ăn. Còn lại hai người, chưa một ai chịu
lên tiếng trước. Sau cùng, Nguyệt đã nói :
– Tôi nghe anh Toàn nói
khá nhiều về anh. Nếu không được biết trước, có lẽ tôi sẽ cho rằng anh sinh trưởng
ở miền Nam.
Hoàng mỉm cười :
– Cái gì làm cho cô có cảm
tưởng như vậy ?
– Ở cung cách ăn mặc của
anh, ở cử chỉ và hình dáng bên ngoài của anh. Như hôm tôi gặp ông Phạm Tiến Duật,
tác giả bài thơ đã được phổ nhạc nổi tiếng là bài Trường Sơn Đông, Trường Sơn
Tây. Trông ông ta cũng giống y chang như người Sài gòn vậy, đâu có ngờ ông ấy lại
là Trung úy, Đảng viên.
– Vẻ bề ngoài thì thay đổi
cũng dễ thôi. Cái vấn đề là ở chỗ bên trong cái đầu có giống không ấy chứ.
Nguyệt kêu lên :
– Á à ! Cái này thì còn
phải xét lại đấy ạ. Mấy ông miền Bắc đầu có sạn hết, chứ đâu có ngây thơ vô tội
như dân miền Nam.
– Ai bảo với cô rằng dân
miền Nam ngây thơ. Tôi thấy đồng bào ở đây khôn «thấy mồ».
– Khôn ở chỗ nào kia chứ
?
– Thì cô cứ nhìn ra phố
mà xem. Đánh tư sản, cải tạo thương nghiệp xong, thế mà chợ trời vẫn tràn ngập
hàng hóa, chợ đen chợ đỏ từng bừng. Cán bộ hủ hóa là cứ chui vào rọ tư sản hết.
– Theo anh thì cái khôn ấy
là đúng hay sai ?
Hoàng không trả lời thẳng
vào câu hỏi ấy của Nguyệt:
– Cô còn nhớ trò chơi rồng
rắn ngày xưa không ? Cho khúc đầu cùng xương cùng xẩu, cho khúc giữa
cùng máu cùng me, cho khúc đuôi tha hồ mà đuổi. Miền nam là khúc đuôi đấy.
Nguyệt kêu lên :
– Những người như anh mà
cũng mê tín dị đoan cơ à ?
– Không đâu. Tôi chẳng phải
là người tín dị đoan.
Nhưng tôi thấy nó hợp
tình, hợp cảnh.
– Vậy là anh cho rằng miền
Nam khó mà trở thành xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa như miền Bắc ?
– Gớm ! Nói chuyện với cô
hãi «thấy mồ» đi. Cái gì cô cũng muốn cột chết con nhà người ta.
Nguyệt mỉm cười, tự nhận
xét rằng anh chàng này có nhiều điểm dễ mến :
– Anh đừng có lo. Tôi
không làm biên bản để kiểm điểm anh đâu.
Hoàng cười :
– Cô làm tôi nhớ đến dân
Hà nội hồi năm 1954. Hơi một tí là biên bản, là kiểm điểm, là phê bình. Trò
chơi ấy khi mới thì ai cũng sẵn sàng tham gia. Bây giờ thì chán rồi.
– Anh nói vậy có nghĩa là
bây giờ ở ngoài Bắc, người ta có quyền tự do ăn nói.
– Nếu mà được như thế
thì... thì đâu còn là Xã Hội Xã Hội Chủ Nghĩa. Ý tôi muốn nói là nó không còn
khét lẹt như hồi đầu dân chúng tập tành chơi trò chính trị. Càng về sau, cái đó
càng giảm đi, người ta chỉ cần giữ gìn khi vô một buổi họp. Lúc ra ngoài rồi,
thiếu gì kẻ tuyên bố linh tinh. Miễn là đừng đụng đến những vấn đề cốt lõi của
chế độ.
Nguyệt mỉm cười :
– Anh có vẻ như không hào
hứng lắm về Xã Hội Xã Hội Chủ Nghĩa nhỉ.
Hoàng hỏi ngược lại :
– Còn cô ! Cô có cảm thấy
hào hứng không ?
– Trước thì có. Bây giờ
thì không.
– Cũng dễ hiểu thôi. Ở
đây một thời gian, tôi cũng đã thấy như vậy. Miền Nam theo tôi, đã hoàn toàn
khác biệt so với sự hiểu biết của tôi trước khi tôi vào đây.
– Anh thấy Sài gòn trong
anh tệ đi hay khá hơn, so với trước đây anh mường tượng ra.
– Dĩ nhiên là khá hơn nhiều
so với những gì mà người ta tuyên truyền, bóp méo trước đây. Trước hết là về
trình độ. Người miền Nam quan tâm nhiều đến những vấn đề trong đời sống hơn là
miền Bắc. Ý tôi muốn nói là những vấn đề thuộc nhiều lãnh vực, như văn hóa,
chính trị, kinh tế...
– Tôi tưởng quần chúng ở
Thủ Đô Hà nội thì cũng thế chứ.
Hoàng lắc đầu :
– Không đâu ! Do hoàn cảnh
thiếu thốn, hầu hết dân Hà nội chỉ quan tâm đến những chuyện thiết thân đến đời
sống của chính họ, chả hạn như vấn đề tem phiếu, vấn đề nhu yếu phẩm, vấn đề
hàng hóa cung cấp ngoài tiêu chuẩn. Còn chuyện chính trị quốc tế, quốc nội thì
tuyệt nhiên không.
– Tại sao vậy ?
– Vì chẳng có cơ hội để
biết, hoặc nếu có biết thì cũng chẳng nên luận bàn. Gieo rắc một vài ý nghĩ mới
vào trong đầu, chẳng ích lợi gì mà có khi phiền phức. Trong buổi họp, lỡ buột mồm
nói ra là thấy có vấn đề ngay.
Nguyệt bùi ngùi :
– Dân Sàigòn thì rồi cũng
sẽ rơi vào hoàn cảnh tương tự.
– Tôi không tin là vậy.
Miền Nam khác miền Bắc. Không thể lấy miền Bắc làm dẫn chứng cho tương lai của
miền Nam được.
– Đó là ý nghĩ của riêng
anh hay của nhiều người.
– Của nhiều người. Nhận
xét này khá phổ biến.
– Nếu miền Bắc, như anh
nói, dân chúng ít quan tâm đến vấn đề văn hóa. Vậy vai trò của các nhà văn miền
Bắc là gì ?
Hoàng cười :
– Là cung ứng những món
ăn tinh thần cho quần chúng trong khi quần chúng không thấy cần thiết những thứ
đó.
– Cũng như bán áo lạnh ở
xứ nóng quanh năm phải không ?
– Gần đúng như thế, nhưng
không đúng hẳn. Vì bán áo, có thể mua, có thể không mua. Người ta có toàn quyền
tự do để lựa chọn hai thái độ ấy. Còn sản phẩm văn nghệ miền Bắc thì khác.
Không muốn đọc cũng phải đọc. Sự đọc không mấy khi biểu lộ nhu cầu đọc sách mà
phần lớn vì muốn trình diễn lập trường chính trị của mình. Đó là nói về những
tác phẩm sáng tác chứ không phải những loại sách kỹ thuật. Sách kỹ thuật thì có
khác hơn.
– Vậy nhà văn đâu có chỗ
đứng trong xã hội ?
– Có chứ sao không. Có thể
quần chúng không cần nhà văn nhưng Đảng cần, nhà nước cần.
Nguyệt kêu lên :
– Vậy văn nghệ sĩ là công
cụ của nhà nước rồi còn gì. Hoàng nhún vai :
– Điều đó dễ hiểu thôi.
Vì văn nghệ Xã Hội Chủ Nghĩa là nền văn nghệ có tính Đảng. Văn nghệ không có
tính Đảng sẽ chả bao giờ được ấn hành thành sách hết. Rút cục chỉ còn một cánh
cửa duy nhất là đăng bài trên những tờ báo nghiệp dư. Cũng không nói được gì
nhiều, nhưng có còn hơn không.
Nguyệt kêu lên :
– Ô ! Thế ra trong Xã Hội
Chủ Nghĩa cũng còn có kẽ hở à ?
– Có chứ sao không. Làm
sao nhà nước có thể ngăn chặn hết thẩy mọi điều. Tuy nhiên cũng đừng vì thế mà
chủ quan. Những kẽ hở nếu có thì cũng chỉ là những kẽ hở chấp nhận được.
– Vậy khi chấp nhận một
văn nghệ có tính Đảng, nhà văn có còn tự do sáng tác nữa không ? Nếu không, tại
sao nhà văn vẫn lựa chọn công việc cầm bút ?
– Có hai câu trả lời
riêng biệt cho câu hỏi này. Trước hết là vấn đề tự do. Tự do hiểu theo quan niệm
của miền Bắc thì không phải là ý niệm xuất phát từ cảm xúc bên trong con người
mà là sự quan hệ giữa người với người trong xã hội. Bởi vì nếu tự do xuất phát
từ sự rung cảm nội tâm, độc lập với hiện thực khách quan bên ngoài thì giữa chủ
nô và nô lệ đều có tự do như nhau. Từ tiền đề này, những người Mác xít đẩy thêm
một bước nhận thức nữa (và điều này đã khiến cho văn nghệ sĩ lao đao, khốn khổ
vì hai chữ tự do), đó là con người đã có tự do thì phải nhận thức được sự tất yếu
trong quá trình đi lên của lịch sử loài người. Nói khác đi, trong tự do có nội
dung tất yếu. Mà cái tất yếu đó là gì ? là sự mâu thuẫn giữa tư bản và vô sản tất
yếu sẽ bùng nổ, chế độ tư bản sẽ tất yếu bị tiêu diệt, chế độ cộng sản tất yếu
sẽ thay thế. Con người góp phần tích cực vào công cuộc làm cho điều tất yếu đó
mau chóng xẩy ra là con người có tự do. Điều này dẫn tới kết quả là người văn
nghệ sĩ dưới chế độ miền Bắc có quyền tự do ca ngợi Bác, ca ngợi mô thức Xã Hội
Chủ Nghĩa, bước đầu của cộng sản chủ nghĩa nhưng họ không có quyền ca ngợi những
cái đối nghịch. Do đó, nếu cô hỏi rằng miền Bắc có tự do sáng tác hay không thì
cũng sẽ có những người tự hào vỗ ngực rằng họ có tự do. Bởi họ đã chọn lựa con
đường mà họ đi theo.
Nguyệt nheo mắt :
– Riêng anh thì sao ?
– Với tôi, tất cả những
khuôn phép, những thành kiến, những cực đoan một chiều đều hạn chế tự do. Miền
Bắc tận diệt phong trào nhân văn giai phẩm mới chỉ vì lý do các nhà văn nhà thơ
trong phong trào này đánh trúng những nhược điểm của giới lãnh đạo, chỉ rõ ra
những sai lầm của Đảng và nhà nước, chứ thực ra, họ chưa đụng gì đến cái nội
dung kinh điển về sự «tất yếu» cả. Họ mới chỉ đặt vấn đề chính sách với Đảng và
nhà nước thôi, mà chưa chi đã bị bứng cả gốc lẫn rễ, điều đó nói lên rằng không
có gì khác hơn về bản chất của chế độ miền Bắc là bản chất chuyên chính, một từ
ngữ mỹ miều hơn của hai chữ độc tài.
– Vậy sang phần hai của
câu hỏi, một chế độ như vậy, tại sao anh và các bạn bè của anh vẫn còn tiếp tục
cầm bút ?
– Ở một xã hội đóng khuôn
như vậy, con người không có cơ hội thoát ra thì vẫn phải tìm một phương thức
mưu sinh để tồn tại. Viết cũng là một phương thức để mưu sinh như mọi ngành
khác. Điều này dẫn tới hậu quả là người ta viết mà không tin tưởng những điều
mình viết, cũng như ngoài sinh hoạt xã hội, người ta nói năng, phát biểu nhưng
không tin những điều mình nói. Xã hội miền Bắc là một xã hội có hai mặt, hoàn
toàn đối lập nhau. Mặt khác, dù là văn nghệ miền Bắc phải tuân theo chủ nghĩa
giáo điều, nhưng cũng có nhiều điều có thể viết lên được mà không động chạm gì
đến những vấn đề kinh điển. Chả hạn ca ngợi những phẩm chất của người nông dân,
đề cao hình ảnh lao động làm ra của cải vật chất của người công nhân vô sản...
vân vân... Tình yêu cũng có chỗ đứng trong xã hội chủ nghĩa, miễn là thêm mắm
thêm muối một chút lập trường. Tình gia đình cũng là một đề tài có thể khai
thác. Nói rằng người cộng sản chủ trương vô gia đình là sai. Họ chỉ nói lợi ích
gia đình gắn liền với lợi ích xã hội trên cơ sở của chế độ công hữu tư liệu sản
xuất thôi.
Nguyệt hỏi tiếp :
– Tuy không được cầm bút
nói lên những điều muốn nói, nhưng hẳn các anh cũng có những ước mơ chứ.
Hoàng kêu lên :
– Đã là người, ai lại chẳng
có ước mơ. Bọn bạn bè chúng tôi, tuy bị hạn chế trong công tác viết lách nhưng
cũng rất gần gũi với nhau trong đời sống riêng tư. Chúng tôi không có tình đồng
chí thắm thiết, nhưng lại có tình bạn bè rất đậm đà. Chúng tôi có thể trao đổi
với nhau tất cả những gì muốn trao đổi. Chúng tôi có những sáng tác chỉ để đọc
riêng cho nhau nghe, cùng với nhau thưởng thức trong vòng hạn hẹp. Hầu như ai
cũng ước mơ về một tương lai đổi mới, về một nền văn nghệ rộng rãi, về sự trả lại
bầu không khí trong sáng của thời đại làm nên những tác phẩm lớn như Nguyễn Du,
Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương. Thời đại bây giờ có quá nhiều cây
cổ thụ văn nghệ, chiếm lĩnh văn đoàn với một thể xác già nua, một trí não cằn cỗi,
bệnh hoạn, che lấp cả ánh sáng để cho những mầm non vươn lên.
Nói đến đây, chợt Hoàng
kêu lên :
– Mới gặp cô Nguyệt lần đầu
mà bị quay như chong chóng. Cô phải dành thì giờ cho tôi «chất vấn» lại cô chứ.
Nguyệt mỉm cười :
– Hãy cứ từ từ. Bây giờ
Nguyệt đói quá rồi. Để phải chạy xuống xem ông Toàn cần gì thì giúp một tay, chứ
một mình ông ấy lại hụi thì đói meo ra mất.
Bữa cơm sau đó diễn ra hết
sức thân mật, cởi mở, mặc dầu Toàn thỉnh thoảng vẫn tỏ ra băn khoăn vì sự vui vẻ,
nô rỡn «bất thường» của Nguyệt. Chàng nói :
– Nguyệt ạ. Anh có cảm tưởng
như em vừa trở thành một con người khác.
– Khác ở chỗ nào ? Em vẫn
là em.
– Khác chứ, ngày trước
lúc nào em cũng lạnh như tảng băng.
Hoàng chen vào :
– Bây giờ thì cô Nguyệt
có thể cho phép tôi được hỏi đôi điều chứ ?
– Anh muốn «khảo» gì thì
cứ «khảo».
Hoàng nói :
– Tôi được biết cô là một
cán bộ đắc lực bên Thành Đoàn. Điều này tôi không lạ. Tôi chỉ lấy làm lạ tại
sao một người xuất thân từ tiểu tư sản như cô, lại mau chóng có thể hoạt động hữu
hiệu được như thế.
– Công việc không có gì
khó. Chưa có gì ra ngoài khả năng vốn có của tôi.
– Khả năng là một chuyện,
nhưng cái đầu mới là chuyện chính. Cô phải có động cơ suy nghĩ nào đặc biệt lắm
thì mới có thể đem hết khả năng của mình ra phục vụ cho chế độ mới.
Nguyệt ngẫm nghĩ một lát
rồi trả lời :
– Theo Nguyệt, ngày 30
tháng 4 năm 1975 là một cơ hội để mọi người cùng bắt tay vào công cuộc xây dựng
lại quê hương sau chiến tranh nếu như chính phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam VN vẫn
được duy trì. Tâm tình của Nguyệt cũng gần giống như tâm tình của người dân Thủ
đô Hà nội đón tiếp đoàn quân tiến vào giải phóng thủ đô năm 1954 vậy.
Toàn cãi :
– Năm 1954, dân Hà nội
chưa biết mùi Cộng sản là gì. Năm 1975, người miền Nam đã kinh qua cả một cuộc
chiến chống cộng. Hai hoàn cảnh hoàn toàn khác nhau chứ.
Nguyệt đáp :
– Đồng ý là khác nhau,
nhưng hãy mổ xẻ cho kỹ cái gọi là cuộc chiến chống cộng. Cái thành phần coi như
việc chống cộng là một lý tưởng, một nghĩa vụ bắt buộc phải làm chỉ là một thiểu
số, vừa có kinh nghiệm với Cộng sản, vừa có lý tưởng đấu tranh. Họ là những
thành phần thuộc các đảng phải, các tôn giáo và các gia đình nạn nhân của những
cuộc đấu tố, thủ tiêu diễn ra ở miền Bắc trước đó. Một thành phần chống cộng trực
diện khác với những sự hy sinh cao cả là những chiến sĩ chiến đấu gian khổ
ngoài mặt trận. Tiếc thay, đem gộp lại, tất cả cũng vẫn chỉ là thiểu số. Trong
khi ấy, tình trạng bất công xã hội, sự tham nhũng, thối nát, sự yếu kém, tồi tệ
của các chính quyền liên tiếp thay đổi đã làm cho chính nghĩa chống cộng càng
ngày càng mờ đi. Đa số quần chúng, đặc biệt là quần chúng ở đô thị thì thờ ơ,
ngoại cuộc, coi công cuộc chống cộng là một nhiệm vụ khoán trắng cho chính quyền.
Vì thế mới sinh ra cái thảm cảnh trong lúc thủ đô tưng bừng nhảy nhót, tiệc
tùng, đú đởn thì ở tiền đồn cách đó không xa, vẫn có những người lính ngã gục
trong âm thầm như những chiến sĩ vô danh.
Có thể nói, tập thể binh
sĩ và gia đình của họ là một trong những thành phần bị bạc đãi nhất dưới chế độ
cũ. Mặc dầu có lương bổng và được mua hàng Quân Tiếp Vụ, nhưng thu nhập của họ
và gia đình chẳng thấm tháp vào đâu so với vật giá cứ mỗi ngày một leo thang
vùn vụt. Hôm nay giá hộp sữa là ba đồng. Bọn gian thương tung tiền ra mua ráo
trọi rồi chất trong kho. Vài tuần sau, khi sữa đã trở thành khan hiếm, chúng
tung trở lại thị trường với giá cắt cổ. Lương của lính đã bị bóc lột nay lại bị
bóc lột thêm một tầng nữa. Gian thương trở thành giầu sụ, cấu kết với bọn có
quyền thế tha hồ mặc sức thao túng trên mồ hôi, xương máu của chiến sĩ và gia
đình chiến sĩ. Đã có những người vợ lính phải bán mình ngay ngoài Tổng Y Viện để
lấy tiền mua nước biển cho chồng thương binh. Đã có những con lính phải bỏ học,
đi ở đợ hoặc đi lang thang ở đầu đường xó chợ để mưu sinh. Bên cạnh đó là hình ảnh
tồi tệ của một số tướng lãnh, như Quế Tướng Công, như bọn Tướng tá buôn lậu,
buôn súng đạn, thuốc tây chuyển sang cho hàng ngũ địch... Tất cả những thứ ấy
không đem lại cho tôi được nhiều điều tự hào hay khích lệ trong chế độ cũ, mặc
dù tôi sinh ra và lớn lên ở đó. Vậy thì khi chiến tranh chấm dứt, tôi có tình
nguyện tham gia vào sinh hoạt xã hội mới cũng là điều dễ hiểu. Những người trẻ
vốn cũng có nhiều ràng buộc với quá khứ nhưng không quá nặng nề để trở thành kẻ
đứng bên lề xã hội.
– Cô cảm thấy toại nguyện
về sự lựa chọn của mình chứ ?
Nguyệt kêu lên :
– Anh định hỏi móc họng
tôi hay sao mà dùng hai chữ toại nguyện. Ở đời này, có cái gì toàn bích để người
ta toại nguyện đâu.
– Vâng, thì tôi rút lại
hai chữ đó. Ý tôi muốn nói là trên một bình diện tương đối nào đó.
Nguyệt trầm ngâm một lát
rồi nói :
– Anh đã có nhã ý thổ lộ
hết tâm tình cho tôi nghe, thì tôi chả có lý do gì để dấu diếm anh cả. Thú thực
với anh, tôi hoàn toàn thất vọng.
Hoàng ngạc nhiên :
– Ủa, sao vậy ?
– Anh biết rõ câu trả lời
mà.
Hoàng nhìn Nguyệt giây
lâu rồi nói :
– Điều gì khiến cho cô thất
vọng sâu xa nhất ?
Tôi thấy xã hội này đã
hình thành một giai cấp mới, đúng như ngày trước, một người Cộng Sản Nam Tư đã
nhìn ra. Ông này hình như tên là Djilas, một thứ Tố Hữu của Nam Tư, người đầy
uy quyền với trí thức Xã Hội Chủ Nghĩa. Nhưng ông ta đã can đảm khước từ mọi đặc
quyền của mình để ly khai và viết cuốn Giai Cấp Mới. Cuốn này đã được dịch và
đã được phát hành rộng rãi ở Sàigòn trước đây. Chỉ tiếc rằng nó không được mấy
người đánh giá nó đúng mức, chẳng qua cũng chỉ vì nó là «Sách Chống Cộng». Đó
là lầm lỗi chung của tất cả mọi người. Đó cũng là một nhược điểm lớn lao của miền
Nam được gọi là thành trì chống cộng. Có thể nói, tuyệt đại đa số vẫn còn lơ mơ
về hai chữ Cộng Sản. Bởi nếu ai cũng hiểu Cộng Sản như bây giờ thì còn khuya Cộng
Sản mới đặt chân được vào Sàigòn. Cái gì cũng phải kinh qua thực tế thì mới gột
bỏ được cái ngây thơ của mình.
Hoàng chen vào :
– Tôi hoàn toàn thông cảm
được những người cùng chung một tâm trạng như Nguyệt, bởi vì ngày trước, tôi
cũng đã từng ngây thơ như thế, nếu cứ gọi đó là một thái độ ngây thơ. Tuổi trẻ
nhiều khi có lý lẽ riêng của họ. Cái lý lẽ của tâm hồn nồng nhiệt, của trái tim
nóng hổi và của trí óc luôn luôn lý tưởng hóa những vấn đề trong cuộc sống. Tôi
đã biết có những người say mê công tác đoàn thể mà không hề quan tâm đến vấn đề
chính trị. Bởi họ tìm thấy niềm vui trong quan hệ hạn hẹp của một đơn vị. Họ
không cần lý tới những cái gì ở ngoài tầm tay của họ. Cho nên họ «không tưởng».
Và đến khi đụng vào thực tế, họ mới vỡ mặt.
Toàn buột miệng, buông một
lời mỉa mai :
– Vậy bây giờ thì Nguyệt
đã vỡ mặt chưa ?
Như những lần khác thì
Nguyệt đã không tha cho Toàn câu hỏi xóc họng này. Nhưng Nguyệt biết mình sắp
ra đi, xa rời khỏi thành phố này, xa Toàn, xa bạn bè và những người thân yêu ruột
thịt. Điều này khiến nàng trở nên dễ dãi hơn, nhường nhịn hơn. Nàng đáp :
– Anh cứ thử nhìn vào mặt
em xem thì biết nó đã vỡ hay chưa. Em đã bươu đầu sứt trán gì đâu.
Toàn quả quyết :
– Cô sẽ bươu đầu, sứt
trán nếu cứ còn tiếp tục đánh đu với tinh.
Nguyệt hỏi lại :
– Vậy theo anh thì cứ sống
giả sống và mãi như thế này là thái độ khôn ngoan à ? Chưa chắc đâu nhé. Sẽ có
một ngày kể cả những kẻ ù lì, thụ động như anh, cũng sẽ bươu đầu sứt trán chứ
không riêng gì ai. Nói chung, mỗi người nên làm một cái gi khác hơn là cứ tách
ra bên lề như thế này. Chẳng hạn ra bưng, nếu có bưng mà ra. Chỉ sợ có bưng rồi,
anh vẫn tiếp tục sống như thế, chả đổi thay gì ...
– Cô Nguyệt nói đúng. Một
khi đã tự nguyện chấp nhận thân phận của nạn nhân thì suốt đời cứ sẽ là nạn
nhân mãi mãi. Mình phải chuyển từ thái độ chờ đợi để được ban ơn sang thái độ
tích cực đòi hỏi, tranh đấu để đòi lại cái ơn sủng mà thực ra, chính đó là quyền
lợi của mình chứ chẳng phải ai có quyền ban phát cho hết.
Nguyệt phấn khởi :
– Em đồng ý với anh
Hoàng. Đó là con đường mà em chọn lựa. Đó là cứu cánh cuối cùng. Những hình thức
tham gia công tác này nọ chỉ là phương tiện. Không có phương tiện làm sao thực
hiện được cứu cánh.
Toàn vẫn chưa chịu :
– Cô ăn phải đũa những lập
luận của người Cộng Sản. Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Đó là cánh cửa mở
ra cho cả một địa ngục tàn sát, bạo lực.
Nguyệt tức giận :
– Anh chụp mũ vô lối. Mỗi
người có quyền lựa chọn cho mình một cứu cánh khác nhau. Cứu cánh mà em chọn lựa,
không lấy bạo lực làm bản chất. Xứ sở này đã chịu đựng quá nhiều hậu quả của
bàn tay bạo lực mà không giải quyết được gì. Nó chỉ càng chồng chất thêm hận
thù và sự phân hóa.
Toàn cắt ngang :
– Đấu tranh với người Cộng
Sản mà cô không nói chuyện bạo lực thì chả khác gì bầy ra một cuộc đối thoại giữa
diều hâu và một lũ gà con.
Nguyệt cãi :
– Em nói không lấy bạo lực
làm bản chất điều đó không có nghĩa là em chối bỏ phương tiện của bạo lực. Em
chỉ muốn nói bạo lực không phải là phương tiện duy nhất, là con đường duy nhất
tiến tới mục tiêu. Nếu chỉ chủ trương đó là con đường duy nhất thì máu sẽ phải
đổ ra nhiều hơn là điều cần phải đổ. Nói khác đi, mình vẫn chấp nhận hy sinh
xương máu nhưng đồng thời vẫn tìm cách làm giảm thiểu sự đổ máu, đó là sự khác
biệt giữa mình và chuyên chính vô sản.
Ngưng một lát, Nguyệt nói
tiếp :
– Muốn vậy, phải nâng cao
trình độ hiểu biết, nhận thức của mọi tầng lớp cán bộ, quần chúng để họ thấy được
rằng thế giới bên ngoài đã tiến bộ vượt bực không chỉ có quẩn quanh một mớ lý
thuyết khô cằn, đã bị thực tế đào thải, để họ thấy rõ họ có đầy đủ quyền làm
người chứ không phải trông đợi sự ban phát ơn huệ của bất cứ ai, để họ nhận
chân được rằng họ không thể cứ kéo dài tình trạng bị bóc lột, cam chịu mãi thân
phận của những tên nô lệ mới của một đẳng cấp cai trị mới. Quê hương chúng ta
chỉ có thể đổi thay toàn diện khi đại đa số con người lột xác toàn diện, lột
xác ra khỏi sự ngu dốt, thiển cận, lột xác ra khỏi những thiên kiến, cực đoan,
hạn hẹp, lột xác ra khỏi sự thờ ơ, ù lì, thụ động. Đó là tất cả những hậu quả của
một cuộc chiến tranh kéo dài và một đường lối thực thi chính sách cai trị độc
tôn và độc đoán. Em tin là sự thay đổi con người một cách toàn diện ấy sẽ xẩy
ra, nó chắc chắn sẽ phải xẩy ra. Khi đó, quê hương sẽ đứng trước một vận hội mới.
Toàn hỏi :
– Làm thế nào chúng ta có
thể thực thi được công cuộc lột xác ấy ?
Hoàng tranh lấy trả lời :
– Con đường văn hóa ! Cả
trong nước lẫn ngoài nước! Tôi hình dung ra rằng nếu chủ lực cách mạng phải nằm
ở trong nước thì chủ lực văn hóa nên trao cho những người ở bên ngoài nước. Tác
phẩm của những nhà văn hóa ở hải ngoại trong quá khứ đã có nhiều đường dây để
thâm nhập trở về quốc nội và ta phải gia tăng những đường dây ấy với sự tiếp
tay của lực lượng chủ lực ở trong nước. Ngoài ra ở hải ngoại, những người làm
văn hóa cũng phải vạch ra được một con đường văn hóa mới, nhằm thay đổi bầu
không khí đơn điệu cứ kéo dài mãi những nhiệm vụ mà nó đã hoàn tất tốt đẹp
trong nhiều năm qua. Nó phải có một hướng đi dựa trên hoàn cảnh mới, tâm thức mới,
để phù hợp với những thay đổi về phía quần chúng (chứ không phải về phía lãnh đạo)
sau những năm mòn mỏi, kiệt quệ, và sau khi cái hàng rào ngăn cách giữa «Cách Mạng»
và «Ngụy» đã mặc nhiên được quần chúng gỡ bỏ, do ở sự thông thương dễ dãi giữa
hai miền, do ở sự liên hệ chằng chịt, phức tạp giữa những gia đình và bạn bè,
và do ở cả sự nhận chân được ra rằng cái gọi là «Cách Mạng» của những người cộng
sản, thực ra chẳng có gì ghê gớm, cao cả như trước đây người ta tưởng tượng.
Toàn kêu lên :
– Cả hai người làm như
đang thảo một tuyên ngôn văn hóa.
Nguyệt dẫu mồm :
– Những điều vừa mới nói
có thể chứa đựng trong một tuyên ngôn văn hóa thì đã sao ? Chỉ có vấn đề là em
với anh Hoàng không đủ tư cách để làm một tuyên ngôn văn hóa. Một tuyện ngôn
như thế, còn phải được hình thành bởi nhiều người có cùng chung một ý hưởng. Em
chỉ góp phần suy nghĩ của mình trong ý hưởng đó mà thôi.
Hoàng tiếp :
– Cái ý hướng này, theo
chỗ tôi thấy, nó đang được hình thành bởi những người cầm bút còn có lương tri ở
quốc nội. Bản tuyên ngôn của Nhóm Văn Nghệ chân đất ở miền Bắc đã được phổ biến
ở Paris cách đây ít lâu là một bằng chứng cụ thể. Ngoài ra, còn có những nổ lực
âm thầm khác, những người cầm bút ở đây, tuy bị hạn chế, nhưng họ chưa đầu
hàng, chưa bẻ bút. Họ vẫn âm thầm nung nấu sự phản nộ cũng như niềm mơ ước của
họ. Rồi có ngày họ sẽ viết ra.
Nguyệt nói :
– Các anh trong giới nhà
văn, có thể được đọc những bản tuyên ngôn ấy như một thứ tài liệu. Dân chúng ở
ngoài không ai được hay biết gì hết.
Hoàng nói say sưa :
– Tôi không chỉ đọc, mà
chúng tôi còn nghiền ngẫm, chúng tôi còn thuộc lòng những dòng văn bi tráng ấy.
Tôi có thể nhắc lại những đoạn đáng chú ý : «Chúng tôi, những người cầm bút trẻ
nhưng chưa một ai có nổi một đầu sách, một tập thơ nhỏ được xuất bản. Điều đó
chẳng phải chúng tôi không biết viết mà bởi vì chúng tôi không được viết, không
được tự do nói lên những điều cần phải nói. Cũng bởi chúng tôi và những anh em
văn nghệ sĩ trẻ ở miền Bắc không hề có trong tay bất kỳ một phương tiện nào
ngoài những đêm không ngủ với trái tim chất đầy những khát khao muốn nói lên sự
thật của đất nước.... «Mọi con người, nếu đã là con người, phải được quyền nói
lên tất cả những gì của con người. Nghệ thuật dành cho trái tim con người và nó
sẽ sống cho sự tốt đẹp của con người». «Chúng tôi, nhóm Văn Nghệ «Chân đất», với
những bàn chân không giày, những con mắt bị bịt kín, những cái mồm không được
nói, và những cái đầu đói khát tự do, không đành để mình và tất cả bị nhào nặn
thành những tên hề của lịch sử. «Chúng tôi, những con người vốn sinh ra như con
người dưới ánh mặt trời muôn thủa, kêu gọi tất cả mọi sáng tác phẩm được viết
phải dành cho mọi trái tim yêu thương chứ không dạy mọi người phải căm thù và
chuyên chính ! Với bộ ngực trần, chúng tôi tuyên chiến với mọi thứ văn hóa bịp
bợm, lố bịch đang ngày đêm làm bẩn bầu không khí xung quanh chúng ta. Hãy chống
mọi thứ ô nhiễm đang đầu độc nền văn hóa 4000 năm !»
Toàn trầm ngâm rồi nói tiếp
:
– Chúng ta đâu cần gì phải
dài dòng. Chỉ ngần ấy câu, ngần ấy ý thôi cũng đủ trở thành một tuyên ngôn văn
hóa.
Bầu không khí trong căn
phòng trầm lắng hẳn xuống. Đầu óc ba người như đặc sệt lại vì những ý tưởng vụt
bừng lên chói chang như được soi rọi bởi ánh sáng rực rỡ của một ngọn đuốc mới.
Toàn mang đầy cảm giác sững sờ. Nguyệt thì thấy choáng váng như vừa được nhấp một
ngụm men say. Hoàng thì say sưa, ngây ngất như chính chàng là tác giả bản Tuyên
Ngôn, là một thành viên của Nhóm Chân Đất đang truyền đạt đi những tư tưởng của
chính chàng trước quần chúng đang khát khao một vận hội mới.
Một hồi sau, Nguyệt mới
lên tiếng trước, trong một niềm xúc động khôn tả :
– Em cám ơn anh Hoàng đã
cho em thấy thêm nhiều khía cạnh có ý nghĩa trong đời sống khốn cùng của xã hội
hiện nay. Em càng tin tưởng hơn ở ý nghĩ «Hãy cứ khởi hành đi, rồi thì sẽ có bạn
đồng hành».
Hoàng cười rạng rỡ :
– Tôi đồng ý với ý nghĩ ấy
của cô. Hãy cứ khởi hành đi rồi thì sẽ có bạn đồng hành. Nếu cứ chờ nhau sẽ chẳng
bao giờ có bước khởi đầu cả.
Nguyệt mỉm cười, giọng bí
mật :
– Vậy thì ngày mai, Nguyệt
bắt đầu khởi hành. Em sẽ không bao giờ quên những giờ phút đầy ý nghĩa ngày hôm
nay. Các anh hãy chúc Nguyệt nhiều may mắn nhé!
Nói xong câu này, Nguyệt chợt nhận ra rằng những tình cảm của nàng dành cho Toàn bây giờ cũng chỉ như đối với Hoàng. Nàng quí mến hai người như nhau, như những người bạn có thể tin cậy được. Nàng cũng chẳng buồn kiểm chứng lại xem từ bao giờ, tình yêu của nàng đối với Toàn đã chắp cánh bay đi!.
20/5/2025
Nhật Tiến
Theo https://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét