Lược sử văn nghệ Việt Nam 6
4. TẠ KÝ – (1935 – 198?)
Sinh 1935 tại Quảng Nam.
Ngay trên ghế nhà trường đã có thơ đăng trên nhiều tạp chí ở thập niên 50. Thơ
đăng nhiều nhất trên tuần báo Đời Mới (Sài Gòn, Cn: Trần Văn Ân). Năm 1956, đứng
chung với: Phan Lạc Tuyên, Diên Nghị, Văn Thế Bảo, Tô Thùy Yên... trong tập tuyển
thơ Thơ Mùa Uất Hận (Tủ sách Quân đội 1970), sau xuất bản tập thơ Sầu ở lại
(1970).Thơ trữ tình, truyền cảm, xúc động. Bài Xuân Về Thương Nhớ Với Ai Đây trích dưới
đây là bài thơ hay.Tạ Ký là nhà thơ giàu tình cảm, tâm hồn thơ nồng nàn trữ tình. Qua đời vào năm
198? ở Rạch Giá.Trích thơ:XUÂN VỀ THƯƠNG NHỚ VỚI AI ĐÂY?Tết đến rồi đây, xuân đến đâyXuân về tết, tết được bao ngàyCười nghiêng núi thẳm: xuân gian khổKhóc đứng quê xa, tết dạn dầyCó những con người không biết tếtCăm căm thế sự nhíu đôi màyTóc rụng, xuân về hăm mấy bậnGiang hồ ta vẫn trắng đôi tayLòng riêng nào những xuân hay tếtDứt áo ra đi một chuyến nàyNhững chuyện tâm tình không tỏ đượcHoa đào trước cửa lả lơi bay... Bỗng nhiên trời đất đem xuân lạiMùa mới dâng hương ngập luống càyChim hót bình minh, hoa đón gióNhấm mứt gừng xuông ba bữa tếtĐêm trường xuân mộng gởi đôi tayĐâu đây nhạc rót lời tương biệtKhông hiểu thương ai nước mắt đầyNhà trống tha hồ mơ mộng đếnTiền đâu mua lấy nửa cơn say?Thơ chẳng ai yêu rồi cũng vẫnChờ mong phương nọ ngóng phương nàyCố tri dăm đứa nghèo xơ sácĂn chực, nằm chờ khắp đó đâyNuốt tiếng cười điên, ngâm lạc giọngSòng đời thua nhẵn cả thơ ngâyNghĩ tiếp vần thơ tràn nước mắtLệ mình sao nhấp vẫn cay cayLệ mình đâu phải dòng dư lệ?Mà giữa ngày vui khóc thế nàyXuân về thương nhớ với ai đây?1955(Trích tuần báo Đời Mới)TẠ KÝTừ Vũ và Việt Văn Mới Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế
Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu
cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những
người muốn khách quan sưu tra sử liệu KỲ THỨ XXIVVỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)]Giai đoạn kháng chiến, từ 1945 đến
1950 Việt Nam độc lập được gần một năm. Tiếp, Pháp chiếm lại Hà Nội, (ngày 19
tháng 12 năm 1946) cho dù đảng phái Quốc hay Cộng đều bỏ phù hiệu riêng, đoàn kết
trong danh xưng kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng. Suốt chín năm
(1945–1954), thì kháng chiến ở bốn năm về sau, đã hao hụt thực chất; Mác xít ra
mặt lãnh đạo – và cho đến 20–7–1954, phân chia đất nước, danh xưng toàn dân
kháng chiến mất hẳn ý nghĩa. Song trên bình diện văn nghệ, ý thức toàn dân
kháng chiến tạo được nền văn học có chiều sâu và rộng.Giai đoạn văn nghệ phân hóa, văn nghệ Mác xít – theo
hẳn lối sáng tác được chỉ huy, nhất là sau 1954 miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa. Còn Quốc Gia và miền Nam (VNCH) văn nghệ chỉ là vườn hoang, mọc đủ loại thảo
mộc. Trong tập này, với người khe khắt cho quá nhiều – người dễ dãi cho chưa đủ.
Với tôi, vẫn chỉ là bắt voi bỏ giọ, và tất nhiên chủ quan; thiếu sót tất nhiên
không thể tránh. Nhìn vào những người viết sách nhận định văn học trước như Vũ
Ngọc Phan kết luận cuối trang sách phê bình văn học, có đoạn:“... Trước hết, bộ sách này là bộ phê bình văn học như
tôi đã nói nhiều lần, vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà
văn. Sau nữa, trong khi tôi viết những trang phê bình về thơ, có nhiều thi sĩ
chưa có quyển thơ nào xuất bản, về kịch hay tiểu thuyết, có nhiều nhà văn chưa
có sách biên khảo, chưa có kịch hay tiểu thuyết ra đời. Như vậy, biết căn cứ
vào đâu cho chắc chắn? Rồi lại những nhà văn chính trị tuy đã có văn thơ in
trên báo chương hay xuất bản thành sách, cũng không có trong bộ sách này, vì một
lẽ mà ai cũng hiểu khi nhớ đến chế độ hiện hành về sách báo. Còn những nhà văn
chuyên viết những sách Pháp văn thì tôi cho là không phải nói đến trong văn học
Việt Nam. (...) Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa rằng bộ Nhà Văn Hiện Đại này
chỉ là một bộ phê bình văn học, không phải là bộ văn học sử. Trong văn học sử,
người viết cần phải xét rất kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến văn phẩm, rồi lại
phải định rõ cả sự liên lạc của nhà văn nọ với nhà văn kia đồng thời hay khác
thời đại. Nếu không đủ được những điều cốt yếu ấy, để định rõ phong trào văn học,
thì dù có văn học sử đi nữa, người ta cũng chỉ coi là một mớ sử liệu...” (1)Thời gian này tác phẩm viết bằng Pháp ngữ như Phạm Duy
Khiêm với Légendes des terrres sereines và Nam et Sylvie; hoặc Nguyễn Tiến Lãng
Le Chemin de la Révolte; Phạm Văn Ký: Frère de Sang, Celui qui régnera; Cung Giụ
Nguyên Le Fils de la baleine – sử học Lê Thành Khôi với Le Vietnam, Histoire et
Civilisation v.v..., không nói đến, cũng như lý do mà ông Vũ Ngọc Phan đề cập tới
ở trên. Đến nhà chính trị văn sĩ Hồ Hữu Tường với Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc bỡn
Nga, ... thì cũng vậy. Cả đến loại sách trinh thám kỳ tình, kiếm hiệp, phong thần,
phỏng dịch chắp vá được gọi là tác phẩm văn học – chúng tôi xin phép không nói
tới. Rõ hơn là Phạm Cao Củng có mặt từ tiền chiến với Kỳ Phát; hoặc truyện Người
Nhạn Trắng cũng thế v.v... Tác giả Hoàng Như Mai, thời gian 1950–1954 trong
kháng chiến; chúng tôi đưa vào cuốn này; vì vở kịch Tiếng Trống Hà Hồi đặc sắc
được in trình diễn ở Hà Nội. Có thể nói điển hình bộ môn kịch là Tiếng trống Hà
Nội. Bước sang bộ môn biên khảo, đưa Duy Sinh vào một tiết, như một điển hình
cho lớp người viết biên khảo; cũng vẫn chủ quan, so với Diên Hương, Thu - Giang
- Nguyễn - Duy - Cần; Khi đối chiếu lại thì, Duy Sinh không thể giá trị bằng
hai nhà biên khảo vừa nêu danh.Trở lại bình diện văn nghệ hậu chiến, tập 3 gồm trên
dưới một trăm nhà văn; chọn ba mươi điển hình nói tới cặn kẽ; so với người khác
viết tóm lược. Cũng vẫn chủ quan thô thiển và tự nhận thiếu sót. Bởi còn nghĩ
xa hơn rằng: "không thể viết đầy đủ các nhà văn mình muốn đưa vào một quyển,
thay vì mỗi nhà văn điển hình phải viết hẳn một cuốn nói về họ".Nên coi những trang viết này chỉ là chữ viết
(écriture) trong bộ sách này, và không là văn học (littérature); như quan niệm
của Michel Buto (2). Lẽ trang viết có ý nghĩa tổng quát hơn. Còn nữa, bộ sách
này chỉ là kết quả viết về tác phẩm các tác giả mà tôi đã đọc, đưa ra nhận xét
của riêng tôi; giúp cho nghề tôi nuôi nghiệp (littérateur). Từ 1950 đến 1956,
biến chuyển thời cuộc tác động đích thực vào đời sống văn học mà nhà văn sống
trong đó. Ở miền Bắc của Quốc Gia Việt Nam (1950 – 1954) nhóm Thế Kỷ tạo thành
một Triều Đẩu, qua những mảnh đời phóng sự hồi cư nóng bỏng, hàng ngày phải đối
phó với đời sống, tạm gọi độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Còn thêm nhà
văn điển hình như Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, (truyện),
Bến Nước Ngũ Bồ (kịch dã sử), Nguyễn Minh Lang, ngọn bút tài hoa của văn chương
lãng mạn mới, qua Gái Hà Nội, Nước Mắt Trong Đêm Mưa, Cánh Hoa Trước Gió (2 tập)...
Hai nhà văn này, chúng tôi đề cập ở Chương 3 (tiết 2 và 4) – nhưng tập 3 này xuất
bản ở Sài Gòn vào 1959 (Loại sách Đại Nam văn hiến trong nhà xuất bản Huyền
Trân, Nhật Tiến chủ trương) bị kiểm duyệt bỏ trọn tiết. Bản in lại lần thứ hai
in lại đầy đủ; nhưng trong lần này vẫn phải để trống phần phân tích; vì lý do tầm
thường – không kiếm được bản tái bản vào 1973. Hai nhà văn điển hình khác nói đến
trong Chương 3 là Thanh Hữu, Văn An. Về nhà thơ điển hình: Đinh Hùng, Nguyễn Quốc
Trinh... Viết tóm lược nhà thơ: Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Băng Sơn, Vân
Long, Trần Nhân Cư... Bình diện văn nghệ miền Trung (Quốc gia Việt Nam) vào
giai đoạn này, nhà thơ điển hình được nói đến : Huyền Chi (nữ), Hoài Minh,
Thanh Thuyền. Viết tóm lược các nhà thơ: Hồ Đình Phương, Huyền Viêm, Thế
Viên...Bình diện văn nghệ miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nhà
văn điển hình: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo (nữ), Triều Lương Chế, Phạm - Thái -
Nguyễn - Ngọc -Tân Phạm Thái kèm tên thật Nguyễn Ngọc Tân, phân biệt với một Phạm
Thái khác), Chấn Phong Hư Chu. Viết tóm lược: Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ),
Thiếu-Mai-Vũ-Bá- Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm
Minh, Nguyễn Hoài Văn, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân... Một số nhà văn khác nổi tiếng
sau giai đoạn 1956 như Võ Phiến chưa có tác phẩm xuất bản. Phải kể thêm trong số
đó: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, (nữ),
Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng (nữ), Võ Hồng, Thế Uyên, Tuấn Huy, Thế Nguyên,
v.v... của Đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 trở đi). Riêng về phóng sự tiểu thuyết:
Hoàng Hải Thủy với Vũ Nữ Sài Gòn (3), Duyên Anh qua bút hiệu Thương Sinh, Toàn
Phong với Đời Phi Công, chúng tôi chưa có cơ hội nói đến, và nhờ Vũ Ngọc Phan
giúp giải vây sự khốn đốn; ... vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất
cả nhà văn... Thêm nữa, khoảng thời gian viết đến lúc in ra (dầu cho là in
ronéo-typé cách vài năm). Do đó, chưa kịp nói đến Võ Phiến (Chữ Tình), (4) Thế
Uyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Toàn Phong , Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Thế
Nguyên, Văn Quang (Thùy Dương Trang), Huy Trâm, Phạm Nguyên Vũ, Túy Hồng (nữ),
Lê Vĩnh Hòa, Nhật Tiến, (văn) v.v... – Về thơ: Thái Thủy, Tô Thùy Yên, Tôn Thất
Quán, Hoàng Khanh, Cung Trầm Tưởng, Cao Mỵ Nhân, Viên Linh, Trần Dạ Từ (khi ấy
ký Hoài Nam), Hoài Khanh, Hà Yên Chi v.v... và v.v... (5).Giá trị văn chương tiền chiến Tự Lực văn đoàn, có cả
Lê Văn Trương, (tập một: Nhà văn tiền chiến), tiếp đến giá trị văn chương lửa
kháng chiến; sau là hậu chiến. Đọc Bướm Trắng, Nửa Chừng Xuân. Mấy Vần Thơ, Gửi
Hương Cho Gió, Vang Bóng Một Thời, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giông Tố... không nhìn
thấy đầy đủ hình tượng sống cuộc sống hôm nay được thấy trong: Gió Bấc, Truyện
Năm Người Thanh Niên, Trên Vỉa Hè Hà Nội, Cánh Hoa Trước Gió, Trại Tân Bồi,
Nhìn Xuống, Điệu Đàn Muôn Thuở, Đêm Giã Từ Hà Nội, Sợ Lửa, Rừng Địa Ngục....
Văn nghệ là sản phẩm phản ánh thời đại, nên Kim Vân Kiều có hay đến mức thượng
thừa – cũng chưa thể đại diện cho một khoảng thời gian không tiếp nối. Tác phẩm
Nguyễn Du mới chỉ nói lên đầy đủ về xã hội phong kiến giao thời mà tác giả Kim
Vân Kiều sống – đủ một số điều tương đồng hiện cảnh. Không thể nói đến Kim Vân
Kiều là đủ điều tất yếu hình tượng sống lịch sử. Tác phẩm của Karl Marx,
S.Freud cũng bị vượt qua, hiện nay vẫn cần khối óc siêu việt Oppeheimer,
Einstein, Gandhi, JP Sartre v.v...Phải hiểu được rằng: lịch sử một nước như lịch sử văn
học, luôn theo đà diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Nói khác đi, sử học, văn học
sử một nước không thể cắt quãng, cũng không tùy thuộc vào lập luận một phe nhóm
nào để định giá trị vĩnh viễn. Rất cảm phục lập luận của Vũ Ngọc Phan dẫn trên
kia; được gọi văn học sử, phải xét kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến tác phẩm,
định rõ liên hệ (chữ dùng: TP) giữa nhà văn này với nhà văn nọ, định rõ phong
trào văn học. Càng rõ hơn, được gọi văn học sử, ít ra phải làm được một bộ sách
Lịch Sử Văn Chương Ngôn Ngữ Pháp (tạm dịch Histoire des littératures de la
langue française) (6) do nhóm chủ trương gồm 209 giáo sư văn học thực hiện bộ
sách vĩ đại ấy.Cảm ơn số bạn giúp tài liệu, ý kiến, khích lệ, động
viên, khi tôi khởi sự viết bộ sách này. Như họa sĩ Đinh Cường cởi áo, ngồi xệp
trên sàn gác căn nhà trọ cùng tôi chia giúp những trang sách in ronéotypé xếp
thành tập vào 1959, ở hẻm nhà thờ Lý Thái Tổ (Chợ Lớn). Uyên Thao mượn cho chiếc
máy chữ, có lịch sử sản xuất cùng thời kỳ Tây hạ thành Hà Nội. Nguyễn Quang Tuyến
nuôi ăn ở hàng năm, tôi ra thư viện đọc sách. Cùng với nhiều thư tình đầy tâm
huyết người - tình - bậc - chị đến từ Hong Kong (nàng gọi Cảng Thơm) khích lệ
người - em - bạn - tình miệt mài với chữ và nghĩa. Lại không thể quên bạn vong
niên Phan Văn Thức cấp tiền ăn sáng, giấy stencil và thẩm phán Đào Minh Lượng,
khi là sinh viên Trường Luật mua bánh mì dùng bữa trưa để tôi ngồi lì ở Thư Viện
Quốc Gia làm mọt sách. Cũng không thể quên chịu ơn André Gide, qua cuốn sách viết
phê bình về Fédor Dostoievskï (7) và cả Textes philosophiques của V.Biélinsky
(8) nữa.THẾ PHONGPHẦN THỨ BAVỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)]CHƯƠNG NHẤTKHÁI QUÁT VỀ BÌNH DIỆN VĂN NGHỆ MIỀN NAM HỢP NHẤT: 1954 – 1956 (VNCH)KHÁI QUÁT BÌNH DIỆN THI CA MIỀN TRUNG (Quốc Gia Việt Nam)Hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 ra đời ở
Paris, Việt Nam có hai ranh tuyến rõ rệt. Từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, Chính Phủ
Quốc Gia Việt Nam (lúc đó gọi là Quốc Gia Việt Nam, Quốc Trưởng Bảo Đại); vĩ
tuyến 16 ra bắc thuộc Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa). Phong trào di dư
trên một triệu người (Chúa đã vào Nam) đưa đông đảo đồng bào di cư miền Bắc
(QGVN) cặp bến Bạch Đằng Thủ Đô Sàigòn. Thủ tướng Ngô Đình Diệm, chính phủ, đại
diện đảng phái quốc gia: đủ thành phần: Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên. Thời gian
liên hiệp này chỉ kéo dài không đầy một năm. Năm 1955, truất phế Cựu hoàng Bảo
Đại, ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng Thống. Đảng phái bị loại dần, tướng tá bị
triệt tiêu, cuối cùng là Trình Minh Thế (Cao Đài Liên Minh). Ông Trần Chánh
Thành được bổ nhiệm chức Tổng Trưởng Thông Tin; báo chí, văn hóa thuộc vào bộ
này. Nhật báo Cách Mạng Quốc Gia, cơ quan Phong Trào Công chức Cách Mạng Quốc
Gia, dùng Lê Văn Siêu chủ bút, cùng với số nhà văn, nhà báo đẩy mạnh tinh thần
chống Cộng, xây dựng chế độ nhà Ngô. Mặt khác, kỹ sư Võ Đức Diên, chủ nhiệm tờ
Sáng Dội Miền Nam gom số nhà văn báo di cư, nhạc sĩ, làm công tác văn hóa, chống
Cộng và xây dựng chế độ Đệ nhất Cộng Hòa; theo đường lối Ngô Đình Nhu, được coi
Cố Vấn tối cao Tổng thống Ngô Đình Diệm. Kiến trúc sư Diên thành lập Quán ăn
Anh Vũ (45 Bùi Viện, Sàigòn 1), bề ngoài tương trợ sinh viên; trong bốn bức tường
phòng ăn đều thiết kế hệ thống thâu âm lén dò xét. Nhật báo Thời Đại phe Cao
Đài Nguyễn Thành Phương, tuần báo Việt Chính (Cn: Đại tá Cao Đài Hồ Hán Sơn,
sau bị tướng Nguyễn Thành Phương thủ tiêu, ném xác xuống giếng sâu ở Bến Kéo
(Tây Ninh). Tuần báo Tổ Quốc, (Cn: Thành Nam (một trí thức phe Hòa Hảo), tuần
báo Đời Mới (vẫn là Trần Văn Ân, Chủ nhiệm, chủ bút thực thụ Hà Việt Phương,
không có tên ngoài manchette) ủng hộ Bình Xuyên. Ngoài báo Phương Đông Hòa Đồng
(sau này), đề xướng trung lập chế của Hồ Hữu Tường... Các nhà xuất bản sách văn
học, tiểu thuyết, sẵn có : NXB Phạm Văn Tươi, kiêm chủ hiệu may Jean, lại còn dịch
loại sách học làm người, ký Phạm Cao Tùng (dịch sách của Philippe Giradet...
Sau 1954 liên kết với NXB Thế Giới Nguyễn Văn Hợi từ Hà Nội vào theo đợt di cư,
thành tổ hợp xuất Hợp Lực, trụ sở ở 16 Sabourain (Tạ Thu Thâu, Saigon 1. Các
nhà xuất bản khác ở miền Nam như: Khai Trí, Nam Cường, Sống Mới... tiếp tục in
phát hành sách. Nhà Nam Cường phát hành sách Phượng Giang, (Đời Nay Nhất Linh
chủ trương), các nhà sách khác phát hành in các loại tiểu thuyết bình dân, ăn
khách của các tác giả: Dương Hà (Bên Giòng Sông Trẹm, Nguyễn Ngọc Mẫn (Tiếng Suối
Sau Leng); tiểu thuyết của Nghiêm Lệ Quân, Tùng Long (nữ), Lan Phương (nữ)
v.v... Báo Quân Đội, cơ quan của Nha Tác Động Tinh Thần (tiền thân của Cục Tâm
Lý Chiến) với Chỉ Đạo, Nguyễn Mạnh Côn (33) đồng hóa thiếu úy làm chủ bút, tờ tạp
chí này ít giá trị văn học, tuyên truyền chính trị. Báo này khám phá tài năng
Duyên Anh với truyện ngắn đầu tay đăng trên Chỉ đạo (Con Sáo của Em tôi). Tuần
báo Ban Mai do Phan Văn Chẩn, chủ nhà in Ban Mai, 1 Vassoigne Tân Định chủ
trương đăng truyện Bách Thảo Sương (Lý Văn Sâm) Bình Nguyên Lộc (34), Nguyễn Bảo
Hóa (ký Tiêu Kim Thủy), Thiếu Sơn (phê bình sách) ... nhà văn miền Nam Lý Văn
Sâm sau ra bưng. Nhóm được gọi đệ tứ miền Nam như Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc
(nhà văn này sau dùng tên thật Phạm Văn Hạnh không đứng chung với Tam Ích,
Thiên Giang, sang làm biên tập viên phần Pháp Ngữ Việt Nam Thông Tấn Xã
(VIETNAM PRESS). Phạm Văn Hạnh trước tiền chiến đứng chung trong Xuân Thu Nhã Tập,
với Đoàn Phú Tứ và Nguyễn Xuân Sanh. Phe Cao Đài Liên Minh, có nhật báo Quốc Gia
đặt ở 55A Hồ Xuân Hương, (Sàigòn 3) chủ bút Nhị Lang (thiếu tá Cao Đài Liên
Minh tham gia vào Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, cùng với Hồ Hán Sơn và một số
phe phái khác trong việc truất phế Cựu hoàng Bảo Đại, ủng hộ Ngô Đình Diệm làm
Tổng thống), Thư ký tòa soạn Đinh Thạch Bích (tác giả Ái tình Bôn Xê Vích, sau
được giải thưởng văn chương Quốc gia, và là Thứ trưởng Chiêu Hồi). Tờ báo này
quy tụ được một số cây viết di cư, trong đó họa sĩ Thái Tuấn trình bầy báo,
Uyên Thao, Thế Phong …làm phóng viên... Ngoài ra, tờ nhật báo Tự Do được Mỹ tài
trợ, ban đầu Tam Lang cùng một số nhà văn báo di cư như: Thượng Sỹ, Hoàng -Lan,
Nguyễn-Xuân-Huy, Đinh Hùng (ký Thần Đăng), Mặc Thu, Phạm Việt Tuyền, Như Phong,
Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan... Sau họ chia thành phe phái, tranh chấp nhau, tự ý đóng
cửa báo, loại nhau khỏi cơ sở. Sau 1956, chủ nhiệm mới Phạm Việt Tuyền, quản lý
Kiều Văn Lân, nhóm này lập Cơ Sở Tự Do, in tác phẩm của Vương Hồng Sển, Nguyễn
Đình Toàn, Lê Hoàng Long, Trần Đình Khải, Hoàng Đạo (tái bản), Đỗ Thúc Vịnh.(35)
Cuối 1956, Mỹ tài trợ Mai tạp chí văn nghệ Sáng Tạo, do W. Tucker (Mỹ trợ cấp
tiền) chỉ định Đặng Lê Kim quản lý tiền bạc kiểm soát. Thật ra, Sáng Tạo là hậu
thân Người Việt đình bản trước tờ này do Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền chủ
trương, đổi thành báo Lửa Việt. Mai Thảo, tác giả Tháng Giêng Cỏ Non xuất bản
vào 1955, được Nguyễn Đức Quỳnh cho con trai Duy Sinh, viết bài phê bình sách,
theo lối công kênh đăng, trên báo Đời Mới. Có hai mục đích: tác giả bỏ tiền in
hy vọng bán lấy lại vốn; hai để tập truyện một nhà văn di cư vào Nam cần có khí
thế để đề cao di cư, trốn chạy Cộng Sản. Nhóm Sáng Tạo gồm: Trần Thanh Hiệp (tập
sự luật sư), Nguyên Sa, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền… cùng các văn nhân vệ
tinh khác vây quanh. Mai Thảo huênh hoang, dao to búa lớn cầm cờ cổ súy phong
trào lấy văn hóa làm phương tiện chống Cộng mới hiệu quả, có tính chiến lược
lâu dài ... “đem ngọn lửa văn hóa vượt vĩ tuyến sáng lên ở đây hôm nay ... Sài
Gòn là Thủ đô văn hóa v.v... (Sáng Tạo số 1, tháng 10.1956) Và quả thực mãnh lực
đồng Mỹ kim, có giá trị siêu đẳng, từ đó khiến kẻ bao thầu văn không còn ngứa cổ
hót chơi như chim thơ tiền chiến Xuân Diệu hót hoài, hót mãi âm điệu: “... Năm
1954 còn ghi lại chối lòa cái đẹp của mùa mới, cái đẹp của lên đường (...) Khởi
đầu của từng hoạt động văn học, từng phát động nghệ thuật, nói chung, của ta
tuyệt đúng, tuyệt hay...!Năm 1950 Nhân Loại, tờ báo có mặt ở Saigon, (Cn Anh Đào) cơ quan tụ họp nhà
văn, nhà báo kháng chiến ở miền Nam, đang sống ở thị thành, hướng về kháng chiến
như: Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy, Ngọc Linh, Viễn Phương, Lê Vĩnh
Hòa... Báo in có sự yểm trợ của Đông Hồ, Mộng Tuyết, trụ sở đặt ở Yễm Thư
Trang, đường Kitchener (Nguyễn Thái Học bây giờ).Một số trí thức khác, từ miền Bắc di cư vào Nam, như:
Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, luật sư Nghiêm Xuân Hồng, Tạ Văn Nho, ... thành lập nhóm
Quan Điểm đặt trụ sở ở 35 đường Phạm Ngũ Lão, (Saigon 1) lập nhà xuất bản, in
sách và ra được một tuyển tập thơ văn Đất Đứng (1956), in sách của Tạ Văn Nho,
Vương Văn Quảng, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng. Có sự cố vấn tối cao, cố vấn
văn chương, chính trị Nguyễn Đức Quỳnh. Quản lý nhà in tiền bạc do luật sư
Nghiêm Xuân Hồng bỏ vốn. Các hiệp hội văn hóa như Văn Bút Việt Nam, Mặt trận Bảo
vệ Tự Do Văn Hóa được ra đời, với mục đích hỗ trợ văn hóa chống Cộng. Với Lý
Trung Dung, Phạm Xuân Thái (mở Câu Lạc Bộ Văn Hóa, 142 Tự Do, Saigon 1), Mạc
Đình, (bút danh khác của Hoàng Văn Chí) xuất bản Trăm Hoa Đua Nở (nói về Nhân
Văn ngoài Bắc), dịch Bác sĩ Jivago, truyện của Boris Pasterenak, hoặc Giai cấp
Mới của M.Dijlas...(Nam Tư).Những năm về sau; Nhất Linh rời núi rừng Dalat về
Sàigòn lao vào nghề làm văn chương báo chí. Không còn đứng xa chỉ đạo tái bản
sách Tự Lực văn đoàn (Phượng Giang, Đời Nay) do Nam Cường phát hành, ông xin
phép ra báo văn chương, nhưng chính phủ Ngô Đình Diệm chỉ cho phép xuất bản Văn
Hóa Ngày Nay dưới hình thức giai phẩm. Giai phẩm, loại báo phải kiểm duyệt từng
kỳ như sách, xuất bản không số giấy phép đăng trong Công Báo, hình thức bị kiểm
soát gắt gao hơn báo định kỳ. Giai đoạn này, ông viết truyện dài Giòng Sông
Thanh Thủy, đăng từng kỳ, sau xuất bản thành sách, (ba tập), Viết và đọc tiểu
thuyết...,và một tờ báo văn nghệ khác Tân Phong do Nguyễn Thị Vinh chủ trương,
cũng có thể gọi là nối dài Tự Lực văn đoàn ở hậu chiến. Những Tường Hùng, Duy
Lam, ... xuất hiện vào chu kỳ xuống núi này là của Nhất Linh, Ông đưa họ vào
văn đàn chính thức.Khi chính phủ Ngô Đình Diệm lên cầm quyền, văn hóa phải
được coi như tối ưu đãi với Thiên Chúa giáo. Không kể nhà thờ mọc lên như nấm,
khi tăng giáo dân theo đạo lấy gạo mà ăn. Giám mục Ngô Đình Thục mon men chức Đức
Hồng Y ở Rome, cho thuộc hạ rao ai theo đạo, mỗi đầu người trong gia đình được
cấp một tạ (ở Đà Lạt). Nhưng báo chí, văn hóa, văn nghệ đạo Thiên Chúa giáo
trong sinh hoạt đấu trường chữ nghĩa lại không mấy khuếch trương được. Vài cơ
quan báo chí đạo Công giáo (tên thường gọi làm cho sự hiểu lầm cả ở nước
ngoài, có lẽ Việt Nam, một nước có giáo dân khắp nước Thiên chúa giáo
(Catholique)) , chỉ trong phạm vi tôn giáo; còn công khai, chỉ có Đại Học
của Viện Đại Học Huế, do Linh mục Cao Văn Luận (tác giả Bên Giòng lịch sử) làm
viện trưởng chủ nhiệm, Nguyễn Văn Trung, chủ bút. Một số cây viết về văn học
nghệ thuật như Nguyễn Nam Châu, tay nhỏ viết ít, vung tay cao mạnh công kênh lớn
lên, đăng bài nghiên cứu văn học lại cóp dịch tác giả ngoại quốc.Vụ đạo văn này
Phạm Công Thiện lên án trên tạp chí Bách Khoa của Lê Ngộ Châu. Trở lại vấn đề Mỹ
tài trợ cho văn hóa Việt Nam phát triển, ở Sàigòn còn rất nhiều hiệp hội, như Asia
Foundation tài trợ cho Hội Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu của giáo sư Nguyễn
Đăng Thục, chủ nhiệm tạp chí Văn Hóa Á Châu (xuất bản hai thứ tiếng Việt, Anh).
Hiệp hội này do Trịnh Hoài Đức quản lý, nhà xuất bản Văn Hóa Á Châu xuất bản được
một số sách văn học cổ (dịch), như Việt sử Tiêu Án... còn ở miền Trung, cơ quan
văn hóa khác, báo Mùa Lúa Mới xuất bản vào 1955 ở Huế. Chủ nhiệm Võ Thu Tịnh
(còn ký Thu Tâm), cơ quan ngôn luận chống cộng của Nha Thông Tin Trung Việt.
Thơ, văn báo này không là văn học, mục đích phục vụ chính trị và những Việt
Minh cũ bỏ kháng chiến về thành làm công chức như Võ Phiến chẳng hạn - cũng là
kẻ góp công, tạo sức cho Mùa Lúa Mới trổ bông hái trái chống Mác xít (bề ngoài)
thâu lợi nhuận riêng (bề trong). Phần sau, chúng tôi có tiết nói tới nhà thơ kiểu
Thu Tâm là Quốc Dân và Đỗ Tấn điển hình.Đây chỉ là tổng quan về các hiệp hội văn hóa, các
nhóm, các tờ báo quy tụ lại thành nhóm; nhưng còn một hội sắp nói tới đây thật
đặc thù. Một hội không là hiệp hội, một nhóm không tên nhóm, một salon văn
chương không có vừa ăn, uống vừa đàm; trong một căn nhà tuềnh toàng gỗ trệt ở hẻm
Từ Quang (Chùa Từ Quang) – chủ soái Nguyễn Đức Quỳnh. Gọi là Đàm trưởng trưởng,
người điều hợp tọa đàm văn chương siêu việt, trung hòa mọi ý kiến đối nghịch,
nơi đã tạo ra nhiều nhà văn thơ có địa vị ở miền Nam. Sau này lớp trí thức Quan
Điểm, có mặt Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Tạ Văn Nho, Vương Văn Quảng,
kỹ sư canh nông viết sách khoa học, nhóm Sáng Tạo Người Việt, có: Doãn Quốc Sĩ,
Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Thái Tuấn, Duy Thanh,
Quách Thoại, Ngọc Dũng... Thạch Chương (36), Nhóm làm báo Sân Khấu, Tin Bắc: Lê
-Văn -Vũ -Bắc -Tiến, diễn viên kịch Thiếu Lang… Chính ở đàm trường này, Nguyễn
Đức Quỳnh hỏi Lê Văn, người bạn viết mới nào ký tên Phí Ích Nghiễm – ông mong
được gặp. Sau này, chính là nhà văn Dương Nghiễm Mậu. Những Bùi Khải Nguyên,
Uyên Thao, Hồ Hán Sơn (lúc chưa qua đời), Phạm Duy, Cung Trầm Tưởng, Lữ Hồ,
Thanh Thương Hoàng, Thế Nguyên, Trần Dạ Từ (lúc này còn ký Hoài Nam), Lý Đại
Nguyên, Đinh Hữu, Thanh Hữu, Uyên Thao… mỗi người bước vào nhà tới chiếc bàn nhỏ
có cuốn Vượt, đóng gáy da, mạ chữ vàng... Ai đến thì ký tên vào với bút tích, với
cảm nghĩ, thông báo sáng tác mới làm, và kinh nghiệm nghề cầm bút. Động lực của
salon văn chương Đàm Trường Viễn Kiến tạo được kích thích sáng tạo, đánh giá
văn chương đúng mức; nói khác đi cái nôi được bà vú tốt bụng giỏi giang nuôi dưỡng
tinh thần. Lại bàn về thơ phổ nhạc. Thơ hay sẽ càng hay hơn càng xúc cảm hơn; khi
được bàn tay phù thủy của âm nhạc phổ; sẽ càng phổ biến tăng cái hay của thơ
cho công chúng văn học nghệ thuật. Phạm Đình Chương, nhạc sĩ đưa bài thơ Mộng
Dưới Hoa của Đình Hùng vút tận trời xanh, với tiết tấu, nhạc điệu êm đềm, buồn
day dứt, thật tha thiết. Nguyễn Đức Quỳnh cảm được thơ đôi ba bài nào đó của Phạm
Thiên Thư, như Động Hoa Vàng, giới thiệu nhạc sĩ tài ba phù thủy Phạm Duy sẽ biến
ngay thành âm thanh dìu dặt, nâng đỉnh cao, sức đẩy bài thơ càng bay xa. Riêng
nhạc sĩ sau này còn đánh bóng thơ Cung Trầm Tưởng (38) lên cung bậc thượng thừa.Trong văn chương nghệ thuật, đôi khi rất cần những người
đánh giá tốt, thì Nguyễn Đức Quỳnh là bực thượng thừa. Theo sự hiểu biết chúng
tôi, sau còn người nữa, ông Lê Ngộ Châu (LNC) báo Bách Khoa. Sáng Tạo có mặt từ
tháng 10 năm 1956, Văn Hóa Ngày Nay, đầu năm 1958, Bách Khoa số đầu tiên 1957,
tòa soạn đặt trong một phòng ở chung cư đường Đoàn Thị Điểm, Saigon 3. Những chủ
nhiệm các tờ báo này không là người trong nghề, kể cả người đánh giá có mắt
tinh đời trong văn học nghệ thuật (LNC), nhưng tạp chí này còn là nôi, tạo
thành số nhà văn nổi đình đám sau này. Lê Ngộ Châu xuất thân theo học Trường Bưởi,
sinh năm 1923 ở ngoài Bắc, Ông đã điều khiển báo Bách Khoa, tạp chí ban đầu chỉ
là tiếng nói của ngành ngân hàng, sau trở thành một tạp chí giá trị văn học nghệ
thuật, với gần 200 số báo, kéo dài từ 1957 đến 1975, khi Võ Phiến được thuyên
chuyển nghề công chức từ Huế vào Saigon, nhà văn này đã coi nơi này là mảnh đất
tốt cầy sới làm nên sự nghiệp. Có cả nhà thơ (đôi khi rất điên, điên, bệnh thật
sự) là Nguiễn Ngu Í (chủ trương I ngắn), từ báo Phương Đông (Hồ Hữu Tường), Mới
(Phạm Văn Tươi) chuyển sang, với hàng loạt phỏng vấn các nhà văn, thơ họa, tạo
được một không khí sôi nổi kích thích nền văn nghệ Việt Nam Cộng Hòa khởi sắc.
Kể thêm những cây bút khác, như Nguyễn Hiến Lê, Xuân Hiến, Phan Văn Tạo, (từ
nơi Bách Khoa đăng truyện đầu tiên), Đoàn Thêm, rồi Vòng Tay Học Trò đăng tải
trước khi in thành sách. Và nhà văn Nguyễn Thị Hoàng bước lên chỗ đứng văn học vững
vàng. Còn Túy Hồng tương tự Nguyễn Thị Hoàng. Và còn Lê Tất Điều, Trùng Dương,
Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Mộng Giác... Vòng tay núi lớn Bách Khoa của Lê Ngộ
Châu, chủ trương dung hòa, kết nạp mọi khuynh hướng; ngoài Nguyễn Văn Trung, Vũ
Hạnh, còn một linh mục ở Pháp về vào 1965, có bài báo đầu tiên ký Nguyễn Ngọc
Lan đăng ở đây với khoản nhuận bút 500 đồng. Song đối với tác giả lúc ấy thật
quí! Nguyễn Ngọc Lan (39) sau đó đã trở thành nhà hoạt động chính trị, cởi áo
dòng về với nhân gian làm người bình thường, tác giả một số sách về nhân văn
giá trị tư tưởng, có vị thế riêng biệt.Chương HaiVỀ CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP VIẾT SƠ LƯỢC.Lớp nhà văn nữ, điển hình khuynh hướng tình cảm lãng
mạn buông lỏng, tác phẩm là truyện dài đăng từng ký trên nhật báo Sài Gòn Mới
(Cn: bà Bút Trà), như Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ) (in thành sách), Thiếu -
Mai – Vũ - Bá - Hùng (nữ)... thuộc loại văn câu khách, giá trị nội dung không
cao. Nhà văn trẻ khác, đang lên như Kiêm Minh, Uyên Thao, Tạ Quang Khôi, Nguyễn
Hoài Văn, Minh Đăng Khánh, Tô Kiều Ngân, Tường Hùng,... nội dung tác phẩm, mổ
xẻ nội tâm người thời đại sâu sắc. Truyện ngắn tạp văn, có Nguyễn Hoài Văn,
Kiêm Minh, Uyên Thao… Truyện dài Mưa Gió Miền Nam của Tạ Quang Khôi đăng từng kỳ
trên nhật báo Tự Do, có sự khích lệ nhiệt tình Vũ Khắc Khoan, kịch tác gia là một
trong ban chủ biên báo Tự Do, (người môi giới Mỹ tài trợ, hình thành tờ báo
trên). Một số nhà văn khác chưa nói đến trong sách này, dù tuổi chín muồi,
nhưng nghiệp văn mới bắt đầu; theo thiển ý, chỉ nhắc sơ lược. Như Lưu Nghi (sau
chủ trương NXB Trùng Dương), Phạm Nguyên Vũ có một số truyện ngắn đăng trên
Sáng Tạo, Tân Kỷ Nguyên Võ Phiến, (báo Mùa Lúa Mới, Bách Khoa), tác giả tập
truyện Chữ Tình (1957, sau chủ trương NXB Thời Mới), Thanh Thương Hoàng (39)
(Kiếp Phong Sương, 1957), Văn Quang (truyện ngắn Dưới Ánh Đèn Đêm, Giao Thanh
(truyện Trọn Vẹn), Huy Trâm (40) (truyện Đêm Mưa Trong Xóm Hoa kiều) (45). Đa số
các nhà văn dùng chất liệu sống từ đời họ, hoặc hình tượng sống đãi lọc ngoài đời,
đưa vào truyện đủ gây ấn tượng ban đầu là nhà văn tài năng.Hình ảnh các nhà văn ấy, khiến chúng tôi nhớ đến Raymond Radiguet qua tác phẩm
(Le corps au diable) (41); đọc xong nhà thơ nổi tiếng Jean Cocteau khen: những
trang tuyệt đẹp trong văn chương Pháp.Tiết 1Tiểu mục:1. Tùng LongTên Lê Thị Bạch Vân. Sinh 1913 ở Đà Nẵng. Theo học Trường Áo
Tím (Gia Long bây giờ). Chủ trương báo Tân Thời ở Sài Gòn. Vào Nam từ 1935, biên tập
viên nhật báo Sài Gòn Mới (Cn: Bút Trà), Phụ Nữ Diễn Đàn, Văn Nghệ Tiền
Phong... Từ 1952, cho đăng truyện dài từng kỳ trên báo Sài Gòn Mới, như truyện
Nhị Lan, Chúa Tiền Chúa Bạc, Những Kẻ Có Lòng, Hoa Tỉ Muội, Tình và Tiền, Lầu Tỉnh
Mộng, Ái Tình và Danh Dự... một số truyện sau in thành sách. Truyện Tùng Long đề
cao nền luân lý cũ, giáo dục gia phong nền nếp theo quan niệm cổ hủ chịu ảnh hưởng
luân lý trường đời Lê Văn Trương. Nếu nhân vật truyện của Lê Văn Trương, đôi
khi cường điệu trở thành anh hùng rơm, y hệt nếp sống nhân vật Tùng Long. Trong
hầu hết các truyện mang tính chất, cao thượng rởm phong lưu mượn. Thường thường,
người giầu thương người nghèo làm phúc, con gái cha mẹ đặt đâu phải ngồi đó, phải
giầu lòng nhân ái; nhưng là ngụy bác ái (philanthropie). Các truyện Lầu Tỉnh Mộng,
Hoa Tỉ Muội, câu cú, bút pháp đủ sức hấp dẫn đối với đàn bà, con gái có trình độ
văn hóa phổ thông, ưa thích truyện khuê phòng, lắt léo, gây cấn.Văn chương lãng mạn bình dân Tùng Long ảnh hưởng đến quần chúng độc giả không
phải nhỏ. Chung trường hợp Tùng Long là Tôn Ngô, Dương Hà, Phú Đức, Nguyễn Ngọc
Mẫn, Trọng Nguyên... Riêng Trọng Nguyên, nhà văn trẻ có tiểu thuyết bán rất chạy,
không kém Tùng Long; nội dung mới hơn, nhân vật đầy sức sống, Việt Nam hơn - ấy
là so sánh tâm lý nhân vật Tùng Long, không Việt Nam; bởi phỏng theo phương
Tây, qua các báo Nous Deux, Marie Claire ...2. Quỳnh HươngTên thật Võ Thị Ngọc Hương, sinh 1918 ở Huế. Theo học Trường
Đồng Khánh, École des Soeurs ở Huế. Viết văn khi còn trên ghế nhà trường vào
năm 17 tuổi. Những bài văn đầu tiên gửi cho Nam Phong (Phạm Quỳnh), Phong Hóa
(Nhất Linh), Phụ Nữ Thời Đàm v.v... Tác phẩm: Hai Ngả Đường (Bốn Phương,
1953)...Về mặt phân tích tâm lý nhân vật nữ, sâu sắc, tế nhị. Từ cử chỉ nhỏ nhặt phụ nữ,
ý nghĩ bộc phát thật phức tạp của nữ giới, và chỉ nữ giới mới biết được; trong
tác phẩm của bà đã hiện rõ nét. Tuy nhiên Hai Ngả Đường chưa đạt nghệ thuật
cao, tùy nội dung tiến bộ. Nếu đem so sánh với Một Linh Hồn của Thụy An Hoàng
Dân đúng là một trời một vực..3. Thiếu Mai – Vũ Bá Hùng. (1918-2007)
Tên thật Nguyễn Thị Hòa. Sinh 1918 ở Hà Đông. Viết cho báo
Đàn Bà của Thụy - An - Hoàng - Dân thời tiền chiến. Bài văn đầu tiên Kiếp Hoa
đăng trên báo tuần san được Giải thưởng Phụ nữ vào 1933. Sau 1950 bà dịch truyện
Amok, truyện của Stephan Zweig đăng trên báo Tiếng Dân (Hà Nội). Vào SàiGòn bà
viết cho các tuần báo Ban Mai (Phan Văn Chẩn), Quốc Gia (Nhị Lang)... Tác phẩm:
Trời Đã Xế Chiều (Hưng Long Hà Nội 1953), Tiếng Gọi Đồng Quê (dịch The Good
Earth, truyện Pearl Buck).Tóm tắt cốt truyện Trời Đã Xế Chiều, tả cuộc đời sóng
gió một người vợ trẻ, có tên Phương Lan. Nhân vật nữ lập gia đình rồi, phó thác
số phận cho chồng lo toan; riêng nàng cho đây là cách xây dựng hạnh phúc tốt đẹp
nhất. Khi nhân vật thứ ba xen vào, chồng nàng san xẻ tình yêu cho người ấy thì
Phương Lan nhận thấy không còn cách nào giải quyết, ngoài ly dị. Nàng bế con
thơ ra đi. Cốt truyện giản dị như vậy tác giả đi sâu vào tâm lý nhân vật nữ,
đào sâu hơn vẫn là Phương Lan. Nhân vật nam như, Tuấn, Huy, Linh, tác giả áp dụng
lối dĩ độc trị độc, để giải quyết bế tắc mỗi nhân vật. Nhưng có thể, nghệ thuật
viết còn yếu, non tay; lối dĩ độc trị độc đầu độc ngược lại; không mang lại hiệu
quả như ý tác giả. Tây học song bà vẫn chịu nhiều ảnh hưởng Khổng, Mạnh, giải
quyết số phận nhân vật theo định mệnh. Tác giả cho nhân vật Huy kết hôn với
Phương Lan, vì nàng không thể tránh nổi hồng nhan; Huy chết vì không được hồng
nhan yêu, Phương Lan tự tử vì hối hận. Cách giải quyết theo lối định mệnh nhân
vật Trời Đã Xế Chiều, có ý kiến dưới đây khá xác đáng “... Đây giản dị lắm.
Toàn là những Trời bắt, thoát sao được! Tác giả đã đành chịu với định mệnh thì
làm sao cho các nhân vật của mình tìm ra lối thoát. Định mệnh đã ràng buộc, định
mệnh là quân tiền phong của định mệnh bắt xế chiều rồi, làm sao cho hửng nắng.
Gàn tai ác và dã man là đức tính của tác giả Phương Lan, thế nào làm cho Phương
Lan lành mạnh được!...” (42) Về dịch thuật, Thiếu - Mai - Vũ - Bá - Hùng, qua Tiếng
Gọi Đồng Quê chưa là dịch giả xuất sắc, dịch chưa thoát lột tả được nội dung
nguyên tác. Nhiều đoạn văn dịch trúc trắc, khó hiểu, Tây hóa quá mức, hơn cả nội
dung tác giả Phương Tây thấm nhuần lề lối cảm nghĩ Đông Phương như Pearl Buck.4. Minh Đăng Khánh (1927–198?)Tên hiện mang trong căn cước: Trần Đăng Lộc. Sinh 1927 ở
Thanh Hóa. Theo học khóa 1 Trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn, Liên khu IV. Sau hồi
cư, ký Minh Đăng Khánh, trong các truyện thiếu nhi, như Bê và Lụ đăng trên tuần
báo Đời Mới (Sài Gòn) mà ông là biên tập viên. Minh Đăng Khánh rời kháng chiến,
nhưng còn người em ruột ở lại, cũng viết lách mang cùng bút hiệu. Nếu Thy Thy Tống
Ngọc trên báo Giang Sơn (Hà Nội) trước năm 1954 có những chuyện thiếu nhi được
kể lại trong Khúc Ca Thơ Ấu; thì ở Sài Gòn có Minh Đăng Khánh chăm sóc giáo dục
thiếu nhi qua loạt truyện như Bê và Lu. Tác giả có giọng văn thật trong sáng,
dí dỏm, tài kể chuyện thật hấp dẫn. Tiền chiến có Trần Trung Phương, Tô Hoài
(43) nhất là Tô Hoài với Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, truyện này thật sinh động, kích
thích, hồi hộp cho thiếu nhi chia sẻ với chuyến phiêu lưu dế mèn tơ rời ổ.Ông qua đời ở Sài Gòn, vì tai biến mạch máu não, vào thập
niên 80.5. Tạ Quang Khôi.Sinh 1933 ở Nam Định. Cùng là bạn học, và khởi sự viết với
Hoàng Song Liêm, Nghiêm Huy Giao – ở Hà Nội trước 1954; nhưng mới chỉ gửi bài
lai cảo đến các tòa báo chờ đăng. 1954 vào Nam, được sự khích lệ tận tình Vũ Khắc
Khoan, ngay cả chọn bút hiệu bằng tên thật (ở Hà Nội, ký dưới thơ lai cảo Tạ
Quang Diễm). Ông viết truyện dài Vực Thẳm nhiều kỳ trên nhật báo Tự Do. Truyện
luận đề, tả sự xung đột giữa hai khối: Cộng sản và Quốc gia. Nhân vật được xoay
quanh sinh hoạt người làm chính trị. Nhưng không sở trường, mà là sở đoản cho
tác giả Vực Thẳm. Tác giả thiếu vốn liếng, sinh hoạt của người làm chính trị,
nhân vật chính khách trở thành ngây thơ, kệch cỡm. Như Nguyễn Ái Lữ chuyển từ
viết truyện tâm tình sang tập tạp bút luận đề chính trị Đường Tự Do, thì lại xa
lạ với chính ông; hoặc Huy Sơn cũng từ Thương Em Lạc Hướng Đời sang Trường Ca;
các tác giả ấy chỉ mong nhân vật đi đúng lập trường chống Cộng và đề cao người
Quốc gia. Tạ Quang Khôi sở trường về tiểu thuyết tâm lý xã hội thanh niên nam nữ,
được mô tả trong tiểu thuyết Mưa Gió Miền Nam.6. Tường Hùng.Nguyễn Tường Hùng sinh 1931 ở Hà Nội. Con cháu nhà văn Nguyễn
Tường Tam (Nhất Linh), chủ soái Tự Lực văn đoàn tiền chiến. Gió Mát, truyện dài
đầu tay được nhà xuất bản Phượng Giang in ấn. (Nhất Linh, chủ trương ở Sài Gòn
sau 1950). Tác giả đưa bối cảnh xã hội 1945 năm đầu của Tổng Khởi Nghĩa cho cốt
truyện. Sâm, Kim, Hương, Thu, Lý, Nam; hầu hết là thanh niên, nam nữ thời ấy.
Sâm bỡ ngỡ với cuộc kháng chiến mở màn; vẻ dằn dỏi can đảm thôn nữ như Kim, óng
ả mượt thành thị là Hương, mỗi nhân vật được phân tích có cá tính. Nội dung
truyện, ông đưa ra kết luận, đại để bất cứ thời đại nào, dù vừa trải qua cách mệnh
long trời lở đất; thì lòng người thời nào cũng vẫn giống nhau không thích chiến
tranh. Người ta vẫn yêu nhau, bao giờ tình yêu cũng đẹp! Tâm lý nhân vật Tường
Hùng, như trên đã nói, phân tích chiều sâu nội tâm sâu sắc, phong phú tình cảm,
rung động; nhất là những pha tả sự gặp gỡ giữa Sâm và Kim, chứng tỏ ông là nhà
văn có bút pháp một tiểu thuyết gia tài năng truyền thống. Nhân vật Sâm, có thể
nói; chính là sự phản ánh về giai cấp tác giả, như được mô tả là giai cấp ngồi
đợi (bất chiến tự nhiên thành) không muốn tranh đấu, nhưng lại tin là kết quả
thì ưu tiên hưởng. Có đoạn bố cục cho nhân vật tỏ ra khác người, cố nặn tình tiết
kỳ lạ, bí hiểm, tâm lý quá lố, yếu tố chính là tác giả tạo cho độc giả đọc mà
khó hiểu như đây là một lập ý cao. Cho đến khi chúng tôi viết đến đây, Gió Mát
ra đời tác giả lên đường du học ở Pháp.7. Kiêm Minh (1929 – 1985).Tên thật Trần Kiêm Minh. Sinh 1929 ở Huế. Tác giả rất nhiều
truyện ngắn, tạp bút, đăng trên các báo: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Thẩm Mỹ, Nhân
Loại, Cải Tạo loại mới, Sinh Lực..., đến nay chưa xuất bản được tác phẩm nào.
Kiêm Minh viết truyện thiếu nhi; riêng loại này xuất bản thành tập nhỏ. Ông rất
sở đắc về loại truyện thiếu nhi, viết thật dí dỏm, kể chuyển hay, cộng thêm văn
duyên dáng hợp với tuổi mới lớn. Về truyện ngắn, như: Chiến Lợi Phẩm, tả tâm trạng
của anh lính chiến trở về chỉ sống nhờ vào chiến lợi phẩm có được, sau khi vào
sinh ra tử, tay không lại hoàn tay không, thật xúc động. Sau thế chiến hai, đời
sống khổ cực vì miếng cơm manh áo dân Ý Đại Lợi được mô tả trong nhiều truyện
ngắn; đọc xong cười ra nước mắt của Alberto Moravia; thì không khí truyện Kiêm
Minh cũng vậy. Viết về những mẩu đời đi xuống, muốn phá trật tự xã hội trong tập
truyện Cấm Yêu – đọc lên thật thấm thía chua xót. Cặp nam thanh nữ tú yêu nhau
bị gia đình cha mẹ cản ngăn không tác hợp, họ bèn bẻ xiềng xích, thân lập thân
quyết lấy nhau, chung sống. Truyện ngắn Kiêm Minh nội dung sâu sắc, tế nhị, phản
ánh đời sống thực tế phũ phàng, nhân vật sống với tư tưởng triết lý vụn ý
nghĩa. Tất cả đây đó được ông thể hiện qua truyện ngắn: Nắng Nửa Đêm, Chiến Lợi
Phẩm, Sau Lưng Thành Phố, Cấm Yêu... Số truyện ngắn này có thể lên tới con số
hàng trăm. Nếu phong cho nhà văn viết truyện ngắn hay, sâu sắc tiến bộ, tư tưởng
cao, văn phong mượt mà, bóng bẩy ở hậu chiến; đề nghị danh sách đứng hàng đầu
là nhà văn tài năng Kiêm Minh. Ông qua đời ở Sài Gòn vào những năm tám mươi
trong đói nghèo.8. Tô Kiều Ngân.Tên thật Lê Mộng Ngân. Sinh 1928 ở Huế. Bạn văn Kiêm Minh, Thanh Nam, Nguyễn Minh Lang, Nguyễn Thiệu
Giang... Cùng Thanh Nam chủ trương tuần báo Thẩm Mỹ (Sài Gòn) vào những năm năm
mươi. Viết cho rất nhiều báo, những đoản văn, bài thơ nho nhỏ, bài điểm sách
vài cột báo; ông còn thổi sáo, viết sách dạy thổi sáo, ngâm thơ. Nhiều năm cộng
tác với Đinh Hùng trong Tao Đàn ở Đài phát thanh Sài Gòn; từ nhiều năm cộng tác
với các báo từ Nam ra Bắc cả Trung; độc giả vẫn còn được đọc bài thơ nho nhỏ
đăng trên Mùa Lúa Mới (Võ Thu Tịnh) như: Tâm Sự Người Chiến Binh. Trước 1954 một
đoản văn của ông viết về Hàng Khay đăng trên báo Hồ Gươm (Hà Nội). Tác phẩm:
Người Đi Qua Lô Cốt (tập truyện Sài Gòn 1956)Tô Kiều Ngân viết nhiều truyện ngắn, đoản truyện đúng
hơn; không có gì nổi trội, đặc sắc, kể cả truyện nói về chiến binh (nhà văn
quân đội), chiến trường, nơi sống và chết gần kề dễ làm xúc động độc giả. Nhưng
với Tô Kiều Ngân, điều này xa vắng trong tác phẩm.Người Đi Qua Lô Cốt, có truyện tập diễn tả theo lối văn
câm giác (style d’inspiration) như một truyện nào đó trong Tháng Giêng Cỏ Non của
Mai Thảo, nhưng chưa thể là Mai Thảo. Và truyện khá nhất trong tập, Nắng Lửa,
gia đình anh Mười quá nghèo sống trong xóm lao động. Cái hay, ông tả rất sống động
hiện thực, theo dõi tâm lý nhân vật biến đổi qua thời đoạn sống, cũng chiều chuộng
vợ con, gia đình nhưng không thể nhiều hơn một lần, bởi đời sống khổ cực, làm
ăn không ra, vợ chồng cãi cọ, gấu ó trong cuộc sống. Nguyên nhân chính vẫn là
cái khó bó cái khôn, sự khổ cực nghèo hèn của đôi vợ chồng anh Mười kéo dài.Truyện ngắn khác như Biển Lửa, Ánh Đèn Đêm... không có
gì mới kể cả truyện chính Người Đi Qua Lô Cốt, làm nhan đề sách.9. Uyên Thao.Tên khai sinh Vũ Viết Loan. Sau đổi tên thật nhiều lần, cuối cùng là Vũ Quốc Châu. Sinh 1933 ở Tuyên Quang trong một
gia đình lao động. Về Hà Nội học từ năm 1950. Ngay khi ngồi trên ghế nhà trường,
ông có bài đăng trên Tia Sáng Đặc San (Ngô Vân), ký Hà Lang, được nhà thơ dạy học
Nguyễn Việt Hoài (Hoài Việt) khuyến khích tận tình. Năm 1954, phóng viên nhật
báo Quốc Gia (Nhị Lang, chủ bút), Văn Nghệ Tập San (Nguyễn Đăng Thục), Thư ký
tòa soạn tạp chí Sinh Lực (Võ Văn Trưng), Tạp chí Văn Hóa Á Châu, nhiều bài bàn
về văn học ký Lý Danh Chương (43). Viết truyện ngắn, làm thơ, phê bình văn học,
điểm sách trong tuần. Truyện ngắn tâm tình đặc sắc như: Nắng Tháng 10 đăng trên
Văn Nghệ Tiền Phong (Hồ Anh) Triệu Chứng trên báo Dân Chủ (Vũ Ngọc Các). Đêm
Đông Đặc (Mùa Lúa Mới). Truyện ngắn mổ xẻ nội tâm phân tích sâu sắc, văn phong
nhẹ nhàng. Ở Nắng Tháng 10 không khí văn như Thạch Lam trong Tà Áo Lụa.Một truyện ngắn khác, luận đề tư tưởng, nói về sự phân
tranh giữa Quốc và Cộng; trong Đêm Đông Đặc (báo Mùa Lúa Mới); truyện công thức,
gò bó, đem lập trường chính trị vào văn chương qua nhân vật dàn dựng, thiếu chất
văn chương.10. Nguyễn Hoài Văn.Tên thật Nguyễn Bùi Thức. Sinh 1930 ở Nam Định. Lớp cùng thời
Tô Kiều Ngân, Thanh Nam, Nguyễn Thiệu Giang...; sáng tác thơ, kịch ngắn. Truyện
ngắn: Bơ Vơ, Tình Ruộng Đất, Hai Tiếng Chuông, Thuở Nào Xưa, Chiếc Mũ Lá...
đăng trên báo Quê Hương (Hà Nội), Cải Tạo (Hà Nội), Thẩm Mỹ (SàiGòn)... và chưa
xuất bản thành sách. Truyện ngắn đặc sắc, Dòng Dư Lệ đăng trên tạp chí Nghệ Thuật
(1953), Chiếc Mũ Lá (Thẩm Mỹ). Truyện sau tả hai anh em ruột ở hai chiến tuyến
đối nghịch gặp nhau ngoài trận địa, chuyện thật bi thảm, xúc động, bàng hoàng;
đánh động ý thức xâu sé về nội chiến ròng rã mấy mươi thập niên. Nguyễn Hoài
Văn tạo được chỗ đứng riêng khi kể đến những nhà văn viết truyện ngắn hay hậu
chiến (tuy chưa có một tác phẩm in thành sách).Từ Vũ và Việt Văn Mới Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế
Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu
cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những
người muốn khách quan sưu tra sử liệu KỲ THỨ XXVVỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)]Giai đoạn kháng chiến, từ 1945 đến
1950 Việt Nam độc lập được gần một năm. Tiếp, Pháp chiếm lại Hà Nội, (ngày 19
tháng 12 năm 1946) cho dù đảng phái Quốc hay Cộng đều bỏ phù hiệu riêng, đoàn kết
trong danh xưng kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng. Suốt chín năm
(1945–1954), thì kháng chiến ở bốn năm về sau, đã hao hụt thực chất; Mác xít ra
mặt lãnh đạo – và cho đến 20–7–1954, phân chia đất nước, danh xưng toàn dân
kháng chiến mất hẳn ý nghĩa. Song trên bình diện văn nghệ, ý thức toàn dân
kháng chiến tạo được nền văn học có chiều sâu và rộng.Giai đoạn văn nghệ phân hóa, văn nghệ Mác xít – theo
hẳn lối sáng tác được chỉ huy, nhất là sau 1954 miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa. Còn Quốc Gia và miền Nam (VNCH) văn nghệ chỉ là vườn hoang, mọc đủ loại thảo
mộc. Trong tập này, với người khe khắt cho quá nhiều – người dễ dãi cho chưa đủ.
Với tôi, vẫn chỉ là bắt voi bỏ giọ, và tất nhiên chủ quan; thiếu sót tất nhiên
không thể tránh. Nhìn vào những người viết sách nhận định văn học trước như Vũ
Ngọc Phan kết luận cuối trang sách phê bình văn học, có đoạn:“... Trước hết, bộ sách này là bộ phê bình văn học như
tôi đã nói nhiều lần, vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà
văn. Sau nữa, trong khi tôi viết những trang phê bình về thơ, có nhiều thi sĩ
chưa có quyển thơ nào xuất bản, về kịch hay tiểu thuyết, có nhiều nhà văn chưa
có sách biên khảo, chưa có kịch hay tiểu thuyết ra đời. Như vậy, biết căn cứ
vào đâu cho chắc chắn? Rồi lại những nhà văn chính trị tuy đã có văn thơ in
trên báo chương hay xuất bản thành sách, cũng không có trong bộ sách này, vì một
lẽ mà ai cũng hiểu khi nhớ đến chế độ hiện hành về sách báo. Còn những nhà văn
chuyên viết những sách Pháp văn thì tôi cho là không phải nói đến trong văn học
Việt Nam. (...) Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa rằng bộ Nhà Văn Hiện Đại này
chỉ là một bộ phê bình văn học, không phải là bộ văn học sử. Trong văn học sử,
người viết cần phải xét rất kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến văn phẩm, rồi lại
phải định rõ cả sự liên lạc của nhà văn nọ với nhà văn kia đồng thời hay khác
thời đại. Nếu không đủ được những điều cốt yếu ấy, để định rõ phong trào văn học,
thì dù có văn học sử đi nữa, người ta cũng chỉ coi là một mớ sử liệu...” (1)Thời gian này tác phẩm viết bằng Pháp ngữ như Phạm Duy
Khiêm với Légendes des terrres sereines và Nam et Sylvie; hoặc Nguyễn Tiến Lãng
Le Chemin de la Révolte; Phạm Văn Ký: Frère de Sang, Celui qui régnera; Cung Giụ
Nguyên Le Fils de la baleine – sử học Lê Thành Khôi với Le Vietnam, Histoire et
Civilisation v.v..., không nói đến, cũng như lý do mà ông Vũ Ngọc Phan đề cập tới
ở trên. Đến nhà chính trị văn sĩ Hồ Hữu Tường với Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc bỡn
Nga, ... thì cũng vậy. Cả đến loại sách trinh thám kỳ tình, kiếm hiệp, phong thần,
phỏng dịch chắp vá được gọi là tác phẩm văn học – chúng tôi xin phép không nói
tới. Rõ hơn là Phạm Cao Củng có mặt từ tiền chiến với Kỳ Phát; hoặc truyện Người
Nhạn Trắng cũng thế v.v... Tác giả Hoàng Như Mai, thời gian 1950–1954 trong
kháng chiến; chúng tôi đưa vào cuốn này; vì vở kịch Tiếng Trống Hà Hồi đặc sắc
được in trình diễn ở Hà Nội. Có thể nói điển hình bộ môn kịch là Tiếng trống Hà
Nội. Bước sang bộ môn biên khảo, đưa Duy Sinh vào một tiết, như một điển hình
cho lớp người viết biên khảo; cũng vẫn chủ quan, so với Diên Hương, Thu - Giang
- Nguyễn - Duy - Cần; Khi đối chiếu lại thì, Duy Sinh không thể giá trị bằng
hai nhà biên khảo vừa nêu danh.Trở lại bình diện văn nghệ hậu chiến, tập 3 gồm trên
dưới một trăm nhà văn; chọn ba mươi điển hình nói tới cặn kẽ; so với người khác
viết tóm lược. Cũng vẫn chủ quan thô thiển và tự nhận thiếu sót. Bởi còn nghĩ
xa hơn rằng: "không thể viết đầy đủ các nhà văn mình muốn đưa vào một quyển,
thay vì mỗi nhà văn điển hình phải viết hẳn một cuốn nói về họ".Nên coi những trang viết này chỉ là chữ viết
(écriture) trong bộ sách này, và không là văn học (littérature); như quan niệm
của Michel Buto (2). Lẽ trang viết có ý nghĩa tổng quát hơn. Còn nữa, bộ sách
này chỉ là kết quả viết về tác phẩm các tác giả mà tôi đã đọc, đưa ra nhận xét
của riêng tôi; giúp cho nghề tôi nuôi nghiệp (littérateur). Từ 1950 đến 1956,
biến chuyển thời cuộc tác động đích thực vào đời sống văn học mà nhà văn sống
trong đó. Ở miền Bắc của Quốc Gia Việt Nam (1950 – 1954) nhóm Thế Kỷ tạo thành
một Triều Đẩu, qua những mảnh đời phóng sự hồi cư nóng bỏng, hàng ngày phải đối
phó với đời sống, tạm gọi độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Còn thêm nhà
văn điển hình như Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, (truyện),
Bến Nước Ngũ Bồ (kịch dã sử), Nguyễn Minh Lang, ngọn bút tài hoa của văn chương
lãng mạn mới, qua Gái Hà Nội, Nước Mắt Trong Đêm Mưa, Cánh Hoa Trước Gió (2 tập)...
Hai nhà văn này, chúng tôi đề cập ở Chương 3 (tiết 2 và 4) – nhưng tập 3 này xuất
bản ở Sài Gòn vào 1959 (Loại sách Đại Nam văn hiến trong nhà xuất bản Huyền
Trân, Nhật Tiến chủ trương) bị kiểm duyệt bỏ trọn tiết. Bản in lại lần thứ hai
in lại đầy đủ; nhưng trong lần này vẫn phải để trống phần phân tích; vì lý do tầm
thường – không kiếm được bản tái bản vào 1973. Hai nhà văn điển hình khác nói đến
trong Chương 3 là Thanh Hữu, Văn An. Về nhà thơ điển hình: Đinh Hùng, Nguyễn Quốc
Trinh... Viết tóm lược nhà thơ: Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Băng Sơn, Vân
Long, Trần Nhân Cư... Bình diện văn nghệ miền Trung (Quốc gia Việt Nam) vào
giai đoạn này, nhà thơ điển hình được nói đến : Huyền Chi (nữ), Hoài Minh,
Thanh Thuyền. Viết tóm lược các nhà thơ: Hồ Đình Phương, Huyền Viêm, Thế
Viên...Bình diện văn nghệ miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nhà
văn điển hình: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo (nữ), Triều Lương Chế, Phạm - Thái -
Nguyễn - Ngọc -Tân Phạm Thái kèm tên thật Nguyễn Ngọc Tân, phân biệt với một Phạm
Thái khác), Chấn Phong Hư Chu. Viết tóm lược: Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ),
Thiếu-Mai-Vũ-Bá- Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm
Minh, Nguyễn Hoài Văn, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân... Một số nhà văn khác nổi tiếng
sau giai đoạn 1956 như Võ Phiến chưa có tác phẩm xuất bản. Phải kể thêm trong số
đó: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, (nữ),
Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng (nữ), Võ Hồng, Thế Uyên, Tuấn Huy, Thế Nguyên,
v.v... của Đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 trở đi). Riêng về phóng sự tiểu thuyết:
Hoàng Hải Thủy với Vũ Nữ Sài Gòn (3), Duyên Anh qua bút hiệu Thương Sinh, Toàn
Phong với Đời Phi Công, chúng tôi chưa có cơ hội nói đến, và nhờ Vũ Ngọc Phan
giúp giải vây sự khốn đốn;... vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất
cả nhà văn... Thêm nữa, khoảng thời gian viết đến lúc in ra (dầu cho là in
ronéo-typé cách vài năm). Do đó, chưa kịp nói đến Võ Phiến (Chữ Tình), (4) Thế
Uyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Toàn Phong, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Thế
Nguyên, Văn Quang (Thùy Dương Trang), Huy Trâm, Phạm Nguyên Vũ, Túy Hồng (nữ),
Lê Vĩnh Hòa, Nhật Tiến, (văn) v.v... – Về thơ: Thái Thủy, Tô Thùy Yên, Tôn Thất
Quán, Hoàng Khanh, Cung Trầm Tưởng, Cao Mỵ Nhân, Viên Linh, Trần Dạ Từ (khi ấy
ký Hoài Nam), Hoài Khanh, Hà Yên Chi v.v... và v.v... (5).Giá trị văn chương tiền chiến Tự Lực văn đoàn, có cả
Lê Văn Trương, (tập một: Nhà văn tiền chiến), tiếp đến giá trị văn chương lửa
kháng chiến; sau là hậu chiến. Đọc Bướm Trắng, Nửa Chừng Xuân. Mấy Vần Thơ, Gửi
Hương Cho Gió, Vang Bóng Một Thời, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giông Tố... không nhìn
thấy đầy đủ hình tượng sống cuộc sống hôm nay được thấy trong: Gió Bấc, Truyện
Năm Người Thanh Niên, Trên Vỉa Hè Hà Nội, Cánh Hoa Trước Gió, Trại Tân Bồi,
Nhìn Xuống, Điệu Đàn Muôn Thuở, Đêm Giã Từ Hà Nội, Sợ Lửa, Rừng Địa Ngục....
Văn nghệ là sản phẩm phản ánh thời đại, nên Kim Vân Kiều có hay đến mức thượng
thừa – cũng chưa thể đại diện cho một khoảng thời gian không tiếp nối. Tác phẩm
Nguyễn Du mới chỉ nói lên đầy đủ về xã hội phong kiến giao thời mà tác giả Kim
Vân Kiều sống – đủ một số điều tương đồng hiện cảnh. Không thể nói đến Kim Vân
Kiều là đủ điều tất yếu hình tượng sống lịch sử. Tác phẩm của Karl Marx,
S.Freud cũng bị vượt qua, hiện nay vẫn cần khối óc siêu việt Oppeheimer,
Einstein, Gandhi, JP Sartre v.v...Phải hiểu được rằng: lịch sử một nước như lịch sử văn
học, luôn theo đà diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Nói khác đi, sử học, văn học
sử một nước không thể cắt quãng, cũng không tùy thuộc vào lập luận một phe nhóm
nào để định giá trị vĩnh viễn. Rất cảm phục lập luận của Vũ Ngọc Phan dẫn trên
kia; được gọi văn học sử, phải xét kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến tác phẩm,
định rõ liên hệ (chữ dùng: TP) giữa nhà văn này với nhà văn nọ, định rõ phong
trào văn học. Càng rõ hơn, được gọi văn học sử, ít ra phải làm được một bộ sách
Lịch Sử Văn Chương Ngôn Ngữ Pháp (tạm dịch Histoire des littératures de la
langue française) (6) do nhóm chủ trương gồm 209 giáo sư văn học thực hiện bộ
sách vĩ đại ấy.Cảm ơn số bạn giúp tài liệu, ý kiến, khích lệ, động
viên, khi tôi khởi sự viết bộ sách này. Như họa sĩ Đinh Cường cởi áo, ngồi xệp
trên sàn gác căn nhà trọ cùng tôi chia giúp những trang sách in ronéotypé xếp
thành tập vào 1959, ở hẻm nhà thờ Lý Thái Tổ (Chợ Lớn). Uyên Thao mượn cho chiếc
máy chữ, có lịch sử sản xuất cùng thời kỳ Tây hạ thành Hà Nội. Nguyễn Quang Tuyến
nuôi ăn ở hàng năm, tôi ra thư viện đọc sách. Cùng với nhiều thư tình đầy tâm
huyết người - tình - bậc - chị đến từ Hong Kong (nàng gọi Cảng Thơm) khích lệ
người - em - bạn - tình miệt mài với chữ và nghĩa. Lại không thể quên bạn vong
niên Phan Văn Thức cấp tiền ăn sáng, giấy stencil và thẩm phán Đào Minh Lượng,
khi là sinh viên Trường Luật mua bánh mì dùng bữa trưa để tôi ngồi lì ở Thư Viện
Quốc Gia làm mọt sách. Cũng không thể quên chịu ơn André Gide, qua cuốn sách viết
phê bình về Fédor Dostoievskï (7) và cả Textes philosophiques của V.Biélinsky
(8) nữa.THẾ PHONGPHẦN THỨ BAVỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)]CHƯƠNG NHẤTKHÁI QUÁT VỀ BÌNH DIỆN VĂN NGHỆ MIỀN NAM HỢP NHẤT: 1954 – 1956 (VNCH)KHÁI QUÁT BÌNH DIỆN THI CA MIỀN TRUNG (Quốc Gia Việt Nam)Hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 ra đời ở
Paris, Việt Nam có hai ranh tuyến rõ rệt. Từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, Chính Phủ
Quốc Gia Việt Nam (lúc đó gọi là Quốc Gia Việt Nam, Quốc Trưởng Bảo Đại); vĩ
tuyến 16 ra bắc thuộc Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa). Phong trào di dư
trên một triệu người (Chúa đã vào Nam) đưa đông đảo đồng bào di cư miền Bắc
(QGVN) cặp bến Bạch Đằng Thủ Đô Sàigòn. Thủ tướng Ngô Đình Diệm, chính phủ, đại
diện đảng phái quốc gia: đủ thành phần: Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên. Thời gian
liên hiệp này chỉ kéo dài không đầy một năm. Năm 1955, truất phế Cựu hoàng Bảo
Đại, ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng Thống. Đảng phái bị loại dần, tướng tá bị
triệt tiêu, cuối cùng là Trình Minh Thế (Cao Đài Liên Minh). Ông Trần Chánh
Thành được bổ nhiệm chức Tổng Trưởng Thông Tin; báo chí, văn hóa thuộc vào bộ
này. Nhật báo Cách Mạng Quốc Gia, cơ quan Phong Trào Công chức Cách Mạng Quốc
Gia, dùng Lê Văn Siêu chủ bút, cùng với số nhà văn, nhà báo đẩy mạnh tinh thần
chống Cộng, xây dựng chế độ nhà Ngô. Mặt khác, kỹ sư Võ Đức Diên, chủ nhiệm tờ
Sáng Dội Miền Nam gom số nhà văn báo di cư, nhạc sĩ, làm công tác văn hóa, chống
Cộng và xây dựng chế độ Đệ nhất Cộng Hòa; theo đường lối Ngô Đình Nhu, được coi
Cố Vấn tối cao Tổng thống Ngô Đình Diệm. Kiến trúc sư Diên thành lập Quán ăn
Anh Vũ (45 Bùi Viện, Sàigòn 1), bề ngoài tương trợ sinh viên; trong bốn bức tường
phòng ăn đều thiết kế hệ thống thâu âm lén dò xét. Nhật báo Thời Đại phe Cao
Đài Nguyễn Thành Phương, tuần báo Việt Chính (Cn: Đại tá Cao Đài Hồ Hán Sơn,
sau bị tướng Nguyễn Thành Phương thủ tiêu, ném xác xuống giếng sâu ở Bến Kéo
(Tây Ninh). Tuần báo Tổ Quốc, (Cn: Thành Nam (một trí thức phe Hòa Hảo), tuần
báo Đời Mới (vẫn là Trần Văn Ân, Chủ nhiệm, chủ bút thực thụ Hà Việt Phương,
không có tên ngoài manchette) ủng hộ Bình Xuyên. Ngoài báo Phương Đông Hòa Đồng
(sau này), đề xướng trung lập chế của Hồ Hữu Tường... Các nhà xuất bản sách văn
học, tiểu thuyết, sẵn có : NXB Phạm Văn Tươi, kiêm chủ hiệu may Jean, lại còn dịch
loại sách học làm người, ký Phạm Cao Tùng (dịch sách của Philippe Giradet...
Sau 1954 liên kết với NXB Thế Giới Nguyễn Văn Hợi từ Hà Nội vào theo đợt di cư,
thành tổ hợp xuất Hợp Lực, trụ sở ở 16 Sabourain (Tạ Thu Thâu, Saigon 1. Các
nhà xuất bản khác ở miền Nam như: Khai Trí, Nam Cường, Sống Mới... tiếp tục in
phát hành sách. Nhà Nam Cường phát hành sách Phượng Giang, (Đời Nay Nhất Linh
chủ trương), các nhà sách khác phát hành in các loại tiểu thuyết bình dân, ăn
khách của các tác giả: Dương Hà (Bên Giòng Sông Trẹm, Nguyễn Ngọc Mẫn (Tiếng Suối
Sau Leng); tiểu thuyết của Nghiêm Lệ Quân, Tùng Long (nữ), Lan Phương (nữ)
v.v... Báo Quân Đội, cơ quan của Nha Tác Động Tinh Thần (tiền thân của Cục Tâm
Lý Chiến) với Chỉ Đạo, Nguyễn Mạnh Côn (33) đồng hóa thiếu úy làm chủ bút, tờ tạp
chí này ít giá trị văn học, tuyên truyền chính trị. Báo này khám phá tài năng
Duyên Anh với truyện ngắn đầu tay đăng trên Chỉ đạo (Con Sáo của Em tôi). Tuần
báo Ban Mai do Phan Văn Chẩn, chủ nhà in Ban Mai, 1 Vassoigne Tân Định chủ
trương đăng truyện Bách Thảo Sương (Lý Văn Sâm) Bình Nguyên Lộc (34), Nguyễn Bảo
Hóa (ký Tiêu Kim Thủy), Thiếu Sơn (phê bình sách) ... nhà văn miền Nam Lý Văn
Sâm sau ra bưng. Nhóm được gọi đệ tứ miền Nam như Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc
(nhà văn này sau dùng tên thật Phạm Văn Hạnh không đứng chung với Tam Ích,
Thiên Giang, sang làm biên tập viên phần Pháp Ngữ Việt Nam Thông Tấn Xã
(VIETNAM PRESS). Phạm Văn Hạnh trước tiền chiến đứng chung trong Xuân Thu Nhã Tập,
với Đoàn Phú Tứ và Nguyễn Xuân Sanh. Phe Cao Đài Liên Minh, có nhật báo Quốc Gia
đặt ở 55A Hồ Xuân Hương, (Sàigòn 3) chủ bút Nhị Lang (thiếu tá Cao Đài Liên
Minh tham gia vào Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, cùng với Hồ Hán Sơn và một số
phe phái khác trong việc truất phế Cựu hoàng Bảo Đại, ủng hộ Ngô Đình Diệm làm
Tổng thống), Thư ký tòa soạn Đinh Thạch Bích (tác giả Ái tình Bôn Xê Vích, sau
được giải thưởng văn chương Quốc gia, và là Thứ trưởng Chiêu Hồi). Tờ báo này
quy tụ được một số cây viết di cư, trong đó họa sĩ Thái Tuấn trình bầy báo,
Uyên Thao, Thế Phong …làm phóng viên... Ngoài ra, tờ nhật báo Tự Do được Mỹ tài
trợ, ban đầu Tam Lang cùng một số nhà văn báo di cư như: Thượng Sỹ, Hoàng -Lan,
Nguyễn-Xuân-Huy, Đinh Hùng (ký Thần Đăng), Mặc Thu, Phạm Việt Tuyền, Như Phong,
Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan... Sau họ chia thành phe phái, tranh chấp nhau, tự ý đóng
cửa báo, loại nhau khỏi cơ sở. Sau 1956, chủ nhiệm mới Phạm Việt Tuyền, quản lý
Kiều Văn Lân, nhóm này lập Cơ Sở Tự Do, in tác phẩm của Vương Hồng Sển, Nguyễn
Đình Toàn, Lê Hoàng Long, Trần Đình Khải, Hoàng Đạo (tái bản), Đỗ Thúc Vịnh.(35)
Cuối 1956, Mỹ tài trợ Mai tạp chí văn nghệ Sáng Tạo, do W. Tucker (Mỹ trợ cấp
tiền) chỉ định Đặng Lê Kim quản lý tiền bạc kiểm soát. Thật ra, Sáng Tạo là hậu
thân Người Việt đình bản trước tờ này do Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền chủ
trương, đổi thành báo Lửa Việt. Mai Thảo, tác giả Tháng Giêng Cỏ Non xuất bản
vào 1955, được Nguyễn Đức Quỳnh cho con trai Duy Sinh, viết bài phê bình sách,
theo lối công kênh đăng, trên báo Đời Mới. Có hai mục đích: tác giả bỏ tiền in
hy vọng bán lấy lại vốn; hai để tập truyện một nhà văn di cư vào Nam cần có khí
thế để đề cao di cư, trốn chạy Cộng Sản. Nhóm Sáng Tạo gồm: Trần Thanh Hiệp (tập
sự luật sư), Nguyên Sa, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền… cùng các văn nhân vệ
tinh khác vây quanh. Mai Thảo huênh hoang, dao to búa lớn cầm cờ cổ súy phong
trào lấy văn hóa làm phương tiện chống Cộng mới hiệu quả, có tính chiến lược
lâu dài ... “đem ngọn lửa văn hóa vượt vĩ tuyến sáng lên ở đây hôm nay ... Sài
Gòn là Thủ đô văn hóa v.v... (Sáng Tạo số 1, tháng 10.1956) Và quả thực mãnh lực
đồng Mỹ kim, có giá trị siêu đẳng, từ đó khiến kẻ bao thầu văn không còn ngứa cổ
hót chơi như chim thơ tiền chiến Xuân Diệu hót hoài, hót mãi âm điệu: “... Năm
1954 còn ghi lại chối lòa cái đẹp của mùa mới, cái đẹp của lên đường (...) Khởi
đầu của từng hoạt động văn học, từng phát động nghệ thuật, nói chung, của ta
tuyệt đúng, tuyệt hay...!Năm 1950 Nhân Loại, tờ báo có mặt ở Saigon, (Cn Anh Đào) cơ quan tụ họp nhà
văn, nhà báo kháng chiến ở miền Nam, đang sống ở thị thành, hướng về kháng chiến
như: Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy, Ngọc Linh, Viễn Phương, Lê Vĩnh
Hòa... Báo in có sự yểm trợ của Đông Hồ, Mộng Tuyết, trụ sở đặt ở Yễm Thư
Trang, đường Kitchener (Nguyễn Thái Học bây giờ).Một số trí thức khác, từ miền Bắc di cư vào Nam, như:
Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, luật sư Nghiêm Xuân Hồng, Tạ Văn Nho,... thành lập nhóm
Quan Điểm đặt trụ sở ở 35 đường Phạm Ngũ Lão, (Saigon 1) lập nhà xuất bản, in
sách và ra được một tuyển tập thơ văn Đất Đứng (1956), in sách của Tạ Văn Nho,
Vương Văn Quảng, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng. Có sự cố vấn tối cao, cố vấn
văn chương, chính trị Nguyễn Đức Quỳnh. Quản lý nhà in tiền bạc do luật sư
Nghiêm Xuân Hồng bỏ vốn. Các hiệp hội văn hóa như Văn Bút Việt Nam, Mặt trận Bảo
vệ Tự Do Văn Hóa được ra đời, với mục đích hỗ trợ văn hóa chống Cộng. Với Lý
Trung Dung, Phạm Xuân Thái (mở Câu Lạc Bộ Văn Hóa, 142 Tự Do, Saigon 1), Mạc
Đình, (bút danh khác của Hoàng Văn Chí) xuất bản Trăm Hoa Đua Nở (nói về Nhân
Văn ngoài Bắc), dịch Bác sĩ Jivago, truyện của Boris Pasterenak, hoặc Giai cấp
Mới của M.Dijlas...(Nam Tư).Những năm về sau; Nhất Linh rời núi rừng Dalat về
Sàigòn lao vào nghề làm văn chương báo chí. Không còn đứng xa chỉ đạo tái bản
sách Tự Lực văn đoàn (Phượng Giang, Đời Nay) do Nam Cường phát hành, ông xin
phép ra báo văn chương, nhưng chính phủ Ngô Đình Diệm chỉ cho phép xuất bản Văn
Hóa Ngày Nay dưới hình thức giai phẩm. Giai phẩm, loại báo phải kiểm duyệt từng
kỳ như sách, xuất bản không số giấy phép đăng trong Công Báo, hình thức bị kiểm
soát gắt gao hơn báo định kỳ. Giai đoạn này, ông viết truyện dài Giòng Sông
Thanh Thủy, đăng từng kỳ, sau xuất bản thành sách, (ba tập), Viết và đọc tiểu
thuyết...,và một tờ báo văn nghệ khác Tân Phong do Nguyễn Thị Vinh chủ trương,
cũng có thể gọi là nối dài Tự Lực văn đoàn ở hậu chiến. Những Tường Hùng, Duy
Lam, ... xuất hiện vào chu kỳ xuống núi này là của Nhất Linh, Ông đưa họ vào
văn đàn chính thức.Khi chính phủ Ngô Đình Diệm lên cầm quyền, văn hóa phải
được coi như tối ưu đãi với Thiên Chúa giáo. Không kể nhà thờ mọc lên như nấm,
khi tăng giáo dân theo đạo lấy gạo mà ăn. Giám mục Ngô Đình Thục mon men chức Đức
Hồng Y ở Rome, cho thuộc hạ rao ai theo đạo, mỗi đầu người trong gia đình được
cấp một tạ (ở Đà Lạt). Nhưng báo chí, văn hóa, văn nghệ đạo Thiên Chúa giáo
trong sinh hoạt đấu trường chữ nghĩa lại không mấy khuếch trương được. Vài cơ
quan báo chí đạo Công giáo (tên thường gọi làm cho sự hiểu lầm cả ở nước
ngoài, có lẽ Việt Nam, một nước có giáo dân khắp nước Thiên chúa giáo
(Catholique)) , chỉ trong phạm vi tôn giáo; còn công khai, chỉ có Đại Học
của Viện Đại Học Huế, do Linh mục Cao Văn Luận (tác giả Bên Giòng lịch sử) làm
viện trưởng chủ nhiệm, Nguyễn Văn Trung, chủ bút. Một số cây viết về văn học
nghệ thuật như Nguyễn Nam Châu, tay nhỏ viết ít, vung tay cao mạnh công kênh lớn
lên, đăng bài nghiên cứu văn học lại cóp dịch tác giả ngoại quốc.Vụ đạo văn này
Phạm Công Thiện lên án trên tạp chí Bách Khoa của Lê Ngộ Châu. Trở lại vấn đề Mỹ
tài trợ cho văn hóa Việt Nam phát triển, ở Sàigòn còn rất nhiều hiệp hội, như Asia
Foundation tài trợ cho Hội Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu của giáo sư Nguyễn
Đăng Thục, chủ nhiệm tạp chí Văn Hóa Á Châu (xuất bản hai thứ tiếng Việt, Anh).
Hiệp hội này do Trịnh Hoài Đức quản lý, nhà xuất bản Văn Hóa Á Châu xuất bản được
một số sách văn học cổ (dịch), như Việt sử Tiêu Án... còn ở miền Trung, cơ quan
văn hóa khác, báo Mùa Lúa Mới xuất bản vào 1955 ở Huế. Chủ nhiệm Võ Thu Tịnh
(còn ký Thu Tâm), cơ quan ngôn luận chống cộng của Nha Thông Tin Trung Việt.
Thơ, văn báo này không là văn học, mục đích phục vụ chính trị và những Việt
Minh cũ bỏ kháng chiến về thành làm công chức như Võ Phiến chẳng hạn - cũng là
kẻ góp công, tạo sức cho Mùa Lúa Mới trổ bông hái trái chống Mác xít (bề ngoài)
thâu lợi nhuận riêng (bề trong). Phần sau, chúng tôi có tiết nói tới nhà thơ kiểu
Thu Tâm là Quốc Dân và Đỗ Tấn điển hình.Đây chỉ là tổng quan về các hiệp hội văn hóa, các
nhóm, các tờ báo quy tụ lại thành nhóm; nhưng còn một hội sắp nói tới đây thật
đặc thù. Một hội không là hiệp hội, một nhóm không tên nhóm, một salon văn
chương không có vừa ăn, uống vừa đàm; trong một căn nhà tuềnh toàng gỗ trệt ở hẻm
Từ Quang (Chùa Từ Quang) – chủ soái Nguyễn Đức Quỳnh. Gọi là Đàm trưởng trưởng,
người điều hợp tọa đàm văn chương siêu việt, trung hòa mọi ý kiến đối nghịch,
nơi đã tạo ra nhiều nhà văn thơ có địa vị ở miền Nam. Sau này lớp trí thức Quan
Điểm, có mặt Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Tạ Văn Nho, Vương Văn Quảng,
kỹ sư canh nông viết sách khoa học, nhóm Sáng Tạo Người Việt, có: Doãn Quốc Sĩ,
Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Thái Tuấn, Duy Thanh,
Quách Thoại, Ngọc Dũng... Thạch Chương (36), Nhóm làm báo Sân Khấu, Tin Bắc: Lê
-Văn -Vũ -Bắc -Tiến, diễn viên kịch Thiếu Lang… Chính ở đàm trường này, Nguyễn
Đức Quỳnh hỏi Lê Văn, người bạn viết mới nào ký tên Phí Ích Nghiễm – ông mong
được gặp. Sau này, chính là nhà văn Dương Nghiễm Mậu. Những Bùi Khải Nguyên,
Uyên Thao, Hồ Hán Sơn (lúc chưa qua đời), Phạm Duy, Cung Trầm Tưởng, Lữ Hồ,
Thanh Thương Hoàng, Thế Nguyên, Trần Dạ Từ (lúc này còn ký Hoài Nam), Lý Đại
Nguyên, Đinh Hữu, Thanh Hữu, Uyên Thao… mỗi người bước vào nhà tới chiếc bàn nhỏ
có cuốn Vượt, đóng gáy da, mạ chữ vàng... Ai đến thì ký tên vào với bút tích, với
cảm nghĩ, thông báo sáng tác mới làm, và kinh nghiệm nghề cầm bút. Động lực của
salon văn chương Đàm Trường Viễn Kiến tạo được kích thích sáng tạo, đánh giá
văn chương đúng mức; nói khác đi cái nôi được bà vú tốt bụng giỏi giang nuôi dưỡng
tinh thần. Lại bàn về thơ phổ nhạc. Thơ hay sẽ càng hay hơn càng xúc cảm hơn; khi
được bàn tay phù thủy của âm nhạc phổ; sẽ càng phổ biến tăng cái hay của thơ
cho công chúng văn học nghệ thuật. Phạm Đình Chương, nhạc sĩ đưa bài thơ Mộng
Dưới Hoa của Đình Hùng vút tận trời xanh, với tiết tấu, nhạc điệu êm đềm, buồn
day dứt, thật tha thiết. Nguyễn Đức Quỳnh cảm được thơ đôi ba bài nào đó của Phạm
Thiên Thư, như Động Hoa Vàng, giới thiệu nhạc sĩ tài ba phù thủy Phạm Duy sẽ biến
ngay thành âm thanh dìu dặt, nâng đỉnh cao, sức đẩy bài thơ càng bay xa. Riêng
nhạc sĩ sau này còn đánh bóng thơ Cung Trầm Tưởng (38) lên cung bậc thượng thừa.Trong văn chương nghệ thuật, đôi khi rất cần những người
đánh giá tốt, thì Nguyễn Đức Quỳnh là bực thượng thừa. Theo sự hiểu biết chúng
tôi, sau còn người nữa, ông Lê Ngộ Châu (LNC) báo Bách Khoa. Sáng Tạo có mặt từ
tháng 10 năm 1956, Văn Hóa Ngày Nay, đầu năm 1958, Bách Khoa số đầu tiên 1957,
tòa soạn đặt trong một phòng ở chung cư đường Đoàn Thị Điểm, Saigon 3. Những chủ
nhiệm các tờ báo này không là người trong nghề, kể cả người đánh giá có mắt
tinh đời trong văn học nghệ thuật (LNC), nhưng tạp chí này còn là nôi, tạo
thành số nhà văn nổi đình đám sau này. Lê Ngộ Châu xuất thân theo học Trường Bưởi,
sinh năm 1923 ở ngoài Bắc, Ông đã điều khiển báo Bách Khoa, tạp chí ban đầu chỉ
là tiếng nói của ngành ngân hàng, sau trở thành một tạp chí giá trị văn học nghệ
thuật, với gần 200 số báo, kéo dài từ 1957 đến 1975, khi Võ Phiến được thuyên
chuyển nghề công chức từ Huế vào Saigon, nhà văn này đã coi nơi này là mảnh đất
tốt cầy sới làm nên sự nghiệp. Có cả nhà thơ (đôi khi rất điên, điên, bệnh thật
sự) là Nguiễn Ngu Í (chủ trương I ngắn), từ báo Phương Đông (Hồ Hữu Tường), Mới
(Phạm Văn Tươi) chuyển sang, với hàng loạt phỏng vấn các nhà văn, thơ họa, tạo
được một không khí sôi nổi kích thích nền văn nghệ Việt Nam Cộng Hòa khởi sắc.
Kể thêm những cây bút khác, như Nguyễn Hiến Lê, Xuân Hiến, Phan Văn Tạo, (từ
nơi Bách Khoa đăng truyện đầu tiên), Đoàn Thêm, rồi Vòng Tay Học Trò đăng tải
trước khi in thành sách. Và nhà văn Nguyễn Thị Hoàng bước lên chỗ đứng văn học vững
vàng. Còn Túy Hồng tương tự Nguyễn Thị Hoàng. Và còn Lê Tất Điều, Trùng Dương,
Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Mộng Giác... Vòng tay núi lớn Bách Khoa của Lê Ngộ
Châu, chủ trương dung hòa, kết nạp mọi khuynh hướng; ngoài Nguyễn Văn Trung, Vũ
Hạnh, còn một linh mục ở Pháp về vào 1965, có bài báo đầu tiên ký Nguyễn Ngọc
Lan đăng ở đây với khoản nhuận bút 500 đồng. Song đối với tác giả lúc ấy thật
quí! Nguyễn Ngọc Lan (39) sau đó đã trở thành nhà hoạt động chính trị, cởi áo
dòng về với nhân gian làm người bình thường, tác giả một số sách về nhân văn
giá trị tư tưởng, có vị thế riêng biệt.CHƯƠNG BAVỀ CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP VIẾT SƠ LƯỢCTiết 1KHÁI QUÁT VỀ NHÓM NGƯỜI VIỆT SÁNG TẠOSau 20.7.1954, một số nhà văn, cây bút sinh viên Đại học Hà Nội
vào Nam như: Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền và
các nhà thơ Quách Thoại, Nguyên Sa (ở Pháp về), Mai Thảo, nhà văn độc lập mới nổi
lập thành Nhóm Người Việt cuối 1965. Nhờ viện trợ ngoại quốc (W.Tucker) Mai Thảo
lập Sáng Tạo. Ban đầu ra mắt tờ Lửa Việt (Nguyễn Sĩ Tế chủ bút), Người Việt,
(Doãn Quốc Sĩ chủ nhiệm), Thanh Tâm Tuyền làm Thư ký tòa soạn. Có thêm nhà văn
tiền chiến Trọng Lang (dưới bút hiệu Ông Tưởng Tốc), Trần Việt Hoài đóng góp
bài vở. Về lý luận chính trị, luật sư Trần Thanh Hiệp; văn học giáo khoa: Nguyễn
Sĩ Tế về văn thơ; Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sĩ, Mai Thảo, Nguyên Sa, Quách Thoại
v.v... Ba nhà thơ chủ lực, song chủ trương các lối thơ khác nhau. Chúng tôi sẽ
phân tích trong tiết nói về mỗi nhà thơ. Phụ họa ban đầu có Lữ Hồ, sau thêm họa
sĩ Duy Thanh. Về lập trường Người Việt dựa vào thế dân tộc tự quyết, phần văn
nghệ khai thác hình tượng đối kháng lập trường Mác xít; đề cao nếp sống dân nhược
tiểu; ngả về môn phái sinh tồn và phi lý không lý do (absurde non de cause) Mai
Thảo chuyên viết tạp văn cảm giác, truyện ngắn, hình tượng khai thác chung
quanh trục tiểu tư sản trí thức. Ông thành công trong Đêm Giã Từ Hà Nội, Tháng
Giêng Cỏ Non qua lối văn tân kỳ. Doãn Quốc Sĩ giải thích sự kiện lịch sử, tạo
tác những truyện cổ tích loại dã sử trong Sợ Lửa. Về biên khảo văn học giáo
khoa Nguyễn Sĩ Tế chuyên môn, chính ông là giáo sư hiệu trưởng tư thục Trung học
chuyên khoa. Bút hiệu Người Sông Thương ký dưới những bài thơ tự do, truyện ngắn
nhưng không đặc sắc. Lại chuyên khảo về Nguyễn Du, Chu Mạnh Trinh, Hồ Xuân
Hương... khai thác sách giáo khoa với tinh thần nhận xét mới. Về thơ, vì muốn
có lối thơ tân kỳ, nên Thanh Tâm Tuyền lùi hẳn hình bóng cũ của ông trên tuần
báo Nói Thật (Hà Nội, 1953), nay đến những bài thơ không vần điệu, phi lý không
chủ đích, bí hiểm, chịu ảnh hưởng non nớt của Pháp như các nhóm
Existentialisme, Surréalisme, Dadaðsme (44), ít truyền cảm, khô khan trong việc
lĩnh hội (vibrer). Riêng Quách Thoại thơ có đến nhạc điệu, hòa đồng tư tưởng và
âm vận (assonnance). Khoảng 1955 – 1956, Nguyên Sa ở Pháp về nhập nhóm làm thơ
kiểu Jacques Prévert (Pháp). Về họa, họa sĩ Lữ Hồ và Duy Thanh đảm nhận trình
bày. Cuối 1956, nhóm Người Việt chia hai phe - Mai Thảo chủ trương báo Sáng Tạo,
Doãn Quốc Sĩ trông coi nhà xuất bản Sáng Tạo, đường lối không khác nhau.Tiết 2TIỂU MỤC
1. Trần Thanh Hiệp.Sinh 1928 ở Bắc Phần, cây bút lý luận đặt cơ sở cho nhóm Sáng
Tạo, nặng về chính trị. Một bài được gọi là thơ, là chép thơ Tây dịch sang Ta
và hai ba truyện ngắn hậu chiến ít giá trị.2. Doãn Quốc Sĩ.Sinh ngày 3.2.1923 ở làng Hạ Yên Quyết, Láng Cót Hà Nội (ngoại
thành, đại lý Hoàn Long). Tác phẩm đã xuất bản: Sợ Lửa (Người Việt, 1956), U
Hoài (1957), Gánh Xiếc (1958), Gìn Vàng Giữ Ngọc, Dòng Sông Định Mệnh (1959), Hồ
Thùy Dương (1960), Trái Cây Đau Khổ (1963), Cánh Tay Nối Dài (1960), Đốt Biên
Giới (1966), Sầu Mộng (1970), v.v... Ông viết cho các báo: Dân Chủ, Người Việt,
Sáng Tạo, Lửa Việt…. Ông còn dùng bút Dương Quan Sơn (45) v.v... Ngoài truyện cổ
tích viễn tưởng, ông còn viết truyện ngắn dã sử. Sợ lửa gồm:
Con Mèo Trèo Cây Cau, Con Thuyền Ma, Mãng Xà Vương, Pho Tượng
Thần, Truyện Con Tinh Đời Trần Phế đế. Truyện đặc sắc nhất trong tập là Pho Tượng
Thần. Mang hình tượng thời đại điển hình, cũng như Con Thuyền Ma và Truyện Con
Tinh Đời Trần Phế Đế. Trong Con thuyền ma phơi bầy được nhiều chuyển biến trong
xã hội, đề cao lòng yêu thương, dù ở xã hội nào, tình yêu thương vẫn là định luật
muôn thuở, không biến đổi. Mùa Xuân Đi Lấy Gươm Thần lặp lại: Tề gia, trị quốc,
bình thiên hạ. Truyện này có luận đề rõ ràng hơn hết, có điểm làm cho người đọc
tự hỏi khi Thứ Lang đến xin đạo sĩ thanh kiếm, mà đạo sĩ chỉ hỏi một câu. “Cái
gì mỏng nhất” rồi căn cứ vào đấy biết được giá trị kẻ cầm vận mệnh dân tộc, e rằng
hơi dễ dãi. Đành rằng truyện cổ tích, nhưng ở Doãn Quốc Sĩ mượn hình tượng quá
vãng nói lên hiện tại; vẫn cần phải chú trọng đến hình tượng so sánh có ý thức
để đánh giá trị kẻ cầm vận mệnh dân tộc.Không thể dùng hình thái trừu tượng mơ hồ để thể hiện giá trị trừu tượng. Nhóm
Người Việt Sáng Tạo có duy nhất một Doãn Quốc Sĩ giải thích lịch sử bằng truyện
cổ tích, lối đi độc đáo, nói riêng. Mỗi truyện cổ tích đều ngụ ý riêng, đọc
xong liên tưởng đến hình ảnh thời đoạn sống hiện tại. Thuật ôn cố tri tân, kỹ
thuật thường dùng này tìm thấy ở Doãn Quốc Sĩ, như Nhập Thiên Thai Vũ Khắc
Khoan. Doãn Quốc Sĩ viết truyện dự tưởng này rất đạt. Trái tim lửa (in trong
báo Đất Đứng) hay Doãn Quốc Sĩ tiến hơn bút pháp như kỹ thuật viết khô khan khiến
nhớ đến Nguyễn Đức Quỳnh viết Thằng Cu So tiền chiến.3. Nguyễn Sĩ Tế (1922-2005)Sinh năm 1922 ở làng Cựu Hào, tổng Hồ Sơn, Vụ Bản, Nam Định.
Năm 1954 di cư vào Nam, kế đó chủ trương báo Lửa Việt, tờ báo của sinh viên miền
Bắc di cư. Viết cho các báo: Hòa Bình, Dân Chủ, Người Việt, Sáng Tạo v.v... Tác
phẩm xuất bản: Hồ Xuân Hương (Người Việt tự do 1956) và nhiều luận đề giáo khoa
do NXB Thăng Long ấn hành, ông có viết nhiều truyện ngắn đăng trên báo nhóm
ông. Truyện ngắn và thơ, Nguyễn Sĩ Tế thường ký Người Sông Thương, không có gì
xuất sắc. Trong Dòng Sông Xanh, Máu Hận (Đất Đứng, 1956), tả tâm trạng dân Hung
tị nạn Cộng sản sang Áo. Ở đây, nghệ thuật khô khan, người đọc vượt đến trang
là sự cố gắng phi thường. Khi Hung Gia Lợi (Hungary) bị Nga Xô lùa quân sang
xâm chiếm 1956, hai cây viết trong nhóm Sáng Tạo lấy đề tài này làm bối cảnh
cho truyện, thì Người Sông Thương (Nguyễn Sĩ Tế) qua Uất Hận, Dòng Sông Xanh;
thì Thanh Tâm Tuyên với bài thơ: Hãy Cho Anh Khóc Bằng Mắt Em khá cảm động. Còn
nhà giáo viết truyện Dòng Sông Xanh lại khô khan thiếu truyền cảm. Trần Thanh
Hiệp với Pandajy giống hệt Nguyễn Sĩ Tế truyện trên. Về mặt biên khảo ông là
nhà văn học viết có phương pháp giáo khoa giàu kinh nghiệm viết, Hồ Xuân Hương
gồm bảy chương, chúng ta có thể thâu tóm bốn mục tiêu chính: - Con người của nữ
sĩ với hoàn cảnh thời đại. - Cứu xét nguồn gốc tư tưởng của nữ sĩ. - Nhận định
tư tưởng nữ sĩ. - Khuynh hướng thi ca nữ sĩ. Trước ông, nhiều tác giả viết về Hồ
Xuân Hương. Hoa - Bằng - Hoàng - Thúc - Trâm với Hồ Xuân Hương, nhà thơ cách mạng;
thì ở đây ông đả phá lập luận Hoa Bằng (trang 53), nhưng sau thừa nhận Hoa Bằng
nói đúng. Người đọc chưa nhìn thấy Nguyễn Sĩ Tế đứng trên lập trường nào để viết
về thân thế sự nghiệp Hồ Xuân Hương. Từ trước đến nay, có năm lập luận phân
tích Hồ Xuân Hương. Phái thứ nhất, ông Nguyễn Hữu Tiến trong cuốn Giai Nhân Dị
Mặc cho nữ sĩ ở phái tự nhiên. Phái thứ nhì, ông Dương Quảng Hàm cho nữ sĩ ở
phái vì thân thế mà xuất khẩu thành chương. Phái thứ ba cho rằng dân tộc tính tạo
thành nữ sĩ (Trương Tửu trong Kinh thi Việt Nam). Phái thứ tư, Nguyễn Văn Hạnh
với lối tâm phân học (psychanalyse) của Freud cho rằng vì sinh lý mà nữ sĩ làm
thơ. Phái thứ năm mệnh danh đặt cơ sở chính trị, cách mệnh là Hoa Bằng mổ xẻ Hồ
Xuân Hương là nhà thơ cách mạng. Tuy nhiên Hồ Xuân Hương viết công phu, dù Nguyễn
Sĩ Tế chưa đưa ra lập luận phân tích, và chắp vá lập luận. Và ông sưu tầm tài
liệu. Còn Nguyễn Sĩ Tế trong địa vị người viết văn thì chưa thấy lộ diện. Nói
như thế, chúng tôi nhớ đến L.Aragon vừa là nhà khảo luận, vừa là một nhà thơ,
văn giá trị, Benjamin Goriély vừa là nhà khảo luận viết về văn học Mác xít, vừa
tác giả Conservation d’amour, bài thơ hay... Tất cả hai điều này đều chưa thấy
trang viết của Nguyễn Sĩ Tế, Người sông Thương.4. Nguyên Sa (1932-1998)Tên thật Trần Bích Lan. Sinh 1932 ở Hà Nội (46). Tác phẩm xuất
bản: Thơ Nguyên Sa (1959),
Gõ Đầu Trẻ (truyện, 1959), Quan Điểm Văn Nghệ và Triết Học
(1960), Một Bông Hồng cho Văn nghệ (1967), Mây Bay Đi (1967), Một Mình Một Ngựa
(1971) v.v... Chủ trương tạp chí Hiện Đại, viết cho các báo Sáng Tạo, Thế Kỷ
20, Gió Mới, Trình Bày, Đất Nước v.v...Nhà thơ ngoài ba mươi tuổi hoạt động văn nghệ khoảng hai năm trở lại đây, tuy
chưa có tập thơ nào xuất bản. Nhưng thơ đăng rải rác trên báo Người Việt, Sáng
Tạo, được chỗ đứng nhất định. Gọi là thơ tự do nhưng thơ tự do có tiết tấu,
hình ảnh đẹp, chịu ảnh hưởng nhiều từ hơi thơ Jacques Prévert. Thơ Nguyên Sa trữ
tình, có hình tượng mới thời đại, băn khoăn, ý tưởng thành khẩn, lời chau chuốt.
Là nhà thơ tình như Xuân Diệu chuyên thơ tình ái, có lối đi riêng. Nếu thơ
Jacques Prévert ngoài tình yêu ra còn mang ảnh hình tâm tưởng, khắc khoải cuộc
đời - song trong thơ thuần nhất Nguyên Sa chỉ có một khía cạnh nhỏ thơ tình:CÓ PHẢI EM VỀ ĐÊM NAYCó phải em về đêm nayTrên con đường thời gian trắc trởĐể lòng anh đèn khuya cửa ngõNgọn đèn dầu bấc lụi mắt long lanh.Có phải em về đêm nayTrên con đường chạy dài hoa cỏCho lòng anh trở lại với lòng anhNhư lá vàng về với lá cây xanhTrong những chiều gió đưa về cộiCó phải em về đêm nayđể phá tannhững nụ cười thắt se sầu tủinhư anh vẫn cười mà đau đớn bao nhiêuKhông biết đời người có đưa đến tin yêunhững ngón tay có đưa đến bàn taynhững mùa thu có đến gió heo mayhay ngày mai là bốn bề tuyết lạnhCó phải em về đêm naygiữa lòng chiều im lặngcho anh đừng tìm thấy anhđo đếm thời gianbằng những điếu thuốc lá tắt trong đêmnhưng đã bao nhiêu lần đêm khuyađầu gối trên cánh tayđể giấc mơ đừng tẻ lạnhEm đừng trách anh đã quá lo âu đời người hiu quạnhLàm thế nào khi lòng mình nứt rạn kia emdù không muốn gục ngã trong đêmnhưng đã bao nhiêu lần đêm khuyaanh không biết đã làm thơhay đã chọn âm thanh làm độc dược.Em đừng trách anh để lòng mình tủi cựcđến ngại ngùng dù nắng dù mưasao em không vềđể dù nắng dù mưadù trong thời gian có sắc màu của những thiên đàng đổ vỡngủ say mềmVì lòng anh (em đã biết)Có bao giờ thèm khát vô biênCó bao giờ anh mong đừng chết – dù để làm thơnên tất cả chỉ là yêu emvà làm thơ cho đến chết.Em sẽ về, phải không emcó gì đâu mà khó khăn, trắc trởchúng mình lại đitrên con đường chạy dài hoa cỏlà những đơn phương ngự của tình yêumỗi ngón tay emanh vẫn gọi là một cửa đào nguyênvà anh sẽ trở lại nguyên hìnhmột anh chàng làm thơmà suốt đời say rượu cúcCó phải em sẽ vềdù bầu trời ẩm đụchay bầu trời trang điểm bằng mâyanh sẽ trải tóc em bằng năm ngón taytrong những chiều gió thổi1957, (Trích Sáng Tạo)NGUYÊN SATiết 3MAI THẢO (1927-1998)1. Tiểu sử: Mai Thảo tên thật Nguyễn Đăng Quý. Sinh ngày
8.6.1927 ở quận Hải Hậu, Nam Định (47).
Tham gia văn nghệ kháng chiến Liên khu IV, giai đoạn bắt đầu
của người cầm bút. Sau về Hà Nội, viết cho báo Quê Hương, Hồ Gươm... Năm 1954
vào Nam; viết cho Đời Mới, Người Việt và cuối 1956 đứng chủ trương tạp chí Sáng
Tạo do người Mỹ (W. Tucker) tài trợ. Nhà văn mới nổi trong vòng hai năm nay,
Mai Thảo tạo được chỗ đứng vững.2. Tác phẩm: Đêm Giã Từ Hà Nội (Người Việt, 1956), Ánh Sáng
Miền Nam (Truyện dịch theo phim César Amigo, Phi Luật Tân, 1956), Tháng Giêng Cỏ
Non (1957). Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời (1963), Mái Tóc Dĩ Vãng (1963),
Khi Mùa Mưa Tới (1964), Bẫy Thỏ Ngày Sinh Nhật (1965), Viên Đạn Đồng Chữ Nổi
(1966), Đêm Lạc Đường (1967), Cùng Đi Một Đường (1967), Tới Một Tuổi Nào (1968)
v.v... Văn Mai Thảo là văn cảm giác (sytle d’inspiration).3. Phân tích tác phẩm chính: Truyện ngắn trong Đêm Giã Từ Hà
Nội đăng lẻ tẻ trên báo Đời Mới. Người Việt, Cách Mạng Quốc Gia, Dân Chủ,
v.v... và Tháng giêng Cỏ Non đăng hầu hết trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong.
Ông thiên hẳn lối tạp văn cảm giác, ý súc tích, ít đối thoại. Đêm Giã Từ Hà Nội
gồm mười ba truyện Đường Vui, Một Chiều Qua Cửu Long, Tà Áo Lụa của Người Miền
Nam, Màn kịch tố Cộng, Người Hàng Xóm, Trên Những Ngả Đường Không Oán Thù, Chiếc
Xe Hàng Cũ, Câu Chuyện Của Chị Ngự, Góc Đường.Truyện có nhiều màu sắc xã hội hình ảnh nói về giới làm văn, là Mưa Núi. Đọc
Mưa Núi, người đọc có cảm giác mình đang sống lại khoảng trời mùa thu, bao vây
mùa đông rét mướt. Cốt truyện Thảo lên thăm đôi vợ chồng ở miền núi. Nam, người
yêu văn nghệ có ý định làm giàu, sau mở nhà xuất bản, thành lập dưỡng đường cho
văn nghệ sĩ. Đến ngày xứ sở bị phân chia, Nam thất bại nghề thầu khoán, chán nản
lên núi ở. Một buổi Thảo lên thăm, tả cho bạn nghe nếp sinh hoạt đồng bào, Nam
làm lại cuộc đời, xuống núi góp khả năng vào hoạt động văn nghệ của anh em. Tả
cảnh chiều, tạo được nhiều cảm tưởng, ấn tượng tân kỳ:... “Tôi nhìn ra ngoài. Rừng núi ngớt mưa đang đi dần vào hoàng hôn. Tối xẫm
lan đi từng ngọn đồi. Hết ngọn này đến ngọn khác. Từng gốc cây. Hết gốc này đến
gốc khác. Cái tảng trời xanh phía đầu núi của tôi bạn nãy đã nhòa đi rồi. Sao
chưa kịp lên đêm đã sâu thăm thẳm. Rồi tất cả những ngọn đồi, những gốc cây đều
không nhìn thấy nữa. Cửa mở thành một khung đen, “mắt tôi tối lại”.Tác giả nâng ly cà phê sánh đượm, nhận xét tỉ mỉ từ tác động nhỏ của vợ bạn pha
ly cà phê. Và phác lại dáng đàn bà Bắc đẹp qua mấy nét đầy ấn tượng:... “Chị Nam đặt hai ly cà phê vào cái khay nhỏ, lấy hộp thuốc lá thơm bưng tất
cả đặt trên cái bàn thấp gần cửa sổ, đoạn chị kín đáo bỏ xuống nhà dưới. Tôi
nhìn theo chị Nam, yêu mến cái vẻ đẹp kín đáo của chị lúc đó. Tôi vừa bắt gặp lại
những nếp sống đặc biệt, tế nhị của người đàn bà Hà Nội. Một dáng đi, một cách
ăn nói. Cái lối pha một tách cà phê đặc sánh, chị vẫn giữ được nguyên vẹn cái
duyên dáng ngày cũ, lúc chị còn là một thiếu nữ ở Hàng Đào. Chị không đổi
thay...”Bắt đầu ly cà phê sánh đậm đến thảo luận về chương trình bồi dưỡng Các nhà văn
nghệ bị bạc đãi. Mai Thảo không là người đầu tiên nói đến cái nghèo văn nghệ sĩ
và có chương trình giúp đỡ họ sống cầu bơ cầu bất. Cái khác hơn hết của con ve
sầu, kêu ra rả suốt hè tô điểm cuộc sống tươi đẹp hơn, và đời riêng lại thân
tàn, ma dại. Hãy nghe ông kể:“... Cái chương trình cuối cùng của chúng tôi là một sự tổ chức thật chu đáo
cho đời sống vật chất và tinh thần của một số người gắn bó với nhau qua một thứ
duyên vãn đậm đà nhất, cùng theo đuổi một lý tưởng trên lãnh vực văn nghệ.
Chúng tôi thật đông, thật tin tưởng nhưng chúng tôi sống lẻ loi và thiếu thốn tất
cả, mọi phương tiện. Sống những ngày lênh đênh mưa nắng ở hậu phương để chịu đựng
đến ê chề sự chà đạp tin tưởng, sự kềm hãm tinh thần, chúng tôi kẻ trước người
sau đã rời bỏ thiên đường về Hà Nội...”. Ông đặt ra chương trình khác bổ túc
cho kiếp đau khổ của nhà văn sống vất vưởng, hang cùng ngõ hẻm; không được chăm
nom. Cũng chưa nghĩ đến hỗ trợ tinh thần, vì vấn đề này, bàn ra rất trọng đại,
nói như Graham Greene chính phủ cần có quỹ bảo trợ giúp đời sống của họ, bước
đường cùng. Qua đoạn văn dưới tả (bánh vẽ) cũng đủ cho cảm tưởng thật ngọt ngào
“Các anh phải được nghỉ ngơi tĩnh dưỡng như tất cả mọi người”. Chỉ cần lột qua
ít câu văn bình dị làm ấm lòng khách văn chương:... “Nam bàn với chúng tôi như thế này:- Tôi dự tính dựng một nhà in, một nhà xuất bản, có đủ hết máy móc vật liệu để
có thể ấn hành được tất cả những tác phẩm hữu ích sẽ có một câu lạc bộ văn nghệ
cho các anh nữa với chỗ ăn ngủ chu đáo. Các anh phải được nghỉ ngơi tĩnh dưỡng
như tất cả mọi người...”Phê bình Đêm Giã Từ Hà Nội, Huỳnh Bội Hoàng (Thượng Sĩ – Nguyễn Đức Long) viết
trong báo Cải Tiến (số 6 ngày 13.9.1956) có đôi phần xác đáng. Ở chỗ, đôi khi
quá gọt rũa câu văn thành cầu kỳ, lố bịch: ... “Suốt cả tập truyện ngắn, đoản
văn trong Đêm Giã Từ Hà Nội ông Mai Thảo đều dùng một lối văn rất cầu kỳ để diễn
tả tư tưởng. Tôi đã nặng đầu, khi đọc, cuốn Đêm Giã Từ Hà Nội bởi lẽ rất giản dị
là dùng chữ cầu kỳ, văn viết cầu kỳ, đọc phải suy nghĩ nhiều, phải hình dung
nhiều mới hiểu được tác giả định nói gì. Tuy vậy tôi cũng phải thú thực rằng
nhiều chỗ tôi chưa hiểu hết. Chẳng phải câu văn quá hàm súc, chẳng phải chữ
dùng quá thâm thúy, nhưng vì quá cầu kỳ nên tối nghĩa và đặt chữ không đúng chỗ.
Tôi không tin rằng ông Mai Thảo thành công rực rỡ, nếu ông cứ tiếp tục mãi. Viết
theo cái thể văn đúng như ông viết trong một Đêm Giã Từ Hà Nội. Đọc Đêm Giã Từ
Hà Nội người ta có cảm giác nặng nề khó hiểu. Do đó mà người đọc không thể rung
cảm nổi, không say mê được. Đêm Giã Từ Hà Nội là cuốn sách đầu tiên của ông Mai
Thảo. Tôi thành thực đã mến phục ông đã cố gắng lắm khi đưa ra một lối văn mới
mẻ. Ông không muốn sa vào chỗ tầm thường, đó là điều tôi mến ông. Nhưng tôi
cũng cứ khuyên ông nên giản dị hơn. Viết cho sáng sủa, giản dị, người đọc hiểu
mình hơn và mình gần người đọc hơn, nếu ông giản dị hơn. Không cần gì phải làm
ra khác người mới thành công. Viết cho sáng sủa, giản dị, người đọc hiểu mình
hơn và mình gần ngưòi đọc hơn. Vả lại viết truyện ngắn, viết tiểu thuyết không
phải là một luận án văn chương, một luận thuyết triết học thì sao không cố gắng
giản dị trong lối hành văn và cách dùng chữ. Có cần gì phải đánh đố độc giả ...
Tôi nghĩ không gì sung sướng bằng khi mình nói, mình viết mà người nghe người đọc
hiểu mình, để có thể lòng cùng rung động cũng vui, buồn, sướng, khoái như tác
giả. Viết ra, in lên sách là vì người khác, chứ chẳng phải để thỏa mãn cái ý
thích riêng mình. Vì nếu chỉ để thỏa riêng mình, thì khi viết xong, khỏi phải,
in ra, cứ để trong hòm thỉnh thoảng lấy ra mà đọc…Và truyện dịch Ánh Sáng Miền Nam, cốt truyện phỏng dịch phim Phi Luật Tân. Truyện
phim lố lăng, xấc sược, miệt thị Việt Nam, phim ra mắt dư luận báo chí lên án
sôi nổi. Xin trích dẫn đoạn của bài Đặt vấn đề sản xuất hỗn hợp Duy Mỹ; (đăng
trên báo Sinh Lực số 5, ngày 1.1.1957):… Ánh Sáng Miền Nam đã thất bại, cuốn phim xã hội tình cảm kia đã không xã hội
một chút nào và không tình cảm một chút nào cả vì người thực hiện đã chắp vá,
vá víu một cách vụng dại, non nớt, những cử chỉ, hành động đi ngược lại thực trạng
xã hội, phản ngược lại nguồn tình cảm tinh tế kín đáo và phong phú của người
dân Việt ...Nói tóm lại Ánh Sáng Miền Nam còn là bài học chính đáng trả nghiệm xuẩn động.
Ánh Sáng Miền Nam là nạn nhân một cuộc thí nghiệm xuẩn động. Ánh Sáng Miền Nam
còn là bài học chính đáng trả bằng giá thật đắt cho lớp người nhúng tay vào việc
làm thiếu con mắt nhìn sâu; trông xa, sản phẩm phôi thai của cuộc hỗn hợp gò ép
đã dựng một hoàn cảnh xã hội trả giá, thiên lệch, bày lên một thực trạng lai
căng đầu Ngô, mình Sở trong đó không có một mẫu người Việt, không có một hình ảnh
nào điển hình ở xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử vừa qua...”Phải nhận rằng cuốn phim là hậu quả đặt vấn đề sản xuất dị đồng văn hóa. Mai Thảo
được hợp đồng thuê phóng tác, thì sự làm giàu văn hóa ngoại quốc thâm nhập
không thể có; Uyên Thao viết: “... Nhưng ở đây, trong phạm vi một bài báo,
chúng tôi chỉ nói riêng đến cái hỏng cái hay của một cuốn tiểu thuyết. Cái hỏng
trước tiên của cuốn tiểu thuyết Ánh Sáng Miền Nam như trên đã nói là cái hồn
tính của người Việt không có trong những nhân vật chính trong truyện. Từ đấy,
người ta thấy biết bao là cảnh trơ trẽn trái ngược với nền giáo lý cổ truyền của
dân tộc. Yếu tố tâm lý cũng là một nhát búa nặng đập tan sự xây dựng, lỏng lẻo
nội dung của cốt truyện. Những cảnh lẽ ra phải thắm thiết, nồng nàn trở thành tẻ
nhạt, giả tạo. Đọc hết hơn ba trăm trang giấy, người ta chỉ thấy những hỗn loạn
của hành động chắp nối, những lời lẽ cầu kỳ mà rỗng tuếch, những cuộc sống
không hơn vá víu, pha trộn một cách quá mức hẩu lốn. Có thể nói rằng Mai Thảo
đã vơ cỏ, lượm rác kết thành Ánh Sáng Miền Nam …” (tạp chí Sinh Lực) Mai Thảo
buôn bán nghệ thuật, không đặt vấn đề tín nhiệm chính bản thân, chung qui chỉ
vì tiền mà làm. Tháng Giêng Cỏ Non gồm mười truyện viết theo tản văn cảm giác.
Tuy nhiên một hai truyện có hình thức truyện ngắn. Tháng Giêng Cỏ Non, Mở Chiến
Dịch; Người Bạn Đường, Giai Đoạn Chị Định, Bên Ngoài Ngõ Tối, Đêm Tân Hôn, Buồng
Trong, Đêm Bệnh Viện, Buổi Sáng Trong Nhật Ký, Hà Nội Sa Đọa. So với Đêm Giã Từ
Hà Nội thì Tháng Giêng Cỏ Non có chiều sâu hơn, song chỉ có hai truyện đặc sắc
nhất là Tháng Giêng Cỏ Non và Giai Đoạn Chị Định. Truyện khác tác dụng chính trị
là tiêu chuẩn chính; viết sao đúng đường lối, công thức, máy móc. Đêm Tân Hôn
truyện có bố cục ly kỳ; truyện công thức, thiếu rung cảm, hình tượng giả tạo, hời
hợt. Tháng Giêng Cỏ Non hay nhiều màu sắc yêu thương, nhà văn trở thành nhân chứng.
Gia đình anh Sang khi ở ngoài Bắc làm công nhà Thảo. Thuở nhỏ Thảo thường hay
vòi làm nũng Sạng. Nào bắt cõng đến trường, trèo cây hái quả bàng. Nhưng khi Sạng
bị vu oan, tố nấu rượu lậu ở làng; Sạng bỏ quê hương vào Nam Kỳ làm cho Sở cao
su đất đỏ. Đã mười tám năm bặt vô âm tín, đến hiệp định Genève, Thảo vào Nam,
cùng đi theo có gia đình vợ Sạng và tìm được Sạng ở Khánh Hội. Nhưng Sạng đã có
vợ khác. Và Sạng đã biết vợ cả vào Nam. Khi trở lại thăm Sạng lần hai vợ cả Sạng
đã chung sống êm ả với chồng cùng vợ lẽ của chồng. Ông nói lên được nhiều đức
tính người miền quê đất Bắc: đàn ông có chí, đàn bà chịu đựng, hy sinh. Tả đoạn
Sạng bỏ đi, Mai Thảo có lối văn tân kỳ, hấp dẫn: “…Riêng anh Sạng, cái nguyên
nhân của anh bỏ đi về sau, tôi hỏi và mẹ tôi có thuật lại. Số là anh Sạng bị
làng xóm láng giềng nghi ngờ là đã ra tỉnh báo Tây đoan về bắt rượu lậu chôn dấu
ở vườn rau một người anh họ con chú con bác với anh. Người anh họ bị đi tù sáu
tháng về tội nấu rượu lậu thật. Và anh Sạng uất ức bỏ đi. Riêng tôi không hiểu
tại sao ngay hồi ấy tôi đã nhất định tin rằng anh oan. Một phần có lẽ vì anh Sạng
oan thật, một phần vì anh là m ột trong những người mà ở làng tôi yêu mến trong
suốt thời kỳ nhỏ tuổi...”Sạng đi rồi, tác giả nhớ năm xưa Sạng hái quả bàng chất nịch túi. Chỉ khi nào
thấy bàng chín, mới nhớ đến Sạng, không còn ai hái cho ông Niềm:“…Cứ mỗi mùa bàng chín, tôi ra đầu ngõ nhìn lên là hình ảnh anh lại hiện về qua
một nhớ thương phất dịu nhẹ. Bàng chín vàng trên kia nhưng không ai hái cho tôi
nữa. Đôi khi mẹ anh đi chợ, vợ anh đi chợ, ra đồng lại ghé vào nhà tôi. Người mẹ
già yếu mãi. Chị Sạng lúc nào cũng tư tưởng sầu muộn...”...Vậy mà chị Sạng đã chờ đợi mười tám năm. Hình ảnh người đàn bà bồng con đứng
đợi chồng về trong không gian bát ngát và trong thời gian không màu dưới mưa nắng
gió bão mùa qua mưa, lại trở về bằng những bóng hình tối sám tro lòng tôi 18
năm. Người đàn ông bỏ làng ra đi, khi ném cả cuộc đời mình vào cuộc phiêu lưu
chắc đã có thừa ý đoạn tuyệt với đoạn đời cũ, những người thân yêu cũ...”Nghĩ đến vợ Sạng bơ vơ; tác giả minh chứng qua đoạn văn giầu tình thương nồng
nàn, nghệ cảm:“... Thời gian nghiêng đi. Từ ngày gặp anh Sạng đến nay đã được sáu tháng.
Trong thành phố rộng lớn, cuộc sống tiến tới là sự kết thành của những lớp đổi
thay mãnh liệt. Mỗi ngày một màu sắc mới, một tâm tình mới. Đôi khi giữa hai
trang nhật báo những tin tức của thất lạc, của thăm hỏi và những người. Chị khuất
vắng dài hạn, những người vợ yếu đuối đi dò thăm một dấu vết nhòa nhạt của chồng
con giữa những ngã ba, những đám đông tôi lại nhớ đến chị Sang, đến đôi mắt chị
khắc khoải vời vợi, và tôi lại hỏi rằng không biết chị Sạng có còn được ai dành
cho chị một chỗ đứng bé nhỏ dưới một mái nhà nào không? Sự cô độc đơn lẻ ở người
đàn bà đáng thương kia có là một trạng thái vĩnh viễn kéo dài như một vệt bóng
tối cho đến trọn đời”...Đôi vợ chồng ngày xưa ấy họp mặt; vợ hai hy sinh một chỗ dành chị cả xấu số ở
trong gia đình. Giọng văn tác giả ngọt ngào như bánh, mứt: “... Nhưng lần này
tôi đã nhìn thấy thêm một cái gì mà tôi mong đợi hết dòng suốt mười tám năm.
Tôi đứng ngây người ở một góc nhà, dưới một vùng ánh sáng của lửa bếp, chị Sạng,
người vợ cả miền Bắc, đang ngồi thổi cơm. Bên gối chị hai, đứa trẻ miền Nam tựa
vào lòng chị nhìn lửa cháy. Nghe tiếng động, chị Sạng bỏ củi nhìn lên. Chị mỉm
cười với tôi”...Kết luận.Văn cảm giác diễn đạt theo lối riêng của Mai Thảo tân kỳ,
sáng gọn từ tác phẩm đầu tay. Sự cầu kỳ cần thiết vẫn cần có, song nếu quá lạm
dụng sẽ làm tác phẩm trở nên gượng gạo, gò bó. Trước kia Mai Thảo làm thơ, song
chỉ là thơ trà dư tửu hậu, ông viết chưa đều tay, có truyện rất giản dị, mà hay
có truyện tầm thường, nhà văn có giọng văn đôi khi lịch lãm đài điếu của giai cấp
tiểu tư sản.Tiết 4QUÁCH THOẠI (1929 – 1957)Tiểu sử: Tên thật Đoàn Thoại. Sinh năm 1929 ở Huế. Năm 1948
vào Nam chủ trương báo Nguồn Sống, viết cho các báo Đoàn kết,
Làm Dân. Việt Chính, Người Việt, Sáng Tạo… Thơ ông đăng rải
rác khắp các báo. Ngày 7.11.1957, sau thời gian sống lao khổ, trút hơi thở cuối
cùng ở nhà thương thí Hồng Bàng. Mắc bệnh lao, Đoàn Thoại quy y cửa thiền một
năm. Cuối năm ấy qua đời, xác dùng làm thí nghiệm thực tập cho sinh viên y
khoa.Khuynh hướng: Quách Thoại, có khuynh hướng khác Thanh Tâm Tuyền,
chính ông thường phê bình thơ Thanh Tâm Tuyền: Thơ “Thanh Tâm Tuyền đôi khi; mà
đã nhiều lần, hắn làm thơ mà không hiểu thơ định nói gì?” Thơ Thoại điều hòa âm
điệu, truyền cảm. Tình yêu đất nước, tình yêu con người, hòa đồng đầy vẻ đẹp
triết lý nhân sinh, tuy cuộc sống ông vô vàn cay cực, bệnh tật hoành hành, sinh
kế thúc bách; lý tưởng và con đường thơ đã vạch vẫn đi trọn. Ông chưa bao giờ
thỏa mãn được việc mình làm, tâm hồn ray rứt, cuộc sống quá lao lung, nhưng lại
ông ít khóc mình, chỉ khóc thời thế. Chẳng hạn thơ Sau Khi Nhà Cháy khóc mình lại
không oán trách đời, hoặc tác giả trút nghẹn ngào qua thơ khóc thời thế thống
thiết như bài Những Chiều Việt Nam, Em Bé Di Cư, Bức Thư Của Một Thiếu Phụ Di
Cư..v.v...Phân tích : Nhiều bài thơ yêu nước, thơ khóc thời thế còn biểu
hiện nhiều trong: Cờ Dân Chủ, Em Bé Di Cư, Bức Thư Của Một Thiếu Phụ Di Cư, Gió
Bão Qua Rồi Chăng, Chiều… của Quách Thoại ốm nặng; rồi trở ra Huế (tháng 2
1957) ông làm một số bài mới; như Một Chuyến Đi, Sáng Sài Gòn... Có một vài câu
thơ, hơi thơ như bài Trở về Xuân Diệu:“Vì mắt tôi no đủ bóng ngày đêmHôm nay vẫn nghĩ đến đời bữa khácNhư đứa con vừa bú mẹ một bênMột bên kia vẫn mơn vú mẹ hiềnTôi phải về vì quá đỗi yêu thương”Xuân DiệuThì trong bài Cờ Dân Chủ của Quách Thoại“Ta bước tới nắng tương lai đầy ứPhố lớn cười, đại lộ hát nghênh ngangXã hội đi về, vũ trụ rộn ràngNhà mới dựng, gỗ ngói còn thơm lắmCó hơi thơ phảng phất Xuân Diệu thật:“... Như một sớm trên đường vang tiếng guốcNhư một trưa chim tróc réo mùa hèTiếng rũa rèn đập nắng nhảy vàng hoeTiếng tia sáng múa vờn quanh chiếc búaNhững bánh xe quay những guồng máy lụaNhững bàn chân dậm, những cánh tay nhanhTiếng cất nhà, trời đất gõ lanh canh”Xuân DiệuTình yêu cá nhân trong bốn tiếng, âm thầm tuyệt vọng là trạng
thái tác giả. Cuộc sống bi đát kẻ sĩ, cảnh nghèo nàn cùng cực sau khi nhà ông bị
cháy. Có đoạn tác giả tả nơi trú ngụ ở Bến Cỏ (Đakao), đồ đạc mất, quần áo bị
cháy, năm ấy là vào 1956. Như Băng Trương Tình bài thơ làm khi bị ốm gần chết nằm
trên khách sạn Đại Nam Lầu (đường Hàm Nghi Sài Gòn).
... “Tôi viết bài thơ hôm nay
Một bài thơ sau khi nhà cháy
Sau khi đời trắng hai tay
Ấy thế mà tôi vẫn viêt được”
“… Triều đại vừa qua đổ gãy
Vũ trụ chỉ có nghĩa ngày nay
Có kể gì tôi ăn mày
Có kể gì anh bệnh hoạn
Những người chết đi là chết đi...”
Suy nghĩ người đi sau, khi thấy người chết nằm đó, chưa biết phận mình thế nào?
Cháy nhà rồi, tác giả giã từ bạn bè láng giếng. Đây là mơ ước tác giả của sự thật
phũ phàng:... “Và đến đêm nayTôi ước ao rằng tôi ngủ kỹMột giấc ngủ không ác mộng sầu biỞ dưới gậm cầu trên ghế đá đường điMột giấc ngủVà không nhớ lại một tí gì...”Tác giả bị cháy nhà viết bài thơ hay như trên; chỉ là khoảng nhỏ chuỗi đời sống
bị vùi dập liên tiếp. Nhà văn nghèo khổ bộc lộ rõ lý tưởng theo đuổi đến cùng.
Không phải lý thuyết đâu, Thoại đem cả cuộc đời đánh đổi cho ảnh hình sống động
được ghi trong đời sống thơ. Ông phải đưa đời vào tác phẩm lớn, thí dụ bằng
xương thịt của người thơ làm chứng nghiệm:... “Mặt trời mọcMặt trời mọcRưng rưng mùa hoa gạoLỡ một ngày mai tôi chết trần truồng không cơm áoThì hồn tôi xin phảng phất chốn trăng saođể nhìn các anhNhư vừa gặp buổi hôm nàoVà trong câu chuyện tôi sẽ cười nhắc bảocòn sáng tạo ta hãy còn sáng tạo...”Quách Thoại có hai đề mục trong thơ: Khóc thời thế và Hương yêu. Nhưng tác giả
vẫn khóc đời nhiều hơn khóc mình. Thơ ông mang từ đời sống vào, mà đời sống
chênh vênh một mất một còn, cuộc đời là thơ, thơ là cuộc đời ăn ý. Là nhà thơ
đem cuộc đời trải trên dẫn lộ nhân sinh của nhiều bài thơ bất tử:Trích thơ :1. CỜ DÂN CHỦHãy hớp lấy màu xanh cùng ánh đỏHãy ôm đầy sức sống cả hai tayHãy uống âm thanh từng mỗi phút giâyHãy đi đến mặt trời đang đứng đóChúng ta mở cả trăm ngàn cửa ngõGặp nhau đây hàng triệu mặt con ngườiBởi quá vui nên hét lớn ta cườiGiờ cách mạng hôm nay vừa điểmTa nhìn lên trời tự do hiển hiệnĐường tương lai gió thổi lá cờ bayÔi! lá cờ dân chủ mến thương thayQua thế kỷ lầm than giờ mới thấyTa sùng kính, trời ơi là biết mấySuốt trăm năm nô lệ cúi đầu điHồn tin tưởng biết đâu tìm chí hướngTa ngưỡng vọng hôm nay trời lý tưởngNgát mùa xanh, xanh thắm của yêu đươngRực bình minh rạng rỡ ánh thiên đườngĐêm gục chết theo với thời quá khứTa bước tới nắng tương lai đầy ứPhố lớn cười đại lộ hát nghênh ngangXã hội đi về, vũ trụ rộn ràngNhà mới dựng, gỗ ngói còn thơm lắmAi mới kẻ chữ Việt Nam tươi thắm.Lên trên tường, trên bảng với trên timTrên linh hồn giữa náo động trong im lìmTình yêu nước chao ôi là sâu kínLà đậm đà như trái cây muồi chínLà thiết tha như tình ái người yêuTa bước lên đau khổ ngả nghiêng xiêuHạnh phúc dựng theo những làng xóm mớiÔi! Kiến thiết những tài nguyên mới tớiBàn tay anh, bàn tay chị, tay tôiVui gì hơn khi phá xẻ núi đồiLưỡi cày bén xới đất hồng tươi tốtTa tin tưởng ở đường ta then chốtVạch chông gai đi đến giữa thành côngBởi hôm nay ta gieo mạ cấy trồngLúa hứa chắc một ngày mai no ấmTa hét lớn lay không gian chuyển sấmPhá sạch tan sầu hận một đời quaTa tiến lên kìa ánh sáng chói lòaĐường rộng mở thênh thang trời dân chủÔi! Tự do thật vô cùng quyến rũ.(Trích Sáng Tạo)19562. NHƯ BĂNG TRƯỜNG TÌNHTa ngạt thở bởi mùi hương xa vắngHương thiên đàng vừa thoảng bến trần gianTa đê mê cảm động đến mơ màngNghe mầu nhiệm thuấn nhầm trong mến cảmNghe sống lại trong hồn ta ảm đạmMột tình yêu thanh thoát quá diệu huyềnÔi! Mắt em chờ mơ mộng còn nguyênCho ta gửi mối tình ta trinh bạchCho ta hôn bàn chân em ngọc thạchDẫm trên đường khổ hạnh chốn tu hànhÔi, giáo đường nở kín đóa xuân xanhHoa cao quý tắm mình trong tuyết ngọcNhư Băng ơi, vì sao ta thầm khócNghĩ thương em hồn ngưỡng mộ Chúa TrờiTa xót đau nhìn hỗn loạn cuộc đờiKhông dám tưởng giờ em đang cầu nguyệnEm có biết một cõi lòng đang xao xuyếnNhớ thương em đứng đợi trước nhà chungTa yêu em yêu mến cả vô cùngThềm tôn giáo ta đặt hồn mơ ngủTrong tình em trong tim Chúa GiêsuTa giật mình bóng tối vẫn mịt mùTrăng nhợt nhạt và hồn ta thấy lạnhLời tụng niệm vang đưa từ cô quạnhTa lắng nghe hồn vẳng tiếng kinh emTa lắng nghe hồn vẳng tiếng chuông đêmLệ nóng chảy lòng đau kêu cứu Chúa!Như Băng! Như Băng! Vì đâu mà lệ ứaTa khóc than nghĩ tủi phận đời taMột linh hồn lạc lõng giữa bao laMột tình yêu chưa một chiều trao gởiTim cô đơn chưa một lần ấm sưởiLạnh trong hồn, lạnh thấu ở trong sươngNghe đêm xuống tưởng buồn như tận thếLệ rất nhiều mà khóc chẳng ai lauTa một mình ôm tất cả đớn đauKhông dám nói bởi chung rằng khó nóiViết lời thơ thành lời kinh kêu gọiNào vơi chi sầu hận của nhân gianNhư Băng em, xin ngó nẻo thiên đàngĐể nguy hiểm ta sống đời địa ngụcTa chỉ sợ rồi đây nơi nhà phúcMáu tai ương sẽ vấy tấm thân emLưỡi dao ngươi sẽ xẻ gót chân senEm sẽ chết dập bàn tay ngà ngọcRồi ta khóc đến tan tành trí ócNhư Băng ơi, nào em hiểu gì đâuĐã từng đêm ta nguyện với ta cầuLòng tự hỏi vì đâu đời khổ lụy?Bởi vì đâu hỡi loài hoa cao quýMà hương thơm còn mãi đến ngàn sauNở chi đây phô sắc thắm nhiệm mầuĐất sắp sửa sẽ nứt thành phun lửaNhư Băng em đau thương là thế rứaBởi yêu em nên khóc mấy cho vừaĐây lệ tình ta em biết cho chưaXác hồn ta chết đau gần quá nửaNhư Băng, Như Băng một chiều hoi hóp lửaLà một chiều tận thế của tương laiThôi ta chết cả linh hồn đời nhân loạiBao xây dựng đi về trong hủy hoạiBao văn minh hạnh phúc vẫn không thànhBao đền đài cũng vẫn chỉ hư danhBao khoa học không giữ người giá trịBao cao thượng chỉ thành ra vị kỷBao lợi quyền mà hóa vẫn tay khôngKìa điêu linh thì cứ đấy em trôngXe hiện tại dẫn ngày mai xuống hốĐời hy vọng mà vẫn tin tận sốÔ hô hô thôi mạt kiếp vận ngườiMà Như Băng ơi hỡi! Môi em tươiMắt em ngó nhiệm màu là biết mấyGiữa tim em nguồn thiêng rào rạt dậyVầng trán em phảng phất bóng hư linhEm hát đi cho ta hết dựt mìnhEm cầu nguyện để ta còn tin tưởngPhủ màn sương mộng ảo xuống che emTa muốn lấy hoa kết lại thành rèmĐể vây phủ đời em trong cõi sốngĐể nguyên vẹn tình ta vững chốngLái con thuyền tình ái đến sông trăngĐể tình ta còn đẹp tựa sông HằngMà hôm nay ta khóc lạy than rằng:Xin chầm chậm hoàng hôn đừng vội lặnÔi! Đau thương loài người xin hữu hạn.QUÁCH THOẠITiết 5THANH TÂM TUYỀN (1936-2006)Tiểu sử : Thanh Tâm Tuyền tên thật Dzư Văn Tâm. Sinh năm 1936
ở Vinh. Sống hầu hết đời hoa niên ở miền Bắc. Viết cho tuần báo Nói Thật (Hà Nội,
1953), Lửa Việt, Người Việt, Phương Nam, Sáng Tạo, 1956; 57 (Sài Gòn)...Tác phẩm và khuynh hướng: Đã xuất bản Tôi Không Còn Cô Độc
(Người Việt, 1956) Ông viết truyện dài đăng trên báo Lửa Việt.
Truyện dài Hiện Tại đăng dở dang: truyện ngắn Người Bệnh Giữa
Mùa Xuân, Đại Lộ, v.v... Ông cho xuất bản tập thơ tự do không vần, không điệu,
gần như văn xuôi, những bài Tình Cờ Phục Sinh khó hiểu hơn văn xuôi. Thơ tự do
của ông không là thơ tự do Nguyễn Đình Thi, gần hơn Nguyễn Quốc Trinh; gần hơn
nữa các nhà thơ trong nhóm ông Quách Thoại, Nguyên Sa, nhà thơ độc lập Phan Lạc
Tuyên. Thơ Thanh Tâm Tuyền giống lối thơ tượng trưng Lettrisme, Dadaðsmes
(Pháp), lối thơ bí hiểm khô khan, khó truyền cảm hơn cả thơ Xuân Thụ Nhã Tập tiền
chiến. Thơ ông mang sự khắc khoải, lo âu, bi thiết nặng triết lý Kierkegaard.
Ngoài những bài thơ khó hiểu, bí hiểm, có một ít bài truyền cảm, đặc sắc những
bài có âm điệu riêng nội dung cô đọng. Cũng là điều lạ, nhà thơ tự do phi lý
không lý do ấy rất thích điệu nhạc slow Đoàn Chuẩn, nhạc sĩ có dòng nhạc quý
phái, tươi trẻ, âm điệu quyến rũ lứa thanh xuân. Ông muốn tạo một lối mới, đi
quá trớn, không kịp chín thành lập dị, lố bịch, thơ không đồng cảm nổi với tác
giả mà chính tác giả chẳng hiểu tại sao làm thơ không phải là thơ. Cũng chưa đến
nỗi như Nguyên Xuân Sanh làm thơ bí hiểm, cố tạo ra ý tứ, giảng cho độc giả; mà
chính tác giả chưa lĩnh hội được? Chúng tôi nhớ vào thế kỷ XIX, sau thời kỳ văn
tượng trưng, khi môn phái symboliste xuất hiện thì nay lại có Thanh Tâm Tuyền đại
diện Người Sông Thương, Trần Thanh Hiệp là Dadaisme qua lối thơ chẳng hiểu, cảm
nổi. Tỷ dụ trong bài Phục sinh thơ làm dáng suy tư:... “Tôi buồn khóc như buồn ngủDù tôi đứng trên bờ sôngNước đen sâu thao thứcTôi hét tên tôi cho nguôi giậnThanh Tâm TuyềnĐêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗiEm bé quàng khăn đỏ ơiNày một con chó sóiThứ chó sói lang thangThứ chó sói lang thang”.Gọi tên mình không là mới; xưa trong Gửi Hương Cho Gió (1940) Xuân Diệu gọi tên
hoặc Huy Cận gọi tên và Xuân Diệu trong Lửa Thiêng. Song cách gọi tên phải thế
nào, sao lại gọi tên, nếu không một anh điên ngoài phố thường bỗng dưng gọi tên
mình thỉ chẳng ý niệm gì? Cách gọi tên Thanh Tâm Tuyền không lý do chẳng khác
chàng mộng du, không tưởng. Đọc trong bài Tình Cờ:“… Hai người yêu nhau rất tình cờCủa lòng tin phù trợHãy yêu nhau rất tình cờNhư mặt trăng may mắn thoát ra khỏi vòm mây…”Chiếc đầu máy mệt nhọc đứng lại một ga nhỏ”.Thật bí hiểm bắt chúng ta trở lại nền văn chương ở đầu thế kỷ hai mươi, nhìn lại
bản tuyên ngôn thi phái Dada (Pháp). Và làm không liên tưởng khi đọc Nhịp Ba
Thanh Tâm Tuyền: Các anh hiểu thế nào được, về việc làm chúng tôi! Có phải vậy
không? Vậy thì các anh ơi, nào chúng tôi có hiểu chúng tôi bằng các anh
đâu?...” (49) Tuy khôi hài nhưng rất biết mình, tự châm biếm như anh hề biết
làm trò hề chính mình không chịu nổi sự tiếp nhận chính mình Thanh Tâm Tuyền
không những là Francis Picabia; còn theo đòi Nathaniel Andre Gide trong Les
nourritures terrestres (Thức ăn trần gian). Nếu một Nathaniel kêu gào bạn hỡi:
hãy vứt sách ta đi, vượt ra ngoài đi; thì Thanh Tâm Tuyền bắt chước cách vụng dại,
ngây ngô, khiến nhớ đến một Tây Thi đau bụng nhăn mặt thì đẹp; còn mụ nhà quê Hồ
Nam, nhăn mặt kiểu Tây Thi bị chồng vác gậy đuổi đánh. Và Thanh Tâm Tuyền tưởng
rằng lối viết Gide hay, cóp ý hay ấy đem đặt ở trang đầu tập thơ Tôi Không Còn
Cô Độc như một nguyên tắc.Ở đây tôi là một vị hoàng đế đầy đủ quyền uy. Bởi vì người vào trong đất đai của
tôi, ngươi hoàn toàn tự do để cai trị tôi có những luật lệ tinh thần mà người
phải thân phục nếu người muốn nhập lãnh thổ người hoàn toàn tự do và có thể ném
cuốn sách ra cửa sổ...Trần Thanh Hiệp là một Đinh Gia Trinh cũng bắt chước làm thơ, viết bình luận biện
hộ bạn thơ, Thanh Tâm Tuyền và với chính bản thân Trần Thanh Hiệp làm thơ lại
là chép dịch thơ Louis Aragon:“Cửa sổ, cửa sổ, cửa sổ (Trần Thanh Hiệp)Persienne, persienne, persienne” (Aragon)Lối thơ tượng trưng, phi lý không lý do của Aragon; Éluard là thơ hay, không phải
lối thơ ăn cắp của Thanh Tâm Tuyền và tự cho khám phá mới, định luật mới quyền
uy. Nhiều bài thơ của ông bất thành cú, vô nghĩa:“…Ngực anh thủng lỗ đạn trònLưỡi lê thấu phổiTim còn nhảy đậpNhịp ba nhịp baCó người cầm súng bắn vào đầuĐạn nổ nhịp baKhông chếtAnh ngồi nhỏm dậyKhỏe mạnh lạ thường...”Hệt như văn kỳ tình, trinh thám Phi Long, Phú Đức, phi ngựa bắn súng; nhân vật
làm bia, chấp cho nghìn viên đạn bắn vào; và nhân vật chính không chết, rồi phi
lên không trung. Cho đó tượng trưng sức mạnh tin tưởng con người; là thứ so
sánh ngây thơ, con nít tập làm người lớn có suy tư, thích tìm hình tượng mới.
Truyện ngắn: Đại Lộ Thanh Tâm Tuyền ít lập dị, khó hiểu như thơ. Tuy nhiên Tôi
Không Còn Cô Độc có số ít bài vượt khuôn sáo như bài thơ Mắt Biếc, Dạ Khúc, Anh
Em Cộng hòa, hoặc bài trả lời bài thơ: Còn Sáng Tạo, Ta Hãy Còn Sáng Tạo của
Quách Thoại:“…Thoại ơi; Thoại ơi; không biết khócNhư dòng nước mắt ướp mặn môi,Không chết trần truồng không thể đượcCuộc sống phải thừa như sáng mai…”Đúng cảm xúc thực; không thương vay khóc mước, không dùng cái chính mình không
biết bịp lòe người khác; làm họ không biết như tác giả. Tôi nhớ có một lần,
báo: Văn Nghệ Tiền Phong nhại lại lối gọi tên của ông: Vịt luộc, vịt luộc, vịt
luộc của ông. Đa số bài thơ của ông thiếu rung cảm, khó lĩnh hội được, nội dung
rỗng tuếch, khắc khoải, suy tư vay mượn và như cậu học trò tập làm thơ triết
lý. Song cũng phải thừa nhận ông có thể làm thơ mới, lục bát, tuy không hay
nhưng không tầm thường.Trích thơ:
1. HÃY CHO ANH KHÓC BẰNG MẮT EM
NHỮNG CUỘC TÌNH DUYÊN BUDAPEST
Hãy cho anh khóc bằng mắt em
Những cuộc tình duyên Budapest
Anh một trái tim em một trái tim
Chúng kéo đầy đường chiến xa đại bác
Hãy cho anh giận bằng ngực em
Như chúng bắn lửa vào thép
Nỗi sờn họng súng
Nỗi ngã tư mặt anh là hàng rào
Hãy cho anh la bằng cổ em
Trời mai bay rực rỡ
Chúng nó say giết người như gạch ngói
Như lòng chúng ta thèm khát tương lai
Hãy cho anh run bằng má em
Khi chúng đóng mọi đường biên giới
Lùa những ngón tay vào nhau
Thân thể anh chờ đợi
Hãy cho anh ngủ bằng trán em
Đau dấu đạn
Đêm không bao giờ không bao giờ đêm
Chúng tấn công hoài những buổi sáng
Hãy cho anh chết bằng da em
Trong giây xích chiến xa tội nghiệp
Anh sẽ sống bằng hơi thở em
Hỡi những người kế tiếp
Hãy cho anh khóc bằng mắt em
Những cuộc tình duyên Budapest
(Tháng 12–1956)
(Trích Sáng Tạo)
2. DẠ KHÚC
Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Rồi giây điện cuốn lấy chúng ta
Bóp chết mọi hy vọng
Nên anh dìu anh xa
Đi đi chúng ta đến công viên
Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối
Ôi môi em như mật đắng
Như móng sắc thương đau
Đi đi anh đưa em vào quán rượu
Có một chút Paris
Để anh được làm thi sĩ
Hay nửa đêm Hà Nội
Anh là thằng điên khùng
Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới
Chiếc kèn hát mãi than van
Điệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng
Sao tuổi trẻ quá buồn
Như con mắt giận dữ
Sao tuổi trẻ quá buồn
Như bàn ghế không bằng
Thôi em hãy đứng dậy
Người bán hàng đã ngủ sau quầy
Anh đưa em đi trốn
Những dày vò ngày mai
(Trích Sáng Tạo)
THANH TÂM TUYỀN
KỲ THỨ XXVI
VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956
[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)
Giai đoạn kháng chiến, từ 1945 đến
1950 Việt Nam độc lập được gần một năm. Tiếp, Pháp chiếm lại Hà Nội, (ngày 19
tháng 12 năm 1946) cho dù đảng phái Quốc hay Cộng đều bỏ phù hiệu riêng, đoàn kết
trong danh xưng kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng. Suốt chín năm
(1945–1954), thì kháng chiến ở bốn năm về sau, đã hao hụt thực chất; Mác xít ra
mặt lãnh đạo – và cho đến 20–7–1954, phân chia đất nước, danh xưng toàn dân
kháng chiến mất hẳn ý nghĩa. Song trên bình diện văn nghệ, ý thức toàn dân
kháng chiến tạo được nền văn học có chiều sâu và rộng.Giai đoạn văn nghệ phân hóa, văn nghệ Mác xít – theo
hẳn lối sáng tác được chỉ huy, nhất là sau 1954 miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa. Còn Quốc Gia và miền Nam (VNCH) văn nghệ chỉ là vườn hoang, mọc đủ loại thảo
mộc. Trong tập này, với người khe khắt cho quá nhiều – người dễ dãi cho chưa đủ.
Với tôi, vẫn chỉ là bắt voi bỏ giọ, và tất nhiên chủ quan; thiếu sót tất nhiên
không thể tránh. Nhìn vào những người viết sách nhận định văn học trước như Vũ
Ngọc Phan kết luận cuối trang sách phê bình văn học, có đoạn:“... Trước hết, bộ sách này là bộ phê bình văn học như
tôi đã nói nhiều lần, vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà
văn. Sau nữa, trong khi tôi viết những trang phê bình về thơ, có nhiều thi sĩ
chưa có quyển thơ nào xuất bản, về kịch hay tiểu thuyết, có nhiều nhà văn chưa
có sách biên khảo, chưa có kịch hay tiểu thuyết ra đời. Như vậy, biết căn cứ
vào đâu cho chắc chắn? Rồi lại những nhà văn chính trị tuy đã có văn thơ in
trên báo chương hay xuất bản thành sách, cũng không có trong bộ sách này, vì một
lẽ mà ai cũng hiểu khi nhớ đến chế độ hiện hành về sách báo. Còn những nhà văn
chuyên viết những sách Pháp văn thì tôi cho là không phải nói đến trong văn học
Việt Nam. (...) Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa rằng bộ Nhà Văn Hiện Đại này
chỉ là một bộ phê bình văn học, không phải là bộ văn học sử. Trong văn học sử,
người viết cần phải xét rất kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến văn phẩm, rồi lại
phải định rõ cả sự liên lạc của nhà văn nọ với nhà văn kia đồng thời hay khác
thời đại. Nếu không đủ được những điều cốt yếu ấy, để định rõ phong trào văn học,
thì dù có văn học sử đi nữa, người ta cũng chỉ coi là một mớ sử liệu...” (1)Thời gian này tác phẩm viết bằng Pháp ngữ như Phạm Duy
Khiêm với Légendes des terrres sereines và Nam et Sylvie; hoặc Nguyễn Tiến Lãng
Le Chemin de la Révolte; Phạm Văn Ký: Frère de Sang, Celui qui régnera; Cung Giụ
Nguyên Le Fils de la baleine – sử học Lê Thành Khôi với Le Vietnam, Histoire et
Civilisation v.v..., không nói đến, cũng như lý do mà ông Vũ Ngọc Phan đề cập tới
ở trên. Đến nhà chính trị văn sĩ Hồ Hữu Tường với Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc bỡn
Nga, ... thì cũng vậy. Cả đến loại sách trinh thám kỳ tình, kiếm hiệp, phong thần,
phỏng dịch chắp vá được gọi là tác phẩm văn học – chúng tôi xin phép không nói
tới. Rõ hơn là Phạm Cao Củng có mặt từ tiền chiến với Kỳ Phát; hoặc truyện Người
Nhạn Trắng cũng thế v.v... Tác giả Hoàng Như Mai, thời gian 1950–1954 trong
kháng chiến; chúng tôi đưa vào cuốn này; vì vở kịch Tiếng Trống Hà Hồi đặc sắc
được in trình diễn ở Hà Nội. Có thể nói điển hình bộ môn kịch là Tiếng trống Hà
Nội. Bước sang bộ môn biên khảo, đưa Duy Sinh vào một tiết, như một điển hình
cho lớp người viết biên khảo; cũng vẫn chủ quan, so với Diên Hương, Thu - Giang
- Nguyễn - Duy - Cần; Khi đối chiếu lại thì, Duy Sinh không thể giá trị bằng
hai nhà biên khảo vừa nêu danh.Trở lại bình diện văn nghệ hậu chiến, tập 3 gồm trên
dưới một trăm nhà văn; chọn ba mươi điển hình nói tới cặn kẽ; so với người khác
viết tóm lược. Cũng vẫn chủ quan thô thiển và tự nhận thiếu sót. Bởi còn nghĩ
xa hơn rằng: "không thể viết đầy đủ các nhà văn mình muốn đưa vào một quyển,
thay vì mỗi nhà văn điển hình phải viết hẳn một cuốn nói về họ". Nên coi những trang viết này chỉ là chữ viết
(écriture) trong bộ sách này, và không là văn học (littérature); như quan niệm
của Michel Buto (2). Lẽ trang viết có ý nghĩa tổng quát hơn. Còn nữa, bộ sách
này chỉ là kết quả viết về tác phẩm các tác giả mà tôi đã đọc, đưa ra nhận xét
của riêng tôi; giúp cho nghề tôi nuôi nghiệp (littérateur). Từ 1950 đến 1956,
biến chuyển thời cuộc tác động đích thực vào đời sống văn học mà nhà văn sống
trong đó. Ở miền Bắc của Quốc Gia Việt Nam (1950 – 1954) nhóm Thế Kỷ tạo thành
một Triều Đẩu, qua những mảnh đời phóng sự hồi cư nóng bỏng, hàng ngày phải đối
phó với đời sống, tạm gọi độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Còn thêm nhà
văn điển hình như Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, (truyện),
Bến Nước Ngũ Bồ (kịch dã sử), Nguyễn Minh Lang, ngọn bút tài hoa của văn chương
lãng mạn mới, qua Gái Hà Nội, Nước Mắt Trong Đêm Mưa, Cánh Hoa Trước Gió (2 tập)...
Hai nhà văn này, chúng tôi đề cập ở Chương 3 (tiết 2 và 4) – nhưng tập 3 này xuất
bản ở Sài Gòn vào 1959 (Loại sách Đại Nam văn hiến trong nhà xuất bản Huyền
Trân, Nhật Tiến chủ trương) bị kiểm duyệt bỏ trọn tiết. Bản in lại lần thứ hai
in lại đầy đủ; nhưng trong lần này vẫn phải để trống phần phân tích; vì lý do tầm
thường – không kiếm được bản tái bản vào 1973. Hai nhà văn điển hình khác nói đến
trong Chương 3 là Thanh Hữu, Văn An. Về nhà thơ điển hình: Đinh Hùng, Nguyễn Quốc
Trinh... Viết tóm lược nhà thơ: Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Băng Sơn, Vân
Long, Trần Nhân Cư... Bình diện văn nghệ miền Trung (Quốc gia Việt Nam) vào
giai đoạn này, nhà thơ điển hình được nói đến : Huyền Chi (nữ), Hoài Minh,
Thanh Thuyền. Viết tóm lược các nhà thơ: Hồ Đình Phương, Huyền Viêm, Thế
Viên...Bình diện văn nghệ miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nhà
văn điển hình: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo (nữ), Triều Lương Chế, Phạm - Thái -
Nguyễn - Ngọc -Tân Phạm Thái kèm tên thật Nguyễn Ngọc Tân, phân biệt với một Phạm
Thái khác), Chấn Phong Hư Chu. Viết tóm lược: Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ),
Thiếu-Mai-Vũ-Bá- Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm
Minh, Nguyễn Hoài Văn, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân... Một số nhà văn khác nổi tiếng
sau giai đoạn 1956 như Võ Phiến chưa có tác phẩm xuất bản. Phải kể thêm trong số
đó: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, (nữ),
Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng (nữ), Võ Hồng, Thế Uyên, Tuấn Huy, Thế Nguyên,
v.v... của Đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 trở đi). Riêng về phóng sự tiểu thuyết:
Hoàng Hải Thủy với Vũ Nữ Sài Gòn (3), Duyên Anh qua bút hiệu Thương Sinh, Toàn
Phong với Đời Phi Công, chúng tôi chưa có cơ hội nói đến, và nhờ Vũ Ngọc Phan
giúp giải vây sự khốn đốn; ... vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất
cả nhà văn... Thêm nữa, khoảng thời gian viết đến lúc in ra (dầu cho là in
ronéo-typé cách vài năm). Do đó, chưa kịp nói đến Võ Phiến (Chữ Tình), (4) Thế
Uyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Toàn Phong , Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Thế
Nguyên, Văn Quang (Thùy Dương Trang), Huy Trâm, Phạm Nguyên Vũ, Túy Hồng (nữ),
Lê Vĩnh Hòa, Nhật Tiến, (văn) v.v... – Về thơ: Thái Thủy, Tô Thùy Yên, Tôn Thất
Quán, Hoàng Khanh, Cung Trầm Tưởng, Cao Mỵ Nhân, Viên Linh, Trần Dạ Từ (khi ấy
ký Hoài Nam), Hoài Khanh, Hà Yên Chi v.v... và v.v... (5).Giá trị văn chương tiền chiến Tự Lực văn đoàn, có cả
Lê Văn Trương, (tập một: Nhà văn tiền chiến), tiếp đến giá trị văn chương lửa
kháng chiến; sau là hậu chiến. Đọc Bướm Trắng, Nửa Chừng Xuân. Mấy Vần Thơ, Gửi
Hương Cho Gió, Vang Bóng Một Thời, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giông Tố... không nhìn
thấy đầy đủ hình tượng sống cuộc sống hôm nay được thấy trong: Gió Bấc, Truyện
Năm Người Thanh Niên, Trên Vỉa Hè Hà Nội, Cánh Hoa Trước Gió, Trại Tân Bồi,
Nhìn Xuống, Điệu Đàn Muôn Thuở, Đêm Giã Từ Hà Nội, Sợ Lửa, Rừng Địa Ngục....
Văn nghệ là sản phẩm phản ánh thời đại, nên Kim Vân Kiều có hay đến mức thượng
thừa – cũng chưa thể đại diện cho một khoảng thời gian không tiếp nối. Tác phẩm
Nguyễn Du mới chỉ nói lên đầy đủ về xã hội phong kiến giao thời mà tác giả Kim
Vân Kiều sống – đủ một số điều tương đồng hiện cảnh. Không thể nói đến Kim Vân
Kiều là đủ điều tất yếu hình tượng sống lịch sử. Tác phẩm của Karl Marx,
S.Freud cũng bị vượt qua, hiện nay vẫn cần khối óc siêu việt Oppeheimer,
Einstein, Gandhi, JP Sartre v.v...Phải hiểu được rằng: lịch sử một nước như lịch sử văn
học, luôn theo đà diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Nói khác đi, sử học, văn học
sử một nước không thể cắt quãng, cũng không tùy thuộc vào lập luận một phe nhóm
nào để định giá trị vĩnh viễn. Rất cảm phục lập luận của Vũ Ngọc Phan dẫn trên
kia; được gọi văn học sử, phải xét kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến tác phẩm,
định rõ liên hệ (chữ dùng: TP) giữa nhà văn này với nhà văn nọ, định rõ phong
trào văn học. Càng rõ hơn, được gọi văn học sử, ít ra phải làm được một bộ sách
Lịch Sử Văn Chương Ngôn Ngữ Pháp (tạm dịch Histoire des littératures de la
langue française) (6) do nhóm chủ trương gồm 209 giáo sư văn học thực hiện bộ
sách vĩ đại ấy.Cảm ơn số bạn giúp tài liệu, ý kiến, khích lệ, động
viên, khi tôi khởi sự viết bộ sách này. Như họa sĩ Đinh Cường cởi áo, ngồi xệp
trên sàn gác căn nhà trọ cùng tôi chia giúp những trang sách in ronéotypé xếp
thành tập vào 1959, ở hẻm nhà thờ Lý Thái Tổ (Chợ Lớn). Uyên Thao mượn cho chiếc
máy chữ, có lịch sử sản xuất cùng thời kỳ Tây hạ thành Hà Nội. Nguyễn Quang Tuyến
nuôi ăn ở hàng năm, tôi ra thư viện đọc sách. Cùng với nhiều thư tình đầy tâm
huyết người - tình - bậc - chị đến từ Hong Kong (nàng gọi Cảng Thơm) khích lệ
người - em - bạn - tình miệt mài với chữ và nghĩa. Lại không thể quên bạn vong
niên Phan Văn Thức cấp tiền ăn sáng, giấy stencil và thẩm phán Đào Minh Lượng,
khi là sinh viên Trường Luật mua bánh mì dùng bữa trưa để tôi ngồi lì ở Thư Viện
Quốc Gia làm mọt sách. Cũng không thể quên chịu ơn André Gide, qua cuốn sách viết
phê bình về Fédor Dostoievskï (7) và cả Textes philosophiques của V.Biélinsky
(8) nữa.THẾ PHONGPHẦN THỨ BAVỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)] CHƯƠNG BỐNCÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP ĐIỂN HÌNHTiết 1KHÁI QUÁT VỀ CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP ĐIỂN HÌNHBây giờ bàn đến các nhà văn độc lập điển hình, gồm nhà
văn không đứng trong nhóm nào; mặc dầu Nguyễn Thị Vinh và Linh Bảo có sách xuất
bản ở NXB Phượng Giang. (tiền thân Tự Lực văn đoàn hậu chiến dưới sự điều khiển
Nhất Linh). Nguyễn Thị Vinh và Linh Bảo không đứng trong nhóm, chỉ chịu ảnh hưởng
Tự Lực văn đoàn và Nhất Linh in sách cho họ. Linh Bảo; Nguyễn Thị Vinh, Tương
Hùng, Trương Bảo Sơn cũng tiếp nối vào giai đoạn cuối của Tự Lực văn đoàn. Và
Triều Lương Chế, nhà văn tâm tình thời đại, Chấn Phong, Vũ Khắc Khoan nhà văn
chính trị xã hội đứng trong nhóm Quan Điểm; Hư Chu, nhà văn hoài vọng dĩ vãng,
mỗi nhà văn có nhỡn quan riêng hòa đồng với tiếp nhận ngoại cuộc, đưa mỗi người
vào xã hội hôm nay muôn ngàn vẻ. Phần kết thúc sẽ bàn đến giá trị tổng quát mỗi
nhà văn.Tiết 2NGUYỄN THỊ VINHTiểu sử:Nguyễn Thị Vinh sinh năm 1924 ở Hà Đông. Tác phẩm đầu tay do nhà Phượng Giang
xuất bản, Trương Bảo Sơn lo phần ấn loát. Bà viết truyện dài, truyện ngắn, làm
thơ.Tác phẩm và khuynh hướng:Nguyễn Thị Vinh phân tích tâm lý nhân vật giai cấp trung lưu. Tác phẩm đã xuất
bản: Hai Chị Em (truyện ngắn, Phượng Giang, 1953) và tập truyện dài Thương Yêu
(Phượng Giang, 1954), Xóm Nghèo (1958), Men Chiều (1960) Thơ Nguyễn Thị Vinh
(1972), Cô Mai (1972) Nổi Sóng (1973) Vết Chàm (1973)... Từng chủ bút giai phẩm
Tân Phong (1957). Chủ nhiệm nguyệt san Đông Phương (1965)Phân tích tác phẩm chính:Ở Thương yêu nhà văn sẵn tài nguyên về tâm tình nên phân tích tâm lý nhân vật vững.
Kết cuộc tuyện thiếu linh động; lệch, ưu điểm và nghệ thuật dồn
hết vào phần trên, phần dưới mất cân bằng. Nhớ đến Hà Bỉnh Trang viết Răng Đen
Ai Nhuộm Cho Mình chung khuyết điểm. Truyện ngắn Hai Chị Em viết rất linh động,
hơi văn ngắn nhưng đằm thắm. Truyện ngắn không nhạt nhẽo, như đoạn kết truyện
dài Thương Yêu. Khuyết điểm chính khi viết truyện dài bà không có hơi văn dài
(longue–haleine). Sở trường là tân truyện (nouvelle) hình tượng nhân vật thời đại
mới, truyện không cần dàn bài như truyện dài, truyện ngắn; không cần mở truyện,
thân truyện, kết truyện; mà chỉ là mẩu truyện không thành truyện. Ai từng đọc
Katherine Mansfield này đều nhớ tác giả viết tân truyện tế nhị, linh động hơn cả
Guy de Maupassant. Đó là truyện The Garden Party đã được dịch sang Pháp văn.
Nguyễn Thị Vinh tự nhận rằng bà chịu ảnh hưởng tác giả ấy, nên ngay trang đầu
sách, trích đoạn văn phê bình gia Pháp nhận định giá trị văn chương Katherine
Mansfileld:“...Katherine Mansfield, một nữ văn hào Anh nổi tiếng khắp thế giới chuyên môn viết
những truyện không có truyện đã khôn khéo hơn Maupassant ở chỗ muốn tả cuộc đời
với đủ mọi phức tạp mà không làm cho đời thành có vẻ tuồng. Tính thích bày cảnh,
thích đập vào mắt người ta, đã gây tai họa cho rất nhiều người đầu óc khá của
nước ta. Trong một truyện, muốn đi tới một kết cục, thật dễ dàng, nhưng phải
còn bao nhiêu là kỹ sảo khi mà câu truyện không có kết cục, tôi muốn nói đến
không có kết cục nổi bật lên, gò gẫm bịa đặt ra không nhiều thì ít hay nói cho
đúng ra, truyện không có kết cục, nhưng mỗi đoạn, mỗi một chi tiết tự nó, nó đã
làm kết cục của nó rồi…”.Nguyễn Thị Vinh chưa hoàn toàn viết được như thế; sẽ phân tích kỹ lưỡng hơn ở
đoạn nào cần phải bàn. Nguyễn Thị Vinh có hơi văn ngắn nhưng đậm đà; nhất là
Hai Chị Em. Trước khi phân tích tập truyện ngắn điển hình, tóm lược, nhận định
giá trị truyện dài Thương Yêu. Phần đầu, viết rất tâm lý qua hầu hết nhân vật;
đề cao tinh thần tự lập. Nhân vật chịu ảnh hưởng tinh thần triết lý Á Đông;
kính cha mẹ, nhường anh chị là phận em. Song từ phần tiếp rất gượng ép, khi tả
Hoan hoặc Tân, sự đau ốm của khách giả tạo. Hơi văn ngắn không hợp truyện dài;
chẳng hạn tả mối tình đầu Dậu, sự bạc đãi tình thân thuộc chẳng ích gì, vì phần
đầu đã nói đến. Nếu Yêu Chỉ Một Lần của Hoàng Công Khanh chỉ là truyện vừa kéo
thành truyện dài nên trở thành nhạt nhẽo, khác gì Thương Yêu nên bố cục mất cân
bằng. Truyện ngắn bà tả tâm lý theo đúng giác quan, hòa hợp với đời sống. Nhân
vật trong Đồng Năm Xu, Hai Chị Em, Tản Cư; nhân vật chính hồn nhiên; không dám
đấu tranh tuy hoàn cảnh bị bóp chẹt; nếu có; chỉ là hòa giải. Tóm lại, Nguyễn
Thị Vinh là nhà văn tâm tình hồn nhiên; chỉ sáng tác khi có cảm hứng hòa hợp,
dùng tình cảm giải quyết hơn lý trí. Đồng Năm Xu có đoạn cuối hồn nhiên; quá hồn
nhiên đến nỗi trở thành hiện thực thô thiển (réalisme vulgaire). Trong Hai Chị
Em (135 trang) gồm sáu truyện Quê ngoại, Anh Triển, Đồng Năm Xu, Bà Ó, Tản Cư,
Một Đêm Xa Nhà. Truyện đặc sắc nhất Quê Ngoại, Đồng Năm Xu và Tản Cư. Truyện
Anh Triển hời hợt, phơi bày trạng thái tâm tình cô gái khác giai cấp với Triển
được Triển yêu thương; cô không yêu lại. Cô lấy chồng, mẹ cô cưới vợ cho Triển;
thương Triển bị thất tình. Tác giả mai mỉa giới nông dân thôn quê; không phải
tình cờ tả cô gái tư sản được yêu và sự nhầm lẫn Triển yêu cô gái. Truyện Một
Đêm Xa Nhà và Bà Ó không đặc sắc, như chính nội dung hai truyện kia không đáng
chê trách bằng truyện Anh Triển. Đọc Anh Triển, người đọc căm thù giai cấp hơn
thương Triển, đúng hơn ghét bỏ cô gái tư sản kia. Cũng như người con gái tỉnh
thành đỏng đảnh lúc tản cư, ban tình yêu cho một anh nhà quê nào đó vô phúc yêu
mình; rồi giải thích rằng họ không đáng yêu mình. Gây cho họ đau khổ thì cô lại
sung sướng. Ở Quê Ngoại, Bảo, cô gái mồ côi có bố, dì ghẻ ở tỉnh. Một hôm cô
gái về quê ngoại thăm bà, sự săn sóc, cảm giác được chiều chuộng của bà với
cháu, tác giả tả được từng cử chỉ nho nhỏ của cô gái sung sướng cực độ. Cảm
giác thi vị như đọc thơ Lưu Trọng Lư (Nắng Mới); hay gần hơn Nắng Tháng Mười,
hoặc truyện ngắn của Uyên Thao:“... Bảo còn đương ngủ say, thấy có người động vào mình hốt hoảng tưởng đâu là
mẹ kế ngoại, choàng thức dậy, vì ở Hà Nội cứ sáng sớm, người mẹ kế đã lay Bảo để
dậy quét nhà, thu dọn, không bao giờ Bảo dám nằm lâu thêm lấy một phút. Nhưng
khi Bảo đã nhận biết đấy là cụ Đồ đang nhẹ nhàng đắp chăn cho mình; Bảo cảm động
vội kéo chăn trùm kín đầu để bà không biết mình ứa nước mắt. Một nỗi vui rung động
nhẹ trong lòng Bảo cùng với tiếng chim hót trong trẻo vừa vang lên ở ngoài vườn,
Bảo kéo chăn xuống để hở mặt, nhìn ra cửa sổ và lắng nghe. Trong người ran ran
hơi ấm của chăn, Bảo thở những hơi dài khoan khoái, Bảo thấy được lười một cách
dễ chịu”...Ở Đồng Năm Xu, xã- hội - tính nảy nở trong tâm hồn đứa trẻ giao tiếp với đời bằng
đồng năm xu giả. Từ lúc bắt đầu cha cho, đến mua hàng; cuối cùng nó lừa lọc được
sự mù chột ông hàng phá sa. Từ chiến thắng ấy, mỗi lần ông hàng phá sa đi qua nấc
lên tiếng rao bỏng kẹo, đứa bé hối hận, khiến người đọc nhớ đến truyện ngắn lập
ý cao Anatole France. Tả Hải nghèo, đến nỗi đứa bé chỉ được cầm cái cặp tóc của
bạn một lần thôi. Ao ước có tiền sống động tâm hồn đứa trẻ, hôm ấy, nó đã mãn
nguyện đây là cảm tưởng Hải nằm ngủ luôn mong trời chóng sáng để khoe mua chiếc
cặp mơ ước. Nghệ thuật diễn đạt không bỏ sót từng động tác tâm lý nho nhỏ, chuyển
dịch theo hiểu biết đứa bé mơ ước thời gian rút ngắn: “... Ồ mai phải mua cái cặp
tóc hình con bướm giống như của nó mấy được. Mọi khi mình thường mượn của con
An để cặp thử đẹp quá. Nhưng con An đó cho mình mượn lâu bao giờ. Chỉ một tý là
đòi lại ngay. Ngày mai mình cũng có một cái, chắc con An hết làm bộ được với
mình. Nghĩ đến đây trong lòng nó rộn ràng sung sướng thấy cần phải khoe ngay với
chị. Nhìn sang Loan ngủ mê mệt, Hải muốn đánh thức chị dậy, nói khẽ thích vào
Loan, làm Loan giật mình đạp vào Hải, miệng lầu bầu gắt gỏng xoay người và lại
bắt đầu ngáy đều đều. Hải thất vọng và rất bực mình với chị, nghe hơi thở và tiếng
ngáy của Loan, sao nó thấy rõ ràng một cách khó chịu quá. Nó mong cho chóng tới
sáng để đi mua cặp ...”Nuôi hy vọng ngày mai chóng sáng, Hải rủ chị lên phố mua chiếc cặp lý tưởng. Đoạn
tả chúng dạo khắp phố phường để chọn, chiếc cặp tóc đẹp hơn của bạn đã có trước
đây rất tế nhị:... “Hải và Loan đi gần khắp các hàng tạp hóa ở phố hàng Đào để chọn mua một
cái cặp tóc. Sau cùng chúng nó bằng lòng chiếc cặp hình con bươm bướm với giá
ba xu rưỡi. Chúng nó chọn đến kỹ càng, để cho nó khác với cái của con An màu đỏ.
Nó cho cái màu xanh của nó đẹp hơn cái màu đỏ của con An. Vì vậy nó sung sướng
và có một chút tự kiêu...”“... Người bán hàng, sau khi lật đi lật lại đồng tiền xem mấy lần, bỗng quẳng
trên mặt quầy giằng lại chiếc cặp trong tay Loan, giận dữ mắng như hắt vào mặt
chúng nó “đồ ranh con! đồng năm xu giả mà cũng đem đi mua với bán. Chúng mày định
lòe cả tao nữa cơ à? Có bước ngay không có tù nhọc...”Kết thúc đột ngột là dụng ý con bé bị mắng oan uổng, khi nó đem đồng xu về hỏi
bố, bố dã tâm không biết nói sao, gật đầu. Thật đau đớn biết chừng nào, cụ Cựu
nói vậy, còn xúi đem mua quà. Tác giả tố cáo gián tiếp sự dạy dỗ bố mẹ với con
cái; không đủ bổn phận làm cha; xui con làm điều trái lương tâm; xui chúng đi
vào đường hư hỏng. Tính lừa lọc phát khởi tâm hồn chúng từ đó. Và nó đánh lừa
ông hàng kẹo, với thái độ lúng túng (trang 68) tác giả nhận xét rất tỉ mỉ, tế
nhị. Thất vọng ấy chưa đủ cảnh tỉnh đứa bé lừa lọc; nó bước vào ngõ tối để đánh
lừa ông hàng phá sa. Chủ quan tác giả nhận định là lôi kéo đứa bé về với lương
tri; chịu hình phạt toà án lương tâm. Sự thành công tác giả, ở chỗ mỗi đoạn
truyện có kết luận nhỏ. Chẳng hạn đoạn nó bị nhà hàng cặp tóc trả lại đồng năm
xu. Đoạn nó bị chủ hàng kẹo từ chối, thật gay cấn:... “Trong trí nó hiện ra cảnh tối tăm của một số nhà ẩm ướt, chật hẹp, mà chốc
nữa khi bán xong, ông cụ sẽ về đấy nằm gối lên hòm lạc để đợi hôm sau lại xách
hòm đi buôn lạc rồi bị người ta quăng trả đồng năm xu và mắng “Đồ khỉ giả, mua
với bán gì bước ngay không tù nhọc”.Tác giả đồng ý cho Hải nghĩ đến hình ảnh ông lão sẽ bị đời sỉ nhục như mình mà
sao lại cho đoạn Hải ngồi ăn lạc ngon lành. Sự hối hận đứa bé trở thành liêm sỉ;
nếu không, chẳng cần cho đứa bé ấy nghĩ nữa đã sao? Nhớ đến một Đỗ Tốn trong
Hoa Vông Vang viết truyện ngắn hay vào bậc nhất, cho vai chính trở lại tìm người
yêu có chồng mà nàng vẫn yêu mình chẳng hạn chế. Hiện thực thô thiển qua thái độ
đúng như đứa bé nhai lạc nhau nháu; và hai nhà văn giống nhau trong cùng khuyết
điểm nhỏ; qua hai nội dung.Kết luận :Nguyễn Thị Vinh, nhà văn sở trường truyện ngắn tâm tình, bà có hơi văn đậm đà,
sâu đượm; nhận xét tỉ mỉ; tâm lý nhân vật nghiên cứu cẩn trọng. Văn nhẹ nhàng,
bút pháp có nghệ thuật. Giọng nỉ non; giãi bày không bao giờ cho người đọc mức
độ hưởng thụ tiếp nhận quá vui hay quá buồn. Nói thế, tác động đấu tranh cách mệnh;
sự kiện theo định hướng câu truyện cần phải có, thì Nguyễn Thị Vinh không làm vậy;
mà chỉ nhận xét và giãi bày, ít khi dám giải quyết vấn đề gì hoặc định đoạt
theo định hướng. Nói đến Nguyễn Thị Vinh, Tường Hùng; người đọc nghĩ ngay đến Tự
Lực văn đoàn nối dài hậu chiến. Và họ chính là con đẻ mặc dầu Phượng Giang chỉ
là nhà xuất bản như trăm ngàn nhà xuất bản khác. Tiết sau, phân tích Linh Bảo với
loại truyện văn chính trị xã hội, giọng văn châm biếm tài tình; và có thể quả
quyết nói rằng: dù NXB Phượng Giang in ấn, song Linh Bảo có mặt do tài năng cá
nhân hơn là khám phá mới của Tự Lực văn đoàn.Tiết 3
LINH BẢO
Tiểu sử.
Linh Bảo tên thật Võ Thị Diệu Viên. Sinh ngày 14.4.1926 ở Huế.
Chị ruột của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (49) 19 tuổi bắt đầu
viết văn, truyện đầu tay là tập phóng sự ngắn Chồng Chung, ký Hương Thơ; kể lại
thảm cảnh kiếp chồng chung. Năm 1945, thi sĩ Phan Khắc Khoan (xem Thi Nhân Việt
Nam; Hoài Thanh, 1941) định xuất bản; xảy ra hoàn cảnh chính trị đột biến làm
thất lạc bản thảo đầu này. Tác phẩm: Gió Bấc (Phượng Giang 1952), tác phẩm giá
trị đáng kể vào bậc nhất bình diện văn nghệ. Cuốn đầu tiên này được gọi tiểu
thuyết chính trị đúng nghĩa. Đọc tác phẩm La vingt cinquième heures, La seconde
Chance (V. Gheorghiu) La Chute, L’exil et le Royaume ... (A. Camus) (50) biết
được hình tượng thời thế, chủ nghĩa chính trị diễn tiến thế giới hôm nay, hậu
quả tai hại chủ nghĩa độc tài. Linh Bảo đã tòng sự tại Sứ quán Việt Nam ở Hồng
Kông. Linh Bảo viết nhiều truyện ngắn, chưa xuất bản, trước kia cho đăng rải
rác trên báo Mới (Sài Gòn, 1953). Linh Bảo cho biết tác phẩm viết ở hôm qua,
như hôm nay, bất cứ bút hiệu nào; độc giả cũng nhầm lẫn cho rằng văn nhà văn
nam. Trước đây, tuần báo Việt Chính; ông Viết Tân (Hồ Nam) loan tin văn nghệ
Gió Bấc là của Nhất Linh. Đọc Gió Bấc hiểu được cuộc diễn biến tâm trạng Linh Bảo
hòa hợp cho hoàn cảnh trong cô gái du học sang Trung Hoa, va chạm hoàn cảnh xã
hội Trung Quốc.Phân tích tác phẩm chính:Truyện ngắn đăng trên báo Mới không đặc sắc. Hơi văn không phải để viết ngắn,
nói thế không có nghĩa viết truyện ngắn không trội. Sự nghiệp văn nghệ là tiểu
thuyết Gió Bấc. Cốt truyện rất giản dị bề sâu vô cùng sâu sắc. Nhân vật chính
là một nữ sinh - cô Trang mắc bệnh xuyễn. Nàng sinh trưởng trong gia đình khá
giả (phong kiến tư sản). Bà mẹ của Trang là người ít săn sóc đến con cái; mẹ
Trang, mộ đạo Phật cực điểm nhiều khi đến vô lý; khiến làm hao sụt đến ngân quỹ
gia đình. Khi ba Trang về hưu, gia đình Trang rời cả về miền quê sinh sống;
nhưng chẳng bao lâu chiến tranh bùng nổ. Gia đình tan nát; Trang bị lạc. Từ đấy
nàng bắt đầu sống đời mới, gian lao cực nhọc. Trang tiếp xúc với xã hội, trải
qua nhiều biến đổi chủ nghĩa chính trị. Trang ôm ấp du học, lần này toại nguyện,
khi có cơ hội sang Hương Cảng. Ở đấy, mức sống cam go, khó khăn vì là đồng đất
nước người nhưng Trang thêm bạn bè, cả tình thương trợ của bạn hữu nội trú ngoại
quốc, đồng hương. Trang đi nhiều nơi, nghe được nhiều mẩu đời luân lạc. Trang mắc
bệnh xuyễn, sống nội tâm. Vì bệnh xuyễn, nên sinh kế thiếu thốn, Trang ra ngoài
làm việc, lần đầu tiên va chạm với đời; bị chủ phòng làm răng ỷ có tiền, có quyền
buộc nàng đi dạo mát với chủ. Nàng từ chối, bị thất nghiệp, ở nhà lại bị ốm. Nhờ
Bình, một đồng hương săn sóc, ân nhân này ngỏ lời cầu hôn, và thành chồng vợ.Cốt truyện giản dị, bố cục dàn bài từng tiểu mục ghi lại nếp sống qua nhiều chế
độ chính trị (rất khách quan mà lại chủ quan đãi lọc định hướng), nghệ thuật tiểu
thuyết Gió Bấc là luận đề chính trị thành công. Ghi lại hành động dã man xã hội
mới rất sinh động. Nhà văn có thái độ đúng đắn ghi chép sự kiện trung thực. Qua
lối văn trong sáng, thái độ bình tĩnh, vô tư, khách quan là nghệ thuật vượt.
Thái độ, suy tưởng Trang và xã hội với nếp sống thích hợp. Lẽ đương nhiên người
viết tài năng Linh Bảo thì lại càng linh động hơn. Bắt đầu vào truyện, tả cơn
gió bấc liên hệ bệnh tật nhân vật chính.“... Từ thuở bé cứ mỗi lần gió bấc thổi là Trang lại thấy lo lắng, sợ hãi như
người sắp bị đem ra hành tội. Hơi gió lạnh từ từ thấm dần vào cơ thể người.
Trang nhọc mệt như có một cái gì đè ngực, làm hơi thở nàng gấp bị ức và nghẹn
ngào. Từ trong phổi Trang, một âm thanh nhè nhẹ phát ra, có khi ty tỷ như một
điệu đàn nhẹ, nhưng những lúc gió bấc thổi mạnh hay ban ngày làm việc nhọc mệt
thì điệu đàn của nàng trở nên thống thiết vô cùng...”Trang bị bệnh xuyễn, bệnh xảy ra vào đêm đông, khi mọi người ngon giấc; cảm
giác ấy Linh Bảo ghi lại thật thống thiết:... “Với Trang thì trái lại, nàng tưởng
như đám đánh đổi mấy mùa hè sống bên cạnh một người không yêu, để được giấc ngủ
ngon say trong một đêm đông có gió bấc thổi, cạnh một người yêu”. Người cha
liêm khiết, một ông bố tốt trong sạch; Linh Bảo có giọng mai mỉa, càng mai mỉa
cay độc hơn:“... Trong làng quan trường người ta làm thế để thăng quan tiến chức thì ba
Trang chỉ biết cố gắng làm việc và càng cố gắng hơn ông càng chậm thăng quan tiến
chức. Cái giá trị độc nhất của ông là sách và thuốc lá...”Tả người mẹ quý cháu hơn con, tính đồng bóng; Linh Bảo nhận xét từ giọng nói
quen thuộc đúng như thành ngữ:“... Còn mẹ Trang cả ngày chỉ lo thu và thu vén bớt sự tiêu pha, ăn mặc, và tằn
tiện cả tình thương của các con để chia cho bọn em và cháu mồ côi. Những giờ
phút rảnh rang bà chỉ đi chùa đền. Tu bổ chùa này miếu nọ, cùng ăn mặc cho các
thầy tu, bà vãi, đó là cái thích duy nhất của mẹ Trang. Người ăn thì còn con ăn
thì mất”Tả anh em họ hàng ham ăn uống, dựa vào tình thân thuộc ba mẹ Trang nhớ ngày giỗ
kỵ; thuộc lòng như vẹt; Linh Bảo giọng châm biếm sâu độc:“... Bọn Trang đặt cho ông bác họ cái tên ấy (chè, xôi, chuối) thực không ngoa
vì nhà ai có chuối, chè, xôi là thấy bóng ông cắp ô đến. Ông thuộc vanh vách
nhà ai, ngày nào có giỗ to hay giỗ nhỏ, giỗ ông nội, ông cố, ông tứ đại ngũ đại
gì từ đời ma nào ấy. Nếu con cháu có nghĩ rằng các cụ chết còn đòi quà chắc đã
đi đầu thai ráo cả; thì ông đến nhắc: Anh nói mới vô lý chứ! Không có ông bà
sao lại có mình!...”Giai đoạn cách mạng bùng nổ gia đình Trang tan nát. Nàng bị bắt với số tiền thật
lớn không phải của gia đình, mà tiền được hưởng hoa hồng từ lái buôn thuốc phiện
chia phần. Nàng muốn dùng số tiền ấy đi du học, nhưng mộng dang dở Trang nghĩ đến:“...Trời hỡi! Trang tự mắng thầm mình tại sao lại ở trong cái giai cấp không
may ấy!. Mà ngót mười chín năm trời làm con quan, Trang đã được hưởng những gì
và đã làm ra cái tội gì...?”Ở trong tù nhớ gia đình; Linh Bảo qua nhân vật chính tưởng nhớ lề lối sống giáo
huấn của mẹ ngày xưa: “... Mày muốn khôn hơn tao à? Con gái học lắm vô ích, nhiều
chữ có nấu chữ mà ăn được đâu, con gái học cho nhiều chỉ tổ cứng đầu cứng cổ,
viết thư cho trai được ích gì?Lúc ấy Trang tinh nghịch nghĩ thầm:- Viết thư cho trai cũng chẳng xấu, nếu đến thư cho trai cũng không viết được,
phải nhờ người viết hộ mới xấu chứ...?”Không chỉ trích cha mẹ, tác giả không cho nhân vật nói thành tiếng, mà chỉ là ý
tưởng phản ứng thầm; nhưng vẫn quá đáng. Đoạn dưới nói về tình thương người mẹ
Đông Phương đáng kính:“...Sự thực tình thương con của mẹ Trang cũng nồng nàn, nhưng tình thương ấy chỉ
biểu lộ ra với những đứa con ở xa, những đứa con của một đời khác và bây giờ tự
nó có riêng một cuộc đời. Những lúc ăn, lúc ngủ, không lúc nào mẹ Trang không
nghĩ đến những đứa con xa xôi...”Linh Bảo không quên từng mẩu truyện nhỏ rất dí dỏm trong bữa ăn gia đình xa
xưa; châm biếm rất nhẹ nhàng nhưng đanh thép:“... Ông cụ Phủ thế mà biết quý vợ đáo để, hôm qua ông ấy nói với bà trước mặt
tôi: Nếu ai đúc một con người vàng, to bằng người thực mà đổi mình tôi cũng
không đổi”.Ba Trang bật cười bảo:- Thế sao mình không hỏi: “Nhưng nếu là một con người bằng xương thịt thực thụ
chứ không phải bằng vàng trẻ hơn cụ bà những hai mươi nhăm tuổi và chỉ béo bằng
nửa cụ bà thôi thì cụ nghĩ sao?”Chị em Trang đều cười ủng hộ ba, còn mẹ Trang thì có vẻ tức bực lắm…”.Người đọc còn thấy tính nông nỗi dễ tin các bà ưa nịnh; đàn - bà - tính rất điển
hình cho pha làm nũng chồng, vì thực thà nên vụng về. Đến khi Trang bị bắt giam
ở chung với nhiều hạng người:“... Bà đằng hắng:- À, tam dân à, tam dân, tam là ba, dân là dân. Tam dân là dân có ba thứ một là
quan, hai là nhà giàu, ba là thường dân”Mai mỉa tế nhị người biết ít hay khoe, đúng châm ngôn Tây phương, thùng rỗng
kêu to (Les tonneaux vide font des bruits). Tả cái ghen vợ ông phủ (mẹ Trang),
Linh Bảo dùng tài hài hước bộc bạch:“... Tôi đến thăm anh chị với mục đích xin anh chị một đứa con. Trang vội chạy
đi, loan báo cho tất cả anh chị em biết cái tin ghê gớm ấy và người nào cũng lắc
đầu.- Không em không đi theo cái bà Sài Gòn ấy đâu.- Em cũng không, em ở nhà cơ.Đêm hôm ấy Trang ngủ bỗng giật mình thức dậy ngạc nhiên thấy mẹ nằm cạnh ôm chặt
lấy mình: mẹ hôn Trang nhưng sao mặt mẹ lại ướt đầm cả nước. Trang úp mặt vào
lòng mẹ ngủ lại, với cái kiêu hãnh đuợc ngủ với mẹ, vì mẹ thường vẫn ngủ với ba
cơ mà... Mãi về sau Trang mới hiểu bà ấy xin một đứa con chưa đẻ để bà đẻ cơ.
Và Trang mới hiểu tại sao hôm ấy mắt mẹ Trang lại ướt...”.Không là truyện đời mình trải, hẳn ít ai ngờ đến trường hợp đó. Nên nhớ truyện
Gió Bấc là tự sự tác giả qua Trang hoặc Linh Bảo trong văn chương tự sự Gió Bấc.
Nhìn tiểu sử tác giả năm mươi chín tuổi 1945; bị bắt, than: “Trời hỡi! Trang tự
mắng thầm mình sao lại ở trong giai cấp không may ấy. Mà ngót mười chín năm trời
làm con quan Trang đã được hưởng những gì và đã làm những cái tội gì” (trang
28). Tâm lý sâu sắc; Linh Bảo được kính mến như Thụy An Hoàng Dân nổi tiếng qua
truyện Một Linh Hồn. Đến HươngCảng; Trang chịu cơ cực cuộc sống du học sinh, cảnh
chờ hàng xóm ngủ, mới dám xách thùng ra tắm:“…Trong cái hoàn cảnh đó, Trang phải dẹp cái tiểu thư của mình lại; chiếc thùng
tắm nhỏ cũng không dám mua,mỗi đêm đợi đến 11 giờ hàng xóm ngủ cả rồi mới dám
xách thau ra hồ để tắm. Chung quanh nhà chỉ vài chục thước, là có cái hồ nước
trong xanh bên bờ đầy những liễu rủ. Những hồ nước công cộng cả xóm, ban ngày
là rửa mặt rửa rau vo gạo, giặt áo và ban đêm là tắm rửa...”.Thực trạng xã hội Trung Hoa thời Tưởng Giới Thạch, bệnh quan lại; kinh tế tự
túc yếu kém, chỉ trông ngoại viện; tình hình chính trị quốc nội bị chi phối hạ
tầng cơ sở – Linh Bảo tả thực cảnh đó, cơm áo hoặc hành động chính trị biến thể
đi xuống của chính trị phong kiến Trung Hoa sắp đến giai đoạn chót:“…Những ngày êm đềm quá, tiếp đến là những ngày sóng gió. Vì nguồn kinh tế bấp
bênh của nước Tàu, trong tay nắm một mớ giấy bạc, hôm nay còn đáng giá một tạ gạo,
sáng mai có khi chỉ còn một đấu bắp ngô. Giá thực phẩm và giá trị đồng bạc cứ
theo với các trận đánh nhau thắng hay bại mà lên xuống. Cả tin đồn Bắc Kinh sắp
mất. Cộng quân sắp sửa đem quân vây Nam Kinh. Giá gạo tăng lên vùn vụt. Bạc giấy
chỉ giá trị như một mảnh giấy thương nhỏ bằng hình dáng của nó...”.Kết cục quân đội Tưởng rút lui vẫn không quên hối lộ, bệnh làm tiền lẫn nhau
phát khởi mạnh hơn bất cứ đâu. Linh Bảo ghi lại, đọc lên thấy chua chát, hiểu
được lú do nào quân Tưởng thất bại:“... Trang còn nhớ đêm hôm ấy cả bọn đều ngủ ngồi trên xe trong một khu rừng vì
chiếc cầu ở đằng trước đã bị phá. Đoàn xe hơn 90 chiếc phải từ từ lội xuống
sông. Tính ra ngày mai mới đến lượt xe Trang; vì mỗi chiếc qua sông mất đúng 15
phút... Nhờ đến một tỉnh nào họ cũng lấy phần lương thực gấp 5, 7 số người.
Trang không hề thấy có sự điều tra hay khám xét nào nên nàng biết rằng các quan
đã có ăn cánh với nhau để bóc lột chính phủ. Số xe độ 100 chiếc thì họ khai là
500 và lãnh đủ dầu xăng, lốp xe và các phụ tùng khác. Cứ mỗi khi đến một tỉnh
nào, mấy đêm đầu Trang cũng không ngủ được vì đến đêm các quan mới cho lính lăn
các thùng đầu xăng ầm ĩ cả lên. Thì ra họ gửi bớt đi, đổi lấy vàng mang theo
cho nhẹ. Không những gửi số dầu thừa, họ còn gửi cả một nửa số cần dùng, khi xe
chết nằm lì bên đường trong một khu rừng hay ngọn đèo nào đấy, họ phái một chiếc
xe con đi báo tin cho một địa phương gần nhất cho dầu xăng đến cứu. Còn một
cách làm tiền nữa là nhặt nhạnh những hành khách chạy loạn trên đường. Cứ một đồng
cân vàng hay 6 đồng bạc là có thể đi được một quãng độ 50 cây số...”Tả cảnh khổ nhà cách mệnh Việt Nam, kẻ chiến bại Nguyễn Hải Thần, hoặc những ai
chung cảnh ngộ; chôn vùi lý tưởng ở hải ngoại không hẹn ngày về, Linh Bảo phơi
bày thực cảnh buồn thảm; thương xót kiếp người lên voi, ai cũng hay; xuống chó
riêng mình biết. Linh Bảo không quên phê phán làm cách mệnh không đường lối,
nguyên tắc soi sáng đường noi theo, lầm lẫn chiến lược, chiến thuật tất hỏng đại
cuộc.Nhớ thơ Nguyễn Bính:“…Hỡi ai đi gió về mưaCó gây dựng nổi cơ đồ gì không…”?Người đọc biết thêm được kết luận dầu; nhà văn không nêu ra; người đọc vẫn tự
lĩnh hội được:“…Cả bọn kéo đến thăm cụ Nguyễn, người đã có cái lịch sử cách mạng hơn 40 năm
nhưng nay chỉ là một ông cụ già nghèo nàn, hai mắt gần như mù, sống với một bà
vợ Tàu trẻ và một đàn con lớn có, bé có. Cụ cất giọng sang sảng:- Các anh làm thế nào chạy hộ tôi 10 đồng nếu không thì 8 hay là 6, 4 cũng là
thì hai đồng cũng được. Lúc Trang hỏi thăm đàn con cụ trả lời:- Ấy, các cháu nó đi đánh du kích cả.Trang ngạc nhiên hỏi:- Thưa cụ đánh du kích ở đâu? Nhưng các anh chị ấy còn bé lắm cơ?Cụ cười:- Không đấy là tiếng riêng của chúng tôi. Hôm nào nhà có gạo thổi cơm ăn thì gọi
là lục chiến, nấu được cháo là thủy chiến không có gì là không chiến. Còn nếu
không chiến lâu quá thì chạy sang các nhà hàng xóm quen biết ăn, đấy là đánh du
kích.Lúc từ giã căn phòng tối tăm bé nhỏ chỉ vừa đủ để một cái giường và còn thừa một
tí làm chỗ để chân, thấy Trang có vẻ ngậm ngùi. Vũ bảo:- Khi xưa cụ cũng đã có một thời kỳ oanh liệt, tiếc vì cụ chỉ có lòng mà không
có tài, vả lại có nhiều quân sư quạt mo quá. Giá cụ cứ nghe lời một người thôi
thì chẳng đến nỗi nào, nhưng cụ lại nghe tất cả thành ra cái gì cũng không
thành. Hôm cụ nghe lời quân sư này ủng hộ nhóm này, ngày mai cụ lại nghe lời
quân sư khác mà đả đảo họ, mời phóng viên các báo tuyên bố ầm ĩ lên, nhưng ngày
kia cụ lại nghe một quân sư khác nữa mà viết thư xin lỗi...”Mổ xẻ nội tâm, Linh Bảo vẫn tỏ xuất sắc, tinh tế. Khi đàn ông yêu đàn bà, họ cảm
tưởng người ấy thuộc về họ; đâm ra xoi bói nết xấu, không muốn họ được ân huệ để
yêu người đó mãi; hay đúng hơn yêu người ấy, được danh dự phần hơn về mình. Còn
yêu được sinh ra chán, được yêu họ là diễm phúc; chẳng qua do tâm trạng thèm
yêu và khát vọng vô biên. Đoạn văn rất tâm lý, Linh Bảo tả nhân vật Vũ tưởng
mình được Trang yêu, nên dãy ra:“…Đàn bà sinh ra là để làm nô lệ cho đàn ông, ai mà yêu tôi thì đến khổ. Tôi rất
ghét và ghê sợ đàn bà. Người đàn bà nào mà dây vào tôi thì đến khổ cả đời…”Trang vào đại học đường ít lâu, chế độ thay chủ, Linh Bảo tả cuộc sống mới:“…Trường đổi hiệu trưởng, đổi giáo viên, đổi khoa trình. Các bạn trai đầu để
bù, giày không dám đánh bóng, áo giặt không là. Những món tóc quăn theo lối Âu
Mỹ của các bạn gái bị nhát kéo vô tình cắt ngắn biến thành lối tóc thợ thuyền
và những chiếc áo dài tha thướt do các tay thợ khéo ở Hương Cảng cắt hay những
chiếc váy đầm màu sắc rất trẻ trung được xếp xuống tận đáy hòm, thay vào bằng
chiếc quần vải xanh, theo lối công nhân trong xưởng máy. Ánh thái dương tắt rồi,
mọi người đang lần mò một lối đi thích hợp với thời đại mới dưới ánh sao...”Sinh viên ngoại quốc với chế độ mới, họ khôn ngoan hơn khi đối đáp – Linh Bảo
thản nhiên bàn về chủ nghĩa máy móc bao hàm nhiều hình ảnh đời diễn tiến:“... Chúng tôi tuy là do chính phủ Nam Hàn phái đến, nhưng tâm hồn chúng tôi vẫn
gửi ở Bắc Hàn từ lâu. Và hơn nữa họ rất chịu khó học thuộc lòng mấy đoạn sách
tiến bộ hễ có dịp là đọc một thôi không ngừng “Mao Chủ tịch bảo rằng... Lênin bảo
rằng Xít–ta–lin bảo rằng…”Tự mổ xẻ quá vãng; phủ nhận quá vãng ở con mắt nhìn tiến bộ hôm nay, tất cả mọi
người thể hiện vậy thì sinh viên phải thực hành làm gắt gao hơn tỏ sự trung
thành:“... Nhưng dù khéo léo đến đâu cũng không thoát khỏi sự nghi ngờ. Cả bọn đều bị
kiểm soát rất nghiêm khắc về tất cả mọi phương diện. Mỗi người phải khai một bản
lai lịch như một cuốn tự truyện từ lúc mới lọt lòng, không được bỏ sót một năm
tháng nào, và điều quan trọng nhất là hiện thời lấy tiền ở đâu mà tiêu? Sau khi
quá lao lực và không đủ khả năng sức khỏe sinh viên mắc bệnh lao”... “ Vì tất cả các duyên cớ có bệnh lao lan truyền rất nhanh chóng, lúc đầu chỉ
mới bốn mươi người, đã tăng lên đến hơn một trăm học sinh bị thường khạc nhổ bậy
bạ một cách tự nhiên. Riêng Trang, lo sợ hơn ai hết vội vã đi chiếu phổi và lúc
kể lể với người bác sĩ già cái bệnh tiếng đàn đêm đông của mình ông ta chỉ gật
gù mỉm cười. Dìn dường pách chúc (không đủ chất bổ mà thôi”. Và lúc Trang đến
được phòng lĩnh thuốc mới ngẩn người ra vì cái đơn ông ta cho Trang là 100 viên
vitamine…”Chán vì bệnh, thêm bệnh thời đại nữa, từ Quốc dân đảng đến Mao Trạch Đông, con
người chính muốn gì trong Gió Bấc có thể Linh Bảo muốn đi tìm tôn giáo, ẩn
mình, như tác giả Faux Passeport (51) (C.Plisnier), như André Malraux từ Les
Conquérantas (52) đến La Voix Du Silence (53) đầu hàng tôn giáo, một René Hardy
từ Amère Victoire đến Le fer de Dieu (54) cũng muốn trở về tôn giáo. Nên nhân vật
tác giả tả ở đây khi chưa là nhà văn tìm tôn giáo để được an ủi. Với Trang
không thể làm dịu được, màu nhiệm cuộc đời dù khổ cực, chán chường vẫn linh diệu:“... Ngày ngày nghe mãi những lời ngọt ngào của bà sơ đạo đức trinh trắng dẫn dụ,
lắm lúc lòng Trang cũng thấy xiêu xiêu. Thế nhưng những buổi chiều ngồi trên bờ
biển cả nhìn các tàu đi lại, Trang thấy tiếng con tàu hấp dẫn Trang còn mãnh liệt
hơn điệu hát cầu kinh trong nhà thờ...”Người nữ này có bàn tay không đẹp, nhưng tình yêu không hẳn không theo định luật
thiên nhiên, tùy hợp kết thành đôi lứa vợ chồng; chế độ giao kèo chung sống, an
ủi, quên chặng đường mệt nhọc. Đôi khi họ bi quan muốn ẩn mình trong tôn giáo,
nhưng tôn giáo chưa thắng được. Tình yêu thắng thần chết như Maxime Gorki quan
niệm vậy; thì với Trang cũng vậy:“...Hôm nay chủ nhật sao anh không đi chơi?Bình cười rất thực thà:- Tôi đến đây chả phải đi chơi là gì?Với lại mỗi lúc ra cửa chân tôi hình như chỉ muốn đưa đến đây, rồi thôi không
còn muốn đi đâu nữa... Trang không trả lời, mắt Trang hình như mờ đi, và nàng
không chống cự khi thấy Bình để tay nàng lên môi...”Kết luận.Gió Bấc có nhiều cảnh tả tính đẹp, giản dị, thành khẩn; cảm động, hòa nhịp tình
yêu với bối cảnh xã hội. Lên án chế độ quan lại thối nát qua lối diễn tả đối lập,
kỹ thuật văn hấp dẫn. Có thể cho là khuyết điểm như khi dùng chữ, Linh Bảo dùng
chữ giáo viên cho giáo sư dạy học đại học, học sinh đại học gọi là sinh viên, e
không phải tác giả không biết, nhưng nhầm chỉ nhầm lẫn nhỏ. Linh Bảo, nhà văn
giá trị bậc nhất hậu chiến. Văn không mấy chau chuốt như văn Nguyễn Thị Vinh,
song thành công trong loại hình tiểu thuyết chính trị viết nghệ thuật cao, già
dặn, như Phạm Thái với Truyện Năm Người Thanh Niên.Tiết 4
TRIỀU LƯƠNG CHẾ
Tiểu sử.
Tên khai sinh Trần Mạnh Châu. Sinh năm 1926 ở Hà Tĩnh, Trung Phần. Học qua trường
Lê Văn, Nguyễn Công Trứ (Quốc học Vinh). Dạy học tư các trường Lê Văn Phượng (Đồng
Hới) Chính Hóa (Tư Thục Vinh), Quốc học Trần Quốc Toản (Quảng Yên). Ông bị động
viên vào Trường Sĩ quan Thủ Đức là sĩ quan Quân đội Cộng hòa, như Phan Lạc
Tuyên, Phạm Văn Sơn ...Phân tích tác phẩm chính:Tác phẩm đã xuất bản Lý Tưởng (1956, truyện dài). Năm 1940 ông viết Lời di
chúc, nhưng không có hoàn cảnh xuất bản cuốn này, truyện do Thế Lữ đề tựa. Lý
Tưởng tả lại cuộc đời cách mệnh của bà nhân vật chính: Tùng, Mai, Huệ, bối cảnh
trước năm 1945. Cách đạo diễn tâm lý nhân vật, người đọc nhớ đến lối văn Nhất
Linh nhẹ nhàng, và cách mệnh tính của nhân vật. Trong Lý Tưởng mỗi nhân vật sống
theo tác phong riêng. Huệ, cô gái tư sản giấc ngộ khi sống bên Tùng, người vợ
hiền đáng yêu. Tùng là bạn anh của Mai. Tùng đến nghỉ hè ở nhà bẹn, bạn đi vắng,
ở nhà có Mai và người lão bộc. Pha đầu tiên gặp gỡ.“… Cô xem hai cuốn truyện này chắc cũng bổ ích. Đây là hai cuốn tiểu thuyết của
Trần Lang vừa mới cho xuất bản. Trần Lang là nhà văn xã hội đúng đắn mà văn
chương đã gây một ảnh hưởng rất rộng vào đám quần chúng hiện thời.Em đã đọc tác giả này ở hai cuốn Cũng một kiếp người và Những kẻ thấp hèn cốt
truyện đã hay mà văn chương lại lưu loát. Những tiểu thuyết của Trần Lang phần
nhiều đều có chủ trương cải tạo xã hội người ta gọi đó là những tiểu thuyết có
luận đề …”.Quan niệm cách mệnh toàn diện trong tiểu thuyết chủ quan định hướng Triều Lương
Chế rất vững vàng. Cứu một cá nhân chưa là cứu giai cấp. Đoạn tả Mai có lòng
cưu mang người nghèo khổ, nàng cho rằng làm từ thiện càng được nhiều càng có thể
cứu vãn nhiều người trong xã hội hơn.“… Nhưng ở thời đại này, đó chỉ là những hạt muối bỏ biển. Vì những người đói
rách rất nhiều, cứu giúp là, sao cho xuể. Vả công cuộc từ thiện có lúc chỉ là một
món trang hoàng của bọn dư tiền. Tùng nhìn Mai rồi nghiêm trang giải thích:“... Tôi không phủ nhận giá trị của công việc từ thiện song chúng ta nên hỏi một
hạng người chỉ chuyên dùng những mưu mô, xảo quyệt để đàn áp bóc lột rồi bố thí
lấy danh dự và một hạng người: vì chế độ bất công, sống trong đói rách khổ cực,
rồi trộm cướp để sống, trong hai hành động này đâu phải là phúc, là tội (...) Bởi
thế tôi nghĩ: cần phải có một cuộc cách mệnh xã hội rộng rãi để san phẳng những
sự chênh lệch nhiên hậu...”.Thời gian Tùng lưu lại nhà bạn (anh của Mai) thì Huệ, người thân của Mai đến
chơi gặp Tùng. Qua thái độ của Tùng, phân rõ được hai mẫu tiểu tư sản, một giai
cấp tư tưởng cách mạng, một giai cấp thống trị đối lập:“Đoạn nàng (Huệ) quay sang Tùng:“…Tại sao anh không đi xe kéo?Tùng chậm rãi đáp:“Tôi chưa bao giờ và cũng sẽ không bao giờ đi xe kéo cả. Vì mình ngồi chễm trệ
trên xe để cho người khác cong lưng kéo, trông nó làm sao ấy”!Huệ với dáng ngẫm nghĩ:“Nếu ai cũng như anh cả, sẽ không bao giờ đi xe kéo cả. Em cho rằng mình đi xe
kéo cũng là một cách giúp đỡ người ta trong kế sinh nhai. Và mình trả người ta
thật nhiều tiền việc gì còn ngại...”Sự căm thù trong tiềm thức dân nô lệ Ấn Độ không được đi hạng nhất; hoặc ở Việt
Nam quyền lợi chính đều thu phát trong tay kẻ uy quyền, là bọn Pháp thống trị.
Cô giáo nhắc đến sự việc này cho học trò hiểu, ông như sử gia thời đại dùng lợi
khí văn nghệ chống kể thống trị:... “Cô giáo chậm rãi:“Tại vì phần nhiều rạp chiếu bóng đều của người Pháp.- Thế người Việt Nam không có rạp chiếu bóng hở mẹ?- Cũng có nhưng rất ít.- Tại sao người mình lại không xây cho thật nhiều?- Tại vì người mình không có quyền bằng người Pháp”(TRANG 192)1945 cách mệnh bùng nổ, Tùng, cô giáo Như Hoa, Huệ góp công chống xâm lăng.
Tùng trở về gặp Mai, tác giả tả sự hồi hộp, âu yếm của Mai, bởi lẽ Mai tưởng
Tùng đã chết:“... Mai vội vứt chiếc khăn tang lên bàn:“Mừng đâu chưa thấy, chứ cô và em đã khóc hết nước mắt rồi đấy”Đoạn nàng nhìn Tùng âu yếm:“Em phạ anh từ rày phải ở nhà một tháng.“Tùng nhìn Mai nghiêm nghị:“Anh chỉ ở nhà được một tuần thôi em ạ. Anh bận nhiều việc lắm. Cuộc tranh đấu
từ đây bước sang giai đoạn mới, nhưng sứ mệnh của anh chưa hoàn thành”.Nói xong Tùng ôm lấy Mai:“Chúng ta nên hy sinh hạnh phúc riêng cho lý tưởng chung.Hẳn em cũng đồng ý với anh chứa?Mai âu yếm ngả đầu vào vai Tùng rồi mỉm cười sung sướng”.Triều Lương Chế quá lý tưởng hóa vấn đề nhân vật anh hùng, anh hùng thành anh
hùng rơm. Người vắng mặt lâu ngày, người yêu tưởng chừng mình đã chết nay gặp lại
dễ mấy ai sắt đá trả lời người yêu tức khắc; mặc dầu việc ấy sẽ phải nói ra. Vậy
chẳng dễ gì Mai nghe ngay và lập tức âu yếm ngả vào vai. Tâm lý đoạn này chưa hẳn
sâu sắc.Kết luận.Triều Lương Chế, nhà văn viết truyện luận đề, nội dung tiến bộ như cuốn Lý Tưởng
vừa phân tích. Lý Tưởng tác phẩm đầu tay được in ra đạt được địa vị vững vàng.
Còn ít khuyết điểm nho nhỏ như trên, bố cục chưa mới, văn đôi khi rườm rà, chẳng
hạn như đoạn tả Tùng ở nhà Mai kéo dài quá và chẳng cần thiết.Tiết 5PHẠM THÁI (1923-2001)Tiểu sử.Phạm Thái, tên thật Nguyễn Ngọc Tân. Sinh 1923 ở Cần Thơ, nhà văn trong nhóm Tự
Quyết.
Đã xuất bản Truyện Năm Người Thanh Niên (Tự Quyết tái bản
1954) và một truyện dài Nhà Lá đăng dở dang trên báo Tự Quyết sau bị cấm. Học ở
Collège de Cần Thơ trước 1945. Năm 1943 được giải thưởng văn chương Hội Khuyến
Học Nam Kỳ. Nhiều năm sống lưu vong ở Nam Vang vì chính phủ Ngô Đình Diệm bắt bớ.
Năm 1964 trở về Sài Gòn.Phân tích khuynh hướng và tác phẩm chính:Truyện Năm Người Thanh Niên, theo kiểu nói Paul Bourget, J.J.Rousseau, truyện
dài theo lối viết thư, mà Tàu gọi là xích độc. Trần Huyền Trân trong tập truyện
Lẽ Sống, cũng viết thư kết hợp nhiều thư thành truyện dài Truyện Năm Người
Thanh Niên. Thể văn cổ điển, người viết phải có nghệ thuật cao, điều kiện cốt yếu
phải có kỹ thuật sử dụng văn thể dàn bài bố cục chặt chẽ. Ít đối thoại, thuộc
vào loại tiểu thuyết kể truyện. Phạm Thái, nhà văn có chủ quan định hướng khi
viết tiểu thuyết lập ý. Trên ba mươi lá thư năm người thanh niên: Hữu, Lưu,
Phương, Ngọc, Trang và vai phụ là vai chính Thu. Thường ra tiểu thuyết vai
chính phụ nữ, có như thế vậy mới lôi cuốn người đọc. Ở đây, hình tượng người
đàn bà là nhân vật thường, rất ít xuất hiện, lại là chính, vậy mà truyện vẫn
say mê, linh động. Tuy rằng chưa đạt được độ cao tuyệt đối như cô Do Thái hay
Marie trong tiểu thuyết chính trị của V.Gheorghiu khi viết L’homme qui voyagea
seul (Người Lữ Hành Đơn Độc) chỉ cần một vai đàn bà tiễn chân chàng sinh viên
thi sĩ lên đường quân ngũ, qua từ biệt một cái vẫy tay. Vai chính dẫn cô Do
Thái đi lấy lương thực và truyện vẫn được xét vào truyện hay nhất nội dung kỹ
thuật. Ở Việt Nam chỉ một Phạm Thái độc nhất vô nhị sử dụng truyện dài bằng thư
thật tài tình. Nhân vật điển hình giai cấp tư sản mại bản, Hữu, Ngọc, cải cách
viên ôn hòa, Phương, Lưu, nhà cách mệnh chuyên nghiệp. Trang văn sĩ và Thu, người
yêu của Phương, là vợ Hữu.Hữu chỉ biết có tiền, làm thế nào kiếm được nhiều tiền. Khi có tiền thì phung
phí trả thù phút khó nhọc nhục nhã kiếm tiền. Chỉ còn cách phá tiền kiếm ra một
cách không uổng! Xã hội chỉ là trường thương mại đối với Hữu, không cần biết đến
vận mệnh dân tộc ra sao? Nhìn bạn bè chỉ qua nhãn quan căn cứ vào đồng tiền.
Vai trò Hữu dưới mắt Hữu:“... Không hiểu cái quái gì đã chạy ngang đầu óc chúng mày mà thình không thằng
Lưu lại bỏ sở làm đi tu, mày thì lũi về vườn như một thằng trốn nợ hay bị gái
làm mất mặt...”Nghĩa tùy thời xử thế thánh nhân, dưới con mắt mỗi người áp dụng khác nhau. Với
Hữu chỉ tùy thời, áp dụng phương pháp làm tiền kết quả, tiền giải quyết được tất
cả nhu cầu con người:“... Cái nghĩa tùy thời lớn như vậy thay! Thì chúng mày còn hy vọng làm được gì
hơn nữa. Tao thấy chỉ có hưởng thụ là thượng sách. Mà muốn thì cứ làm sao cho
có nhiều tiền. Những tờ giấy xanh đỏ có đề số trăm chục kia dơ dáy thật, nhưng
sẵn có thì đời không thiếu bạn bè, không vắng tình nghĩa…”.Nhân vật là bạn của Hữu thất tình về quê khuây khỏa; thì Hữu cho rằng Ngọc sẽ
hãm hiếp con gái nhà quê, mua trinh tiết trả bằng tiền. Quan niệm mua bán ái
tình bằng sức mạnh đồng tiền, đầu óc tư sản mại bản, tất cả chỉ giải quyết bằng
tiền là xong:“... A ha! Ngồi đây mà tao cũng thấy được bộ mặt công phẫn của mày. Phải! Tôi
biết cậu Hai Ngọc là người giàu lương tâm lắm. Không bao giờ cậu chịu dùng tiền
bạc đánh giá chữ trinh một người con gái, dù con gái tá điền cũng vậy. Đó là lý
tưởng của mày, nhưng theo tao nó chỉ là một cái ngốc lớn. Con gái nhà quê lúc
nào cũng không mơ ước thị thành. Một ngày dựa mang thuyền rồng con hơn chín
tháng nằm trong thuyền chài,(55) không thất trinh với mày rồi thì cũng đến lấy
một thằng chồng chăn trâu hôi hám và cục súc đằng nào hơn? Phương chi với mày
đã thỏa mãn chí bình sinh ước nguyện, còn được thêm mấy trăm bạc mua sắm nào xà
bông Cô Ba, nào dầu thơm, quần lanh thích chán. Riêng về tương lai họ, hãy nghe
lời người kinh nghiệm, đừng ưu lo gì cả con ạ. Họ chẳng khổ gì vì chút đó đâu?
Chồng họ sau này ư? Những anh chàng nông phụ đầu tóc tối đen như đêm ba mươi ấy,
họ có biết trời trăng gì đâu mà mày bao đồng. Mà cho rằng họ có biết đi, rồi họ
làm gì mày...?”Phường tư sản mại bản thì có nhân sinh quan rẫy chết. Theo Phạm Thái hình ảnh
nào nhầy nhụa hơn không tả đời sống, ý nghĩ dơ bẩn, khinh miệt tất cả vì tất cả
đều do mãnh lực đồng tiền quyết định (le fétichisme de l’argent). Thấy kẻ khác
không làm điều tồi bại thì cho là ngốc. Hình ảnh này, con đẻ chế độ phá sản thực
dân, phong kiến, mại bản; chúng biết việc làm dơ bẩn, nhơ nhuốc; song nếu thấy
kẻ khác không làm, chúng dử theo chúng kéo bè cánh. Nhân vật Hữu là điển hình
cho mẫu người ấy.Đến Trang, một văn nghệ thích du lịch đây đó, tiêu tiền không một chút tiếc
tay. Lối sống phóng túng của nghệ sĩ bao giờ cũng ngông cuồng, tiêu tiền hết lại
phải giải thích thế là phải, nào mượn ý Lý Bạch phán rằng tiêu hết tiền lại có
tiền (Thiên kiêm tán tận hoàn phục lai). Lời nhận xét tỉ mỉ về nhân vật, nhãn
quan sâu sắc của một nhà văn đến nước nào là muốn tìm ngay vào nền văn minh nước
ấy, không quên kể lại cho bạn bè nghe; cũng là một cách phổ biến tư tưởng như
in một tác phẩm vậy:... “Ngọc? Nếu mày không muốn bạn mày bị chủ trọ làm nhục bằng cách liệng vali
ra đường và cho chổi cùn nựng đít thì mày phải ra nhà giây thép gởi ngay cho
tao một cái mandat hai trăm bạc. Và nhanh lênn hé... Cái thư thứ nhất là đi xem
lò khom ở mấy rạp nhỏ trong xóm lao động. Đi xem lò khom ở mấy rạp nhỏ mầy sẽ
được cái vui sống vài giờ với những người lao động mộc mạc hồn nhiên để vui với
những tiếng cười ngây ngô nhưng trong trẻo, những cái cười ròn tan sung sướng của
hạng người sống trong u tối dành dụm cả tuần mới có năm cắc bạc mua cái giấy hạng
chót. Mày tưởng rằng hát khom nổi tiếng Cao Miên người mình xem không hiểu à? Lầm
to rồi! Ảnh hưởng người mình trên này to lắm! Hát bằng tiếng Miên thật nhưng có
thông ngôn lại không sót một tiếng. Hơn nữa cái vui của lối hát này là ở chỗ
thông ngôn lại tiếng Việt đấy...”.(LÁ THƯ TRANG GỬI NGỌC)Sau khi Trang và Chương về Sài gòn có gặp Hữu. Đây Chương, họa sĩ mời Hữu đến
thăm phòng vẽ Cảm tưởng mua tranh của Hữu tỏ rằng có tiền giúp đỡ văn nghệ sĩ để
đề cao giá trị cá nhân thì Phạm Thái cho đó là thái độ bỉ ổi! Và ông:... “Trời đất ơi! Bỏ xe ngoài đường đi thăm lòng vòng xóm lao động Bàn Cờ một hồi
lâu mới đến cái ổ chuột của tụi nó. Trang mò mãi trong bóng tối mới mở được cửa
đánh diêm đốt đèn cho thằng Chương mở tủ lấy xấp tranh ra tao xem. Đèn dầu lửa
tù mù, nhà thấp sùm sụp, bịt bùng nóng tháo mồ hôi. Tao xem chẳng thấy hay đẹp
gì ráo trọi nhưng cũng khen bừa rồi bỏ hai trăm bạc mua một bức tranh sơn vẽ cô
thiếu nữ mơ màng trước bóng rèm trúc...”Tiếp thư phúc đáp, Ngọc nói đến hoàn cảnh sống thối tha Hữu, chỉ một cứu cánh
là tiền, có tiền mua tiên cũng được. Ngọc của Phạm Thái mổ xẻ tâm lý Ngọc chán
chường, sau khi dự bữa tiệc:… “Đời thối tha làm cho mày chán, tao và tất cả bạn bè không ai chối cãi điều
đó. Nhưng chán đời rồi đâm đầu vào vũng bùn trụy lạc là một hành động dại dột
vô cùng. Dùng ăn chơi để chữa bệnh có khác nào mày lấy aspirine mà trị nhức
răng. Nhức răng uống một viên aspirine vào thấy công hiệu ngay. Nhưng còn thuốc
còn đỡ đau, chất thuốc hết cái đau như cũ, vẫn y nguyên đó, không chừng lại còn
tăng thêm phần thấm thía nữa là khác. Nghề ăn chơi cũng vậy, đâm đầu vào ăn
chơi để tìm vùi ít nhiều thật, nhưng một khi canh tàn, rượu tỉnh, một mình đối
diện với chính mình, mày sẽ thấy cái buồn chán, tạm ẩn trốn dưới đáy lòng từ từ
hiện lên, thâm trầm khắc nghiệt hơn trước bội phần. Bởi lẽ đó, càng chơi càng
thấy buồn, càng buồn càng chơi tận chơi liều, những thằng trụy lạc bao giờ cũng
rốt tới cặn phóng đãng... Tình bè bạn ấy nếu tao không lầm, nhiều lần đã làm
cho mày cảm động phải vậy không? Cảm động trước sự chân thành của tình bạn
nghĩa là dám nhìn nhận rằng trên đời này vẫn còn vài thứ để không nói rất nhiều
chưa chịu ảnh hưởng của đồng tiền. Nếu tình bạn bè mua bằng tiền thì mày sẽ thấy
rẻ hay mắc với óc con buôn quen ước lượng món hàng chờ đợi nào lại thấy lòng
mày rung động! Sự thật này làm sao đánh đổ, phủ nhận nó được? Xa hẳn một chút nữa,
thử hỏi mày câu này liệu mày bỏ ra vài vạn bạc mà hưởng được cái vui thâm trầm
của Lưu khi đọc được một quyển sách hay không? Liệu dùng cả gia tài để xin
Trang chia cho mày một chút cảm hứng sôi nổi cho mày thành nghệ sĩ như nó có được
không? Không à? Thế sao dám nói liều mạng có tiền mua tiên cũng được...” (56)Người sẵn định kiến, nhất là bọn tư sản mại bản, Hữu dù coi đồng tiền là quý nhất;
thì không dễ gì lá thư Ngọc dù rất hay cũng khó có thể cải tạo suy tưởng một
khi đã thành hành động, là con buôn, con mọt sách, phong kiến, bọn phóng đãng
nhìn nhận hình ảnh chiến sĩ cách mệnh là lý tưởng.... “Giữa lúc mục đích tối thượng của mọi thằng là ô tô, nhà lầu, thằng Phương
lại đi kêu gọi thiên hạ hy sinh để làm cái việc mà bước cuối cùng chắc chắn là
xà lim ở Côn Lôn, tao hỏi mày còn ma nào chịu theo nữa?. Việc làm của nó là một
sự vô nghĩa mù quáng, hy sinh tầm bậy vô ích. Thời trời chiều lòng người chưa
có, một ngàn lần thằng Hương cũng không làm nên trò trống gì được...”Thật đúng lý luận bọn mại bản. Làm cách mệnh với họ tìm đường sung sướng, nằm
dưới gốc chờ sung rụng. Chưa có thời, chưa làm, có cơ hội đầu cơ buôn bán là
lao vào. Trục lợi thấy gì lợi trước mắt là lao đầu vào. Bạn mình có em gái đẹp,
năng thăm lợi dụng cơ hội, đó là óc con buôn. Và Ngọc thì nhớ đến Phương. Tất
nhiên phong độ, cốt cách người cách mệnh là lý tưởng, xã hội tiến lên hay lùi
do công lao lớp người ấy.... “Không bao giờ tôi quên được mấy câu trong thư viết cho anh Ngọc: Chiến sĩ
là những người đan len cách mạng rút ruột tâm, kết áo ngự hàn cho dân tộc. Họ
đành mãi đan thật nhiều để rồi ngày đông đến, riêng phần mình vẫn mang chiếc áo
cũ bạc màu. Bao nhiêu hy sinh để rồi phải nói một câu chua xót. Nhưng Phương
ơi! Xin anh đừng lo ngại. Đời có thể quên anh nhưng nhất định anh sẽ sống mãi
trong lòng em. Và lúc nào em cũng hy vọng một ngày kia. Hy vọng một ngày
kia...”Người làm cách mệnh phải hy sinh tình yêu, quyền lợi cá nhân, phục vụ đất nước.
Hy sinh quyền lợi đến mức tưởng rằng vật chất không đáng kể, giữ vững lý tưởng
đã nối. Quần áo rách không biết, phải đi nhờ khâu vá lúc cần. Thu thương xót
tình người:... “ Quần áo rách đến nỗi phải đi nhờ người khâu vá, Phương ơi! Tại sao em
không được sống bên cạnh anh để có dịp trổ hết tài nội trợ mang lại cho đời anh
đôi chút êm ấm giúp anh quên bao nhiêu lao khổ nhọc nhằn. Hân hạnh thay cho người
đàn bà nào đã được cái diễm phúc dâng đời mình cho chiến sĩ ...” Thu không nghĩ
rằng không thể lấy được Phương đâu? Nhưng hoàn cảnh phải làm vợ Hữu. Nhưng với
Hữu, hiện thân sa đọa thường trực. Bọn tư sản mại bản thối nát lúc cùng làm Câu
Tiễn. Lập trường tư sản mại bản, gió chiều nào che chiều ấy, lợi trước mắt quan
trọng hơn. Sự thay đổi thái độ Hữu về quê thăm Ngọc, bởi Ngọc có em gái đẹp. Và
sự khinh miệt nông dân bắt đầu thay đổi:... “Phần lớn người mình, nhất là nông dân hiền lương an phận thủ thường ở thôn
quê đồng ruộng lúc nào cũng còn giữ được những đức tính cần kiệm liêm sỉ cố hữu
của tổ tiên ta ngày trước. Sống gần Ngọc, tao mới hiểu được tại sao tá điền của
tao, từ trước đến giờ, lúc nào cũng gian dối tham lam ương ngạnh và nịnh hót.
Tao đã hiểu lầm mà khinh miệt họ, đã ỷ vào tiền của, vào quyền thế mà ăn ở cạn
tàu ráo máng với họ nhiều quá rồi”...Là bọn khuynh tả, khuynh hữu, như đứt giây trên trời rơi xuống. Sự hối hận,
giác ngộ không là hối hận. Nếu Hữu giác ngộ chỉ cốt lấy lòng Ngọc, cô em gái đẹp
quyến rũ, mà yêu nông dân, điều ấy có, nhưng mỏng manh lắm:“... Chỉ một câu chuyện nhỏ nhặt này cũng đủ thấy tao đã sống xa người nghèo
hơn Ngọc. Hôm mới đến vừa thắng (57) xe trước cửa rào Ngọc còn chờ người ra mở
cửa cho xe vào thì trẻ con lối xóm bu lại coi đặc nghẹt, rờ rẫm chiếc xe thiếu
điều sạch bụi. Một thằng bé sơ mi vải ta quần cụt đến thoa cánh cửa xe rồi,
quay lại nói với con chị “ông này giàu hơn cậu Hai với cô Ba mình nhiều lắm phải
không chị”. Con chị lườm một cái “Sao mày biết”. Thằng bé nghinh nghinh ra vẻ
hiểu biết. Không giàu lớn sao người ta lại có xe “Tắc xông” (58) còn cậu Hai
mình không có. Cậu Hai không có xe là tại không muốn mua chớ bộ nghèo hơn người
ta sao? Một chục cái bây giờ cô Ba cũng mua nổi nữa là một cái”. Thằng bé em
cãi lý “Mua nổi sao không mua chạy cho sướng đít để đạp xe máy cót két in xe
bò...”.Hữu chịu tang chết xong, số bà con không thân thuộc đến viếng, khóc lóc cháu vợ
khóc chú dượng vì thấy gia đình Hữu giàu. Hữu phải mở két chi nhiều tờ giấy năm
trăm, sót của, Hữu chán ghét đồng tiền. Nhưng đây không là thực chất kẻ dùng tiền
làm phương tiện:... “Muốn lên Ngọc nằm ít lâu nhưng lúc này Ngọc nhiều việc phải làm, lên nằm
làm mất cả thời giờ quý báu của Ngọc đi. Bây giờ thấy đời sống như thằng
Phương, thằng Trang là tuyệt thú. Có một cái gì để theo đuổi, theo cho say mê
cuồng nhiệt, theo cho quên tất cả bao nhiêu cái nhỏ nhen hèn mọn của con người.
Thoát ly khỏi vũng bùn nhơ nhớp của tiền bạc và vật dục, đó là điều khao khát
vô cùng của Hữu trong những ngày buồn nản say mê này...”Phương, Trang, từ chối hôm nay, dầu người cách mệnh, nhà văn, phải đâu không biết
vợ đẹp, thích con khôn, phải đâu họ ít tình cảm ? Họ còn hơn người thường nữa,
dễ rung cảm bén nhạy. Nhưng không ngồi bó gối trong khi xã hội thối nát, thống
trị thực dân, độc tài xu nịnh, theo phường xâm lược (ngồi mát ăn bát vàng).
Phương lưu lạc hoạt động ở Lào, Lưu trong nước, dò xét tình thế mà Hữu mại bản chỉ
tưởng họ chán đời đi tu. Kể lại cho Ngọc nghe sinh hoạt văn minh cổ truyền nước
Lào, Phương viết:“... Âm nhạc Lào theo Phương thì tuyệt. Khène là một cây sậy làm bằng những ống
trúc lớn nhỏ dài ngắn khác nhau, khép chúng lại thành hình dáng na ná như cây
súng. Tiếng khène có một sức mạnh diễn tả vô cùng khi nó buồn buồn như rừng
núi, lúc nó lại véo von vui say như một cuộc tình duyên chớm nở. Nó rất khó thổi,
phải nhiều năm luyện tập mới thành nghề được, nên ngày nay không mấy người,
thanh niên biết chơi và chơi hay. Thỉnh thoảng mới gặp được vài người thổi hay
mà hầu hết là các ông già đã có một thời niên thiếu oanh liệt trong tình trường.
Nhiều khi đêm nằm không ngủ được thốt nghe tiếng khène trổi dậy trong vắng lặng
của rừng khuya Phương thấy buồn dai dẳng không thôi. Một hai khi như mê ly vì
đã gửi trọn hồn mình vào trong giọng khène người nghệ sĩ vô danh nào đó; quên cả
trời khuya, sương lạnh, kéo dài khúc nhạc mãi cho đến khi gà gáy sáng làm mình
phải thức theo cái buồn trong lòng lại thấy vương thêm phần năng nặng...”Đàn hay, gái đẹp, không đâu bằng đất Lào? Nền văn minh xứ này minh chứng bằng
tiếng khèn và nét duyên dáng hiền lành thục nữ, khi chiều về trên sông Cửu
Long, nhìn sương tản mạn, và bên kia là đất Thái Lan. Nhiều bài hát nên thơ của
“phù sao” (con gái) đi “tắc nặm” (59) (gánh nước), bao nhiêu vẻ nhìn trìu mến
khách phương xa... Phương của Phạm Thái ghi được nếp sống người trai cô gái xứ
Lào thật đặc sắc.“... Ái tình với họ không chỉ là nhục dục. Nó là một cảm thông quý hòa lẫn với
khoái lạc, một cái gì vừa thần tiên vừa tục lụy mà tạo hóa dành riêng cho con
người, chưa bị văn minh vật chất làm hư hỏng. Cô gái Lào yêu không tính toán,
yêu không nghi kỵ. Không nghĩ đến ngày mai, yêu để yêu, yêu vì yêu, luôn luôn
hoàn toàn tin tưởng ở người yêu đã tiếp đón mình. Mấy năm gần đây sở dĩ có một
vài điều thay đổi là vì nhiều người lên trên này theo gương xấu làm cho người
Lào đâm ra nghi kỵ giữ gìn hơn trước. Mặc dầu vậy, thằng bạn của Phương vẫn quả
quyết rằng thằng nào lên đây một tuần lễ mà không có nhân tình thì chỉ còn nước
là bầm ra làm mồi cho cá...”Người chiến sĩ cách mệnh không khác nhà văn cách mệnh, là những người đồng hành
thân cận bên nhau. Đây là bệnh đồng thanh tương ứng Trang và Phương:“... Thì ra chỉ có sự hy sinh của những thằng chiến sĩ như mày mới hoàn toàn
cao quý và ý nghĩa vì nó không hề tơ vương, ích kỷ, không bao giờ hóa thành khô
khan và vô bổ được. Người ta có thể thành nghệ sĩ vì bản tính thiên nhiên, vì
tình yêu, vì tự ái, vì bị đời khinh bạc. Người ta thường đi tu vì bị thất vọng
lớn, không đủ nghị lực gánh chịu phần đau khổ của kiếp người. Nghệ sĩ như kẻ
thu hành đã chọn con đường nghệ thuật vào đạo lý để tìm chốn dung thân. Riêng
người chiến sĩ lấy dân tộc làm lẽ sống, lấy cách mạng làm nguồn vui, chiến sĩ
đã can đảm, nhìn vào sự thật, nhận lấy thử thách, tình nguyện hiến thân mình
làm chất phân vun bón đóa hoa sinh tồn cho nòi giống. Lặn lội nơi rừng sâu, núi
thẳm, tàn phế... mòn mỏi... phơi xương nơi hoang đảo chiến sĩ có bao giờ đòi hỏi
chút gì bù lại đâu. Họ chỉ thấy mình cần phải làm bổn phận. Làm bổn phận, để rồi
quay cuồng trong kiếp sống chật vật hàng ngày, nhiều khi vô tình, dân tộc lại
quên dành cho họ một chỗ sống trong lòng mình...”.Một Scipion giúp dân thoát ách dày xéo của Annibal rồi lưu lạc nơi đất người đến
vong mạng, phút lâm chung thốt “Ingrate patrie, tu n’auras pas mes os” (60). Phạm
Thái định nghĩa vai trò chiến sĩ cách mạng ô danh rất đúng. Cho đến khi Hữu xin
ăn hỏi Thu, Ngọc dò hỏi ý kiến Lưu, Trang, Lưu cho Thu đã lớn cần để nàng tự do
lựa chọn. Trang cho là thiếu xứng đôi vừa lứa. Hơn nữa Phương và Thu đã yêu
nhau. Còn Ngọc không muốn Phương bận tâm lỡ dở trên đường cách mạng quay lại với
tình yêu nên quyết định để Thu lấy Hữu. Ngọc gửi thiếp cưới báo tin Phương (nhờ
Lưu chuyển), Lưu cũng giấu nhẹm Phương, mãi sau này Lưu viết cho Phương có những
đoạn vô cùng tha thiết:“... Giờ đây, kết luận, tôi muốn mượn mấy câu thơ của thằng Trang để nhắc
Phương nhớ rằng chúng ta còn nhiều việc phải nghĩ đến làm hơn là ngồi ôn lại những
nỗi đau buồn cũ vì:(.….)Nhưng éo le thay anh chót sinhMột thời mưa gió, rộn quanh mìnhNên anh không thể trong bình thảnThong thả ngồi yên chuốc rượu tìnhTuy biết bên mình có kẻ yêuSong tình non nước nặng hơn nhiềuAnh đành dứt áo đi theo tiếngNhạc ngựa vừa reo với gió chiều...Trong mộng mới tìm được một tình yêu muôn thuở, nói như E.Rostand; hẳn rằng
đúng tâm trạng Phương. Còn Hữu, tâm trạng đại diện mại bản chơi hoa lại bẻ cành
như chơi; đối xử với vợ tàn bạo đến nỗi cô gái đẹp ấy chỉ biết than với Trời, gọi
Phương trong câm lặng, im lặng ghi vào nhật ký, gửi thư trút niềm ẩn ức cho anh
trai chia xẻ:“... Ngày nay em không còn phải giấu giếm, nhất là giấu anh. Lòng em đối với
Phương như thế nào, anh còn lạ gì nữa! Ngày Phương từ giã anh để đi xa đưa thư
Phương cho em đọc lúc ấy có lẽ anh đã hiểu em lắm rồi. Nhắc đến Phương cho em
không có gì trách móc má với anh đâu, anh đừng nghĩ ngợi gì đến việc ấy. Má và
anh đã tin tưởng rằng cho em về ở với Hữu là xây dựng cho em một cuộc đời vững
chắc, nhưng chuyện bất thành chẳng qua là số mệnh. Em nhắc đến Phương là muốn
cho anh nhận thấy biết nỗi đau buồn của em may ra anh có cách gì giúp em không,
thế thôi. Đời bạc phước không được làm vợ Phương. Em muốn suốt đời tôn thờ kỷ
niệm của anh ấy trong tâm khảm. Nhưng nay kỷ niệm ấy đã bị Hữu giày đạp một
cách phũ phàng bóp chết nguồn an ủi cuối cùng của đời em, thật em không còn gì
để sống nữa... Đúng như lời em đoán hôm nọ, Hữu bỏ đi không phải là để chấm dứt
câu chuyện. Chiều hôm kia anh ta trở về, chở theo trên xe bạn bè ăn chơi, toàn
hạng mèo đàn chó điếm. Về đây họ bày ra ăn nhậu, hút sách; và cờ bạc tại nhà.
Dư anh hiểu anh ta cố ý khêu gan mình, em âm thầm bỏ lên phòng nằm để mặc cho bọn
họ ăn uống, say sưa hò hét, nói tục. Hy vọng chọc tức cho em gây gổ, để kiếm cớ
làm dữ, mà thấy em nhịn nhục Hữu liền xoay cách khác. Nửa đêm mưa gió rầm rầm
anh ta cho đầy tớ lên kêu giật ngược em dậy bắt nấu cháo gà đãi khách. Em tức
quá nhưng nghĩ bây giờ có cưỡng lại cũng vô ích đành thức dậy dầm mưa đi bắt gà
làm thịt. Cháo chín, em dọn mâm bưng lên, sắp đặt đãi cháo cho mọi người không
dám tỏ chút gì là bất bình. Hữu bất thình lình đánh em một cái bạt tai rồi chửi
“Đồ đàn bà hư”. Không sao nhịn được nữa em đứng dậy nghiêm nghị trả lời “Dầu
sao cũng là vợ chồng anh không nên tàn nhẫn như thế”. Khách khứa của anh toàn
là những người không xứng đáng mà anh bắt tôi phải phụng sự như thế, anh không
sợ mang tiếng cho anh sao?”. Em chỉ nói được bao nhiêu là Hữu xộc tới đấm đá
túi bụi, miệng chửi um xùm “Làm cao nè, mày trong sạch trinh tiết lắm sao mà
dám khinh rẻ bạn bè tao? Đồ con nhà không có giáo dục”, thế là quá rồi. Em nói
liều “Anh không bằng lòng thì chúng ta cứ ly dị nhau, cho tôi về với cha mẹ anh
tìm vợ khác chớ anh chửi bới như vậy tội nghiệp má tôi lắm”... Tới bây giờ nhớ
lại nét mặt hung ác của Hữu lúc ấy em thấy rợn người. Hữu hăm trả thù giết
Phương…”Thì chẳng cứ gì một Hữu tư sản mại bản trước giai cấp cách mệnh, bây giờ vẫn
còn nhiều bọn như Hữu. Ở nước Nhật chẳng hạn, trong phim, ở vai Phú Sơn sỉ nhục
Kim Chi bao nhiêu thì Hữu sỉ nhục Thu như thế. Sự có mặt Hữu trong phim cách ba
năm sau hẳn vẫn giống nhau ở tư cách bọn phá sản mại bản khắp trên thế giới là
vậy. Phương viết thư và để địa chỉ Ngọc, mật thám biết tông tích; chẳng bao lâu
khi Phương trốn về Thất Sơn bị Hữu tố cáo. Phương bị bắt. Phạm Thái cho biết
thêm kinh nghiệm làm cách mệnh nên lưu ý đàn bà vẫn là lợi khí nguy hiểm. Người
cách mệnh quên tình yêu chỉ là cách tự diệt bản năng thiên nhiên, khi bùng dậy
nồng nàn mạnh hơn lý trí. Vào khám, Lưu và Phương vẫn hiên ngang; người cách mệnh
chẳng sợ ngục tù, họ dám hy sinh thân mình cho lý tưởng:“... Đừng có buồn, có gì đâu mà phải buồn! Đời chiến sĩ phải đi đến chỗ này,
chúng ta đã biết chắc như vậy từ lâu rồi cơ mà...?”Biến chuyển chính trị thay đổi. 1945 tư sản mại bản phá sản. Hữu trở thành
chính trị viên gương mẫu, hối hận này rất thực: Nhưng phải trả bằng cái chết liều
thân ở mặt trận. Hữu đã giết hai nhà cách mệnh: Lưu và Phương, cả hai thắt cổ tự
tử trong nhà lao Sài Gòn. Hữu lại còn thêm một tội nữa, hối hận Thu và Ngọc. Phản
ứng tâm lý; lý tưởng Thu khác Hữu. Hữu là người phe khác; còn Thu, Ngọc, Lưu,
Phương chiến sĩ yêu nước:“... Đọc thư của Hữu dù là thư của Hữu người kháng chiến phe khác em cũng thấy
mình có tội với linh hồn của Phương rất nhiều. Em không thể nào tin tưởng lời
nói của Hữu được. Một người vì một việc vật chất nhỏ nhen đã đang tâm, giết bạn
và xử tệ với vợ thì ai dám tin rằng người ấy có thể trở thành người được?. Hơn
nữa, qua lời nói của Hữu em chỉ chắc rằng hiện nay anh ấy đã đi một con đường
trái ngược hẳn với lý tưởng của chúng ta. Hoàn toàn tin tưởng ở vật chất, phủ
nhận sự hiện hữu của linh hồn mà Hữu lại nói chuyện tình cảm thành thật làm sao
được mà em dám tin. Đành rằng cuộc cách mạng này đã mở mắt cho nhiều người thật
nhưng anh phải nhìn nhận với em rằng, ở đời có nhiều trường hợp, dầu người làm
nên tội có hy sinh tính mạng đi nữa cũng không chuộc được lỗi lầm. Và em cho đó
là trường hợp của Hữu vậy... Hữu đã hy sinh để kháng chiến. Đó là một việc phải,
nhưng đó không phải là một công trạng to tát có thể cho phép Hữu tự hào. Kháng
chiến là bổn phận thiêng liêng của tất cả mọi người con dân đất Việt, làm bổn
phận mà tự hào sao được! Theo em, người chiến sĩ kháng chiến chỉ có giá trị khi
nào họ nhận định được cái tai hại của đường lối chính trị đệ tam quốc tế đối với
nền độc lập của dân tộc, can đảm từ bỏ kháng chiến để trở về tiếp tục cuộc đấu
tranh trên lập trường vững chắc thích hợp hơn: lập trường của chúng ta. Sự ly
khai hẳn rằng đang bị đồng bào hiểu lầm và phỉ nhổ; người dám ly khai mới xứng
danh là chiến hữu...”Phạm Thái biết nhận định rõ, phân hóa giữa Kháng chiến và Quốc gia. Sự chiến đấu,
bổn phận chiến sĩ, Phạm Thái không úp mở, góp công xây dựng chủ nghĩa Quốc gia.
Nhân, chiến sĩ báo tin Hữu chết trong hối hận, vì hiểu không phải hy sinh cái
chết vinh dự mà chính lương tâm buộc phải tự tử:“... Người anh hùng ấy cho rằng chết vì lý do hèn và mang nỗi ân hận ấy trong
lòng cho đến phút cuối cùng. Tuy nhiên, cho đến lúc nhắm mắt anh vẫn còn căn dặn
tôi chuyển đạt đến chị lòng mến phục của anh đối với sự cương quyết của chị”3 Kết luận.Phạm Thái tạo được địa vị nhà văn viết tiểu thuyết luận đề có giá trị chiếm giải
khôi nguyên, Truyện Năm Người Thanh Niên, nhà văn quê hương miền Nam ghi mốc
cho giai đoạn cực thịnh của văn học hậu chiến, và cuốn này được Giải thưởng
Khuyến học Nam Kỳ từ thập niên 40.Tiết 6VŨ KHẮC KHOAN (1917 – 1986)Tiểu sử.Vũ Khắc Khoan sinh 1917 ở Hà Nội (62). Di cư vào Nam năm 1954. Dạy học và viết
kịch, đứng trong nhóm Quan Điểm : Nguyễn Đức Quỳnh, Mặc Đỗ, Lê Quang Luật,
Nghiêm Xuân Hồng Tạ Văn Nho, Vương Văn Quảng... Trước năm 1954, viết cho Tạp
chí Phổ Thông (Hà Nội), cơ quan nhóm sinh viên trường Luật. Ban đầu ông nghiên
cứu về kịch, sau đạo diễn kịch vở Tiếng Trống Hà Hồi ở Hà Nội thập niên 50.Khuynh hướng:Vũ Khắc Khoan sáng tác kịch: Thằng Cuội, Giao Thừa, đạo diễn kịch ban Sông Hồng
Kịch Xã.
Nhưng ở Giao Thừa cũng như Thằng Cuội chưa tạo cho ông địa vị
kịch vững chắc. Quay sang ngành văn, truyện luận đề Thần Tháp Rùa, Ba Người Bạn
Nhập Thiên Thai, ông là nhà văn đặc sắc. Thần Tháp Rùa đăng trên báo Xuân Tự
Do, phản ánh cảm nghĩ tâm trạng bất định khi ông mới đặt chân tới miền Nam vào
giai đoạn di cư 1954. Tiêu cực trước hoàn cảnh dẫn đến sự chán chường trở về dĩ
vãng, thể hiện qua nhân vật Đỗ. Hai năm sau, Vũ Khắc Khoan cho đăng truyện Nhập
Thiên Thai với hình thức kể chuyện (trong Tuyển Tập Thi Văn Đất Đứng). Mượn điển
tích Lưu Nguyễn để nói lên đề tài Quốc Cộng sát cánh tranh đấu chống xâm lăng.
Nếu Lưu Nguyễn như trong phiên tòa mà Vũ Khắc Khoan kể lại, sau khi chán cảnh
thần tiên, trở về quê hương quá muộn tới sáu trăm năm, nên Nguyễn ôm mặt khóc,
Lưu cũng vậy, khóc vì không thể sống cùng tiên nữ, họ không phải là sự người,
tình người không có trong khi cái tôi kể lại trong truyện Vũ Khắc Khoan, so
sánh đúng cái tôi tác giả trong truyện, cái tôi đại diện số lớn trí thức muốn sống
đúng với thiên chức làm người; biết khóc, biết cười, biết rung cảm mãnh liệt,
cuối cùng đành từ giã Tiên nữ trở về với loài người. Người có ý thức hệ toàn diện
không thể vắng mặt 600 năm như Lưu Nguyễn, không có tình yêu thương yêu của
loài người. Diễn đạt tâm trạng mâu thuẫn con người máy móc là chủ ý tác giả. Vũ
Khắc Khoan cho hai nhân vật Lưu, Nguyễn lồng hình tượng cong, uốn nắn theo luận
đề, người quốc gia thối nát song còn có phương cứu chữa tiến bộ. Mưu đồ ấy được
ông diễn tả lại:“... Cũng may là lũ lính gác ở đây biết là tôi hay kể truyện mua vui cho anh
em. Anh cũng nhận thấy điều ấy? Chắc vì thế cho nên anh mới nghĩ ra cả cái kế
hoạch này. Kể cũng may cho anh đấy, vì theo thường lệ ở mỗi trại giam, khi đã
ngủ có bao giờ được phép tụm năm tụm ba đâu? Anh không biết à? Anh bị lần đầu?...
Tôi... thì... không phải lần đầu. Lần này chính cá anh đã giam tôi. Ở đây, thế
rồi Pháp nhảy dù. Và tôi vẫn tiếp tục bị giam. À nó ngờ. Còn đợi lệnh Hà Nội...”.Phủ nhận quá vãng, bao biện là tiến bộ, đây thái độ con người có tim muốn sống
đúng thiên chức làm người. Vũ Khắc Khoan nhắc lại:“... Trăng võng rượu khiến đêm mờ chuếnh choáng vậy mà hỡi ôi không hiểu trong
cái thiên đường lý tưởng của các anh, con người có còn biết ngắm trăng không nhỉ?
No và ấm? Những con đường? Cái mà các anh đã liệt vào loại kẻ thù số một, trên
cả địa cầu cường hào, thực dân phong kiến. Cái nó làm cho chúng ta xưng danh là
những con người. Con người với đúng nghĩa của nó nghĩa là con ngươi toàn diện.
Một thiên đường danh từ đẹp đẽ thay và cũng quyến rũ thay! Anh đã đọc Anatole
France chưa? Thế ra anh cũng đã đọc những loại sách đó. Anh bạn trẻ ơi, anh có
biết là tôi bắt đầu mê anh rồi không? Anh cho Anatole France hoài nghi và tiêu
cực. Ý kiến của anh không làm tôi ngạc nhiên, thật ra nhắc tới Anatole France
chỉ vì nói đến Thiên đường. Cũng như Lưu Thần Nguyễn Triệu...”.So sánh người không tình cảm chủ nhân cõi Thiên Thai mà Lưu Thân Nguyễn Triệu đến
thăm: âm dương đối diện tất sinh tình, Vậy chỉ xin diệt chữ tình. Đoạn văn rất
linh động có tác dụng cao, hãy nghe:“… Cũng như Lưu Nguyễn, ai quên mất căn tương đối của kiếp làm người mà tìm nguồn
tuyệt đối, thì giữa cái thế gọng kìm tư bản vô sản, anh cũng đã quên hẳn cái thế
của chính anh, của tất cả những người như anh như tôi, cái thế của chúng tôi.
Nghĩa là cái thế của những con người tuy không nhất định không là vô sản...Anh đã nhập Thiên Thai. Thật cũng may mà anh bị bắt. Nếu không thì, chính anh,
một ngày kia, cũng phải bắt buộc bỏ cái Thiên Thai của anh. Ê! đừng cáu, người
ta nói truyện tử tế. Sử sách còn ghi lại đó. Từ Thức bỏ Thiên Thai và Lưu, và
Nguyễn tất nhiên cũng thế...”.Ông đề cao người tiểu tư sản trong truyện, ý không muốn nói trắng ra vậy. Người
theo ông phải toàn diện, độc lập, biết sử dụng tình cảm, hòa đồng quyền lợi cá
nhân xã hội, có thế quân bình trên hai phương diện: vật chất, tinh thần. Đoạn kết
Nhập Thiên Thai hay đúng hơn từ giã thiên thai, để trở về sống cuộc đời người sống
với người:“... Vì tôi không Nhập Thiên Thai. Tôi xin ở lại. Tại sao? Bây giờ thì đến lượt
anh chất vấn, tại sao? Vì tôi không muốn thành Tiên như Lưu và Nguyễn. Tôi
không muốn vắng mặt của dòng tiến hóa. Và nhất là vì tôi cũng muốn yêu. Vì tôi
là một người. Con người toàn diện, như anh thường nói. Tôi nhất định rồi. Anh gọi
hộ tôi tên Lê Dương. Để làm gì à? Để sửa lại cái chấn song cho nó chắc chắn.
Trong khi chờ đợi...”Kết luận.Viết truyện luận đề tư tưởng, của người tiểu tư sản; chống máy móc, chống thái
quá, phải quân bình đúng mức của hai khối kết tinh. Trong Nhập Thiên Thai, Vũ
Khắc Khoan thành công hơn vở kịch có tính cách chung chung khác. Văn ông rất cầu
kỳ, trở thành gượng ép, dùng lối văn biền ngẫu như Ngọc Giao qua Cầu Sương hoặc
Nguyễn Tuân ở Chùa Đàn. Nghệ thuật dẫn truyện tạo được sự say mê, thì điều này
Vũ Khắc Khoan chưa đạt thật. Nhân vật suy tưởng nhiều hơn sống. Bàn đến nhà văn
viết truyện chính trị luận đề có nghệ thuật diễn tả tư tưởng bằng thái độ, hình
tượng mới chỉ có một Phạm Thái và một Linh Bảo.Tiết 7CHẤN PHONGTiểu sử.Tên thật Đoàn Thanh. Sinh năm 1921 ở Gò Công. Học qua các trường Lê Bá Cang,
Paul Doumer. Bắt đầu viết văn từ năm 1940. Trước 1945, viết cho các báo Công Luận;
thời hậu chiến ông viết cho Tiếng miền Nam, Ngôn Luận. (Sài Gòn).Tác phẩm chính:Tác phẩm đầu tay xuất bản Rừng Địa Ngục (Quan Điểm, 1956) Ông còn viết truyện
ngắn Mong chờ: (báo Quan Điểm, 20–4–1956) nhưng không đặc sắc bằng truyện dài Rừng
Địa Ngục. Bắt đầu bằng chuyện công ty cao su miền Nam cử người về làng mộ phu.
Buổi đầu đưa ra hứa hẹn ước mơ. Dân nghèo miền Bắc vào Nam đi đầu phu được tuyển
mộ ngay. Trên chuyến tàu trở về Nam, người không cùng ở làng; cũng coi như
trong gia đình. Một trong số gia đình ấy có thanh niên Ngô, và một gia đình có
cô gái Cúc. Họ là những người bất đắc chí, thất cơ lỡ vận, bỏ quê hương ra đi
tìm sống. Tới đồn điền cao su, bi kịch bắt đầu xảy đến. Pha đầu tiên, người
không còn được gọi bằng tên thật, những con số như số lính đế quốc thực dân.
Ngô lấy Cúc, con gái Lý Tân. Cúc thiếu nữ xinh xắn, đỏm dáng, nên những viên
cai thèm muốn. Khi sự thèm muốn của kẻ có quyền đã tới độ, nào khác gì sự thèm
muốn vị đế vương ở các nước phong kiến ngày xưa. Thèm muốn tất nhiên là phải được
no thèm. Vì thế, dầu Cúc là vợ Ngô, nhưng còn là vợ tên cai đam mê nhục dục hãm
hiếp. Sự hãm hiếp đến nỗi người dân ở đồn điền cho là thường như cơm bữa. Xếp
Lân, tên khát máu ấy, lúc nào cũng ôm ấp Cúc trên tay và đe dọa bỏ tù chồng
Cúc, nếu Ngô nhúc nhích lên tiếng. Cúc hối hận, Ngô căm thù. Rồi Ngô sát nhân.
Tòa án bắt đầu xử. Ngô được trắng án do tiền chạy luật sư của Cúc bênh vực. Cuối
cùng Cúc tự tử.Ở góc thế giới này, thống trị bị thống trị hai phe rõ rệt; công nhân hay là bị
thống trị là con vật thuộc quyền chủ đồn điền cao su. Ông được quyền bóc lột thặng
dư giá trị, hưởng lợi nhiều gấp trăm lần nhân công. Đời sống công nhân ngang
hàng súc vật biết nói. Tuy nhiên, ngoại trừ loại cho bẹc-giê còn sung sướng hơn
người Việt Nam loại trung lưu. Phật ý ông chủ một chút, bị cắt hoặc mất lương,
bị ngồi tù, ngồi khám, trăm phương khổ kế dày vò. Bao gốc cây cao su xanh tốt
làm lợi cho đế quốc; nhưng chưa ai nói rằng là đất tốt làm lợi cho đế quốc
Pháp, nhưng chư ai nói rằng là xương máu công nhân Việt Nam vun xới. Thảm kịch
chưa ai nói đến, mặc dầu đời sống ấy có từ trước chiến tranh. Chấn Phong một
trong những người đầu tiên thuật lại cuộc đời súc vật ấy trong Rừng Địa Ngục.
Qua kỹ thuật viết, cách đạo diễn tâm lý nhân vật, phân đoạn tác giả, cốt truyện
kể lại, xét trên bố cục toàn diện chưa đúng tinh thần đấu tranh. Khuyết điểm
sau khi đã giải quyết xong xuôi, qua tinh thần đấu tranh của Cúc, tác giả kết
luận theo kết cục Tố Tâm xưa, như lối Tuyết Hồng Lệ Sử đã làm. Thái độ ấy là để
chuộc tội, Thực ra là sự bó buộc của nhà văn chịu ảnh hưởng nền luân lý phong
kiến, lạc hậu. Chết không là hành động cứu vãn tội lỗi. Hối hận của Cúc do xã hội,
hoàn cảnh như tác giả quan niệm tạo nên, kết thúc giải quyết bắt cá nhân chịu đựng
thì khắt khe quá! Song Rừng Địa Ngục vẫn là cuốn tiểu thuyết độc nhất rất hay về
loại truyện thời tranh đấu này. Cách viết tiểu thuyết, thắt nút, cởi, dàn tâm
lý nhân vật, gây căm thù với phe thống trị đã đạt được ý muốn. Và cấu tạo những
xen, trận đấu, biểu tình; tuy thực tế chưa xảy ra nhiều, song chủ quan định hướng
tác giả đưa công nhân cao su muốn thấy quyền lực phải tranh đấu. Đó là thái độ
tiến bộ của Chấn Phong.Phân tích tác phẩm:Tác giả ở miền Nam; sống nhiều ở miền Bắc. Tả Cúc, thôn nữ miền Bắc, Chấn Phong
có nhận xét tế nhị, khác hẳn nhà văn ở cùng địa phương hiểu biết:“... Cúc cười hồn nhiên, đôi mắt sáng ngời, long lanh giữa khuôn mặt trái soan
dám màu nắng đồng Bắc Việt, hai má lúm đồng tiền lồ lộ theo nét cười duyên dáng
và hàm răng đen nhúc, đều đặn như hạt na, phản với đôi môi hơi dầy do tươi vì
nước trầu. Cúc đẹp như nụ tầm xuân trong cái tươi đang dậy thì và ở nàng còn
thêm những nét thùy mị, kín đáo của hầu hết những cô thôn nữ miền Bắc ...”Giữa trái và phải: già, trẻ, thương, khích bác; theo tác giả, chỉ là thái độ
không chịu tìm hiểu nhau. Trước kia, bác Lý Tân cho bọn Ngô không làm nên trò
trống gì, sấc láo, nên bác ghét cay ghét đắng, sau khi tìm hiểu đã thông cảm
ngay trở thành thân. Tác giả có nhiều nhận xét tinh vi về nếp sống này:“... Nhưng rồi, chung sống với nhau mấy ngày ở Sở Mộ, bác đã đổi ý. Bác nhận ra
cái bọn thanh niên, vậy mà khá, biết kính lão đắc thọ, chẳng những họ lễ phép,
họ còn kính nể bác như cha. Mấy bữa trước, bác còn cấm thằng cu Đào không được
đến chơi với bọn Ngô. Bây giờ thì khác, mặc nó, để nó gần các anh ấy rồi các
anh ấy dạy khôn cho nó. Cả cái Cúc nhà bác nữa, chẳng mấy lúc mà nó không nhắc
tới Ngô, khi có mặt anh Ngô là y nó lúng ta lúng túng, trông đến buồn cười. Bác
đã để ý, bác thừa biết con gái bác lớn lên mà gặp đứa đẹp trai biết ăn, biết
nói như Ngô, nếu không khéo giữ thì hỏng mất. Tuy nhiên bác thấy Ngô đứng đắn
và chưa có triệu chứng gì, nên bác tạm yên lòng...”Tác giả tả mưu mô xảo quyệt độc ác của bọn cai với đôi vợ chồng cưới nhau chưa
hôn thú. Đoạn văn dưới đây tác giả thành công trong pha đầu gây công phẫn:“... Viên thư ký ngẩng đầu hỏi:Mày có chồng con gì không?Trương Văn An cất tiếng đáp thay vợ:- Thưa thầy tôi ạ tôi là chồng ạ- Á, chúng mày có giấy hôn thú chưa?- Thưa thầy không, chúng tôi đã có treo cưới ở làng.- Mặc xác, không có hôn thú, con Nguyễn Thị Mơ phải sang con gái mà ở, số của
mày 11.818.- Dạ, lạy thầy thương cho vợ chồng chúng con...Tiếng khóc nổi lên, ấm ức trong hàng.Viên thư ký gắt:- Khóc nỗi gì? Có im đi không?Đoạn y lạnh lùng điểm danh cho số những người còn lại...”Tả tình yêu thương, cảm giác xúc động của thanh niên đồng quê: Ngô thái độ chất
phac, thành thật:“... Ngô tựa lưng vào gốc cao su, mắt đăm đăm nhìn khu nhà máy, nóng lòng chờ đợi.
Anh đinh ninh rằng, nếu Cúc yêu anh thì với câu nói và cái liếc mắt ấy nhất định
cô nàng sẽ kiếm cớ về với anh.Tuy nghĩ thế, nhưng lòng anh vẫn bồn chồn lạ; anh không hiểu rằng Cú có can đảm
ra về hay không. Mấy lần anh đã thối chí, vì đợi mãi không thấy Cúc đến, anh định
về nhà nằm cho khỏe xác? Nhưng đi vài bước, anh trở lại đúng vào chỗ cũ cố đợi.Độ nửa giờ sau, Cúc về thật. Ngô thoáng thấy bóng Cúc từ ở khu nhà máy đằng xa.
Tim Ngô đập mạnh như muốn tung lồng ngực.Cúc càng đến gần, Ngô càng hồi hộp dữ. Anh cắn răng sửa bộ làm ra bình tĩnh
nhưng khi Cúc chỉ còn cách anh vài thước, thì anh run rẩy như người sốt rét.
Chính anh cũng không dè anh nhát gan quá như vậy ... ”Những thiếu nữ lọt vào Sở Cao su chỉ là vật sở hữu chủ, thầy cai. Một đêm bóp
chết vài thiếu nữ trinh tiết, thiếu nữ khóa xuân thất bại, còn công lý nào can
thiệp! Cường quyền công lý nằm trong tay một bọn người. Tác giả cho người đọc
được đọc một bản kháng cáo chế độ bóc lột thặng dự giá trị :“... Lão gác gian vào trước, lớn tiếng đánh thức mọi người dậy. Lão thư ký đến
và oai vệ ra lệnh tất cả ngồi vào hàng cho hắn điểm. Hắn gọi số từng người cho
có lệ rồi đứng lên bảo lão gác gian:- Dắt bốn cô này lên nhà giấy cho ông xếp bảo...”Đó là đoạn Cúc bị mở khóa xuân. Chủ khai thác bộ máy trinh tiết người thiếu nữ.
Công phẫn, công phẫn đã rạo rực ở người đọc, tác giả ghi lại thú tính của người
thống trị khi hành lạc:“... Ông râu xồm đi thẳng tới cạnh Cúc, cười hề hề: Mùi rượu, hơi thở bay nồng
nặc:- Em, em này số mấy?- Dạ, 11.820.- Em vào trong này ông xếp hỏi việc.Cúc đứng lên sợ sệt nhìn ba chị kia như muốn nói điều gì. Nhưng nàng thấy cả ba
đều cúi gầm mặt, nàng buộc phải theo chân ông xếp vào buồng bên cạnh.Ba người lại cũng được ba thầy tuần tự mời vào bàn riêng.Các cửa buồng đều được đóng kín lại. Đèn vụt tắt. Bây giờ trong phòng chỉ còn
nghe vài tiếng thất thanh, vài tiếng đồ vật rơi lốp bốp, tiếng ằng ặc của người
quật ngã rồi im bặt...”Qua phút giông tố cuộc đời đêm nọ, khi xếp giày vò về đêm; thì ban ngày, tên
khác gan dạ lại giày vò trêu chọc. Chấn Phong giới thiệu người đọc một pha nét
về sự trắng trợn này rất đặc sắc:“... Thình lình anh 85 phía sau gốc cao su bước tới ngồi đại xuống cạnh Cúc cười
nhăn nhó. Hắn đưa tay vỗ mạnh vai Cúc, cười nhăn nhó. Hắn đưa tay vỗ mạnh vai
Cúc, hỏi một câu trắng trợn:- Nào chị 20 có bằng lòng lấy tớ không thì bảo?Cúc giận, đỏ mặt, nhưng biết tên 85 là tay cừ khôi, nàng phải đấu dịu để khỏi mất
lòng hắn: - Bác đừng nói chơi thế, tôi là gái có chồng.- Có chồng mặc kệ có chồng, bằng lòng lấy tớ, tớ bồng về ngay...”Thái độ trêu chọc ban ngày ấy, đi đến:“... Đang vui, bỗng dưng có người đập cửa. Rồi thì bác cai 98 tự nhiên xô cửa
chững chạc bước vào. Theo sau bác là tên 85 với một người nữa, lễ mễ bưng hai
chiếc mâm thau phủ vải kín.Bác Lý Tân hốc mồm nhìn ba người khách lạ. Bác đang ngơ ngác chưa biết đối xử
thế nào thì cai 98 đã bước tới trước mặt bác, nói trịnh trọng:- Thưa bác nhà, anh 85 có nhờ chúng tôi nói với bác để xin cưới chị hai mươi. Vậy
hôm nay chúng tôi mang lễ đến xin ra mắt bác.Bác Lý Tân cho là một việc hết sức quái dị. Bác đưa mắt nhìn ông giáo, nhìn
Thành như ngầm hỏi ý kiến. Nhưng hai người lại cúi đầu làm thinh. Bối rối quá,
bác quay lại nói ấp a, ấp úng:
- Thế, nhưng... con tôi đã có chồng.
Ngô giận tái mặt, bật đứng lên quắc mắt hỏi gằn từng tiếng:
- Ở đây dễ chừng người ta có quyền cưới gả gái có chồng? Chị hai mươi là vợ
tôi, các ông biết không? Cai 98 khoát tay lia lịa:- Cái ấy là việc riêng của các bác, rồi các bác sẽ tính sau. Anh 85 đâu, mang lễ
vào đây nào...?”Qua được tay 85, 98; bông hoa trong không thoát khỏi lưới nhện giăng khắp vườn
địa ngục. Cai 98 không thắng được, y đành đưa mồi ngon ấy cho xếp Lân, qua đòn
ác nghiệt. Chấn Phong chuyển đoạn rất khéo, phơi bày hành động bọn lưu manh tư
sản mại bản:“... Cai 90 đứng lên đến cạnh xếp Lân nói nho nhỏ như sợ có người nghe trộm:- Xếp nên gọi con Hai mươi đến làm việc trong nhà cho xếp để cho nó khỏi ra
lô... Con bé khéo tay, khéo chân, chắc xếp vừa lòng ... Thằng 85 biết con bé
làm việc với xếp thì đời nào nó dám nhất cữ lưỡng tiện, xếp có người làm mà lại
được tiếng là đã hứa thì hết lòng giúp.- Chú thật là được việc”để rồi có đêm Cúc thêm lần nữa bước vào sóng gió. Và chuyện bị hiếp là thường
như cơm bữa:“... Ông xếp vẫn ngồi hút phì phà. Ông ngắm vóc hình thon thon, hai bàn tay
xinh đẹp của Cúc rồi ông nhếch mép cười gian ác. Ông ta lẩm bẩm một mình:- Con bé xinh thế, thảo nào thằng 85...Bỗng ông như bị điện giật, đứng phắt dậy đi nhanh vào phòng ngủ.Một chốc, ông quay ra tay cầm một hộp xà phòng thơm và lớn tiếng gọi Cúc:- Hai mươi, bỏ đấy vào tôi bảo cái đã.Cúc nhanh nhảu chạy vào:- Ông xếp gọi con?Xếp Lân trao cho Cúc hộp xà phòng và nói gọn gàng:- Cô ra rửa mặt mũi, tay chân sạch sẽ rồi vào đây...- Lạy ông cho con ra, con sợ quá ông ơi!Lửa dục lên tận cổ, xếp Lân nhảy phóc lên nắm chặt tay Cúc nói hổn hển:- Vào ông bảo một tí thôi, rồi ông cho nhiều tiền đi...Cúc bíu tay vào bệ cửa, khóc rưng rưng:- Tội nghiệp chồng con ông ơi! Thân con dơ dáy có ra gì...?Tác giả nhận định đúng, xác hợp hình tượng sống thời đương đại: con người sản
phẩm do hoàn cảnh tạo nên. Người như 85, phải đâu không tình gia đình? Nhưng bị
hoàn cảnh xã hội bạc đãi, thì 85 có bạc đãi nào có nghĩa gì? xã hội vay vay, trả
trả; đó là hoàn cảnh xã hội tạo nên:“... Như trường hợp anh phu 85 chẳng hạn. Hắn trước kia là người hiền lành như
bụt. Hắn còn một người mẹ già ở xứ Bắc. Hắn những mong làm ăn chắt bóp ít lâu để
ra một số tiền mang về nuôi mẹ già.Ai ngờ, sống mãi trong cái xã hội thối nát này, càng ngày hắn càng hư hỏng, liều
lĩnh, bạt mạng hơn tất cả mọi người...”Sau Cúc chạy luật sư cho Ngô trắng án. Cuối cùng về nhà nàng tự tử.Kết luận.Chấn Phong viết tiểu thuyết hấp dẫn, nội dung truyện tranh đấu, bênh vực phe bị
áp bức. Bố cục truyện, tình tiết, sắp đặt hệ thống. Tác phẩm lột được mặt trái
đời sống phu đồn điền cao su trong Rừng Địa Ngục. Về mặt này, Chấn Phong, người
đi tiên phong ở loại phóng sự tiểu thuyết xã hội. Kỹ thuật, đạo diễn tâm lý
nhân vật có cá tính, chiều sâu. Ông là nhà văn nổi tiếng từ khi xuất bản Rừng Địa
Ngục.Tiết 8HƯ CHU (1923 – 1973)Tiểu sử.Tên thật Nguyễn Kỳ Thụy. Sinh năm 1923 ở Nam Định. Tác giả Nam Hải Truyền Kỳ
(1952, là cuốn sách đầu tay Thơ Nghiên Hoa Mộng (Nguyễn Hiến Lê xb 1955). Nam Hải
Truyền Kỳ viết kiểu liêu trai Bồ Tùng Linh này không có gì đặc sắc. Văn nghiệp
Hư Chu căn truyện cổ: Thơ Nghiên Hoa Mộng.Phân tích tác phẩm:Thơ Nghiên Hoa Mộng qua bốn thể văn: phiếm luận, tiểu thuyết, truyền kỳ, tùy
bút. Gồm: Gã Nguyễn, Nàng Thơ, Cái Nghiên Mực, Nghiên Phong Lan, Lão Mỗ. Ông
chia ra “thi ca phiếm luận”, truyền kỳ cổ thể hóa và mộng trung tùy bút. Trước
hết nói đến Lão Mỗ, tả tâm trạng một ông già trong tương lai, hiện nay trai
tráng, nghĩ ở sau này về truyện đời xảy ra hôm nay nhưng cho lui vào quá khứ. Sự
kiện gì xảy ra, tác giả giới thiệu:“... Thưa độc giả, tôi không học được cái thuật Thái Ất Thần toán của Tuyết
Giang Phu Tử cho nên chẳng thể đoán biết những truyện trăm năm năm về sau và
năm trăm năm về trước. Năm trăm năm về trước có những gì? Muốn biết tất cả tôi
phải mở coi trong sử sách. Nhưng còn năm trăm năm về sau thì thành Hà Nội sẽ ra
sao? Hồ Hoàn Kiếm có còn chăng? Đường Cổ Ngư vẫn thế mãi? Ồ tôi nào mà đoán nổi.
Ngậm ngùi thay ...”Thắc mắc tác giả là vậy. Lão Mỗ cuối thế kỷ hai mươi còn thắc mắc gì nữa, tác
phong sống ra sao? Con người chúng ta giao thời giữa thế kỷ XX và XXI, giai đoạn
gần cuối 2000 cữa ngõ năm 2001. Tác phong con người sống giữa lòng thế kỷ hôm
nay, đồng thời pha trộn thêm vài nét như già nua, tóc bạc, chiều chiều đi thăm
mộ, có cháu chắt, con rể, con gái, phương tiện sống tiến bộ cơ giới, mỗi gia
đình có trực thăng xê chuyển (trang 87). Câu truyện chỉ có thế, và đây là dự tưởng:“... Vậy ngày 3.9.1952 có một gã tôi ngồi ngẫm nghĩ cái sự bây giờ mà ngậm ngùi
tủi buồn cho thân thế. Rồi lan man nghĩ đến tuổi già nua rồi càng tủi buồn hơn,
rồi mơ màng nhập mộng và cầm bút viết rằng:...”Cùng thưởng thức tiếp đoạn kết trong: Lão Mỗ về con rể, cháu ngoại ríu rít bên
ngoại, có cảnh vui thú: “...“Hôm nay là ngày rằm tháng bảy. Ông không sang để
ngâm thơ mà ông sang để ra đồng thăm mộ cụ hơn là ngâm thơ. Bởi vì thăm mộ cụ
lâu hơn cho nên mới đến gần tối.- Mộ cụ là ai cụ?Con bé chị đưa mỏ:- Mộ cụ là mộ cụ chứ là ai!- Mà cụ tụi cháu chẳng thích. Sao ông chẳng ngâm thơ có thích nhiều không?Con chị làm bộ người nhớn:- Mày là đứa bất hiếu. Thăm mộ cụ thì phải thích hơn ngâm thơ mới không là đứa
bất hiếu chứ.- Đứa bất hiếu là đứa mốc gì? Có mày là đứa... đứa... mẹ bảo mày là đứa con giặc
cái.Con chị tức thì nằm hai bàn tay thỏi vào lưng chú em. Thằng em cũng liền nhoai
vào níu lấy vai chị mà cắn. Lão Mỗ vội rẽ hai cháu ra mỗi bên:- Con Nhã từ rày đừng đánh em, ông mách mẹ, đánh cho. Mà thằng cu xưa này cũng
không được gọi bằng mày. Ông mách mẹ, mẹ đánh cho nữa. Nghe không chứ cu Đắc?Con bé Nhã phụng phịu:- Nhưng sao nó cứ bảo cháu là con giặc cái.Thằng Đắc chế luôn:- Ê ê, mày là con giặc cái má lúm đồng tiền!Lão Mỗ khẽ cốc lên đầu thằng nhỏ:- Tại nó nói hỗn vậy mới xún răng. Bao giờ nó không bảo vậy nữa thì nó không
xún răng nữa.Thằng Đắc chợt cười khinh khích:- Cháu xún răng cũng như ông xún răng nhỉ!...Đợi con rể, con gái về, Lão Mỗ thảo luận văn chương với người làm công trong
nhà. Cô Hoàn thảo luận văn chương như một triết nhân. Sự kiện này hôm nay hiếm,
đây là dự tưởng năm mươi năm sau, tác giả muốn rằng bất cứ người Việt Nam, dầu
bận công việc gì không thể không hiểu biết lịch sử văn chương nước mình, phát
nguyên sự thâm nhập văn chương (Interpénétration des littératures). Đó là ý mới
của tác giả:“... - Dạ vâng, trong bài trường thiên của thầy cháu có hai câu này ý nói rằng
các việc nhường vị mới đây giữa hai ông tân cựu chủ tịch Hàn Lâm Viện chẳng
thua gì ba chén rượu đời Đườøng Ngu, cô cháu nhất định không cho là đúng. Thế rồi
thầy cô cháu cãi nhau suốt nửa buổi. Bên nào cũng tự hỏi lấy thắng, nói hay dở
gì thì chờ thỉnh ý cụ sẽ biết...”.Tác giả ao ước một tương lai văn hóa sáng lạn hẳn hoi như nước văn minh khác,
có một Hàn Lâm Viện. Ông nhiều thiện ý cho rằng, hôm nay hy sinh đời, lăn lộn
chật vật để ngày mai... nhìn thấy đất nước lớn mạnh hùng cường. Tiếp đến, Hư
Chu xét mình, xét người, thâu thập kinh nghiệm sống, vấn đề cũng là then chốt,
Schiller nặng nghiên cứu sách vở thiếu kinh nghiệm đời, cho nên Goethe hơn
Schiller là ở đấy. Vì Goethe tổng hợp cả nghiên cứu và lao vào cuộc sống. Nhất
là lớp trẻ trung muốn tiến bộ, phải được hưởng kinh nghiệm người đi trước, hòa
hợp tinh hoa của họ, tạo cái mới. Nói như thế, tán đồng nhận định của ông về:“... Cái hay nó vô cùng cô ạ. Chớ bao giờ nên tự thi phải luôn luôn nghĩ mình
kém thì mới biết mà học hỏi được cái sở trường của người ta và người ta mới
thèm vạch cho mình thấy cái sở đoản của mình. Ấy, chồng nó lại biết nghe người,
biết phục thiện lắm. Mà thôi biết vậy cho nên trước kia mới chịu nhận làm rể.
Anh Tích Lý không có thiên tài, nhưng được cái biết nghe, nghe những người nói
mà lại nghe cả những người kém nữa.- Thưa cụ...- Khi người ta còn trẻ tuổi, người ta đều hiếu thắng. Chính tôi cũng thế. Hồi
niên thiếu, gặp ai hơn mình tôi cũng chẳng thua gì mấy bậc đàn anh như Nguyễn
Tuân, Vũ Trọng Phụng. Nói về thơ thì tôi lại càng ngông quá quắt, tự nghĩ thơ
mình sẽ làm mờ được cả tên tuổi bậc thượng tiền bối Tản Đà. Đã hay rằng có ghen
tài mới tiến nhưng ghen sao cho mình tiến được, chứ ghen hậm ghen hực một cách
mê muội thì chỉ là thái độ của kẻ ngu ngoan. Ấy mà cô, Tôi nói năng lẩm cẩm lắm
đấy. Câu nào lầm lẫn thì cô khá bỏ, mà câu nào nghe được thì cô hãy nên
nghe...”Cách răn mình xử thế khiến người đọc nhớ đến triết lý văn minh Trung Quốc đối lập,
cũng phải phân biệt được điểm ưu của họ, với đồng hành thân thuộc phải biết sở
đoản. Cá tính Lão Mỗ quả thực còn chịu ảnh hưởng nhiều ở nếp sống Khổng Mạnh,
vì tác giả sống như nho sĩ, dầu có vốn Tây học. Lão Mỗ của Hư Chu hiện thân tư
tưởng tác giả, kể đến cả nghiệp. Và Hư Chu nghĩ gì về phê bình văn nghệ theo
ông, nên chia kiểu phê bình quảng cáo chỉ là lối mặc cả giá kẻ thèm tiền, quyền
lực. Rồi phê bình quảng cáo, vì quen thuộc, vì tiền tài, vì phe đảng:“... Dạ có đó, có một lần bố cháu viết một bài về ông trong tờ Chương Dương tạp
chí. Bố cháu viết nhân khi Cậu Tiểu Liêu đem in lại cuốn Thơ Nghiên Hoa Mộng...“... Ừ việc ấy cậu mày đã thưa với ông rồi. Nhưng mẹ hát con khen hay, chàng rể
nhắc đến bố vợ thì có gì đáng thích. Ông hỏi là ông hỏi về người ngoài kia chứ”.Hư Chu dùng kinh nghiệm đời văn bản thân làm di chúc. Ông nêu lên vấn đề thái độ
văn nghệ cần phải có, kinh nghiệm văn nghệ, bồi dưỡng người đến sau tiếp nối.
Chẳng hạn, thấy người bạn nổi tiếng về thơ, lập tức bỏ ngành văn sang thơ; thấy
bạn mình được dư luận khen biên khảo; lại bỏ sang biên khảo. Thái độ trông núi
này cao hơn núi nọ, chẳng bao giờ thấy chân núi, làm sao tới được ngọn núi nào.
Hư Chu kêu gào ai đến sau đừng nên sa vào hố:“...- Ông bảo rằng ông tài mà chẳng có, tham lam nhiều thứ. Thấy người ta viết
tiểu thuyết, thấy người ta viết kịch cũng viết kịch. Rồi thấy người ta viết đủ
các lối cũng học đòi theo. Thành thử ba mươi lăm năm mài ngòi mà bút vẫn cùn.
Vì không chuyên, ngón nào cũng vụng. Mà nay về già bị loại bỏ thì mới thật rõ
ràng cái lòng tự đắc ở thiếu thời rất là đáng mai mỉa...”Đoạn như quên hẳn rằng cháu mình mới mười mấy tuổi, chưa phải là một kẻ đã có
thiên tính để bước vào làng văn tự, lão khuyên có thái độ là điều cần thiết để ứng
phó: sử dụng. Rồi đến:“... Con ạ Dũ học dũ ngu, ông khuyên con chớ nên vội khoe mình. Bao giờ con
thôi nghề cầm bút, lúc ấy xem thiên hạ còn nhớ đến con chăng, con hãy nên mừng.
Nếu con có thực tài, thì dầu có kiêu một chút, đời vẫn cười xòa mà tha thứ.
Nhưng nếu con ngông ngáo mà lại tài hèn thì thật là một điều sỉ nhục. Hừm... Vậy
hãy đợi khi về già có đáng kiêu thì hãy nên kiêu. Cái kiêu ấy dẫu cũng không khả
ái song cũng khả kham. Hừm... hừ... hừ...Nói đến đây, lão mệt ho sù sụ. Tuy nhiên, dường như say nói, vẫn tiếp:“…- Mà muốn cho thành tài, con cũng nhớ đừng theo vết xe đổ của ông. Con thích
lối văn nào thì chuyên một lối ấy. Đừng có ôm đồm tham lam để cốt tỏ ra mình là
một tay lỗi lạc...”Kết thúc, Hư Chu phơi bày ấp ủ nghề văn lần nữa. Kinh nghiệm văn chương, triết
lý văn nghệ, nhân sinh trong đoạn dưới đây rất sâu sắc, Hư Chu là nhà văn tuy
không có lối văn biền ngẫu, chau chuốt thường dùng diễn đạt truyện cổ; song độc
đáo nội dung, văn phong giản dị:“... – Ấy con ạ, vốn ông thích giàu có, chứ không phải là thích cái sự nghèo.
Chỉ vì day tay mắm miệng mãi vẫn không giấu được, đành mới chịu nghèo túng mà
thôi. Nhưng khi đã biết mình tất phải túng thiếu cả đời thì an phận lắm. Mà
cũng đến lúc ấy ông mới thấy cái tiếng than khổ cũng có chỗ nên mong. Còn như
trước, còn như lúc đang hao hức đồng tiền, ông tuy có viết mấy bài khoe khoang
cái nghèo của ông cùng thiên hạ, ấy chỉ là ông đã ghen tức với những ai giầu. Hừ,
cái bụng ông hồi đó nghĩ thật tầm thường, nghĩ thật là đáng bỉ...”Thái độ chọn nghề đã nhận; dù nghề viết chẳng phải là nghề đủ nuôi thân, nhưng
nghề này không phải ai muốn cũng được. Nói như Ngu Thuấn: Thơ chỉ là nói chí
mình, âu cũng đúng vậy. Trong Thơ Nghiên Hoa Mộng, Hư Chu gửi gấm tâm tư, nho
phong sĩ khí nếp sống của ông. Hư Chu đã chọn triết Đông cho đời ông, giải
thích nghĩa đời qua hướng đó. Nói như Buffon: “Le style c’est l’homme” (văn là
người) cũng đúng. Có tác phẩm, tác giả chỉ giả vào phần nhỏ, có khi tác giả dồn
trút không hạn định, yêu chuộng đứa con tinh thần dồn hết năng lực, lý tưởng, ẩn
ức. Thì ở đây trong bốn truyện của Hư Chu, mộng của mộng trung tùy bút là thực
lòng nho sĩ Hư Chu vậy. Lão Mỗ kết thúc câu truyện vài phút cuối bỏ dở khi nghe
tiếng máy bay, hai con đã về đến nhà ...Giã Nguyễn Nàng Thơ, Hư Chu dùng thể phiếm luận bàn về văn học; phê phán truyện
Kiều, nhấn mạnh có một điều cần là kỹ thuật. Cùng đọc:“...- Cô nói, vậy thì chắc cô quan niệm rằng nếu không là thi sĩ, nếu chưa từng
khổ công đẽo gọt thì không thể nào mà người ta nhận rõ được cái chân giá trị của
một câu thơ?Thiếu nữ liền đứng dậy, cặp mắt đong đưa và miệng cười chúm chím:- Cũng chưa chắc gì đâu. Nhưng mà... có lẽ...”Quan niệm nội dung kỹ thuật được bàn cãi sôi nổi đây phần quan yếu? Qua bao
nhiêu chuyển biến, kỹ thuật chỉ là điểm cần thiết diễn tả; tâm hồn mới là chính
yếu. Ngôi nhà sơn son thếp vàng thì chưa chắc ngôi nhà ấy vững chãi, sơn son thếp
vàng kia là tô điểm; hay đúng hơn che khuất được đục ruỗng mối mọt trong thân
nhà mà. Nói như, chúng tôi không hề đả phá kỹ thuật, thơ Vũ Hoàng Chương kỹ thuật
hẳn ít ai bì kịp, nhưng thơ hôm nay nội dung yếu, thiếu hồn thơ rung cảm chân
thành. Và thơ Vũ Hoàng Chương từ: “Em ơi lửa tắt bình khô rượu/ Đời vắng em rồi
say với ai, hay Yêu một phút để mang sầu trọn kiếp/ Tình mười năm còn lại chút
này đến Giờ Đã Điểm, thơ gò bó, sơn son thếp vàng, trong mọt đục ruỗng, Nhài đầu,
rót nguyệt vú đôi thơm thơ Nguyễn Xuân Sanh tiền chiến chả rung động được ai;
Thơ hay, âm điệu có, lời chau chuốt là kỹ thuật? đọc lên chẳng cảm được, lĩnh hội
nổi, như Lỗ Tấn quan niệm thơ phải cảm rồi mới hiểu, còn chỉ hiểu mới cảm được
là văn xuôi thì Nguyễn Xuân Sanh cũng chưa vượt nổi để một là chàng thợ
(versificateur).Đến Cái Nghiên Mực, Phong Lan, Hư Chu làm người đọc nhớ lối viết Vang Bóng Một
Thời. Song ông chưa đủ kỹ thuật văn viết biền ngẫu, toát ra cái giọng văn khinh
miệt, chẳng cần gì đời Nguyễn Tuân. Điều thiếu thốn trên đà háo hức thèm khát
đã diễn đạt trong Gã Nguyễn, Nàng Thơ. Nói như thế, đem so sánh truyện Cái
Nghiên Mực, Phong Lan, của ông thì có lùi lại mười lăm năm Vang Bóng Một Thời
tiền chiến, đến nay ông vẫn chưa đạt được.Kết luận:Trong vườn hoa văn chương nghệ thuật hôm nay, đa số tác phẩm chịu ảnh hưởng Tây
phương: hiện thực, hiện thực mới, tả chân, siêu tả chân, nội tâm, tả chân tâm
lý, lãng mạn cách mạng... thì lối giọng văn Hư Chu đem lại cho lối văn hoài vọng
dĩ vãng qua thơ Thơ, Nghiên, Hoa, Mộng. Thú chơi hoa, chơi nghiên, thú trà dư tửu
hậu, thú tao nhã xưa của Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Chu Thiên mà chúng ta thưởng
thức, đến nay quả mới chỉ có một Hư Chu hậu chiến.Nếu quan niệm một xã hội xây dựng tiến bộ là tổng hợp của nhiều khuynh hướng,
xu hướng triết lý nhân sinh; thì tôi nói rằng Hư Chu là nhà văn tư tưởng, có lối
đi độc đáo, ông chọn cho bản thân một bông hoa cổ kính rất đẹp, trong xã hội mới
bây giờ.Tiết 9KẾT LUẬN VỀ CÁC NHÀ VĂN ĐIỂN HÌNHBảy nhà văn độc lập điển hình, mỗi nhà văn một phong cách khác nhau. Phạm Thái,
(Nguyễn Ngọc Tân) Linh Bảo, hai nhà văn viết tiểu thuyết luận đề cao, có nghệ
thuật đề cao chủ nghĩa Quốc gia dân tộc. Tiểu thuyết luận đề chính trị rất dễ nổi
tiếng, khi đạt được độ cao tới đỉnh, song không phải nhà văn bình thường nào muốn
trở thành cũng được. Phải nói rằng viết truyện luận đề hay ngoài tài năng, sở
thích ra họ từng tham gia cách mệnh hoặc đứng hẳn trong hàng ngũ ấy, mới có chủ
yếu dựng truyện. Thế chiến thứ nhất, viết về chiến tranh thật linh động; có
Romain Rolland dầu ông chỉ đứng ngoài nhìn vào; hoặc sau này ở Pháp André
Malraux nổi tiếng về loại này trên. Bởi năm 24 tuổi ông đã tham gia cách mạng
chính trị; đã làm cố vấn cho Tưởng Giới Thạch, do đó mới viết được Les
Conquérants, (Những kẻ chinh phục) La condition humaine (Thân phận con người)...
Một Céline không kháng chiến chỉ viết những mẩu đời nhầy nhụa, đã sống trải như
Mort à crédit (62). Còn Paul Éluard, Louis Aragon tham gia kháng chiến mới có
thơ đầy hình ảnh xã hội chiến đấu, chúng ta mới được đọc bài thơ Liberté (Tự
do) bất hủ Paul Éluard. Hoặc V.C. Gheorghiu nhà văn viết truyện luận đề chính
trị, ngoài tài năng giàu chất liệu về chính trị, cách mệnh, ông hiểu từ ngôn ngữ
cử chỉ chủ nghĩa phát xít, tư bản, phi nhân, nỗi lòng oan hận kiếp nhân sinh Do
Thái trong thế chiến thứ hai, hoặc chế độ độc tài Péron, vì là bạn thân tổng thống
– thì V.C Gheorghiu mới viết hay được.Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo, sở dĩ chưa thành công như Phạm Thái (Nguyễn Ngọc Tân),
vì mới chỉ là nhà văn có tư tưởng chính trị, cách mệnh (đôi lần đầu tư sự hiểu
biết này để nhận đặt hàng văn hóa chống Mác xít) thì chưa phải là Gheorghiu,
Eluard, Aragon được. Họ vẫn chỉ là tham gia, đứng về chính trị phía thúc đẩy
gián tiếp mà thôi (pensée réactionnaire épileptique).Nguyễn Thị Vinh, nhà văn tâm tình thời đại có giá trị mổ xẻ hình tượng mới con
người, Chấn Phong đưa ra cuốn truyện phơi bày cặn bã xã hội đồn điền cao su. Hư
Chu đem lại bông hoa suy tưởng cổ kính luận cổ suy kim. Doãn Quốc Sỹ với truyện
dự tưởng độc đáo, nhưng vấn đề kỹ thuật viết chưa đạt được như Nguyễn Đức Quỳnh
trong Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình.Riêng Nguyễn Đức Quỳnh nhóm Hàn Thuyên (tiền chiến) với kết luận trong cuốn Thằng
Kình thì sao? Giải quyết bằng sức mạnh là thắng hết – nhưng nếu đem sức mạnh so
sánh tình yêu; sức mạnh tất tiêu tán. Nên Thằng Kình bắt đầu tin vào chí khí phải
luyện có chí khí; nhưng phải trọng kỷ luật, thời gian, không thể đốt giai đoạn
được. Cái kết luận này thật ra chẳng có gì sáng tạo của Nguyễn Đức Quỳnh, vì nó
đã được A.Ciliga trong cuốn Au pays du grand mensonge (Ở xứ sở Đại Xạo Ngôn Từ)
(Gallimard 1936); ở đoạn nói về le propos d’un oppositionnaire sur la question
du grand jeu de Trotsky. (trang 77 và 78), nói về lý do tranh chấp giữa Trotsky
và Staline, Trotsky có cơ hội, lại không cướp chính quyền, sau đó Trotsky bị
Staline cho thủ hạ hạ sát ở Nam Mỹ.Theo như Jeef, người thân cận Trotsky thì Trotsky thiếu kiên trì chủ định song
thực ra Trotsky các bạn chiến đấu kế tiếp cho rằng ông không muốn phân tán lực
lượng, như thế sẽ bị suy yếu, thiếu sự tôn trọng công bằng, kỷ luật và thời
gian.Khi tôi viết đến đây, một số nhà văn xuất hiện ồ ạt qua tác phẩm như triều cường
theo gió thủy triều. Nhắc đến các nhà văn mà tôi chưa viết trong tập này như:
Lưu Nghi, Võ Phiến (Chữ Tình).... truyện ngắn của tác giả sau đăng rải rác trên
tạp chí Bách Khoa như: Người Tù chẳng hạn. Thật mà nói– Võ Phiến hứa hẹn tương
lai chắc chắn, nhà văn có mặt khá lâu, nay xuất đầu lộ diện; bằng tác phẩm thực
thụ được in ra, trong lúc tôi đang viết đến trang cuối tập 3. Thêm ý kiến hơi
ngoài đề, sự thành công Võ Phiến hậu chiến, nhờ ở con mắt thấu thị của học giả
Đào Duy Anh tìm ra và ông đã nhận Võ Phiến như con nuôi từ thời tiền chiến. Thật
là người đánh giá trị tốt có tròng ngươi thấu thị.Kỳ XXVIITừ Vũ và Việt Văn Mới Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế
Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu
cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những
người muốn khách quan sưu tra sử liệu KỲ THỨ XXVVỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)Giai đoạn kháng chiến, từ 1945 đến
1950 Việt Nam độc lập được gần một năm. Tiếp, Pháp chiếm lại Hà Nội, (ngày 19
tháng 12 năm 1946) cho dù đảng phái Quốc hay Cộng đều bỏ phù hiệu riêng, đoàn kết
trong danh xưng kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng. Suốt chín năm
(1945–1954), thì kháng chiến ở bốn năm về sau, đã hao hụt thực chất; Mác xít ra
mặt lãnh đạo – và cho đến 20–7–1954, phân chia đất nước, danh xưng toàn dân
kháng chiến mất hẳn ý nghĩa. Song trên bình diện văn nghệ, ý thức toàn dân
kháng chiến tạo được nền văn học có chiều sâu và rộng.Giai đoạn văn nghệ phân hóa, văn nghệ Mác xít – theo
hẳn lối sáng tác được chỉ huy, nhất là sau 1954 miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa. Còn Quốc Gia và miền Nam (VNCH) văn nghệ chỉ là vườn hoang, mọc đủ loại thảo
mộc. Trong tập này, với người khe khắt cho quá nhiều – người dễ dãi cho chưa đủ.
Với tôi, vẫn chỉ là bắt voi bỏ giọ, và tất nhiên chủ quan; thiếu sót tất nhiên
không thể tránh. Nhìn vào những người viết sách nhận định văn học trước như Vũ
Ngọc Phan kết luận cuối trang sách phê bình văn học, có đoạn:“... Trước hết, bộ sách này là bộ phê bình văn học như
tôi đã nói nhiều lần, vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà
văn. Sau nữa, trong khi tôi viết những trang phê bình về thơ, có nhiều thi sĩ
chưa có quyển thơ nào xuất bản, về kịch hay tiểu thuyết, có nhiều nhà văn chưa
có sách biên khảo, chưa có kịch hay tiểu thuyết ra đời. Như vậy, biết căn cứ
vào đâu cho chắc chắn? Rồi lại những nhà văn chính trị tuy đã có văn thơ in
trên báo chương hay xuất bản thành sách, cũng không có trong bộ sách này, vì một
lẽ mà ai cũng hiểu khi nhớ đến chế độ hiện hành về sách báo. Còn những nhà văn
chuyên viết những sách Pháp văn thì tôi cho là không phải nói đến trong văn học
Việt Nam. (...) Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa rằng bộ Nhà Văn Hiện Đại này
chỉ là một bộ phê bình văn học, không phải là bộ văn học sử. Trong văn học sử,
người viết cần phải xét rất kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến văn phẩm, rồi lại
phải định rõ cả sự liên lạc của nhà văn nọ với nhà văn kia đồng thời hay khác
thời đại. Nếu không đủ được những điều cốt yếu ấy, để định rõ phong trào văn học,
thì dù có văn học sử đi nữa, người ta cũng chỉ coi là một mớ sử liệu...” (1)Thời gian này tác phẩm viết bằng Pháp ngữ như Phạm Duy
Khiêm với Légendes des terrres sereines và Nam et Sylvie; hoặc Nguyễn Tiến Lãng
Le Chemin de la Révolte; Phạm Văn Ký: Frère de Sang, Celui qui régnera; Cung Giụ
Nguyên Le Fils de la baleine – sử học Lê Thành Khôi với Le Vietnam, Histoire et
Civilisation v.v..., không nói đến, cũng như lý do mà ông Vũ Ngọc Phan đề cập tới
ở trên. Đến nhà chính trị văn sĩ Hồ Hữu Tường với Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc bỡn
Nga, ... thì cũng vậy. Cả đến loại sách trinh thám kỳ tình, kiếm hiệp, phong thần,
phỏng dịch chắp vá được gọi là tác phẩm văn học – chúng tôi xin phép không nói
tới. Rõ hơn là Phạm Cao Củng có mặt từ tiền chiến với Kỳ Phát; hoặc truyện Người
Nhạn Trắng cũng thế v.v... Tác giả Hoàng Như Mai, thời gian 1950–1954 trong
kháng chiến; chúng tôi đưa vào cuốn này; vì vở kịch Tiếng Trống Hà Hồi đặc sắc
được in trình diễn ở Hà Nội. Có thể nói điển hình bộ môn kịch là Tiếng trống Hà
Nội. Bước sang bộ môn biên khảo, đưa Duy Sinh vào một tiết, như một điển hình
cho lớp người viết biên khảo; cũng vẫn chủ quan, so với Diên Hương, Thu - Giang
- Nguyễn - Duy - Cần; Khi đối chiếu lại thì, Duy Sinh không thể giá trị bằng
hai nhà biên khảo vừa nêu danh.Trở lại bình diện văn nghệ hậu chiến, tập 3 gồm trên
dưới một trăm nhà văn; chọn ba mươi điển hình nói tới cặn kẽ; so với người khác
viết tóm lược. Cũng vẫn chủ quan thô thiển và tự nhận thiếu sót. Bởi còn nghĩ
xa hơn rằng: "không thể viết đầy đủ các nhà văn mình muốn đưa vào một quyển,
thay vì mỗi nhà văn điển hình phải viết hẳn một cuốn nói về họ". Nên coi những trang viết này chỉ là chữ viết
(écriture) trong bộ sách này, và không là văn học (littérature); như quan niệm
của Michel Buto (2). Lẽ trang viết có ý nghĩa tổng quát hơn. Còn nữa, bộ sách
này chỉ là kết quả viết về tác phẩm các tác giả mà tôi đã đọc, đưa ra nhận xét
của riêng tôi; giúp cho nghề tôi nuôi nghiệp (littérateur). Từ 1950 đến 1956,
biến chuyển thời cuộc tác động đích thực vào đời sống văn học mà nhà văn sống
trong đó. Ở miền Bắc của Quốc Gia Việt Nam (1950 – 1954) nhóm Thế Kỷ tạo thành
một Triều Đẩu, qua những mảnh đời phóng sự hồi cư nóng bỏng, hàng ngày phải đối
phó với đời sống, tạm gọi độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Còn thêm nhà
văn điển hình như Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, (truyện),
Bến Nước Ngũ Bồ (kịch dã sử), Nguyễn Minh Lang, ngọn bút tài hoa của văn chương
lãng mạn mới, qua Gái Hà Nội, Nước Mắt Trong Đêm Mưa, Cánh Hoa Trước Gió (2 tập)...
Hai nhà văn này, chúng tôi đề cập ở Chương 3 (tiết 2 và 4) – nhưng tập 3 này xuất
bản ở Sài Gòn vào 1959 (Loại sách Đại Nam văn hiến trong nhà xuất bản Huyền
Trân, Nhật Tiến chủ trương) bị kiểm duyệt bỏ trọn tiết. Bản in lại lần thứ hai
in lại đầy đủ; nhưng trong lần này vẫn phải để trống phần phân tích; vì lý do tầm
thường – không kiếm được bản tái bản vào 1973. Hai nhà văn điển hình khác nói đến
trong Chương 3 là Thanh Hữu, Văn An. Về nhà thơ điển hình: Đinh Hùng, Nguyễn Quốc
Trinh... Viết tóm lược nhà thơ: Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Băng Sơn, Vân
Long, Trần Nhân Cư... Bình diện văn nghệ miền Trung (Quốc gia Việt Nam) vào
giai đoạn này, nhà thơ điển hình được nói đến : Huyền Chi (nữ), Hoài Minh,
Thanh Thuyền. Viết tóm lược các nhà thơ: Hồ Đình Phương, Huyền Viêm, Thế
Viên...Bình diện văn nghệ miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nhà
văn điển hình: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo (nữ), Triều Lương Chế, Phạm - Thái -
Nguyễn - Ngọc -Tân Phạm Thái kèm tên thật Nguyễn Ngọc Tân, phân biệt với một Phạm
Thái khác), Chấn Phong Hư Chu. Viết tóm lược: Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ),
Thiếu-Mai-Vũ-Bá- Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm
Minh, Nguyễn Hoài Văn, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân... Một số nhà văn khác nổi tiếng
sau giai đoạn 1956 như Võ Phiến chưa có tác phẩm xuất bản. Phải kể thêm trong số
đó: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, (nữ),
Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng (nữ), Võ Hồng, Thế Uyên, Tuấn Huy, Thế Nguyên,
v.v... của Đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 trở đi). Riêng về phóng sự tiểu thuyết:
Hoàng Hải Thủy với Vũ Nữ Sài Gòn (3), Duyên Anh qua bút hiệu Thương Sinh, Toàn
Phong với Đời Phi Công, chúng tôi chưa có cơ hội nói đến, và nhờ Vũ Ngọc Phan
giúp giải vây sự khốn đốn; ... vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất
cả nhà văn... Thêm nữa, khoảng thời gian viết đến lúc in ra (dầu cho là in
ronéo-typé cách vài năm). Do đó, chưa kịp nói đến Võ Phiến (Chữ Tình), (4) Thế
Uyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Toàn Phong , Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Thế
Nguyên, Văn Quang (Thùy Dương Trang), Huy Trâm, Phạm Nguyên Vũ, Túy Hồng (nữ),
Lê Vĩnh Hòa, Nhật Tiến, (văn) v.v... – Về thơ: Thái Thủy, Tô Thùy Yên, Tôn Thất
Quán, Hoàng Khanh, Cung Trầm Tưởng, Cao Mỵ Nhân, Viên Linh, Trần Dạ Từ (khi ấy
ký Hoài Nam), Hoài Khanh, Hà Yên Chi v.v... và v.v... (5).Giá trị văn chương tiền chiến Tự Lực văn đoàn, có cả
Lê Văn Trương, (tập một: Nhà văn tiền chiến), tiếp đến giá trị văn chương lửa
kháng chiến; sau là hậu chiến. Đọc Bướm Trắng, Nửa Chừng Xuân. Mấy Vần Thơ, Gửi
Hương Cho Gió, Vang Bóng Một Thời, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giông Tố... không nhìn
thấy đầy đủ hình tượng sống cuộc sống hôm nay được thấy trong: Gió Bấc, Truyện
Năm Người Thanh Niên, Trên Vỉa Hè Hà Nội, Cánh Hoa Trước Gió, Trại Tân Bồi,
Nhìn Xuống, Điệu Đàn Muôn Thuở, Đêm Giã Từ Hà Nội, Sợ Lửa, Rừng Địa Ngục....
Văn nghệ là sản phẩm phản ánh thời đại, nên Kim Vân Kiều có hay đến mức thượng
thừa – cũng chưa thể đại diện cho một khoảng thời gian không tiếp nối. Tác phẩm
Nguyễn Du mới chỉ nói lên đầy đủ về xã hội phong kiến giao thời mà tác giả Kim
Vân Kiều sống – đủ một số điều tương đồng hiện cảnh. Không thể nói đến Kim Vân
Kiều là đủ điều tất yếu hình tượng sống lịch sử. Tác phẩm của Karl Marx,
S.Freud cũng bị vượt qua, hiện nay vẫn cần khối óc siêu việt Oppeheimer,
Einstein, Gandhi, JP Sartre v.v...Phải hiểu được rằng: lịch sử một nước như lịch sử văn
học, luôn theo đà diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Nói khác đi, sử học, văn học
sử một nước không thể cắt quãng, cũng không tùy thuộc vào lập luận một phe nhóm
nào để định giá trị vĩnh viễn. Rất cảm phục lập luận của Vũ Ngọc Phan dẫn trên
kia; được gọi văn học sử, phải xét kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến tác phẩm,
định rõ liên hệ (chữ dùng: TP) giữa nhà văn này với nhà văn nọ, định rõ phong
trào văn học. Càng rõ hơn, được gọi văn học sử, ít ra phải làm được một bộ sách
Lịch Sử Văn Chương Ngôn Ngữ Pháp (tạm dịch Histoire des littératures de la
langue française) (6) do nhóm chủ trương gồm 209 giáo sư văn học thực hiện bộ
sách vĩ đại ấy.Cảm ơn số bạn giúp tài liệu, ý kiến, khích lệ, động
viên, khi tôi khởi sự viết bộ sách này. Như họa sĩ Đinh Cường cởi áo, ngồi xệp
trên sàn gác căn nhà trọ cùng tôi chia giúp những trang sách in ronéotypé xếp
thành tập vào 1959, ở hẻm nhà thờ Lý Thái Tổ (Chợ Lớn). Uyên Thao mượn cho chiếc
máy chữ, có lịch sử sản xuất cùng thời kỳ Tây hạ thành Hà Nội. Nguyễn Quang Tuyến
nuôi ăn ở hàng năm, tôi ra thư viện đọc sách. Cùng với nhiều thư tình đầy tâm
huyết người - tình - bậc - chị đến từ Hong Kong (nàng gọi Cảng Thơm) khích lệ
người - em - bạn - tình miệt mài với chữ và nghĩa. Lại không thể quên bạn vong
niên Phan Văn Thức cấp tiền ăn sáng, giấy stencil và thẩm phán Đào Minh Lượng,
khi là sinh viên Trường Luật mua bánh mì dùng bữa trưa để tôi ngồi lì ở Thư Viện
Quốc Gia làm mọt sách. Cũng không thể quên chịu ơn André Gide, qua cuốn sách viết
phê bình về Fédor Dostoievskï (7) và cả Textes philosophiques của V.Biélinsky
(8) nữa.THẾ PHONGPHẦN THỨ BAVỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM VNCH]CHƯƠNG NĂMTiết 1. – KHÁI QUÁT VỀ BÌNH DIỆN THI CA MIỀN NAMỞ tiết này, nói đến bảy nhà thơ độc lập điển hình. Mỗi nhà thơ đại diện một
khuynh hướng riêng biệt. Chẳng hạn Hồ Hán Sơn là nhà thơ cách mệnh; Phan Lạc
Tuyên, nhà thơ tự do của xu hướng riêng: nội dung ca tụng quê hương, sinh hoạt
quân đội. Phan Minh Hồng, nhà thơ nói về thơ biển cả duy nhất vào lúc này. Đến
Nguyễn Văn Cổn đại diện lớp nhà thơ hải ngoại, bắt đầu bằng tập thơ đầu tay Nước
Tôi (1944), Đỗ Tấn, nhà thơ chiến sĩ tâm lý chiến bảo vệ chế độ. Nếu Đỗ Tấn biết
điều hòa, sử dụng lập trường với tác phẩm văn chương có rung cảm thực sự, tất sẽ
đi đúng vào địa vị người làm văn không theo công thức. Hoàng Trúc Ly, nhà thơ
tâm tình khắc khoải như Thanh Thuyền, sống vào thời kỳ thoái trào cách mệnh,
nhìn thấy cảnh đất nước bị nô lệ Pháp nên chán chường, dẫu thiếu lý do sáng suốt.
Song những nhà thơ ấy nói đúng được rung cảm thành khẩn của họ, những thi sĩ
hòa tiếng lòng với tư tưởng hoang mang. Hoàng Nguyên (Bùi Bình Hiếu) nhà thơ ẩn
ức sau khi tranh đấu, nhìn được thân phận bị lợi dụng, thơ có đường lối riêng
biệt tranh đấu. Sau ông đổi bút danh thơ Bùi Khải Nguyên qua tập thơ Thiết Tha
(S.1964).Ngoài nhà thơ điển hình, còn nhiều nhà thơ tiến bộ khác, hiện tại được nhắc qua
nhưng tôi không có hoàn cảnh viết chi tiết. Việc này nhường lại cho những ai khảo
và viết về thơ Việt Nam sau này. Đó là Hà Liên Tử, tâm hồn thơ xúc cảm, chưa lắng
đọng, ít rung cảm chân thành, có thể vốn sống nông; nghệ thuật chưa bày tỏ được.
Diên Nghị, nhà thơ chịu ảnh hưởng quá trung thành Trần Hữu Thung. Chẳng hạn
trong tập Xác Lá Rừng Thu, bài Hoa Cà La Mướp của ông chính là bản sao bài thơ
Thăm Đồng mà Trần Hữu Thung được giải thưởng thơ Bắc Kinh. Giá trị Diên Nghị chỉ
ở mặt thơ tâm tình, thơ tranh đấu ít vốn đầy giả tạo.Thế Viên, Huyền Viêm đi sâu vào nội tâm, họ có thể trở thành nhà thơ đầy triển
vọng hơn, nếu theo con đường đang đi. Sẵn khả năng thơ có bề mặt, chỉ thiếu chiều
sâu; tôi muốn nói đến nhà thơ Huyền Viêm tác giả tập thơ Trước Mùa Chinh Chiến
(S.1956).Một số nhà thơ nữa không nói đến, như Tuấn Giang, tác giả Hương Lòng; Tô Thùy
Yên, nhà thơ tự do đang lên chưa có thi phẩm in ra, Văn Thế Bảo, Thái Thủy, Tô
Hà Vân, (Nguyễn Đình Toàn), Lan Đình ..., mỗi nhà thơ một đường riêng – trừ nhà
thơ cỗi Tuấn Giang, sáo rỗng, giả tạo. Tuy nhiên có đôi bài giá trị như: Xuân
Nghèo, Tuấn Giang cũng đạt rung cảm chân thành; nhưng chỉ qua vài câu. Thơ Tô
Thùy Yên trải qua các chặng thơ mới, tự do, thấm nhuần thơ tư tưởng mới; cả
hình thức lẫn nội dung. Nhưng thơ thì duy lý, khô khan quá. Thái Thủy, Tô Hà
Vân (Ngày Em Về Thăm Quê Tôi), hai nhà thơ cùng thời với Song Hồ, Dương Vy Long
chưa tạo được thế đứng riêng biệt. Lan Đình, nhà thơ lớp sau này có đôi bài thơ
hay, giọng hơi thơ Nguyễn Bính; Hoài Khanh với tập: Dâng Rừng là thí nghiệm,
chưa chứng tỏ có đường lối riêng. Cao Mỵ Nhân, nhà thơ vẫn đang trên đường thơ
học trò, khai thác hình ảnh hoài vọng tuổi xanh tha thiết, chân thành. Tương
lai thi ca đặt vào các nhà thơ trên thật rực rỡ, xán lạn ấy là nói về các nhà
thơ đợt mới nhất hôm nay.Tiết 2HỒ HÁN SƠN (1929 – 1955)Tiểu sử:Hồ Hán Sơn tên thật Hồ Mậu Đề. Sinh năm 1929 ở Nghệ An. Qua các trường ở Huế rồi
tham gia kháng chiến, chiến đấu ở Liên khu IV. Cựu sinh viên trường Lục quân
chiến thuật Liễu Châu, sau về Thành viết báo, xã thuyết, làm thơ, biên khảo
chính trị quân sự. 1952 ông vào Sài Gòn cộng tác với tuần báo Đời Mới, tham gia
chính trị trong một đảng phái ở miền Nam (Cao Đài). Năm 1955, vì lý do chính trị
bị thủ tiêu ở Bến Kéo (Tây Ninh).Khuynh hướng và tác phẩm:Nghệ Thuật Chỉ Đạo Chiến Tranh (Hà Nội, 1953), Thế Giới Thứ Ba Bùng Nổ, Nước Việt
Nam Về Đâu? (Mai Lĩnh xuất bản, Hà Nội 1954)… Làm thơ ký bút hiệu Hồng Nam; tuy
ít, song thơ chứa khát vọng sống ca tụng dân tộc đem cả cuộc đời dâng hiến như:
Tình Nghèo, Hẹn Hò, Nén Hương Tàn. Và hồi ký như: Tết Giữa Rừng Xanh đăng trên
báo Đời Mới, Việt Chính... hoặc bài viết về quân sự như : Những Nguyên Tắc Cầm
Quân của Trần Hưng Đạo v.v...Hồ Hán Sơn làm thơ ít, như chúng tôi vừa nói đến, song thơ của ông chan chứa
tình thương yêu, tình ái. Dẫn chứng bốn câu thơ chúc tết người viết vào năm Ất
Mùi, thơ bình dị; chứa suy tư, cách sống, giá trị thực tiễn:“Ở Bắc đã lay cây rụng láVề Nam ngơ ngẩn áng mây sầuĐất trời đang hẹn cơ vong quốcThư kiếm xuân sang chúc bạn bầu”Miền Nam thập niên năm mươi đang lâm vào thế Thập Nhị Sứ Quân, Hồ Hán Sơn là một
trong những người luôn luôn cầm trong tay binh lực hy vọng chuyển dịch thời thế.
Ông không thể chỉ là nhà thơ thuần nhất, như Nietzsche quan niệm, phải lập thuyết
mới có thể giải quyết thân phận con người, mà thơ thì không làm nổi. Hay Karl
Marx ban đầu làm thơ trong tuổi sinh viên, thi sĩ ba trăm câu thơ gửi người
nhân tình, sau trở thành vợ. Nietzsche cũng không tin rằng thơ có thể xoay chuyển
tình thế xã hội. Viết thư cho bố, báo tin ông đang bước vào con đường nghiên cứu
triết học. Nhớ đến Hồ Hán Sơn hạ bút viết: Thư kiếm xuân sang chúc bạn bầu, có
lý do chính xác. Sách khảo cứu chiến thuật, chiến lược, nghệ thuật cầm quân
trong Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh ở đây không bàn đến, kinh nghiệm bản thân
khi học ở Tàu, cũng như dựa vào tài liệu Hoàng Đạo Thúy tạo thành cuốn sách
này.Kết luận.– Hồ Hán Sơn qua đời ba mươi tuổi, người vợ chưa cưới chỉ mới vấn danh. Đòi hỏi
có vợ, từ nơi Thượng đế, như La Répétition (Nhắc lại) của Kierkegaard hẳn khác,
bởi ông chẳng còn sống để đòi, và cuộc đời kết thúc bất ngờ: Thơ thì hay và kiếm
thì hại. Tài năng mai một, kiếm cung tự giết, chỉ còn thơ bất tử để lại, thơ Hồ
Hán Sơn bao hàm ẩn ý, bảo vệ sinh tồn đóa hoa dân tộc, ngoài ý nghĩa trên, thơ
không còn nghĩa lý. Xã hội quốc gia trường tồn, Hồ Hán Sơn là người được nhắc
nhở ở cuộc đời, cũng như thơ cách mệnh.
Trích thơ:
1. TÌNH NGHÈO
Nhớ thuở
Anh cày thuê
Em chăn trâu
Bóng mát dưới cầu
Quen nhau ...
Một cỗ trầu cau
Nên đôi chồng vợ
Túp lều tre nứa
Dựng cuối vườn làng
Hai mùa lúa chín ngô vàng
Chày tre cối đất nhịp nhàng đã vui
Thế rồi
Mõ giục từng hồi
Giặc tràn mấy xứ
Lúa khoai màu mở
Ai không tiếc ruộng tiếc đồng
Đường quê thiên hạ tiễn chồng
Em đưa anh ra lính
Giặc vào anh đánh
Giặc tan, anh về
Làm sao đuổi hết giặc đi
Để cho cối đất chày tre nhịp nhàng.
Bao giờ
Giặc chết trên ngàn
Giặc tan ngoài bể
Nhớ lời em nhé
Và cánh đồng quê
Dù không may!
Anh cứ về
Ai chê người đuổi giặc
Ai ghét kẻ thương binh
Còn làng, còn nước, còn anh
Còn đồng ruộng cũ, còn tình lứa đôi.
Em vui
Nước nhà độc lập
Đường quê tấp nập
Trai tráng về làng
Hai mùa lúa chín ngô vàng hơn xưa. (63)
1953
(trích báo Đời Mới)
2. THĂM QUÊ
Mải vui theo bước phong trần
Bao năm mới được một lần thăm quê
Lòng vui như gái đến thì
Chân vui nuốt chửng đường về khi nao.
Làng tôi
Sông rộng núi cao
Lũy tre rì rào
Nắng vàng trải lụa
Ruộng đồng ngập lúa
Trai canh nhộn nhịp đường làng
Mùa mười lúa chín đã vàng
Áo quần vải mới rập ràng ngõ quê
Gặp nhau trên đường về
Bác Cu cười ha hả
Mưa mười được cả
Ruộng cạn ao sâu
Mấy khi mà chú về lâu
“Qua ăn xôi mới của đầu mùa nha”
Lò lửa sáng rực nhà
Bác thợ rèn ngâm nga theo nhịp búa
Sức người cùng sức lúa
Tới dũa với anh cầy
Nguồn vui tràn ngập xóm làng.
Câu hò câu ví nhịp nhàng cuối thôn
Nhưng
Ai biết được nguồn cơn
Qua mấy buổi chiều buồn
Mây trôi về lảng vảng
Khắp xóm làng lo lắng
“Năm xưa cũng có cầu vồng”
Dập dờn gió bão gió đông
Ba hôm
Nước ngập đường đê
Nước tràn ruộng lúa
Nước vào nhà cửa
Lợn gà xao xác cánh đồng
Lặng nhìn trời nước mênh mông
Cụ già than thở
Trời cho thấy, sao nỡ chẳng cho ăn
Lụt ra dể cảnh hoang tàn
Cho em bé khóc cho lòng xác sơ
Lúa khoai chôn chặt dưới mồ phù sa
Mải vui theo bước phong trần
Bao năm mới được một lần về quê
Nghẹn ngào lúc bước chân đi
Bác Cu còn dặn nhớ về mùa chiêm
Lụt rồi đồng sẽ tốt thêm.
1952
Trích báo Đời Mới
HỒ HÁN SƠN
Tiết 3
PHAN LẠC TUYÊN
Tiểu sử:
Sinh năm 1928 ở Hữu Bằng, Sơn Tây. Bị động viên vào lớp Sĩ quan trừ bị khóa I –
1951. Viết cho các báo Phụng sự, Quân đội, Văn nghệ Tự do, Nguyệt san Đại học
Quân sự…Đã xuất bản: Mùa Hoa Mới (1956 thơ).Phân tích tác phẩm: Mùa Hoa Mới, tập thơ có lời giới thiệu Kiêm Đạt, và nhiều
tác phẩm khác như: Phê bình Văn Nghệ Cộng sản (viết chung với Võ Phương Tùng
(Võ Long Tê), Lê Lam Sơn (Tô Kiều Ngân) Tìm Hiểu Thơ Tự Do (Lạc Việt, 1956, tập
I) với Mạc Ly Châu, Kiêm Đạt và Hồ Nam.
Thơ ông hòa nhịp với đời sống trải, phản ứng, rung cảm, hơi
thở cuộc sống thôn quê, nhiều nơi hành quân qua. Là nhà thơ quân đội, cuộc sống
quân ngũ luôn dàn trải trong thơ, đôi khi thêm vài nét chấm phá hình ảnh thiên
nhiên núi rừng Việt Bắc (Người Em Rừng Núi). Hoặc hình ảnh bà mẹ già đợi con
trai chưa về trong xóm nhỏ làng quê Phan Lạc Tuyên đưa vào thơ từ linh hoạt, cảm
xúc, bồi hồi. Bài thơ Tình Quê Hương (64) chiến sĩ tiếp thu Ba Tơ:“... Các anh về chín kịp lúa đang lênRẫy ngô khoai trở lại búp xanh rờnThêm mái rạ làng nghe vui xây dựngCác anh về Ba Tơ đang bừng sống”(Áo tím màu sim)Thơ mộng, êm đẹp lại hứa hẹn, chan chứa tình quê hương, gia đình cả người vắng
mặt; tiếp nhận người mới, lại nhớ đến Tố Hữu: Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy
nhiêu (65) Trong hơi thơ tương tự ấy, ở Phan Lạc Tuyên có:“Em hẹn em sẽ kểTình quê hương đơn sơMẹ già như chiều nắngNhớ con trai chưa vềRuộng nghèo không đủ thócVườn nghèo nong tầm thưaNgõ buồn mầu hoang loạnQuê nghèo thêm sác sơ...”Biểu hiện được tình quê hương thắm thiết hòa hợp với tình yêu quê hương miền đất
đỏ, núi đồi ban chiều quê xa miền Trung. Hình ảnh mẹ già, anh chiến sĩ tiếp thu
nghe lời cô gái tóc xanh kể chuyện quê hương. Thi tập đầu tay Phan Lạc Tuyên có
số ít bài thơ hay, giàu nhịp điệu, tiết tấu lạ. Cũng có bài thiếu nhạc điệu,
kém rung cảm, lời thơ tầm thường. Về biên khảo Khái Luận Văn nghệ Quân đội. Tìm
Hiểu Thơ Tự Do; viết sách lối đặt hàng, nội dung nghèo nàn công thức chưa hoá
được hiểu biết, chắp vá rẻ tiền. Kết luận: Trong số những nhà thơ tự do tiêu biểu
cho loại thơ tồi, Phan Lạc Tuyên có địa vị và hướng mới có khám phá. Cái tôi
trong thơ đặc biệt phản ánh rõ nét, về biên khảo chưa có chỗ đứng. Sự đọc nhiều
chỉ đưa đến bội thực, chưa chế biến được sự thu thập từ sách vở. Làm thơ hay
chưa hẳn là nhà văn biên khảo tài năng, hôm nay ông chưa là Benjamin Goriély, vừa
làm thơ, vừa là soạn giả giá trị Sciences des lettres soviétique (tạm dịch:
Thành tựu văn chương Xô Viết). Nhắc đến Huy Cận, Xuân Diệu chỉ có thơ, thì hiện
tại tương tự với Phan Lạc Tuyên.Trích thơ:1. NGƯỜI EM RỪNG NÚICao nguyên xanh ngắt đợi chờAi về nẻo cũ hẹn hò núi sôngĐồng Nai suối nước biển ĐôngNhớ ai lời hát đêm trăng núi rừngNúi rừng ơi! Sao mà quên đượcĐường lên Chu–Dié Ya vời caoNhững buổi chiều vàng vọt bên đèoĐường chiến binh dài mãi nắng vàng theo“Boun’M’Rong” thương nhớ mãi khói chiềuMẹ già nhỏ lụy sương rơiNhớ thương tóc trắng mây trờiAi về lãng cũ Gia RayRừng xa mấy độ đường dàiNhớ em gặt lúaMá đỏ mộng đờiSớm khuya nương sắm đồi khoaiĐêm đêm trăng lạnh rét đôi vai trònBiên Hòa bưởi thắm lòng sonTa về nhớ mãi người em núi rừngTừ buổi quê em Việt BắcXa rồi cách trở ngàn mâyEm đã về đâyPhá rừng gieo mạCuộc đời làm nươngÁo xanh vẫn đẹp huy hoàngTóc mây vẫn mượt dịu hiền như xưaDậu sông Bờ, rừng Sơn LaCòn vương ánh mắt điệu xòe đêm thuMôi em đã ngợp trăng thềMùa sim tím mãi nẻo về nhớ thương...(TRÍCH TRONG BÁO XUÂN LẠC VIỆT, 1957)2. TÌNH QUÊ HƯƠNGAnh về qua xóm nhỏEm chờ dưới bóng dừaÁnh chiều lên mái tócTình quê hương đơn sơQuê em nghèo cát trắngTóc em lúa vừa xanhAnh là người lính chiếnÁo bạc màu đấu tranhEm mời anh dừng lạiĐêm trăng ướt lá dừaBên nồi khoai mới luộcNgát thơm vườn dâu thưaEm hẹn em sẽ kểTình quê hương đơn sơMẹ già như chiều nắngNhớ con trai chưa vềRuộng nghèo không đủ thócVườn nghèo nong tầm thưaNgõ buồn màu hoang loạnQuê nghèo thêm xác xơAnh: chiến binh tiền chiếnVề giải phóng quê emBao nhịp cầu đất nướcNối về quê miền TrungAnh sẽ là anh đàn em nhỏLà con của mẹ giữa quê hươngQuê nghèo mãi sẽ tươi mầm sốngĐàn trẻ thơ gieo giữa lúa vàng (...)Người em nhỏ mắt thơ bằng tin tưởngVui nhìn đoàn trai trẻ tới miền Trung.(TRÍCH TRONG TẬP THƠ MÙA HOA MỚI)PHAN LẠC TUYÊN Tiết 4ĐỖ TẤN (1927 – 1988)Tiểu sử:Tên thật Đỗ Tấn Xuân. Sinh năm 1927. Viết cho các tập san miền Trung: Gió Lên,
Đời Mới (Sài Gòn) v.v... Sau 1954, viết cho Văn Nghệ Tiền Phong, Mùa Lúa Mới...
Đã xuất bản Mùa Hoa Sim Tím. (1956). Qua đời ở Sài Gòn vào 1988.Phân tích tác phẩm:Thi phẩm được phân tích trong tập này Mùa Hoa Sim Tím (1956). Ngoài làm thơ,
ông còn viết truyện ngắn đăng rải rác trên tuần san, nguyệt san. Về thơ, có khả
năng hơn truyện ngắn. Tập thơ gồm hơn hai chục, tính chất tuyên truyền cho lập
trường Quốc gia. Thơ đặt hàng xuyên suốt tập thơ chỉ có một bài duy nhất Mùa
Hoa Sim Nở làm tiêu đề cho tập thơ là khá hơn cả. Chủ trương báo Mùa Lúa Mới sẵn
công thức đề cao cá nhân lãnh tụ ông Ngô Đình Diệm để chống lại chủ nghĩa Cộng
sản. Đỗ Tấn viết tâm sự một chiến binh tập kết hồi chánh, tâm trạng khắc khoải,
lý trí tình cảm tương tranh. Đối với tình yêu thì:“... Có nên hy vọng anh vềMiền Nam xây dựngĐảng đã dạy anh, gian lao chịu đựngThì thương nhớ nhau mà chiĐảng muốn anh quênThì thương nhớ nhau cho lắm có ích gì...?Đỗ Tấn có tài năng là nhà thơ máy khi đọc thơ trích đọan trên. Chống lý thuyết
đối lập bằng phản đề, Đỗ Tấn hôm nay là người thơ giãy giụa trong cách mạng
thoái trào, không như 1945; tình đầu kháng chiến dân tộc bị mơ hồ hóa. Nên ông
áp dụng lối thơ cổ võ như xưa kia; dù hôm nay không làm người đọc thơ rung cảm,
và ông vẫn là nhà thơ nghệ thuật cao hơn cả, so với các thi sĩ máy chịu ảnh hưởng
nhiều văn nghệ phục vụ lối chính trị. Chống đối đi đôi với suy tôn; làm thơ
công thức đặt hàng vẫn cần có chiến thuật tiến, thoái. Thí dụ bài thơ Anh Chết
Rồi, ca tụng tướng Cao Đài Trình Minh Thế:“... Thằng giặc nào anh nóiThằng giặc nào giết anhThương tôi, anh hãy chỉThằng nào anh chỉ tên”...Giá trị thơ không phủ nhận không; nhưng có thì của thi sĩ kháng chiến Hoàng Lộc
Viếng Bạn. Đỗ Tấn mượn hơi thơ, ý thơ, khổ thơ năm chữ; đẽo gọt lại làm thơ đặt
hàng. Hãy đọc đoạn thơ Hoàng Lộc:“... Đứa nào bắn anh đóSúng nào nhằm trúng anhKhôn thiêng xin chỉ mặtGọi tên nó ra anhTên nó là đế quốcTên nó là thực dânNó là thằng thổ phỉHay là đứa Việt gianKết luận:Đỗ Tấn là nhà thơ máy có tâm hồn thơ đáng kể nhất trong loại hình thi sĩ máy lấy
văn nghệ làm phương tiện phục vụ chính trị. Đỗ Tấn vá víu chắp nối thơ, tâm trạng
anh thợ đá muốn nổi tiếng dùng cửa hiệu thợ ngọc nổi tiếng làm bảng hiệu lập
công. Viết đến đây, ông lại cho xuất bản tập truyện ngắn: Chiều Cuối Năm (Bình
Minh, 1957), nhưng Đỗ Tấn vẫn là nhà thơ máy hơn là nhà văn máy.Trích thơ:MÙA HOA SIM NỞEm đợi anh vềĐể viết bài thơ nồng cháyYêu thươngNhưng nắng vàng dạo ấyĐốt kẻ lên đườngCó mong gì trở lại?Anh bảoHương đồng bốn mùa xây nắngGió mùa nào kể chi emTím sim nào tím đôi timNhưng nay phố phườngLầu đỏ chìm cả ánh sángDập dìu những cặp yêu thươngEm về cho anh khắc khoảiĐêm nghe sao xuống trong vườnSao lạnh, lòng em tê táiVườn hoang, cỏ dạiAnh đi ra Bắc có vềHiệp thương nào ai nghe nói?Rứa mà anh bảoHương đồng bốn mùa say nắngGió mưa nào kể chi emRa đi là ngày sim nởTím sim nào tím đôi timAi hay nắng mớiĐậu vui khoảnh khắc bên thềmNhà nhà cười vui ngây ngấtNhớ anh em chỉ mình emNhân dân cả mùa thoát xácCho ấm nơi ngườiĐông về lạnh lắmTim anh nào thấy tăm hơiChừ biết tin anh hay tin cuộc đờiLấy nhau vừa đúng mười hôm chẵnVà chỉ mười hôm thế thôiĐộ rày sim nởTím sim là tím làn môiLà tím cuộc đời trong giáLà tím tình ta lỡ rồiAi người gây nên màu tímMưa thêm trên núi trên đồiGió thềm chờ lòng lạnh lắmBuồn vương hiu hắt mái gồiCho đông tàn se cỏ lạnhAnh có về không hở anh?Chim không đậu nữa trên cànhBình hoa đổ nátBên người tiếng lá reo nhanhẤy thế mà anh lại bảoHương lúa bốn mùaNay toàn hoa gạoThơm gì tình của đôi taBiển xanh biển lòng sóng gióVui gì mà hát tình caAnh ơi có còn mong ngóngChiêm bao lấy một ngày vềXứ Bắc miền quê gái thắmMá rờn quả chín trên câyChiếc khăn mỏ quạMôi đóa mộng hồngThôi có còn gì mà nhớ mà trôngCó nên hy vọng anh vềMiền Nam xây dựngĐảng đã dạy anh gian lao chịu đựngThì thương nhớ nhau mà chiĐảng muốn anh quênThì nhớ thương nhau, cho lắm có ích gì?Lấy nhau vừa đúng mười hômVà chỉ mười hôm thế thôiĐộ này sim nởKhông nhớ thương ai mà khóc trên đồiPhố phường rộn rịp vui biết mấyThế đồng tiếng hát chơi vơiAnh đi anh chẳng trở vềCó khóc rầm rề thì cũng một thân(TRÍCH TRONG MÙA HOA SIM NỞ)ĐỖ TẤNTiết 5HOÀNG TRÚC LY (1933 – 1984)Tiểu sử:Tên thật Đinh Đắc Nghĩa. Sinh năm 1933 ở Đà Nẵng. Làm thơ, viết cho các báo Nguồn
Sáng Mới, Cải tạo loại mới do Hoàng Thu Đông chủ trương, tạp chí Sinh Lực,
v.v... Qua nhiều bài thơ đăng báo; Hoàng Trúc Ly có địa vị thơ hay, bộc lộ rõ rệt
khuynh hướng tình cảm của mình.Khuynh hướng :Hoàng Trúc Ly như Thanh Thuyền, Viên Lăng, Kiên Giang, Thế Viên chưa in tác phẩm
nào khi còn sinh tiền .
(66) Nhưng họ đều là nhà thơ phải làm người đọc lưu ý, khi
bàn đến thi sĩ đương thời; bởi tài năng của họ phát triển sâu, tạo được bản sắc
riêng biệt trong những năm gần đây. Với Hoàng Trúc Ly, qua Rừng Mưa, Chắp Nối,
Đồng Vọng, Gởi Người Anh, Gặp Người Em, thơ đi sâu vào đường đượm triết lý nhân
sinh Đông phương. Thơ của ông giống Huy Cận ở chỗ: cả hai cùng khóc đời nhiều
hơn khóc mình. Huy Cận khóc đời nhiễu nhương; Hoàng Trúc Ly than thở ẩn ức
hoang mang thời thế qua Chắp Nối:CHẮP NỐITôi yêu vạn cánh buồm răng rắcYên bờ biển Thái Bình Dương xanh ngắtMười phương gió tanh tanhNhư thịt người hòa trong máu tinh anhTim biển cả có bao giờ nguôi thổn thứcTôi nghe bao laNgàn năm mây trắng quyện Hồng HàQuê hương thẹn thùng môi trinh nữRượu Đường Thi ngà say men Trang tửĐêm Á Châu huyền diệu bóng trăng saoCánh sen bừng nởMột sớm hoa đàoĐời lại gần như nắng đẹp sắp vươn caoBình minh vang nội địaCó hợp tấu muôn màuĐương thời bao ngả lạcAi biết ai về đâu?Ân tình đi rải rắcAi xây một nhịp cầuHai mùa duyên chắp nốiCho cá nước gần nhauLà nghĩa đời lên lay động nhấtMùa xây thông cảm nhạc dâng cơChín mươi dòng chữ băng thanh sắcBừng sáng lưng trời ngọn lửa thơ.Hoàng Trúc Ly thám hiểm nội tâm qua tiếng yêu đương rất thành khẩn, tha thiết
qua Gởi Người Em đẹp cả lời và ý :Tôi đứng bên này bờ dĩ vãngThương về con nước ngại ngùng xuôiNhững người em nhỏ bên kia ấyAi biết chiều nay có nhớ tôi?Tôi muốn hôn bằng môi của emMùa xưa thao thiết nắng hoe thềmLòng trong đã trắng tình nguyên thủyNghe bước chân về êm quá êm.Em lắng tai đâu... chiều lững lờThơ tôi vừa hát khúc ban sơLòng chưa tội lỗi mà vô cớBỗng muốn gục quỳ bên tuổi thơEm là em – tôi có là tôiDù nghĩa thời gian ngăn cách rồiTôi đứng bên này lưu luyến quáNhững người em nhỏ của tôi ơi!Hoàng Trúc Ly và Thanh Thuyền giống nhau ở điểm: sử dụng làm thơ lối bảy chữ rất
điệu nghệ như Gởi Người Em hoặc Thanh Thuyền ở Cách Biệt những bài thơ có kỹ
thuật dắn dỏi, nội dung xúc cảm. Nhớ đến Quang Dũng, được gọi nhà thơ tự do thời
kháng chiến, nhưng lại đặc sắc ở bài thơ bảy chữ Quán Bên Đường, Tây Tiến, đến
khi ngả sang thơ tự do như Hoa Thanh Bình thì kém sút như bài Đi của Hoàng Trúc
Ly:... “Rồi tôi điThoáng hiện về đêm về le lói... Ở đời mấy kẻ biết nghe thơ lý sự”Kết luận:Thơ ông hướng nhiều về nội tâm khắc khoải, tâm trạng hoang mang, tâm sự người
trai lớn lên giữa thời đoạn lịch sử rối ren, thơ đi sâu vào tâm lý ấy, khai
thác hình tượng sống, thành khẩn. So sánh giữa hình tượng sống và con người;
thì hình tượng sống được đề cập nhiều hơn. Đọc Đôi Bờ Quang Dũng, bài thơ ngợi
ca tình yêu, song vẫn có sự sống e ấp nấp kín phía sau:“Gió rét mưa sau chừng sắp ngựKinh thành em có nhớ bên kia?Thoáng hiện bóng em về đáy cốcNói cười như chuyện một đêm mưa.Khác hẳn Mầu Tím Hoa Sim Hữu Loan, Bên Kia Sông Đuống Hoàng Cầm, thì Đôi Bờ và
Gởi Người Em có điểm gặp nhau; lời tế nhị và ý thơ đẹp. Nói thế không là so
sánh, tán tụng Đôi Bờ, hoặc làm giảm giá trị tình yêu truyện thơ Bên Kia Sông
Đuống, Màu Tím Hoa Sim. Ý muốn chỉ nhấn mạnh, thơ hay có nhiều lối diễn đạt,
hai thí dụ trên đều là trường hợp của nhà thơ có tâm hồn, kỹ thuật cao. Thơ
Hoàng Trúc Ly đượm màu sắc triết lý Đông phương, lối diễn đạt Tây Phương. Ông
dung hòa được cả hai thái cực thơ mới và thơ tự do. Nội dung hoài vọng dĩ vãng,
khai thác chiều sâu hình tượng nội tâm nhiều hơn cảm quan cá nhân hòa đồng thời
thế. Nói đến nhà thơ lớp mới kỹ thuật cao, phải kể đến Hoàng Trúc Ly.Trích thơ:GẶP NGƯỜI ANHCó người anh không quenĐến tôi nhà im cửa ngỏTrời mưa phiêu bạt hoa đènTâm sự nửa chiều cởi mởAnh kể bài thơNgổn ngang năm thángThu xưa biền biệt áo tím kinh kỳNắng không đè nổi vai người bước điĐồng núi mênh mangDép mòn lá rụngXóm làng từ buổi thắm loangTàn phá đỏ loe đầu súngBiết còn gì nữa... người anh,Những mái nhà cay đắng chiến tranhRuộng vườn ai lạnh lẽo cho đànhTừng vành khăn trắng như mây trắngXuân đến tha hồ thương tóc xanhĐại dương lửa khói mờ nhân ảnhSực tỉnh nao nao khúc độc hànhLạ lùng anh đến thăm tôiDừng chân mưa bay nhạt lốiBóng chiều nghiêng xuống cuộc đờiAnh mỉm cười nghe đêm tốiNgày ửng hoa sau lửa mắt khơi vơiTrích trong báo Cải tạo loại mớiHOÀNG TRÚC LYTiết 6NGUYỄN VĂN CỔN (1911 – 1992)Tiểu sử:Nguyễn Văn Cổn sinh năm 1911, làm thơ từ tiền chiến. Quê hương miền Nam tác giả
tập thơ Nước Tôi (1946) Du học ở Pháp. Sống ở Paris, còn là tác giả Thi Văn Việt
Nam (Minh Tân Paris), Hồn Sông Núi (thơ, Paris 1950)Khuynh hướng:Diễn đạt theo lối thơ mới, chịu ảnh hưởng Baudelaire, Lamartine, Musset.... ca
tụng hình ảnh đẹp quê hương, dựa trên thế đứng lập trường dân tộc chống xâm
lăng 1946, khi Pháp xâm lăng Việt Nam. Tập thơ đầu không đặc sắc, hình ảnh
thiên nhiên nghèo nàn, tâm tư trống rỗng lời sáo, chưa có bản sắc riêng. Tập thứ
hai chưa đi vào thực tiễn cách mệnh, nhưng thơ là tiếng nói của người yêu quê
hương. Ở hải ngoại nhà thơ vẫn có ý thức với tổ quốc lâm nguy. Đến Thi Văn Việt
Nam, phân tích khá kỹ lưỡng, súc tích tài liệu, nhưng không vượt ngoài khuôn khổ
sách giáo khoa, và tác giả cũng có mục đích như vậy khi viết sách. Bàn về bản sắc
thơ của ông, chúng tôi dựa vào tập thơ Hồn sông núi. Gồm ba mươi bài, hoài cảm
quê hương, đề tài này gần như là chính. Ông có ý định đem thơ nói bất công xã hội,
như Đứa Bé Mồ Côi, chưa nói lên ẩn ức sâu sắc tiềm ẩn mà chỉ là thương hại, ve
vãn. Thơ ông là thơ nói về quê hương, và lòng yêu dân tộc, chân thành, tha thiết
của người xa tổ quốc, mà có nhà văn cho chúng tôi đem quê hương gửi dưới gót
giày. Vậy Nhớ Quê Hương và Nàng Ở Lại đầy hình tượng thơ ấm áp của không khí lò
sưởi giữa nội thành bao vây giá lạnh, còn Nàng ở lại tả một sinh viên Việt Nam
trên đất Pháp, yêu người con gái Pháp, nhưng đành từ giã để trở về đầu quân kháng
chiến chống Pháp xâm lăng. Nàng Ở Lại là bài thơ rất chân thành, cảm động sâu sắc,
cách dùng chữ, tuy tiết tấu âm điệu chưa toàn bích lắm. Về nhà thơ hải ngoại,
thật quá ít ỏi. Nhà thơ Nguyễn Văn Cổn, nhà văn Linh Bảo đếm trên đầu ngón tay
đã hết. Linh Bảo sâu sắc trong văn, thì Nguyễn Văn Cổn trong thơ và ông chính
là nhà thơ tâm huyết và đầy lòng yêu dân tộc.1. NHỚ QUÊ HƯƠNGHồn ta lẻ dưới bầu trời mờ thấpChiếc lá vàng run rẩy trong sươngBên kia trời ấp áp vốn quê hươngDưới nắng dịu nở muôn tình thương nhớNay đất khách ta sống đời bỡ ngỡGiữa rừng người rộn rã vẫn cô đơnChiều thê lương quán trọ lạnh và buồnVắng hơi ấm để sưởi hồn thổn thứcĐâu bình minh và hoàng hôn cỏ gấcĐâu nụ cười tươi thắm của người yêuĐâu hài nhi lên tiếng nhẹ nhàng kêuĐâu nét mặt kính yêu người từ mẫuĐâu là bạn mấy năm trời tranh đấuĐể ngày mai tươi sáng đẹp như hoaNhạc chiều đương trỗi dậy giữa rừng xaCùng gió lốc tựa ngọn cờ oanh liệt.Nay xa quá hỡi tình thương đất Việt?Trong lòng ta như chết cả niềm vuiTrong cười say ca hát lệ thầm rơiHình dĩ vãng vẫn chưa mờ trong dạBên vườn mang những khóm trầu trơ láXanh và non như ruộng mạ được mùaDừa và cau cạnh nước mạnh như xưa,Xoài đến lứa biết thân mình xem rẻMấy chậu cảnh bên góc vườn vắng vẻKhải hoàn môn vạn thọ đợi từ lâuBông trà mi cười cúc nở âu sầuBên bông giấy đỏ như lòng câu đốiNhững vườn mía lưa thưa và cháy rụiBên bờ kinh ai đứng gọi đò quaTa thấy ta ngày đó vẫn chưa xaGiữa đời sống hiền từ đầy thi tứ.Bước đường xa ai về xin nhắn nhủRượu giang hồ vắng bạn khó mua sayBên trời Tây ta vẫn sống lạnh lùng thayĐợi ngày hẹn trở về non nước cũ(1948)2. NÀNG Ở LẠITẠI PARIS TÔI NGHE ĐƯỢC CÂU CHUYỆN NÀY MỘT THANH NIÊN VIỆT
NAM ANH NGUYỄN TRONG CHÍN NĂM DU HỌC TẠI PHÁP THƯƠNG YÊU MỘT THIẾU NỮ ÂU PHƯƠNG. ANH TỐT NGHIỆP TRƯỜNG CẦU CỐNG. NĂM 1949 VÌ THỜI CUỘC ANH TỪ GIÃ TỪ NGƯỜI YÊU
TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG. NÀNG VÌ QUÁ THƯƠNG NHỚ HOÁ RA ĐIÊN RỒ PHẢI ĐIỀU DƯỠNG TẠI NHÀ
THƯƠNG SAINTE ANNE. 1952 ANH NGUYỄN VÌ TỔ QUỐC CHẾT Ở SÀI GÒN, CÂU CHUYỆN NÀY
LÀM TÔI CẢM ĐỘNG. BÀI THƠ SAU ĐÂY LÀ KÍNH Ý CỦA TÔI VỚI NGƯỜI QUÁ CỐ.
Buổi chia ly không thể còn nấn ná
Con đường yêu nay đã cắt làm hai
Một ngày là thế kỷ lúc lẻ loi
Sầu khổ nên khi lòng đầy nỗi nhớ
Đây phút sống thù trong thiên hận sử
Của loài người đau khổ của tình yêu
Nhạc và thơ ghi bao giọng cao siêu
Đo đau đớn của lòng người tựu kết
Nàng ở lại: tôi đi hai lòng chết
Tôi hiểu rằng nàng thấu rõ hồn tôi
Tình đôi ta mạch máu với thân người
Cắt là giết nguồn vui và sinh lực
Nàng đã hiểu làm người ai thoát được
Nợ máu xương ràng buộc với giống nòi
Với non sông gây dựng tự muôn đời
Nguồn sống mới ngã ba dòng lịch sự
Nàng ở lại: tôi đi lòng vẫn nhớ
Mái tóc mùa lúa chín mịn như tơ
Cặp mắt xanh xán lạn tựa nguồn thơ
Và tinh nết hiền như người theo Phật
Nàng chắc rõ dưới trời Nam xưa khuất
Bao nhiêu người ngong ngóng đợi chờ tôi
Đem hiên hoa trả nợ kiếp làm người
Không vị kỷ và sống gần dân tộc
Khi ra đi để hoa buồn liễu khóc
Gần gụi nhau trong giấc mộng mà thôi
Đời xinh tươi còn phải đợi ngày mai
Khi vui sáng đánh tan niềm sầu tủi
Nếu chẳng may thân tôi về cát bụi
Đây là lời vĩnh quyết hẹn ba sinh
Đây là lời thề thốt chạm giờ linh
Trong đất nước bể trời còn sống mãi.
Paris 1952
TRÍCH HỒN SÔNG NÚI
NGUYỄN VĂN CỔN
Tiết 7
BÙI KHẢI NGUYÊN (1927–1980)
Tiểu sử.
Tên thật Bùi Bình Hiếu. Sinh 25.1.1927 ở Hà Nội. Ký Hoàng Nguyên dưới bài thơ
viết thuở ban đầu (68). Thơ ông đăng trên các tuần báo Đời Mới, nhật báo Dân Chủ,
Phụ nữ Diễn đàn từ năm 1955 đến 1956 (69).Bùi Khải Nguyên đánh dấu thơ ở giai đoạn hỗn loạn, bắt đầu khởi điểm, qua bài Ẩn
Ức đăng trên báo Dân Chủ. Hoặc thơ có khuynh hướng xã hội thực tiễn, đem thơ
vào đời sống như Paul Éluard cho là: sự tồn vong của con người với lịch sử: Đó
là bài: Người Ngủ Ngoài Đồng, Chúa Nhật Này Đẹp Nắng, mở lối khuynh hướng thơ
xã hội: Đừng Bỏ Em Tôi, Mót Lúa, Nhà Anh Hư Nát Sửa Rồi, Trở Về, Em Bé Việt
Nam; thơ công thức khô khan, ít xúc cảm, nông cạn. Kế đến bài thơ viết thời ở hậu
phương như Phước Thuận, Đống Đa thì kỹ thuật, nội dung chưa tạo một dáng dấp
thơ; coi như giai đoạn tập nghề. Từ 1956 trở lại đây, Bùi Khải Nguyên tiến bộ
không ngờ bắt đầu bằng bài thơ Ẩn Ức, đem đời sống thực đương thời vào thơ,
đánh dấu sự sống một thời của sinh hoạt. Hơi thơ đậm đà, giọng hùng mạnh như bản
tuyên ngôn phóng thích chính trị, nội dung lại rất thơ:“Khi bạo lực cường quyềnĐánh trống thổi kènKhua chiêng gióng mõĐề cao phản bộiCổ võ bịp lừaĐưa danh dự công khai đánh đĩXã hội chúng taHọc sinh làm nghề điểm chỉThầy tu khoác áo công anCông an tiếm quyền nghệ sĩNghệ sĩ làm bồi làm đĩTriết gia chính khách đi buônLái buôn đảm đương chính trịThế kỷ chúng taĐủ hệ thống miệng gang mồm thépSúng dí lưng dân, độc quyền nói phétNói vu nói xấu nói dối nói cànNhiều danh từ được đem ra hãm hiếpẤm no nghĩa là đói rétThương yêu tức là thù ghétCông bằng ám chỉ bất côngTRÍCH BÁO DÂN CHỦ, 1956Bùi Khải Nguyên đã khá thành công về thơ loại này . Đọc thơ nhớ đến lối thơ
kháng cáo của anh em văn nghệ kháng chiến trong thời kỳ chống thực dân như một
Ai Về Bên Kia Sông Đuống (Hoàng Cầm) Viếng Bạn (Hoàng Lộc)...Nhưng bài trên,
ngoài giá trị nhân văn, ông chưa đạt tuyệt đích kỹ thuật, mặc dầu hơi thơ mạnh.
Đến Chúa Nhật Này Đẹp Nắng khai thác nội tâm cách triệt để, mặc dầu giá trị điển
hình không bằng bài trên, nhưng thơ trước tiên phải cảm được. Ông chịu ảnh hưởng
lối nhìn đời đưa vào thơ như thơ tiền chiến Mỹ, đem tiếng lóng vào thơ,
(langage parlé) như Karl Sandburg, mạnh như Robert Frost. Là nhà thơ điển hình
đem tiếng lóng vào thơ, bởi lẽ ông không tầm thường khi làm thơ chính trị công
thức, đem lập trường vào thơ khẩu hiệu ghép chữ, gieo vần đúng công thức đặt
hàng. Người đọc thơ chẳng nên ngạc nhiên đa số thi sĩ máy một thời xu nịnh ấy, ở
đây chúng tôi cố ý bỏ qua không sót. Một số bài Halléluia, Hồi Sinh, Hoa Sen,
Lá Cờ, Cựu Kim Sơn” (trong tập Thiết Tha) đưa thơ tự do đi quá trớn, chưa đạt lối
canh tân thơ tự do.“Kinh thành thơm mùi pop cornBuildingBuildingLên đồiXuống dốcCầuHầmĐại lộPhốXe màuÁo màuVáy màuĐèn màuChi chíChằng chịtCựu Kim SơnXem tấm ảnh, chắc chắn sẽ thích thú hơn đoạn thơ; nhiều cảm giác hơn thơ đọc đoạn
thơ vừa trích đoạn trên.Dưới đây trích đoạn bài thơ hay của Bùi Khải Nguyên. (71)Trích thơ:CHÚA NHẬT NÀY ĐẸP NẮNGEm quỳ trên gạch bôngChống tay lên tấm bốBóng em in nền gạch láng bongEm ngước đôi mắt trongTrời xanh thắmChúa nhật này đẹp nắngThế mà em quên bẵng Hồng ơiEm tới bên cửa lầu mà coiXe màu lượn cứ như thác cuốnXe đi qua, đi lại, đi lên, đi xuốngTắc xi, xe du lịch, xe máy, vét paÁo dài, áo ngắn, áo sọc áo hoaNgười ta lượn qua lượn lại dạo lên, dạo xuốngNgười ta đi ăn, đi uống, đi lễ đi chơiLạy Chúa tôi,Chúa nhật là ngày nghỉ ngơiSao em lại quỳ đây lau chùi, chà, cọSao em không như họHồng ơi! nói rõ anh ngheEm không có xeEm không có áoEm không có bạn traiEm không thích nhởn nhơ đi lượn, phất phơ đi dạoĐi ăn đi uống đi lễ, đi chơiNhư trăm ngàn trai gái khác song đôiTrên đại lộ ngát nước hoa, phấn sápTrong công viên rợp bóng cây xanh mátTrong cao lâu, rạp chớp bóng, nhà thờLạy Chúa,Lạy Chúa,Chỉ vì em nghèo xác, nghèo xơCho nên em chịu bán cho chúa nhà, mồ hôi nước mắtCho nên em làm đầy tớ độ nhậtCho nên từ hừng đôngEm quỳ trên gạch bôngChống tay lên tấm bốEm lau chùi khắp chỗBao giờ nên gạch láng bongBao giờ có xe có áoCó bạn trai mới đi lượn đi dạoĐi ăn, đi uống, đi lễ, đi chơiLạy Chúa tôi,Chúa nhật là ngày nghỉ ngơiChúa nhật này đẹp nắngChúa nhật nào cũng đẹp nắngThế mà em quên bẵng Hồng ơiTRÍCH TRONG BÁO DÂN CHỦBÙI KHẢI NGUYÊNTiết 8PHAN MINH HỒNG (1932 – 197?)Tiểu sử.Tên thật Phan Văn Đường. Sinh năm 1932 ở Hà Tĩnh, học qua Chủng viện Xã Đoàn
Nghệ An. Năm 1952 làm thơ và nổi sau ngày phân chia đất nước 1954. Đã xuất bản:
Mùa Giao Cảm (Cửa Ngõ Nước Việt, 1956) Vượt Sóng (Lam Hồng, 1957). Thơ Phan
Minh Hồng chưa có bản sắc nội tâm độc đáo như thơ Thanh Thuyền, Hoàng Trúc Ly,
nhưng thơ có riêng đường độc đáo khác; thám hiểm biển cả. Mùa Giao Cảm, tập thơ
đầu tay là tâm tư thời thơ ấu, niên thiếu. Thơ Phan Minh Hồng nổi trội là Vượt
Sóng. Thơ biển cả ở đây không công thức cố định cái neo, chiến hạm, biển, sóng,
mà nói thầm lặng lòng sâu vô biên của biển cả. Hình ảnh dịu dàng cho người đọc
tưởng nhớ đại dương, và trong thơ ông là người đầu tiên khai thác biển cả hòa hợp
con người. Vượt Sóng, chưa đủ làm thỏa mãn hoàn toàn, song hình ảnh, bản sắc
thơ biển cả của ông đã có giá trị ở tầm mức nhất định.Trích đoạn :QUÊ EM(...) Tới Manila thủ đôVẫn những ruộng đồngLúa trĩu bông vàng no ấmVẫn những dòng sôngTháng ngày truyền muôn sức sốngNhững bãi mía xanh cây tímỦ ngọt tình thươngNhững dãy tre làng lả ngọnKhói lam chiều vờn quanh mái tranhVẫn những đàn em quê nho nhỏCỡi trâu nghe chim hót trong cànhVẫn những tháp thánh đường cao vútAnh thầm nghe lời nguyện ước cầu kinhNhững hồi chuông ban trưa văng vẳngLà ngọn cỏ lan mãi tới trời xanhAnh đã gặp nguy nga tráng lệNhà cao đường rộng kinh thànhNgười như nêm và rừng xanh đỏHân hoan trong cuộc sống đang lênNghĩa là anh đã gặp quê anhTrong những nét quê em yêu dấuEm ơi! đời anh đời chiến đấuGhé quê em tìm hiểu nghĩa yêu thươngRồi ngày mai qua sóng gió quê hươngAnh lại quay về Việt Nam đất mẹSẽ nhớ người em Phi nhỏ béYêu bao nhiêu khi môi hé Việt NamViệt Nam anh đây tình thắm hân hoanAnh gửi em qua lời thơ tha thiếtAnh nhớ lời em: chiều hôm chia biệtChẳng buồn nhiều mà sao đã nao naoSẽ gặp nhau xin hẹn một hôm nào1957Trích trong báo Luyện ThépPHAN MINH HỒNGTiết 9TIỂU MỤC:1. HÀ LIÊN TỬTên thật Nguyễn Ngọc Biên. Sinh năm 1927 ở Tân An, Long An. Tác giả nhiều thơ
đăng báo trên Đời Mới, Thế Giới, Quân Đội, Văn Nghệ Tiền Phong v.v...Tâm trạng cá nhân rung cảm với xã hội đang sống, hướng về tình yêu. Thơ chung
chung, chưa có bản sắc.HẸNNhớ ngày điKhông kịp giã xóm làngHồn sông núi nặngMái đầu xanh tóc!Nhà ai lửa bốcVườn ai tan hoangRuộng đồng nắng giải sương chanLúa xanh không cấy, dạ càng xác xơTrăng suông chừng nhạt ánhQuê nghèo khung cửi lạnh thoi tơBao nhiêu là tâm tưRưng rưng sầu thế hệMột cười ngạo nghễNam nhi hề ra gánh lấy giang sơnNhớ ngày ra đi không kịp giã xóm làngDặm ngàn bặt nẻoTin về vắng như chim câuKhói lửa nhuộm màuLung linh sóng mắtSa trường tanh máu giặcHồn nào ngược nẻo bóng quê hươngThế rồiGiữa một chiều sươngNgang qua xóm nhỏBa lô xười nghiến áo mốc bụi đườngTình ai khép népMắt nhìn lưu luyến chút tơ vươngRồi thôiBóng khuấtMây gió bâng khuâng hay lòng se thắtĐường sương chiều loang nhẹ vương chân traiNày nhéHỡi tấm lòng mong đợiRa đi là quyết hẹn mai vềQuê nghèo không vắng nữaNhững bàn tay xiết chặtĐồng tâm xây dựngẤm mái nhà tranhRuộng vườn lên sắc xanhHò ơCó cô con gái mắt lànhSay say nắng mới nghiêng vành nón cheGió mưa lay nhẹ cành treXôn xao khúc hát đồng quê vụt ngànAi về qua mấy thôn trangCon đò xưa vẫn còn sang đôi bờNhưng thôi đừng hẹn mong chờ...TRÍCH BÁO QUÂN ĐỘIHÀ LIÊN TỬ2. KIÊN GIANG – HÀ HUY HÀ.Tên thật Trương Khương Ninh. Sinh năm 1929 ở Rạch Giá. Còn ký riêng Hà Huy Hà,
sống bằng nghề báo, viết kịch, thường viết cho: Tiếng Chuông, Đời Mới, Nguồn Sống
Mới, Duy Tân...sau ký tên Kiên Giang – Hà Huy Hà.
Tác giả nhiều vở tuồng còn bút hiệu Cửu Long Giang. Thơ đăng
rất nhiều trên báo, bắt đầu nổi tiếng từ bài: Đợi Anh Về đăng trên Đời Mới
(1953). Giọng và hơi thơ Kiên Giang - Hà Huy Hà là thơ lục bát tình quê thi sĩ
Nguyễn Bính tiền chiến. Nhiều bài thơ viết theo thể lục bát, thơ mới rất ít và
càng ít thơ tự do. Như Thanh Thuyền, Hoàng Trúc Ly, ông chỉ trội ở thơ mới, diễn
đạt nội tâm. Đợi Anh Về ca tụng lòng thủy chung người đàn bà đợi chờ chinh phu
đi cứu nước. Thơ ông có bản sắc riêng.
Trích thơ
TÌNH QUÊ, TÌNH NƯỚC
Ai yêu nước Việt hơn người Việt
Nhau run chôn sâu giữa đất lành
Bông trái muôn màu không ngớt chín
Sông đầy nước bạc, núi xanh xanh
Luống cày màu mỡ thơm mùi đất
Vun bón rẫy vườn bông trái thơm
No ấm cũng nhờ bông với trái
Áo đời vẫn ấm hột cơm ngon
Kìa nước trường giang chảy uốn quanh
Giữa giòng sông mát bóng dừa xanh
Có cô lái trẻ nâu tà áo
Chèo trước đò ngang trước bến đình
Nào ai lăn lóc xa quê cũ
Mê chốn phồn hoa trắng bụi đường
Giây phút chạnh lòng sao khỏi nhớ
Nhớ nhà, nhớ đất, nhớ quê hương
Nhớ quê có những đêm trăng sáng
Sáng cả vườn xanh, sáng mộng vàng
Con trẻ quây quần theo gót mẹ
Lên chùa cúng Phật để dâng hương
Nhớ tiếng võng đưa trăm điệu nhạc
Hòa theo tiếng hát giọng ầu ơ
Từ môi người mẹ thân yêu quá
Gợi lại bao tình thuở ấu thơ
Tiếng chày nắng nặng trên không gian
Cùng tiếng gà trưa gáy trễ tràng
Tiếng tập đánh vần cùng nhịp thước
Buồn như nước chảy giữa trường giang
Ai quên cho được mái tranh nâu
Luống đất bờ ao với nhịp cầu
Mồ mả ông bà nằm giữa đất
Lòng người lòng đất cảm thương nhau
Quê hương là máu là xương thịt
Nước mắt mồ hôi của giống nòi
Tranh đấu từ bao nhiêu thế kỷ
Bảo tồn gấm vóc đến muôn đời
Còn sống ngày nào trên đất nước
Tình nước thúc giục súng với gươm
Lòng dân võ trang bằng tình cảm
Tay dân võ trang bằng súng đạn
Dân đứng lên siết chặt quân hàng
Giặc vào đây giặc sẽ rã tan
1954
TRÍCH NGUỒN SỐNG MỚI
KIÊN GIANG
3. THẾ VIÊN (1935 – 1993)
Tên thật Hồ Thế Viên, sinh ở Huế. Học qua trường Khải Định, khi còn theo học
ban chuyên khoa đã gửi thơ đăng báo Đời Mới, Văn Nghệ Mới, Thẩm Mỹ, Văn Nghệ Tiền
Phong... Tờ báo cộng tác về sau này, lúc đó ông đã trở thành giáo sư trung học ở
Phan Thiết. Bài thơ đặc sắc như: Ta Mua Thêm Rượu Thêm Trầu Cưới Em trữ tình,
có hình tượng mới của thanh niên nam nữ; hoặc Bài Ca Việt Sử ca tụng sự tồn
vong dân tộc. Thơ Thế Viên ca tụng thiên nhiên, lứa thanh xuân. Tóm lại, lớp
nhà thơ mới như Thế Viên, tuy chưa xuất bản thi phẩm, (72) song nhiều bài thơ
đăng báo bộc lộ có bản sắc độc đáo. Ông qua đời ở Sài Gòn vào 1993.Trích thơ:CUỐI CÙNGGiữa cuộc sống trần gian đầy hoa bướmTôi mê say trong câu hát tiếng cườiĐẹp môi hồng những lứa tuổi hai mươiTim son trẻ nẻo đời đơm bông tráiTrong những phút thần tiên trao ân áiTrong những giờ e ngại buổi yêu đươngThời gian qua trong cảnh mộng thiên đườngTôi réo gọi những muôn hình muôn sắcCủa trăng sao, của trời đêm dầy đặcCủa ban mai của nét mặt hoa niênCủa mùa thu trong giếng mắt u huyềnCủa em gái mười lăm năm tóc xõaNgày cuối cùng nợ đời tôi phải trảChết hình hài nhưng sống ở tâm linhTôi sẽ mang theo trọn vẹn ân tìnhCủa cảnh đẹp trần gian về xứ lạTôi sẽ mua những tiếng cười rộn rãCủa người yêu như dâng cả môi hồngVà nét u hoài giữa đáy mắt trongCủa thiếu nữ khi dâng cả môi hườngVà nét u hoài giữa đáy mắt trongCủa thiếu nữ khi chờ mong tình áiTôi sẽ đi về và mong ngày trở lạiCuộc đời tròn hoang dại thuở ban sơÔi! Người em bé bỏng tóc buông hờCuối cùng chết, tôi say mê tuổi trẻTRÍCH TRONG BÁO VĂN NGHỆ TIÊN PHONGTHẾ VIÊN4. CHẾ VŨ (1931 – 1961)Tên thật Hồ Xuân Tịnh. Sinh năm 1931 ở Huế, chính quán thành phố Vinh. Thời kỳ
kháng chiến đã hoạt động văn nghệ, về Thành mới in thơ. Đã xuất bản Hoa Tâm Tư
(1956) gồm hơn hai chục bài, hầu mượn nguồn cảm hứng, vay mượn người đi trước.
Kỹ thuật chưa có gì sâu sắc, hay dùng từ ngữ sáo. Nguồn rung cảm cá nhân vị kỷ,
nhưng chưa nói lên thành khẩn được ý muốn ấy. Chịu ảnh hưởng, gần như là quá
trung thành, khờ khạo trong thơ tình Xuân Diệu. Chẳng hạn ở bài Tha Thiết. Sau,
ông có giọng, hơi của người thơ có tâm hồn, nhưng thơ chưa mấy thuần thục, tư
tưởng xáo loạn, tiếng thơ chưa bứt lên được. Trong tập thơ trên có đôi bài hay,
chẳng hạn Em Tôi chân thành, xúc cảm. Phê bình tập thơ đầu tay của Chế Vũ, ông
Uyên Thao nhận xét có phần xác đáng:“...Thơ anh cũng tỏ ra hứa hẹn một tương lai đẹp đẽ, song điều kiện để tiến tới
là: vấn đề chỉnh bị con người theo quan niệm riêng ấy, chúng tôi hy vọng và
chúc anh sẽ tự thắng trong những bước đường tới. Và, tuy chưa hề nghĩ sẽ viếng
cho anh một vòng hoa, chúng tôi vẫn sẵn sàng gửi lời chào mừng anh ở ngày tới.
Riêng trong Hoa Tâm Tư ngoài hết mọi điểm đã trình bày, tôi muốn nhắn cùng Chế
Vũ: Hãy nên quay về với những nguồn cảm hứng của mình hơn là vay mượn...” (72)Phan Minh Hồng dồn đọng váng tâm tư trong tập thơ đầu Mùa Giao Cảm, cùng ý
nghĩa với Chế Vũ, Hoa Tâm Tư chỉ là cảm giác xáo loạn trong tâm hồn, rung cảm
mà chưa diễn tả được. Chẳng bao lâu, qua những bài đăng trên báo Tầm Nguyên như
Đêm Không Ngủ, một tiến bộ đạt được ở nội dung không ngờ. Tiếp Là Tình Em Ở
Đâu, Giá Anh Không Là Thi Sĩ, Cho Mai Sau, thơ ca tụng tình yêu lứa thanh xuân
rất chân thành, độc đáo, rung cảm chính là của ông như triết học cho là
engagement en soi, biết nhận phận mình. Thái độ thật can đảm khi biết rằng ông
đi vào nghiệp thơ những bước mạnh bạo. Chúng tôi nhớ đến P.Istratð nhà văn nổi
tiếng tiền chiến Lỗ Mã Ni từng ăn sà lách trừ bữa, đi trạc tàu, bỏ gia đình,
thân quyến giàu có đến Paris chỉ để viết văn. Sau thành công, cuối cùng trong
Vers l’autre flamme (tạm dịch: Tới Ngọn Lửa Khác) ; ông vẫn chưa dấn thân nhận
phận, nên đã thốt: Thật là đau đớn cho tôi thành một văn sĩ, mà ban đầu tôi háo
hức lắm. Trích một bài thơ của Chế Vũ, minh chứng thơ thành công, xứng đáng là
nhà thơ hôm nay. Thơ mang hình tượng mới cá nhân chan hòa nhịp sống mới nhiệm
màu. (73)TÌM EM Ở ĐÂU?Anh biết tìm em ở đâu?Chẳng lẽ tìm em trên hết địa cầuNgày đi không chờ đợiThao thức tàn canh đêm dài trăng trốiLòng thẳm như hố sâuTuổi xế ba mươiVẫn chưa một lần phạm tội.Sao còn bắt anh chờ đợi.Sao còn bắt em mắt buồn ngõ tối?Vẫn biết cuộc đời không bùn lầy lộiKhông là đêm ba mươiTrăng còn bên kia thế giớiNhưng ai có thích đợi chờCuộc đời đi hoang qua muôn ngàn tuổiTa sẽ tìm nhau ở đâu?Đời còn chưa hấp hốiVẫn yêu nhau bạc đầuVẫn đi tìm dẫu suốt đêm sâuTai hôm nay nghe cuộc đời mưa gióNghe mươi phương nắng nởTim anh se buốt đợi chờVẫn không hề phẫn nộVẫn qua đêm dài nín thởĐi tìm đôi mắt emĐi tìm một ánh sao đêmCho cuộc đời vui như hội chợGiờ định tìm em ở đâu?Đừng bắt tìm em trên suốt địa cầuChân anh từng biết mỏiAnh sẽ có trọn đời không phạm tộiCho lộc trời rớt xuống trần gianAnh thích làm người, lòng chan chứa yêu thương.CHẾ VŨ5. DIÊN NGHỊTên thật Dương Diên Nghị. Sinh năm 1933 ở Huế. Bạn đồng học, đồng nghiệp thơ với
Thế Viên, Thanh Thuyền, Tạ Ký, Kiêm Đạt... Đã xuất bản: Xác Lá Rừng Thu (NXB Lạc
Việt, 1957). Ban đầu đăng trên các báo Đời Mới,
Thẩm Mỹ, sau Văn Nghệ Tiền Phong v.v... Như Thế Viên, Diên
Nghị có xu hướng khai thác hình tượng lứa thanh xuân trong thơ. Và thơ tranh đấu
thì tầm thường. Thi phẩm đã xuất bản chỉ tìm được một bài Rừng Thu khá hay, còn
ra nhạt nhẽo, giả tạo, ít rung cảm. Trong bài Hoa Cà Lá Mướp sao chép thơ Trần
Hữu Thung qua bài Thăm Đồng. Vì thế, thơ chưa tạo được bản sắc riêng; ít nhất
có hai cách chịu ảnh hưởng, như Quách Thoại chịu ảnh hưởng bài thơ Trở Về của
Xuân Diệu lấy đà sáng tạo thành bài thơ hay Cờ Dân Chủ. Tô Hà Vân (Nguyễn Đình
Toàn) chịu ảnh hưởng Những Người Đi Qua Làng thơ Hữu Loan để viết thành Ngày Em
Về Thăm Quê. Bài thơ khá hay; nhưng giống trường hợp sao chép thơ Trần Hữu
Thung mà Diên Nghị mắc phải trong bài Hoa Cà Lá Mướp.Trích thơ:HÌNH ẢNH BUỔI ĐẦUEm giữ bên anh một ảnh hìnhMột hồn thi sĩ lựa đầu xanhMột đàn bướm trắng đùa trong gióMột sớm hoa xoan nở đỏ cànhBởi một ngày mai anh sẽ xaMộng xây lên mộng cũng phai nhòaDuyên xưa cũng tắt hoàng hôn tímTình cũng bao tàn số kiếp hoaĐôi nẻo đường về ngại nắng mưaSong thu khép kín tự bao giờNến gầy, canh lụn, đau lòng sáchChữ cũng như người dáng ngẩn ngơ.Em giở từng trang đọc từng tênTừng đêm hè quanh lại từng đêmBài thơ tâm sự càng heo hắtNgười ấy năm nào em lỡ quên?Hoa phượng rưng rưng rụng trước lầuMà nghìn năm nữa vạn năm sauThời gian chùi sạch mầu son trẻEm cũng không quên được buổi đầu.TRÍCH TRONG BÁO VĂN NGHỆ TIỀN PHONGDIÊN NGHỊ6. HUYỀN VIÊM.Sinh năm 1930 ở miền Trung. Xuất bản Thơ Mùa Chinh Chiến (1956) và nhiều thơ
đăng rải rác trên các báo Đời Mới,
Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tiền Phong. Lớp nhà thơ đồng lứa
Phong Sơn, Tường Phong, Duy Năng,... cùng hoạt động văn nghệ trong một thời đoạn.
Huyền Viêm nhà thơ tâm tình, hầu hết thơ trong tập đạt kỹ thuật, già dặn; nhưng
ít hình tượng mới, nhạc điệu, âm thanh, từ ngữ dồi dào nhưng ít tỏ bầy cảm nghĩ
sống suy cảm mới. Giọng và hơi thơ Huyền Viêm như còn sót lại từ tiền chiến, nếu
so sánh thơ với hai mươi lăm năm trước ít có gì mới.Trích thơ:VẤN VƯƠNGRồi một chiều nao chẳng hẹn vềCó chàng trai trẻ vội ra điNắng vàng dệt mộng trên hoa láNhư mộng nàng tiên buổi dậy thìTơ liễu Hồ Gươm vẫn rủ buồnNhững dòng tơ lệ khóc trăng suôngChao ôi! Thăm thẳm là đôi nẻoCó kẻ vời trông đến mỏi mònNgày tháng chôn sâu dưới bóng chiềuBao mùa hoa bướm bấy cô liêuTrăng xưa thắm đọng dòng tâm sựNẻo hướng dương mờ bóng dáng yêuĐây một bờ sông kia bến sôngNước xanh khôn nối lại đôi lòngNgười xa ví biết buồn ly cáchSoi thấu tâm tình giếng mắt trongNhớ một hoàng hôn, hai hoàng hônSương sa giá buốt cả tâm hồnChiều nay trở gió về phương BắcNghe nhạc u hoài vọng cuối thôn1957TRÍCH BÁO VĂN NGHỆ TIÊN PHONGHUYỀN VIÊMKẾTVỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)Giai đoạn kháng chiến, từ 1945 đến
1950 Việt Nam độc lập được gần một năm. Tiếp, Pháp chiếm lại Hà Nội, (ngày 19
tháng 12 năm 1946) cho dù đảng phái Quốc hay Cộng đều bỏ phù hiệu riêng, đoàn kết
trong danh xưng kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng. Suốt chín năm
(1945–1954), thì kháng chiến ở bốn năm về sau, đã hao hụt thực chất; Mác xít ra
mặt lãnh đạo – và cho đến 20–7–1954, phân chia đất nước, danh xưng toàn dân
kháng chiến mất hẳn ý nghĩa. Song trên bình diện văn nghệ, ý thức toàn dân
kháng chiến tạo được nền văn học có chiều sâu và rộng.Giai đoạn văn nghệ phân hóa, văn nghệ Mác xít – theo
hẳn lối sáng tác được chỉ huy, nhất là sau 1954 miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa. Còn Quốc Gia và miền Nam (VNCH) văn nghệ chỉ là vườn hoang, mọc đủ loại thảo
mộc. Trong tập này, với người khe khắt cho quá nhiều – người dễ dãi cho chưa đủ.
Với tôi, vẫn chỉ là bắt voi bỏ giọ, và tất nhiên chủ quan; thiếu sót tất nhiên
không thể tránh. Nhìn vào những người viết sách nhận định văn học trước như Vũ
Ngọc Phan kết luận cuối trang sách phê bình văn học, có đoạn:“... Trước hết, bộ sách này là bộ phê bình văn học như
tôi đã nói nhiều lần, vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà
văn. Sau nữa, trong khi tôi viết những trang phê bình về thơ, có nhiều thi sĩ
chưa có quyển thơ nào xuất bản, về kịch hay tiểu thuyết, có nhiều nhà văn chưa
có sách biên khảo, chưa có kịch hay tiểu thuyết ra đời. Như vậy, biết căn cứ
vào đâu cho chắc chắn? Rồi lại những nhà văn chính trị tuy đã có văn thơ in
trên báo chương hay xuất bản thành sách, cũng không có trong bộ sách này, vì một
lẽ mà ai cũng hiểu khi nhớ đến chế độ hiện hành về sách báo. Còn những nhà văn
chuyên viết những sách Pháp văn thì tôi cho là không phải nói đến trong văn học
Việt Nam. (...) Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa rằng bộ Nhà Văn Hiện Đại này
chỉ là một bộ phê bình văn học, không phải là bộ văn học sử. Trong văn học sử,
người viết cần phải xét rất kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến văn phẩm, rồi lại
phải định rõ cả sự liên lạc của nhà văn nọ với nhà văn kia đồng thời hay khác
thời đại. Nếu không đủ được những điều cốt yếu ấy, để định rõ phong trào văn học,
thì dù có văn học sử đi nữa, người ta cũng chỉ coi là một mớ sử liệu...” (1)Thời gian này tác phẩm viết bằng Pháp ngữ như Phạm Duy
Khiêm với Légendes des terrres sereines và Nam et Sylvie; hoặc Nguyễn Tiến Lãng
Le Chemin de la Révolte; Phạm Văn Ký: Frère de Sang, Celui qui régnera; Cung Giụ
Nguyên Le Fils de la baleine – sử học Lê Thành Khôi với Le Vietnam, Histoire et
Civilisation v.v..., không nói đến, cũng như lý do mà ông Vũ Ngọc Phan đề cập tới
ở trên. Đến nhà chính trị văn sĩ Hồ Hữu Tường với Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc bỡn
Nga, ... thì cũng vậy. Cả đến loại sách trinh thám kỳ tình, kiếm hiệp, phong thần,
phỏng dịch chắp vá được gọi là tác phẩm văn học – chúng tôi xin phép không nói
tới. Rõ hơn là Phạm Cao Củng có mặt từ tiền chiến với Kỳ Phát; hoặc truyện Người
Nhạn Trắng cũng thế v.v... Tác giả Hoàng Như Mai, thời gian 1950–1954 trong
kháng chiến; chúng tôi đưa vào cuốn này; vì vở kịch Tiếng Trống Hà Hồi đặc sắc
được in trình diễn ở Hà Nội. Có thể nói điển hình bộ môn kịch là Tiếng trống Hà
Nội. Bước sang bộ môn biên khảo, đưa Duy Sinh vào một tiết, như một điển hình
cho lớp người viết biên khảo; cũng vẫn chủ quan, so với Diên Hương, Thu - Giang
- Nguyễn - Duy - Cần; Khi đối chiếu lại thì, Duy Sinh không thể giá trị bằng
hai nhà biên khảo vừa nêu danh.Trở lại bình diện văn nghệ hậu chiến, tập 3 gồm trên
dưới một trăm nhà văn; chọn ba mươi điển hình nói tới cặn kẽ; so với người khác
viết tóm lược. Cũng vẫn chủ quan thô thiển và tự nhận thiếu sót. Bởi còn nghĩ
xa hơn rằng: "không thể viết đầy đủ các nhà văn mình muốn đưa vào một quyển,
thay vì mỗi nhà văn điển hình phải viết hẳn một cuốn nói về họ".Nên coi những trang viết này chỉ là chữ viết
(écriture) trong bộ sách này, và không là văn học (littérature); như quan niệm
của Michel Buto (2). Lẽ trang viết có ý nghĩa tổng quát hơn. Còn nữa, bộ sách
này chỉ là kết quả viết về tác phẩm các tác giả mà tôi đã đọc, đưa ra nhận xét
của riêng tôi; giúp cho nghề tôi nuôi nghiệp (littérateur). Từ 1950 đến 1956,
biến chuyển thời cuộc tác động đích thực vào đời sống văn học mà nhà văn sống
trong đó. Ở miền Bắc của Quốc Gia Việt Nam (1950 – 1954) nhóm Thế Kỷ tạo thành
một Triều Đẩu, qua những mảnh đời phóng sự hồi cư nóng bỏng, hàng ngày phải đối
phó với đời sống, tạm gọi độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Còn thêm nhà
văn điển hình như Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, (truyện),
Bến Nước Ngũ Bồ (kịch dã sử), Nguyễn Minh Lang, ngọn bút tài hoa của văn chương
lãng mạn mới, qua Gái Hà Nội, Nước Mắt Trong Đêm Mưa, Cánh Hoa Trước Gió (2 tập)...
Hai nhà văn này, chúng tôi đề cập ở Chương 3 (tiết 2 và 4) – nhưng tập 3 này xuất
bản ở Sài Gòn vào 1959 (Loại sách Đại Nam văn hiến trong nhà xuất bản Huyền
Trân, Nhật Tiến chủ trương) bị kiểm duyệt bỏ trọn tiết. Bản in lại lần thứ hai
in lại đầy đủ; nhưng trong lần này vẫn phải để trống phần phân tích; vì lý do tầm
thường – không kiếm được bản tái bản vào 1973. Hai nhà văn điển hình khác nói đến
trong Chương 3 là Thanh Hữu, Văn An. Về nhà thơ điển hình: Đinh Hùng, Nguyễn Quốc
Trinh... Viết tóm lược nhà thơ: Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Băng Sơn, Vân
Long, Trần Nhân Cư... Bình diện văn nghệ miền Trung (Quốc gia Việt Nam) vào
giai đoạn này, nhà thơ điển hình được nói đến : Huyền Chi (nữ), Hoài Minh,
Thanh Thuyền. Viết tóm lược các nhà thơ: Hồ Đình Phương, Huyền Viêm, Thế
Viên...Bình diện văn nghệ miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nhà
văn điển hình: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo (nữ), Triều Lương Chế, Phạm - Thái -
Nguyễn - Ngọc -Tân Phạm Thái kèm tên thật Nguyễn Ngọc Tân, phân biệt với một Phạm
Thái khác), Chấn Phong Hư Chu. Viết tóm lược: Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ),
Thiếu-Mai-Vũ-Bá- Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm
Minh, Nguyễn Hoài Văn, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân... Một số nhà văn khác nổi tiếng
sau giai đoạn 1956 như Võ Phiến chưa có tác phẩm xuất bản. Phải kể thêm trong số
đó: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, (nữ),
Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng (nữ), Võ Hồng, Thế Uyên, Tuấn Huy, Thế Nguyên,
v.v... của Đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 trở đi). Riêng về phóng sự tiểu thuyết:
Hoàng Hải Thủy với Vũ Nữ Sài Gòn (3), Duyên Anh qua bút hiệu Thương Sinh, Toàn
Phong với Đời Phi Công, chúng tôi chưa có cơ hội nói đến, và nhờ Vũ Ngọc Phan
giúp giải vây sự khốn đốn; ... vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất
cả nhà văn... Thêm nữa, khoảng thời gian viết đến lúc in ra (dầu cho là in
ronéo-typé cách vài năm). Do đó, chưa kịp nói đến Võ Phiến (Chữ Tình), (4) Thế
Uyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Toàn Phong , Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Thế
Nguyên, Văn Quang (Thùy Dương Trang), Huy Trâm, Phạm Nguyên Vũ, Túy Hồng (nữ),
Lê Vĩnh Hòa, Nhật Tiến, (văn) v.v... – Về thơ: Thái Thủy, Tô Thùy Yên, Tôn Thất
Quán, Hoàng Khanh, Cung Trầm Tưởng, Cao Mỵ Nhân, Viên Linh, Trần Dạ Từ (khi ấy
ký Hoài Nam), Hoài Khanh, Hà Yên Chi v.v... và v.v... (5).Giá trị văn chương tiền chiến Tự Lực văn đoàn, có cả
Lê Văn Trương, (tập một: Nhà văn tiền chiến), tiếp đến giá trị văn chương lửa
kháng chiến; sau là hậu chiến. Đọc Bướm Trắng, Nửa Chừng Xuân. Mấy Vần Thơ, Gửi
Hương Cho Gió, Vang Bóng Một Thời, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giông Tố... không nhìn
thấy đầy đủ hình tượng sống cuộc sống hôm nay được thấy trong: Gió Bấc, Truyện
Năm Người Thanh Niên, Trên Vỉa Hè Hà Nội, Cánh Hoa Trước Gió, Trại Tân Bồi,
Nhìn Xuống, Điệu Đàn Muôn Thuở, Đêm Giã Từ Hà Nội, Sợ Lửa, Rừng Địa Ngục....
Văn nghệ là sản phẩm phản ánh thời đại, nên Kim Vân Kiều có hay đến mức thượng
thừa – cũng chưa thể đại diện cho một khoảng thời gian không tiếp nối. Tác phẩm
Nguyễn Du mới chỉ nói lên đầy đủ về xã hội phong kiến giao thời mà tác giả Kim
Vân Kiều sống – đủ một số điều tương đồng hiện cảnh. Không thể nói đến Kim Vân
Kiều là đủ điều tất yếu hình tượng sống lịch sử. Tác phẩm của Karl Marx,
S.Freud cũng bị vượt qua, hiện nay vẫn cần khối óc siêu việt Oppeheimer,
Einstein, Gandhi, JP Sartre v.v...Phải hiểu được rằng: lịch sử một nước như lịch sử văn
học, luôn theo đà diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Nói khác đi, sử học, văn học
sử một nước không thể cắt quãng, cũng không tùy thuộc vào lập luận một phe nhóm
nào để định giá trị vĩnh viễn. Rất cảm phục lập luận của Vũ Ngọc Phan dẫn trên
kia; được gọi văn học sử, phải xét kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến tác phẩm,
định rõ liên hệ (chữ dùng: TP) giữa nhà văn này với nhà văn nọ, định rõ phong
trào văn học. Càng rõ hơn, được gọi văn học sử, ít ra phải làm được một bộ sách
Lịch Sử Văn Chương Ngôn Ngữ Pháp (tạm dịch Histoire des littératures de la
langue française) (6) do nhóm chủ trương gồm 209 giáo sư văn học thực hiện bộ
sách vĩ đại ấy.Cảm ơn số bạn giúp tài liệu, ý kiến, khích lệ, động
viên, khi tôi khởi sự viết bộ sách này. Như họa sĩ Đinh Cường cởi áo, ngồi xệp
trên sàn gác căn nhà trọ cùng tôi chia giúp những trang sách in ronéotypé xếp
thành tập vào 1959, ở hẻm nhà thờ Lý Thái Tổ (Chợ Lớn). Uyên Thao mượn cho chiếc
máy chữ, có lịch sử sản xuất cùng thời kỳ Tây hạ thành Hà Nội. Nguyễn Quang Tuyến
nuôi ăn ở hàng năm, tôi ra thư viện đọc sách. Cùng với nhiều thư tình đầy tâm
huyết người - tình - bậc - chị đến từ Hong Kong (nàng gọi Cảng Thơm) khích lệ
người - em - bạn - tình miệt mài với chữ và nghĩa. Lại không thể quên bạn vong
niên Phan Văn Thức cấp tiền ăn sáng, giấy stencil và thẩm phán Đào Minh Lượng,
khi là sinh viên Trường Luật mua bánh mì dùng bữa trưa để tôi ngồi lì ở Thư Viện
Quốc Gia làm mọt sách. Cũng không thể quên chịu ơn André Gide, qua cuốn sách viết
phê bình về Fédor Dostoievskï (7) và cả Textes philosophiques của V.Biélinsky
(8) nữa.THẾ PHONG
PHẦN THỨ BA
VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956
[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)
CHƯƠNG SÁU
KHÁI QUÁT VỀ CÁC NHÀ VĂN BIÊN KHẢO
Tiết 4. – KẾT LUẬN VỀ CÁC NHÀ VĂN BIÊN KHẢOHiện tình biên khảo bình diện văn nghệ hôm nay nghèo nàn, hơn
cả so sánh với tiền chiến. Ở hậu chiến, không mấy nhà văn biên khảo, dịch thuật,
nhất là cây viết phê bình chuyên nghiệp. Nhà phê bình văn học còn sót lại tiền
chiến đến nay, lối phê bình quảng cáo điểm sách hàng tuần tắc trách, không
nghiên cứu đúng mức; đó là Thượng Sỹ (Nguyễn Đức Long). Ông còn bút danh khác:
Huỳnh Bội Hoàng, Hàm Anh. Nói thế, chúng tôi vẫn nhận định được bài giá trị
bình văn của ông; nhưng quá ít; chỉ là cái váng mờ ảo. Lúc đầu, tôi cho ông thiếu
kiến thức, tâm hồn rung cảm, thiếu trách nhiệm. Bây giờ, ngoài nhận định về ông
ở trên, thấy rằng có kiến thức, nhưng thiếu thái độ nên trở thành học - giả -
giả. Còn nhà phê bình văn học mới nổi lên; có tâm huyết, có thái độ; kiến thức
lại chưa sâu, trong đó kể cả chúng tôi. Và nghiên cứu văn học chưa quy mô, hệ
thống hóa vấn đề, chưa đạt được một lời nói là một hành động thì phải kể đến
Duy Sinh, Hồ Nam, Kiêm Đạt, nhà văn biên khảo sau không là nhà phê bình văn học.Không ai có thể chối cãi phê bình văn học quan trọng, nếu có thái độ đúng đắn,
không phải như Mark Twain chủ quan cho nhà văn hư hỏng trở thành nhà phê bình
văn học. Nếu đúng vậy, làm sao có André Gide với cuốn La nouvelle critique:
Dostoievski, (Tạm dịch: Lối phê bình mới về Dos.), Stephan Zweig chung đề tài ấy,
mà họ còn là những tiểu thuyết gia Pháp, Đức. Không có V.Biélinsky chưa chắc
tài năng Dostọevskï được đưa ra ánh sáng, không có Maxime Gorki với tinh thần
phê bình hướng thượng, làm sao khám phá được Maðakowski?. Là nhà phê bình văn học,
ngoài kiến thức có; còn phải là nhà văn có tâm hồn, nhà thơ nhạy cảm, có tư
thái, độc lập tư duy, cộng công bình không vị nể, thiên vị, thiên tư lập trường
can đảm; mới có thể phê bình đúng mức. Đành rằng nhà phê bình không cần là nhà
văn, nhà thơ; nhưng nếu thiếu tâm hồn rung cảm, tiếp nhận bén nhạy hòa hợp với
kiến thức, thái độ; thì làm sao mà hiểu, cảm nhận được ý nghĩ thầm kín tác giả
trong tác phẩm. Tiền chiến, Vũ Ngọc Phan còn là tác giả tập truyện ký Chuyện Hà
Nội, Hoài Thanh có tâm hồn, nên xét giá trị Nhà Văn Hiện Đại (4 tập 4 gồm tập
thượng và tập hạ) Thi Nhân Việt Nam đến nay còn giúp cho người đi sau nhiều tài
liệu. Tôi cho rằng cuốn văn học sử đúng đắn phải tập hợp được một số nhà văn
nghệ có tiếng, có lập trường, thái độ, kiến thức hợp soạn mới mong có sách phê
bình văn học giá trị. Công việc này chỉ hoàn thành được khi nhóm người ấy tập hợp
độc lập ngoài phạm vi kiểm soát chính trị, tóm lại tư thái độc lập toàn diện.Tiết 1NGUYỄN HIẾN LÊ (1912 – 1984) (74)Tiểu sử và tác phẩm:Dùng tên thật làm bút danh trên các văn phẩm, như tên nhà xuất bản của chính
ông.
Sinh năm 1912 ở Hà Nội. Học Trường Bưởi Hà Nội, sau theo
ngành công chính, vào Nam từ năm 1935. Ngay từ giai đoạn ấy, đến năm 1945, ông
có viết sách nhưng chưa xuất bản. Năm 1948 lên Sài Gòn, cho ra mắt tác phẩm: Tổ
Chức Công Việc Theo Khoa Học, Tổ Chức Gia Đình, Tổ Chức Công Việc Làm Ăn, Hiệu
Năng, Châm Ngôn Của Doanh Nghiệp, Kim Chỉ Nam Của Học Sinh, Để hiểu Văn Phạm,
Luyện Văn I, II, Nghệ thuật Nói Trước Công Chúng, Thế Hệ Ngày Mai, Huấn Luyện
Tình Cảm, Đắc Nhân Tâm (dịch Canergie) Quẳng Gánh Lo Đi, Bảy Ngày Trong Đồng
Tháp Mười (bút ký lịch sử) Lịch Sử Thế giới (viết chung với Thiên Giang) Đại
Cương Văn Học Sử Trung Quốc (3 tập) viết chung với Giản Chi, Sống 24 Giờ Một
Ngày (dịch) Bí Quyết Để Thi Bằng Cấp Trung học (giáo khoa), Đông Kinh Nghĩa Thục
(tài liệu sử học) Giúp Chồng Để Thành Công” (dịch), Săn Sóc Cách Nào cho Con Em
Mau Tấn Tới,.v.v.Là nhà văn biên khảo xuất bản nhiều vào bậc nhất, về lượng. Qua những tác phẩm
trên, ông viết gần như là bách khoa: giáo khoa, gia đình, văn học, văn nghệ,
biên khảo tài liệu lịch sử, triết học… Ở đây chỉ phân tích tác phẩm văn học.Nhận định phê bình:Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười, tác giả ghi lại sự kiện lịch sử địa phương, nếp
sinh hoạt, phong tục, tính tình, dưới nhỡn quan nhà học giả đúng đắn, có tâm hồn.
Giá trị văn chương, không nhiều; nhưng nếu một Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc
là bộ biên khảo giá trị, vậy trong tập bút ký kia không là tiêu mục chính để
phân tích. Nhà tiểu thuyết phóng sự Phi Vân ghi chép nếp sống nhân văn dân quê
miền nam trong Đồng Quê (xem Nhà Văn miền Nam 1945 – 1950) thì cuốn bút ký này
giúp chúng ta hiểu thêm quê hương qua phong tục miền Nam.Luyện Văn I, II có giá trị, song chỉ trong khuôn sách giáo khoa, hướng dẫn
thanh niên yêu văn chương, giúp thanh niên có quan niệm căn bản văn học như Phạm
Việt Tuyền với Nghệ Thuật Viết Văn, Lữ Hồ với Việt Văn Giản Dị. Với Nguyễn Hiến
Lê hiện tại, chúng tôi nhận xét về ông qua bộ sách Đại Cương Văn Học Sử Trung
Quốc và Đông Kinh Nghĩa Thục. Tập một, ông cho độc giả thấy rõ diễn tiến của nền
văn học khởi thủy cổ nhất Trung Hoa, Tập hai từ đời Đường. Tập 3 từ ngũ đại đến
hiện đại. Cuốn biên khảo này là tài liệu công phu giúp ích người tân học, không
thể bỏ qua sinh hoạt văn học một quốc gia có lịch sử gắn liền với ta ngay từ thời
Bắc thuộc lần thứ nhất, ảnh hưởng đến đời sống chúng ta. Không thể phủ nhận ảnh
hưởng văn học, nhân sinh quan Trung Quốc trong văn học và nhân sinh quan Việt
Nam. Tài liệu thì nhiều, đành rằng có thể biết qua nhiều tác phẩm các nhà văn
hóa Pháp, Nga, viết về đề tài này. Nhưng Nguyễn Hiến Lê cho chúng ta không phải
chỉ tài liệu, ông là một học giả uyên thâm Hán, Tây học; phân tích diễn tiến
văn hóa qua bản Hán văn lối diễn tả Tây phương, rành mạch, dễ nhập cảm, lĩnh hội.
Nói thế, giá trị đã có; công trình khảo cứu cho những ai muốn hiểu văn học
Trung Quốc. Phương pháp trình bày giản dị, người đọc ít Hán học có thể hấp thụ
dễ dàng.Tài liệu lịch sử Đông Kinh Nghĩa Thục, nói về cuộc kháng chiến Việt Nam đầu thế
kỷ hai mươi. Ông tra cứu nhiều tài liệu mới, tác giả giới thiệu trong sách, có
người bạn là: ông Phương Sơ, đảng viên trong Đông Kinh Nghĩa Thục bổ cứu ẩn ức
văn học, tư tưởng cách mệnh thời kỳ nô lệ, chưa phơi bày đủ được sự thật của sự
thật câm nín). Đọc Đông Kinh Nghĩa Thục hiểu rõ thêm sinh hoạt cách mệnh của
Lương Văn Can, Dương Bá Trạc, Phan Bội Châu, Phan Tây Hồ (Phan Chu Trinh), Nguyễn
Văn Vĩnh... Với lối viết giản dị, văn trong sáng, bố cục mạch lạc, tài liệu dồi
dào; sự nối liên các chương, làm người đọc say mê như đọc truyện. Nghệ thuật
biên khảo của ông hay là ở đó.Nghề Viết Văn giá trị văn học không là mục tiêu ông đặt vào đấy, và chỉ là loại
sách Connaissance des métiers hoặc Choisir les carrières (76) ở Pháp nói về nghề
văn; in, bán , giao kèo, hợp đồng, mẫu chữ... Đó là sách giải đáp thắc mắc cần
thiết cho chuyên đề (quyền lợi, đời sống, tác giả) ông cho người đọc biết thêm
hoàn cảnh khe khắt nhà văn về: bệnh tật, nghèo, dằn vặt, cam go... Nghề Viết
Văn của ông không giống là Quan Điểm Văn Nghệ Nhân Dân của Hoàng Công Khanh hoặc
Văn Học Khái Luận Đặng Thái Mai; gần hơn Văn Nghệ và Phê Bình của Tam Ích; mà
chính tiêu đề sách đã trả lời nội dung ra sao.Nguyễn Hiến Lê, nhà văn biên khảo độc lập, khảo cứu nhiều tác phẩm văn công
phu, sử, ký lịch sử giá trị đứng hàng đầu của miền Nam.Tiết 2 DUY SINHTên thật Nguyễn Đức Phúc Khôi. Sinh năm 1935 ở Hà Nội. Trưởng nam nhà văn lão
thành Nguyễn Đức Quỳnh. Duy Sinh bước vào nghề văn năm 18 tuổi, bài đầu tiên
phê bình sách Nhìn Xuống của Sao Mai; tiếp theo Trời Đã Xế Chiều của bà Vũ Bá
Hùng tự Thiếu Mai. Ông viết cho báo Mới, Đời Mới, Giang Sơn, Bạn Dân, Việt
Chính, Văn Nghệ Tự Do v.v...Viết phê bình, sáng tác, phóng sự. Qua nhiều bài phê bình văn học bàn về Sao
Mai, Vũ Bá Hùng, Ngọc Giao, Thi Thi Tống Ngọc; ông là nhà phê bình văn học trẻ
tuổi có thái độ, lập luận vững, một khi tuy chưa xuất bản tác phẩm nào.Chống sách được gọi là văn phẩm Đời Cô Nhung, một sản phẩm đọa lạc, con đẻ chế
độ phong kiến, thực dân; Duy Sinh phân tích kết luận về Đời Cô Nhung của Văn
Thuật:“... Tác giả mang ra tất cả hành động ô uế, khốn nạn nhất của xã hội, đưa ra bằng
những hình ảnh thật khiêu dâm để không giáo dục, không tìm cho họ lối thoát.
Tác giả kéo đến năm sáu lần ván tam cúc lục sở do tác giả tổ chức. Không hiểu
tác giả giáo dục thế nào mà có thể thở những lời thối nát đến nhứ thế này được.”“Người có học thức liếc ngang thì ý nhị, tinh tế, kẻ vô học thức liếc ngang thì
rõ ra thằng ăn cắp chợ. Cũng là giọng cười, cũng là cái nháy mắt, cũng là cái bấm
chí của người học thức thì nó thanh tạo lịch sự mà của kẻ vô học thì sao nó vô
duyên, trơ trẽn, tục tằn đểu cáng thế”Thật có khác gì phân của kẻ có học thì thơm mà phân của kẻ vô học thì thối”...Bài đầu tiên nhận xét về Sao Mai qua tác phẩm Nhìn Xuống có những đoạn phê bình
rất sắc:“... Sao Mai muốn vượt lên vạch ra những thối nát của trường giả mang nhân vật
Phú Uyên điển hình. Sao Mai bế tắc nên nhân vật của ông không lối thoát. Sao
Mai chưa gột rửa tiềm thức tiểu tư sản nên Mạnh yếm thế vẫn muốn vươn lên tiểu
tư sản để hưởng thụ. Sự ca ngợi của Sao Mai đối với Năng chỉ là một sự kiện ve
vãn lao động, chưa hòa đồng thành khẩn nên ở đây Sao Mai không phải chỉ là ca tụng
đúng mức...”Phê bình Bến Nước Ngũ Bồ, kịch Hoàng Công Khanh phán quyết gay gắt:... “Hoàng Công Khanh trong BNNB không còn là tác giả Về Hồ rồi, Hoàng Công
Khanh Hồ Hán rồi. Ta không phủ nhận những vần thơ chải chuốt, lửng lơ mà tình tứ
của nhà thi sĩ có tài. Hoàng Công Khanh quả là một thi sĩ có tâm hồn, đạt đến một
nghệ thuật cao về phần kịch trường ông đưa ra giản dị quá, ít mâu thuẫn quá. Ở
đây là một hoạt cảnh, thì đúng hơn. Từ đầu đến cuối, toàn những đoạn tình tứ giữa
tráng sĩ và cô hàng, giữa Đặng Ích và Thị Trinh để dẫn tới một cái kết quả rất
lơ lửng giết chết các diễn viên. Hai bố con lão Đồ chết, quán cháy vèo, cặp
trai gái ra sông, không biết để làm việc gì”...Là cây bút có thiện chí phê bình văn học, song cực đoan, ông còn viết một loại
chống văn nghệ độc tài trên tuần báo Việt Chính (1955) dưới bút hiệu Duy Nhân.
Sự vượt mức về hiểu biết kiến thức, so sánh tư liệu văn sử học như một người hiểu
biết đến ngọn nguồn. Từ ghế bộ trưởng chính trị Nga Xô, của Việt Nam, của Trung
Hoa; hay đến cả tâm tư thầm kín nhất bạn văn tiền chiến nói với nhau trong lúc
cởi mở, Duy Nhân đều biết và luận. Xét thế, tôi cho rằng loại bài Chống Văn Nghệ
Độc Tài không là của ông, nếu không nói là của nhà văn tiền chiến Nguyễn Đức Quỳnh.
Về sáng tác, ban đầu viết truyện ngắn Tiếng Trống Ngoại Ô (báo Giang Sơn) Đêm Cần
Lao (báo Bạn Dân) không đặc sắc. Truyện dài loại đăng trên báo Đời Mới (1954 –
55) chưa hết, phản ánh khắc khoải, suy tư, nếp sống thanh niên thời kỳ kháng
chiến.Kỹ thuật viết hấp dẫn, tiếc rằng nhà văn này chưa phân tích tâm lý sâu sắc, tả
cảnh lại quá nhiều, rất kỵ đối với một tác phẩm tiểu thuyết.Ông viết rất nhiều phóng sự: Đồ Sơn Nguyệt, Huế lụt; Trái Cây Miền Nam, Huế Đặc
Biệt, Nhớ Thần Kinh, Ngõ Hẻm Casinô, Nhớ Thủ Đô; Đà Lạt Muôn Màu... nhưng chỉ
Nhớ Thần Kinh, Đà Lạt Muôn Mầu giá trị văn chương hơn cả; còn phóng sự khác như
là phóng sự làm quảng cáo (nhận tiền khéo léo), ghi địa chỉ rõ ràng một hiệu ăn
chẳng hạn, một cách làm quảng cáo từ các hiệu buôn đặt hàng. Nhớ đến André
Bourin, nhà viết phóng sự La France en zig zag (tạm dịch: Nước Pháp Trong Chớp
Nhoáng) đi vào lòng đất nước, qua Artois, Normandie, De Sologne en Vendée... là
phóng sự quê hương đặc sắc vô cùng, từ một giòng, một câu, cả một chữ nức lòng
yêu quê hương, đất nước của người Pháp đối với nước Pháp. (77)Tiết 4TIỂU MỤC:I. NGUYỄN DUY CẦN (1907 – 1988)Sinh năm 1907 ở Mỹ Tho. Tác phẩm biên khảo triết lý nhân sinh Á đông làm nổi bật
vai trò của ông: Thuật Xử Thế Người Xưa (Phạm Văn Tươi, 1953) tái bản nhiều lần,
Trang Tử (1956), Cái Dũng Thánh Nhân, Óc Sáng Suốt, Thuật Tư Tưởng, Văn Minh
Đông Phương và Tây Phương (1957)... Cuốn sau xuất bản khi tôi viết xong về ông.
Trong Thuật Xử Thế Người Xưa gồm sáu chương. Chương một: đề cập đến lòng tự ái,
Chương II Chữ Lễ Á Đông; Chương III có tài mà cậy chi tài, Chương IV Ân và Oán,
Chương V Đạo cương nhu, Chương VI Biết sống, phần phụ lục; cuốn sách nói về xử
thế của Khuất Nguyên. Ông đề cao nếp sống xử thế người xưa, cũng như Đào Trinh
Nhất, Nhượng Tống từng làm công việc này. Cái khác giữa ông và người đi trước, ở
ông thì bi quan thuần triết, thiếu tính tranh đấu; nhiều mặc cảm tự ty muốn tự
vượt mình trong trang sách viết về Trang Tử. Sự mở rộng nghệ thuật xử thế của
người xưa thâm nhập, gom góp, tích lũy cho người hôm nay thêm kinh nghiệm là cần
thiết, phải là của người viết có tinh thần thoát khỏi cái tôi ích kỷ, nhỏ nhen
và cũng đừng đầu độc cái nhỏ nhen riêng cho lớp người tiếp nối vào đời. Qua những
cuốn ấy, thái độ của ông, một người duy tâm ảo tưởng, bi quan thuần triết vô
duyên cớ; dễ dẫn người đọc chán nản tự tiêu diệt, đành rằng bi quan, bất mãn
còn là thái độ dẫn đến tiến bộ.2. TRIỀU SƠN (1921 – 1954)Tên thật Bùi Văn Huy. Sinh 1921, mất ở Paris, ngày 12.5.1954. Tác phẩm đã xuất
bản: Cờ Đen (kịch thơ) (qua bút danh Ninh Huy), Con Đường Văn Nghệ Mới (tạp luận
văn nghệ) (Nxb Minh Tân, Paris 1951). Về kịch, Ninh Huy không vượt hơn người đã
viết kịch thơ cùng loại. Truyện dài Nuôi Sẹo chưa viết xong, ông đã từ trần. Buổi
sinh thời ông cho rằng đó là một tác phẩm lớn. Con Đường Văn Nghệ Mới chia làm
bốn phần, phụ lục, thêm hai tiểu mục, kể lại việc thảo luận với người bạn về luận
thuyết văn nghệ, ông bàn qua: tả chân tự nhiên, hiện thực, siêu thực… Phần lý
luận đại cương, giải thích sự liên hệ văn nghệ phẩm với xã hội, người văn nghệ
đại chúng hóa ngay bản ngã đại chúng hóa văn nghệ sĩ. Tóm lại phần tiểu luận,
Triều Sơn chống tháp ngà; văn nghệ vị nghệ thuật, bàn đến cái hay văn nghệ vị
nhân sinh. Giữa tình trạng văn nghệ thiếu phần suy luận trước hành động, Triều
Sơn qua tác phẩm này, cũng như Hoàng Công Khanh Quan Điểm Văn Nghệ Nhân Dân cần
được tiếp nhận.Triều Sơn đề cao tả chân hiện thực mới, nhưng ông chỉ lý thuyết suông; chưa đưa
ra đề tài thảo luận thực tiễn nào, muốn hướng văn nghệ sĩ trở về với đại chúng,
mà chưa nói rõ tại sao lại như thế? Nguyên nhân chính của sự mơ hồ hóa là tác
giả đã mơ hồ hóa chính ông.3. NGUYỄN NĂNG ANMột Trúc Chi khảo cứu về kinh tế, một Nguyễn Hiến Lê về văn học sử Trung Hoa, một
Nguyễn Bảo Hóa về lịch sử Việt Nam, một Trần Minh Tiết dịch tài liệu quân sự lịch
sử thế chiến thứ hai, một Nguyễn Năng An góp phần dịch thuật tài liệu chính trị
trong bộ: Art de commander psychologie de l’autorité” ra Việt ngữ, thành Nghệ
Thuật Cầm Quyền” (2 tập, 1950). Bản Việt hóa của ông thoát, hành văn nhẹ nhàng,
giản dị, vẫn lột tả được nguyên tác. Tác giả, một giáo sư triết học Pháp chuyên
khảo cứu về tâm lý học theo phương pháp khoa học.4. HOÀNG TRỌNG MIÊN (1918 – 198?)Sinh 1918 ở Huế, chết năm 198? ở Sài Gòn. Viết văn trước tiền chiến, bắt đầu
truyện ngắn đăng trên báo Tinh Hoa. Tác phẩm chính: Một Giấc Mơ Ghê Gớm (tiểu
thuyết Sài Gòn – 1939), Việt Nam Văn Học Toàn Thư (Sài Gòn 1959), Thơ Xanh ký
Hoàng Trọng Miên. Còn là tác giả vở kịch “Dưới Bóng Thánh Giá”. Về Thành, chủ
trương báo Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Thời Trân, Thời Báo, Cải Tạo loại mới...
Tác phẩm đã xuất bản: “Chỉ Vì Yêu” (truyện dịch) đăng trên tuần báo Đời Mới,
Người Nữ Cứu Thương; ông còn dịch kịch Les mains sales (Bàn Tay Bẩn) của
J.P.Sartre. Vở kịch này đăng dở dang trên báo Bông Lúa. Dịch cuốn Nghệ Thuật Sống
(L’art de vie của André–Maurois (Phạm Văn Tươi xuất bản, tái bản nhiều lần).
Hoàng Trọng Miên chuyên về ngành kịch, cho diễn vở Hamlet trên đài, vô tuyến
(ban kịch Lan Đình). Là nhà văn dịch có kiến thức, dịch thoát, Chỉ Vì Yêu, tác
phẩm phỏng dịch đúng hơn là phóng tác có giá trị văn chương. Riêng cuốn Việt
Nam Văn Học Toàn Thư (2 tập, do Văn Hóa Vụ tài trợ và ấn hành), Tam Ích viết tựa,
được coi là vụ đạo văn lớn nhất vào những năm 1960 ở Sài Gòn. Ông đã sao chép gần
như nguyên bản Lược Khảo về Thần Thoại của Nguyễn Đổng Chi, xuất bản ở Hà Nội,
bị tạp chí Văn Hóa Á Châu, nguyệt san Sinh Lực phanh phui. (79)5. DIÊN HƯƠNG: (1898-1943)Tên thật Trần Ngọc Án, tác giả Thành Ngữ Điển Tích (I và II) Thi Pháp (1950)...
Cuốn Thi Pháp, biên khảo công phu, bàn về bút pháp thi ca, giúp người đọc hiểu
rõ thêm về các thể làm thơ, góp vào loại sách tìm hiểu văn học. Không là nhà
văn biên khảo có tâm hồn, thơ nhạy cảm, nên Thi Pháp không minh chứng được thế
nào là thơ hay. Giá trị vẫn chỉ đuợc kể qua Thành Ngữ Điển Tích.6. BỬU KẾ: (1913-1984)Nhà văn biên khảo này viết nhiều truyện ngắn.Từ năm 1948, ông cho truyện đăng
trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy cùng với Nguyễn Minh Lang, Quốc Ấn. Các truyện ngắn của
ông: Cái Nhà Của Ông Chủ Tịch, Sức Mạnh Loài Người, Mê Sách, Xuyên Tác, Cái Nạn
Rắp Pen, Đổi Thay, Ngọn Đèn Khuya... Truyện ngắn không đặc sắc, duy lý, khô
khan, châm biếm xấu xa hoạt cảnh xã hội thời ấy, đúng ra là phóng sư hoạt kê.
Sau cho xuất bản truyện dịch Thằng Người Gỗ, Tầm Nguyên Từ Điển. Truyện dịch
hay, tự điển công phu dầy công khảo cứu.7. THANH NGHỊ (1917 qua đời sau 1975 ở Sài Gòn)Tên thật Hoàng Trọng Quy, anh ruột của Hoàng Trọng Miên. Sinh 1917 ở Huế, qua đời
ở Sài Gòn 1989. Học ở Huế, đậu Tú tài I xong ở nhà học thêm Anh văn. Năm 1938,
dùng bút hiệu Thanh Nghị, chủ bút báo Trong Khuê Phòng, trợ bút báo Asie
Nouvelle. Năm 1952 xuất bản: Việt Nam Tân Tự Điển. Nói đến nhà làm tự điển có
tiếng, phải kể đến Đào Đăng Vỹ, Đào Văn Tập, Đào Duy Anh, Thanh Nghị. Ông là
tác giả nhiều từ điển Pháp Việt - Việt Pháp, Anh – Pháp – Việt, Việt Nam Tân Từ
Điển, (minh họa) rất giá trị.8. KIÊM ĐẠTTên thật Trần Kiêm Đạt. Sinh 1933 ở Thừa Thiên. Rời khỏi Trung học Khải Định,
ông đi dạy học, viết báo. Viết cho các báo Đời Mới, Việt Chính, Thời Đại v.v...
Tác phẩm biên khảo đã xuất bản Nếp Sống Việt (1955) Tiếng Việt Mến Yêu (1956);
Khái Luận Về Thơ Mới (1956) Tìm Hiểu Thơ Tự Do (1956, viết với ba người khác),
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (Người Việt Tự Do 1956), Để Hiểu Văn Học (Thế Giới
1956) v.v... nhiều sách giáo khoa văn học khác. Sách đã xuất bản chứng tỏ là
người ham hoạt động văn học, song những tập sách in ra đều giản lược vấn đề.
Khái Luận Về Thơ Mới chưa xong tập thứ nhất, chưa giải quyết xong một vấn đề
nào, ông lại quay sang cộng tác với người khác bàn về thơ tự do. Tiếp theo, ông
lại cùng hai người khác viết về Tản Đà. Tác phẩm biên khảo của Kiêm Đạt lượng
nhiều, phẩm ít, giá trị mong manh.9. HỒ NAMTên thật Lê Nguyên Ngư. Sinh năm 1930 ở Bắc Ninh, học Trường chuyên khoa tư thục
Hàn Thuyên, sau theo học Năng Lực Luật (Hà Nội). Viết cho các giai phẩm Hồng
Hà, Lửa Mới, báo Tia Sáng, Thời Trân, Phương Đông, Quê Hương, Đổi Mới, Việt
Chính, Thời Đại, Ngôn Luận, Tân Kỷ Nguyên, Văn Nghệ Tập San v.v... Một Kiêm Đạt
ham hoạt động in sách khảo luận mỏng như Tìm Hiểu Thơ Tự Do, Tagore v.v... thì
sách khảo luận Hồ Nam tương tự. Là người ham hoạt động trên báo chí, viết nhiều
loại: điểm sách, phê bình văn nghệ, làm thơ (ký Vương Tân), truyện dài, ngắn...
Về địa vị phê bình văn học, lập trường chưa xác định, trình độ thấp, chưa có
thái độ, tư thái riêng nên viết bình văn học nông cạn. Tuy nhiên ông có thiện
chí, đặt hẳn mình vào phận làm văn nghệ sống bằng nghề cầm bút. Thơ chưa có bản
sắc, chắp vá, mượn rung cảm, ít sống với rung cảm bản thân. Bước đầu, tất cả chỉ
là thể nghiệm. Có thể là một nhà thơ nổi tiếng, ở bộ môn thơ Hồ Nam có khả năng
hơn hết .Tiết 4KẾT LUẬN VỀ NHÀ VĂN BIÊN KHẢOTiết mở đầu bàn về nhà văn biên khảo:Chắp tay nguyện cầu có lớp nhà văn biên khảo mới, tinh thần mới, kiến thức sâu,
có tri thức, tâm hồn, đủ tài năng giải tỏa tình trạng bế tắc về sách biên khảo
văn học. Duy Sinh, Hồ Nam, Kiêm Đạt như nhiều Duy Sinh, Hồ Nam nữa; mới có thể
hoàn nhiệm công việc phê bình văn học ở tương lai. Thí dụ, có một bạn ngoại quốc
đến với chúng ta, giả dụ hỏi rằng: “Lịch sử văn nghệ nước anh, dù sơ lược; căn
cứ vào những tác phẩm, tác giả nào?” Có thể nào, từ chối rằng không có? Hoặc
tác phẩm nào điển hình bạn sẽ trả lời sao? Khi chưa thể căn cứ vào việc phê
bình văn học của một tập hợp ăn ý đánh giá đúng mức số anh em văn nghệ đồng ý với
nhau trên bút mực được. Với chính tôi rất ít tham vọng, không kiêu căng; không
hoàn toàn dốt, hèn nhát. Tôi chờ mong tất cả lời phê người đi trước, đồng hành,
lớp sau về bộ sách này.Kết luận về nhà văn biên khảo, dịch thuật:Trương Bảo Sơn dịch Léon Tolstoi qua Tình Nghĩa Vợ Chồng, Đào
Đăng Vỹ dịch Khúc Nhạc Đồng Quê của André Gide và trước đó La Porte Étroite (Cửa
Hẹp), Thanh Ngọc Tuyền qua Tản Văn Ba Kim, đến Mặc Đỗ giới thiệu nền văn chương
Mỹ dịch tiểu thuyết Scott Fitzgerald, với Đỗ Khánh Hoan dịch văn chương Anh, Giản
Chi với lịch sử triết văn Trung Quốc, Nghiêm Kể Tổ với Việt Nam Máu Lửa sử liệu
dồi dào. Riêng sử gia Nghiêm Kế Tổ mang nhiều tính chất chủ quan, đề cao đảng
phái bạn (VNQDĐ), thiếu khách quan cần thiết là sử gia đứng đắn, không thiên vị.
Chuyện văn học nước nhà thì không biết, phải nhờ hàng xóm cách xa biển rộng
sông dài nói lại, rồi mới chịu tin là đúng hay sao?.
Tiết 2

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét