Sự tương tác thể loại trong tiểu thuyết,
truyện ngắn Khái Hưng
Nguyễn Đăng Vy
Truyện ngắn là kết quả của
kiểu tư duy tiểu thuyết. Vì vậy, sẽ không sai khi đánh giá rằng, có những nhà
văn viết truyện ngắn xem như là sự chuẩn bị, “tập dượt” cho tiểu thuyết sau
này; và đến lượt tiểu thuyết lại hỗ trợ cho truyện ngắn trở nên đa dạng và độc
đáo hơn. Nhà văn Khái Hưng là một trường hợp cụ thể. Tiểu thuyết và truyện ngắn
của Khái Hưng xoá nhoà lằn ranh thể loại một cách đa dạng và linh hoạt.
1. Những lằn ranh thể loại
trong truyện ngắn và tiểu thuyết
Quan sát sự vận động của văn
học hiện đại Việt Nam thời kì 1900- 1945, trên phương diện thể loại, sẽ thấy
những dấu hiệu về sự xâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại văn xuôi. Các nhà văn
ý thức rõ sáng tạo nghệ thuật là luôn luôn hướng tới cái mới, một mặt vừa tích
hợp tinh chất văn chương truyền thống và văn chương bên ngoài, lại vừa tạo ra
cái mới. Các nhà văn không làm được điều này sẽ là tự khép kín, tự hủy diệt và
đào thải mình trước dòng thác ồ ạt của nền văn học mới.
Khái Hưng đã góp phần quan
trọng đưa mô hình tiểu thuyết Việt Nam vào quỹ đạo hiện đại, trên tất cả các
phương diện của cấu trúc tự sự, kiểu loại nhân vật, tư duy nghệ thuật và ngôn
ngữ, giọng điệu… sau khi dứt bỏ mọi dấu ấn trung đại. Và cùng với mô hình tiểu
thuyết còn là sự giải phóng mô hình trong truyện ngắn, bút ký và tiểu luận phê
bình góp phần làm nên diện mạo của văn xuôi thời kì 1930 – 1945.
2. Sự tương tác thể tài;
phương thức, kỹ thuật tự sự trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng
Câu hỏi đặt ra là, có mối
quan hệ nào không giữa đặc điểm thể tài tiểu thuyết với đặc điểm thể tài truyện
ngắn của Khái Hưng? Các phương thức, kĩ thuật tự sự được Khái Hưng thể nghiệm
và sử dụng thành công trong tiểu thuyết có được phát huy (ở một mức độ nào đó)
trong khi viết truyện ngắn hay không? Có yếu tố nào vốn là kĩ thuật của tiểu
thuyết được nhà văn ứng dụng trước hay đồng thời trong khi sáng tác truyện ngắn
hay không?
Đến thời của Khái Hưng tiểu
thuyết đã trưởng thành. Có thể gọi đây là thời của tiểu thuyết, hay đúng hơn
thời của tư duy tiểu thuyết phát triển trong văn xuôi quốc ngữ. Tư duy tiểu
thuyết, tất nhiên không phải là phương thức tư duy nghệ thuật độc quyền của tiểu
thuyết: trong khi tiếp cận hiện thực đời sống theo phương thức tư duy này, nhà
văn còn có thể sáng tác truyện ngắn, ký…
Tuy vậy, thể loại phát huy cao độ công năng của tư duy tiểu thuyết, chắc hẳn phải là tiểu thuyết. Mà thời Khái Hưng viết văn trong Tự lực văn đoàn, người ta có xu hướng gọi chung truyện ngắn (đoản thiên), truyện vừa (trung thiên) truyện dài (trường thiên) là “tiểu thuyết”. Khác nhau, chỉ ở quy mô tự sự (“cỡ nhỏ”, “cỡ vừa” hay “cỡ lớn”). Vì vậy, hoàn toàn có cơ sở khi chúng ta tìm hiểu phương thức, phương tiện, kĩ thuật tự sự chung cho cả tiểu thuyết và truyện ngắn, đồng thời với việc tìm kiếm những nét khu biệt, đặc thù cho mỗi thể loại.
Tuy vậy, thể loại phát huy cao độ công năng của tư duy tiểu thuyết, chắc hẳn phải là tiểu thuyết. Mà thời Khái Hưng viết văn trong Tự lực văn đoàn, người ta có xu hướng gọi chung truyện ngắn (đoản thiên), truyện vừa (trung thiên) truyện dài (trường thiên) là “tiểu thuyết”. Khác nhau, chỉ ở quy mô tự sự (“cỡ nhỏ”, “cỡ vừa” hay “cỡ lớn”). Vì vậy, hoàn toàn có cơ sở khi chúng ta tìm hiểu phương thức, phương tiện, kĩ thuật tự sự chung cho cả tiểu thuyết và truyện ngắn, đồng thời với việc tìm kiếm những nét khu biệt, đặc thù cho mỗi thể loại.
Theo đó, từ những cách tân
nghệ thuật của tiểu thuyết đến những cách tân trong nghệ thuật truyện ngắn Khái
Hưng rõ ràng là có một mối liên hệ mật thiết. Rất có thể nhà văn đã dùng các
sáng tác truyện ngắn như là cơ hội thử nghiệm kĩ thuật tiểu thuyết; đồng thời
khai thác các yếu tố kĩ thuật hay những thủ pháp đắc dụng của tiểu thuyết để
sáng tác truyện ngắn.
Theo đó, có hai cấp độ cần
tìm hiểu: khuynh hướng phát triển thể tài và mô hình kĩ thuật của tiểu thuyết,
truyện ngắn Khái Hưng.
Trong văn học Việt Nam nửa
đầu thế kỉ XX – theo nhận định của Nguyễn Thành Thi, nhìn từ sự vận động, giao
thoa thể loại – mỗi trào lưu văn học công khai đều hình thành tồn tại và phát
triển thành các khuynh hướng thể tài khác nhau. Ba khuynh hướng thể tài tiểu
thuyết Tự lực văn đoàn trong trào lưu văn học lãng mạn chủ nghĩa (LMCN) là: tiểu
thuyết luận đề; tiểu thuyết phân tích xã hội; tiểu thuyết phân
tích tâm lý [5].
Riêng tiểu thuyết thuộc trào lưu văn học hiện thực chủ nghĩa (HTCN) là: thuyết lý đạo đức; miêu tả hiện thực xã hội; miêu tả hiện thực tâm lý. Ở đây, có một sự tương ứng gần như “một đối một” về khuynh hướng phát triển thể tài rất đáng lưu ý giữa trào lưu văn học hiện thực chủ nghĩa và trào lưu văn học lãng mạn chủ nghĩa. Theo đó trong một cái nhìn đồng đại, ta có các cặp đối sánh: tiểu thuyết thuyết lý đạo đức (HTCN) – tiểu thuyết luận đề (LMCN); tiểu thuyết miêu tả xã hội (HTCN) – tiểu thuyết phân tích xã hội (LMCN); tiểu thuyết phân tích hiện thực xã hội (HTCN) – tiểu thuyết phân tích tâm lý (LMCN). Sự khác biệt giữa các cặp đối vị này – cũng theo Nguyễn Thành Thi – là ở chỗ: “một bên nhà văn ưu tiên ý thức tuân thủ, tôn trọng “hiện thực” (khách quan, vốn có) còn một bên, lại ưu tiên ý thức sáng tạo tự do, phóng túng; “hiện thực” ở đây sẽ được tái tạo theo cái cách mà nhà văn quan niệm (chấp nhận sử dụng cái đột biến, bất thường hay yếu tố ngẫu nhiên trong khi miêu tả thực tại)” [5].
Riêng tiểu thuyết thuộc trào lưu văn học hiện thực chủ nghĩa (HTCN) là: thuyết lý đạo đức; miêu tả hiện thực xã hội; miêu tả hiện thực tâm lý. Ở đây, có một sự tương ứng gần như “một đối một” về khuynh hướng phát triển thể tài rất đáng lưu ý giữa trào lưu văn học hiện thực chủ nghĩa và trào lưu văn học lãng mạn chủ nghĩa. Theo đó trong một cái nhìn đồng đại, ta có các cặp đối sánh: tiểu thuyết thuyết lý đạo đức (HTCN) – tiểu thuyết luận đề (LMCN); tiểu thuyết miêu tả xã hội (HTCN) – tiểu thuyết phân tích xã hội (LMCN); tiểu thuyết phân tích hiện thực xã hội (HTCN) – tiểu thuyết phân tích tâm lý (LMCN). Sự khác biệt giữa các cặp đối vị này – cũng theo Nguyễn Thành Thi – là ở chỗ: “một bên nhà văn ưu tiên ý thức tuân thủ, tôn trọng “hiện thực” (khách quan, vốn có) còn một bên, lại ưu tiên ý thức sáng tạo tự do, phóng túng; “hiện thực” ở đây sẽ được tái tạo theo cái cách mà nhà văn quan niệm (chấp nhận sử dụng cái đột biến, bất thường hay yếu tố ngẫu nhiên trong khi miêu tả thực tại)” [5].
Trong bối cảnh vận động, phát
triển của văn xuôi nghệ thuật, có thể mô tả đặc điểm truyện ngắn, tiểu thuyết
Khái Hưng theo ba khuynh hướng phát triển thể tài tương ứng với các khuynh
hướng sáng tác tiểu thuyết của ông: truyện ngắn, tiểu thuyết luận đề; truyện
ngắn, tiểu thuyết phân tích xã hội, truyện ngắn, tiểu thuyết phân tích
tâm lý.
Tuy nhiên, cũng nên lưu ý
rằng: việc phân chia tác phẩm tiểu thuyết theo thể tài thực tế sáng tác vốn
phức tạp. Việc phân chia tác phẩm truyện ngắn theo thể tài, trên thực tế, càng
phức tạp hơn. Hơn nữa, do đặc trưng “cỡ nhỏ” của truyện ngắn, việc xác định
đường biên giữa các loại hình truyện ngắn so với tiểu thuyết, là có thể, song
cũng không đơn giản. Một tác phẩm truyện ngắn ra đời nhiều khi không thuần
nhất, nó có thể đồng thời dung hợp cả yếu tố luận đề, yếu tố phân tích xã hội,
yếu tố phân tích tâm lý. Và như thế, mọi sự phân chia chỉ có tính tương đối.
Tùy vào ý đồ, hiệu quả nghệ thuật của nhà văn mà các lằn ranh giữa các loại
hình truyện ngắn vừa kể, có lúc đậm, có lúc nhạt, có thể rõ, có thể mờ.
Cũng do vậy, cách gọi tên,
miêu tả đặc điểm các khuynh hướng này trong truyện ngắn càng phải mềm mại hơn.
Khi phân loại và định danh các thể tài truyện ngắn của Khái Hưng, không nói hẳn
là truyện ngắn luận đề/ phân tích xã hội/ phân tích tâm lý,… mà nên gọi là
“truyện ngắn thiên về khuynh hướng…” luận đề/ phân tích xã hội/ phân tích tâm
lý.
Khái Hưng vốn là những nhà
văn viết tiểu thuyết luận đề hoặc tiểu thuyết có yếu tố luận đề từ năm 1933 đến
năm 1939. Truyện ngắn của ông – những “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ”, viết trong cái
thời mà người ta chưa thật sự có nhu cầu phân biệt với tiểu thuyết, những tác
phẩm “tự sự cỡ lớn” – đương nhiên có thể xem như là những tiểu thuyết
viết “ngắn” (đoản thiên).
Xét từ một góc độ nào đó, khi đã có thể xem truyện ngắn là một hình thức thu nhỏ của tiểu thuyết, thì các yếu tố thuộc về phương thức, kĩ thuật tự sự của chúng cũng có thể xem là hình ảnh thu nhỏ của tiểu thuyết. Nhận định này – truyện ngắn như là những tiểu thuyết viết “ngắn”, viết từng phần – với trường hợp sáng tác của Khái Hưng là hoàn toàn có cơ sở. Vì vậy, việc tìm hiểu các yếu tố kĩ thuật của tiểu thuyết luận đề trong truyện ngắn Khái Hưng giúp trả lời câu hỏi: Liệu có một loại hình truyện ngắn viết theo khuynh hướng luận đề hay không; nếu có thì đặc điểm hình thức của các truyện ngắn này là như thế nào?
Xét từ một góc độ nào đó, khi đã có thể xem truyện ngắn là một hình thức thu nhỏ của tiểu thuyết, thì các yếu tố thuộc về phương thức, kĩ thuật tự sự của chúng cũng có thể xem là hình ảnh thu nhỏ của tiểu thuyết. Nhận định này – truyện ngắn như là những tiểu thuyết viết “ngắn”, viết từng phần – với trường hợp sáng tác của Khái Hưng là hoàn toàn có cơ sở. Vì vậy, việc tìm hiểu các yếu tố kĩ thuật của tiểu thuyết luận đề trong truyện ngắn Khái Hưng giúp trả lời câu hỏi: Liệu có một loại hình truyện ngắn viết theo khuynh hướng luận đề hay không; nếu có thì đặc điểm hình thức của các truyện ngắn này là như thế nào?
Về hình thức, kĩ thuật của
mảng truyện ngắn, tiểu thuyết luận đề (Trống mái, Tiêu Sơn tráng sĩ, Dọc
đường gió bụi, Bên dòng sông Hương, Cô hàng nước, Những ngày vui, Cái thù ba
mươi năm,…) này, đáng chú ý là các thủ pháp quy chiếu sự kiện, nhân
vật, trần thuật vào luận đề mà nhà văn đề xuất, truyền tải trong tác
phẩm. Chẳng hạn, trong truyện ngắn Dọc đường gió bụi, Cô hàng nước, hay
trong tiểu thuyết Tiêu Sơn tráng sĩ, Khái Hưng cũng quy chiếu nhiều yếu
tố của tác phẩm vào luận đề: cá nhân sẵn sàng đánh đổi cả cuộc sống bình lặng
yên ổn để lựa chọn đường đi cho đời mình, tự do sống dấn thân theo cái cách của
mình và sẵn sàng chịu trách nhiệm về sự lựa chọn ấy. Tuy nhiên, số lượng truyện
ngắn mang tính luận đề là rất ít, và không tiêu biểu.
Trên thực tế, truyện ngắn có khuynh
hướng hỗn hợp là mảng truyện ngắn chiếm tỉ lệ nhiều nhất trong sáng tác
truyện ngắn của Khái Hưng. Các truyện này không thuộc hẳn một khuynh hướng nào
nên có thể gọi là truyện ngắn có khuynh hướng hỗn hợp về loại hình. Tất
nhiên ở đây, ba loại yếu tố: luận đề, phân tích xã hội, phân tích tâm lý dung
hợp với nhau khá phức tạp, tạo ra nhiều sắc độ đậm nhạt theo tương quan khác
nhau giữa các loại yếu tố.
Chỉ riêng về mảng truyện ngắn
theo khuynh hướng này – theo như kết quả thống kê, khảo sát – chiếm tỉ lệ cao
và là mảng sáng tác chiếm ưu thế, có nhiều thành công trong địa hạt truyện ngắn
của Khái Hưng (khoảng trên 50%). Tất nhiên, tổng hợp cũng có nhiều sắc độ: có
những truyện nói là tổng hợp nhưng vẫn còn hơi rõ chất luận đề (Dọc đường
gió bụi, Bên đường dừng bước, Con chim vành khuyên), có những truyện đậm
chất phân tích xã hội (Nắng mới trong rừng xuân, Thưa chị, Trong nhà
thương, Tập ảnh, Dưới ánh trăng, Đào Mơ, Thời chưa cưới), lại có những
truyện đậm màu sắc kĩ thuật phân tích tâm lý (Đồng xu...).
Tiểu thuyết Trống mái, truyện
ngắn: Điếu thuốc lá, Đồng xu, Đào Mơ,… của Khái Hưng cũng là những tiểu
thuyết, truyện ngắn đặc sắc nhờ sự kết hợp hài hòa nhiều yếu tố thể tài, nhất
là sự kết hợp giữa yếu tố phân tích xã hội và yếu tố phân tích tâm lý (riêng
chất luận đề trong các truyện này thường không thật rõ). Điều đáng nói ở trường
hợp Khái Hưng là bằng sáng tác, ông cũng đã lập nên được một hành trình riêng:
Từ truyện ngắn Dọc đường gió bụi đến Đào Mơ, Sư Tuệ, về
sau đến Tiêu Sơn tráng sĩ là một chặng đường tự điều chỉnh, bổ sung làm
mới kĩ thuật truyện ngắn, tiểu thuyết không ngừng.
Đào Mơ là sự
tiếp nối, và phần nào chuyển hướng chủ đề của Dọc đường gió bụi. Với Tiêu
Sơn tráng sĩ, tác giả đã đi từ truyện phân tích xã hội đậm chất luận đề
(Luận đề - phân tích xã hội) sang truyện phân tích tâm lý có màu sắc luận đề
(Luận đề - phân tích tâm lý). Sư Tuệ là sự tiếp nối về đề tài tình yêu
có màu sắc tôn giáo của Hồn bướm mơ tiên. Nhưng ở Sư Tuệ, Khái
Hưng đã sử dụng kĩ thuật phân tích tâm lý bằng dòng ý thức, khắc họa tâm lý
nhân vật khá thành công.
Văn chương của Khái Hưng, do
chỗ chú ý đến cái tinh tế mà dễ gợi trong tâm trí người đọc hình ảnh của những
tác phẩm cỡ nhỏ, cỡ vừa, gọn gàng, thanh thoát, xinh xắn như những áng văn xuôi
trữ tình, thậm chí, những bài thơ. Nó cũng mang lại cho người ta cái cảm giác
nhẹ nhõm kèm theo một thoáng bâng khuâng, suy tưởng về con người, cuộc đời.
Đến một thời điểm, tự sự luận
đề đã bắt đầu trở nên “mất giá”. Dẫu vậy, trên bình diện thể loại, vẫn có thể
nhận thấy một số khuynh hướng vận động thể loại và những dấu vết của dạng tự sự
này trong sáng tác của Khái Hưng. Nhìn chung chất luận đề trong sáng tác tiểu
thuyết, truyện ngắn của Khái Hưng ở cả hai chặng đường (1932-1935 và 1935-1940)
thường hoặc nhạt hoặc kín đáo.
Một cái nhìn tổng quát: trong
sáng tác của nhà văn Khái Hưng, có thể nhận thấy dấu vết ảnh hưởng của một số
môtíp cốt truyện (chủ yếu là cốt truyện tâm lý của giai đoạn đầu của văn chương
lãng mạn phương Tây) và kỹ thuật tự sự (chủ yếu là kỹ thuật phân tích tâm lý vi
phân của Dostoievski, M. Proust...) của phương Tây nhưng đồng thời trong
đó, vẫn có cả hình dáng của tự sự truyền thống (những kiểu nhân vật phụ, lối tả
thiên nhiên phong cảnh....) của văn học truyền thống phương Đông.
3. Tương tác thể loại – động
lực đa dạng hóa thẩm mỹ trong văn xuôi hư cấu của Khái Hưng
Bài viết đi tìm sự đa dạng
hóa thẩm mỹ và tương tác thể loại trong tác phẩm tiểu thuyết, truyện ngắn Khái
Hưng nhằm khẳng định thêm lần nữa sức sáng tạo vạm vỡ, phong phú của cây bút
văn xuôi xuất sắc bậc nhất trong dòng văn học lãng mạn Việt Nam. Bên cạnh đó,
thấy được ý thức thể loại và kỹ thuật thể loại trong tư duy nghệ thuật của nhà
văn.
Sự đa dạng hóa thẩm mỹ trong
tác phẩm của Khái Hưng cho thấy biểu hiện của hệ hình tư duy hiện đại. Nhà văn
đã chắt chiu cái đẹp của cuộc sống thường ngày làm biểu hiện của cái đẹp. Tác
phẩm tiểu thuyết, truyện ngắn của Khái Hưng luôn hướng tới con người đời tư cá
nhân. Con người trong tác phẩm của Khái Hưng được là con người với những đam
mê, xúc động, đời sống bản năng… Con người, trong Trống mái, với vẻ
đẹp hình thể đã trở thành biểu tượng thẩm mỹ.
Ngôn ngữ trong tác phẩm văn
học của Khái Hưng không chỉ là một phương tiện biểu đạt mà còn là một mục đích,
một sự lựa chọn mang tính thẩm mỹ. Ngôn từ trong tác phẩm của nhà văn được cá
thể hóa cao độ. Bên cạnh đó, việc tiếp nhận và biến đổi mô hình thể loại cũng
là một khoái thú thẩm mỹ của nhà văn.
Thử làm một phép so sánh với
các tác giả cùng với Khái Hưng, trong Tự lực văn đoàn, thấy rằng ở mỗi nhà văn
có một cá tính sáng tạo riêng. Xét về sự đa dạng, Khái Hưng hẳn là cây bút đa
dạng. Khái Hưng so với Nhất Linh, nhà văn “chủ soái” của Tự lực văn đoàn, thấy
sáng tác của Nhất Linh trong chặng đầu, hơi bị lệ thuộc vào luận đề; Khái Hưng
với một bản lĩnh nghệ thuật và cá tính sáng tạo riêng thường có khả năng làm mờ
hóa luận đề và hóa giải luận đề - điều mà Nhất Linh không sở trường.
Ngày nay đọc Khái Hưng vẫn
hấp dẫn vì những tác phẩm của ông đã chạm tới những vấn đề muôn thuở của cuộc
sống.
Như vậy, tương tác thể loại
giữa truyện ngắn và tiêu thuyết trong hành trình sáng tạo của Khái Hưng có thể
xem như một động lực, thậm chí, một phương tiện để phát huy sự đa dạng hóa thẩm
mỹ trong nghệ thuật tiểu thuyết./.























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét