Thứ Tư, 26 tháng 11, 2025

Lược sử văn nghệ Việt Nam 6

Lược sử văn nghệ Việt Nam 6

4. TẠ KÝ – (1935 – 198?)
Sinh 1935 tại Quảng Nam.

Ngay trên ghế nhà trường đã có thơ đăng trên nhiều tạp chí ở thập niên 50. Thơ đăng nhiều nhất trên tuần báo Đời Mới (Sài Gòn, Cn: Trần Văn Ân). Năm 1956, đứng chung với: Phan Lạc Tuyên, Diên Nghị, Văn Thế Bảo, Tô Thùy Yên... trong tập tuyển thơ Thơ Mùa Uất Hận (Tủ sách Quân đội 1970), sau xuất bản tập thơ Sầu ở lại (1970).
Thơ trữ tình, truyền cảm, xúc động. Bài Xuân Về Thương Nhớ Với Ai Đây trích dưới đây là bài thơ hay.
Tạ Ký là nhà thơ giàu tình cảm, tâm hồn thơ nồng nàn trữ tình. Qua đời vào năm 198? ở Rạch Giá.
Trích thơ:
XUÂN VỀ THƯƠNG NHỚ VỚI AI ĐÂY?
Tết đến rồi đây, xuân đến đây
Xuân về tết, tết được bao ngày
Cười nghiêng núi thẳm: xuân gian khổ
Khóc đứng quê xa, tết dạn dầy
Có những con người không biết tết
Căm căm thế sự nhíu đôi mày
Tóc rụng, xuân về hăm mấy bận
Giang hồ ta vẫn trắng đôi tay
Lòng riêng nào những xuân hay tết
Dứt áo ra đi một chuyến này
Những chuyện tâm tình không tỏ được
Hoa đào trước cửa lả lơi bay... 
Bỗng nhiên trời đất đem xuân lại
Mùa mới dâng hương ngập luống cày
Chim hót bình minh, hoa đón gió
Nhấm mứt gừng xuông ba bữa tết
Đêm trường xuân mộng gởi đôi tay
Đâu đây nhạc rót lời tương biệt
Không hiểu thương ai nước mắt đầy
Nhà trống tha hồ mơ mộng đến
Tiền đâu mua lấy nửa cơn say?
Thơ chẳng ai yêu rồi cũng vẫn
Chờ mong phương nọ ngóng phương này
Cố tri dăm đứa nghèo xơ sác
Ăn chực, nằm chờ khắp đó đây
Nuốt tiếng cười điên, ngâm lạc giọng
Sòng đời thua nhẵn cả thơ ngây
Nghĩ tiếp vần thơ tràn nước mắt
Lệ mình sao nhấp vẫn cay cay
Lệ mình đâu phải dòng dư lệ?
Mà giữa ngày vui khóc thế này
Xuân về thương nhớ với ai đây?
1955
(Trích tuần báo Đời Mới)
TẠ KÝ
Từ Vũ và Việt Văn Mới Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu 
KỲ THỨ XXIV
VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956
[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)]
Giai đoạn kháng chiến, từ 1945 đến 1950 Việt Nam độc lập được gần một năm. Tiếp, Pháp chiếm lại Hà Nội, (ngày 19 tháng 12 năm 1946) cho dù đảng phái Quốc hay Cộng đều bỏ phù hiệu riêng, đoàn kết trong danh xưng kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng. Suốt chín năm (1945–1954), thì kháng chiến ở bốn năm về sau, đã hao hụt thực chất; Mác xít ra mặt lãnh đạo – và cho đến 20–7–1954, phân chia đất nước, danh xưng toàn dân kháng chiến mất hẳn ý nghĩa. Song trên bình diện văn nghệ, ý thức toàn dân kháng chiến tạo được nền văn học có chiều sâu và rộng.
Giai đoạn văn nghệ phân hóa, văn nghệ Mác xít – theo hẳn lối sáng tác được chỉ huy, nhất là sau 1954 miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Còn Quốc Gia và miền Nam (VNCH) văn nghệ chỉ là vườn hoang, mọc đủ loại thảo mộc. Trong tập này, với người khe khắt cho quá nhiều – người dễ dãi cho chưa đủ. Với tôi, vẫn chỉ là bắt voi bỏ giọ, và tất nhiên chủ quan; thiếu sót tất nhiên không thể tránh. Nhìn vào những người viết sách nhận định văn học trước như Vũ Ngọc Phan kết luận cuối trang sách phê bình văn học, có đoạn:
“... Trước hết, bộ sách này là bộ phê bình văn học như tôi đã nói nhiều lần, vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn. Sau nữa, trong khi tôi viết những trang phê bình về thơ, có nhiều thi sĩ chưa có quyển thơ nào xuất bản, về kịch hay tiểu thuyết, có nhiều nhà văn chưa có sách biên khảo, chưa có kịch hay tiểu thuyết ra đời. Như vậy, biết căn cứ vào đâu cho chắc chắn? Rồi lại những nhà văn chính trị tuy đã có văn thơ in trên báo chương hay xuất bản thành sách, cũng không có trong bộ sách này, vì một lẽ mà ai cũng hiểu khi nhớ đến chế độ hiện hành về sách báo. Còn những nhà văn chuyên viết những sách Pháp văn thì tôi cho là không phải nói đến trong văn học Việt Nam. (...) Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa rằng bộ Nhà Văn Hiện Đại này chỉ là một bộ phê bình văn học, không phải là bộ văn học sử. Trong văn học sử, người viết cần phải xét rất kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến văn phẩm, rồi lại phải định rõ cả sự liên lạc của nhà văn nọ với nhà văn kia đồng thời hay khác thời đại. Nếu không đủ được những điều cốt yếu ấy, để định rõ phong trào văn học, thì dù có văn học sử đi nữa, người ta cũng chỉ coi là một mớ sử liệu...” (1)
Thời gian này tác phẩm viết bằng Pháp ngữ như Phạm Duy Khiêm với Légendes des terrres sereines và Nam et Sylvie; hoặc Nguyễn Tiến Lãng Le Chemin de la Révolte; Phạm Văn Ký: Frère de Sang, Celui qui régnera; Cung Giụ Nguyên Le Fils de la baleine – sử học Lê Thành Khôi với Le Vietnam, Histoire et Civilisation v.v..., không nói đến, cũng như lý do mà ông Vũ Ngọc Phan đề cập tới ở trên. Đến nhà chính trị văn sĩ Hồ Hữu Tường với Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc bỡn Nga, ... thì cũng vậy. Cả đến loại sách trinh thám kỳ tình, kiếm hiệp, phong thần, phỏng dịch chắp vá được gọi là tác phẩm văn học – chúng tôi xin phép không nói tới. Rõ hơn là Phạm Cao Củng có mặt từ tiền chiến với Kỳ Phát; hoặc truyện Người Nhạn Trắng cũng thế v.v... Tác giả Hoàng Như Mai, thời gian 1950–1954 trong kháng chiến; chúng tôi đưa vào cuốn này; vì vở kịch Tiếng Trống Hà Hồi đặc sắc được in trình diễn ở Hà Nội. Có thể nói điển hình bộ môn kịch là Tiếng trống Hà Nội. Bước sang bộ môn biên khảo, đưa Duy Sinh vào một tiết, như một điển hình cho lớp người viết biên khảo; cũng vẫn chủ quan, so với Diên Hương, Thu - Giang - Nguyễn - Duy - Cần; Khi đối chiếu lại thì, Duy Sinh không thể giá trị bằng hai nhà biên khảo vừa nêu danh.
Trở lại bình diện văn nghệ hậu chiến, tập 3 gồm trên dưới một trăm nhà văn; chọn ba mươi điển hình nói tới cặn kẽ; so với người khác viết tóm lược. Cũng vẫn chủ quan thô thiển và tự nhận thiếu sót. Bởi còn nghĩ xa hơn rằng: "không thể viết đầy đủ các nhà văn mình muốn đưa vào một quyển, thay vì mỗi nhà văn điển hình phải viết hẳn một cuốn nói về họ".
Nên coi những trang viết này chỉ là chữ viết (écriture) trong bộ sách này, và không là văn học (littérature); như quan niệm của Michel Buto (2). Lẽ trang viết có ý nghĩa tổng quát hơn. Còn nữa, bộ sách này chỉ là kết quả viết về tác phẩm các tác giả mà tôi đã đọc, đưa ra nhận xét của riêng tôi; giúp cho nghề tôi nuôi nghiệp (littérateur). Từ 1950 đến 1956, biến chuyển thời cuộc tác động đích thực vào đời sống văn học mà nhà văn sống trong đó. Ở miền Bắc của Quốc Gia Việt Nam (1950 – 1954) nhóm Thế Kỷ tạo thành một Triều Đẩu, qua những mảnh đời phóng sự hồi cư nóng bỏng, hàng ngày phải đối phó với đời sống, tạm gọi độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Còn thêm nhà văn điển hình như Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, (truyện), Bến Nước Ngũ Bồ (kịch dã sử), Nguyễn Minh Lang, ngọn bút tài hoa của văn chương lãng mạn mới, qua Gái Hà Nội, Nước Mắt Trong Đêm Mưa, Cánh Hoa Trước Gió (2 tập)... Hai nhà văn này, chúng tôi đề cập ở Chương 3 (tiết 2 và 4) – nhưng tập 3 này xuất bản ở Sài Gòn vào 1959 (Loại sách Đại Nam văn hiến trong nhà xuất bản Huyền Trân, Nhật Tiến chủ trương) bị kiểm duyệt bỏ trọn tiết. Bản in lại lần thứ hai in lại đầy đủ; nhưng trong lần này vẫn phải để trống phần phân tích; vì lý do tầm thường – không kiếm được bản tái bản vào 1973. Hai nhà văn điển hình khác nói đến trong Chương 3 là Thanh Hữu, Văn An. Về nhà thơ điển hình: Đinh Hùng, Nguyễn Quốc Trinh... Viết tóm lược nhà thơ: Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Băng Sơn, Vân Long, Trần Nhân Cư... Bình diện văn nghệ miền Trung (Quốc gia Việt Nam) vào giai đoạn này, nhà thơ điển hình được nói đến : Huyền Chi (nữ), Hoài Minh, Thanh Thuyền. Viết tóm lược các nhà thơ: Hồ Đình Phương, Huyền Viêm, Thế Viên...
Bình diện văn nghệ miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nhà văn điển hình: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo (nữ), Triều Lương Chế, Phạm - Thái - Nguyễn - Ngọc -Tân Phạm Thái kèm tên thật Nguyễn Ngọc Tân, phân biệt với một Phạm Thái khác), Chấn Phong Hư Chu. Viết tóm lược: Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ), Thiếu-Mai-Vũ-Bá- Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm Minh, Nguyễn Hoài Văn, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân... Một số nhà văn khác nổi tiếng sau giai đoạn 1956 như Võ Phiến chưa có tác phẩm xuất bản. Phải kể thêm trong số đó: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, (nữ), Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng (nữ), Võ Hồng, Thế Uyên, Tuấn Huy, Thế Nguyên, v.v... của Đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 trở đi). Riêng về phóng sự tiểu thuyết: Hoàng Hải Thủy với Vũ Nữ Sài Gòn (3), Duyên Anh qua bút hiệu Thương Sinh, Toàn Phong với Đời Phi Công, chúng tôi chưa có cơ hội nói đến, và nhờ Vũ Ngọc Phan giúp giải vây sự khốn đốn; ... vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn... Thêm nữa, khoảng thời gian viết đến lúc in ra (dầu cho là in ronéo-typé cách vài năm). Do đó, chưa kịp nói đến Võ Phiến (Chữ Tình), (4) Thế Uyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Toàn Phong , Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Thế Nguyên, Văn Quang (Thùy Dương Trang), Huy Trâm, Phạm Nguyên Vũ, Túy Hồng (nữ), Lê Vĩnh Hòa, Nhật Tiến, (văn) v.v... – Về thơ: Thái Thủy, Tô Thùy Yên, Tôn Thất Quán, Hoàng Khanh, Cung Trầm Tưởng, Cao Mỵ Nhân, Viên Linh, Trần Dạ Từ (khi ấy ký Hoài Nam), Hoài Khanh, Hà Yên Chi v.v... và v.v... (5).
Giá trị văn chương tiền chiến Tự Lực văn đoàn, có cả Lê Văn Trương, (tập một: Nhà văn tiền chiến), tiếp đến giá trị văn chương lửa kháng chiến; sau là hậu chiến. Đọc Bướm Trắng, Nửa Chừng Xuân. Mấy Vần Thơ, Gửi Hương Cho Gió, Vang Bóng Một Thời, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giông Tố... không nhìn thấy đầy đủ hình tượng sống cuộc sống hôm nay được thấy trong: Gió Bấc, Truyện Năm Người Thanh Niên, Trên Vỉa Hè Hà Nội, Cánh Hoa Trước Gió, Trại Tân Bồi, Nhìn Xuống, Điệu Đàn Muôn Thuở, Đêm Giã Từ Hà Nội, Sợ Lửa, Rừng Địa Ngục.... Văn nghệ là sản phẩm phản ánh thời đại, nên Kim Vân Kiều có hay đến mức thượng thừa – cũng chưa thể đại diện cho một khoảng thời gian không tiếp nối. Tác phẩm Nguyễn Du mới chỉ nói lên đầy đủ về xã hội phong kiến giao thời mà tác giả Kim Vân Kiều sống – đủ một số điều tương đồng hiện cảnh. Không thể nói đến Kim Vân Kiều là đủ điều tất yếu hình tượng sống lịch sử. Tác phẩm của Karl Marx, S.Freud cũng bị vượt qua, hiện nay vẫn cần khối óc siêu việt Oppeheimer, Einstein, Gandhi, JP Sartre v.v...
Phải hiểu được rằng: lịch sử một nước như lịch sử văn học, luôn theo đà diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Nói khác đi, sử học, văn học sử một nước không thể cắt quãng, cũng không tùy thuộc vào lập luận một phe nhóm nào để định giá trị vĩnh viễn. Rất cảm phục lập luận của Vũ Ngọc Phan dẫn trên kia; được gọi văn học sử, phải xét kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến tác phẩm, định rõ liên hệ (chữ dùng: TP) giữa nhà văn này với nhà văn nọ, định rõ phong trào văn học. Càng rõ hơn, được gọi văn học sử, ít ra phải làm được một bộ sách Lịch Sử Văn Chương Ngôn Ngữ Pháp (tạm dịch Histoire des littératures de la langue française) (6) do nhóm chủ trương gồm 209 giáo sư văn học thực hiện bộ sách vĩ đại ấy.
Cảm ơn số bạn giúp tài liệu, ý kiến, khích lệ, động viên, khi tôi khởi sự viết bộ sách này. Như họa sĩ Đinh Cường cởi áo, ngồi xệp trên sàn gác căn nhà trọ cùng tôi chia giúp những trang sách in ronéotypé xếp thành tập vào 1959, ở hẻm nhà thờ Lý Thái Tổ (Chợ Lớn). Uyên Thao mượn cho chiếc máy chữ, có lịch sử sản xuất cùng thời kỳ Tây hạ thành Hà Nội. Nguyễn Quang Tuyến nuôi ăn ở hàng năm, tôi ra thư viện đọc sách. Cùng với nhiều thư tình đầy tâm huyết người - tình - bậc - chị đến từ Hong Kong (nàng gọi Cảng Thơm) khích lệ người - em - bạn - tình miệt mài với chữ và nghĩa. Lại không thể quên bạn vong niên Phan Văn Thức cấp tiền ăn sáng, giấy stencil và thẩm phán Đào Minh Lượng, khi là sinh viên Trường Luật mua bánh mì dùng bữa trưa để tôi ngồi lì ở Thư Viện Quốc Gia làm mọt sách. Cũng không thể quên chịu ơn André Gide, qua cuốn sách viết phê bình về Fédor Dostoievskï (7) và cả Textes philosophiques của V.Biélinsky (8) nữa.
THẾ PHONG
PHẦN THỨ BA
VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956
[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)]
CHƯƠNG NHẤT
KHÁI QUÁT VỀ BÌNH DIỆN VĂN NGHỆ MIỀN NAM HỢP NHẤT: 1954 – 1956 (VNCH)
KHÁI QUÁT BÌNH DIỆN THI CA MIỀN TRUNG (Quốc Gia Việt Nam)
Hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 ra đời ở Paris, Việt Nam có hai ranh tuyến rõ rệt. Từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam (lúc đó gọi là Quốc Gia Việt Nam, Quốc Trưởng Bảo Đại); vĩ tuyến 16 ra bắc thuộc Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa). Phong trào di dư trên một triệu người (Chúa đã vào Nam) đưa đông đảo đồng bào di cư miền Bắc (QGVN) cặp bến Bạch Đằng Thủ Đô Sàigòn. Thủ tướng Ngô Đình Diệm, chính phủ, đại diện đảng phái quốc gia: đủ thành phần: Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên. Thời gian liên hiệp này chỉ kéo dài không đầy một năm. Năm 1955, truất phế Cựu hoàng Bảo Đại, ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng Thống. Đảng phái bị loại dần, tướng tá bị triệt tiêu, cuối cùng là Trình Minh Thế (Cao Đài Liên Minh). Ông Trần Chánh Thành được bổ nhiệm chức Tổng Trưởng Thông Tin; báo chí, văn hóa thuộc vào bộ này. Nhật báo Cách Mạng Quốc Gia, cơ quan Phong Trào Công chức Cách Mạng Quốc Gia, dùng Lê Văn Siêu chủ bút, cùng với số nhà văn, nhà báo đẩy mạnh tinh thần chống Cộng, xây dựng chế độ nhà Ngô. Mặt khác, kỹ sư Võ Đức Diên, chủ nhiệm tờ Sáng Dội Miền Nam gom số nhà văn báo di cư, nhạc sĩ, làm công tác văn hóa, chống Cộng và xây dựng chế độ Đệ nhất Cộng Hòa; theo đường lối Ngô Đình Nhu, được coi Cố Vấn tối cao Tổng thống Ngô Đình Diệm. Kiến trúc sư Diên thành lập Quán ăn Anh Vũ (45 Bùi Viện, Sàigòn 1), bề ngoài tương trợ sinh viên; trong bốn bức tường phòng ăn đều thiết kế hệ thống thâu âm lén dò xét. Nhật báo Thời Đại phe Cao Đài Nguyễn Thành Phương, tuần báo Việt Chính (Cn: Đại tá Cao Đài Hồ Hán Sơn, sau bị tướng Nguyễn Thành Phương thủ tiêu, ném xác xuống giếng sâu ở Bến Kéo (Tây Ninh). Tuần báo Tổ Quốc, (Cn: Thành Nam (một trí thức phe Hòa Hảo), tuần báo Đời Mới (vẫn là Trần Văn Ân, Chủ nhiệm, chủ bút thực thụ Hà Việt Phương, không có tên ngoài manchette) ủng hộ Bình Xuyên. Ngoài báo Phương Đông Hòa Đồng (sau này), đề xướng trung lập chế của Hồ Hữu Tường... Các nhà xuất bản sách văn học, tiểu thuyết, sẵn có : NXB Phạm Văn Tươi, kiêm chủ hiệu may Jean, lại còn dịch loại sách học làm người, ký Phạm Cao Tùng (dịch sách của Philippe Giradet... Sau 1954 liên kết với NXB Thế Giới Nguyễn Văn Hợi từ Hà Nội vào theo đợt di cư, thành tổ hợp xuất Hợp Lực, trụ sở ở 16 Sabourain (Tạ Thu Thâu, Saigon 1. Các nhà xuất bản khác ở miền Nam như: Khai Trí, Nam Cường, Sống Mới... tiếp tục in phát hành sách. Nhà Nam Cường phát hành sách Phượng Giang, (Đời Nay Nhất Linh chủ trương), các nhà sách khác phát hành in các loại tiểu thuyết bình dân, ăn khách của các tác giả: Dương Hà (Bên Giòng Sông Trẹm, Nguyễn Ngọc Mẫn (Tiếng Suối Sau Leng); tiểu thuyết của Nghiêm Lệ Quân, Tùng Long (nữ), Lan Phương (nữ) v.v... Báo Quân Đội, cơ quan của Nha Tác Động Tinh Thần (tiền thân của Cục Tâm Lý Chiến) với Chỉ Đạo, Nguyễn Mạnh Côn (33) đồng hóa thiếu úy làm chủ bút, tờ tạp chí này ít giá trị văn học, tuyên truyền chính trị. Báo này khám phá tài năng Duyên Anh với truyện ngắn đầu tay đăng trên Chỉ đạo (Con Sáo của Em tôi). Tuần báo Ban Mai do Phan Văn Chẩn, chủ nhà in Ban Mai, 1 Vassoigne Tân Định chủ trương đăng truyện Bách Thảo Sương (Lý Văn Sâm) Bình Nguyên Lộc (34), Nguyễn Bảo Hóa (ký Tiêu Kim Thủy), Thiếu Sơn (phê bình sách) ... nhà văn miền Nam Lý Văn Sâm sau ra bưng. Nhóm được gọi đệ tứ miền Nam như Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc (nhà văn này sau dùng tên thật Phạm Văn Hạnh không đứng chung với Tam Ích, Thiên Giang, sang làm biên tập viên phần Pháp Ngữ Việt Nam Thông Tấn Xã (VIETNAM PRESS). Phạm Văn Hạnh trước tiền chiến đứng chung trong Xuân Thu Nhã Tập, với Đoàn Phú Tứ và Nguyễn Xuân Sanh. Phe Cao Đài Liên Minh, có nhật báo Quốc Gia đặt ở 55A Hồ Xuân Hương, (Sàigòn 3) chủ bút Nhị Lang (thiếu tá Cao Đài Liên Minh tham gia vào Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, cùng với Hồ Hán Sơn và một số phe phái khác trong việc truất phế Cựu hoàng Bảo Đại, ủng hộ Ngô Đình Diệm làm Tổng thống), Thư ký tòa soạn Đinh Thạch Bích (tác giả Ái tình Bôn Xê Vích, sau được giải thưởng văn chương Quốc gia, và là Thứ trưởng Chiêu Hồi). Tờ báo này quy tụ được một số cây viết di cư, trong đó họa sĩ Thái Tuấn trình bầy báo, Uyên Thao, Thế Phong …làm phóng viên... Ngoài ra, tờ nhật báo Tự Do được Mỹ tài trợ, ban đầu Tam Lang cùng một số nhà văn báo di cư như: Thượng Sỹ, Hoàng -Lan, Nguyễn-Xuân-Huy, Đinh Hùng (ký Thần Đăng), Mặc Thu, Phạm Việt Tuyền, Như Phong, Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan... Sau họ chia thành phe phái, tranh chấp nhau, tự ý đóng cửa báo, loại nhau khỏi cơ sở. Sau 1956, chủ nhiệm mới Phạm Việt Tuyền, quản lý Kiều Văn Lân, nhóm này lập Cơ Sở Tự Do, in tác phẩm của Vương Hồng Sển, Nguyễn Đình Toàn, Lê Hoàng Long, Trần Đình Khải, Hoàng Đạo (tái bản), Đỗ Thúc Vịnh.(35) Cuối 1956, Mỹ tài trợ Mai tạp chí văn nghệ Sáng Tạo, do W. Tucker (Mỹ trợ cấp tiền) chỉ định Đặng Lê Kim quản lý tiền bạc kiểm soát. Thật ra, Sáng Tạo là hậu thân Người Việt đình bản trước tờ này do Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền chủ trương, đổi thành báo Lửa Việt. Mai Thảo, tác giả Tháng Giêng Cỏ Non xuất bản vào 1955, được Nguyễn Đức Quỳnh cho con trai Duy Sinh, viết bài phê bình sách, theo lối công kênh đăng, trên báo Đời Mới. Có hai mục đích: tác giả bỏ tiền in hy vọng bán lấy lại vốn; hai để tập truyện một nhà văn di cư vào Nam cần có khí thế để đề cao di cư, trốn chạy Cộng Sản. Nhóm Sáng Tạo gồm: Trần Thanh Hiệp (tập sự luật sư), Nguyên Sa, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền… cùng các văn nhân vệ tinh khác vây quanh. Mai Thảo huênh hoang, dao to búa lớn cầm cờ cổ súy phong trào lấy văn hóa làm phương tiện chống Cộng mới hiệu quả, có tính chiến lược lâu dài ... “đem ngọn lửa văn hóa vượt vĩ tuyến sáng lên ở đây hôm nay ... Sài Gòn là Thủ đô văn hóa v.v... (Sáng Tạo số 1, tháng 10.1956) Và quả thực mãnh lực đồng Mỹ kim, có giá trị siêu đẳng, từ đó khiến kẻ bao thầu văn không còn ngứa cổ hót chơi như chim thơ tiền chiến Xuân Diệu hót hoài, hót mãi âm điệu: “... Năm 1954 còn ghi lại chối lòa cái đẹp của mùa mới, cái đẹp của lên đường (...) Khởi đầu của từng hoạt động văn học, từng phát động nghệ thuật, nói chung, của ta tuyệt đúng, tuyệt hay...!
Năm 1950 Nhân Loại, tờ báo có mặt ở Saigon, (Cn Anh Đào) cơ quan tụ họp nhà văn, nhà báo kháng chiến ở miền Nam, đang sống ở thị thành, hướng về kháng chiến như: Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy, Ngọc Linh, Viễn Phương, Lê Vĩnh Hòa... Báo in có sự yểm trợ của Đông Hồ, Mộng Tuyết, trụ sở đặt ở Yễm Thư Trang, đường Kitchener (Nguyễn Thái Học bây giờ).
Một số trí thức khác, từ miền Bắc di cư vào Nam, như: Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, luật sư Nghiêm Xuân Hồng, Tạ Văn Nho, ... thành lập nhóm Quan Điểm đặt trụ sở ở 35 đường Phạm Ngũ Lão, (Saigon 1) lập nhà xuất bản, in sách và ra được một tuyển tập thơ văn Đất Đứng (1956), in sách của Tạ Văn Nho, Vương Văn Quảng, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng. Có sự cố vấn tối cao, cố vấn văn chương, chính trị Nguyễn Đức Quỳnh. Quản lý nhà in tiền bạc do luật sư Nghiêm Xuân Hồng bỏ vốn. Các hiệp hội văn hóa như Văn Bút Việt Nam, Mặt trận Bảo vệ Tự Do Văn Hóa được ra đời, với mục đích hỗ trợ văn hóa chống Cộng. Với Lý Trung Dung, Phạm Xuân Thái (mở Câu Lạc Bộ Văn Hóa, 142 Tự Do, Saigon 1), Mạc Đình, (bút danh khác của Hoàng Văn Chí) xuất bản Trăm Hoa Đua Nở (nói về Nhân Văn ngoài Bắc), dịch Bác sĩ Jivago, truyện của Boris Pasterenak, hoặc Giai cấp Mới của M.Dijlas...(Nam Tư).
Những năm về sau; Nhất Linh rời núi rừng Dalat về Sàigòn lao vào nghề làm văn chương báo chí. Không còn đứng xa chỉ đạo tái bản sách Tự Lực văn đoàn (Phượng Giang, Đời Nay) do Nam Cường phát hành, ông xin phép ra báo văn chương, nhưng chính phủ Ngô Đình Diệm chỉ cho phép xuất bản Văn Hóa Ngày Nay dưới hình thức giai phẩm. Giai phẩm, loại báo phải kiểm duyệt từng kỳ như sách, xuất bản không số giấy phép đăng trong Công Báo, hình thức bị kiểm soát gắt gao hơn báo định kỳ. Giai đoạn này, ông viết truyện dài Giòng Sông Thanh Thủy, đăng từng kỳ, sau xuất bản thành sách, (ba tập), Viết và đọc tiểu thuyết...,và một tờ báo văn nghệ khác Tân Phong do Nguyễn Thị Vinh chủ trương, cũng có thể gọi là nối dài Tự Lực văn đoàn ở hậu chiến. Những Tường Hùng, Duy Lam, ... xuất hiện vào chu kỳ xuống núi này là của Nhất Linh, Ông đưa họ vào văn đàn chính thức.
Khi chính phủ Ngô Đình Diệm lên cầm quyền, văn hóa phải được coi như tối ưu đãi với Thiên Chúa giáo. Không kể nhà thờ mọc lên như nấm, khi tăng giáo dân theo đạo lấy gạo mà ăn. Giám mục Ngô Đình Thục mon men chức Đức Hồng Y ở Rome, cho thuộc hạ rao ai theo đạo, mỗi đầu người trong gia đình được cấp một tạ (ở Đà Lạt). Nhưng báo chí, văn hóa, văn nghệ đạo Thiên Chúa giáo trong sinh hoạt đấu trường chữ nghĩa lại không mấy khuếch trương được. Vài cơ quan báo chí đạo Công giáo (tên thường gọi làm cho sự hiểu lầm cả ở nước ngoài, có lẽ Việt Nam, một nước có giáo dân khắp nước Thiên chúa giáo (Catholique)) , chỉ trong phạm vi tôn giáo; còn công khai, chỉ có Đại Học của Viện Đại Học Huế, do Linh mục Cao Văn Luận (tác giả Bên Giòng lịch sử) làm viện trưởng chủ nhiệm, Nguyễn Văn Trung, chủ bút. Một số cây viết về văn học nghệ thuật như Nguyễn Nam Châu, tay nhỏ viết ít, vung tay cao mạnh công kênh lớn lên, đăng bài nghiên cứu văn học lại cóp dịch tác giả ngoại quốc.Vụ đạo văn này Phạm Công Thiện lên án trên tạp chí Bách Khoa của Lê Ngộ Châu. Trở lại vấn đề Mỹ tài trợ cho văn hóa Việt Nam phát triển, ở Sàigòn còn rất nhiều hiệp hội, như Asia Foundation tài trợ cho Hội Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu của giáo sư Nguyễn Đăng Thục, chủ nhiệm tạp chí Văn Hóa Á Châu (xuất bản hai thứ tiếng Việt, Anh). Hiệp hội này do Trịnh Hoài Đức quản lý, nhà xuất bản Văn Hóa Á Châu xuất bản được một số sách văn học cổ (dịch), như Việt sử Tiêu Án... còn ở miền Trung, cơ quan văn hóa khác, báo Mùa Lúa Mới xuất bản vào 1955 ở Huế. Chủ nhiệm Võ Thu Tịnh (còn ký Thu Tâm), cơ quan ngôn luận chống cộng của Nha Thông Tin Trung Việt. Thơ, văn báo này không là văn học, mục đích phục vụ chính trị và những Việt Minh cũ bỏ kháng chiến về thành làm công chức như Võ Phiến chẳng hạn - cũng là kẻ góp công, tạo sức cho Mùa Lúa Mới trổ bông hái trái chống Mác xít (bề ngoài) thâu lợi nhuận riêng (bề trong). Phần sau, chúng tôi có tiết nói tới nhà thơ kiểu Thu Tâm là Quốc Dân và Đỗ Tấn điển hình.
Đây chỉ là tổng quan về các hiệp hội văn hóa, các nhóm, các tờ báo quy tụ lại thành nhóm; nhưng còn một hội sắp nói tới đây thật đặc thù. Một hội không là hiệp hội, một nhóm không tên nhóm, một salon văn chương không có vừa ăn, uống vừa đàm; trong một căn nhà tuềnh toàng gỗ trệt ở hẻm Từ Quang (Chùa Từ Quang) – chủ soái Nguyễn Đức Quỳnh. Gọi là Đàm trưởng trưởng, người điều hợp tọa đàm văn chương siêu việt, trung hòa mọi ý kiến đối nghịch, nơi đã tạo ra nhiều nhà văn thơ có địa vị ở miền Nam. Sau này lớp trí thức Quan Điểm, có mặt Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Tạ Văn Nho, Vương Văn Quảng, kỹ sư canh nông viết sách khoa học, nhóm Sáng Tạo Người Việt, có: Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Thái Tuấn, Duy Thanh, Quách Thoại, Ngọc Dũng... Thạch Chương (36), Nhóm làm báo Sân Khấu, Tin Bắc: Lê -Văn -Vũ -Bắc -Tiến, diễn viên kịch Thiếu Lang… Chính ở đàm trường này, Nguyễn Đức Quỳnh hỏi Lê Văn, người bạn viết mới nào ký tên Phí Ích Nghiễm – ông mong được gặp. Sau này, chính là nhà văn Dương Nghiễm Mậu. Những Bùi Khải Nguyên, Uyên Thao, Hồ Hán Sơn (lúc chưa qua đời), Phạm Duy, Cung Trầm Tưởng, Lữ Hồ, Thanh Thương Hoàng, Thế Nguyên, Trần Dạ Từ (lúc này còn ký Hoài Nam), Lý Đại Nguyên, Đinh Hữu, Thanh Hữu, Uyên Thao… mỗi người bước vào nhà tới chiếc bàn nhỏ có cuốn Vượt, đóng gáy da, mạ chữ vàng... Ai đến thì ký tên vào với bút tích, với cảm nghĩ, thông báo sáng tác mới làm, và kinh nghiệm nghề cầm bút. Động lực của salon văn chương Đàm Trường Viễn Kiến tạo được kích thích sáng tạo, đánh giá văn chương đúng mức; nói khác đi cái nôi được bà vú tốt bụng giỏi giang nuôi dưỡng tinh thần. Lại bàn về thơ phổ nhạc. Thơ hay sẽ càng hay hơn càng xúc cảm hơn; khi được bàn tay phù thủy của âm nhạc phổ; sẽ càng phổ biến tăng cái hay của thơ cho công chúng văn học nghệ thuật. Phạm Đình Chương, nhạc sĩ đưa bài thơ Mộng Dưới Hoa của Đình Hùng vút tận trời xanh, với tiết tấu, nhạc điệu êm đềm, buồn day dứt, thật tha thiết. Nguyễn Đức Quỳnh cảm được thơ đôi ba bài nào đó của Phạm Thiên Thư, như Động Hoa Vàng, giới thiệu nhạc sĩ tài ba phù thủy Phạm Duy sẽ biến ngay thành âm thanh dìu dặt, nâng đỉnh cao, sức đẩy bài thơ càng bay xa. Riêng nhạc sĩ sau này còn đánh bóng thơ Cung Trầm Tưởng (38) lên cung bậc thượng thừa.
Trong văn chương nghệ thuật, đôi khi rất cần những người đánh giá tốt, thì Nguyễn Đức Quỳnh là bực thượng thừa. Theo sự hiểu biết chúng tôi, sau còn người nữa, ông Lê Ngộ Châu (LNC) báo Bách Khoa. Sáng Tạo có mặt từ tháng 10 năm 1956, Văn Hóa Ngày Nay, đầu năm 1958, Bách Khoa số đầu tiên 1957, tòa soạn đặt trong một phòng ở chung cư đường Đoàn Thị Điểm, Saigon 3. Những chủ nhiệm các tờ báo này không là người trong nghề, kể cả người đánh giá có mắt tinh đời trong văn học nghệ thuật (LNC), nhưng tạp chí này còn là nôi, tạo thành số nhà văn nổi đình đám sau này. Lê Ngộ Châu xuất thân theo học Trường Bưởi, sinh năm 1923 ở ngoài Bắc, Ông đã điều khiển báo Bách Khoa, tạp chí ban đầu chỉ là tiếng nói của ngành ngân hàng, sau trở thành một tạp chí giá trị văn học nghệ thuật, với gần 200 số báo, kéo dài từ 1957 đến 1975, khi Võ Phiến được thuyên chuyển nghề công chức từ Huế vào Saigon, nhà văn này đã coi nơi này là mảnh đất tốt cầy sới làm nên sự nghiệp. Có cả nhà thơ (đôi khi rất điên, điên, bệnh thật sự) là Nguiễn Ngu Í (chủ trương I ngắn), từ báo Phương Đông (Hồ Hữu Tường), Mới (Phạm Văn Tươi) chuyển sang, với hàng loạt phỏng vấn các nhà văn, thơ họa, tạo được một không khí sôi nổi kích thích nền văn nghệ Việt Nam Cộng Hòa khởi sắc. Kể thêm những cây bút khác, như Nguyễn Hiến Lê, Xuân Hiến, Phan Văn Tạo, (từ nơi Bách Khoa đăng truyện đầu tiên), Đoàn Thêm, rồi Vòng Tay Học Trò đăng tải trước khi in thành sách. Và nhà văn Nguyễn Thị Hoàng bước lên chỗ đứng văn học vững vàng. Còn Túy Hồng tương tự Nguyễn Thị Hoàng. Và còn Lê Tất Điều, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Mộng Giác... Vòng tay núi lớn Bách Khoa của Lê Ngộ Châu, chủ trương dung hòa, kết nạp mọi khuynh hướng; ngoài Nguyễn Văn Trung, Vũ Hạnh, còn một linh mục ở Pháp về vào 1965, có bài báo đầu tiên ký Nguyễn Ngọc Lan đăng ở đây với khoản nhuận bút 500 đồng. Song đối với tác giả lúc ấy thật quí! Nguyễn Ngọc Lan (39) sau đó đã trở thành nhà hoạt động chính trị, cởi áo dòng về với nhân gian làm người bình thường, tác giả một số sách về nhân văn giá trị tư tưởng, có vị thế riêng biệt.
Chương Hai
VỀ CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP VIẾT SƠ LƯỢC.
Lớp nhà văn nữ, điển hình khuynh hướng tình cảm lãng mạn buông lỏng, tác phẩm là truyện dài đăng từng ký trên nhật báo Sài Gòn Mới (Cn: bà Bút Trà), như Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ) (in thành sách), Thiếu - Mai – Vũ - Bá - Hùng (nữ)... thuộc loại văn câu khách, giá trị nội dung không cao. Nhà văn trẻ khác, đang lên như Kiêm Minh, Uyên Thao, Tạ Quang Khôi, Nguyễn Hoài Văn, Minh Đăng Khánh, Tô Kiều Ngân, Tường Hùng,... nội dung tác phẩm, mổ xẻ nội tâm người thời đại sâu sắc. Truyện ngắn tạp văn, có Nguyễn Hoài Văn, Kiêm Minh, Uyên Thao… Truyện dài Mưa Gió Miền Nam của Tạ Quang Khôi đăng từng kỳ trên nhật báo Tự Do, có sự khích lệ nhiệt tình Vũ Khắc Khoan, kịch tác gia là một trong ban chủ biên báo Tự Do, (người môi giới Mỹ tài trợ, hình thành tờ báo trên). Một số nhà văn khác chưa nói đến trong sách này, dù tuổi chín muồi, nhưng nghiệp văn mới bắt đầu; theo thiển ý, chỉ nhắc sơ lược. Như Lưu Nghi (sau chủ trương NXB Trùng Dương), Phạm Nguyên Vũ có một số truyện ngắn đăng trên Sáng Tạo, Tân Kỷ Nguyên Võ Phiến, (báo Mùa Lúa Mới, Bách Khoa), tác giả tập truyện Chữ Tình (1957, sau chủ trương NXB Thời Mới), Thanh Thương Hoàng (39) (Kiếp Phong Sương, 1957), Văn Quang (truyện ngắn Dưới Ánh Đèn Đêm, Giao Thanh (truyện Trọn Vẹn), Huy Trâm (40) (truyện Đêm Mưa Trong Xóm Hoa kiều) (45). Đa số các nhà văn dùng chất liệu sống từ đời họ, hoặc hình tượng sống đãi lọc ngoài đời, đưa vào truyện đủ gây ấn tượng ban đầu là nhà văn tài năng.
Hình ảnh các nhà văn ấy, khiến chúng tôi nhớ đến Raymond Radiguet qua tác phẩm (Le corps au diable) (41); đọc xong nhà thơ nổi tiếng Jean Cocteau khen: những trang tuyệt đẹp trong văn chương Pháp.
Tiết 1
Tiểu mục:
1. Tùng Long
Tên Lê Thị Bạch Vân. Sinh 1913 ở Đà Nẵng. Theo học Trường Áo Tím (Gia Long bây giờ). 
Chủ trương báo Tân Thời ở Sài Gòn. Vào Nam từ 1935, biên tập viên nhật báo Sài Gòn Mới (Cn: Bút Trà), Phụ Nữ Diễn Đàn, Văn Nghệ Tiền Phong... Từ 1952, cho đăng truyện dài từng kỳ trên báo Sài Gòn Mới, như truyện Nhị Lan, Chúa Tiền Chúa Bạc, Những Kẻ Có Lòng, Hoa Tỉ Muội, Tình và Tiền, Lầu Tỉnh Mộng, Ái Tình và Danh Dự... một số truyện sau in thành sách. Truyện Tùng Long đề cao nền luân lý cũ, giáo dục gia phong nền nếp theo quan niệm cổ hủ chịu ảnh hưởng luân lý trường đời Lê Văn Trương. Nếu nhân vật truyện của Lê Văn Trương, đôi khi cường điệu trở thành anh hùng rơm, y hệt nếp sống nhân vật Tùng Long. Trong hầu hết các truyện mang tính chất, cao thượng rởm phong lưu mượn. Thường thường, người giầu thương người nghèo làm phúc, con gái cha mẹ đặt đâu phải ngồi đó, phải giầu lòng nhân ái; nhưng là ngụy bác ái (philanthropie). Các truyện Lầu Tỉnh Mộng, Hoa Tỉ Muội, câu cú, bút pháp đủ sức hấp dẫn đối với đàn bà, con gái có trình độ văn hóa phổ thông, ưa thích truyện khuê phòng, lắt léo, gây cấn.
Văn chương lãng mạn bình dân Tùng Long ảnh hưởng đến quần chúng độc giả không phải nhỏ. Chung trường hợp Tùng Long là Tôn Ngô, Dương Hà, Phú Đức, Nguyễn Ngọc Mẫn, Trọng Nguyên... Riêng Trọng Nguyên, nhà văn trẻ có tiểu thuyết bán rất chạy, không kém Tùng Long; nội dung mới hơn, nhân vật đầy sức sống, Việt Nam hơn - ấy là so sánh tâm lý nhân vật Tùng Long, không Việt Nam; bởi phỏng theo phương Tây, qua các báo Nous Deux, Marie Claire ...
2. Quỳnh Hương
Tên thật Võ Thị Ngọc Hương, sinh 1918 ở Huế. Theo học Trường Đồng Khánh, École des Soeurs ở Huế. Viết văn khi còn trên ghế nhà trường vào năm 17 tuổi. Những bài văn đầu tiên gửi cho Nam Phong (Phạm Quỳnh), Phong Hóa (Nhất Linh), Phụ Nữ Thời Đàm v.v... Tác phẩm: Hai Ngả Đường (Bốn Phương, 1953)...
Về mặt phân tích tâm lý nhân vật nữ, sâu sắc, tế nhị. Từ cử chỉ nhỏ nhặt phụ nữ, ý nghĩ bộc phát thật phức tạp của nữ giới, và chỉ nữ giới mới biết được; trong tác phẩm của bà đã hiện rõ nét. Tuy nhiên Hai Ngả Đường chưa đạt nghệ thuật cao, tùy nội dung tiến bộ. Nếu đem so sánh với Một Linh Hồn của Thụy An Hoàng Dân đúng là một trời một vực..
3. Thiếu Mai – Vũ Bá Hùng. (1918-2007)
Tên thật Nguyễn Thị Hòa. Sinh 1918 ở Hà Đông. Viết cho báo Đàn Bà của Thụy - An - Hoàng - Dân thời tiền chiến. Bài văn đầu tiên Kiếp Hoa đăng trên báo tuần san được Giải thưởng Phụ nữ vào 1933. Sau 1950 bà dịch truyện Amok, truyện của Stephan Zweig đăng trên báo Tiếng Dân (Hà Nội). Vào SàiGòn bà viết cho các tuần báo Ban Mai (Phan Văn Chẩn), Quốc Gia (Nhị Lang)... Tác phẩm: Trời Đã Xế Chiều (Hưng Long Hà Nội 1953), Tiếng Gọi Đồng Quê (dịch The Good Earth, truyện Pearl Buck).
Tóm tắt cốt truyện Trời Đã Xế Chiều, tả cuộc đời sóng gió một người vợ trẻ, có tên Phương Lan. Nhân vật nữ lập gia đình rồi, phó thác số phận cho chồng lo toan; riêng nàng cho đây là cách xây dựng hạnh phúc tốt đẹp nhất. Khi nhân vật thứ ba xen vào, chồng nàng san xẻ tình yêu cho người ấy thì Phương Lan nhận thấy không còn cách nào giải quyết, ngoài ly dị. Nàng bế con thơ ra đi. Cốt truyện giản dị như vậy tác giả đi sâu vào tâm lý nhân vật nữ, đào sâu hơn vẫn là Phương Lan. Nhân vật nam như, Tuấn, Huy, Linh, tác giả áp dụng lối dĩ độc trị độc, để giải quyết bế tắc mỗi nhân vật. Nhưng có thể, nghệ thuật viết còn yếu, non tay; lối dĩ độc trị độc đầu độc ngược lại; không mang lại hiệu quả như ý tác giả. Tây học song bà vẫn chịu nhiều ảnh hưởng Khổng, Mạnh, giải quyết số phận nhân vật theo định mệnh. Tác giả cho nhân vật Huy kết hôn với Phương Lan, vì nàng không thể tránh nổi hồng nhan; Huy chết vì không được hồng nhan yêu, Phương Lan tự tử vì hối hận. Cách giải quyết theo lối định mệnh nhân vật Trời Đã Xế Chiều, có ý kiến dưới đây khá xác đáng “... Đây giản dị lắm. Toàn là những Trời bắt, thoát sao được! Tác giả đã đành chịu với định mệnh thì làm sao cho các nhân vật của mình tìm ra lối thoát. Định mệnh đã ràng buộc, định mệnh là quân tiền phong của định mệnh bắt xế chiều rồi, làm sao cho hửng nắng. Gàn tai ác và dã man là đức tính của tác giả Phương Lan, thế nào làm cho Phương Lan lành mạnh được!...” (42) Về dịch thuật, Thiếu - Mai - Vũ - Bá - Hùng, qua Tiếng Gọi Đồng Quê chưa là dịch giả xuất sắc, dịch chưa thoát lột tả được nội dung nguyên tác. Nhiều đoạn văn dịch trúc trắc, khó hiểu, Tây hóa quá mức, hơn cả nội dung tác giả Phương Tây thấm nhuần lề lối cảm nghĩ Đông Phương như Pearl Buck.
4. Minh Đăng Khánh (1927–198?)
Tên hiện mang trong căn cước: Trần Đăng Lộc. Sinh 1927 ở Thanh Hóa. Theo học khóa 1 Trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn, Liên khu IV. Sau hồi cư, ký Minh Đăng Khánh, trong các truyện thiếu nhi, như Bê và Lụ đăng trên tuần báo Đời Mới (Sài Gòn) mà ông là biên tập viên. Minh Đăng Khánh rời kháng chiến, nhưng còn người em ruột ở lại, cũng viết lách mang cùng bút hiệu. Nếu Thy Thy Tống Ngọc trên báo Giang Sơn (Hà Nội) trước năm 1954 có những chuyện thiếu nhi được kể lại trong Khúc Ca Thơ Ấu; thì ở Sài Gòn có Minh Đăng Khánh chăm sóc giáo dục thiếu nhi qua loạt truyện như Bê và Lu. Tác giả có giọng văn thật trong sáng, dí dỏm, tài kể chuyện thật hấp dẫn. Tiền chiến có Trần Trung Phương, Tô Hoài (43) nhất là Tô Hoài với Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, truyện này thật sinh động, kích thích, hồi hộp cho thiếu nhi chia sẻ với chuyến phiêu lưu dế mèn tơ rời ổ.
Ông qua đời ở Sài Gòn, vì tai biến mạch máu não, vào thập niên 80.
5. Tạ Quang Khôi.
Sinh 1933 ở Nam Định. Cùng là bạn học, và khởi sự viết với Hoàng Song Liêm, Nghiêm Huy Giao – ở Hà Nội trước 1954; nhưng mới chỉ gửi bài lai cảo đến các tòa báo chờ đăng. 1954 vào Nam, được sự khích lệ tận tình Vũ Khắc Khoan, ngay cả chọn bút hiệu bằng tên thật (ở Hà Nội, ký dưới thơ lai cảo Tạ Quang Diễm). Ông viết truyện dài Vực Thẳm nhiều kỳ trên nhật báo Tự Do. Truyện luận đề, tả sự xung đột giữa hai khối: Cộng sản và Quốc gia. Nhân vật được xoay quanh sinh hoạt người làm chính trị. Nhưng không sở trường, mà là sở đoản cho tác giả Vực Thẳm. Tác giả thiếu vốn liếng, sinh hoạt của người làm chính trị, nhân vật chính khách trở thành ngây thơ, kệch cỡm. Như Nguyễn Ái Lữ chuyển từ viết truyện tâm tình sang tập tạp bút luận đề chính trị Đường Tự Do, thì lại xa lạ với chính ông; hoặc Huy Sơn cũng từ Thương Em Lạc Hướng Đời sang Trường Ca; các tác giả ấy chỉ mong nhân vật đi đúng lập trường chống Cộng và đề cao người Quốc gia. Tạ Quang Khôi sở trường về tiểu thuyết tâm lý xã hội thanh niên nam nữ, được mô tả trong tiểu thuyết Mưa Gió Miền Nam.
6. Tường Hùng.
Nguyễn Tường Hùng sinh 1931 ở Hà Nội. Con cháu nhà văn Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), chủ soái Tự Lực văn đoàn tiền chiến. Gió Mát, truyện dài đầu tay được nhà xuất bản Phượng Giang in ấn. (Nhất Linh, chủ trương ở Sài Gòn sau 1950). Tác giả đưa bối cảnh xã hội 1945 năm đầu của Tổng Khởi Nghĩa cho cốt truyện. Sâm, Kim, Hương, Thu, Lý, Nam; hầu hết là thanh niên, nam nữ thời ấy. Sâm bỡ ngỡ với cuộc kháng chiến mở màn; vẻ dằn dỏi can đảm thôn nữ như Kim, óng ả mượt thành thị là Hương, mỗi nhân vật được phân tích có cá tính. Nội dung truyện, ông đưa ra kết luận, đại để bất cứ thời đại nào, dù vừa trải qua cách mệnh long trời lở đất; thì lòng người thời nào cũng vẫn giống nhau không thích chiến tranh. Người ta vẫn yêu nhau, bao giờ tình yêu cũng đẹp! Tâm lý nhân vật Tường Hùng, như trên đã nói, phân tích chiều sâu nội tâm sâu sắc, phong phú tình cảm, rung động; nhất là những pha tả sự gặp gỡ giữa Sâm và Kim, chứng tỏ ông là nhà văn có bút pháp một tiểu thuyết gia tài năng truyền thống. Nhân vật Sâm, có thể nói; chính là sự phản ánh về giai cấp tác giả, như được mô tả là giai cấp ngồi đợi (bất chiến tự nhiên thành) không muốn tranh đấu, nhưng lại tin là kết quả thì ưu tiên hưởng. Có đoạn bố cục cho nhân vật tỏ ra khác người, cố nặn tình tiết kỳ lạ, bí hiểm, tâm lý quá lố, yếu tố chính là tác giả tạo cho độc giả đọc mà khó hiểu như đây là một lập ý cao. Cho đến khi chúng tôi viết đến đây, Gió Mát ra đời tác giả lên đường du học ở Pháp.
7. Kiêm Minh (1929 – 1985).
Tên thật Trần Kiêm Minh. Sinh 1929 ở Huế. Tác giả rất nhiều truyện ngắn, tạp bút, đăng trên các báo: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Thẩm Mỹ, Nhân Loại, Cải Tạo loại mới, Sinh Lực..., đến nay chưa xuất bản được tác phẩm nào. Kiêm Minh viết truyện thiếu nhi; riêng loại này xuất bản thành tập nhỏ. Ông rất sở đắc về loại truyện thiếu nhi, viết thật dí dỏm, kể chuyển hay, cộng thêm văn duyên dáng hợp với tuổi mới lớn. Về truyện ngắn, như: Chiến Lợi Phẩm, tả tâm trạng của anh lính chiến trở về chỉ sống nhờ vào chiến lợi phẩm có được, sau khi vào sinh ra tử, tay không lại hoàn tay không, thật xúc động. Sau thế chiến hai, đời sống khổ cực vì miếng cơm manh áo dân Ý Đại Lợi được mô tả trong nhiều truyện ngắn; đọc xong cười ra nước mắt của Alberto Moravia; thì không khí truyện Kiêm Minh cũng vậy. Viết về những mẩu đời đi xuống, muốn phá trật tự xã hội trong tập truyện Cấm Yêu – đọc lên thật thấm thía chua xót. Cặp nam thanh nữ tú yêu nhau bị gia đình cha mẹ cản ngăn không tác hợp, họ bèn bẻ xiềng xích, thân lập thân quyết lấy nhau, chung sống. Truyện ngắn Kiêm Minh nội dung sâu sắc, tế nhị, phản ánh đời sống thực tế phũ phàng, nhân vật sống với tư tưởng triết lý vụn ý nghĩa. Tất cả đây đó được ông thể hiện qua truyện ngắn: Nắng Nửa Đêm, Chiến Lợi Phẩm, Sau Lưng Thành Phố, Cấm Yêu... Số truyện ngắn này có thể lên tới con số hàng trăm. Nếu phong cho nhà văn viết truyện ngắn hay, sâu sắc tiến bộ, tư tưởng cao, văn phong mượt mà, bóng bẩy ở hậu chiến; đề nghị danh sách đứng hàng đầu là nhà văn tài năng Kiêm Minh. Ông qua đời ở Sài Gòn vào những năm tám mươi trong đói nghèo.
8. Tô Kiều Ngân.
Tên thật Lê Mộng Ngân. Sinh 1928 ở Huế. 
Bạn văn Kiêm Minh, Thanh Nam, Nguyễn Minh Lang, Nguyễn Thiệu Giang... Cùng Thanh Nam chủ trương tuần báo Thẩm Mỹ (Sài Gòn) vào những năm năm mươi. Viết cho rất nhiều báo, những đoản văn, bài thơ nho nhỏ, bài điểm sách vài cột báo; ông còn thổi sáo, viết sách dạy thổi sáo, ngâm thơ. Nhiều năm cộng tác với Đinh Hùng trong Tao Đàn ở Đài phát thanh Sài Gòn; từ nhiều năm cộng tác với các báo từ Nam ra Bắc cả Trung; độc giả vẫn còn được đọc bài thơ nho nhỏ đăng trên Mùa Lúa Mới (Võ Thu Tịnh) như: Tâm Sự Người Chiến Binh. Trước 1954 một đoản văn của ông viết về Hàng Khay đăng trên báo Hồ Gươm (Hà Nội). Tác phẩm: Người Đi Qua Lô Cốt (tập truyện Sài Gòn 1956)
Tô Kiều Ngân viết nhiều truyện ngắn, đoản truyện đúng hơn; không có gì nổi trội, đặc sắc, kể cả truyện nói về chiến binh (nhà văn quân đội), chiến trường, nơi sống và chết gần kề dễ làm xúc động độc giả. Nhưng với Tô Kiều Ngân, điều này xa vắng trong tác phẩm.
Người Đi Qua Lô Cốt, có truyện tập diễn tả theo lối văn câm giác (style d’inspiration) như một truyện nào đó trong Tháng Giêng Cỏ Non của Mai Thảo, nhưng chưa thể là Mai Thảo. Và truyện khá nhất trong tập, Nắng Lửa, gia đình anh Mười quá nghèo sống trong xóm lao động. Cái hay, ông tả rất sống động hiện thực, theo dõi tâm lý nhân vật biến đổi qua thời đoạn sống, cũng chiều chuộng vợ con, gia đình nhưng không thể nhiều hơn một lần, bởi đời sống khổ cực, làm ăn không ra, vợ chồng cãi cọ, gấu ó trong cuộc sống. Nguyên nhân chính vẫn là cái khó bó cái khôn, sự khổ cực nghèo hèn của đôi vợ chồng anh Mười kéo dài.
Truyện ngắn khác như Biển Lửa, Ánh Đèn Đêm... không có gì mới kể cả truyện chính Người Đi Qua Lô Cốt, làm nhan đề sách.
9. Uyên Thao.
Tên khai sinh Vũ Viết Loan. Sau đổi tên thật nhiều lần, cuối cùng là Vũ Quốc Châu. Sinh 1933 ở Tuyên Quang trong một gia đình lao động. Về Hà Nội học từ năm 1950. Ngay khi ngồi trên ghế nhà trường, ông có bài đăng trên Tia Sáng Đặc San (Ngô Vân), ký Hà Lang, được nhà thơ dạy học Nguyễn Việt Hoài (Hoài Việt) khuyến khích tận tình. Năm 1954, phóng viên nhật báo Quốc Gia (Nhị Lang, chủ bút), Văn Nghệ Tập San (Nguyễn Đăng Thục), Thư ký tòa soạn tạp chí Sinh Lực (Võ Văn Trưng), Tạp chí Văn Hóa Á Châu, nhiều bài bàn về văn học ký Lý Danh Chương (43). Viết truyện ngắn, làm thơ, phê bình văn học, điểm sách trong tuần. Truyện ngắn tâm tình đặc sắc như: Nắng Tháng 10 đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong (Hồ Anh) Triệu Chứng trên báo Dân Chủ (Vũ Ngọc Các). Đêm Đông Đặc (Mùa Lúa Mới). Truyện ngắn mổ xẻ nội tâm phân tích sâu sắc, văn phong nhẹ nhàng. Ở Nắng Tháng 10 không khí văn như Thạch Lam trong Tà Áo Lụa.
Một truyện ngắn khác, luận đề tư tưởng, nói về sự phân tranh giữa Quốc và Cộng; trong Đêm Đông Đặc (báo Mùa Lúa Mới); truyện công thức, gò bó, đem lập trường chính trị vào văn chương qua nhân vật dàn dựng, thiếu chất văn chương.
10. Nguyễn Hoài Văn.
Tên thật Nguyễn Bùi Thức. Sinh 1930 ở Nam Định. Lớp cùng thời Tô Kiều Ngân, Thanh Nam, Nguyễn Thiệu Giang...; sáng tác thơ, kịch ngắn. Truyện ngắn: Bơ Vơ, Tình Ruộng Đất, Hai Tiếng Chuông, Thuở Nào Xưa, Chiếc Mũ Lá... đăng trên báo Quê Hương (Hà Nội), Cải Tạo (Hà Nội), Thẩm Mỹ (SàiGòn)... và chưa xuất bản thành sách. Truyện ngắn đặc sắc, Dòng Dư Lệ đăng trên tạp chí Nghệ Thuật (1953), Chiếc Mũ Lá (Thẩm Mỹ). Truyện sau tả hai anh em ruột ở hai chiến tuyến đối nghịch gặp nhau ngoài trận địa, chuyện thật bi thảm, xúc động, bàng hoàng; đánh động ý thức xâu sé về nội chiến ròng rã mấy mươi thập niên. Nguyễn Hoài Văn tạo được chỗ đứng riêng khi kể đến những nhà văn viết truyện ngắn hay hậu chiến (tuy chưa có một tác phẩm in thành sách).
Từ Vũ và Việt Văn Mới Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu 
KỲ THỨ XXV
VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956
[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)]
Giai đoạn kháng chiến, từ 1945 đến 1950 Việt Nam độc lập được gần một năm. Tiếp, Pháp chiếm lại Hà Nội, (ngày 19 tháng 12 năm 1946) cho dù đảng phái Quốc hay Cộng đều bỏ phù hiệu riêng, đoàn kết trong danh xưng kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng. Suốt chín năm (1945–1954), thì kháng chiến ở bốn năm về sau, đã hao hụt thực chất; Mác xít ra mặt lãnh đạo – và cho đến 20–7–1954, phân chia đất nước, danh xưng toàn dân kháng chiến mất hẳn ý nghĩa. Song trên bình diện văn nghệ, ý thức toàn dân kháng chiến tạo được nền văn học có chiều sâu và rộng.
Giai đoạn văn nghệ phân hóa, văn nghệ Mác xít – theo hẳn lối sáng tác được chỉ huy, nhất là sau 1954 miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Còn Quốc Gia và miền Nam (VNCH) văn nghệ chỉ là vườn hoang, mọc đủ loại thảo mộc. Trong tập này, với người khe khắt cho quá nhiều – người dễ dãi cho chưa đủ. Với tôi, vẫn chỉ là bắt voi bỏ giọ, và tất nhiên chủ quan; thiếu sót tất nhiên không thể tránh. Nhìn vào những người viết sách nhận định văn học trước như Vũ Ngọc Phan kết luận cuối trang sách phê bình văn học, có đoạn:
“... Trước hết, bộ sách này là bộ phê bình văn học như tôi đã nói nhiều lần, vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn. Sau nữa, trong khi tôi viết những trang phê bình về thơ, có nhiều thi sĩ chưa có quyển thơ nào xuất bản, về kịch hay tiểu thuyết, có nhiều nhà văn chưa có sách biên khảo, chưa có kịch hay tiểu thuyết ra đời. Như vậy, biết căn cứ vào đâu cho chắc chắn? Rồi lại những nhà văn chính trị tuy đã có văn thơ in trên báo chương hay xuất bản thành sách, cũng không có trong bộ sách này, vì một lẽ mà ai cũng hiểu khi nhớ đến chế độ hiện hành về sách báo. Còn những nhà văn chuyên viết những sách Pháp văn thì tôi cho là không phải nói đến trong văn học Việt Nam. (...) Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa rằng bộ Nhà Văn Hiện Đại này chỉ là một bộ phê bình văn học, không phải là bộ văn học sử. Trong văn học sử, người viết cần phải xét rất kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến văn phẩm, rồi lại phải định rõ cả sự liên lạc của nhà văn nọ với nhà văn kia đồng thời hay khác thời đại. Nếu không đủ được những điều cốt yếu ấy, để định rõ phong trào văn học, thì dù có văn học sử đi nữa, người ta cũng chỉ coi là một mớ sử liệu...” (1)
Thời gian này tác phẩm viết bằng Pháp ngữ như Phạm Duy Khiêm với Légendes des terrres sereines và Nam et Sylvie; hoặc Nguyễn Tiến Lãng Le Chemin de la Révolte; Phạm Văn Ký: Frère de Sang, Celui qui régnera; Cung Giụ Nguyên Le Fils de la baleine – sử học Lê Thành Khôi với Le Vietnam, Histoire et Civilisation v.v..., không nói đến, cũng như lý do mà ông Vũ Ngọc Phan đề cập tới ở trên. Đến nhà chính trị văn sĩ Hồ Hữu Tường với Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc bỡn Nga, ... thì cũng vậy. Cả đến loại sách trinh thám kỳ tình, kiếm hiệp, phong thần, phỏng dịch chắp vá được gọi là tác phẩm văn học – chúng tôi xin phép không nói tới. Rõ hơn là Phạm Cao Củng có mặt từ tiền chiến với Kỳ Phát; hoặc truyện Người Nhạn Trắng cũng thế v.v... Tác giả Hoàng Như Mai, thời gian 1950–1954 trong kháng chiến; chúng tôi đưa vào cuốn này; vì vở kịch Tiếng Trống Hà Hồi đặc sắc được in trình diễn ở Hà Nội. Có thể nói điển hình bộ môn kịch là Tiếng trống Hà Nội. Bước sang bộ môn biên khảo, đưa Duy Sinh vào một tiết, như một điển hình cho lớp người viết biên khảo; cũng vẫn chủ quan, so với Diên Hương, Thu - Giang - Nguyễn - Duy - Cần; Khi đối chiếu lại thì, Duy Sinh không thể giá trị bằng hai nhà biên khảo vừa nêu danh.
Trở lại bình diện văn nghệ hậu chiến, tập 3 gồm trên dưới một trăm nhà văn; chọn ba mươi điển hình nói tới cặn kẽ; so với người khác viết tóm lược. Cũng vẫn chủ quan thô thiển và tự nhận thiếu sót. Bởi còn nghĩ xa hơn rằng: "không thể viết đầy đủ các nhà văn mình muốn đưa vào một quyển, thay vì mỗi nhà văn điển hình phải viết hẳn một cuốn nói về họ".
Nên coi những trang viết này chỉ là chữ viết (écriture) trong bộ sách này, và không là văn học (littérature); như quan niệm của Michel Buto (2). Lẽ trang viết có ý nghĩa tổng quát hơn. Còn nữa, bộ sách này chỉ là kết quả viết về tác phẩm các tác giả mà tôi đã đọc, đưa ra nhận xét của riêng tôi; giúp cho nghề tôi nuôi nghiệp (littérateur). Từ 1950 đến 1956, biến chuyển thời cuộc tác động đích thực vào đời sống văn học mà nhà văn sống trong đó. Ở miền Bắc của Quốc Gia Việt Nam (1950 – 1954) nhóm Thế Kỷ tạo thành một Triều Đẩu, qua những mảnh đời phóng sự hồi cư nóng bỏng, hàng ngày phải đối phó với đời sống, tạm gọi độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Còn thêm nhà văn điển hình như Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, (truyện), Bến Nước Ngũ Bồ (kịch dã sử), Nguyễn Minh Lang, ngọn bút tài hoa của văn chương lãng mạn mới, qua Gái Hà Nội, Nước Mắt Trong Đêm Mưa, Cánh Hoa Trước Gió (2 tập)... Hai nhà văn này, chúng tôi đề cập ở Chương 3 (tiết 2 và 4) – nhưng tập 3 này xuất bản ở Sài Gòn vào 1959 (Loại sách Đại Nam văn hiến trong nhà xuất bản Huyền Trân, Nhật Tiến chủ trương) bị kiểm duyệt bỏ trọn tiết. Bản in lại lần thứ hai in lại đầy đủ; nhưng trong lần này vẫn phải để trống phần phân tích; vì lý do tầm thường – không kiếm được bản tái bản vào 1973. Hai nhà văn điển hình khác nói đến trong Chương 3 là Thanh Hữu, Văn An. Về nhà thơ điển hình: Đinh Hùng, Nguyễn Quốc Trinh... Viết tóm lược nhà thơ: Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Băng Sơn, Vân Long, Trần Nhân Cư... Bình diện văn nghệ miền Trung (Quốc gia Việt Nam) vào giai đoạn này, nhà thơ điển hình được nói đến : Huyền Chi (nữ), Hoài Minh, Thanh Thuyền. Viết tóm lược các nhà thơ: Hồ Đình Phương, Huyền Viêm, Thế Viên...
Bình diện văn nghệ miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nhà văn điển hình: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo (nữ), Triều Lương Chế, Phạm - Thái - Nguyễn - Ngọc -Tân Phạm Thái kèm tên thật Nguyễn Ngọc Tân, phân biệt với một Phạm Thái khác), Chấn Phong Hư Chu. Viết tóm lược: Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ), Thiếu-Mai-Vũ-Bá- Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm Minh, Nguyễn Hoài Văn, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân... Một số nhà văn khác nổi tiếng sau giai đoạn 1956 như Võ Phiến chưa có tác phẩm xuất bản. Phải kể thêm trong số đó: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, (nữ), Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng (nữ), Võ Hồng, Thế Uyên, Tuấn Huy, Thế Nguyên, v.v... của Đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 trở đi). Riêng về phóng sự tiểu thuyết: Hoàng Hải Thủy với Vũ Nữ Sài Gòn (3), Duyên Anh qua bút hiệu Thương Sinh, Toàn Phong với Đời Phi Công, chúng tôi chưa có cơ hội nói đến, và nhờ Vũ Ngọc Phan giúp giải vây sự khốn đốn;... vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn... Thêm nữa, khoảng thời gian viết đến lúc in ra (dầu cho là in ronéo-typé cách vài năm). Do đó, chưa kịp nói đến Võ Phiến (Chữ Tình), (4) Thế Uyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Toàn Phong, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Thế Nguyên, Văn Quang (Thùy Dương Trang), Huy Trâm, Phạm Nguyên Vũ, Túy Hồng (nữ), Lê Vĩnh Hòa, Nhật Tiến, (văn) v.v... – Về thơ: Thái Thủy, Tô Thùy Yên, Tôn Thất Quán, Hoàng Khanh, Cung Trầm Tưởng, Cao Mỵ Nhân, Viên Linh, Trần Dạ Từ (khi ấy ký Hoài Nam), Hoài Khanh, Hà Yên Chi v.v... và v.v... (5).
Giá trị văn chương tiền chiến Tự Lực văn đoàn, có cả Lê Văn Trương, (tập một: Nhà văn tiền chiến), tiếp đến giá trị văn chương lửa kháng chiến; sau là hậu chiến. Đọc Bướm Trắng, Nửa Chừng Xuân. Mấy Vần Thơ, Gửi Hương Cho Gió, Vang Bóng Một Thời, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giông Tố... không nhìn thấy đầy đủ hình tượng sống cuộc sống hôm nay được thấy trong: Gió Bấc, Truyện Năm Người Thanh Niên, Trên Vỉa Hè Hà Nội, Cánh Hoa Trước Gió, Trại Tân Bồi, Nhìn Xuống, Điệu Đàn Muôn Thuở, Đêm Giã Từ Hà Nội, Sợ Lửa, Rừng Địa Ngục.... Văn nghệ là sản phẩm phản ánh thời đại, nên Kim Vân Kiều có hay đến mức thượng thừa – cũng chưa thể đại diện cho một khoảng thời gian không tiếp nối. Tác phẩm Nguyễn Du mới chỉ nói lên đầy đủ về xã hội phong kiến giao thời mà tác giả Kim Vân Kiều sống – đủ một số điều tương đồng hiện cảnh. Không thể nói đến Kim Vân Kiều là đủ điều tất yếu hình tượng sống lịch sử. Tác phẩm của Karl Marx, S.Freud cũng bị vượt qua, hiện nay vẫn cần khối óc siêu việt Oppeheimer, Einstein, Gandhi, JP Sartre v.v...
Phải hiểu được rằng: lịch sử một nước như lịch sử văn học, luôn theo đà diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Nói khác đi, sử học, văn học sử một nước không thể cắt quãng, cũng không tùy thuộc vào lập luận một phe nhóm nào để định giá trị vĩnh viễn. Rất cảm phục lập luận của Vũ Ngọc Phan dẫn trên kia; được gọi văn học sử, phải xét kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến tác phẩm, định rõ liên hệ (chữ dùng: TP) giữa nhà văn này với nhà văn nọ, định rõ phong trào văn học. Càng rõ hơn, được gọi văn học sử, ít ra phải làm được một bộ sách Lịch Sử Văn Chương Ngôn Ngữ Pháp (tạm dịch Histoire des littératures de la langue française) (6) do nhóm chủ trương gồm 209 giáo sư văn học thực hiện bộ sách vĩ đại ấy.
Cảm ơn số bạn giúp tài liệu, ý kiến, khích lệ, động viên, khi tôi khởi sự viết bộ sách này. Như họa sĩ Đinh Cường cởi áo, ngồi xệp trên sàn gác căn nhà trọ cùng tôi chia giúp những trang sách in ronéotypé xếp thành tập vào 1959, ở hẻm nhà thờ Lý Thái Tổ (Chợ Lớn). Uyên Thao mượn cho chiếc máy chữ, có lịch sử sản xuất cùng thời kỳ Tây hạ thành Hà Nội. Nguyễn Quang Tuyến nuôi ăn ở hàng năm, tôi ra thư viện đọc sách. Cùng với nhiều thư tình đầy tâm huyết người - tình - bậc - chị đến từ Hong Kong (nàng gọi Cảng Thơm) khích lệ người - em - bạn - tình miệt mài với chữ và nghĩa. Lại không thể quên bạn vong niên Phan Văn Thức cấp tiền ăn sáng, giấy stencil và thẩm phán Đào Minh Lượng, khi là sinh viên Trường Luật mua bánh mì dùng bữa trưa để tôi ngồi lì ở Thư Viện Quốc Gia làm mọt sách. Cũng không thể quên chịu ơn André Gide, qua cuốn sách viết phê bình về Fédor Dostoievskï (7) và cả Textes philosophiques của V.Biélinsky (8) nữa.
THẾ PHONG
PHẦN THỨ BA
VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956
[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)]
CHƯƠNG NHẤT
KHÁI QUÁT VỀ BÌNH DIỆN VĂN NGHỆ MIỀN NAM HỢP NHẤT: 1954 – 1956 (VNCH)
KHÁI QUÁT BÌNH DIỆN THI CA MIỀN TRUNG (Quốc Gia Việt Nam)
Hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 ra đời ở Paris, Việt Nam có hai ranh tuyến rõ rệt. Từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam (lúc đó gọi là Quốc Gia Việt Nam, Quốc Trưởng Bảo Đại); vĩ tuyến 16 ra bắc thuộc Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa). Phong trào di dư trên một triệu người (Chúa đã vào Nam) đưa đông đảo đồng bào di cư miền Bắc (QGVN) cặp bến Bạch Đằng Thủ Đô Sàigòn. Thủ tướng Ngô Đình Diệm, chính phủ, đại diện đảng phái quốc gia: đủ thành phần: Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên. Thời gian liên hiệp này chỉ kéo dài không đầy một năm. Năm 1955, truất phế Cựu hoàng Bảo Đại, ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng Thống. Đảng phái bị loại dần, tướng tá bị triệt tiêu, cuối cùng là Trình Minh Thế (Cao Đài Liên Minh). Ông Trần Chánh Thành được bổ nhiệm chức Tổng Trưởng Thông Tin; báo chí, văn hóa thuộc vào bộ này. Nhật báo Cách Mạng Quốc Gia, cơ quan Phong Trào Công chức Cách Mạng Quốc Gia, dùng Lê Văn Siêu chủ bút, cùng với số nhà văn, nhà báo đẩy mạnh tinh thần chống Cộng, xây dựng chế độ nhà Ngô. Mặt khác, kỹ sư Võ Đức Diên, chủ nhiệm tờ Sáng Dội Miền Nam gom số nhà văn báo di cư, nhạc sĩ, làm công tác văn hóa, chống Cộng và xây dựng chế độ Đệ nhất Cộng Hòa; theo đường lối Ngô Đình Nhu, được coi Cố Vấn tối cao Tổng thống Ngô Đình Diệm. Kiến trúc sư Diên thành lập Quán ăn Anh Vũ (45 Bùi Viện, Sàigòn 1), bề ngoài tương trợ sinh viên; trong bốn bức tường phòng ăn đều thiết kế hệ thống thâu âm lén dò xét. Nhật báo Thời Đại phe Cao Đài Nguyễn Thành Phương, tuần báo Việt Chính (Cn: Đại tá Cao Đài Hồ Hán Sơn, sau bị tướng Nguyễn Thành Phương thủ tiêu, ném xác xuống giếng sâu ở Bến Kéo (Tây Ninh). Tuần báo Tổ Quốc, (Cn: Thành Nam (một trí thức phe Hòa Hảo), tuần báo Đời Mới (vẫn là Trần Văn Ân, Chủ nhiệm, chủ bút thực thụ Hà Việt Phương, không có tên ngoài manchette) ủng hộ Bình Xuyên. Ngoài báo Phương Đông Hòa Đồng (sau này), đề xướng trung lập chế của Hồ Hữu Tường... Các nhà xuất bản sách văn học, tiểu thuyết, sẵn có : NXB Phạm Văn Tươi, kiêm chủ hiệu may Jean, lại còn dịch loại sách học làm người, ký Phạm Cao Tùng (dịch sách của Philippe Giradet... Sau 1954 liên kết với NXB Thế Giới Nguyễn Văn Hợi từ Hà Nội vào theo đợt di cư, thành tổ hợp xuất Hợp Lực, trụ sở ở 16 Sabourain (Tạ Thu Thâu, Saigon 1. Các nhà xuất bản khác ở miền Nam như: Khai Trí, Nam Cường, Sống Mới... tiếp tục in phát hành sách. Nhà Nam Cường phát hành sách Phượng Giang, (Đời Nay Nhất Linh chủ trương), các nhà sách khác phát hành in các loại tiểu thuyết bình dân, ăn khách của các tác giả: Dương Hà (Bên Giòng Sông Trẹm, Nguyễn Ngọc Mẫn (Tiếng Suối Sau Leng); tiểu thuyết của Nghiêm Lệ Quân, Tùng Long (nữ), Lan Phương (nữ) v.v... Báo Quân Đội, cơ quan của Nha Tác Động Tinh Thần (tiền thân của Cục Tâm Lý Chiến) với Chỉ Đạo, Nguyễn Mạnh Côn (33) đồng hóa thiếu úy làm chủ bút, tờ tạp chí này ít giá trị văn học, tuyên truyền chính trị. Báo này khám phá tài năng Duyên Anh với truyện ngắn đầu tay đăng trên Chỉ đạo (Con Sáo của Em tôi). Tuần báo Ban Mai do Phan Văn Chẩn, chủ nhà in Ban Mai, 1 Vassoigne Tân Định chủ trương đăng truyện Bách Thảo Sương (Lý Văn Sâm) Bình Nguyên Lộc (34), Nguyễn Bảo Hóa (ký Tiêu Kim Thủy), Thiếu Sơn (phê bình sách) ... nhà văn miền Nam Lý Văn Sâm sau ra bưng. Nhóm được gọi đệ tứ miền Nam như Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc (nhà văn này sau dùng tên thật Phạm Văn Hạnh không đứng chung với Tam Ích, Thiên Giang, sang làm biên tập viên phần Pháp Ngữ Việt Nam Thông Tấn Xã (VIETNAM PRESS). Phạm Văn Hạnh trước tiền chiến đứng chung trong Xuân Thu Nhã Tập, với Đoàn Phú Tứ và Nguyễn Xuân Sanh. Phe Cao Đài Liên Minh, có nhật báo Quốc Gia đặt ở 55A Hồ Xuân Hương, (Sàigòn 3) chủ bút Nhị Lang (thiếu tá Cao Đài Liên Minh tham gia vào Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, cùng với Hồ Hán Sơn và một số phe phái khác trong việc truất phế Cựu hoàng Bảo Đại, ủng hộ Ngô Đình Diệm làm Tổng thống), Thư ký tòa soạn Đinh Thạch Bích (tác giả Ái tình Bôn Xê Vích, sau được giải thưởng văn chương Quốc gia, và là Thứ trưởng Chiêu Hồi). Tờ báo này quy tụ được một số cây viết di cư, trong đó họa sĩ Thái Tuấn trình bầy báo, Uyên Thao, Thế Phong …làm phóng viên... Ngoài ra, tờ nhật báo Tự Do được Mỹ tài trợ, ban đầu Tam Lang cùng một số nhà văn báo di cư như: Thượng Sỹ, Hoàng -Lan, Nguyễn-Xuân-Huy, Đinh Hùng (ký Thần Đăng), Mặc Thu, Phạm Việt Tuyền, Như Phong, Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan... Sau họ chia thành phe phái, tranh chấp nhau, tự ý đóng cửa báo, loại nhau khỏi cơ sở. Sau 1956, chủ nhiệm mới Phạm Việt Tuyền, quản lý Kiều Văn Lân, nhóm này lập Cơ Sở Tự Do, in tác phẩm của Vương Hồng Sển, Nguyễn Đình Toàn, Lê Hoàng Long, Trần Đình Khải, Hoàng Đạo (tái bản), Đỗ Thúc Vịnh.(35) Cuối 1956, Mỹ tài trợ Mai tạp chí văn nghệ Sáng Tạo, do W. Tucker (Mỹ trợ cấp tiền) chỉ định Đặng Lê Kim quản lý tiền bạc kiểm soát. Thật ra, Sáng Tạo là hậu thân Người Việt đình bản trước tờ này do Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền chủ trương, đổi thành báo Lửa Việt. Mai Thảo, tác giả Tháng Giêng Cỏ Non xuất bản vào 1955, được Nguyễn Đức Quỳnh cho con trai Duy Sinh, viết bài phê bình sách, theo lối công kênh đăng, trên báo Đời Mới. Có hai mục đích: tác giả bỏ tiền in hy vọng bán lấy lại vốn; hai để tập truyện một nhà văn di cư vào Nam cần có khí thế để đề cao di cư, trốn chạy Cộng Sản. Nhóm Sáng Tạo gồm: Trần Thanh Hiệp (tập sự luật sư), Nguyên Sa, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền… cùng các văn nhân vệ tinh khác vây quanh. Mai Thảo huênh hoang, dao to búa lớn cầm cờ cổ súy phong trào lấy văn hóa làm phương tiện chống Cộng mới hiệu quả, có tính chiến lược lâu dài ... “đem ngọn lửa văn hóa vượt vĩ tuyến sáng lên ở đây hôm nay ... Sài Gòn là Thủ đô văn hóa v.v... (Sáng Tạo số 1, tháng 10.1956) Và quả thực mãnh lực đồng Mỹ kim, có giá trị siêu đẳng, từ đó khiến kẻ bao thầu văn không còn ngứa cổ hót chơi như chim thơ tiền chiến Xuân Diệu hót hoài, hót mãi âm điệu: “... Năm 1954 còn ghi lại chối lòa cái đẹp của mùa mới, cái đẹp của lên đường (...) Khởi đầu của từng hoạt động văn học, từng phát động nghệ thuật, nói chung, của ta tuyệt đúng, tuyệt hay...!
Năm 1950 Nhân Loại, tờ báo có mặt ở Saigon, (Cn Anh Đào) cơ quan tụ họp nhà văn, nhà báo kháng chiến ở miền Nam, đang sống ở thị thành, hướng về kháng chiến như: Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy, Ngọc Linh, Viễn Phương, Lê Vĩnh Hòa... Báo in có sự yểm trợ của Đông Hồ, Mộng Tuyết, trụ sở đặt ở Yễm Thư Trang, đường Kitchener (Nguyễn Thái Học bây giờ).
Một số trí thức khác, từ miền Bắc di cư vào Nam, như: Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, luật sư Nghiêm Xuân Hồng, Tạ Văn Nho,... thành lập nhóm Quan Điểm đặt trụ sở ở 35 đường Phạm Ngũ Lão, (Saigon 1) lập nhà xuất bản, in sách và ra được một tuyển tập thơ văn Đất Đứng (1956), in sách của Tạ Văn Nho, Vương Văn Quảng, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng. Có sự cố vấn tối cao, cố vấn văn chương, chính trị Nguyễn Đức Quỳnh. Quản lý nhà in tiền bạc do luật sư Nghiêm Xuân Hồng bỏ vốn. Các hiệp hội văn hóa như Văn Bút Việt Nam, Mặt trận Bảo vệ Tự Do Văn Hóa được ra đời, với mục đích hỗ trợ văn hóa chống Cộng. Với Lý Trung Dung, Phạm Xuân Thái (mở Câu Lạc Bộ Văn Hóa, 142 Tự Do, Saigon 1), Mạc Đình, (bút danh khác của Hoàng Văn Chí) xuất bản Trăm Hoa Đua Nở (nói về Nhân Văn ngoài Bắc), dịch Bác sĩ Jivago, truyện của Boris Pasterenak, hoặc Giai cấp Mới của M.Dijlas...(Nam Tư).
Những năm về sau; Nhất Linh rời núi rừng Dalat về Sàigòn lao vào nghề làm văn chương báo chí. Không còn đứng xa chỉ đạo tái bản sách Tự Lực văn đoàn (Phượng Giang, Đời Nay) do Nam Cường phát hành, ông xin phép ra báo văn chương, nhưng chính phủ Ngô Đình Diệm chỉ cho phép xuất bản Văn Hóa Ngày Nay dưới hình thức giai phẩm. Giai phẩm, loại báo phải kiểm duyệt từng kỳ như sách, xuất bản không số giấy phép đăng trong Công Báo, hình thức bị kiểm soát gắt gao hơn báo định kỳ. Giai đoạn này, ông viết truyện dài Giòng Sông Thanh Thủy, đăng từng kỳ, sau xuất bản thành sách, (ba tập), Viết và đọc tiểu thuyết...,và một tờ báo văn nghệ khác Tân Phong do Nguyễn Thị Vinh chủ trương, cũng có thể gọi là nối dài Tự Lực văn đoàn ở hậu chiến. Những Tường Hùng, Duy Lam, ... xuất hiện vào chu kỳ xuống núi này là của Nhất Linh, Ông đưa họ vào văn đàn chính thức.
Khi chính phủ Ngô Đình Diệm lên cầm quyền, văn hóa phải được coi như tối ưu đãi với Thiên Chúa giáo. Không kể nhà thờ mọc lên như nấm, khi tăng giáo dân theo đạo lấy gạo mà ăn. Giám mục Ngô Đình Thục mon men chức Đức Hồng Y ở Rome, cho thuộc hạ rao ai theo đạo, mỗi đầu người trong gia đình được cấp một tạ (ở Đà Lạt). Nhưng báo chí, văn hóa, văn nghệ đạo Thiên Chúa giáo trong sinh hoạt đấu trường chữ nghĩa lại không mấy khuếch trương được. Vài cơ quan báo chí đạo Công giáo (tên thường gọi làm cho sự hiểu lầm cả ở nước ngoài, có lẽ Việt Nam, một nước có giáo dân khắp nước Thiên chúa giáo (Catholique)) , chỉ trong phạm vi tôn giáo; còn công khai, chỉ có Đại Học của Viện Đại Học Huế, do Linh mục Cao Văn Luận (tác giả Bên Giòng lịch sử) làm viện trưởng chủ nhiệm, Nguyễn Văn Trung, chủ bút. Một số cây viết về văn học nghệ thuật như Nguyễn Nam Châu, tay nhỏ viết ít, vung tay cao mạnh công kênh lớn lên, đăng bài nghiên cứu văn học lại cóp dịch tác giả ngoại quốc.Vụ đạo văn này Phạm Công Thiện lên án trên tạp chí Bách Khoa của Lê Ngộ Châu. Trở lại vấn đề Mỹ tài trợ cho văn hóa Việt Nam phát triển, ở Sàigòn còn rất nhiều hiệp hội, như Asia Foundation tài trợ cho Hội Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu của giáo sư Nguyễn Đăng Thục, chủ nhiệm tạp chí Văn Hóa Á Châu (xuất bản hai thứ tiếng Việt, Anh). Hiệp hội này do Trịnh Hoài Đức quản lý, nhà xuất bản Văn Hóa Á Châu xuất bản được một số sách văn học cổ (dịch), như Việt sử Tiêu Án... còn ở miền Trung, cơ quan văn hóa khác, báo Mùa Lúa Mới xuất bản vào 1955 ở Huế. Chủ nhiệm Võ Thu Tịnh (còn ký Thu Tâm), cơ quan ngôn luận chống cộng của Nha Thông Tin Trung Việt. Thơ, văn báo này không là văn học, mục đích phục vụ chính trị và những Việt Minh cũ bỏ kháng chiến về thành làm công chức như Võ Phiến chẳng hạn - cũng là kẻ góp công, tạo sức cho Mùa Lúa Mới trổ bông hái trái chống Mác xít (bề ngoài) thâu lợi nhuận riêng (bề trong). Phần sau, chúng tôi có tiết nói tới nhà thơ kiểu Thu Tâm là Quốc Dân và Đỗ Tấn điển hình.
Đây chỉ là tổng quan về các hiệp hội văn hóa, các nhóm, các tờ báo quy tụ lại thành nhóm; nhưng còn một hội sắp nói tới đây thật đặc thù. Một hội không là hiệp hội, một nhóm không tên nhóm, một salon văn chương không có vừa ăn, uống vừa đàm; trong một căn nhà tuềnh toàng gỗ trệt ở hẻm Từ Quang (Chùa Từ Quang) – chủ soái Nguyễn Đức Quỳnh. Gọi là Đàm trưởng trưởng, người điều hợp tọa đàm văn chương siêu việt, trung hòa mọi ý kiến đối nghịch, nơi đã tạo ra nhiều nhà văn thơ có địa vị ở miền Nam. Sau này lớp trí thức Quan Điểm, có mặt Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Tạ Văn Nho, Vương Văn Quảng, kỹ sư canh nông viết sách khoa học, nhóm Sáng Tạo Người Việt, có: Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Thái Tuấn, Duy Thanh, Quách Thoại, Ngọc Dũng... Thạch Chương (36), Nhóm làm báo Sân Khấu, Tin Bắc: Lê -Văn -Vũ -Bắc -Tiến, diễn viên kịch Thiếu Lang… Chính ở đàm trường này, Nguyễn Đức Quỳnh hỏi Lê Văn, người bạn viết mới nào ký tên Phí Ích Nghiễm – ông mong được gặp. Sau này, chính là nhà văn Dương Nghiễm Mậu. Những Bùi Khải Nguyên, Uyên Thao, Hồ Hán Sơn (lúc chưa qua đời), Phạm Duy, Cung Trầm Tưởng, Lữ Hồ, Thanh Thương Hoàng, Thế Nguyên, Trần Dạ Từ (lúc này còn ký Hoài Nam), Lý Đại Nguyên, Đinh Hữu, Thanh Hữu, Uyên Thao… mỗi người bước vào nhà tới chiếc bàn nhỏ có cuốn Vượt, đóng gáy da, mạ chữ vàng... Ai đến thì ký tên vào với bút tích, với cảm nghĩ, thông báo sáng tác mới làm, và kinh nghiệm nghề cầm bút. Động lực của salon văn chương Đàm Trường Viễn Kiến tạo được kích thích sáng tạo, đánh giá văn chương đúng mức; nói khác đi cái nôi được bà vú tốt bụng giỏi giang nuôi dưỡng tinh thần. Lại bàn về thơ phổ nhạc. Thơ hay sẽ càng hay hơn càng xúc cảm hơn; khi được bàn tay phù thủy của âm nhạc phổ; sẽ càng phổ biến tăng cái hay của thơ cho công chúng văn học nghệ thuật. Phạm Đình Chương, nhạc sĩ đưa bài thơ Mộng Dưới Hoa của Đình Hùng vút tận trời xanh, với tiết tấu, nhạc điệu êm đềm, buồn day dứt, thật tha thiết. Nguyễn Đức Quỳnh cảm được thơ đôi ba bài nào đó của Phạm Thiên Thư, như Động Hoa Vàng, giới thiệu nhạc sĩ tài ba phù thủy Phạm Duy sẽ biến ngay thành âm thanh dìu dặt, nâng đỉnh cao, sức đẩy bài thơ càng bay xa. Riêng nhạc sĩ sau này còn đánh bóng thơ Cung Trầm Tưởng (38) lên cung bậc thượng thừa.
Trong văn chương nghệ thuật, đôi khi rất cần những người đánh giá tốt, thì Nguyễn Đức Quỳnh là bực thượng thừa. Theo sự hiểu biết chúng tôi, sau còn người nữa, ông Lê Ngộ Châu (LNC) báo Bách Khoa. Sáng Tạo có mặt từ tháng 10 năm 1956, Văn Hóa Ngày Nay, đầu năm 1958, Bách Khoa số đầu tiên 1957, tòa soạn đặt trong một phòng ở chung cư đường Đoàn Thị Điểm, Saigon 3. Những chủ nhiệm các tờ báo này không là người trong nghề, kể cả người đánh giá có mắt tinh đời trong văn học nghệ thuật (LNC), nhưng tạp chí này còn là nôi, tạo thành số nhà văn nổi đình đám sau này. Lê Ngộ Châu xuất thân theo học Trường Bưởi, sinh năm 1923 ở ngoài Bắc, Ông đã điều khiển báo Bách Khoa, tạp chí ban đầu chỉ là tiếng nói của ngành ngân hàng, sau trở thành một tạp chí giá trị văn học nghệ thuật, với gần 200 số báo, kéo dài từ 1957 đến 1975, khi Võ Phiến được thuyên chuyển nghề công chức từ Huế vào Saigon, nhà văn này đã coi nơi này là mảnh đất tốt cầy sới làm nên sự nghiệp. Có cả nhà thơ (đôi khi rất điên, điên, bệnh thật sự) là Nguiễn Ngu Í (chủ trương I ngắn), từ báo Phương Đông (Hồ Hữu Tường), Mới (Phạm Văn Tươi) chuyển sang, với hàng loạt phỏng vấn các nhà văn, thơ họa, tạo được một không khí sôi nổi kích thích nền văn nghệ Việt Nam Cộng Hòa khởi sắc. Kể thêm những cây bút khác, như Nguyễn Hiến Lê, Xuân Hiến, Phan Văn Tạo, (từ nơi Bách Khoa đăng truyện đầu tiên), Đoàn Thêm, rồi Vòng Tay Học Trò đăng tải trước khi in thành sách. Và nhà văn Nguyễn Thị Hoàng bước lên chỗ đứng văn học vững vàng. Còn Túy Hồng tương tự Nguyễn Thị Hoàng. Và còn Lê Tất Điều, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Mộng Giác... Vòng tay núi lớn Bách Khoa của Lê Ngộ Châu, chủ trương dung hòa, kết nạp mọi khuynh hướng; ngoài Nguyễn Văn Trung, Vũ Hạnh, còn một linh mục ở Pháp về vào 1965, có bài báo đầu tiên ký Nguyễn Ngọc Lan đăng ở đây với khoản nhuận bút 500 đồng. Song đối với tác giả lúc ấy thật quí! Nguyễn Ngọc Lan (39) sau đó đã trở thành nhà hoạt động chính trị, cởi áo dòng về với nhân gian làm người bình thường, tác giả một số sách về nhân văn giá trị tư tưởng, có vị thế riêng biệt.
CHƯƠNG BA
VỀ CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP VIẾT SƠ LƯỢC
Tiết 1
KHÁI QUÁT VỀ NHÓM NGƯỜI VIỆT SÁNG TẠO
Sau 20.7.1954, một số nhà văn, cây bút sinh viên Đại học Hà Nội vào Nam như: Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền và các nhà thơ Quách Thoại, Nguyên Sa (ở Pháp về), Mai Thảo, nhà văn độc lập mới nổi lập thành Nhóm Người Việt cuối 1965. Nhờ viện trợ ngoại quốc (W.Tucker) Mai Thảo lập Sáng Tạo. Ban đầu ra mắt tờ Lửa Việt (Nguyễn Sĩ Tế chủ bút), Người Việt, (Doãn Quốc Sĩ chủ nhiệm), Thanh Tâm Tuyền làm Thư ký tòa soạn. Có thêm nhà văn tiền chiến Trọng Lang (dưới bút hiệu Ông Tưởng Tốc), Trần Việt Hoài đóng góp bài vở. Về lý luận chính trị, luật sư Trần Thanh Hiệp; văn học giáo khoa: Nguyễn Sĩ Tế về văn thơ; Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sĩ, Mai Thảo, Nguyên Sa, Quách Thoại v.v... Ba nhà thơ chủ lực, song chủ trương các lối thơ khác nhau. Chúng tôi sẽ phân tích trong tiết nói về mỗi nhà thơ. Phụ họa ban đầu có Lữ Hồ, sau thêm họa sĩ Duy Thanh. Về lập trường Người Việt dựa vào thế dân tộc tự quyết, phần văn nghệ khai thác hình tượng đối kháng lập trường Mác xít; đề cao nếp sống dân nhược tiểu; ngả về môn phái sinh tồn và phi lý không lý do (absurde non de cause) Mai Thảo chuyên viết tạp văn cảm giác, truyện ngắn, hình tượng khai thác chung quanh trục tiểu tư sản trí thức. Ông thành công trong Đêm Giã Từ Hà Nội, Tháng Giêng Cỏ Non qua lối văn tân kỳ. Doãn Quốc Sĩ giải thích sự kiện lịch sử, tạo tác những truyện cổ tích loại dã sử trong Sợ Lửa. Về biên khảo văn học giáo khoa Nguyễn Sĩ Tế chuyên môn, chính ông là giáo sư hiệu trưởng tư thục Trung học chuyên khoa. Bút hiệu Người Sông Thương ký dưới những bài thơ tự do, truyện ngắn nhưng không đặc sắc. Lại chuyên khảo về Nguyễn Du, Chu Mạnh Trinh, Hồ Xuân Hương... khai thác sách giáo khoa với tinh thần nhận xét mới. Về thơ, vì muốn có lối thơ tân kỳ, nên Thanh Tâm Tuyền lùi hẳn hình bóng cũ của ông trên tuần báo Nói Thật (Hà Nội, 1953), nay đến những bài thơ không vần điệu, phi lý không chủ đích, bí hiểm, chịu ảnh hưởng non nớt của Pháp như các nhóm Existentialisme, Surréalisme, Dadaðsme (44), ít truyền cảm, khô khan trong việc lĩnh hội (vibrer). Riêng Quách Thoại thơ có đến nhạc điệu, hòa đồng tư tưởng và âm vận (assonnance). Khoảng 1955 – 1956, Nguyên Sa ở Pháp về nhập nhóm làm thơ kiểu Jacques Prévert (Pháp). Về họa, họa sĩ Lữ Hồ và Duy Thanh đảm nhận trình bày. Cuối 1956, nhóm Người Việt chia hai phe - Mai Thảo chủ trương báo Sáng Tạo, Doãn Quốc Sĩ trông coi nhà xuất bản Sáng Tạo, đường lối không khác nhau.
Tiết 2
TIỂU MỤC
1. Trần Thanh Hiệp.
Sinh 1928 ở Bắc Phần, cây bút lý luận đặt cơ sở cho nhóm Sáng Tạo, nặng về chính trị. Một bài được gọi là thơ, là chép thơ Tây dịch sang Ta và hai ba truyện ngắn hậu chiến ít giá trị.
2. Doãn Quốc Sĩ.
Sinh ngày 3.2.1923 ở làng Hạ Yên Quyết, Láng Cót Hà Nội (ngoại thành, đại lý Hoàn Long). Tác phẩm đã xuất bản: Sợ Lửa (Người Việt, 1956), U Hoài (1957), Gánh Xiếc (1958), Gìn Vàng Giữ Ngọc, Dòng Sông Định Mệnh (1959), Hồ Thùy Dương (1960), Trái Cây Đau Khổ (1963), Cánh Tay Nối Dài (1960), Đốt Biên Giới (1966), Sầu Mộng (1970), v.v... Ông viết cho các báo: Dân Chủ, Người Việt, Sáng Tạo, Lửa Việt…. Ông còn dùng bút Dương Quan Sơn (45) v.v... Ngoài truyện cổ tích viễn tưởng, ông còn viết truyện ngắn dã sử. Sợ lửa gồm: 
Con Mèo Trèo Cây Cau, Con Thuyền Ma, Mãng Xà Vương, Pho Tượng Thần, Truyện Con Tinh Đời Trần Phế đế. Truyện đặc sắc nhất trong tập là Pho Tượng Thần. Mang hình tượng thời đại điển hình, cũng như Con Thuyền Ma và Truyện Con Tinh Đời Trần Phế Đế. Trong Con thuyền ma phơi bầy được nhiều chuyển biến trong xã hội, đề cao lòng yêu thương, dù ở xã hội nào, tình yêu thương vẫn là định luật muôn thuở, không biến đổi. Mùa Xuân Đi Lấy Gươm Thần lặp lại: Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Truyện này có luận đề rõ ràng hơn hết, có điểm làm cho người đọc tự hỏi khi Thứ Lang đến xin đạo sĩ thanh kiếm, mà đạo sĩ chỉ hỏi một câu. “Cái gì mỏng nhất” rồi căn cứ vào đấy biết được giá trị kẻ cầm vận mệnh dân tộc, e rằng hơi dễ dãi. Đành rằng truyện cổ tích, nhưng ở Doãn Quốc Sĩ mượn hình tượng quá vãng nói lên hiện tại; vẫn cần phải chú trọng đến hình tượng so sánh có ý thức để đánh giá trị kẻ cầm vận mệnh dân tộc.
Không thể dùng hình thái trừu tượng mơ hồ để thể hiện giá trị trừu tượng. Nhóm Người Việt Sáng Tạo có duy nhất một Doãn Quốc Sĩ giải thích lịch sử bằng truyện cổ tích, lối đi độc đáo, nói riêng. Mỗi truyện cổ tích đều ngụ ý riêng, đọc xong liên tưởng đến hình ảnh thời đoạn sống hiện tại. Thuật ôn cố tri tân, kỹ thuật thường dùng này tìm thấy ở Doãn Quốc Sĩ, như Nhập Thiên Thai Vũ Khắc Khoan. Doãn Quốc Sĩ viết truyện dự tưởng này rất đạt. Trái tim lửa (in trong báo Đất Đứng) hay Doãn Quốc Sĩ tiến hơn bút pháp như kỹ thuật viết khô khan khiến nhớ đến Nguyễn Đức Quỳnh viết Thằng Cu So tiền chiến.
3. Nguyễn Sĩ Tế (1922-2005)
Sinh năm 1922 ở làng Cựu Hào, tổng Hồ Sơn, Vụ Bản, Nam Định. Năm 1954 di cư vào Nam, kế đó chủ trương báo Lửa Việt, tờ báo của sinh viên miền Bắc di cư. Viết cho các báo: Hòa Bình, Dân Chủ, Người Việt, Sáng Tạo v.v... Tác phẩm xuất bản: Hồ Xuân Hương (Người Việt tự do 1956) và nhiều luận đề giáo khoa do NXB Thăng Long ấn hành, ông có viết nhiều truyện ngắn đăng trên báo nhóm ông. Truyện ngắn và thơ, Nguyễn Sĩ Tế thường ký Người Sông Thương, không có gì xuất sắc. Trong Dòng Sông Xanh, Máu Hận (Đất Đứng, 1956), tả tâm trạng dân Hung tị nạn Cộng sản sang Áo. Ở đây, nghệ thuật khô khan, người đọc vượt đến trang là sự cố gắng phi thường. Khi Hung Gia Lợi (Hungary) bị Nga Xô lùa quân sang xâm chiếm 1956, hai cây viết trong nhóm Sáng Tạo lấy đề tài này làm bối cảnh cho truyện, thì Người Sông Thương (Nguyễn Sĩ Tế) qua Uất Hận, Dòng Sông Xanh; thì Thanh Tâm Tuyên với bài thơ: Hãy Cho Anh Khóc Bằng Mắt Em khá cảm động. Còn nhà giáo viết truyện Dòng Sông Xanh lại khô khan thiếu truyền cảm. Trần Thanh Hiệp với Pandajy giống hệt Nguyễn Sĩ Tế truyện trên. Về mặt biên khảo ông là nhà văn học viết có phương pháp giáo khoa giàu kinh nghiệm viết, Hồ Xuân Hương gồm bảy chương, chúng ta có thể thâu tóm bốn mục tiêu chính: - Con người của nữ sĩ với hoàn cảnh thời đại. - Cứu xét nguồn gốc tư tưởng của nữ sĩ. - Nhận định tư tưởng nữ sĩ. - Khuynh hướng thi ca nữ sĩ. Trước ông, nhiều tác giả viết về Hồ Xuân Hương. Hoa - Bằng - Hoàng - Thúc - Trâm với Hồ Xuân Hương, nhà thơ cách mạng; thì ở đây ông đả phá lập luận Hoa Bằng (trang 53), nhưng sau thừa nhận Hoa Bằng nói đúng. Người đọc chưa nhìn thấy Nguyễn Sĩ Tế đứng trên lập trường nào để viết về thân thế sự nghiệp Hồ Xuân Hương. Từ trước đến nay, có năm lập luận phân tích Hồ Xuân Hương. Phái thứ nhất, ông Nguyễn Hữu Tiến trong cuốn Giai Nhân Dị Mặc cho nữ sĩ ở phái tự nhiên. Phái thứ nhì, ông Dương Quảng Hàm cho nữ sĩ ở phái vì thân thế mà xuất khẩu thành chương. Phái thứ ba cho rằng dân tộc tính tạo thành nữ sĩ (Trương Tửu trong Kinh thi Việt Nam). Phái thứ tư, Nguyễn Văn Hạnh với lối tâm phân học (psychanalyse) của Freud cho rằng vì sinh lý mà nữ sĩ làm thơ. Phái thứ năm mệnh danh đặt cơ sở chính trị, cách mệnh là Hoa Bằng mổ xẻ Hồ Xuân Hương là nhà thơ cách mạng. Tuy nhiên Hồ Xuân Hương viết công phu, dù Nguyễn Sĩ Tế chưa đưa ra lập luận phân tích, và chắp vá lập luận. Và ông sưu tầm tài liệu. Còn Nguyễn Sĩ Tế trong địa vị người viết văn thì chưa thấy lộ diện. Nói như thế, chúng tôi nhớ đến L.Aragon vừa là nhà khảo luận, vừa là một nhà thơ, văn giá trị, Benjamin Goriély vừa là nhà khảo luận viết về văn học Mác xít, vừa tác giả Conservation d’amour, bài thơ hay... Tất cả hai điều này đều chưa thấy trang viết của Nguyễn Sĩ Tế, Người sông Thương.
4. Nguyên Sa (1932-1998)
Tên thật Trần Bích Lan. Sinh 1932 ở Hà Nội (46). Tác phẩm xuất bản: Thơ Nguyên Sa (1959), 
Gõ Đầu Trẻ (truyện, 1959), Quan Điểm Văn Nghệ và Triết Học (1960), Một Bông Hồng cho Văn nghệ (1967), Mây Bay Đi (1967), Một Mình Một Ngựa (1971) v.v... Chủ trương tạp chí Hiện Đại, viết cho các báo Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Gió Mới, Trình Bày, Đất Nước v.v...
Nhà thơ ngoài ba mươi tuổi hoạt động văn nghệ khoảng hai năm trở lại đây, tuy chưa có tập thơ nào xuất bản. Nhưng thơ đăng rải rác trên báo Người Việt, Sáng Tạo, được chỗ đứng nhất định. Gọi là thơ tự do nhưng thơ tự do có tiết tấu, hình ảnh đẹp, chịu ảnh hưởng nhiều từ hơi thơ Jacques Prévert. Thơ Nguyên Sa trữ tình, có hình tượng mới thời đại, băn khoăn, ý tưởng thành khẩn, lời chau chuốt. Là nhà thơ tình như Xuân Diệu chuyên thơ tình ái, có lối đi riêng. Nếu thơ Jacques Prévert ngoài tình yêu ra còn mang ảnh hình tâm tưởng, khắc khoải cuộc đời - song trong thơ thuần nhất Nguyên Sa chỉ có một khía cạnh nhỏ thơ tình:
CÓ PHẢI EM VỀ ĐÊM NAY
Có phải em về đêm nay
Trên con đường thời gian trắc trở
Để lòng anh đèn khuya cửa ngõ
Ngọn đèn dầu bấc lụi mắt long lanh.
Có phải em về đêm nay
Trên con đường chạy dài hoa cỏ
Cho lòng anh trở lại với lòng anh
Như lá vàng về với lá cây xanh
Trong những chiều gió đưa về cội
Có phải em về đêm nay
để phá tan
những nụ cười thắt se sầu tủi
như anh vẫn cười mà đau đớn bao nhiêu
Không biết đời người có đưa đến tin yêu
những ngón tay có đưa đến bàn tay
những mùa thu có đến gió heo may
hay ngày mai là bốn bề tuyết lạnh
Có phải em về đêm nay
giữa lòng chiều im lặng
cho anh đừng tìm thấy anh
đo đếm thời gian
bằng những điếu thuốc lá tắt trong đêm
nhưng đã bao nhiêu lần đêm khuya
đầu gối trên cánh tay
để giấc mơ đừng tẻ lạnh
Em đừng trách anh đã quá lo âu đời người hiu quạnh
Làm thế nào khi lòng mình nứt rạn kia em
dù không muốn gục ngã trong đêm
nhưng đã bao nhiêu lần đêm khuya
anh không biết đã làm thơ
hay đã chọn âm thanh làm độc dược.
Em đừng trách anh để lòng mình tủi cực
đến ngại ngùng dù nắng dù mưa
sao em không về
để dù nắng dù mưa
dù trong thời gian có sắc màu của những thiên đàng đổ vỡ
ngủ say mềm
Vì lòng anh (em đã biết)
Có bao giờ thèm khát vô biên
Có bao giờ anh mong đừng chết – dù để làm thơ
nên tất cả chỉ là yêu em
và làm thơ cho đến chết.
Em sẽ về, phải không em
có gì đâu mà khó khăn, trắc trở
chúng mình lại đi
trên con đường chạy dài hoa cỏ
là những đơn phương ngự của tình yêu
mỗi ngón tay em
anh vẫn gọi là một cửa đào nguyên
và anh sẽ trở lại nguyên hình
một anh chàng làm thơ
mà suốt đời say rượu cúc
Có phải em sẽ về
dù bầu trời ẩm đục
hay bầu trời trang điểm bằng mây
anh sẽ trải tóc em bằng năm ngón tay
trong những chiều gió thổi
1957, (Trích Sáng Tạo)
NGUYÊN SA
Tiết 3
MAI THẢO (1927-1998)
1. Tiểu sử: Mai Thảo tên thật Nguyễn Đăng Quý. Sinh ngày 8.6.1927 ở quận Hải Hậu, Nam Định (47). 
Tham gia văn nghệ kháng chiến Liên khu IV, giai đoạn bắt đầu của người cầm bút. Sau về Hà Nội, viết cho báo Quê Hương, Hồ Gươm... Năm 1954 vào Nam; viết cho Đời Mới, Người Việt và cuối 1956 đứng chủ trương tạp chí Sáng Tạo do người Mỹ (W. Tucker) tài trợ. Nhà văn mới nổi trong vòng hai năm nay, Mai Thảo tạo được chỗ đứng vững.
2. Tác phẩm: Đêm Giã Từ Hà Nội (Người Việt, 1956), Ánh Sáng Miền Nam (Truyện dịch theo phim César Amigo, Phi Luật Tân, 1956), Tháng Giêng Cỏ Non (1957). Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời (1963), Mái Tóc Dĩ Vãng (1963), Khi Mùa Mưa Tới (1964), Bẫy Thỏ Ngày Sinh Nhật (1965), Viên Đạn Đồng Chữ Nổi (1966), Đêm Lạc Đường (1967), Cùng Đi Một Đường (1967), Tới Một Tuổi Nào (1968) v.v... Văn Mai Thảo là văn cảm giác (sytle d’inspiration).
3. Phân tích tác phẩm chính: Truyện ngắn trong Đêm Giã Từ Hà Nội đăng lẻ tẻ trên báo Đời Mới. Người Việt, Cách Mạng Quốc Gia, Dân Chủ, v.v... và Tháng giêng Cỏ Non đăng hầu hết trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong. Ông thiên hẳn lối tạp văn cảm giác, ý súc tích, ít đối thoại. Đêm Giã Từ Hà Nội gồm mười ba truyện Đường Vui, Một Chiều Qua Cửu Long, Tà Áo Lụa của Người Miền Nam, Màn kịch tố Cộng, Người Hàng Xóm, Trên Những Ngả Đường Không Oán Thù, Chiếc Xe Hàng Cũ, Câu Chuyện Của Chị Ngự, Góc Đường.
Truyện có nhiều màu sắc xã hội hình ảnh nói về giới làm văn, là Mưa Núi. Đọc Mưa Núi, người đọc có cảm giác mình đang sống lại khoảng trời mùa thu, bao vây mùa đông rét mướt. Cốt truyện Thảo lên thăm đôi vợ chồng ở miền núi. Nam, người yêu văn nghệ có ý định làm giàu, sau mở nhà xuất bản, thành lập dưỡng đường cho văn nghệ sĩ. Đến ngày xứ sở bị phân chia, Nam thất bại nghề thầu khoán, chán nản lên núi ở. Một buổi Thảo lên thăm, tả cho bạn nghe nếp sinh hoạt đồng bào, Nam làm lại cuộc đời, xuống núi góp khả năng vào hoạt động văn nghệ của anh em. Tả cảnh chiều, tạo được nhiều cảm tưởng, ấn tượng tân kỳ:
... “Tôi nhìn ra ngoài. Rừng núi ngớt mưa đang đi dần vào hoàng hôn. Tối xẫm lan đi từng ngọn đồi. Hết ngọn này đến ngọn khác. Từng gốc cây. Hết gốc này đến gốc khác. Cái tảng trời xanh phía đầu núi của tôi bạn nãy đã nhòa đi rồi. Sao chưa kịp lên đêm đã sâu thăm thẳm. Rồi tất cả những ngọn đồi, những gốc cây đều không nhìn thấy nữa. Cửa mở thành một khung đen, “mắt tôi tối lại”.
Tác giả nâng ly cà phê sánh đượm, nhận xét tỉ mỉ từ tác động nhỏ của vợ bạn pha ly cà phê. Và phác lại dáng đàn bà Bắc đẹp qua mấy nét đầy ấn tượng:
... “Chị Nam đặt hai ly cà phê vào cái khay nhỏ, lấy hộp thuốc lá thơm bưng tất cả đặt trên cái bàn thấp gần cửa sổ, đoạn chị kín đáo bỏ xuống nhà dưới. Tôi nhìn theo chị Nam, yêu mến cái vẻ đẹp kín đáo của chị lúc đó. Tôi vừa bắt gặp lại những nếp sống đặc biệt, tế nhị của người đàn bà Hà Nội. Một dáng đi, một cách ăn nói. Cái lối pha một tách cà phê đặc sánh, chị vẫn giữ được nguyên vẹn cái duyên dáng ngày cũ, lúc chị còn là một thiếu nữ ở Hàng Đào. Chị không đổi thay...”
Bắt đầu ly cà phê sánh đậm đến thảo luận về chương trình bồi dưỡng Các nhà văn nghệ bị bạc đãi. Mai Thảo không là người đầu tiên nói đến cái nghèo văn nghệ sĩ và có chương trình giúp đỡ họ sống cầu bơ cầu bất. Cái khác hơn hết của con ve sầu, kêu ra rả suốt hè tô điểm cuộc sống tươi đẹp hơn, và đời riêng lại thân tàn, ma dại. Hãy nghe ông kể:
“... Cái chương trình cuối cùng của chúng tôi là một sự tổ chức thật chu đáo cho đời sống vật chất và tinh thần của một số người gắn bó với nhau qua một thứ duyên vãn đậm đà nhất, cùng theo đuổi một lý tưởng trên lãnh vực văn nghệ. Chúng tôi thật đông, thật tin tưởng nhưng chúng tôi sống lẻ loi và thiếu thốn tất cả, mọi phương tiện. Sống những ngày lênh đênh mưa nắng ở hậu phương để chịu đựng đến ê chề sự chà đạp tin tưởng, sự kềm hãm tinh thần, chúng tôi kẻ trước người sau đã rời bỏ thiên đường về Hà Nội...”. Ông đặt ra chương trình khác bổ túc cho kiếp đau khổ của nhà văn sống vất vưởng, hang cùng ngõ hẻm; không được chăm nom. Cũng chưa nghĩ đến hỗ trợ tinh thần, vì vấn đề này, bàn ra rất trọng đại, nói như Graham Greene chính phủ cần có quỹ bảo trợ giúp đời sống của họ, bước đường cùng. Qua đoạn văn dưới tả (bánh vẽ) cũng đủ cho cảm tưởng thật ngọt ngào “Các anh phải được nghỉ ngơi tĩnh dưỡng như tất cả mọi người”. Chỉ cần lột qua ít câu văn bình dị làm ấm lòng khách văn chương:
... “Nam bàn với chúng tôi như thế này:
- Tôi dự tính dựng một nhà in, một nhà xuất bản, có đủ hết máy móc vật liệu để có thể ấn hành được tất cả những tác phẩm hữu ích sẽ có một câu lạc bộ văn nghệ cho các anh nữa với chỗ ăn ngủ chu đáo. Các anh phải được nghỉ ngơi tĩnh dưỡng như tất cả mọi người...”
Phê bình Đêm Giã Từ Hà Nội, Huỳnh Bội Hoàng (Thượng Sĩ – Nguyễn Đức Long) viết trong báo Cải Tiến (số 6 ngày 13.9.1956) có đôi phần xác đáng. Ở chỗ, đôi khi quá gọt rũa câu văn thành cầu kỳ, lố bịch: ... “Suốt cả tập truyện ngắn, đoản văn trong Đêm Giã Từ Hà Nội ông Mai Thảo đều dùng một lối văn rất cầu kỳ để diễn tả tư tưởng. Tôi đã nặng đầu, khi đọc, cuốn Đêm Giã Từ Hà Nội bởi lẽ rất giản dị là dùng chữ cầu kỳ, văn viết cầu kỳ, đọc phải suy nghĩ nhiều, phải hình dung nhiều mới hiểu được tác giả định nói gì. Tuy vậy tôi cũng phải thú thực rằng nhiều chỗ tôi chưa hiểu hết. Chẳng phải câu văn quá hàm súc, chẳng phải chữ dùng quá thâm thúy, nhưng vì quá cầu kỳ nên tối nghĩa và đặt chữ không đúng chỗ. Tôi không tin rằng ông Mai Thảo thành công rực rỡ, nếu ông cứ tiếp tục mãi. Viết theo cái thể văn đúng như ông viết trong một Đêm Giã Từ Hà Nội. Đọc Đêm Giã Từ Hà Nội người ta có cảm giác nặng nề khó hiểu. Do đó mà người đọc không thể rung cảm nổi, không say mê được. Đêm Giã Từ Hà Nội là cuốn sách đầu tiên của ông Mai Thảo. Tôi thành thực đã mến phục ông đã cố gắng lắm khi đưa ra một lối văn mới mẻ. Ông không muốn sa vào chỗ tầm thường, đó là điều tôi mến ông. Nhưng tôi cũng cứ khuyên ông nên giản dị hơn. Viết cho sáng sủa, giản dị, người đọc hiểu mình hơn và mình gần người đọc hơn, nếu ông giản dị hơn. Không cần gì phải làm ra khác người mới thành công. Viết cho sáng sủa, giản dị, người đọc hiểu mình hơn và mình gần ngưòi đọc hơn. Vả lại viết truyện ngắn, viết tiểu thuyết không phải là một luận án văn chương, một luận thuyết triết học thì sao không cố gắng giản dị trong lối hành văn và cách dùng chữ. Có cần gì phải đánh đố độc giả ... Tôi nghĩ không gì sung sướng bằng khi mình nói, mình viết mà người nghe người đọc hiểu mình, để có thể lòng cùng rung động cũng vui, buồn, sướng, khoái như tác giả. Viết ra, in lên sách là vì người khác, chứ chẳng phải để thỏa mãn cái ý thích riêng mình. Vì nếu chỉ để thỏa riêng mình, thì khi viết xong, khỏi phải, in ra, cứ để trong hòm thỉnh thoảng lấy ra mà đọc…
Và truyện dịch Ánh Sáng Miền Nam, cốt truyện phỏng dịch phim Phi Luật Tân. Truyện phim lố lăng, xấc sược, miệt thị Việt Nam, phim ra mắt dư luận báo chí lên án sôi nổi. Xin trích dẫn đoạn của bài Đặt vấn đề sản xuất hỗn hợp Duy Mỹ; (đăng trên báo Sinh Lực số 5, ngày 1.1.1957):
… Ánh Sáng Miền Nam đã thất bại, cuốn phim xã hội tình cảm kia đã không xã hội một chút nào và không tình cảm một chút nào cả vì người thực hiện đã chắp vá, vá víu một cách vụng dại, non nớt, những cử chỉ, hành động đi ngược lại thực trạng xã hội, phản ngược lại nguồn tình cảm tinh tế kín đáo và phong phú của người dân Việt ...
Nói tóm lại Ánh Sáng Miền Nam còn là bài học chính đáng trả nghiệm xuẩn động. Ánh Sáng Miền Nam là nạn nhân một cuộc thí nghiệm xuẩn động. Ánh Sáng Miền Nam còn là bài học chính đáng trả bằng giá thật đắt cho lớp người nhúng tay vào việc làm thiếu con mắt nhìn sâu; trông xa, sản phẩm phôi thai của cuộc hỗn hợp gò ép đã dựng một hoàn cảnh xã hội trả giá, thiên lệch, bày lên một thực trạng lai căng đầu Ngô, mình Sở trong đó không có một mẫu người Việt, không có một hình ảnh nào điển hình ở xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử vừa qua...”
Phải nhận rằng cuốn phim là hậu quả đặt vấn đề sản xuất dị đồng văn hóa. Mai Thảo được hợp đồng thuê phóng tác, thì sự làm giàu văn hóa ngoại quốc thâm nhập không thể có; Uyên Thao viết: “... Nhưng ở đây, trong phạm vi một bài báo, chúng tôi chỉ nói riêng đến cái hỏng cái hay của một cuốn tiểu thuyết. Cái hỏng trước tiên của cuốn tiểu thuyết Ánh Sáng Miền Nam như trên đã nói là cái hồn tính của người Việt không có trong những nhân vật chính trong truyện. Từ đấy, người ta thấy biết bao là cảnh trơ trẽn trái ngược với nền giáo lý cổ truyền của dân tộc. Yếu tố tâm lý cũng là một nhát búa nặng đập tan sự xây dựng, lỏng lẻo nội dung của cốt truyện. Những cảnh lẽ ra phải thắm thiết, nồng nàn trở thành tẻ nhạt, giả tạo. Đọc hết hơn ba trăm trang giấy, người ta chỉ thấy những hỗn loạn của hành động chắp nối, những lời lẽ cầu kỳ mà rỗng tuếch, những cuộc sống không hơn vá víu, pha trộn một cách quá mức hẩu lốn. Có thể nói rằng Mai Thảo đã vơ cỏ, lượm rác kết thành Ánh Sáng Miền Nam …” (tạp chí Sinh Lực) Mai Thảo buôn bán nghệ thuật, không đặt vấn đề tín nhiệm chính bản thân, chung qui chỉ vì tiền mà làm. Tháng Giêng Cỏ Non gồm mười truyện viết theo tản văn cảm giác. Tuy nhiên một hai truyện có hình thức truyện ngắn. Tháng Giêng Cỏ Non, Mở Chiến Dịch; Người Bạn Đường, Giai Đoạn Chị Định, Bên Ngoài Ngõ Tối, Đêm Tân Hôn, Buồng Trong, Đêm Bệnh Viện, Buổi Sáng Trong Nhật Ký, Hà Nội Sa Đọa. So với Đêm Giã Từ Hà Nội thì Tháng Giêng Cỏ Non có chiều sâu hơn, song chỉ có hai truyện đặc sắc nhất là Tháng Giêng Cỏ Non và Giai Đoạn Chị Định. Truyện khác tác dụng chính trị là tiêu chuẩn chính; viết sao đúng đường lối, công thức, máy móc. Đêm Tân Hôn truyện có bố cục ly kỳ; truyện công thức, thiếu rung cảm, hình tượng giả tạo, hời hợt. Tháng Giêng Cỏ Non hay nhiều màu sắc yêu thương, nhà văn trở thành nhân chứng. Gia đình anh Sang khi ở ngoài Bắc làm công nhà Thảo. Thuở nhỏ Thảo thường hay vòi làm nũng Sạng. Nào bắt cõng đến trường, trèo cây hái quả bàng. Nhưng khi Sạng bị vu oan, tố nấu rượu lậu ở làng; Sạng bỏ quê hương vào Nam Kỳ làm cho Sở cao su đất đỏ. Đã mười tám năm bặt vô âm tín, đến hiệp định Genève, Thảo vào Nam, cùng đi theo có gia đình vợ Sạng và tìm được Sạng ở Khánh Hội. Nhưng Sạng đã có vợ khác. Và Sạng đã biết vợ cả vào Nam. Khi trở lại thăm Sạng lần hai vợ cả Sạng đã chung sống êm ả với chồng cùng vợ lẽ của chồng. Ông nói lên được nhiều đức tính người miền quê đất Bắc: đàn ông có chí, đàn bà chịu đựng, hy sinh. Tả đoạn Sạng bỏ đi, Mai Thảo có lối văn tân kỳ, hấp dẫn: “…Riêng anh Sạng, cái nguyên nhân của anh bỏ đi về sau, tôi hỏi và mẹ tôi có thuật lại. Số là anh Sạng bị làng xóm láng giềng nghi ngờ là đã ra tỉnh báo Tây đoan về bắt rượu lậu chôn dấu ở vườn rau một người anh họ con chú con bác với anh. Người anh họ bị đi tù sáu tháng về tội nấu rượu lậu thật. Và anh Sạng uất ức bỏ đi. Riêng tôi không hiểu tại sao ngay hồi ấy tôi đã nhất định tin rằng anh oan. Một phần có lẽ vì anh Sạng oan thật, một phần vì anh là m ột trong những người mà ở làng tôi yêu mến trong suốt thời kỳ nhỏ tuổi...”
Sạng đi rồi, tác giả nhớ năm xưa Sạng hái quả bàng chất nịch túi. Chỉ khi nào thấy bàng chín, mới nhớ đến Sạng, không còn ai hái cho ông Niềm:
“…Cứ mỗi mùa bàng chín, tôi ra đầu ngõ nhìn lên là hình ảnh anh lại hiện về qua một nhớ thương phất dịu nhẹ. Bàng chín vàng trên kia nhưng không ai hái cho tôi nữa. Đôi khi mẹ anh đi chợ, vợ anh đi chợ, ra đồng lại ghé vào nhà tôi. Người mẹ già yếu mãi. Chị Sạng lúc nào cũng tư tưởng sầu muộn...”
...Vậy mà chị Sạng đã chờ đợi mười tám năm. Hình ảnh người đàn bà bồng con đứng đợi chồng về trong không gian bát ngát và trong thời gian không màu dưới mưa nắng gió bão mùa qua mưa, lại trở về bằng những bóng hình tối sám tro lòng tôi 18 năm. Người đàn ông bỏ làng ra đi, khi ném cả cuộc đời mình vào cuộc phiêu lưu chắc đã có thừa ý đoạn tuyệt với đoạn đời cũ, những người thân yêu cũ...”
Nghĩ đến vợ Sạng bơ vơ; tác giả minh chứng qua đoạn văn giầu tình thương nồng nàn, nghệ cảm:
“... Thời gian nghiêng đi. Từ ngày gặp anh Sạng đến nay đã được sáu tháng. Trong thành phố rộng lớn, cuộc sống tiến tới là sự kết thành của những lớp đổi thay mãnh liệt. Mỗi ngày một màu sắc mới, một tâm tình mới. Đôi khi giữa hai trang nhật báo những tin tức của thất lạc, của thăm hỏi và những người. Chị khuất vắng dài hạn, những người vợ yếu đuối đi dò thăm một dấu vết nhòa nhạt của chồng con giữa những ngã ba, những đám đông tôi lại nhớ đến chị Sang, đến đôi mắt chị khắc khoải vời vợi, và tôi lại hỏi rằng không biết chị Sạng có còn được ai dành cho chị một chỗ đứng bé nhỏ dưới một mái nhà nào không? Sự cô độc đơn lẻ ở người đàn bà đáng thương kia có là một trạng thái vĩnh viễn kéo dài như một vệt bóng tối cho đến trọn đời”...
Đôi vợ chồng ngày xưa ấy họp mặt; vợ hai hy sinh một chỗ dành chị cả xấu số ở trong gia đình. Giọng văn tác giả ngọt ngào như bánh, mứt: “... Nhưng lần này tôi đã nhìn thấy thêm một cái gì mà tôi mong đợi hết dòng suốt mười tám năm. Tôi đứng ngây người ở một góc nhà, dưới một vùng ánh sáng của lửa bếp, chị Sạng, người vợ cả miền Bắc, đang ngồi thổi cơm. Bên gối chị hai, đứa trẻ miền Nam tựa vào lòng chị nhìn lửa cháy. Nghe tiếng động, chị Sạng bỏ củi nhìn lên. Chị mỉm cười với tôi”...
Kết luận.
Văn cảm giác diễn đạt theo lối riêng của Mai Thảo tân kỳ, sáng gọn từ tác phẩm đầu tay. Sự cầu kỳ cần thiết vẫn cần có, song nếu quá lạm dụng sẽ làm tác phẩm trở nên gượng gạo, gò bó. Trước kia Mai Thảo làm thơ, song chỉ là thơ trà dư tửu hậu, ông viết chưa đều tay, có truyện rất giản dị, mà hay có truyện tầm thường, nhà văn có giọng văn đôi khi lịch lãm đài điếu của giai cấp tiểu tư sản.
Tiết 4
QUÁCH THOẠI (1929 – 1957)
Tiểu sử: Tên thật Đoàn Thoại. Sinh năm 1929 ở Huế. Năm 1948 vào Nam chủ trương báo Nguồn Sống, viết cho các báo Đoàn kết, 
Làm Dân. Việt Chính, Người Việt, Sáng Tạo… Thơ ông đăng rải rác khắp các báo. Ngày 7.11.1957, sau thời gian sống lao khổ, trút hơi thở cuối cùng ở nhà thương thí Hồng Bàng. Mắc bệnh lao, Đoàn Thoại quy y cửa thiền một năm. Cuối năm ấy qua đời, xác dùng làm thí nghiệm thực tập cho sinh viên y khoa.
Khuynh hướng: Quách Thoại, có khuynh hướng khác Thanh Tâm Tuyền, chính ông thường phê bình thơ Thanh Tâm Tuyền: Thơ “Thanh Tâm Tuyền đôi khi; mà đã nhiều lần, hắn làm thơ mà không hiểu thơ định nói gì?” Thơ Thoại điều hòa âm điệu, truyền cảm. Tình yêu đất nước, tình yêu con người, hòa đồng đầy vẻ đẹp triết lý nhân sinh, tuy cuộc sống ông vô vàn cay cực, bệnh tật hoành hành, sinh kế thúc bách; lý tưởng và con đường thơ đã vạch vẫn đi trọn. Ông chưa bao giờ thỏa mãn được việc mình làm, tâm hồn ray rứt, cuộc sống quá lao lung, nhưng lại ông ít khóc mình, chỉ khóc thời thế. Chẳng hạn thơ Sau Khi Nhà Cháy khóc mình lại không oán trách đời, hoặc tác giả trút nghẹn ngào qua thơ khóc thời thế thống thiết như bài Những Chiều Việt Nam, Em Bé Di Cư, Bức Thư Của Một Thiếu Phụ Di Cư..v.v...
Phân tích : Nhiều bài thơ yêu nước, thơ khóc thời thế còn biểu hiện nhiều trong: Cờ Dân Chủ, Em Bé Di Cư, Bức Thư Của Một Thiếu Phụ Di Cư, Gió Bão Qua Rồi Chăng, Chiều… của Quách Thoại ốm nặng; rồi trở ra Huế (tháng 2 1957) ông làm một số bài mới; như Một Chuyến Đi, Sáng Sài Gòn... Có một vài câu thơ, hơi thơ như bài Trở về Xuân Diệu:
“Vì mắt tôi no đủ bóng ngày đêm
Hôm nay vẫn nghĩ đến đời bữa khác
Như đứa con vừa bú mẹ một bên
Một bên kia vẫn mơn vú mẹ hiền
Tôi phải về vì quá đỗi yêu thương”
Xuân Diệu
Thì trong bài Cờ Dân Chủ của Quách Thoại
“Ta bước tới nắng tương lai đầy ứ
Phố lớn cười, đại lộ hát nghênh ngang
Xã hội đi về, vũ trụ rộn ràng
Nhà mới dựng, gỗ ngói còn thơm lắm
Có hơi thơ phảng phất Xuân Diệu thật:
“... Như một sớm trên đường vang tiếng guốc
Như một trưa chim tróc réo mùa hè
Tiếng rũa rèn đập nắng nhảy vàng hoe
Tiếng tia sáng múa vờn quanh chiếc búa
Những bánh xe quay những guồng máy lụa
Những bàn chân dậm, những cánh tay nhanh
Tiếng cất nhà, trời đất gõ lanh canh”
Xuân Diệu
Tình yêu cá nhân trong bốn tiếng, âm thầm tuyệt vọng là trạng thái tác giả. Cuộc sống bi đát kẻ sĩ, cảnh nghèo nàn cùng cực sau khi nhà ông bị cháy. Có đoạn tác giả tả nơi trú ngụ ở Bến Cỏ (Đakao), đồ đạc mất, quần áo bị cháy, năm ấy là vào 1956. Như Băng Trương Tình bài thơ làm khi bị ốm gần chết nằm trên khách sạn Đại Nam Lầu (đường Hàm Nghi Sài Gòn).
... “Tôi viết bài thơ hôm nay
Một bài thơ sau khi nhà cháy
Sau khi đời trắng hai tay
Ấy thế mà tôi vẫn viêt được”
“… Triều đại vừa qua đổ gãy
Vũ trụ chỉ có nghĩa ngày nay
Có kể gì tôi ăn mày
Có kể gì anh bệnh hoạn
Những người chết đi là chết đi...”
Suy nghĩ người đi sau, khi thấy người chết nằm đó, chưa biết phận mình thế nào? Cháy nhà rồi, tác giả giã từ bạn bè láng giếng. Đây là mơ ước tác giả của sự thật phũ phàng:
... “Và đến đêm nay
Tôi ước ao rằng tôi ngủ kỹ
Một giấc ngủ không ác mộng sầu bi
Ở dưới gậm cầu trên ghế đá đường đi
Một giấc ngủ
Và không nhớ lại một tí gì...”
Tác giả bị cháy nhà viết bài thơ hay như trên; chỉ là khoảng nhỏ chuỗi đời sống bị vùi dập liên tiếp. Nhà văn nghèo khổ bộc lộ rõ lý tưởng theo đuổi đến cùng. Không phải lý thuyết đâu, Thoại đem cả cuộc đời đánh đổi cho ảnh hình sống động được ghi trong đời sống thơ. Ông phải đưa đời vào tác phẩm lớn, thí dụ bằng xương thịt của người thơ làm chứng nghiệm:
... “Mặt trời mọc
Mặt trời mọc
Rưng rưng mùa hoa gạo
Lỡ một ngày mai tôi chết trần truồng không cơm áo
Thì hồn tôi xin phảng phất chốn trăng sao
để nhìn các anh
Như vừa gặp buổi hôm nào
Và trong câu chuyện tôi sẽ cười nhắc bảo
còn sáng tạo ta hãy còn sáng tạo...”
Quách Thoại có hai đề mục trong thơ: Khóc thời thế và Hương yêu. Nhưng tác giả vẫn khóc đời nhiều hơn khóc mình. Thơ ông mang từ đời sống vào, mà đời sống chênh vênh một mất một còn, cuộc đời là thơ, thơ là cuộc đời ăn ý. Là nhà thơ đem cuộc đời trải trên dẫn lộ nhân sinh của nhiều bài thơ bất tử:
Trích thơ :
1. CỜ DÂN CHỦ
Hãy hớp lấy màu xanh cùng ánh đỏ
Hãy ôm đầy sức sống cả hai tay
Hãy uống âm thanh từng mỗi phút giây
Hãy đi đến mặt trời đang đứng đó
Chúng ta mở cả trăm ngàn cửa ngõ
Gặp nhau đây hàng triệu mặt con người
Bởi quá vui nên hét lớn ta cười
Giờ cách mạng hôm nay vừa điểm
Ta nhìn lên trời tự do hiển hiện
Đường tương lai gió thổi lá cờ bay
Ôi! lá cờ dân chủ mến thương thay
Qua thế kỷ lầm than giờ mới thấy
Ta sùng kính, trời ơi là biết mấy
Suốt trăm năm nô lệ cúi đầu đi
Hồn tin tưởng biết đâu tìm chí hướng
Ta ngưỡng vọng hôm nay trời lý tưởng
Ngát mùa xanh, xanh thắm của yêu đương
Rực bình minh rạng rỡ ánh thiên đường
Đêm gục chết theo với thời quá khứ
Ta bước tới nắng tương lai đầy ứ
Phố lớn cười đại lộ hát nghênh ngang
Xã hội đi về, vũ trụ rộn ràng
Nhà mới dựng, gỗ ngói còn thơm lắm
Ai mới kẻ chữ Việt Nam tươi thắm.
Lên trên tường, trên bảng với trên tim
Trên linh hồn giữa náo động trong im lìm
Tình yêu nước chao ôi là sâu kín
Là đậm đà như trái cây muồi chín
Là thiết tha như tình ái người yêu
Ta bước lên đau khổ ngả nghiêng xiêu
Hạnh phúc dựng theo những làng xóm mới
Ôi! Kiến thiết những tài nguyên mới tới
Bàn tay anh, bàn tay chị, tay tôi
Vui gì hơn khi phá xẻ núi đồi
Lưỡi cày bén xới đất hồng tươi tốt
Ta tin tưởng ở đường ta then chốt
Vạch chông gai đi đến giữa thành công
Bởi hôm nay ta gieo mạ cấy trồng
Lúa hứa chắc một ngày mai no ấm
Ta hét lớn lay không gian chuyển sấm
Phá sạch tan sầu hận một đời qua
Ta tiến lên kìa ánh sáng chói lòa
Đường rộng mở thênh thang trời dân chủ
Ôi! Tự do thật vô cùng quyến rũ.
(Trích Sáng Tạo)
1956
2. NHƯ BĂNG TRƯỜNG TÌNH
Ta ngạt thở bởi mùi hương xa vắng
Hương thiên đàng vừa thoảng bến trần gian
Ta đê mê cảm động đến mơ màng
Nghe mầu nhiệm thuấn nhầm trong mến cảm
Nghe sống lại trong hồn ta ảm đạm
Một tình yêu thanh thoát quá diệu huyền
Ôi! Mắt em chờ mơ mộng còn nguyên
Cho ta gửi mối tình ta trinh bạch
Cho ta hôn bàn chân em ngọc thạch
Dẫm trên đường khổ hạnh chốn tu hành
Ôi, giáo đường nở kín đóa xuân xanh
Hoa cao quý tắm mình trong tuyết ngọc
Như Băng ơi, vì sao ta thầm khóc
Nghĩ thương em hồn ngưỡng mộ Chúa Trời
Ta xót đau nhìn hỗn loạn cuộc đời
Không dám tưởng giờ em đang cầu nguyện
Em có biết một cõi lòng đang xao xuyến
Nhớ thương em đứng đợi trước nhà chung
Ta yêu em yêu mến cả vô cùng
Thềm tôn giáo ta đặt hồn mơ ngủ
Trong tình em trong tim Chúa Giêsu
Ta giật mình bóng tối vẫn mịt mù
Trăng nhợt nhạt và hồn ta thấy lạnh
Lời tụng niệm vang đưa từ cô quạnh
Ta lắng nghe hồn vẳng tiếng kinh em
Ta lắng nghe hồn vẳng tiếng chuông đêm
Lệ nóng chảy lòng đau kêu cứu Chúa!
Như Băng! Như Băng! Vì đâu mà lệ ứa
Ta khóc than nghĩ tủi phận đời ta
Một linh hồn lạc lõng giữa bao la
Một tình yêu chưa một chiều trao gởi
Tim cô đơn chưa một lần ấm sưởi
Lạnh trong hồn, lạnh thấu ở trong sương
Nghe đêm xuống tưởng buồn như tận thế
Lệ rất nhiều mà khóc chẳng ai lau
Ta một mình ôm tất cả đớn đau
Không dám nói bởi chung rằng khó nói
Viết lời thơ thành lời kinh kêu gọi
Nào vơi chi sầu hận của nhân gian
Như Băng em, xin ngó nẻo thiên đàng
Để nguy hiểm ta sống đời địa ngục
Ta chỉ sợ rồi đây nơi nhà phúc
Máu tai ương sẽ vấy tấm thân em
Lưỡi dao ngươi sẽ xẻ gót chân sen
Em sẽ chết dập bàn tay ngà ngọc
Rồi ta khóc đến tan tành trí óc
Như Băng ơi, nào em hiểu gì đâu
Đã từng đêm ta nguyện với ta cầu
Lòng tự hỏi vì đâu đời khổ lụy?
Bởi vì đâu hỡi loài hoa cao quý
Mà hương thơm còn mãi đến ngàn sau
Nở chi đây phô sắc thắm nhiệm mầu
Đất sắp sửa sẽ nứt thành phun lửa
Như Băng em đau thương là thế rứa
Bởi yêu em nên khóc mấy cho vừa
Đây lệ tình ta em biết cho chưa
Xác hồn ta chết đau gần quá nửa
Như Băng, Như Băng một chiều hoi hóp lửa
Là một chiều tận thế của tương lai
Thôi ta chết cả linh hồn đời nhân loại
Bao xây dựng đi về trong hủy hoại
Bao văn minh hạnh phúc vẫn không thành
Bao đền đài cũng vẫn chỉ hư danh
Bao khoa học không giữ người giá trị
Bao cao thượng chỉ thành ra vị kỷ
Bao lợi quyền mà hóa vẫn tay không
Kìa điêu linh thì cứ đấy em trông
Xe hiện tại dẫn ngày mai xuống hố
Đời hy vọng mà vẫn tin tận số
Ô hô hô thôi mạt kiếp vận người
Mà Như Băng ơi hỡi! Môi em tươi
Mắt em ngó nhiệm màu là biết mấy
Giữa tim em nguồn thiêng rào rạt dậy
Vầng trán em phảng phất bóng hư linh
Em hát đi cho ta hết dựt mình
Em cầu nguyện để ta còn tin tưởng
Phủ màn sương mộng ảo xuống che em
Ta muốn lấy hoa kết lại thành rèm
Để vây phủ đời em trong cõi sống
Để nguyên vẹn tình ta vững chống
Lái con thuyền tình ái đến sông trăng
Để tình ta còn đẹp tựa sông Hằng
Mà hôm nay ta khóc lạy than rằng:
Xin chầm chậm hoàng hôn đừng vội lặn
Ôi! Đau thương loài người xin hữu hạn.
QUÁCH THOẠI
Tiết 5
THANH TÂM TUYỀN (1936-2006)
Tiểu sử : Thanh Tâm Tuyền tên thật Dzư Văn Tâm. Sinh năm 1936 ở Vinh. Sống hầu hết đời hoa niên ở miền Bắc. Viết cho tuần báo Nói Thật (Hà Nội, 1953), Lửa Việt, Người Việt, Phương Nam, Sáng Tạo, 1956; 57 (Sài Gòn)...
Tác phẩm và khuynh hướng: Đã xuất bản Tôi Không Còn Cô Độc (Người Việt, 1956) Ông viết truyện dài đăng trên báo Lửa Việt. 
Truyện dài Hiện Tại đăng dở dang: truyện ngắn Người Bệnh Giữa Mùa Xuân, Đại Lộ, v.v... Ông cho xuất bản tập thơ tự do không vần, không điệu, gần như văn xuôi, những bài Tình Cờ Phục Sinh khó hiểu hơn văn xuôi. Thơ tự do của ông không là thơ tự do Nguyễn Đình Thi, gần hơn Nguyễn Quốc Trinh; gần hơn nữa các nhà thơ trong nhóm ông Quách Thoại, Nguyên Sa, nhà thơ độc lập Phan Lạc Tuyên. Thơ Thanh Tâm Tuyền giống lối thơ tượng trưng Lettrisme, Dadaðsmes (Pháp), lối thơ bí hiểm khô khan, khó truyền cảm hơn cả thơ Xuân Thụ Nhã Tập tiền chiến. Thơ ông mang sự khắc khoải, lo âu, bi thiết nặng triết lý Kierkegaard. Ngoài những bài thơ khó hiểu, bí hiểm, có một ít bài truyền cảm, đặc sắc những bài có âm điệu riêng nội dung cô đọng. Cũng là điều lạ, nhà thơ tự do phi lý không lý do ấy rất thích điệu nhạc slow Đoàn Chuẩn, nhạc sĩ có dòng nhạc quý phái, tươi trẻ, âm điệu quyến rũ lứa thanh xuân. Ông muốn tạo một lối mới, đi quá trớn, không kịp chín thành lập dị, lố bịch, thơ không đồng cảm nổi với tác giả mà chính tác giả chẳng hiểu tại sao làm thơ không phải là thơ. Cũng chưa đến nỗi như Nguyên Xuân Sanh làm thơ bí hiểm, cố tạo ra ý tứ, giảng cho độc giả; mà chính tác giả chưa lĩnh hội được? Chúng tôi nhớ vào thế kỷ XIX, sau thời kỳ văn tượng trưng, khi môn phái symboliste xuất hiện thì nay lại có Thanh Tâm Tuyền đại diện Người Sông Thương, Trần Thanh Hiệp là Dadaisme qua lối thơ chẳng hiểu, cảm nổi. Tỷ dụ trong bài Phục sinh thơ làm dáng suy tư:
... “Tôi buồn khóc như buồn ngủ
Dù tôi đứng trên bờ sông
Nước đen sâu thao thức
Tôi hét tên tôi cho nguôi giận
Thanh Tâm Tuyền
Đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi
Em bé quàng khăn đỏ ơi
Này một con chó sói
Thứ chó sói lang thang
Thứ chó sói lang thang”.
Gọi tên mình không là mới; xưa trong Gửi Hương Cho Gió (1940) Xuân Diệu gọi tên hoặc Huy Cận gọi tên và Xuân Diệu trong Lửa Thiêng. Song cách gọi tên phải thế nào, sao lại gọi tên, nếu không một anh điên ngoài phố thường bỗng dưng gọi tên mình thỉ chẳng ý niệm gì? Cách gọi tên Thanh Tâm Tuyền không lý do chẳng khác chàng mộng du, không tưởng. Đọc trong bài Tình Cờ:
“… Hai người yêu nhau rất tình cờ
Của lòng tin phù trợ
Hãy yêu nhau rất tình cờ
Như mặt trăng may mắn thoát ra khỏi vòm mây…”
Chiếc đầu máy mệt nhọc đứng lại một ga nhỏ”.
Thật bí hiểm bắt chúng ta trở lại nền văn chương ở đầu thế kỷ hai mươi, nhìn lại bản tuyên ngôn thi phái Dada (Pháp). Và làm không liên tưởng khi đọc Nhịp Ba Thanh Tâm Tuyền: Các anh hiểu thế nào được, về việc làm chúng tôi! Có phải vậy không? Vậy thì các anh ơi, nào chúng tôi có hiểu chúng tôi bằng các anh đâu?...” (49) Tuy khôi hài nhưng rất biết mình, tự châm biếm như anh hề biết làm trò hề chính mình không chịu nổi sự tiếp nhận chính mình Thanh Tâm Tuyền không những là Francis Picabia; còn theo đòi Nathaniel Andre Gide trong Les nourritures terrestres (Thức ăn trần gian). Nếu một Nathaniel kêu gào bạn hỡi: hãy vứt sách ta đi, vượt ra ngoài đi; thì Thanh Tâm Tuyền bắt chước cách vụng dại, ngây ngô, khiến nhớ đến một Tây Thi đau bụng nhăn mặt thì đẹp; còn mụ nhà quê Hồ Nam, nhăn mặt kiểu Tây Thi bị chồng vác gậy đuổi đánh. Và Thanh Tâm Tuyền tưởng rằng lối viết Gide hay, cóp ý hay ấy đem đặt ở trang đầu tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc như một nguyên tắc.
Ở đây tôi là một vị hoàng đế đầy đủ quyền uy. Bởi vì người vào trong đất đai của tôi, ngươi hoàn toàn tự do để cai trị tôi có những luật lệ tinh thần mà người phải thân phục nếu người muốn nhập lãnh thổ người hoàn toàn tự do và có thể ném cuốn sách ra cửa sổ...
Trần Thanh Hiệp là một Đinh Gia Trinh cũng bắt chước làm thơ, viết bình luận biện hộ bạn thơ, Thanh Tâm Tuyền và với chính bản thân Trần Thanh Hiệp làm thơ lại là chép dịch thơ Louis Aragon:
“Cửa sổ, cửa sổ, cửa sổ (Trần Thanh Hiệp)
Persienne, persienne, persienne” (Aragon)
Lối thơ tượng trưng, phi lý không lý do của Aragon; Éluard là thơ hay, không phải lối thơ ăn cắp của Thanh Tâm Tuyền và tự cho khám phá mới, định luật mới quyền uy. Nhiều bài thơ của ông bất thành cú, vô nghĩa:
“…Ngực anh thủng lỗ đạn tròn
Lưỡi lê thấu phổi
Tim còn nhảy đập
Nhịp ba nhịp ba
Có người cầm súng bắn vào đầu
Đạn nổ nhịp ba
Không chết
Anh ngồi nhỏm dậy
Khỏe mạnh lạ thường...”
Hệt như văn kỳ tình, trinh thám Phi Long, Phú Đức, phi ngựa bắn súng; nhân vật làm bia, chấp cho nghìn viên đạn bắn vào; và nhân vật chính không chết, rồi phi lên không trung. Cho đó tượng trưng sức mạnh tin tưởng con người; là thứ so sánh ngây thơ, con nít tập làm người lớn có suy tư, thích tìm hình tượng mới. Truyện ngắn: Đại Lộ Thanh Tâm Tuyền ít lập dị, khó hiểu như thơ. Tuy nhiên Tôi Không Còn Cô Độc có số ít bài vượt khuôn sáo như bài thơ Mắt Biếc, Dạ Khúc, Anh Em Cộng hòa, hoặc bài trả lời bài thơ: Còn Sáng Tạo, Ta Hãy Còn Sáng Tạo của Quách Thoại:
“…Thoại ơi; Thoại ơi; không biết khóc
Như dòng nước mắt ướp mặn môi,
Không chết trần truồng không thể được
Cuộc sống phải thừa như sáng mai…”
Đúng cảm xúc thực; không thương vay khóc mước, không dùng cái chính mình không biết bịp lòe người khác; làm họ không biết như tác giả. Tôi nhớ có một lần, báo: Văn Nghệ Tiền Phong nhại lại lối gọi tên của ông: Vịt luộc, vịt luộc, vịt luộc của ông. Đa số bài thơ của ông thiếu rung cảm, khó lĩnh hội được, nội dung rỗng tuếch, khắc khoải, suy tư vay mượn và như cậu học trò tập làm thơ triết lý. Song cũng phải thừa nhận ông có thể làm thơ mới, lục bát, tuy không hay nhưng không tầm thường.
Trích thơ:
1. HÃY CHO ANH KHÓC BẰNG MẮT EM
NHỮNG CUỘC TÌNH DUYÊN BUDAPEST
Hãy cho anh khóc bằng mắt em
Những cuộc tình duyên Budapest
Anh một trái tim em một trái tim
Chúng kéo đầy đường chiến xa đại bác
Hãy cho anh giận bằng ngực em
Như chúng bắn lửa vào thép
Nỗi sờn họng súng
Nỗi ngã tư mặt anh là hàng rào
Hãy cho anh la bằng cổ em
Trời mai bay rực rỡ
Chúng nó say giết người như gạch ngói
Như lòng chúng ta thèm khát tương lai
Hãy cho anh run bằng má em
Khi chúng đóng mọi đường biên giới
Lùa những ngón tay vào nhau
Thân thể anh chờ đợi
Hãy cho anh ngủ bằng trán em
Đau dấu đạn
Đêm không bao giờ không bao giờ đêm
Chúng tấn công hoài những buổi sáng
Hãy cho anh chết bằng da em
Trong giây xích chiến xa tội nghiệp
Anh sẽ sống bằng hơi thở em
Hỡi những người kế tiếp
Hãy cho anh khóc bằng mắt em
Những cuộc tình duyên Budapest
(Tháng 12–1956)
(Trích Sáng Tạo)
2. DẠ KHÚC
Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Rồi giây điện cuốn lấy chúng ta
Bóp chết mọi hy vọng
Nên anh dìu anh xa
Đi đi chúng ta đến công viên
Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối
Ôi môi em như mật đắng
Như móng sắc thương đau
Đi đi anh đưa em vào quán rượu
Có một chút Paris
Để anh được làm thi sĩ
Hay nửa đêm Hà Nội
Anh là thằng điên khùng
Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới
Chiếc kèn hát mãi than van
Điệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng
Sao tuổi trẻ quá buồn
Như con mắt giận dữ
Sao tuổi trẻ quá buồn
Như bàn ghế không bằng
Thôi em hãy đứng dậy
Người bán hàng đã ngủ sau quầy
Anh đưa em đi trốn
Những dày vò ngày mai
(Trích Sáng Tạo)
THANH TÂM TUYỀN
KỲ THỨ XXVI
VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956
[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)

Giai đoạn kháng chiến, từ 1945 đến 1950 Việt Nam độc lập được gần một năm. Tiếp, Pháp chiếm lại Hà Nội, (ngày 19 tháng 12 năm 1946) cho dù đảng phái Quốc hay Cộng đều bỏ phù hiệu riêng, đoàn kết trong danh xưng kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng. Suốt chín năm (1945–1954), thì kháng chiến ở bốn năm về sau, đã hao hụt thực chất; Mác xít ra mặt lãnh đạo – và cho đến 20–7–1954, phân chia đất nước, danh xưng toàn dân kháng chiến mất hẳn ý nghĩa. Song trên bình diện văn nghệ, ý thức toàn dân kháng chiến tạo được nền văn học có chiều sâu và rộng.
Giai đoạn văn nghệ phân hóa, văn nghệ Mác xít – theo hẳn lối sáng tác được chỉ huy, nhất là sau 1954 miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Còn Quốc Gia và miền Nam (VNCH) văn nghệ chỉ là vườn hoang, mọc đủ loại thảo mộc. Trong tập này, với người khe khắt cho quá nhiều – người dễ dãi cho chưa đủ. Với tôi, vẫn chỉ là bắt voi bỏ giọ, và tất nhiên chủ quan; thiếu sót tất nhiên không thể tránh. Nhìn vào những người viết sách nhận định văn học trước như Vũ Ngọc Phan kết luận cuối trang sách phê bình văn học, có đoạn:
“... Trước hết, bộ sách này là bộ phê bình văn học như tôi đã nói nhiều lần, vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn. Sau nữa, trong khi tôi viết những trang phê bình về thơ, có nhiều thi sĩ chưa có quyển thơ nào xuất bản, về kịch hay tiểu thuyết, có nhiều nhà văn chưa có sách biên khảo, chưa có kịch hay tiểu thuyết ra đời. Như vậy, biết căn cứ vào đâu cho chắc chắn? Rồi lại những nhà văn chính trị tuy đã có văn thơ in trên báo chương hay xuất bản thành sách, cũng không có trong bộ sách này, vì một lẽ mà ai cũng hiểu khi nhớ đến chế độ hiện hành về sách báo. Còn những nhà văn chuyên viết những sách Pháp văn thì tôi cho là không phải nói đến trong văn học Việt Nam. (...) Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa rằng bộ Nhà Văn Hiện Đại này chỉ là một bộ phê bình văn học, không phải là bộ văn học sử. Trong văn học sử, người viết cần phải xét rất kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến văn phẩm, rồi lại phải định rõ cả sự liên lạc của nhà văn nọ với nhà văn kia đồng thời hay khác thời đại. Nếu không đủ được những điều cốt yếu ấy, để định rõ phong trào văn học, thì dù có văn học sử đi nữa, người ta cũng chỉ coi là một mớ sử liệu...” (1)
Thời gian này tác phẩm viết bằng Pháp ngữ như Phạm Duy Khiêm với Légendes des terrres sereines và Nam et Sylvie; hoặc Nguyễn Tiến Lãng Le Chemin de la Révolte; Phạm Văn Ký: Frère de Sang, Celui qui régnera; Cung Giụ Nguyên Le Fils de la baleine – sử học Lê Thành Khôi với Le Vietnam, Histoire et Civilisation v.v..., không nói đến, cũng như lý do mà ông Vũ Ngọc Phan đề cập tới ở trên. Đến nhà chính trị văn sĩ Hồ Hữu Tường với Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc bỡn Nga, ... thì cũng vậy. Cả đến loại sách trinh thám kỳ tình, kiếm hiệp, phong thần, phỏng dịch chắp vá được gọi là tác phẩm văn học – chúng tôi xin phép không nói tới. Rõ hơn là Phạm Cao Củng có mặt từ tiền chiến với Kỳ Phát; hoặc truyện Người Nhạn Trắng cũng thế v.v... Tác giả Hoàng Như Mai, thời gian 1950–1954 trong kháng chiến; chúng tôi đưa vào cuốn này; vì vở kịch Tiếng Trống Hà Hồi đặc sắc được in trình diễn ở Hà Nội. Có thể nói điển hình bộ môn kịch là Tiếng trống Hà Nội. Bước sang bộ môn biên khảo, đưa Duy Sinh vào một tiết, như một điển hình cho lớp người viết biên khảo; cũng vẫn chủ quan, so với Diên Hương, Thu - Giang - Nguyễn - Duy - Cần; Khi đối chiếu lại thì, Duy Sinh không thể giá trị bằng hai nhà biên khảo vừa nêu danh.
Trở lại bình diện văn nghệ hậu chiến, tập 3 gồm trên dưới một trăm nhà văn; chọn ba mươi điển hình nói tới cặn kẽ; so với người khác viết tóm lược. Cũng vẫn chủ quan thô thiển và tự nhận thiếu sót. Bởi còn nghĩ xa hơn rằng: "không thể viết đầy đủ các nhà văn mình muốn đưa vào một quyển, thay vì mỗi nhà văn điển hình phải viết hẳn một cuốn nói về họ".
     Nên coi những trang viết này chỉ là chữ viết (écriture) trong bộ sách này, và không là văn học (littérature); như quan niệm của Michel Buto (2). Lẽ trang viết có ý nghĩa tổng quát hơn. Còn nữa, bộ sách này chỉ là kết quả viết về tác phẩm các tác giả mà tôi đã đọc, đưa ra nhận xét của riêng tôi; giúp cho nghề tôi nuôi nghiệp (littérateur). Từ 1950 đến 1956, biến chuyển thời cuộc tác động đích thực vào đời sống văn học mà nhà văn sống trong đó. Ở miền Bắc của Quốc Gia Việt Nam (1950 – 1954) nhóm Thế Kỷ tạo thành một Triều Đẩu, qua những mảnh đời phóng sự hồi cư nóng bỏng, hàng ngày phải đối phó với đời sống, tạm gọi độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Còn thêm nhà văn điển hình như Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, (truyện), Bến Nước Ngũ Bồ (kịch dã sử), Nguyễn Minh Lang, ngọn bút tài hoa của văn chương lãng mạn mới, qua Gái Hà Nội, Nước Mắt Trong Đêm Mưa, Cánh Hoa Trước Gió (2 tập)... Hai nhà văn này, chúng tôi đề cập ở Chương 3 (tiết 2 và 4) – nhưng tập 3 này xuất bản ở Sài Gòn vào 1959 (Loại sách Đại Nam văn hiến trong nhà xuất bản Huyền Trân, Nhật Tiến chủ trương) bị kiểm duyệt bỏ trọn tiết. Bản in lại lần thứ hai in lại đầy đủ; nhưng trong lần này vẫn phải để trống phần phân tích; vì lý do tầm thường – không kiếm được bản tái bản vào 1973. Hai nhà văn điển hình khác nói đến trong Chương 3 là Thanh Hữu, Văn An. Về nhà thơ điển hình: Đinh Hùng, Nguyễn Quốc Trinh... Viết tóm lược nhà thơ: Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Băng Sơn, Vân Long, Trần Nhân Cư... Bình diện văn nghệ miền Trung (Quốc gia Việt Nam) vào giai đoạn này, nhà thơ điển hình được nói đến : Huyền Chi (nữ), Hoài Minh, Thanh Thuyền. Viết tóm lược các nhà thơ: Hồ Đình Phương, Huyền Viêm, Thế Viên...
Bình diện văn nghệ miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nhà văn điển hình: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo (nữ), Triều Lương Chế, Phạm - Thái - Nguyễn - Ngọc -Tân Phạm Thái kèm tên thật Nguyễn Ngọc Tân, phân biệt với một Phạm Thái khác), Chấn Phong Hư Chu. Viết tóm lược: Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ), Thiếu-Mai-Vũ-Bá- Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm Minh, Nguyễn Hoài Văn, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân... Một số nhà văn khác nổi tiếng sau giai đoạn 1956 như Võ Phiến chưa có tác phẩm xuất bản. Phải kể thêm trong số đó: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, (nữ), Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng (nữ), Võ Hồng, Thế Uyên, Tuấn Huy, Thế Nguyên, v.v... của Đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 trở đi). Riêng về phóng sự tiểu thuyết: Hoàng Hải Thủy với Vũ Nữ Sài Gòn (3), Duyên Anh qua bút hiệu Thương Sinh, Toàn Phong với Đời Phi Công, chúng tôi chưa có cơ hội nói đến, và nhờ Vũ Ngọc Phan giúp giải vây sự khốn đốn; ... vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn... Thêm nữa, khoảng thời gian viết đến lúc in ra (dầu cho là in ronéo-typé cách vài năm). Do đó, chưa kịp nói đến Võ Phiến (Chữ Tình), (4) Thế Uyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Toàn Phong , Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Thế Nguyên, Văn Quang (Thùy Dương Trang), Huy Trâm, Phạm Nguyên Vũ, Túy Hồng (nữ), Lê Vĩnh Hòa, Nhật Tiến, (văn) v.v... – Về thơ: Thái Thủy, Tô Thùy Yên, Tôn Thất Quán, Hoàng Khanh, Cung Trầm Tưởng, Cao Mỵ Nhân, Viên Linh, Trần Dạ Từ (khi ấy ký Hoài Nam), Hoài Khanh, Hà Yên Chi v.v... và v.v... (5).
Giá trị văn chương tiền chiến Tự Lực văn đoàn, có cả Lê Văn Trương, (tập một: Nhà văn tiền chiến), tiếp đến giá trị văn chương lửa kháng chiến; sau là hậu chiến. Đọc Bướm Trắng, Nửa Chừng Xuân. Mấy Vần Thơ, Gửi Hương Cho Gió, Vang Bóng Một Thời, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giông Tố... không nhìn thấy đầy đủ hình tượng sống cuộc sống hôm nay được thấy trong: Gió Bấc, Truyện Năm Người Thanh Niên, Trên Vỉa Hè Hà Nội, Cánh Hoa Trước Gió, Trại Tân Bồi, Nhìn Xuống, Điệu Đàn Muôn Thuở, Đêm Giã Từ Hà Nội, Sợ Lửa, Rừng Địa Ngục.... Văn nghệ là sản phẩm phản ánh thời đại, nên Kim Vân Kiều có hay đến mức thượng thừa – cũng chưa thể đại diện cho một khoảng thời gian không tiếp nối. Tác phẩm Nguyễn Du mới chỉ nói lên đầy đủ về xã hội phong kiến giao thời mà tác giả Kim Vân Kiều sống – đủ một số điều tương đồng hiện cảnh. Không thể nói đến Kim Vân Kiều là đủ điều tất yếu hình tượng sống lịch sử. Tác phẩm của Karl Marx, S.Freud cũng bị vượt qua, hiện nay vẫn cần khối óc siêu việt Oppeheimer, Einstein, Gandhi, JP Sartre v.v...
Phải hiểu được rằng: lịch sử một nước như lịch sử văn học, luôn theo đà diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Nói khác đi, sử học, văn học sử một nước không thể cắt quãng, cũng không tùy thuộc vào lập luận một phe nhóm nào để định giá trị vĩnh viễn. Rất cảm phục lập luận của Vũ Ngọc Phan dẫn trên kia; được gọi văn học sử, phải xét kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến tác phẩm, định rõ liên hệ (chữ dùng: TP) giữa nhà văn này với nhà văn nọ, định rõ phong trào văn học. Càng rõ hơn, được gọi văn học sử, ít ra phải làm được một bộ sách Lịch Sử Văn Chương Ngôn Ngữ Pháp (tạm dịch Histoire des littératures de la langue française) (6) do nhóm chủ trương gồm 209 giáo sư văn học thực hiện bộ sách vĩ đại ấy.
Cảm ơn số bạn giúp tài liệu, ý kiến, khích lệ, động viên, khi tôi khởi sự viết bộ sách này. Như họa sĩ Đinh Cường cởi áo, ngồi xệp trên sàn gác căn nhà trọ cùng tôi chia giúp những trang sách in ronéotypé xếp thành tập vào 1959, ở hẻm nhà thờ Lý Thái Tổ (Chợ Lớn). Uyên Thao mượn cho chiếc máy chữ, có lịch sử sản xuất cùng thời kỳ Tây hạ thành Hà Nội. Nguyễn Quang Tuyến nuôi ăn ở hàng năm, tôi ra thư viện đọc sách. Cùng với nhiều thư tình đầy tâm huyết người - tình - bậc - chị đến từ Hong Kong (nàng gọi Cảng Thơm) khích lệ người - em - bạn - tình miệt mài với chữ và nghĩa. Lại không thể quên bạn vong niên Phan Văn Thức cấp tiền ăn sáng, giấy stencil và thẩm phán Đào Minh Lượng, khi là sinh viên Trường Luật mua bánh mì dùng bữa trưa để tôi ngồi lì ở Thư Viện Quốc Gia làm mọt sách. Cũng không thể quên chịu ơn André Gide, qua cuốn sách viết phê bình về Fédor Dostoievskï (7) và cả Textes philosophiques của V.Biélinsky (8) nữa.
THẾ PHONG
PHẦN THỨ BA
VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956
[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)] 
CHƯƠNG BỐN
CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP ĐIỂN HÌNH
Tiết 1
KHÁI QUÁT VỀ CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP ĐIỂN HÌNH
Bây giờ bàn đến các nhà văn độc lập điển hình, gồm nhà văn không đứng trong nhóm nào; mặc dầu Nguyễn Thị Vinh và Linh Bảo có sách xuất bản ở NXB Phượng Giang. (tiền thân Tự Lực văn đoàn hậu chiến dưới sự điều khiển Nhất Linh). Nguyễn Thị Vinh và Linh Bảo không đứng trong nhóm, chỉ chịu ảnh hưởng Tự Lực văn đoàn và Nhất Linh in sách cho họ. Linh Bảo; Nguyễn Thị Vinh, Tương Hùng, Trương Bảo Sơn cũng tiếp nối vào giai đoạn cuối của Tự Lực văn đoàn. Và Triều Lương Chế, nhà văn tâm tình thời đại, Chấn Phong, Vũ Khắc Khoan nhà văn chính trị xã hội đứng trong nhóm Quan Điểm; Hư Chu, nhà văn hoài vọng dĩ vãng, mỗi nhà văn có nhỡn quan riêng hòa đồng với tiếp nhận ngoại cuộc, đưa mỗi người vào xã hội hôm nay muôn ngàn vẻ. Phần kết thúc sẽ bàn đến giá trị tổng quát mỗi nhà văn.
Tiết 2
NGUYỄN THỊ VINH
Tiểu sử:
Nguyễn Thị Vinh sinh năm 1924 ở Hà Đông. Tác phẩm đầu tay do nhà Phượng Giang xuất bản, Trương Bảo Sơn lo phần ấn loát. Bà viết truyện dài, truyện ngắn, làm thơ.
Tác phẩm và khuynh hướng:
Nguyễn Thị Vinh phân tích tâm lý nhân vật giai cấp trung lưu. Tác phẩm đã xuất bản: Hai Chị Em (truyện ngắn, Phượng Giang, 1953) và tập truyện dài Thương Yêu (Phượng Giang, 1954), Xóm Nghèo (1958), Men Chiều (1960) Thơ Nguyễn Thị Vinh (1972), Cô Mai (1972) Nổi Sóng (1973) Vết Chàm (1973)... Từng chủ bút giai phẩm Tân Phong (1957). Chủ nhiệm nguyệt san Đông Phương (1965)
Phân tích tác phẩm chính:
Ở Thương yêu nhà văn sẵn tài nguyên về tâm tình nên phân tích tâm lý nhân vật vững. 
Kết cuộc tuyện thiếu linh động; lệch, ưu điểm và nghệ thuật dồn hết vào phần trên, phần dưới mất cân bằng. Nhớ đến Hà Bỉnh Trang viết Răng Đen Ai Nhuộm Cho Mình chung khuyết điểm. Truyện ngắn Hai Chị Em viết rất linh động, hơi văn ngắn nhưng đằm thắm. Truyện ngắn không nhạt nhẽo, như đoạn kết truyện dài Thương Yêu. Khuyết điểm chính khi viết truyện dài bà không có hơi văn dài (longue–haleine). Sở trường là tân truyện (nouvelle) hình tượng nhân vật thời đại mới, truyện không cần dàn bài như truyện dài, truyện ngắn; không cần mở truyện, thân truyện, kết truyện; mà chỉ là mẩu truyện không thành truyện. Ai từng đọc Katherine Mansfield này đều nhớ tác giả viết tân truyện tế nhị, linh động hơn cả Guy de Maupassant. Đó là truyện The Garden Party đã được dịch sang Pháp văn. Nguyễn Thị Vinh tự nhận rằng bà chịu ảnh hưởng tác giả ấy, nên ngay trang đầu sách, trích đoạn văn phê bình gia Pháp nhận định giá trị văn chương Katherine Mansfileld:
“...Katherine Mansfield, một nữ văn hào Anh nổi tiếng khắp thế giới chuyên môn viết những truyện không có truyện đã khôn khéo hơn Maupassant ở chỗ muốn tả cuộc đời với đủ mọi phức tạp mà không làm cho đời thành có vẻ tuồng. Tính thích bày cảnh, thích đập vào mắt người ta, đã gây tai họa cho rất nhiều người đầu óc khá của nước ta. Trong một truyện, muốn đi tới một kết cục, thật dễ dàng, nhưng phải còn bao nhiêu là kỹ sảo khi mà câu truyện không có kết cục, tôi muốn nói đến không có kết cục nổi bật lên, gò gẫm bịa đặt ra không nhiều thì ít hay nói cho đúng ra, truyện không có kết cục, nhưng mỗi đoạn, mỗi một chi tiết tự nó, nó đã làm kết cục của nó rồi…”.
Nguyễn Thị Vinh chưa hoàn toàn viết được như thế; sẽ phân tích kỹ lưỡng hơn ở đoạn nào cần phải bàn. Nguyễn Thị Vinh có hơi văn ngắn nhưng đậm đà; nhất là Hai Chị Em. Trước khi phân tích tập truyện ngắn điển hình, tóm lược, nhận định giá trị truyện dài Thương Yêu. Phần đầu, viết rất tâm lý qua hầu hết nhân vật; đề cao tinh thần tự lập. Nhân vật chịu ảnh hưởng tinh thần triết lý Á Đông; kính cha mẹ, nhường anh chị là phận em. Song từ phần tiếp rất gượng ép, khi tả Hoan hoặc Tân, sự đau ốm của khách giả tạo. Hơi văn ngắn không hợp truyện dài; chẳng hạn tả mối tình đầu Dậu, sự bạc đãi tình thân thuộc chẳng ích gì, vì phần đầu đã nói đến. Nếu Yêu Chỉ Một Lần của Hoàng Công Khanh chỉ là truyện vừa kéo thành truyện dài nên trở thành nhạt nhẽo, khác gì Thương Yêu nên bố cục mất cân bằng. Truyện ngắn bà tả tâm lý theo đúng giác quan, hòa hợp với đời sống. Nhân vật trong Đồng Năm Xu, Hai Chị Em, Tản Cư; nhân vật chính hồn nhiên; không dám đấu tranh tuy hoàn cảnh bị bóp chẹt; nếu có; chỉ là hòa giải. Tóm lại, Nguyễn Thị Vinh là nhà văn tâm tình hồn nhiên; chỉ sáng tác khi có cảm hứng hòa hợp, dùng tình cảm giải quyết hơn lý trí. Đồng Năm Xu có đoạn cuối hồn nhiên; quá hồn nhiên đến nỗi trở thành hiện thực thô thiển (réalisme vulgaire). Trong Hai Chị Em (135 trang) gồm sáu truyện Quê ngoại, Anh Triển, Đồng Năm Xu, Bà Ó, Tản Cư, Một Đêm Xa Nhà. Truyện đặc sắc nhất Quê Ngoại, Đồng Năm Xu và Tản Cư. Truyện Anh Triển hời hợt, phơi bày trạng thái tâm tình cô gái khác giai cấp với Triển được Triển yêu thương; cô không yêu lại. Cô lấy chồng, mẹ cô cưới vợ cho Triển; thương Triển bị thất tình. Tác giả mai mỉa giới nông dân thôn quê; không phải tình cờ tả cô gái tư sản được yêu và sự nhầm lẫn Triển yêu cô gái. Truyện Một Đêm Xa Nhà và Bà Ó không đặc sắc, như chính nội dung hai truyện kia không đáng chê trách bằng truyện Anh Triển. Đọc Anh Triển, người đọc căm thù giai cấp hơn thương Triển, đúng hơn ghét bỏ cô gái tư sản kia. Cũng như người con gái tỉnh thành đỏng đảnh lúc tản cư, ban tình yêu cho một anh nhà quê nào đó vô phúc yêu mình; rồi giải thích rằng họ không đáng yêu mình. Gây cho họ đau khổ thì cô lại sung sướng. Ở Quê Ngoại, Bảo, cô gái mồ côi có bố, dì ghẻ ở tỉnh. Một hôm cô gái về quê ngoại thăm bà, sự săn sóc, cảm giác được chiều chuộng của bà với cháu, tác giả tả được từng cử chỉ nho nhỏ của cô gái sung sướng cực độ. Cảm giác thi vị như đọc thơ Lưu Trọng Lư (Nắng Mới); hay gần hơn Nắng Tháng Mười, hoặc truyện ngắn của Uyên Thao:
“... Bảo còn đương ngủ say, thấy có người động vào mình hốt hoảng tưởng đâu là mẹ kế ngoại, choàng thức dậy, vì ở Hà Nội cứ sáng sớm, người mẹ kế đã lay Bảo để dậy quét nhà, thu dọn, không bao giờ Bảo dám nằm lâu thêm lấy một phút. Nhưng khi Bảo đã nhận biết đấy là cụ Đồ đang nhẹ nhàng đắp chăn cho mình; Bảo cảm động vội kéo chăn trùm kín đầu để bà không biết mình ứa nước mắt. Một nỗi vui rung động nhẹ trong lòng Bảo cùng với tiếng chim hót trong trẻo vừa vang lên ở ngoài vườn, Bảo kéo chăn xuống để hở mặt, nhìn ra cửa sổ và lắng nghe. Trong người ran ran hơi ấm của chăn, Bảo thở những hơi dài khoan khoái, Bảo thấy được lười một cách dễ chịu”...
Ở Đồng Năm Xu, xã- hội - tính nảy nở trong tâm hồn đứa trẻ giao tiếp với đời bằng đồng năm xu giả. Từ lúc bắt đầu cha cho, đến mua hàng; cuối cùng nó lừa lọc được sự mù chột ông hàng phá sa. Từ chiến thắng ấy, mỗi lần ông hàng phá sa đi qua nấc lên tiếng rao bỏng kẹo, đứa bé hối hận, khiến người đọc nhớ đến truyện ngắn lập ý cao Anatole France. Tả Hải nghèo, đến nỗi đứa bé chỉ được cầm cái cặp tóc của bạn một lần thôi. Ao ước có tiền sống động tâm hồn đứa trẻ, hôm ấy, nó đã mãn nguyện đây là cảm tưởng Hải nằm ngủ luôn mong trời chóng sáng để khoe mua chiếc cặp mơ ước. Nghệ thuật diễn đạt không bỏ sót từng động tác tâm lý nho nhỏ, chuyển dịch theo hiểu biết đứa bé mơ ước thời gian rút ngắn: “... Ồ mai phải mua cái cặp tóc hình con bướm giống như của nó mấy được. Mọi khi mình thường mượn của con An để cặp thử đẹp quá. Nhưng con An đó cho mình mượn lâu bao giờ. Chỉ một tý là đòi lại ngay. Ngày mai mình cũng có một cái, chắc con An hết làm bộ được với mình. Nghĩ đến đây trong lòng nó rộn ràng sung sướng thấy cần phải khoe ngay với chị. Nhìn sang Loan ngủ mê mệt, Hải muốn đánh thức chị dậy, nói khẽ thích vào Loan, làm Loan giật mình đạp vào Hải, miệng lầu bầu gắt gỏng xoay người và lại bắt đầu ngáy đều đều. Hải thất vọng và rất bực mình với chị, nghe hơi thở và tiếng ngáy của Loan, sao nó thấy rõ ràng một cách khó chịu quá. Nó mong cho chóng tới sáng để đi mua cặp ...”
Nuôi hy vọng ngày mai chóng sáng, Hải rủ chị lên phố mua chiếc cặp lý tưởng. Đoạn tả chúng dạo khắp phố phường để chọn, chiếc cặp tóc đẹp hơn của bạn đã có trước đây rất tế nhị:
... “Hải và Loan đi gần khắp các hàng tạp hóa ở phố hàng Đào để chọn mua một cái cặp tóc. Sau cùng chúng nó bằng lòng chiếc cặp hình con bươm bướm với giá ba xu rưỡi. Chúng nó chọn đến kỹ càng, để cho nó khác với cái của con An màu đỏ. Nó cho cái màu xanh của nó đẹp hơn cái màu đỏ của con An. Vì vậy nó sung sướng và có một chút tự kiêu...”
“... Người bán hàng, sau khi lật đi lật lại đồng tiền xem mấy lần, bỗng quẳng trên mặt quầy giằng lại chiếc cặp trong tay Loan, giận dữ mắng như hắt vào mặt chúng nó “đồ ranh con! đồng năm xu giả mà cũng đem đi mua với bán. Chúng mày định lòe cả tao nữa cơ à? Có bước ngay không có tù nhọc...”
Kết thúc đột ngột là dụng ý con bé bị mắng oan uổng, khi nó đem đồng xu về hỏi bố, bố dã tâm không biết nói sao, gật đầu. Thật đau đớn biết chừng nào, cụ Cựu nói vậy, còn xúi đem mua quà. Tác giả tố cáo gián tiếp sự dạy dỗ bố mẹ với con cái; không đủ bổn phận làm cha; xui con làm điều trái lương tâm; xui chúng đi vào đường hư hỏng. Tính lừa lọc phát khởi tâm hồn chúng từ đó. Và nó đánh lừa ông hàng kẹo, với thái độ lúng túng (trang 68) tác giả nhận xét rất tỉ mỉ, tế nhị. Thất vọng ấy chưa đủ cảnh tỉnh đứa bé lừa lọc; nó bước vào ngõ tối để đánh lừa ông hàng phá sa. Chủ quan tác giả nhận định là lôi kéo đứa bé về với lương tri; chịu hình phạt toà án lương tâm. Sự thành công tác giả, ở chỗ mỗi đoạn truyện có kết luận nhỏ. Chẳng hạn đoạn nó bị nhà hàng cặp tóc trả lại đồng năm xu. Đoạn nó bị chủ hàng kẹo từ chối, thật gay cấn:
... “Trong trí nó hiện ra cảnh tối tăm của một số nhà ẩm ướt, chật hẹp, mà chốc nữa khi bán xong, ông cụ sẽ về đấy nằm gối lên hòm lạc để đợi hôm sau lại xách hòm đi buôn lạc rồi bị người ta quăng trả đồng năm xu và mắng “Đồ khỉ giả, mua với bán gì bước ngay không tù nhọc”.
Tác giả đồng ý cho Hải nghĩ đến hình ảnh ông lão sẽ bị đời sỉ nhục như mình mà sao lại cho đoạn Hải ngồi ăn lạc ngon lành. Sự hối hận đứa bé trở thành liêm sỉ; nếu không, chẳng cần cho đứa bé ấy nghĩ nữa đã sao? Nhớ đến một Đỗ Tốn trong Hoa Vông Vang viết truyện ngắn hay vào bậc nhất, cho vai chính trở lại tìm người yêu có chồng mà nàng vẫn yêu mình chẳng hạn chế. Hiện thực thô thiển qua thái độ đúng như đứa bé nhai lạc nhau nháu; và hai nhà văn giống nhau trong cùng khuyết điểm nhỏ; qua hai nội dung.
Kết luận :
Nguyễn Thị Vinh, nhà văn sở trường truyện ngắn tâm tình, bà có hơi văn đậm đà, sâu đượm; nhận xét tỉ mỉ; tâm lý nhân vật nghiên cứu cẩn trọng. Văn nhẹ nhàng, bút pháp có nghệ thuật. Giọng nỉ non; giãi bày không bao giờ cho người đọc mức độ hưởng thụ tiếp nhận quá vui hay quá buồn. Nói thế, tác động đấu tranh cách mệnh; sự kiện theo định hướng câu truyện cần phải có, thì Nguyễn Thị Vinh không làm vậy; mà chỉ nhận xét và giãi bày, ít khi dám giải quyết vấn đề gì hoặc định đoạt theo định hướng. Nói đến Nguyễn Thị Vinh, Tường Hùng; người đọc nghĩ ngay đến Tự Lực văn đoàn nối dài hậu chiến. Và họ chính là con đẻ mặc dầu Phượng Giang chỉ là nhà xuất bản như trăm ngàn nhà xuất bản khác. Tiết sau, phân tích Linh Bảo với loại truyện văn chính trị xã hội, giọng văn châm biếm tài tình; và có thể quả quyết nói rằng: dù NXB Phượng Giang in ấn, song Linh Bảo có mặt do tài năng cá nhân hơn là khám phá mới của Tự Lực văn đoàn.
Tiết 3
LINH BẢO
Tiểu sử.
Linh Bảo tên thật Võ Thị Diệu Viên. Sinh ngày 14.4.1926 ở Huế. 
Chị ruột của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (49) 19 tuổi bắt đầu viết văn, truyện đầu tay là tập phóng sự ngắn Chồng Chung, ký Hương Thơ; kể lại thảm cảnh kiếp chồng chung. Năm 1945, thi sĩ Phan Khắc Khoan (xem Thi Nhân Việt Nam; Hoài Thanh, 1941) định xuất bản; xảy ra hoàn cảnh chính trị đột biến làm thất lạc bản thảo đầu này. Tác phẩm: Gió Bấc (Phượng Giang 1952), tác phẩm giá trị đáng kể vào bậc nhất bình diện văn nghệ. Cuốn đầu tiên này được gọi tiểu thuyết chính trị đúng nghĩa. Đọc tác phẩm La vingt cinquième heures, La seconde Chance (V. Gheorghiu) La Chute, L’exil et le Royaume ... (A. Camus) (50) biết được hình tượng thời thế, chủ nghĩa chính trị diễn tiến thế giới hôm nay, hậu quả tai hại chủ nghĩa độc tài. Linh Bảo đã tòng sự tại Sứ quán Việt Nam ở Hồng Kông. Linh Bảo viết nhiều truyện ngắn, chưa xuất bản, trước kia cho đăng rải rác trên báo Mới (Sài Gòn, 1953). Linh Bảo cho biết tác phẩm viết ở hôm qua, như hôm nay, bất cứ bút hiệu nào; độc giả cũng nhầm lẫn cho rằng văn nhà văn nam. Trước đây, tuần báo Việt Chính; ông Viết Tân (Hồ Nam) loan tin văn nghệ Gió Bấc là của Nhất Linh. Đọc Gió Bấc hiểu được cuộc diễn biến tâm trạng Linh Bảo hòa hợp cho hoàn cảnh trong cô gái du học sang Trung Hoa, va chạm hoàn cảnh xã hội Trung Quốc.
Phân tích tác phẩm chính:
Truyện ngắn đăng trên báo Mới không đặc sắc. Hơi văn không phải để viết ngắn, nói thế không có nghĩa viết truyện ngắn không trội. Sự nghiệp văn nghệ là tiểu thuyết Gió Bấc. Cốt truyện rất giản dị bề sâu vô cùng sâu sắc. Nhân vật chính là một nữ sinh - cô Trang mắc bệnh xuyễn. Nàng sinh trưởng trong gia đình khá giả (phong kiến tư sản). Bà mẹ của Trang là người ít săn sóc đến con cái; mẹ Trang, mộ đạo Phật cực điểm nhiều khi đến vô lý; khiến làm hao sụt đến ngân quỹ gia đình. Khi ba Trang về hưu, gia đình Trang rời cả về miền quê sinh sống; nhưng chẳng bao lâu chiến tranh bùng nổ. Gia đình tan nát; Trang bị lạc. Từ đấy nàng bắt đầu sống đời mới, gian lao cực nhọc. Trang tiếp xúc với xã hội, trải qua nhiều biến đổi chủ nghĩa chính trị. Trang ôm ấp du học, lần này toại nguyện, khi có cơ hội sang Hương Cảng. Ở đấy, mức sống cam go, khó khăn vì là đồng đất nước người nhưng Trang thêm bạn bè, cả tình thương trợ của bạn hữu nội trú ngoại quốc, đồng hương. Trang đi nhiều nơi, nghe được nhiều mẩu đời luân lạc. Trang mắc bệnh xuyễn, sống nội tâm. Vì bệnh xuyễn, nên sinh kế thiếu thốn, Trang ra ngoài làm việc, lần đầu tiên va chạm với đời; bị chủ phòng làm răng ỷ có tiền, có quyền buộc nàng đi dạo mát với chủ. Nàng từ chối, bị thất nghiệp, ở nhà lại bị ốm. Nhờ Bình, một đồng hương săn sóc, ân nhân này ngỏ lời cầu hôn, và thành chồng vợ.
Cốt truyện giản dị, bố cục dàn bài từng tiểu mục ghi lại nếp sống qua nhiều chế độ chính trị (rất khách quan mà lại chủ quan đãi lọc định hướng), nghệ thuật tiểu thuyết Gió Bấc là luận đề chính trị thành công. Ghi lại hành động dã man xã hội mới rất sinh động. Nhà văn có thái độ đúng đắn ghi chép sự kiện trung thực. Qua lối văn trong sáng, thái độ bình tĩnh, vô tư, khách quan là nghệ thuật vượt. Thái độ, suy tưởng Trang và xã hội với nếp sống thích hợp. Lẽ đương nhiên người viết tài năng Linh Bảo thì lại càng linh động hơn. Bắt đầu vào truyện, tả cơn gió bấc liên hệ bệnh tật nhân vật chính.
“... Từ thuở bé cứ mỗi lần gió bấc thổi là Trang lại thấy lo lắng, sợ hãi như người sắp bị đem ra hành tội. Hơi gió lạnh từ từ thấm dần vào cơ thể người. Trang nhọc mệt như có một cái gì đè ngực, làm hơi thở nàng gấp bị ức và nghẹn ngào. Từ trong phổi Trang, một âm thanh nhè nhẹ phát ra, có khi ty tỷ như một điệu đàn nhẹ, nhưng những lúc gió bấc thổi mạnh hay ban ngày làm việc nhọc mệt thì điệu đàn của nàng trở nên thống thiết vô cùng...”
Trang bị bệnh xuyễn, bệnh xảy ra vào đêm đông, khi mọi người ngon giấc; cảm giác ấy Linh Bảo ghi lại thật thống thiết:... “Với Trang thì trái lại, nàng tưởng như đám đánh đổi mấy mùa hè sống bên cạnh một người không yêu, để được giấc ngủ ngon say trong một đêm đông có gió bấc thổi, cạnh một người yêu”. Người cha liêm khiết, một ông bố tốt trong sạch; Linh Bảo có giọng mai mỉa, càng mai mỉa cay độc hơn:
“... Trong làng quan trường người ta làm thế để thăng quan tiến chức thì ba Trang chỉ biết cố gắng làm việc và càng cố gắng hơn ông càng chậm thăng quan tiến chức. Cái giá trị độc nhất của ông là sách và thuốc lá...”
Tả người mẹ quý cháu hơn con, tính đồng bóng; Linh Bảo nhận xét từ giọng nói quen thuộc đúng như thành ngữ:
“... Còn mẹ Trang cả ngày chỉ lo thu và thu vén bớt sự tiêu pha, ăn mặc, và tằn tiện cả tình thương của các con để chia cho bọn em và cháu mồ côi. Những giờ phút rảnh rang bà chỉ đi chùa đền. Tu bổ chùa này miếu nọ, cùng ăn mặc cho các thầy tu, bà vãi, đó là cái thích duy nhất của mẹ Trang. Người ăn thì còn con ăn thì mất”
Tả anh em họ hàng ham ăn uống, dựa vào tình thân thuộc ba mẹ Trang nhớ ngày giỗ kỵ; thuộc lòng như vẹt; Linh Bảo giọng châm biếm sâu độc:
“... Bọn Trang đặt cho ông bác họ cái tên ấy (chè, xôi, chuối) thực không ngoa vì nhà ai có chuối, chè, xôi là thấy bóng ông cắp ô đến. Ông thuộc vanh vách nhà ai, ngày nào có giỗ to hay giỗ nhỏ, giỗ ông nội, ông cố, ông tứ đại ngũ đại gì từ đời ma nào ấy. Nếu con cháu có nghĩ rằng các cụ chết còn đòi quà chắc đã đi đầu thai ráo cả; thì ông đến nhắc: Anh nói mới vô lý chứ! Không có ông bà sao lại có mình!...”
Giai đoạn cách mạng bùng nổ gia đình Trang tan nát. Nàng bị bắt với số tiền thật lớn không phải của gia đình, mà tiền được hưởng hoa hồng từ lái buôn thuốc phiện chia phần. Nàng muốn dùng số tiền ấy đi du học, nhưng mộng dang dở Trang nghĩ đến:
“...Trời hỡi! Trang tự mắng thầm mình tại sao lại ở trong cái giai cấp không may ấy!. Mà ngót mười chín năm trời làm con quan, Trang đã được hưởng những gì và đã làm ra cái tội gì...?”
Ở trong tù nhớ gia đình; Linh Bảo qua nhân vật chính tưởng nhớ lề lối sống giáo huấn của mẹ ngày xưa: “... Mày muốn khôn hơn tao à? Con gái học lắm vô ích, nhiều chữ có nấu chữ mà ăn được đâu, con gái học cho nhiều chỉ tổ cứng đầu cứng cổ, viết thư cho trai được ích gì?
Lúc ấy Trang tinh nghịch nghĩ thầm:
- Viết thư cho trai cũng chẳng xấu, nếu đến thư cho trai cũng không viết được, phải nhờ người viết hộ mới xấu chứ...?”
Không chỉ trích cha mẹ, tác giả không cho nhân vật nói thành tiếng, mà chỉ là ý tưởng phản ứng thầm; nhưng vẫn quá đáng. Đoạn dưới nói về tình thương người mẹ Đông Phương đáng kính:
“...Sự thực tình thương con của mẹ Trang cũng nồng nàn, nhưng tình thương ấy chỉ biểu lộ ra với những đứa con ở xa, những đứa con của một đời khác và bây giờ tự nó có riêng một cuộc đời. Những lúc ăn, lúc ngủ, không lúc nào mẹ Trang không nghĩ đến những đứa con xa xôi...”
Linh Bảo không quên từng mẩu truyện nhỏ rất dí dỏm trong bữa ăn gia đình xa xưa; châm biếm rất nhẹ nhàng nhưng đanh thép:
“... Ông cụ Phủ thế mà biết quý vợ đáo để, hôm qua ông ấy nói với bà trước mặt tôi: Nếu ai đúc một con người vàng, to bằng người thực mà đổi mình tôi cũng không đổi”.
Ba Trang bật cười bảo:
- Thế sao mình không hỏi: “Nhưng nếu là một con người bằng xương thịt thực thụ chứ không phải bằng vàng trẻ hơn cụ bà những hai mươi nhăm tuổi và chỉ béo bằng nửa cụ bà thôi thì cụ nghĩ sao?”
Chị em Trang đều cười ủng hộ ba, còn mẹ Trang thì có vẻ tức bực lắm…”.
Người đọc còn thấy tính nông nỗi dễ tin các bà ưa nịnh; đàn - bà - tính rất điển hình cho pha làm nũng chồng, vì thực thà nên vụng về. Đến khi Trang bị bắt giam ở chung với nhiều hạng người:
“... Bà đằng hắng:
- À, tam dân à, tam dân, tam là ba, dân là dân. Tam dân là dân có ba thứ một là quan, hai là nhà giàu, ba là thường dân”
Mai mỉa tế nhị người biết ít hay khoe, đúng châm ngôn Tây phương, thùng rỗng kêu to (Les tonneaux vide font des bruits). Tả cái ghen vợ ông phủ (mẹ Trang), Linh Bảo dùng tài hài hước bộc bạch:
“... Tôi đến thăm anh chị với mục đích xin anh chị một đứa con. Trang vội chạy đi, loan báo cho tất cả anh chị em biết cái tin ghê gớm ấy và người nào cũng lắc đầu.
- Không em không đi theo cái bà Sài Gòn ấy đâu.
- Em cũng không, em ở nhà cơ.
Đêm hôm ấy Trang ngủ bỗng giật mình thức dậy ngạc nhiên thấy mẹ nằm cạnh ôm chặt lấy mình: mẹ hôn Trang nhưng sao mặt mẹ lại ướt đầm cả nước. Trang úp mặt vào lòng mẹ ngủ lại, với cái kiêu hãnh đuợc ngủ với mẹ, vì mẹ thường vẫn ngủ với ba cơ mà... Mãi về sau Trang mới hiểu bà ấy xin một đứa con chưa đẻ để bà đẻ cơ. Và Trang mới hiểu tại sao hôm ấy mắt mẹ Trang lại ướt...”.
Không là truyện đời mình trải, hẳn ít ai ngờ đến trường hợp đó. Nên nhớ truyện Gió Bấc là tự sự tác giả qua Trang hoặc Linh Bảo trong văn chương tự sự Gió Bấc. Nhìn tiểu sử tác giả năm mươi chín tuổi 1945; bị bắt, than: “Trời hỡi! Trang tự mắng thầm mình sao lại ở trong giai cấp không may ấy. Mà ngót mười chín năm trời làm con quan Trang đã được hưởng những gì và đã làm những cái tội gì” (trang 28). Tâm lý sâu sắc; Linh Bảo được kính mến như Thụy An Hoàng Dân nổi tiếng qua truyện Một Linh Hồn. Đến HươngCảng; Trang chịu cơ cực cuộc sống du học sinh, cảnh chờ hàng xóm ngủ, mới dám xách thùng ra tắm:
“…Trong cái hoàn cảnh đó, Trang phải dẹp cái tiểu thư của mình lại; chiếc thùng tắm nhỏ cũng không dám mua,mỗi đêm đợi đến 11 giờ hàng xóm ngủ cả rồi mới dám xách thau ra hồ để tắm. Chung quanh nhà chỉ vài chục thước, là có cái hồ nước trong xanh bên bờ đầy những liễu rủ. Những hồ nước công cộng cả xóm, ban ngày là rửa mặt rửa rau vo gạo, giặt áo và ban đêm là tắm rửa...”.
Thực trạng xã hội Trung Hoa thời Tưởng Giới Thạch, bệnh quan lại; kinh tế tự túc yếu kém, chỉ trông ngoại viện; tình hình chính trị quốc nội bị chi phối hạ tầng cơ sở – Linh Bảo tả thực cảnh đó, cơm áo hoặc hành động chính trị biến thể đi xuống của chính trị phong kiến Trung Hoa sắp đến giai đoạn chót:
“…Những ngày êm đềm quá, tiếp đến là những ngày sóng gió. Vì nguồn kinh tế bấp bênh của nước Tàu, trong tay nắm một mớ giấy bạc, hôm nay còn đáng giá một tạ gạo, sáng mai có khi chỉ còn một đấu bắp ngô. Giá thực phẩm và giá trị đồng bạc cứ theo với các trận đánh nhau thắng hay bại mà lên xuống. Cả tin đồn Bắc Kinh sắp mất. Cộng quân sắp sửa đem quân vây Nam Kinh. Giá gạo tăng lên vùn vụt. Bạc giấy chỉ giá trị như một mảnh giấy thương nhỏ bằng hình dáng của nó...”.
Kết cục quân đội Tưởng rút lui vẫn không quên hối lộ, bệnh làm tiền lẫn nhau phát khởi mạnh hơn bất cứ đâu. Linh Bảo ghi lại, đọc lên thấy chua chát, hiểu được lú do nào quân Tưởng thất bại:
“... Trang còn nhớ đêm hôm ấy cả bọn đều ngủ ngồi trên xe trong một khu rừng vì chiếc cầu ở đằng trước đã bị phá. Đoàn xe hơn 90 chiếc phải từ từ lội xuống sông. Tính ra ngày mai mới đến lượt xe Trang; vì mỗi chiếc qua sông mất đúng 15 phút... Nhờ đến một tỉnh nào họ cũng lấy phần lương thực gấp 5, 7 số người. Trang không hề thấy có sự điều tra hay khám xét nào nên nàng biết rằng các quan đã có ăn cánh với nhau để bóc lột chính phủ. Số xe độ 100 chiếc thì họ khai là 500 và lãnh đủ dầu xăng, lốp xe và các phụ tùng khác. Cứ mỗi khi đến một tỉnh nào, mấy đêm đầu Trang cũng không ngủ được vì đến đêm các quan mới cho lính lăn các thùng đầu xăng ầm ĩ cả lên. Thì ra họ gửi bớt đi, đổi lấy vàng mang theo cho nhẹ. Không những gửi số dầu thừa, họ còn gửi cả một nửa số cần dùng, khi xe chết nằm lì bên đường trong một khu rừng hay ngọn đèo nào đấy, họ phái một chiếc xe con đi báo tin cho một địa phương gần nhất cho dầu xăng đến cứu. Còn một cách làm tiền nữa là nhặt nhạnh những hành khách chạy loạn trên đường. Cứ một đồng cân vàng hay 6 đồng bạc là có thể đi được một quãng độ 50 cây số...”
Tả cảnh khổ nhà cách mệnh Việt Nam, kẻ chiến bại Nguyễn Hải Thần, hoặc những ai chung cảnh ngộ; chôn vùi lý tưởng ở hải ngoại không hẹn ngày về, Linh Bảo phơi bày thực cảnh buồn thảm; thương xót kiếp người lên voi, ai cũng hay; xuống chó riêng mình biết. Linh Bảo không quên phê phán làm cách mệnh không đường lối, nguyên tắc soi sáng đường noi theo, lầm lẫn chiến lược, chiến thuật tất hỏng đại cuộc.
Nhớ thơ Nguyễn Bính:
“…Hỡi ai đi gió về mưa
Có gây dựng nổi cơ đồ gì không…”?
Người đọc biết thêm được kết luận dầu; nhà văn không nêu ra; người đọc vẫn tự lĩnh hội được:
“…Cả bọn kéo đến thăm cụ Nguyễn, người đã có cái lịch sử cách mạng hơn 40 năm nhưng nay chỉ là một ông cụ già nghèo nàn, hai mắt gần như mù, sống với một bà vợ Tàu trẻ và một đàn con lớn có, bé có. Cụ cất giọng sang sảng:
- Các anh làm thế nào chạy hộ tôi 10 đồng nếu không thì 8 hay là 6, 4 cũng là thì hai đồng cũng được. Lúc Trang hỏi thăm đàn con cụ trả lời:
- Ấy, các cháu nó đi đánh du kích cả.
Trang ngạc nhiên hỏi:
- Thưa cụ đánh du kích ở đâu? Nhưng các anh chị ấy còn bé lắm cơ?
Cụ cười:
- Không đấy là tiếng riêng của chúng tôi. Hôm nào nhà có gạo thổi cơm ăn thì gọi là lục chiến, nấu được cháo là thủy chiến không có gì là không chiến. Còn nếu không chiến lâu quá thì chạy sang các nhà hàng xóm quen biết ăn, đấy là đánh du kích.
Lúc từ giã căn phòng tối tăm bé nhỏ chỉ vừa đủ để một cái giường và còn thừa một tí làm chỗ để chân, thấy Trang có vẻ ngậm ngùi. Vũ bảo:
- Khi xưa cụ cũng đã có một thời kỳ oanh liệt, tiếc vì cụ chỉ có lòng mà không có tài, vả lại có nhiều quân sư quạt mo quá. Giá cụ cứ nghe lời một người thôi thì chẳng đến nỗi nào, nhưng cụ lại nghe tất cả thành ra cái gì cũng không thành. Hôm cụ nghe lời quân sư này ủng hộ nhóm này, ngày mai cụ lại nghe lời quân sư khác mà đả đảo họ, mời phóng viên các báo tuyên bố ầm ĩ lên, nhưng ngày kia cụ lại nghe một quân sư khác nữa mà viết thư xin lỗi...”
Mổ xẻ nội tâm, Linh Bảo vẫn tỏ xuất sắc, tinh tế. Khi đàn ông yêu đàn bà, họ cảm tưởng người ấy thuộc về họ; đâm ra xoi bói nết xấu, không muốn họ được ân huệ để yêu người đó mãi; hay đúng hơn yêu người ấy, được danh dự phần hơn về mình. Còn yêu được sinh ra chán, được yêu họ là diễm phúc; chẳng qua do tâm trạng thèm yêu và khát vọng vô biên. Đoạn văn rất tâm lý, Linh Bảo tả nhân vật Vũ tưởng mình được Trang yêu, nên dãy ra:
“…Đàn bà sinh ra là để làm nô lệ cho đàn ông, ai mà yêu tôi thì đến khổ. Tôi rất ghét và ghê sợ đàn bà. Người đàn bà nào mà dây vào tôi thì đến khổ cả đời…”
Trang vào đại học đường ít lâu, chế độ thay chủ, Linh Bảo tả cuộc sống mới:
“…Trường đổi hiệu trưởng, đổi giáo viên, đổi khoa trình. Các bạn trai đầu để bù, giày không dám đánh bóng, áo giặt không là. Những món tóc quăn theo lối Âu Mỹ của các bạn gái bị nhát kéo vô tình cắt ngắn biến thành lối tóc thợ thuyền và những chiếc áo dài tha thướt do các tay thợ khéo ở Hương Cảng cắt hay những chiếc váy đầm màu sắc rất trẻ trung được xếp xuống tận đáy hòm, thay vào bằng chiếc quần vải xanh, theo lối công nhân trong xưởng máy. Ánh thái dương tắt rồi, mọi người đang lần mò một lối đi thích hợp với thời đại mới dưới ánh sao...”
Sinh viên ngoại quốc với chế độ mới, họ khôn ngoan hơn khi đối đáp – Linh Bảo thản nhiên bàn về chủ nghĩa máy móc bao hàm nhiều hình ảnh đời diễn tiến:
“... Chúng tôi tuy là do chính phủ Nam Hàn phái đến, nhưng tâm hồn chúng tôi vẫn gửi ở Bắc Hàn từ lâu. Và hơn nữa họ rất chịu khó học thuộc lòng mấy đoạn sách tiến bộ hễ có dịp là đọc một thôi không ngừng “Mao Chủ tịch bảo rằng... Lênin bảo rằng Xít–ta–lin bảo rằng…”
Tự mổ xẻ quá vãng; phủ nhận quá vãng ở con mắt nhìn tiến bộ hôm nay, tất cả mọi người thể hiện vậy thì sinh viên phải thực hành làm gắt gao hơn tỏ sự trung thành:
“... Nhưng dù khéo léo đến đâu cũng không thoát khỏi sự nghi ngờ. Cả bọn đều bị kiểm soát rất nghiêm khắc về tất cả mọi phương diện. Mỗi người phải khai một bản lai lịch như một cuốn tự truyện từ lúc mới lọt lòng, không được bỏ sót một năm tháng nào, và điều quan trọng nhất là hiện thời lấy tiền ở đâu mà tiêu? Sau khi quá lao lực và không đủ khả năng sức khỏe sinh viên mắc bệnh lao”
... “ Vì tất cả các duyên cớ có bệnh lao lan truyền rất nhanh chóng, lúc đầu chỉ mới bốn mươi người, đã tăng lên đến hơn một trăm học sinh bị thường khạc nhổ bậy bạ một cách tự nhiên. Riêng Trang, lo sợ hơn ai hết vội vã đi chiếu phổi và lúc kể lể với người bác sĩ già cái bệnh tiếng đàn đêm đông của mình ông ta chỉ gật gù mỉm cười. Dìn dường pách chúc (không đủ chất bổ mà thôi”. Và lúc Trang đến được phòng lĩnh thuốc mới ngẩn người ra vì cái đơn ông ta cho Trang là 100 viên vitamine…”
Chán vì bệnh, thêm bệnh thời đại nữa, từ Quốc dân đảng đến Mao Trạch Đông, con người chính muốn gì trong Gió Bấc có thể Linh Bảo muốn đi tìm tôn giáo, ẩn mình, như tác giả Faux Passeport (51) (C.Plisnier), như André Malraux từ Les Conquérantas (52) đến La Voix Du Silence (53) đầu hàng tôn giáo, một René Hardy từ Amère Victoire đến Le fer de Dieu (54) cũng muốn trở về tôn giáo. Nên nhân vật tác giả tả ở đây khi chưa là nhà văn tìm tôn giáo để được an ủi. Với Trang không thể làm dịu được, màu nhiệm cuộc đời dù khổ cực, chán chường vẫn linh diệu:
“... Ngày ngày nghe mãi những lời ngọt ngào của bà sơ đạo đức trinh trắng dẫn dụ, lắm lúc lòng Trang cũng thấy xiêu xiêu. Thế nhưng những buổi chiều ngồi trên bờ biển cả nhìn các tàu đi lại, Trang thấy tiếng con tàu hấp dẫn Trang còn mãnh liệt hơn điệu hát cầu kinh trong nhà thờ...”
Người nữ này có bàn tay không đẹp, nhưng tình yêu không hẳn không theo định luật thiên nhiên, tùy hợp kết thành đôi lứa vợ chồng; chế độ giao kèo chung sống, an ủi, quên chặng đường mệt nhọc. Đôi khi họ bi quan muốn ẩn mình trong tôn giáo, nhưng tôn giáo chưa thắng được. Tình yêu thắng thần chết như Maxime Gorki quan niệm vậy; thì với Trang cũng vậy:
“...Hôm nay chủ nhật sao anh không đi chơi?
Bình cười rất thực thà:
- Tôi đến đây chả phải đi chơi là gì?
Với lại mỗi lúc ra cửa chân tôi hình như chỉ muốn đưa đến đây, rồi thôi không còn muốn đi đâu nữa... Trang không trả lời, mắt Trang hình như mờ đi, và nàng không chống cự khi thấy Bình để tay nàng lên môi...”
Kết luận.
Gió Bấc có nhiều cảnh tả tính đẹp, giản dị, thành khẩn; cảm động, hòa nhịp tình yêu với bối cảnh xã hội. Lên án chế độ quan lại thối nát qua lối diễn tả đối lập, kỹ thuật văn hấp dẫn. Có thể cho là khuyết điểm như khi dùng chữ, Linh Bảo dùng chữ giáo viên cho giáo sư dạy học đại học, học sinh đại học gọi là sinh viên, e không phải tác giả không biết, nhưng nhầm chỉ nhầm lẫn nhỏ. Linh Bảo, nhà văn giá trị bậc nhất hậu chiến. Văn không mấy chau chuốt như văn Nguyễn Thị Vinh, song thành công trong loại hình tiểu thuyết chính trị viết nghệ thuật cao, già dặn, như Phạm Thái với Truyện Năm Người Thanh Niên.
Tiết 4
TRIỀU LƯƠNG CHẾ
Tiểu sử.
Tên khai sinh Trần Mạnh Châu. Sinh năm 1926 ở Hà Tĩnh, Trung Phần. Học qua trường Lê Văn, Nguyễn Công Trứ (Quốc học Vinh). Dạy học tư các trường Lê Văn Phượng (Đồng Hới) Chính Hóa (Tư Thục Vinh), Quốc học Trần Quốc Toản (Quảng Yên). Ông bị động viên vào Trường Sĩ quan Thủ Đức là sĩ quan Quân đội Cộng hòa, như Phan Lạc Tuyên, Phạm Văn Sơn ...
Phân tích tác phẩm chính:
Tác phẩm đã xuất bản Lý Tưởng (1956, truyện dài). Năm 1940 ông viết Lời di chúc, nhưng không có hoàn cảnh xuất bản cuốn này, truyện do Thế Lữ đề tựa. Lý Tưởng tả lại cuộc đời cách mệnh của bà nhân vật chính: Tùng, Mai, Huệ, bối cảnh trước năm 1945. Cách đạo diễn tâm lý nhân vật, người đọc nhớ đến lối văn Nhất Linh nhẹ nhàng, và cách mệnh tính của nhân vật. Trong Lý Tưởng mỗi nhân vật sống theo tác phong riêng. Huệ, cô gái tư sản giấc ngộ khi sống bên Tùng, người vợ hiền đáng yêu. Tùng là bạn anh của Mai. Tùng đến nghỉ hè ở nhà bẹn, bạn đi vắng, ở nhà có Mai và người lão bộc. Pha đầu tiên gặp gỡ.
“… Cô xem hai cuốn truyện này chắc cũng bổ ích. Đây là hai cuốn tiểu thuyết của Trần Lang vừa mới cho xuất bản. Trần Lang là nhà văn xã hội đúng đắn mà văn chương đã gây một ảnh hưởng rất rộng vào đám quần chúng hiện thời.
Em đã đọc tác giả này ở hai cuốn Cũng một kiếp người và Những kẻ thấp hèn cốt truyện đã hay mà văn chương lại lưu loát. Những tiểu thuyết của Trần Lang phần nhiều đều có chủ trương cải tạo xã hội người ta gọi đó là những tiểu thuyết có luận đề …”.
Quan niệm cách mệnh toàn diện trong tiểu thuyết chủ quan định hướng Triều Lương Chế rất vững vàng. Cứu một cá nhân chưa là cứu giai cấp. Đoạn tả Mai có lòng cưu mang người nghèo khổ, nàng cho rằng làm từ thiện càng được nhiều càng có thể cứu vãn nhiều người trong xã hội hơn.
“… Nhưng ở thời đại này, đó chỉ là những hạt muối bỏ biển. Vì những người đói rách rất nhiều, cứu giúp là, sao cho xuể. Vả công cuộc từ thiện có lúc chỉ là một món trang hoàng của bọn dư tiền. Tùng nhìn Mai rồi nghiêm trang giải thích:
“... Tôi không phủ nhận giá trị của công việc từ thiện song chúng ta nên hỏi một hạng người chỉ chuyên dùng những mưu mô, xảo quyệt để đàn áp bóc lột rồi bố thí lấy danh dự và một hạng người: vì chế độ bất công, sống trong đói rách khổ cực, rồi trộm cướp để sống, trong hai hành động này đâu phải là phúc, là tội (...) Bởi thế tôi nghĩ: cần phải có một cuộc cách mệnh xã hội rộng rãi để san phẳng những sự chênh lệch nhiên hậu...”.
Thời gian Tùng lưu lại nhà bạn (anh của Mai) thì Huệ, người thân của Mai đến chơi gặp Tùng. Qua thái độ của Tùng, phân rõ được hai mẫu tiểu tư sản, một giai cấp tư tưởng cách mạng, một giai cấp thống trị đối lập:
“Đoạn nàng (Huệ) quay sang Tùng:
“…Tại sao anh không đi xe kéo?
Tùng chậm rãi đáp:
“Tôi chưa bao giờ và cũng sẽ không bao giờ đi xe kéo cả. Vì mình ngồi chễm trệ trên xe để cho người khác cong lưng kéo, trông nó làm sao ấy”!
Huệ với dáng ngẫm nghĩ:
“Nếu ai cũng như anh cả, sẽ không bao giờ đi xe kéo cả. Em cho rằng mình đi xe kéo cũng là một cách giúp đỡ người ta trong kế sinh nhai. Và mình trả người ta thật nhiều tiền việc gì còn ngại...”
Sự căm thù trong tiềm thức dân nô lệ Ấn Độ không được đi hạng nhất; hoặc ở Việt Nam quyền lợi chính đều thu phát trong tay kẻ uy quyền, là bọn Pháp thống trị. Cô giáo nhắc đến sự việc này cho học trò hiểu, ông như sử gia thời đại dùng lợi khí văn nghệ chống kể thống trị:
... “Cô giáo chậm rãi:
“Tại vì phần nhiều rạp chiếu bóng đều của người Pháp.
- Thế người Việt Nam không có rạp chiếu bóng hở mẹ?
- Cũng có nhưng rất ít.
- Tại sao người mình lại không xây cho thật nhiều?
- Tại vì người mình không có quyền bằng người Pháp”
(TRANG 192)
1945 cách mệnh bùng nổ, Tùng, cô giáo Như Hoa, Huệ góp công chống xâm lăng. Tùng trở về gặp Mai, tác giả tả sự hồi hộp, âu yếm của Mai, bởi lẽ Mai tưởng Tùng đã chết:
“... Mai vội vứt chiếc khăn tang lên bàn:
“Mừng đâu chưa thấy, chứ cô và em đã khóc hết nước mắt rồi đấy”
Đoạn nàng nhìn Tùng âu yếm:
“Em phạ anh từ rày phải ở nhà một tháng.
“Tùng nhìn Mai nghiêm nghị:
“Anh chỉ ở nhà được một tuần thôi em ạ. Anh bận nhiều việc lắm. Cuộc tranh đấu từ đây bước sang giai đoạn mới, nhưng sứ mệnh của anh chưa hoàn thành”.
Nói xong Tùng ôm lấy Mai:
“Chúng ta nên hy sinh hạnh phúc riêng cho lý tưởng chung.
Hẳn em cũng đồng ý với anh chứa?
Mai âu yếm ngả đầu vào vai Tùng rồi mỉm cười sung sướng”.
Triều Lương Chế quá lý tưởng hóa vấn đề nhân vật anh hùng, anh hùng thành anh hùng rơm. Người vắng mặt lâu ngày, người yêu tưởng chừng mình đã chết nay gặp lại dễ mấy ai sắt đá trả lời người yêu tức khắc; mặc dầu việc ấy sẽ phải nói ra. Vậy chẳng dễ gì Mai nghe ngay và lập tức âu yếm ngả vào vai. Tâm lý đoạn này chưa hẳn sâu sắc.
Kết luận.
Triều Lương Chế, nhà văn viết truyện luận đề, nội dung tiến bộ như cuốn Lý Tưởng vừa phân tích. Lý Tưởng tác phẩm đầu tay được in ra đạt được địa vị vững vàng. Còn ít khuyết điểm nho nhỏ như trên, bố cục chưa mới, văn đôi khi rườm rà, chẳng hạn như đoạn tả Tùng ở nhà Mai kéo dài quá và chẳng cần thiết.
Tiết 5
PHẠM THÁI (1923-2001)
Tiểu sử.
Phạm Thái, tên thật Nguyễn Ngọc Tân. Sinh 1923 ở Cần Thơ, nhà văn trong nhóm Tự Quyết. 
Đã xuất bản Truyện Năm Người Thanh Niên (Tự Quyết tái bản 1954) và một truyện dài Nhà Lá đăng dở dang trên báo Tự Quyết sau bị cấm. Học ở Collège de Cần Thơ trước 1945. Năm 1943 được giải thưởng văn chương Hội Khuyến Học Nam Kỳ. Nhiều năm sống lưu vong ở Nam Vang vì chính phủ Ngô Đình Diệm bắt bớ. Năm 1964 trở về Sài Gòn.
Phân tích khuynh hướng và tác phẩm chính:
Truyện Năm Người Thanh Niên, theo kiểu nói Paul Bourget, J.J.Rousseau, truyện dài theo lối viết thư, mà Tàu gọi là xích độc. Trần Huyền Trân trong tập truyện Lẽ Sống, cũng viết thư kết hợp nhiều thư thành truyện dài Truyện Năm Người Thanh Niên. Thể văn cổ điển, người viết phải có nghệ thuật cao, điều kiện cốt yếu phải có kỹ thuật sử dụng văn thể dàn bài bố cục chặt chẽ. Ít đối thoại, thuộc vào loại tiểu thuyết kể truyện. Phạm Thái, nhà văn có chủ quan định hướng khi viết tiểu thuyết lập ý. Trên ba mươi lá thư năm người thanh niên: Hữu, Lưu, Phương, Ngọc, Trang và vai phụ là vai chính Thu. Thường ra tiểu thuyết vai chính phụ nữ, có như thế vậy mới lôi cuốn người đọc. Ở đây, hình tượng người đàn bà là nhân vật thường, rất ít xuất hiện, lại là chính, vậy mà truyện vẫn say mê, linh động. Tuy rằng chưa đạt được độ cao tuyệt đối như cô Do Thái hay Marie trong tiểu thuyết chính trị của V.Gheorghiu khi viết L’homme qui voyagea seul (Người Lữ Hành Đơn Độc) chỉ cần một vai đàn bà tiễn chân chàng sinh viên thi sĩ lên đường quân ngũ, qua từ biệt một cái vẫy tay. Vai chính dẫn cô Do Thái đi lấy lương thực và truyện vẫn được xét vào truyện hay nhất nội dung kỹ thuật. Ở Việt Nam chỉ một Phạm Thái độc nhất vô nhị sử dụng truyện dài bằng thư thật tài tình. Nhân vật điển hình giai cấp tư sản mại bản, Hữu, Ngọc, cải cách viên ôn hòa, Phương, Lưu, nhà cách mệnh chuyên nghiệp. Trang văn sĩ và Thu, người yêu của Phương, là vợ Hữu.
Hữu chỉ biết có tiền, làm thế nào kiếm được nhiều tiền. Khi có tiền thì phung phí trả thù phút khó nhọc nhục nhã kiếm tiền. Chỉ còn cách phá tiền kiếm ra một cách không uổng! Xã hội chỉ là trường thương mại đối với Hữu, không cần biết đến vận mệnh dân tộc ra sao? Nhìn bạn bè chỉ qua nhãn quan căn cứ vào đồng tiền. Vai trò Hữu dưới mắt Hữu:
“... Không hiểu cái quái gì đã chạy ngang đầu óc chúng mày mà thình không thằng Lưu lại bỏ sở làm đi tu, mày thì lũi về vườn như một thằng trốn nợ hay bị gái làm mất mặt...”
Nghĩa tùy thời xử thế thánh nhân, dưới con mắt mỗi người áp dụng khác nhau. Với Hữu chỉ tùy thời, áp dụng phương pháp làm tiền kết quả, tiền giải quyết được tất cả nhu cầu con người:
“... Cái nghĩa tùy thời lớn như vậy thay! Thì chúng mày còn hy vọng làm được gì hơn nữa. Tao thấy chỉ có hưởng thụ là thượng sách. Mà muốn thì cứ làm sao cho có nhiều tiền. Những tờ giấy xanh đỏ có đề số trăm chục kia dơ dáy thật, nhưng sẵn có thì đời không thiếu bạn bè, không vắng tình nghĩa…”.
Nhân vật là bạn của Hữu thất tình về quê khuây khỏa; thì Hữu cho rằng Ngọc sẽ hãm hiếp con gái nhà quê, mua trinh tiết trả bằng tiền. Quan niệm mua bán ái tình bằng sức mạnh đồng tiền, đầu óc tư sản mại bản, tất cả chỉ giải quyết bằng tiền là xong:
“... A ha! Ngồi đây mà tao cũng thấy được bộ mặt công phẫn của mày. Phải! Tôi biết cậu Hai Ngọc là người giàu lương tâm lắm. Không bao giờ cậu chịu dùng tiền bạc đánh giá chữ trinh một người con gái, dù con gái tá điền cũng vậy. Đó là lý tưởng của mày, nhưng theo tao nó chỉ là một cái ngốc lớn. Con gái nhà quê lúc nào cũng không mơ ước thị thành. Một ngày dựa mang thuyền rồng con hơn chín tháng nằm trong thuyền chài,(55) không thất trinh với mày rồi thì cũng đến lấy một thằng chồng chăn trâu hôi hám và cục súc đằng nào hơn? Phương chi với mày đã thỏa mãn chí bình sinh ước nguyện, còn được thêm mấy trăm bạc mua sắm nào xà bông Cô Ba, nào dầu thơm, quần lanh thích chán. Riêng về tương lai họ, hãy nghe lời người kinh nghiệm, đừng ưu lo gì cả con ạ. Họ chẳng khổ gì vì chút đó đâu? Chồng họ sau này ư? Những anh chàng nông phụ đầu tóc tối đen như đêm ba mươi ấy, họ có biết trời trăng gì đâu mà mày bao đồng. Mà cho rằng họ có biết đi, rồi họ làm gì mày...?”
Phường tư sản mại bản thì có nhân sinh quan rẫy chết. Theo Phạm Thái hình ảnh nào nhầy nhụa hơn không tả đời sống, ý nghĩ dơ bẩn, khinh miệt tất cả vì tất cả đều do mãnh lực đồng tiền quyết định (le fétichisme de l’argent). Thấy kẻ khác không làm điều tồi bại thì cho là ngốc. Hình ảnh này, con đẻ chế độ phá sản thực dân, phong kiến, mại bản; chúng biết việc làm dơ bẩn, nhơ nhuốc; song nếu thấy kẻ khác không làm, chúng dử theo chúng kéo bè cánh. Nhân vật Hữu là điển hình cho mẫu người ấy.
Đến Trang, một văn nghệ thích du lịch đây đó, tiêu tiền không một chút tiếc tay. Lối sống phóng túng của nghệ sĩ bao giờ cũng ngông cuồng, tiêu tiền hết lại phải giải thích thế là phải, nào mượn ý Lý Bạch phán rằng tiêu hết tiền lại có tiền (Thiên kiêm tán tận hoàn phục lai). Lời nhận xét tỉ mỉ về nhân vật, nhãn quan sâu sắc của một nhà văn đến nước nào là muốn tìm ngay vào nền văn minh nước ấy, không quên kể lại cho bạn bè nghe; cũng là một cách phổ biến tư tưởng như in một tác phẩm vậy:
... “Ngọc? Nếu mày không muốn bạn mày bị chủ trọ làm nhục bằng cách liệng vali ra đường và cho chổi cùn nựng đít thì mày phải ra nhà giây thép gởi ngay cho tao một cái mandat hai trăm bạc. Và nhanh lênn hé... Cái thư thứ nhất là đi xem lò khom ở mấy rạp nhỏ trong xóm lao động. Đi xem lò khom ở mấy rạp nhỏ mầy sẽ được cái vui sống vài giờ với những người lao động mộc mạc hồn nhiên để vui với những tiếng cười ngây ngô nhưng trong trẻo, những cái cười ròn tan sung sướng của hạng người sống trong u tối dành dụm cả tuần mới có năm cắc bạc mua cái giấy hạng chót. Mày tưởng rằng hát khom nổi tiếng Cao Miên người mình xem không hiểu à? Lầm to rồi! Ảnh hưởng người mình trên này to lắm! Hát bằng tiếng Miên thật nhưng có thông ngôn lại không sót một tiếng. Hơn nữa cái vui của lối hát này là ở chỗ thông ngôn lại tiếng Việt đấy...”.
(LÁ THƯ TRANG GỬI NGỌC)
Sau khi Trang và Chương về Sài gòn có gặp Hữu. Đây Chương, họa sĩ mời Hữu đến thăm phòng vẽ Cảm tưởng mua tranh của Hữu tỏ rằng có tiền giúp đỡ văn nghệ sĩ để đề cao giá trị cá nhân thì Phạm Thái cho đó là thái độ bỉ ổi! Và ông:
... “Trời đất ơi! Bỏ xe ngoài đường đi thăm lòng vòng xóm lao động Bàn Cờ một hồi lâu mới đến cái ổ chuột của tụi nó. Trang mò mãi trong bóng tối mới mở được cửa đánh diêm đốt đèn cho thằng Chương mở tủ lấy xấp tranh ra tao xem. Đèn dầu lửa tù mù, nhà thấp sùm sụp, bịt bùng nóng tháo mồ hôi. Tao xem chẳng thấy hay đẹp gì ráo trọi nhưng cũng khen bừa rồi bỏ hai trăm bạc mua một bức tranh sơn vẽ cô thiếu nữ mơ màng trước bóng rèm trúc...”
Tiếp thư phúc đáp, Ngọc nói đến hoàn cảnh sống thối tha Hữu, chỉ một cứu cánh là tiền, có tiền mua tiên cũng được. Ngọc của Phạm Thái mổ xẻ tâm lý Ngọc chán chường, sau khi dự bữa tiệc:
… “Đời thối tha làm cho mày chán, tao và tất cả bạn bè không ai chối cãi điều đó. Nhưng chán đời rồi đâm đầu vào vũng bùn trụy lạc là một hành động dại dột vô cùng. Dùng ăn chơi để chữa bệnh có khác nào mày lấy aspirine mà trị nhức răng. Nhức răng uống một viên aspirine vào thấy công hiệu ngay. Nhưng còn thuốc còn đỡ đau, chất thuốc hết cái đau như cũ, vẫn y nguyên đó, không chừng lại còn tăng thêm phần thấm thía nữa là khác. Nghề ăn chơi cũng vậy, đâm đầu vào ăn chơi để tìm vùi ít nhiều thật, nhưng một khi canh tàn, rượu tỉnh, một mình đối diện với chính mình, mày sẽ thấy cái buồn chán, tạm ẩn trốn dưới đáy lòng từ từ hiện lên, thâm trầm khắc nghiệt hơn trước bội phần. Bởi lẽ đó, càng chơi càng thấy buồn, càng buồn càng chơi tận chơi liều, những thằng trụy lạc bao giờ cũng rốt tới cặn phóng đãng... Tình bè bạn ấy nếu tao không lầm, nhiều lần đã làm cho mày cảm động phải vậy không? Cảm động trước sự chân thành của tình bạn nghĩa là dám nhìn nhận rằng trên đời này vẫn còn vài thứ để không nói rất nhiều chưa chịu ảnh hưởng của đồng tiền. Nếu tình bạn bè mua bằng tiền thì mày sẽ thấy rẻ hay mắc với óc con buôn quen ước lượng món hàng chờ đợi nào lại thấy lòng mày rung động! Sự thật này làm sao đánh đổ, phủ nhận nó được? Xa hẳn một chút nữa, thử hỏi mày câu này liệu mày bỏ ra vài vạn bạc mà hưởng được cái vui thâm trầm của Lưu khi đọc được một quyển sách hay không? Liệu dùng cả gia tài để xin Trang chia cho mày một chút cảm hứng sôi nổi cho mày thành nghệ sĩ như nó có được không? Không à? Thế sao dám nói liều mạng có tiền mua tiên cũng được...” (56)
Người sẵn định kiến, nhất là bọn tư sản mại bản, Hữu dù coi đồng tiền là quý nhất; thì không dễ gì lá thư Ngọc dù rất hay cũng khó có thể cải tạo suy tưởng một khi đã thành hành động, là con buôn, con mọt sách, phong kiến, bọn phóng đãng nhìn nhận hình ảnh chiến sĩ cách mệnh là lý tưởng.
... “Giữa lúc mục đích tối thượng của mọi thằng là ô tô, nhà lầu, thằng Phương lại đi kêu gọi thiên hạ hy sinh để làm cái việc mà bước cuối cùng chắc chắn là xà lim ở Côn Lôn, tao hỏi mày còn ma nào chịu theo nữa?. Việc làm của nó là một sự vô nghĩa mù quáng, hy sinh tầm bậy vô ích. Thời trời chiều lòng người chưa có, một ngàn lần thằng Hương cũng không làm nên trò trống gì được...”
Thật đúng lý luận bọn mại bản. Làm cách mệnh với họ tìm đường sung sướng, nằm dưới gốc chờ sung rụng. Chưa có thời, chưa làm, có cơ hội đầu cơ buôn bán là lao vào. Trục lợi thấy gì lợi trước mắt là lao đầu vào. Bạn mình có em gái đẹp, năng thăm lợi dụng cơ hội, đó là óc con buôn. Và Ngọc thì nhớ đến Phương. Tất nhiên phong độ, cốt cách người cách mệnh là lý tưởng, xã hội tiến lên hay lùi do công lao lớp người ấy.
... “Không bao giờ tôi quên được mấy câu trong thư viết cho anh Ngọc: Chiến sĩ là những người đan len cách mạng rút ruột tâm, kết áo ngự hàn cho dân tộc. Họ đành mãi đan thật nhiều để rồi ngày đông đến, riêng phần mình vẫn mang chiếc áo cũ bạc màu. Bao nhiêu hy sinh để rồi phải nói một câu chua xót. Nhưng Phương ơi! Xin anh đừng lo ngại. Đời có thể quên anh nhưng nhất định anh sẽ sống mãi trong lòng em. Và lúc nào em cũng hy vọng một ngày kia. Hy vọng một ngày kia...”
Người làm cách mệnh phải hy sinh tình yêu, quyền lợi cá nhân, phục vụ đất nước. Hy sinh quyền lợi đến mức tưởng rằng vật chất không đáng kể, giữ vững lý tưởng đã nối. Quần áo rách không biết, phải đi nhờ khâu vá lúc cần. Thu thương xót tình người:
... “ Quần áo rách đến nỗi phải đi nhờ người khâu vá, Phương ơi! Tại sao em không được sống bên cạnh anh để có dịp trổ hết tài nội trợ mang lại cho đời anh đôi chút êm ấm giúp anh quên bao nhiêu lao khổ nhọc nhằn. Hân hạnh thay cho người đàn bà nào đã được cái diễm phúc dâng đời mình cho chiến sĩ ...” Thu không nghĩ rằng không thể lấy được Phương đâu? Nhưng hoàn cảnh phải làm vợ Hữu. Nhưng với Hữu, hiện thân sa đọa thường trực. Bọn tư sản mại bản thối nát lúc cùng làm Câu Tiễn. Lập trường tư sản mại bản, gió chiều nào che chiều ấy, lợi trước mắt quan trọng hơn. Sự thay đổi thái độ Hữu về quê thăm Ngọc, bởi Ngọc có em gái đẹp. Và sự khinh miệt nông dân bắt đầu thay đổi:
... “Phần lớn người mình, nhất là nông dân hiền lương an phận thủ thường ở thôn quê đồng ruộng lúc nào cũng còn giữ được những đức tính cần kiệm liêm sỉ cố hữu của tổ tiên ta ngày trước. Sống gần Ngọc, tao mới hiểu được tại sao tá điền của tao, từ trước đến giờ, lúc nào cũng gian dối tham lam ương ngạnh và nịnh hót. Tao đã hiểu lầm mà khinh miệt họ, đã ỷ vào tiền của, vào quyền thế mà ăn ở cạn tàu ráo máng với họ nhiều quá rồi”...
Là bọn khuynh tả, khuynh hữu, như đứt giây trên trời rơi xuống. Sự hối hận, giác ngộ không là hối hận. Nếu Hữu giác ngộ chỉ cốt lấy lòng Ngọc, cô em gái đẹp quyến rũ, mà yêu nông dân, điều ấy có, nhưng mỏng manh lắm:
“... Chỉ một câu chuyện nhỏ nhặt này cũng đủ thấy tao đã sống xa người nghèo hơn Ngọc. Hôm mới đến vừa thắng (57) xe trước cửa rào Ngọc còn chờ người ra mở cửa cho xe vào thì trẻ con lối xóm bu lại coi đặc nghẹt, rờ rẫm chiếc xe thiếu điều sạch bụi. Một thằng bé sơ mi vải ta quần cụt đến thoa cánh cửa xe rồi, quay lại nói với con chị “ông này giàu hơn cậu Hai với cô Ba mình nhiều lắm phải không chị”. Con chị lườm một cái “Sao mày biết”. Thằng bé nghinh nghinh ra vẻ hiểu biết. Không giàu lớn sao người ta lại có xe “Tắc xông” (58) còn cậu Hai mình không có. Cậu Hai không có xe là tại không muốn mua chớ bộ nghèo hơn người ta sao? Một chục cái bây giờ cô Ba cũng mua nổi nữa là một cái”. Thằng bé em cãi lý “Mua nổi sao không mua chạy cho sướng đít để đạp xe máy cót két in xe bò...”.
Hữu chịu tang chết xong, số bà con không thân thuộc đến viếng, khóc lóc cháu vợ khóc chú dượng vì thấy gia đình Hữu giàu. Hữu phải mở két chi nhiều tờ giấy năm trăm, sót của, Hữu chán ghét đồng tiền. Nhưng đây không là thực chất kẻ dùng tiền làm phương tiện:
... “Muốn lên Ngọc nằm ít lâu nhưng lúc này Ngọc nhiều việc phải làm, lên nằm làm mất cả thời giờ quý báu của Ngọc đi. Bây giờ thấy đời sống như thằng Phương, thằng Trang là tuyệt thú. Có một cái gì để theo đuổi, theo cho say mê cuồng nhiệt, theo cho quên tất cả bao nhiêu cái nhỏ nhen hèn mọn của con người. Thoát ly khỏi vũng bùn nhơ nhớp của tiền bạc và vật dục, đó là điều khao khát vô cùng của Hữu trong những ngày buồn nản say mê này...”
Phương, Trang, từ chối hôm nay, dầu người cách mệnh, nhà văn, phải đâu không biết vợ đẹp, thích con khôn, phải đâu họ ít tình cảm ? Họ còn hơn người thường nữa, dễ rung cảm bén nhạy. Nhưng không ngồi bó gối trong khi xã hội thối nát, thống trị thực dân, độc tài xu nịnh, theo phường xâm lược (ngồi mát ăn bát vàng). Phương lưu lạc hoạt động ở Lào, Lưu trong nước, dò xét tình thế mà Hữu mại bản chỉ tưởng họ chán đời đi tu. Kể lại cho Ngọc nghe sinh hoạt văn minh cổ truyền nước Lào, Phương viết:
“... Âm nhạc Lào theo Phương thì tuyệt. Khène là một cây sậy làm bằng những ống trúc lớn nhỏ dài ngắn khác nhau, khép chúng lại thành hình dáng na ná như cây súng. Tiếng khène có một sức mạnh diễn tả vô cùng khi nó buồn buồn như rừng núi, lúc nó lại véo von vui say như một cuộc tình duyên chớm nở. Nó rất khó thổi, phải nhiều năm luyện tập mới thành nghề được, nên ngày nay không mấy người, thanh niên biết chơi và chơi hay. Thỉnh thoảng mới gặp được vài người thổi hay mà hầu hết là các ông già đã có một thời niên thiếu oanh liệt trong tình trường. Nhiều khi đêm nằm không ngủ được thốt nghe tiếng khène trổi dậy trong vắng lặng của rừng khuya Phương thấy buồn dai dẳng không thôi. Một hai khi như mê ly vì đã gửi trọn hồn mình vào trong giọng khène người nghệ sĩ vô danh nào đó; quên cả trời khuya, sương lạnh, kéo dài khúc nhạc mãi cho đến khi gà gáy sáng làm mình phải thức theo cái buồn trong lòng lại thấy vương thêm phần năng nặng...”
Đàn hay, gái đẹp, không đâu bằng đất Lào? Nền văn minh xứ này minh chứng bằng tiếng khèn và nét duyên dáng hiền lành thục nữ, khi chiều về trên sông Cửu Long, nhìn sương tản mạn, và bên kia là đất Thái Lan. Nhiều bài hát nên thơ của “phù sao” (con gái) đi “tắc nặm” (59) (gánh nước), bao nhiêu vẻ nhìn trìu mến khách phương xa... Phương của Phạm Thái ghi được nếp sống người trai cô gái xứ Lào thật đặc sắc.
“... Ái tình với họ không chỉ là nhục dục. Nó là một cảm thông quý hòa lẫn với khoái lạc, một cái gì vừa thần tiên vừa tục lụy mà tạo hóa dành riêng cho con người, chưa bị văn minh vật chất làm hư hỏng. Cô gái Lào yêu không tính toán, yêu không nghi kỵ. Không nghĩ đến ngày mai, yêu để yêu, yêu vì yêu, luôn luôn hoàn toàn tin tưởng ở người yêu đã tiếp đón mình. Mấy năm gần đây sở dĩ có một vài điều thay đổi là vì nhiều người lên trên này theo gương xấu làm cho người Lào đâm ra nghi kỵ giữ gìn hơn trước. Mặc dầu vậy, thằng bạn của Phương vẫn quả quyết rằng thằng nào lên đây một tuần lễ mà không có nhân tình thì chỉ còn nước là bầm ra làm mồi cho cá...”
Người chiến sĩ cách mệnh không khác nhà văn cách mệnh, là những người đồng hành thân cận bên nhau. Đây là bệnh đồng thanh tương ứng Trang và Phương:
“... Thì ra chỉ có sự hy sinh của những thằng chiến sĩ như mày mới hoàn toàn cao quý và ý nghĩa vì nó không hề tơ vương, ích kỷ, không bao giờ hóa thành khô khan và vô bổ được. Người ta có thể thành nghệ sĩ vì bản tính thiên nhiên, vì tình yêu, vì tự ái, vì bị đời khinh bạc. Người ta thường đi tu vì bị thất vọng lớn, không đủ nghị lực gánh chịu phần đau khổ của kiếp người. Nghệ sĩ như kẻ thu hành đã chọn con đường nghệ thuật vào đạo lý để tìm chốn dung thân. Riêng người chiến sĩ lấy dân tộc làm lẽ sống, lấy cách mạng làm nguồn vui, chiến sĩ đã can đảm, nhìn vào sự thật, nhận lấy thử thách, tình nguyện hiến thân mình làm chất phân vun bón đóa hoa sinh tồn cho nòi giống. Lặn lội nơi rừng sâu, núi thẳm, tàn phế... mòn mỏi... phơi xương nơi hoang đảo chiến sĩ có bao giờ đòi hỏi chút gì bù lại đâu. Họ chỉ thấy mình cần phải làm bổn phận. Làm bổn phận, để rồi quay cuồng trong kiếp sống chật vật hàng ngày, nhiều khi vô tình, dân tộc lại quên dành cho họ một chỗ sống trong lòng mình...”.
Một Scipion giúp dân thoát ách dày xéo của Annibal rồi lưu lạc nơi đất người đến vong mạng, phút lâm chung thốt “Ingrate patrie, tu n’auras pas mes os” (60). Phạm Thái định nghĩa vai trò chiến sĩ cách mạng ô danh rất đúng. Cho đến khi Hữu xin ăn hỏi Thu, Ngọc dò hỏi ý kiến Lưu, Trang, Lưu cho Thu đã lớn cần để nàng tự do lựa chọn. Trang cho là thiếu xứng đôi vừa lứa. Hơn nữa Phương và Thu đã yêu nhau. Còn Ngọc không muốn Phương bận tâm lỡ dở trên đường cách mạng quay lại với tình yêu nên quyết định để Thu lấy Hữu. Ngọc gửi thiếp cưới báo tin Phương (nhờ Lưu chuyển), Lưu cũng giấu nhẹm Phương, mãi sau này Lưu viết cho Phương có những đoạn vô cùng tha thiết:
“... Giờ đây, kết luận, tôi muốn mượn mấy câu thơ của thằng Trang để nhắc Phương nhớ rằng chúng ta còn nhiều việc phải nghĩ đến làm hơn là ngồi ôn lại những nỗi đau buồn cũ vì:
(.….)
Nhưng éo le thay anh chót sinh
Một thời mưa gió, rộn quanh mình
Nên anh không thể trong bình thản
Thong thả ngồi yên chuốc rượu tình
Tuy biết bên mình có kẻ yêu
Song tình non nước nặng hơn nhiều
Anh đành dứt áo đi theo tiếng
Nhạc ngựa vừa reo với gió chiều...
Trong mộng mới tìm được một tình yêu muôn thuở, nói như E.Rostand; hẳn rằng đúng tâm trạng Phương. Còn Hữu, tâm trạng đại diện mại bản chơi hoa lại bẻ cành như chơi; đối xử với vợ tàn bạo đến nỗi cô gái đẹp ấy chỉ biết than với Trời, gọi Phương trong câm lặng, im lặng ghi vào nhật ký, gửi thư trút niềm ẩn ức cho anh trai chia xẻ:
“... Ngày nay em không còn phải giấu giếm, nhất là giấu anh. Lòng em đối với Phương như thế nào, anh còn lạ gì nữa! Ngày Phương từ giã anh để đi xa đưa thư Phương cho em đọc lúc ấy có lẽ anh đã hiểu em lắm rồi. Nhắc đến Phương cho em không có gì trách móc má với anh đâu, anh đừng nghĩ ngợi gì đến việc ấy. Má và anh đã tin tưởng rằng cho em về ở với Hữu là xây dựng cho em một cuộc đời vững chắc, nhưng chuyện bất thành chẳng qua là số mệnh. Em nhắc đến Phương là muốn cho anh nhận thấy biết nỗi đau buồn của em may ra anh có cách gì giúp em không, thế thôi. Đời bạc phước không được làm vợ Phương. Em muốn suốt đời tôn thờ kỷ niệm của anh ấy trong tâm khảm. Nhưng nay kỷ niệm ấy đã bị Hữu giày đạp một cách phũ phàng bóp chết nguồn an ủi cuối cùng của đời em, thật em không còn gì để sống nữa... Đúng như lời em đoán hôm nọ, Hữu bỏ đi không phải là để chấm dứt câu chuyện. Chiều hôm kia anh ta trở về, chở theo trên xe bạn bè ăn chơi, toàn hạng mèo đàn chó điếm. Về đây họ bày ra ăn nhậu, hút sách; và cờ bạc tại nhà. Dư anh hiểu anh ta cố ý khêu gan mình, em âm thầm bỏ lên phòng nằm để mặc cho bọn họ ăn uống, say sưa hò hét, nói tục. Hy vọng chọc tức cho em gây gổ, để kiếm cớ làm dữ, mà thấy em nhịn nhục Hữu liền xoay cách khác. Nửa đêm mưa gió rầm rầm anh ta cho đầy tớ lên kêu giật ngược em dậy bắt nấu cháo gà đãi khách. Em tức quá nhưng nghĩ bây giờ có cưỡng lại cũng vô ích đành thức dậy dầm mưa đi bắt gà làm thịt. Cháo chín, em dọn mâm bưng lên, sắp đặt đãi cháo cho mọi người không dám tỏ chút gì là bất bình. Hữu bất thình lình đánh em một cái bạt tai rồi chửi “Đồ đàn bà hư”. Không sao nhịn được nữa em đứng dậy nghiêm nghị trả lời “Dầu sao cũng là vợ chồng anh không nên tàn nhẫn như thế”. Khách khứa của anh toàn là những người không xứng đáng mà anh bắt tôi phải phụng sự như thế, anh không sợ mang tiếng cho anh sao?”. Em chỉ nói được bao nhiêu là Hữu xộc tới đấm đá túi bụi, miệng chửi um xùm “Làm cao nè, mày trong sạch trinh tiết lắm sao mà dám khinh rẻ bạn bè tao? Đồ con nhà không có giáo dục”, thế là quá rồi. Em nói liều “Anh không bằng lòng thì chúng ta cứ ly dị nhau, cho tôi về với cha mẹ anh tìm vợ khác chớ anh chửi bới như vậy tội nghiệp má tôi lắm”... Tới bây giờ nhớ lại nét mặt hung ác của Hữu lúc ấy em thấy rợn người. Hữu hăm trả thù giết Phương…”
Thì chẳng cứ gì một Hữu tư sản mại bản trước giai cấp cách mệnh, bây giờ vẫn còn nhiều bọn như Hữu. Ở nước Nhật chẳng hạn, trong phim, ở vai Phú Sơn sỉ nhục Kim Chi bao nhiêu thì Hữu sỉ nhục Thu như thế. Sự có mặt Hữu trong phim cách ba năm sau hẳn vẫn giống nhau ở tư cách bọn phá sản mại bản khắp trên thế giới là vậy. Phương viết thư và để địa chỉ Ngọc, mật thám biết tông tích; chẳng bao lâu khi Phương trốn về Thất Sơn bị Hữu tố cáo. Phương bị bắt. Phạm Thái cho biết thêm kinh nghiệm làm cách mệnh nên lưu ý đàn bà vẫn là lợi khí nguy hiểm. Người cách mệnh quên tình yêu chỉ là cách tự diệt bản năng thiên nhiên, khi bùng dậy nồng nàn mạnh hơn lý trí. Vào khám, Lưu và Phương vẫn hiên ngang; người cách mệnh chẳng sợ ngục tù, họ dám hy sinh thân mình cho lý tưởng:
“... Đừng có buồn, có gì đâu mà phải buồn! Đời chiến sĩ phải đi đến chỗ này, chúng ta đã biết chắc như vậy từ lâu rồi cơ mà...?”
Biến chuyển chính trị thay đổi. 1945 tư sản mại bản phá sản. Hữu trở thành chính trị viên gương mẫu, hối hận này rất thực: Nhưng phải trả bằng cái chết liều thân ở mặt trận. Hữu đã giết hai nhà cách mệnh: Lưu và Phương, cả hai thắt cổ tự tử trong nhà lao Sài Gòn. Hữu lại còn thêm một tội nữa, hối hận Thu và Ngọc. Phản ứng tâm lý; lý tưởng Thu khác Hữu. Hữu là người phe khác; còn Thu, Ngọc, Lưu, Phương chiến sĩ yêu nước:
“... Đọc thư của Hữu dù là thư của Hữu người kháng chiến phe khác em cũng thấy mình có tội với linh hồn của Phương rất nhiều. Em không thể nào tin tưởng lời nói của Hữu được. Một người vì một việc vật chất nhỏ nhen đã đang tâm, giết bạn và xử tệ với vợ thì ai dám tin rằng người ấy có thể trở thành người được?. Hơn nữa, qua lời nói của Hữu em chỉ chắc rằng hiện nay anh ấy đã đi một con đường trái ngược hẳn với lý tưởng của chúng ta. Hoàn toàn tin tưởng ở vật chất, phủ nhận sự hiện hữu của linh hồn mà Hữu lại nói chuyện tình cảm thành thật làm sao được mà em dám tin. Đành rằng cuộc cách mạng này đã mở mắt cho nhiều người thật nhưng anh phải nhìn nhận với em rằng, ở đời có nhiều trường hợp, dầu người làm nên tội có hy sinh tính mạng đi nữa cũng không chuộc được lỗi lầm. Và em cho đó là trường hợp của Hữu vậy... Hữu đã hy sinh để kháng chiến. Đó là một việc phải, nhưng đó không phải là một công trạng to tát có thể cho phép Hữu tự hào. Kháng chiến là bổn phận thiêng liêng của tất cả mọi người con dân đất Việt, làm bổn phận mà tự hào sao được! Theo em, người chiến sĩ kháng chiến chỉ có giá trị khi nào họ nhận định được cái tai hại của đường lối chính trị đệ tam quốc tế đối với nền độc lập của dân tộc, can đảm từ bỏ kháng chiến để trở về tiếp tục cuộc đấu tranh trên lập trường vững chắc thích hợp hơn: lập trường của chúng ta. Sự ly khai hẳn rằng đang bị đồng bào hiểu lầm và phỉ nhổ; người dám ly khai mới xứng danh là chiến hữu...”
Phạm Thái biết nhận định rõ, phân hóa giữa Kháng chiến và Quốc gia. Sự chiến đấu, bổn phận chiến sĩ, Phạm Thái không úp mở, góp công xây dựng chủ nghĩa Quốc gia. Nhân, chiến sĩ báo tin Hữu chết trong hối hận, vì hiểu không phải hy sinh cái chết vinh dự mà chính lương tâm buộc phải tự tử:
“... Người anh hùng ấy cho rằng chết vì lý do hèn và mang nỗi ân hận ấy trong lòng cho đến phút cuối cùng. Tuy nhiên, cho đến lúc nhắm mắt anh vẫn còn căn dặn tôi chuyển đạt đến chị lòng mến phục của anh đối với sự cương quyết của chị”
3 Kết luận.
Phạm Thái tạo được địa vị nhà văn viết tiểu thuyết luận đề có giá trị chiếm giải khôi nguyên, Truyện Năm Người Thanh Niên, nhà văn quê hương miền Nam ghi mốc cho giai đoạn cực thịnh của văn học hậu chiến, và cuốn này được Giải thưởng Khuyến học Nam Kỳ từ thập niên 40.
Tiết 6
VŨ KHẮC KHOAN (1917 – 1986)
Tiểu sử.
Vũ Khắc Khoan sinh 1917 ở Hà Nội (62). Di cư vào Nam năm 1954. Dạy học và viết kịch, đứng trong nhóm Quan Điểm : Nguyễn Đức Quỳnh, Mặc Đỗ, Lê Quang Luật, Nghiêm Xuân Hồng Tạ Văn Nho, Vương Văn Quảng... Trước năm 1954, viết cho Tạp chí Phổ Thông (Hà Nội), cơ quan nhóm sinh viên trường Luật. Ban đầu ông nghiên cứu về kịch, sau đạo diễn kịch vở Tiếng Trống Hà Hồi ở Hà Nội thập niên 50.
Khuynh hướng:
Vũ Khắc Khoan sáng tác kịch: Thằng Cuội, Giao Thừa, đạo diễn kịch ban Sông Hồng Kịch Xã. 
Nhưng ở Giao Thừa cũng như Thằng Cuội chưa tạo cho ông địa vị kịch vững chắc. Quay sang ngành văn, truyện luận đề Thần Tháp Rùa, Ba Người Bạn Nhập Thiên Thai, ông là nhà văn đặc sắc. Thần Tháp Rùa đăng trên báo Xuân Tự Do, phản ánh cảm nghĩ tâm trạng bất định khi ông mới đặt chân tới miền Nam vào giai đoạn di cư 1954. Tiêu cực trước hoàn cảnh dẫn đến sự chán chường trở về dĩ vãng, thể hiện qua nhân vật Đỗ. Hai năm sau, Vũ Khắc Khoan cho đăng truyện Nhập Thiên Thai với hình thức kể chuyện (trong Tuyển Tập Thi Văn Đất Đứng). Mượn điển tích Lưu Nguyễn để nói lên đề tài Quốc Cộng sát cánh tranh đấu chống xâm lăng. Nếu Lưu Nguyễn như trong phiên tòa mà Vũ Khắc Khoan kể lại, sau khi chán cảnh thần tiên, trở về quê hương quá muộn tới sáu trăm năm, nên Nguyễn ôm mặt khóc, Lưu cũng vậy, khóc vì không thể sống cùng tiên nữ, họ không phải là sự người, tình người không có trong khi cái tôi kể lại trong truyện Vũ Khắc Khoan, so sánh đúng cái tôi tác giả trong truyện, cái tôi đại diện số lớn trí thức muốn sống đúng với thiên chức làm người; biết khóc, biết cười, biết rung cảm mãnh liệt, cuối cùng đành từ giã Tiên nữ trở về với loài người. Người có ý thức hệ toàn diện không thể vắng mặt 600 năm như Lưu Nguyễn, không có tình yêu thương yêu của loài người. Diễn đạt tâm trạng mâu thuẫn con người máy móc là chủ ý tác giả. Vũ Khắc Khoan cho hai nhân vật Lưu, Nguyễn lồng hình tượng cong, uốn nắn theo luận đề, người quốc gia thối nát song còn có phương cứu chữa tiến bộ. Mưu đồ ấy được ông diễn tả lại:
“... Cũng may là lũ lính gác ở đây biết là tôi hay kể truyện mua vui cho anh em. Anh cũng nhận thấy điều ấy? Chắc vì thế cho nên anh mới nghĩ ra cả cái kế hoạch này. Kể cũng may cho anh đấy, vì theo thường lệ ở mỗi trại giam, khi đã ngủ có bao giờ được phép tụm năm tụm ba đâu? Anh không biết à? Anh bị lần đầu?... Tôi... thì... không phải lần đầu. Lần này chính cá anh đã giam tôi. Ở đây, thế rồi Pháp nhảy dù. Và tôi vẫn tiếp tục bị giam. À nó ngờ. Còn đợi lệnh Hà Nội...”.
Phủ nhận quá vãng, bao biện là tiến bộ, đây thái độ con người có tim muốn sống đúng thiên chức làm người. Vũ Khắc Khoan nhắc lại:
“... Trăng võng rượu khiến đêm mờ chuếnh choáng vậy mà hỡi ôi không hiểu trong cái thiên đường lý tưởng của các anh, con người có còn biết ngắm trăng không nhỉ? No và ấm? Những con đường? Cái mà các anh đã liệt vào loại kẻ thù số một, trên cả địa cầu cường hào, thực dân phong kiến. Cái nó làm cho chúng ta xưng danh là những con người. Con người với đúng nghĩa của nó nghĩa là con ngươi toàn diện. Một thiên đường danh từ đẹp đẽ thay và cũng quyến rũ thay! Anh đã đọc Anatole France chưa? Thế ra anh cũng đã đọc những loại sách đó. Anh bạn trẻ ơi, anh có biết là tôi bắt đầu mê anh rồi không? Anh cho Anatole France hoài nghi và tiêu cực. Ý kiến của anh không làm tôi ngạc nhiên, thật ra nhắc tới Anatole France chỉ vì nói đến Thiên đường. Cũng như Lưu Thần Nguyễn Triệu...”.
So sánh người không tình cảm chủ nhân cõi Thiên Thai mà Lưu Thân Nguyễn Triệu đến thăm: âm dương đối diện tất sinh tình, Vậy chỉ xin diệt chữ tình. Đoạn văn rất linh động có tác dụng cao, hãy nghe:
“… Cũng như Lưu Nguyễn, ai quên mất căn tương đối của kiếp làm người mà tìm nguồn tuyệt đối, thì giữa cái thế gọng kìm tư bản vô sản, anh cũng đã quên hẳn cái thế của chính anh, của tất cả những người như anh như tôi, cái thế của chúng tôi. Nghĩa là cái thế của những con người tuy không nhất định không là vô sản...
Anh đã nhập Thiên Thai. Thật cũng may mà anh bị bắt. Nếu không thì, chính anh, một ngày kia, cũng phải bắt buộc bỏ cái Thiên Thai của anh. Ê! đừng cáu, người ta nói truyện tử tế. Sử sách còn ghi lại đó. Từ Thức bỏ Thiên Thai và Lưu, và Nguyễn tất nhiên cũng thế...”.
Ông đề cao người tiểu tư sản trong truyện, ý không muốn nói trắng ra vậy. Người theo ông phải toàn diện, độc lập, biết sử dụng tình cảm, hòa đồng quyền lợi cá nhân xã hội, có thế quân bình trên hai phương diện: vật chất, tinh thần. Đoạn kết Nhập Thiên Thai hay đúng hơn từ giã thiên thai, để trở về sống cuộc đời người sống với người:
“... Vì tôi không Nhập Thiên Thai. Tôi xin ở lại. Tại sao? Bây giờ thì đến lượt anh chất vấn, tại sao? Vì tôi không muốn thành Tiên như Lưu và Nguyễn. Tôi không muốn vắng mặt của dòng tiến hóa. Và nhất là vì tôi cũng muốn yêu. Vì tôi là một người. Con người toàn diện, như anh thường nói. Tôi nhất định rồi. Anh gọi hộ tôi tên Lê Dương. Để làm gì à? Để sửa lại cái chấn song cho nó chắc chắn. Trong khi chờ đợi...”
Kết luận.
Viết truyện luận đề tư tưởng, của người tiểu tư sản; chống máy móc, chống thái quá, phải quân bình đúng mức của hai khối kết tinh. Trong Nhập Thiên Thai, Vũ Khắc Khoan thành công hơn vở kịch có tính cách chung chung khác. Văn ông rất cầu kỳ, trở thành gượng ép, dùng lối văn biền ngẫu như Ngọc Giao qua Cầu Sương hoặc Nguyễn Tuân ở Chùa Đàn. Nghệ thuật dẫn truyện tạo được sự say mê, thì điều này Vũ Khắc Khoan chưa đạt thật. Nhân vật suy tưởng nhiều hơn sống. Bàn đến nhà văn viết truyện chính trị luận đề có nghệ thuật diễn tả tư tưởng bằng thái độ, hình tượng mới chỉ có một Phạm Thái và một Linh Bảo.
Tiết 7
CHẤN PHONG
Tiểu sử.
Tên thật Đoàn Thanh. Sinh năm 1921 ở Gò Công. Học qua các trường Lê Bá Cang, Paul Doumer. Bắt đầu viết văn từ năm 1940. Trước 1945, viết cho các báo Công Luận; thời hậu chiến ông viết cho Tiếng miền Nam, Ngôn Luận. (Sài Gòn).
Tác phẩm chính:
Tác phẩm đầu tay xuất bản Rừng Địa Ngục (Quan Điểm, 1956) Ông còn viết truyện ngắn Mong chờ: (báo Quan Điểm, 20–4–1956) nhưng không đặc sắc bằng truyện dài Rừng Địa Ngục. Bắt đầu bằng chuyện công ty cao su miền Nam cử người về làng mộ phu. Buổi đầu đưa ra hứa hẹn ước mơ. Dân nghèo miền Bắc vào Nam đi đầu phu được tuyển mộ ngay. Trên chuyến tàu trở về Nam, người không cùng ở làng; cũng coi như trong gia đình. Một trong số gia đình ấy có thanh niên Ngô, và một gia đình có cô gái Cúc. Họ là những người bất đắc chí, thất cơ lỡ vận, bỏ quê hương ra đi tìm sống. Tới đồn điền cao su, bi kịch bắt đầu xảy đến. Pha đầu tiên, người không còn được gọi bằng tên thật, những con số như số lính đế quốc thực dân. Ngô lấy Cúc, con gái Lý Tân. Cúc thiếu nữ xinh xắn, đỏm dáng, nên những viên cai thèm muốn. Khi sự thèm muốn của kẻ có quyền đã tới độ, nào khác gì sự thèm muốn vị đế vương ở các nước phong kiến ngày xưa. Thèm muốn tất nhiên là phải được no thèm. Vì thế, dầu Cúc là vợ Ngô, nhưng còn là vợ tên cai đam mê nhục dục hãm hiếp. Sự hãm hiếp đến nỗi người dân ở đồn điền cho là thường như cơm bữa. Xếp Lân, tên khát máu ấy, lúc nào cũng ôm ấp Cúc trên tay và đe dọa bỏ tù chồng Cúc, nếu Ngô nhúc nhích lên tiếng. Cúc hối hận, Ngô căm thù. Rồi Ngô sát nhân. Tòa án bắt đầu xử. Ngô được trắng án do tiền chạy luật sư của Cúc bênh vực. Cuối cùng Cúc tự tử.
Ở góc thế giới này, thống trị bị thống trị hai phe rõ rệt; công nhân hay là bị thống trị là con vật thuộc quyền chủ đồn điền cao su. Ông được quyền bóc lột thặng dư giá trị, hưởng lợi nhiều gấp trăm lần nhân công. Đời sống công nhân ngang hàng súc vật biết nói. Tuy nhiên, ngoại trừ loại cho bẹc-giê còn sung sướng hơn người Việt Nam loại trung lưu. Phật ý ông chủ một chút, bị cắt hoặc mất lương, bị ngồi tù, ngồi khám, trăm phương khổ kế dày vò. Bao gốc cây cao su xanh tốt làm lợi cho đế quốc; nhưng chưa ai nói rằng là đất tốt làm lợi cho đế quốc Pháp, nhưng chư ai nói rằng là xương máu công nhân Việt Nam vun xới. Thảm kịch chưa ai nói đến, mặc dầu đời sống ấy có từ trước chiến tranh. Chấn Phong một trong những người đầu tiên thuật lại cuộc đời súc vật ấy trong Rừng Địa Ngục. Qua kỹ thuật viết, cách đạo diễn tâm lý nhân vật, phân đoạn tác giả, cốt truyện kể lại, xét trên bố cục toàn diện chưa đúng tinh thần đấu tranh. Khuyết điểm sau khi đã giải quyết xong xuôi, qua tinh thần đấu tranh của Cúc, tác giả kết luận theo kết cục Tố Tâm xưa, như lối Tuyết Hồng Lệ Sử đã làm. Thái độ ấy là để chuộc tội, Thực ra là sự bó buộc của nhà văn chịu ảnh hưởng nền luân lý phong kiến, lạc hậu. Chết không là hành động cứu vãn tội lỗi. Hối hận của Cúc do xã hội, hoàn cảnh như tác giả quan niệm tạo nên, kết thúc giải quyết bắt cá nhân chịu đựng thì khắt khe quá! Song Rừng Địa Ngục vẫn là cuốn tiểu thuyết độc nhất rất hay về loại truyện thời tranh đấu này. Cách viết tiểu thuyết, thắt nút, cởi, dàn tâm lý nhân vật, gây căm thù với phe thống trị đã đạt được ý muốn. Và cấu tạo những xen, trận đấu, biểu tình; tuy thực tế chưa xảy ra nhiều, song chủ quan định hướng tác giả đưa công nhân cao su muốn thấy quyền lực phải tranh đấu. Đó là thái độ tiến bộ của Chấn Phong.
Phân tích tác phẩm:
Tác giả ở miền Nam; sống nhiều ở miền Bắc. Tả Cúc, thôn nữ miền Bắc, Chấn Phong có nhận xét tế nhị, khác hẳn nhà văn ở cùng địa phương hiểu biết:
“... Cúc cười hồn nhiên, đôi mắt sáng ngời, long lanh giữa khuôn mặt trái soan dám màu nắng đồng Bắc Việt, hai má lúm đồng tiền lồ lộ theo nét cười duyên dáng và hàm răng đen nhúc, đều đặn như hạt na, phản với đôi môi hơi dầy do tươi vì nước trầu. Cúc đẹp như nụ tầm xuân trong cái tươi đang dậy thì và ở nàng còn thêm những nét thùy mị, kín đáo của hầu hết những cô thôn nữ miền Bắc ...”
Giữa trái và phải: già, trẻ, thương, khích bác; theo tác giả, chỉ là thái độ không chịu tìm hiểu nhau. Trước kia, bác Lý Tân cho bọn Ngô không làm nên trò trống gì, sấc láo, nên bác ghét cay ghét đắng, sau khi tìm hiểu đã thông cảm ngay trở thành thân. Tác giả có nhiều nhận xét tinh vi về nếp sống này:
“... Nhưng rồi, chung sống với nhau mấy ngày ở Sở Mộ, bác đã đổi ý. Bác nhận ra cái bọn thanh niên, vậy mà khá, biết kính lão đắc thọ, chẳng những họ lễ phép, họ còn kính nể bác như cha. Mấy bữa trước, bác còn cấm thằng cu Đào không được đến chơi với bọn Ngô. Bây giờ thì khác, mặc nó, để nó gần các anh ấy rồi các anh ấy dạy khôn cho nó. Cả cái Cúc nhà bác nữa, chẳng mấy lúc mà nó không nhắc tới Ngô, khi có mặt anh Ngô là y nó lúng ta lúng túng, trông đến buồn cười. Bác đã để ý, bác thừa biết con gái bác lớn lên mà gặp đứa đẹp trai biết ăn, biết nói như Ngô, nếu không khéo giữ thì hỏng mất. Tuy nhiên bác thấy Ngô đứng đắn và chưa có triệu chứng gì, nên bác tạm yên lòng...”
Tác giả tả mưu mô xảo quyệt độc ác của bọn cai với đôi vợ chồng cưới nhau chưa hôn thú. Đoạn văn dưới đây tác giả thành công trong pha đầu gây công phẫn:
“... Viên thư ký ngẩng đầu hỏi:
Mày có chồng con gì không?
Trương Văn An cất tiếng đáp thay vợ:
- Thưa thầy tôi ạ tôi là chồng ạ
- Á, chúng mày có giấy hôn thú chưa?
- Thưa thầy không, chúng tôi đã có treo cưới ở làng.
- Mặc xác, không có hôn thú, con Nguyễn Thị Mơ phải sang con gái mà ở, số của mày 11.818.
- Dạ, lạy thầy thương cho vợ chồng chúng con...
Tiếng khóc nổi lên, ấm ức trong hàng.
Viên thư ký gắt:
- Khóc nỗi gì? Có im đi không?
Đoạn y lạnh lùng điểm danh cho số những người còn lại...”
Tả tình yêu thương, cảm giác xúc động của thanh niên đồng quê: Ngô thái độ chất phac, thành thật:
“... Ngô tựa lưng vào gốc cao su, mắt đăm đăm nhìn khu nhà máy, nóng lòng chờ đợi. Anh đinh ninh rằng, nếu Cúc yêu anh thì với câu nói và cái liếc mắt ấy nhất định cô nàng sẽ kiếm cớ về với anh.
Tuy nghĩ thế, nhưng lòng anh vẫn bồn chồn lạ; anh không hiểu rằng Cú có can đảm ra về hay không. Mấy lần anh đã thối chí, vì đợi mãi không thấy Cúc đến, anh định về nhà nằm cho khỏe xác? Nhưng đi vài bước, anh trở lại đúng vào chỗ cũ cố đợi.
Độ nửa giờ sau, Cúc về thật. Ngô thoáng thấy bóng Cúc từ ở khu nhà máy đằng xa. Tim Ngô đập mạnh như muốn tung lồng ngực.
Cúc càng đến gần, Ngô càng hồi hộp dữ. Anh cắn răng sửa bộ làm ra bình tĩnh nhưng khi Cúc chỉ còn cách anh vài thước, thì anh run rẩy như người sốt rét. Chính anh cũng không dè anh nhát gan quá như vậy ... ”
Những thiếu nữ lọt vào Sở Cao su chỉ là vật sở hữu chủ, thầy cai. Một đêm bóp chết vài thiếu nữ trinh tiết, thiếu nữ khóa xuân thất bại, còn công lý nào can thiệp! Cường quyền công lý nằm trong tay một bọn người. Tác giả cho người đọc được đọc một bản kháng cáo chế độ bóc lột thặng dự giá trị :
“... Lão gác gian vào trước, lớn tiếng đánh thức mọi người dậy. Lão thư ký đến và oai vệ ra lệnh tất cả ngồi vào hàng cho hắn điểm. Hắn gọi số từng người cho có lệ rồi đứng lên bảo lão gác gian:
- Dắt bốn cô này lên nhà giấy cho ông xếp bảo...”
Đó là đoạn Cúc bị mở khóa xuân. Chủ khai thác bộ máy trinh tiết người thiếu nữ. Công phẫn, công phẫn đã rạo rực ở người đọc, tác giả ghi lại thú tính của người thống trị khi hành lạc:
“... Ông râu xồm đi thẳng tới cạnh Cúc, cười hề hề: Mùi rượu, hơi thở bay nồng nặc:
- Em, em này số mấy?
- Dạ, 11.820.
- Em vào trong này ông xếp hỏi việc.
Cúc đứng lên sợ sệt nhìn ba chị kia như muốn nói điều gì. Nhưng nàng thấy cả ba đều cúi gầm mặt, nàng buộc phải theo chân ông xếp vào buồng bên cạnh.
Ba người lại cũng được ba thầy tuần tự mời vào bàn riêng.
Các cửa buồng đều được đóng kín lại. Đèn vụt tắt. Bây giờ trong phòng chỉ còn nghe vài tiếng thất thanh, vài tiếng đồ vật rơi lốp bốp, tiếng ằng ặc của người quật ngã rồi im bặt...”
Qua phút giông tố cuộc đời đêm nọ, khi xếp giày vò về đêm; thì ban ngày, tên khác gan dạ lại giày vò trêu chọc. Chấn Phong giới thiệu người đọc một pha nét về sự trắng trợn này rất đặc sắc:
“... Thình lình anh 85 phía sau gốc cao su bước tới ngồi đại xuống cạnh Cúc cười nhăn nhó. Hắn đưa tay vỗ mạnh vai Cúc, cười nhăn nhó. Hắn đưa tay vỗ mạnh vai Cúc, hỏi một câu trắng trợn:
- Nào chị 20 có bằng lòng lấy tớ không thì bảo?
Cúc giận, đỏ mặt, nhưng biết tên 85 là tay cừ khôi, nàng phải đấu dịu để khỏi mất lòng hắn: - Bác đừng nói chơi thế, tôi là gái có chồng.
- Có chồng mặc kệ có chồng, bằng lòng lấy tớ, tớ bồng về ngay...”
Thái độ trêu chọc ban ngày ấy, đi đến:
“... Đang vui, bỗng dưng có người đập cửa. Rồi thì bác cai 98 tự nhiên xô cửa chững chạc bước vào. Theo sau bác là tên 85 với một người nữa, lễ mễ bưng hai chiếc mâm thau phủ vải kín.
Bác Lý Tân hốc mồm nhìn ba người khách lạ. Bác đang ngơ ngác chưa biết đối xử thế nào thì cai 98 đã bước tới trước mặt bác, nói trịnh trọng:
- Thưa bác nhà, anh 85 có nhờ chúng tôi nói với bác để xin cưới chị hai mươi. Vậy hôm nay chúng tôi mang lễ đến xin ra mắt bác.
Bác Lý Tân cho là một việc hết sức quái dị. Bác đưa mắt nhìn ông giáo, nhìn Thành như ngầm hỏi ý kiến. Nhưng hai người lại cúi đầu làm thinh. Bối rối quá, bác quay lại nói ấp a, ấp úng:
- Thế, nhưng... con tôi đã có chồng.
Ngô giận tái mặt, bật đứng lên quắc mắt hỏi gằn từng tiếng:
- Ở đây dễ chừng người ta có quyền cưới gả gái có chồng? Chị hai mươi là vợ tôi, các ông biết không? Cai 98 khoát tay lia lịa:
- Cái ấy là việc riêng của các bác, rồi các bác sẽ tính sau. Anh 85 đâu, mang lễ vào đây nào...?”
Qua được tay 85, 98; bông hoa trong không thoát khỏi lưới nhện giăng khắp vườn địa ngục. Cai 98 không thắng được, y đành đưa mồi ngon ấy cho xếp Lân, qua đòn ác nghiệt. Chấn Phong chuyển đoạn rất khéo, phơi bày hành động bọn lưu manh tư sản mại bản:
“... Cai 90 đứng lên đến cạnh xếp Lân nói nho nhỏ như sợ có người nghe trộm:
- Xếp nên gọi con Hai mươi đến làm việc trong nhà cho xếp để cho nó khỏi ra lô... Con bé khéo tay, khéo chân, chắc xếp vừa lòng ... Thằng 85 biết con bé làm việc với xếp thì đời nào nó dám nhất cữ lưỡng tiện, xếp có người làm mà lại được tiếng là đã hứa thì hết lòng giúp.
- Chú thật là được việc”
để rồi có đêm Cúc thêm lần nữa bước vào sóng gió. Và chuyện bị hiếp là thường như cơm bữa:
“... Ông xếp vẫn ngồi hút phì phà. Ông ngắm vóc hình thon thon, hai bàn tay xinh đẹp của Cúc rồi ông nhếch mép cười gian ác. Ông ta lẩm bẩm một mình:
- Con bé xinh thế, thảo nào thằng 85...
Bỗng ông như bị điện giật, đứng phắt dậy đi nhanh vào phòng ngủ.
Một chốc, ông quay ra tay cầm một hộp xà phòng thơm và lớn tiếng gọi Cúc:
- Hai mươi, bỏ đấy vào tôi bảo cái đã.
Cúc nhanh nhảu chạy vào:
- Ông xếp gọi con?
Xếp Lân trao cho Cúc hộp xà phòng và nói gọn gàng:
- Cô ra rửa mặt mũi, tay chân sạch sẽ rồi vào đây...
- Lạy ông cho con ra, con sợ quá ông ơi!
Lửa dục lên tận cổ, xếp Lân nhảy phóc lên nắm chặt tay Cúc nói hổn hển:
- Vào ông bảo một tí thôi, rồi ông cho nhiều tiền đi...
Cúc bíu tay vào bệ cửa, khóc rưng rưng:
- Tội nghiệp chồng con ông ơi! Thân con dơ dáy có ra gì...?
Tác giả nhận định đúng, xác hợp hình tượng sống thời đương đại: con người sản phẩm do hoàn cảnh tạo nên. Người như 85, phải đâu không tình gia đình? Nhưng bị hoàn cảnh xã hội bạc đãi, thì 85 có bạc đãi nào có nghĩa gì? xã hội vay vay, trả trả; đó là hoàn cảnh xã hội tạo nên:
“... Như trường hợp anh phu 85 chẳng hạn. Hắn trước kia là người hiền lành như bụt. Hắn còn một người mẹ già ở xứ Bắc. Hắn những mong làm ăn chắt bóp ít lâu để ra một số tiền mang về nuôi mẹ già.
Ai ngờ, sống mãi trong cái xã hội thối nát này, càng ngày hắn càng hư hỏng, liều lĩnh, bạt mạng hơn tất cả mọi người...”
Sau Cúc chạy luật sư cho Ngô trắng án. Cuối cùng về nhà nàng tự tử.
Kết luận.
Chấn Phong viết tiểu thuyết hấp dẫn, nội dung truyện tranh đấu, bênh vực phe bị áp bức. Bố cục truyện, tình tiết, sắp đặt hệ thống. Tác phẩm lột được mặt trái đời sống phu đồn điền cao su trong Rừng Địa Ngục. Về mặt này, Chấn Phong, người đi tiên phong ở loại phóng sự tiểu thuyết xã hội. Kỹ thuật, đạo diễn tâm lý nhân vật có cá tính, chiều sâu. Ông là nhà văn nổi tiếng từ khi xuất bản Rừng Địa Ngục.
Tiết 8
HƯ CHU (1923 – 1973)
Tiểu sử.
Tên thật Nguyễn Kỳ Thụy. Sinh năm 1923 ở Nam Định. Tác giả Nam Hải Truyền Kỳ (1952, là cuốn sách đầu tay Thơ Nghiên Hoa Mộng (Nguyễn Hiến Lê xb 1955). Nam Hải Truyền Kỳ viết kiểu liêu trai Bồ Tùng Linh này không có gì đặc sắc. Văn nghiệp Hư Chu căn truyện cổ: Thơ Nghiên Hoa Mộng.
Phân tích tác phẩm:
Thơ Nghiên Hoa Mộng qua bốn thể văn: phiếm luận, tiểu thuyết, truyền kỳ, tùy bút. Gồm: Gã Nguyễn, Nàng Thơ, Cái Nghiên Mực, Nghiên Phong Lan, Lão Mỗ. Ông chia ra “thi ca phiếm luận”, truyền kỳ cổ thể hóa và mộng trung tùy bút. Trước hết nói đến Lão Mỗ, tả tâm trạng một ông già trong tương lai, hiện nay trai tráng, nghĩ ở sau này về truyện đời xảy ra hôm nay nhưng cho lui vào quá khứ. Sự kiện gì xảy ra, tác giả giới thiệu:
“... Thưa độc giả, tôi không học được cái thuật Thái Ất Thần toán của Tuyết Giang Phu Tử cho nên chẳng thể đoán biết những truyện trăm năm năm về sau và năm trăm năm về trước. Năm trăm năm về trước có những gì? Muốn biết tất cả tôi phải mở coi trong sử sách. Nhưng còn năm trăm năm về sau thì thành Hà Nội sẽ ra sao? Hồ Hoàn Kiếm có còn chăng? Đường Cổ Ngư vẫn thế mãi? Ồ tôi nào mà đoán nổi. Ngậm ngùi thay ...”
Thắc mắc tác giả là vậy. Lão Mỗ cuối thế kỷ hai mươi còn thắc mắc gì nữa, tác phong sống ra sao? Con người chúng ta giao thời giữa thế kỷ XX và XXI, giai đoạn gần cuối 2000 cữa ngõ năm 2001. Tác phong con người sống giữa lòng thế kỷ hôm nay, đồng thời pha trộn thêm vài nét như già nua, tóc bạc, chiều chiều đi thăm mộ, có cháu chắt, con rể, con gái, phương tiện sống tiến bộ cơ giới, mỗi gia đình có trực thăng xê chuyển (trang 87). Câu truyện chỉ có thế, và đây là dự tưởng:
“... Vậy ngày 3.9.1952 có một gã tôi ngồi ngẫm nghĩ cái sự bây giờ mà ngậm ngùi tủi buồn cho thân thế. Rồi lan man nghĩ đến tuổi già nua rồi càng tủi buồn hơn, rồi mơ màng nhập mộng và cầm bút viết rằng:...”
Cùng thưởng thức tiếp đoạn kết trong: Lão Mỗ về con rể, cháu ngoại ríu rít bên ngoại, có cảnh vui thú: “...“Hôm nay là ngày rằm tháng bảy. Ông không sang để ngâm thơ mà ông sang để ra đồng thăm mộ cụ hơn là ngâm thơ. Bởi vì thăm mộ cụ lâu hơn cho nên mới đến gần tối.
- Mộ cụ là ai cụ?
Con bé chị đưa mỏ:
- Mộ cụ là mộ cụ chứ là ai!
- Mà cụ tụi cháu chẳng thích. Sao ông chẳng ngâm thơ có thích nhiều không?
Con chị làm bộ người nhớn:
- Mày là đứa bất hiếu. Thăm mộ cụ thì phải thích hơn ngâm thơ mới không là đứa bất hiếu chứ.
- Đứa bất hiếu là đứa mốc gì? Có mày là đứa... đứa... mẹ bảo mày là đứa con giặc cái.
Con chị tức thì nằm hai bàn tay thỏi vào lưng chú em. Thằng em cũng liền nhoai vào níu lấy vai chị mà cắn. Lão Mỗ vội rẽ hai cháu ra mỗi bên:
- Con Nhã từ rày đừng đánh em, ông mách mẹ, đánh cho. Mà thằng cu xưa này cũng không được gọi bằng mày. Ông mách mẹ, mẹ đánh cho nữa. Nghe không chứ cu Đắc?
Con bé Nhã phụng phịu:
- Nhưng sao nó cứ bảo cháu là con giặc cái.
Thằng Đắc chế luôn:
- Ê ê, mày là con giặc cái má lúm đồng tiền!
Lão Mỗ khẽ cốc lên đầu thằng nhỏ:
- Tại nó nói hỗn vậy mới xún răng. Bao giờ nó không bảo vậy nữa thì nó không xún răng nữa.
Thằng Đắc chợt cười khinh khích:
- Cháu xún răng cũng như ông xún răng nhỉ!...
Đợi con rể, con gái về, Lão Mỗ thảo luận văn chương với người làm công trong nhà. Cô Hoàn thảo luận văn chương như một triết nhân. Sự kiện này hôm nay hiếm, đây là dự tưởng năm mươi năm sau, tác giả muốn rằng bất cứ người Việt Nam, dầu bận công việc gì không thể không hiểu biết lịch sử văn chương nước mình, phát nguyên sự thâm nhập văn chương (Interpénétration des littératures). Đó là ý mới của tác giả:
“... - Dạ vâng, trong bài trường thiên của thầy cháu có hai câu này ý nói rằng các việc nhường vị mới đây giữa hai ông tân cựu chủ tịch Hàn Lâm Viện chẳng thua gì ba chén rượu đời Đườøng Ngu, cô cháu nhất định không cho là đúng. Thế rồi thầy cô cháu cãi nhau suốt nửa buổi. Bên nào cũng tự hỏi lấy thắng, nói hay dở gì thì chờ thỉnh ý cụ sẽ biết...”.
Tác giả ao ước một tương lai văn hóa sáng lạn hẳn hoi như nước văn minh khác, có một Hàn Lâm Viện. Ông nhiều thiện ý cho rằng, hôm nay hy sinh đời, lăn lộn chật vật để ngày mai... nhìn thấy đất nước lớn mạnh hùng cường. Tiếp đến, Hư Chu xét mình, xét người, thâu thập kinh nghiệm sống, vấn đề cũng là then chốt, Schiller nặng nghiên cứu sách vở thiếu kinh nghiệm đời, cho nên Goethe hơn Schiller là ở đấy. Vì Goethe tổng hợp cả nghiên cứu và lao vào cuộc sống. Nhất là lớp trẻ trung muốn tiến bộ, phải được hưởng kinh nghiệm người đi trước, hòa hợp tinh hoa của họ, tạo cái mới. Nói như thế, tán đồng nhận định của ông về:
“... Cái hay nó vô cùng cô ạ. Chớ bao giờ nên tự thi phải luôn luôn nghĩ mình kém thì mới biết mà học hỏi được cái sở trường của người ta và người ta mới thèm vạch cho mình thấy cái sở đoản của mình. Ấy, chồng nó lại biết nghe người, biết phục thiện lắm. Mà thôi biết vậy cho nên trước kia mới chịu nhận làm rể. Anh Tích Lý không có thiên tài, nhưng được cái biết nghe, nghe những người nói mà lại nghe cả những người kém nữa.
- Thưa cụ...
- Khi người ta còn trẻ tuổi, người ta đều hiếu thắng. Chính tôi cũng thế. Hồi niên thiếu, gặp ai hơn mình tôi cũng chẳng thua gì mấy bậc đàn anh như Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng. Nói về thơ thì tôi lại càng ngông quá quắt, tự nghĩ thơ mình sẽ làm mờ được cả tên tuổi bậc thượng tiền bối Tản Đà. Đã hay rằng có ghen tài mới tiến nhưng ghen sao cho mình tiến được, chứ ghen hậm ghen hực một cách mê muội thì chỉ là thái độ của kẻ ngu ngoan. Ấy mà cô, Tôi nói năng lẩm cẩm lắm đấy. Câu nào lầm lẫn thì cô khá bỏ, mà câu nào nghe được thì cô hãy nên nghe...”
Cách răn mình xử thế khiến người đọc nhớ đến triết lý văn minh Trung Quốc đối lập, cũng phải phân biệt được điểm ưu của họ, với đồng hành thân thuộc phải biết sở đoản. Cá tính Lão Mỗ quả thực còn chịu ảnh hưởng nhiều ở nếp sống Khổng Mạnh, vì tác giả sống như nho sĩ, dầu có vốn Tây học. Lão Mỗ của Hư Chu hiện thân tư tưởng tác giả, kể đến cả nghiệp. Và Hư Chu nghĩ gì về phê bình văn nghệ theo ông, nên chia kiểu phê bình quảng cáo chỉ là lối mặc cả giá kẻ thèm tiền, quyền lực. Rồi phê bình quảng cáo, vì quen thuộc, vì tiền tài, vì phe đảng:
“... Dạ có đó, có một lần bố cháu viết một bài về ông trong tờ Chương Dương tạp chí. Bố cháu viết nhân khi Cậu Tiểu Liêu đem in lại cuốn Thơ Nghiên Hoa Mộng...
“... Ừ việc ấy cậu mày đã thưa với ông rồi. Nhưng mẹ hát con khen hay, chàng rể nhắc đến bố vợ thì có gì đáng thích. Ông hỏi là ông hỏi về người ngoài kia chứ”.
Hư Chu dùng kinh nghiệm đời văn bản thân làm di chúc. Ông nêu lên vấn đề thái độ văn nghệ cần phải có, kinh nghiệm văn nghệ, bồi dưỡng người đến sau tiếp nối. Chẳng hạn, thấy người bạn nổi tiếng về thơ, lập tức bỏ ngành văn sang thơ; thấy bạn mình được dư luận khen biên khảo; lại bỏ sang biên khảo. Thái độ trông núi này cao hơn núi nọ, chẳng bao giờ thấy chân núi, làm sao tới được ngọn núi nào. Hư Chu kêu gào ai đến sau đừng nên sa vào hố:
“...- Ông bảo rằng ông tài mà chẳng có, tham lam nhiều thứ. Thấy người ta viết tiểu thuyết, thấy người ta viết kịch cũng viết kịch. Rồi thấy người ta viết đủ các lối cũng học đòi theo. Thành thử ba mươi lăm năm mài ngòi mà bút vẫn cùn. Vì không chuyên, ngón nào cũng vụng. Mà nay về già bị loại bỏ thì mới thật rõ ràng cái lòng tự đắc ở thiếu thời rất là đáng mai mỉa...”
Đoạn như quên hẳn rằng cháu mình mới mười mấy tuổi, chưa phải là một kẻ đã có thiên tính để bước vào làng văn tự, lão khuyên có thái độ là điều cần thiết để ứng phó: sử dụng. Rồi đến:
“... Con ạ Dũ học dũ ngu, ông khuyên con chớ nên vội khoe mình. Bao giờ con thôi nghề cầm bút, lúc ấy xem thiên hạ còn nhớ đến con chăng, con hãy nên mừng. Nếu con có thực tài, thì dầu có kiêu một chút, đời vẫn cười xòa mà tha thứ. Nhưng nếu con ngông ngáo mà lại tài hèn thì thật là một điều sỉ nhục. Hừm... Vậy hãy đợi khi về già có đáng kiêu thì hãy nên kiêu. Cái kiêu ấy dẫu cũng không khả ái song cũng khả kham. Hừm... hừ... hừ...
Nói đến đây, lão mệt ho sù sụ. Tuy nhiên, dường như say nói, vẫn tiếp:
“…- Mà muốn cho thành tài, con cũng nhớ đừng theo vết xe đổ của ông. Con thích lối văn nào thì chuyên một lối ấy. Đừng có ôm đồm tham lam để cốt tỏ ra mình là một tay lỗi lạc...”
Kết thúc, Hư Chu phơi bày ấp ủ nghề văn lần nữa. Kinh nghiệm văn chương, triết lý văn nghệ, nhân sinh trong đoạn dưới đây rất sâu sắc, Hư Chu là nhà văn tuy không có lối văn biền ngẫu, chau chuốt thường dùng diễn đạt truyện cổ; song độc đáo nội dung, văn phong giản dị:
“... – Ấy con ạ, vốn ông thích giàu có, chứ không phải là thích cái sự nghèo. Chỉ vì day tay mắm miệng mãi vẫn không giấu được, đành mới chịu nghèo túng mà thôi. Nhưng khi đã biết mình tất phải túng thiếu cả đời thì an phận lắm. Mà cũng đến lúc ấy ông mới thấy cái tiếng than khổ cũng có chỗ nên mong. Còn như trước, còn như lúc đang hao hức đồng tiền, ông tuy có viết mấy bài khoe khoang cái nghèo của ông cùng thiên hạ, ấy chỉ là ông đã ghen tức với những ai giầu. Hừ, cái bụng ông hồi đó nghĩ thật tầm thường, nghĩ thật là đáng bỉ...”
Thái độ chọn nghề đã nhận; dù nghề viết chẳng phải là nghề đủ nuôi thân, nhưng nghề này không phải ai muốn cũng được. Nói như Ngu Thuấn: Thơ chỉ là nói chí mình, âu cũng đúng vậy. Trong Thơ Nghiên Hoa Mộng, Hư Chu gửi gấm tâm tư, nho phong sĩ khí nếp sống của ông. Hư Chu đã chọn triết Đông cho đời ông, giải thích nghĩa đời qua hướng đó. Nói như Buffon: “Le style c’est l’homme” (văn là người) cũng đúng. Có tác phẩm, tác giả chỉ giả vào phần nhỏ, có khi tác giả dồn trút không hạn định, yêu chuộng đứa con tinh thần dồn hết năng lực, lý tưởng, ẩn ức. Thì ở đây trong bốn truyện của Hư Chu, mộng của mộng trung tùy bút là thực lòng nho sĩ Hư Chu vậy. Lão Mỗ kết thúc câu truyện vài phút cuối bỏ dở khi nghe tiếng máy bay, hai con đã về đến nhà ...
Giã Nguyễn Nàng Thơ, Hư Chu dùng thể phiếm luận bàn về văn học; phê phán truyện Kiều, nhấn mạnh có một điều cần là kỹ thuật. Cùng đọc:
“...- Cô nói, vậy thì chắc cô quan niệm rằng nếu không là thi sĩ, nếu chưa từng khổ công đẽo gọt thì không thể nào mà người ta nhận rõ được cái chân giá trị của một câu thơ?
Thiếu nữ liền đứng dậy, cặp mắt đong đưa và miệng cười chúm chím:
- Cũng chưa chắc gì đâu. Nhưng mà... có lẽ...”
Quan niệm nội dung kỹ thuật được bàn cãi sôi nổi đây phần quan yếu? Qua bao nhiêu chuyển biến, kỹ thuật chỉ là điểm cần thiết diễn tả; tâm hồn mới là chính yếu. Ngôi nhà sơn son thếp vàng thì chưa chắc ngôi nhà ấy vững chãi, sơn son thếp vàng kia là tô điểm; hay đúng hơn che khuất được đục ruỗng mối mọt trong thân nhà mà. Nói như, chúng tôi không hề đả phá kỹ thuật, thơ Vũ Hoàng Chương kỹ thuật hẳn ít ai bì kịp, nhưng thơ hôm nay nội dung yếu, thiếu hồn thơ rung cảm chân thành. Và thơ Vũ Hoàng Chương từ: “Em ơi lửa tắt bình khô rượu/ Đời vắng em rồi say với ai, hay Yêu một phút để mang sầu trọn kiếp/ Tình mười năm còn lại chút này đến Giờ Đã Điểm, thơ gò bó, sơn son thếp vàng, trong mọt đục ruỗng, Nhài đầu, rót nguyệt vú đôi thơm thơ Nguyễn Xuân Sanh tiền chiến chả rung động được ai; Thơ hay, âm điệu có, lời chau chuốt là kỹ thuật? đọc lên chẳng cảm được, lĩnh hội nổi, như Lỗ Tấn quan niệm thơ phải cảm rồi mới hiểu, còn chỉ hiểu mới cảm được là văn xuôi thì Nguyễn Xuân Sanh cũng chưa vượt nổi để một là chàng thợ (versificateur).
Đến Cái Nghiên Mực, Phong Lan, Hư Chu làm người đọc nhớ lối viết Vang Bóng Một Thời. Song ông chưa đủ kỹ thuật văn viết biền ngẫu, toát ra cái giọng văn khinh miệt, chẳng cần gì đời Nguyễn Tuân. Điều thiếu thốn trên đà háo hức thèm khát đã diễn đạt trong Gã Nguyễn, Nàng Thơ. Nói như thế, đem so sánh truyện Cái Nghiên Mực, Phong Lan, của ông thì có lùi lại mười lăm năm Vang Bóng Một Thời tiền chiến, đến nay ông vẫn chưa đạt được.
Kết luận:
Trong vườn hoa văn chương nghệ thuật hôm nay, đa số tác phẩm chịu ảnh hưởng Tây phương: hiện thực, hiện thực mới, tả chân, siêu tả chân, nội tâm, tả chân tâm lý, lãng mạn cách mạng... thì lối giọng văn Hư Chu đem lại cho lối văn hoài vọng dĩ vãng qua thơ Thơ, Nghiên, Hoa, Mộng. Thú chơi hoa, chơi nghiên, thú trà dư tửu hậu, thú tao nhã xưa của Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Chu Thiên mà chúng ta thưởng thức, đến nay quả mới chỉ có một Hư Chu hậu chiến.
Nếu quan niệm một xã hội xây dựng tiến bộ là tổng hợp của nhiều khuynh hướng, xu hướng triết lý nhân sinh; thì tôi nói rằng Hư Chu là nhà văn tư tưởng, có lối đi độc đáo, ông chọn cho bản thân một bông hoa cổ kính rất đẹp, trong xã hội mới bây giờ.
Tiết 9
KẾT LUẬN VỀ CÁC NHÀ VĂN ĐIỂN HÌNH
Bảy nhà văn độc lập điển hình, mỗi nhà văn một phong cách khác nhau. Phạm Thái, (Nguyễn Ngọc Tân) Linh Bảo, hai nhà văn viết tiểu thuyết luận đề cao, có nghệ thuật đề cao chủ nghĩa Quốc gia dân tộc. Tiểu thuyết luận đề chính trị rất dễ nổi tiếng, khi đạt được độ cao tới đỉnh, song không phải nhà văn bình thường nào muốn trở thành cũng được. Phải nói rằng viết truyện luận đề hay ngoài tài năng, sở thích ra họ từng tham gia cách mệnh hoặc đứng hẳn trong hàng ngũ ấy, mới có chủ yếu dựng truyện. Thế chiến thứ nhất, viết về chiến tranh thật linh động; có Romain Rolland dầu ông chỉ đứng ngoài nhìn vào; hoặc sau này ở Pháp André Malraux nổi tiếng về loại này trên. Bởi năm 24 tuổi ông đã tham gia cách mạng chính trị; đã làm cố vấn cho Tưởng Giới Thạch, do đó mới viết được Les Conquérants, (Những kẻ chinh phục) La condition humaine (Thân phận con người)... Một Céline không kháng chiến chỉ viết những mẩu đời nhầy nhụa, đã sống trải như Mort à crédit (62). Còn Paul Éluard, Louis Aragon tham gia kháng chiến mới có thơ đầy hình ảnh xã hội chiến đấu, chúng ta mới được đọc bài thơ Liberté (Tự do) bất hủ Paul Éluard. Hoặc V.C. Gheorghiu nhà văn viết truyện luận đề chính trị, ngoài tài năng giàu chất liệu về chính trị, cách mệnh, ông hiểu từ ngôn ngữ cử chỉ chủ nghĩa phát xít, tư bản, phi nhân, nỗi lòng oan hận kiếp nhân sinh Do Thái trong thế chiến thứ hai, hoặc chế độ độc tài Péron, vì là bạn thân tổng thống – thì V.C Gheorghiu mới viết hay được.
Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo, sở dĩ chưa thành công như Phạm Thái (Nguyễn Ngọc Tân), vì mới chỉ là nhà văn có tư tưởng chính trị, cách mệnh (đôi lần đầu tư sự hiểu biết này để nhận đặt hàng văn hóa chống Mác xít) thì chưa phải là Gheorghiu, Eluard, Aragon được. Họ vẫn chỉ là tham gia, đứng về chính trị phía thúc đẩy gián tiếp mà thôi (pensée réactionnaire épileptique).
Nguyễn Thị Vinh, nhà văn tâm tình thời đại có giá trị mổ xẻ hình tượng mới con người, Chấn Phong đưa ra cuốn truyện phơi bày cặn bã xã hội đồn điền cao su. Hư Chu đem lại bông hoa suy tưởng cổ kính luận cổ suy kim. Doãn Quốc Sỹ với truyện dự tưởng độc đáo, nhưng vấn đề kỹ thuật viết chưa đạt được như Nguyễn Đức Quỳnh trong Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình.
Riêng Nguyễn Đức Quỳnh nhóm Hàn Thuyên (tiền chiến) với kết luận trong cuốn Thằng Kình thì sao? Giải quyết bằng sức mạnh là thắng hết – nhưng nếu đem sức mạnh so sánh tình yêu; sức mạnh tất tiêu tán. Nên Thằng Kình bắt đầu tin vào chí khí phải luyện có chí khí; nhưng phải trọng kỷ luật, thời gian, không thể đốt giai đoạn được. Cái kết luận này thật ra chẳng có gì sáng tạo của Nguyễn Đức Quỳnh, vì nó đã được A.Ciliga trong cuốn Au pays du grand mensonge (Ở xứ sở Đại Xạo Ngôn Từ) (Gallimard 1936); ở đoạn nói về le propos d’un oppositionnaire sur la question du grand jeu de Trotsky. (trang 77 và 78), nói về lý do tranh chấp giữa Trotsky và Staline, Trotsky có cơ hội, lại không cướp chính quyền, sau đó Trotsky bị Staline cho thủ hạ hạ sát ở Nam Mỹ.
Theo như Jeef, người thân cận Trotsky thì Trotsky thiếu kiên trì chủ định song thực ra Trotsky các bạn chiến đấu kế tiếp cho rằng ông không muốn phân tán lực lượng, như thế sẽ bị suy yếu, thiếu sự tôn trọng công bằng, kỷ luật và thời gian.
Khi tôi viết đến đây, một số nhà văn xuất hiện ồ ạt qua tác phẩm như triều cường theo gió thủy triều. Nhắc đến các nhà văn mà tôi chưa viết trong tập này như: Lưu Nghi, Võ Phiến (Chữ Tình).... truyện ngắn của tác giả sau đăng rải rác trên tạp chí Bách Khoa như: Người Tù chẳng hạn. Thật mà nói– Võ Phiến hứa hẹn tương lai chắc chắn, nhà văn có mặt khá lâu, nay xuất đầu lộ diện; bằng tác phẩm thực thụ được in ra, trong lúc tôi đang viết đến trang cuối tập 3. Thêm ý kiến hơi ngoài đề, sự thành công Võ Phiến hậu chiến, nhờ ở con mắt thấu thị của học giả Đào Duy Anh tìm ra và ông đã nhận Võ Phiến như con nuôi từ thời tiền chiến. Thật là người đánh giá trị tốt có tròng ngươi thấu thị.
Kỳ XXVII
Từ Vũ và Việt Văn Mới Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu 
KỲ THỨ XXV
VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956
[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)
Giai đoạn kháng chiến, từ 1945 đến 1950 Việt Nam độc lập được gần một năm. Tiếp, Pháp chiếm lại Hà Nội, (ngày 19 tháng 12 năm 1946) cho dù đảng phái Quốc hay Cộng đều bỏ phù hiệu riêng, đoàn kết trong danh xưng kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng. Suốt chín năm (1945–1954), thì kháng chiến ở bốn năm về sau, đã hao hụt thực chất; Mác xít ra mặt lãnh đạo – và cho đến 20–7–1954, phân chia đất nước, danh xưng toàn dân kháng chiến mất hẳn ý nghĩa. Song trên bình diện văn nghệ, ý thức toàn dân kháng chiến tạo được nền văn học có chiều sâu và rộng.
Giai đoạn văn nghệ phân hóa, văn nghệ Mác xít – theo hẳn lối sáng tác được chỉ huy, nhất là sau 1954 miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Còn Quốc Gia và miền Nam (VNCH) văn nghệ chỉ là vườn hoang, mọc đủ loại thảo mộc. Trong tập này, với người khe khắt cho quá nhiều – người dễ dãi cho chưa đủ. Với tôi, vẫn chỉ là bắt voi bỏ giọ, và tất nhiên chủ quan; thiếu sót tất nhiên không thể tránh. Nhìn vào những người viết sách nhận định văn học trước như Vũ Ngọc Phan kết luận cuối trang sách phê bình văn học, có đoạn:
“... Trước hết, bộ sách này là bộ phê bình văn học như tôi đã nói nhiều lần, vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn. Sau nữa, trong khi tôi viết những trang phê bình về thơ, có nhiều thi sĩ chưa có quyển thơ nào xuất bản, về kịch hay tiểu thuyết, có nhiều nhà văn chưa có sách biên khảo, chưa có kịch hay tiểu thuyết ra đời. Như vậy, biết căn cứ vào đâu cho chắc chắn? Rồi lại những nhà văn chính trị tuy đã có văn thơ in trên báo chương hay xuất bản thành sách, cũng không có trong bộ sách này, vì một lẽ mà ai cũng hiểu khi nhớ đến chế độ hiện hành về sách báo. Còn những nhà văn chuyên viết những sách Pháp văn thì tôi cho là không phải nói đến trong văn học Việt Nam. (...) Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa rằng bộ Nhà Văn Hiện Đại này chỉ là một bộ phê bình văn học, không phải là bộ văn học sử. Trong văn học sử, người viết cần phải xét rất kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến văn phẩm, rồi lại phải định rõ cả sự liên lạc của nhà văn nọ với nhà văn kia đồng thời hay khác thời đại. Nếu không đủ được những điều cốt yếu ấy, để định rõ phong trào văn học, thì dù có văn học sử đi nữa, người ta cũng chỉ coi là một mớ sử liệu...” (1)
Thời gian này tác phẩm viết bằng Pháp ngữ như Phạm Duy Khiêm với Légendes des terrres sereines và Nam et Sylvie; hoặc Nguyễn Tiến Lãng Le Chemin de la Révolte; Phạm Văn Ký: Frère de Sang, Celui qui régnera; Cung Giụ Nguyên Le Fils de la baleine – sử học Lê Thành Khôi với Le Vietnam, Histoire et Civilisation v.v..., không nói đến, cũng như lý do mà ông Vũ Ngọc Phan đề cập tới ở trên. Đến nhà chính trị văn sĩ Hồ Hữu Tường với Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc bỡn Nga, ... thì cũng vậy. Cả đến loại sách trinh thám kỳ tình, kiếm hiệp, phong thần, phỏng dịch chắp vá được gọi là tác phẩm văn học – chúng tôi xin phép không nói tới. Rõ hơn là Phạm Cao Củng có mặt từ tiền chiến với Kỳ Phát; hoặc truyện Người Nhạn Trắng cũng thế v.v... Tác giả Hoàng Như Mai, thời gian 1950–1954 trong kháng chiến; chúng tôi đưa vào cuốn này; vì vở kịch Tiếng Trống Hà Hồi đặc sắc được in trình diễn ở Hà Nội. Có thể nói điển hình bộ môn kịch là Tiếng trống Hà Nội. Bước sang bộ môn biên khảo, đưa Duy Sinh vào một tiết, như một điển hình cho lớp người viết biên khảo; cũng vẫn chủ quan, so với Diên Hương, Thu - Giang - Nguyễn - Duy - Cần; Khi đối chiếu lại thì, Duy Sinh không thể giá trị bằng hai nhà biên khảo vừa nêu danh.
Trở lại bình diện văn nghệ hậu chiến, tập 3 gồm trên dưới một trăm nhà văn; chọn ba mươi điển hình nói tới cặn kẽ; so với người khác viết tóm lược. Cũng vẫn chủ quan thô thiển và tự nhận thiếu sót. Bởi còn nghĩ xa hơn rằng: "không thể viết đầy đủ các nhà văn mình muốn đưa vào một quyển, thay vì mỗi nhà văn điển hình phải viết hẳn một cuốn nói về họ".
     Nên coi những trang viết này chỉ là chữ viết (écriture) trong bộ sách này, và không là văn học (littérature); như quan niệm của Michel Buto (2). Lẽ trang viết có ý nghĩa tổng quát hơn. Còn nữa, bộ sách này chỉ là kết quả viết về tác phẩm các tác giả mà tôi đã đọc, đưa ra nhận xét của riêng tôi; giúp cho nghề tôi nuôi nghiệp (littérateur). Từ 1950 đến 1956, biến chuyển thời cuộc tác động đích thực vào đời sống văn học mà nhà văn sống trong đó. Ở miền Bắc của Quốc Gia Việt Nam (1950 – 1954) nhóm Thế Kỷ tạo thành một Triều Đẩu, qua những mảnh đời phóng sự hồi cư nóng bỏng, hàng ngày phải đối phó với đời sống, tạm gọi độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Còn thêm nhà văn điển hình như Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, (truyện), Bến Nước Ngũ Bồ (kịch dã sử), Nguyễn Minh Lang, ngọn bút tài hoa của văn chương lãng mạn mới, qua Gái Hà Nội, Nước Mắt Trong Đêm Mưa, Cánh Hoa Trước Gió (2 tập)... Hai nhà văn này, chúng tôi đề cập ở Chương 3 (tiết 2 và 4) – nhưng tập 3 này xuất bản ở Sài Gòn vào 1959 (Loại sách Đại Nam văn hiến trong nhà xuất bản Huyền Trân, Nhật Tiến chủ trương) bị kiểm duyệt bỏ trọn tiết. Bản in lại lần thứ hai in lại đầy đủ; nhưng trong lần này vẫn phải để trống phần phân tích; vì lý do tầm thường – không kiếm được bản tái bản vào 1973. Hai nhà văn điển hình khác nói đến trong Chương 3 là Thanh Hữu, Văn An. Về nhà thơ điển hình: Đinh Hùng, Nguyễn Quốc Trinh... Viết tóm lược nhà thơ: Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Băng Sơn, Vân Long, Trần Nhân Cư... Bình diện văn nghệ miền Trung (Quốc gia Việt Nam) vào giai đoạn này, nhà thơ điển hình được nói đến : Huyền Chi (nữ), Hoài Minh, Thanh Thuyền. Viết tóm lược các nhà thơ: Hồ Đình Phương, Huyền Viêm, Thế Viên...
Bình diện văn nghệ miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nhà văn điển hình: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo (nữ), Triều Lương Chế, Phạm - Thái - Nguyễn - Ngọc -Tân Phạm Thái kèm tên thật Nguyễn Ngọc Tân, phân biệt với một Phạm Thái khác), Chấn Phong Hư Chu. Viết tóm lược: Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ), Thiếu-Mai-Vũ-Bá- Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm Minh, Nguyễn Hoài Văn, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân... Một số nhà văn khác nổi tiếng sau giai đoạn 1956 như Võ Phiến chưa có tác phẩm xuất bản. Phải kể thêm trong số đó: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, (nữ), Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng (nữ), Võ Hồng, Thế Uyên, Tuấn Huy, Thế Nguyên, v.v... của Đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 trở đi). Riêng về phóng sự tiểu thuyết: Hoàng Hải Thủy với Vũ Nữ Sài Gòn (3), Duyên Anh qua bút hiệu Thương Sinh, Toàn Phong với Đời Phi Công, chúng tôi chưa có cơ hội nói đến, và nhờ Vũ Ngọc Phan giúp giải vây sự khốn đốn; ... vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn... Thêm nữa, khoảng thời gian viết đến lúc in ra (dầu cho là in ronéo-typé cách vài năm). Do đó, chưa kịp nói đến Võ Phiến (Chữ Tình), (4) Thế Uyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Toàn Phong , Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Thế Nguyên, Văn Quang (Thùy Dương Trang), Huy Trâm, Phạm Nguyên Vũ, Túy Hồng (nữ), Lê Vĩnh Hòa, Nhật Tiến, (văn) v.v... – Về thơ: Thái Thủy, Tô Thùy Yên, Tôn Thất Quán, Hoàng Khanh, Cung Trầm Tưởng, Cao Mỵ Nhân, Viên Linh, Trần Dạ Từ (khi ấy ký Hoài Nam), Hoài Khanh, Hà Yên Chi v.v... và v.v... (5).
Giá trị văn chương tiền chiến Tự Lực văn đoàn, có cả Lê Văn Trương, (tập một: Nhà văn tiền chiến), tiếp đến giá trị văn chương lửa kháng chiến; sau là hậu chiến. Đọc Bướm Trắng, Nửa Chừng Xuân. Mấy Vần Thơ, Gửi Hương Cho Gió, Vang Bóng Một Thời, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giông Tố... không nhìn thấy đầy đủ hình tượng sống cuộc sống hôm nay được thấy trong: Gió Bấc, Truyện Năm Người Thanh Niên, Trên Vỉa Hè Hà Nội, Cánh Hoa Trước Gió, Trại Tân Bồi, Nhìn Xuống, Điệu Đàn Muôn Thuở, Đêm Giã Từ Hà Nội, Sợ Lửa, Rừng Địa Ngục.... Văn nghệ là sản phẩm phản ánh thời đại, nên Kim Vân Kiều có hay đến mức thượng thừa – cũng chưa thể đại diện cho một khoảng thời gian không tiếp nối. Tác phẩm Nguyễn Du mới chỉ nói lên đầy đủ về xã hội phong kiến giao thời mà tác giả Kim Vân Kiều sống – đủ một số điều tương đồng hiện cảnh. Không thể nói đến Kim Vân Kiều là đủ điều tất yếu hình tượng sống lịch sử. Tác phẩm của Karl Marx, S.Freud cũng bị vượt qua, hiện nay vẫn cần khối óc siêu việt Oppeheimer, Einstein, Gandhi, JP Sartre v.v...
Phải hiểu được rằng: lịch sử một nước như lịch sử văn học, luôn theo đà diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Nói khác đi, sử học, văn học sử một nước không thể cắt quãng, cũng không tùy thuộc vào lập luận một phe nhóm nào để định giá trị vĩnh viễn. Rất cảm phục lập luận của Vũ Ngọc Phan dẫn trên kia; được gọi văn học sử, phải xét kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến tác phẩm, định rõ liên hệ (chữ dùng: TP) giữa nhà văn này với nhà văn nọ, định rõ phong trào văn học. Càng rõ hơn, được gọi văn học sử, ít ra phải làm được một bộ sách Lịch Sử Văn Chương Ngôn Ngữ Pháp (tạm dịch Histoire des littératures de la langue française) (6) do nhóm chủ trương gồm 209 giáo sư văn học thực hiện bộ sách vĩ đại ấy.
Cảm ơn số bạn giúp tài liệu, ý kiến, khích lệ, động viên, khi tôi khởi sự viết bộ sách này. Như họa sĩ Đinh Cường cởi áo, ngồi xệp trên sàn gác căn nhà trọ cùng tôi chia giúp những trang sách in ronéotypé xếp thành tập vào 1959, ở hẻm nhà thờ Lý Thái Tổ (Chợ Lớn). Uyên Thao mượn cho chiếc máy chữ, có lịch sử sản xuất cùng thời kỳ Tây hạ thành Hà Nội. Nguyễn Quang Tuyến nuôi ăn ở hàng năm, tôi ra thư viện đọc sách. Cùng với nhiều thư tình đầy tâm huyết người - tình - bậc - chị đến từ Hong Kong (nàng gọi Cảng Thơm) khích lệ người - em - bạn - tình miệt mài với chữ và nghĩa. Lại không thể quên bạn vong niên Phan Văn Thức cấp tiền ăn sáng, giấy stencil và thẩm phán Đào Minh Lượng, khi là sinh viên Trường Luật mua bánh mì dùng bữa trưa để tôi ngồi lì ở Thư Viện Quốc Gia làm mọt sách. Cũng không thể quên chịu ơn André Gide, qua cuốn sách viết phê bình về Fédor Dostoievskï (7) và cả Textes philosophiques của V.Biélinsky (8) nữa.
THẾ PHONG
PHẦN THỨ BA
VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956
[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM VNCH]
CHƯƠNG NĂM
Tiết 1. – KHÁI QUÁT VỀ BÌNH DIỆN THI CA MIỀN NAM
Ở tiết này, nói đến bảy nhà thơ độc lập điển hình. Mỗi nhà thơ đại diện một khuynh hướng riêng biệt. Chẳng hạn Hồ Hán Sơn là nhà thơ cách mệnh; Phan Lạc Tuyên, nhà thơ tự do của xu hướng riêng: nội dung ca tụng quê hương, sinh hoạt quân đội. Phan Minh Hồng, nhà thơ nói về thơ biển cả duy nhất vào lúc này. Đến Nguyễn Văn Cổn đại diện lớp nhà thơ hải ngoại, bắt đầu bằng tập thơ đầu tay Nước Tôi (1944), Đỗ Tấn, nhà thơ chiến sĩ tâm lý chiến bảo vệ chế độ. Nếu Đỗ Tấn biết điều hòa, sử dụng lập trường với tác phẩm văn chương có rung cảm thực sự, tất sẽ đi đúng vào địa vị người làm văn không theo công thức. Hoàng Trúc Ly, nhà thơ tâm tình khắc khoải như Thanh Thuyền, sống vào thời kỳ thoái trào cách mệnh, nhìn thấy cảnh đất nước bị nô lệ Pháp nên chán chường, dẫu thiếu lý do sáng suốt. Song những nhà thơ ấy nói đúng được rung cảm thành khẩn của họ, những thi sĩ hòa tiếng lòng với tư tưởng hoang mang. Hoàng Nguyên (Bùi Bình Hiếu) nhà thơ ẩn ức sau khi tranh đấu, nhìn được thân phận bị lợi dụng, thơ có đường lối riêng biệt tranh đấu. Sau ông đổi bút danh thơ Bùi Khải Nguyên qua tập thơ Thiết Tha (S.1964).
Ngoài nhà thơ điển hình, còn nhiều nhà thơ tiến bộ khác, hiện tại được nhắc qua nhưng tôi không có hoàn cảnh viết chi tiết. Việc này nhường lại cho những ai khảo và viết về thơ Việt Nam sau này. Đó là Hà Liên Tử, tâm hồn thơ xúc cảm, chưa lắng đọng, ít rung cảm chân thành, có thể vốn sống nông; nghệ thuật chưa bày tỏ được. Diên Nghị, nhà thơ chịu ảnh hưởng quá trung thành Trần Hữu Thung. Chẳng hạn trong tập Xác Lá Rừng Thu, bài Hoa Cà La Mướp của ông chính là bản sao bài thơ Thăm Đồng mà Trần Hữu Thung được giải thưởng thơ Bắc Kinh. Giá trị Diên Nghị chỉ ở mặt thơ tâm tình, thơ tranh đấu ít vốn đầy giả tạo.
Thế Viên, Huyền Viêm đi sâu vào nội tâm, họ có thể trở thành nhà thơ đầy triển vọng hơn, nếu theo con đường đang đi. Sẵn khả năng thơ có bề mặt, chỉ thiếu chiều sâu; tôi muốn nói đến nhà thơ Huyền Viêm tác giả tập thơ Trước Mùa Chinh Chiến (S.1956).
Một số nhà thơ nữa không nói đến, như Tuấn Giang, tác giả Hương Lòng; Tô Thùy Yên, nhà thơ tự do đang lên chưa có thi phẩm in ra, Văn Thế Bảo, Thái Thủy, Tô Hà Vân, (Nguyễn Đình Toàn), Lan Đình ..., mỗi nhà thơ một đường riêng – trừ nhà thơ cỗi Tuấn Giang, sáo rỗng, giả tạo. Tuy nhiên có đôi bài giá trị như: Xuân Nghèo, Tuấn Giang cũng đạt rung cảm chân thành; nhưng chỉ qua vài câu. Thơ Tô Thùy Yên trải qua các chặng thơ mới, tự do, thấm nhuần thơ tư tưởng mới; cả hình thức lẫn nội dung. Nhưng thơ thì duy lý, khô khan quá. Thái Thủy, Tô Hà Vân (Ngày Em Về Thăm Quê Tôi), hai nhà thơ cùng thời với Song Hồ, Dương Vy Long chưa tạo được thế đứng riêng biệt. Lan Đình, nhà thơ lớp sau này có đôi bài thơ hay, giọng hơi thơ Nguyễn Bính; Hoài Khanh với tập: Dâng Rừng là thí nghiệm, chưa chứng tỏ có đường lối riêng. Cao Mỵ Nhân, nhà thơ vẫn đang trên đường thơ học trò, khai thác hình ảnh hoài vọng tuổi xanh tha thiết, chân thành. Tương lai thi ca đặt vào các nhà thơ trên thật rực rỡ, xán lạn ấy là nói về các nhà thơ đợt mới nhất hôm nay.
Tiết 2
HỒ HÁN SƠN (1929 – 1955)
Tiểu sử:
Hồ Hán Sơn tên thật Hồ Mậu Đề. Sinh năm 1929 ở Nghệ An. Qua các trường ở Huế rồi tham gia kháng chiến, chiến đấu ở Liên khu IV. Cựu sinh viên trường Lục quân chiến thuật Liễu Châu, sau về Thành viết báo, xã thuyết, làm thơ, biên khảo chính trị quân sự. 1952 ông vào Sài Gòn cộng tác với tuần báo Đời Mới, tham gia chính trị trong một đảng phái ở miền Nam (Cao Đài). Năm 1955, vì lý do chính trị bị thủ tiêu ở Bến Kéo (Tây Ninh).
Khuynh hướng và tác phẩm:
Nghệ Thuật Chỉ Đạo Chiến Tranh (Hà Nội, 1953), Thế Giới Thứ Ba Bùng Nổ, Nước Việt Nam Về Đâu? (Mai Lĩnh xuất bản, Hà Nội 1954)… Làm thơ ký bút hiệu Hồng Nam; tuy ít, song thơ chứa khát vọng sống ca tụng dân tộc đem cả cuộc đời dâng hiến như: Tình Nghèo, Hẹn Hò, Nén Hương Tàn. Và hồi ký như: Tết Giữa Rừng Xanh đăng trên báo Đời Mới, Việt Chính... hoặc bài viết về quân sự như : Những Nguyên Tắc Cầm Quân của Trần Hưng Đạo v.v...
Hồ Hán Sơn làm thơ ít, như chúng tôi vừa nói đến, song thơ của ông chan chứa tình thương yêu, tình ái. Dẫn chứng bốn câu thơ chúc tết người viết vào năm Ất Mùi, thơ bình dị; chứa suy tư, cách sống, giá trị thực tiễn:
“Ở Bắc đã lay cây rụng lá
Về Nam ngơ ngẩn áng mây sầu
Đất trời đang hẹn cơ vong quốc
Thư kiếm xuân sang chúc bạn bầu”
Miền Nam thập niên năm mươi đang lâm vào thế Thập Nhị Sứ Quân, Hồ Hán Sơn là một trong những người luôn luôn cầm trong tay binh lực hy vọng chuyển dịch thời thế. Ông không thể chỉ là nhà thơ thuần nhất, như Nietzsche quan niệm, phải lập thuyết mới có thể giải quyết thân phận con người, mà thơ thì không làm nổi. Hay Karl Marx ban đầu làm thơ trong tuổi sinh viên, thi sĩ ba trăm câu thơ gửi người nhân tình, sau trở thành vợ. Nietzsche cũng không tin rằng thơ có thể xoay chuyển tình thế xã hội. Viết thư cho bố, báo tin ông đang bước vào con đường nghiên cứu triết học. Nhớ đến Hồ Hán Sơn hạ bút viết: Thư kiếm xuân sang chúc bạn bầu, có lý do chính xác. Sách khảo cứu chiến thuật, chiến lược, nghệ thuật cầm quân trong Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh ở đây không bàn đến, kinh nghiệm bản thân khi học ở Tàu, cũng như dựa vào tài liệu Hoàng Đạo Thúy tạo thành cuốn sách này.
Kết luận.
– Hồ Hán Sơn qua đời ba mươi tuổi, người vợ chưa cưới chỉ mới vấn danh. Đòi hỏi có vợ, từ nơi Thượng đế, như La Répétition (Nhắc lại) của Kierkegaard hẳn khác, bởi ông chẳng còn sống để đòi, và cuộc đời kết thúc bất ngờ: Thơ thì hay và kiếm thì hại. Tài năng mai một, kiếm cung tự giết, chỉ còn thơ bất tử để lại, thơ Hồ Hán Sơn bao hàm ẩn ý, bảo vệ sinh tồn đóa hoa dân tộc, ngoài ý nghĩa trên, thơ không còn nghĩa lý. Xã hội quốc gia trường tồn, Hồ Hán Sơn là người được nhắc nhở ở cuộc đời, cũng như thơ cách mệnh.
Trích thơ:
1. TÌNH NGHÈO
Nhớ thuở
Anh cày thuê
Em chăn trâu
Bóng mát dưới cầu
Quen nhau ...
Một cỗ trầu cau
Nên đôi chồng vợ
Túp lều tre nứa
Dựng cuối vườn làng
Hai mùa lúa chín ngô vàng
Chày tre cối đất nhịp nhàng đã vui
Thế rồi
Mõ giục từng hồi
Giặc tràn mấy xứ
Lúa khoai màu mở
Ai không tiếc ruộng tiếc đồng
Đường quê thiên hạ tiễn chồng
Em đưa anh ra lính
Giặc vào anh đánh
Giặc tan, anh về
Làm sao đuổi hết giặc đi
Để cho cối đất chày tre nhịp nhàng.
Bao giờ
Giặc chết trên ngàn
Giặc tan ngoài bể
Nhớ lời em nhé
Và cánh đồng quê
Dù không may!
Anh cứ về
Ai chê người đuổi giặc
Ai ghét kẻ thương binh
Còn làng, còn nước, còn anh
Còn đồng ruộng cũ, còn tình lứa đôi.
Em vui
Nước nhà độc lập
Đường quê tấp nập
Trai tráng về làng
Hai mùa lúa chín ngô vàng hơn xưa. (63)
1953
(trích báo Đời Mới)
2. THĂM QUÊ
Mải vui theo bước phong trần
Bao năm mới được một lần thăm quê
Lòng vui như gái đến thì
Chân vui nuốt chửng đường về khi nao.
Làng tôi
Sông rộng núi cao
Lũy tre rì rào
Nắng vàng trải lụa
Ruộng đồng ngập lúa
Trai canh nhộn nhịp đường làng
Mùa mười lúa chín đã vàng
Áo quần vải mới rập ràng ngõ quê
Gặp nhau trên đường về
Bác Cu cười ha hả
Mưa mười được cả
Ruộng cạn ao sâu
Mấy khi mà chú về lâu
“Qua ăn xôi mới của đầu mùa nha”
Lò lửa sáng rực nhà
Bác thợ rèn ngâm nga theo nhịp búa
Sức người cùng sức lúa
Tới dũa với anh cầy
Nguồn vui tràn ngập xóm làng.
Câu hò câu ví nhịp nhàng cuối thôn
Nhưng
Ai biết được nguồn cơn
Qua mấy buổi chiều buồn
Mây trôi về lảng vảng
Khắp xóm làng lo lắng
“Năm xưa cũng có cầu vồng”
Dập dờn gió bão gió đông
Ba hôm
Nước ngập đường đê
Nước tràn ruộng lúa
Nước vào nhà cửa
Lợn gà xao xác cánh đồng
Lặng nhìn trời nước mênh mông
Cụ già than thở
Trời cho thấy, sao nỡ chẳng cho ăn
Lụt ra dể cảnh hoang tàn
Cho em bé khóc cho lòng xác sơ
Lúa khoai chôn chặt dưới mồ phù sa
Mải vui theo bước phong trần
Bao năm mới được một lần về quê
Nghẹn ngào lúc bước chân đi
Bác Cu còn dặn nhớ về mùa chiêm
Lụt rồi đồng sẽ tốt thêm.
1952
Trích báo Đời Mới
HỒ HÁN SƠN 
Tiết 3
PHAN LẠC TUYÊN
Tiểu sử:
Sinh năm 1928 ở Hữu Bằng, Sơn Tây. Bị động viên vào lớp Sĩ quan trừ bị khóa I – 1951. Viết cho các báo Phụng sự, Quân đội, Văn nghệ Tự do, Nguyệt san Đại học Quân sự…
Đã xuất bản: Mùa Hoa Mới (1956 thơ).
Phân tích tác phẩm: Mùa Hoa Mới, tập thơ có lời giới thiệu Kiêm Đạt, và nhiều tác phẩm khác như: Phê bình Văn Nghệ Cộng sản (viết chung với Võ Phương Tùng (Võ Long Tê), Lê Lam Sơn (Tô Kiều Ngân) Tìm Hiểu Thơ Tự Do (Lạc Việt, 1956, tập I) với Mạc Ly Châu, Kiêm Đạt và Hồ Nam. 
Thơ ông hòa nhịp với đời sống trải, phản ứng, rung cảm, hơi thở cuộc sống thôn quê, nhiều nơi hành quân qua. Là nhà thơ quân đội, cuộc sống quân ngũ luôn dàn trải trong thơ, đôi khi thêm vài nét chấm phá hình ảnh thiên nhiên núi rừng Việt Bắc (Người Em Rừng Núi). Hoặc hình ảnh bà mẹ già đợi con trai chưa về trong xóm nhỏ làng quê Phan Lạc Tuyên đưa vào thơ từ linh hoạt, cảm xúc, bồi hồi. Bài thơ Tình Quê Hương (64) chiến sĩ tiếp thu Ba Tơ:
“... Các anh về chín kịp lúa đang lên
Rẫy ngô khoai trở lại búp xanh rờn
Thêm mái rạ làng nghe vui xây dựng
Các anh về Ba Tơ đang bừng sống”
(Áo tím màu sim)
Thơ mộng, êm đẹp lại hứa hẹn, chan chứa tình quê hương, gia đình cả người vắng mặt; tiếp nhận người mới, lại nhớ đến Tố Hữu: Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu (65) Trong hơi thơ tương tự ấy, ở Phan Lạc Tuyên có:
“Em hẹn em sẽ kể
Tình quê hương đơn sơ
Mẹ già như chiều nắng
Nhớ con trai chưa về
Ruộng nghèo không đủ thóc
Vườn nghèo nong tầm thưa
Ngõ buồn mầu hoang loạn
Quê nghèo thêm sác sơ...”
Biểu hiện được tình quê hương thắm thiết hòa hợp với tình yêu quê hương miền đất đỏ, núi đồi ban chiều quê xa miền Trung. Hình ảnh mẹ già, anh chiến sĩ tiếp thu nghe lời cô gái tóc xanh kể chuyện quê hương. Thi tập đầu tay Phan Lạc Tuyên có số ít bài thơ hay, giàu nhịp điệu, tiết tấu lạ. Cũng có bài thiếu nhạc điệu, kém rung cảm, lời thơ tầm thường. Về biên khảo Khái Luận Văn nghệ Quân đội. Tìm Hiểu Thơ Tự Do; viết sách lối đặt hàng, nội dung nghèo nàn công thức chưa hoá được hiểu biết, chắp vá rẻ tiền. Kết luận: Trong số những nhà thơ tự do tiêu biểu cho loại thơ tồi, Phan Lạc Tuyên có địa vị và hướng mới có khám phá. Cái tôi trong thơ đặc biệt phản ánh rõ nét, về biên khảo chưa có chỗ đứng. Sự đọc nhiều chỉ đưa đến bội thực, chưa chế biến được sự thu thập từ sách vở. Làm thơ hay chưa hẳn là nhà văn biên khảo tài năng, hôm nay ông chưa là Benjamin Goriély, vừa làm thơ, vừa là soạn giả giá trị Sciences des lettres soviétique (tạm dịch: Thành tựu văn chương Xô Viết). Nhắc đến Huy Cận, Xuân Diệu chỉ có thơ, thì hiện tại tương tự với Phan Lạc Tuyên.
Trích thơ:
1. NGƯỜI EM RỪNG NÚI
Cao nguyên xanh ngắt đợi chờ
Ai về nẻo cũ hẹn hò núi sông
Đồng Nai suối nước biển Đông
Nhớ ai lời hát đêm trăng núi rừng
Núi rừng ơi! Sao mà quên được
Đường lên Chu–Dié Ya vời cao
Những buổi chiều vàng vọt bên đèo
Đường chiến binh dài mãi nắng vàng theo
“Boun’M’Rong” thương nhớ mãi khói chiều
Mẹ già nhỏ lụy sương rơi
Nhớ thương tóc trắng mây trời
Ai về lãng cũ Gia Ray
Rừng xa mấy độ đường dài
Nhớ em gặt lúa
Má đỏ mộng đời
Sớm khuya nương sắm đồi khoai
Đêm đêm trăng lạnh rét đôi vai tròn
Biên Hòa bưởi thắm lòng son
Ta về nhớ mãi người em núi rừng
Từ buổi quê em Việt Bắc
Xa rồi cách trở ngàn mây
Em đã về đây
Phá rừng gieo mạ
Cuộc đời làm nương
Áo xanh vẫn đẹp huy hoàng
Tóc mây vẫn mượt dịu hiền như xưa
Dậu sông Bờ, rừng Sơn La
Còn vương ánh mắt điệu xòe đêm thu
Môi em đã ngợp trăng thề
Mùa sim tím mãi nẻo về nhớ thương...
(TRÍCH TRONG BÁO XUÂN LẠC VIỆT, 1957)
2. TÌNH QUÊ HƯƠNG
Anh về qua xóm nhỏ
Em chờ dưới bóng dừa
Ánh chiều lên mái tóc
Tình quê hương đơn sơ
Quê em nghèo cát trắng
Tóc em lúa vừa xanh
Anh là người lính chiến
Áo bạc màu đấu tranh
Em mời anh dừng lại
Đêm trăng ướt lá dừa
Bên nồi khoai mới luộc
Ngát thơm vườn dâu thưa
Em hẹn em sẽ kể
Tình quê hương đơn sơ
Mẹ già như chiều nắng
Nhớ con trai chưa về
Ruộng nghèo không đủ thóc
Vườn nghèo nong tầm thưa
Ngõ buồn màu hoang loạn
Quê nghèo thêm xác xơ
Anh: chiến binh tiền chiến
Về giải phóng quê em
Bao nhịp cầu đất nước
Nối về quê miền Trung
Anh sẽ là anh đàn em nhỏ
Là con của mẹ giữa quê hương
Quê nghèo mãi sẽ tươi mầm sống
Đàn trẻ thơ gieo giữa lúa vàng (...)
Người em nhỏ mắt thơ bằng tin tưởng
Vui nhìn đoàn trai trẻ tới miền Trung.
(TRÍCH TRONG TẬP THƠ MÙA HOA MỚI)
PHAN LẠC TUYÊN 
Tiết 4
ĐỖ TẤN (1927 – 1988)
Tiểu sử:
Tên thật Đỗ Tấn Xuân. Sinh năm 1927. Viết cho các tập san miền Trung: Gió Lên, Đời Mới (Sài Gòn) v.v... Sau 1954, viết cho Văn Nghệ Tiền Phong, Mùa Lúa Mới... Đã xuất bản Mùa Hoa Sim Tím. (1956). Qua đời ở Sài Gòn vào 1988.
Phân tích tác phẩm:
Thi phẩm được phân tích trong tập này Mùa Hoa Sim Tím (1956). Ngoài làm thơ, ông còn viết truyện ngắn đăng rải rác trên tuần san, nguyệt san. Về thơ, có khả năng hơn truyện ngắn. Tập thơ gồm hơn hai chục, tính chất tuyên truyền cho lập trường Quốc gia. Thơ đặt hàng xuyên suốt tập thơ chỉ có một bài duy nhất Mùa Hoa Sim Nở làm tiêu đề cho tập thơ là khá hơn cả. Chủ trương báo Mùa Lúa Mới sẵn công thức đề cao cá nhân lãnh tụ ông Ngô Đình Diệm để chống lại chủ nghĩa Cộng sản. Đỗ Tấn viết tâm sự một chiến binh tập kết hồi chánh, tâm trạng khắc khoải, lý trí tình cảm tương tranh. Đối với tình yêu thì:
“... Có nên hy vọng anh về
Miền Nam xây dựng
Đảng đã dạy anh, gian lao chịu đựng
Thì thương nhớ nhau mà chi
Đảng muốn anh quên
Thì thương nhớ nhau cho lắm có ích gì...?
Đỗ Tấn có tài năng là nhà thơ máy khi đọc thơ trích đọan trên. Chống lý thuyết đối lập bằng phản đề, Đỗ Tấn hôm nay là người thơ giãy giụa trong cách mạng thoái trào, không như 1945; tình đầu kháng chiến dân tộc bị mơ hồ hóa. Nên ông áp dụng lối thơ cổ võ như xưa kia; dù hôm nay không làm người đọc thơ rung cảm, và ông vẫn là nhà thơ nghệ thuật cao hơn cả, so với các thi sĩ máy chịu ảnh hưởng nhiều văn nghệ phục vụ lối chính trị. Chống đối đi đôi với suy tôn; làm thơ công thức đặt hàng vẫn cần có chiến thuật tiến, thoái. Thí dụ bài thơ Anh Chết Rồi, ca tụng tướng Cao Đài Trình Minh Thế:
“... Thằng giặc nào anh nói
Thằng giặc nào giết anh
Thương tôi, anh hãy chỉ
Thằng nào anh chỉ tên”...
Giá trị thơ không phủ nhận không; nhưng có thì của thi sĩ kháng chiến Hoàng Lộc Viếng Bạn. Đỗ Tấn mượn hơi thơ, ý thơ, khổ thơ năm chữ; đẽo gọt lại làm thơ đặt hàng. Hãy đọc đoạn thơ Hoàng Lộc:
“... Đứa nào bắn anh đó
Súng nào nhằm trúng anh
Khôn thiêng xin chỉ mặt
Gọi tên nó ra anh
Tên nó là đế quốc
Tên nó là thực dân
Nó là thằng thổ phỉ
Hay là đứa Việt gian
Kết luận:
Đỗ Tấn là nhà thơ máy có tâm hồn thơ đáng kể nhất trong loại hình thi sĩ máy lấy văn nghệ làm phương tiện phục vụ chính trị. Đỗ Tấn vá víu chắp nối thơ, tâm trạng anh thợ đá muốn nổi tiếng dùng cửa hiệu thợ ngọc nổi tiếng làm bảng hiệu lập công. Viết đến đây, ông lại cho xuất bản tập truyện ngắn: Chiều Cuối Năm (Bình Minh, 1957), nhưng Đỗ Tấn vẫn là nhà thơ máy hơn là nhà văn máy.
Trích thơ:
MÙA HOA SIM NỞ
Em đợi anh về
Để viết bài thơ nồng cháy
Yêu thương
Nhưng nắng vàng dạo ấy
Đốt kẻ lên đường
Có mong gì trở lại?
Anh bảo
Hương đồng bốn mùa xây nắng
Gió mùa nào kể chi em
Tím sim nào tím đôi tim
Nhưng nay phố phường
Lầu đỏ chìm cả ánh sáng
Dập dìu những cặp yêu thương
Em về cho anh khắc khoải
Đêm nghe sao xuống trong vườn
Sao lạnh, lòng em tê tái
Vườn hoang, cỏ dại
Anh đi ra Bắc có về
Hiệp thương nào ai nghe nói?
Rứa mà anh bảo
Hương đồng bốn mùa say nắng
Gió mưa nào kể chi em
Ra đi là ngày sim nở
Tím sim nào tím đôi tim
Ai hay nắng mới
Đậu vui khoảnh khắc bên thềm
Nhà nhà cười vui ngây ngất
Nhớ anh em chỉ mình em
Nhân dân cả mùa thoát xác
Cho ấm nơi người
Đông về lạnh lắm
Tim anh nào thấy tăm hơi
Chừ biết tin anh hay tin cuộc đời
Lấy nhau vừa đúng mười hôm chẵn
Và chỉ mười hôm thế thôi
Độ rày sim nở
Tím sim là tím làn môi
Là tím cuộc đời trong giá
Là tím tình ta lỡ rồi
Ai người gây nên màu tím
Mưa thêm trên núi trên đồi
Gió thềm chờ lòng lạnh lắm
Buồn vương hiu hắt mái gồi
Cho đông tàn se cỏ lạnh
Anh có về không hở anh?
Chim không đậu nữa trên cành
Bình hoa đổ nát
Bên người tiếng lá reo nhanh
Ấy thế mà anh lại bảo
Hương lúa bốn mùa
Nay toàn hoa gạo
Thơm gì tình của đôi ta
Biển xanh biển lòng sóng gió
Vui gì mà hát tình ca
Anh ơi có còn mong ngóng
Chiêm bao lấy một ngày về
Xứ Bắc miền quê gái thắm
Má rờn quả chín trên cây
Chiếc khăn mỏ quạ
Môi đóa mộng hồng
Thôi có còn gì mà nhớ mà trông
Có nên hy vọng anh về
Miền Nam xây dựng
Đảng đã dạy anh gian lao chịu đựng
Thì thương nhớ nhau mà chi
Đảng muốn anh quên
Thì nhớ thương nhau, cho lắm có ích gì?
Lấy nhau vừa đúng mười hôm
Và chỉ mười hôm thế thôi
Độ này sim nở
Không nhớ thương ai mà khóc trên đồi
Phố phường rộn rịp vui biết mấy
Thế đồng tiếng hát chơi vơi
Anh đi anh chẳng trở về
Có khóc rầm rề thì cũng một thân
(TRÍCH TRONG MÙA HOA SIM NỞ)
ĐỖ TẤN
Tiết 5
HOÀNG TRÚC LY (1933 – 1984)
Tiểu sử:
Tên thật Đinh Đắc Nghĩa. Sinh năm 1933 ở Đà Nẵng. Làm thơ, viết cho các báo Nguồn Sáng Mới, Cải tạo loại mới do Hoàng Thu Đông chủ trương, tạp chí Sinh Lực, v.v... Qua nhiều bài thơ đăng báo; Hoàng Trúc Ly có địa vị thơ hay, bộc lộ rõ rệt khuynh hướng tình cảm của mình.
Khuynh hướng :
Hoàng Trúc Ly như Thanh Thuyền, Viên Lăng, Kiên Giang, Thế Viên chưa in tác phẩm nào khi còn sinh tiền . 
(66) Nhưng họ đều là nhà thơ phải làm người đọc lưu ý, khi bàn đến thi sĩ đương thời; bởi tài năng của họ phát triển sâu, tạo được bản sắc riêng biệt trong những năm gần đây. Với Hoàng Trúc Ly, qua Rừng Mưa, Chắp Nối, Đồng Vọng, Gởi Người Anh, Gặp Người Em, thơ đi sâu vào đường đượm triết lý nhân sinh Đông phương. Thơ của ông giống Huy Cận ở chỗ: cả hai cùng khóc đời nhiều hơn khóc mình. Huy Cận khóc đời nhiễu nhương; Hoàng Trúc Ly than thở ẩn ức hoang mang thời thế qua Chắp Nối:
CHẮP NỐI
Tôi yêu vạn cánh buồm răng rắc
Yên bờ biển Thái Bình Dương xanh ngắt
Mười phương gió tanh tanh
Như thịt người hòa trong máu tinh anh
Tim biển cả có bao giờ nguôi thổn thức
Tôi nghe bao la
Ngàn năm mây trắng quyện Hồng Hà
Quê hương thẹn thùng môi trinh nữ
Rượu Đường Thi ngà say men Trang tử
Đêm Á Châu huyền diệu bóng trăng sao
Cánh sen bừng nở
Một sớm hoa đào
Đời lại gần như nắng đẹp sắp vươn cao
Bình minh vang nội địa
Có hợp tấu muôn màu
Đương thời bao ngả lạc
Ai biết ai về đâu?
Ân tình đi rải rắc
Ai xây một nhịp cầu
Hai mùa duyên chắp nối
Cho cá nước gần nhau
Là nghĩa đời lên lay động nhất
Mùa xây thông cảm nhạc dâng cơ
Chín mươi dòng chữ băng thanh sắc
Bừng sáng lưng trời ngọn lửa thơ.
Hoàng Trúc Ly thám hiểm nội tâm qua tiếng yêu đương rất thành khẩn, tha thiết qua Gởi Người Em đẹp cả lời và ý :
Tôi đứng bên này bờ dĩ vãng
Thương về con nước ngại ngùng xuôi
Những người em nhỏ bên kia ấy
Ai biết chiều nay có nhớ tôi?
Tôi muốn hôn bằng môi của em
Mùa xưa thao thiết nắng hoe thềm
Lòng trong đã trắng tình nguyên thủy
Nghe bước chân về êm quá êm.
Em lắng tai đâu... chiều lững lờ
Thơ tôi vừa hát khúc ban sơ
Lòng chưa tội lỗi mà vô cớ
Bỗng muốn gục quỳ bên tuổi thơ
Em là em – tôi có là tôi
Dù nghĩa thời gian ngăn cách rồi
Tôi đứng bên này lưu luyến quá
Những người em nhỏ của tôi ơi!
Hoàng Trúc Ly và Thanh Thuyền giống nhau ở điểm: sử dụng làm thơ lối bảy chữ rất điệu nghệ như Gởi Người Em hoặc Thanh Thuyền ở Cách Biệt những bài thơ có kỹ thuật dắn dỏi, nội dung xúc cảm. Nhớ đến Quang Dũng, được gọi nhà thơ tự do thời kháng chiến, nhưng lại đặc sắc ở bài thơ bảy chữ Quán Bên Đường, Tây Tiến, đến khi ngả sang thơ tự do như Hoa Thanh Bình thì kém sút như bài Đi của Hoàng Trúc Ly:
... “Rồi tôi đi
Thoáng hiện về đêm về le lói
... Ở đời mấy kẻ biết nghe thơ lý sự”
Kết luận:
Thơ ông hướng nhiều về nội tâm khắc khoải, tâm trạng hoang mang, tâm sự người trai lớn lên giữa thời đoạn lịch sử rối ren, thơ đi sâu vào tâm lý ấy, khai thác hình tượng sống, thành khẩn. So sánh giữa hình tượng sống và con người; thì hình tượng sống được đề cập nhiều hơn. Đọc Đôi Bờ Quang Dũng, bài thơ ngợi ca tình yêu, song vẫn có sự sống e ấp nấp kín phía sau:
“Gió rét mưa sau chừng sắp ngự
Kinh thành em có nhớ bên kia?
Thoáng hiện bóng em về đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mưa.
Khác hẳn Mầu Tím Hoa Sim Hữu Loan, Bên Kia Sông Đuống Hoàng Cầm, thì Đôi Bờ và Gởi Người Em có điểm gặp nhau; lời tế nhị và ý thơ đẹp. Nói thế không là so sánh, tán tụng Đôi Bờ, hoặc làm giảm giá trị tình yêu truyện thơ Bên Kia Sông Đuống, Màu Tím Hoa Sim. Ý muốn chỉ nhấn mạnh, thơ hay có nhiều lối diễn đạt, hai thí dụ trên đều là trường hợp của nhà thơ có tâm hồn, kỹ thuật cao. Thơ Hoàng Trúc Ly đượm màu sắc triết lý Đông phương, lối diễn đạt Tây Phương. Ông dung hòa được cả hai thái cực thơ mới và thơ tự do. Nội dung hoài vọng dĩ vãng, khai thác chiều sâu hình tượng nội tâm nhiều hơn cảm quan cá nhân hòa đồng thời thế. Nói đến nhà thơ lớp mới kỹ thuật cao, phải kể đến Hoàng Trúc Ly.
Trích thơ:
GẶP NGƯỜI ANH
Có người anh không quen
Đến tôi nhà im cửa ngỏ
Trời mưa phiêu bạt hoa đèn
Tâm sự nửa chiều cởi mở
Anh kể bài thơ
Ngổn ngang năm tháng
Thu xưa biền biệt áo tím kinh kỳ
Nắng không đè nổi vai người bước đi
Đồng núi mênh mang
Dép mòn lá rụng
Xóm làng từ buổi thắm loang
Tàn phá đỏ loe đầu súng
Biết còn gì nữa... người anh,
Những mái nhà cay đắng chiến tranh
Ruộng vườn ai lạnh lẽo cho đành
Từng vành khăn trắng như mây trắng
Xuân đến tha hồ thương tóc xanh
Đại dương lửa khói mờ nhân ảnh
Sực tỉnh nao nao khúc độc hành
Lạ lùng anh đến thăm tôi
Dừng chân mưa bay nhạt lối
Bóng chiều nghiêng xuống cuộc đời
Anh mỉm cười nghe đêm tối
Ngày ửng hoa sau lửa mắt khơi vơi
Trích trong báo Cải tạo loại mới
HOÀNG TRÚC LY
Tiết 6
NGUYỄN VĂN CỔN (1911 – 1992)
Tiểu sử:
Nguyễn Văn Cổn sinh năm 1911, làm thơ từ tiền chiến. Quê hương miền Nam tác giả tập thơ Nước Tôi (1946) Du học ở Pháp. Sống ở Paris, còn là tác giả Thi Văn Việt Nam (Minh Tân Paris), Hồn Sông Núi (thơ, Paris 1950)
Khuynh hướng:
Diễn đạt theo lối thơ mới, chịu ảnh hưởng Baudelaire, Lamartine, Musset.... ca tụng hình ảnh đẹp quê hương, dựa trên thế đứng lập trường dân tộc chống xâm lăng 1946, khi Pháp xâm lăng Việt Nam. Tập thơ đầu không đặc sắc, hình ảnh thiên nhiên nghèo nàn, tâm tư trống rỗng lời sáo, chưa có bản sắc riêng. Tập thứ hai chưa đi vào thực tiễn cách mệnh, nhưng thơ là tiếng nói của người yêu quê hương. Ở hải ngoại nhà thơ vẫn có ý thức với tổ quốc lâm nguy. Đến Thi Văn Việt Nam, phân tích khá kỹ lưỡng, súc tích tài liệu, nhưng không vượt ngoài khuôn khổ sách giáo khoa, và tác giả cũng có mục đích như vậy khi viết sách. Bàn về bản sắc thơ của ông, chúng tôi dựa vào tập thơ Hồn sông núi. Gồm ba mươi bài, hoài cảm quê hương, đề tài này gần như là chính. Ông có ý định đem thơ nói bất công xã hội, như Đứa Bé Mồ Côi, chưa nói lên ẩn ức sâu sắc tiềm ẩn mà chỉ là thương hại, ve vãn. Thơ ông là thơ nói về quê hương, và lòng yêu dân tộc, chân thành, tha thiết của người xa tổ quốc, mà có nhà văn cho chúng tôi đem quê hương gửi dưới gót giày. Vậy Nhớ Quê Hương và Nàng Ở Lại đầy hình tượng thơ ấm áp của không khí lò sưởi giữa nội thành bao vây giá lạnh, còn Nàng ở lại tả một sinh viên Việt Nam trên đất Pháp, yêu người con gái Pháp, nhưng đành từ giã để trở về đầu quân kháng chiến chống Pháp xâm lăng. Nàng Ở Lại là bài thơ rất chân thành, cảm động sâu sắc, cách dùng chữ, tuy tiết tấu âm điệu chưa toàn bích lắm. Về nhà thơ hải ngoại, thật quá ít ỏi. Nhà thơ Nguyễn Văn Cổn, nhà văn Linh Bảo đếm trên đầu ngón tay đã hết. Linh Bảo sâu sắc trong văn, thì Nguyễn Văn Cổn trong thơ và ông chính là nhà thơ tâm huyết và đầy lòng yêu dân tộc.
1. NHỚ QUÊ HƯƠNG
Hồn ta lẻ dưới bầu trời mờ thấp
Chiếc lá vàng run rẩy trong sương
Bên kia trời ấp áp vốn quê hương
Dưới nắng dịu nở muôn tình thương nhớ
Nay đất khách ta sống đời bỡ ngỡ
Giữa rừng người rộn rã vẫn cô đơn
Chiều thê lương quán trọ lạnh và buồn
Vắng hơi ấm để sưởi hồn thổn thức
Đâu bình minh và hoàng hôn cỏ gấc
Đâu nụ cười tươi thắm của người yêu
Đâu hài nhi lên tiếng nhẹ nhàng kêu
Đâu nét mặt kính yêu người từ mẫu
Đâu là bạn mấy năm trời tranh đấu
Để ngày mai tươi sáng đẹp như hoa
Nhạc chiều đương trỗi dậy giữa rừng xa
Cùng gió lốc tựa ngọn cờ oanh liệt.
Nay xa quá hỡi tình thương đất Việt?
Trong lòng ta như chết cả niềm vui
Trong cười say ca hát lệ thầm rơi
Hình dĩ vãng vẫn chưa mờ trong dạ
Bên vườn mang những khóm trầu trơ lá
Xanh và non như ruộng mạ được mùa
Dừa và cau cạnh nước mạnh như xưa,
Xoài đến lứa biết thân mình xem rẻ
Mấy chậu cảnh bên góc vườn vắng vẻ
Khải hoàn môn vạn thọ đợi từ lâu
Bông trà mi cười cúc nở âu sầu
Bên bông giấy đỏ như lòng câu đối
Những vườn mía lưa thưa và cháy rụi
Bên bờ kinh ai đứng gọi đò qua
Ta thấy ta ngày đó vẫn chưa xa
Giữa đời sống hiền từ đầy thi tứ.
Bước đường xa ai về xin nhắn nhủ
Rượu giang hồ vắng bạn khó mua say
Bên trời Tây ta vẫn sống lạnh lùng thay
Đợi ngày hẹn trở về non nước cũ
(1948)
2. NÀNG Ở LẠI
TẠI PARIS TÔI NGHE ĐƯỢC CÂU CHUYỆN NÀY MỘT THANH NIÊN VIỆT NAM ANH NGUYỄN TRONG CHÍN NĂM DU HỌC TẠI PHÁP THƯƠNG YÊU MỘT THIẾU NỮ ÂU PHƯƠNG. ANH TỐT NGHIỆP TRƯỜNG CẦU CỐNG. NĂM 1949 VÌ THỜI CUỘC ANH TỪ GIÃ TỪ NGƯỜI YÊU TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG. NÀNG VÌ QUÁ THƯƠNG NHỚ HOÁ RA ĐIÊN RỒ PHẢI ĐIỀU DƯỠNG TẠI NHÀ THƯƠNG SAINTE ANNE. 1952 ANH NGUYỄN VÌ TỔ QUỐC CHẾT Ở SÀI GÒN, CÂU CHUYỆN NÀY LÀM TÔI CẢM ĐỘNG. BÀI THƠ SAU ĐÂY LÀ KÍNH Ý CỦA TÔI VỚI NGƯỜI QUÁ CỐ.
Buổi chia ly không thể còn nấn ná
Con đường yêu nay đã cắt làm hai
Một ngày là thế kỷ lúc lẻ loi
Sầu khổ nên khi lòng đầy nỗi nhớ
Đây phút sống thù trong thiên hận sử
Của loài người đau khổ của tình yêu
Nhạc và thơ ghi bao giọng cao siêu
Đo đau đớn của lòng người tựu kết
Nàng ở lại: tôi đi hai lòng chết
Tôi hiểu rằng nàng thấu rõ hồn tôi
Tình đôi ta mạch máu với thân người
Cắt là giết nguồn vui và sinh lực
Nàng đã hiểu làm người ai thoát được
Nợ máu xương ràng buộc với giống nòi
Với non sông gây dựng tự muôn đời
Nguồn sống mới ngã ba dòng lịch sự
Nàng ở lại: tôi đi lòng vẫn nhớ
Mái tóc mùa lúa chín mịn như tơ
Cặp mắt xanh xán lạn tựa nguồn thơ
Và tinh nết hiền như người theo Phật
Nàng chắc rõ dưới trời Nam xưa khuất
Bao nhiêu người ngong ngóng đợi chờ tôi
Đem hiên hoa trả nợ kiếp làm người
Không vị kỷ và sống gần dân tộc
Khi ra đi để hoa buồn liễu khóc
Gần gụi nhau trong giấc mộng mà thôi
Đời xinh tươi còn phải đợi ngày mai
Khi vui sáng đánh tan niềm sầu tủi
Nếu chẳng may thân tôi về cát bụi
Đây là lời vĩnh quyết hẹn ba sinh
Đây là lời thề thốt chạm giờ linh
Trong đất nước bể trời còn sống mãi.
Paris 1952
TRÍCH HỒN SÔNG NÚI
NGUYỄN VĂN CỔN
Tiết 7
BÙI KHẢI NGUYÊN (1927–1980)
Tiểu sử.
Tên thật Bùi Bình Hiếu. Sinh 25.1.1927 ở Hà Nội. Ký Hoàng Nguyên dưới bài thơ viết thuở ban đầu (68). Thơ ông đăng trên các tuần báo Đời Mới, nhật báo Dân Chủ, Phụ nữ Diễn đàn từ năm 1955 đến 1956 (69).
Bùi Khải Nguyên đánh dấu thơ ở giai đoạn hỗn loạn, bắt đầu khởi điểm, qua bài Ẩn Ức đăng trên báo Dân Chủ. Hoặc thơ có khuynh hướng xã hội thực tiễn, đem thơ vào đời sống như Paul Éluard cho là: sự tồn vong của con người với lịch sử: Đó là bài: Người Ngủ Ngoài Đồng, Chúa Nhật Này Đẹp Nắng, mở lối khuynh hướng thơ xã hội: Đừng Bỏ Em Tôi, Mót Lúa, Nhà Anh Hư Nát Sửa Rồi, Trở Về, Em Bé Việt Nam; thơ công thức khô khan, ít xúc cảm, nông cạn. Kế đến bài thơ viết thời ở hậu phương như Phước Thuận, Đống Đa thì kỹ thuật, nội dung chưa tạo một dáng dấp thơ; coi như giai đoạn tập nghề. Từ 1956 trở lại đây, Bùi Khải Nguyên tiến bộ không ngờ bắt đầu bằng bài thơ Ẩn Ức, đem đời sống thực đương thời vào thơ, đánh dấu sự sống một thời của sinh hoạt. Hơi thơ đậm đà, giọng hùng mạnh như bản tuyên ngôn phóng thích chính trị, nội dung lại rất thơ:
“Khi bạo lực cường quyền
Đánh trống thổi kèn
Khua chiêng gióng mõ
Đề cao phản bội
Cổ võ bịp lừa
Đưa danh dự công khai đánh đĩ
Xã hội chúng ta
Học sinh làm nghề điểm chỉ
Thầy tu khoác áo công an
Công an tiếm quyền nghệ sĩ
Nghệ sĩ làm bồi làm đĩ
Triết gia chính khách đi buôn
Lái buôn đảm đương chính trị
Thế kỷ chúng ta
Đủ hệ thống miệng gang mồm thép
Súng dí lưng dân, độc quyền nói phét
Nói vu nói xấu nói dối nói càn
Nhiều danh từ được đem ra hãm hiếp
Ấm no nghĩa là đói rét
Thương yêu tức là thù ghét
Công bằng ám chỉ bất công
TRÍCH BÁO DÂN CHỦ, 1956
Bùi Khải Nguyên đã khá thành công về thơ loại này . Đọc thơ nhớ đến lối thơ kháng cáo của anh em văn nghệ kháng chiến trong thời kỳ chống thực dân như một Ai Về Bên Kia Sông Đuống (Hoàng Cầm) Viếng Bạn (Hoàng Lộc)...Nhưng bài trên, ngoài giá trị nhân văn, ông chưa đạt tuyệt đích kỹ thuật, mặc dầu hơi thơ mạnh. Đến Chúa Nhật Này Đẹp Nắng khai thác nội tâm cách triệt để, mặc dầu giá trị điển hình không bằng bài trên, nhưng thơ trước tiên phải cảm được. Ông chịu ảnh hưởng lối nhìn đời đưa vào thơ như thơ tiền chiến Mỹ, đem tiếng lóng vào thơ, (langage parlé) như Karl Sandburg, mạnh như Robert Frost. Là nhà thơ điển hình đem tiếng lóng vào thơ, bởi lẽ ông không tầm thường khi làm thơ chính trị công thức, đem lập trường vào thơ khẩu hiệu ghép chữ, gieo vần đúng công thức đặt hàng. Người đọc thơ chẳng nên ngạc nhiên đa số thi sĩ máy một thời xu nịnh ấy, ở đây chúng tôi cố ý bỏ qua không sót. Một số bài Halléluia, Hồi Sinh, Hoa Sen, Lá Cờ, Cựu Kim Sơn” (trong tập Thiết Tha) đưa thơ tự do đi quá trớn, chưa đạt lối canh tân thơ tự do.
“Kinh thành thơm mùi pop corn
Building
Building
Lên đồi
Xuống dốc
Cầu
Hầm
Đại lộ
Phố
Xe màu
Áo màu
Váy màu
Đèn màu
Chi chí
Chằng chịt
Cựu Kim Sơn
Xem tấm ảnh, chắc chắn sẽ thích thú hơn đoạn thơ; nhiều cảm giác hơn thơ đọc đoạn thơ vừa trích đoạn trên.
Dưới đây trích đoạn bài thơ hay của Bùi Khải Nguyên. (71)
Trích thơ:
CHÚA NHẬT NÀY ĐẸP NẮNG
Em quỳ trên gạch bông
Chống tay lên tấm bố
Bóng em in nền gạch láng bong
Em ngước đôi mắt trong
Trời xanh thắm
Chúa nhật này đẹp nắng
Thế mà em quên bẵng Hồng ơi
Em tới bên cửa lầu mà coi
Xe màu lượn cứ như thác cuốn
Xe đi qua, đi lại, đi lên, đi xuống
Tắc xi, xe du lịch, xe máy, vét pa
Áo dài, áo ngắn, áo sọc áo hoa
Người ta lượn qua lượn lại dạo lên, dạo xuống
Người ta đi ăn, đi uống, đi lễ đi chơi
Lạy Chúa tôi,
Chúa nhật là ngày nghỉ ngơi
Sao em lại quỳ đây lau chùi, chà, cọ
Sao em không như họ
Hồng ơi! nói rõ anh nghe
Em không có xe
Em không có áo
Em không có bạn trai
Em không thích nhởn nhơ đi lượn, phất phơ đi dạo
Đi ăn đi uống đi lễ, đi chơi
Như trăm ngàn trai gái khác song đôi
Trên đại lộ ngát nước hoa, phấn sáp
Trong công viên rợp bóng cây xanh mát
Trong cao lâu, rạp chớp bóng, nhà thờ
Lạy Chúa,
Lạy Chúa,
Chỉ vì em nghèo xác, nghèo xơ
Cho nên em chịu bán cho chúa nhà, mồ hôi nước mắt
Cho nên em làm đầy tớ độ nhật
Cho nên từ hừng đông
Em quỳ trên gạch bông
Chống tay lên tấm bố
Em lau chùi khắp chỗ
Bao giờ nên gạch láng bong
Bao giờ có xe có áo
Có bạn trai mới đi lượn đi dạo
Đi ăn, đi uống, đi lễ, đi chơi
Lạy Chúa tôi,
Chúa nhật là ngày nghỉ ngơi
Chúa nhật này đẹp nắng
Chúa nhật nào cũng đẹp nắng
Thế mà em quên bẵng Hồng ơi
TRÍCH TRONG BÁO DÂN CHỦ
BÙI KHẢI NGUYÊN
Tiết 8
PHAN MINH HỒNG (1932 – 197?)
Tiểu sử.
Tên thật Phan Văn Đường. Sinh năm 1932 ở Hà Tĩnh, học qua Chủng viện Xã Đoàn Nghệ An. Năm 1952 làm thơ và nổi sau ngày phân chia đất nước 1954. Đã xuất bản: Mùa Giao Cảm (Cửa Ngõ Nước Việt, 1956) Vượt Sóng (Lam Hồng, 1957). Thơ Phan Minh Hồng chưa có bản sắc nội tâm độc đáo như thơ Thanh Thuyền, Hoàng Trúc Ly, nhưng thơ có riêng đường độc đáo khác; thám hiểm biển cả. Mùa Giao Cảm, tập thơ đầu tay là tâm tư thời thơ ấu, niên thiếu. Thơ Phan Minh Hồng nổi trội là Vượt Sóng. Thơ biển cả ở đây không công thức cố định cái neo, chiến hạm, biển, sóng, mà nói thầm lặng lòng sâu vô biên của biển cả. Hình ảnh dịu dàng cho người đọc tưởng nhớ đại dương, và trong thơ ông là người đầu tiên khai thác biển cả hòa hợp con người. Vượt Sóng, chưa đủ làm thỏa mãn hoàn toàn, song hình ảnh, bản sắc thơ biển cả của ông đã có giá trị ở tầm mức nhất định.
Trích đoạn :
QUÊ EM
(...) Tới Manila thủ đô
Vẫn những ruộng đồng
Lúa trĩu bông vàng no ấm
Vẫn những dòng sông
Tháng ngày truyền muôn sức sống
Những bãi mía xanh cây tím
Ủ ngọt tình thương
Những dãy tre làng lả ngọn
Khói lam chiều vờn quanh mái tranh
Vẫn những đàn em quê nho nhỏ
Cỡi trâu nghe chim hót trong cành
Vẫn những tháp thánh đường cao vút
Anh thầm nghe lời nguyện ước cầu kinh
Những hồi chuông ban trưa văng vẳng
Là ngọn cỏ lan mãi tới trời xanh
Anh đã gặp nguy nga tráng lệ
Nhà cao đường rộng kinh thành
Người như nêm và rừng xanh đỏ
Hân hoan trong cuộc sống đang lên
Nghĩa là anh đã gặp quê anh
Trong những nét quê em yêu dấu
Em ơi! đời anh đời chiến đấu
Ghé quê em tìm hiểu nghĩa yêu thương
Rồi ngày mai qua sóng gió quê hương
Anh lại quay về Việt Nam đất mẹ
Sẽ nhớ người em Phi nhỏ bé
Yêu bao nhiêu khi môi hé Việt Nam
Việt Nam anh đây tình thắm hân hoan
Anh gửi em qua lời thơ tha thiết
Anh nhớ lời em: chiều hôm chia biệt
Chẳng buồn nhiều mà sao đã nao nao
Sẽ gặp nhau xin hẹn một hôm nào
1957
Trích trong báo Luyện Thép
PHAN MINH HỒNG
Tiết 9
TIỂU MỤC:
1. HÀ LIÊN TỬ
Tên thật Nguyễn Ngọc Biên. Sinh năm 1927 ở Tân An, Long An. Tác giả nhiều thơ đăng báo trên Đời Mới, Thế Giới, Quân Đội, Văn Nghệ Tiền Phong v.v...
Tâm trạng cá nhân rung cảm với xã hội đang sống, hướng về tình yêu. Thơ chung chung, chưa có bản sắc.
HẸN
Nhớ ngày đi
Không kịp giã xóm làng
Hồn sông núi nặng
Mái đầu xanh tóc!
Nhà ai lửa bốc
Vườn ai tan hoang
Ruộng đồng nắng giải sương chan
Lúa xanh không cấy, dạ càng xác xơ
Trăng suông chừng nhạt ánh
Quê nghèo khung cửi lạnh thoi tơ
Bao nhiêu là tâm tư
Rưng rưng sầu thế hệ
Một cười ngạo nghễ
Nam nhi hề ra gánh lấy giang sơn
Nhớ ngày ra đi không kịp giã xóm làng
Dặm ngàn bặt nẻo
Tin về vắng như chim câu
Khói lửa nhuộm màu
Lung linh sóng mắt
Sa trường tanh máu giặc
Hồn nào ngược nẻo bóng quê hương
Thế rồi
Giữa một chiều sương
Ngang qua xóm nhỏ
Ba lô xười nghiến áo mốc bụi đường
Tình ai khép nép
Mắt nhìn lưu luyến chút tơ vương
Rồi thôi
Bóng khuất
Mây gió bâng khuâng hay lòng se thắt
Đường sương chiều loang nhẹ vương chân trai
Này nhé
Hỡi tấm lòng mong đợi
Ra đi là quyết hẹn mai về
Quê nghèo không vắng nữa
Những bàn tay xiết chặt
Đồng tâm xây dựng
Ấm mái nhà tranh
Ruộng vườn lên sắc xanh
Hò ơ
Có cô con gái mắt lành
Say say nắng mới nghiêng vành nón che
Gió mưa lay nhẹ cành tre
Xôn xao khúc hát đồng quê vụt ngàn
Ai về qua mấy thôn trang
Con đò xưa vẫn còn sang đôi bờ
Nhưng thôi đừng hẹn mong chờ...
TRÍCH BÁO QUÂN ĐỘI
HÀ LIÊN TỬ
2. KIÊN GIANG – HÀ HUY HÀ.
Tên thật Trương Khương Ninh. Sinh năm 1929 ở Rạch Giá. Còn ký riêng Hà Huy Hà, sống bằng nghề báo, viết kịch, thường viết cho: Tiếng Chuông, Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Duy Tân...sau ký tên Kiên Giang – Hà Huy Hà. 
Tác giả nhiều vở tuồng còn bút hiệu Cửu Long Giang. Thơ đăng rất nhiều trên báo, bắt đầu nổi tiếng từ bài: Đợi Anh Về đăng trên Đời Mới (1953). Giọng và hơi thơ Kiên Giang - Hà Huy Hà là thơ lục bát tình quê thi sĩ Nguyễn Bính tiền chiến. Nhiều bài thơ viết theo thể lục bát, thơ mới rất ít và càng ít thơ tự do. Như Thanh Thuyền, Hoàng Trúc Ly, ông chỉ trội ở thơ mới, diễn đạt nội tâm. Đợi Anh Về ca tụng lòng thủy chung người đàn bà đợi chờ chinh phu đi cứu nước. Thơ ông có bản sắc riêng.
Trích thơ
TÌNH QUÊ, TÌNH NƯỚC
Ai yêu nước Việt hơn người Việt
Nhau run chôn sâu giữa đất lành
Bông trái muôn màu không ngớt chín
Sông đầy nước bạc, núi xanh xanh
Luống cày màu mỡ thơm mùi đất
Vun bón rẫy vườn bông trái thơm
No ấm cũng nhờ bông với trái
Áo đời vẫn ấm hột cơm ngon
Kìa nước trường giang chảy uốn quanh
Giữa giòng sông mát bóng dừa xanh
Có cô lái trẻ nâu tà áo
Chèo trước đò ngang trước bến đình
Nào ai lăn lóc xa quê cũ
Mê chốn phồn hoa trắng bụi đường
Giây phút chạnh lòng sao khỏi nhớ
Nhớ nhà, nhớ đất, nhớ quê hương
Nhớ quê có những đêm trăng sáng
Sáng cả vườn xanh, sáng mộng vàng
Con trẻ quây quần theo gót mẹ
Lên chùa cúng Phật để dâng hương
Nhớ tiếng võng đưa trăm điệu nhạc
Hòa theo tiếng hát giọng ầu ơ
Từ môi người mẹ thân yêu quá
Gợi lại bao tình thuở ấu thơ
Tiếng chày nắng nặng trên không gian
Cùng tiếng gà trưa gáy trễ tràng
Tiếng tập đánh vần cùng nhịp thước
Buồn như nước chảy giữa trường giang
Ai quên cho được mái tranh nâu
Luống đất bờ ao với nhịp cầu
Mồ mả ông bà nằm giữa đất
Lòng người lòng đất cảm thương nhau
Quê hương là máu là xương thịt
Nước mắt mồ hôi của giống nòi
Tranh đấu từ bao nhiêu thế kỷ
Bảo tồn gấm vóc đến muôn đời
Còn sống ngày nào trên đất nước
Tình nước thúc giục súng với gươm
Lòng dân võ trang bằng tình cảm
Tay dân võ trang bằng súng đạn
Dân đứng lên siết chặt quân hàng
Giặc vào đây giặc sẽ rã tan
1954
TRÍCH NGUỒN SỐNG MỚI
KIÊN GIANG
3. THẾ VIÊN (1935 – 1993)
Tên thật Hồ Thế Viên, sinh ở Huế. Học qua trường Khải Định, khi còn theo học ban chuyên khoa đã gửi thơ đăng báo Đời Mới, Văn Nghệ Mới, Thẩm Mỹ, Văn Nghệ Tiền Phong... Tờ báo cộng tác về sau này, lúc đó ông đã trở thành giáo sư trung học ở Phan Thiết. Bài thơ đặc sắc như: Ta Mua Thêm Rượu Thêm Trầu Cưới Em trữ tình, có hình tượng mới của thanh niên nam nữ; hoặc Bài Ca Việt Sử ca tụng sự tồn vong dân tộc. Thơ Thế Viên ca tụng thiên nhiên, lứa thanh xuân. Tóm lại, lớp nhà thơ mới như Thế Viên, tuy chưa xuất bản thi phẩm, (72) song nhiều bài thơ đăng báo bộc lộ có bản sắc độc đáo. Ông qua đời ở Sài Gòn vào 1993.
Trích thơ:
CUỐI CÙNG
Giữa cuộc sống trần gian đầy hoa bướm
Tôi mê say trong câu hát tiếng cười
Đẹp môi hồng những lứa tuổi hai mươi
Tim son trẻ nẻo đời đơm bông trái
Trong những phút thần tiên trao ân ái
Trong những giờ e ngại buổi yêu đương
Thời gian qua trong cảnh mộng thiên đường
Tôi réo gọi những muôn hình muôn sắc
Của trăng sao, của trời đêm dầy đặc
Của ban mai của nét mặt hoa niên
Của mùa thu trong giếng mắt u huyền
Của em gái mười lăm năm tóc xõa
Ngày cuối cùng nợ đời tôi phải trả
Chết hình hài nhưng sống ở tâm linh
Tôi sẽ mang theo trọn vẹn ân tình
Của cảnh đẹp trần gian về xứ lạ
Tôi sẽ mua những tiếng cười rộn rã
Của người yêu như dâng cả môi hồng
Và nét u hoài giữa đáy mắt trong
Của thiếu nữ khi dâng cả môi hường
Và nét u hoài giữa đáy mắt trong
Của thiếu nữ khi chờ mong tình ái
Tôi sẽ đi về và mong ngày trở lại
Cuộc đời tròn hoang dại thuở ban sơ
Ôi! Người em bé bỏng tóc buông hờ
Cuối cùng chết, tôi say mê tuổi trẻ
TRÍCH TRONG BÁO VĂN NGHỆ TIÊN PHONG
THẾ VIÊN
4. CHẾ VŨ (1931 – 1961)
Tên thật Hồ Xuân Tịnh. Sinh năm 1931 ở Huế, chính quán thành phố Vinh. Thời kỳ kháng chiến đã hoạt động văn nghệ, về Thành mới in thơ. Đã xuất bản Hoa Tâm Tư (1956) gồm hơn hai chục bài, hầu mượn nguồn cảm hứng, vay mượn người đi trước. Kỹ thuật chưa có gì sâu sắc, hay dùng từ ngữ sáo. Nguồn rung cảm cá nhân vị kỷ, nhưng chưa nói lên thành khẩn được ý muốn ấy. Chịu ảnh hưởng, gần như là quá trung thành, khờ khạo trong thơ tình Xuân Diệu. Chẳng hạn ở bài Tha Thiết. Sau, ông có giọng, hơi của người thơ có tâm hồn, nhưng thơ chưa mấy thuần thục, tư tưởng xáo loạn, tiếng thơ chưa bứt lên được. Trong tập thơ trên có đôi bài hay, chẳng hạn Em Tôi chân thành, xúc cảm. Phê bình tập thơ đầu tay của Chế Vũ, ông Uyên Thao nhận xét có phần xác đáng:
“...Thơ anh cũng tỏ ra hứa hẹn một tương lai đẹp đẽ, song điều kiện để tiến tới là: vấn đề chỉnh bị con người theo quan niệm riêng ấy, chúng tôi hy vọng và chúc anh sẽ tự thắng trong những bước đường tới. Và, tuy chưa hề nghĩ sẽ viếng cho anh một vòng hoa, chúng tôi vẫn sẵn sàng gửi lời chào mừng anh ở ngày tới. Riêng trong Hoa Tâm Tư ngoài hết mọi điểm đã trình bày, tôi muốn nhắn cùng Chế Vũ: Hãy nên quay về với những nguồn cảm hứng của mình hơn là vay mượn...” (72)
Phan Minh Hồng dồn đọng váng tâm tư trong tập thơ đầu Mùa Giao Cảm, cùng ý nghĩa với Chế Vũ, Hoa Tâm Tư chỉ là cảm giác xáo loạn trong tâm hồn, rung cảm mà chưa diễn tả được. Chẳng bao lâu, qua những bài đăng trên báo Tầm Nguyên như Đêm Không Ngủ, một tiến bộ đạt được ở nội dung không ngờ. Tiếp Là Tình Em Ở Đâu, Giá Anh Không Là Thi Sĩ, Cho Mai Sau, thơ ca tụng tình yêu lứa thanh xuân rất chân thành, độc đáo, rung cảm chính là của ông như triết học cho là engagement en soi, biết nhận phận mình. Thái độ thật can đảm khi biết rằng ông đi vào nghiệp thơ những bước mạnh bạo. Chúng tôi nhớ đến P.Istratð nhà văn nổi tiếng tiền chiến Lỗ Mã Ni từng ăn sà lách trừ bữa, đi trạc tàu, bỏ gia đình, thân quyến giàu có đến Paris chỉ để viết văn. Sau thành công, cuối cùng trong Vers l’autre flamme (tạm dịch: Tới Ngọn Lửa Khác) ; ông vẫn chưa dấn thân nhận phận, nên đã thốt: Thật là đau đớn cho tôi thành một văn sĩ, mà ban đầu tôi háo hức lắm. Trích một bài thơ của Chế Vũ, minh chứng thơ thành công, xứng đáng là nhà thơ hôm nay. Thơ mang hình tượng mới cá nhân chan hòa nhịp sống mới nhiệm màu. (73)
TÌM EM Ở ĐÂU?
Anh biết tìm em ở đâu?
Chẳng lẽ tìm em trên hết địa cầu
Ngày đi không chờ đợi
Thao thức tàn canh đêm dài trăng trối
Lòng thẳm như hố sâu
Tuổi xế ba mươi
Vẫn chưa một lần phạm tội.
Sao còn bắt anh chờ đợi.
Sao còn bắt em mắt buồn ngõ tối?
Vẫn biết cuộc đời không bùn lầy lội
Không là đêm ba mươi
Trăng còn bên kia thế giới
Nhưng ai có thích đợi chờ
Cuộc đời đi hoang qua muôn ngàn tuổi
Ta sẽ tìm nhau ở đâu?
Đời còn chưa hấp hối
Vẫn yêu nhau bạc đầu
Vẫn đi tìm dẫu suốt đêm sâu
Tai hôm nay nghe cuộc đời mưa gió
Nghe mươi phương nắng nở
Tim anh se buốt đợi chờ
Vẫn không hề phẫn nộ
Vẫn qua đêm dài nín thở
Đi tìm đôi mắt em
Đi tìm một ánh sao đêm
Cho cuộc đời vui như hội chợ
Giờ định tìm em ở đâu?
Đừng bắt tìm em trên suốt địa cầu
Chân anh từng biết mỏi
Anh sẽ có trọn đời không phạm tội
Cho lộc trời rớt xuống trần gian
Anh thích làm người, lòng chan chứa yêu thương.
CHẾ VŨ
5. DIÊN NGHỊ
Tên thật Dương Diên Nghị. Sinh năm 1933 ở Huế. Bạn đồng học, đồng nghiệp thơ với Thế Viên, Thanh Thuyền, Tạ Ký, Kiêm Đạt... Đã xuất bản: Xác Lá Rừng Thu (NXB Lạc Việt, 1957). Ban đầu đăng trên các báo Đời Mới, 
Thẩm Mỹ, sau Văn Nghệ Tiền Phong v.v... Như Thế Viên, Diên Nghị có xu hướng khai thác hình tượng lứa thanh xuân trong thơ. Và thơ tranh đấu thì tầm thường. Thi phẩm đã xuất bản chỉ tìm được một bài Rừng Thu khá hay, còn ra nhạt nhẽo, giả tạo, ít rung cảm. Trong bài Hoa Cà Lá Mướp sao chép thơ Trần Hữu Thung qua bài Thăm Đồng. Vì thế, thơ chưa tạo được bản sắc riêng; ít nhất có hai cách chịu ảnh hưởng, như Quách Thoại chịu ảnh hưởng bài thơ Trở Về của Xuân Diệu lấy đà sáng tạo thành bài thơ hay Cờ Dân Chủ. Tô Hà Vân (Nguyễn Đình Toàn) chịu ảnh hưởng Những Người Đi Qua Làng thơ Hữu Loan để viết thành Ngày Em Về Thăm Quê. Bài thơ khá hay; nhưng giống trường hợp sao chép thơ Trần Hữu Thung mà Diên Nghị mắc phải trong bài Hoa Cà Lá Mướp.
Trích thơ:
HÌNH ẢNH BUỔI ĐẦU
Em giữ bên anh một ảnh hình
Một hồn thi sĩ lựa đầu xanh
Một đàn bướm trắng đùa trong gió
Một sớm hoa xoan nở đỏ cành
Bởi một ngày mai anh sẽ xa
Mộng xây lên mộng cũng phai nhòa
Duyên xưa cũng tắt hoàng hôn tím
Tình cũng bao tàn số kiếp hoa
Đôi nẻo đường về ngại nắng mưa
Song thu khép kín tự bao giờ
Nến gầy, canh lụn, đau lòng sách
Chữ cũng như người dáng ngẩn ngơ.
Em giở từng trang đọc từng tên
Từng đêm hè quanh lại từng đêm
Bài thơ tâm sự càng heo hắt
Người ấy năm nào em lỡ quên?
Hoa phượng rưng rưng rụng trước lầu
Mà nghìn năm nữa vạn năm sau
Thời gian chùi sạch mầu son trẻ
Em cũng không quên được buổi đầu.
TRÍCH TRONG BÁO VĂN NGHỆ TIỀN PHONG
DIÊN NGHỊ
6. HUYỀN VIÊM.
Sinh năm 1930 ở miền Trung. Xuất bản Thơ Mùa Chinh Chiến (1956) và nhiều thơ đăng rải rác trên các báo Đời Mới, 
Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tiền Phong. Lớp nhà thơ đồng lứa Phong Sơn, Tường Phong, Duy Năng,... cùng hoạt động văn nghệ trong một thời đoạn. Huyền Viêm nhà thơ tâm tình, hầu hết thơ trong tập đạt kỹ thuật, già dặn; nhưng ít hình tượng mới, nhạc điệu, âm thanh, từ ngữ dồi dào nhưng ít tỏ bầy cảm nghĩ sống suy cảm mới. Giọng và hơi thơ Huyền Viêm như còn sót lại từ tiền chiến, nếu so sánh thơ với hai mươi lăm năm trước ít có gì mới.
Trích thơ:
VẤN VƯƠNG
Rồi một chiều nao chẳng hẹn về
Có chàng trai trẻ vội ra đi
Nắng vàng dệt mộng trên hoa lá
Như mộng nàng tiên buổi dậy thì
Tơ liễu Hồ Gươm vẫn rủ buồn
Những dòng tơ lệ khóc trăng suông
Chao ôi! Thăm thẳm là đôi nẻo
Có kẻ vời trông đến mỏi mòn
Ngày tháng chôn sâu dưới bóng chiều
Bao mùa hoa bướm bấy cô liêu
Trăng xưa thắm đọng dòng tâm sự
Nẻo hướng dương mờ bóng dáng yêu
Đây một bờ sông kia bến sông
Nước xanh khôn nối lại đôi lòng
Người xa ví biết buồn ly cách
Soi thấu tâm tình giếng mắt trong
Nhớ một hoàng hôn, hai hoàng hôn
Sương sa giá buốt cả tâm hồn
Chiều nay trở gió về phương Bắc
Nghe nhạc u hoài vọng cuối thôn
1957
TRÍCH BÁO VĂN NGHỆ TIÊN PHONG
HUYỀN VIÊM
KẾT
VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956
[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)
Giai đoạn kháng chiến, từ 1945 đến 1950 Việt Nam độc lập được gần một năm. Tiếp, Pháp chiếm lại Hà Nội, (ngày 19 tháng 12 năm 1946) cho dù đảng phái Quốc hay Cộng đều bỏ phù hiệu riêng, đoàn kết trong danh xưng kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng. Suốt chín năm (1945–1954), thì kháng chiến ở bốn năm về sau, đã hao hụt thực chất; Mác xít ra mặt lãnh đạo – và cho đến 20–7–1954, phân chia đất nước, danh xưng toàn dân kháng chiến mất hẳn ý nghĩa. Song trên bình diện văn nghệ, ý thức toàn dân kháng chiến tạo được nền văn học có chiều sâu và rộng.
Giai đoạn văn nghệ phân hóa, văn nghệ Mác xít – theo hẳn lối sáng tác được chỉ huy, nhất là sau 1954 miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Còn Quốc Gia và miền Nam (VNCH) văn nghệ chỉ là vườn hoang, mọc đủ loại thảo mộc. Trong tập này, với người khe khắt cho quá nhiều – người dễ dãi cho chưa đủ. Với tôi, vẫn chỉ là bắt voi bỏ giọ, và tất nhiên chủ quan; thiếu sót tất nhiên không thể tránh. Nhìn vào những người viết sách nhận định văn học trước như Vũ Ngọc Phan kết luận cuối trang sách phê bình văn học, có đoạn:
“... Trước hết, bộ sách này là bộ phê bình văn học như tôi đã nói nhiều lần, vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn. Sau nữa, trong khi tôi viết những trang phê bình về thơ, có nhiều thi sĩ chưa có quyển thơ nào xuất bản, về kịch hay tiểu thuyết, có nhiều nhà văn chưa có sách biên khảo, chưa có kịch hay tiểu thuyết ra đời. Như vậy, biết căn cứ vào đâu cho chắc chắn? Rồi lại những nhà văn chính trị tuy đã có văn thơ in trên báo chương hay xuất bản thành sách, cũng không có trong bộ sách này, vì một lẽ mà ai cũng hiểu khi nhớ đến chế độ hiện hành về sách báo. Còn những nhà văn chuyên viết những sách Pháp văn thì tôi cho là không phải nói đến trong văn học Việt Nam. (...) Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa rằng bộ Nhà Văn Hiện Đại này chỉ là một bộ phê bình văn học, không phải là bộ văn học sử. Trong văn học sử, người viết cần phải xét rất kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến văn phẩm, rồi lại phải định rõ cả sự liên lạc của nhà văn nọ với nhà văn kia đồng thời hay khác thời đại. Nếu không đủ được những điều cốt yếu ấy, để định rõ phong trào văn học, thì dù có văn học sử đi nữa, người ta cũng chỉ coi là một mớ sử liệu...” (1)
Thời gian này tác phẩm viết bằng Pháp ngữ như Phạm Duy Khiêm với Légendes des terrres sereines và Nam et Sylvie; hoặc Nguyễn Tiến Lãng Le Chemin de la Révolte; Phạm Văn Ký: Frère de Sang, Celui qui régnera; Cung Giụ Nguyên Le Fils de la baleine – sử học Lê Thành Khôi với Le Vietnam, Histoire et Civilisation v.v..., không nói đến, cũng như lý do mà ông Vũ Ngọc Phan đề cập tới ở trên. Đến nhà chính trị văn sĩ Hồ Hữu Tường với Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc bỡn Nga, ... thì cũng vậy. Cả đến loại sách trinh thám kỳ tình, kiếm hiệp, phong thần, phỏng dịch chắp vá được gọi là tác phẩm văn học – chúng tôi xin phép không nói tới. Rõ hơn là Phạm Cao Củng có mặt từ tiền chiến với Kỳ Phát; hoặc truyện Người Nhạn Trắng cũng thế v.v... Tác giả Hoàng Như Mai, thời gian 1950–1954 trong kháng chiến; chúng tôi đưa vào cuốn này; vì vở kịch Tiếng Trống Hà Hồi đặc sắc được in trình diễn ở Hà Nội. Có thể nói điển hình bộ môn kịch là Tiếng trống Hà Nội. Bước sang bộ môn biên khảo, đưa Duy Sinh vào một tiết, như một điển hình cho lớp người viết biên khảo; cũng vẫn chủ quan, so với Diên Hương, Thu - Giang - Nguyễn - Duy - Cần; Khi đối chiếu lại thì, Duy Sinh không thể giá trị bằng hai nhà biên khảo vừa nêu danh.
Trở lại bình diện văn nghệ hậu chiến, tập 3 gồm trên dưới một trăm nhà văn; chọn ba mươi điển hình nói tới cặn kẽ; so với người khác viết tóm lược. Cũng vẫn chủ quan thô thiển và tự nhận thiếu sót. Bởi còn nghĩ xa hơn rằng: "không thể viết đầy đủ các nhà văn mình muốn đưa vào một quyển, thay vì mỗi nhà văn điển hình phải viết hẳn một cuốn nói về họ".
Nên coi những trang viết này chỉ là chữ viết (écriture) trong bộ sách này, và không là văn học (littérature); như quan niệm của Michel Buto (2). Lẽ trang viết có ý nghĩa tổng quát hơn. Còn nữa, bộ sách này chỉ là kết quả viết về tác phẩm các tác giả mà tôi đã đọc, đưa ra nhận xét của riêng tôi; giúp cho nghề tôi nuôi nghiệp (littérateur). Từ 1950 đến 1956, biến chuyển thời cuộc tác động đích thực vào đời sống văn học mà nhà văn sống trong đó. Ở miền Bắc của Quốc Gia Việt Nam (1950 – 1954) nhóm Thế Kỷ tạo thành một Triều Đẩu, qua những mảnh đời phóng sự hồi cư nóng bỏng, hàng ngày phải đối phó với đời sống, tạm gọi độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Còn thêm nhà văn điển hình như Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, (truyện), Bến Nước Ngũ Bồ (kịch dã sử), Nguyễn Minh Lang, ngọn bút tài hoa của văn chương lãng mạn mới, qua Gái Hà Nội, Nước Mắt Trong Đêm Mưa, Cánh Hoa Trước Gió (2 tập)... Hai nhà văn này, chúng tôi đề cập ở Chương 3 (tiết 2 và 4) – nhưng tập 3 này xuất bản ở Sài Gòn vào 1959 (Loại sách Đại Nam văn hiến trong nhà xuất bản Huyền Trân, Nhật Tiến chủ trương) bị kiểm duyệt bỏ trọn tiết. Bản in lại lần thứ hai in lại đầy đủ; nhưng trong lần này vẫn phải để trống phần phân tích; vì lý do tầm thường – không kiếm được bản tái bản vào 1973. Hai nhà văn điển hình khác nói đến trong Chương 3 là Thanh Hữu, Văn An. Về nhà thơ điển hình: Đinh Hùng, Nguyễn Quốc Trinh... Viết tóm lược nhà thơ: Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Băng Sơn, Vân Long, Trần Nhân Cư... Bình diện văn nghệ miền Trung (Quốc gia Việt Nam) vào giai đoạn này, nhà thơ điển hình được nói đến : Huyền Chi (nữ), Hoài Minh, Thanh Thuyền. Viết tóm lược các nhà thơ: Hồ Đình Phương, Huyền Viêm, Thế Viên...
Bình diện văn nghệ miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nhà văn điển hình: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo (nữ), Triều Lương Chế, Phạm - Thái - Nguyễn - Ngọc -Tân Phạm Thái kèm tên thật Nguyễn Ngọc Tân, phân biệt với một Phạm Thái khác), Chấn Phong Hư Chu. Viết tóm lược: Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ), Thiếu-Mai-Vũ-Bá- Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm Minh, Nguyễn Hoài Văn, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân... Một số nhà văn khác nổi tiếng sau giai đoạn 1956 như Võ Phiến chưa có tác phẩm xuất bản. Phải kể thêm trong số đó: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, (nữ), Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng (nữ), Võ Hồng, Thế Uyên, Tuấn Huy, Thế Nguyên, v.v... của Đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 trở đi). Riêng về phóng sự tiểu thuyết: Hoàng Hải Thủy với Vũ Nữ Sài Gòn (3), Duyên Anh qua bút hiệu Thương Sinh, Toàn Phong với Đời Phi Công, chúng tôi chưa có cơ hội nói đến, và nhờ Vũ Ngọc Phan giúp giải vây sự khốn đốn; ... vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn... Thêm nữa, khoảng thời gian viết đến lúc in ra (dầu cho là in ronéo-typé cách vài năm). Do đó, chưa kịp nói đến Võ Phiến (Chữ Tình), (4) Thế Uyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Toàn Phong , Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Thế Nguyên, Văn Quang (Thùy Dương Trang), Huy Trâm, Phạm Nguyên Vũ, Túy Hồng (nữ), Lê Vĩnh Hòa, Nhật Tiến, (văn) v.v... – Về thơ: Thái Thủy, Tô Thùy Yên, Tôn Thất Quán, Hoàng Khanh, Cung Trầm Tưởng, Cao Mỵ Nhân, Viên Linh, Trần Dạ Từ (khi ấy ký Hoài Nam), Hoài Khanh, Hà Yên Chi v.v... và v.v... (5).
Giá trị văn chương tiền chiến Tự Lực văn đoàn, có cả Lê Văn Trương, (tập một: Nhà văn tiền chiến), tiếp đến giá trị văn chương lửa kháng chiến; sau là hậu chiến. Đọc Bướm Trắng, Nửa Chừng Xuân. Mấy Vần Thơ, Gửi Hương Cho Gió, Vang Bóng Một Thời, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giông Tố... không nhìn thấy đầy đủ hình tượng sống cuộc sống hôm nay được thấy trong: Gió Bấc, Truyện Năm Người Thanh Niên, Trên Vỉa Hè Hà Nội, Cánh Hoa Trước Gió, Trại Tân Bồi, Nhìn Xuống, Điệu Đàn Muôn Thuở, Đêm Giã Từ Hà Nội, Sợ Lửa, Rừng Địa Ngục.... Văn nghệ là sản phẩm phản ánh thời đại, nên Kim Vân Kiều có hay đến mức thượng thừa – cũng chưa thể đại diện cho một khoảng thời gian không tiếp nối. Tác phẩm Nguyễn Du mới chỉ nói lên đầy đủ về xã hội phong kiến giao thời mà tác giả Kim Vân Kiều sống – đủ một số điều tương đồng hiện cảnh. Không thể nói đến Kim Vân Kiều là đủ điều tất yếu hình tượng sống lịch sử. Tác phẩm của Karl Marx, S.Freud cũng bị vượt qua, hiện nay vẫn cần khối óc siêu việt Oppeheimer, Einstein, Gandhi, JP Sartre v.v...
Phải hiểu được rằng: lịch sử một nước như lịch sử văn học, luôn theo đà diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Nói khác đi, sử học, văn học sử một nước không thể cắt quãng, cũng không tùy thuộc vào lập luận một phe nhóm nào để định giá trị vĩnh viễn. Rất cảm phục lập luận của Vũ Ngọc Phan dẫn trên kia; được gọi văn học sử, phải xét kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến tác phẩm, định rõ liên hệ (chữ dùng: TP) giữa nhà văn này với nhà văn nọ, định rõ phong trào văn học. Càng rõ hơn, được gọi văn học sử, ít ra phải làm được một bộ sách Lịch Sử Văn Chương Ngôn Ngữ Pháp (tạm dịch Histoire des littératures de la langue française) (6) do nhóm chủ trương gồm 209 giáo sư văn học thực hiện bộ sách vĩ đại ấy.
Cảm ơn số bạn giúp tài liệu, ý kiến, khích lệ, động viên, khi tôi khởi sự viết bộ sách này. Như họa sĩ Đinh Cường cởi áo, ngồi xệp trên sàn gác căn nhà trọ cùng tôi chia giúp những trang sách in ronéotypé xếp thành tập vào 1959, ở hẻm nhà thờ Lý Thái Tổ (Chợ Lớn). Uyên Thao mượn cho chiếc máy chữ, có lịch sử sản xuất cùng thời kỳ Tây hạ thành Hà Nội. Nguyễn Quang Tuyến nuôi ăn ở hàng năm, tôi ra thư viện đọc sách. Cùng với nhiều thư tình đầy tâm huyết người - tình - bậc - chị đến từ Hong Kong (nàng gọi Cảng Thơm) khích lệ người - em - bạn - tình miệt mài với chữ và nghĩa. Lại không thể quên bạn vong niên Phan Văn Thức cấp tiền ăn sáng, giấy stencil và thẩm phán Đào Minh Lượng, khi là sinh viên Trường Luật mua bánh mì dùng bữa trưa để tôi ngồi lì ở Thư Viện Quốc Gia làm mọt sách. Cũng không thể quên chịu ơn André Gide, qua cuốn sách viết phê bình về Fédor Dostoievskï (7) và cả Textes philosophiques của V.Biélinsky (8) nữa.
THẾ PHONG
PHẦN THỨ BA
VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956
[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH) 
CHƯƠNG SÁU
KHÁI QUÁT VỀ CÁC NHÀ VĂN BIÊN KHẢO

Tiết 4. – KẾT LUẬN VỀ CÁC NHÀ VĂN BIÊN KHẢO
Hiện tình biên khảo bình diện văn nghệ hôm nay nghèo nàn, hơn cả so sánh với tiền chiến. Ở hậu chiến, không mấy nhà văn biên khảo, dịch thuật, nhất là cây viết phê bình chuyên nghiệp. Nhà phê bình văn học còn sót lại tiền chiến đến nay, lối phê bình quảng cáo điểm sách hàng tuần tắc trách, không nghiên cứu đúng mức; đó là Thượng Sỹ (Nguyễn Đức Long). Ông còn bút danh khác: Huỳnh Bội Hoàng, Hàm Anh. Nói thế, chúng tôi vẫn nhận định được bài giá trị bình văn của ông; nhưng quá ít; chỉ là cái váng mờ ảo. Lúc đầu, tôi cho ông thiếu kiến thức, tâm hồn rung cảm, thiếu trách nhiệm. Bây giờ, ngoài nhận định về ông ở trên, thấy rằng có kiến thức, nhưng thiếu thái độ nên trở thành học - giả - giả. Còn nhà phê bình văn học mới nổi lên; có tâm huyết, có thái độ; kiến thức lại chưa sâu, trong đó kể cả chúng tôi. Và nghiên cứu văn học chưa quy mô, hệ thống hóa vấn đề, chưa đạt được một lời nói là một hành động thì phải kể đến Duy Sinh, Hồ Nam, Kiêm Đạt, nhà văn biên khảo sau không là nhà phê bình văn học.
Không ai có thể chối cãi phê bình văn học quan trọng, nếu có thái độ đúng đắn, không phải như Mark Twain chủ quan cho nhà văn hư hỏng trở thành nhà phê bình văn học. Nếu đúng vậy, làm sao có André Gide với cuốn La nouvelle critique: Dostoievski, (Tạm dịch: Lối phê bình mới về Dos.), Stephan Zweig chung đề tài ấy, mà họ còn là những tiểu thuyết gia Pháp, Đức. Không có V.Biélinsky chưa chắc tài năng Dostọevskï được đưa ra ánh sáng, không có Maxime Gorki với tinh thần phê bình hướng thượng, làm sao khám phá được Maðakowski?. Là nhà phê bình văn học, ngoài kiến thức có; còn phải là nhà văn có tâm hồn, nhà thơ nhạy cảm, có tư thái, độc lập tư duy, cộng công bình không vị nể, thiên vị, thiên tư lập trường can đảm; mới có thể phê bình đúng mức. Đành rằng nhà phê bình không cần là nhà văn, nhà thơ; nhưng nếu thiếu tâm hồn rung cảm, tiếp nhận bén nhạy hòa hợp với kiến thức, thái độ; thì làm sao mà hiểu, cảm nhận được ý nghĩ thầm kín tác giả trong tác phẩm. Tiền chiến, Vũ Ngọc Phan còn là tác giả tập truyện ký Chuyện Hà Nội, Hoài Thanh có tâm hồn, nên xét giá trị Nhà Văn Hiện Đại (4 tập 4 gồm tập thượng và tập hạ) Thi Nhân Việt Nam đến nay còn giúp cho người đi sau nhiều tài liệu. Tôi cho rằng cuốn văn học sử đúng đắn phải tập hợp được một số nhà văn nghệ có tiếng, có lập trường, thái độ, kiến thức hợp soạn mới mong có sách phê bình văn học giá trị. Công việc này chỉ hoàn thành được khi nhóm người ấy tập hợp độc lập ngoài phạm vi kiểm soát chính trị, tóm lại tư thái độc lập toàn diện.
Tiết 1
NGUYỄN HIẾN LÊ (1912 – 1984) (74)
Tiểu sử và tác phẩm:
Dùng tên thật làm bút danh trên các văn phẩm, như tên nhà xuất bản của chính ông. 
Sinh năm 1912 ở Hà Nội. Học Trường Bưởi Hà Nội, sau theo ngành công chính, vào Nam từ năm 1935. Ngay từ giai đoạn ấy, đến năm 1945, ông có viết sách nhưng chưa xuất bản. Năm 1948 lên Sài Gòn, cho ra mắt tác phẩm: Tổ Chức Công Việc Theo Khoa Học, Tổ Chức Gia Đình, Tổ Chức Công Việc Làm Ăn, Hiệu Năng, Châm Ngôn Của Doanh Nghiệp, Kim Chỉ Nam Của Học Sinh, Để hiểu Văn Phạm, Luyện Văn I, II, Nghệ thuật Nói Trước Công Chúng, Thế Hệ Ngày Mai, Huấn Luyện Tình Cảm, Đắc Nhân Tâm (dịch Canergie) Quẳng Gánh Lo Đi, Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười (bút ký lịch sử) Lịch Sử Thế giới (viết chung với Thiên Giang) Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc (3 tập) viết chung với Giản Chi, Sống 24 Giờ Một Ngày (dịch) Bí Quyết Để Thi Bằng Cấp Trung học (giáo khoa), Đông Kinh Nghĩa Thục (tài liệu sử học) Giúp Chồng Để Thành Công” (dịch), Săn Sóc Cách Nào cho Con Em Mau Tấn Tới,.v.v.
Là nhà văn biên khảo xuất bản nhiều vào bậc nhất, về lượng. Qua những tác phẩm trên, ông viết gần như là bách khoa: giáo khoa, gia đình, văn học, văn nghệ, biên khảo tài liệu lịch sử, triết học… Ở đây chỉ phân tích tác phẩm văn học.
Nhận định phê bình:
Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười, tác giả ghi lại sự kiện lịch sử địa phương, nếp sinh hoạt, phong tục, tính tình, dưới nhỡn quan nhà học giả đúng đắn, có tâm hồn. Giá trị văn chương, không nhiều; nhưng nếu một Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc là bộ biên khảo giá trị, vậy trong tập bút ký kia không là tiêu mục chính để phân tích. Nhà tiểu thuyết phóng sự Phi Vân ghi chép nếp sống nhân văn dân quê miền nam trong Đồng Quê (xem Nhà Văn miền Nam 1945 – 1950) thì cuốn bút ký này giúp chúng ta hiểu thêm quê hương qua phong tục miền Nam.
Luyện Văn I, II có giá trị, song chỉ trong khuôn sách giáo khoa, hướng dẫn thanh niên yêu văn chương, giúp thanh niên có quan niệm căn bản văn học như Phạm Việt Tuyền với Nghệ Thuật Viết Văn, Lữ Hồ với Việt Văn Giản Dị. Với Nguyễn Hiến Lê hiện tại, chúng tôi nhận xét về ông qua bộ sách Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc và Đông Kinh Nghĩa Thục. Tập một, ông cho độc giả thấy rõ diễn tiến của nền văn học khởi thủy cổ nhất Trung Hoa, Tập hai từ đời Đường. Tập 3 từ ngũ đại đến hiện đại. Cuốn biên khảo này là tài liệu công phu giúp ích người tân học, không thể bỏ qua sinh hoạt văn học một quốc gia có lịch sử gắn liền với ta ngay từ thời Bắc thuộc lần thứ nhất, ảnh hưởng đến đời sống chúng ta. Không thể phủ nhận ảnh hưởng văn học, nhân sinh quan Trung Quốc trong văn học và nhân sinh quan Việt Nam. Tài liệu thì nhiều, đành rằng có thể biết qua nhiều tác phẩm các nhà văn hóa Pháp, Nga, viết về đề tài này. Nhưng Nguyễn Hiến Lê cho chúng ta không phải chỉ tài liệu, ông là một học giả uyên thâm Hán, Tây học; phân tích diễn tiến văn hóa qua bản Hán văn lối diễn tả Tây phương, rành mạch, dễ nhập cảm, lĩnh hội. Nói thế, giá trị đã có; công trình khảo cứu cho những ai muốn hiểu văn học Trung Quốc. Phương pháp trình bày giản dị, người đọc ít Hán học có thể hấp thụ dễ dàng.
Tài liệu lịch sử Đông Kinh Nghĩa Thục, nói về cuộc kháng chiến Việt Nam đầu thế kỷ hai mươi. Ông tra cứu nhiều tài liệu mới, tác giả giới thiệu trong sách, có người bạn là: ông Phương Sơ, đảng viên trong Đông Kinh Nghĩa Thục bổ cứu ẩn ức văn học, tư tưởng cách mệnh thời kỳ nô lệ, chưa phơi bày đủ được sự thật của sự thật câm nín). Đọc Đông Kinh Nghĩa Thục hiểu rõ thêm sinh hoạt cách mệnh của Lương Văn Can, Dương Bá Trạc, Phan Bội Châu, Phan Tây Hồ (Phan Chu Trinh), Nguyễn Văn Vĩnh... Với lối viết giản dị, văn trong sáng, bố cục mạch lạc, tài liệu dồi dào; sự nối liên các chương, làm người đọc say mê như đọc truyện. Nghệ thuật biên khảo của ông hay là ở đó.
Nghề Viết Văn giá trị văn học không là mục tiêu ông đặt vào đấy, và chỉ là loại sách Connaissance des métiers hoặc Choisir les carrières (76) ở Pháp nói về nghề văn; in, bán , giao kèo, hợp đồng, mẫu chữ... Đó là sách giải đáp thắc mắc cần thiết cho chuyên đề (quyền lợi, đời sống, tác giả) ông cho người đọc biết thêm hoàn cảnh khe khắt nhà văn về: bệnh tật, nghèo, dằn vặt, cam go... Nghề Viết Văn của ông không giống là Quan Điểm Văn Nghệ Nhân Dân của Hoàng Công Khanh hoặc Văn Học Khái Luận Đặng Thái Mai; gần hơn Văn Nghệ và Phê Bình của Tam Ích; mà chính tiêu đề sách đã trả lời nội dung ra sao.
Nguyễn Hiến Lê, nhà văn biên khảo độc lập, khảo cứu nhiều tác phẩm văn công phu, sử, ký lịch sử giá trị đứng hàng đầu của miền Nam.
Tiết 2
DUY SINH
Tên thật Nguyễn Đức Phúc Khôi. Sinh năm 1935 ở Hà Nội. Trưởng nam nhà văn lão thành Nguyễn Đức Quỳnh. Duy Sinh bước vào nghề văn năm 18 tuổi, bài đầu tiên phê bình sách Nhìn Xuống của Sao Mai; tiếp theo Trời Đã Xế Chiều của bà Vũ Bá Hùng tự Thiếu Mai. Ông viết cho báo Mới, Đời Mới, Giang Sơn, Bạn Dân, Việt Chính, Văn Nghệ Tự Do v.v...
Viết phê bình, sáng tác, phóng sự. Qua nhiều bài phê bình văn học bàn về Sao Mai, Vũ Bá Hùng, Ngọc Giao, Thi Thi Tống Ngọc; ông là nhà phê bình văn học trẻ tuổi có thái độ, lập luận vững, một khi tuy chưa xuất bản tác phẩm nào.
Chống sách được gọi là văn phẩm Đời Cô Nhung, một sản phẩm đọa lạc, con đẻ chế độ phong kiến, thực dân; Duy Sinh phân tích kết luận về Đời Cô Nhung của Văn Thuật:
“... Tác giả mang ra tất cả hành động ô uế, khốn nạn nhất của xã hội, đưa ra bằng những hình ảnh thật khiêu dâm để không giáo dục, không tìm cho họ lối thoát. Tác giả kéo đến năm sáu lần ván tam cúc lục sở do tác giả tổ chức. Không hiểu tác giả giáo dục thế nào mà có thể thở những lời thối nát đến nhứ thế này được.”
“Người có học thức liếc ngang thì ý nhị, tinh tế, kẻ vô học thức liếc ngang thì rõ ra thằng ăn cắp chợ. Cũng là giọng cười, cũng là cái nháy mắt, cũng là cái bấm chí của người học thức thì nó thanh tạo lịch sự mà của kẻ vô học thì sao nó vô duyên, trơ trẽn, tục tằn đểu cáng thế”
Thật có khác gì phân của kẻ có học thì thơm mà phân của kẻ vô học thì thối”...
Bài đầu tiên nhận xét về Sao Mai qua tác phẩm Nhìn Xuống có những đoạn phê bình rất sắc:
“... Sao Mai muốn vượt lên vạch ra những thối nát của trường giả mang nhân vật Phú Uyên điển hình. Sao Mai bế tắc nên nhân vật của ông không lối thoát. Sao Mai chưa gột rửa tiềm thức tiểu tư sản nên Mạnh yếm thế vẫn muốn vươn lên tiểu tư sản để hưởng thụ. Sự ca ngợi của Sao Mai đối với Năng chỉ là một sự kiện ve vãn lao động, chưa hòa đồng thành khẩn nên ở đây Sao Mai không phải chỉ là ca tụng đúng mức...”
Phê bình Bến Nước Ngũ Bồ, kịch Hoàng Công Khanh phán quyết gay gắt:
... “Hoàng Công Khanh trong BNNB không còn là tác giả Về Hồ rồi, Hoàng Công Khanh Hồ Hán rồi. Ta không phủ nhận những vần thơ chải chuốt, lửng lơ mà tình tứ của nhà thi sĩ có tài. Hoàng Công Khanh quả là một thi sĩ có tâm hồn, đạt đến một nghệ thuật cao về phần kịch trường ông đưa ra giản dị quá, ít mâu thuẫn quá. Ở đây là một hoạt cảnh, thì đúng hơn. Từ đầu đến cuối, toàn những đoạn tình tứ giữa tráng sĩ và cô hàng, giữa Đặng Ích và Thị Trinh để dẫn tới một cái kết quả rất lơ lửng giết chết các diễn viên. Hai bố con lão Đồ chết, quán cháy vèo, cặp trai gái ra sông, không biết để làm việc gì”...
Là cây bút có thiện chí phê bình văn học, song cực đoan, ông còn viết một loại chống văn nghệ độc tài trên tuần báo Việt Chính (1955) dưới bút hiệu Duy Nhân. Sự vượt mức về hiểu biết kiến thức, so sánh tư liệu văn sử học như một người hiểu biết đến ngọn nguồn. Từ ghế bộ trưởng chính trị Nga Xô, của Việt Nam, của Trung Hoa; hay đến cả tâm tư thầm kín nhất bạn văn tiền chiến nói với nhau trong lúc cởi mở, Duy Nhân đều biết và luận. Xét thế, tôi cho rằng loại bài Chống Văn Nghệ Độc Tài không là của ông, nếu không nói là của nhà văn tiền chiến Nguyễn Đức Quỳnh. Về sáng tác, ban đầu viết truyện ngắn Tiếng Trống Ngoại Ô (báo Giang Sơn) Đêm Cần Lao (báo Bạn Dân) không đặc sắc. Truyện dài loại đăng trên báo Đời Mới (1954 – 55) chưa hết, phản ánh khắc khoải, suy tư, nếp sống thanh niên thời kỳ kháng chiến.
Kỹ thuật viết hấp dẫn, tiếc rằng nhà văn này chưa phân tích tâm lý sâu sắc, tả cảnh lại quá nhiều, rất kỵ đối với một tác phẩm tiểu thuyết.
Ông viết rất nhiều phóng sự: Đồ Sơn Nguyệt, Huế lụt; Trái Cây Miền Nam, Huế Đặc Biệt, Nhớ Thần Kinh, Ngõ Hẻm Casinô, Nhớ Thủ Đô; Đà Lạt Muôn Màu... nhưng chỉ Nhớ Thần Kinh, Đà Lạt Muôn Mầu giá trị văn chương hơn cả; còn phóng sự khác như là phóng sự làm quảng cáo (nhận tiền khéo léo), ghi địa chỉ rõ ràng một hiệu ăn chẳng hạn, một cách làm quảng cáo từ các hiệu buôn đặt hàng. Nhớ đến André Bourin, nhà viết phóng sự La France en zig zag (tạm dịch: Nước Pháp Trong Chớp Nhoáng) đi vào lòng đất nước, qua Artois, Normandie, De Sologne en Vendée... là phóng sự quê hương đặc sắc vô cùng, từ một giòng, một câu, cả một chữ nức lòng yêu quê hương, đất nước của người Pháp đối với nước Pháp. (77)
Tiết 4
TIỂU MỤC:
I. NGUYỄN DUY CẦN (1907 – 1988)
Sinh năm 1907 ở Mỹ Tho. Tác phẩm biên khảo triết lý nhân sinh Á đông làm nổi bật vai trò của ông: Thuật Xử Thế Người Xưa (Phạm Văn Tươi, 1953) tái bản nhiều lần, Trang Tử (1956), Cái Dũng Thánh Nhân, Óc Sáng Suốt, Thuật Tư Tưởng, Văn Minh Đông Phương và Tây Phương (1957)... Cuốn sau xuất bản khi tôi viết xong về ông. Trong Thuật Xử Thế Người Xưa gồm sáu chương. Chương một: đề cập đến lòng tự ái, Chương II Chữ Lễ Á Đông; Chương III có tài mà cậy chi tài, Chương IV Ân và Oán, Chương V Đạo cương nhu, Chương VI Biết sống, phần phụ lục; cuốn sách nói về xử thế của Khuất Nguyên. Ông đề cao nếp sống xử thế người xưa, cũng như Đào Trinh Nhất, Nhượng Tống từng làm công việc này. Cái khác giữa ông và người đi trước, ở ông thì bi quan thuần triết, thiếu tính tranh đấu; nhiều mặc cảm tự ty muốn tự vượt mình trong trang sách viết về Trang Tử. Sự mở rộng nghệ thuật xử thế của người xưa thâm nhập, gom góp, tích lũy cho người hôm nay thêm kinh nghiệm là cần thiết, phải là của người viết có tinh thần thoát khỏi cái tôi ích kỷ, nhỏ nhen và cũng đừng đầu độc cái nhỏ nhen riêng cho lớp người tiếp nối vào đời. Qua những cuốn ấy, thái độ của ông, một người duy tâm ảo tưởng, bi quan thuần triết vô duyên cớ; dễ dẫn người đọc chán nản tự tiêu diệt, đành rằng bi quan, bất mãn còn là thái độ dẫn đến tiến bộ.
2. TRIỀU SƠN (1921 – 1954)
Tên thật Bùi Văn Huy. Sinh 1921, mất ở Paris, ngày 12.5.1954. Tác phẩm đã xuất bản: Cờ Đen (kịch thơ) (qua bút danh Ninh Huy), Con Đường Văn Nghệ Mới (tạp luận văn nghệ) (Nxb Minh Tân, Paris 1951). Về kịch, Ninh Huy không vượt hơn người đã viết kịch thơ cùng loại. Truyện dài Nuôi Sẹo chưa viết xong, ông đã từ trần. Buổi sinh thời ông cho rằng đó là một tác phẩm lớn. Con Đường Văn Nghệ Mới chia làm bốn phần, phụ lục, thêm hai tiểu mục, kể lại việc thảo luận với người bạn về luận thuyết văn nghệ, ông bàn qua: tả chân tự nhiên, hiện thực, siêu thực… Phần lý luận đại cương, giải thích sự liên hệ văn nghệ phẩm với xã hội, người văn nghệ đại chúng hóa ngay bản ngã đại chúng hóa văn nghệ sĩ. Tóm lại phần tiểu luận, Triều Sơn chống tháp ngà; văn nghệ vị nghệ thuật, bàn đến cái hay văn nghệ vị nhân sinh. Giữa tình trạng văn nghệ thiếu phần suy luận trước hành động, Triều Sơn qua tác phẩm này, cũng như Hoàng Công Khanh Quan Điểm Văn Nghệ Nhân Dân cần được tiếp nhận.
Triều Sơn đề cao tả chân hiện thực mới, nhưng ông chỉ lý thuyết suông; chưa đưa ra đề tài thảo luận thực tiễn nào, muốn hướng văn nghệ sĩ trở về với đại chúng, mà chưa nói rõ tại sao lại như thế? Nguyên nhân chính của sự mơ hồ hóa là tác giả đã mơ hồ hóa chính ông.
3. NGUYỄN NĂNG AN
Một Trúc Chi khảo cứu về kinh tế, một Nguyễn Hiến Lê về văn học sử Trung Hoa, một Nguyễn Bảo Hóa về lịch sử Việt Nam, một Trần Minh Tiết dịch tài liệu quân sự lịch sử thế chiến thứ hai, một Nguyễn Năng An góp phần dịch thuật tài liệu chính trị trong bộ: Art de commander psychologie de l’autorité” ra Việt ngữ, thành Nghệ Thuật Cầm Quyền” (2 tập, 1950). Bản Việt hóa của ông thoát, hành văn nhẹ nhàng, giản dị, vẫn lột tả được nguyên tác. Tác giả, một giáo sư triết học Pháp chuyên khảo cứu về tâm lý học theo phương pháp khoa học.
4. HOÀNG TRỌNG MIÊN (1918 – 198?)
Sinh 1918 ở Huế, chết năm 198? ở Sài Gòn. Viết văn trước tiền chiến, bắt đầu truyện ngắn đăng trên báo Tinh Hoa. Tác phẩm chính: Một Giấc Mơ Ghê Gớm (tiểu thuyết Sài Gòn – 1939), Việt Nam Văn Học Toàn Thư (Sài Gòn 1959), Thơ Xanh ký Hoàng Trọng Miên. Còn là tác giả vở kịch “Dưới Bóng Thánh Giá”. Về Thành, chủ trương báo Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Thời Trân, Thời Báo, Cải Tạo loại mới... Tác phẩm đã xuất bản: “Chỉ Vì Yêu” (truyện dịch) đăng trên tuần báo Đời Mới, Người Nữ Cứu Thương; ông còn dịch kịch Les mains sales (Bàn Tay Bẩn) của J.P.Sartre. Vở kịch này đăng dở dang trên báo Bông Lúa. Dịch cuốn Nghệ Thuật Sống (L’art de vie của André–Maurois (Phạm Văn Tươi xuất bản, tái bản nhiều lần). Hoàng Trọng Miên chuyên về ngành kịch, cho diễn vở Hamlet trên đài, vô tuyến (ban kịch Lan Đình). Là nhà văn dịch có kiến thức, dịch thoát, Chỉ Vì Yêu, tác phẩm phỏng dịch đúng hơn là phóng tác có giá trị văn chương. Riêng cuốn Việt Nam Văn Học Toàn Thư (2 tập, do Văn Hóa Vụ tài trợ và ấn hành), Tam Ích viết tựa, được coi là vụ đạo văn lớn nhất vào những năm 1960 ở Sài Gòn. Ông đã sao chép gần như nguyên bản Lược Khảo về Thần Thoại của Nguyễn Đổng Chi, xuất bản ở Hà Nội, bị tạp chí Văn Hóa Á Châu, nguyệt san Sinh Lực phanh phui. (79)
5. DIÊN HƯƠNG: (1898-1943)
Tên thật Trần Ngọc Án, tác giả Thành Ngữ Điển Tích (I và II) Thi Pháp (1950)... Cuốn Thi Pháp, biên khảo công phu, bàn về bút pháp thi ca, giúp người đọc hiểu rõ thêm về các thể làm thơ, góp vào loại sách tìm hiểu văn học. Không là nhà văn biên khảo có tâm hồn, thơ nhạy cảm, nên Thi Pháp không minh chứng được thế nào là thơ hay. Giá trị vẫn chỉ đuợc kể qua Thành Ngữ Điển Tích.
6. BỬU KẾ: (1913-1984)
Nhà văn biên khảo này viết nhiều truyện ngắn.Từ năm 1948, ông cho truyện đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy cùng với Nguyễn Minh Lang, Quốc Ấn. Các truyện ngắn của ông: Cái Nhà Của Ông Chủ Tịch, Sức Mạnh Loài Người, Mê Sách, Xuyên Tác, Cái Nạn Rắp Pen, Đổi Thay, Ngọn Đèn Khuya... Truyện ngắn không đặc sắc, duy lý, khô khan, châm biếm xấu xa hoạt cảnh xã hội thời ấy, đúng ra là phóng sư hoạt kê. Sau cho xuất bản truyện dịch Thằng Người Gỗ, Tầm Nguyên Từ Điển. Truyện dịch hay, tự điển công phu dầy công khảo cứu.
7. THANH NGHỊ (1917 qua đời sau 1975 ở Sài Gòn)
Tên thật Hoàng Trọng Quy, anh ruột của Hoàng Trọng Miên. Sinh 1917 ở Huế, qua đời ở Sài Gòn 1989. Học ở Huế, đậu Tú tài I xong ở nhà học thêm Anh văn. Năm 1938, dùng bút hiệu Thanh Nghị, chủ bút báo Trong Khuê Phòng, trợ bút báo Asie Nouvelle. Năm 1952 xuất bản: Việt Nam Tân Tự Điển. Nói đến nhà làm tự điển có tiếng, phải kể đến Đào Đăng Vỹ, Đào Văn Tập, Đào Duy Anh, Thanh Nghị. Ông là tác giả nhiều từ điển Pháp Việt - Việt Pháp, Anh – Pháp – Việt, Việt Nam Tân Từ Điển, (minh họa) rất giá trị.
8. KIÊM ĐẠT
Tên thật Trần Kiêm Đạt. Sinh 1933 ở Thừa Thiên. Rời khỏi Trung học Khải Định, ông đi dạy học, viết báo. Viết cho các báo Đời Mới, Việt Chính, Thời Đại v.v... Tác phẩm biên khảo đã xuất bản Nếp Sống Việt (1955) Tiếng Việt Mến Yêu (1956); Khái Luận Về Thơ Mới (1956) Tìm Hiểu Thơ Tự Do (1956, viết với ba người khác), Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (Người Việt Tự Do 1956), Để Hiểu Văn Học (Thế Giới 1956) v.v... nhiều sách giáo khoa văn học khác. Sách đã xuất bản chứng tỏ là người ham hoạt động văn học, song những tập sách in ra đều giản lược vấn đề. Khái Luận Về Thơ Mới chưa xong tập thứ nhất, chưa giải quyết xong một vấn đề nào, ông lại quay sang cộng tác với người khác bàn về thơ tự do. Tiếp theo, ông lại cùng hai người khác viết về Tản Đà. Tác phẩm biên khảo của Kiêm Đạt lượng nhiều, phẩm ít, giá trị mong manh.
9. HỒ NAM
Tên thật Lê Nguyên Ngư. Sinh năm 1930 ở Bắc Ninh, học Trường chuyên khoa tư thục Hàn Thuyên, sau theo học Năng Lực Luật (Hà Nội). Viết cho các giai phẩm Hồng Hà, Lửa Mới, báo Tia Sáng, Thời Trân, Phương Đông, Quê Hương, Đổi Mới, Việt Chính, Thời Đại, Ngôn Luận, Tân Kỷ Nguyên, Văn Nghệ Tập San v.v... Một Kiêm Đạt ham hoạt động in sách khảo luận mỏng như Tìm Hiểu Thơ Tự Do, Tagore v.v... thì sách khảo luận Hồ Nam tương tự. Là người ham hoạt động trên báo chí, viết nhiều loại: điểm sách, phê bình văn nghệ, làm thơ (ký Vương Tân), truyện dài, ngắn... Về địa vị phê bình văn học, lập trường chưa xác định, trình độ thấp, chưa có thái độ, tư thái riêng nên viết bình văn học nông cạn. Tuy nhiên ông có thiện chí, đặt hẳn mình vào phận làm văn nghệ sống bằng nghề cầm bút. Thơ chưa có bản sắc, chắp vá, mượn rung cảm, ít sống với rung cảm bản thân. Bước đầu, tất cả chỉ là thể nghiệm. Có thể là một nhà thơ nổi tiếng, ở bộ môn thơ Hồ Nam có khả năng hơn hết .
Tiết 4
KẾT LUẬN VỀ NHÀ VĂN BIÊN KHẢO
Tiết mở đầu bàn về nhà văn biên khảo:
Chắp tay nguyện cầu có lớp nhà văn biên khảo mới, tinh thần mới, kiến thức sâu, có tri thức, tâm hồn, đủ tài năng giải tỏa tình trạng bế tắc về sách biên khảo văn học. Duy Sinh, Hồ Nam, Kiêm Đạt như nhiều Duy Sinh, Hồ Nam nữa; mới có thể hoàn nhiệm công việc phê bình văn học ở tương lai. Thí dụ, có một bạn ngoại quốc đến với chúng ta, giả dụ hỏi rằng: “Lịch sử văn nghệ nước anh, dù sơ lược; căn cứ vào những tác phẩm, tác giả nào?” Có thể nào, từ chối rằng không có? Hoặc tác phẩm nào điển hình bạn sẽ trả lời sao? Khi chưa thể căn cứ vào việc phê bình văn học của một tập hợp ăn ý đánh giá đúng mức số anh em văn nghệ đồng ý với nhau trên bút mực được. Với chính tôi rất ít tham vọng, không kiêu căng; không hoàn toàn dốt, hèn nhát. Tôi chờ mong tất cả lời phê người đi trước, đồng hành, lớp sau về bộ sách này.
Kết luận về nhà văn biên khảo, dịch thuật:
Trương Bảo Sơn dịch Léon Tolstoi qua Tình Nghĩa Vợ Chồng, Đào Đăng Vỹ dịch Khúc Nhạc Đồng Quê của André Gide và trước đó La Porte Étroite (Cửa Hẹp), Thanh Ngọc Tuyền qua Tản Văn Ba Kim, đến Mặc Đỗ giới thiệu nền văn chương Mỹ dịch tiểu thuyết Scott Fitzgerald, với Đỗ Khánh Hoan dịch văn chương Anh, Giản Chi với lịch sử triết văn Trung Quốc, Nghiêm Kể Tổ với Việt Nam Máu Lửa sử liệu dồi dào. Riêng sử gia Nghiêm Kế Tổ mang nhiều tính chất chủ quan, đề cao đảng phái bạn (VNQDĐ), thiếu khách quan cần thiết là sử gia đứng đắn, không thiên vị. Chuyện văn học nước nhà thì không biết, phải nhờ hàng xóm cách xa biển rộng sông dài nói lại, rồi mới chịu tin là đúng hay sao?.

Sài Gòn - Chợ Lớn, 30/9/1957
Thế Phong 
Theo https://vietvanmoi.fr/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cánh hoa chùm gửi XXXXXX

Cánh hoa chùm gửi Chương 1 Những năm dài trôi qua, tôi là của mẹ, mẹ là của tôi, gian phòng này là của hai người. Thế mà bây giờ, chỉ mộ...