Thứ Ba, 31 tháng 10, 2023

Mẹ - Người đàn bà vĩ đại nhất của đời con

Mẹ - Người đàn bà
vĩ đại nhất của đời con!

Sự hiện diện của mỗi con người trên thế gian này đều có công lao rất lớn từ mẹ. Mẹ chính là người đã sinh ra, nuôi dưỡng mỗi chúng ta lớn lên cả phần xác lẫn phần hồn. Mẹ là thiêng liêng, là cao quý. Dù có đi đâu, làm gì, dù đã trưởng thành đi nữa; trước mẹ mình vẫn bé bỏng muốn được mẹ ôm vào lòng để vỗ về, chỉ bảo. Bởi vì: “Không ai có được một cái nhìn thấu như người mẹ. Giữa người mẹ và đứa con dường như có một sợi dây bí mật vô hình mà nhờ đó mỗi một sự xao động trong tâm hồn đứa trẻ đều được người mẹ cảm nhận như một nỗi đau trong tim mình và mỗi một thành công của đứa trẻ thì người mẹ cũng thấy đó như là một niềm vui của đời mình”.
Mẹ
(Nguyễn Quang Cương)
Thuở con khóc oa oa, cha mẹ với ông bà
Nhiều đêm trắng thức cay tròng mắt.
Chỗ ướt mẹ nằm, nơi chiếu khô mẹ đặt
Con nằm, thế thế suốt mùa đông.
Những buổi chợ hôm, chợ huyện gánh gồng
Quên lá trầu xanh, bánh cho con mẹ nhớ.
Những khi con ấm mình trở gió.
Mẹ bế bồng lội suốt đêm sâu.
Bé bỏng mẹ ơi, con có hiểu nhiều đâu
Áo mẹ cứ bạc màu, áo con luôn đẹp mới
Mẹ đón trường gần, trường xa ngóng đợi
Có miếng ngon để dành, phần mẹ chút rau dưa.
Rát bỏng mùa hè, buốt cóng mùa mưa
Mẹ đến sớm hơn mặt trời trên ruộng lúa
Chủ nhật con về, mẹ mừng một nửa
Một nửa lo sang hàng xóm tạm vay tiền.
Bạn con về, khách chị, khách em
Con gà nhỏ đĩa đầy, không dành phần để lại
Chúng con vui mà mẹ thì cặm cụi
Tiễn khách đi rạng rỡ – mẹ cười!
Như dòng sông vỗ xanh bãi sa bồi
Vành nón xạm, gió đồng lay lật mãi
Bóng nghiêng xuống mùa màng gặt hái
Suốt một đời, cứ thế, sống cho con!
Sự hiện diện của mỗi con người trên thế gian này đều có công lao rất lớn từ mẹ. Mẹ chính là người đã sinh ra, nuôi dưỡng mỗi chúng ta lớn lên cả phần xác lẫn phần hồn. Mẹ là thiêng liêng, là cao quý. Dù có đi đâu, làm gì, dù đã trưởng thành đi nữa; trước mẹ mình vẫn bé bỏng muốn được mẹ ôm vào lòng để vỗ về, chỉ bảo. Bởi vì: “Không ai có được một cái nhìn thấu như người mẹ. Giữa người mẹ và đứa con dường như có một sợi dây bí mật vô hình mà nhờ đó mỗi một sự xao động trong tâm hồn đứa trẻ đều được người mẹ cảm nhận như một nỗi đau trong tim mình và mỗi một thành công của đứa trẻ thì người mẹ cũng thấy đó như là một niềm vui của đời mình” (Honore de Balzac).
Bài thơ Mẹ của nhà thơ Nguyễn Quang Cương là lời tự thuật của chính mình về mẹ, với những hành động, việc làm, tình yêu thương vô bờ bến mà mẹ dành cho con. Để giờ đây, mỗi khi nhắc về mẹ, nghĩ về mẹ nhà thơ lại cảm thấy xót xa, thương cảm. Một người đàn bà từ khi sinh ra đến lúc từ giã cõi đời luôn chịu nhiều thua thiệt, chưa hưởng được những năm tháng an nhàn thì mẹ đã vĩnh viễn ra đi. Nhà thơ chưa đáp đền, báo hiếu cho mẹ bao nhiêu thì mẹ đã về với cỏ xanh mây trắng.
Với ngôn ngữ giản dị, lời thơ nhẹ nhàng như lời tâm tình nhưng đã đánh động lòng trắc ẩn của nhiều trái tim, bởi đó là những hình ảnh rất thật, rất đời và rất nhân văn nhân ái.
Tạo hóa sinh ra người đàn bà có thiên chức đặc biệt đó là mang nặng đẻ đau, dứt ruột sinh ra những đứa con. Cứ một sinh linh hiện hữu trên cõi đời này đó là niềm vui, niềm hạnh phúc vô bờ của mẹ. Nhưng cũng đồng nghĩa với việc phải chăm chút với bao lo lắng, nhọc nhằn, khổ ải. Lúc nhỏ thì phải bế bồng, chăm chút; lớn lên phải dạy dỗ, cho con học hành, rồi tạo công ăn việc làm, dựng vợ gả chồng cho chúng. Đặc biệt là những người mẹ nông thôn, những người mẹ nghèo lại sinh con đông thì nỗi nhọc nhằn ấy lại tăng gấp bội phần. Mẹ của nhà thơ Nguyễn Quang Cương là một bà mẹ như thế.
Bài thơ có 6 khổ, mỗi khổ là một khúc ca về mẹ; với lòng thành kính biết ơn của con đối với mẹ. Đó là những lời được nói ra từ trong tâm can, huyết mạch của nhà thơ. Thuở con khóc oa oa, cha mẹ với ông bà/ Nhiều đêm trắng thức cay tròng mắt.
Bằng tấm lòng của một người mẹ yêu thương con. Mẹ chịu thiệt thòi mọi thứ cũng chỉ vì để dành tình thương cho các con. Những lúc con ốm đau mẹ phải nhiều đêm thức trắng để chăm sóc, dỗ dành. Mẹ không thể nào ngủ được vì sự sống của con.
Những lúc con ”tè” dầm ướt cả mền, chiếu; bằng tình mẫu tử thiêng liêng, mẹ ”xử lý” bằng cách: Chỗ ướt mẹ nằm, nơi chiếu khô mẹ đặt/ Con nằm, thế thế suốt mùa đông.
Vì sự sinh tồn của các con và cả gia đình, mẹ phải lặn lội thân cò, ngược xuôi hôm sớm, buôn thúng bán bưng từng mớ rau, gánh khoai, con cá; không quản gần xa, khó nhọc gánh gồng. Những buổi chợ hôm, chợ huyện gánh gồng.
Người mẹ của một gia đình đông con nên phải chắt bóp, dành dụm từng đồng từng cắc cũng vì các con, và cho các con. Càng cảm động hơn khi mỗi buổi chợ về mẹ luôn luôn nhớ để mua quà bánh cho con. Bởi mẹ hiểu tâm lý của con trẻ, bởi mẹ thương những đứa con bé bỏng của mình. Cuộc đời người mẹ nghèo trải qua những năm tháng chiến tranh, trải qua những nhọc nhằn được thua cơm áo, những thiếu thốn của cuộc đời mẹ, của tuổi thơ không mấy bình yên… Nên người mẹ thấu rõ và muốn dành cho con những gì có thể. Mà nhà nghèo, buôn bán thì bữa được bữa mất, lấy đâu ra tiền nhiều? Nên mẹ quên mua trầu cho chính mẹ cũng là điều dễ hiểu: “Quên lá trầu xanh, bánh cho con mẹ nhớ”. Cái quên này là có chủ ý. Tôi cho rằng không phải mẹ đoản trí mà người mẹ cố tình quên. Quên để tiết kiệm tiền cho các con. Sự quên của mẹ lại làm người đọc rơm rớm nước mắt. Mẹ phải dè xẻn (nhịn ăn trầu) những cái thuộc về cá nhân mình cũng vì đàn con.
Khi viết bài thơ này là lúc nhà thơ đã trưởng thành. Nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi thơ, những kỉ niệm của một thuở cắp sách đến trường (thời học ở trường làng, trường huyện và cả thời sinh viên) vẫn hiện về như những thước phim quay chậm.
Bé bỏng mẹ ơi, con có hiểu nhiều đâu/ Áo mẹ cứ bạc màu, áo con luôn đẹp mới/ Mẹ đón trường gần, trường xa ngóng đợi/ Có miếng ngon để dành, phần mẹ chút rau dưa.
Ngày ấy, nhà thơ cũng tự nhận mình là người chưa hiểu nhiều vì còn bé. Và vì còn bé nên chưa nhận thức đầy đủ, chưa hiểu vì sao: Áo mẹ cứ bạc màu, áo con luôn đẹp mới. Bởi mẹ có mua sắm cho mẹ đâu. Mẹ lo cho con mọi thứ. Mẹ đón trường gần, trường xa ngóng đợi. Mẹ lo cho con đến từng miếng ăn. Có miếng ăn ngon mẹ cũng đều dành cho con, phần mẹ thì chỉ chút rau dưa là đủ. Mẹ nhịn cả ăn ngon, mặc đẹp dành hết cho con. Vì mẹ sợ con mình không bằng bạn bằng bè thì tội. Dù gia đình nghèo nhưng nhà thơ và các anh chị em trong nhà đều được mẹ rất mực yêu thương, chiều chuộng và chăm chút.
Có lẽ trong những năm tháng tuổi thơ, mỗi chúng ta thường bị mẹ la rầy, quát mắng. Lúc đó, vì không hiểu nên nhiều người cho rằng mẹ mình không tốt, không yêu thương chúng ta; thậm chí có người có thái độ vô lễ với mẹ. Sau này khi đã trưởng thành, có gia đình con cái mới thấy thấm thía những lời mẹ cha ngày trước dạy mình.
Nhà thơ thấu hiểu tâm trạng nửa mừng nửa lo của mẹ. Học đến cuối tuần mới về nhà: mẹ mừng lắm vì được gặp các con sau một tuần xa nhà. Có món ăn ngon mẹ cũng để dành cho con. Bởi mẹ hiểu rằng con mình nhà nghèo, trọ học lại càng thiếu thốn và không ai lo cho. Trên chỗ trọ học không biết các con ăn uống thế nào, học hành có tốt hay không? Cuối tuần các con về thăm nhà thì mẹ mừng lắm, nhưng mẹ cũng lại canh cánh nỗi lo. Đó là phải chạy tiền cho các con tuần kế tiếp. Mà nhà thuần túy làm nông, thời tiết miền Trung lại khắc nghiệt, nắng lắm mưa nhiều, lũ lụt hạn hán triền miên nên mùa màng thất bát; con lại đông, bán buôn thì cũng chỉ đủ đắp đổi qua ngày. Gia đình đông người lại phải chi tiêu nhiều thứ. Mẹ phải chạy vạy ngược xuôi vay mượn hàng xóm láng giềng. Thật cảm động cho tình mẫu tử của một gia đình nghèo, đông con.
Đời mẹ dãi dầu sương gió, nắng mưa: Rát bỏng mùa hè, buốt cóng mùa mưa/ Mẹ đến sớm hơn mặt trời trên ruộng lúa. Mẹ đội mưa, đội gió, đội cả bão giông để ra đồng làm việc. Tất cả cũng vì đàn con thân yêu. Sinh ra trong gia đình nghèo và ở thời buổi đất nước có chiến tranh nên mẹ không được học hành và không biết nhiều chữ nghĩa. Nhưng cái đặc biệt ở mẹ là biết tính toán, thu xếp, dành dụm, tiết kiệm, chi tiêu dè xẻn đúng chỗ, đúng lúc. Có như thế, mẹ mới nuôi nổi cả đàn con 9 đứa của mình.
Nhà nghèo nhưng mẹ thương con và mến khách. Cách đối đãi và hành xử của mẹ rất đáng để con học hỏi và ghi nhớ suốt đời. Bạn con về, khách chị, khách em/ Con gà nhỏ đĩa đầy, không dành phần để lại. Mẹ đã tiếp đãi ân cần và chu đáo nhất có thể đối với một gia đình nông dân. Con gà nhỏ – vì không còn con nào lớn hơn, những con lớn hơn mẹ đã đem đi chợ bán từ trước rồi nên giờ đâu còn nữa? Cả con và bạn đều vui vì được mẹ lo tươm tất, con và khách no còn mẹ thì đói; con và khách vui thì mẹ lại bận bịu, cặm cụi với nhiều việc phải làm… Nhưng mẹ cảm thấy vui! Chúng con vui mà mẹ thì cặm cụi/ Tiễn khách đi rạng rỡ – mẹ cười!
Đến khổ thơ cuối, nhà thơ Nguyễn Quang Cương có sự so sánh thú vị: “Như dòng sông vỗ xanh bãi sa bồi”: câu thơ giàu sức gợi, đó là sự hi sinh thầm lặng, sự tảo tần, thương yêu vô bờ của mẹ đối với con. Vành nón xạm, gió đồng lay lật mãi/ Bóng nghiêng xuống mùa màng gặt hái/ Suốt một đời, cứ thế, sống cho con! Vâng, người mẹ ấy đã trọn đời sống cho con, vì con. Người mẹ ấy đã sẵn sàng đánh đổi cả đời mình vì sự trưởng thành, khôn lớn và thành đạt của các con.
Xuyên suốt bài thơ, người đọc nhận thấy nhà thơ sử dụng rất nhiều cặp từ đối lập: ướt – khô, quên – nhớ, bạc màu – đẹp mới, gần – xa, mừng – lo, đầy – không, vui – cặm cụi, miếng ngon – rau dưa. Càng tô đậm thêm hình ảnh người mẹ tảo tần, giàu đức hi sinh, đáng yêu, đáng quý, đáng trân trọng của cuộc đời mình.
Nhà thơ – Tiến sĩ Nguyễn Quang Cương cũng đã từng tâm sự rằng: gia đình ông là một gia đình nông dân chính hiệu, lại đông anh em. Mẹ sinh tất cả 9 anh chị em, từ trong xoáy lốc chiến tranh và bỏng rát của thời bao cấp. 9 người con ấy được sự nuôi nấng, dạy dỗ của mẹ giờ họ đã trở thành Đại tá, Tiến sĩ, Luật sư, doanh nhân… Có thể nói, hiếm có một gia đình nào trên dải đất cong cong như hình chữ S này được như vậy. Nhà thơ coi mẹ mình chính là người mẹ anh hùng. Vâng! Bà chính là người mẹ anh hùng. Tôi cho đây là một gia đình đại phúc. Có lẽ dưới nấm mộ sâu mẹ nhà thơ Nguyễn Quang Cương đã mỉm cười thỏa nguyện vì 9 đứa con của bà đã thực sự trưởng thành, là những công dân có ích cho xã hội.
Bài thơ Mẹ là lời nhắc nhớ, là tấm lòng biết ơn, thành kính, sự cảm thông, thấu hiểu của con đối với mẹ. Giờ đây nhà thơ cũng đã có con, đời ông cũng đã trải qua những năm tháng gian lao, vất vả vì cuộc sống áo cơm. Nguyễn Quang Cương mới thấm thía tình yêu thương, sự chở che, lòng bao dung và sự hy sinh thầm lặng của mẹ.
31/5/2019
Nguyễn Văn Hòa
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Thơ thời kinh tế thị trường

Thơ thời kinh tế thị trường

Do hoàn cảnh nhiều người học hành dở dang: nên chữ nghĩa cũng nửa chừng… Thậm chí có người còn chưa biết thế nào là tu từ, tính từ, động từ… Ngay cả một số loại thơ đơn giản như: lục bát, vè, ngũ ngôn… cũng không biết cách gieo vần.
1. Nước lên bèo nổi.
Những năm 90 của thế kỷ 20. Nhờ chính sách cởi mở, Việt Nam đã hòa nhập vào nền kinh tế thị trường thế giới. Đời sống người dân dần dần được cải thiện: phần đông đã có của ăn, của để. Phong trào thơ ca cũng bùng nổ theo sự phát triển kinh tế. Các câu lạc bộ thơ ca mọc ra như nấm sau mưa : Câu lạc bộ xã, phường, quận, huyện, xứ Nhãn, Xứ Dừa, Đường Thi… Ra ngõ gặp nhà thơ. Người ta đua nhau in thơ, các nhà xuất bản được mùa làm ăn.
Có người học cách làm thơ Đường luật, viết ra bài xướng kể lể công lao phục vụ đất nước, gia đình mẫu mực hạnh phục, con cháu thành đạt… Tung lên mạng internet, gửi thư cho bạn bè mời họa. Gom đủ bài theo ý, đem xuất bản thành sách. Khệ lệ ôm tới các câu lạc bộ tặng, biếu cho bạn bè và ngay cả những độc giả mà họ chưa hề biết mặt.
Do hoàn cảnh nhiều người học hành dở dang: nên chữ nghĩa cũng nửa chừng…Thậm chí có người còn chưa biết thế nào là tu từ, tính từ, động từ… Ngay cả một số loại thơ đơn giản như: lục bát, vè, ngũ ngôn… cũng không biết cách gieo vần.
Thơ Đường Luật rất khắt khe về niêm luật. Thời xưa chỉ có các bậc túc nho mới làm. Ngày nay thì đại chúng. Có người cứ nghĩ rằng học thuộc luật bằng, trắc, vế đối… Thế là họ tự làm thơ ca ngợi mình, họa thơ người. Nhiều bài thơ ý thơ cứng ngắc, những cặp đối lộn xộn lung tung. Vậy mà họ cứ tự đắc rằng làm được thơ Đường là ta đã thuộc hàng túc Nho rồi…?
Đất nước chúng ta rất nhiều ngày lễ kỷ niệm trong năm. Một số người đón cơ hội viết bài tung hô gửi cho báo. Nếu có tờ báo địa phương nào đó in bài, họ phô tô ra hàng trăm bản. Tới các câu lạc bộ phát cho các hội viên, bạn bè. Một số có tiền còn chơi trội hơn, mướn nhạc sĩ phổ nhạc cho thơ của mình. Phần nhiều là nhạc sĩ cũng chẳng tên tuổi như họ. Sau đó thuê ca sĩ hát, phát hành đĩa nhạc rồi cũng đem biếu, tặng cho bạn bè; chả cần biết họ có xem hay không. Thế là họ tự huyễn hoặc mình đã thành nhà thơ?
“Mượn gió bẻ măng” một số người đánh vào lòng hiếu danh của người đời. Lập ra các Câu lạc bộ, các công ty; gom bài in vào những tập thơ mang tiêu đề rất kêu: Hương thơ đất Việt, Hương thời gian, Những gương mặt thơ đương đại… Ai cũng tự nhủ lòng: Bỏ ra mấy trăm ngàn mà được in trong những tập thơ như vậy còn gì bằng!? Thực tế khi xem những bài thơ in trong những tập thơ đó thì độc giả cũng phải lắc đầu.
2. Văn học hậu hiện đại đi về đâu?
Thế giới mở, nền văn học Việt Nam đang hòa nhập vào nền văn học thế giới. Xu hướng hiện nay là nền văn học hậu hiện đại (Tân hình thức). Nhìn chung văn học thế giới có ba trường phái chính:
1. Tân cổ điển (Neoclassicism)
2. Hiện đại (Modernism)
3. Hậu hiện đại (Post modernism)
Thời kỳ đầu của những năm 30 thế kỷ 20. Một số nhà thơ đã hội nhập thơ hiện đại vào Việt Nam. Đi đầu là nhóm Tự Lực Văn Đoàn; tiêu biểu là những nhà thơ còn vang danh đến ngày nay như: Xuân Diệu, Nhất Linh, Chế Lan Viên, Tú Mỡ, Trần Dần, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Thâm Tâm… Những câu thơ của họ còn sống mãi với thời gian:
Hơi gió thổi như ngực người yêu dấu
Mây đa tình như thi sĩ đời xưa.
(Xuân Diệu).
Mới lớn lên trăng đã thẹn thò
Thơm như tình ái của ni cô.
(Hàn Mặc Tử).
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng.
(Thâm Tâm).
Thơ mới thời kỳ đó đã bứt phá khỏi lối mòn của thơ Đường Luật khắt khe về niêm luật.
Cuối những năm của thế kỷ 20, làn gió thơ hậu hiện đại tràn vào Việt nam. Nền tư bản phương Tây hàng trăm năm phát triển, đã đưa nền công nghiệp phát triển vượt bậc. Đời sống người dân càng cao, con người càng phải làm việc trong các dây chuyền công nghiệp như một cái máy. Tư tưởng phóng khoáng tự do xưa nay họ muốn thoát khỏi sự gò bó đó chăng? Nên trong nền văn học của họ xuất hiện loại thơ văn mới gọi là hậu hiện đại; không theo một khuôn mẫu nào.
Ví dụ:
Uống rượu là tốt
Fucking (Làm tình) là tốt hơn
Nếu cô gái muốn lái xe
Sau đó. Bạn nên để cho cô ấy.
Hoặc:
Hoa hồng là đỏ
Violet là blue (xanh)
Xin lỗi về cho
Herpes cho bạn.
(Herpes là loại vi rút gây lở loét miệng – Tác giả).
Hai bài thơ trên ta thấy tứ thơ họ không cần một logic nào cả.
Việt Nam trong những năm mở cửa, mọi lĩnh vực đua chen nhau trong sự lộn xộn của nền kinh tế thị trường. Mạng internet phát triển chóng mặt. Nền văn học Việt Nam tiếp thu ào ạt đủ các thứ văn hóa Tây phương. Qua mạng internet những Việt kiều ở nước ngoài tung những bài thơ hậu hiện đại về trong nước. Thơ mang tính nhân văn thì ít mà lợi dụng nói xấu chế độ, và bôi nhọ lịch sử cũng không phải ít.
Nhìn chung thơ hậu hiện đại không cầu kỳ về cấu tứ, không cần vần, không hạn chế số từ dùng trong một câu, không cần hoa mỹ, những ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày nâng lên ngôn từ thơ, thậm chí cả thô tục… Nội dung đa diện phức tạp…
Ví dụ:
Chồng em nó chẳng ra gì
Ngu, ấu trĩ cả đời bợ đít mẹ
Tổ tôm, xóc đĩa nó thì chơi hoang
Thua, nó còn đi bia ôm để giải xui.
(Đinh Linh – Giữa chị em ta).
Hoặc:
Tiếng nước đái
Nhỏ giọt
Trong bồn cầu tí tách
Thứ nước ấm sóng sánh vàng
Hổ phách
Phải rồi
Tôi là đàn bà.
(Nguyễn thị Hoàng Bắc).
Một số người đang cổ súy và khen là mỹ học hậu hiện đại.
Có người còn dám bôi nhọ lịch sử. Ai cũng biết HerMingWay là người Mỹ, tác giả cuốn tiểu thuyết nổi tiếng – Ông già và biển cả. Vậy mà họ dám hư cấu ông cắm cờ trên hầm Đờ Cát; được kết nạp vào hội viên hội nhà văn Việt Nam. Về Hà Nội ăn phở, được Phạm Duy dẫn đi hút thuốc phiện và hát ả đào. Thế mà trên mạng internet một số người tung hô là dám có gan viết… và viết cho vui. Có lẽ đây cũng là cách đánh bóng tên tuổi chăng?
Thực tế văn học hậu hiện đại đã du nhập vào Việt Nam mấy chục năm. Các cây viết chuyên và không chuyên đã có một số người đang viết. Nhìn chung cũng chỉ là thể nghiệm. Một số người cổ súy thì trách độc giả chưa được trang bị tối thiểu về mỹ học hậu hiện đại?
Theo vòng xoáy lịch sử, mỗi thời đại đều có diện mạo thơ ca riêng, mang hơi thở và cuộc sống của mình. Thơ hay phải có tiêu chí và chuẩn mực gì, vẫn còn bàn cãi chưa ngã ngũ. Chỉ có thời gian sẽ là thước đo chuẩn mực của nghệ thuật văn chương.
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, cả thành phần chính thống, bác học, nghiệp dư cho đến đại chúng chưa dễ gì chấp nhận văn học hậu hiện đại. Đành rằng thế giới hội nhập là đa văn hóa; Nhưng mỗi dân tộc, vùng miền họ phải có nét văn hóa riêng và độc đáo của họ, không thể cào bằng.
Thơ văn hậu hiện đại sẽ đi về đâu? Hiện tại nó đang chập chững thể nghiệm của một số cây bút chuyên và không chuyên; đang muốn hậu hiện đại nền văn học Việt Nam; trong cái nền dân trí còn thấp và nặng tính cách Á Đông.
2/6/2019
Việt Thắng
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Ai đã cho Huy Cận tài năng

Ai đã cho Huy Cận tài năng?

Cũng là cơ duyên khi được tham dự Hội thảo Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Huy Cận: “Nhà thơ, Nhà văn hóa Huy Cận – Những điều còn mãi”. Bởi thế mà được thăm quê Huy Cận và ngắm lại sông Ngàn Sâu sau nhiều năm xa cách.Được uống bát nước chè xanh đậm đặc tình người của chù nhà, được nâng chén rượu đầy vơi phiêu diêu trên sông Ngàn Sâu, không có lẽ không nói điều chi. Đành liều lĩnh lấy sự nông cạn vụng về của kẻ ngoại đạo mà khua chiêng trước trận. Như đụn cát sánh với non cao. Như ao tù đo với biển sâu. Như kiếm gỗ đọ với thiết giáp.
Với thi ca, để lại dấu vết sau ngàn năm – hậu thế có người tìm đọc ngợi ca – đã là hàng thi nhân quý hiếm. Như Thôi Hiệu với Hoàng Hạc Lâu. Như Lý Bạch với Hoàng Hạc Lâu tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng. Như Bạch Cư Dị với Tỳ Bà Hành. Và rồi sẽ như Huy Cận với Tràng Giang.
Tràng Giang là bài thơ xuất sắc nhất của Huy Cận. Tràng Giang sẽ là bài thơ được người đời lưu truyền dài lâu nhất trong phong trào thơ mới. Đó là điều không ngoa. Bởi Tràng Giang – như đã nói ở trên – khi đọc lên là gợi nhớ đến những kiệt tác Đường Thi mênh mang sông nước, trong đó có Hoàng Hạc Lâu, có bến Tầm Dương. Cho nên câu hỏi “Ai đã cho Huy Cận tài năng”? – được đưa đến câu hỏi giản đơn “Ai đã cho Huy Cận Tràng Giang”?
Ngàn Sâu và Hồng Hà
Viết về Tràng Giang đã có nhiều triệu người viết. Viết từ đời trước, đến đời nay, mãi ngàn sau vẫn còn người viết. Viết đủ khía cạnh. Từ mọi bình diện. Nhưng không bao giờ lột tả được tận cùng cái hay và đo hết giá trị đích thực của Tràng Giang. Bởi vì cảm thụ một bài thơ phụ thuộc vào tâm hồn của mỗi con người, phụ thuộc vào hoàn cảnh đọc thơ, và phụ thuộc vào thời cuộc người đọc thơ. Cả ba điều vừa nói: là vô cùng về số lượng, là không cùng về hoàn cảnh, là không ngừng về thời gian. Sức sống vĩnh cửu của Tràng Giang được nuôi dưỡng bởi những nhân tố đó. Cho nên, bình về Tràng Giang không phải là mục đích của tác giả bài viết này – một người làm toán, ngoại đạo về thơ văn.
Người đời truyền nhau, rằng Huy Cận đã viết bài thơ Tràng Giang trong một buổi chiều năm 1939 ở Chèm (Hà Nội) bên bờ sông Hồng. Với tôi, sự thẩm định tính chính xác lịch sử sáng tác bài thơ không quan trọng. Quan trọng hơn là vì sao có Tràng Giang. Hiển nhiên rồi, chiều Hồng Hà là cảm xúc đột phá sinh ra Tràng Giang. Nhưng hồn cốt của Tràng Giang lại là Ngàn Sâu. Không có Ngàn Sâu không có một Tràng Giang hay đến như vậy.
Người sống ở bên sông đọc Tràng Giang khác với người không sống bên sông. Người sống bên sông Ngàn Sâu đọc Tràng Giang khác với những người còn lại. Huy Cận đã chắt lọc Ngàn Sâu mà sinh ra Tràng Giang trong áo khoác Hồng Hà.
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”. “Sóng gợn tràng giang” thì dễ hiểu. Nhưng “buồn điệp điệp” chỉ có thể là những người mắt đã “uống sóng” nhiều năm. Không sống bên bờ Ngàn Sâu từ tấm bé, Huy Cận đã không có câu mở đầu cái thế đến như vậy trong Tràng Giang. Nếu câu thơ đầu mở ra trước mắt chúng ta một khung cảnh mênh mang sông nước, thì ba câu thơ tiếp theo cho chúng ta một trạng thái thiên về nội tâm: “Con thuyền xuôi mái nước song song/ Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả/ Củi một cành khô lạc mấy dòng.”
Những ai đã sống bên bờ sông Hồng đoạn qua Hà Nội, và dọc chiều sông Ngàn Sâu, sẽ hiểu rất rõ sự khác biệt của cảm xúc này. Sông Hồng về mùa mưa nước cuồn cuộn đến “hoa lau cũng phải chìm”. Còn mùa khô thì nước cạn xa bờ. Nên rất khó có một “cành khô” từ núi rừng Tây Bắc theo sông Đà, hay từ Lào Cai theo sông Thao, hoặc giả từ Tuyên Quang theo sông Lô về được đến Chèm cho Huy Cận mục kích. Không phải không có nhưng xác suất rất nhỏ. Bởi vậy “Củi một cành khô lạc mấy dòng” trong tâm hồn Huy Cận – phải được nuôi dưỡng từ cảm xúc dồn nén bao tháng năm từ sông Ngàn Sâu, nơi rừng núi nhấp nhô bao bọc một dòng sông uốn lượn giữa đại ngàn.
Ngược lại, “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu” lại rất Hồng Hà. Những cồn bãi sông Hồng rất khác xa với Ngàn Sâu, nơi trùng điệp non cao với những làng xóm lãng đãng khói chiều. Cũng bởi thế, “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” lại là đứa con của Ngàn Sâu hơn là mẹ Hồng Hà. Sáu câu thơ tiếp theo, sông mẹ Hồng Hà lại giữ vai trò giai điệu “Đô trưởng”: “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót/ Sông dài, trời rộng, bến cô liêu/ Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng/ Mênh mông không một chuyến đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mật/ Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.
Người viết bài này, không chỉ một lần đã theo suốt Ngàn Sâu từ bến Tam Soa đến cầu La Ngà, và rất nhiều lần đi dọc Sông Hồng từ Long Biên qua bến phà Chèm vào thời Hà Nội chưa có nhà cao tầng, nên rất thấm thía cảm xúc của Tràng Giang. Ngàn Sâu không sánh được với Hồng Hà về độ mênh mang, lại bị giới hạn giữa non xanh trùng điệp nên càng thu hẹp. Khác với Hồng Hà tít mắt không núi, không nhà chót vót, chỉ tít tắp “bờ xanh tiếp bãi vàng”. Cho nên “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”, “Mênh mông không một chuyến đò ngang/Không cầu gợi chút niềm thân mật/ Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” thật sự rất Chèm, rất Hồng Hà từ bến Chèm mà nên thơ.
Đừng quy kết đây là tư duy vật lý hiện thực. Chính cái vật lý hiện thực này theo tháng năm mà ngấm vào da thịt, vào máu, rồi hóa thành tư duy, ý nghĩ. Biện minh cho điều này là một hiện tượng kỳ diệu của tạo hóa sau đây.
Con người sinh ra lớn lên chịu hai dòng di truyền cơ bản. Nội di truyền và Ngoại di truyền. Nội di truyền là theo dòng máu của mẹ cha mà có. Ngoại di truyền là do ngoại cảnh đời sống tạo thành. Nội di truyền là điều dễ hiểu. Còn Ngoại di truyền thì sao?
Người ta sinh ra lớn lên ở vùng nào thì chịu ảnh hưởng của vùng đó. Theo tháng năm trong máu thịt và tư duy thấm đẫm mùi vị quê hương. Ăn gì mùi đó, thói quên đó. Sống nơi nào thời tiết đó. Nên ngũ cốc, thực phẩm, hoa quả, cỏ cây, thời tiết, không khí… làm nên da thịt, làm nên mồ hôi, làm nên tính cách – tất cả thấm đậm vùng miền. Ấy chính là Ngoại di truyền vậy.
Ngoại di truyền còn kỳ lạ hơn nữa. Kỳ lạ vì Ngoại di truyền biến thành Nội di truyền từ lúc nào mà bản thân con người không biết. Thêm bằng chứng sau đây.
Những người ruột thịt khi đi xa có “thần giao cách cảm với nhau”. Nếu ai đó có vấn đề, rơi vào hoàn cảnh không bình thường gì đó, thì sẽ làm cho người nhà bồn chồn nóng ruột. Điều này được xác nhận bằng thực tế cuộc sống ngàn đời. Đấy là Nội di truyền từ máu thịt.
Điều kỳ diệu Ngoại di truyền biến thành Nội di truyền nằm trong tình nghĩa vợ chồng.
Rõ ràng vợ và chồng không di truyền máu thịt. Nhưng bao năm tháng cùng chung sống dưới một mái nhà, ăn cùng thức ăn, uống cùng dòng nước, thở cùng không khí, lại dành cho nhau trọn tâm trí sức lực, nên cả hai đã hòa quyện vào nhau, chung một nhịp thở, chung một suy nghĩ mà hình thành nên một trường sinh học chung. Chính trường sinh học chung này đã báo cho người vợ biết sự bất an của người chồng dù cách xa muôn trùng sông núi. Từ Ngoại di truyền, vợ và chồng đã có chung Nội di truyền. Đó là sự thần bí của tạo hóa.
Viết những điều trên không phải lạc đề, không phải dài dòng. Những điều trên có thể có những góc nhìn khác nhau đầy tranh luận. Nhưng hãy chắt lọc hiện tượng tồn tại của tạo hóa thần bí, để cảm nhận được Hồng Hà, cảm nhận được Ngàn Sâu trong Tràng Giang. Từ đó thẩm thấu được hồn quê hương đã làm nên một Tràng Giang tuyệt diệu. Chứ không phải võ đoán. Và cũng không phải giáo điều phán xét.
Cho nên, cũng từ Ngoại di truyền, rằng những năm tháng chăn trâu bên sông Ngàn Sâu giữa rừng núi Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn, ngó lên núi cao, nhìn lên mây trắng, từ Ngoại di truyền đã cho Huy Cận một ý thơ tuyệt đẹp – “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”- mà những người chưa bao giờ được mục kích núi non không thể viết ra.
Càng đúng hơn nữa lại là: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Đây là một câu kết tuyệt vời – vô tiền khoáng hậu.
Khói hoàng hôn đã đi cùng Huy Cận suốt tháng năm tuổi thơ. Khói hoàng hôn của Huy Cận cũng rất khác. Khác bởi vì khói hoàng hôn của bản làng ven núi không giống như khói hoàng hôn của làng xóm ven biển hay đồng bằng. Sự bãng lãng la đà quấn quýt được sinh ra do không khí và địa hình núi rừng, điều mà không gian đồng bằng hay ven biển không có được. Chính sự bãng lãng la đà quấn quýt này đã quấn quýt khói hoàng hồn trong trí não Huy Cận dài theo năm tháng. Cho nên dẫu trong khung cảnh bến Chèm sông Hồng chưa có khói hoàng hôn, mà trong tâm trí Huy Cận đã bãng lãng khói hoàng hôn. Từ đó, Huy Cận đã truyền cho người đọc – không nói đến khói hoàng hôn, mà phải nghĩ về khói hoàng hôn – rồi sinh ra câu thơ tuyệt diệu “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.
Không chỉ có thế, điều độc đáo góp thêm sức sống cho Tràng Giang còn nằm ở điểm khác nữa. Những ai đã đọc “Hoàng Hạc Lâu tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng” của Lý Bạch hẳn chắc còn nhớ trọn bài: “Bạn từ lầu Hạc lên đường/Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng/Cánh buồm đã khuất bầu không/Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời” (bản dịch của Ngô Tất Tố). Câu thơ đầu bình thường – chỉ hiện lên địa điểm và hướng đi (trong nguyên bản: Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu). Cái hay của bài thơ nằm trọn trong ba câu sau, mà thang bậc hay tăng dần cho đến câu kết. Bắt đầu từ câu “Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng” đã hiện lên thời gian, mở ra khung cảnh dòng sông cùng con thuyền đi về phía Dương Châu. (Trong nguyên bản “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”: tam nguyệt – tháng ba – được Ngô Tất tố chuyển dịch thành “giữa mùa” và há – xuống – được dịch thành “xuôi dòng”). Tiếp theo, câu thơ “Cánh buồm đã khuất bầu không” thật đẹp – thuyền đã đi rất xa, buồm đã nhòa trong khung trời (nguyên bản: Cô phàm viễn ảnh bích không tận). Nhưng tuyệt kỹ của bài thơ nằm ở câu cuối: “Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời”.
Trong nguyên bản câu cuối là “Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu” có thể hiểu là chỉ thấy Trường Giang chảy “lên” ngang trời – thì mới thấy được sự kỳ vỹ của con sông và khung cảnh. Nhưng đẹp hơn chính là Lý Bạch. Tác giả đã đứng tiễn bạn từ lúc hoa khói trên sông, cho đến khi cánh buồm mất hút trong không trung, nhưng ông vẫn còn tiếp tục tiễn bạn, tiễn theo dòng Trường Giang cho mãi tận lên ngang trời. Cái hay cái đẹp của khung cảnh là bề ngoài. Cái tình tiễn bạn mới là vĩ đại.
Tôi không có chủ ý bình bài thơ “Hoàng Hạc Lâu tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng” của Lý Bạch ở đây. Mà chỉ vạc ra ý chủ đạo của bài thơ Lý Bạch để nói về Tràng Giang. Nếu bài thơ nêu trên của Lý Bạch với 4 câu đã vẽ ra một khung cảnh tuyệt vời cùng với tâm trạng của tác giả thì ở Tràng Giang cả 4 khổ thơ của Huy Cận là 4 khung cảnh và 4 tâm trạng mà cả bốn đều tuyệt vời không kém. Hãy cảm nhận trọn vẹn lại bốn khổ thơ này.
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu muôn ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, – bến cô liêu.
Bèo giạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ; bóng chiều sa.
Lòng quê dờn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Vẫn chưa phải là tận cùng. Điều độc nhất vô nhị trong lịch sử thi ca, góp phần tôn vinh Tràng Giang lên hàng tuyệt thi chính là câu thơ: “Không cầu gợi chút niềm thân mật”. Chưa ai trong lịch sử thi ca nhân loại viết lên ý này.
Cộng hưởng cả hai câu “Mênh mông không một chuyến đò ngang/Không cầu gợi chút niềm thân mật” đã cho người đọc một khung cảnh và một tâm trạng lạ thường – duy nhất của Tràng Giang.
Còn một điều khác nữa của Tràng Giang. Như phần mở đầu có lưu ý, cái hay của Tràng Giang là làm người đọc gợi nhớ đến các kiệt tác Đường Thi trong đó có Hoàng Hạc Lâu. Hãy xem 4 câu cuối của Thôi Hiệu:
“Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ, 
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.”
Dịch nghĩa:
“Mặt sông trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương,
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh.
Trời về chiều tối, tự hỏi đâu là quê nhà,
Khói toả, sóng gợn, khiến người sinh buồn.”
Thi sĩ Tản Đà đã dịch thoát qua thể lục bát với những vần thơ tuyệt đẹp:
“Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?”
Tứ thơ này, một cách nào đó, làm chúng ta nhớ đến các câu thơ của Tràng Giang:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, “Lòng quê dờn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.
Thật là kỳ diệu. Không giống nhau. Không sao chép. Không cắp ý tưởng. Không nhái ngôn từ. Khung cảnh khác nhau. Vậy mà cho người đọc một cảm xúc gần gũi mơ hồ. Âu cũng là bởi tình người giống nhau. Âu cũng là bởi tâm tư đồng điệu. Âu cũng là bởi tài năng tương cấp.
Còn một điều khác nữa. Đó là cảm giác âm thanh trong Tràng Giang của Huy Cận. Hãy đọc lại khổ thơ đầu tiên.
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu muôn ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.”
Không nói về âm thanh mà như nghe thấy âm thanh. Như nghe thấy sóng vỗ “buồn điệp điệp”. Như nghe tiếng mái chéo khua “nước song song”. Như nghe nỗi sầu dâng tỏa ra muôn ngả. Như nghe thấy tiếng rên bi ai của nhành củi khô bị xoáy “lạc mấy dòng”.
Thật lạ lùng, cái buồn “điệp điệp”, cái “khua nước song song”, cái “sầu muôn ngả”, cái rên khóc “lạc mấy dòng” tự nhiên cho tôi một liên tưởng đến bến Tầm Dương. Một khung cảnh ban chiều. Một khung cảnh ban đêm. Một nỗi buồn ban chiều. Một nỗi buồn ban đêm. Thế mà lại chợt nhớ đến. Đó không chỉ là do khung cảnh vừa tương phản vừa gần gũi chiều và đêm. Đó còn là do âm thanh – cái âm thanh buồn ở Tràng Giang, bên ngoài thì không tiếng, mà bên trong thì réo rắt như tiếng đàn tỳ bà của người kỹ nữ trên bến Tầm Dương.
Có thể đây là cảm nhận rất riêng của cá nhân tôi, không phải của các bạn đọc. Và tôi không áp đặt suy nghĩ này cho bạn đọc. Cũng đừng nghĩ là tôi “ngoa ngắt”. Vì thực sự tôi nghe được âm thanh trong Tràng Giang. Tôi không quả quyết, nhưng tôi đồ rằng Huy Cận đã nghe thấy âm thanh trước khi viết các câu thơ. Vì nghe được âm thanh nên ông mới viết được những dòng thơ tuyệt kỹ vang lên âm thanh như vậy.
Quay trở lại với bến Tầm Dương của Bạch Cư Dị. Chỉ ở một tâm trạng buồn mênh mông tích lũy nhiều tháng năm bị lưu đày, lại được đẩy lên diễn biến cao trào của tình cảm tiễn khách trên bến Tầm Dương khuya khoắt “lau lách đìu hiu”, thì Bạch Cư Dị mới nghe được nỗi buồn réo rắt trong tiếng đàn tỳ bà của người kỹ nữ vang lên trên mặt sông khuya tĩnh lặng. Réo rắt đến mức chỉ ông mới đồng điệu được mà thốt lên “tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây”. Dừng đàn bằng phép gẩy cả 4 dây – tiếng như xé tấm lụa thì biết được tâm trạng ngưởi đánh đàn và người nghe đàn ở mức độ nào. Tiếng đàn của người kỹ nữ vang lên ở cung bậc nào – là do Tư Mã Giang Châu Bạch Cư Dị cảm nhận. Trên thực tế là lệ rơi đầm vạt áo bào xanh. Thế mới là “Tri âm nhân thức tri âm nhân” – như Tử Kỳ nghe được tiếng đàn của Bá Nha. Cũng như vậy, là Huy Cận viết nên được âm thanh của Tràng Giàng.
Cái vĩ đại của Tràng Giang là người đọc tìm thấy bóng dáng một Hoàng Hạc Lâu nhớ quê, một Hoàng Hạc Lâu tiễn đưa, và một bến Tầm Dương buồn réo rắt.
Trở về với tư tưởng chủ đạo ban đầu. Đô trưởng – La thứ, La thứ – Đô trưởng: Ngàn Sâu và Hồng Hà đan xen trong suốt Tràng Giang. Qua Hồng Hà, qua Ngàn Sâu, là thần cốt của những dòng sông khác – những mái nhà chở che cho Tràng Giang thao thức trong lòng người đọc – dù đó là ai, ở đâu và thời nào. Sức sống của Tràng Giang vì thế mà vĩnh cửu.
Nhưng Ngàn Sâu không chỉ là thần cốt của Tràng Giang. Ngàn Sâu còn đi suốt trong thơ ca Huy Cận. Ở đâu ông viết về sông nước, là ở đó có Ngàn Sâu. Ngàn Sâu thấm đẫm trong Huy Cận một hồn quê hương chảy mãi không ngừng.
Hồn quê hương và hồn dân tộc
Tháng Tám năm 1945, Huy Cận cùng Nguyễn Lương Bằng và Trần Huy Liệu thay mặt Chính phủ Lâm thời vào Huế tiếp nhận ấn kiếm và chiếu thoái vị của vua Bảo Đại – đánh dấu chính thức sự xuất hiện một Huy Cận ngoài thi sĩ. Cuộc đời tiếp theo của Huy Cận là chuỗi ngày hoạt động cách mạng (nói theo cách phổ dụng trong mấy chục năm qua). Trong các vai: Bộ trưởng Bộ Canh nông, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Thứ trưởng Bộ Kinh tế, Thứ trưởng Bộ Văn Hóa… Kể từ khi gắn đời mình với hoạt động cách mạng, cũng là lúc hồn dân tộc ngự trị bao trùm trong mọi hành động và suy nghĩ của Huy Cận. Một Huy Cận cách mạng mỗi ngày một đồ sộ án ngự một Huy Cận thơ ca hùng vĩ thầm lặng ẩn náu.
Nhưng mạch nước Tràng Giang vẫn không ngừng chảy. Hồn thơ không nguôi ngoai vun đắp chất chứa. Và đến năm 1958 Huy Cận trở lại thi đàn với “Trời mỗi ngày lại sáng”. Sau đó là các tập thơ: Đất nở hoa (1960); Bài thơ của đời (1963); Hai bàn tay em (1967); Phù Đổng Thiên Vương (1968); Những năm 60 (1968); Cô gái Mèo (1972); Thiếu niên anh hùng họp mặt (1973); Chiến trường gần chiến trường xa (1973); Những người mẹ, những người vợ (1974); Ngày hằng sống, ngày hằng thơ (1975); Sơn Tinh, Thuỷ Tinh (1976); Ngôi nhà giữa nắng (1978); Hạt lại gieo (1984) – tất cả đều gắn liền với thực tế phát triển của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn 1954-1984.
Nhưng như đã lưu ý ở trên, mục đích bài viết này không nói về các tác phẩm của Huy Cận. Mà trở lại câu hỏi xuất phát ban đầu: “Ai đã cho Huy Cận tài năng”?
Thực ra, không phải từ tháng 8 năm 1945, mà từ khi xuất hiện “Lửa thiêng” (1941) và “Vũ trụ” (1942) đã định hình một Huy Cận ngoài thi sĩ. Bởi lẽ “Lửa thiêng” và “Vũ trụ” mang hơi thở của phong trào giải phóng Việt Nam khỏi sự đô hộ của người Pháp, trong đó có thơ ca. Có được tinh thần mới trong “Lửa thiêng” và trong “Vũ trụ” là nhờ phong trào Cần Vương, nhờ linh khí của khởi nghĩa Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, là khí tiết của các chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, nhờ tinh thần của Xô viết Nghệ Tĩnh… mà từ đó Huy Cận đã tham gia phong trào cách mạng, rồi trở thành đại biểu Đại hội Quốc dân ở Tân Trào.
Hồn quê hương đã sinh ra một Tràng Giang – làm nên một thi sĩ Huy Cận. Hồn dân tộc đã tôi luyện Huy Cận từ một thi sĩ phong trào thơ mới, tiến xa hơn, thành một thi sĩ hành động cách mạng. Hồn quê hương và hồn dân tộc là hai dòng chảy – như Ngàn Sâu và Hồng Hà – đã tạo nên tài năng thi ca của Huy Cận. Không phải 100 năm, mà ngàn năm sau người đời còn mãi nhắc đến Huy Cận. Ở nơi đâu có dòng sông, ở nơi đó có Tràng Giang.
3/6/2018
Bùi Công Thuấn
Nguồn: Văn Hóa Nghệ An
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Cảm nhận trường ca của Lê Quang Trang

Cảm nhận trường ca
của Lê Quang Trang

Trong hai năm, nhà thơ Lê Quang Trang đã in liền hai trường ca, Biển xanh vẫy gọi (2016) và Trên con đường ấy, Trường Sơn (2018). Điều này cho thấy cảm hứng sáng tạo và sức viết của ông thật dồi dào, dù ông đã vào độ tuổi “xưa nay hiếm” (Lê Quang Trang sinh năm 1947). Theo nhà báo Phạm Thành Long, nhà thơ Lê Quang Trang viết trường ca Trên con đường ấy, Trường Sơn từ 1984, cho suốt tới 2017 anh mới hoàn thành tác phẩm (1). Quả là một thời gian dài nung nấu suy tư, nuôi dưỡng cảm xúc, chọn lọc chất liệu, cấu trúc tác phẩm để thơ cất thành lời và làm nên những giá trị, giá trị nghệ thuật và tâm huyết của sự sáng tạo.
Biển xanh vẫy gọi
“…ta lên đường đi tới
biển xanh đang vẫy gọi
những chân trời mở ra” (tr. 78)
Biển xanh vẫy gọi là trường ca của cảm hứng lãng mạn và những trang thơ lấp lánh sắc màu thẩm mỹ, đặc biệt những trang lục bát Lời sông hát (tr.48), Lời rừng hát (tr.79), Lời biển hát (tr.108). Hiện thực đất nước phát triển đã nâng cánh cho nhà thơ bay lên, khởi đi từ những ngày thiếu đói, lạm phát, và hàng triệu người bỏ tổ quốc ra đi; đến vận hội gia nhập WTO, AFTA, ký TPP, quan hệ với ASEAN và khép lại quá khứ, bình thường hóa với Hoa Kỳ; niềm hân hoan về tương lai tràn ngập trên các trang thơ. Dân tộc rồi này sẽ chiếm lĩnh lấy đỉnh cao nhân loại. Và đàng hoàng cùng loài người đi tới tương lai…
Trường ca còn là tấm lòng dạt dào yêu thương của nhà thơ với quê hương; thắm thiết nghĩa tình với đồng bào đồng chí, nhất là những người đã cống hiến và hy sinh đời mình cho tổ quốc trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và bảo vệ biển đảo. Đặt nền tảng tư tưởng trên quá trình thắng lợi của Cách mạng Việt Nam và mở rộng tầm nhìn toàn cầu hóa, Lê Quang Trang thể hiện một niềm tin trọn vẹn thủy chung với Đảng và sự nghiệp Cách mạng. Nhưng trái tim nhà thơ cũng không nguôi đau xót về những mất mát hy sinh không thể bù đắp, trăn trở về những vấn đề nhân sinh, về thời cuộc hôm nay.
Trường ca Biển xanh vẫy gọi được viết theo tầm nhìn lịch sử, từ quá khứ đến hiện tại và hướng về tương lai. Vì thế, Biển xanh vẫy gọi có bóng dáng sử thi những con người anh hùng của thời đại anh hùng (chương II, IV, VII), những vận động lớn lao của lịch sử. Thể hiện nội dung ấy, nhiều trường đoạn thơ khí lực mạnh mẽ, mạch thơ cuồn cuộn trong những chặng đường oanh liệt của lịch sử.
Tác giả, với tư cách nhà thơ, tư cách công dân, tư cách người lính trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến (tr.135), tự hào về quá khứ, phấn khởi về tương lai (tr.138). Trường ca là tâm nguyện của nhà thơ muốn truyền lửa (tr.25) cho thế hệ trẻ và một niềm tin vững chắc vào tương lai (chương Lời trao gửi. tr.134). Tất cả những vấn đề lịch sử và hiện tình của đất nước đều được nhà thơ nhìn bằng quan điểm của Đảng, tình cảm Cách mạng căn gốc sâu nặng của tình cảm thơ.
Biển xanh vẫy gọi nằm trong dòng thơ trữ tình-chính trị của thơ Việt Nam thời chống Mỹ. Tác giả bộc lộ trực tiếp suy nghĩ về vấn đề hiện thực và lịch sử, những vấn đề tư tưởng và chính trị đương thời. Tấm lòng của nhà thơ với quê hương, đất nước và Cách mạng là cốt lõi cho sự thành công của trường ca này. Không có ngọn lửa tình yêu ấy, Lê Quang Trang không thể viết được một trường ca có sức thu hút lòng người và những trang thơ tải được một thời bão táp cách mạng. Biển xanh vẫy gọi là cái nhìn của thời bình hướng về tương lai. Lê Quang Trang dành trường ca Trên con đường ấy, Trường Sơn để ghi lại thời hào hùng của quá khứ.
Trên con đường ấy, Trường Sơn.
“Đã nhiều đêm về trong giấc mơ tôi
gặp lại Trường Sơn những năm tháng cũ
gặp rừng đại ngàn mùa khô lá đổ
gặp lại chiến tranh một thuở gian lao…”
Đã có nhiều nhà thơ viết về đường Trường Sơn. Trường ca của Lê Quang Trang khai thác một đề tài đã có nhiều thành tựu, sẽ gặp khó cả về nội dung và nghệ thuật thể hiện, nhất là khi Lê Quang Trang vẫn viết bằng thi pháp của thơ chống Mĩ. Cái Ta trữ tình là cái Ta công dân, cái Ta chung nhân danh đồng đội, nhân danh Đảng và con người Việt Nam thời kháng chiến. Nhưng cái Ta của Lê Quang Trang có những đặc điểm riêng của giọng điệu, của của cá tính sáng tạo.
Trường ca được viết theo chiều dài lịch sử. Câu chuyện bắt đầu khi Hiệp định Giơ-ne-vơ chia cắt đất nước, rồi tác giả kể lại những trải nghiệm mưa nắng Trường Sơn (chương 3), hồi tưởng về “những cánh chim đầu đàn” như Võ Bẩm, Phan Trọng Tuệ, Đặng Tính, Đồng Sĩ Nguyên…(chương 5). Con đường Trường Sơn được mở rộng thêm chi nhánh chi lưu (chương 6). Kết đọng của trường ca là tình cảm sâu sắc với Cách mạng và kháng chiến, là ân tình nghĩa cả với thế hệ những người đã chiến đấu và hy sinh cho hạnh phúc hôm nay và mai sau (chương 7). Trường ca là thông điệp tâm huyết về đất nước và con người Việt Nam kỳ diệu trong kháng chiến mà tác giả muốn gửi đến các thế hệ tiếp nối.
Chương 1 (Tiềm thức) và chương 2 (Đụng độ) trình bày lại những ý kiến đương thời, lý giải tại sao ta mở con đường Trường Sơn. Nhà thơ vừa tường thuật những diễn biến lịch sử, vừa bàn luận chính trị, tương quan ta và địch, vừa bày tỏ cảm xúc.
“Giới tuyến như lưỡi dao khắc nghiệt/ lách vào tim ta/ cắt vào thịt da/ để lại vết thương nhức buốt”. Song niềm tin có phần ngây thơ trong bối cảnh đan xen nhiều lợi ích phức tạp, và kẻ thù đầy nham hiểm, nhìn tương lai nhiều lúc mịt mù. Chúng gây ra bao tội ác với nhân dân ta “ai yêu nước đều cho là Việt cộng/ người lương thiện như chẳng còn đất sống”…. “thảm sát ở Vĩnh Trinh, Chợ Được, Hương Điền/ ở Bình Thành hay Ngân Sơn – Chí Thạnh/…mổ bụng, moi gan, cắt cổ, chặt đầu/ xâu kẽm gai dìm xuống nước sâu/ bất kể người già, trẻ em, phụ nữ…”. Từ thực tiễn khổ đau và chiến đấu, ta nhận ra sự thật, “con đường duy nhất, có áp bức, cần đấu tranh!” Và “Sau rất nhiều ý kiến nêu ra, cân nhắc, luận bàn/ một nghị quyết mở đường cho bão nổi”: Mở đường Trường Sơn, kết nối hậu phương tiền tuyến để hoàn thành Giải phóng miền Nam.
Khi mở ra con đường giải phóng miền Nam, còn bao nhiêu điều trăn trở.  Chúng ta là một quốc gia nhỏ bé phải đương đầu với siêu cường hùng mạnh, “khác nào voi với kiến”. Cứ theo suy nghĩ bình thường: “kết cục chắc khó ngoài quy luật” (tức là quy luật mạnh được yếu thua). Nhưng cả dân tộc quyết đánh. Bởi vì ta có lịch sử anh hùng, có lý tưởng “không có gí quý hơn độc lập tự do”, có bè bạn xa gần chia sẻ, vì họ hiểu chính nghĩa của Việt Nam. Nhưng con đường tư tưởng không phải dễ dàng thông suốt. Chỉ đến khi toàn thắng (1975) vấn đề tư tưởng mới sáng tỏ (tr. 30).
Mưa nắng Trường Sơn (Chương 3) là chương có chất lượng nghệ thuật nổi trội so với các chương khác. Có lẽ khi viết về những gì chính mình trải nghiệm, nhà thơ có sự thăng hoa của người trong cuộc, và hôm nay, một bước lùi thời gian đủ dài để nhận ra những ý nghĩa sâu sắc và vẻ đẹp của một thời hào hùng. Vì thế thơ rất chân thực, mạch thơ cuồn cuộn nhịp sống của những ngày kháng chiến. Chất liệu hiện thực gây được nhiều xúc cảm, hồn thơ bay bổng lãng mạn. Những ấn tượng về Trường Sơn tồn tại mãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ.
Dấu chân tôi đi Nam đặt ở cửa rừng
tại làng Ho tỉnh Quảng Bình…
rừng dưới chân ẩm ướt
đầy trời pháo sáng treo
tiếng máy bay rú rít trên đầu
bãi khách người vào người ra nhộn nhịp…
Rừng đón chúng tôi thân quen và hồ hởi
Vẫn những gương mặt trẻ trung
Mũ tai bèo và quần áo màu xanh
Hòa lẫn trong bạt ngàn cây lá…
Đây là chặng hành quân đầu tiên của người lính trẻ Trường Sơn:
Ngay những trạm đầu tiên
đường hiểm trở như đi vào đất Thục
qua Cổng Trời là dốc Nghìn lẻ một
những làn mây ướt sũng dưới chân người
gió thênh thang không quạt ráo mồ hôi
ba lô nặng xiết những cơn thở dốc
vách đá xám giăng hàng ngang dọc
bốn bề lũy đá bủa vây
dưới thung sâu sông như sợi chỉ gầy
miệng đắng ngắt và đôi chân rời rã
mắt thâm quầng vì những đêm mất ngủ
ai biết rằng mới là chặng đầu tiên”
Lê Quang Trang đã có những trang thơ hay, giàu cảm xúc, giàu khám phá hiện thực. Nhà thơ có sự quan sát rất tinh tế về mùa mưa (tr. 49), mùa khô khắc nghiệt (tr. 54), những nghiệm suy từ trung đội của tôi (tr.34), về bao cái chết ở Trường Sơn (tr.58); những trang thơ dạt dào tình cảm về mẹ (tr.62) dạt dào tình thương em (tr. 63) và sôi nổi những chuyện tình của cánh lái xe, của giao liên, của những hoa rừng lãng mạn (tr. 64). Có những câu thơ đọc lên lòng ta thấy rưng rưng thương cảm. Người lính giỗ mẹ giữa rừng Trường Sơn “chỉ rau rừng, cá suối sắp mâm cơm/ và tấm lòng thành kính của con”; Trường Sơn bạt ngàn, nơi nào cũng có đồng đội hy sinh: “Những nghĩa địa đơn sơ và u tịch/ rải rác nằm khắp các ngả Trường Sơn”; và hạnh phúc thật đơn sơ, trong sáng: “bắt gặp đóa hoa nở vô tình bên suối/ đường hành quân đủ rung động lòng ta”; mùa khô thiếu nước, khổ ơi là khổ “mồ hôi chua len vào giấc ngủ/ len cả vào những tình tự gái trai/ ngại gặp anh vì thiếu tự tin/ hương thiếu nữ bị mồ hôi ngăn lối”(tr.56). Mùa mưa càng khổ hơn:
“Trời đang nắng bỗng mưa ào như trút
dưới tán rừng đêm tối xuống nhanh hơn
nước ở đâu đổ xuống vai em
nón tai bèo làm sao che kín mặt
tấm ni lông làm sao cho khỏi ướt
ba lô đè lưng thiếu nữ mảnh mai
lá mục dầy trộn bùn nhão dưới chân
dễ lạc bước giữa rừng già nguyên thủy…
… không khí hoang vu lạnh như cõi chết
chỉ đồng đội bên nhau rải kín rừng già.
chia tay nhau lưu luyến ở Khe Ve
hơi thở dồn vượt đèo Phu La Nhích
phà Xuân Sơn bom rơi như không ngớt
và bạn tôi ngã xuống tại Lằng Khằng…(tr. 51)
“… đất với đá, thi thể người trộn lẫn
sau bom rơi không nhận được bạn bè
máu xương hòa cùng đất đá suối khe
biết mất người nhưng người không thể chết.(tr.59)
Từ gian khổ, mất mát đau thương, con người Việt Nam sáng lên vẻ đẹp kỳ vĩ trong những cái rất đỗi bình dị, sáng lên những “ân tình nghĩa cả” và đặc biệt nhà thơ khám phá cái đẹp, khám phá những giá trị nhân văn làm nên bản sắc Việt trong kháng chiến.              
Đơn vị tôi chịu trận bom đầu nơi trọng điểm Ta Lê
năm lượt B.52 bừa khi qua ngầm chật hẹp
chân chưa kịp khỏa trong nước mát
tiếng ì ì vọng đến từ xa
có tiếng hô: B.52! B.52!
rồi tiếng nổ chồng lên tiếng nổ
đất đá tứ tung, ngổn ngang cây đổ
cả vùng trời mù mịt khói bom
dứt tiếng bom, rũ bụi đứng lên
dồn đội ngũ lại hành quân tiếp
màu máu đỏ loang trên mặt nước
bước chân không dừng lại giữa đường…
… gian khổ tột cùng
mà tràn ngập niềm vui… (tr. 36-37)
Những nụ hôn ủ dưới lớp lá dày
không cơ hội được một lần bùng nổ
xe anh qua nghe hương anh trong gió
không kịp dừng để tay ấm trong tay (tr. 65)
Phát hiện thật thú vị về mùi hương của em và của anh: “hương thiếu nữ bị mồ hôi ngăn lối” (tr. 56) và “xe anh qua nghe hương anh trong gió/ không kịp dừng để tay ấm trong tay” (tr. 65). Dù ngoại cảnh gian khổ có che lấp đi, nhưng không thể nào che lấp được cái đẹp, tình yêu thương và những giá trị nhân văn. Đoạn thơ viết về mái tóc em đọng lại bao nhiêu yêu thương:
“mùa mưa kế tiếp mùa mưa
mái tóc em cứ ngày thêm thưa thớt
mái tóc ấy từng đen dài óng mượt
hoàng hôn về từng hong ở chân đê
hương bưởi, hương chanh thoảng gió trưa hè
khiến trai làng thả hồn vào mơ mộng
giờ ngồi đếm từng sợi dài tóc rụng
nghe thời gian trôi trong ẩm mốc rừng già
Trường Sơn ơi! Trường Sơn yêu mến của ta
khắc nghiệt làm chi cho em khổ cực
mưa làm chi để xe anh trượt dốc
vách đá gầy chặn đứng khúc đường quanh
bom như mưa vặt trụi cả thân cành
và chết chóc như lá rừng lả tả” (tr. 52)
Lê Quang Trang đã viết một bài ca lãng mạn về đất nước và con người Tây Nguyên hùng vĩ, nghĩa tình (tr. 72-73), đã viết bản hùng ca “cơn lũ” (chương 4) giải phóng miền Nam: “Bao năm trôi qua vẫn chưa hết lạ lùng/ trận chiến thắng đã đi vào lịch sử/ những đoàn quân tràn về như thác lũ/ bắt đầu từ gian khổ Trường Sơn”. Khởi đi từ Buôn Ma Thuột, “cơn lũ” tràn xuống Huế -Trị Thiên, vây phủ Đà Nẵng, cuốn phăng “Quy Nhơn, Tuy Hòa, Phan Thiết, Phan Rang”, vượt qua “lá chắn thép Xuân Lộc” tiến vào sào huyệt kẻ thù. Tôi có cảm xúc như đang đọc những trang hào hùng nhất của Bình Ngô đại cáo về những chiến công oanh liệt. Nhà thơ vừa tường thuật cặn kẽ chiến trận, vừa bình luận mối tương quan thế và lực, giữa ta và địch, làm bật lên sức mạch chiến tranh nhân dân; vừa để thơ nói hộ những cảm xúc tuyệt vời của người trong cuộc chiến thắng. Và Lê Quang Trang cũng viết những trang bi tráng về những con tàu không số (tr.107) và sự kiện Vũng Rô (tr. 111-112). Sự bi thương bao trùm cả bầu trời, và trong nỗi đau cao như vách núi, sự hào hùng vẫn ngời lên sắc đỏ. Nói như thế để nhận diện màu sắc thẩm mỹ và những cung bậc cảm xúc của trường ca là rất phong phú. Chính điều này làm nên giá trị thẩm mỹ của trường ca. Người đọc không thể tìm thấy giá trị ấy nếu săm soi câu chữ, vần điệu hay tìm tòi sự sáng tạo ở các yếu tố hình thức khác của thơ.
Chương 6: Chi nhánh/ chi lưu, viết về đường biển, đường không và đường tiền, cung cấp cho bạn đọc hôm nay nhiều thông tin mà không ít người còn chưa biết tường tận. Nhưng trên hết, tác giả muốn nói đến tài trí nhân dân, đến sức mạnh của chiến tranh nhân dân và những tấm lòng nhân dân vì Cách mạng và kháng chiến. Đó là thời đại của “những tấm lòng vì lý tưởng lớn lao/ rực sáng mãi trên bầu trời thanh khiết!
Sau sự kiện Vũng Rô ta gặp khó trăm bề, nhưng ta tìm ra phương thức mới: “chiến thuật mới theo thiên hà di chuyển/ rồi đột ngột chuyển làn vào cập bến/ địch bất ngờ nên khó thể tìm ra/…Lại những chuyến lên đường đến với những biển xa/ những chuyến hàng âm thầm ra tiền tuyến” (tr.113). Khi Mỹ buộc phải ngưng ném bom miền Bắc, ta đổi phương thức chuyển hàng gián tiếp, “theo biển tới Quảng Bình rồi đi tiếp Trường Sơn”; “hòa với biển ta công khai hoạt động”, lẫn trong dân, giấy tờ hợp pháp, “cũng lưới cụ như người dân đánh cá/ cũng chủ vựa, nhưng chỉ là chủ giả”… “người lái tàu là người dân yêu nước/ quy tụ về từ nhiều ngả quê hương”(tr.116). Và những chuyến hàng qua cảng Sihanoukville, qua phi trường Pochentong, “dưới những”mã” không thể nào phát hiện”.(tr.118) “hàng trăm hàng ngàn chuyến như thế đến và đi/…có cội nguồn từ nghĩa tình hữu nghị/…chung một kẻ thù, chung tình nghĩa anh em”.
“Đường tiền” là con đường kiếm tiền, tiêu tiền. “Đất nước còn nghèo phải chiu chắt từng đồng/ dồn vào chi viện miền Nam/…không một ai tính chuyện tơ hào…/ những tấm lòng vì lý tưởng lớn lao/ rực sáng mãi trên bầu trời thanh khiết!” (tr. 121). Khi gặp khó ta “lại trở về với trí tuệ nhân dân/ xây cơ sở ngay trong lòng địch/ những thương gia chính là mắt xích/ tiền qua đây chuyển đến, rút ra/ táo bạo hơn giữa đường phố xa hoa/ có ‘đại gia ‘trở thành cơ sở” (tr. 122).
Chương 7: (Hạnh phúc) là chương suy gẫm sâu sắc, nghĩa tình về hạnh phúc hôm nay. Những suy gẫm về ân tình nghĩa cả này đã trải khắp trường ca, giờ kết tinh lại thành tâm tình gửi cho ngàn sau. Nhà thơ trở về với góc nhìn của cá nhân trong tương quan với thời đại, với đồng chí, đồng bào, để khẳng định những giá trị của hạnh phúc. Hạnh phúc ấy lớn lao vì là sự đóng góp của những người mẹ, những anh, những chị đã gắn với Trường Sơn; của hai vạn người đã ngã xuống, và biết bao người gửi một phần thân thể, gửi cả tuổi trẻ ở Trường Sơn. Nhiều người giờ đang âm thầm chịu những “nỗi đau không nói được thành lời”. Hạnh phúc đầy nghĩa tình ấy khác rất xa với hạnh phúc cá nhân, hạnh phúc vị kỷ của con người vô cảm, thực dụng hôm nay.
Đi bên em tay ấm trong tay
thấy hạnh phúc về một thời tuổi trẻ
thấy tự hào đồng hành cùng thế hệ
được dấn thân với đồng chí đồng bào
được góp phần vào chiến thắng hôm nay
như lẽ phải và lương tâm kêu gọi
hạnh phúc lớn được đi cùng thời đại
trên con đường mà ta sinh ra.(tr. 129)
Viết trường ca, Lê Quang Trang sử dụng ba phương thức diễn ngôn: miêu tả hiện thực trải nghiệm, bình luận thế cuộc và bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc. Ngòi bút miêu tả của ông đạt được tính chân thực, mộc mạc nhưng tinh tế. Bút lực và cảm xúc thẩm mỹ dồi dào. Ông cũng bộc bạch được những gẫm suy và tình cảm sâu sắc, có sức thuyết phục. Đây là phần kết đọng khi người đọc gấp trang thơ lại. Tuy nhiên, những bình luận chính trị, những luận bàn thế cục của ông chưa thực sự sắc sảo, chưa nhiều đóng góp riêng. Điều này dễ hiểu bởi lúc ấy, Lê Quang Trang là người lính trẻ Trường Sơn, là nhà thơ, không phải nhà chính trị như nhà thơ Tố Hữu.
Đọc trường ca của Lê Quang Trang
Tôi thường sử dụng cách “đọc gần” (close reading) của Phê bình mới (New Criticism) để đọc thơ, nhờ đó có nhiều khám phá thú vị về thơ của các nhà thơ Việt Nam đương đại như thơ Nguyễn Quang Thiều, Trần Quang Quý, Đỗ Quyên, Văn Cầm Hải, Ly Hoàng Ly… Tuy nhiên cách“đọc gần” không giúp ích gì khi đọc trường ca của Lê Quang Trang. Nhiều chương, đoạn của trường ca Lê Quang Trang nếu đọc với tốc độ chậm, người đọc sẽ thấy câu thơ, hình ảnh, thiếu chất kết tinh, văn bản chỉ nặng về nghĩa thông tin. Đó là những câu chữ kể chuyện đời thường trong chiến tranh. Tác giả chú tâm bộc bạch suy nghĩ cảm xúc về những sự việc mình trải nghiệm hay quan sát được, trải lòng luận bàn thế cuộc. Người đọc rất khó tìm thấy những phẩm chất thơ độc đáo trên văn bản trường ca.
Nhưng nếu trường ca được đọc với tốc độ nhanh, bỏ qua câu chữ, thì hồn thơ sẽ hiện ra, mạch thơ tuôn chảy và khí cốt thơ xuất hiện, đủ sức gây ấn tượng về những điều tác giả miêu tả và suy tưởng. Có thể hiểu thế này, Trường ca của Lê Quang Trang miêu tả sự việc diễn ra trong hiện thực với tốc độ khốc liệt của chiến trường mưa bom bão đạn, với sự vận động không ngừng nghỉ của bao nhiêu con người trên rừng dưới biển, đối mặt với kẻ thù trăm phương ngàn kế, mưu ma chước quỷ. Nhịp của thơ là nhịp của cuộc chiến trên tất cả các mặt trận. Và vì thế người đọc phải có tâm thế người trong đại cuộc lịch sử những tháng năm kháng chiến, đặc biệt là tâm thế của người lính chiến trường, sống lý tưởng và gắn bó với nhân dân, dân tộc. Không có tâm thế này, thì không thể hiểu và cảm được thơ Lê Quang Trang.
Tất nhiên trong cả hai trường ca cũng có những đọan cần đọc chậm để cho cái đẹp của hiện thực, cái đẹp của văn chương và cái đẹp của tâm hồn nhà thơ thấm vào người đọc, lúc ấy cảm xúc thẩm mỹ mới thăng hoa:
“Không dễ dàng tả được cảm xúc của anh
người họa sĩ vùng cao lần đầu đến với bình minh biển
nắng lấp loáng như nghìn nghìn ngọn nến
cát trắng êm mát dịu dưới chân người
ngoài kia, nơi vòng cung gặp nhau giữa nước với trời
quả cầu lửa trồi lên từ đó
những con thuyền mong manh như lá lúa
dập dềnh theo nhịp điệu của niềm vui
trong không gian của Đất-Nước-Trời
anh căng mắt nhìn chân trời vô tận
tưởng tới đó đã là giới hạn
nhắm mắt nhìn lại thấy xa hơn.”(tr.83)
(Chương IV- Nhắm mắt nhìn xa – trường ca Biễn xanh vẫy gọi)
Trường ca của Lê Quang Trang được viết bằng “thi pháp” thơ thời chống Mỹ, nên công chúng sẽ rất dễ đồng cảm. Họ gặp lại những con người anh hùng của một sự nghiệp vĩ đại, sống lại những sự việc mà đến hôm nay, sau một nửa thế kỷ, dù soi ngắm ở góc độ nào, nhân loại vẫn thấy sự kỳ diệu của một dân tộc nhỏ bé khi tự mình tiến hành cuộc chiến tranh vệ quốc, đối mặt với kẻ thù sừng sỏ nhất của thời đại. Vẫn còn đó những người lính đã sống chết ở Trường Sơn, đã từng nhận chịu hậu quả thảm khốc của chất độc da cam; những cô gái đã gửi lại mùa xuân ở chiến trường…, những người anh hùng ấy sẽ thấy những hy sinh của mình thật xứng đáng với sự nghiệp chung của dân tộc.
Bạn đọc quen với những cách tân nghệ thuật sẽ khó nhận ra cái đẹp của thơ Lê Quang Trang, bởi cái đẹp không hiện lên ở hình thức ngôn ngữ, hay kiểu tư duy như ở thơ Siêu thực, kiểu cấu trúc của thơ Tân hình thức, cũng không có những đặc trưng của thơ Hậu hiện đại. Thơ Lê Quang Trang vẫn chảy trong dòng thơ ca cách mạng và kháng chiến “truyền thống”. Điều này không ảnh hưởng gì đến phẩm chất thơ hay. Nhưng tại sao Lê Quang Trang chọn cách viết thuần khiết mộc mạc, chân chất, và thơ lướt đi nhanh? Có thể nhà thơ hướng về công chúng trẻ hôm nay, thế hệ “lướt” web toàn cầu, thế hệ của tốc độ. Nhưng cũng có thể, cái đẹp của thơ kháng chiến là cái đẹp kết tinh từ chính sự chân mộc giản dị của đời sống và Lê Quang Trang muốn giữ nguyên đặc điểm thẩm mỹ này?
Viết trường ca khó không chỉ ở việc giữ cho được cảm hứng sáng tạo từ dòng thơ đầu đến những chữ cuối cùng của tác phẩm, còn khó ở chỗ, bề bộn bao sự việc, con người, bao điều muốn nói, nhất là khi tác giả có ý định tái hiện con đường lịch sử của một thời. Vấn đề cấu trúc tác phẩm trở thành mối bận tâm hàng đầu của nhà thơ. Bởi một tác phẩm, trước hết phải là một cấu trúc độc đáo. Ở phương diện này, người viết trường ca phải làm việc như một nhà văn kiến tạo tác phẩm. Lê Quang Trang đã cấu trúc tác phẩm của mình như thế nào?
Đầu tiên tác giả khai mở dòng chảy lịch sử. Con đường này được mặc định trong tâm thức người đọc mà không cần tác giả phải miêu tả lại những biến cố lịch sử theo tuyến thời gian. Trên con đường ấy, nhà thơ vừa đi, vừa dừng lại gặp gỡ những con người, chứng kiến những sự việc làm nên lịch sử. Con đường lịch sử là con đường hiện thực khách quan. Trường ca Trên con đường ấy, Trường Sơn, đã khởi đi từ Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954) đến ngày toàn thắng (1975). Trên con đường ấy, tác giả tả cận cảnh người lính Trường Sơn, những gian khổ của mưa nắng Trường sơn, dõi theo những con tàu không số, dựng lại “sự kiện Vũng Rô” và tường thuật trực tiếp “cơn lũ” giải phóng miền Nam từ Tây Nguyên đổ về Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng và sau cùng là chiến dịch Hồ Chí Minh.
Tuyến đường thứ hai của cấu trúc trường ca Lê Quang Trang là tuyến quan sát, nhận thức. Con đường này khởi đi từ chỗ mình đứng, ở thời điểm hiện tại, rồi lan tỏa ra xung quanh, nhớ về qúa khứ, hướng đến tương lai. Tất nhiên con đường này là con đường chủ quan mang phẩm chất riêng của Lê Quang Trang. Trường ca Biển xanh vẫy gọi” triển khai con đường này. Điểm nhìn “Bắt đầu từ căn nhà bé nhỏ của tôi…/Bắt đầu từ hai cháu nhỏ của tôi,…/ Bắt đầu từ em…”, khởi đi từ “Con hương lộ ngày nào, Con đường xuyên những cánh rừng, Con đường xuyên căn cứ”, mở rộng ra: “Nhìn đất nước thời đại mình đang sống” và: “Cũng như cánh rừng xanh/ ta lên đường đi tới/ biển xanh đang vẫy gọi/ những chân trời mở ra”. Từ điểm đứng ở căn nhà bé nhỏ của mình (tr.9), nhà thơ nhìn bao quát về Sài Gòn 300 năm (tr.18), về quận 7, khu đô thị Phú Mỹ Hưng, nhìn ra Cần Giờ, nhìn về những năm đất nước có chiến tranh (tr.39), và ngược về xa hơn thời Pháp xâm lược (tr. 86), gần hơn cuộc chiến đấu bảo vệ biển đảo tổ quốc (tr.101) rồi dõi theo con đường Việt Nam hội nhập toàn cầu hóa (tr. 129).
Con đường thứ ba ngược chiều với hai con đường trên. Hiện thực khách quan nhà thơ đã trải nghiệm, đã quan sát được, quay trở về tim, giúp nhà thơ hiểu thêm hiện thực khốc liệt, cảm nhận thấm thía những “ân tình nghĩa cả” và nhịp đập trái tim nhà thơ làm rung cảm mọi điều miêu tả. Trong trường ca, nhà thơ nhiều lần nói đến“ta hiểu” và mong muốn các thế hệ sau cùng đồng cảm với mình
“Ta hiểu thêm ánh mắt mẹ nhìn buổi sáng chia xa
Mẹ không khóc mà lệ tràn ướt má. (tr.129)
…Ai sẽ hiểu những nỗi đau nhức buốt
anh chị tôi và bạn bè tôi
gắn với Trường Sơn hàng chục năm trời
gắn với chiến trường tháng năm khốc liệt
từng đối diện nhiều lần cùng cái chết…”(tr.131)
(Trên con đường ấy, Trường Sơn)
Một cấu trúc đa tuyến, đa tầng, với nhiều điểm dừng, nhiều chi nhánh, chi lưu như vậy đã giúp Lê Quang Trang vừa phản ánh được hiện thực đất nước trong một thời gian dài và không gian rộng có chất sử thi, vừa khơi gợi và làm sáng tỏ được rất nhiều điều về tư tưởng, tình cảm trong một thế giới nhiểu loạn thông tin hôm nay.
Ở một tuyến khác, tuyến tâm thức, Lê Quang Trang muốn truyền lại cho thế hệ trẻ những giá trị của cuộc sống thông qua các giá trị của trường ca. Đó là giá trị lịch sử, giá trị đạo lý nghĩa tình và lý tưởng cao đẹp, giá trị của nhân cách và bản lĩnh Việt Nam. Điều ấy thật quý giá và đáng trân trọng giữ gìn.
“Nhớ ngày qua lại mong ước bao nhiêu
thế hệ mới thêm một lần trở lại
cùng chiêm nghiệm về một thời kỳ diệu 
cùng suy tư trên các nẻo rừng già
chuyện hôm nay hòa lẫn chuyện hôm qua
khơi gợi lại những ân tình nghĩa cả” (tr. 68).
Xin chúc mừng những thành tựu mới của nhà thơ Lê Quang Trang.
Chú thích:
(1) Phạm Thành Long: Lê Quang Trang và trường ca “Trên con đường ấy, Trường Sơn” - http://hoitruongson.vn/. 
5/7/2018
Bùi Công Thuấn
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Tản mạn về thời gian

Tản mạn về thời gian Ngày trôi, tháng trôi, đời trôi. Rồi đây cỏ cây úa tàn. Thời gian lướt trên màu tóc. Nhạt nhòa phấn son phù du. Hỡi n...