Thứ Năm, 29 tháng 10, 2026

 

Tình yêu Hà Nội của một hồn thơ xứ Quảng

Tế Hanh (1921-2009) là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền thơ Việt Nam hiện đại. Ông nổi danh từ trước năm 1945 với tập thơ Nghẹn ngào (1939) được giải Khuyến khích của Tự lực văn đoàn, sau đó là một trong 46 thi sĩ được Hoài Thanh – Hoài Chân giới thiệu trong tuyển tập Thi nhân Việt Nam. Sự nghiệp sáng tác thi ca hơn 70 năm của Tế Hanh gồm hơn 20 tập tác phẩm in riêng, 2 tuyển tập thơ cùng nhiều bài thơ dịch và một số tiểu luận phê bình văn học.

Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi muốn bàn riêng về một mảng đề tài đặc biệt trong thơ ông, đó là những bài thơ, câu thơ viết về tình yêu Hà Nội.

Nhà thơ Tế Hanh

Tế Hanh vốn nguyên quán tại làng Đông Yên, phủ Bình Sơn, nay là xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, đồng hương với hai thi sĩ lãng mạn nổi tiếng đương thời là Nguyễn Vỹ và Bích Khê. Từ 1936 đến 1945, ông học ở Huế và tham gia các công tác văn hóa, giáo dục của Việt Minh. Từ 1949 cho đến 1954, Tế Hanh ở trong Ban phụ trách Chi hội Văn nghệ Liên khu V. Sau hiệp định Genève 1954, ông tập kết ra Bắc, sống và làm việc ở Hà Nội cho đến cuối đời. Như vậy, cuộc đời Tế Hanh có hơn nửa thế kỷ gắn bó với Thủ đô. Từ nhà ông chỉ bước vài chục bước chân là ra tới hồ Thiền Quang Hà Nội, đó đã trở thành một nguồn cảm hứng dồi dào và liên tục trong thơ ông, từ những bài thơ của thập niên 50 cho đến những bài thơ cuối đời.

Nếu đọc các tác phẩm của Tế Hanh, có thể nhận thấy, một trong những chủ đề, đề tài nổi bật trong thơ ông chính là những thi phẩm thể hiện tình yêu quê hương đất nước, bên cạnh những bài thơ về tình yêu đôi lứa. Trong 4 bài được Hoài Thanh chọn vào Thi nhân Việt Nam đã có tới hai bài về quê hương là Quê hương và Lời con đường quê, trong đó bài thơ Quê hương hiện nay vẫn được đưa vào SGK Ngữ văn lớp 8: Làng tôi vốn làm nghề chài lưới/Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông/Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng/Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Sau này, Tế Hanh còn nổi tiếng với bài thơ Nhớ con sông quê hương (1956): Quê hương tôi có con sông xanh biếc/ Nước gương trong soi tóc những hàng tre/ Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè/ Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng/ Chẳng biết nước có giữ ngày giữ tháng/Giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi/ Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi/ Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ/Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ/ Sông của miền Nam nước Việt thân yêu.

Tôi có cảm giác rằng, với một trái tim đôn hậu và tha thiết như Tế Hanh, có lẽ ông cũng đã dành cho Hà Nội một tình yêu như quê hương thứ hai của ông. Hà Nội – Thủ đô của cả nước, trái tim của dân tộc không chỉ mang trong nó những vẻ đẹp đặc trưng mà còn là một biểu tượng về lịch sử và văn hóa. Chính ngay trong năm 1956 (cùng thời điểm ra đời bài thơ Nhớ con sông quê hương), Tế Hanh đã viết Bài thơ tình ở Hàng Châu với nỗi nhớ đắm say Hà Nội. Nỗi nhớ người yêu, người bạn đời của ông đã hòa chung cùng với cái tình của không gian quê hương xứ sở: Bàn tay nào đã dệt nỗi lòng anh?/ Tiếng mùa xuân đem sóng vỗ bên mình/ Vơ vẩn tình chăn chập chờn mộng gối/Anh mơ thấy Hàng Châu thành Hà Nội/Nước Tây Hồ bỗng hóa nước Hồ Tây/Hai chúng mình cùng bước dưới hàng cây.

Dường như với chuyến đi xa nào cũng vậy, trái tim thi sĩ luôn thao thức nhớ về Hà Nội thân yêu, nơi có một bóng hình phụ nữ đang ngày đêm trông ngóng, nơi có mùi hoàng lan mùi hoa sữa ngọt ngào trên những con đường quen, nơi có những mặt hồ thơ mộng với từng hàng cây in bóng. Bài thơ Nhớ về Hà Nội hôm nay được viết trong chuyến đi công tác ở Kavkaz tháng 10/1979 là một thi phẩm như vậy: Ở đây rét lắm em ơi/ Con chim én cuối đã rời về Nam/Đêm nghe gió rít quanh thềm/ Nhớ về Hà Nội của em vô chừng/ Cuối thu trăng vẫn sáng trưng/ Hoàng lan hoa sữa thơm lừng không gian/ Hồ Tây, Hoàn Kiếm, Thuyền Quang/Nước thu sóng sánh soi hàng mây bay/Nhớ về Hà Nội hôm nay/Cây me cây sấu có thay lá vàng?/ Con chim én đã về Nam/Giục anh trở lại cầm bàn tay em.

Nếu như bên trên, chúng tôi vừa giới thiệu hai thi phẩm viết về nỗi nhớ Hà Nội khi nhà thơ đang ở những phương trời xa xăm thì trong một bài thơ khác, tình yêu Hà Nội lại được thắp lên ngay chính giữa lòng Thủ đô, gắn với tình yêu đôi lứa, gắn với bóng hình của một người con gái yêu thương nay đã rời xa. Thi sĩ yêu từng góc phố, vườn hoa, từng bóng cây của Hà Nội. Và độc đáo hơn cả là yêu chính sự trống vắng của một bóng hình. Điều này đã mang đến một tứ thơ độc đáo và mới mẻ cho bài lục bát Hà Nội vắng em: Thế là Hà Nội vắng em/ Anh theo các phố đi tìm ngày qua/ Phố này ở cạnh vườn hoa/ Nhớ khi đón gió quen mà chưa thân/ Phố này đêm ấy có trăng/ Cùng đi một quãng nói bằng lặng im/ Phố này anh đến tìm em/ Người qua lại tưởng anh tìm bóng cây/ Anh theo các phố đó đây/ Thêm yêu Hà Nội vắng đầy cả em. Đọc đi đọc lại bài thơ, càng đọc càng thấy yêu thương cái tình bơ vơ ngơ ngác của người thi sĩ. Những tưởng bài thơ sẽ rơi vào bi lụy bởi sự chia cách giữa hai con người, không biết đến ngày nào gặp lại. Nhưng không, chàng thi sĩ đã biến nỗi trống vắng ấy thành thi vị, coi Hà Nội như một nhân chứng đầy hồn vía cho mối tình của mình. Thế nên, tình yêu với một bóng hình không còn gặp lại đã được chuyển vị thành tình yêu Hà Nội, yêu thêm mỗi góc phố hàng cây đã từng in dấu kỷ niệm của hai người.

Những năm tháng cuối đời, tình yêu Hà Nội trong hồn thơ Tế Hanh dường như được dồn về một nơi quen thuộc, thân thương, nơi mà hàng ngày nhà thơ có thể dễ dàng dạo bước. Đó chính là hồ Thiền Quang. Năm tháng qua đi làm tàn phai nhiều thứ. Chàng trai Tế Hanh thuở nào nay đã trở thành một lão niên. Cặp mắt sáng tinh anh ngày xưa bỗng bị mờ dần trong những năm cuối đời. Nhà thơ đã tự bạch về tình yêu với hồ trong chính nỗi niềm đó. Bài thơ chia làm hai đoạn, tương ứng với hai thời kỳ khác nhau trong cuộc đời: Tôi đi quanh hồ hàng nghìn cây số/ Bước tôi đi đo thử bước thời gian/ Trong đời tôi những vui buồn sướng khổ/ Hồ biết không, hỡi hồ Thiền Quang (…) Đi dò dẫm bên hồ từng bước/ Tôi thấy hồ như một khối mơ hồ/ Tôi biết hồ nhờ nghe qua hơi nước/ Đi bên hồ như bước giữa hư vô (Hồ Thiền Quang). So với những bài thơ viết về Hà Nội ở giai đoạn trước, ta thấy có sự thay đổi đáng kể về sắc thái, giọng điệu, nhịp điệu. Nếu như những bài thơ về Hà Nội ở giai đoạn trung niên sôi nổi, dạt dào, nhịp điệu lôi cuốn, thì cho đến bài thơ về hồ Thiền Quang, nhịp điệu thơ chậm lại, bùi ngùi ngẫm ngợi. Cùng với tình yêu cho Hà Nội vẫn vẹn nguyên, trái tim thi sĩ có thêm những suy tư về thân phận, về kiếp người. Ngôn ngữ thơ vì thế trầm lắng hơn mà cũng da diết, khắc khoải hơn.

Trong số những sáng tác của Tế Hanh có một phần không nhỏ những bài thơ viết cho thiếu nhi. Những bài viết cho thiếu nhi hầu hết có âm hưởng trong trẻo, tươi sáng. Và ở khu vực tác phẩm này, ta cũng thấy thấp thoáng hiện lên bóng dáng một tình yêu Hà Nội. Bài thơ Hai ông cháu và cái hồ được gợi cảm hứng từ chính hồ Bảy Mẫu trong công viên Lênin là một điển hình cho những sáng tác này: Cháu mới lên bốn tuổi/ Chưa biết biển bao giờ/Mẹ bảo: biển rộng lắm/ Nhìn xa chẳng thấy bờ/Ông đi khắp bốn biển/Trở về già mắt mờ/Chỉ còn nhớ mặt nước/Không nhớ rõ bến bờ/Một chiều sương ông cháu/ Dạo công viên Lê nin/Đến trước hồ Bảy Mẫu/Ông cháu cùng đứng nhìn/Mở to đôi mắt bé/Cháu ríu rít: Ơi ông!/Chỉ toàn nước là nước/Biển là đây phải không?/Mắt ông thoáng mây qua/ Như thấy mà không thấy/Ông ôm cháu cười xòa:/-Ừ, biển của cháu đấy/Trước hồ hai ông cháu/ Cả hai đều ngây ngô/Cháu cho hồ là biển/ Ông thấy biển như hồ.

Nhà thơ Tế Hanh đã đi xa tròn 10 năm. Những con phố, những hàng cây, những mặt hồ của Hà Nội không còn được thấy bóng dáng ông chầm chậm dạo bước mỗi ngày như thể muốn ôm ấp nâng niu bao yêu thương trìu mến. Thế nhưng tình yêu Hà Nội ông để lại qua những vần thơ sẽ còn lại mãi trong lòng bao thế hệ người đọc. Cùng với những thi phẩm về Hà Nội, những bài thơ tình nổi tiếng một thời như Vườn xưa, Bão, Con đường vẫn còn lắng đọng trong trái tim bao đôi lứa đã từng yêu đương, từng đắm say những khung trời kỷ niệm…

17/10/2019

Đỗ Anh Vũ

Nguồn: THV

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Nhà thơ Phạm Phương Lan: Xác tín lời ru

Ai cũng biết làm cả một tập thơ tình là rất khó, nếu không tinh, dễ bị lặp trạng huống, mô típ. Khâu tình là một nỗ lực của Phạm Phương Lan, hy vọng những mũi khâu đan của chị cho tấm thảm thơ, cho tấm thảm tình yêu… ngày càng đẹp lên.

Nhà thơ Phạm Phương Lan 

Cái tựa sách Khâu tình của Phạm Phương Lan quả khiến cho người đọc có một chút tò mò.

Tình của nàng ra sao nhỉ, nó “rách” thế nào, và cái sự khâu tình là lạ, nghe cũng có vẻ đa đoan rồi. Nàng khâu được không đây? Bởi, tình yêu không phải lúc nào cũng cơm ngon canh ngọt như người ta mơ ước, nhất là với những người đẹp, lại có cá tính mạnh mẽ?

60 bài thơ trong Khâu tình, chủ yếu là thơ tình; một đôi bài viết về mẹ, tình mẹ; một vài bài viết về mùa, mùa thu, vận khí của trời đất trong “thời tiết yêu”, nhiều mơ ước… Và ở đây, Phương Lan sử dụng khá nhiều thơ ngũ ngôn truyền thống, theo lối “thung thăng” kể dẫn và vần điệu, giàu nữ tính, nhiều cảnh ngộ, tình huống, buồn vui giằng xé trong những đợi chờ, nhớ nhung, thất vọng và hy vọng như là thuộc tính của người phụ nữ đa đoan, yêu thương diết dóng.

Nhưng thực ra, tình yêu ở Khâu tình không đến mức chao chát, “ngầu” và “phơi tông” như tôi tưởng ban đầu mà nó “da diết lành”, nữ tính và hồn hậu hơn; như Em & ngày không anh chẳng hạn: “Ngày không anh và gió/ Nắng hờn đôi môi xinh/ Tóc loà xoà sợi nhỏ/ Vương mắt nào long lanh”. Hờn một chút xíu thôi, với thi ảnh đẹp “Nắng hờn đôi môi xinh” và sau đó tự bộc bạch nỗi niềm tâm sự của mình trong bẫng lẫng trống vắng, dễ thương làm sao: “Em tâm hồn cỏ dại/ Em gót chân phố đông/ Lạc loài như cơn gió/ Giữa ngày hè không anh/ Lạc loài như cỏ dại/ Giữa phồn hoa thị thành”.

Thế mà anh không đến, thế là em lạc loài, dù đã “Hây hẩy tóc em thơm mùi tắm gội/ Nức những ái ân” (Thơm mùi tắm gội). Lại đây, một ngày không anh nữa nhưng là “Ngày mai không anh”, nghĩa là cái chưa đến, cái giả định của tình yêu, Phạm Phương Lan đã biểu lộ cảm xúc và trạng huống hiện tại của tương lai. Lúc ấy nàng thơ đang: “Khát cháy ruột gan/ Bờ môi khô vắng nụ cười vang/ Vắng nụ hôn nồng hương say cuồng dại/ Mái tóc mây sóng xoài thẫn thờ khờ dại”. Trong cảm giác cô đơn, trống rỗng vắng tình: “Em đi về phía ấy hương say/ Khật khưỡng ngày không anh/ Không tình yêu/ Không mây chiều/ Không lời hẹn hò, lả lơi luyến ái/ Không một sợi buồn vắt ngang cơn mưa rồ dại/ Chỉ có áng chiều rơi trên hai vai”. Đi mãi, đi mãi trong cái chiều tương lai lạ lùng, khát vọng và cô hoang ấy, đến nỗi: “Chiều nay/ Bờ môi vỡ rạn/ Hạn hán nỗi buồn, trống rỗng mi cay”.

Tập thơ “Khâu tình” của Phạm Phương Lan

Đến cả nỗi buồn cũng hạn hán, nhưng không khô héo đến tuyệt vọng, bởi có niềm tin tự tại và tiếp tục hy vọng: “Máu chảy mềm tim/ Em ở trong mình/ Ngực tràn hơi ấm/ Như lá hoa đón chờ làn sương ẩm”. Cái làn sương ẩm của tâm hồn, của tính nữ làm dịu đi “hạn hán nỗi buồn”! Chính vì có niềm tin yêu trong tình yêu, rộng lớn hơn là tin yêu vào tình người, mặc dù tình người trong xã hội đương đại cũng đang bị thách thức bởi sự vô cảm, bởi cái ác… làm băng hoại đạo đức xã hội ghê gớm; nhưng người thơ tự “trấn an” mình, tự ru cái sự lận đận, có màu sắc đa đoan, nhiều nếm trải của mình: “Ru tình nào sợi mây/ Ru đời làn môi ấm/ Ru ta thôi lận đận/ Vùi vào giấc mơ ngày./…/ Mi thèm giấc ngủ say/ Tóc thèm hương yên ấm/ Ta thèm mùa sâu đậm/ Giọt yêu thương vơi đầy” (Giọt yêu thương vơi đầy).

Cả đây nữa, dù có nếm trải cay đắng thế nào thì xác tín của lời ru, tức sự tĩnh tại và niềm tin vào cái tình, cái đẹp… thêm một lần được Phạm Phương Lan khẳng định rõ ràng hơn, mạnh mẽ hơn, mà vẫn “ngào ngạt” hương vị cuộc đời: “Ru tình nhé một đời ngào ngạt/ Ru mình nhé dẫu lòng tan tác” (Trầm tích không lời). Thơ tình Phạm Phương Lan nhiều ru, nhiều say, nhiều mùa bảng lảng, nhiều thảng thốt của trái tim dịu dàng, ẩn giấu “trầm tích” nữ hơn là sự “dấn thân” bạo liệt. Nói thế, không phải Phạm Phương Lan thiếu mạnh mẽ, thiếu nhiệt năng bùng cháy của tình yêu, và đây là một hiển lộ như vậy: “Em muốn là con sóng/ Vùi giấc ngủ mệt nhoài/ Sau đêm tình bỏng cháy/ Ai cứ cười mặc ai” (Tình ơi tha thiết).

Ai cũng biết làm cả một tập thơ tình là rất khó, nếu không tinh, dễ bị lặp trạng huống, mô típ. Khâu tình là một nỗ lực của Phạm Phương Lan, hy vọng những mũi khâu đan của chị cho tấm thảm thơ, cho tấm thảm tình yêu… ngày càng đẹp lên.

19/10/2019

Trần Quang Quý

Nguồn: Lời tựa tập thơ Khâu tình

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Nhà văn Trần Nhã Thuỵ: Ngồi giữa đời mà hát

Trần Nhã Thuỵ khởi thảo Hát vào năm 2008, tức là không lâu sau khi ra mắt cuốn tiểu thuyết đầu tiên Sự trở lại của vết xước. Nếu ở cuốn thứ nhất, Thuỵ có từng tâm sự, đại ý rằng, “… không biết [tác phẩm] là tới đâu nhưng mình nghĩ sẽ được nhiều người chia sẻ”, thì với Hát, Thuỵ đã làm được nhiều hơn thế…

Nhà văn Trần Nhã Thuỵ

Ngồi giữa đời mà hát? Hay đứng giữa chợ đời mà hát? Hát cái gì? Và hát cho ai? Với tiêu đề đầy tính ẩn dụ, cuốn tiểu thuyết mới của Trần Nhã Thuỵ bàng bạc những câu hỏi lớn về cuộc đời chúng ta đang sống.

Khởi đi từ câu chuyện một người đàn ông trung niên ở Sài Gòn lặn lội ra đất Bắc tìm học nghệ thuật đàn ca nơi hai mẹ con đào nương ca trù, mà vào thời Nguyễn Tuân gọi là hát cô đầu, tiểu thuyết Hát dự báo một cuộc phiêu lưu thú vị vào thế giới gập ghềnh mà mỗi phận người chứa đựng một bi kịch ngổn ngang. Nhưng Kỷ, nhân vật chính, học hát không phải để thỏa mộng đàn ca, mà đó chỉ như là một cái cớ, qua đó kết nối với cuộc đời của hai mẹ con ca trù Xuân Nương, và những cuộc đời khác cũng đang hát lên câu chuyện của riêng mình.

Họ hát trên đống hoang tàn của cõi lòng, như thơ của Hoàng Hưng “Có bao nhiêu nát tan/ Đội lên đầu mà hát” được chọn trích dẫn trong phần đề từ tác phẩm.

Kỷ được khắc họa như một dạng sống mòn thời hiện đại, hay chết mòn cũng thế thôi. Ngày từng ngày, cứ lăn đi như một viên sỏi giữa tiếng lạo xạo của cuộc đời mênh mông; giữa sự phi lý của đời.

Với kỷ, cuộc đời chỉ dài ra, già đi chứ không có con đường. Làm kỹ thuật ở Viện Giống, thôi việc, rồi trôi nổi qua những công việc bất định. Dịch sách. Môi giới bất động sản. Tham gia các dự án được bày nên của kẻ khác… Mà không có mục đích. Ngày hôm nay là phiên bản của hôm qua. Ngày mai kia được nhắc lại bởi những gì đã diễn ra hôm nay. Những đoạn lập lại trong sách là ý nghĩ lẩn quẩn của Kỷ, là sự lẫn lộn về cảm thức thời gian, về những người xung quanh mà Kỷ đang sống với. Hình ảnh người má của Kỷ cũng là một dạng thức khác của cảm thức thời gian ngưng đọng, chứ không đơn thuần là biểu hiện bệnh lẩm cẩm của tuổi già.

Cuộc đời tồn tại như cách chúng ta nhìn thấy. Người đọc nhận ra, bên cạnh Kỷ đang vỡ nát, đang gặm nhấm bao nỗi phi lý là những phận người luôn lạc điệu với cuộc sống. Dũng xào nhạc, ông già nhạc sĩ hết thời sau một biến cố,… Bên cạnh những tâm hồn lạc điệu, những kẻ thức thời cũng không khá hơn. Ông thức giả ma mãnh. Sinh – sáng lập viên của bao dự án lớn lao nhưng rốt cuộc cũng chỉ như trò hề, ẩn chứa những màn lừa đảo ngoạn mục… Hay Hoàng, một tay chơi.

Nếu xem rằng, âm nhạc là “concept” (ý tưởng) của cuốn tiểu thuyết thì Hát là một dòng chảy xuyên suốt trên nền ý tưởng đó. Đắm trầm trong cõi nhân luân, thay vì đau đời, bất đắc chí, người ta đã hát lên. Hát ru mình và hát ru đời. Suy cho cùng, hát là một cách thế sống.

Kỷ là một nốt trầm trong bản tấu khúc vĩ đại của cuộc đời. Kỷ đã hát cho đời nghe, cứ ngỡ đời cũng đáp lại. Vậy mà không. Thế nên trong Kỷ mới có cảm thức ảo thanh, luôn mơ hồ nghe thấy ai đó gọi mình, hát cho mình. Nhưng không. Đó như tiếng gọi đò, chỉ nhìn thấy con đò mà vắng bóng người đưa khách sang sông. Đó là một cảm giác vỡ mộng, không đơn thuần là sự thất vọng, một căn bệnh sinh lý.

Trong Hát, các dạng thức âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn được nhà văn vay mượn để thể hiện “concept” hay ý đồ của mình. Đó là ca trù, nhạc đương đại… Nhưng người đọc còn có thể nghe thấy bao tiếng đời, âm thanh tự nhiên của cuộc sống vọng vào, qua sự cố ý sử dụng ngôn ngữ quảng cáo, ngôn ngữ mạng xã hội, ngôn ngữ đường phố… Thanh âm đời đa tạp như nó vốn thế. Và cả ngôn ngữ tín hiệu, với hình ảnh nước dâng đầy, tính phồn thực của cơ thể người phản ánh sự dư thừa vật chất, nặng về lạc dục… trong một xã hội tiêu dùng đang khủng hoảng niềm tin và những giá trị đạo đức.

Và dù không rõ ràng lắm, nhưng Hát còn thấp thoáng ngôn ngữ của nghệ thuật tuồng, tức dạng thức nghệ thuật mà tính chất của nhân vật được ước định qua lối hóa trang, tính báo trước qua hình thức bên ngoài. Tốt – xấu nhìn vào là biết ngay. Trong Hát, đó là cách phác họa các nhân vật như Sinh “sách”, Thạo “phong thủy”… Ngay cả số phận của cô gái ca trù Xuân Nương cũng vận hành theo lối đó, với cái kết cục vẫn mang dấu ấn của thuyết “hồng nhan bạc phận”…

Cũng nên nhắc lại sự thể hiện nhân vật Kỷ, một lối đặt tên cũng mang tính ẩn dụ nốt. Kỷ cần một sự ngầm hiểu. Phải là Tri, hợp thành một đôi tri kỷ thì mới “gặp” được nhau. Còn không, dù có gần nhau, chia sẻ, thương và yêu nhau, như Lý và Kỷ, cũng không thể “gặp” nhau. Điều đó được hàm dụ bằng cách người này hát mà người kia không nghe, bởi không gọi đúng tần sóng thanh của tâm hồn. Bởi mỗi người là một tiểu vũ trụ. Vẫn có những góc khuất của người cùng sống với mà kẻ còn lại chỉ như người qua đường, hay qua đò…

Trần Nhã Thuỵ viết Hát trong bối cảnh xã hội có nhiều biến động, có thể nói là đáng kể, thực sự là mảnh đất cho loại hình tiểu thuyết trỗi dậy, trong vòng một thập kỷ qua. Đó là sự đổ vỡ ý thức hệ, sự hủ hóa, sa đọa của lớp quan quyền, nạn tham nhũng đến mức bạo phát bạo tàn, sự phân hóa ghê gớm giữa giàu và nghèo, sự va chạm dữ dội giữa các nền văn hóa vào thời mở cửa… đẩy những phận người bé con vào ngõ cụt vô phương cứu vãn. Trong Hát, sự mất tích của cô gái ca trù Xuân Nương vào quãng đời xanh non tươi đẹp, tràn trề nhất đã để lại một dấu hỏi lớn trong lòng người về thực tại cuộc đời chúng ta đang sống. Nó có ý nghĩa như một dấu lặng trong một đoạn nhạc. Không cần lời đáp. Chỉ có hát lên. Hát để ru mình và ru đời.

Trần Nhã Thuỵ khởi thảo Hát vào năm 2008, tức là không lâu sau khi ra mắt cuốn tiểu thuyết đầu tiên Sự trở lại của vết xước. Nếu ở cuốn thứ nhất, Thuỵ có từng tâm sự, đại ý rằng, “… không biết [tác phẩm] là tới đâu nhưng mình nghĩ sẽ được nhiều người chia sẻ”, thì với Hát, Thuỵ đã làm được nhiều hơn thế. Một cuốn sách được viết nên bởi một người luôn trăn trở với nghề, luôn u hoài về một tác phẩm nghệ thuật đúng nghĩa, có chất; được viết vào quãng tuổi đời, tuổi nghề sung sức và chín nhất, lứa tuổi bốn mươi. Và được viết nên từ tâm trạng hoang mang, vỡ mộng. Vỡ mộng về một khung trời đại học, về xã hội, nhân tình thế thái trong buổi giao thời… mà vẫn còn đó những biểu hiện giống như thời Vũ Trọng Phụng viết Số đỏ. Không khó để người đọc nhận ra điều đó trong Hát.

Chính bởi thế, khi những người bạn văn cùng thế hệ đọc tác phẩm của nhau, đó không chỉ đơn thuần là việc tiếp nhận một cuốn sách.

19/10/2019

Trần Văn Thưởng

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Đêm trải lòng với thơ Tô Minh Yến

Đêm phố. Tôi ngồi trong căn phòng vắng ngẫm nghĩ chuyện đời, chuyện thơ và trải lòng với tập thơ Đêm gạ lòng với phố (Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2016) của nhà thơ Tô Minh Yến. Lần đầu tiên đọc thơ của Tô Minh Yến, tôi bị lôi cuốn bởi giọng thơ trữ tình đầy nội lực với những bài thơ thể hiện tâm trạng giằng xé giữa khổ đau và hạnh phúc, giữa nỗi niềm nhân thế và khát khao giao hòa với tình yêu, hướng đến chân trời khát vọng.

Nhà thơ Tô Minh Yến

Không phải ngẫu nhiên, một tập thơ 61 bài nhưng có đến hơn 25 lần tác giả trực tiếp đề cập đến hình tượng bóng đêm trong nhiều bài thơ: Lòng đêm, ngực đêm, đêm mơ màng, đêm rơi, đêm rỗng, đêm rất mật, đêm sột soạt, choàng đêm, đêm gối đầu đêm, tựa lòng vào đêm, choàng đêm, đêm rỗng… Đối với Tô Minh Yến, hình tượng đêm trong thơ của chị không chỉ là biểu tượng của bóng tối mà còn là “không gian” bao bọc, bủa vây khi con người ở giữa bóng đêm. Hình tượng đêm còn là đối tượng để tác giả nương trú, thổ lộ và chia sẻ những điều thầm kín trong tâm trạng, cõi lòng của một người đang yêu. Giữa bóng đêm, nhà thơ đối diện với bản thể chính mình để nhận ra những mặt đối lập và ẩn khuất:

“Đêm gạ lòng với phố

Trăng bước trượt sau hiên

Em che mình bằng nhớ

Vẫn nhu mì tròn nguyên”

(Đêm gạ lòng với phố)

“Đêm rơi

Đặc quánh nỗi buồn

Ta muốn khuấy loãng không gian

…ngột ngạt

Đêm thức với đêm

Bằng cảm xúc rỗng…”

(Đêm rỗng)

Hầu hết những bài thơ trong tập thơ Đêm gạ lòng với phố đều là thơ tình yêu. Thơ tình của Tô Minh Yến mạnh mẽ, bạo liệt và thể hiện bản lĩnh của người phụ nữ dám yêu và dám sống hết mình, tận cùng với tình yêu. Mối giao hòa về tình yêu trong thơ của Tô Minh Yến vừa mang vẻ đẹp thăng hoa của bản năng sống vừa hàm chứa sự thiêng liêng, bí ẩn:

“Em ngồi xếp lại lá thu trong rừng nhớ

Tự thắp lửa lòng sưởi ấm những đêm đông”

(Xin da diết một lần yêu)

“Dẫu cho đi hết ngọt ngào

Vẫn không cạn được những khao khát đầy.”

(Lát mùa)

Tập thơ Đêm gạ lòng với phố của Tô Minh Yến

Từ Anh trong thơ Tô Minh Yến được viết hoa, mang biểu tượng của ánh sáng, của sức sống, tương phản với bóng đêm lạnh lẽo, u tối:

“Những ngày không anh cơn mưa đời bỏng rát

Bóng em khô hạn giữa thanh xuân”

(Nỗi nhớ xâu thành tràng hạt)

“Nhốt tình em ôi thiên sứ mù lòa

Mặt trời khát cháy thiêu mùa thiếu nữ

Nguyên khôi dòng suối nghẹn

Cựa mình mây gió dậy men

Ngùn ngụt lửa

Cháy đêm!”

(Mùa thiếu nữ đã tràn lên đỉnh nhớ)

“Sài Gòn thiếu một cái tên thành xa lạ

Em về nhặt lá xếp bùa yêu”

(Sài Gòn trở gió)

Thơ của Tô Minh Yến có sự hòa quyện giữa vẻ đẹp si mê, đắm đuối của tâm hồn thi sĩ và cái đa đoan, trắc trở, chìm nổi với nhiều nỗi niềm trong tâm hồn của một người phụ nữ:

“Giọt trời đếm hạt đánh rơi

Xâu vào mắt ngọc che đời đa đoan”

(Điều không thể)

“Niềm tin đặt sâu vào tâm bão

Vớt bình yên mà sóng gió cuộn trào”

(Treo nụ cười ngang ngã rẽ lòng anh)

Nhà thơ Tô Minh Yến đang hăm hở, quyết liệt trên con đường sáng tạo để khám phá bản thể chính mình và bí ẩn của tâm hồn con người, sự vật. Hầu hết các bài thơ trong tập thơ Đêm gạ lòng với phố của chị là thơ tự do, cấu trúc câu thơ vặn xoắn, lệch chuẩn về phong cách ngôn ngữ, mạch thơ đứt đoạn, nhảy vọt về ý tứ. Thơ của chị có sự giằng xé giữa vẻ đẹp cân đối, hài hòa của thơ truyền thống và sự phá cách về ngôn ngữ của thơ hiện đại. Một số bài thơ của Tô Minh Yến chủ yếu tập trung khắc họa diễn biến, sắc thái, cung bậc cảm xúc, tâm trạng của chủ thể trữ tình mà chưa tạo được sự lắng đọng về chiều sâu ý tứ và sự ám ảnh của hình tượng đối với người đọc. Tuy nhiên, qua tập thơ Đêm gạ lòng với phố, gương mặt thơ Tô Minh Yến đang dần hiện rõ vừa góc cạnh, vừa ấn tượng, không hề lẫn với những chân dung thơ của các nhà thơ nữ Việt Nam đương đại.

Mỹ Tho, 19/4/2018

Võ Tấn Cường

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Nhà văn Lê Văn Nghĩa: Khi ký ức được hồi phục

“Sài Gòn khâu lại mảnh thời gian” của Lê Văn Nghĩa sẽ tiếp tục vén mở một phần quá khứ mà nhiều người chưa biết tới.

Nhà văn Lê Văn Nghĩa

Trong những văn hữu cùng thế hệ với chúng tôi – những người ở độ tuổi đôi mươi trực tiếp chứng kiến bước ngoặt lịch sử của xã hội miền Nam năm 1975, Lê Văn Nghĩa là một trường hợp đặc biệt.

Khi Sài Gòn đổi thay chế độ chính trị, nhiều người trong chúng tôi vốn từ miền Tây hay miền Trung đến đây trọ học, chỉ mới làm cư dân thành phố được năm ba năm, bàn chân chưa gột rửa hết bùn đất quê nhà cũng như chất nhà quê còn in đậm trong cách sống và cách nghĩ. Một số người khác theo gia đình vào Nam từ cuộc di cư năm 1954, sống ở Sài Gòn lâu hơn, nhưng tâm thức vẫn có chỗ neo đậu hoài tưởng là “đêm giã từ Hà Nội” và “chuyến tàu trên sông Hồng”. Lê Văn Nghĩa thì khác, ông là người Sài Gòn chính hiệu, từ thuở ấu thơ đã bước đi trên hè phố nhộn nhịp một đời sống đô thị phồn hoa.

Nhưng kể ra những người cùng thế hệ lớn lên ở Sài Gòn rồi cầm bút viết văn như Lê Văn Nghĩa không phải là hiếm. Lê Văn Nghĩa đặc biệt vì ông là người Sài Gòn mà tỏ ra hờn tủi, bất bình với xã hội từ rất sớm, thời học sinh đã phải đi tù Chí Hòa và Côn Đảo vì tinh thần phản kháng đó. Có thể nói, tuổi trẻ Lê Văn Nghĩa đã nhìn Sài Gòn bằng cái nhìn khác với nhiều người cùng hoàn cảnh, mặc dù lúc đó ông chưa có điều kiện để thể hiện rõ điều này trên trang viết.

Theo lẽ thường, khi nhập cuộc vào thế giới văn chương, báo chí của một Sài Gòn đã thay đổi, những người như Lê Văn Nghĩa, nếu không định kiến với Sài Gòn hôm qua, thì ít ra cũng thờ ơ, lãnh đạm với nó. Vậy mà, với “Sài Gòn khâu lại mảnh thời gian”, tạp bút của Lê Văn Nghĩa, NXB Trẻ – 2018, ta thấy ngòi bút của ông vẫn giữ sợi dây liên lạc tinh thần với cái thành phố từng chịu nhiều đắng cay, tủi nhục. Cách lý giải quen thuộc và dễ được chấp nhận nhất là có “Sài Gòn bề mặt, Sài Gòn bề sâu”, “Sài Gòn nhìn lâu đẹp lắm”, hay như cách miêu tả dễ dãi của một nhà văn hóa qua ẩn dụ “sen và bùn”.

Dù Lê Văn Nghĩa viết một cách cẩn trọng và dè dặt rằng Sài Gòn hồi đó “có lắm điều hay và không ít cái dở nhưng tất thảy đều đáng yêu”, ta vẫn thấy chủ ý của nhà văn ở cái nhìn công bằng, thỏa đáng. Bởi vì điều dở hay điều hay nơi xã hội và con người đâu phải một sớm một chiều mà ta nhận ra ngay. Phải kinh qua sự trải nghiệm, so sánh với những đối trọng, ta mới nhận ra và thấy nó là “đáng yêu”. Một tình yêu đích thực có khi chỉ được xác nhận bằng sự đối chiếu với tình yêu giả hiệu.

Những tác phẩm gần đây của Lê Văn Nghĩa – cả truyện ngắn, truyện dài và tạp bút – được thành hình từ một sự hồi phục của ký ức, ký ức cá nhân hòa trong ký ức cộng đồng. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả xem cuốn sách này như kết quả của việc khâu vá lại những mảnh thời gian, qua đó mà khâu vá lại chính tâm hồn mình. Những mảnh ghép hồi cố chân thành mà không ủy mị đó thoạt nhìn có thể rời rạc, phân tán, nhưng liên kết lại sẽ cho ta một bức tranh về Sài Gòn ngày cũ, Sài Gòn của thời niên thiếu Lê Văn Nghĩa.

“Sài Gòn khâu lại mảnh thời gian” của Lê Văn Nghĩa

Thể loại phi hư cấu pha trộn giữa chất văn học và chất báo chí mà cuốn sách này vận dụng không chỉ nương nhờ kỷ niệm của người viết mà còn đòi hỏi một cung cách khảo sát, chọn lọc và khai thác tư liệu. Chỉ cần đọc một vài chi tiết đời thực mà tác giả nhặt ra, ta cũng có thể cảm nhận chiều kích của xã hội và tâm hồn người Sài Gòn. Thật thú vị, nhờ Lê Văn Nghĩa, ta mới biết có cuộc tranh luận không ngã ngũ về việc nước mắm nên đựng trong chai hay trong tĩn, biết Hội đồng Đô thành đã từng đề nghị đặt tên đường Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1974, biết người dân Sài Gòn đã hưởng ứng lời kêu gọi của báo Tin Sáng công khai quyên góp cứu trợ đồng bào miền Bắc bị trận lũ lịch sử năm 1971.

Văn chương không nên tìm cách bóp méo chân dung thật của Sài Gòn mà cũng không cần gieo rắc ảo tưởng về một Sài Gòn hoàn mỹ. Chiến tranh như thế, nghèo đói như thế, Sài Gòn chỉ cần gắng sức tồn tại mà không đánh mất mình đã là đáng quý. Sài Gòn là như vậy đó, không cần tìm cái đẹp ở đâu xa: chỉ là hương vị bánh mì trong gánh hàng rong, là vóc dáng thiếu nữ duyên dáng trên chiếc xe Solex, là cái đĩa hát nhựa mà người yêu nhạc cố công sưu tầm và gìn giữ…

Thế hệ chúng tôi bây giờ tập điềm tĩnh, thanh thản nhìn thời gian cuốn trôi đi những dấu tích của ngày hôm qua. Trăn trở, bức xúc, trách móc bao nhiêu cũng không cứu được hình hài của thương xá Tax hay hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng. Mình cũng không phải là cái máy hát quay mãi những vòng hoài niệm. Là người cầm bút, chúng tôi chỉ có tiếng nói. Và tiếng nói của mỗi người rồi sẽ được vọng âm và hồi đáp của những ai không hề thấy phí công khi đi tìm trong chữ nghĩa chút công bằng với lịch sử.

Mấy năm trước, đọc “Mùa hè năm Petrus” của Lê Văn Nghĩa, tác giả “Nỗi buồn chiến tranh” nhận thấy đó là một tác phẩm “tươi sáng, trong vắt mà cảm động, chan chứa tình hữu ái, lòng mến thương, sự dịu dàng của tuổi hoa niên”. Không phải là người quá xa lạ với miền Nam, Bảo Ninh vẫn ngạc nhiên về một học đường mà “các thầy giáo lại là những nhà trí thức mẫu mực đáng kính, thông tuệ và nhân hậu nhường ấy, tạo tấm gương sáng và để dấu ấn sâu sắc bền lâu trong tâm khảm, tâm tính, lối sống, lối nghĩ của học trò đến như vậy”. Và ông liên tưởng đến “lời chiêm nghiệm sâu sắc, tuyệt hay và khác thường” của nhà văn Nguyễn Minh Châu: “Những điều thực sự mới mẻ, thậm chí mới mẻ nhất xuất hiện trong đời sống và cả trong văn học lại thường đến từ những miền quá khứ không hề được biết tới”.

Cuốn sách mới này của Lê Văn Nghĩa cũng như nhiều tác phẩm về Sài Gòn ra mắt gần đây, sẽ tiếp tục vén mở một phần quá khứ mà nhiều người chưa biết tới.

20/10/2019

Huỳnh Như Phương

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Nguyên Sa

Nhà thơ Nguyên Sa không chỉ đem đến cho thơ ca miền Nam và thi ca tiếng Việt nói chung của nửa sau thế kỷ XX một giọng trữ tình mới mẻ, nồng hậu, thừa thãi xúc cảm và rúng động, không hề chủ trương chừng mực, mà còn là người sớm cách tân thơ từ tâm thức hiện sinh nóng bỏng nỗi lo âu của đời sống đương thời.

Nhà thơ Nguyên Sa

Rất ít tiếp nhận những ảnh hưởng thi ca tượng trưng hay siêu thực của thế giới kể từ cuối thế kỷ XIX tới nửa đầu thế kỷ XX, thơ Nguyên Sa là dòng chảy tự nhiên hướng tới sự nhuần nhị, từ một vài lối thi tứ Đông phương kết hợp với lối tạo hình ảnh trực quan, “vật thể hoá”, ý tưởng hoá, tiến xa khỏi ngôn ngữ ước lệ cổ thi hay cảm quan hiện đại khởi đầu của các nhà thơ tiền chiến, như một cách thức tự nhiên bộc lộ tâm thế trong trẻo hồn hậu và những tổn thương chưa từng có của con người Việt Nam trong thời cuộc mới.

Nguyên Sa chủ trương sáng tạo thi ca thoát khỏi đơn vị “âm vận” để đạt tới lối thơ tự do, bao hàm nhạc điệu nội tại tuôn chảy nhờ vào ám ảnh và những vận động riêng của tâm thức nhà thơ. Cũng trong quá trình này, sự đổi mới về mặt hình ảnh cũng như ý tưởng đồng thời xảy đến, phần nào ngoài tầm ý thức của nhà thơ, như một bước chuyển hoá tất yếu của thế giới thơ.

* * *

Bài thơ đầu tiên được công bố rộng rãi của Nguyên Sa, “Tiễn biệt”, viết năm 1953. “Paris” và “Paris có gì lạ không em” viết năm 1954, 1955. “Nga”, “Nga đầy ắp Paris là bài thơ tình đầu tiên” năm 1955. Nhưng có thể xem sự nghiệp thơ Nguyên Sa chính thức được khởi đi từ năm 1956, khi ông từ Paris trở về miền Nam Việt Nam. “Thơ tình của những ngày tháng hôn nhân đến trước thơ tình tuổi học trò”. “Áo lụa Hà Đông, Tuổi mười ba, Tháng Sáu trời mưa, trình làng ở Sáng Tạo những năm 56- 57” (Theo Hồi ký Nguyên Sa). Viết lại những bài thơ tình, kể từ thơ tình học trò hay những hồi ức ở thời điểm quan trọng khác, ít phụ thuộc vào thực trạng và tuổi tác người viết hiện tại, với một bút pháp nhuần nhị, tương đối ổn định, là biểu hiện sự trưởng thành về mặt ý thức nhà thơ.[1]

Nguyên Sa là một trong những giọng thơ đầu tiên, sớm nhất khơi nguồn dòng chảy thơ miền Nam (thơ miền Nam như một cách định danh mang tính chất văn học sử chứ không thể hiện tính khu biệt về địa lý). Vừa tiếp nối những giá trị của thơ tiền chiến: giải phóng khỏi lối cảm xúc ước lệ, mô tả thế giới trong hiện thực trực quan, bước đầu khám phá thế giới của tiềm thức và giấc mơ, nhưng đồng thời cũng tạo ra khoảng cách đối với dòng thơ tiền chiến bằng những giá trị riêng biệt, ngay khi các vị chủ suý của dòng thơ ấy vẫn còn tiếp tục đồng hành trên thi đàn, như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng…

Thoát khỏi một kiểu chủ thể phiếm định nhân danh các giá trị tinh thần của đời sống Trung đại (nho phong, lãng tử, nhân nghĩa, chí khí, mệnh bạc, chinh an, viễn xứ…) các nhà thơ tiền chiến mặc lòng khơi ngỏ thế giới đầy hương sắc thi vị của xúc cảm và rúng động, nhất là trong luyến ái hay những lãnh địa phiêu bồng của giác quan: say, điên, mơ… Nhưng ngay cả khi để lại dấu tích cá nhân hay cố gắng cá nhân hoá con người trong thi ca, nhà thơ tiền chiến vẫn chưa dời xa khỏi việc bộc lộ con người thi ca căn bản bằng những biểu hiện ước lệ.[2]

Con người thi ca được cá nhân hoá tối đa,[3] gắn liền với thể trạng, tâm tính, biến cố, tri thức, vận mệnh của người làm thơ trong những mối liên hệ với thời đại, sớm xuất hiện trong thơ miền Nam từ những năm cuối thập kỷ 1950.

“Con người ấy” đem cả những hoang mang thời cuộc, dưới góc độ cá nhân, hay những sự kiện riêng tư vào thơ.

Vì thế, nói đời thơ Nguyên Sa trực tiếp gắn liền với thời kỳ ông sống và viết ở miền Nam, và từ sau 1975 trở đi, ở hải ngoại, là nói tới một tâm thức sáng tạo nảy nở từ chính miếng ăn, hơi thở, từ tồn tại bao gồm cả con người sinh vật, con người thời cuộc và con người tinh tuý… để làm thành thi ca.

Con người trong thơ miền Nam không chỉ có luyến ái và những rúng động tinh khiết hay đau thương cao quý như thời kỳ thơ tiền chiến, mà còn là con người yếu lòng, thất bại, bi thảm hay hàm chứa bản năng sinh vật. Nghĩa là con người với “tính người” rộng lớn hơn.

Ngay từ những bài thơ tình của thời kỳ đầu thơ Nguyên Sa, như “Áo lụa Hà Đông” ra đời vào tháng 5- 1957, “Mưa tháng Sáu”…, nhà thơ đã bộc lộ con người cá nhân yêu đương và chứng nghiệm một cách dốc lòng, cuồng phóng, không hề ý thức về bất cứ một giới định nào, đan xen không phân biệt với con người luôn thảng thốt, hồ nghi, tự vấn về tồn tại. Đó là hai mặt của cùng một bản thể đã bị tước mất nơi trú ẩn về tâm tưởng, tước mất cảm giác hài hoà yên ổn của lòng tin vào cái bền vững, có thực, bản thể chênh vênh, vô hướng, bị đe doạ và dồn đuổi đến những giới hạn.

Khởi đầu là không gian tâm tưởng thuần khiết mang những dấu ấn thực tại:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát / Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông / Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng…

Thoạt tiên câu thơ tưởng như chỉ là lời xưng tụng thi vị hoá.

Nhưng chưa ai thực hiện cú ẩn dụ lạ lùng bằng địa danh như Nguyên Sa. Không phải địa danh phiếm chỉ, nhằm nói sự chia cách trong luyến ái (Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông / Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào – Nguyễn Bính), ý nghĩa địa – văn hoá có thực của “Sài Gòn” hay “Hà Đông” khiến cho câu thơ không còn là những liên tưởng đơn thuần, hay sự tương đồng về cảm giác. Nó đặt người đọc trước một hiện tại rõ ràng chứ không nệ vào khả năng làm đầy những gì thiếu hụt, xoá nhoà ranh giới địa vật lý vốn dồi dào của tâm tưởng để tuỳ thích tạo ra mộng ảo.

Hình bóng người tình trong thơ Nguyên Sa hết sức lạ thường:

Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn / Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh …

Mượn lối hình ảnh đăng đối trong thơ cổ, Nguyên Sa tạo nên một thực tại khác lạ, không còn ranh giới giữa hiện hữu với ý niệm trừu tượng. Cái mơ hồ của ý niệm được thay thế bằng cảm giác vật chất có thực để trở nên gần gũi, mang đậm những dấu ấn giác quan.

Em không nói đã nghe lừng giai điệu / Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh

Một lối liên tưởng quen thuộc, nhưng vẫn đậm vẻ cực đoan, không tưởng, tạo ra thực tại khả thể của tâm trí.[4]

Sau này, ý tưởng ít nhiều hiện sinh đó tương đồng và trở lại trong cảm quan siêu hình Đông phương nhuần nhị với ca từ Trịnh Công Sơn những năm 1960:

… Dù em khẽ bước không thành tiếng / cõi đời bao la vẫn ngân dài

(“Vẫn có em bên đời”)

… Người đi vẫn đi / chiều qua vẫn qua

(“Hành hương trên đồi cao”)

Con người trong thơ Nguyên Sa vừa bị đẩy vào tình thế phải hồ nghi tồn tại và nhận biết của bản thân, vừa chủ động tạo ra những tồn tại mới:

Người về đêm nay hay đêm mai / Người sắp đi chưa hay đi rồi… Sao người đi sâu vào không gian trong / Bức tường vô hình nên bức tường dầy mênh mông / Và sao lòng tôi không là vô tận / Cho gặp gỡ những đường tàu đi song song… Người về, lòng tôi buồn , hay lòng tôi vui / Áo không có màu nên áo cũng chưa phai / Tôi muốn hỏi thầm người rất nhẹ / Tôi đưa người hay tôi đưa tôi?

Không còn cảm giác chắc chắn về tồn tại, Nguyên Sa biến cái mênh mông vô định mà ông khát khao chứng nghiệm, cầm nắm, thành những sự vật vừa cụ thể vừa mơ hồ, đứng ngoài luật định của cả hiện hữu lẫn vô hình: bức tường dày mênh mông, áo không có màu…

Ông tạo ra cho con người những khả thể tồn tại để tương xứng với cái mênh mông của cõi đời:

… Và hãy nói năng những lời vô nghĩa / Hãy cười bằng mắt ngủ bằng vai / Hãy để môi rót rượu vào môi / Hãy cầm tay bằng ngón tay bấn loạn … Gió có lạnh hãy cầm tay cho chặt / Đêm có khuya em hãy ngủ cho ngoan / Hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn / Nếu em sợ thời gian dài vô tận …

… Da em trắng anh chẳng cần ánh sáng / Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân …

Nỗi “bấn loạn” của kẻ đang yêu tới mức không còn tự chủ, hoặc là trước hạnh phúc ngoài sức tưởng tượng, hoặc trước một nguy cơ chưa biết, bộc lộ chính trạng thái bản năng, bị dồn đuổi bởi những khao khát và bất ổn của tồn tại. Sự hoán đổi trạng thái và các giác quan đem lại một thực tại rạn vỡ khỏi nhận biết thông thường, một thế giới phải chấp nhận xáo trộn và bất ổn, đến từ xáo trộn của tâm can.

Dừng ở ngưỡng cửa cảm xúc nhục thể mà không bận tâm hơn đến những biểu hiện của nó, nhà thơ muốn khắc hoạ tình yêu và con người ở trạng thái ham muốn, khao khát chứ không phải đã chứng nghiệm hay được thoả mãn.[5] Tình yêu ở dạng “ẩn ức” mới là khoảnh khắc hiệu nghiệm để con người giác ngộ cùng lúc ý nghĩa tuyệt vọng, không bao giờ có thể viên mãn của tồn tại, ý nghĩa chớp thoáng của hiện hữu trong vô cùng không gian và lớp lớp thời gian.

Tuy nhiên, khoảnh khắc khám phá bùng nổ về cảm giác hiện sinh có sức mạnh đẩy lùi xoá nhoà những ám ảnh trừu tượng, vô biên như “cuộc đời”, “thời gian dài vô tận”, “ánh sáng”, “mùa xuân”…

Con người trong thơ Nguyên Sa coi những hệ luỵ, phiền não, thậm chí cả đoạ đày về tinh thần lẫn thể xác là điều bình thường của tình yêu cũng như cõi sống, chứ không hi vọng một cõi của lạc thú hay thống khổ đều thanh cao như quan niệm trước đây:

… Em đã khóc, anh đã khóc và chúng mình đã khóc / Bước chân lê trên những hè phố không quen / Chúng mình đã khóc vì không được gần nhau như hai con chim / Chúng mình đã khóc vì không có tiền làm lễ cưới lễ xin …

(“Nga”)

Để cuộc nghênh đón ta được thêm phần trọng thể: những người con gái ngây thơ hãy trở về nhà đi ngủ sau khi đánh răng rửa mặt chải đầu và đọc kinh cầu nguyện ban đêm / Những nhà phê bình văn nghệ rẻ tiền , những thầy giáo chạy điểm trong kỳ thi trốn ngay vào bóng tối…

(“Hịch”)

Đam mê luyến ái là nguồn động lực, xung năng sống quan trọng. Trong thơ Nguyên Sa, nó trở thành biểu hiện huy hoàng nhất mà cũng bao hàm khía cạnh thống khổ, sầu luỵ, với những đen tối chưa lường trước của tồn tại, bởi nó là thứ tình yêu được báo động bằng kết cuộc bi thảm tất yếu.

Con người luyến ái và con người bàng hoàng, âu lo về tồn tại trong thơ Nguyên Sa không phân biệt, bởi cùng xuất phát từ một bản thể với hai mặt, một mặt là khao khát sống trong lành, tráng kiện, mặt kia là cảm thức về nguy cơ, cái chết, sự đày ải điếm nhục.

* * *

Thơ Nguyên Sa tràn đầy những sự kiện cá nhân.

Mùa xuân buồn lắm em ơi / Anh vẫn đạp xe từ Sài Gòn lên trường đua Phú Thọ / Đạp xe qua nhà em / Nhìn vào ngưỡng cửa / Nhà số 20 / Anh nhớ má em hồng…

… Bởi vì từ Sài Gòn lên tận trường đua Phú Thọ / Hết cả tiền uống một ly nước mía / Mà cũng không gặp em / Nên khát đắng linh hồn…

(“Mùa xuân buồn lắm em ơi”)

… Tôi mời em vứt bỏ lại đằng sau những kinh thành buồn bã với phong tục, thói lề, bạc vàng giả dối: muốn làm người yêu thì phải đỗ Tú tài …

… Em có thể đến đây với đôi giày cao gót để tưởng mình em vóc hạc / Nhưng nếu em vội vã thì em cứ đi chân không? Tôi sẽ bọc mười đầu ngón chân với tất cả linh hồn say đắm yêu em…

(“Mời”)

Tôi đợi em ở một góc công trường …. Tôi đợi em từ 8 giờ, bây giờ đã 9 / Có lẽ đã 9 giờ 5 phút …

(“Đêm mưa”)

Không bị ràng buộc phải tạo ra văn cảnh ít nhiều “giống cái thực có” như văn xuôi, ngôn ngữ thơ trước đó mượn lối nói ước lệ, hình ảnh, để truyền đạt nhanh và hiệu quả nhất tới người đọc tâm hồn, trạng thái “nội tại” của nhà thơ. “Sự kiện hoá” đồng nghĩa với việc gia tăng tính tự sự (khác với kể chuyện bằng thơ) nhằm từng bước thoát khỏi hệ thống ngôn ngữ thơ ước lệ, hướng tới những cách thức mang đậm dấu ấn sáng tạo cá nhân.

Những sự kiện – riêng tư công nhiên đẩy lùi nội dung, thẩm mỹ ước lệ, trả lại cho thơ ý nghĩa chân xác từ những thông tin gắn liền với cá nhân người viết. Nó xác định tâm hồn một nhà thơ bằng hiện hữu riêng tư, duy nhất của chính nhà thơ đó, chứ không phải những giá trị chung chung mà nhà thơ tự nguyện hoá thân, đại diện.

Trường hợp “sự kiện cá nhân” vẫn là tưởng tượng hư cấu cũng có thể xảy ra, thậm chí phổ biến; tương tự như trường hợp sự kiện “có thực”, quan trọng, nó được xem như một nỗ lực của tâm trí người viết thoát khỏi phạm vi những hình dung có sẵn, hướng tới những bản chất khác của đối tượng mô tả.

Sự xuất hiện sự kiện cá nhân đồng thời bộc lộ lòng tự tin của con người vào bản chất duy nhất, riêng lẻ, nhỏ bé của mình trước thế giới vốn được xem là cao siêu trừu tượng bao quát của thơ ca.

Khi tham dự phần riêng mình vào thơ như một cá thể, rất tự nhiên con người khó lòng gạt bỏ phần vận mệnh trong vận mệnh thời cuộc, dân tộc, quê hương. Vận mệnh trong thời cuộc, của dân tộc, là phần không thể xoá trắng, là tấm hộ chiếu không thể tẩy rửa của người viết, ngay cả với những nhà văn lưu vong, để bước ra với khái niệm chung nhân loại. Không có một khái niệm “loài người” chung chung nào nhất thiết loại trừ một hay một số bản sắc riêng lẻ.

Tuy nhiên, không nên nhầm lẫn thái độ “làm người” trong sáng tạo của nhà văn với việc cố ý sử dụng văn học như một phương tiện cho những mục tiêu chính trị xã hội ngoài văn chương.

Thơ ca trung đại cũng đã có truyền thống bộc lộ con người thời cuộc, con người công dân của người viết, thông qua những “chí làm trai”, “tấc lòng ưu ái”, “tấc son”, hay phê phán “thói đời” đen bạc xảo trá, sự xói mòn đạo đức… tuy nhiên vẫn dừng ở nhân danh những giá trị tinh thần của cộng đồng. Văn xuôi tiền chiến đã xuất hiện cái nhìn phê phán mạnh mẽ với cái ác và bất công xã hội, xuất phát từ giá trị nhân đạo và bênh vực quyền sống, (cũng có cái nhìn “phê phán” xuất phát từ sự bảo thủ)… thể hiện ý thức xã hội rõ rệt của người viết. Nhưng với thơ ca hiện thời, khi sự thể hiện con người cá nhân riêng tư được xem như phẩm chất trước tiên, thì con người thời cuộc trong sự thể hiện riêng tư này là điều tinh tế và đặc biệt.

Con người cá nhân trong thời cuộc của Nguyên Sa là con người phê phán một cách sòng phẳng, nghĩa khí:

Cắt cho ta, hãy cắt cho ta… Sợi vu oan dưới gáy / Sợi bè phái đâm ngang / Sợi ghen tuông đứng dọc / Sợi xích chiến xa, sợi dây thòng lọng / Sợi hưu chiến mỏng manh, sợi hận thù buộc chặt / Sợi nấp trong hầm / Sợi ngồi trong hố / Sợi đau xót như dây dù chẳng mở / Sợi treo cổ tình yêu , sợi trói tay hy vọng / Cắt cho ta… / Cắt cho ta, hãy cắt cho ta / Sợi Hà Nội khóc trong mưa / Sợi Sài Gòn buồn trong nắng / Sợi dậy học chán phè / Sợi làm thơ thiểu não / Sợi đặc như dùi cui / Sợi rỗng như khẩu hiệu … Sợi cắt đứt tim chồng / Sợi chặt đôi ruột vợ / Sợi nhố nhăng như cuộc đời / Sợi ngu si như lịch sử / Sợi đợi những ngón tay đi qua / Sợi đợi những ngón tay chẳng đến… Hãy cắt… Cho cả những thằng sa đích phê bình văn nghệ rẻ tiền / Cho cả những thằng xẻo thịt non sông / Cho cả những thằng băm vằm tổ quốc / … Cho chính bản thân ta bơi trong tội lỗi… Hãy cắt tóc và nhìn / Mặt quê hương đổi mới

(“Cắt tóc ăn Tết” – phần II, Nhìn em Nhìn thành phố Nhìn quê hương,

trong Thơ Nguyên Sa, tập II)

Gần như không có dụng ý “cách tân” nào trong những dòng viết bộc phát, tuôn trào theo mạch cảm thức đau thương, u uất. Trong ẩn dụ bao quát toàn bài thơ “Hãy cắt tóc và nhìn / Mặt quê hương đổi mới” là những cặp so sánh tương xứng chính xác và nghiêm khắc không khoan thứ. Ẩn sau những hình ảnh so sánh, ẩn dụ là dòng ý tưởng sắc bén được bộc lộ trong thái độ cương liệt và độ lượng sâu sắc, làm lay động tâm can:

Vu oan / bè phái / ghen tuông / xích chiến xa / dây thòng lọng / hưu chiến mỏng manh / hận thù buộc chặt / đau xót dây dù chẳng mở / treo cổ tình yêu / trói tay hy vọng / nhố nhăng cuộc đời / ngu si lịch sử… Không miêu tả những sự kiện riêng lẻ, cụ thể, không “bên này” hay “bên kia” chiến tuyến, thơ Nguyên Sa đứng trên góc độ những đau đớn, tổn thương của nhân tính và nhân phẩm con người để lên án chiến tranh, sự đầu độc huỷ hoại đời sống bình thường đang lan nhanh từng ngày từng giờ khắp mọi nơi, và tính chất đen tối của lịch sử.

Những bài thơ được viết trong khoảng năm 1966 đến 1975, thời điểm mà cuộc chiến tranh lan rộng với chạy đua cao trào, chết chóc, đau thương nhiễm độc không khí từ thành thị tới nông thôn, cũng là thời điểm bùng nổ phong trào phản chiến ở miền Nam Việt nam. Những bài thơ, truyện ngắn mô tả hiện thực chiến tranh phi lý, tàn khốc ghê rợn, những tiếng nói văn chương, âm nhạc giãi bày nỗi đau khổ thống thiết và khát vọng hoà bình cháy bỏng. Nhưng dám lên án trực diện kẻ gây ra tội ác huỷ diệt đời sống và con người, nhận định đúng động cơ chiến cuộc (xẻo thịt non sông, băm vằm tổ quốc), dám đường hoàng chỉ ra và lên án đoạn đường tăm tối mê muội của lịch sử, là dũng khí và tầm nhìn mà không phải người viết văn làm thơ nào cũng có được.

Nhà thơ cảm nhận về cái mất mát, bị huỷ diệt của đời sống bằng chính những xói mòn, rời rã, tê liệt của tâm trạng và cảm thức riêng mình.

Đau buồn trong thơ Nguyên Sa cũng là những ám ảnh vật thể, bằng xương thịt:

Gặp em không thể chào bằng tay / Em sẽ chê là năm cành cây / Em sẽ chê là năm nòng súng lạnh / Bởi vì đau hai mươi năm nay… Gặp em không thể chào bằng mắt / Em sẽ không thể ngủ được ban đêm / Em sẽ nằm trong cơn thù hận / Em sẽ chìm sâu trong cơn điên… Gặp em ta sẽ chào như loài kiến / Chào như loài dế chào như loài giun? Chạm tóc vào nhau ta gục đầu xuống / Như đồng bào ta nằm trong đất đen…

Sáng tạo những hình ảnh đậm tính trực cảm, khơi dậy trực giác vật thể ở người đọc cũng là một cách thức cá nhân hóa cao độ trong viết thơ, ở thời điểm hiện tại (thời điểm nhà thơ Nguyên Sa viết thơ) cũng như trong dòng chảy thơ sau này, tùy thuộc tài năng của người viết.

“Tôi mơ hồ cảm thấy tôi không muốn trở thành một nhà thơ dấn thân. Tôi cũng mơ hồ cảm thấy tôi không phải một đệ tử trung thành của nghệ thuật vị nghệ thuật. Tôi là người làm thơ, thơ tình, mà vẫn xúc động trước những khổ đau của quê hương, dân tộc tôi” (Hồi ký Nguyên Sa)

Một cảm thức thi ca gắn liền với rúng động và thăng trầm của đời sống, vận mệnh lịch sử của dân tộc, là hệ thẩm mỹ gắn liền với giá trị nhân sinh, với thông tin và ý nghĩa có thực, duy nhất của một thời đại. Nó có thể bị “ràng buộc” bởi tính chất lịch sử nhưng không vì thế mà trở thành một kiểu giá trị thời sự, khép kín. Nó vẫn bao hàm những tín hiệu của không gian thơ ca và thẩm mỹ rộng lớn.

“Khi chân lý không ở ngoài tầm những gương mặt hóa trang /… Khi ngực hai mươi ở trong tầm viên đạn”, tiên cảm về cái chết trong thơ Nguyên Sa như vận mệnh chung cuộc đến sớm, có báo trước, cái chết như một khả thể của đời sống.

Không phải “một mai tôi chết bên khe Ngọc tuyền” (Hàn Mặc Tử) – cái chết còn cho con người cơ hội, “chết” với Nguyên Sa là một thực tại bỗng nhiên chuyển thành cõi chết:

Anh cúi mặt hôn lên lòng đất / Sáng ngày mai giường ngủ lạnh côn trùng / Mười ngón tay sờ soạng giữa hư không / Đôi mắt đã trũng sâu buồn ảo ảnh …

… Lúc ra đi hai chân anh đằng trước / Mắt đi sau còn vương vất cuộc đời …

… Anh chợt ngứa nơi bàn chân cỏ mọc / Anh chợt đau vầng trán nặng đêm khuya …

(“Lúc chết”)

Cõi chết không phải nơi được giải thoát khỏi gánh nặng sự sống, mà nó là một dạng “sự sống” khác đau buồn phiền lụy theo cách khác. Chết chính là một hình dung lạ thường của thực tại, một nỗi khổ lụy lạ lùng mà con người tình nguyện nếm trải, còn hơn chấp nhận những gì đang diễn ra.

Viết tưởng niệm một người bạn, “Đám tang Nguyễn Duy Diễn”, không phải tiếc thương:

… Chúng tôi nhảy múa hò reo / Thế là nó thoát, thế là nó thoát /… Thoát khỏi ngủ, thoát khỏi ăn, khỏi thở / Khỏi đêm, khỏi ngày, khỏi tháng, khỏi năm / Khỏi chờ, khỏi đợi / Khỏi nhìn tình ái đội nón ra đi / … Khỏi bốn mươi giờ dạy học mỗi tuần / Khỏi viết ban đêm, khỏi đến nhà in buổi sáng / Khỏi phải nhìn, khỏi phải nghe, phải thấy… Sự thật có phải bao giờ cũng tối như đêm / Tình ái có phải suốt đời là canh bạc lận / Lịch sử, rút lại có phải là thằng mù sờ soạng…

Sự giải thoát ở đây chỉ có nghĩa mỉa mai. Chết nghĩa là hối thúc đặt lại những câu hỏi nghi ngờ đời sống, chết như một ngã ngũ, một phương án thay thế cho tất cả những gì tâm trí nhận thức không thể giải đáp nổi, một hy vọng theo nghĩa mỉa mai đối với những vô vọng của sự sống.

Sống, là chung sống với cái chết, là ngạc nhiên khi bản thân còn tồn tại những năng lực sống:

… mùa xuân đã trôi qua / mùa hạ đã trôi qua / mùa thu đã trôi qua / bây giờ là mùa đông / … Lá chết ở trên cành / cành chết ở trên cây / cây chết ở trên đường thành phố / … thành phố trống vắng / quê hương trống vắng / con giun xéo đã quằn / anh vẫn đi ở đó / mà vẫn còn yêu em…

(Nhìn em Nhìn thành phố Nhìn quê hương)

Nguyên Sa từng nói tới cái chết “bình thường”, tự nhiên:

… Có bao giờ thèm khát vô biên / Có bao giờ anh mong đừng chết- dù để làm thơ / Nên tất cả chỉ là yêu em và làm thơ cho đến chết…

Cảm nhận bất thường về cái chết thực chất là cảm nhận về một đời sống trái với tự nhiên, không còn gì biện hộ, không còn cơ may, cả cái chết cũng trở nên tuyệt vọng.

* * *

Từ những cảm nhận trực quan, vật thể, thơ Nguyên Sa tiến gần tới lối bộc lộ ý tưởng, nói cách khác, lối viết sự vật và sự kiện hóa trong thơ là tiến trình hiện thực hóa ý tưởng.

Chim đã bay / Đã tới / Nàng có đi cùng không / Đã tới / Chắc nàng phải mặc áo nhẹ / Đã tới / Chắc ta phải mặc áo nhẹ / Chắc ta phải để lại tất cả / Để lại đầu / Để lại tay / Không chừng để lại nàng / Để lại mắt / Để lại vai / Ôi đôi vai / Nàng có nhớ…

(“Chim” – Nhìn em nhìn thành phố nhìn quê hương)

Từ cảm thức đan xen chuyển hóa trừu tượng và vật thể, nhà thơ đã tiến xa tới việc khai thác toàn bộ sự vật và tiến trình sự kiện như một cách mô tả khách quan trực quan, cấu tứ lại không gian trực quan ấy để nó hiện lên như một ý tưởng, một tâm trạng.

Cuộc du hành tưởng tượng cùng cánh chim, du hành của mất mát, tan vỡ, lìa bỏ, hủy diệt được hình dung như một chuyến lên đường thực thụ, có “bay”, có “tới”, nhưng thay vì mang theo là “để lại” “đầu, tay, không chừng… nàng, mắt, vai…”, một hành trình không tưởng đến cõi “âm” của các sự kiện và giá trị. Cái nhìn từ quan sát vật thể sang ý tưởng không tưởng là một bước vừa liền kề vừa táo bạo, đẩy người ta đi hết ranh giới những hình dung có sẵn.

Giống như sự quan sát và mô tả hành động một cách cơ giới, bề ngoài, loại trừ toàn bộ những hình dung từ, tính từ mà thường chỉ dừng ở việc gợi lại sự vật trong mối quan hệ khá hời hợt với nội tâm người viết, cố ý tạo ra nội dung thông báo khô khan, cộc lốc, viết thơ đồng thời là phơi bày một tiến trình cô đọng của hiện thực và ý tưởng. Vì chủ yếu nhằm tới ý nghĩa thông báo chứ không biểu đạt (lý giải, phân tích theo những hình dung sẵn có về đời sống), mô tả “trực quan hóa sự kiện” có thể bao hàm nhiều nội dung thông tin khác nhau, nhiều hệ hình (tầng lớp) giá trị khác nhau.

Năm ngón tay / Trên bàn tay năm ngón / Có ngón dài ngón ngắn / Có ngón chỉ đường đi / Có ngón tay đeo nhẫn / Ngón tay tô môi / Ngón tay đánh phấn / Ngón tay chải đầu / Ngón tay đếm tiền / Ngón tay lái xe / Ngón tay thử coorse / Ngón tay cài khuy áo / Em còn ngón tay nào / Để giữ lấy tay anh

(“Năm ngón tay” – Thơ Nguyên Sa , tập 1)

Chưa hoàn toàn thoát khỏi lối liên tưởng tương đồng theo thi pháp cũ, nhưng nhà thơ Nguyên Sa đã ý thức được sức nặng nhiều tầng lớp của lối mô tả trực quan, tính chất biểu tượng tràn đầy thông tin nhiều chiều của nó để thay thế ngoạn mục cho hình ảnh ẩn dụ một chiều.

Nguyên Sa viết thơ bằng nhịp điệu và cấu tứ câu văn xuôi từ rất sớm:

Khi xứ sở mùa xuân ở ngoài tầm cánh chim bay / Khi những đám mây hy vọng ở ngoài tầm những giờ thao thức ban đêm / Khi con tàu tương lai ở ngoài tầm ngọn hải đăng chờ đợi / Khi hình ảnh đôi giày đầu tiên, thầy giáo trường làng chân thực, những cánh đồng tuổi trẻ ở ngoài tầm kỷ niệm…

(“Ngoài tầm”)

1.    Rồi trong ngôi nhà ký ức em sẽ đặt anh ở vị trí nào? Bên cạnh lớp học ngày xưa hay khu vườn tuổi nhỏ? Bên cạnh hình ảnh đôi guốc cao gót đầu tiên hay con búp bê gẫy tay trên gác bếp? …

… Em dư biết giá trị liều thuốc an thần của những bài thơ nói về tình yêu kiếp khác, sao còn bắt anh chèo thuyền trong ảo tưởng? …

3.    Anh từ chối chiếc bánh còn thừa, tự do hứa hẹn, chân lý lưỡi lê và những lời an ủi…

4.    Tuổi ba mươi và bấy nhiêu lần luỹ thừa đau khổ / Nhân danh cánh tay mọc trái nghi ngờ / Nhân danh vầng trán quê hương lo ngại / Nhân danh mái tóc chờ mưa sa mạc…

(“Bài giã biệt mới”)

Sự kéo dài kích thước câu thơ đến câu văn xuôi, nhịp điệu văn xuôi uyển chuyển linh hoạt thay thế nhịp điệu thơ ngắt quãng ngắn, theo một vài lối cố định, đã tạo ra ở người đọc một tâm thức đọc khác với tâm thức đọc thơ thông thường. Không phải chờ đón cái du dương, nhịp nhàng, đều đặn (kể cả với thơ không vần) có tác dụng dẫn dắt vào tâm thái và cảm xúc quen thuộc, mà là sự tỉnh thức khách quan để nhận biết, theo dõi, liên kết, chờ đợi “cú sốc” (nếu có) và hình thành phán đoán suy lý. Câu thơ văn xuôi chuyên chở nhiều sự kiện và tạo điều kiện đặt ra những vấn đề suy tưởng, ý tưởng, gia tăng ý nghĩa suy lý và tri thức cho sáng tạo thơ.

Ý tưởng trong thơ Nguyên Sa nhiều lúc còn nảy sinh từ tâm trạng nung nấu bộc phát:

Thằng Chúc bây giờ nằm trong nhà tù / Thằng Thịnh bị mang đi làm nông trường / Thằng Văn lang thang những bờ biển xa / Em nó ở nhà bán báo vỉa hè… Niềm đau đất nước mỗi ngày một đau / Câu hỏi đã lớn mỗi ngày một lớn / Những đứa sát nhân vu oan giá hoạ / Những đứa chụp mũ, chụp mũ, chụp mũ / Mỗi ngày một tăng theo cấp số nhân / bạn bè dần hết theo tỉ lệ nghịch… / … Chỉ còn câu hỏi, chỉ còn câu hỏi / Trong óc, trong mắt, trong tay, trên môi / Bao giờ thằng Chúc ra khỏi nhà tù / Và những thằng Chúc ra khỏi nhà tù / Bao giờ thằng Thịnh ở nông trường về / Và những thằng Thịnh ở nông trường về / Bao giờ thằng Văn cầm tay quê hương / Và những thằng Văn cầm tay quê hương / Bao giờ, bao giờ, bao giờ?

(“Bao giờ”)

Câu thơ chuyển thành dạng thức lời nói thường không chút làm đẹp với toàn bộ nội dung thông báo cũng như ý tưởng, không hề còn lại một hình ảnh. Nó cho thấy một thẩm mỹ khác xuất hiện trong quan niệm và nghệ thuật thơ, sẽ bị bỏ quãng và tái xuất hiện, bùng nổ vào những năm thơ ca tiếng Việt “đuổi kịp” hành trình đương đại. Đó là thẩm mỹ hướng về cái bé mọn, “tầm thường”, xấu xí, cái bị kỳ thị và rẻ rúng, áp chế.

Hành trình thơ Nguyên Sa là hành trình tự nhiên của con người kiếm tìm tình yêu và chân lý của cái đẹp cũng như của cuộc đời, chân lý như một khát vọng không bao giờ đứng lại, chứ không phải một nội dung nhất định. Sống giữa cuộc đời hệ luỵ, mệt nhọc, bị tước đoạt dần những thụ cảm tự nhiên, bình thường vốn dĩ, trong lòng một dân tộc đau khổ, bất hạnh, với những bi kịch mù loà, Nguyên Sa là một nhà thơ đắm đuối và hết lòng với thi ca như với cuộc đời, để đi qua cuộc đời, cất trọn chén sống một cách an nhiên, đường hoàng và can đảm.

– Bài viết chỉ khảo sát thơ Nguyên Sa trong phạm vi trước tác chủ yếu từ năm 1953 cho đến 1975, tập hợp trong 2 thi tuyển, Thơ Nguyên Sa, tập I; Thơ Nguyên Sa, tập II, phần II, Nhìn em Nhìn thành phố Nhìn quê hương, NXB Đời, 2000. Đây là phần trước tác của nhà thơ thuộc về dòng chảy cảm hứng và thi pháp thơ miền Nam.

– Vì điều kiện trích dẫn phục vụ ý tưởng đọc liền mạch của bài viết nên một số phần dẫn chứng thơ Nguyên Sa không giữ được trình bày nguyên gốc của tác giả, xin thành thật cáo lỗi cùng bạn đọc.

– Bài viết có tham khảo một số tư liệu về lý luận văn học và bài viết, khảo cứu về văn học miền Nam của các tác giả, bạn bè…

Chú thích:

[1] Sáng tạo, khi chủ thể chưa có ý thức tự “giãn cách” đối với bản thân, ít nhiều mang tính chất tự phát. Khi chủ thể có sự “lùi xa” đối với bản thân, phải vượt qua khoảng cách thời gian, vận dụng năng lực hồi ức, tưởng tượng, suy tưởng để khôi phục “cái tôi quá vãng” hoặc kiến tạo hình tượng “vị lai”, đó là thể hiện nỗ lực sáng tạo lại thực tại và con người. Trong khi thơ ca được lý luận văn học hiện đại xem như thể loại ràng buộc mật thiết hơn cả với thân thế, thực trạng người viết, thì ý thức tự giãn cách và năng lực vươn tới giá trị tri thức của nhà thơ vẫn phải được kể đến như là ý nghĩa cơ bản của sáng tạo, đây là hai mặt của vấn đề. Con người cá thể, đơn nhất, “được quyền” song hành, chuyển hoá với con người tri thức phổ quát, tạo ra những giá trị mới.

[2] Thơ ca trung đại dù mang những thông tin cá nhân vẫn là những cá thể ước lệ:

Ới thị Bằng ơi đã mất rồi

Ới tình ới nghĩa ới duyên ơi

(“Khóc thị Bằng” – Vua Tự Đức)

Chưa bao giờ có sự hình dung trực quan cụ thể như trong thơ tiền chiến:

“Trong trẻo như Nguyễn Nhược Pháp” (theo Hoài Thanh- Hoài Chân):

Khăn nhỏ, đuôi gà cao / Em đeo dải yếm đào / Quần lĩnh, áo the mới / Tay cầm nón quai thao

(“Đi chùa Hương”)

Nhưng là khai thác chất thơ trong thể loại “kể chuyện bằng thơ”.

Tái hiện sống động như Vũ Hoàng Chương:

Âm ba gờn gợn nhỏ / Ánh sáng phai phai dần / Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân / Lui đôi vai, tiến đôi thân / Riết đôi tay, ngả đôi thân / Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió…

Nhưng vẫn trong vòng những giá trị ước lệ:

Đất trời nghiêng ngửa / Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ / Đất trời nghiêng ngửa / Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!

(“Say đi em”)

Men khói đêm nay sầu dựng mộ / Bia đề tháng sáu ghi mười hai / Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc / Tố của Hoàng nay Tố của ai

(“Mười hai tháng Sáu”)

[3] Vấn đề “cá nhân hoá tối đa” có sự trùng hợp và có điểm khác với vấn đề phong cách cá nhân. Nếu như phong cách cá nhân được hiểu là tập hợp những thành quả sáng tạo về mặt nghệ thuật của một cá nhân, tạo thành những điểm khác biệt đặc thù, đóng góp, làm mới cho đặc trưng thể loại, thì sự cá nhân hoá được nhìn nhận về mặt ý thức và tâm thức sáng tạo. Con người trong thơ ca càng được cá nhân hoá bao nhiêu, thì những đặc điểm phong cách càng đậm nét bấy nhiêu. Thơ ca trung đại không đa dạng, không đậm nét những đặc thù phong cách cá nhân. Nếu không có những chú dẫn về thân thế, thì thơ thiền của các tác giả khác nhau, thơ “thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão, hay Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát hay Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Siêu… rất khó phân biệt. Trong khi đó, để đạt tới phong cách mẫu mực sách vở như Bà Huyện Thanh Quan hay sự phá cách theo thẩm mỹ dân gian như Hồ Xuân Hương (?) là trường hợp vô cùng hiếm hoi. Đường thi cũng có thể quy tập về một hệ thống thi pháp đặc thù, nhưng những phong cách cá nhân nổi trội nhờ dấu ấn cá nhân hoá ở mức độ rõ rệt, không nhiều.

[4] Đập cổ kính ra tìm lấy bóng

Xếp tàn y lại để dành hơi

(Vua Tự Đức)

trong cổ thi, hay:

Rồi khi khúc nhạc đã ngừng im / hãy vẫn ngừng hơi nghe trái tim / Còn cứ run hoài trong chiếc lá / sau khi trận gió đã im lìm (Xuân Diệu)

Ta quá say rồi!/ Sắc ngã màu trôi… / Gian phòng không đứng vững / Có ai ghì hư ảnh sát kề môi? (Vũ Hoàng Chương) của thơ tiền chiến chưa xuất hiện cái không tưởng như trong thơ Nguyên Sa. Không tưởng bỏ cách quãng cái thực có, cao hơn liên tưởng, biến cái không hình bóng thành khả thể.

[5] Khảo sát một số bài thơ khác của Nguyên Sa công bố trong khoảng những năm 1956- 1975, biểu hiện tương tự.

20/10/2019

Khánh Phương

Nguồn: Tiền Vệ

Theo https://vanhocsaigon.com/

  Hương cuội Đứa cháu đích tôn và lũ cháu ngoại đang loay hoay ngoài sân với những đồ đồng ngũ sự lổng chổng trên đám trấu và tro đẫm nước...